HOME

 

Khảo Phê Văn Bản:

Khai Mạc Vụ Án Văn của cuối thế kỷ thứ hai mươi

 

 

GS Trần Ngọc Ninh

Hoa Kỳ, Tháng 6, 1992

 

Một tập thơ quốc âm không tên của một người không tên được ném ra đời năm 1980, cách đây đúng một giáp. Thế th́ có ǵ đáng để ư?  Thiên hạ ham danh và hám danh, thèm khát sự thành danh, và chỉ cầu được giương danh với đời. Nay lại có một người vô danh, sinh được một đứa con tinh thần mà người ấy quí báu nhất, quí hơn cả cuộc đời của ḿnh:

 

Tôi không tiếc khi bị đời sa thải

Thân thể vùi tan rữa hóa bùn đen

Những vần thơ trong đêm tối đê hèn

Cùng rệp muỗi viết ra mà bị mất

Tôi sẽ tiếc khóc âm thầm trong đất

những đứa con ấy, mà thi nhân đă

Những đêm dài thức trắng

Tạo vần thơ câm lặng anh ơi...

........

Lá vàng rơi xơ xác cành khô

Sương rắc bụi mờ

Ta ngồi viết mấy vần thơ

Giải niềm oan khổ

 

những vần thơ ấy mà thi sĩ muốn rằng sẽ có một

sức (mạnh) vô hạn\ thắng không gian và thắng cả thời gian”:

Tim với óc căng lên v́ động lực

Đẩy vần thơ từ đau khổ chồi ra

Những vần thơ có h́nh dạng là hoa

Song sức phá vạn lần hơn trái phá

 

tập thơ ấy lại không có một cái tên làm đầu, đứa con tinh thần ấy lại không được người sinh thành đặt cho một cái tên để ra đời. Mở tập thơ ra, thấy các bài thơ rải rác, có 188 bài bốn câu (4, 5, 7, 8 chữ hay tự do) gom lại một khối, gọi là “Những ghi chép vụn vặt”, mỗi bài ở đây đánh dấu bằng số, như số tù, và có 188 bài tương đối dài hơn (từ 5 đến 480 câu) bài nào cũng in ra có đầu đề, những đầu đề thường chỉ là câu thứ nhất của bài thơ bị cắt cụt đi cho gọn; chỉ có 10 bài là thực có một cái mũ được đặt ra riêng cho mỗi bài thơ. Nói tóm lại th́ mỗi bài cũng lại là một bài thơ không tên, v́ tôi có cảm tưởng rằng, nếu không phải là tác giả có một dụng ư ǵ đặc biệt gửi trong 10 bài thơ được đội mũ này, th́ các đầu đề đều do người xuất bản tự đặt ra. Và đặt ra một cách hơi cẩu thả, v́ thông lệ quốc tế đối với những bài vô đề của một tác giả vắng mặt, là lấy cả câu đầu của bài

thơ mà chỉ bài thơ. Thí dụ bài:

 

Độc lập là chuyện hăo

Khi đứng gần bác Mao....

th́ gọi là bài “Độc lập là chuyện hăo chứ không

phảiĐộc lập là”. Hoặc bài

Anh là một sinh viên Hà Nội

Đêm trừ tịch anh ngồi đun suốt tối

Chiếc bát men vỡ hỏng thay nồi

...........

th́ không phải “Anh là một”, mà phải là bài có trọn vẹn câu đầu “Anh là một sinh viên Hà Nội. Theo thiển ư, tác giả là một người vô cùng cẩn trọng; hơn thế nữa, ông coi thơ là một cái ǵ quí giá, một phẩm vật linh thiêng, đứng ngang hàng với giấc mơ diệt Cộng cứu nước của ông, với một tiềm lực tinh thần vô biên có thể quét được cái chủ nghĩa ấu trĩ hôi tanh của Các Mác, Lênin ra khỏi cơi sống của loài người. Không có chuyện bôi bác xong-thôi trong thơ, khi thơ là tất cả cơi ḷng tan nát và cái hi vọng cuối cùng của đời ḿnh để tiễu trừ đói rét và tối tăm của một mùa thu lầm lạc năm xưa (1945) và đem xuân sáng, hạ ấm trở về cho dân tộc.

 

Những điểm dị kỳ vẫn c̣n, chưa hết. Hầu hết các bài thơ dài đều có biên niên, trừ năm bài:

1- “Tôi, một kẻ không gia đ́nh, bè bạn”,

2- “Dựa vào sự vô tư trong an lạc”,

3- ”Ch́m thỏm giữa biển mù đen xẫm”,

4- “Bước theo nỗi buồn, vĩnh biệt niềm vui”

5- ”Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa

... có hai bài, giống nhau như đúc, không khác một chữ, nhưng lại ghi hai năm khác nhau là 1971 và 1974.

Như vậy là nghĩa làm sao? Tác giả lầm hay người chép tự bịa đặt ra những biên niên hoang dại? Tôi nghĩ rằng không phải thế mà có một sự dụng ư của thi sĩ. Cũng may là nhà xuất bản cẩu thả và người sửa bản không lưu tâm, nên cái lỗi lớn bằng cái đ́nh này mới lọt qua được. Bài thơ hai biên niên này chính là bài “Tôi không tiếc khi bị đời sa thảiđă được dẫn ở ngay đầu bài tiểu luận này. Ngoài ra lại c̣n có một bài, câu đầu là “Con người không thể tưởng hôm nay”, dài có 8 câu, nhưng cũng lại được chú (1976) (1970), hai năm xếp ngược. Niên lịch của các bài thơ c̣n lại là giữa năm 1958 và năm 1977, chia ra như sau:

 

      1958: 3 bài,

            1959: 3 bài,

            1960: 9 bài,

            1961: 8 bài,

            1962: 11 bài,

            1963: 16 bài,

            1964: 11 bài,

            1965: 10 bài,

            1966: 7 bài,

            1967: 12 bài, 

            1968: 17 bài, 

            1969: 7 bài,

            1970: 14 bài,

            1971: 12 bài, 

            1972: 10 bài, 

            1973: 9 bài,

            1974: 7 bài,

            1975: 7 bài, 

            1976: 9 bài,

            1977: 1 bài.

 

– Không đề năm: Tôi, một kẻ không gia đ́nh, bè bạn,

– Không đề năm: Dựa vào sự vô tư trong an lạc.

– Không đề năm: Ch́m thỏm giữa biển mù đen xẫm,

– Không đề năm: Bước theo nỗi buồn, vĩnh biệt niềm vui.

– Không đề năm: Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa

 

Những bài đề 2 năm được ghi hai lần, mỗi lần ở một năm; như vậy là có hai năm thừa hay sai, không biết là năm nào.

C̣n lại là những bài không biên niên, số chữ khác nhau, h́nh như đă được ném cả vào trong một bị, lung tung, hỗn độn như những mảnh vụn thoáng qua mà người ta ghi vội và xếp vào một ngăn kéo hay một cái hộp riêng... biết đâu sau này chẳng có lúc dùng được, như thói quen của các nhạc sĩ, Mozart, Beethoven, Schubert, bỗng nhiên thấy rộn lên trong tai một điệu, một nhịp, một câu nhạc mới tươi đẹp quyến rũ, thần tiên, nhưng trần truồng, trơ trọi, chưa chín, cần được gọt dũa, trang điểm và lồng vào trong những câu mở, câu phá, câu đối, câu đáp, câu phát triển, câu biến hóa để thành h́nh một ca khúc nhỏ hay một đại ḥa tấu... Những câu thơ xổi này, mà các nhà thơ thường vứt đi, dầu đă được dùng hay bị bỏ rơi, có những thi vị đặc biệt, non nớt nhưng nồng nàn, thắm thiết hoặc cay chua, uất hận với một cái ǵ tinh nguyên vừa trổi lên từ đáy ḷng. Hương vị của hũ dưa và vại cà mới muối, của trái khế hay trái ổi vừa bứt xuống từ cành non. Vất trong tập thơ hoang không tên mà người cha đẻ ném vào cuộc đời trần trụi không quần áo mũ giầy để thức tỉnh cả một nhân quần đang ḅ rạp đê hèn dưới chân đảng độc quyền. Những mẫu thơ vụn vặt của cái sọt rác để ở cuối sách là những thét gào nức nở, sỏ siên, móc

họng, nguyền rủa, chửi bới, cục cằn, tục tĩu, khinh miệt của một người

 

Nước mắt không c̣n nữa

Tiếng cười chuyện thời xưa

Ngày nắng với ngày mưa

Kế nhau đều lộn mửa!

 

Kể từ khi Arthur Rimbaud đem cứt, đái, máu, mủ vào trong thơ và Genet phơi lơa lồ thân thể của đói, khổ, đọa đầy trong văn chương – hai nhà văn đă cứu được Thơ và Văn ra khỏi cái sân khấu hề tuồng với mũ măo và mặt nạ của những Chàng và Nàng, Ta với Ngươi sáo đă vạn cổ, để vào giữa cuộc đời như thực ngày nay với đầy dẫy ô-uế đau khổ và chỉ một chút trong-trắng c̣n sót lại đâu đây – tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên trong thi ca của nhân loại mà ta thấy được những từ thô tục, những lời độc địa nhất của một dân tộc được chuyển thành thơ với một tấm ḷng thanh khiết, cao quí và thuần túy v́ nước, v́ dân, v́ người, v́ sử, như tác giả không tên của tập thơ không đầu đề này.

 

* * *

 

Đứa trẻ mới lọt ḷng trần truồng như Sự Thực – và để sống được trong cơi đời ô trọc này, nó khóc, nó phải khóc để bắt đầu có một hơi thở. Các loài noăn sinh và thai sinh (nở ra từ trứng hay sinh ra là một cái thai có thân thể) đều hít một hơi đầu tiên rồi thở ra khi bắt đầu sống ngoài trời bằng dưỡng khí trong khí quyển của trái đất (trừ loài cá thở bằng mang chứ không bằng phổi). Hơi thở ra đôi khi cũng phát thành tiếng. Theo chỗ tôi biết th́ không có loài nào ra đời với tiếng thở được nghe thấy như tiếng than.

 

Nhưng với loài người th́ từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, cuộc đời luôn luôn măi măi bắt đầu bằng tiếng khóc của đứa trẻ vang lên giữa những tiếng nói cười. Một tù tử tội hể hả đón một người tù nhập trại. Tiếng khóc của kẻ tử tội mới bao giờ cũng tịch mịch cô liêu không người hưởng ứng. Tất cả những người chung quanh nhanh chóng và khéo léo tung lót giải tă ra để che đậy cái sự thực trần truồng vừa hé dạng. Bằng những sản phẩm kinh tế và với những sợi dây của ư hệ, đứa trẻ mới sinh được gói kín bọc chặt để vỡ ḷng vào sự học tập thành người tù gương mẫu cho đến ngày được chết một cái chết

gương mẫu.

 

Cuốn sách không tên của nhà thơ vô danh cũng vào đời trần truồng như Sự Thực.

Sự Thực về Cộng Sản Việt Nam.

 

Sự thực về đảng, Đảng thực chất chỉ là đảng cướp

Dựng triều đ́nh mộng muội giữa văn minh

Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh

Nhờ súng đạn Tầu Nga, bắt bớ

Đảng tắt thở cuộc đời mới thở

Đảng c̣n kia, bát phở hóa thành mơ

Sự Thực về lănh tụ của đảng “lănh tụ béo nục

trong khi “dân đen gầy rục”; lănh tụ bóc lột,

Các loại mồ hôi đều chẩy vào kho

.............

Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh.

.............

Con cá lá rau nát nhầu quản lư.

lănh tụ lừa phản quốc dân, lật lọng giả dối,

“Không có ǵ quư hơn độc lập tự do”

Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó...

... Việc nó làm, tội nó phạm ra sao...

... Nó gọi Tầu, Nga là cha anh nó

Và t́nh nguyện làm con chó nhỏ

Xông xáo, giữ nhà gác ngơ cho cha anh.

 

lănh tụ khát máu của nhân dân,

 

Tôi biết rơ, đồng bào miền Bắc này biết rơ

Việc nó làm, tội nó phạm ra sao

Nó là tên trùm đao phủ năm nào

Hồi cải cách đă đem tù, đem bắn*

Độ nửa triệu nông dân rồi bảo là nhầm lẫn

Đường nó đi trùng điệp bất nhân

(* cải cách ruộng đất và tố khổ)

Ngoài đói khổ rùng ḿnh

Thời đại Hồ Chí Minh

Xuất hiện dưới hai h́nh mả tù và mả lính.

 

Sự Thực về đảng viên và cán bộ:

 

Là quỉ? Là ma? Là thú dữ?

Gian manh tàn ác đê hèn

Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân đen

Để gọi chúng, tiếng người không đủ chữ.

 

Sự Thực trần truồng th́ phải che đậy cũng như đứa trẻ mới lọt ḷng phải có quần áo tă lót và cả mũ lẫn vớ tất thay giầy.

 

Lúc đó là vào khoảng cuối năm 1980. Tôi từ Pittsburgh về California với dự tính mở một pḥng mạch nhỏ vùng Santa Ana đông người Việt, khí hậu ấm áp, và ở lưng chừng giữa khoảng San Francisco và San Diego, thuận tiện cho tôi v́ muốn mai danh ẩn tích, thu gọn hoạt động vào cái chức lang vườn nhưng vẫn có thể tiếp xúc được với một vài người quen để biết về t́nh h́nh trong nước.

 

Vào khoảng thời đó, ở Quận Cam, c̣n gọi một cách thân thiết và ỡm ờ hơn là Hạt Cam tức là Orange County (một nơi mà những trại cam đỏ rực và mọng nước chỉ c̣n là vang bóng của một thời xưa không bao giờ trở lại), cộng đồng Việt Nam mới chỉ bằng nửa bây giờ về khối lượng nhưng đă lắm vấn đề. Kinh tế, xă hội, văn hóa, tổ quốc, quê hương, ngụ xứ, gia đ́nh, nhà hội, nghèo túng, thiếu thốn, bất an, bất ḥa, nhớ nhung, nuối tiếc, tan nát, ră rời... Là một người thầy thuốc gân xương mà không ngày nào tôi không phải làm thêm việc của một người cán sự xă hội, một cố vấn tâm lư và đôi khi một giám thị học đường và một hướng đạo giáo dục. Gỡ cái mối ưu phiền của thiên hạ...Do đó mà tôi nhờ nhạc sĩ Phạm Duy lúc đó cũng đang thất thểu trên con đường trở về với dân nhạc Việt Nam trong buổi tạm dung ở đất Mỹ. Nhạc sĩ có nhiều th́ giờ để đốt và phải đốt v́ không thể ngồi không để cho những dư âm của quê hương đất nước có thể nổi lên được và tàn phá tim gan. Tôi nhớ nhạc sĩ Phạm Duy lái chiếc xe lọm khọm của ông đưa đón các bệnh nhân theo hẹn từng ngày trong sổ.

 

Một việc làm mà tôi hơi xấu hổ là đă phải giao cho một nhạc sĩ thiên tài mà tôi quí mến! Nhưng chính anh lại luôn luôn thích thú v́ hàng ngày được tắm lại trong cái ao của những tâm hồn Việt Nam. Sau khi tôi nói chuyện với anh về phong dao mới của Việt Nam trong thời Hậu-Hồ (Tiền-Hồ là Hồ Quí Ly, Hậu-Hồ là Hồ Chí Cáo), anh thâu nhặt và ghi chép lại được rất nhiều những câu ca dao thời đại, cay đắng, chua ngoa, sỏ siên và uất hận không thua ǵ những câu thơ chửi xéo đâm ngang của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương nhưng cũng có thể tục và đểu đến nỗi Ba Giai, Tú Xuất và Trạng Quỳnh cũng

phải bịt tai mà chạy nếu sống lại đời nay. Một ngày nào đó, nếu nhạc sĩ chỉnh đốn lại tài liệu và cho xuất bản bộ Kinh Thi Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa này th́ cái công trong văn học và lịch sử không phải là nhỏ.

 

Thế rồi một hôm Phạm Duy chạy vào với tôi. Mọi khi th́ vui vẻ, hồn nhiên như luôn luôn người ta thấy anh, dầu trong ḷng nặng chĩu lo âu. Nhưng hôm đó th́ là hân hoan và hốt hoảng như bị kích thích đến tột độ. Trong tay anh cầm, tôi không nhớ rơ là một xấp bản vỗ khuôn hay một cuốn sách đă thành h́nh, và anh nói như thét lên: Anh phải đọc, phải đọc tập thơ này vừa thoát ra được từ trong nước, tôi sẽ phổ nhạc lạ lùng tuyệt diệu đúng như ḿnh nghĩ ḿnh mong, tôi mừng là sống được đến ngày nay!

 

Những chuyện về soạn nhạc được xẩy ra sau đó đă được Phạm Duy kể lại trong quyển cuối cùng của bộ Hồi Kư vừa hoàn thành, trong đó anh có nhắc đến buổi hàn vi của thời vong quốc lưu thân nơi đất khách quê người. Có khi vài ngày xong một , có khi hai bài dồn dập xuất thế trong một ngày, Phạm Duy viết nhạc lúc ấy như có thần, viết xong lại in trong một cái máy in nhỏ của pḥng mạch để sửa chữa; nhiều khi anh say với một câu nhạc đang thành quên cả việc đưa khách về và bị nhắc khéo: “Thôi đi chứ ông”; nhưng khi nào hơi rảnh rang, th́ anh lại chạy vào pḥng với tôi, đóng cửa lại và hát

cho tôi nghe

 

 Từ vượn lên người mất mấy triệu năm

Từ người xuống vượn mất bao (nhiêu *) năm

Xin mời thế giới tới thăm

Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm

(* nhiêu , tôi nghi là thiếu chữ này)

 hoặc

Bác Mao cân nặng tạ hai

Thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm

Người dân Trung Quốc th́ thầm

Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều.

 

Chỉ vào Giang Thanh mà thi sĩ gọi là Điêu Thuyền:

Nước Đổng Trác, Điêu Thuyền nắm quyền lịch sử.

 

Tôi mượn tậpthơ đem về đọc. Thơ thực hay, có một luồng chính khí tràn ngập, khi th́ hùng tráng lẫm liệt nhưng nhiều lúc lại u uất bi thảm. Nghĩ đến giấc mơ th́ thanh tao và trong sáng, cái hạo nhiên của tâm hồn cao vút lên tới trời mây rồi rung động với hoa lá hay bay bổng theo tiếng sáo diều của đồng quê. Nhưng bị giam cầm trong cơi u tối và tàn bạo của ngục tù (với một bản án vu vơ) hay của trạI tập trung (theo quyết định hống hách của một tên đảng viên tự coi ḿnh là Đảng), th́ giọng thơ thành sắt thép đúc lên những lời đao kiếm bén nhọn hay đổi thành những gióng tre mà cậu bé ở chân núi Sóc xưa đă nhổ lên từ b́a rừng để đánh đuổi giặc nước, những gióng tre dân tộc thẳng và chắc và tṛn và sắc có thể sỉa suốt trái tim, đâm thủng áo giáp thấu đến gan ruột hay đập vỡ một trăm cái sọ mà thân cây không bị gẫy đoạn.

 

Tập thơ đầu tiên tôi cầm trong tay có đề một cái tên cho toàn bộ là “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”. Tên này rút ra từ hai bài thơ ngắn mang số 113 và 114:

 

- 113

Toàn bộ thơ tôi nặng nề cay cực

Không một sắc màu mang khí lực xanh tươi

Vần điệu nghe như quỷ khóc ma cười

Do sáng tạo tận cùng sâu đáy vực.

- 114

Trong muôn ngàn tiếng muốn t́m ra

Tiếng nào thiết tha

Tiếng nào trung thực

Hăy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực.

 

Ông Nguyễn Hữu Hiệu là người ấn hành sách và nhận cái trách nhiệm đặt tên sách thay cho tác giả. Mấy tuần sau, tôi lại nhận được một bản in nữa, xuất bản bởi tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong, với một đầu đề khác mà nhà xuất bản tự ư viết lên b́a sách là “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

Thế là tập thơ không tên đă có hai cái tên, hai cái mũ đội trên đầu không kể một cái tên thứ ba mà ông Huỳnh Sanh Thông đă đặt cho một tuyển tập rút ra từ tập thơ không tên và dịch ra Anh văn. Đây là một công tŕnh đáng ca ngợi, nhưng cộng đồng Việt Nam ở Mỹ và Anh c̣n ít biết đến, và điều này thật rất đáng tiếc. Tuyển tập được đặt dưới cái đầu đề là “Hoa Địa Ngục”, “Flowers From Hell”.

Đứa trẻ sơ sinh đă có tên, có quá nhiều tên là đằng khác.

