HOME

 

Bàn Tay Phù Thủy Trung Cộng Ở Á Châu

 

ChuSa

 

            Khi tổng thống W. Bush vừa mới đắc cử, việc cấp thiết nhất của ông ta là lo việc pḥng thủ lănh thổ Hoa Kỳ trước hiểm họa hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử của một nước địch thủ - tuy hiện nay chưa ló dạng hẳn - nhưng tốt hơn hết cho Hoa Kỳ là cũng nên đề pḥng trước th́ hơn. V́ vậy ông ta đă tuyên bố sẽ tiếp tục khuếch trương chương tŕnh lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn nhưng qui mô hơn đang được dự trù vào năm cuối cùng trong nhiệm kỳ 2 của cựu tổng thống Clinton. Và đó cũng là một trong những dự tính của ông Bush khi ông ra tranh cử tổng thống. Sau khi đắc cử tổng thống, ông Bush cũng đă lên tiếng cho Nga hay là ông sẽ rút chân ra khỏi hiệp ước ABM 1972 liên quan đến việc xử dụng hỏa tiễn nguyên tử giữa hai nước Nga và Hoa Kỳ, v́ hiệp ước nầy hạn chế việc tiến hành thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn của Hoa Kỳ. Trước đây cựu tổng thống Ronald Reagan nêu quyết tâm thiết kế cho kỳ được một hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn vô phương xâm nhập được lănh thổ Hoa Kỳ cho đến nay, th́ chi phí cho việc phát minh về kỹ thuật chế tạo hỏa tiễn chống hỏa tiễn đă lên tới 60 tỷ ? (60 ngàn triệu) mỹ kim mà vẫn chưa t́m ra được một hệ thống chống hỏa tiễn hữu hiệu. Nay th́ Ngũ Giác Đài dự trù chi phí thêm 8 tỷ mỹ kim nữa vào năm nay để hoàn tất chương tŕnh chống hỏa tiễn nầy. Chính quyền Cộng Ḥa dự trù thiết kế vào mùa thu năm nay tại Fort Greely, gần Fairbanks, Alaska một căn cứ pḥng vệ nhỏ làm nơi xuất phát của 5 hỏa tiễn pḥng vệ sẽ được thử nghiệm trong tương lai gần đây và căn cứ nầy sẽ là căn cứ pḥng vệ đầu tiên lănh thổ Hoa Kỳ. Khi thấy việc phóng thành công 4 hỏa tiễn pḥng vệ, th́ một số nhân vật chống chương tŕnh nầy có đề nghị với Ngũ Giác Đài nên khai triển thêm một số hệ thống pḥng thủ khác như là phóng hỏa tiễn pḥng vệ từ các tàu chiến, các máy bay hay từ các căn cứ trên không gian có trang bị tia laser. Nhân dịp nầy, trung tướng Không Quân Ronald T. Kadish, chủ tịch Cơ Quan Pḥng Thủ Hỏa Tiễn của Ngũ Giác Đài có tuyên bố như sau trong một cuộc phỏng vấn: "Giờ đây chúng ta rất tin tưởng là chúng ta có thể dùng hỏa tiễn pḥng ngự để tiêu hủy mọi hỏa tiễn lạ, đến bất cứ từ nơi đâu". Do đó, Ngũ Giác Đài đă bỏ ra hàng tỷ mỹ kim để chi tiêu vào việc khuếch trương thêm những kế hoạch xen kẽ nầy mà tổng thống Bush gọi là "hệ thống từng tầng" có khả năng bắn hạ các hỏa tiễn địch ở từng tầng khác nhau trên không gian, và được thiết kế vào giữa 2003 đến 2008 do hai công ty Boeing và Lockheed Martin đảm trách. Ngoài những công ty khổng lồ của Hoa Kỳ kể trên đây mà số vốn lên đến hằng triệu tỷ mỹ kim, phải kể đến vai tṛ vô cùng quan trọng của một quốc gia duy nhất trên quả địa cầu nầy đă, đang và luôn luôn sát cánh với Hoa Kỳ để giúp cho nước nầy thực hiện mộng trở nên siêu cường độc nhất trên thế giới, đó là Nhật Bản.

