Bàn Tay Phù Thủy Trung
Cộng Ở Á Châu
ChuSa
Khi
tổng thống W. Bush vừa mới đắc cử, việc
cấp thiết nhất của ông ta là lo việc pḥng thủ
lănh thổ Hoa Kỳ trước hiểm họa hỏa tiễn
mang đầu đạn nguyên tử của một nước
địch thủ - tuy hiện nay chưa ló dạng hẳn
- nhưng tốt hơn hết cho Hoa Kỳ là cũng nên
đề pḥng trước th́ hơn. V́ vậy ông ta đă
tuyên bố sẽ tiếp tục khuếch trương
chương tŕnh lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa
tiễn nhưng qui mô hơn đang được dự
trù vào năm cuối cùng trong nhiệm kỳ 2 của cựu
tổng thống
Ngày 10 tháng 7, 1995 một
số hăng thông tấn ngoại quốc loan tin là chính
quyền độc tài quân phiệt Miến Điện
đă phóng thích không điều kiện bà Aung San Suu Kyi, lănh
tụ đảng đối lập "Liên Minh Quốc
Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ" và cũng là
người được giải thưởng Ḥa B́nh
Nobel năm 1991. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên
với báo chí tại thủ đô Ngưỡng Quảng
(Rangoon) sau 6 năm bị quản thúc tại gia, bà Suu Kyi cho
biết bà vẫn tin là dân chủ sẽ thắng, và chính
quyền quân đội sẽ chấp nhận đối
thoại với phe đối lập để tránh cho
đất nước cảnh phá sản vô phương
cứu chữa. Bà Aung San Suu Kyi là con út của tướng
Aung San, người đă từng suốt đời tranh
đấu cho nền độc lập của Miến
Điện và được nhân dân tôn sùng là vị anh hùng dân
tộc của họ sau khi ông ta bị ám sát. Muốn t́m
hiểu thân thế và sự nghiệp của vị lănh
tụ đối lập sáng giá nhất hiện nay trên chính
trường Miến Điện, thiết tưởng
cũng nên biết qua về cuộc đời bôn ba
đấu tranh nhằm giải phóng đất nước
của thân phụ bà ta là tướng Aung San. Mùa thu 1935, khi
phong trào quốc gia yêu nước chống thực dân Anh
đang sôi sục trong giới sinh viên Miến Điện,
th́ tại đại học Rangoon, U Nu được
bầu làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên và Aung San
được bầu làm Tổng Thư Kư. Hai người
nầy sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trong công
cuộc đấu tranh dành độc lập cho Miến
Điện trong thập niên 1940. Sau khi đắc cử, U
Nu và Aung San bèn cho ra tờ báo "Tiếng nói của
Tổng Hội Sinh Viên". Ra được vài số th́
báo nầy lên tiếng chỉ trích một thành viên
người Miến trong Hội Đồng Quản
Trị của đại học
Trong khi đó th́ Nhật
Bản bắt đầu chú ư đến vị trí
chiến lược của Miến Điện về
phương diện dầu hỏa và cũng v́ từ
đất Miến, phe Đồng Minh có thể mở
một con đường tiếp tế vũ khí cho chính
phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh.
Nhật bèn t́m cách móc nối với những phần tử
cách mạng chống chính quyền bảo hộ của
người Anh, nhất là trong giới sinh viên. Tháng 8, 1940
họ móc nối được với Aung San và một
người bạn của ông này, rồi họ bí mật
tổ chức đưa lén hai người nầy ra
khỏi Miến Điện, trên một chiếc tàu của
Na Uy chạy về Áo Môn, cạnh Macao và Hongkong. Từ
đó hai người nầy được đưa
về Đông Kinh (
Năm
1942, một năm sau khi Nhật Bản bất thần oanh
tạc căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại
Trân Châu Cảng, ông Nicholas Spykman, trong quyển sách America's
Strategy in World Politics có nhấn mạnh ở điểm một
khi hai nước Đức và Nhật Bản bị Đồng
Minh đánh bại, th́ Liên Bang Xô Viết sẽ được
hưởng lợi nhiều nhất. Thành thử bằng bất
cứ giá nào, sau khi chiến tranh chấm dứt, bắt buộc
Hoa Kỳ phải ủng hộ hai nước nầy để
chống lại đại họa cộng sản Liên Xô.
Quyển sách nầy được xuất bản chỉ
có mấy tháng sau vụ Nhật Bản ném bom lén Trân Châu Cảng,
nên bị đa số độc giả cho là phi lư. Một
b́nh luận gia đă viết như sau: "Nh́n vị trí
địa dư của Nhật Bản trên một bản
đồ, th́ ai cũng biết Nhật Bản là một
ḥn đảo, có một chính quyền độc tài phát xít
do quân đội lănh đạo và luôn luôn có nhu cầu mở
mang bờ cơi để đương đầu với
những khủng hoảng nội bộ". Và ông Spykman
đă trả lời lại như sau: "Các ông bộ
trưởng đến rồi lại đi, ngay đến
những nhà độc tài rồi cũng chết, duy chỉ
có các ḥn núi là khi nào cũng vẫn luôn luôn đứng nguyên
một chỗ".
Năm
1945, tiềm lực Hải Quân Nhật Bản hoàn toàn bị
hủy diệt: từ hạm đội vĩ đại
1941, chỉ c̣n lại vài đơn vị nằm ụ
trong một số hải cảng v́ thiếu nhiên liệu.
Ngày 1 tháng 12, 1945, hạm đội của Nhật Hoàng
đă bị triệt tiêu, và Bộ Hải Quân đă trở
thành Bộ Giải Ngũ; và đảo quốc Nhật Bản
đă nhường chỗ lại cho một quốc gia
không có Hải Quân: liên tiếp trong nhiều năm qua, quốc
kỳ Nhật Bản chỉ được treo sau lái tàu của
các tàu buôn.
Giờ
đây, đă gần sáu chục năm qua kể từ ngày
Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ngày 2 tháng 9,
1945 tiềm lực hải quân của Nhật Bản đă
xuất hiện trở lại trên các đại
dương và được liệt vào hàng thứ 3 trên thế
giới vào thập niên 90 và bán chính thức tái vơ trang vào
đầu năm 2003.
Khi
đệ nhị thế chiến chấm dứt, lời cảnh
cáo của ông Spykman không được các nhà chính khách Hoa Kỳ
chú ư đến. Lúc bấy giờ Hoa Kỳ vẫn c̣n đặt
niềm tin ở chính quyền tổng thống Tưởng
Giới Thạch ở Trung Hoa mặc dầu tham nhũng ngập
đầu và tạo cho Mao Trạch Đông một môi
trường lư tưởng để lôi cuốn quần
chúng Trung Hoa tham gia cuộc cách mạng vô sản; đồng
thời Hoa Kỳ vẫn c̣n hận Nhật Bản đă
đánh úp họ tại Trân Châu Cảng và binh sĩ họ
đă bị hy sinh quá nhiều trong các trận chiến tàn
khốc chiếm các đảo của Nhật Bản rải
rác trên khắp Thái B́nh Dương. Từ mối hận
đó, Hoa Kỳ mới quyết tâm giải giới Nhật
Bản và triệt tiêu cho kỳ được về lâu về
dài nạn quân phiệt của nước nầy. Kết
quả là Hiến Chương 1947 ra đời, và đặc
biệt nhất là điều 9 của Hiến
Chương - được sự khuyến khích của
đại tướng Mac Arthur - không cho phép Nhật Bản
gây chiến với bất cứ nước nào trên thế
giới, và cũng không được phép thành lập quân
đội, nhưng có quyền tổ chức một lực
lượng tự vệ. Và cho đến bây giờ,
nước Nhật Bản vẫn c̣n dựa trên căn bản
đó để hoạch định một chính sách an ninh
mà nguyên tắc cơ bản vẫn c̣n tồn tại cho
đến ngày nay. Cho đến giờ nầy, chiến
lược của Nhật Bản luôn luôn dựa trên pḥng vệ
và loại bỏ việc dùng vơ lực trong mọi quan hệ
quốc tế. Nhật Bản không có quân đội và chỉ
có một Cơ Quan Tuần Dương được thành
lập từ năm 1947, có nhiệm vu truy lùng những
người Triều Tiên nhập cảnh bất hợp
pháp, những gián điệp Nga Xô và Bắc Hàn muốn xâm
nhập lén lút vào nước nầy và cũng để làm
nhiệm vụ gỡ ḿn nữa.
Sau
khi Mao Trạch Đông thôn tính lục địa Trung Hoa và
đuổi Tưởng Giới Thạch chạy qua Đài
Loan, và cũng sau cuộc chiến tranh Triều Tiên trong thập
niên 1950, Hoa Kỳ không ngớt áp lực Nhật Bản
thành lập một Lực Lượng Cảnh Sát Quốc
Gia đông 75,000 người vào tháng 7, 1950 và một Lực
Lượng An Ninh Tuần Dương đông 7000 người
vào tháng 4, 1952. Một năm sau lực lượng nầy
đă trở thành lực lượng tuần duyên của
Nhật Bản. Và đến tháng 7, 1954 hai lực lượng
thủy, bộ được sáp nhập với lực
lượng Không Quân để trở thành một Cơ
Quan Tự Vệ do một ông Tổng Giám Đốc ngang
hàng với một bộ trưởng trong nội các điều
khiển. Tất cả nhân viên trong ba ngành Hải, Lục,
Không Quân kể trên - đứng trước pháp luật -
đều được coi như những thường
dân và không được phép chiến đấu nếu
không có lệnh của thủ tướng chính phủ, mặc
dầu bị tấn công bất ngờ cũng vậy; và
chỉ được tham dự các cuộc thao diễn huấn
luyện trong ngành mà thôi.
Thời
gian càng trôi qua th́ những kỷ luật đó lại càng
trở nên khắt khe thêm như 3 nguyên tắc loại trừ
nguyên tử được đề ra dưới trào thủ
tướng Kishi: Nhật Bản sẽ "Không Có",
"Không Chế Tạo" và "Không Tồn Trữ
Vũ Khí Nguyên Tử" trên lănh thổ của Nhật Bản.
Năm 1976, Chính phủ Miki cấm hẳn việc xuất cảng
vũ khí và hạn chế ngân sách quốc pḥng là 1% tổng
sản lượng quốc gia và như vậy là chính quyền
Nhật Bản tự động hạn chế việc
tăng gia thực ngạch của lực lượng tự
vệ. Từ 1957 đến 1961 con số nầy là 255,600
người và đến 1986 là 272,000 người, nghĩa
là chỉ có gia tăng khoảng vài ngàn người thôi.
Mặc
dầu không có binh lực và theo thủ tướng Ohira,
"nước Nhật của chúng tôi chỉ có một
đường lối ngoại giao dựa trên hy vọng
và nguyện cầu" và được hỗ trợ bởi
một đường lối ngoại giao đặc biệt
khác dựa trên đồng Yen đă khiến cho thủ
tướng Ohira thốt lên câu nói: "Nước Nhật
không nên dính líu vào các cuộc tranh chấp của các liệt
cường trên thế giới, nhưng phải làm tṛn bổn
phận của một cường quốc về kinh tế
đối với quốc tế". Chính sách đó đă
được một số b́nh luận gia có tiếng
tăm đặt cho cái tên "quân phiệt được
ủy nhiệm" v́ "Nhật Bản biết kín
đáo thiết lập những đường dây liên lạc
chặt chẽ về kinh tế với các nước lân
bang có quân đội vững mạnh. Nhờ vậy mà Nhật
Bản đă trở nên một "trung tâm kinh tế"
phồn thịnh trong khi đó th́ vẫn tiếp tục ủng
hộ một ngoại diện có hệ thống quân sự
mạnh.
Hiệp
ước ḥa b́nh San Francisco đă hợp thức hóa sự
liên minh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản và đặt
nước nầy dưới sự bảo vệ của
Hoa Kỳ. Qua hiệp ước nầy, chính Hoa Kỳ tự
làm một cái gông đeo vào cổ ḿnh, trong khi đó th́ Nhật
Bản - khỏi bận tâm về chi phí quốc pḥng - tha hồ
khuếch trương kinh tế và chỉ vài năm sau thôi
đă nhảy lên địa vị số 1 về kinh tế
trên hoàn cầu?. Sau thập niên 60, sự giao thiệp giữa
Hoa Kỳ và Nhật Bản lại c̣n được siết
chặt hơn nữa qua hiệp ước cứu trợ
kư kết giữa 2 nước vào ngày 19 tháng giêng 1960 lại
càng thuận lợi cho Nhật Bản hơn nữa: theo hiệp
ước nầy th́ Hoa Kỳ sẽ tự động bảo
vệ Nhật Bản trong trường hợp nước
nầy bị tấn công bất th́nh ĺnh, nhưng khi Hoa Kỳ
bị tấn công bất thần th́ không thấy đề
cập đến vai tṛ của Nhật Bản sau đó. Hiệp
ước cũng qui định là Hoa Kỳ không thể
dùng những căn cứ của Hoa Kỳ trên đất
Nhật để làm nơi xuất phát quân đội nếu
không có sự đồng thuận của chính phủ Nhật
Bản. Qua hiệp ước mới nầy, Nhật Bản
được bảo đảm về sự bảo vệ
của Hoa Kỳ, trong khi đó lại khỏi lo về gánh
nặng chi phí quốc pḥng đè lên trên vai; đến độ
các b́nh luận gia quốc tế đă đề cập
đến vai tṛ "bảo hộ" của Hoa Kỳ
đối với quốc gia Nhật Bản, nhưng
cũng phải công tâm mà nói là hiệp ước nầy
không chuyển nhượng cho Hoa Kỳ một chút quyền
nào của một nước đô hộ.
Đường
lối ngoại giao nầy kéo dài hơn 40 năm và ông Tổng
Giám Đốc Cơ Quan Tự Vệ của Nhật Bản
đă tỏ ư rất hài ḷng khi nước của ông
được chấp nhận là một thành viên của thế
giới tự do. Ông ta nói: "Trong 40 năm đó, Nhật
Bản đă sống trong ḥa b́nh và bảo toàn nền độc
lập của nước họ, đồng thời thực
hiện được một sự mở mang kinh tế
vượt bực, sự việc trên đây chứng tỏ
là về phương diện an ninh, Nhật Bản đă
chọn đúng con đường của họ đă
đi". Vậy th́ cần ǵ phải thay đổi nữa?
Nhưng
sự tiến triển t́nh h́nh quốc tế trong thập niên
1970 và đầu năm 2000 đă thúc đẩy Nhật Bản
buộc họ phải duyệt lại đường lối
an ninh theo nhu cầu đ̣i hỏi của thời cuộc.
Sau khi Nhật chiếm
trọn Miến Điện th́ họ mời U Ba Maw ra thành
lập chính phủ thân Nhật. Tướng Aung San trở
thành bộ trưởng Quốc Pḥng kiêm Tư lệnh quân
đội quốc gia Miến Điện. Và U Nu là tổng
trưởng Bộ Ngoại Giao. Nhưng trên thực
tế, chính phủ U Ba Maw chỉ là một chính phủ bù
nh́n, vô quyền. Ông nầy thấy ḿnh bị Nhật
gạt nên đă lên tiếng phản đối và bị Nhật
cho tay sai ám sát. Đại tá Suzuki bị cấp chỉ huy
cho là quá thân thiện với phe cách mạng nên đă bị
thất sủng. Lúc c̣n sống, U Ba Maw rất ghét
tướng Aung San, mặc dầu biết tướng Aung
San đang âm mưu chống Nhật, nhưng ông ta không
tố cáo với Nhật. Chính những sĩ quan thuộc
sắc dân Karen trong quân đội Miến đă ngấm
ngầm đứng làm trung gian giữa Aung San và sĩ quan
t́nh báo của Anh quốc c̣n hoạt động bí mật
trong nội địa Miến Điện; và sự móc
nối nầy đă được huân tước
Mounbatten, tư lệnh quân đội Đồng Minh vùng
Đông Nam Á chấp nhận. Cuộc khởi loạn
của quân đội quốc gia Miến dưới
sự điều khiển của tướng Aung San
để chống lại Nhật bắt đầu
từ cuối tháng 3, 1945. Qua tháng 5, 1945 th́ quân đội
Nhật bị đánh bật ra khỏi thủ đô
Ngưỡng Quảng (Rangoon) và đầu hàng quân
đội Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8, 1945. Huân
tước Mounbatten và toàn bộ tham mưu của ông ta
từ nay, đều coi tướng Aung San là người
đại diện có uy tín nhất của phe quốc gia
tranh đấu cho nền độc lập Miến
Điện và cũng là người Miến duy nhất
được cảm t́nh của các sắc dân thiểu
số Shan, Chin, Kachin, Rakhine,Karen, Mon và Kayah. Qua tháng 4, 1947 dân
chúng Miến đi bầu Quốc Hội Lập Hiến,
đến ngày 9 tháng 6 th́ quốc hội họp và bầu U
Nu làm chủ tịch. Sau đó, một chính phủ lâm
thời được thành lập và tướng Aung San
được chỉ định làm thủ tướng. Và
hơn hai tháng sau, sáng ngày 19 tháng 6, 1947 khi tướng Aung
San đang họp hội đồng nội các th́ một
số người vơ trang giả dạng cảnh sát đă
đột nhập vào pḥng họp và xả súng tiểu liên
bắn chết tướng Aung San và sáu vị bộ
trưởng trong chính phủ lâm thời trong đó có
người anh ruột của tướng Aung San là Ba Win.
Lúc đó tướng Aung San mới có 32 tuổi và con gái út
của ông ta tức bà Aung San Suu Kyi mới lên 1 tuổi.
Người cầm đầu vụ ám sát nầy là
một chính khách người Miến tên là U Saw.
Người nầy tưởng rằng một khi
tướng Aung San bị ám sát rồi th́ chính quyền
bảo hộ Anh quốc sẽ chỉ định hắn
ta thay thế Aung San làm thủ tướng. Nhưng t́nh báo
của Anh quốc rất bén nhạy và t́m ra ngay thủ
phạm là U Saw. Hắn và toàn bộ thủ hạ có nhúng tay
vào vụ ám sát tướng Aung San đều bị bắt
và đem ra xét xử và bị hành quyết vào tháng 5, 1948.
Chính quyền bảo hộ Anh quốc đă chỉ
định ngay Chủ Tịch Quốc Hội Lập
Hiến U Nu làm thủ tướng.
Ngày 24 tháng 9, 1947 hiến
pháp của Liên Bang Miến Điện gồm có
lưỡng viện được chuẩn y và ngày 17 tháng
10, 1947, hai vị thủ tướng U Nu và Clement Attlee
đồng kư tên vào văn kiện bản hiệp
ước công nhận nền độc lập của
Liên Bang Miến Điện. Nhờ tài vận động
khôn khéo về ngoại giao của tướng Aung San, Anh
quốc đă chấp nhận trao trả độc
lập lại cho Miến Điện trong sự
tương nhượng ḥa hài, không đổ một
giọt máu. Nhân dân Miến Điện cho rằng tuy
người Anh đă ra đi nhưng nước Anh vẫn
măi măi ở trong ḷng của họ.
Trong suốt thời gian U
Nu làm thủ tướng, từ 1947 đến 1958, rồi
từ 1960 đến 1962, ông ta luôn luôn dựa vào Phật
giáo để cai trị Miến Điện như
dưới triều đại các vua chúa xa xưa của
nước nầy, nên đă làm mất ḷng các sắc dân
thiểu số theo Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, nên họ
đă nhất tề vơ trang đứng lên chống lại
chính quyền trung ương Miến. Trong cảnh loạn lạc
đó, chính phủ dân sự của U Nu đă tỏ ra hoàn
toàn bất lực, và ngày 2 tháng 3, 1962, quân đội
Miến do tướng Ne Win (tên thật là Shu Maung) cầm
đầu, đă đứng ra làm đảo chánh, bắt
giam thủ tướng U Nu và một số lớn các chính
khách dân sự. Những nhân viên dân sự cầm đầu
bộ máy hành chánh đều bị các sĩ quan quân
đội thay thế.
Ngày 4 tháng 7, 1962
tướng Ne Win ra lệnh thành lập một chính
đảng của quân đội, đảng
"Chương Tŕnh Xă Hội Miến Điện" và
cấm hẳn sự hoạt động của các chính
đảng khác. Kể từ ngày ấy trở đi,
Miến Điện trở thành một nước
độc đảng giống như ở Việt
Năm 1988 là năm đen
tối nhất đối với người dân trong
lịch sử Miến Điện v́ 26 năm cầm
quyền của nhóm quân phiệt bất lực, ngoan cố
dưới sự lănh đạo độc tài của Ne
Win, lại thêm thực hiện một chương tŕnh
dựng nước na ná như của đảng Cộng
Sản, th́ bảo sao kinh tế lại không phá sản ! Có
trở nên giàu sụ trên xương máu người dân
chỉ có gia đ́nh và thân bằng quyến thuộc,
tộc họ xa gần của Ne Win và bè lũ tay sai
của y mà thôi. Tham nhũng, thối nát, mua quan bán
tước là chuyện đương nhiên trong những
chế độ độc tài phát xít hay độc tài
cộng sản. Và nếu dân chúng có lên tiếng ta thán,
chỉ trích chế độ th́ đă có bộ máy công an
cảnh sát chực sẵn để bắt bớ, tù
đày và có thể đi đến thủ tiêu. Miến
Điện là một vựa lúa xuất cảng gạo
trong vùng Đông Nam Á, thế mà nay dưới chế
độ độc tài quân phiệt, dân lại thiếu
gạo ăn mà chính phủ lại không có ngoại tệ
để nhập cảng gạo vào trong nước
hầu cứu đói dân. Và một khi dân đói th́ không c̣n
sợ nhà cầm quyền nữa, và việc xuống
đường biểu t́nh bất bạo động
để đ̣i tự do dân chủ là cách tỏ thái
độ tương đối ḥa hoăn nhất đối
với chính quyền độc tài, nhất là khi chính
quyền đó lại vẫn ngoan cố nhất
định không chịu chấp nhận tṛ chơi dân
chủ mà dân chúng đ̣i hỏi.