Nhưng nó vẫn c̣n mồ côi. Hay ít ra c̣n chưa được người sinh thành ra nó thừa nhận. Không phải là v́ không nhận nó, mà là v́ người ấy c̣n đang bị đe dọa trong tính mệnh nếu xuất đầu lộ diện. Đây không phải là lần thứ nhất mà một tác giả phải dấu tên trong lịch sử Việt Nam. Dấu tên là một phần của sự dấu tăm dấu tích. Lặn đi cho kẻ địch không thấy được ḿnh, nhưng trước đó phải ngụy trang đường đi, xóa bỏ vết tích, và phải làm mất những bọt tăm từ đáy nước nổi lên. Kẻ đi trốn biết rằng mỗi sơ hở là một tố cáo đưa đến thất bại, đến cực h́nh, đến gông cùm, đến thủ tiêu, đến một cái hố chôn sống người lấp bằng thành b́nh địa để mai tên tuyệt tích.

 

Tôi đọc tập thơ và rợn gai ốc với sự dũng mănh vùng lên, sự chắc nịch của tư tưởng phản kháng và sự kiên tŕ trong cuộc đấu tranh của người đứng sau thơ. Ai? Ai? Ai? Ai là cái ư chí thuần thành cách mệnh này? Ai là hiện thân của hồn nước trong thời đại này?

 

Buổi tối hôm ấy tôi tiếp một người bạn cũ ở nhà. Gọi là bạn cũng không đúng hẳn, kêu là một quen thuộc cũng sai. Tôi nhớ là đă gặp nhau vài lần trong những hội họp bí mật của thời niên thiếu. Tôi có đường tôi và anh có đường anh, nhưng cùng có sự kính trọng nhau. Tôi đă quên tên anh v́ từ ngày bị lọt lại trong cuộc tháo chạy của bọn tướng bất tài vô sỉ đứng sau lưng Mỹ để lănh đạo miền Nam, tôi không vơ đũa cả nắm, tôi đă xóa tên của những người quen biết có thể di lụy chiều này hoặc chiều kia và chỉ giữ lại trong kư ức những sự kiện mà thôi. Tôi phải xin lỗi và hỏi tên anh, để xếp lại anh vào những sự kiện nào trong lịch sử của thời đại qua.

 

Anh là một đảng viên kỳ cựu của Duy Dân Đảng mà ông Lư Đông A đă thành lập năm 1943 để mưu đồ độc lập cho Việt Nam chống lại những hoạt động của Đảng Cộng Sản muốn biến nước Việt Nam từ một thuộc địa của Pháp thành một vệ tinh của Liên Xô.

 

Câu chuyện quanh bàn ăn ṿng vo cái t́nh thế rối loạn của Việt Nam giữa cuộc tranh đua gọi là “lạnh” của các siêu cường và cường quốc đă thắng trận Thế Chiến Thứ Hai và trong cuộc nội chiến tàn bạo giữa các đảng cách mệnh Việt Nam.

 

Đột nhiên, nhưng cũng tất nhiên, tập thơ không tên của tác giả vô danh được kéo vào câu chuyện chính trị tầm phào. Tôi kể cho người bạn cũ biết những sự kiện trong đó tập thơ đă xuất hiện trong Cơi Âm u-tối của Việt Nam: một người đă lọt qua hàng rào công an và mật vụ bao quanh Ṭa Đại Sứ Anh quốc và vứt vào trong một bó tài liệu. Người đưa thư bị bọn an ninh ch́m và nổi xông tới bắt ngay, nhưng tập thơ đă vượt qua biên giới của pháp quyền mà sang bến bờ của tự do. C̣n bộ nội chính của nhà nước xă hội chủ nghĩa không biết nội dung của tập tài liệu kia có những ǵ, nên cũng chỉ đ̣i lấy lệ và cam chịu ngậm bồ ḥn để nuốt hận. Anh bạn muốn được xem tập thơ và sau khi đọc vài bài trong sự yên lặng trầm ngâm, anh nói với tôi, giọng nói khác thường như từ một thế giới khác vẳng về,  Anh Lư không chết, thơ này là của Anh Lư. Tôi giật ḿnh, nhưng theo thói thường, cũng phản ngôn lại, rằng Tôi thấy khác thơ ông Lư nhiều lắm. Thơ của ông Lư trang trọng, hàm súc và nhiều chữ Nho. Tại  sao anh lại bảo rằng những bài thơ này là của ông? Bạn tôi không trả lời. Một lúc sau, tối đă về khuya, trời hơi trở lạnh, anh từ biệt về và không gặp lại tôi nữa.

 

Những việc mà ai theo dơi thời cuộc đều nhớ, đă lần lượt xẩy ra. Một ông Minh Thi ở khu Bolsa (mà nhạc sĩ Phạm Duy gọi là Minh Huy), t́m đến Phạm Duy để tiết lộ rằng tác giả của tập thơ không tên là một nhà thơ thuộc nhóm Nhân Văn, tên là Nguyễn Chí Thiện. Mấy tháng sau lại có một ông Trần Nhu vượt biên đến Hương Cảng, tự nhận là đă bị tù cùng với tác giả tập thơ, và biết rơ rằng tên của thi sĩ đích thị là Nguyễn Chí Thiện. Có một cái ảnh thời niên thiếu của Nguyễn Chí Thiện được đưa ra công khai trên báo chí. Và cuối cùng, một nguồn tin chính xác từ Hà Nội cho biết rằng thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đă bị bắt lại vào tù.

 

Không ai c̣n nghi ngờ chi nữa, mọi bí mật đều phanh phui, có người làm chứng, có ảnh làm bằng, lại có cả một tiểu sử tác giả được lập ra với đủ ngày tháng, sinh năm nào (1937), ở đâu (Hải Pḥng), học ǵ, đỗ đạt ra sao (Tú Tài Pháp), thích ǵ (uống trà Tầu, đọc thơ Đường), cao bao nhiêu (1m70), có dấu vết ǵ đặc biệt trong người (mắt trái lé, lưng hơi gù, ria mép mầu nâu hung). Chẳng bao lâu nữa, chắc sẽ có một cuốn tiểu truyện lâm ly rùng rợn của nhà thơ ra đời, và Nguyễn Chí Thiện sẽ được vào văn chương sử Việt Nam với đầy đủ râu ria mũ áo, bên cạnh Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, những bóng mờ của thời xưa mà h́nh dung, thân thế vẫn chỉ là những mảnh giẻ rách mà trí tưởng tượng của hậu thế chắp nối vào nhau mà thôi.

Quốc tế cũng quáng gà mà xông vào mê trận. Pen Club Ḥa Lan, và Pen Club Quốc Tế tặng giải thi ca, các văn hào Pháp tuyên dương (Pierre Emmanuel, René Tavernier,...), các nhà văn và khoa học gia phản kháng ca ngợi (Leonid Pliouchtch), các nước Mỹ, Pháp, Na Uy, Ḥa Lan, Đức, Ư, Nhật... đua nhau dịch thơ, và sau cùng, để một ngôi sao lên ṿng hoa vĩ đại, Phạm Duy vận động được thi hào Leopold Senghor, thủ tướng nước Senegal, viết thư tay gửi thủ tướng Phạm Văn Đồng để can thiệp cho “người anh em trong thi ca của tôi” (mon confère) là Nguyễn Chí Thiện được trả lại tự do.

Trước bao nhiêu chứng cớ như thế, chính tôi cũng hăm các ư nghĩ của ḿnh lại và đôi khi đóng góp về cho gia đ́nh nhà thơ.

 

* * *

 

Mười hai năm sau.

Một vài em nhỏ đến hỏi tôi có biết ǵ về ông Lư Đông A và Đảng Duy Dân không?. Tôi trả lời là biết nhưng chỉ biết ở ngoài, mặc dầu không phải không liên hệ. Ông Lư Đông A lớn hơn tôi chừng 4, 5 tuổi, tức là cũng cùng một thế hệ đă nuôi cái mộng nối tiếp chí khí và hoàn thành sự nghiệp của các bậc tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và những người đă chết v́ nước năm 1930-1931 trên chiến địa và máy chém đầu. Ông Lư rời nước sang Trung Hoa trong thời Hoa Nhật chiến tranh đă mở đầu cho Thế Chiến Thứ Hai. Trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu, nơi khởi sự tranh đấu Quốc Cộng khi Tôn Văn c̣n chịu sự “cố vấn” áp đảo của tên cán bộ Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế Borodin mà Stalin đặc biệt gửi sang với Nguyễn Tất Thành, mạo danh Nguyễn Ái Quốc, là thông ngôn và thư kư, lúc ấy đă chuyển đi một nơi khác sâu hơn trong nội địa để có sự an toàn. Ông Lư sang đến Trung Hoa gặp những nhà cách mệnh Việt Nam c̣n sống sót và lưu lạc như những người dân bản xứ và biết được rất nhiều về Nguyễn Tất Thành. Sau này lui về Liễu Châu (1942), ông lại gặp hắn bằng xương thịt nhưng vẫn với chủ trương cũ do Stalin truyền cho Borodin, là ở Trung Hoa và Việt Nam, phải theo con đường dân tộc để xây dựng Cộng Sản. Nguyễn Tất Thành bị bắt ở trấn Thiên Bảo vào cuối tháng 8/1942 và bị giải về Liễu Châu, đến cuối năm 1942 th́ được tướng Trương Phát Khuê trả lại tự do. Lấy tên là Hồ Chí Minh, hắn trở về Việt Nam, móc nối với Đại Tá Patti của OSS (Tổ chức an ninh chiến lược, tiền thân của CIA), gặp Vơ Nguyên Giáp trong nước ra, và ra lệnh giúp Patti. Trong thời gian này, Hồ bị chứng sốt rét cơn nặng mà không có thuốc. Đại Tá Patti cho Hồ mấy phát Kưnin (Quinine) và cứu Hồ sống.

 

Lư Đông A tự học nhiều, đọc sách cổ của Trung Hoa và sách kim của Nhật Bản, hướng về thần bí, chịu ảnh hưởng Lăo học và Phật học, nhưng tâm hồn hướng về dân tộc và có ước nguyện lớn là vượt được lên trên tất cả

 

 Bút nghiên đèn sách đều sai lạc

Kim, Cổ, Đông Tây cũng hăo huyền

(Đạo Trường Ngâm)

 

mong xây dựng được một hệ tư tưởng khả dĩ khôi phục lại được nền văn minh Việt.

 

Trong những năm lưu lạc ở Trung Nam, ông Lư Đông A lập nên thuyết Duy Nhiên. Nhưng đặt chân trở lại trên đất mẹ, ông đổi thành Duy Dân học thuyết và lập ra đảng Duy Dân. Duy Dân là ǵ? Nói một cách vắn tắt, Duy Tâm sai lầm, Duy Vật sai lầm, Duy Dân là chân lư, lịch sử là sự thực hiện Duy Dân.

 

Em muốn hỏi tôi nghĩ thế nào về Duy Dân học thuyết hay chủ nghĩa Duy Dân ư? Nếu tôi theo Duy Dân, tôi trả lời ngay, Duy Dân là lá cờ. Nếu tôi là cộng sản, tôi cũng trả lời ngay, Duy Dân là kẻ thù. Nhưng tôi không Duy Dân và tôi chống cộng sản. Câu trả lời của tôi là, hăy t́m hiểu nhiều hơn, hăy đi vào cuộc sống với tất cả tâm hồn ḿnh, hăy đau khổ cùng với dân tộc. Có những điều tôi chỉ nói cho những ai đáng nghe mà thôi. Hăy đi vào cuộc đời tự do tự chủ tự tạo tự kiến. Đừng ôm trên đầu cái nón nặng của những thiên kiến.

 

Các em muốn hỏi ông Lư Đông A c̣n hay đă chết?

Tôi không biết. Cuối năm 1946, trước và sau khi nổ súng đánh vào quân Pháp, Cộng Saœn Việt Nam đă tiêu diệt tất cả các đảng Quốc Gia, Việt Nam Quốc Dân Đảng bị phá vỡ ở Vĩnh Yên. Đại Việt Quốc Dân Đảng bỏ Yên Bái, mất Chapa, thua ỏ Bắc Giang và Lạng Sơn. Các lănh tụ Đại Việt bị bắt, tra tấn và tàn sát, đảng trưởng Trương Tử Anh, sinh viên Đặng Vũ Trứ và Phan Thanh Hoài... Đại Việt Duy Dân Đảng lấy đồi núi Nga Mi vùng Ninh B́nh Thanh Hóa làm chiến khu nhưng bị vây hăm và công phá. Không ai biết về sau ra sao, nhưng có tin truyền từ miệng sang tai rằng ông Lư Đông A đă hội

các đảng viên và binh lính, tuyên bố rằng t́nh h́nh bất lợi và thời cơ c̣n xa, nên giải tán đảng, mọi người trỏ về và náu thân trong dân, chính ông cũng tạm thời tuyệt tích với sông núi... Có tin ông chết chưa, các em hỏi.

 

Có chứ, không phải một lần mà hai ba lần. Nhưng khác với Tạ Thu Thâu và Huỳnh Phú Sổ trong Nam, một người là lănh tụ Đệ Tứ Quốc Tế ở Việt Nam, một người là giáo chủ Ḥa Hảo, cả hai đều đă chết thực trong tay Cộng Sản Đệ Tam; nhưng tin về cái chết của Lư Đông A không phối kiểm được.

Một em đă lạnh lùng nói, nếu vậy th́ ông Lư Đông A không chết. Ông Lư Đông A là tác giả “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”.

 

* * *

 

Tôi đọc lại tập thơ không đề của tác giả vô danh.Đọc lại và bỏ ra ngoài những ǵ là văn, là thơ. Đọc lại với những ǵ tôi biết, tôi nhớ về Duy Dân, gần 50 năm về trước.  Như thế là tôi đă bị lung lạc bởi đám thanh niên hậu sinh. Đằng sau các em là ai, tôi chưa biết. Nhưng khi những người trẻ tỏ ra yêu nước và tha thiết thực với đại sự, tôi cũng bị lôi cuốn đi.  Có một điều cần làm sáng tỏ trong vụ án thơ này.Không phải vấn đề tác giả tập thơ là ai – Cũng không phải cả vấn đề ông Lư Đông A sống hay chết và Đảng Duy Dân có sắp hoạt động hay không ?.

Vấn đề là Ư NGHĨA của tập thơ không tên của tác giả không tên. Nghĩa của b́nh phương.

 

* * *

 

Rằng có một người bằng da bằng thịt mà chúng ta đă quên đứt đi. Một mạng người chứ không phải nhỏ. Đó là người đă liều chết cầm tập thơ, vượt tuyến dầy như địa vơng thiên la của công an và mật vụ, đưa được tập thơ từ đất độc tài đảng trị sang thế giới tự do. Số phận của người ấy ra sao? Chống lại nhà nước, tư thông với ngoại quốc, lén đưa tài liệu phản cách mệnh cho kẻ thù, gián điệp, âm mưu phản loạn... Mỗi tội là một tội chết. Nhưng không thể chết được trước khi bị khai thác đến cùng để t́m ra nội dung của tài liệu và danh sách đầy đủ của những người đồng đảng. Người Liên Xô gọi công việc ác độc tinh vi này là Phá-Thông-tin, Disinformation. Ai đă bị sỉ nhục, tra tấn, hành hạ trong một vài trại tập trung ác ôn của quần đảo Gulag Việt Nam có lẽ đă biết được một phần mười cái kỹ thuật phá-thông-tin này. Kể lại cũng đủ rợn da gà và xin được tha cho h́nh phạt ấy.

Cầu Trời Phật cho người ấy đă chết rồi và thoát sự phá-thông-tin.

Người ấy không phải là ông Nguyễn Chí Thiện.

 

V́ ông Nguyễn Chí Thiện c̣n sống 1991, ông chụp ảnh mặc cái áo da dầy, đầu đội mũ, mắt đeo kính, đứng với bà Nguyễn Chí Thiện tay đút túi có vẻ đ́nh huỳnh trước một bức tường gạch lỗ giống như dinh cũ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.  Cũng không phải là tác giả thực của tập thơ. V́ nếu là chính tác giả th́ việc ǵ phải dấu tên ḿnh trong sách khi chính bản thân ḿnh đă xuất đầu lộ diện? Khi, như ta thường nói, đă xuất tướng? Tác giả, một người đă thâm hiểu Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Việt, đă viết về Hồ Chí Minh:

 

“Không có ǵ quư hơn độc lập tự do!”

Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó

Tôi biết nó, đồng bào miền bắc này biết nó

Việc nó làm, tội nó phạm ra sao

 

đă viết về Đảng, tức là đảng Cộng Sản Việt Nam:

 

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp

 

đă viết về hai bộ mặt của đảng viên và cán bộ Cộng Sản, gian manh, tàn ác, giả dối đối với dân:

... bọn cướp tự do

Đạo mạo thung dung trên tàn tro xương sọ

..............

Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân đen

ḅ mọp, luồn cúi, đê hèn trước cấp trên:

 

Khắp nơi nơi nhung nhúc loài lươn

Loài giun đất không quằn khi dẫm

 

một người đă lăn lộn trên khắp các nẻo đường đau thương của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, lẽ đâu không hiểu rằng chỉ để lộ một chút h́nh tích cũng sẽ không thoát khỏi sự truy bức của chế độ công an mật vụ.  Người đưa tập thơ cho thế giới tự do qua cái cửa đóng nhưng mở của Ṭa Đại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội chỉ có thể là một người v́ Đại Nghĩa mà chấp nhận cả cái chết đau đớn thê thảm nhất, một người như chuyện xưa tích cũ kể lại, đă tự cắt lưỡi để khỏi nói, tự chặt tay để khỏi viết trước khi tự nguyện vượt ṿng vây trùng điệp của địch quân và mang ra ngoài một tin tức tối mật, tối trọng. Hoặc một người đă mang sẵn trong kẽ răng một hạt cyanid kali để tự giải thoát sau khi hoàn thành nhiệm vụ. V́ sự quan trọng, vượt lên trên cái sống-chết của bản thân ḿnh, là bảo vệ sự sống của tác giả không-tên, và nhờ thế, sửa soạn sự bùng nổ của Cách Mệnh.

 

Tôi cúi đầu trước một vị anh hùng cũng không-tên như nhà thơ, tôi cúi đầu trước sự hi sinh cao cả của một dũng sĩ trung thành với lư tưởng của ḿnh.

 

* * *

 

Hầu hết tất cả mọi người đă nhận tập thơ không tên của tác giả dấu tên như một cáo trạng lên án sự tàn bạo ngu tối và phản động của đảng Cộng Sản ở Việt Nam; bản cáo trạng rung động nhất v́ là thơ, một loại thơ

 

không phải là thơ

là tiếng cuộc đời nức nở

 

bản cáo trạng thật nhất

 

Thơ của tôi kém phần tưởng tượng

Nó thật như tù như đói như đau thương

Thơ của tôi chỉ để đám dân thường

Nh́n thấu suốt tim đen phường quỷ đỏ

 

bản cáo trạng tinh thuần nhất v́ viết bằng nước mắt, mà

 

Trong muôn gịng trái đất tuôn đi

Gịng trong nhất là gịng nước mắt.

 

Nhà xuất bản Văn Nghệ Tiền Phong đặt cho nó cái tên là: “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam hơi quá vội vă. Chúc thư là của một người sắp chết viết ra v́ sợ những người c̣n sống tranh giành giết hại nhau và phá nát cái gia tài ḿnh để lại: như chúc thư của Lênin (mà người ta sửa lại), chúc thư của Mao Trạch Đông (mà người ta dấu biệt), và chúc thư của Hồ Chí Minh (mà người ta cắt xén, c̣n lại th́ dẫm nát).

 

Tác giả tập thơ không chết và cương quyết sống cho hết cuộc đời của ḿnh. Khi “tóc bù thất thểu” , bước cô đơn trong cái quần chúng điêu tàn của thành phố về đêm, th́ tự nhủ

 

thôi về ngủ, mặt trời lên, sẽ dậy.

 

Khi lạc lơng trong những cảnh đèo heo hút gió, bỗng có “tiếng ếch nhái côn trùng trong cỏ nước” (biểu tượng thơ của bọn cán bộ ŕnh rập, suốt ngày lải nhải như ếch, nhái, côn trùng)

 

Người lữ khách giật ḿnh chân rảo bước

Bản mường xa có kịp tới qua đêm.

 

Khi ở trong tù, đói khát lạnh lẽo, “sống đọa đầy thoi sống ngựa trâu”

 

Hơi đất hơi người bốc lên thở khó

Quần áo xông hơi giăng đầy đây đó

Muỗi rệp tung hoành, chuột gián lông nhông

Mùi hố tiêu, hố tiểu cùng xông

Hủi, xuyễn, ho lao, điên rồ náo động

 

vẫn tâm niệm rằng phải sống,

 

Để thắng kẻ thù tôi phải sống ngàn thu

(1976)

cho đến năm 1975 rồi sau nữa, khóc cho miền Nam (Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan / ta sống trọn vẹn ngàn cơn thác loạn) nhưng vẫn ngạo nghễ và tin tưởng:

 

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng phụ

Ta vẫn c̣n đây và sắt thép c̣n kia.