            Ngày 10 tháng 7, 1995 một số hăng thông tấn ngoại quốc loan tin là chính quyền độc tài quân phiệt Miến Điện đă phóng thích không điều kiện bà Aung San Suu Kyi, lănh tụ đảng đối lập "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ" và cũng là người được giải thưởng Ḥa B́nh Nobel năm 1991. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với báo chí tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) sau 6 năm bị quản thúc tại gia, bà Suu Kyi cho biết bà vẫn tin là dân chủ sẽ thắng, và chính quyền quân đội sẽ chấp nhận đối thoại với phe đối lập để tránh cho đất nước cảnh phá sản vô phương cứu chữa. Bà Aung San Suu Kyi là con út của tướng Aung San, người đă từng suốt đời tranh đấu cho nền độc lập của Miến Điện và được nhân dân tôn sùng là vị anh hùng dân tộc của họ sau khi ông ta bị ám sát. Muốn t́m hiểu thân thế và sự nghiệp của vị lănh tụ đối lập sáng giá nhất hiện nay trên chính trường Miến Điện, thiết tưởng cũng nên biết qua về cuộc đời bôn ba đấu tranh nhằm giải phóng đất nước của thân phụ bà ta là tướng Aung San. Mùa thu 1935, khi phong trào quốc gia yêu nước chống thực dân Anh đang sôi sục trong giới sinh viên Miến Điện, th́ tại đại học Rangoon, U Nu được bầu làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên và Aung San được bầu làm Tổng Thư Kư. Hai người nầy sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trong công cuộc đấu tranh dành độc lập cho Miến Điện trong thập niên 1940. Sau khi đắc cử, U Nu và Aung San bèn cho ra tờ báo "Tiếng nói của Tổng Hội Sinh Viên". Ra được vài số th́ báo nầy lên tiếng chỉ trích một thành viên người Miến trong Hội Đồng Quản Trị của đại học Rangoon, cho rằng ông nầy thiếu đạo đức. Hội Đồng Quản Trị bèn phản ứng lại bằng cách đuổi U Nu và Aung San ra khỏi đại học. Mặc dầu đây chỉ là một vấn đề thuần túy nội bộ của đại học, nhưng sinh viên đă không chịu bỏ qua và đồng loạt đứng lên hô hào băi khóa, biểu t́nh, biến vụ nầy thành một vụ đấu tranh chính trị, khiến Hội Đồng Quản Trị phải nhượng bộ và chấp nhận cho U Nu và Aung San vào học trở lại. Vài tháng sau đó th́ một ḿnh U NU đứng ra thành lập "Câu Lạc Bộ Rồng Đỏ" (Red Dragon Club) chuyên phát hành các loại sách thiên tả, nhưng lại dựa vào quan niệm giải thoát con người khỏi bể khổ của Phật giáo.

            Trong khi đó th́ Nhật Bản bắt đầu chú ư đến vị trí chiến lược của Miến Điện về phương diện dầu hỏa và cũng v́ từ đất Miến, phe Đồng Minh có thể mở một con đường tiếp tế vũ khí cho chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Nhật bèn t́m cách móc nối với những phần tử cách mạng chống chính quyền bảo hộ của người Anh, nhất là trong giới sinh viên. Tháng 8, 1940 họ móc nối được với Aung San và một người bạn của ông này, rồi họ bí mật tổ chức đưa lén hai người nầy ra khỏi Miến Điện, trên một chiếc tàu của Na Uy chạy về Áo Môn, cạnh Macao và Hongkong. Từ đó hai người nầy được đưa về Đông Kinh (Tokyo) để huấn luyện quân sự để sau nầy sẽ trở về lại Miến Điện cầm quân chống lại quân đội của Đồng Minh. Lực lượng quân sự nầy được đặt dưới quyền điều khiển của đại tá Suzuki Keiji. Sau thời gian thụ huấn ở Đông Kinh xong, Aung San trở về lại Miến Điện và bắt đầu móc nối giới trẻ vào hàng ngũ cách mạng chống lại nền đô hộ của người Anh. Aung San tuyển mộ được thêm 28 người nữa và đưa họ qua đảo Hải Nam để cho quân đội Nhật huấn luyện. Ba mươi người nầy về sau trở thành sĩ quan ṇng cốt của đoàn quân giải phóng Miến Điện. Tiểu đoàn giải phóng Miến được thành lập đầu tiên tại Thái Lan gồm có khoảng 500 người Miến từng cư ngụ trên đất Thái. Khi quân đội Nhật bắt đầu xâm chiếm vùng Tenasserim ở cực Nam Miến Điện, dọc bờ bể Andaman vào tháng 1, 1942 th́ tiểu đoàn giải phóng Miến có nhiệm vụ truy kích hậu quân rút lui của Anh quốc. Một trong ba mươi người đồng đội của Aung San tên là Shu Maung được bí mật biệt phái vào thủ đô Rangoon để tổ chức và thi hành những công tác phá hoại. Bí danh của Shu Maung là "Ne Win" có nghĩa là "sáng như mặt trời". Và chính y cầm đầu cuộc đảo chánh chính phủ U Nu vào năm 1962 để lên nắm quyền cho đến khi y bị tướng Khin Nyunt âm thầm đảo chánh vào đầu thập niên 1990 và quản thúc tại tư gia như ông ta đă từng ra lệnh quản thúc bà Aung San Suu Kyi, con gái út của tướng Aung San, vị chỉ huy của ông ta cách đây hơn nửa thế kỷ.