Thế rồi chuyện ǵ
phải xảy ra đă xảy ra, và dân chúng đă tự
động đứng lên biểu t́nh đ̣i tự do dân
chủ, cơm no áo ấm ở ngay tại thủ đô
Ngưỡng Quảng (
Mùa hè 1988, bà Aung San Suu Kyi
đang cùng gia đ́nh ở Luân Đôn, thủ đô Anh
quốc, th́ bà nhận được tin từ
Ngưỡng Quảng (Rangoon) điện sang là thân mẫu
của bà vừa bị đột quỵ về tim (stroke)
và bị bán thân bất toại. Bà lật đật đáp
máy bay về Miến Điện để lo săn sóc
mẹ già. Ở tại thủ đô Miến, bà đă
tận mắt trông thấy đồng bào lũ
lượt xuống đường biểu t́nh chống
chính quyền quân phiệt và đ̣i tự do dân chủ;
đồng thời bà cũng vô cùng xúc động thấy
cảnh máu đổ thịt rơi gây ra do sự đàn áp
hết sức dă man của lũ bộ đội chính
quyền. Khi bà chứng kiến được cảnh lôi
xác chết của 41 sinh viên đi biểu t́nh rồi
bị quân đội hốt lên xe thùng, đóng kín cửa
lại khiến họ bị ngộp thở mà chết, th́
bà đă lấy một quyết định thay đổi
hẳn cuộc sống an nhàn sung túc của bà: đó là
nhập cuộc cùng toàn dân để tham gia cuộc
đấu tranh đ̣i cho kỳ được tự do dân
chủ cho quê hương. Những ǵ bà đă tận
mắt nh́n thấy quả thật đúng là "giọt
nước làm tràn ly nước". Và sau đó, bà Aung San
Suu Kyi - qua sự cố vấn của cựu thủ
tướng U Nu và cựu tướng lănh Tin Oo -đă thành
lập đảng "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh
Cho Dân Chủ" để đối thoại với
chính quyền quân phiệt, và đ̣i chính quyền phải
chấp nhận tổ chức bầu cử Quốc
Hội Lập Hiến để tiến tới việc
thành lập một chính quyền dân cử hợp hiến,
hợp pháp trong tương lai. V́ bà được sự
hưởng ứng nồng nhiệt của đồng bào
ở bất cứ nơi nào bà đến nói chuyện, nên
chính quyền quân phiệt - v́ sợ ảnh hưởng
của bà lan rộng trong quần chúng - nên đă ra lệnh
câu lưu và quản thúc bà tại gia, viện cớ là bà
thân Cộng, có hành động chống đối nhằm
lật đổ chính quyền. Đồng thời cựu
tướng lănh Tin Oo, tổng thư kư của Liên Minh và
một số lớn cán bộ ṇng cốt của
đảng cũng bị bắt nhốt vào ngày 19 tháng 7,
1989, ngày tướng Aung San bị ám sát và chính là ngày mà bà và
các đồng chí định tổ chức lễ giỗ
lần thứ 41 của vị anh hùng dân tộc Miến. Từ
ngày Ne Win dẹp cuộc biểu t́nh vĩ đại
đ̣i tự do dân chủ của dân chúng Miến cho
đến nay (19 tháng 7, 1989) cũng gần được
một năm. Phía dân chúng th́ ḷng căm thù tập đoàn thống
trị tuy vẫn c̣n sôi sục nhưng chưa có cơ
hội để bộc phát trở lại, các đảng
đối lập th́ tạm thời rút vào bí mật
để tránh sự theo dơi của các cơ quan mật vụ
của chính quyền; c̣n Ne Win - sau khi cho thành lập
"Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập
Trật Tự" và giao lại cho lũ thủ túc thân tín
- th́ tuyên bố rút lui khỏi chính trường, nhưng
kỳ thật vẫn c̣n điều hành công việc
nước trong bóng tối, qua trung gian của Hội
Đồng.
Qua mùa Thu năm 1989, Hội
Đồng tướng lănh Miến Điện đă ban
hành một quyết định về chính trị hết
sức quan trọng: chính quyền sẽ tổ chức
bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 27 tháng
5, 1990. Có 3 lư do đưa đến quyết định
nầy:
Lư do thứ nhất:
Miến Điện cũng như các nước theo
chủ nghĩa xă hội khác trên thế giới như Nga
Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam, Cuba đều
kiệt quệ về kinh tế và đang ở sát bờ
vực thẳm. Nếu không có sự viện trợ
của các nước trong khối Thế Giới Tự Do
th́ chế độ của các nước nầy không
sớm th́ muộn cũng phải sụp đổ v́ dân nghèo
đói quá tất nhiên phải nổi loạn để t́m
sự sống. Riêng về Miến Điện, trong tháng 9,
1988, sau khi quân đội nổ súng vào đám dân biểu
t́nh phản đối chế độ tại thủ
đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) cũng như tại
một số đô thị lớn khác như Mandalay, Taunggi
và giết chết khoảng 5000 người biểu t́nh,
th́ Hoa Kỳ và Nhật Bản cùng một số quốc gia
khác trên Thế Giới Tự Do đă ngưng ngay viện
trợ cho Miến Điện; hành động nầy
khiến cho nền kinh tế của Miến Điện
đă kiệt quệ lại càng kiệt quệ thêm và
chịu đựng hết muốn nổi. V́ vậy mà nhà
cầm quyền quân phiệt Miến đành phải
nhượng bộ các yêu sách của các cường
quốc Tây Phương để được viện
trợ trở lại, là phải có tự do, dân chủ và
có bầu cử với sự tham dự của các chính
đảng đối lập với chính quyền. Nếu
chính quyền gian lận trong cuộc bầu cử th́
viện trợ cũng sẽ không đến với
họ.
Lư do thứ hai: Chính
quyền quân phiệt Miến Điện vẫn tin
tưởng là họ có đầy đủ phương
tiện về nhân sự cũng như về tài chánh
để yểm trợ cho đảng "Quốc Gia
Thống Nhất" của họ; đồng thời
họ cũng dư biết là phe đối lập
thiếu đủ mọi phương tiện, nhất là
về tài chánh, để vận động tuyển
cử, th́ đảng của chính quyền thế nào cũng
thắng cử là điều chắc chắn.
Lư do thứ ba: Tất
cả các lănh tụ và cán bộ cao cấp của các
đảng đối lập đều bị tống
giam hay bị quản thúc th́ phe đối lập như
rắn không đầu, coi như đă bị vô hiệu hóa
từ lâu và như vậy đảng cầm quyền
tất nhiên phải cầm chắc sự đắc
thắng trong tay.
Dựa trên 3 lư do đó,
chính quyền quân phiệt đă chấp nhận cho tổ
chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến.
Họ c̣n đưa ra một đ̣n rất thâm độc
là chấp nhận cho gần 200 đảng ra tranh cử
để chia phiếu của phe đối lập và
như vậy phe chính quyền tiện bề hốt
trọn số ghế trong quốc hội. V́ chính quyền
quân phiệt dự trù thực hiện những đ̣n phép
gian manh đối với phe đối lập, nên họ
không muốn cho phóng viên báo chí thuộc khối Thế
Giới Tự Do đến Miến Điện nhiều
để theo dơi cuộc bầu cử, cho nên họ
chỉ cấp chiếu khán cho không đầy một
trăm kư giả và chuyên viên truyền h́nh ngoại quốc
vào theo dơi cuộc bầu cử một tuần
trước ngày bầu cử mà thôi. Có lẽ họ sợ
các phóng viên báo chí ngoai quốc ở lâu th́ sẽ phát giác ra
nhiều sự bê bối của họ trong việc tổ
chức cuộc tuyển cử.
Tuy nhiên vừa mới
đặt chân vào đất Miến đă thấy ngay
sự chèn ép của chính quyền quân phiệt đối
với các đảng đối lập v́ họ bị hạn
chế rất nhiều trong việc xuất hiện
để nói chuyện trước quần chúng. Trái
lại đối với phe của chính quyền th́ tha
hồ, chả có hạn chế ǵ hết. Biểu ngữ,
bích chương của phe đối lập cũng không
được dán bừa băi và thường hay bị chính
quyền cho người đi xé. Có một biểu ngữ
của phe chính quyền treo đối diện ṭa
đại sứ Hoa Kỳ tại Ngưỡng Quảng (
Ngày 27 tháng 5, 1990 dân chúng
Miến Điện đổ xô đi bầu cử
đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến v́
họ quyết dùng lá phiếu để bầu cho phe
đối lập, một cách để biểu
dương sự chống đối của họ
đối với chính quyền độc tài quân phiệt.
Mặc dầu bà Aung San Suu Kyi và một số lớn lănh
tụ của đảng Liên Minh bị chính quyền giam
giữ, dân chúng vẫn nhất tề bỏ phiếu cho
đảng này, bất cần nh́n đến tên của
từng cá nhân một, v́ họ chỉ nh́n vào huy hiệu
của đảng Liên Minh mà bỏ phiếu. Có thể nói
cuộc bầu cử đă trở thành một cuộc
trưng cầu dân ư: Ai tín nhiệm chính quyền độc
tài quân phiệt th́ bỏ phiếu cho "đảng gia
nô" Quốc Gia Thống Nhất của Ne Win, c̣n ai
bất tín nhiệm chế độ độc tài quân
phiệt th́ bỏ phiếu cho đảng viên "Liên Minh
Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ " của bà Aung
San Suu Kyi. Có tất cả 2392 ứng cử viên của 234
đảng vừa lớn vừa nhỏ, để tranh
485 ghế dân biểu trong Quốc Hội Lập Hiến.
Rốt cục đảng viên đảng "Liên Minh"
của bà Aung San Suu Kyi đoạt 392 ghế dân biểu, và
đảng "Quốc Gia Thống Nhất" của
tướng Ne Win chỉ được vỏn vẹn có
10 ghế "biểu dân". Chủ tịch U Tha Gyaw và
phát ngôn viên U Chit Hlaing của đảng "Quốc Gia
Thống Nhất" - đảng gia nô -cũng đều
thất cử một cách thiểu năo. Mặt trời
của Ne Win giờ đây chỉ c̣n sáng như lúc chiều
tà của một chiều băo tuyết. Tiếng "sét dân
chủ" này không những đă làm rung động toàn
thể nước Miến Điện dân chủ mà c̣n làm
cho cả thế giới sững sờ v́ quá ngạc nhiên
trước sự thảm bại không ngờ
được của chính quyền quân phiệt Miến
Điện. Ngay tại những nơi chung cư của
quân đội mà đảng Liên Minh vẫn thắng
phiếu cũng đủ chứng tỏ rằng
người quân nhân Miến Điện thật t́nh yêu
nước vẫn bỏ phiếu cho đảng
đối lập. Qua cuộc bầu cử này coi như
nhân dân Miến đă trả được mối thù
bất cộng đái thiên đối với chính quyền
quân phiệt. Về phần chính quyền Miến
Điện - nếu sau này họ c̣n tổ chức bầu
cử nữa - th́ thế nào họ cũng cho tráo thùng
phiếu - viện cớ là có cộng sản hay quân
phiến loạn tấn công, để "bảo
đảm" cho đảng của chính quyền
thắng phiếu phe đối lập; đó là cách gian
lận bầu cử chắc chắn nhất thường
được áp dụng tại một vài quốc gia nhược
tiểu trong vùng Đông Nam Á.
Sau khi đảng
"Quốc Gia Thống Nhất" của chính quyền
bị thảm bại trong cuộc bầu cử 17 tháng 5,
1990 chính quyền quân phiệt nhất định không cho
tân quốc hội họp, viện dẫn đủ
loại lư do. Cuối cùng tướng Khin Nyunt, tổng
thư kư của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp
và Tái Lập Trật Tự đă tuyên bố trong một
cuộc họp báo ngày 11 tháng 9, 1990 là v́ có nhiều
đơn khiếu nại về gian lận bầu cử
chưa được xét nên quốc hội chưa nhóm
họp được. Tuy nhiên theo viên tướng này th́
Hội Đồng - trong khi chờ đợi - vẫn
tiếp tục trông coi việc nước trước khi
trao quyền lại cho một chính phủ được
thành lập dựa trên bản hiến pháp do tất cả
quư vị dân biểu của các chính đảng trong
quốc hội soạn thảo. Nhưng không bao giờ
Quốc Hội được "Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự"
triệu tập để soạn thảo hiến pháp.
Một số lớn dân biểu đứng ra yêu cầu
chính quyền phải giữ đúng lời hứa là
chỉ quản thúc bà Aung San Suu Kyi một năm thôi,
nhưng ngày 20 tháng 7, 1990 đă qua mà bà ta vẫn c̣n bị
câu lưu. Để trả lời các vị dân biểu,
chính quyền đă không phóng thích bà Aung San Suu Kyi mà vào hạ
tuần tháng 10, 1990 họ lại c̣n bắt thêm hàng trăm
dân biểu của đảng Liên Minh và của một
số đảng đối lập khác nữa.
Đến ngày 20 tháng 12, 1990 th́ "Hội Đồng"
ra lệnh giải tán đảng "Liên Minh Quốc Gia
Đấu Tranh Cho Dân Chủ" v́ bất hợp
pháp.Từ đó về sau, dân chúng Miến Điện
sống trong kinh hoàng, sợ hăi. "Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp Và Tái Lập Trật Tự" ban hành
lệnh thiết quân luật, giới nghiêm. Cảnh bắt
bớ, tra tấn, tù đày, thủ tiêu những ai dám
chống đối chính quyền đă xảy ra hằng
ngày. Công pháp quốc tế cũng bị phe chính quyền
chà đạp v́ binh sĩ Miến ngang nhiên xông vào các ṭa
đại sứ Anh, Mỹ, Đức để bắt
những nhân viên người Miến làm việc trong sứ
quán mà họ nghi là có hành động chống lại chính
quyền của quân đội.
Trong một bản phúc tŕnh
về t́nh h́nh chính trị ở Miến Điện, Amnesty
International đă khẳng định là tại Miến Điện
đang có t́nh trạng dân chủ bị chà đạp, và dân
chúng sống dưới chế độ "khủng
bố trắng". Chỉ sau 2 năm khi xảy ra cuộc
biểu t́nh vĩ đại đ̣i tự do, dân chủ vào
tháng 9, 1988 và tiếp theo là cảnh đàn áp dă man của
quân đội, th́ chính quyền quân phiệt đă buộc
hơn năm trăm ngàn người trong thủ đô
Ngưỡng Quảng (Rangoon) phải rời nhà đến
sinh sống tại những miền giáp ranh với các vùng
dân thiểu số mà c̣n bắt họ phải trả
tiền đất "cắm dùi" nữa! Trong khi dân
t́nh đang ta thán v́ thiếu gạo ăn và bị buộc
phải dời nhà đến các vùng hoang địa dọc
biên giới miền Đông, th́ phe quân phiệt lại gây
thêm thù oán với Phật giáo bằng cách giết chóc và
bắt giam một số nhà sư trẻ mà họ cho là
ủng hộ đảng Liên Minh Quốc Gia của bà Aung
San Suu Kyi, ở tại Mandalay, đô thị lớn thứ
nh́ sau thủ đô Ngưỡng Quảng. Sau vụ
nầy, tướng Ne Win tức Shu Maung, chủ tịch
"Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lâp Trật
Tự" đă hăm dọa trắng trợn Phật
giáo trên đài phát thanh là "quân đội có quyền nhúng
tay vào các vấn đề liên quan đến tôn giáo".
Bên Phật giáo đă phản ứng lại một cách
quyết liệt: hàng trăm chùa chiền và gần năm
chục ngàn sư đă phát động chiến dịch
tẩy chay, không hộ niệm hay làm lễ cầu an hay
cầu siêu cho các gia đ́nh của quân đội nữa.
Chính quyền quân phiệt đă trả đủa lại
bằng cách mua chuộc các vị sư già trụ tŕ ở
các chùa lớn bằng quà cáp và sau đó với sự
chấp thuận của các vị đại lăo ḥa
thượng, "Hội Đồng Văn Hồi Luật
Pháp và Tái Lập Trật Tự" ra lệnh giải tán v́
bất hợp pháp "Hiệp Hội Các Sư Trẻ"
được thành lập tại đô thị Mandalay.
Những hành động chà
đạp nhân quyền của phe quân phiệt cầm
quyền ở Miến Điện đă làm cho các
nước trong thế giới Tự Do ghê tởm và
đồng loạt tẩy chay bất hợp tác về kinh
tế và cúp mọi viện trợ nhân đạo cũng
như tài chánh. Thêm vào đó, lại phải đương
đầu thường xuyên với những cuộc
nổi loạn vơ trang của các sắc dân thiểu số
Karen, Shan, Kachin ở dọc theo biên giới phía Đông, nên
chi tiêu cho nhu cầu đ̣i hỏi của quân đội
tăng lên quá 50% ngân sách quốc gia, gây ra nạn lạm phát
trầm trọng. V́ thiếu hụt ngoại tệ, chính
quyền quân phiệt không c̣n nghĩ ǵ đến vấn
đề liêm sĩ quốc gia nữa, nên đă bán
đứt 60% đất của ṭa đại sứ
Miến Điện ở Đông Kinh (Tokyo), thủ đô
Nhật Bản cho công ty địa ốc và xây cất
Nhật MCG để lấy 236 triệu mỹ kim vào
đầu năm 1990. Đó là chưa kể việc bán các
khu rừng gỗ Trắc rất quư cho thương gia Thái
Lan khai thác mà không có buộc họ phải trồng lại rừng,
giống hệt như ngụy quyền Cộng Sản
Bắc Việt đang làm ở Việt Nam. Nhưng
rừng đâu có thể cung cấp gỗ măi cho đám quân
nhân Miến, nên chúng đă nghĩ ngay đến việc buôn
ma túy.
Từ trước tới
nay Miến Điện là nước sản xuất ra
thuốc phiện nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á.
Nhất là sau vụ đàn áp đẫm máu cuộc biểu
t́nh vĩ đại của dân chúng đ̣i tự do, dân
chủ ở thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) th́
mọi viện trợ của Mỹ cho Miến
Điện đều bị cắt hết, kể cả
việc bài trừ ma túy ở vùng Đông Bắc Miến,
thuộc tiểu bang của sắc dân Shan. Trước kia,
80% các nương thẩu làm ra thuốc phiện
đều thuộc quyền kiểm soát của
đảng Cộng Sản Miến Điện. Nhưng
từ tháng 3 đến tháng 4, 1989 th́ đảng Cộng
Sản Miến tan ră v́ tranh chấp nội bộ, nên
cuộc vơ trang chống lại chính quyền quân phiệt
Miến Điện cũng tạm thời chấm dứt.
Chính quyền Miến Điện bèn nhân cơ hội
đó, phái một số tướng lănh trước kia
từng chỉ huy quân sự trong vùng tiểu bang Shan
đến gặp cấp chỉ huy của từng nhóm
Cộng Sản Miến ly khai và đề nghị kư
kết thỏa ước ngưng chiến với họ;
đồng thời cho họ hưởng một số
quyền lợi về kinh tế, nhất là về lănh
vực buôn bán ma túy, mà trong đó một số tướng
lănh trong "Hội Đồng" lănh đạo cũng
có tham gia. Họ được giao cho việc vận
chuyển ma túy từ những nơi sản xuất ở
vùng Đông Bắc đến trạm nhận hàng dọc theo
biên giới ở miền trung Đông và Trung Nam Miến Điện.
Ma túy luôn luôn được chuyển vận trên các xe
vận tải của quân đội, phần lớn
thuộc sư đoàn 99 Bộ binh Biên pḥng. Kể từ
khi quân đội Miến đứng ra hợp tác với
các nhóm Cộng Sản Miến ly khai để sản
xuất ma túy th́ công việc làm ăn của các tay buôn
lậu dọc theo biên giới miền Đông Miến
Điện rất là phát đạt, do đó số
lượng ma túy của Miến Điện đưa
lậu vào Hoa Kỳ ngày càng tăng, trong khi đó th́ chính
quyền Mỹ vẫn chưa t́m ra được một
giải pháp nào để đối phó cho hữu hiệu.
Trong khi các nước trên
thế giới đang đặc biệt theo dơi cuộc
tranh chấp sôi nổi giữa Anh quốc và Trung Cộng
về vấn đề Hồng Kông trong cuối thập
niên 80, th́ nhân cơ hội đó, Trung Cộng đă âm
thầm thực hiện một kế hoạch mà họ
dự tính từ lâu nhưng chưa có cơ hội
thuận tiện để đem ra thi hành: đó là
việc thành lập trục Bắc Kinh - Ngưỡng
Quảng (Rangoon), để rồi từ đó Trung
Cộng dần dần vươn lên địa vị siêu
cường, c̣n phe quân phiệt Miến Điện th́ hy
vọng kéo dài thêm một thời gian nữa nền
thống trị của họ đối với nhân dân
Miến. Sự tan ră bất ngờ của đảng
Cộng Sản Miến Điện vào năm 1989 v́ tranh
chấp nội bộ mặc dầu đảng nầy
đă từng phát động chiến dịch nổi
loạn của Cộng Sản kỳ cựu nhất
chống lại chính quyền Miến; rồi gặp
vụ biểu t́nh đ̣i tự do dân chủ của sinh viên
và quần chúng tại Thiên An Môn ở Bắc Kinh đă thúc
đẩy gấp việc bắt tay nhau giữa hai chế
độ độc tài đảng trị của Trung Hoa
và Miến Điện đă từng được móc
nối với nhau vào đầu năm 1988. Trung Cộng
đă cung cấp cho phe tướng lănh quân đội
Miến Điện phương tiện mà họ cần
thiết để nắm giữ chính quyền, mặc
dầu họ rất sợ ảnh hưởng của
ngoại bang và luôn luôn có tinh thần bài ngoại rất cao
độ. Viện trợ đầu tiên đến
với phe tướng lănh Miến Điện là một
loạt hợp đồng cung cấp vũ khí trị giá
1400 triệu mỹ kim kư kết vào tháng 10, 1989 giữa chính
quyền Trung Cộng và phái đoàn quân sự Miến
Điện - do tướng Khin Nyunt cầm đầu -
đến thăm viếng Trung Cộng lần đầu
tiên. Thế rồi đoàn tàu chở vũ khí của Trung
Cộng đến hải cảng Ngưỡng Quảng
(Rangoon) vào tháng 8, 1990; và đoàn công voa đi
đường bộ theo lộ tŕnh Wang Ting - Pang Hsai
chạy thẳng đến Lashio.