Chết chóc thầm câm, cốt nhục chia ĺa

Ta vẫn sống và không hề lẫn lú

Ta muốn nói với loài dă thú

Khúc * khải hoàn ta sẽ hát thiên thu

(1975)

(* bản in có lẽ thừa một chữ hát ở đây)

Chỉ có đến thời cơ tối hậu, khi cần để cho dân tộc sống th́ mới chịu sự hi sinh cuối cùng:

 

Ta dám sống và ta dám nghĩ

Chuyện dám làm dám chết nhẽ đâu không

Ta sẽ dành cho sự thành công

Bảo bối cuối cùng, MẠNG SỐNG.

(1976)

 

Không, tôi không nghĩ rằng tập thơ không tên của người không tên là một “chúc thư”. Và tập thơ này cũng không chỉ thu hẹp cho người Việt Nam, v́ tác giả kêu gọi tất cả thế giới, tác giả đánh cộng sản cũng đánh cả từ Các Mác, Lênin xuống đến Mao Trạch Đông và bè lũ cộng sản ở Việt Nam

 

Tôi không nhớ hết tên bọn nó

Duẩn, Giáp, Hồ, Chinh Xu * ǵ đó.

(* Chinh Xu là Trường Chinh tức Đặng Xuân Khu

(Xuân+Khu=Xu) và cũng là đồng chinh, đồng xu, hai đơn vị rẻ rúng và nhỏ thấp nhất trong khối tiền tệ thời Đông Dương Pháp thuộc).

 

Giáo sư Huỳnh Sanh Thông rút ra từ trong tập thơ bài, thứ 112  trongNhững Ghi Chép Vụn Vặt”, một cái đầu đề rất văn chương là “Hoa Địa Ngục”. Tôi đă nói ở phần trên rằng việc dịch một số những bài thơ này sang Anh ngữ là một việc đáng ca ngợi và tôi phải nói thêm rằng khó có thể có một bản dịch hay hơn bản của giáo sư Huỳnh. Tuy nhiên, tôi không đồng ư vói cái tên sách mặc dù trích ra từ thủ bút của tác giả, trước hết v́ trong tiếng Anh, Flowers from Hell tự nhiên nhắc đến tập thơ của Baudelaire, và nhờ thế tôi biết rằng nội dung thơ của nhà thi sĩ Pháp này là một tâm trạng buồn nản chán chường trong những cặn bă của một cuộc đời đă thấy sự giả dối của các giá trị tinh thần cũ kỹ.

 

Baudelaire là thi sĩ đầu tiên và lớn nhất của thế hệ “thi sĩ bị nguyền rủ” (les poetes damnés) của Âu Tây. C̣n thi sĩ vô danh của chúng ta tuy đau khổ gấp vạn lần nhưng không chán nản, tuy đă thất bạI cay đắng nhưng ư chí và ḷng tin vẫn vững như sắt

thép:

 

Đảng đầy tôi trong rừng...

... tôi hóa thành người săn bắn,

Đảng d́m tôi xuống bể...

... tôi hóa thành người thợ lặn,

Đảng vùi tôi trong đất nâu...

... tôi hóa thành người thợ mỏ

đào lên quặng quư từng kho

Không phải (quặng *) kim cương hay quặng vàng chế đồ nữ trang xinh nhỏ

Mà quặng Uranium chế bom nguyên tử

(Chữ quặng * có lẽ đă chép thừa)

Ta vững tin Đất Trời kia chẳng phụ

Công đất vun bồi nuôi dưỡng thân ta

Trong đêm cùng vùng nhiệt đới bao la

Trái lửa của ta sẽ bùng lên vạn ánh.

 

Thi sĩ không tên không phải chỉ là thi sĩ. Tập thơ không tên không phải chỉ là những bông hoa. Cho nên tôi nghĩ rằng “Hoa Địa Ngục” không dùng đề sách được, v́ đẹp quá, thơ quá, với một chút lăng mạn không thích hợp và một ư nghĩa không đúng khi bị tách rời khỏi đồng văn. Tách rời thành một đầu đề, “Hoa-Địa-Ngục” hàm ư rằng “Địa ngục vẫn c̣n nở hoa”, như thơ của Pasternak c̣n đâm bông trên đất Liên Xô, thơ Thanh Tâm Tuyền c̣n mọc ở ngục tù cộng sản với lời đẹp, ư hay, sâu đậm t́nh người và chứa chan thương nhớ. Đại khái cũng như “Hoa Xuyên Tuyết”, một cuốn văn xuôi để rao hàng chính trị mới xuất bản gần đây, mà chính tác giả đă đặt tên với rất nhiều kiêu ngạo, để nói rằng trên mảnh đất lạnh lẽo không c̣n một cọng cỏ sống, đă có một bông hoa trồi lên được trên mặt tuyết là ta đây; nhưng một con én, con én thực trước mùa, không thể làm nổi được mùa xuân, th́ một bông hoa xuyên tuyết, mà lại là hoa giấy, báo hiệu được cái ǵ? Rằng tuyết không bao giờ tan v́ có một bông hoa đă mọc chồi lên, nhưng đến ngày mặt trời của mùa xuân trở lại và sưởi ấm mặt đất, tuyết đă tan hết th́ bông hoa xuyên tuyết quư đông vừa qua, nếu c̣n, sẽ vẫn chỉ là một bông cỏ dại không khác ǵ những giống cỏ đă bị tuyết d́m trong đất đóng băng.

 

Tôi ghi nhận sự nghiệp và công tŕnh của giáo sư Huỳnh Sanh Thông nhưng nêu lên ở đây những nghi ngờ của tôi về sự xác đáng của đầu đề mà giáo sư Huỳnh đă đặt cho tập thơ không tên. Ông Huỳnh cũng như ngàn vạn độc giả đầu tiên của tập thơ, đă không thấy ngay cái bản chất của nó, nên đă chỉ nh́n thấy rằng đây là một bó hoa có hương sắc không thường nhưng cũng chỉ là một bó hoa. Nhưng thơ và hoa trong tập này là những h́nh thức trá ngụy, như chính tác giả đă chỉ cho ta thấy một cách minh bạch, rơ như ban ngày:

 

Tim với óc căng lên v́ động lực

Đẩy vần thơ từ đau khổ chồi ra

Những vần thơ CÓ H̀NH DẠNG LÀ HOA

SONG SỨC PHÁ VẠN LẦN HƠN TRÁI PHÁ.

 

Đây không phải là văn chương hay mỹ từ. Đây là sự thực, và sự thực c̣n cao thâm và mănh liệt hơn thế nữa như tôi sẽ nói. V́ vậy tôi nghĩ rằng chữ Hoa trong “Hoa Địa Ngục” không phải là một ẩn dụ đẹp đáng thú vị và hài ḷng.  C̣n một đầu đề thứ ba nữa đă được dùng để đội lên tập thơ, là “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” trong bản in của ông Nguyễn Hữu Hiệu. Đầu đề này là một khôn khéo v́ ông Hiệu đă rút ra từ nguyên văn của tác giả trong bài 114 trong phần “Những Ghi Chép Vụn Vặt”

 

Trong muôn ngàn tiếng muốn t́m ra

Tiếng nào thiết tha

Tiếng nào trung thực

Hăy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực.

 

 Đầu đề được lọc ra có một âm hưởng hoang vu bí ẩn v́ sự láy lại của cặp âm vị t-v (tiếng vọng) (từ [đáy] vực) được mạnh thêm với sự láy lại của cặp thanh vị (sắc-nặng) huyền (sắc-nặng), nhưng đây mới chỉ là âm điệu trong thơ. Tôi nghĩ rằng chính ông Hiệu có lẽ cũng không ngờ bài thơ “vụn” này lại chính là cái ch́a khóa để mở cửa cái kho tang dấu kín bên trong, mà tác giả muốn dành riêng cho các tri âm, chủ yếu là đồng chí. Nay tôi mạo muội giảng ra cho rơ.

 

Tiếng Vọng Từ Đáy Vực là tổng cộng tất cả các bài thơ trong tập. Tiếng Vọng không phải là tiếng vang, mà là tiếng gọi, dội lên trong cảnh vật và đă bị cảnh vật làm biến giọng tuy nghe vẫn c̣n rơ tiếng. Tiếng vang, không bắt buộc phải có nghĩa, và cũng không bắt buộc phải là tiếng người; một tiếng trống, một tiếng kêu ú-u khi đập vào một thành tường hay một vách núi và phản chiếu lại cũng ú-u hay tùng-tùng, chỉ hơi nhụt hơn, cùn hơn là tiếng vang. Tiếng vang, nghĩa bóng, có thể là sự rung động trong ḷng người gây nên bởi một hành động mạnh mẽ quyết liệt, như khi ta nói “trái nổ của Phạm Hồng Thái đă gây nên một tiếng vang lớn trong các đoàn thể cách mạng đương thời”. Trong cả hai trường hợp, không phải là tiếng vọng. Văng-vẳng, một từ đồng tộc, nhưng âm thanh đệ nhị cấp này c̣n mơ hồ hơn nữa, xa xôi hơn nữa (Văng-vẳng tai nghe tiếng khóc chồng / Nín đi kẻo thẹn với non sông – Thơ Hồ Xuân Hương).

 

Tiếng gọi này vọng lên từ đáy vực tức là từ chỗ sâu nhất của một vùng đất trũng. Vực đă  sâu rồi, đáy vực là chỗ thăm thẳm tận cùng của vực sâu. Xin độc giả ghi nhớ chữ đáy này: nó đồng tộc với đế, là “phần dưới cùng của một vật nhân tạo”, và được thấy trong những từ ngữ như đáy bể [ṃ kim], đáy nước (ch́m đáy nước cá lừ đừ lặn, Thơ Nguyễn Gia Thiều), sóng đáy “làn sóng dưới ḷng bể, ḷng sông”, gió đáy “luồng sóng thấp nhất và sâu nhất của một thung lũng hay một vực đất”. Lại có những cách nói ẩn dụ, đáy ḷng, đáy tầng xă hội, đáy tầng lịch sử... Đáy vực trong câu thơ trên cũng không theo nghĩa đen, mà được dùng như một ẩn dụ với nghĩa bóng, là nơi cực khổ lầm than, không thể tưởng tượng ra một nơi cùng cực hơn nữa; cũng như thể ta nói “tầng thứ chín của địa ngục”, nhưng là địa ngục trong cơi nhân sinh; hay theo nhăn tuyến của thi sĩ Dante Alighieni: “Ṿng địa ngục thứ 13”. Cách hiểu này có thể đă gần đúng ư của tác giả, và nếu tôi không lầm th́ giáo sư Huỳnh Sanh Thông cũng nghĩ như thế. Chính tôi cũng muốn chỉ hiểu có vậy thôi.

 

Nhưng có một cái ǵ của tuổi trẻ hai mươi trong người tôi nổi lên và căi lại rằng Không, không phải chỉ có thế. Đáy vực dĩ nhiên là đáy vực, nơi ngự trị của tối tăm đau khổ và tàn ác triền miên, nơi mà mặt trời và hi vọng không bao giờ chiếu tới. Nhưng đáy vực cũng là Đáy Vực, là Đ.V., tức là Đại Việt.

Đáy vực không phải chỉ là khe sâu thăm thẳm của Hoàng Liên Sơn hay những lạch nước váng đen cay đắng của Sơn La, Vạn Bú, đáy vực là toàn cơi núi sông gấm vóc uy nghiêm của nước Đại Việt mà Cộng Sản đă biến thành một nhà tù không bờ không mái, không cơm áo, không t́nh thương, mà toàn dân bị cưỡng bách phải bốc thơm là thiên đường trên trái đất. Ôi!

 

Cái thiên đuờng đói khổ miên man

Toàn giết chóc tù lao dối trá.

 

Lại xin các quí độc giả ghi nhớ lấy cái đáy vực mà lịch sử bốn ngàn năm xưa vẫn gọi là Đại Việt.

Khi đáy vựcđáy vực, th́ tiếng vọng mà người khách qua đường nghe thấy có thể là của một người.

Nhưng khi đáy vực là toàn cơi Đại Việt, th́ tiếng vọng kia là của toàn dân, của cái đại khối Quốc Dân Việt đang thoi thóp trong ḷng vực thẳm; là của Lịch Sử, của ḍng lịch sử mà các vua Hùng đă dựng lên và quốc dân Việt đă đem xương máu dưới sự lănh đạo của Lư Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Nguyễn Huệ để ǵn giữ đắp bồi, và bọn cộng sản bán ḿnh cho sách lược của Tầu, Nga, đang dầy xéo cưỡng hiếp. Khi ấy có ai là người Việt mà dám nhận chỉ là khách qua đường?

Này người bạn hữu tâm, hăy lắng nghe cho rơ:

 

Trong muôn ngàn tiếng, muốn t́m ra

Tiếng nào thiết tha

Tiếng nào trung thực

Hăy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực.

 

(Để ư đến dấu phảy trong câu đầu, không bản in nào có, và phải đặt vào th́ câu mới rơ nghĩa)

Tiếng vọng ấy là muôn ngàn tiếng bị cầm tù, bị cùm xích, bị bỏ đói từ ngàn vạn người dân Việt thốt ra, và đă kết tinh lại trong tiếng thơ của thi sĩ không tên. Thi sĩ đến đây vẫn c̣n là thi sĩ không tên, v́ là bách tính, trăm họ và trăm tên; không tên, là v́ đă bỏ cái tên của ḿnh đi để hoàn toàn là một người Việt Nam của thế hệ; không tên, là v́ đă hiểu rằng trong cuộc chiến tối hậu sắp tới để tận diệt những tàn tích cuối cùng đội danh Việt Nam của Cộng Sản Quốc Tế, tất cả các người chiến đấu cho Chính Nghĩa đều là những vô danh thị, lính vô danh, dân vô danh và người vô danh. Muôn ngàn tiếng than khóc, rên la, chửi rủ, kêu gọi ấy không phải chỉ thuần một giọng. Người hữu tâm, kẻ tri âm phải hiểu ra, phải biết phân biệt.

Bằng cách nào? Bằng cách lắng nghe, yên lặng tâm ư để nghe, nghe không phải bằng tai mà bằng trái tim. Hăy nghe để mà thấy rơ:

 

Tiếng nào thiết tha

Tiếng nào trung thực;

 

Cho tới ngày hôm nay, tất cả mọi người và quốc tế đều đă nghe, và nghe thấy, những tiếng thiết tha. Những tiếng khóc than thương cảm mà Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đă nói đến bằng những câu thơ tuyệt diệu và cao quí của Cung Oán Ngâm Khúc:

 

Khóc v́ nỗi thiết tha sự thế

Ai bầy tṛ băi bể nương dâu

Trắng răng đến thuở bạc đầu

Tử sinh kinh cụ làm nau mấy lần.

 

những tiếng thiết tha cục cằn tục tĩu, nhưng mà đau khổ gấp ngàn lần mà thi sĩ không tên viết ra trên đất Việt của ngày nay một cách hiện thực siêu xă hội chủ nghĩa

 

 ... tiếng cuộc đời nức nở

Tiếng của nhà giam ng̣m đen khép mở

Tiếng kḥ khè hai lá phổi hang sơ

Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ

Tiếng răng lạnh đổ vào nhau khổ sở

Tiếng dạ dầy đói lép bóp bâng quơ

Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ

Tiếng bất lực trước muôn ngàn sụp lở

Toàn tiếng của cuộc đời sống dở

Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ!

 

Nhưng này anh bạn hữu tâm, anh có nghe thấy bên cạnh và bên trong những lời thiết tha buộc tộI ấy, những lời trung-thực được gửi ra cho anh trong tập thơ không tên?

 

Nếu anh có nghe thấy, nếu anh đă nghe thấy, th́ anh phải hiểu tại sao tập thơ không có tên, tại sao tác giả không thể để tên. Tại sao Đảng và Nhà Nước phải có cả một chiến dịch để dựng ra như thực  một “thi hào” đội mũ đeo kính có tiểu sử táp nham nhưng đầy đủ chi tiết, để đứng ra nhận lănh mấy cái giải quốc tế văn chương trong khi chờ đợi một giảI Nô-ben thơm phức? Và tại sao ở khởi điểm của vụ án văn chương cuối thiên niên kỷ thứ nh́ này, có một mạng người đă t́nh nguyện chết bởi cực h́nh?

 

Bởi v́ tập thơ này không phải chỉ là thơ;

Bởi v́ không như bộ Quần Đảo Gulăcgô của Soljenitsin, tập thơ này không kể với đầy đủ chi tiết và danh xưng những dă man phi nhân của chế độ ngục tù xă hội chủ nghĩa, tập thơ này không hoàn toàn chỉ là một bản cáo trạng trước Trời, Đất và lương tâm nhân loại;  Bởi v́ không như thơ của nữ thi sĩ Nga Anna Akhmatova đă kể ra trong hơn 700 bài thơ đẹp năo nuột những đau đớn khổ nhục của kiếp người, mất hết hi vọng và ṃn mỏi cả đến sự thất vọng trong đời sống xă hội chủ nghĩa, tập thơ Việt Nam không phải là một tiếng khóc hay một bài văn tụng niệm vong linh, nhớ thương những người đă khuất.

Tập thơ không tên là một tiếng than dài cho kiếp người trong chế độ cộng sản; là một lời khóc dân tộc điêu linh; là một câu nguyền rủ những kẻ mặt cán bộ nhưng ḷng là thú dữ, gian manh, tàn ác, đê tiện, dựa thế-lực của Đảng để cưỡi đầu bóp cổ dân đen, không kể là đàn bà, ông lăo hay hàng con cháu mới lên bẩy lên tám; là một bài văn hạch tội bọn lănh tụ cộng sản bán nước hại dân, phi nhân phi nghĩa; là một khúc Đoạn Trường Tân Thanh cho một dân tộc hiền ḥa, anh dũng không may mắc phải oan khiên.

 

Nhưng tập thơ chủ yếu là một tuyên ngôn và một mật lệnh. Tuyên ngôn trước kẻ thù. Mật lệnh cho các đồng chí. Đó là những lời trung thực, phải phân biệt với những lời thiết tha, trong tập thơ không đầu đề của nhà cách mệnh thi sĩ.

 

* * *

 

Tuyên ngôn trước hết là kể tội. B́nh Ngô Đại Cáo, dưới ngọn bút thần của Nguyễn Trăi, ghi vào trong sử xanh cho quốc dân muôn đời thấy rơ những tội ác của loài nghịch tặc, những tội ác mà trời không dung đất không tha, nhiều và sâu trúc rừng không ghi hết tội, nước bể không rửa sạch mùi.

Trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba, những độc ác và dơ bẩn của Cộng Việt c̣n thâm sâu và hệ thống gấp ngàn lần những tṛ trẻ con “lên rừng đào mỏ, xuống bể vớt châu, hố bẫy hươu đen, lưới ḍ chim sả” của quan quân nhà Minh.

 

Tôi không trở lại những vấn đề mà chỉ viết ra cũng muốn bẻ quằn ng̣i bút. Rừng Việt Nam nay đă bán rẻ cho nước Phù Tang mới hôm qua c̣n bị gọi là bọn “giặc lùn”, để không c̣n giấy bút mà tội trạng sợ có thể bị kê khai, mặc cho nước lũ và lụt sẽ tàn phá mùa màng và sinh mệnh của đồng bào ruột thịt, trong cả trăm năm sắp tới. Đất đai và vị trí chiến lược của quần đảo Trường Sa mà các đời trước đă mỏi công pḥng vệ nay đă chính thức được dâng cho nước Tầu, kẻ thù truyền thống của dân An Nam, để chạy cái tội đă theo Nga, bất kể rằng trong tương lai đây có thể là những cḥi canh hải phận và là những rốn dầu hỏa ngoài khơi của đất nước

.

Đối với nhân dân th́ số mệnh không được coi là bằng một khúc dồi chó, c̣n tự do và hạnh phúc chỉ là những tồi bại hủ lậu của thời phong kiến mà cách mệnh đă chôn sâu. Đàn bà, trẻ con, ông già bà cả, tất cả phải đồng đều thi đua lao động ăn sắn, miệng gào to hoan hô đả đảo theo loa. Ngục tù và trại tập trung mọc ra trên khắp các nẻo đường để tuyển lao công chung thân không lương, đồng thời là những công trường sản xuất nô lệ của chế độ. C̣n học đường chỉ là để trao cho tuổi trẻ những hiểu biết căn bản để phục vụ cấp trên đúng theo chỉ thị và đào luyện những công dân có đạo đức cách mệnh chửi cha tố mẹ. Các đồng bào ở các miền rừng núi cũng được chiếu cố kỹ lưỡng. Chân dung mấy gă râu xồm, râu dê, và có một thời một anh lợn ỉ (cả diện mạo lẫn ḷng ruột) “thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm” được rước vào bản để hạ bệ các vật tổ và thần bản cũ xưa, gọi là đem văn minh soi sáng man di, kẻ nào chống đối đều được phát cho cái áo sọc và đưa đến ở một trại tù

 

Ngục tù dựng gấp không xuể

Vạn ức Mường Mèo Thái Thổ Kinh.