            Năm 1942, một năm sau khi Nhật Bản bất thần oanh tạc căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, ông Nicholas Spykman, trong quyển sách America's Strategy in World Politics có nhấn mạnh ở điểm một khi hai nước Đức và Nhật Bản bị Đồng Minh đánh bại, th́ Liên Bang Xô Viết sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Thành thử bằng bất cứ giá nào, sau khi chiến tranh chấm dứt, bắt buộc Hoa Kỳ phải ủng hộ hai nước nầy để chống lại đại họa cộng sản Liên Xô. Quyển sách nầy được xuất bản chỉ có mấy tháng sau vụ Nhật Bản ném bom lén Trân Châu Cảng, nên bị đa số độc giả cho là phi lư. Một b́nh luận gia đă viết như sau: "Nh́n vị trí địa dư của Nhật Bản trên một bản đồ, th́ ai cũng biết Nhật Bản là một ḥn đảo, có một chính quyền độc tài phát xít do quân đội lănh đạo và luôn luôn có nhu cầu mở mang bờ cơi để đương đầu với những khủng hoảng nội bộ". Và ông Spykman đă trả lời lại như sau: "Các ông bộ trưởng đến rồi lại đi, ngay đến những nhà độc tài rồi cũng chết, duy chỉ có các ḥn núi là khi nào cũng vẫn luôn luôn đứng nguyên một chỗ".

            Năm 1945, tiềm lực Hải Quân Nhật Bản hoàn toàn bị hủy diệt: từ hạm đội vĩ đại 1941, chỉ c̣n lại vài đơn vị nằm ụ trong một số hải cảng v́ thiếu nhiên liệu. Ngày 1 tháng 12, 1945, hạm đội của Nhật Hoàng đă bị triệt tiêu, và Bộ Hải Quân đă trở thành Bộ Giải Ngũ; và đảo quốc Nhật Bản đă nhường chỗ lại cho một quốc gia không có Hải Quân: liên tiếp trong nhiều năm qua, quốc kỳ Nhật Bản chỉ được treo sau lái tàu của các tàu buôn.

            Giờ đây, đă gần sáu chục năm qua kể từ ngày Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ngày 2 tháng 9, 1945 tiềm lực hải quân của Nhật Bản đă xuất hiện trở lại trên các đại dương và được liệt vào hàng thứ 3 trên thế giới vào thập niên 90 và bán chính thức tái vơ trang vào đầu năm 2003.

            Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, lời cảnh cáo của ông Spykman không được các nhà chính khách Hoa Kỳ chú ư đến. Lúc bấy giờ Hoa Kỳ vẫn c̣n đặt niềm tin ở chính quyền tổng thống Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa mặc dầu tham nhũng ngập đầu và tạo cho Mao Trạch Đông một môi trường lư tưởng để lôi cuốn quần chúng Trung Hoa tham gia cuộc cách mạng vô sản; đồng thời Hoa Kỳ vẫn c̣n hận Nhật Bản đă đánh úp họ tại Trân Châu Cảng và binh sĩ họ đă bị hy sinh quá nhiều trong các trận chiến tàn khốc chiếm các đảo của Nhật Bản rải rác trên khắp Thái B́nh Dương. Từ mối hận đó, Hoa Kỳ mới quyết tâm giải giới Nhật Bản và triệt tiêu cho kỳ được về lâu về dài nạn quân phiệt của nước nầy. Kết quả là Hiến Chương 1947 ra đời, và đặc biệt nhất là điều 9 của Hiến Chương - được sự khuyến khích của đại tướng Mac Arthur - không cho phép Nhật Bản gây chiến với bất cứ nước nào trên thế giới, và cũng không được phép thành lập quân đội, nhưng có quyền tổ chức một lực lượng tự vệ. Và cho đến bây giờ, nước Nhật Bản vẫn c̣n dựa trên căn bản đó để hoạch định một chính sách an ninh mà nguyên tắc cơ bản vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay. Cho đến giờ nầy, chiến lược của Nhật Bản luôn luôn dựa trên pḥng vệ và loại bỏ việc dùng vơ lực trong mọi quan hệ quốc tế. Nhật Bản không có quân đội và chỉ có một Cơ Quan Tuần Dương được thành lập từ năm 1947, có nhiệm vu truy lùng những người Triều Tiên nhập cảnh bất hợp pháp, những gián điệp Nga Xô và Bắc Hàn muốn xâm nhập lén lút vào nước nầy và cũng để làm nhiệm vụ gỡ ḿn nữa.

            Sau khi Mao Trạch Đông thôn tính lục địa Trung Hoa và đuổi Tưởng Giới Thạch chạy qua Đài Loan, và cũng sau cuộc chiến tranh Triều Tiên trong thập niên 1950, Hoa Kỳ không ngớt áp lực Nhật Bản thành lập một Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia đông 75,000 người vào tháng 7, 1950 và một Lực Lượng An Ninh Tuần Dương đông 7000 người vào tháng 4, 1952. Một năm sau lực lượng nầy đă trở thành lực lượng tuần duyên của Nhật Bản. Và đến tháng 7, 1954 hai lực lượng thủy, bộ được sáp nhập với lực lượng Không Quân để trở thành một Cơ Quan Tự Vệ do một ông Tổng Giám Đốc ngang hàng với một bộ trưởng trong nội các điều khiển. Tất cả nhân viên trong ba ngành Hải, Lục, Không Quân kể trên - đứng trước pháp luật - đều được coi như những thường dân và không được phép chiến đấu nếu không có lệnh của thủ tướng chính phủ, mặc dầu bị tấn công bất ngờ cũng vậy; và chỉ được tham dự các cuộc thao diễn huấn luyện trong ngành mà thôi.

            Thời gian càng trôi qua th́ những kỷ luật đó lại càng trở nên khắt khe thêm như 3 nguyên tắc loại trừ nguyên tử được đề ra dưới trào thủ tướng Kishi: Nhật Bản sẽ "Không Có", "Không Chế Tạo" và "Không Tồn Trữ Vũ Khí Nguyên Tử" trên lănh thổ của Nhật Bản. Năm 1976, Chính phủ Miki cấm hẳn việc xuất cảng vũ khí và hạn chế ngân sách quốc pḥng là 1% tổng sản lượng quốc gia và như vậy là chính quyền Nhật Bản tự động hạn chế việc tăng gia thực ngạch của lực lượng tự vệ. Từ 1957 đến 1961 con số nầy là 255,600 người và đến 1986 là 272,000 người, nghĩa là chỉ có gia tăng khoảng vài ngàn người thôi.

            Mặc dầu không có binh lực và theo thủ tướng Ohira, "nước Nhật của chúng tôi chỉ có một đường lối ngoại giao dựa trên hy vọng và nguyện cầu" và được hỗ trợ bởi một đường lối ngoại giao đặc biệt khác dựa trên đồng Yen đă khiến cho thủ tướng Ohira thốt lên câu nói: "Nước Nhật không nên dính líu vào các cuộc tranh chấp của các liệt cường trên thế giới, nhưng phải làm tṛn bổn phận của một cường quốc về kinh tế đối với quốc tế". Chính sách đó đă được một số b́nh luận gia có tiếng tăm đặt cho cái tên "quân phiệt được ủy nhiệm" v́ "Nhật Bản biết kín đáo thiết lập những đường dây liên lạc chặt chẽ về kinh tế với các nước lân bang có quân đội vững mạnh. Nhờ vậy mà Nhật Bản đă trở nên một "trung tâm kinh tế" phồn thịnh trong khi đó th́ vẫn tiếp tục ủng hộ một ngoại diện có hệ thống quân sự mạnh.