Trong thời gian giữa
1990 cho đến cuối năm 1992, Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của phe
quân phiệt Miến Điện đă nhận
được của Trung Cộng 26 chiến đấu
cơ F-6 hay c̣n gọi là F-9 (một loại chiến
đấu cơ MIG-21 của Nga Xô được Trung
Cộng bắt chước và sản xuất lại),
khoảng hơn một trăm chiến xa T-69 II và T-63
(loại xe do Trung Cộng đánh cắp mẫu của xe
lội nước PT-76 của Nga Xô), 180 xe thiết giáp loại
vận chuyển quân đội, hàng trăm xe vận
tải thường, 55 đại bác pḥng không, 16 tàu
tuần dương Heinan kiểu vận tốc
đỉnh, hai đài radar, hàng chục ngàn tấn vũ khí
nhẹ và đạn dược. Thế rồi làn sóng
viện trợ của Trung Cộng tiếp tục không
ngừng. Vào đầu tháng giêng 1993, Miến Điện
lại nhận thêm được một số lớn
vũ khí và đồ phụ tùng trị giá 30 triệu
mỹ kim và hơn 300 xe vận tải đưa từ Mang
Shi ở Vân
Về phía Miến
Điện - việc thương lượng ban
đầu th́ giao cho những đại diện cao cấp
trong hàng ngũ quân đội,- nhưng sau đó th́ mọi cuộc
thương thuyết đều giao cho đại diện
của tướng Aye Kyaw, tư lệnh quân khu Đông
Bắc Miến Điện, đóng bản doanh tại
Lashio. Sĩ quan phụ trách mọi cuộc thương
thuyết với Trung Cộng là đại tá Yae Myint,
phụ tá của tướng Aye Kyaw. Chính đại tá Yae
Myint đă gặp phái đoàn của Trung Cộng do Hạ
B́nh - con rể của Đặng Tiểu B́nh - cầm
đầu, tại Thành Đô (Tứ Xuyên), vào tháng giêng 1993;
Hạ B́nh là giám đốc của công ty Poly Technologies,
phụ trách việc xuất cảng vũ khí thay mặt cho
quân đội. Song song với việc nhập cảng
vũ khí, các tướng lănh Miến Điện đă phái
rất nhiều sĩ quan và Hạ sĩ quan trong quân
đội qua Thành Đô để được huấn
luyện về cách xử dụng tất cả các loại
vũ khí do Trung Cộng cung cấp. Nhưng viện trợ
vĩ đại của Trung Cộng không phải chỉ
căn cứ trong lănh vực vũ khí mà thôi đâu, họ
c̣n phóng mắt nh́n xa về tương lai bằng cách
đề nghị với nhà cầm quyền Miến
Điện một chương tŕnh vĩ đại canh
tân hệ thống xa lộ và thiết lộ của
nước nầy nữa; đặc biệt là tại các
vùng Bắc và Đông Bắc Miến Điện, lân cận
với biên giới giữa hai nước. Vào tháng 5, 1991 U
Ohn Gyaw, bộ trưởng Ngoại Giao Miến đă kư
một thỏa ước với bộ trưởng
Ngoại Giao Trung Cộng là Qi Huai Yuan để xây hai
chiếc cầu qua các sông chạy dọc theo biên giới
của hai nước. Hai chiếc cầu nầy là hai cây
cầu chiến lược rất cần thiết cho
việc điều động quân đội từ Trung Cộng
vào lănh thổ Miến Điện, để tiến
xuống Ấn Độ Dương. Chiếc cầu
bắc qua sông Shweli nối liền thị trấn Ruili
của Trung Cộng với thị trấn Muse của
Miến Điện đă được khánh thành kể
từ tháng 10, 1992; và một số kỹ sư Trung
Cộng cũng đă bắt tay vào việc tân trang xa lộ
nối liền thị trấn Lashio của Miến
Điện đến thủ phủ Vân Nam của Trung Cộng.
Một chiếc cầu chiến lược khác đă
được bắt qua sông Salween, trên xa lộ Kengtoung –
Taunggyi. Vào tháng 11, 1992 Hội Đồng quân nhân Miến
Điện và Trung Cộng lại c̣n kư kết thêm một
thỏa ước mới, tăng cường sự
viện trợ bằng cách mở thêm 3 xa lộ mới trong
tiểu bang Kachin nối liền thị trấn Ta Haw Hka
của Vân Nam (Trung Cộng) với thị trấn Sima
thuộc thủ phủ Myitkyina - sát ngay biên giới của
tiểu bang Kachin. Chương tŕnh nầy được
thực hiện giống như kế hoạch vạch ra
từ năm 1985 của thứ trưởng bộ Giao
Thông Trung Cộng, Pan Qi nhắm mở mang miền Tây Trung
Cộng để tiến xuống biển Andaman, trong
Ấn Độ Dương, băng qua lănh thổ Miến
Điện. Ư kiến nầy đă được nhà
cầm quyền Trung Cộng đem ra khai thác lại trong
tờ báo Anh ngữ của họ "Journal of Contemporary
International Relations"; tờ báo nầy đă nhấn
mạnh vai tṛ quan trọng về Chiến Lược
lẫn Kinh Tế của một xa lộ dẫn
đến Ấn Độ Dương mà không cần
phải qua ngă Hồng Kông. Từ bao nhiêu năm nay, mặc
dầu Trung Cộng cố gắng viện trợ cho
đảng Cộng Sản Miến và các sắc dân
thiểu số để họ nổi loạn chống
lại chính quyền Trung Ương Miến, nhưng
chả đi đến đâu, nay bổng nhiên Hội
Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật
Tự của phe quân phiệt Miến Điện đă giúp
họ thành công một cách bất ngờ.
Về phía Cộng Sản Việt Nam kể
từ đầu thập niên 1990, noi gương quan
thầy Trung Cộng, cũng đă dấn thân trên con
đường cải tổ kinh tế theo định
hướng thị trường, trong khi vấn duy tŕ
chặt chẽ chế độ độc đảng
Cộng Sản ở trong nước, đúng là lối
cải tổ theo kiểu ngợm Cộng Sản. Trước
đó, các lănh tụ khác của Việt Nam và Trung Cộng
cũng đă trao đổi kinh nghiệm phát triển
chủ nghĩa Marxist thông qua tiến tŕnh cải tổ kinh
tế qua đường lối tư bản các thành viên
cao cấp của Bộ Chính Trị hai đảng Cộng
sản Trung Cộng và Việt
Nam đă thảo luận vấn đề vừa nói trong
cuộc họp tại thủ đô Bắc Kinh. Lư Thụy
Hoàn, Ủy viên Thường Vụ BCT đảng Cộng
sản Trung Cộng, đă bàn luận với nhân vật
đối nhiệm là Phạm
Thế Duyệt, Ủy viên Thường Vụ BCT
đảng Cộng sản Việt Nam. Cả hai đều cho rằng chủ
nghĩa Marxist là một giáo điều mô h́nh khuôn mẫu và
trong t́nh h́nh hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc lại
càng cần phải củng cố hơn nữa t́nh hữu
nghị.
Ngày
Cuộc họp cấp
Bộ trưởng của tiểu vùng Mê Kông mở
rộng (Greater Mekong sub-region, viết tắt là GMS), tại
Manila, đă quyết định đẩy mạnh
việc thực hiện dự án này và đại biểu
của Việt Nam, Lào và Thái Lan đă gặp Ngân Hàng Phát
Triển Châu Á (ADB) để bàn về việc tài trợ
cho dự án. Đường số 9 kéo dài sang Thái và Myanmar con
đường số 9 sẽ trở thành một phần
của một xa lộ mang tên “hành lang Đông Tây”, chạy
dài từ Đà Nằng Việt Nam xuyên qua Lào tới
miền Đông Bắc Thái Lan. Trong hai tháng vừa qua, có hai
phái đoàn cao cấp Thái Lan với cả trăm
người lặn lội qua đồi, qua suối,
khảo sát khả năng phát triển con đường 9
này. Bộ Trưởng Thái cho biết vốn đầu
tư xây dựng cầu sẽ do Quĩ hợp tác kinh
tế Hải ngoại (OECF) của chính phủ Nhật tài
trợ. OECF đă thỏa thuận cấp cho Lào khoản
tiền vay 500 triệu baht (khoảng 20 triệu đô la)
của chiếc cầu Mukdahan Savanakhet. Quĩ Hợp Tác
Quốc Tế của Nhật (JIGA) cũng tài trợ cho
việc phát triển đoạn cầu và đường
từ Mukdahan- savannakhet đến biên giới Việt
Ông Khumprabob, người
đă đến thăm vịnh Chân Mây trong chuyến đi
này, khẳng định cảng Chân Mây sẽ có ưu
thế hơn so với những cảng khác ở miền
Trung. Bộ Giao Thông Vận Tải Việt Nam cho biết
cần khoảng 40 triệu đôla để tiến hành
dự án này trên lănh thổ của ḿnh, tức là phát
triển con đường từ Lao Bảo đến
Đà Nẵng và cải tiến cảng ở miền Trung,
Ngân Hàng Thế Giới đă cam kết tài trợ cho dự
án này. Đây không phải con đường duy nhất
nối liền Việt
Ngày
ngày
Đến tháng 7/1999,
Bắc Kinh tuyên bố công cuộc gở ḿn tại biên
giới Hoa-Việt đă hoàn tất. Khoảng 2.3 triệu
ḿn đă được tháo gỡ và hủy bỏ. Biên
giới Hoa-Việt được hoàn toàn mở rộng
với 27 cửa quan.
Ngày 1/3/99, Tổng bí thư
Lê Khả Phiêu trở về nước mang theo lệnh
của Bắc Kinh phải khẩn cấp xây dựng
đường Trường Sơn và phải cho 2 tỷ
đô la hàng hóa từ Trung cộng vào Việt Nam mỗi
năm. Đó là nói vậy thôi. Trung Quốc đổ hàng
vào Việt
Ngày 25/7/99, Ông Richard Fisher
thuộc Bộ Thương Mại Mỹ đă kư kết thỏa thuận trên
nguyên tắc với Cộng sản Hà Nội để
mở đường cho việc kư kết chính thức
hiệp ước Thương Mại vào đầu tháng
9/1999. Ngay lập tức, Bắc Kinh ra lệnh cho
đầu năo đảng Cộng sản và tổng bí
thư Lê Khả Phiêu phải sang Bắc Kinh để
nhận chỉ thị. Tại đây, Bắc Kinh và
Cộng sản Hà Nội kư kết hiệp ước
“Hợp tác kinh tế và quân sự”. Hiệp ước này
có nghĩa biên giới sẽ mở rộng cho hàng hóa Trung
Cộng tràn ngập Việt
Vào cuối tháng 10/1999,
trục đường bộ xuyên Việt phía Tây sẽ
bắt đầu triển khai việc nối thông giữa
các tuyến quốc lộ 21, 15, 71 thường
được gọi là đường ṃn Hồ Chí Minh
và đường 14. Theo kế hoạch giai đoạn I
đến mùa khô năm nay 2003, tuyến đường
sẽ khai thông vào đến thành Hồ (Sài G̣n) với chiều
dài 1700 Km; tạo thành một mạng lưới giao thông
đường bộ hoàn chỉnh và cùng với quốc
lộ IA liên kết 63 đường ngang, bảo
đảm giao thông luôn luôn thông suốt giữa các tỉnh,
thành của 3 miền Bắc, Trung, Nam. Với thiết
kế hai lằn xe nền đường 7.5 - 9.0 mét,
mặt bê tông nhựa hoặc bê tông xi măng, tuyến
đường này hỗ trợ cho quốc lộ IA tránh
việc ách tắc giao thông trong mùa mưa lũ. Theo tính toán
sơ bộ, trong giai đoạn I sẽ giải quyết
khoảng 60 triệu ngày công, lao động thủ công,
tương đương 200 ngàn lao động làm
việc liên tục trong 1 năm.
Đầu tháng 9/1999,
Bắc Kinh đ̣i hỏi phía dân sự (quốc hội)
phải sang Tàu kư kết hiệp ước thỏa
thuận vấn đề “hợp tác” kinh tế và quân
sự với Trung Cộng.
Ngày thứ Tư 8/9/99, trong
khi tiếp Nguyễn Phúc Thành, phó chủ tịch quốc
hội Cộng sản Việt Nam lúc đó, Bộ
trưởng quốc pḥng Trung Cộng Tŕ Hạo
Điền (Chihaotian- tên đồ tể sát nhân tại
Thiên An Môn) nói rằng Việt Nam và Trung Cộng theo
đuổi sự lănh đạo của đảng
Cộng sản và đang trong thời kỳ cải tổ
và cởi mở. Tŕ Hạo Điền (Chihaotian) c̣n nói
rằng sự trao đổi song phương về
quốc pḥng và an ninh giữa hai nước có lợi không
những lợi ích căn bản của hai dân tộc mà c̣n
cho nền ḥa b́nh thế giới và sự an ninh trong vùng.
Bộ trưởng Quốc Pḥng Trung Cộng cũng
giải thích cho Nguyễn Phúc Thành về lập
trường Trung Cộng đối với các vấn
đề quốc tế?.
Về phần ḿnh,
Nguyễn Phúc Thành nói rằng hai quốc gia đang chú
trọng tới việc phát triển kinh tế trong khi
lưu ư đến tầm quan trọng của nền ḥa
b́nh thế giới. Thành cũng tỏ ư hi vọng phát triển
sự hợp tác và trao đổi giữa hai nước và
hai quân đội Nguyễn Phúc Thành và phái đoàn của
Thành bắt đầu cuộc viếng thăm 8 ngày theo
lời mời của Quốc Hội Trung Cộng.
Ngày 10/5/97 Hà Nội cho hay
một ủy ban nhà nước Cộng sản Việt Nam
đă được thành lập để đưa ra các
hướng dẫn về việc xây dựng
đường cao tốc (Highway) Bắc Nam với kinh phí
dự trù trên 5 tỷ mỹ kim. Uỷ Ban này
được đặt dưới quyền điều
động của Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Sản
và do thứ trưởng quốc pḥng Nguyễn Trọng
Xuyên cầm đầu. Ba công ty xây dựng lớn nhất
của quân đội Cộng sản là Trường
Sơn, Thanh An và Lũng Lô đă được chọn
để chuẩn bị xây dựng con đường
này. Tổng số kinh phí xây dựng con đường dài
1800 cây số này dự trù sẽ lên đến 5 tỷ
mỹ kim và khoảng 1.2 tỷ sẽ được chi
trong giai đoạn đầu từ năm 1998 đến
năm 2000. Cho đến nay việc xây dựng
đường Trường Sơn sẽ gồm cả
việc nối một số phần của hệ
thống đường ṃn Hồ Chí Minh, con
đường xâm nhập từ Bắc vào
Những quốc gia trong
vùng Ấn Độ Dương, nhất là Ấn
Độ đă theo rơi rất kỹ sự có mặt
của những chuyên viên Trung Cộng tại các hải
cảng của Miến Điện, như Mergui và Thiwala,
nơi mà chính quyền Miến dự trù xây một hải
cảng trong khu vực nước sâu của vùng châu
thổ sông Irrawady. Những chuyên viên Trung Cộng cũng
đứng ra điều khiển việc xây cất
một căn cứ hải quân trên đảo Haing Gyi, ngay
cửa sông Bassein. Công tác đầu tiên của chuyên viên
Trung Cộng lúc mới đến miền Nam Miến Điện
là tân trang ngay những căn cứ quân sự đă có
sẵn ở trên đảo Coco, ngay trên miền Bắc
của quần đảo Andaman thuộc Ấn Độ;
và dàn radar mà Trung Cộng thiết kế trên đảo
nầy vào năm 1995 đă cho phép Trung Cộng theo dơi
hoạt động của hải quân Ấn Độ,
nhất là quan sát dễ dàng việc Ấn Độ phóng
thử các hỏa tiễn mới chế tạo của
họ. Mặc dầu Trung Cộng hết sức cải
chính và Miến Điện luôn luôn thanh minh là họ không bao
giờ bán rẻ chủ quyền của họ cho Trung
Cộng, nhưng Ấn Độ vẫn không tin sự
"thành thật" của Miến Điện. Trong khi
đó th́ giới ngoại giao quốc tế nghĩ
rằng Miến Điện không thể có đủ
phương tiện tài chánh để mua một lần 6
chiếc tàu tuần dương của Trung Cộng, mà
đó chỉ là một món quà của Trung Cộng biếu
không cho hải quân Miến Điện; để rồi
họ sẽ dùng những tàu nầy làm tàu do thám việc xê
dịch của hải quân Ấn Độ trên Ấn
Độ Dương.
Trước khi xảy ra
vụ Miến Điện xây căn cứ hải quân trên
đảo Haing Gyi và tân trang lại các căn cứ quân
sự trên đảo Coco, th́ Hoa Kỳ - qua h́nh ảnh của
các vệ tinh, cho thấy từng đoàn quân xa dài hàng
mấy cây số không ngớt vượt biên giới
từ Vân Nam (Trung Cộng) vào miền Bắc Miến
Điện - đă thấy rơ ư đồ của Trung
Cộng muốn dùng đất Miến để
đặt căn cứ quân sự trên bờ Ấn
Độ Dương, và xa hơn nữa, là muốn uy
hiếp Ấn Độ, để vươn lên
địa vị siêu cường. Khi chiến tranh lạnh
giữa Mỹ và Nga Xô chưa chấm dứt - cho
đến cuối thập niên 80 - th́ giữa 2 siêu
cường nầy đă có sự đồng thuận là
phải chận đứng, bằng mọi cách, ư
đồ của Trung Cộng luôn luôn t́m cách tiến
xuống Ấn Độ Dương để uy hiếp
Ấn Độ, một đồng minh của Nga Xô. Nay
th́ Nga Xô đă tan ră và trước viễn ảnh Trung
Cộng có thể dùng đất Miến để
đặt thêm nhiều căn cứ quân sự nữa
rải rác trên bờ Ấn Độ Dương, nên
cả Mỹ lẫn Ấn Độ đều nghĩ
rằng cả đôi bên cần phải bắt tay nhau
chặt chẽ th́ mới ngăn chận được
con sư tử Trung Cộng đang vươn ḿnh
đứng lên trong khu rừng già Miến Điện. Riêng
về phía Hoa Kỳ lại có thêm một vấn đề
cấp thiết cần phải giải quyết gấp là
từ khi Trung Cộng bắt tay với Miến
Điện th́ số lượng ma túy từ khu "Tam
Giác Vàng" - giữa Miến Điện và Trung Cộng -
nhập lậu vào Hoa Kỳ đă tăng lên hơn 60%. Ngoài
vấn đề chiến lược quân sự, c̣n
vấn đề xuất cảng ma túy. Thuốc phiện
được chở từ Tam Giác Vàng xuống Chiengmai,
Thái Lan, để tinh chế thành Heroin. Số lượng
sản xuất Heroin năm 1998, khoảng 500 tấn và c̣n có
thể gia tăng. Hải cảng Đà Nẵng cũng là
nơi nỗi tiếng phân phối Heroin đi toàn thế
giới, nhất là Hoa Kỳ. Các xa lộ Đông-Tây và
Trường Sơn và các hải cảng Chân Mây, Đà
Nẵng, đương nhiên sẽ rất tiện dụng
cho việc chuyên chở và xuất cảng ma túy, có thể
mang lại cho Bắc Kinh hàng trăm tỷ đôla mỗi
năm. Trước đây Mỹ và Việt Cộng cứ
kư hiệp ước Thương Mại, và Trung Quốc
cứ khởi sự xây đường Trường
Sơn để kéo hỏa tiễn và tiến quân vào Đông
Dương. Người Mỹ trông thấy rơ hiệp
ước Thương Mại buộc họ phải
đụng độ với Trung Cộng tại Đông
Dương và phải bảo vệ chế độ
Cộng sản Hà Nội để chống Trung Cộng.
Ta thấy rơ người Mỹ không dại ǵ vào Việt
Nam buôn bán làm “thương mại”, trong khi hiểm họa
Trung Cộng đe dọa bằng quân sự quá rơ ràng.
Dĩ nhiên, người Mỹ chẳng dại ǵ tham
chiến trực diện với Trung Cộng tại
Đông Dương để cứu sống chế
độ Cộng sản Hà Nội.
Hiện nay trong vùng Ấn
Độ Dương chỉ có Miến Điện và A Phú
Hăn là hai nước sản xuất thuốc phiện và ma
túy để xuất cảng đi khắp thế giới
để đầu độc nhân loại. Giờ đây
th́ A Phú Hăn đă chiếm trở lại địa vị
số 1 như trong thập niên 1990 và đă sản xuất
70% số lượng thuốc phiện cung cấp trên
thế giới, theo báo cáo mới nhất của Liên
Hiệp Quốc. Và cũng theo cơ quan nầy th́ thuốc
phiện và ma túy sản xuất tại A Phú Hăn chỉ bán
lậu trong những vùng Tây Nam và Trung Á Châu, ở toàn cơi Phi
Châu mà thôi và số người ghiền ma túy trong những
vùng nầy lên đến 9 triệu người, tức 2/3
tổng số người ghiền trên toàn thế
giới. Mặc dầu tổng thống Hamid Karzai của A
Phú Hăn ban hành sắc lệnh cấm trồng cây thẩu
sản xuất ra thuốc phiện và trả cho nông dân nào
không trồng cây thẩu 500 mỹ kim mỗi một mẫu
Anh (acre); nhưng bọn đầu nậu sản xuất
bạch phiến và dân buôn lậu lại trả lén cho nông
dân trồng thẩu 6400 mỹ kim mỗi mẫu. Thành
thử hiện nay ở A Phú Hăn, dưới sự bảo
trợ của các sứ quân có quân đội, dân chúng vẫn
ngang nhiên trồng cây thẩu. Rơ ràng "tiền tài đi
trước, mực thước theo sau" là vậy
đó. Và thống kê của Liên Hiệp Quốc cũng cho
biết vào năm ngoái, tại A Phú Hăn, đă có 225,000
mẫu đất đă được dân chúng canh tác
để trồng cây thuốc phiện tức là cây
thẩu.
Cũng nên nhắc lại
là khi A Phú Hăn đang c̣n dưới quyền của bọn
Hồi giáo Taliban, th́ chúng đă đánh thuế từ khi
gặt thẩu đến khi sản xuất bạch
phiến, rồi chuyển vận ma túy; tất cả là ba
loại thuế. Tiền thuế nầy chúng dùng để
mua vũ khí và quân cụ, trang trải chi phí trong việc
huấn luyện cán bộ khủng bố và yểm trợ
tài chánh cho quân khủng bố hoạt động ngầm
tại các nước mà chúng định mở chiến
dịch phá hoại để gây tiếng vang trên thế
giới. C̣n thuốc phiện và ma túy sản xuất trong
khu "Tam Giác Vàng" của Miến Điện th́
được đem về cho Trung Cộng, sau đó tiêu
thụ tại các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ
châu, đặc biệt là Hoa Kỳ. Trong việc sản
xuất thuốc phiện và ma túy hiện nay th́ Miến
Điện chỉ đứng sau A Phú Hăn mà thôi, theo báo cáo
của cơ quan bài trừ ma túy của Liên Hiệp
Quốc, trong tam cá nguyệt của đầu năm 2003. Từ
ngày phe quân phiệt lên nắm quyền tại Miến
Điện th́ họ "tẩy chay" không tham dự
hội nghị quốc tế bài trừ ma túy họp
tại Chiang Mai (Thái Lan) vào năm 1993; v́ theo h́nh ảnh do
vệ tinh chụp được của công ty Spot Image th́
diện tích của những nương trồng cây
thẩu sản xuất ra thuốc phiện thuộc vùng
chính phủ kiểm soát có diện tích lớn gấp hai các
nương thẩu thuộc vùng quân phiến loạn, và
phần lớn là thuộc vùng miền Đông của sông
Salween, dọc theo biên giới Trung Cộng. C̣n những vùng
đất mới, sau nầy mới bắt đầu
trồng cây thẩu ở trung tâm và ở miền Nam
của tiểu bang Shan th́ lại được
đặt dưới sự kiểm soát của quân
đội quốc gia Miến Điện. Nhưng măi
về sau nầy - vào giữa thập niên 90 - chính quyền
Miến Điện mới có chính sách "Bài Trừ Ma
Túy" và họp mặt với quốc tế tại
thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) trong hai ngày 9 và
10 tháng 2, 1994. Trong cuộc họp nầy, tướng Khin
Nyunt và bộ trưởng Nội Vụ của chính
quyền Miến là tướng Mya Thin có tuyên bố là
sẽ hợp tác với các vị đại diện
của Thái Lan và Lào trong chiến dịch bài trừ ma túy.