 

Kể tội là mào đầu. Sau cái mào đầu thiết tha đau xót, Tuyên Ngôn nói đến cái lẽ tử-sinh. V́ sao tranh đấu? V́ cái ǵ tranh đấu. Cái lẽ tất thắng và vạn thắng của cuộc tranh đấu. Nhưng cuộc tranh đấu cam go c̣n đ̣i hỏi nhiều đau khổ. Những đau khổ quá khứ hun đúc ḷng người. Một thất bại trong quá khứ v́ bội nghĩa, vong ân

 

Có lưỡi dao găm sâu cắm tâm t́nh, và

Đau đớn lắm, cái lầm to thế kỷ

Sử sách ngàn đời c̣n măi khắc ghi

Mấy chục năm trời xương máu đổ đi

Thử hỏi dân đen thu được những ǵ

Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si

 

Nhưng cách mệnh chỉ ngừng lại một phút v́ thời cơ không thuận lợi. Nay đă đến lúc rồi, cách mệnh lại phải bùng lên

 

Tôi xiết rên quằn quại tự t́m đường

Dù có phải bồi thường bằng xương thịt

 

nhân dân bị dầy xéo như những đám cỏ lau, cũng đă phản tỉnh

 

Chính đám sậy lau

Sẽ thiêu tất bay thành tro xám

........

Bay có hay sậy lau gặp lửa

C̣n bùng to hơn cả đề đa

Những con người chỉ có xương da

Sức bật lật nhào, tung hết.

 

Giờ tối hậu đă đến. Phải bỏ đi hết để vào cuộc chiến cuối cùng, cuộc chiến sinh tử “để lấy lại giang san”, để chấm dứt đói rét, ngục tù, giết chóc, đau khổ, lầm than, bệnh hoạn và tủi nhục, để con người lại có thể sống làm người, trong nhân phẩm và tự do, để vợ chồng cha con, đồng bào lại có thể đoàn viên trong t́nh thương nỗi nhớ, để cho đàn trẻ biết lại sự đầm ấm của gia đ́nh, thế nào là mẹ hiền, là em thảo, là sự ǵn giữ gia cương của cha ông, là ước mơthơ mộng, là t́nh người và riêng tư, và sau cùng, để

 

... thể đào lên khôi phục

Giá trị con người, phong tục, thi ca.

 

Con đường chiến đấu được vạch ra có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là lúc mà chuyên chính c̣n mạnh và toàn dân c̣n ch́m trong cái lầm của thế kỷ:

 

... cái lầm to uổng phí cả cuộc đời

Là đă ngốc, nghe và tin cộng sản

 

tối tăm và độc ác bao trùm trời đất Việt Nam:

 

... Cửa đời muôn ngă chẹn

Lao tù chêm thêm then.

 

Người thương dân yêu nước phải hiểu thời cơ và t́m đường trốn tránh, v́ nghĩa vụ lớn nhất lúc ấy là phải sống c̣n và đừng bị lọt vào tay kẻ thù:

 

Trôi về đâu những năm buồn tháng nản

Sắt thép chập chùng in bóng cô đơn

Đường ta đi thăm thẳm non ngàn

Tim óc tan hoang hoàng hôn rùng rợn

Sự sống mỏi ṃn nhưng vẫn sống

Sống ngấm ngầm kiên nhẫn trong tôi

Mặc tiếng chuông tuyệt vọng đổ hồi

Mặc thần chết vờn quanh báo động.

 

Dầu trên đường có gặp gỡ nhau cũng phải ngoảnh mặt đi và đừng dừng bước

 

Máu lệ mồ hôi rớt răi

Đi về, ai nhận ra ai

........

Mắt ngả sắc vàng, da sắc xám

Đi về, ai nhận ra ai

 

Người lănh đạo, mang trong tâm những “giấc mộng cao vời”, cũng phải tự ch́m vào đáy nước,  hoặc lặng trôi trong đêm tối không biết đến đâu mới được nghỉ chân:

 

Ôi tiếp tới nước triều dâng vất vả,

Con tầu run chưa tiến đă chờn lui *

…………..

Đành một mai nơi đáy nước rêu vùi

Làm chỗ ở cho tôm, ṣ, ốc cá.

Tôi đă biết những đêm dài ḍng dă

Con tầu câm trôi giữa đám trăng sao

Biết dừng đâu, không bóng hải cảng nào

Ra tín hiệu đón con tầu buồn bă.

 

Tất cả những người đồng chí hướng phải tản mát và lặn sâu, không c̣n ai biết ai đâu

 

Ai mất, ai c̣n, ai lặn lội

T́m trong kư ức xa xôi.

 

Người lănh đạo cũng không hơn ǵ trong sự cơ hàn, trong cảnh tịch hoang, ḷng nặng chĩu những ưu tư, thương nhớ

 

Tôi đă biết những b́nh minh đói lả

Biến sang mầu loang tím của chiều hoang

Con tầu đi, sức kiệt, lệ ḍng hàng

Thương xót những mảnh tầu trôi vạn ngả.

 

Tất cả các người yêu nước, biết thế giặc c̣n quá mạnh dưới chiêu bài Kháng Chiến chống thực dân, phải t́m đường sống trong sự nhẫn nhục khôn ngoan, với khoai sắn và trại tù mả lính đầy ngập cả non sông.  Nhưng trong cuộc đời trốn tránh ẩn nấp, kể cả những lúc sa cơ phải vào nơi tù tội với tra khảo và đ̣n thù, người cách mệnh luôn luôn phải giữ t́nh người – biểu tượng là nước mắt:

 

Nước mắt rào trên má là khi

Nó tưới mát mảnh hồn héo hắt

Trái tim ta trong gịng nước mắt

Ngọc trai trong giếng nước diệu kỳ

Trong muôn gịng trái đất tuôn đi

Gịng trong nhất là gịng nước mắt

 

Người cách mệnh cũng phải toàn vẹn ḷng tin và giữ tâm tư sáng suốt

 

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng phụ

Ta vẫn c̣n đây và sắt thép c̣n kia

Chết chóc thầm câm, cốt nhục chia ĺa

Ta vẫn SỐNG và không hề lẫn lú

Ta muốn nói với loài dă thú

Khúc khải hoàn ta sẽ hát thiên thu *

(* Ư nói ta sẽ thắng và chính nghĩa của ta sẽ sáng chói ngàn năm)

 

Một điều quan trọng là sau cuộc thất bại lớn, phải dám nghi ngờ và xét lại toàn bộ tư tưởng của ta. Riêng người lănh đạo đă làm việc ấy, nhưng vẫn thấy rằng ít nhất là trong đại cương và với những biến đổi do sự đụng chạm với thực tế và thực tại đưa lại (vọng về từ Vách Đá) chủ thuyết và chủ trương xưa vẫn đúng 

 

Đàn ḷng nay dây đứt lại dây chùng

Âm hưởng năm xưa vẫn c̣n lúng túng

V́ những bản t́nh ca dại vụng

Vách đá vọng về rời rụng tàn hung

tim óc tôi vẫn thấy đẹp lạ lùng!

 

Nhưng với con người hành động, tư tưởng không thoát ra khỏi tâm trí và không truyền bá ra được th́ vẫn chưa là tư tưởng sống. Trong hoàn cảnh c̣n bị bao vây và đàn áp bởi cả bộ máy chuyên chính tàn bạo và tinh vi mà Đảng (Cộng Sản) đă bủ ra bốn phương tám hướng để cầm tù tư tưởng, th́ đừng vọng động nghĩ đến chuyện kết nạp đồng chí (xây cầu bắc cống). Mà luôn luôn phải t́m những ngôn ngữ bí ẩn, những đường giao thông kín để tư tưởng có lối ra thoát trùng vi

 

Từ tư tưởng bước sang hành động

Phải có cầu NGÔN NGỮ giao thông

Trên gịng sông chuyên chính mênh mông

Đừng nghĩ chuyện xây cầu bắc cống.

Song ngôn ngữ ngày đêm vẫn sống

Âm thầm đưa tư tưởng sang sông

Qua muôn trùng hệ thống xiềng gông

Đảng ra sức dựng thay cầu cống

Thoát khỏi đầu là tư tưởng sống

Sẽ có ngày tạo những kỳ công.

 

THƠ là một ngôn ngữ mà thi sĩ, hay nhà cách mệnh vô danh tin một cách hầu như tuyệt đối vô biên. Các nhà quân sự hay chính trị thuần túy

—trong đó không có Churchill, de Gaulle, Napoléon, César, và dĩ nhiên cũng không có Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trăi, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh

thể cho sự tin tưởng ở văn thơ này là một sự mềm yếu. Đó là một sự thiển cận mà

Đông Phương tinh thần, từ Khương Tử Nha đến Tôn Tử, Ngô Khởi, Nhạc Phi gọi bằng danh từ khinh thị là vơ biền hay vũ phu.

 

* * *

 

Thi sĩ vô danh yêu thơ từ khi tuổi c̣n nhỏ, yêu thơ như người ta yêu một người yêu nhu thuận và hiểu ḿnh và gắn bó với ḿnh trong chí hướng và cuộc đời

 

Tôi lấy Thơ thuở c̣n đi học

Buổi gặp nhau đầu Thơ đă biết tôi yêu

Thơ của tôi hồi ấy đẹp như Kiều

Lộng lẫy như Tần cung nữ

............

Thơ thường buồn, Thơ cũng như tôi

Chỉ có bạn là Mơ với Mộng

............

Đám cưới chúng tôi, một đám cưới t́nh

Chỉ có Mộng Mơ phù râu phù rể.

 

Tôi không lú lẫn và không lạc đề kể lại những lời tâm sự này của nhà cách mệnh vô danh, thưa độc giả không-tên đang đọc tôi. Thử nghĩ lại xem ở trong thời 45, 46, trong số những người cầm đầu các đảng cách mệnh, có ai là người yêu thơ, ai là người làm thơ. Chỉ có một người này. Và một người nữa, cũng có thơ được truyền tụng, nhưng là thơ thuổng, thơ ăn cắp, trong một vụ án văn chương nữa mà sự kiện làm điếm nhục cho văn chương và lịch sử Việt Nam giữa một thời đă quá nhiều chuyện thương tâm song song với những sự hùng tráng. Đó là vụ Hồ Chí Minh nhận vơ tập Ngục Trung Nhật Kư của một người Trung Hoa, sau khi mạo nhận ḿnh chính là Nguyễn Ái Quốc (HCM), tác giả cuốn Le Procès de la Colonisation Française (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp), mà giới cách mệnh lưu vong ở Paris trong thời Thế Giới Đại Chiến 1914-1918 đều biết là của Luật Sư Phan Vân Trường đă viết ra với sự cộng tác của Tây Hồ Phan Chu Trinh. Vụ Ngục Trung Nhật Kư đă được Giáo Sư Lê Hữu Mục tŕnh bầy và phân tích với đầy đủ bằng chứng. C̣n vụ Le Procès th́ ông Trần Lê, tác giả ẩn danh (lại ẩn danh!) của cuốn Làm Ǵ đă kể lại cùng với mấy vụ đạo tặc nữa của Hồ Chí Minh.

 

Nhà cách mệnh vô danh, tác giả của tập thơ vô đề, nhận rằng ông đă làm thơ với những mộng-mơ của thời niên thiếu. Những mộng mơ này không phải là những mộng mơ của các ông Thế Lữ, Xuân Diệu và Huy Cận cũng trong thời đó. Đối với người cách mệnh trong buổi chiều tàn của các Đế Quốc kỹ nghệ Âu Tây th́ mộng ǵ, mơ ǵ, nếu không là mơ Độc Lập, mộng Dân Chủ, mơ và mộng một cuộc đời mới cho Quốc Dân Việt Nam để khơi lại một ḍng lịch sử đă bị đứt đoạn?

 

Tôi vẫn mơ hoài một giấc mơ

Giấc mơ không biết tự bao giờ

Có khi từ thuở ḷng cay đắng

Sớm biết đời tan bóng đợi chờ.

 

Sau khi thất bại lần đầu,

 

Tôi thao thức nhiều đêm không thể ngủ

Chỉ v́ tôi c̣n sót ở trong tim

Chút ước mơ và thực tế kẹp ḱm

Ray rứt triền miên, tấy sưng thành mủ

 

thương và lo cho những đồng chí đảng viên đă một sớm một chiều phải chịu cảnh gảy đàn tai nghé, nhưng vẫn giữ vẹn tiết trung với lư tưởng

 

Ai đếm đêm dài thao thức

Trời cùng năm tháng qua trôi

Thương những con thuyền mang kư ức

Đi về sông nước xa xôi

 

tác giả chỉ c̣n có giấc mơ cũ và sự gắn bó cùng thơ

 

Bước theo nỗi buồn vĩnh biệt niềm vui,

Hành trang có mồ hôi đất bụi,

Chút tiền vốn, Thơ và Mơ – Nhẵn túi.

 

Từ đó, “từ buổi mộng mơ hóa thành ngu xuẩn” v́ Đảng tàn ác đă chuyên chế khắp non sông, thi sĩ chỉ có nhưng vẫn có...

 

(tôi) vẫn có những đêm dài thức trắng

tạo vần thơ câm lặng, anh ơi

 

từ đây Thơ không c̣n là thơ như buổi trước “đẹp như Kiều và lộng lẫy như Tần cung nữ”, Thơ nay đă “xanh gầy” v́ “buồn đau hờn giận” v́ “dọn nhà ra khỏi cung Mây”, “Thơ chịu âm thầm chung thủy” khi thi sĩ chỉ c̣n những tiếng “cục cằn”, “tục tĩu”, “đắng cay” những lúc một ḿnh với Thơ.

Thơ đă vào cuộc đấu tranh bên thi sĩ cùng thi sĩ, với toàn tâm và toàn tiếng,

 

() thật như tù, như đói, như đau thương

Thơ của tôi chỉ để đám dân thường

nh́n thấy hết tim đen phường quỷ đỏ.

 

Thi sĩ không phải chỉ biết có thơ của ḿnh – Tin tưởng ở sức mạnh vô biên của thơ trong cuộc đời và cuộc đấu tranh, thi sĩ gọi các nhà thơ vào cuộc:

 

Trước mắt nhà thơ

Vạn vật tỏ mờ ảo thực

Vũng nước ổ gà cũng hóa đại dương,

Bác phu xe lưng gập xuống đường

Cũng nhỏ cũng to chẳng khác ǵ các đế vương lừng danh sách sử.

 

Và đây là việc thứ nhất, phi thường và mănh liệt, ở trong khả năng của thơ

 

Nhà thơ có khả năng biến chiếc điếu cày thành bất tử

Biến đám cầm quyền nghiêng ngả non sông

Thành hề lố nhố lông bong

 

như những tấn tuồng Bác Mao Đổng Trác, chuyện tích Bác Hồ Tới Thăm Thiếu Nhi (khăn đỏ cổ c̣) và tuồng

 

Bác Hồ rồi lại Bác Tôn

Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng

Nước da hai bác mầu hồng

Nước da các cháu nhi đồng mầu xanh

Giữa hai cái mặt bành bành

Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ c̣.

 

Một việc khác trao cho thơ, là kể lại những tội ác của cộng sản, những tội ác ghê tởm, kinh hoàng, những tội ác muôn mặt mà thời phong kiến, thời chiến quốc hay cả thời thực dân vừa qua cũng không bao giờ biết tới những tội ác không bút nào tả được cho tất cả các hạng người, tuổi trẻ, bà già, ông lăo, trẻ con, phụ nữ, sinh viên, công nhân, trí thức, những tội ác chà đạp lên tự do, lên t́nh người, lên nghệ thuật, lên văn hóa, lên đạo lư

 

Khi tổ quốc đen ś

Ta làm sao dám nghỉ *

Phải cân nhắc nghĩ suy

Phải quan sát chép ghi

Những tội ác cực kỳ

Mà cộng sản vung phí

Và xảo quyệt dấu đi

Trước con mắt hoài nghi

Của con người thế kỷ

(*nghỉ, không phải nghĩ. Trong câu 3, đúng là nghĩ)

Bất nghĩa, bất nhân, bất tín, bất tài

Vô sỉ, vô luân, vô loài, vô lại

Quân cộng sản phải khử trừ chúng măi

Cứu lấy cuộc đời hiện tại, tương lai.

 

Nhà thi sĩ cách mệnh vô danh tin ở thơ và biết cả trăm ngàn những nhà thơ đă sỉ vả và nhạo báng bọn cầm quyền cộng sản trong thời ngu tối mông muội của nước Việt Nam, nhưng

 

... những nhà thơ loại này chỉ có

Hai bàn tay KHÔNG

MÀ CảNH SÁT TỰ DO

XÔNG TỚI NHÀ KHÓA LẠI

Thế giới muốn gặp những nhà thơ loại này

Xin mời vào các trại

Tập trung rùng rợn trên rừng

Các nhà thơ sẽ đọc cho nghe

Những lời thơ

Mà chẳng phải là tráng sĩ Kinh Kha tóc kia cũng dựng

Hất tung * chiếc mũ vàng sao lấp lánh trên rừng

(*tung, không phải từng)

 

Mỗi lời thơ rợn người kia là những lời mà tác động là làm cho mỗi người, dầu nhỏ bé yếu ớt đến đâu cũng phải thành một Kinh Kha dũng sĩ dám đơn phương liều mạng, sống chết với những kẻ thù của Nhân Loại và Quốc Dân.

Đó là những công việc mà thi sĩ trao cho thơ, v́ thơ bất khuất và bất tử

 

Tuyệt vọng dẫu lan tràn

Hy vọng dẫu tiêu tan

Dân nước dẫu đêm dài ai oán,

THƠ VẪN ĐÓ, gông cùm trên ván

ÂM THẦM, THÂM TÍM, KIÊN GAN

BIẾN TRÁI TIM THÀNH

“CHIẾU YÊU KÍNH” GIÚP NHÂN GIAN

NHẬN RƠ NGUYÊN H̀NH CỘNG SẢN.

 

Nhưng làm thơ cho đến bao giờ? một người ngớ ngẩn và sốt ruột có thể hỏi.

Chính thi sĩ cũng có khi chán nản. Tiếp theo một mùa thu lầm lẫn là cả một đông dài, lạnh lẽo, tối tăm, buồn thảm, tù đầy, mà ngày này qua ngày khác, mỏi ṃn hết một tuổi trẻ vẫn chưa thấy ánh xuân tươi, khắp nước Việt thuần một mầu tang tóc.

Mặc dầu gần như vô vọng, nhưng cuộc chiến đấu không được buông xuôi:

 

Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát

Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh

Nhưng không thể dùng bom A bom H

Phá nát địa cầu v́ một gian manh

Nên PHảI VIẾT,

PHảI MUÔN NGÀN Kẻ VIẾT

Những tội tầy đ́nh được bưng bít tinh vi

Nếu nhân loại mọi người ĐỀU BIẾT

CỘNG SảN LÀ G̀, TỰ NÓ SẼ TAN ĐI

Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si

Sự HIỂU BIẾT sẽ là mồ hủy diệt.

 

Đây là một viễn kiến mà tôi phải nhận là sang suốt. Viết ra năm 1973, giữa lúc mà thế lực cộng sản đang ở một cao độ đáng sợ, Hội nghị Ba Lê kéo dài gần đến lúc hạ màn trong bóng tối của những hành lang bên lề pḥng họp lớn đă tỏ rơ ra sự thua sút của Hoa Kỳ mà kế hoạch độc nhất là rút lui ổn thỏa khỏi đồng lầy Việt Nam với hai bàn tay che kín mặt; nhưng lời thơ trên vẫn vạch ra mạnh mẽ cái chiến lược tất thắng, vạn thắng, Viết, muôn ngàn người cùng viết, dùng trái tim và ng̣i bút làm cái kính chiếu yêu muôn mặt, bắt cộng sản phải hiện nguyên h́nh là con ác quỉ phi nhân đă nhân danh lịch sử để trói nhân loại vào những thời tiền-tiền sử của các loài súc sinh nghiệp chướng. Và cái lúc mà sự thực sẽ trở lại với con người, chính là lúc mà sự hiểu biết đă được làm cho sáng tỏ lại. Cộng Sản sẽ không c̣n che dấu được cái thực chất của một chủ nghĩa ấu trĩ trong trí thức và nghịch lư trong tinh thần. Trên điểm này, tôi có phần đồng ư v́ cũng đă viết trong cuốn sách nhỏ về Đức Phật Giữa Chúng Ta và nhiều nơi khác, rằng chủ nghĩa xă hội của Karl Marx (Các Mác) chỉ là một phân tích và phê b́nh về lúc ấu trĩ của chế độ tư bản và cũng phản ảnh sự ấu trĩ ấy trong căn bản nội dung. Phương chi, cái căn bản luận lư của Marx gọi là biện chứng duy vật chỉ là một cái quái thai, lộn ngược phép biện chứng mà Hegel đă rút ra từ biện chứng pháp Phật Giáo có từ đời Nagarjuna (Long Thọ)   Dignaga.