            Hiệp ước ḥa b́nh San Francisco đă hợp thức hóa sự liên minh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản và đặt nước nầy dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Qua hiệp ước nầy, chính Hoa Kỳ tự làm một cái gông đeo vào cổ ḿnh, trong khi đó th́ Nhật Bản - khỏi bận tâm về chi phí quốc pḥng - tha hồ khuếch trương kinh tế và chỉ vài năm sau thôi đă nhảy lên địa vị số 1 về kinh tế trên hoàn cầu?. Sau thập niên 60, sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản lại c̣n được siết chặt hơn nữa qua hiệp ước cứu trợ kư kết giữa 2 nước vào ngày 19 tháng giêng 1960 lại càng thuận lợi cho Nhật Bản hơn nữa: theo hiệp ước nầy th́ Hoa Kỳ sẽ tự động bảo vệ Nhật Bản trong trường hợp nước nầy bị tấn công bất th́nh ĺnh, nhưng khi Hoa Kỳ bị tấn công bất thần th́ không thấy đề cập đến vai tṛ của Nhật Bản sau đó. Hiệp ước cũng qui định là Hoa Kỳ không thể dùng những căn cứ của Hoa Kỳ trên đất Nhật để làm nơi xuất phát quân đội nếu không có sự đồng thuận của chính phủ Nhật Bản. Qua hiệp ước mới nầy, Nhật Bản được bảo đảm về sự bảo vệ của Hoa Kỳ, trong khi đó lại khỏi lo về gánh nặng chi phí quốc pḥng đè lên trên vai; đến độ các b́nh luận gia quốc tế đă đề cập đến vai tṛ "bảo hộ" của Hoa Kỳ đối với quốc gia Nhật Bản, nhưng cũng phải công tâm mà nói là hiệp ước nầy không chuyển nhượng cho Hoa Kỳ một chút quyền nào của một nước đô hộ.

            Đường lối ngoại giao nầy kéo dài hơn 40 năm và ông Tổng Giám Đốc Cơ Quan Tự Vệ của Nhật Bản đă tỏ ư rất hài ḷng khi nước của ông được chấp nhận là một thành viên của thế giới tự do. Ông ta nói: "Trong 40 năm đó, Nhật Bản đă sống trong ḥa b́nh và bảo toàn nền độc lập của nước họ, đồng thời thực hiện được một sự mở mang kinh tế vượt bực, sự việc trên đây chứng tỏ là về phương diện an ninh, Nhật Bản đă chọn đúng con đường của họ đă đi". Vậy th́ cần ǵ phải thay đổi nữa?

            Nhưng sự tiến triển t́nh h́nh quốc tế trong thập niên 1970 và đầu năm 2000 đă thúc đẩy Nhật Bản buộc họ phải duyệt lại đường lối an ninh theo nhu cầu đ̣i hỏi của thời cuộc.