Các quan sát viên ngoại quốc - khi nghe hai viên tướng
Miến Điện tuyên bố như vậy - th́ ai cũng
che miệng mà cười v́ ai cũng biết đó chỉ
toàn là những lời hứa cuội theo lối Cộng
Sản Bắc Việt mà thôi.
Sau hội nghị nầy,
chính quyền quân phiệt Miến Điện - v́ muốn
lấy điểm với Hoa Kỳ trong chiến dịch
"Bài Trừ Ma Túy" đă xuất tiền ra
mướn ông Lester Wolff, cựu dân biểu của
đảng Dân Chủ trong quốc hội Hoa Kỳ và
cũng là cựu chủ tịch tiểu ban kiểm soát ma
túy của quốc hội Hoa Kỳ trong thập niên 1970. Ông
Lester Wolff có nhiều liên hệ chặt chẽ với
giới quân nhân cao cấp Miến Điện, nên đă được
phe quân phiệt nầy chi cho 10,000 (mười ngàn) đô la
mỗi tháng để đi vận động trong hành lang
Quốc Hội Hoa Kỳ, nhất là để cho Quốc
Hội hiểu rơ thêm chính sách của Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của phe
quân đội Miến Điện. Có lẽ ông Lester Wolff
làm việc quá đắc lực nên Quốc Hội Hoa
Kỳ - v́ đă thấu triệt tối đa chính sách
"Siết Cổ Dân Miến Điện" của phe
quân phiệt Miến - nên đă bỏ phiếu cấm hàng
hóa Miến Điện không được nhập cảng
vào Hoa Kỳ trong cuộc đầu phiếu vào tháng 7
vừa qua. Tuy nhiên trước đó, Lester Wolff cũng có
thuyết phục được một nhóm nghị sĩ
Hoa Kỳ gồm 15 người, sang thăm viếng Ngưỡng
Quảng với tư cách cá nhân. Khi nhóm nghị sĩ Hoa
Kỳ vừa đặt chân lên đất Miến
Điện th́ quân đội nước nầy bèn mở
ngay một cuộc hành quân vĩ đại vào, vùng
đất cấm của quân đội Mong Tai của trùm
thuốc phiện Khun Sa. Đại bản doanh của Khun
Sa nằm giữa sông
Một nghị sĩ Hoa
Kỳ, ông Larry Pressler cùng đi với ông Wolff đến
thị trấn Mong Ton để quan sát vụ hành quân
nầy; và đă được nhà cầm quyền địa
phương đưa đến căn cứ Mong tai
của Khun Sa vừa mới chiếm được,
tại căn cứ nầy có phát giác được
một nhà máy dùng để biến chế thuốc
phiện thành chất bạch phiến tức là chất
heroin. Và cuộc hành quân kỳ dị nầy đă chấm dứt
ngay sau khi nhóm nghị sĩ Mỹ lên máy bay trở về
lại Hoa Kỳ. Câu chuyện hành quân vào khu cấm
địa của Khun Sa làm cho người ta nhớ
đến cảnh các viên tỉnh trưởng thời
đệ nhất cộng ḥa bứng các bụi chuối,
các khóm thơm, rồi đem sắp xuống những vùng
đất nào có đoàn xe của ông Diệm đi qua trong
các chuyến "đi thăm dân cho biết sự
t́nh", nhưng thật ra th́ ông ta chả biết ǵ
hết, và vẫn bị tay chân bộ hạ gạt và qua
mặt ông ta một cái vèo, và đó là hậu quả
đến với những nhà lănh đạo quốc gia
không chịu đặt trọng tâm vào việc theo dơi và
kiểm soát hành động của cấp thừa hành. Sau
vụ hành quân "cuội" nầy, phe "cựu
phiến loạn Wa" kẻ thù không đội trời
chung với Khun Sa, nhưng lại thân với phe quân
phiệt Miến, tiết lộ rằng đó chỉ là
một cuộc "hành quân cuội" dàn dựng ra
để gạt nhân viên "Bài trừ Ma Túy" của
Hoa Kỳ, với sự đồng ư của "vua
thuốc phiện Khun Sa". Đối với Khun Sa - v́
quá giàu rồi - nên y nghĩ rằng đă đến lúc nên
thay đổi nghề buôn lậu ma túy và quay về
nghề làm chính trị, nhất là làm lănh tụ của
một bộ lạc lớn nhất nh́ ở trên
đất Miến Điện như bộ lạc SHAN; v́ vậy
mà trong những năm sau nầy, Khun Sa đă xuất
tiền của ra để bành trướng và củng
cố vai tṛ chính trị của y trong cộng đồng
thiểu số Shan; để rồi sau khi chế
độ quân phiệt Miến tan ră như hầu hết
các chế độ độc tài quân phiệt khác trên
thế giới, th́ khi ấy y sẽ đóng một vai tṛ quan
trọng trên chính trường dân chủ của Miến
Điện trong một tương lai không xa mấỵ V́
y đă chọn con đường chính trị trong
tương lai, nên Khun Sa đă mất một phần khá
quan trọng về lợi tức thu được trong
việc buôn bán thuốc phiện và bạch phiến v́
phải chia xẻ số lợi tức nầy lại cho
một số "đầu nậu mới" đang
vươn lên trong ngành nầy. Mặc dầu số
lợi tức thu được trong vụ buôn ma túy có sút
kém, nhưng Khun Sa đă bù đắp việc sút kém nầy
bằng cách tăng gia vụ xuất cảng lậu
"ngọc thạch", một loại đá dùng làm
nữ trang quí giá mà chỉ có ở Miến Điện mà
thôi. Những "đầu nậu mới" nầy
giờ đây đang bắt tay mật thiết với
đám tướng lănh trong Hội Đồng Văn Hồi
Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của Miến Điện.
Dưới thời Khun Sa,
việc xuất cảng lậu ma túy sản xuất trong
vùng "Tam Giác Vàng" đều được
đưa ra hải ngoại qua ngă Thái Lan. Nay th́ một
số đường dây qua ngă Thái Lan đă bị bỏ
và thay thế vào đó là những đường dây vào ngă
Trung Cộng, qua ba trục chính, và mỗi trục lại có
một "đầu nậu mới" phụ trách.
Cuối cùng ba trục chính đó đều quy về
thủ phủ Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam, ở cực
Nam Trung Quốc, trước khi đến tụ
điểm là Hồng Kông, để từ đó phân phát
đi khắp nơi trên thế giới. Đầu nậu
thứ nhất là Lo Hsing Han, "cựu vua thuốc
phiện", bị kết án tử h́nh rồi
được ân xá, chỉ huy trưởng dân quân của
chính quyền rồi trở thành kẻ trung gian
"đặc biệt" giữa chính quyền Miến
Điện và các nhóm phiến loạn vơ trang phát xuất
từ đảng "cựu Cộng Sản Miến
Điện". Y là thủ túc thân tín của tướng
Khin Nyunt, trùm mật vụ Miến Điện. Lo Hsing Han
hoạt động trong tiểu ban Shan, và đóng bản
doanh tại Lashio, nhưng phần lớn các nhà máy tinh
chế bạch phiến của y đều ở trong vùng
Kokang, rồi chuyển về Côn Minh qua ngă thị trấn
Kunlong, trong tiểu bang Shan. Đầu nậu thứ hai là
Chao Ni Lai, chỉ huy trưởng dân quân WA thống nhất
và đóng bản doanh tại Panghsang, đại diện
chính thức của Hội Đồng tướng lănh
Miến Điện về quan thuế tại biên giới
Miến Điện Trung Cộng. Đầu nậu thứ
ba là Li Min Shin, một cựu sĩ quan của Trung Cộng
biệt phái qua Miến Điện để giúp
đảng Cộng Sản Miến Điện trong
thập niên 1960 rồi được lệnh ở
lại luôn trong nước nầy sau khi đảng
Cộng Sản Miến Điện tan ră. Hiện nay Li Min
Shin kiểm soát miền Đông
Không phải chỉ một
ḿnh tướng trùm mật vụ Miến Điện Khin
Nyunt trong Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái
Lập Trật Tự thủ lợi trong vụ buôn lậu
bạch phiến mà thôi đâu; toàn thể tướng lănh
chỉ huy đơn vị trong lănh thổ tiểu bang Shan
đều có dính líu và cùng nhau chia chác lợi nhuận thu
được từ vụ buôn lậu bạch phiến
nầy, nhất là những đơn vị quân đội
trong vùng Kokang của sư đoàn 99 bộ binh Miến
Điện. Đại tá Kyaw Than, nguyên chỉ huy
trưởng sư đoàn nầy là người "làm
tiền" nhiều nhất cho tướng Tun Kyi,
thống đốc Vùng Mandalay. Từ khi tướng Tun Kyi
lên làm bộ trưởng Bộ Thương Măi, th́
đại tá Kyaw Than được thăng cấp tướng
và lên làm thống đốc
Sau chuyến đi Bắc
Kinh để cầu viện Trung Cộng về, và đă
được sự chấp thuận của Đặng
Tiểu B́nh, tướng Khin Nyunt, "người hùng"
của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái
Lập Trật Tự cho hội đồng hay rằng
nếu muốn có sự đầu tư vốn của các
nước ngoài th́ công việc đầu tiên là phải
dẹp cho được những cuộc nổi loạn
của các sắc dân thiểu số để văn hồi an
ninh trên toàn lănh thổ Miến Điện. Và sau khi nhận
được một số lớn vũ khí của Trung
Cộng, hội đồng tướng lănh, vào cuối
năm 1994, đă ra lệnh cho quân đội mở
những cuộc tấn công ồ ạt vào chiến khu
của các sắc dân thiểu số Karen và Mon ở dọc
theo ranh giới Thái Lan và Nam Miến Điện, sau khi
tạo được sự ly gián có tính cách tôn giáo
giữa đa số cấp chỉ huy trung ương theo
Thiên Chúa giáo và 90% dân trong bộ lạc theo Phật giáo. Trong
khi đó th́ Thái Lan cũng chấm dứt sự ủng
hộ của họ đối với sắc dân Karen
từ trước tới nay, sau khi được Hội
Đồng tướng lănh Miến hứa hẹn dành cho
nhiều quyền lợi thiết thực. Trước
sự phản bội của Thái Lan, cuộc chiến
đấu vơ trang chống lại chính quyền quân phiệt
Miến Điện của dân thiểu số Karen đành
phải chấm dứt và kháng chiến quân tạm thời
ră ngũ và phân tán mỏng trên khắp lănh thổ. Từ
đầu thập niên 60 đến gần giữa
thập niên 90, Thái Lan luôn luôn gián tiếp giúp đỡ các
sắc dân thiểu số vơ trang chống lại chính
quyền quân phiệt Miến Điện để dễ
bề trục lợi trong những dịch vụ buôn lậu.
Nhưng trong những năm gần đây, chính quyền
Thái Lan đă hoàn toàn thay đổi chính sách v́ nhu cầu
cấp thiết của họ là xử dụng tài nguyên
thiên nhiên sẵn có của Miến Điện để
cung ứng vật liệu cũng như năng
lượng cho nền kỹ nghệ đang phát triển
của họ. Về phía chính quyền quân phiệt Miến
th́ rất trông mong có sự đầu tư vốn của
ngoại quốc, v́ có như vậy mới cải
thiện được đời sống kinh tế quá
lạc hậu trong nước. Mà đă đặt vấn
đề đầu tư của ngoại quốc, th́
Hội Đồng tướng lănh phải chứng tỏ
cho thế giới thấy là họ có đủ khả
năng để giữ ǵn an ninh trong những khu vực
được các công ty ngoại quốc chú ư đến,
đặc biệt là vùng biên giới phía Nam giáp ranh với
Thái Lan và cũng là nơi đồn trú của quân
đội giải phóng Karen.
Vài ngày sau khi tổng hành
dinh quân đội giải phóng thuộc sắc dân Karen
ở Manerplaw bị quân đội chính phủ Miến
tấn công và chiếm đóng, th́ chính quyền quân phiệt
đă kư kết một hợp đồng trị giá 1000
triệu mỹ kim với các công ty Unocal của Hoa Kỳ,
Total của Pháp và PTT của Thái Lan, nhằm khai thác một
hệ thống ống dẫn hơi đốt lấy
từ mỏ dầu Yanada ở ngoài khơi vịnh Martaban,
trong Ấn Độ Dương. Hơi đốt dự
trữ của mỏ dầu nầy được
ước tính từ 50 đến 140 tỷ mét khối (1
tỷ = 1000 triệu). Ống dẫn hơi đốt
nầy dài 415 cây số, cung cấp hằng ngày từ 7
đến 8 triệu mét khối cho một nhà máy
điện có công suất 2100 Megawatts (1 megawatt = 1 triệu
Watts) được xây cất tại Ratchaburi, ở phía
Tây Bangkok. Ngoài năng lượng ra Thái Lan c̣n cần
nước nữa v́ từ nhiều năm qua, miền Tây
Bắc Thái Lan liên tiếp bị nạn hạn hán mất
mùa; v́ thế cho nên chính quyền Bangkok mới đề
nghị với Hội Đồng tướng lănh Miến
nên khai thác tài nguyên sẵn có về thủy lực của
họ. Cơ quan EGAT của Thái Lan đặc trách nghiên
cứu về sản xuất điện lực đă
đưa ra một dự án xây cất 6 đập
thủy điện, trong đó có 2 đập nằm trên
sông Salween, với kinh phí về đầu tư
được dự trù là 700 triệu mỹ kim; 90%
điện lực được sản xuất sẽ
bán cho Thái Lan và để tưới khoảng 70,000 mẫu
đất canh tác thuộc miền Tây Bắc nước
Thái. Sáu đập thủy điện nầy đều
nằm về phía
Sau khi Khun Sa đầu hàng,
Hội Đồng tướng lănh Miến Điện hoàn
toàn rảnh tay để thực hiện những kế
hoạch lớn lao trong tiểu bang Shan, như xây một
số đập trên sông
Để trấn áp dư
luận quần chúng, các cơ quan truyền thanh và
truyền h́nh của chính quyền quân phiệt Miến
Điện ngày đêm không ngớt rêu rao thành tích xây dựng
đất nước của Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự, nhưng dân
chúng thừa biết họ chỉ là những con vật hy
sinh bị phe tướng lănh tận dụng để
củng cố địa vị và làm giàu cho chúng. Thành
thử hệ thống truyền thông của chính quyền
coi như bị vô hiệu hóa v́ dân chúng chỉ theo dơi tin
tức quốc tế và trong nước qua các đài BBC và
VOA mà thôi. Dân chúng Miến lại càng thêm phẫn uất khi
chính quyền ra lệnh phá rối buổi phát thanh bằng
tiếng Miến Điện của đài BBC về
cuộc phỏng vấn bà Aung San Suu Kyi, chủ tịch
"Đảng Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân
Chủ", ngày 21 tháng 8, 1995, 40 ngày sau khi Hội
Đồng tướng lănh Miến chấm dứt quản
thúc bà ta. Hành động phá rối làn sóng điện
của đài BBC đă làm cho dân chúng mất hết tín
nhiệm ở nơi hội đồng; nhất là
trước đó họ không ngớt chỉ trích bà ta trên
báo chí và truyền thanh, truyền h́nh của họ. Trong khi
đó th́ bà Aung San Suu Kyi không ngớt kêu gọi phe
tướng lănh nên cùng bà mở cuộc thương
thuyết để giải quyết vấn đề
đất nước. Thái độ hống hách và trân tráo
của phe tướng lănh khiến cho dân Miến không làm
sao quên được hành động tàn sát quần chúng
đi biểu t́nh đ̣i tự do dân chủ tại thủ
đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) trong tháng 9, 1988; và
việc chính quyền quân phiệt không công nhận kết
quả cuộc bầu cử quốc hội lập
hiến do chính họ đứng ra tổ chức vào tháng
5, 1990.
Cứ trông bề ngoài th́ ai
cũng cho rằng phe quân phiệt Miến Điện
đă hoàn toàn chiếm thế thượng phong khắp
mọi lănh vực như: tiêu diệt phe đối lập
đ̣i tự do, dân chủ; kiểm soát chặt chẽ
giới sinh viên và giới các sư săi trẻ; thành lập
trong Phật giáo một đẳng cấp có nhiệm
vụ tăng cường niềm tin về đạo
đức; kư kết khoảng 15 thỏa ước
ngưng bắn với các sắc dân thiểu số; nối
lại giao thương với một số quốc gia
trong vùng Đông Nam Á; tiếp nhận đầu tư
vốn của một số công ty lớn ngoại
quốc. Nếu Hội Đồng tướng lănh
Miến đă ở trong thế thượng phong rồi
th́ tại sao trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi rồi mà
lại không chịu mở cuộc thương thuyết
với bà ta?. Có nhiều nguồn tin dai dẳng liên quan
đến giới t́nh báo quốc tế cho rằng
dụng ư của Hội Đồng tướng lănh khi
trả lại tự do cho bà Aung San Suu Kyi là cốt
để cho bà ta nôn nóng đi thăm các cơ sở
của đảng Liên Minh trên toàn quốc, rồi họ
sẽ nhân một cơ hội nào đó tạo ra một
tai nạn đụng xe - như bọn Cộng Sản
Bắc Việt thường làm ở Việt Nam -
để giết bà ta và khóa luôn miệng phe đối lập.
Nhưng t́nh báo của đảng Liên Minh cũng đă phát
giác được âm mưu nầy của phe tướng lănh,
cho nên bà Aung San Suu Kyi nhất định không ra khỏi nhà
của bà ta; và quyết định của bà đă làm cho
phe tướng lănh cụt hứng. Tuy bà Aung San Suu Kyi không chịu
rời khỏi nhà, nhưng tuần nào bà cũng có tổ
chức những buổi nói chuyện với đồng
bào ngay tại tư gia, qui tụ vào khoảng từ 5000
đến 10,000 người, đông đến nỗi làm
nghẽn cả những đường lân cận, và
đó là theo tin của các hăng thông tấn ngoại quốc
loan tải. Họ là những người bất chấp
đạo luật của Hội Đồng tướng
lănh qui định phạt tù tối đa là 20 năm
bất cứ ai tham gia những buổi mít tinh chống
chính phủ. Họ cũng bất chấp luôn những
cơn mưa xối xả về mùa hè ở Miến Điện.
Trời mưa hay trời nắng th́ bà Suu Kyi cũng
chỉ đội có một cái nón lá mà phụ nữ
Miến thường hay đội, c̣n đồng bào
của bà th́ cuộn dù lại mặc dầu trời
mưa, để tỏ ḷng tôn kính vị nữ anh hùng
của dân tộc họ. Thành phần đến nghe bà nói
chuyện gồm đủ hạng người trong xă
hội: sinh viên, học sinh, thợ thuyền, các bà nội
trợ, các người buôn thúng bán bưng, các sư săi
trẻ v.v... Bà tuyên bố trước đám đông -
mặc dầu Hội Đồng tướng lănh ra
quyết định cấm "diễn thuyết phá
rối trị an và gây xáo trộn cảnh an b́nh của
đất nước", nhưng bà cũng vẫn
cứ gặp đồng bào hằng tuần, vào ngày chúa nhật.
Theo bà th́ chính những cuộc biểu t́nh do Hội
Đồng tướng lănh tổ chức mới thật
là nên cấm v́ họ đă áp lực dân chúng phải
đến nghe họ đả phá bà ta và như thế
mới đúng là làm xáo trộn an ninh trật tự của
quốc gia. Bà bảo "nước Miến Điện
của chúng ta đă bị bôi nhọ khi suốt ngày đêm
truyền thanh và truyền h́nh không ngớt ra rả hô
những khẩu hiệu đả phá tôi". Trong khi nói
chuyện với đồng bào, bà thường đưa
ra những phương thức để hàn gắn
những vết thương của đất
nước: đó là thực thi dân chủ, có nghĩa là
để cho 40 triệu dân Miến Điện tự
quyết định lấy ai sẽ là người lèo lái
con thuyền quốc gia.
Mặc dầu bà Aung San Suu
Kyi kêu gọi các tướng lănh trong Hội Đồng Văn
Hồi Luật Pháp và Tái lập Trật Tự nên cùng
với các chánh đảng đối lập ngồi
lại với nhau để t́m một giải pháp chung cho
đất nước, nhưng họ vẫn làm ngơ và
vẫn tiếp tục dùng hệ thống truyền thông
để đả kích bà là tay sai của Anh quốc và của
CIA Hoa Kỳ. Tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nghị
sĩ Mitch McConnell của tiểu bang Kentucky, thuộc
đảng Cộng Ḥa và nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan,
tiểu bang New York, thuộc đảng Dân Chủ, đă
cùng nhau đệ tŕnh thượng viện, vào hạ
tuần tháng 6, 1996 một dự án luật nhằm
trừng phạt Miến Đện về kinh tế
với lư do vi phạm nhân quyền. Đồng thời
trước thái độ ngoan cố và gian trá của
tập đoàn tướng lănh Miến Điện giả
vờ phóng thích bà Aung San Suu Kyi để lấy
điểm với dư luận quốc tế, nên một
số công ty lớn của Hoa Kỳ đang đầu
tư ở Miến Điện như công ty sản xuất
quần áo Levi Strauss & Co, công ty sản xuất giày Reebok
International Ltd., công ty Liz Clairborne, công ty nước ngọt
PepsiCo Inc. - v́ sợ giới tiêu thụ Hoa Kỳ tẩy
chay hàng hóa của họ - nên đă chấm dứt mọi
hoạt động của họ trên đất Miến.