 

Biện chứng pháp Long Thọ bao gồm được phép luận lư khoa học (Whitehead, B. Russell, Carnap, Quine...) c̣n biện chứng pháp Marx bắt buộc phải ở bên lề của luận lư toán học mới. Nhưng đây là một vấn đề khác mà ta không thể phát triển ở đây. Trước sự tấn công của thi ca, văn chương và nghệ thuật, của những ngôn ngữ từ tim phát ra để vào những trái tim c̣n máu, đến một ngày nào đó

TỰ NÓ, CỘNG SảN SẼ TAN ĐI.

Thi sĩ vô danh viết trong một bài thơ nhỏ đề năm 1969:

 

Tôi tin chắc một điều

Một điều TẤT YẾU

Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu

Tôi lại nghĩ một điều

Một điều SẦU THẢM

Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm

Sẽ có thể kéo dài HÀNG MẤY MƯƠI NĂM

Và như thế sẽ buồn lắm lắm

Cho kiếp người sống chẳng bao lăm.

 

Lời thơ không có ǵ là đẹp lắm. Điều này không quan trọng. Tác giả nói ra những lời minh bạch, như văn xuôi, với những từ thông thường không gọt dũa, không ẩn dụ, không biểu tượng, không chuốt mài, những lời trung thực rằng cái họa Cộng Sản sẽ kéo dài mấy mươi năm.  Trong nhiều bài khác, thi sĩ nói đến “thế kỷ”, như thể là chủ nghĩa này phải tàn lụi trước khi thế kỷ tận cùng. Có người có thể nghĩ rằng đây là những dấu hiệu của sự thông suốt về dịch lư, về thiên văn, về thiền đạo, về những khoa học bí truyền mà mỗi đời chỉ có vài người đạt tới. Tôi không có ư kiến ǵ về điều này, và chỉ biết rằng từ xưa ở đời Đông Chu bên Tầu, người ta vẫn tin rằng dưới trời, thỉnh thoảng cũng có một người “sinh nhi tri chi”, sinh ra đă biết lẽ trời huyền vi. Cũng vẫn theo ư riêng nhỏ bé của tôi, nếu thực có những người này th́ bây giờ tôi mới biết rằng có một người, đă có được cái biết ấy, mà lại dấn thân vào công cuộc cách mệnh ở một giai đoạn thống khổ nhất của nước Việt Nam như ngày nay; và nếu chính người ấy cũng thất bại trong đời chính trị th́ không bao giờ ta nên nói đến triết lư của lịch sử nữa.

 

Tới đây mới là giai đoạn đầu của con đường hành động được đưa ra trong tập thơ. Tố cáo, vạch trần, châm biếm, khảo sát, phân tích, thu thập những bằng chứng, tài liệu, vận dụng trí thức để t́m hiểu, giảng giải và diễn giải (comprendre, expliquer et interpréter) hiện tượng cộng sản và tâm lư của các quần chúng bị quyến rũ bởi lời nói và các vận động của bọn cán bộ tuyên truyền agitprof.

 

Cộng Sản tan ră thực sự không phải chỉ về văn chương phản kháng và các khảo cứu khách quan về nguồn gốc, lịch sử, tư tưởng và thực chất của Quốc Tế Cộng Sản, cũng như của các Đảng Cộng Sản tại mỗi nước. Cộng Sản đă nổ tung ra v́ những mâu thuẫn bên trong của nó. Cộng Sản đă hết hơi và tàn lụi v́ đă dốc toàn lực vào cuộc thi đua vơ khí hủy diệt tổng đại khối và bắt đầu kế hoạch bá chủ hoàn cầu bằng sự hủy diệt tự do, công bằng, bác ái. Mặc dầu sự thực là thế, nhưng những tố cáo của Plioucht, của Soljenitsyn, của Voslenski, của Zinoviev từ Liên Sô, tổ quốc của xă hội chủ nghĩa, và những lời thơ máu lệ của thi sĩ vô danh từ Việt Nam, nước cuối cùng được nhận là một cộng ḥa xă hội chủ nghĩa, cũng đă đạt được cái kết quả lớn lao trong tâm lư của các khối người khắp năm châu bốn bể, làm cho cái mặt trái như-thực của nó hiện ra, như cái mặt trái của nguyệt cầu đă được khoa học không gian chụp thành một bản đồ lạnh lẽo không hồn.

 

Cộng Sản đă vỡ tan. Cộng Sản đă tàn lụi. Nhưng Cộng Sản ở nước Việt Nam vẫn c̣n. Nó trơ trọi, nó lẻ loi, nó nghèo khó, ương ngạnh, nó phi lư như một con gián c̣n sống vẫn vểnh hai cái râu lên nghi ngoe sau một cuộc hun thuốc để tận diệt loài gián. Và nó vẫn như cũ, vẫn c̣n nguyên tất cả những hành động của loài gián, đi t́m một cái khe khác để chui vào, yên ổn hơn, tạo ra một ổ mới và làm công việc cũ.

 

Không có một người nào biết một cách nào để giải quyết cái ổ gián cuối cùng này. Người xưa nói ném chuột sợ vỡ cái lọ cổ. Lưu Bị cản Quan Công không cho hươi cây đao Rồng Xanh ra để chém tên giặc nước Tào Tháo cũng chỉ v́ thế. Ngày nay, cái lọ c̣n quí giá hơn cái mạng thối tha của vua Hiến Đế nhiều. Ngày nay, cái cần phải bảo trọng là sinh mạng của người dân nước Việt Nam . Hoặc giả đánh lá bài yêu nước lúc canh tàn, hi sinh về nằm với gián để chỉ bảo cho nó biết những kỹ thuật làm giầu mới chăng? Những người ngu cho đến khi tàn lịch sử trong loài người cũng không bao giờ hết được.

Trong thời Cộng Sản c̣n yếu ớt hèn mọn với cuộc Kháng Chiến mà dân tộc bắt phải đội trên đầu, biết bao nhà bác học và trí thức Việt Nam ở Pháp, ở Nhật đă v́ lư tưởng dân tộc chạy về đầu quân, những Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông, Nguyễn Khắc Viện. Hăy hỏi những người ấy xem họ được giao cho những trọng trách ǵ, ngoài việc múa bút trong một viện khảo cổ hay một tờ báo tuyên truyền bằng ngoại ngữ với mục đích địch vận (vận động địch quân)? Trong và sau cuộc Kháng Chiến chống Pháp, cũng cần tổ chức, cũng cần phục hồi, cũng vô vàn vấn đề kiến thiết, nhưng các văn bằng cao cấp Bách Kỹ (Polytechnique), Trung Tâm Hóa Học (Centrale), Bách Thuật Bách Nghệ, (Arts et Métiers), các thẻ hội viên các Hội Khoa Học Quốc Tế và Quốc Gia, và cả đến các thẻ đảng viên Cộng Sản Pháp, cũng xếp vào ngăn kéo. Việc cần hơn lúc đó là đấu tố bằng đường lối cải cách ruộng đất để tiêu diệt không những giai cấp mà cả những ư nghĩ bản và tư sản. Thử hỏi những người muốn về vào những giờ thứ hai mươi lăm của chế độ, mà lại không phải là đảng viên một đảng Cộng Sản anhem, thể được cho làm cái ǵ? Hoặc giả t́nh thế đă thay đổi chăng? Có chứ, có thay đổi chứ. Hồi 1945- 1954, Đảng c̣n nhiều khó khăn lận đận, nhưng ở thế đang lên, cả thế giới c̣n đang lầm cái lầm thế kỷ, đảng được cả một cánh trí thức tả phái ở các thành phần gọi là “tiến bộ” của thế giới gọi là “văn minh” kính trọng, ủng hộ, nâng đỡ. C̣n ngày nay, cái hào quang trên đầu Thánh Michel giả mạo đă tắt ngóm, những ngày tàn, những giờ ngoắc ngoải đă bắt đầu. Bọn cầm quyền c̣n lại của nước Việt Nam xă hội chủ nghĩa ngày đêm chỉ lo t́m xem trong nước c̣n có cái ǵ bán được th́ bán nốt, đất đai, hải cảng, rừng rậm, thềm bể, cát trắng, quặng đen, Hoa kiều, nhân công và thể xác cùng trinh tiết của hàng vạn gái quê ngây dại, bán hết, bán trọn, xuất khẩu lấy tiền nặng và thơm của Mỹ, Nhật, Ả Rập, thu vét một chuyến cuối cùng trước khi phải trốn chạy đến một nước khác có ḷng bao dung. Mai Chí Thọ hay Đỗ Mười, Vơ Văn Kiệt, hay Lê Đức Anh, c̣n có một tên cộng sản nào trong lúc này nghĩ chuyện phục hồi nhân phẩm, tổ chức giáo dục hay phát triển đất nước mà c̣n có người mong nói chuyện cộng tác với loài gián?

 

Không biết có một người nào hay một con gián nào biết một giải pháp nào có thể giải quyết toàn vẹn vấn đề của nước Việt Nam, mà nền chuyên chính của loài gián đă làm tan hoang mọt ruỗng trong bốn mươi tám năm nay. Nhưng nhà thi sĩ cách mệnh vô danh đưa ra một giải pháp mà ông diễn ra ngắn ngủi trong một bài thơ có đầu đề là CÂY. CÂY là biểu tượng của người, Cây là Ông, bài thơ CÂY là một bài thuộc loại khẩu khí. Câu cuối cùng đọc:

 

Trong đêm cùng vùng nhiệt đới bao la

TRÁI LỬA CỦA TA

SẼ BÙNG LÊN VẠN ÁNH.

 

Bài thơ viết năm 1974, một năm trước khi miền Nam bỏ súng.

TRÁI LỬA CỦA TA sẽ là ǵ, tôi không biết: Nó bùng lên vạn ánh, nghĩa là nó đánh thức ḷng người, và nó sẽ mở đầu cho một thời đại mới, dân chủ, vinh quang, vạn ánh.

 

Tôi không biết và không nói thêm v́ không muốn làm công việc tuyên truyền cho một cái ǵ mà tôi thực t́nh không biết. Vả chăng, chuyện tương lai không có chỗ cho trong một bản án văn chương.

Tác giả không tên của tập thơ không tên là AI?

Tôi nghĩ rằng, theo những ǵ lời thơ nói và nói có phần trung thực, không che đậy, không ngụy trang, nhà thơ là một nhà cách mệnh có học vấn, có văn tài, có chí khí và có ḷng yêu nước một cách kiên cường; nhà thơ đă tham gia cách mệnh vào khoảng Thế Chiến Thứ Hai và ở trong một tổ chức có tên là Đại Việt chi đó, mà có lẽ ông là người sáng lập vớI một căn bản tư tưởng dân tộc, dân chủ và nhân chủ; ông và đảng đă thất bại, các đảng viên ly tan mỗi người một ngả đường, một số đă bỏ sự tranh đấu, một vài người đă bội phản, nhưng ông vẫn tin rằng c̣n có người vẫn trung thành với lư tưởng xưa; ông sống một cuộc đời lang bạt trốn tránh, có thể cũng đă bị bắt và cầm tù, nhưng tông tích không bao giờ bại lộ; và ông tiếp tục cuộc đấu tranh bằng những lời thơ viết trong câm lặng, nhưng không phổ biến, không xây cầu bắc cống, chờ đợi đến một lúc thuận tiện truyền trao tập thơ này ra khỏi nước đến những người hữu tâm ở những đất tự do; ông nghĩ rằng Cộng Sản sẽ tự hủy trên thế giới, tự nó sẽ tan đi, nhưng ở Việt Nam, cần phải có một sự đồng tâm duy nhất và những hi sinh lớn lao nội ứng ngoại hợp khi nào ông châm được cái ng̣i lửa “vạn ánh” để mở đầu cho cách mệnh.  Đây là những nét phác đại cương về h́nh ảnh của thi sĩ không tên mà từ nay tôi gọi là nhà cách mệnh bí mật, dầu ông là một người mới hay một người đă nổi danh từ lúc c̣n niên thiếu, dầu cuộc khởi nghĩa sắp tới của ông thất bại, hay như người người mong muốn từ gần nửa thế kỷ nay, sẽ nhanh chóng và hoàn toàn thành công,  để cho

 

Thế kỷ sẽ về đây đủ mặt

Đại đoàn viên nước mắt chia ly.

Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân

Đứng bên nhau trên mất mát quây quần

Kẻ bùi ngùi hối hận

Kẻ bồi hồi kính cẩn

Đặt ṿng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

Khai sáng kỷ nguyên tă trắng thắng cờ hồng!

Tiếng sáo mục đồng êm ả

T́nh quê tha thiết ngân nga

Thay tiếng Tiến Quân Ca

Và Quốc Tế Ca

Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!

 

Gặp lại nhau trong t́nh thương nỗi nhớ mà không phải e dè sợ sệt công an đến xích tay ngày mai. Nối lại sợi dây vô h́nh giữa lịch sử và hiện tại. Tă trắng thắng cờ hồng, sự trong sạch và ngây thơ của con người xé bỏ chủ nghĩa máu của cộng sản. Tiếng sáo mục đồng thay tiếng Tiến Quân Ca, ḥa b́nh thanh tịnh đuổi hết bóng dáng của chiến tranh, dầu là với nước ngoài hay với đồng bào ruột thịt. Tiếng sáo diều trên trời xanh bao la thay Quốc Tế Ca, một tinh thần đại đồng mới, hợp với lẽ thiên nhiên của trời đất, sẽ xua đuổi những chủ nghĩa đế quốc trá h́nh trong những quốc tế đảng đoàn, bất kể là Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam hay Đệ Tứ.

 

Nếu có một người nổ lên một tiếng pháo lệnh, dựng lên một lá cờ ĐẠI NGHĨA, hô lên một lời hợp với ước nguyện thầm kín của DÂN TỘCLỊCH SỬ, th́ trăm người như một, toàn dân Việt Nam, con cháu của Thánh Gióng và Nguyễn Huệ, sẽ vươn ḿnh lên, nhổ tre bên lề đường, nhất tề xông ra để

tiêu diệt cho đến vĩnh cửu cái giống man rợ tàn ác đă biến giang sơn của tổ tiên thành một cái nhà tù chưa từng thấy trong lịch sử của ta cũng như trong kư ức của loài người. Cái khí thế ấy, chỉ có NGƯỜI DÂN bé nhỏ và câm lặng như cậu bé làng Gióng, Phù Đổng Thiên Vương, mới có được: v́ chỉ có dân mới thực là Thiên-Vương, vua trời trong nước Việt Nam của ta từ thời huyền sử lập quốc đến nay. Khi dân đă tung cửa xuống đường, thẳng tiến đến những lâu đài cung điện của bạo quyền th́ chiến xa của chúng cũng phải dừng lại trước khí phách của một người, các bùa chú và hiệu lệnh của chúng sẽ mất linh, bộ đội của chúng sẽ bừng tỉnh một giấc mê khủng khiếp và trở lại thành dân như các cha mẹ và anh chị em đang ngùn ngụt tiến đến từ mọi ngả đường. Chỉ trong một buổi, một chốc lát, một giây phút, NGỌN LỬA CHÍNH KHÍ của dân sẽ đốt cháy thành khói bốn mươi chín năm tàn bạo của mớ giặc nước đă học những kinh sách tà quỉ, dựa vào thế lực hùm beo, dùng những khí giới tận diệt của người ngoài truyền cho để phá nát t́nh người trên cơi đất Việt Nam an lành.

 

Nhưng cho đến khi có MỘT NGƯỜI xuất hiện th́ người dân vẫn chỉ là đứa trẻ nhỏ trơ trơ ba năm không nói, ba năm không khóc không cười. Trong cái địa ngục trần gian là Việt Nam xă hội chủ nghĩa, một manh nha đi lệch hàng, một tiếng kêu không phải là hoan hô hay đả đảo theo hiệu lệnh, đều đưa đến ngục tù, đói lạnh, đầy đọa thể xác và tiêu hủy tinh thần, không có hi vọng và đường lối giải thoát.  Chẳng có tội ǵ cũng có thể bị, nữa là có một ngón tay giơ lên hay đôi môi mấp máy. Vậy th́ ai? ai? AI? Trong đầu mỗi người Việt Nam và tất cả những người Việt Nam c̣n có một chút Việt Nam trong máu  - và những người này càng ngày càng nhiều trong quốc dân Việt Nam - từ bao nhiêu năm nay chỉ có một câu hỏi ấy, một đại từ hỏi ấy, ngắn, gọn,

ràng, nhưng vô định, không ai biết là AI?

 

Cho đến giờ phút này, người viết những gịng này cũng không biết và không có câu trả lời. Giả th́ nhiều, thôi không đếm, thôi không nhận diện, thôi không chỉ tên nữa đă từ lâu, và ḷng nhiều khi đă nguội lạnh như cái xác. Thực th́ chưa thấy. Dầu chỉ một lần. Dầu chỉ một người. Ôi, ngày xưa ở cổ Hy Lạp có một ông già gàn tên là Diogene. Ông tuy không viết sách để lại, nhưng được truyền tụng cho đến đời nay rằng đă thắp lên một ngọn đèn và cầm nó đi khắp kinh thành Athen. Người ta hỏi ông Tại sao lại thắp đèn đi giữa ban ngày, mỗi ngày trong suốt một đời. Câu trả lời của ông là Ta đi t́m MỘT

NGƯỜI. Ông Diogene sống cùng thời với Aristote, là triết gia có một hiểu biết bao trùm trời đất trong buổi ấy; lại cũng trong thời của A-lịch-sơn Đại Đế (Alexandre le Grand) đệ nhất thiên tài quân sự trong lịch sử loài người. Vậy mà thắp đèn lên đi t́m cả đời vẫn chưa thấy được một ai xứng đáng với cái danh hiệu ấy: MỘT NGƯỜI.

 

Trong lịch sử, mỗi chu kỳ chỉ có một người. Lịch sử Việt Nam mở đầu có một người, là Đinh Bộ Lĩnh mà tôi thường gọi một cách kính cẩn là người du côn đă dùng cờ lau mà thống nhất nước Đại CỒ Việt. Đời Lư có một người, là khối thiền sư đă dựng một Lư Công Uẩn để lập ra một truyền thống chính trị lấy đạo từ bi làm nền móng. 

 

Đời Trần, có Trần Hưng Đạo là người tài trí có một sức kiên cường mà trong lịch sử loài người chỉ gần đây mới có được một người gần sánh kịp là Winston L.S. Churchill.

 

ĐờI Lê, Người có tên là Nguyễn Trăi, văn vơ toàn tài, hiếu trung trọn vẹn, đă giúp minh chúa khôi phục giang sơn và làm sáng lại nền văn hóa của dân tộc.

Cuối đời Lê có một người mặc áo vải, họ Nguyễn, tên Huệ đă hiên ngang đứng lên quét những bọt bèo rác rưới trong nước kịp thời để hất bật đoàn quân chiếm nước gốc Trung Quốc của nhà Măn Thanh ra khỏi lịch sử Việt Nam. Trong cuộc đời đă hơn sáu mươi năm của tôi, trải qua trong sự đau xót dân tộc ba tầng địa ngục, mỗi tầng một sầu thảm và một kinh hồn hơn, thời Pháp, thời Nhật và thời Cộng Sản, tuy không có được cái dũng cảm của nhà hiền triết Hy Lạp đốt đèn lên để t́m người, nhưng lúc nào cũng ao ước, chờ mong; thấy người hàng triệu, có gặp cả một vài vị đại trí và rất nhiều anh hùng, nhưng vẫn chưa được hội ngộ với MỘT NGƯỜI.

 

Hiểu được rằng trong thế giới ngày nay, trước mắt ta, sau sự sụp đổ trong một sớm một chiều của một chủ nghĩa lớn và một siêu cường quốc, th́ trí tuệ thâm sâu không đủ, mà c̣n phải có đức và có đạo mới có thể vá lại được trời cho con người được sống ḥa b́nh thanh thản. Và riêng ở nước Việt Nam, để hàn gắn lại những vết thương phủ tạng, để gây lạI được ḷng tin ở tương lai, để lập lại chính nghĩa trong và của lịch sử dân tộc, phải có một người đă thông suốt tư tưởng đích thực Việt Nam, đă vững bền với những nguyên lư của văn hóa dân tộc, và đă đau khổ rất nhiều nhưng không bao giờ chạy trốn, đă thất bại rất nhiều nhưng không lúc nào đầu hàng, cho đến ngày toàn dân toàn thắng trong vinh quang.  Nhà cách mệnh đă viết và gửi tập thơ không-đề cho quốc dân Việt Nam là người như thế nào? Tôi đă nói và xin nói lại một lần nữa cho rành mạch để khỏi có sự hiểu lầm và phỏng đoán phiền phức. Tôi không biết, không những v́ biết một người khó lắm.

 

Trong trường hợp này, không phải là khó không thôi, mà là không có thể. Tôi chưa bao giờ gặp ông, hoặc nếu có trong quá khứ, th́ cũng chỉ là ngẫu nhiên, không phải ông với tư cách là ông, mà cũng không phải là tôi với tư cách tôi.

đây tôi chỉ mở một VỤ ÁN VĂN.