            Sau khi Nhật chiếm trọn Miến Điện th́ họ mời U Ba Maw ra thành lập chính phủ thân Nhật. Tướng Aung San trở thành bộ trưởng Quốc Pḥng kiêm Tư lệnh quân đội quốc gia Miến Điện. Và U Nu là tổng trưởng Bộ Ngoại Giao. Nhưng trên thực tế, chính phủ U Ba Maw chỉ là một chính phủ bù nh́n, vô quyền. Ông nầy thấy ḿnh bị Nhật gạt nên đă lên tiếng phản đối và bị Nhật cho tay sai ám sát. Đại tá Suzuki bị cấp chỉ huy cho là quá thân thiện với phe cách mạng nên đă bị thất sủng. Lúc c̣n sống, U Ba Maw rất ghét tướng Aung San, mặc dầu biết tướng Aung San đang âm mưu chống Nhật, nhưng ông ta không tố cáo với Nhật. Chính những sĩ quan thuộc sắc dân Karen trong quân đội Miến đă ngấm ngầm đứng làm trung gian giữa Aung San và sĩ quan t́nh báo của Anh quốc c̣n hoạt động bí mật trong nội địa Miến Điện; và sự móc nối nầy đă được huân tước Mounbatten, tư lệnh quân đội Đồng Minh vùng Đông Nam Á chấp nhận. Cuộc khởi loạn của quân đội quốc gia Miến dưới sự điều khiển của tướng Aung San để chống lại Nhật bắt đầu từ cuối tháng 3, 1945. Qua tháng 5, 1945 th́ quân đội Nhật bị đánh bật ra khỏi thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) và đầu hàng quân đội Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8, 1945. Huân tước Mounbatten và toàn bộ tham mưu của ông ta từ nay, đều coi tướng Aung San là người đại diện có uy tín nhất của phe quốc gia tranh đấu cho nền độc lập Miến Điện và cũng là người Miến duy nhất được cảm t́nh của các sắc dân thiểu số Shan, Chin, Kachin, Rakhine,Karen, Mon và Kayah. Qua tháng 4, 1947 dân chúng Miến đi bầu Quốc Hội Lập Hiến, đến ngày 9 tháng 6 th́ quốc hội họp và bầu U Nu làm chủ tịch. Sau đó, một chính phủ lâm thời được thành lập và tướng Aung San được chỉ định làm thủ tướng. Và hơn hai tháng sau, sáng ngày 19 tháng 6, 1947 khi tướng Aung San đang họp hội đồng nội các th́ một số người vơ trang giả dạng cảnh sát đă đột nhập vào pḥng họp và xả súng tiểu liên bắn chết tướng Aung San và sáu vị bộ trưởng trong chính phủ lâm thời trong đó có người anh ruột của tướng Aung San là Ba Win. Lúc đó tướng Aung San mới có 32 tuổi và con gái út của ông ta tức bà Aung San Suu Kyi mới lên 1 tuổi. Người cầm đầu vụ ám sát nầy là một chính khách người Miến tên là U Saw. Người nầy tưởng rằng một khi tướng Aung San bị ám sát rồi th́ chính quyền bảo hộ Anh quốc sẽ chỉ định hắn ta thay thế Aung San làm thủ tướng. Nhưng t́nh báo của Anh quốc rất bén nhạy và t́m ra ngay thủ phạm là U Saw. Hắn và toàn bộ thủ hạ có nhúng tay vào vụ ám sát tướng Aung San đều bị bắt và đem ra xét xử và bị hành quyết vào tháng 5, 1948. Chính quyền bảo hộ Anh quốc đă chỉ định ngay Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến U Nu làm thủ tướng.

            Ngày 24 tháng 9, 1947 hiến pháp của Liên Bang Miến Điện gồm có lưỡng viện được chuẩn y và ngày 17 tháng 10, 1947, hai vị thủ tướng U Nu và Clement Attlee đồng kư tên vào văn kiện bản hiệp ước công nhận nền độc lập của Liên Bang Miến Điện. Nhờ tài vận động khôn khéo về ngoại giao của tướng Aung San, Anh quốc đă chấp nhận trao trả độc lập lại cho Miến Điện trong sự tương nhượng ḥa hài, không đổ một giọt máu. Nhân dân Miến Điện cho rằng tuy người Anh đă ra đi nhưng nước Anh vẫn măi măi ở trong ḷng của họ.

            Trong suốt thời gian U Nu làm thủ tướng, từ 1947 đến 1958, rồi từ 1960 đến 1962, ông ta luôn luôn dựa vào Phật giáo để cai trị Miến Điện như dưới triều đại các vua chúa xa xưa của nước nầy, nên đă làm mất ḷng các sắc dân thiểu số theo Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, nên họ đă nhất tề vơ trang đứng lên chống lại chính quyền trung ương Miến. Trong cảnh loạn lạc đó, chính phủ dân sự của U Nu đă tỏ ra hoàn toàn bất lực, và ngày 2 tháng 3, 1962, quân đội Miến do tướng Ne Win (tên thật là Shu Maung) cầm đầu, đă đứng ra làm đảo chánh, bắt giam thủ tướng U Nu và một số lớn các chính khách dân sự. Những nhân viên dân sự cầm đầu bộ máy hành chánh đều bị các sĩ quan quân đội thay thế.