Chỉ c̣n lại 2 công ty lớn Hoa Kỳ là Unocal Corp. và
Texaco Inc. là c̣n dính líu với công ty Total của Pháp và công ty
PTT của Thái Lan trong dich vụ khai thác đưa hơi
đốt từ mỏ dầu Yanada trong vịnh Martaban vào
nội địa thái Lan. Bà Aung san Suu Kyi chống lại
mọi h́nh thức đầu tư của ngoại
quốc vào Miến điện dưới chế
độ độc tài quân phiệt của nhóm tướng
lănh bộ hạ của Khin Nyunt. Bà ta tuyên bố trong
một buổi nói chuyện với đồng bào: "Kinh
nghiệm Miến Điện cho thấy cải cách kinh
tế mà không đi đôi với cải cách chính trị th́
chả đem lại lợi lộc ǵ cho quần chúng
cả". Rồi bà lại tiếp: "Chỉ có một
thiểu số tướng lănh và thương gia là trở
nên giàu sụ với sự đầu tư vốn của
ngoại quốc vào nước nầy mà thôi, trong khi đó
th́ t́nh trạng sinh sống của quần chúng càng ngày càng
thêm bi đát, coi như hết phương cứu
chữa".
Vào trung tuần tháng 5, 1996,
chính quyền Clinton đă nhấn mạnh với Hội
Đồng tướng lănh Miến Điện nên chấm
dứt những "áp lực chiến thuật"
của họ đối với bà Aung San Suu Kyi,
đồng thời thông báo cho chính quyền quân phiệt hay
là Hoa Kỳ sẽ phái hai đại diện qua Miến
Điện vào thượng tuần tháng 6, 1996. Trước
khi qua Miến Điện, hai ông William Brown và Stanley Roth
sẽ ghé lại Nhật Bản và môt số quốc gia vùng
Đông Nam Á để thảo luận và t́m một giải
pháp chính trị thích nghi cho Miến Điện sau khi
Hội Đồng tướng lănh ban hành đạo
luật "khóa miệng" bà Aung San Suu Kyi và đảng
đối lập của bà ta. Giới truyền thông
của chính quyền quân phiệt cũng đă lên tiếng
cảnh cáo bà Suu Kyi là nếu đảng Liên Minh của bà
ta c̣n nuôi ư định thảo riêng một bản hiến
pháp, khác với bản hiến pháp của chính quyền, th́
đảng Liên Minh sẽ bị coi như là bất hợp
pháp và những người tự ư thảo hiến pháp
mới nầy sẽ bị kết án cho đến 20
năm tù ở. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ - qua phát ngôn
viên Nicholas Burns - đă thông báo cho chính quyền quân phiệt
hay là "theo Công Pháp Quốc tế, bà Aung San Suu Kyi có
quyền công bố cho thế giới biết hoàn cảnh
hiện tại của đồng bào bà trong nước và
bà cũng có quyền đ̣i Hội Đồng tướng
lănh phải phóng thích ngay những người đă bị
bắt v́ đến nghe bà nói chuyện." Nhưng
Hội Đồng tướng lănh Miến Điện
vẫn làm ngơ trước lời kêu gọi của Hoa
Kỳ.
Từ mấy thập niên
qua, Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy của Hoa Kỳ đă tiêu hàng
bao nhiêu tỷ mỹ kim của ngân sách quốc gia
để chận đứng việc sản xuất,
chuyển vận và phân phối ma túy từ Nam Mỹ, A Phú
Hăn và Miến Điện nhập lậu vào Hoa Kỳ,
nhưng kết quả thâu lượm được
rất là nghèo nàn. V́ không đặt nặng vấn
đề t́nh báo, nên Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy đă bị "hố"
nhiều lần rất là thiểu năo. Cứ đọc
bức thư của ông John Law, giám đốc Cơ Quan Bài
Trừ Ma Túy của Hoa Kỳ gởi cho Manuel Noriega ngày 8
tháng 5, 1986 th́ rơ: "..... nhân tiện đây tôi xin lưu ư
ông là chúng tôi đă thấy được những hành
động vượt bực của ông trong khi thi hành
chính sách bài trừ ma túy qua việc trục xuất một
số "đầu nậu" buôn ma túy thuộc
hạng gộc ra khỏi Panama, đồng thời
tịch thu một số lượng lớn ma túy lẫn
hóa chất dùng trong việc biến chế chất
nầy". Sau khi Noriega bị bắt, mọi người
mới hay là tên trùm cầm đầu việc nhập
lậu ma túy vào Hoa Kỳ lại chính là y, c̣n những tên
đầu nậu bị y trục xuất ra khỏi Panama
là v́ chia tiền lời cho y quá ít. Bức thư của ông
John Law vẫn c̣n được giữ trong văn khố
của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ. Và mọi chuyện
xảy ra trong việc bài trừ ma túy ở Miến
Điện trong thập niên 80 cũng giống y chang như
ở Panama dưới thời Noriega; nghĩa là cấp
tướng lănh trong "Hội Đồng Văn Hồi
Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự" của Miến
Điện cũng xuất cảng ma túy sang Hoa Kỳ, trong
khi đó cũng vẫn nhận tiền đều
đều của Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy của Hoa
Kỳ để tổ chức những buổi lễ
đốt ma túy (vài gói tượng trưng để
ở bên trên những đống bao đựng bột
giả làm ma túy) do tướng Khin Nyunt - "người
hùng của chế độ quân phiệt Miến" -
đến chủ tọa để cho có vẻ trang
trọng và cũng để cho mấy ông Mỹ giám
đốc cơ quan dễ ăn nói và xin thêm tiền
với chính quyền của họ. Nhưng sau khi chính
quyền Miến Điện đàn áp đẫm máu
cuộc biểu t́nh ngày 8 tháng 9, 1988 và ra lệnh câu lưu
bà Aung San Suu Kyi, th́ chính quyền Hoa Kỳ đă cắt
tất cả mọi viện trợ cho Miến Điện
kể cả việc bài trừ ma túy. Tuy nhiên để
vớt vát và trước khi có cuộc bầu cử
quốc hội lập hiến, vào tháng 2, 1990 Bộ
Ngoại Giao Miến Điện có cử một phái
đoàn qua Hoa Kỳ để vận động xin
lại viện trợ về khoản bài trừ ma túy.
Nhưng v́ trong phái đoàn nầy lại có sự hiện
diện của tướng Tin Hla, tư lệnh sư
đoàn 22 Bộ Binh Miến Điện, sư đoàn
nầy đă từng tham dự vào cuộc đàn áp và
giết chết hàng ngàn dân chúng Miến đi biểu t́nh
ở thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) ngày 8 tháng
9, 1988, vả lại viên tướng nầy cũng chưa
từng tham gia vào một cơ quan bài trừ ma túy nào
từ trước tới nay, nên Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ đă từ chối không tiếp phái đoàn. Thế
là xôi hỏng bỏng không, nhưng hành động của
phái đoàn Miến qua Hoa Kỳ để xin
được tái viện trợ, cũng đă chứng
tỏ là Miến Điện vẫn muốn cầu thân
với Mỹ - v́ qua Mỹ c̣n cả một khối
lớn các nước trong khối Thế Giới Tự Do
nữa; chứ nếu bắt tay không thôi với Trung
Cộng mà vẫn bị các nước khác trên hoàn cầu
tẩy chay, th́ về lâu về dài sẽ bị Trung
Cộng nô lệ hóa một cách gián tiếp. Gần hơn mười
hai năm qua, Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và
Tái Lập Trật Tự Miến Điện chắc đă
nếm được mùi của các cố vấn và
huấn luyện viên Trung Cộng như thế nào rồi,
đồng thời các tướng lănh trong Hội
Đồng chắc cũng đă nghe tràn tai những
lời xầm x́ bất măn của mọi cấp bực
trong quân đội trước thái độ xấc
xược, ngạo mạn, hống hách của lũ
cố vấn và chuyên viên Tàu, nên cấp tướng lănh
chỉ huy Miến Điện thấy rằng nếu
họ c̣n khư khư ôm chân Trung Cộng trong khi bị toàn
thế giới tẩy chay không hợp tác về kinh tế,
th́ họ sẽ mất dần sự ủng hộ của
quân đội và sẽ khó mà nắm giữ được
chính quyền về lâu về dài, đó là chưa nói đến
việc có thể mất mạng nữa là khác, nếu
xảy ra nội loạn mà kẻ chủ chốt rất có
thể phát xuất từ cấp sĩ quan trẻ trong quân đội.
Bà Aung San Suu Kyi bị chính
quyền độc tài quân phiệt Miến Điện
bắt lại lần thứ 3 trong ṿng 14 năm, sau khi chính
quyền ngầm tổ chức bọn côn đồ
của chúng phục kích đoàn xe của bà ta đi tổ
chức nói chuyện với quần chúng tại một
thị trấn ở miền bắc Miến Điện. Hai
lần bắt trước th́ bà Suu Kyi bị nhà cầm
quyền quản thúc "tại gia"; nhưng lần
thứ ba nầy th́ chúng đem giam bà ta tại nhà lao Insein
ở thủ đô Ngưỡng Quảng, giống như
nhà pha Hỏa Ḷ của bọn Cộng Sản Bắc
Việt ở Hà Nội. Vào cuối tháng 6, 2003 th́ chúng
đem bà đi biệt giam tại một địa
điểm bí mật và không cho ai thăm viếng cả.
Sở dĩ chính quyền quân phiệt bắt lại bà ta
là v́ họ thấy uy tín của bà lên quá cao trong ḷng quần
chúng Miến Điện. Để giải thích việc
chính quyền bắt lại bà ta, bọn tướng lănh
quân đội Miến đă vu khống bà Suu Kyi âm mưu
đảo chánh chính quyền quân đội. Trong một
cuộc họp của các bộ trưởng Ngoại Giao
các nước Âu Châu và Á Châu, trong đó có Nhật Bản và
Trung Cộng tại Bali (Nam Dương) vào ngày 27 tháng 7, 2003
th́ toàn thể đại diện của các nước nói
trên đều đồng thanh kêu gọi Miến
Điện phải trả lại tự do cho bà Suu Kyi
tức khắc. Tuy nhiên trước đó th́ Trung Cộng
đă lên tiếng bênh vực Miến Điện bằng
cách cho việc Miến Điện bắt giam bà Suu Kyi
chỉ là vấn đề nội bộ của chính
quyền Miến Điện mà thôi. Sở dĩ Trung
Cộng lên tiếng như vậy là v́ hiện nay tại
lục địa Trung Hoa, Trung Cộng đang thực thi
chiến dịch đàn áp dă man những người dân
của họ đang tranh đấu cho nhân quyền.
Một điểm nữa đáng lưu ư là từ
trước tới nay, các nước trong "Liên Pḥng Đông
Nam Á" không bao giờ xâm lo vào chuyện nội bộ
của nhau; thế mà nay họ lại đồng thanh yêu
cầu Miến Điện phải trả tự do ngay cho
bà Aung San Suu Kyi, trong khi đó th́ chính quyền độc tài
quân phiệt Miến không cho bộ trưởng Ngoại
Giao của họ đến tham dự buổi họp
tại Bali, v́ sợ bị chất vấn mà không trả
lời được.
Thủ tướng Mă Lai,
ông Mahathir Mohamad c̣n bước thêm một bước
nữa, vô cùng ngoạn mục bằng cách lên tiếng kêu
gọi các nước trong khối ASEAN là phải trục
xuất ngay Miến Điện ra khỏi khối nầy
nếu họ không chịu phóng thích ngay bà Aung San Suu Kyi.
Nhưng Nam Dương, một quốc gia vẫn c̣n
chịu ảnh hưởng của quân đội như
ở Miến Điện, bèn lên tiếng phản
đối cho rằng ư kiến của thủ tướng
Mă Lai chỉ là ư kiến riêng tư của ông ta mà thôi. Tuy
nhiên bộ trưởng Ngoại Giao của Nam
Dương, ông Hassan Wirajuda cũng đă lên tiếng trong
hội nghị Bali là khối ASEAN đang theo dơi thái
độ và hành động của Miến Điện và
thành thật mà nói, đang "thiếu kiên nhẫn"
về vụ trả lại tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Theo
lời tuyên bố của ông ta, th́ đến ngày 28 tháng 7 vừa
qua, bộ trưởng Ngoại Giao Miến Điện
sẽ đến thủ đô Jakarta của Nam Dương
để thảo luận về việc bắt giam bà Aung
San Suu Kyi. Đồng thời trong khi đó th́ nhiều
quốc gia trên thế giới đă đồng loạt lên
tiếng kêu gọi phải có ngay những biện pháp
trừng trị Miến Điện mới
được. Hoa Kỳ là nước trước tiên có
thái độ đối với Miến Điện.
Ngày 15 tháng 7, 2003 quốc
hội Hoa Kỳ đă chấp thuận một số
biện pháp chế tài về kinh tế đối với
Miến Điện, đồng thời ra lệnh sai áp (Freeze)
những tài sản của chính quyền Miến
Điện tại Hoa Kỳ. Trong tháng 6, 2003 vừa qua thượng
viện Hoa Kỳ cũng đă thông qua một dự
luật nhằm ban hành một số biện pháp chế tài
về kinh tế đối với chính quyền
độc tài quân phiệt Miên Điện sau vụ bắt
lại bà Aung San Suu Kyi lần thứ 3. Và tổng thống
W. Bush sẽ kư sắc lệnh ban hành quyết định
chế tài của lưỡng viện quốc hội
đối với Miến Điện trong những ngày
sắp tới đây, sau khi dung ḥa những biện pháp
chế tài của lưỡng viện quốc hội. Cũng
nên ghi nhận là trong cuộc đầu phiếu về
biện pháp chế tài đối với Miến
Điện th́ ở Hạ viện có 418 phiếu thuận
cho biện pháp chế tài và chỉ có 2 phiếu chống mà
thôi. Ở Thượng viện th́ có 97 phiếu thuận và
1 phiếu chống. Cuộc đầu phiếu ở
lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ chứng
tỏ một cách rơ rệt là các đại diện dân
cử của nước nầy đă nói lên sự
thiếu kiên nhẫn của họ đối với chính
sách chà đạp dân chủ của đám quân nhân
độc tài đảng trị Miến Điện. Biện
pháp chế tài nầy sẽ cấm hẳn mọi sự
nhập cảng hàng hóa của Miến Điện vào Hoa
Kỳ trong ṿng 3 năm. Đồng thời cũng cấm
không cấp chiếu khán cho các lănh tụ Miến nhập
cảnh vào lănh thổ Hoa Kỳ. Cũng nên nhớ rằng
năm ngoái Hoa Kỳ nhập cảng hàng vải, quần
áo, giày dép của Miến Điện trị giá 356 triệu
mỹ kim. Biện pháp chế tài nầy chỉ chấm
dứt lúc nào tổng thống W. Bush chứng nhận
với quốc hội rằng Miến Điện đă có
những hành động tôn trọng nhân quyền và đă có
những cải cách thực sự hướng về dân
chủ.Thiết tưởng cũng nên nhắc lại cho
quư bạn đọc nhớ rằng quân đội
Miến Điện - dưới sự lănh đạo
của tướng Ne Win - đă đảo chánh chính
phủ dân sự của U Nu để lên nắm quyền
cai trị dân Miến Điện từ năm 1962, và đă
có lần chấp nhận cho dân chúng bầu cử quốc
hội lập hiến vào năm 1990; nhưng sau đó
đă trở mặt không giao quyền lại cho
đảng "Liên Minh Quốc Gia đấu tranh cho Dân
Chủ" thắng cử của bà Aung San Suu Kyi mà lại
c̣n bắt giam bà nầy 14 năm nữa. Quốc Hội Hoa
Kỳ cũng có kêu gọi hai nước láng giềng
của Miến Điện là Thái Lan và Trung Cộng nên có
những hành động thích đáng để áp lực
Miến Điện phải trả tự do lại cho bà
Aung San Suu Kyi; đồng thời lưỡng viện
cũng chỉ thị cho ngoại trưởng Colin Powell
nên khuyến cáo một số quốc gia khác hăy chấm
dứt sự ủng hộ của họ đối
với Miến Điện.
Vấn đề Miến
Điện là một vấn đề phức tạp,
rất khó giải quyết v́ có ngoại bang nhúng tay vào -
không phải họ thương ǵ dân Miến Điện -
mà v́ quyền lợi riêng tư của từng nước một.
Hoa Kỳ th́ quá sốt ruột khi thấy 60 % số
lượng bạch phiến mang lậu vào đất
nước của họ là từ khu "Tam Giác Vàng"
của Miến Điện. Và chỉ có khi nào bà Aung San Suu
Kyi và đảng "Liên Minh" của bà ta lên nắm
chính quyền th́ họa chăng khi đó Hoa Kỳ mới
có cơ hội yêu cầu chính quyền dân cử Miến
phát động chiến dịch bài trừ ma túy qui mô được.
Đó là chưa kể về vấn đề chiến
lược, Hoa Kỳ chỉ muốn thấy trên bờ
Ấn Độ Dương một nuóc Miến
Điện hoàn toàn trung lập, không chịu ảnh
hưởng của bất cứ một cường
quốc nào trên thế giới. Trong khi đó th́ Trung
Cộng cũng v́ quyền lợi giao thương và
nhất là chiến lược sẽ không bao giờ bỏ
rơi phe quân phiệt hiện đang nắm quyền
tại Miến Điện. Trung Cộng là một
nước theo xă hội chủ nghĩa nhưng cung cách
cư xử về ngoại giao của họ lại không
giống như các nước trong khối Cộng Sản
Quốc tế, kể cả Liên Xô; đó là về
phương diện t́nh cảm. Trung Cộng một khi
đă đi với một nước nào rồi th́ rất
khó làm cho họ tách rời khỏi nước đó.
Như trong cuộc chiến tranh Việt Nam chẳng
hạn, viện trợ của Trung Cộng cho Cộng
Sản Việt Nam lên quá 200 tỷ mỹ kim (hai trăm ngàn
triệu - đó là lời tiết lộ của ông
Đặng Tiểu B́nh), thế mà khi Việt Cộng
trở mặt chạy theo Liên Xô và quay về
"đá" họ và chưởi bới họ không
tiếc lời, th́ Trung Cộng phải chờ đến
hơn 6 tháng sau mới có phản ứng dứt khoát. Và sau
nầy, khi Trung Cộng giúp Hồi quốc chế tạo
cho kỳ được bom nguyên tử -mặc dầu
bị áp lực nặng nề đủ mọi cách
của Hoa Kỳ -th́ họ cũng vẫn giúp Hồi
quốc cho đến cùng. Đối với Hồi
quốc c̣n như vậy huống hồ đối với
phe quân phiệt Miến Điện, không những giúp cho Trung
Cộng có được một bao lơn lư tưởng
trông ra Ấn Độ Dương đă dành, lại c̣n
chia chác cho nhân viên Bộ Chính Trị Trung Cộng mỗi
người mỗi năm hàng trăm triệu mỹ kim,
tiền thu được về buôn lậu bạch
phiến giống như mấy năm trước đây
"vua thuốc phiện" Khun Sa đút lót mỹ kim cho
tướng lănh trong "Hội Đồng Văn Hồi
Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự"; th́ làm sao mà
Trung Cộng có thể bỏ rơi phe tướng lănh
Miến Điện cho được ?
Giờ đây cấp
chỉ huy quân đội Miến Điện đă trở
thành một tổ chức Mafia chuyên sản xuất và
xuất cảng lậu bạch phiến cho Trung Cộng và
Việt Cộng để phân phát đi khắp thế
giới, để đánh phá xă hội Hoa Kỳ và đầu
độc nhân loại; tiền của vào túi của chúng
như nước, chả nhẽ một sớm một
chiều chúng lại chịu phủi tay ra đi hay sao?
Vả lại bàn tay của các tướng lănh Miến
đă vấy quá nhiều máu của nhân dân Miến
Điện rồi, giờ đây họ đang ở trong
thế ngồi trên lưng cọp, nếu xuống không khéo
sẽ bị cọp nhai xương ngay tức th́. V́
thế không bao giờ phe tướng lănh lại chịu
rút lui êm đâu; cho nên nếu Hoa Kỳ - muốn giải
quyết vấn đề đầu độc nhân
loại bằng ma túy của phe tướng lănh Miến
Điện - th́ chỉ có một biện pháp duy nhất là
dùng quân đội để thanh toán bọn tướng
lănh Mafia Miến Điện như tổng thống Bush cha
đă xua quân đội vào nước Panama, bắt
sống thủ lănh Noriega đem về Mỹ trị
tội , đoạn đưa ra ṭa án xét xử và bỏ tù
cho đến năm 2007 mới được phóng thích. Nhưng
đối với Miến Điện, hiện nay có
thể được coi như là một "thuộc
địa" liên ranh với Trung Cộng, thử hỏi
liệu Hoa Kỳ có thể dùng biện pháp quân sự
như đối với
Ngoài ra lại c̣n có vấn
đề t́nh cảm nữa; v́ bà Aung San Suu Kyi khi qua du
học ở Anh quốc th́ lập gia đ́nh với
một giáo sư người Anh và có được hai con
bây giờ cũng đă trưởng thành. Khi bà Aung San Suu
Kyi được giải thưởng Ḥa B́nh Nobel vào
năm 1991, th́ chính con trai của bà lúc đó được
14 tuổi đứng ra nhận giải thưởng thay
cho bà. Gia đ́nh bà chỉ được Hội
Đồng tướng lănh Miến Điện chấp
thuận cho thăm viếng một lần sau khi bà bị
bắt lần đầu v́ có sự can thiệp rất
tích cực của chính quyền Anh quốc. Và sau đó th́
bà không c̣n được chính quyền Miến Điện cho
phép liên lạc với gia đ́nh nữa và khi phu quân bà qua
đời v́ bệnh ung thư th́ bà cũng chẳng
được liên lạc ǵ với hai con bà ở Luân
Đôn cả. V́ có những dây mơ rễ má về t́nh
cảm như vậy giữa Miến Điện và Anh
quốc, nên rất có thể dân chúng Anh cũng chấp
nhận cho Anh đóng vai tṛ đồng minh của Hoa Kỳ
nếu nước nầy áp dụng biện pháp mạnh
đối với tập đoàn mafia tướng lănh
Miến Điện. C̣n vấn đề đưa cho
được Ấn Độ vào thế liên minh quân
sự với Hoa Kỳ để chống lại Trung
Cộng trên lănh thổ Miến Điện th́ sẽ vô cùng
khó khăn chứ không phải dễ dàng như đối
với Anh quốc, muốn biết ta hăy trở về chút
dĩ văng giữa Trung Cộng và Ấn Độ
để nh́n lại lịch sử hai nước
Trung-Ấn
Sau khi chiếm xong lục
địa Trung Hoa vào cuối năm 1949, th́ đến
năm 1954, Trung Cộng và Ấn Độ cùng kư kết
với nhau một “hiệp ước bất tương
xâm” lẫn nhau và nhất là không can thiệp vào nội
bộ của nhau. Và 5 năm sau, thủ tướng Nehru
cùng cô con gái độc nhất của ông là Indira sang Nam
Dương (
Thế là xảy ra
chiến tranh giữa hai nước, với lực
lượng quân sự giữa đôi bên rất là chênh lệch.