Vụ án nào cũng vậy, mở ra với một nghi ngờ. Công lư chỉ có khi nào vụ án kết thúc với sự sáng tỏ của sự thực. Đây là một công án, không phải là một công án thiền, mà là một vụ án liên quan đến toàn dân Việt Nam, liên quan đến một sự kiện công khai là một cuốn sách đă được công bố, và là một vụ án lịch sử được đưa ra trước công luận và công tâm của toàn thể nhân loại.

 

Để đưa nó đến cùng, tôi phải cố gắng t́m cho ra nhân vật ở đầu câu chuyện, tức là thi sĩ vô danh, tác giả của tập thơ vô đề.

Và tôi lại nhắc lại: tôi không biết người ấy. Nếu biết, tôi là người làm chứng. Không biết, nên tôi mới có quyền mở vụ án, như một người buộc tội.

CHÂN DUNG tác giả, tôi đă phác họa ra ở trên.  Tôi tránh không tŕnh bầy TƯ TƯỞNG của tác giả:  triết lư, sử quan, phương pháp lư luận, chủ trương chính trị, khuynh hướng tâm tư. Có cả ở trong tập thơ tuy không bộc lộ trực ngôn. Những điều này rất quan trọng để đi t́m căn cước của tác giả. Nhưng tŕnh bầy có thể dẫn đến giải thích, tuyên truyền và phê b́nh. Việc ấy tôi không làm.

 

Để đi t́m căn cước của tác giả, tôi sẽ tự giới hạn vào những phương pháp khoa học vô tư và khách quan, mà một số độc giả có thể không theo nổi nếu không có một sự cố gắng vượt bực. Tôi để vấn đề nội dung ra ngoài và chỉ chú ư đến h́nh thức.

 

Khảo phê văn bản là phương pháp dùng những kỹ thuật tạp biệt nhưng đặt trọng tâm vào  sự khảo sát phân tích một bản văn coi như một vật liệu có tính cách lịch sử để phê phán nguồn gốc, xuất xứ, niên hiệu, thực tính, v.v... của văn bản. Tiếng Pháp gọi là critique textuelle hay critique des textes. Công việc không ăn nhằm ǵ đến việc phê b́nh văn chương, critique litterraireKhoa khảo phê văn bản rất quan trọng với sự khảo phê các văn bản của Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo. Sự khám phá thấy những bản cuộn dấu ở những hang động vùng Bể Chết (Dead Sea Scrolls) đă thu hút các nhà khảo phê văn bản đương thời trong một công cuộc lớn mới chỉ bắt đầu.

 

Việc khảo phê văn bản được đem vào văn chương sử khá sớm. Phần nhiều, công việc chính là xem xét lại bản thảo do chính tác giả viết ra cùng với các bản chính thức đúng nhất. Gần đây, việc xét lạI cuốn tiểu thuyết Ulysses của J. Joyce và cuốn À la Recherche du Temps Perdu của Marcel Proust là hai công tŕnh rất lớn. Trong truyện của J. Joyce, hơn 5000 lỗi nhà in được chữa lại. Trường hợp thứ nh́ dẫn đến việc xuất bản lại toàn bộ tập trường giang tiểu thuyết của Marcel Proust, dài thêm cả mấy trăm trang! ở Việt Nam, việc đi t́m hoặc tái lập một nguyên bản Đoạn Trường Tân Thanh tức Truyện Kiều của Nguyễn Du đă lưu ư nhiều học giả; một bản viết tay của Cao Chiêm Thị được in lại cùng vớI bản diễn âm bằng mẫu tự abc. Cụ Bùi Văn Sủng cho xuất bản lại ba bản chữ Nôm đă được lưu hành ngày xưa. Rút cục chưa đến một kết quả nào và chỉ mới rối loạn thêm mà thôi.

 

Khảo phê cũng có khi là để đi t́m tác giả. Chẳng hạn như ở bên Anh, cho đến ngày nay người ta vẫn chưa giải quyết được một cách chắc chắn Shakespeare, tác giả Hamlet, Othello và những vở kịch bất hủ mang tên tác giả ấy ở thời Hoàng Hậu Elizabeth. Mới đây, tập thơ theo thể Sonnets của Shakespeare lại gây sóng gió trong văn học giới khi một giáo sư Mỹ tuyên bố rằng hai chữ W.H. ở đầu sách chính là viết tắt tên tác giả William Shakespeare (W.S.) nhưng thợ nhà in đă sắp lầm từ bản in thứ nhất nên thiên hạ đă điên đầu cả mấy trăm năm nay; kết luận của ông đă tạo ra một trận băo trên các báo khảo cứu văn chương và làm cho thiên hạ càng điên đầu thêm.

 

Ở Việt Nam, vấn đề ai là tác giả của bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc cũng tương tự như thế. Giáo sư Hoàng Xuân Hăn đă xét vấn đề một cách thong thái và thận trọng. Ông kết luận rằng bản dịch được lưu truyền phổ thông nhất gần với bản dịch của Phan Huy Ích hơn là bản của Đoàn Thị Điểm và mấy bản linh tinh khác. Đây là công cuộc khảo phê công phu nhất mà tôi được biết trong văn học sử Việt NamAi cũng biết rằng ở Việt Nam, vấn đề rất phức tạp và khó khăn. Hầu hết các bản thảo đều đă mất, kể cả những bản thảo của nhiều văn sĩ đương thời. Chiến tranh hỏa hoạn không tàn phá bằng sự dung giấy cũ bồi lọng và làm những giấy, ngựa giấy và h́nh nhân thế mạng để đốt trong những ngày giỗ tết. Phần lớn c̣n lại là những bản sao, chép tay hoặc in lại, mà giá trị rất là đáng nghi ngờ v́ từ xưa các cụ đă biết rằng “tam sao thất bản”, ba lần sao chép lại th́ mất bản văn chính!

 

Đối với tập thơ không đầu đề, tôi rất tiếc rằng không thể có trong tay tập thủ bút mà tác giả đă gửi ra ngoài, có lẽ với giá của một sinh mệnh con người như tôi đă tŕnh bày. Có nguyên tập trong tay, xét giấy, xét mực, xét cách đóng vở, xét b́a, và xét những dấu hiệu không phải là chữ, một chuyên viên về những sự kiện này có thể rút tỉa ra nhiều điều mà ta không thể ngờ được. V́ vậy tôi đề nghị rằng vị nào đang giữ tập thơ viết tay xin đo khuôn khổ cuốn vở và miêu tả nó một cách chính xác, như các sử gia, học giả và thủ thư thư viện và văn khố thường làm. Trong các nước Á Châu, chỉ có người Nhật biết làm những công việc ấy một cách hệ thống; nhờ vậy họ đă đi trước tất cả các lân bang trong sự phát triển kỹ thuật và khoa học. Nếu có thể tôi c̣n mong rằng một ấn bản facsimile có thể được xuất bản.

 

Không cần in nhiều, 500 bản chụp để cho các học giả có thể đọc đúng và sửa lại các bản in là đủ. Trong hiện tại, chỉ có hai bản in chính thức mà khác nhau đă bộn: năm ghi dưới mỗi bài thơ, chữ và dấu và cách ngắt câu trong từng ḍng từng vế...Sau cùng tôi nghĩ rằng bản viết tay phải được giữ ǵn, bảo vệ, và không có cách ǵ bảo tồn một văn bản chắc chắn hơn là gửi nó vào Thư Viện Quốc Hội Mỹ (Library of Congress), Thư Viện của Viện Bảo Tàng Anh (British Museum) hay Thư Viện Quốc Gia Pháp (Bibliothèque Nationale). Các thư viện này có kho tàng trữ những sách cổ của Âu Châu từ những thủ thư (manuscripts) đến những ấn bản đầu tiên của Gutenberg. Sau khi thư viện Alexandria mà A-lịch-sơn Đại Đế cho lập nên ở Ai Cập bị đốt phá th́ sự giữ ǵn những bảo vật tinh thần của quốc gia và nhân loại được nhận lănh bởi ba nơi này. Chúng ta có thể tin được rằng trong tương lai, ngoại trừ trường hợp một cuộc chiến tận cùng tiêu diệt cho đến mầm mống của sự sống trên mặt đất, th́ sẽ không bao giờ lại có một man dại điên rồ như vụ đốt thư viện Alexandria ở thế kỷ thứ ba (sau) nữa.

 

* * *

 

Không có được tập thơ nguyên bản theo thủ bút của tác giả, tôi chỉ có thể quay về đọc và nh́n thấu qua những lời thơ để đi t́m cái bóng của người c̣n đang phải ẩn ḿnh nơi sa mạc ngoài sự đánh hơi của loài lang sói. Tôi thấy được một bài thơ với một h́nh thức không-thường

 

CÂY: Gió tới dạt dào ve vuốt

ĐÊM: Trăng hiền êm muốt thương soi

NÚI: Bâng khuâng mây lướt xoa đầu

LAU: Nước tắm thân hèn ru vỗ

ÂM: Vách đá ngân dài vang lại

TÔI: Chiếc bóng in xù trên băi.

(1960)

 

Những câu ngớ ngẩn viết như đang khi ngái ngủ, chẳng có vần (trừ hai câu cuối: lại, băi) chẳng có điệu, và rời rạc, chẳng câu nào dính với câu nào hết.

Hay là những câu đầy ư nghĩa mà phải có một cái ch́a khóa mới hiểu được. Thơ không ra thơ th́ chắc chắn rồi. Nhưng đặt lồng vào tập thơ th́ không thể không hữu ư. Đây lại là một lời trung thực nữa. Một điệp văn. Để báo tin ǵ? Về chỗ ẩn của tác giả để cho các đồng chí t́m đến gặp? Hay về những địa h́nh và thời điểm của một kế hoạch? Trong tập thơ có một bài đề là Cây và một bài đề là Núi. Đó là hai bài trong số mười bài biệt lập ra v́ có đầu đề, có đội mũ, như tôi viết ở trên. Hai bài này quả là quan trọng, v́ tác giả dùng hai h́nh ảnh này làm biểu tượng đối lập. Núi là Đảng Cộng Sản:

 

Ngươi * đứng đó cao to giữa loài cây cỏ

Song ngàn vạn mối lo ngày đêm

chập chờn chực đó

.........

Ngươi nhô lên trong những cơn động đất nhất thời

Th́ rồi cũng có thể nhất thời

Ngươi ch́m trọn trong những cơn động đất

(1973)

(* Ngươi=“Mi”, chứ không phải người)

 

Cây là nhà cách mệnh dấu tên:

 

Cùng với muôn loài, Ta sinh ra và lớn lên

trong không gian man rợ

Gốc rễ của ta nằm sâu trong ḷng đất đai xứ sở

Nhờ ánh sáng mặt trời và những hạt nước mưa

Từ những chất vô cơ ngày đêm

vận hành trong vũ trụ

Ta hút vào nhả ra thành hoa thành nụ

Và lớn lên nhọc nhằn từng vụ

...........

Ta không có giấc mơ, mơ ḿnh

thành loài tượng thụ

Muôn đời trụ với thời gian

Ta chỉ mong sao trên mảnh đất suy tàn

Được góp một phần trái hoa phong phú

Thân ḿnh ta thời gian tụ mủ

Những mũi tên thù, những vết đao đâm

Nơi rừng thiêng giam hăm thầm câm

Hoa trái của ta thâm bầm nở nụ.

............

(1974)

 

Có lẽ tôi có thể giảng được sáu câu trên. Giảng chứ không giải, tôi không giải được. Bài này là tác giả giải bày tâm sự của ḿnh giữa vạn vật thiên nhiên. Có một tâm hồn thơ, tác giả nh́n thấy những biểu tượng trong vạn vật, nếu ta nói theo những thi nhân của phái Tượng H́nh, Symbolisme. Hay nói theo Ch. Baudelaire, tác giả của Những Đóa Hoa

Tội Ác (Les Fleurs du Mal)

 

La Nature est un temple de vivants piliers

Laissent parfois sortir de confuses paroles.

L'homme y passe à travers des forêts de symboles

Qui l'observent avec des regards familiers.

Thiên Nhiên là một ngôi đền

Lâu lâu văng vẳng tiếng rền cột cây

Con người qua khoảng rừng dầy

Biểu tượng đây đó ngó đầy thân yêu.

(Correspondances, Giao Hưởng)

 

Nhưng, tôi tự hỏi, biết đâu với nhà cách mệnh của chúng ta, mỗi biểu tượng này lại chẳng chỉ một lực lượng hay một yếu tố trong công cuộc vận động cách mệnh. Hoặc giả theo sự vận hành của Thái Dịch, chẳng là một cái nút trong Thiên Cơ, bộ máy của Trời, để chuyển động vũ trụ trong thời gian và thực hiện Thiên Lư, tức là nền công lư tối thượng của Đấng Tối Cao?

 

Tôi là tác giả những lời thơ. Cây cũng là biểu tượng của nhà thơ, hay đúng hơn là định mệnh trong thời thế của ông, v́ Cây, chữ là Mộc, và Mộc là một trong năm cái nút của đồ bản ngũ hành tương khắc tương sinh. Tác giả coi ḿnh là Cây và trong tâm tư cách mệnh của ông, Cây đối lại với Núi, là Đảng Cộng Sản. TôiCây bao bọc tất cả bài thơ lạ lùng này, Tôi là cái thân thể bằng xương bằng thịt, Cây là cái linh, cái mệnh, cái sự nghiệp lịch sử của Tôi.

Giữa bài là NúiLau. Tôi đă tŕnh bầy rằng Núi tượng trưng cho Đảng Cộng Sản, rất lớn và rất cao,  nhưng lớn xác mà nhỏ đức, cao nhưng mà không sâu trong xă hội và ḷng người:

 

Ta biết ngươi chỉ là chất đá...

... nặng chịch thù lù thô lỗ

Cao mà chẳng chút thanh cao

Nói ǵ lớn lao đức độ

(Núi, 1973)

 

C̣n Lau là quốc dân Việt, mang trong ḷng cái tinh thần cờ lau Vạn Thắng của Đinh Bộ Lĩnh xưa, nhưng v́ lầm lẫn nhất thời mà phải cam chịu một phận sống

 

đáng thương giữa chốn đồng lầy

 sậy úa, lau gầy, lạc loài thảm hại.

(Đồng Lầy, 1972)

 

Đêm là tối, là bí mật, ở câu hai ngay sát dưới Cây, và là để nói về người đồng chí trong bóng tối âm thầm. Âm là những lời thơ, không phải là thơ phơi ra trong ánh sáng của đời sống công khai, mà là thơ dấu h́nh, ẩn ư, theo hai cái nghĩa của chữ âm, trong âm thanh, và trong âm thầm, âm ỷ, hoặc, nếu quí độc giả muốn, cơi âm, tức âm ti, địa ngục. Âm đứng sát với Tôi, trong cấu tạo bài thơ.  Trong thơ c̣n nhiều biểu tượng và giao hưởng khác mà ta chỉ hiểu được nếu mở rộng ra một số sách đương thời, bí mật hoặc đă được thành công khai bởi những bản in mà khi nào cần, tôi sẽ dẫn, nhưng phải xin lỗi các bạn đọc trước v́ sự biết hạn hẹp của tôi không quá vài ba cuốn.

 

Bắt đầu ngược, với câu cuối cùng trước, về Tôi trong thân h́nh thể xác, mà không ai thấy được, nhưng chỉ thấy chiếc bóng in xù trên băi. Bóng người rất lớn, rất dài, v́ là một người hơn người. Người ấy đi cô đơn, trên băi vắng, như một băi biển chiều hôm, (bóng dài ra trăm trượng) hay một sa mạc hoang vu. Đọc một bài khác trong tập thơ, cũng về Tôi: Tôi đi một ḿnh trong đêm trầm / Cửa đóng âm thầm, phố vắng thênh thang”.

Cũng không thấy con người, chỉ thấy những ư nghĩ thoảng qua, và cái bóng:

 

Bóng ngả lênh khênh

Gù gù, tóc bù, thất thểu

Ư nghĩ đắng cay khởi dầu bằng tiếng “Nếu”

 

hoặc một nghi ngờ bất an:

 

Gió ngừng hơi

Cây lá nghẹn lời

Không biết giờ này năm tới

Ḿnh c̣n đi in bóng với cây không.

(1969)

 

Câu cuối cùng như vậy cũng không khó giải lắm; đó là lẽ tự nhiên, v́ nói về một con người bằng xương bằng thịt. Tuy chỉ là một cái bóng in xù trên dậm cát cô đơn.

Bây giờ nh́n lên câu đầu, nói về thân thế chứ không phải thân thể, có lẽ khó hơn. Cây là biểu tượng, CÂY: Gió tới dạt dào ve vuốt. May sao, trong một bài khác của tập thơ, ta lại đọc thấy:

 

Đêm nay cây gió dạt dào

Trăng lu khuất bóng, ḷng SAO đượm buồn

 

Cũng có cây gió dạt dào, tưởng là hiểu được ngay, hiểu dễ lắm, té ra không có ǵ bí hiểm hơn. V́ tinh ư một chút th́ thấy được sự “chơi chữ” trong thơ:

Ḷng SAO đượm buồn không phải nghĩa là tại sao ḷng ta lại buồn. V́ rằng trăng lu (mờ) khuất bóng (bị mây che kín không thấy nữa), th́ tự nhiên là buồn rồi, việc ǵ c̣n phải hỏi tại sao? Th́ ra từ Sao này là một danh từ, đối lại với trăng. Và trong câu lục-bát, có hai cặp đối với nhau mà tôi mạn phép đốt vài giai đoạn luận lư viết ra như sau:

 

 

 

 

 Cây__x _  Sao__

 Gió         Trăng

 

(Đọc là liên hệ giữa cây với gió cũng như liên hệ giữa sao với trăng). Hoặc hoán cải theo toán học, có thể viết:

 

Cây__x _  Sao__  =   1

 Gió         Trăng

 

Nếu tôi không hiểu phương pháp cơ cấu (structuralisme) theo Jakobson và Cl. Lévi-Strauss, có lẽ cũng đến tắc tị ở hai câu thơ oái-oăm này.

Nay ta đă biết rằng Cây là đối tượng của cuộc đời cách mệnh của tác giả.

Sao cũng lại là tác giả. Chúng ta xem truyện Tầu, như Tam Quốc Chí, đều biết rằng các nhân vật lớn đều có “tướng-tinh” mà người giỏi thiên văn có thể nh́n lên trời để xem đang ở vị trí nào, lên hay xuống, lợi hay hăm, thắng hay bại. Như Tư Mă Ư vơ-vẽ biết thiên văn, và Khổng Minh th́ “trên biết thiên văn, dưới thông địa lư” lại c̣n học được thuật an định tướng tinh để dấu cái chết của ḿnh. Thực sự ra th́ không những vua chúa hay nhân mới có tướng tinh, mà ai cũng có một tướng tinh cả, như Phật Tổ Như Lai đă dạy rằng mỗi người là một vị Phật đang thành. (Bởi thế cho nên hàng năm nhiều người cúng sao giải hạn lắm! Dĩ nhiên việc làm này chỉ làm béo mấy anh thầy cúng và những thầy chùa mù tịt về Phật Pháp mà thôi).

 

Tôi phải giảng về chuyện Sao để các độc giả của tôi hiểu tại sao nhà cách mệnh thi sĩ lại có thể là Sao. Không những ông có một tướng tinh, ông c̣n tự nhận ḿnh đích thực là một V́ Sao nữa. Đây là ư riêng thô thiển của tôi. Cũng có thể độc giả cho rằng từ Sao chỉ là một ẩn dụ, nghĩa là một h́nh ảnh, mỹ từ dùng một cách bóng bẩy. Nhưng hăy nghe đây một bài thơ, trong đó tác giả cũng tự nhận là một V́ Sao. Bài thơ này đề là “Bạch Vân Đàn Họa”, nghĩa là “giải / đáp thơ mây trắng”.

 

Là người Việt Nam, ai cũng biết Nguyễn Bỉnh Khiêm, tục gọi Trạng Tŕnh, sống vào một thời cực loạn khi vận nhà Lê đă hết nhưng thế vẫn c̣n, v́ tuy họ Mạc đă tiếm quyền nhưng ḷng dân nước vẫn nhớ ân sâu của Đức Lê Lợi đă mấy trăm năm trước, dấy cờ Nghĩa đuổi quân cướp nước nhà Minh ra khỏi bờ cơi của Đại Việt. Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy nhà Mạc chỉ là một ngụy triều mà qua ḷng người, trời không trao mệnh, nên bỏ đi, lập một cái am ở cao trên sườn núi, tại một nơi chỉ có mây trắng bao quanh. Người ta nói rằng trong cơi tiên đó, ông đă đắc đạo và nh́n thấy hết cơ trời 500 năm về trước và 500 năm về sau. Có một số thơ Nôm đă được đời sau chép lại và ghi là của ông viết, gom lại thành một Bạch Vân Thi Tập, nhưng chắc có nhiều sai lầm v́ lẩn lộn, có một số bài cũng được chép trong Quốc Âm Thi của Nguyễn Trăi. Lại có những lời bí hiểm được khẩu truyền người ta gọi là Sấm Trạng Tŕnh, là những lời tiên tri mà để khỏi tiết lộ thiên cơ, ông gói ghém trong những uẩn ngữ siêu nhiên. Hơn nữa, chắc chắn rằng những bài truyền lại khác nguyên bản rất nhiều nên chân giá trị càng mù mù mịt mịt.