Bên Trung Cộng - v́ có dụng ư - nên đă hoàn tất
một hệ thống xa lộ khá tối tân chạy
từ Tây Tạng ra tới biên giới phía Tây giáp ranh
với Ấn Độ, nên tha hồ điều
động quân đội một cách thoải mái, dễ
dàng kể cả vũ khí hạng nặng. C̣n về phía
Ấn Độ th́ đơn vị quân đội nào
cũng không đủ túc số đă đành, quân trang, quân
cụ cũng không đầy đủ, nhất là quần
áo ấm cho binh sĩ không có, mà Trung Cộng lại chọn
mùa lạnh để tấn công vào ngày 20 tháng 10, 1962.
Họ xua quân qua ngă đèo Karakoram, tiến vào vùng cao nguyên
Aksai Chin, để rồi từ đó chiếm trọn
giải đất Ladakh thuộc miền Tây Bắc của
đường biên giới dọc theo Hi Mă Lạp Sơn
dài hơn ba ngàn cây số. Về khu vực miền Đông,
trong vùng Assam, quân đội Trung Cộng chỉ trong vài ngày
thôi đă chiếm được các thị trấn Tsang
Dar, Bumla, Tawang rồi Kameng. Ngày 18 tháng 11 quân đội Trung
Cộng đă tiến sâu vào nội địa của
Ấn Độ khoảng 50 cây số, và khi vào đến
ngoại ô thị trấn Tezpur thuộc vùng Assam th́ họ
dừng lại không tiến quân nữa, đồng
thời đơn phương tuyên bố ngưng bắn. Trong
thời gian quân đội Trung Cộng xâm chiếm miền
Bắc Ấn Độ, th́ thủ tướng Nehru -
hằng ngày lên đài phát thanh kêu cứu với thế
giới - là Trung Cộng đă vô cớ xâm chiếm
nước của ông. Phản ứng "cấp
thời" của các nước trong "Khối Các
Quốc Gia Không Liên Kết" do Ấn Độ cầm
đầu là các nước đó nín im thin thít, không một
nước nào dám ho he lên tiếng chỉ trích hành
động xâm lăng Ấn Độ của Trung Cộng
hết. Giờ đây thủ tướng Nehru mới
vỡ lẽ ra là trong "Khối" của ông chỉ
toàn là một lũ chuột lắt và chả có con nào dám
đem chuông đi buộc cổ "mèo hoang" Trung
Cộng cả. Nản quá, ông ta đành xuống
nước kêu cứu với Hoa Kỳ và Anh quốc trong
khối Tư Bản; hai nước nầy lập tức
ra lệnh cho quân đội của họ sẵn sàng
ứng chiến, đồng thời huy động phi
cơ, cùng chiến xa, đại pháo chuẩn bị lên
đường ra mặt trận Bắc Ấn Độ
để đuổi quân xâm lăng Trung Cộng. Cũng v́
có sự động binh của Hoa Kỳ và Anh quốc nên
Trung Cộng mới ra lệnh cho quân đội của
họ không được tiến lên nữa, đồng
thời Trung Cộng cũng đơn phương tuyên
bố ngưng bắn là vậy đó. Sau đó họ rút
quân về nhưng vẫn chiếm đóng giải
đất Ladakh của Ấn Độ, rộng khoảng
150 cây số dọc theo biên giới chạy dài theo Hi Mă
Lạp Sơn.
Sau khi bị Trung Cộng
xâm lăng và mất giải đất Ladakh, thủ
tướng Nehru đành muối mặt xin tổng
thống Kennedy bán cho Ấn Độ 12 phi đội
chiến đấu cơ siêu thanh, 2 phi đội phóng pháo
cơ B- 47S, một trạm radar và vô số máy truyền tin.
Thế là từ nay "t́nh Hữu Nghị Hoa Ấn"
đành tan tành ra mây khói. Các nước trong "Khối
Không Liên Kết" của ông lặng lẽ đi t́m
những đồng minh có quân đội hùng hậu
để làm thân; c̣n thủ tướng Nehru - v́ quá hận
Trung Cộng - lại đang bị đau gan, nên đă
nhuốm bệnh nặng và qua đời vào năm 1964, mang
xuống tuyền đài một chủ trương khờ
dại mà ông tưởng rằng dễ đối phó
với lũ cộng sản ma đầu, nhưng rốt
cục lại th́ chỉ làm tṛ cười cho hậu
thế mai sau. Những người thừa kế thủ
tướng Nehru sau nầy lúc nào cũng có thái độ e
dè đối với Hoa Kỳ như dưới thời
thủ tướng Nehru trước khi xảy ra vụ
Trung Cộng xâm lăng. Thế rồi họ nghiêng về
phía Nga Xô, tưởng rằng lấy độc trị
độc là thượng sách, nhưng họ có biết
đâu là họ đă vô t́nh mở rộng cửa cho
quỷ sứ KGB vào nhà mà họ không hay. Hiện tại
năm 2003 trong nước Nga cũng đă có tới hơn
20 triệu dân Tầu cư ngụ, trong đó có hơn
một triệu người Tầu đă mang quốc
tịch Nga, như vậy tổng cộng đạo quân
thứ 5 của Hoa Lục đă lên hơn 150 triệu người
trên toàn thế giới.
Một kư giả của báo
Libération, J.D. Merchet có viết trong báo nầy rằng Mạc
Tư Khoa đă "cắt" mật vụ KGB ra làm hai và
đó là một triệu chứng dân chủ hóa cơ quan nầy.
Theo thiển ư của người viết th́ hành động
nầy chỉ là một triệu chứng muốn hữu
hiệu hóa thêm tổ chức nầy mà thôi.
Từ
1986 cho đến ngày nay, cơ quan mật vụ KGB của
Nga đă từng trải qua nhiều giai đoạn cải
tổ, mà giai đoạn mới nhất là dưới trào
của tổng thống Boris Yeltsin, chia mật vụ KGB ra
làm hai ngành: FSB (ngành phản gián quốc nội) và SVR (ngành
t́nh báo ở quốc ngoại). Trước đây tổ chức
mật vụ NKVD - cha đẻ của KGB - cũng đă từng
chia ra làm hai ngành, một ngành lo về quốc nội và một
ngành lo về quốc ngoại và đều do Stalin cùng nội
các của y điều khiển trong hậu trường.
Giờ đây cũng vậy, chính Putin và nội các của
y cũng điều khiển hai ngành FSB và SVR, nhưng lại
cộng thêm tổ chức GRU (cơ quan t́nh báo quân sự
đặt dưới quyền điều khiển của
bộ Tổng Tham Mưu quân đội Nga) và có thêm một
sự khác biệt nữa là cơ quan GRU từ nay lại hợp
tác rất chặt chẽ với hai cơ quan FSB va SVR, chứ
không có sự chống đối nhau như dưới thời
Liên Bang Xô Viết nữa. Sở dĩ có sự kiện
đặc biệt nầy xảy ra là nhờ - giữa 1985
đến 1992 - một nhóm sĩ quan cao cấp trong 3 ngành
t́nh báo kể trên đă họp nhau để mổ xẻ
những khuyết điểm đă từng làm tê liệt sự
hữu hiệu của ba ngành nầy và kết quả của
cuộc găp gỡ nầy là tăng hiệu năng của
ngành mật vụ Nga dưới trào Gorbatchev rồi đến
Yeltsin. Và sau đó, "Mạng Lưới Felix" ra dời,
lấy tên Felix là để tưởng nhớ Felix
Djerzinski, vị thủy tổ sáng lập ra Tcheka, cơ quan
mật vụ đầu tiên của đảng Cộng Sản
Nga Xô. Thế rồi từ 1993 đến 1999, "mạng
lưới Felix" âm thầm hoạt động và bố
trí ngầm một số nhân sự trong chính quyền Yeltsin
để chuẩn bị đưa "người của
họ" là Vladimir Putin ra nắm chính quyền sau nhiệm
kỳ 2 của ông nầy. Giờ đây trong nội các của
Putin gồm có 15 nhân vật đầu năo, th́ 14 người
là cựu sĩ quan trong ngành mật vụ KGB; 89 cơ quan
hành chánh địa phương của nước Nga nay
được đặt dưới quyền kiểm soát
của 7 thống đốc trong đó có 5 vị là cựu
sĩ quan của mật vụ KGB hoặc của quân báo
GRU. Trong khoảng thời gian giữa 1986 và 1992, "mạng
lưới Felix" đă tổ chức nhiều khóa học
tập để đả thông tư tưởng và chấm
dứt sự kèn cựa thường xảy ra từ
trước tới nay giữa 2 cơ quan mật vụ KGB
và quân báo GRU của Nga.
Chính
Putin cũng đă từng tham dự những khóa huấn
luyện "đả thông tư tưởng" nầy
và cuối cùng đă được một số các "bậc
lăo thành" trong "mạng lưới Felix" chọn,
v́ là người có khả năng nhất trong hàng ngũ
sĩ quan mật vụ KGB/GRU, để chuyển sang ngành
chính trị. Y có nhiệm vụ nâng cao nền kinh tế
nước Nga đang tuột dốc dưới trào tổng
thống Yeltsin; nhưng chỉ đáp ứng điều kiện
đó thôi cũng chưa đủ mà c̣n phải phục hồi
lại bờ cơi trước đây của nước Nga
dưới triều đại Liên Bang Xô Viết. Bằng
chứng đă cho ta thấy là Putin đă thực hiện
được một phần nào chương tŕnh nầy
bằng cách đầu tư vào ngành kinh tế của các quốc
gia trong vùng Trung Á vừa mới được độc
lập cũng như vào các nước cựu chư hầu
của Nga trong vùng Đông Âu qua các công tác gián điệp và lật
đổ như ở các nước Ukraine, Bielorussia, Bảo
Gia Lợi, Hung Gia Lợi; nhưng cách hoạt động của
Nga giờ đây khác trước, nghĩa là âm thầm hành
động và tránh dính líu với các cựu đảng viên
cộng sản ở tại địa phương.
Theo
bản tường tŕnh của Bộ quốc pḥng Mỹ
th́ cuộc chiến Đông Á sẽ phải bùng nổ. Thế
nhưng chiến tranh có thể xảy ra tại khu vực
này trong tương lai hay không? Bản nghiên cứu về an
ninh của bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ trả lời là rất
có thể. Theo các bản tin của hảng thông tấn
Kyodo, một bộ phận cố vấn cho Bộ Trưởng
Quốc Pḥng Hoa Kỳ là Ủy Ban An Ninh Quốc Gia vừa
nghiên cứu và biên soạn bản phúc tŕnh.
Ta
có thể thấy rơ rệt là Hoa Kỳ vẫn để ư
Trung Cộng vốn là một thực thể “đại
cường” đứng đầu Á Châu. Ta cũng thấy
rơ Việt Cộng ở vào cái thế bị Trung Cộng
xích chặt như một con chó. Như vậy Cộng sản
Hà Nội không bao giờ có thể thành thật với Mỹ
trong bất cứ sự cam kết nào, trong bất cứ
t́nh huống nào. Dù các đại sứ Hoa Kỳ có lạc
quan, tin tưởng Cộng sản Hà Nội cách mấy
đi nữa, th́ sự thật cũng vẫn là sự thật.
Cộng sản Hà Nội nhầm lẫn ở điểm
quá tin tưởng vào quyền lực của một ông
đại sứ. Chúng tưởng cứ đánh lừa
được ông đại sứ th́ cả bộ Ngoại
Giao Mỹ cũng bị lừa luôn, nếu không có chiến
tranh th́ quyền lực bộ Ngoại Giao là mạnh nhất
trong chính quyền Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao đặt
ra chính sách, đường lối đối ngoại và
toàn thể chính phủ, kể cả Tổng thống,
đều phải theo và phải tin là đúng, là phải.
Nhưng
trong thế chiến lược th́ lại khác. Đây là một
vấn đề tối thượng với quyền lợi
và nền an ninh của Hoa Kỳ là quan trọng hơn cả.
Vấn đề Việt
Tính
theo Chiến lược th́ Bắc Kinh cũng đang kẹt
nhiều vấn đề, kể cả vấn đề
bị vây vào ṿng đai lửa, vấn đề Việt
Nam cũng không c̣n nằm trong tay một vài nhà ngoại giao
trung cấp mà đă được chuyển sang an ninh và quốc
pḥng Hoa Kỳ. Việt Nam đă trở lại cái thế
vào năm 1963, 1964 hay là gần 40 năm trước. Cái thế
chiến lược domino Sô Viết thập niên 60 ngày nay
đă trở thành domino Trung Cộng.
Nay
t́nh huống đă khác. Nước Việt
Người
Mỹ đă thành công chế tạo hỏa tiễn “chống”
hỏa tiễn từ lâu, từ đầu thập niên
1980, cái thời gọi là chiến tranh không gian (star war”.
Nhưng ngày nay, đúng vào thời điểm Bắc Kinh
yên chí là có thể dùng hỏa tiễn nguyên tử làm cái “dù
che” bảo vệ cho cuộc tiến công domino vào Việt
Nam và Đông Nam Á, th́ người Mỹ mới mang ra biểu
diễn, để chứng tỏ họ có thể vô hiệu
hóa toàn bộ hỏa tiễn Trung Cộng. Người Mỹ
chứng tỏ họ vô địch và không ai có thể
đẩy họ ra khỏi địa vị siêu cường
bá chủ và bảo vệ trật tự ḥa b́nh thế giới.
Ngược
lại, người Mỹ có quyền “mưa” hỏa tiễn
nguyên tử xuống lục địa Trung Hoa đó sẽ
là ngày đế quốc Trung Hoa tan ră, tàn tạ c̣n thê thảm
hơn đế quốc Nga Xô năm 1991. Chiến sách Tôn Tử
đả dạy: Tiên hạ thủ vi cường!.
Đánh kẻ địch sớm chừng nào hay chừng
đó và nên ra tay trước, không nên chậm trể v́ kẻ
địch sẽ có thể mạnh mẽ hơn hay khôn
ngoan hơn. Trong một cuộc đấu súng, phần thắng
về kẻ nào bắn giỏi, bắn nhanh và nổ súng
trước!. Bắc Kinh ngại ngùng v́ nếu trực diện
chiến tranh nguyên tử với Hoa Kỳ th́ cả nước
Tàu sẽ bị tiêu diệt. Nếu cứ đi nước
chậm, tiến từng bước th́ cũng vẫn thua
v́ kế hoạch quá lộ liễu.
Một
ẩn số khác làm điên đầu Cộng sản Hà Nội
là “ai” sẽ là người đứng ra lănh đạo
toàn dân Việt để tiêu diệt chúng? Lực lượng
và kế hoạch nào có thể tiêu diệt một chế
độ chuyên chế công an trị, vẫn thường tự
hào là không thể có đảo chính từ bên trong nội bộ
hay tấn công từ bên ngoài. Một điều thê thảm
cho Cộng sản Hà Nội là chúng biết chắc chắn
rằng sẽ chết nhưng không biết ai sẽ tiêu diệt
chúng và tiêu diệt bằng cách nào?.
Binh pháp yếm trá! (không phải
binh bất yếm trá). Việc quân sự chiến lược
đang diễn biến th́ không thể nói thật. Tác giả
chỉ có thể khẳng định là tập đoàn Cộng
sản Hà Nội và các tổ chức ngoại vi Cộng sản,
quốc doanh trong Mặt Trận Tổ Quốc, đặt
biệt là các tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng
đang hoạt động tại Hoa Kỳ, trong các diện
tị nạn chính trị, giả dạng HO (bằng cách hành hạ tra tấn hoặc bỏ
đói các tù nhân chính trị miền Nam cho chết rồi dùng tên
tuổi và số quân của họ ép uổng vợ con họ
ghép form để sang Hoa Kỳ dưới danh nghĩa cựu
tù nhân chính trị và tiếp tục nằm vùng hoạt
động cho Cộng Sản, tất cả những tṛ hề
rẻ tiền này Việt Cộng không qua mắt được
người Mỹ), ODP, bảo lănh, con lai v.v...chúng phải
bị loại bỏ càng sớm càng hay. Với người
hiểu biết chiến lược quân sự, cũng
như t́nh h́nh chiến lược sở trường, sở
đoản của đối phương, th́ Trung Hoa chỉ
là một con cọp giấy đang bị què quặt, không
có giá trị quân sự đáng kể. Dân tộc Việt
Nh́n
xa hơn nữa, cái thế kẹt của Hà Nội c̣n nặng
nề hơn nhiều. Hà Nội và Bắc Kinh đă không thể
lừa Mỹ bằng cách dùng tiền lợi nhuận từ
kinh tế hay thương mại với Mỹ để sửa
soạn domino. Kế hoạnh tiến tŕnh domino đă lộ
tẩy! Bắc Kinh càng ngày càng tỏ ra hung hăng hỗn
láo với Mỹ. Dù muốn, dù không người Mỹ
cũng phải coi Bắc Kinh và Cộng sản Hà Nội là
kẻ thù nguy hiểm. Việt Cộng sẽ hoàn thành
đường Trường Sơn vào năm 2003?, ta có thể
thấy đây có thể là một thứ “phản tin”
(Disinformation). Sự thật th́ chính công binh Trung Cộng sẽ
trực tiếp xây dựng cầu cống và các kiến
trúc đ̣i hỏi kỹ thuật cao và khó khăn, Bắc
Kinh không thể tin Cộng sản Hà Nội sẽ hoàn tất
công tŕnh xây dựng chiến tranh. Do đó họ phải làm
lấy cũng như họ đă xử dụng một
quân đoàn dă chiến và nhiều đơn vị công binh
để gở khoàng 2.3 triệu quả ḿn tại biên giới
Hoa-Việt, từ năm 1994 đến 1999 mới hoàn tất.
Bắc Kinh cần phải làm xong đường Trường
Sơn trong thời gian kỷ lục và đủ để
chuyển quân ngay trong năm nay!.
Một
lư do rùng rợn khác cho Cộng sản Hà Nội là khối
người Việt 80 triệu đang căm thù chúng đến
múc sôi sùng sục, chỉ chờ cơ hội là bùng nổ,
nổi loạn. Việt
Thành thử ông Bush phải được
đắc cử thêm một nhiệm kỳ nửa và nếu
ông Bush có ư định áp dụng biện pháp mạnh
đối với lũ tướng lănh Miến
Điện để chận đứng nạn
đầu độc nhân loại bằng ma túy của
bọn mafia được Trung Cộng đỡ
đầu nầy, th́ không nên kỳ vọng vào Ấn
Độ sẽ là đồng minh của Mỹ, v́ cố
vấn Nga sẽ không bao giờ để cho Ấn
Độ nghiêng mạnh về phía Hoa Kỳ và sẽ
khuyến cáo Ấn Độ nên có thái độ "kính
nhi viễn chi" đối với Hoa Kỳ là tốt
nhất, Một thí dụ cụ thể là ngày 24 tháng 6 vừa
qua, tổng thống Nga Putin đă tuyên bố trên đài phát
thanh về thị trấn Konigsberg được đổi
tên Kaliningrad khi Liên Bang Xô Viết chiếm đóng vào năm
1945 và nay lănh thổ nầy vẫn thuộc về nước
Nga; nhưng thật ra thị trấn Konigsberg trước
đây thuộc về nước Đức. Và cái gương của Ấn Độ có
là bài học cho Nga trong tương lai chăng, một ngày đẹp
trời nào đó con cháu của Hồng Thất Công tự
nhiên vứt bỏ Đả Câu Bổng, từ trong các
“trại Lao Cải” vượt tuyến chạy sang Nga
khoảng 50 triệu nửa th́ liệu ông trùm Puttin sẽ
tính sao đây?, vậy Nga và Ấn Độ có nên "kính
nhi viễn chi" chăng?.
Trong nhiều
năm qua bọn Cộng sản Hà Nội không bao giờ
dám nói lên, báo chí, phát thanh, truyền thông thân Cộng ở hải
ngoại lại càng không bao giờ nói đến. Lẽ giản
dị là hầu hết bọn Việt gian Cộng sản
và chó săn tay sai, quốc doanh c̣ mồi, đều quá ấu
trĩ, ngu dốt, kiêu căng, ích kỷ. Chúng tưởng rằng
chúng đang làm "chính trị Cộng sản" và chắc
chắn sẽ thành công, sẽ buộc Hoa Kỳ phải
thua chúng và phải cho chúng các đặc quyền, đặc
lợi và hàng trăm tỷ đôla đầu tư,
thương mại, viện trợ, cho vay. Đám c̣ mồi
Việt Gian ở Hoa Kỳ và hải ngoại chúng chỉ
lo bợ đỡ, nịnh nọt Cộng sản đến
mức không bao giờ nhắc nhở đến vấn
đề phải lật đổ hay tiêu diệt Cộng
sản. Chúng ngang nhiên công nhận sự hiện hữu của
Cộng sản. Chúng không bao giờ dám nhắc đến tội
ác Cộng sản. Chúng không bao giờ dám nhắc đến
ḷng căm thù Cộng sản của toàn thể dân tộc
Việt
Tuy
trông bề ngoài bọn nội thù Cộng Sản chúng vẫn
b́nh yên, nhưng không c̣n một thằng Cộng sản nào
nghĩ đến đảng, đến đồng chí,
đến chống Mỹ cứu nước. Tên Cộng sản
nào cũng đầy túi tham, biết cái chết đến
nơi và chỉ lo t́m đường chạy trốn.
Nhưng biết chạy đi đâu Lư tưởng duy nhất
hiện nay của chúng là chạy sang Mỹ! Nhưng hỡi
ơi, Bắc Kinh cũng hiểu điều này và không cho
chúng chạy sang Mỹ. Bọn Việt gian Cộng sản
phải làm bù nh́n chó săn, tay sai cho Bắc Kinh cho đến
khi nào Trung Cộng chiếm đóng toàn bộ Đông Nam Á
Châu. Bắc Kinh không thể chấp nhận cho Việt Cộng
phản thùng, trở cờ chạy theo Mỹ. Người
Tầu đă âm thầm hạ
sát và tiêu diệt tất cả những tên Cộng sản
"muốn" đi với Mỹ và chống Tầu và
những tên Cộng sản đang hoạt động và
trú ngụ tại Hoa Kỳ. Nhưng c̣n nước th́ c̣n
tát, bọn cán bộ Cộng sản ở Hoa Kỳ và bọn
ở Việt Nam muốn chạy trốn sang Mỹ vẫn
c̣n mơ mộng hăo huyền rằng Mỹ sẽ dung nạp
chúng, sẽ sử dụng chúng như một lực lượng
khả dĩ đối đầu với Trung Cộng.
Trung Cộng "đă" thôn tính Việt Nam và dùng bọn
bù nh́n người gốc Hoa như: Lê Khả Phiêu, Lê Minh
Hương, Phan văn Khải, Phạm văn Trà, Nguyễn
Tấn Dũng, Trương Mỹ Hoa. Đứng sau
lưng bọn này c̣n có tên toàn quyền người Tầu
và khoảng 250,000 ngàn cán bộ, gián điệp Tầu. Bắc
Kinh chưa cần phải sử dụng quân đội và
vũ khí chiếm đóng Việt
Tháng 7 năm 2003 vừa qua Trung Cộng
coi như đă chiếm xong Miến Điện, Đông
Dương với 3 nước Việt Miên Lào. Đầu
tháng 9 năm nay 2003 bắc Kinh ra thông báo cho dân Tầu đi
du lịch thoải mái ra nước ngoài, nhưng thanh niên Tầu
“chỉ thích” đi du lịch ở 3 nước đông
dương , (Việt Miên Lào) Miến Điện và Cộng
Ḥa Nga, (đây là lối chiến thuật chuyển quân
tương đối mới), một nguồn tin từ Bộ
Quốc Pḥng xin miễn nêu tên cho hay vào giữa tháng 8 2003
Trung Cộng đă bí mật đưa thêm khoảng 250 ngàn (250,000) quân qua đông dương và đang uy
hiếp, khống chế Thái Lan và Tân Gia Ba Indonesia, Lào và Phi
Luật Tân th́ đang hỗn loạn bởi bàn tay gián
điệp Trung Cộng. Các nước Đông Nam Á ngay sau
khi Bắc Kinh công khai khống chế biển Nam Hải và
con đường hải vận qua biển Nam Hải,
quan trọng vào bậc nhất thế giới phần lớn
thành phần lănh đạo chính trị và kinh tế của
các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam hiện
nay, đều là người gốc Hoa. Riêng Thái Lan có
hơn 7 triệu người Hoa và gốc Hoa trong số 60
triệu dân, lănh đạo mọi ngành. Bắc Kinh sẽ
xua nhiều triệu quân Tầu chiếm đóng Đông Nam
Á theo lối diệt chủng dân địa phương,
theo kiểu lấy thịt đè người, Bắc Kinh
đang chuẩn bị những phương tiện cần
thiết cho một chiến lược đại quy mô và
tân tiến. Đó là vấn đề xây dựng đường
xá, cầu cống, hải cảng, tiếp liệu xăng
dầu, và quan trọng nhất là xây dựng các pháo đài,
các căn cứ hỏa tiễn cùng với xa lộ Trường
Sơn dài hơn 1,000 dậm/miles (khoảng 1600 cây số)
để khống chế toàn bộ vùng biển Nam Hải,
Bắc kinh sẽ bất thần tấn công Đệ Thất
Hạm Đội Hoa Kỳ, Guam và quần đảo Hạ
Uy Di. Các yếu tố địa h́nh chiến lược
(geostrategic position) của Đông Nam Á và sự bành trướng
phối trí chậm chạp (slow deployment) của bối cảnh
sự triển khai toàn diện (full strategic development) địa
bàn chiến lược. Nếu tính từ thập niên 1990
đến nay 2003 th́ Bắc Kinh đă thực hiện
"xong" kế hoạch chiến lược tiến
chiếm Đông Nam Á mà không cần phải trực diện
nổ súng.
Bắc
Kinh thong thả, không cần vội vàng v́ người Tầu
thấy rằng không có ai, kể cả Hoa Kỳ có kế
hoạch chiến lược cụ thể khả dĩ
đối phó hay ngăn cản. Bắc Kinh tin tưởng
chắc chắn rằng không có ai, nhất là Hoa Kỳ, có
can đảm đưa quân vào lục địa Á Châu
để đối đầu với họ. Chiến
tranh tại lục địa Á Châu là một cơn ác mộng
hơn là một chiến lược, mà không chiến lược
gia hay tướng lănh quân sự nào dám nghĩ tới. Đối
với Bắc Kinh, Á Châu đă là lănh thổ của họ từ
ngàn xưa, Đông Nam Á là món đồ nằm trong túi, cất
kỹ trong tủ sắt của Trung Cộng, và nước
Việt nam chỉ là một tỉnh nỗi loạn của
Tầu, như trong các sách giáo khoa mà Tầu đă dạy dân
của họ, khi các cầu đường chiến lược,
các hải cảng, cơ sở lọc dầu ở Việt
Nam, các sân bay, bệnh viện, ống dẫn dầu
được chuẩn bị xong trong đầu năm
2003, th́ cuộc chuyển quân của Bắc Kinh xuống
phía Nam sẽ bắt đầu. Bọn
lănh đạo đảng Cộng sản Hà Nội chỉ
cần kêu rầm là đang bị Hoa Kỳ đe dọa tấn
công và cầu cứu Bắc Kinh, là đủ lư do cho quân Tầu
tràn vào chiếm đóng Bắc Việt để bảo vệ
chế độ Cộng sản Hà Nội bù nh́n của Tầu.
Lịch sử Việt Nam hơn một ngàn năm dưới
sự thống trị diệt chủng đồng hóa của
Trung Hoa và cuộc chiếm đóng 30 năm của quân Minh từ
năm 1396 đến 1427, và gần đây nhất là trận
đánh kiểu "diệt chủng" tại Lạng
Sơn, biên giới Hoa - Việt tháng 2 năm 1979, th́ ta hiểu
rằng lần này người Tầu cương quyết
tiêu diệt dân tộc Việt Nam, một dân tộc duy nhất
trong hơn 2 ngàn năm qua, đă bẻ gẫy mọi cuộc
tiến quân của Trung Hoa xuống phía Nam để chiếm
đóng toàn bộ Á Châu.
Ta
có thể h́nh dung quân Tầu tràn ngập Việt
Chỉ
trong một thời gian ngắn Trung Cộng dùng chiến
lược "lấy thịt đè người" có thể
đưa nhiều triệu quân tràn ngập Việt Nam và
Đông Nam Á, đe dọa toàn thể Á Châu và thế giới,
và không quá 10 năm, Việt Nam và các nước Đông Nam Á
có thể bị xóa tên hẳn trên bản đồ thế
giới. Trong trường hợp diễn tiến như
trên Hoa Kỳ có thể sử dụng vũ khí nguyên tử
và Việt
Vào
năm 2000 Trung Cộng làm thân với Nga ở phía Bắc và
lấn chiếm Lào, diệt chủng người Hmong ở
Lào. Họ ra lệnh cho Cộng sản Hà Nội xúc tiến
làm đường xa lộ Lạng Sơn - Hà Nội dài
160 cây số và đă hoàn tất cuối tháng 1, 2001, với
ngân khoản $120 triệu đôla do Ngân Hàng Phát Triển Á
Châu cho vay con đường này được nối liền
với xa lộ số 5 nối liền Hà Nội với cảng
Hải Pḥng. Hà Nội cũng được lệnh từ
Bắc Kinh phải xây thêm 5 cây cầu vượt sông Hồng.
Những cầu này mỗi chiếc dài khoảng 3 cây số
(2 dậm/miles), rộng 8 làn xe với 32 mét ngang, sẽ
được xây dựng tại Thanh Tŕ, Nhật Tân,
Vĩnh Tuy, Thượng Cát và Từ Liêm. Mỗi cây cầu
trị giá khoảng $400 triệu mỹ kim hay là hơn 2 tỷ
mỹ kim cho cả 5 cây cầu. Cầu Thanh Tŕ đă
được khởi công xây cất từ lâu để
hoàn thành vào cuối năm nay (năm 2003). Cộng sản Hà
Nội có thể được Ngân Hàng Thế Giới và
Phát Triển Á Châu cho vay tiền hoặc du di từ những
dự án khác. Thí dụ Ngân Hàng Thế Giới đă
đưa cho Hà Nội một sự án xây đường
xe điện (métro) ngầm và nổi cho vùng Saigon, Chợ Lớn,
Vũng Tầu, trị giá $2,650 triệu đôla Bắc Kinh
cũng ra lệnh cho Hà Nội xây dựng cảng Vũng
Áng ở Hà Tĩnh để tiếp nhận tiếp tế
cho những đoàn quân xâm lăng tiến xuống Đông
Nam Á. Dĩ nhiên xa lộ Trường Sơn sẽ dùng làm
xương sống cho hệ thống pháo đài, căn cứ
quân sự và căn cứ hỏa tiễn để khống
chế toàn vùng Đông Nam Á và bất thần tấn công
Đệ Thất Hạm Đội .
Chỉ
riêng 5 cây cầu vượt sông Hồng, cộng thêm 3 cây cầu
đă có sẵn, ta có thể thấy Trung Cộng chuẩn bị
đưa nhiều triệu quân xuống phía Nam, tràn ngập
các quốc gia Đông Nam Á. Những con đường Xuyên
Á từ bờ biển Việt Nam xuyên qua Bắc Thái Lan
đến Miến Điện, bờ biển Ấn Độ
Dương, và những con đường từ Vân Nam Quí
Châu xuống Miến Điện, xa lộ Trường
Sơn cũng đang được hoàn thành. Ta cũng có
thể thấy Cộng sản Hà Nội đă trở thành
bù nh́n, chó săn cho Bắc Kinh, và tiếp tay quân đội
Tầu chiếm cứ Việt Nam và các nước khác.
Vấn
đề tiêu diệt Cộng sản Hà Nội trở nên gấp
rút hơn bao giờ hết! Việt
Ta
có thể ước lượng chỉ trong vài ba năm nữa,
Bắc Kinh sẽ khống chế toàn bộ Đông Nam Á và
Á Châu và có ảnh hưởng chính trị, quyền lực
mạnh mẽ từ Âu sang Á. Hoa Kỳ sẽ bị hạ
giá xuống thành cường quốc hạng nh́. Lúc đó,
với sự tổ chức Thế Vận Hội tại
Bắc Kinh năm 2008, cả thế giới sẽ đến
"thiên triều" Bắc Kinh để "chầu"
và treo cờ, tranh giải. Vậy vấn đề
được đặt ra là làm sao cho Cộng Sả Hà Nội
và Cộng Sản Bắc Kinh sụp đổ càng sớm
càng hay!
Đứng
trên b́nh diện chính trị cao và siêu chiến lược quốc
tế, th́ mấy tên cán bộ cục Phản Gián gần chết
như Đặng Phúc Tuệ tức Thích Quảng Độ,
Nguyễn văn Năng tức Thích Thanh Cát, Lê đ́nh Nhàn tức
Thích Huyền Quang, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện,
Nguyễn Thanh Giang.... (tất cả những tên này đều
mang quân hàm Tướng Công An) đều là những tên mù tịt
tiếng Anh, th́ làm nên cơm cháo ǵ với siêu chiến
lược quân sự của Hoa Kỳ? Hoạt động
chính trị, gián điệp, tuyên vận, kiều vận, tại
Hoa Kỳ mà chỉ nhờ vào mấy tên chó săn, tay sai, c̣
mồi tung hứng, hoan hô, cổ vũ trên các hệ thống
truyền thanh báo chí của
chúng th́ làm sao thành công? Rồi lại được mấy
tên Việt gian trở cờ dốt như Vẹm, tiếng
Anh chỉ đủ đi chợ và loan truyền tin đồn
nhảm, giầu tưởng tượng lạc quan tếu,
th́ Tổng Cục Phản Gián Yết Kiêu Hà Nội sẽ
phải chết thật nhanh th́ cũng đúng thôi.
Từ
bây giờ và cho đến khi Cộng sản bị tiêu diệt,
sẽ chẳng có tên tổng bí thư Cộng sản Hà Nội
nào được đến Bạch Cung gặp tổng thống
Hoa Kỳ, hội hợp, hợp tác thượng đỉnh. Người Mỹ để
dành sự gặp gỡ thượng đỉnh cho lănh
đạo người quốc gia trong tương lai. Vị
lănh đạo này sẽ được sự hợp tác và
ủng hộ toàn diện của Hoa Kỳ và quốc tế.
Vấn
đề Cộng sản Hà Nội lệ thuộc Bắc
Kinh, làm bù nh́n, tay sai, bán nước cho Tầu là chuyện
rơ ràng, ai cũng biết. Chỉ có bọn tay sai, nằm
vùng hoạt động cho Cộng Sản tại Hoa Kỳ
là không bao giờ dám lên tiếng nhắc đến chuyện
này. Nhưng TCPG "quên" rằng Hà Nội không c̣n một
chút síu liên lạc và vận động hành lang hay là "cảm
t́nh" ǵ với Hoa Thịnh Đốn. Bọn lốp bi
đă hết làm việc từ lâu rồi. Chính quyền của
TT Bush toàn là những bộ mặt... chiến tranh với
những nhân vật từng có những kinh nghiệm và kỷ
niệm cay đắng, sắt máu với Cộng sản Hà
Nội. Bộ trưởng Ngoại Giao Colin Powell là một
cựu chiến binh từng đánh nhau ở Việt
Đầu
tháng 3, hầu như tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ
đều cho cắm "lá cờ POW-MIA với h́nh người
tù binh Mỹ cúi đầu bên chấn song sắt" cùng với
lá cờ tiểu bang và liên bang. Đây là dấu hiệu rơ
ràng cho Hà Nội thấy rơ vấn đề người Mỹ
mất tích mà Hà Nội c̣n giam giữ vẫn là sự quan
tâm hàng đầu trong mọi thương lượng,
cũng từ đầu năm các tiểu bang và thành phố
trên nước Mỹ đua nhau ra Nghị Quyết cho cắm
cờ Việt Nam Cộng Ḥa (cờ vàng ba xọc đỏ)
(Logo?), để biểu hiện tinh thần chống Cộng
của người Việt Nam tự do đang sinh sống
trên đất nước Hoa Kỳ. V́ "quên" như
vậy nên Tổng Cục Phản Gián đă hố to khi
không chịu thay đổi kế hoạch chiến thuật
và nhân sự. Ngày nay, những tên như : Đặng Phúc Tuệ
tức Thích Quảng Độ, Nguyễn văn Năng tức
Thích Thanh Cát, Lê đ́nh Nhàn tức Thích Huyền Quang, Nguyễn
Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện, Đoàn viết Hoạt,
Nguyễn Thanh Giang... đă hết
ăn khách chúng chỉ là những con số không to tướng
với chính quyền Hoa Kỳ. Lâu lâu người ta mới
thấy nhà "Thơ Con Cóc" Nguyễn Chí Thiện xuất
hiện một lần "bố Thiện" nói đến
văng cả nước bọt mà cũng chỉ có trên
dưới vài chục tên c̣ mồi ngồi nghe. Thật là
tội nghiệp cho ông Thiện vào ngày 17 tháng 8 năm 2003 bọn
c̣ mồi tổ chức buổi nói chuyện cho ông Thiện
tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng Việt Nam tại
bắc California, mà cũng chẳng có ma nào thèm nghe. Nhưng
cũng đáng mừng cho ông Thiện là sau 27 năm "
làm ngục sĩ", vừa bịnh ho lao, vưà lé, vừa
lưng gù, ngày nay, sau khi ở mỹ được 8
năm ông Thiện nhờ "Đế Quốc Mỹ"
nuôi ăn nuôi ở cho nên ông
Thiện trông Béo ra, "Tướng
Tốt" như một “lănh tụ” người Việt
Nam ở hải ngoại, (3 tấm
ảnh ông Thiện mặc áo vét (vest) cổ cồn chụp
vào năm 1951, 1958 và 1959 được in trong tập
thơ " Hạt Máu Thơ hay
là Hoa Địa Ngục 2 " của ông Nguyễn Chí Thiện
cho thấy " nhà Thơ " Nguyễn Chí Thiện không bị
lé, hơn nửa từ năm 1956 cho đến năm 1958
cả miền bắc kinh hoàng v́ Đảng Cộng Sản
trong chiến dịch đấu tô Nhân Văn Giai Phẩm,
và trước đó là chiến dịch Phản Phong do Cộng
Sản chủ trương, vậy thời đó ông Thiện
là ai mà đi đâu cũng Com Lê Áo Vét? trong khi cả Miền
Bắc thời đó hàng triệu triệu người
đang khốn khổ, không có cơm ăn áo mặc đói
rét , th́ chỉ có ông Thiện và gia đ́nh ông được
ăn no mặc đẹp quư độc giả tự suy
nghiệm lấy muốn biết thêm xin độc giả vào trang
Web. www.dominotrungcong.com). Từ năm 1992 đến nay, hầu
như mỗi ngày, trên báo đảng đài đảng hải
ngoại chỉ nghe thấy tin tức do tên "bịp phịa"
Vơ văn Ái tung tin nào là Cộng Sản đàn áp tôn giáo trong
nước dữ lắm, Cộng Sản bắt bớ tra
tấn các tu sĩ Phật Giáo rất dă man, nào là "bắt
rồi lại thả", "bỏ tù rồi lại
tha", tịch thu máy vi tính, công an bỏ các "Ngài"
ngoài đường trước cổng chùa để
"ngài tăng thống Vẹm" Thích Huyền Quang phải
đi bộ vào chùa," nào là quản chế tại
gia" nhưng vẫn ở trong chùa, vẫn tự do
đi khắp nơi, khắp nước, chửi bới
công an Cộng sản như chửi chó, mà vẫn không sao!.
Rồi báo chí, phát thanh, thông tin Cộng sản loan báo rầm
rầm là Cộng sản đàn áp tôn giáo ghê gớm lắm.
Hơn
mười mấy năm qua, hay là vào đầu thập
niên 1990, Cộng sản Hà Nội đă nhập cảng
văn hóa Tầu vào Việt
Người
Việt hải ngoại và trong nước vẫn chỉ là
một khối 80 triệu người thầm lặng. Họ
không có một tiếng nói, một tờ báo hay đài phát
thanh ở bất cứ đâu. Lẽ giản dị là bọn
Việt gian Cộng sản và lũ chó săn, tay sai, c̣ mồi
quốc doanh đă chiếm lĩnh, kiểm soát hầu hết
báo chí, sách báo, và các đài phát thanh hải ngoại. Chúng
đang tiếp tay cho hai kẻ nội thù và ngoại thù là
Việt Cộng - Trung Cộng tiêu diệt dân tộc Việt
Đây
là sự thật chiến lược và tại sao đất
nước và dân tộc Việt
Nói
chung, từ 1995 đến nay, chính trị chiến lược
của Cộng sản Hà Nội hoàn toàn không có ǵ thay đổi
hay mới lạ. Vẫn con đường chủ
nghĩa xă hội một chiều Cộng sản Hà Nội
ở trong cái thế "trên đe, dưới búa" hay
là cái thế kẹt, thế chết. Bắc Kinh th́ kềm
kẹp chặt chẽ từ lời ăn tiếng nói, từng
bước đi, đứng, th́ làm sao đi với Mỹ?
Đối với Mỹ th́ Cộng sản Hà Nội không
bao giờ có thể thành thật, mà người Mỹ th́
không thể chấp nhận sự dối trá, lường
gạt. Ngoài ra, c̣n vấn đề chiến lược. Cộng
sản Hà Nội ở vào cái thế một tên đầy tớ
gian manh, ăn cắp, giảo quyệt, phản trắc, sớm
đầu tối đánh, nói láo như ranh.... th́ không có
"ông chủ" nào chịu nổi. Vấn đề cán
bộ Cộng sản giầu có, trở thành tư bản
đỏ, muốn chạy trốn sang Mỹ định
cư, an hưởng của cải ăn cướp, th́ lại
càng mơ hồ, xa vời hơn nữa. Nhiều chuyện
"tai nạn bất ngờ" đă khiến cho các diễn
biến chiến lược thay đổi thật nhanh và
có lợi cho dân tộc Việt
Năm
1945, toàn dân Việt
Gần
đây có tin cho hay là Lê Khả Phiêu "bị hạ bệ"
th́ đây chỉ là một màn c̣ mồi nhiều mặt. Mặt
thứ nhất là dụ cho các đảng viên cấp cao
thân Mỹ chống Tầu "lên tiếng" phụ họa
để giết, tiêu diệt làm sạch sẽ đảng
Cộng Sản với những tên thân Mỹ, manh nha đi
với Mỹ. Mặt khác th́ dụ Mỹ rằng các anh cứ
vào Cam ranh đi, chúng tôi đă khóa tay Lê Khả Phiêu tên cán bộ
Tầu, rồi bất thần tấn công Đệ Thất
Hạm Đội. Mặt khác nữa là nhử mồi bọn
cán bộ tuyên vận và bọn tay sai chó săn c̣ mồi, bọn
làm kinh tế, gián điệp nằm vùng tại Hoa Kỳ
là Đảng vẫn có khả năng đi với Mỹ,
đừng vội bỏ chạy hay phản thùng (jump
ship)!. Nếu hiểu Cộng sản th́ ta biết ngay tṛ bịp
Cộng sản. Với chức vụ tổng bí thư, Lê
Khả Phiêu có toàn quyền sinh sát. Thật ra th́ Lê Khả
Phiêu có toàn quyền sinh sát ngay từ cuối năm 1989 với
sự hậu thuẫn của Bắc Kinh. Phiêu đă ra lệnh
hạ sát Phạm Hùng bằng thuốc độc ngay
năm 1990 để cắt đứt vấn đề
giao hảo, liên minh quân sự với Mỹ.