 

Cả đến những bài đă ứng rồi, tôi ngờ rằng người ta cũng đă sửa đi cho hợp với những giai thoại cổ tích.  Tuy nhiên, lâu lâu vẫn đồn đi những tin hoang đường rằng có người mới được thần nhân dẫn dắt t́m thấy được vài ḍng thủ bút của chính Trạng Tŕnh. Nhưng vận nước suốt từ đời Lê Trung-Hưng, khói lửa điêu linh gần như không có một ngày ngơi nghỉ, đất nước phân chia mấy lần đổi chủ đổi chúa, tôi tự hỏi dầu là Sấm Trạng Tŕnh, có bao nhiêu sách không chính thống thoát được nạn đao binh mà không bị bọn hàng mă quết hồ dán vào đít ngựa giấy để đốt thành tro tàn rồi tung ra thành bụi bay theo chiều gió?

 

Sấm, từ miệng sang tai, vẫn sẽ lưu truyền cho đến ngày hết sử, nghĩa là hết sự đau thương cho dân tộc.

 

Bài Bạch Vân Đàn Họa như thế này:

 

Mây lành hiện vẻ cát xây ngai

Điền phá ai người dễ biết ai?

Đủng đỉnh Thái Nguyên ngay trước mắt

Dập d́u Ba Thục chính mang tai.

Thần cơ dẫn dắt đường tam hiểm

Y bát trao truyền vận thất khai

Ngày đến Tiểu Văn Lang sẽ thấy

Ngẩng nh́n Sao Tất sáng phai phai

 

 

Tôi xin nói ngay, bài này là bài thứ 6 trong tập Đạo Trường Ngâm, tác giả là Lư Đông A. Có nhiều bản đă được in ra ở Sài G̣n, ở Hoa-Thịnh-Đốn, ở California và Âu Châu, Úc Châu. Chúng ta không có lư do ǵ để nghi ngờ rằng ông Lư Đông A đích thực là tác giả của Đạo Trường Ngâm. Thơ của ông hay nhưng ít người hiểu, v́ nhiều chữ Hán, nhiều điển tích, và nếu tôi không lầm th́ nhiều khi chứa đựng sự biết thiên văn, thông địa lư và hiểu cơ trời của ông.

Như bài thơ này chẳng hạn.

 

Xin các độc giả đừng nghĩ rằng tôi biết ǵ về cái biết của ông Lư Đông A. Nếu tôi giảng thơ, th́ là giảng văn, giảng nghĩa, chứ không phải là giảng sự tiên tri, mà tôi không có tư cách ǵ để tuyên bố là sẽ đúng hay sai. Giả thử có ai chết oan th́ hăy nghĩ rằng ḿnh đă v́ Đại Nghĩa của dân tộc mà chết, xin đừng nghĩ rằng tại tôi. Tôi viết cũng đă dài rồi và sẽ vắn tắt, v́ cũng nghĩ, sau khi “đi một ḿnh trong đêm trầm” rằng “thôi về ngủ, mặt trời lên sẽ dậy”.

Bài Bạch Vân Đàn Họa viết năm 4824 T.V. (Tuổi Việt, tức Việt lịch), tức là năm 1946, theo phép biên niên của Thi Sĩ Vô Danh. Đại ư rằng:

 

1- Đă đến lúc Thánh Nhân ra đời và lập nghiệp trên nước Đại Việt ta. Chữ cát có hai nghĩa, một là tốt lành, hai là cát ở sa mạc và ở băi biển; một chi tiết mà phải ứng rồi mới hiểu rơ.

2- Dễ ǵ có ai biết được ai là người sẽ phá Điền để cho Thiên Tử ra đời. Điền là từ trong Sấm Trạng Tŕnh:

 

Phá điền Thiên Tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

 

Trong chữ Điền ( ) là chữ Thập (+), phải chăng là “Thầy Nhân Thập” trong Sấm Trạng Tŕnh. Nhân ( ) Thập ( + ) là phần dưới của chữ Tản ( ) chỉ Thần Tản Viên,  tức Sơn Tinh, con rể của Hùng Vương Thứ Sáu theo huyền thoại. Tôi xin lỗi v́ đi lạc đề.

3 và 4- Đất xuất phát của Thánh Nhân không xa đâu. Điển chữ Hán là: Thánh nhân nhập Ba Thục xuất Thái Nguyên.

5 và 6- Giặc nước (Đảng Cộng Sản) sẽ bị tiêu diệt khi bị đưa vào cái thế tam hiểm. Ba cái hiểm ấy là ǵ, ba sự bế tắc (tư tưởng, ngoại giao, kinh tế?) hay con đường được gọi là Tam Hiểm?

 Bí mật quân sự. Ngày giờ là vận thất khai, tức là 7x7=49, năm thứ 49 của chế độ mở đầu bởi Hồ Chí Minh. Tính năm th́ là 1995; bài thơ được viết năm 1946. Ngày ấy cũng là ngày Thánh Nhân trao truyền y bát, nghĩa là trao truyền lại cho một người đủ sự hiểu biết để ǵn đạo.

7 và 8- Đất Tiểu Văn Lang là đất thánh bắt đầu một thời lịch sử khác (mây lành). Sao Tất trên trời không c̣n bị u ám nữa và sẽ sáng chói lọi măi măi.

Việc sấm truyền tôi để ra ngoài. ở đây chỉ cần ghi nhớ rằng Thi Sĩ nói về là Sao Tất xuống trần và đến vận thất khai th́ cơ trời mới cho phép tiêu diệt hết loài “yêu ma” trong sử Việt; lúc ấy, sao Tất lại sáng chan chan.

Trở lại với bài thơ tối nghĩa của nhà cách mạng thi sĩ không tên. Ông tự ví với cái cây, và cây sẽ được gió tới dạt dào vuốt ve. Trong một bài khác th́ cây được liên hệ (h́nh thức) với sao, c̣n gió th́ liên hệ với trăng. một bài khác nữa, bài “Tôi Đi Một Ḿnh Trong Đêm Trầm” tác giả viết:

 

Một ḿnh đi lững thững

Bụi mưa rơi

Nước mắt cô đơn V̀ SAO khóc trên trời

GIÓ ngừng hơi

CÂY lá nghẹn lời.

 

Không lang bang, hăy để ư đến V́ Sao cô đơn khóc trên trời, nước mắt thành bụi mưa rơi. V́ sao cô đơn này khóc thương người bộ hành lững thững đi một ḿnh trong đêm trầm, phố vắng. Tác giả khéo đổi chữ /vị/ ra chữ // theo một phép dạng vị học

(morphology) của ngữ pháp Việt Ngữ, giống như /người/ đổi thành /ngươi/ hay thành /ngài/; đồng thời dẫn dắt kẻ địch đi vào sự hiểu lầm rằng /v́ sao/ đồng nghĩa với /tại sao/! Chuyện văn chương này không lưu ư ta bây giờ. Trong hiện tại ta chỉ thấy Vị Sao đang lưu lạc trầm luân dưới trần vẫn có một V́ Sao thương nhớ và đêm ngày soi bóng.

Trong đoạn thơ trích này, cũng có câygió; khi gió ngừng hơi th́ cây lá nghẹn lời.

 

Gió là ǵ đối với nhà thi sĩ cách mệnh? Tôi nghĩ rằng gió chính là cách mệnh. Trong cuốn  Huyết Hoa, ông Lư Đông A dùng h́nh ảnh ấy làm ẩn dụ cho cách mệnh, và đặc biệt là gió đáy một thành ngữ, rất đặc thù Duy Dân. Định nghĩa: Làn gió đáy sẽ thổi dạt dào các luồng sóng đáy, sức nước nguồn từ mỗi vỡ bờ sẽ bằng tất cả cái sức mạnh của các bế tắc thời đại với lượng nước bị ứ tắc mà vỡ lở ra trong một phạm vi qui định bởi sức lực, qui tắc tinh thần nội tại.

Xin chú ư:

1-     từ /đáy/ mà tôi đă nêu lên ngay từ đầu bài viết này;

2-     2- từ /dạt dào/, mà ta thấy trong bài thơ sáu ḍng đang được xem xét.

Chú ư và ghi nhớ, rồi ta lại trở lại bài thơ cũ.

Gió là cách mệnh, vậy c̣n Trăng là ǵ? Để vắn tắt, tôi nói ngay, TrăngNguyệt, là Hằng Nga.

Chẳng có ǵ khó khăn cả, một em nhỏ bắt đầu học Việt Văn. Nhưng không đơn giản như thế đâu. Xin đọc bài “Hằng Nga đổ xuống hồ ao tối”, trong đó có ba câu cuối rất thú vị:

 

Ếch nhái vang lời nhạc hỗn mang

Một V̀ SAO vút xuống thăm làng

Tới bụi gai dầy SAO hóa dạng.

 

Thú vị là v́ ếch nhái vang lời là các đảng viên ếch với cán bộ nhái đang hoan hô đả đảo ồm-ộp chí chóe. C̣n V́ Sao là ai, nếu không là nhà cách mệnh thi sĩ đă nhớ đến thời c̣n làm người ở kiếp nguyên sơ trong một xó làng Việt Nam, nghe thấy tiếng nhạc hỗn mang của loài ếch-nhái, và nh́n thấy bụi gai dầy đe dọa sẽ làm đau khổ dân làng liền hóa dạng trong ánh trăng sáng. Để làm người hay thành một con đom đóm soi sáng nhân gian? Có

lẽ cả hai.

 

C̣n Nguyệt th́ phải xem bài “Nga My Nguyệt  trong Đạo Trường Ngâm bài này khó, tôi không dám đ̣i quá nhiều kiên nhẫn và cố công ở các độc giả mà hùng tâm tráng chí làm tôi rất cảm động. Chỉ xin cắt ra hai câu, có dính đến vùng thượng du Ba Thục và ngọn suối Thai tức Thái Nguyên:

 

Nguyệt đưa chiến sĩ lên non Thục

Nguyệt dẫn anh hùng đến suối Thai

 

Hằng NgaNguyệt là ai? Cũng là một người mà tác giả nghĩ là từ trên trời xuống để giúp quốc  dân Việt mở một trang sử mới:

 

Nguyệt với ta chung một cảm hoài

 

(Cuối cùng, c̣n một nhân vật nữa, có trong Đạo Trường Ngâm và cũng có trong Tập Thơ Vô Đề, mà tác giả gọi là Sao Viêm Phương:

 

Đóa Hoa Huyết người ta bừng thức giấc

Sao Viêm Phương chói lọi mọc trên đài

 

tôi không biết có chỉ vào bản thể tinh tú của người gọi là Nguyệt hay Hằng Nga hay không. Vấn đề này ở ngoài vụ án văn chương, nên tôi để sang bên).

Tôi đă giảng theo chữ nghĩa và ngữ-học với rất nhiều lời lẩn quẩn loanh quanh mà chưa đâu vào đâu cả, mới lằng nhằng gần được hai câu. Phần c̣n lại tôi sẽ giảng thực nhanh, thực ngắn, nghĩa là trốn việc.

 

ĐÊM: Trăng hiền êm muốt thương soi

 

Nghĩa đen dễ hiểu, trăng thương mà soi đường cho kẻ đang lận đận nơi góc bể chân trời, với một ánh sáng hiền dịu trong đêm khuya. Nghĩa bóng: với những ǵ độc giả đă hiểu về Nguyệt tức Trăng, xin tùy tiện hiểu.

LAU: Nước tắm thân hèn ru vỗ

 

Lau là trong quốc dân, những người nghèo hèn đau khổ nhất. Lau cũng là cờ lau, lá cờ Vạn Thắng của Đinh Bộ Lĩnh đă dẹp nạn mười hai sứ quân đem lại nền CỒ cho nước Đại Việt. Nước, trước hết để nuôi lau sậy. NƯỚC cũng là Nước, cái siêu thể bao gồm dưỡng dục, che chở, nối kết, “ru vỗ” tất cả nhân tâm, lau sậy cũng như cây cối, bởi một keo sơn là Văn Hóa và bởi một sợi dây vô h́nh là Lịch Sử chung. Bởi vậy, lau sậy là gốc của nước, lau sậy là toàn dân, chỉ trừ những kẻ cộng tác với thực dân để dầy xéo lên lau sậy. Trong thời Cộng Sản, lau sậy cũng là tất cả quốc dân không phân biệt những phân biệt dựng đứng lên bởi chủ nghĩa ấu trĩ Mác-Lê và gạt ra ngoài những ếch nhái chỉ biết kêu ồm-ộp theo lệnh truyền từ Moskova và Beijing (Bắc-kinh) xuống.

 

Lau là giống cỏ dại, mọc tự do trên những băi hoang sườn đồi hay ven sông. Tên chữ của lau là lô, lau sậy đă đặt tên cho một ḍng sông lớn thuần túy và hoàn toàn Việt Nam, là Sông Lô hay Lô Giang ở đó lau và người đă sát cánh với nhau để lập một chiến công lẫy lừng trong thời Kháng Chiến chống Pháp. Nhưng thỏ chết th́ bẻ cung, xong Kháng Chiến là Đấu Tố, Đảng tiêu diệt những phần tử Quốc Gia trong Kháng Chiến, Đảng khủng bố quốc dân để thi hành kế hoạch

 

Đạp bằng, phá vỡ

Ngàn năm văn hiến ông cha

 

để nô lệ hóa toàn dân trong “một thứ sơn hà mê muội

 

Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười

Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán

Là tù ngục mục xương độc đoán

PHẢI CHĂNG ĐÓ CÔNG LAO HUYẾT HĂN

MẤY NGÀN NGÀY ĐÁNH PHÁP

NHỮNG NĂM XƯA?

... Bị đầy ải vào vũng đồng lầy

Sậy úa lau gầy, lạc loài thảm hại

 

nhưng phản tỉnh với “lá cờ lật lọng”, sậy lau lại đem lại cái thân hèn về tắm nước và để cho nước ru vỗ lại cái hồn bất khuất của ngàn xưa chờ đợi ngày tối hậu, đất trời nổi gió

 

Có những con người giả đui điếc thầm câm

Song rất thính và nh́n xa rất tốt

Đă thấy rơ ngày đồng lầy mai một

Con rắn hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới Trời lồng lộng mênh mông!

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng

Giờ phút lâm chung quỷ yêu làm sao ngờ nổi!

Rồi đây

Khi đất trời gió nổi

Tàn hung ơi, băo lửa, trốn vào đâu?

Bám vào đâu?

Lũ chúng bây dù có điên đầu

Lo âu, pḥng bị

Bàn bạc cùng nhau

Chính đám sậy LAU

Sẽ thiêu tất bay thành tro xám!

Học thuyết Mác, một linh hồn u ám

Không gốc rễ ǵ trên mảnh đất ông cha

Mấy chục năm phá nước, phá nhà

Đă tới lúc tông đồ

phải lôi ra pháp trường tất cả!

Song bay vẫn tiệc tùng nhật dạ

Tưởng loài cây to khỏe chặt đi rồi

Không ǵ nghi ngại nữa!

Bay có hay sậy LAU gặp lửa

C̣n bùng to hơn cả đề, đa

Những con người chỉ có xương da

Sức bật lật nhào, tung hết!

(Đồng Lầy, 1972)

 

Bạn có thấy chăng, lau sậy là dân hèn, lau sậy cũng là hồn thơ dân tộc, và lau sậy là cờ Vạn thắng của quốc dân Đại Việt nhất thống trong một chữ CỒ, oanh liệt, huy hoàng, bất chấp và bất khuất.

Nói chuyện văn chương mà chơi, cho thỏa long khỏi bốc thành lửa, sậy úa lau gầy là mượn khéo nhưng đổi đi của Tỳ Bà Hành mà Bạch Cư Dị đă viết và Phan Huy Vịnh đă dịch sang quốc âm Ngă ṭng khứ niên từ Đế kinh Trích cư ngọa bệnh Tầm dương thành

 

Tầm dương địa tịch vô âm nhạc

Chung tuế bất văn ty trúc thanh

Trụ cận Bồn giang địa đê thấp

HOÀNG LÔ KHỔ TRÚC nhiễu trạch sinh.

(Bạch Cư Dị)

 

Dịch:

 

Từ xa kinh khuyết bấy lâu

Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích

Tai chẳng nghe đàn địch cả năm

Sông Bồn gần chốn cát lầm

LAU VÀNG TRÚC VƠ nảy mầm quanh hiên.

(Phan Huy Vịnh)

 

Phan Huy Vịnh tài t́nh thiên phú; tuy thích thơ Đường nhưng vẫn giữ nguyên vẹn tinh thần Việt Nam, nên bản dịch mới hay như thế. Ngay từ hai câu đầu của Tỳ Bà Hành ông đă đem cảnh thu Việt để dịch lời thơ Hán, khéo đến nỗi rằng không một bậc đại khoa nào nhận thấy để trách chê:

Tầm Dương giang đầu, dạ tiễn khách

Phong dịp địch hoa, thu sắt sắt

(Bạch Cư Dị)

Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu, lau lách đ́u hiu.

(Phan Huy Vịnh)

 

Ôi trong đời nay, t́m đâu cho thấy một người Âu học hay Mỹ học cao đến bậc tiến sĩ, tài đến mức đại bút, mà vẫn thấm nhuần cái tinh thần lau lách của dân tộc đến như thế!

Tôi muốn viết thêm nữa về cỏ lau trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và của bao nhiêu nhà thơ nhà văn dân tộc nữa, nhưng ngọn lửa trong tâm vẫn cháy phừng phừng, và bắt buộc phải quay lại với bảy câu đầu trong đoạn thơ vừa trích, từ bài Đồng Lầy:

 

Có những con người giả đui điếc thầm câm

Song rất thính và nh́n xa rất tốt

Đă thấy rơ ngày đồng lầy mai một

Con rắn hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới Trời lồng lộng mênh mông!

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng

Giờ phút lâm chung quỷ yêu làm sao ngờ nổi!

 

Ô hay, là Lư Đông A hay là  Nguyễn Chí Thiện trong hai người Thái Dịch Lư Đông A và  đồng chí Mă Giám Sinh của bè lũ Mai Chí Thọ, ai là người ở năm 1972 đă dám viết ra rằng Đảng Cộng Sản, con rắn hồng, đang muốn lột xác? Ông Bùi Tín, người đang làm công việc cô mụ đỡ đẻ cho con đỏ Cộng Sản biến thành con rắn tam tài xanh-đỏ trắng có biết không? ông ước liệu con rắn đổi mới bộ da có thể thành công trong cái tṛ ảo thuật giờ thứ 25 này không? Hay nó không giữ nổi đuợc mầu xanh-đỏ-trắng, mà lại thành tím, thành vàng như cái xác chết trôi? Trong giờ phút tối hậu đất trờI gió nổi, lửa Chính Nghĩa bốc lên từ cọng cỏ ngọn lau khắp nơi nơi trong nước, trốn vào đâu? Bám vào đâu? Có một nước nào trong thế giới loài người kể từ ngày Liên Sô tuyên bố trả Honecker lại cho quốc dân Đức, có một nước nào tôn trọng nhân phẩm sẽ chịu chứa một đám tội đồ với những tội tầy đ́nh chống nhân loại như lănh tụ hôm-qua của nước Việt Nam hay không? Lau sậy, mà bọn cuồng tín duy vật đă dầy xéo chà đạp trong bẩy lần bảy năm dài sẽ bốc lên ngọn lửa trời để biến con rắn đỏ thành tro xám

 

Lẽ cùng thông * huyền bí vô cùng

Giờ phút lâm chung quỷ yêu làm sao ngờ nổi.

 

(* Lẽ cùng thông là Dịch Lư và Dịch Số theo câu nổi tiếng nhất của Dịch-Kinh: Dịch, cùng tắc biến, biến tắc thông. Đó là biện chứng pháp của Dịch, có ở Đông Phương đă hơn năm ngàn năm nay và sẽ quật lại cái biện chứng pháp thô lỗ của Karl Marx).

 

Âm từ Vách Đá (cũng là Đáy Vực, Đại Việt) phát ra và vang lại. Đây là tiếng người, khác với tiếng ếch. Đây là nhạc, là t́nh người, là nghệ thuật, là ḥa b́nh, là văn minh và văn hóa, là dân chủ và nhân chủ. Âm ngân dài vô tận vô cùng và vĩnh cửu.

Âm cũng là tư tưởng và học thuyết Đại Việt. Đọc trong ĐạọTrường Ngâm ba bài Âm để hiểu cái âm vang lại và ngân dài từ đáy vực trên vách đá (để ư đến đối xứng phụ âm đ-vv-đ):

 

ĐẠI VIỆT ÂM

Cờ vạn thắng, công Thái B́nh,

Hội rồng mây, cơ hiền thánh.

Cực vũ công, văn trị cảnh vinh quang.

Há một ngày nên được nghiệp vương hoàng?

Bao gan nát óc lầy, đan thanh hàng huyết lệ.