Năm
1991, chính Phiêu đă hạ bệ bộ trưởng Công An
Mai Chí Thọ và bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn
Cơ Thạch v́ hai tên này chủ trương đi với
Mỹ. Tổng Cục Phản Gián cũng được lệnh
Phiêu cho gián điệp nhà thổ Dương thu
Hương đốt cháy con bài "đi với Mỹ"
là bác sĩ Bùi Duy Tâm vào tháng 3/1991. Năm 1991, 1992, Phiêu
cũng ra lệnh giết các tướng Trần B́nh (bằng
đụng xe), Hồng Lam (bằng súng hăm thanh), Lê Trọng
Tấn và Hoàng văn Thái (bằng thuốc độc bỏ
trong nước uống). Những người này là tướng
giỏi có uy tín với quân đội và có tinh thần, chủ
trương điều quân chống Trung Cộng. Phiêu có
tướng ti hí mắt lươn, mặt hơi ngái ngủ,
là tướng của một tên đại dâm, và cũng là
đa sát. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu không giết ai th́
thôi, chứ "bố thằng nào" dám tính chuyện hạ
bệ tổng bí thư? ta nên nhớ rằng bọn Cộng
Sản không bao giờ chia quyền lực cho ai kể cả
người của chúng, v́ chúng có quá nhiều kinh nghiệm
giết người cướp của, cho nên chúng biết
rằng, một khi rời khỏi quyền lực th́ sẽ
bị những tên Cộng Sản khác hay là chính những tên
thủ hạ của chúng sẽ t́m mọi cách giết ngay
để cướp đoạt tài sản và quyền lực
Bắc
Kinh hiểu bọn Cộng sản Hà Nội là bọn chó
đẻ phản phúc nhất, nên họ kềm giữ thật
chặt chẽ, không cho cục cựa hay phản thùng
đi với Mỹ. Người Tầu khinh bỉ coi
thường bọn Cộng sản Hà Nội là thứ chó
đẻ hèn mạt nhất, không thể tin tưởng
chúng bất cứ điều ǵ. Mỗi khi họp Trung
Ương Đảng, Quốc Hội hay đại hội
đảng tại Hà Nội đều phải có cán bộ
Tầu Cộng ngồi ngay hàng ghế đầu, hay ngồi
ghế chủ tọa, để cố vấn, chỉ
đạo, ra lệnh. Cộng sản Hà Nội chỉ là một
lũ chó săn ngậm miệng, không dám sủa lên một
tiếng gọi là có. Lê Khả Phiêu làm chó săn bù nh́n của
Bắc Kinh đương nhiên sẽ ở lại cho đến
khi t́m ra một con chó săn khác của Bắc Kinh thay thế.
Ta có thể nh́n thấy ngay Cộng sản Hà Nội chỉ
là chư hầu, chó săn cho Bắc Kinh, ngay từ thập
niên 1950, từ tên đồ tể Hồ Chí Minh cho đến
ngày nay, th́ làm ǵ c̣n chủ quyền, độc lập?,
nhưng chúng lúc nào cũng to mồm nói tự chủ, tự
do, xâm phạm chủ quyền mỗi khi chúng bị thế
giới lên án chỉ trích. Cộng sản ngu đến nỗi
cố gắng bám chặt quyền lực thống trị.
Chúng tưởng mọi người Việt sẽ mắc
lừa chúng với vài ba tên c̣ mồi nhân quyền, ḥa giải,
ḥa hợp, phản kháng, phê đảng và quên đi vấn
đề tiêu diệt Cộng sản. Cộng sản cần
phải hiểu rằng sức mạnh tiêu diệt Cộng
sản không ở trong tay một số hội đoàn của
người Việt hải ngoại. Những hoạt
động hải ngoại của Cộng sản đă trở
thành những cuộc tấn công vào khoảng không!. Nhưng
ai sẽ tiêu diệt Cộng sản, và ở đâu, từ
đâu đến, là điều khó đoán trước?.
Làm sao biến căm thù thành hành động và sức mạnh
tiêu diệt Cộng sản đó mới là vấn đề
chính.
Trong
bài diễn văn tuyên thệ nhậm chức của Tổng
Thống G. W. Bush đọc trước Lưỡng Viện
Quốc Hội Hoa Kỳ. Một điểm đáng chú ư là
Ṭa Bạch Cung không mời bất cứ một thân hào, nhân
sĩ, tôn giáo, đảng phái, báo chí, phát thanh nào trong các cộng
đồng Việt Nam, kể cả đại sứ Cộng
Sản Hà Nội Lê văn Bàng, làm đại diện cho khối
dân tộc Việt Nam. Bạch Cung cũng không mời bất
cứ sắc dân nào trên thế giới. Bạch Cung đă mời
một người Việt Nam "vô danh", anh Lê Minh 29 tuổi,
làm "đại diện" dân tộc Việt Nam, đến
ngồi chung danh dự cùng với gia đ́nh tổng thống
Bush khi ông đọc diễn văn!. Như vậy chính quyền
Hoa Kỳ đă "nh́n ra" sức mạnh vô địch
của 80 triệu người Việt
Ngày
27 tháng 4, 1995, trung tướng Dương Thông, tổng cục
trưởng Tổng Cục Phản Gián, bị Lê Khả
Phiêu ra lệnh đầu độc giết chết.
Dương Thông vốn dĩ là tai mắt của chế
độ và đảng Cộng sản từ thập niên
1950. Dương Thông đă ngăn ngừa mọi sự mâu
thuẫn, sô sát và nổi loạn, đảo chính, trong nội
bộ đảng. Sau khi giết được
Dương Thông, Lê Khả Phiêu hoàn toàn thao túng đảng Cộng
sản Hà Nội và tiêu diệt phe người Việt chống
Bắc Kinh và muốn đi với Mỹ. Với người
Việt quốc gia, Lê Khả Phiêu đă có "công" khi
tiêu diệt bớt một số đảng viên Cộng sản
nguy hiểm. Sau này, vấn đề tiêu diệt Lê Khả
Phiêu và bọn cán bộ đảng viên cấp cao thân Bắc
Kinh sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng. Cũng cần phải
nhắc lại là chính Lê Khả Phiêu đă ra lệnh giết
thủ tướng Phạm Hùng năm 1990 và hai tướng
CS Hoàng văn Thái và Lê Trọng Tấn - hai tướng có
tài và rất có uy tín trong quân đội CS và có thể điều
quân chống xâm lăng Trung Cộng - đă bị Phiêu ra lệnh
đầu độc giết chết trước khi hai
tướng này nắm giữ bộ Quốc Pḥng. Sau
đó, Phiêu chỉ định tướng Đoàn Khuê, một
tướng "Tầu" lên nắm bộ Quốc Pḥng.
Ngày
28 tháng 2, 2001, tổng thống Nga Vladimir Putin đến Hà Nội
để bàn chuyện mua bán vũ khí, chuyện nợ nần
và Vịnh Cam Ranh. Hà Nội hí hửng mừng thầm. Hà Nội
xin được Nga giảm nợ từ 10 tỉ đôla
xuống 85% c̣n 1.5 tỉ đôla và trả trong 23 năm, mỗi
năm 100 triệu, bằng cà phê và gạo. Cộng sản
Hà Nội tính rằng Nga phải trả tiền thuê Cam Ranh
là 2 tỉ đôla cho đến năm 2004 và định
dùng tiền này để mua vũ khí Nga để...
đánh Mỹ, hay là dùng áp lực quân sự buộc Mỹ
phải cho quy chế tối huệ quốc và viện trợ
đầu tư. Nhưng TT Putin trả lời thẳng thừng
là năm 1979, trong một hiệp ước, Cộng Sản
Hà Nội đă cam kết cho Nga sử dụng cảng Cam
Ranh "miễn phí"! Một nhà ngoại giao Mỹ ở
Hà Nội nói thẳng: "Vấn đề Hà Nội muốn
cho Nga thuê Cam Ranh 5 năm nay 10 năm, chẳng quan trọng
ǵ đối với chúng tôi" Bọn Cộng sản Hà Nội
muốn đi với Mỹ quá nên thích tạo dựng và thổi
phồng rằng Mỹ rất thích Cam Ranh, sẽ
"vào" Cam Ranh, và chính bản thân chúng hi vọng rằng
chuyện có thật để chúng được chạy
trốn sang Mỹ.
T́m
hiểu lịch sử th́ Cộng sản Hà Nội giả
vờ quên. Ngày 17 tháng 2, 1979, trong cái lạnh 0 độ, gần
2 triệu quân Trung Cộng tràn qua hơn một ngàn cây số
biên giới từ Lạng Sơn đến Lào Kay và tiêu diệt
toàn bộ quân trú pḥng Việt Cộng, khoảng 70 ngàn quân.
Trung Ương đảng và bộ Chính trị tưởng
quân Tầu kéo vào Hà Nội ngay, chỉ cách khoảng 140 cây số,
nên vội vă bỏ chạy như ma đuổi vào Saigon.
Quân Tầu dọn dẹp sạch sẽ toàn biên giới
trong một trận đánh "diệt chủng"
(genocidal warfare) đầu tiên của thế giới trong thế
kỷ 20, xong rồi rút ngay và nói là cho Cộng sản Hà Nội
một "bài học". Người Tầu úy kỵ Nga
Xô sẽ đánh từ phía Bắc xuống và Cộng sản
Hà Nội đánh từ phía
Ngày
14/12/1995, một đoàn cán bộ cấp cao của đoàn
Cộng sản Trung Cộng do Jia Qinglin (Giả Thanh Lâm), bí
thư tỉnh ủy Phúc Kiến và cũng là ủy viên
trong ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng sản
Trung Cộng, cầm đầu để "giúp" Cộng
sản Hà Nội viết "Cương Lĩnh Chính Trị"
(Political Platform) cho Đại hội đảng kỳ 8.
Phái đoàn đến ở Hà Nội trong 2 tuần và
đi - không được thông tin cho báo chí biết.
Cương Lĩnh này hoàn toàn cứng rắn, không đổi
mới, không dân chủ và không đi với Mỹ. Đầu
năm 2001, người Tầu cũng đến Hà Nội
để viết Cương Lĩnh "dùm". Trung
Ương Đảng hội họp liên miên về cái
Cương Lĩnh Chính Trị "thổ tả" này.
Dù sao th́ Đảng Cộng Sản Hà Nội phải nghe
"lệnh" từ 3 quan sát viên Trung Cộng có mặt
thường trực ngay tại Hà Nội cán bộ Tầu
có mặt mỗi khi họp Quốc Hội, họp Trung
Ương Đảng và bộ Chính Trị, Bắc Kinh kềm
giữ Hà Nội vô cùng chặt chẽ, không cho nhúc nhích cục
cựa.
Chủ
Thuyết Cộng Sản là biến các tên lănh đạo
Đảng trở thành những tay tư bản đỏ
cho nên phần lớn các tên tư bản đỏ ở Việt
Nam v́ đă bóc lột, vơ vét xương máu và tham
nhũng của dân quá nhiều tiền nên đă t́m cách nghỉ
hưu non và muốn ôm tiền chạy trốn sang Mỹ,
c̣n bọn đang lănh đạo lại là những tên
ăn chưa no và vơ vét chưa đầy túi, chưa có
hàng trăm triệu gởi các nhà băng (bank) ngoại quốc
và bị buộc phải làm theo lệnh Bắc Kinh. Lệnh
Bắc Kinh quái ác ở chỗ phải tiêu diệt bất cứ
tên nào manh nha trốn đi Mỹ và chuyển tiền sang Mỹ
rồi cho vợ con sang Mỹ trước. Phe tư bản
đỏ có quá nhiều tiền, chúng tính chẳng dại
ǵ ở lại chịu chết, nên cố chuyển tiền
và chạy trốn sang Mỹ. Nhưng tính là một chuyện.
Mang được tiền vào Mỹ an toàn lại là chuyện
khác. Rồi đến bản thân có vào được Mỹ
sinh sống hay không lại là chuyện khác nữa!, mà vợ
con đă sống ở Mỹ rồi th́ có được sống
yên thân hay không lại là chuyện đáng nói khác. Riêng bọn
cán bộ tư bản đỏ có nhiều tiền th́ tính
đường chuyển tiền sang Mỹ và bỏ chạy.
Bọn này hiểu rằng t́nh h́nh quá nguy ngập với
toàn thể nhân dân thù hận bên trong, Bắc Kinh đè đầu
cưỡi cổ, và Mỹ th́ chỉ có bánh vẽ nơi
đầu lưỡi, đầu môi. Cái thế 80 triệu
người thù hận với hai anh khổng lồ chận
đầu, chận đuôi, th́ làm sao sống, làm sao tồn
tại, làm sao chạy trốn?. T́nh h́nh c̣n nguy khốn
hơn nữa nếu Hoa Kỳ bỏ rơi luôn, cắt
đứt mọi viện trợ, cho vay, cắt bỏ mọi
thứ chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ, th́ cán bộ
Cộng sản tư bản đỏ, giầu có chỉ
c̣n có nước khóc. Không có tiền Mỹ, Bắc Kinh sẽ
ra lệnh lột của tư bản đỏ lấy tiền.
Ta có thể thấy một màn rùng rợn là Cộng sản
làm thịt lẫn nhau. Mang cái "mác thân Mỹ" cũng
có nghĩa là bản án tử h́nh, tiền bạc bị lột
sạch sẽ. Từ năm 1995 đến nay, nhiều
người Việt đă phát tài v́ mang tiền mặt sang
Mỹ dùm cho cán bộ để hưởng hoa hồng,
khoảng 20%. Một số văn pḥng chuyển tiền
đă trở thành rửa tiền (Money Laundering) hay là ủi
tiền cho tư bản đỏ. Nhưng hầu như
những món tiền khổng lồ thất tán, xé lẻ khi
qua nhiều tay, nhiều giai đoạn. Trong khi đó th́
chính chủ nhân những số tiền khổng lồ này
c̣n bị kẹt ở Việt
Ngày
27 tháng 3, truyền h́nh Cộng sản Hà Nội đă chiếu
một đoạn phim ngắn về cuộc "nổi
loạn" của đồng bào Thượng. H́nh ảnh
cho thấy những người biểu t́nh dùng
"súng" cao su (ná thung) bắn đạn sỏi vào bộ
đội, công an mang súng AK! Ta có thể h́nh dung người
Thượng thấy sự tàn sát và cái chết đến
nơi đă phải dùng "súng" cao su chống lại
trong tuyệt vọng, 24 người Thượng chạy
sang Căm Bốt, tỉnh Mondolkiri, và bị bắt, khai rằng
c̣n khoảng 1,100 người Thượng (đàn ông)
đang chạy trốn khi quân Cộng sản bố ráp,
tiêu diệt họ. Nhưng số 1,100 người đă biến
mất tiêu, có lẽ họ đă bị Cộng sản tiêu
diệt. Chính quyền Hun Sen chuẩn bị giao những
người Thượng khốn khổ này cho Việt Cộng
và đó là cái chết chắc chắn cho họ. Tổng cộng
số "vũ khí" mà Cộng sản tịch thu
được của người Thượng Cao Nguyên
"nổi loạn" là 30 khẩu súng săn kiểu thô
sơ 80 năm về trước, được Cộng
sản công bố kể là thành tích.
Cuối
cùng Hun Sen đă nhượng bộ, đưa những
người Thượng này về Nam Vang. Liên Hiệp Quốc
có đại diện đến thăm họ và Hoa Kỳ
sẵn sàng tiếp nhận họ định cư. Khoảng
đầu tháng 4 có tin những người Thượng
đói khổ và mang bệnh sốt rét này đă được
làm thủ tục đi Hoa Kỳ. Ngày 10/4, Cộng sản
Hà Nội cay cú chính thức phản đối Hoa Thịnh
Đốn về quyết định cho tị nạn 24
người Thượng này Phan Thúy Thanh, phát ngôn bộ Ngoại
giao Việt Cộng nói" Chúng tôi coi đây là một hành
động can thiệp vào nội bộ Việt Nam, một
việc làm sẽ khuyến khích những vụ vượt
biên bất hợp pháp và gây bất ổn trong khu vực. Những
người đó tuyệt nhiên không xin tị nạn chính
trị. Họ phải được trở về việt
Ngày
3 tháng 2, 2001, để kỷ niệm ngày thành lập đảng
Cộng sản Đông Dương, TCPG tung ra một đ̣n
"6,000 người Thượng biểu t́nh" để
có cớ, có lư do dùng 2 quân đoàn và máy bay, xe tăng đàn
áp tiêu diệt người sắc tộc, theo đúng chỉ
thị từ Bắc Kinh. TCPG cũng pḥng hờ là nếu cần
th́ sẽ dùng người Thượng làm điều kiện
trao đổi với Mỹ.
Về
phương diện chiến lược, Trung Cộng
"ép" mạnh mẽ buộc Cộng sản Hà Nội
phải diệt chủng người sắc tộc, nhất
là những người Thượng theo Tin Lành, khoảng 2
triệu người sống dọc theo vùng Trường
Sơn, để Bắc Kinh xây dựng Trường
Sơn thành pháo đài khổng lồ khống chế Đệ
Thất Hạm Đội và kiểm soát toàn bộ vùng Nam Hải
và Đông Nam Á Châu, từ đảo Hải Nam đến
eo biển Malacca, cửa ra vào Ấn Độ Dương
và thông thương giữa Tây Phương và Á Châụ Khi kế
hoạch này thành h́nh, trong vài ba năm, th́ Nhật Bản và
Đài Loan, Nam Hàn chỉ c̣n nước bó giáo quy hàng. Quân lực
Hoa Kỳ phải trở về ranh giới phía Đông quần
đảo Hạ Uy Di. Hoa Kỳ sẽ trở thành cường
quốc số 2, nhường cho Trung Cộng trở thành số
một. Lúc đó, khoảng năm 2005, th́ cả thế giới,
kể cả Hoa Kỳ, phải cúi đầu hướng
về phía "thánh địa" Bắc Kinh để thần
phục và triều cống. Có lẽ v́ tính trước ư
đồ của Bắc Kinh, ngày
Chiến
lược của Bắc Kinh đă rơ ràng - quá rơ ràng, nên
không thể che mắt bất cứ ai. Như vậy dụng
ư của Bắc Kinh lộ liễu, công khai, không cần phải
úy kỵ người Mỹ. Người Tầu nghĩ rằng
người Mỹ không có chiến lược nào khả
dĩ đối nghịch với chiến lược
"tầm ăn dâu" của họ. Vả lại Trung
Cộng họ “không” ra mặt hoạt
động gián điệp hay phá hoại trên lănh thổ Hoa
Kỳ th́ người Mỹ không thể cáo buộc, và không
thể tấn công.
Vậy
chiến lược của Hoa Kỳ đối phó ra sao!
Người Mỹ có biết trước thủ đoạn
chiến lược của Bắc Kinh hay không? Phạm vi
bài này không thể nói ra nhiều chi tiết chiến lược
quân sự. Muốn đối phó với Bắc Kinh và chiến
lược "tĩnh", thầm lặng, theo kiểu tầm
ăn dâu, đi từ từ, không phải là điều dễ
làm. Lấy "động" để khắc chế
"tĩnh". Cái "động" này lại không cần
phải có chiến tranh và nổ súng. Đó là bí mật siêu
chiến lược! Vậy "mặt mũi" của
cái siêu chiến lược này ra sao Hoa Kỳ đă nghĩ
ra chưa Hà Nội và Bắc Kinh đang điên đầu
v́ chưa có chiến lược gia nào đủ tầm vóc
suy nghĩ "siêu chiến lược" cũng như
chiến lược "hóa giải"!
Ngày
1/4/01 chiếc phi cơ do thám điện tử Mỹ loại EP-3E (Electronic Patrol) Aries II bị phi cơ
Trung Cộng đụng trên không phận quốc tế và
phải xin đáp khẩn cấp xuống phi trường
Lingshui (Lăng Thủy) đảo Hải Nam. Trung Cộng đă bắt phi hành đoàn gồm 24
người (21 nam 3 nữ) để làm con tin và đưa
hàng trăm chuyên viên điện toán đến để
tháo gở và ăn cắp toàn bộ các dữ kiện
được chứa trong máy điện toán trên chiếc
phi cơ, mà phi hành đoàn chưa kịp xóa bỏ, đến
nay 2003 Ngũ Giác Đài mới cho biết là họ đă bị
Trung Cộng lấy cắp một số dữ kiện
"Tối Mật" của Hoa Kỳ được chứa
trong chiếc máy bay thám thính đó.
Ngày
8/4/01 Bắc Kinh ra lệnh cho gián điệp tại Việt
Nam đặt chất nổ giết toán t́m kiếm người
Mỹ mất tích gồm 16 người, có 7 Mỹ và 9 Việt
Cộng, (trong bản tin không được công bố th́
trong chiếc máy bay này chở đến 21 người) chiếc
trực thăng phát nổ rớt tại Bố Trạch Quảng
B́nh.
Tự
nhiên ta thấy người Mỹ nhượng bộ Trung
Cộng tại Việt Nam, không bán khu trục hạm thiết
trí hỏa tiễn/rađa Aegis cho Đài Loan, và cho Bắc
Kinh được tổ chức Thế Vận Hội, tất
cả để xoa dịu sự căng thẳng của Bắc
Kinh. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng "giao trả"
Cộng sản Hà Nội cho Bắc Kinh, rút ra khỏi Việt
Nam, để tránh cái vụ nuôi ong tay áo Hà Nội là bù nh́n,
tay sai, chó săn của Bắc Kinh và được Bắc
Kinh bao bọc, che chở th́ người Tầu phải
cáng đáng. Người Mỹ không cần phải thắc
mắc. Đây chính là cái thế "thua" rất cần
thiết để cho người Mỹ rút ra khỏi Việt
Ngày
Khi
ra quân, ta phải ước lượng quân địch sẽ
đối phó, phản công ra sao để khắc chế.
Ta có thể ước lượng "siêu chiến lược"
sắp tới, có thể xẩy ra để đối phó
với Bắc Kinh bành trướng xuống phía Nam, sẽ
thay đổi hẳn vận mệnh thế giới. Rồi
đây Trung Cộng sẽ "được" chia làm 13
tiểu quốc độc lập, nhưng theo suy nghĩ của
cựu tổng thống Đài Loan là Lư Đăng Huy th́
Trung Cộng sẽ chia làm 9 mảnh. Toàn thể các sắc
dân Trung Hoa khoảng 1,300 triệu người sẽ sống
trong ḥa b́nh, no ấm, không c̣n xâm lăng, bành trướng,
đi diệt chủng dân tộc khác. Mộng xâm lăng của
tập đoàn cai trị Cộng Sản Trung Cộng sẽ
chấm dứt vĩnh viễn và đi vào lịch sử.
Việt
Lịch
sử thế giới sau này sẽ chứng tỏ rằng
giai đoạn chiến lược hiện tại giữa
Trung Cộng và Hoa Kỳ vô cùng quyết liệt và có tính cách
quyết định cho lịch sử nhân loại. Các đế
quốc xâm lăng bành trướng và đế quốc tôn
giáo, các chế độ độc tài tàn ác và ngu xuẩn sẽ
bị tiêu diệt. Chính Quyền Việt Nam mới sẽ
ra lịnh dẫn độ bọn Việt gian Cộng sản
và bè lũ chó săn, chim mồi về Việt nam trị tội
dù chúng có chạy trốn ở bất cứ nơi đâu.
ChuSa
Chú
thích:
Tất
cả các bài viết cũng như tài liệu
được đăng trên web . www.dominotrungcong.com này,
chúng tôi đă dịch ra Anh Ngữ và được gởi
đi cho những người có trách nhiệm trước
khi chúng tôi cho đăng bài lên trên web này .