Thuở Hồng Bàng rẽ nước rạch hoang,

Vận nhiễu nhương nằm gai nếm mật.

.........

Khóc quỷ thần oanh liệt khí sung tiêu.

Ḷng sáng thư ấy bao nhiêu lao khổ.

(4824 T.V. = 1946)

 

Đó là cái công trong lịch sử để ǵn giữ non sông và

xây dựng tư tưởng văn hóa Việt.

 

DƯƠNG Tử GIANG ÂM

..........

Gió mưa ta cũng một nhà,

Mây quang gió tạnh đă là ngh́n xưa.

Cây non thức dậy hay chưa,

Tấm ḷng Dương Tử đợi đưa tin hồng.

(4823 T.V. = 1945)

 

Thái b́nh thịnh trị là việc ngày xưa. Ngày nay loạn lạc là thời cách mệnh. Những người cách mệnh lớp trẻ đă thức tỉnh với trách nhiệm trong thời cuộc của ḿnh chưa? Tất cả ṇi Bách Việt của khu vực Ngũ Lĩnh Ngũ Hồ (năm núi năm hồ) dưới song Dương Tử đang mong tin thành công.

Cây con là những thế hệ nối tiếp sứ mệnh của CÂY.

 

ĐỊCH LỘNG DƯ ÂM

........

Tiếng sáo cao, cao vút trên từng mây,

Nàng tiên xa, xa tít tận ngàn tây.

........

Tai không nghe, nghe thấu tới từng mây.

Mắt không trông, trông suốt đến ngàn tây.

Hồn tái sinh,

Bằng ngẫm nghĩ.

Sống cả ngh́n năm những phút này.

(4822 T.V. = 1944)

Ḥa B́nh và Mộng Mơ rời khỏi cơi sống của con người đă trở nên ngoài tầm ước vọng nhưng riêng ta, ta vẫn thấy rơ và không ngớt tin rằng có thể lấy lại được tất cả, có thể sống lại được cả ngh́n năm trong một phút này. So sánh với thơ của thi sĩ không tên:

 

ÂM, vách đá ngân dài vang lại

........

Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất đảng

........

Đặt ṿng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

Khai sáng kỷ nguyên tă trắng thắng cờ hồng!

Tiếng sáo mục đồng êm ả

T́nh quê tha thiết ngân nga

Thay tiếng Tiến Quân Ca

Và Quốc Tế Ca

Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!

(1971)

Có những con người giả đui điếc thầm câm

Song rất thính và nh́n xa rất tốt

Đă thấy rơ...

(1972)

 

Tất cả, Tôi, Cây Trăng, cùng với Lau Âm bao vây và công phá Núi trong một trận chiến tối hậu mà định mệnh, hiển hiện trong những làn mây Bạch Vân ở trên tầng cao đă được viết ra trong sách Trời.

 

* * *

 

Tôi chỉ hiểu có thế và chỉ có thể giảng được như vậy mà thôi. Một mật thư không phải để cho ai cũng hiểu cả.

Giảng để làm ǵ? Chỉ có một mục đích là cố gắng thử t́m chân tướng của tác giả vô danh. Biết được tác giả là ai rồi, th́ không cần phải hỏi xem có phải là ông Nguyễn Chí Thiện hay không? Tôi đă chứng minh trên lời thơ rằng tác giả tập thơ vô đề chính là tác giả Đạo Trường Ngâm, tức là Ông Lư Đông A. Tức không phải ông Nguyễn Chí Thiện. Chấm.Xong. CQFD, ce qu'il faut démontrer, đó chính là điều phải chứng minh, như ngày xưa người ta viết để chấm hết lời giảng về một bài toán.

 

Tôi đă chọn con đường khó là phân tích bài thơ bí hiểm nhất trong tập thơ vô đề và tôi đă chứng minh rằng cái bong xù ông Lư Đông A ẩn hiện trong bài thơ. Rằng không thể hiểu được nếu không đối chiếu với Huyết Hoa và Đạo Trường Ngâm , hai tác phẩm đă xuất bản của Lư Đông A.

Nếu có thời giờ, tôi sẽ không dựa vào một bài thơ chỉ có sáu câu, gọi là “thơ” nhưng thơ chẳng ra thơ này. Tôi sẽ dùng cả tập thơ, 188 bài dài và 188 bài ngắn, và đối chiếu với toàn bộ tác phẩm của Lư Đông A mà các đảng viên cũ của Đại Việt Duy Dân Đảng đă thu thập, chỉnh biên và xuất bản ở Sài G̣n (Nhà xuất bản Gió Đáy) năm 1968.  Nếu tôi không lầm th́ c̣n nhiều sách chưa được xuất bản v́ đă thất lạc hoặc được coi là tối-mật-thư, không được lưu hành công khai ra ngoài đảng. Ở một đoạn trên, tôi đă nói rằng tôi không theo phương pháp này v́ sợ bị hiểu lầm là tuyên truyền Duy Dân. Vả chăng, mặc dầu rất kính trọng một hệ tư tưởng uyên nguyên sáng giá của một nhân tài hiếm có Việt Nam, nhưng tôi cũng có những chỗ bất đồng, không nói ra th́ bị coi là đồng chí, mà nói ra th́ hiển nhiên là lạc đề, lệch mục tiêu.

 

Một phương pháp chứng minh khác mà tôi có thể xử dụng là phương pháp mà một phê b́nh gia đương thời, ông Mouron đă đề nghị để phân tâm (psychanalyser) một tác giả có một số h́nh ảnh và ẩn dụ (métaphore, tôi thường dịch là siêu dụ) đặc thù, đôi khi được dùng đi dùng lại với những biến hóa đ̣i hỏi bởi t́nh thế và đồng văn. Tỉ dụ như nhà văn Arthur Koestler, rất hay nói đến các con đại hầu (loài khỉ lớn do đó loài người đă xuất phát hai triệu rưỡi năm trước đây) khi thấy những con người đầu tiên nhẵn nhụi, cục mịch và luộm thuộm, thiếu kém những khả năng tinh nhuệ của khỉ, đă tỏ vẻ khinh bỉ những cái thai quái, thai trụy, bất thành khỉ dạng này; nhưng chúng có biết đâu những con người lúng túng, lảy-bảy, thiếu lông lá ấy sẽ là thủy tổ của con người hiểu biết homo sapiens và sẽ làm bá chủ trái đất. Ông Koestler, nhà văn cộng sản phản tỉnh, có ngờ đâu rằng theo một đường lối thất thường của sự di truyền Mendel (Mendelian heredity) gọi là sự phản-hóa hay nghịch-truyền (atavism) trong giống người homo sapiens, đă có tri giác, có t́nh cảm lại có thể nảy ṇi ra một giống người gọi là homo sovieticus (người sô viết) với các biến thể như sô-viết Việt Nam, sô-viết Nghệ-Tĩnh mặt mũi tay chân là người nhưng ḷng lang dạ sói, coi cha mẹ, anh em, đồng hương, đồng bào là thù địch, phải tiêu diệt cùng với văn minh và văn hóa của tổ tiên! Nh́n sâu vào ngụ ngôn phúng dụ rất tinh vi và đặc sắc Koestler này để phân tâm (psychananlyser) tác giả, ta có thể thấy rằng tuy nhà văn đă phản tỉnh về tính cách phi nhân thuần lư (rationalité  inhumaine) của cộng sản bonsơvíc, nhưng trong thâm tâm ông vẫn c̣n nuôi cái hi vọng viễn vông bâng quơ rằng, một ngày nào đó sau thế kỷ thứ hai mươi, bằng đường lối sinh học chứ không phải bằng văn hóa và tư tưởng, sẽ xuất hiện từ loài  người một loài mới, siêu nhân, vượt lên trên loài homo sapiens, mà chúng ta không thể biết trước được sẽ hơn ta đến độ nào.

 

Nhưng đây là phê b́nh văn chương và tư tưởng.

Trong lúc này, tôi không làm việc phê b́nh, tôi chỉ làm việc khảo phê văn bản.

Áp dụng phương pháp của Mouron vào việc khảo phê văn bản, tôi sẽ nhặt trong tập thơ tất cả các h́nh dung tu từ (figures rhétoriques) và nhất là các lời ví,  tỉ ngôn (comparaison), siêu dụ (metaphore, ẩn dụ), phúng dụ (allégorie)... và từ các h́nh dung này, sẽ lọc riêng ra những h́nh dung hay được dùng nhất (tỉ số lớn nhất), bất thường và đặc sắc nhất mà chỉ riêng có một tác giả dùng mà lại hay dùng, dung luôn, có khi dùng một cách tối nghĩa v́ đă quên đứt đi rằng ngoài ḿnh và có lẽ một vài người bạn rất thân, không ai có thể hiểu nổi hết ư nghĩa. Nếu trước đây những h́nh dung tu từ của tập thơ chỉ được dùng trong các kinh sách Duy Dân, tôi sẽ đi đến kết luận rằng tập thơ không tên là Duy Dân, nghĩa là của Lư Đông A.

 

Nói vắn tắt lại, đây là thống kê pháp (statistique) hay sác xuất khoa (probabilitiés) áp dụng vào bút pháp (stylistique) nói chung và ngón bút (style) của một tác giả nói riêng.

 

Tôi chỉ nêu lên bốn h́nh dung tu từ rất đặc sắc, trong ngón bút Lư-Đông-A

1- xuân thu, gốc từ xuân thu biện chứng của ông Lư (và cũng là sử quan của ông);

2- gió, với nghĩa là cách mệnh, là phong trào quần chúng, với từ ngữ đặc biệt gió đáy;

3- đáy, với nghĩa là thâm sâu và quan trọng nhất, trong tâm lư th́ gần như những mẫu cổ-sơ (archetype) của nhà phân tích tâm lư K. Jung, trong xă hội th́ là những thành phần khổ cực nhất của một cơi nhân gian (không phải là giai cấp vô sản của Các Mác);

4- Huyết hoahuyết nụ, huyết thai hay hoa máu, nụ máu, là những từ ngữ đặc sắc , rất xúc tích, rất phong phú, được phát triển nhiều nhất trong cuốn Huyết Hoa. Đại khái, đó là cái phần của văn hóa, thành h́nh trong sự đau khổ chung, và xây dựng lên bằng máu, trong sự tranh đấu của cả quốc dân, bắt đầu bởi gió đáy.

 

Dĩ nhiên là c̣n nhiều hơn nữa chứ không phải chỉ có bốn. Nhưng tôi nêu lên ở đây chỉ có bốn, v́ bốn là quá thừa, chỉ một cũng đủ. Chứng tích, quí hồ tinh, bất quí hồ đa. Chỉ một bằng chứng, bằng chứng không thể bác, không thể bẻ được, cũng đủ để làm rơ trắng đen.

Chẳng hạn như HUYẾT HOA. Trong tất cả các sách cổ kim của Việt Nam và của Trung Hoa, tôi chưa từng được đọc thấy từ ngữ này. Trong các sách Âu Mỹ, tôi cũng không thấy một từ ngữ nào có thể dịch ra thành “huyết hoa” tức là hoa máu. Chỉ thấy có một Lư Đông A. Ông Lư không những đặt ra từ ngữ huyết hoa, mà c̣n đặt ra huyết thai, không những đặt ra huyết thai, mà c̣n đặt ra huyết nụ! V́ trên phương diện ngữ học, huyết nụ là một từ ngữ có một cấu tạo lai căng, lộn giống đem một chữ Nôm (nụ) chắp vào với một từ gốc Hán (huyết) theo phép H́nh Dạng Học (morphology) của Hán ngữ. Tại sao lại không là huyết lôi, lôi “nụ hoa” theo Hán ngữ? huyết lôi “nụ máu”, huyết lôi là Hán văn, nụ máu là ngữ Việt. Ông Lư Đông A là một người rất giỏi Hán văn và tất nhiên là rất sành Việt ngữ, tại sao lại tạo ra một tân từ lố lăng như vậy? Tôi không thể hiểu được trừ phi ông là một nhà tiên tri, biết trước được từ năm 1945 (là năm viết cuốn Huyết Hoa theo ông Thái Lăng Nghiêm) rằng đến năm 1992 sẽ có một người minh oan cho ông cái dốt cố ư này của ông.

 

Các độc giả có ai chơi tem không? Tiếng Anh gọi là stamp collection. Nguyễn Du viết rằng nghề chơi cũng lắm công phu, quả như thế. Ngoài những con tem cổ rất quí v́ rất hiếm, c̣n những con tem phát hành chưa được bao lâu mà đă rất quí v́ trên con tem có in lầm một điểm ǵ đó nên bị thu hồi rồi hủy đi: tem ấy, rất hiếm có người được, nên rất đắt giá. Một bảo vật nữa vô cùng quí giá, là tập Ngục Trung Nhật Kư (NTNK) của Hồ Chí Minh, bản in lần thứ nhất. Bản in lần thứ nhất nào cũng quí giá cả, dầu là một tác phẩm như Histoira d'O của nền văn chương khiêu dâm hiện đại. Nhưng NTNK, bản xuất bản lần thứ nhất, có in rành rành ngoài b́a là “1932- 1933”, mà trong thời gian đó, “Người” c̣n đang dưỡng sức ở Liên Xô chữa bệnh lao phổi, tháng tháng lănh lương của đồng chí tổng bí thư Xích-tảlin, làm sao ở trong tù được, mà làm “thơ trong tù”. V́ thế, Đảng đă vội vă thu hồi bản đầu tay ấy để tiêu hủy tuyệt tích. Đó là một thứ bằng chứng không bác được, không bẻ được về sự Hồ Chí Minh đă thó, đă thuổng tập thơ này, mà ông và Đảng đă nhận .

Bản in lần thứ nhất của NTNK của Hồ Chí Minh chỉ quí về tính cách lịch sử mà thôi. Chính tôi đă được cái may mắn hiếm có nh́n thấy nó bằng mắt thực sự  mắt, tức là mắt thịt, mắt thực, chứ không phải là mơ. Nh́n thấy kẽ tay 1932-1933 đóng khung ở b́a sách.

 

Và đây cũng là một thứ bằng chứng quí giá và hiếm có như con tem in sai, như cuốn sách ḷi đuôi chồn. Bộ từ ngữ máu của ông Lư Đông A, huyết thai, huyết hoa, huyết nụ (sic!), không thể của ai khác ngoài Lư Đông A.

Những từ ngữ này kết hợp cách mệnh và văn hóa. Muốn hiểu, xin đọc quyển Huyết Hoa, nếu biết đọc.Tôi không dám chắc là biết đọc, nhưng cũng liều tóm tắt lại. Lịch sử dân tộc là sự vận động đẫm máu của một tinh thần và một tư tưởng. Đây là thời kỳ đầu tiên tạo thành cái huyết thai của văn minh Duy Dân. Thời kỳ hiện tại là thời kỳ huyết thai kết tụ lại thành huyết nụ, tức là cách mệnh trong ư thức Duy Dân. Khi cách mệnh thành công th́ cái nụ Duy Dân nở ra thành huyết hoa, tức là cái Hoa Duy Dân. Ba giai đoạn của quá tŕnh ấy đă được tả ra như ở một cái cây.

 

Ta đọc bài Cây (1974), một trong 10 bài có đầu đề của tập thơ Vô Đề

 

Cùng với muôn loài, Ta sinh ra và lớn lên trong không gian man rợ

Gốc rễ của ta nằm sâu trong ḷng đất đai xứ sở

Nhờ ánh sáng mặt trời và những hạt nước mưa

Từ những chất vô cơ ngày đêm

vận hành trong vũ trụ

Ta hút vào, nhả ra, thành HOA, thành NỤ.

 

Chưa hết:

 

Ta không có giấc mơ, mơ thành loài tượng thụ

Muôn đời trụ với thời gian

Ta chỉ mong sao trên mảnh đất suy tàn

Được góp một phần TRÁI HOA phong phú

Thân ḿnh ta thời gian tụ mủ

HOA TRÁI của ta thâm bầm nở NỤ

...........

C̣n nữa, trong bài Đồng Lầy (1972) cũng là một bài có đầu đề

 

Nếu chúng ta

Lấy MÁU ĐÀO tươi thắm tưới cho HOA

MÁU ươm HOA, HOA MÁU chan ḥa

HOA hạnh phúc tự do vô giá

MÁU căm thù phun đẫm mới ĐÂM BÔNG.

 

Tôi ngừng bút ở đây. Những ai có tai xin nghe. Những ai có mắt xin đọc. Nếu vẫn c̣n một ai — v́ t́nh chăng? tiền chăng? — vẫn muốn nhắm mắt bịt tai, hoặc oan trái hơn, trời sinh ra không có mắt có tai, tôi cũng không làm ǵ hơn được nữa.

Lại có vài kẻ, chưa đọc được hết một phần tư của bài này, tôi chẳng biết có hiểu được hết ư tứ không, đă vội vă viết thư chửi rủ, rằng theo người nọ, theo người kia, rằng tưởng là có học mà ngu đến thế!

Đọc trong tập thơ vô đề, có câu:

 

Tiếng ếch nhái côn trùng trong cỏ nước

(Vài Cánh Dơi, 1954)

 

lúc ấy tác giả chỉ có buồn thương nhưng chưa giận. Nếu phải chờ đợi thêm năm mười năm nữa, thời gian ù-ĺ vẫn “làm khổ con người / Cho đười ươi khỉ đột (vẫn) reo cười / Trong tối đen đầy đọa” th́ có lẽ tôi cũng nổi khùng như thi sĩ mà thốt ra những lời cục cằn, tục tĩu như những câu từ 147 đến 152 của bài Đồng Lầy.

 

Viết bài này, tôi không theo ai. Trẻ, không theo họ Lư, già không theo họ Lê. Tôi họ Trần, và chưa bao giờ tôi đổi họ. Họ Trần là họ ǵ ở nước Việt Nam, ít ai có học mà không biết. Viết bài này, tôi chỉ có mục đích: vạch ra những tráo trở trong một sự kiện văn chương để lập ra một bản án:

TÔI TỐ CÁO trước Quốc Dân Việt Nam và Nhân Loại trên toàn thế giới những hành động của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ cùng Quốc Hội đă dùng bạo quyền dựng lên một nhân vật tên là Nguyễn Chí Thiện, bắt ông Thiện phải nhận là tác giả một Tập Thơ Không Đầu-Đề của một người phải dấu tên v́ lư do an ninh bản thân.

 

Lư do của những hành động này không phải chỉ v́ trong Tập Thơ Vô Đề có những lời phản kháng vạch trần tính cách tàn bạo nghịch nhân quyền và phi công lư của chính quyền Việt Nam từ nhiều năm nay. Chính quyền Việt Nam xă hội chủ nghĩa đă làm như thế là để che dấu thực chất của Tập Thơ; Tập Thơmột tuyên ngôn và là một lời kêu gọi khởi nghĩa chống bạo tàn phi nhân và phản nhân loại Tuy tác giả không đề tên, nhưng tôi đă nêu lên những bằng chứng trong văn bản rằng ông là một nhân vật cao cấp của Đảng Duy Dân, với rất nhiều dấu hiệu rằng ông chính là ông Lư Đông A, Đảng Trưởng sáng lập ra học thuyết Duy Dân và Đảng Đại Việt Duy Dân năm 1943.

 

Ông Nguyễn Chí Thiện được chúng tôi xác nhận là một người có thực và là một người vô tội. Ông cũng là một nạn nhân, khóc không dám khóc, cười không dám cười, của Cộng Sản Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu công khai và xin Cộng Đồng Quốc Tế ủng hộ sự yêu cầu này, rằng Nhà Nước Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bảo vệ sinh mạng ông Thiện cho đến ngày công lư hoàn toàn sáng tỏ. Không những tôi không có chút ác cảm nào với một nạn nhân bị bắt buộc phải làm một thi sĩ cách mệnh bất đắc dĩ, tôi c̣n rất mong rằng ông Thiện được đến các Hội Văn Chương thế giới hay quốc gia đă tỏ ḷng hâm mộ tác giả dũng cảm của Tập Thơ Không Đề.

 

Khi đưa ra những lời tố cáo trên tôi không riêng v́ ai cả. Voltaire không theo đạo của Calas, Emile Zola không từng biết Dreyfus là ai, tôi từ nhỏ đến lớn ở ngoài Đảng Duy Dân của ông Lư Đông A và .tôi không có hân hạnh quen biết ông Nguyễn Chí Thiện. Tôi chỉ v́ lương tâm của một người Việt Nam và v́ bổn phận là một người mà đưa ra BẢN ÁN này với LỜI BUỘC TỘI này. Và tôi tin tưởng rằng thế giới bốn tỉ người, mà các nhà kinh tế chính trị bảo là đă bị nạn nhân măn, không phải là một sa mạc trong đó tiếng gọi của một người từ Đáy Vực vọng ra chín phương bốn hướng mà có thể lại không có tiếng vang trở lại.

Hoa Kỳ, Tháng 6, 1992

G.S. Trần Ngọc Ninh

 

Tiến Sĩ Giáo Sư Bùi Như Hùng:  Cáo trạng về Nguyễn Chí Thiện

 

HOME