            Ngày 4 tháng 7, 1962 tướng Ne Win ra lệnh thành lập một chính đảng của quân đội, đảng "Chương Tŕnh Xă Hội Miến Điện" và cấm hẳn sự hoạt động của các chính đảng khác. Kể từ ngày ấy trở đi, Miến Điện trở thành một nước độc đảng giống như ở Việt Nam dưới ách lũ Cộng Sản Bắc Việt tham tàn. Cương lĩnh của đảng "Chương Tŕnh Xă Hội Miến Điện" do U Chit Hlaing soạn thảo; y là một tín đồ Phật giáo nhưng đầu óc lại thiên tả cho nên bản cương lĩnh của y thảo ra tuy dựa trên một số giáo điều Phật giáo nhưng lại sặc mùi Mác Xít.

            Năm 1988 là năm đen tối nhất đối với người dân trong lịch sử Miến Điện v́ 26 năm cầm quyền của nhóm quân phiệt bất lực, ngoan cố dưới sự lănh đạo độc tài của Ne Win, lại thêm thực hiện một chương tŕnh dựng nước na ná như của đảng Cộng Sản, th́ bảo sao kinh tế lại không phá sản ! Có trở nên giàu sụ trên xương máu người dân chỉ có gia đ́nh và thân bằng quyến thuộc, tộc họ xa gần của Ne Win và bè lũ tay sai của y mà thôi. Tham nhũng, thối nát, mua quan bán tước là chuyện đương nhiên trong những chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản. Và nếu dân chúng có lên tiếng ta thán, chỉ trích chế độ th́ đă có bộ máy công an cảnh sát chực sẵn để bắt bớ, tù đày và có thể đi đến thủ tiêu. Miến Điện là một vựa lúa xuất cảng gạo trong vùng Đông Nam Á, thế mà nay dưới chế độ độc tài quân phiệt, dân lại thiếu gạo ăn mà chính phủ lại không có ngoại tệ để nhập cảng gạo vào trong nước hầu cứu đói dân. Và một khi dân đói th́ không c̣n sợ nhà cầm quyền nữa, và việc xuống đường biểu t́nh bất bạo động để đ̣i tự do dân chủ là cách tỏ thái độ tương đối ḥa hoăn nhất đối với chính quyền độc tài, nhất là khi chính quyền đó lại vẫn ngoan cố nhất định không chịu chấp nhận tṛ chơi dân chủ mà dân chúng đ̣i hỏi.

            Thế rồi chuyện ǵ phải xảy ra đă xảy ra, và dân chúng đă tự động đứng lên biểu t́nh đ̣i tự do dân chủ, cơm no áo ấm ở ngay tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) và đồng loạt ở các đô thị lớn của Miến Điện. Lẽ dĩ nhiên là Ne Win ra lệnh đàn áp, bắn bỏ, và số người đi biểu t́nh bị quân đội giết chết từ đầu năm cho đến cuối tháng 8, 1988 được ước lượng vào khoảng một ngàn người. Lửa căm thù, oán hận trong ḷng nhân dân Miến đối với chính quyền quân phiệt ngày càng hừng hực bốc lên cao và ngày 8 tháng 9, 1988, hơn một triệu người (theo đa số các bản tin của các hăng thông tấn ngoại quốc loan đi khắp thế giới) đă xuống đường tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) để biểu t́nh chống chính quyền và đ̣i tự do dân chủ. Cuộc đàn áp của quân đội vô cùng man rợ và số người bị giết lên đến 5000 người, kể cả đàn bà, con nít và một số nhà sư trẻ.

            Mùa hè 1988, bà Aung San Suu Kyi đang cùng gia đ́nh ở Luân Đôn, thủ đô Anh quốc, th́ bà nhận được tin từ Ngưỡng Quảng (Rangoon) điện sang là thân mẫu của bà vừa bị đột quỵ về tim (stroke) và bị bán thân bất toại. Bà lật đật đáp máy bay về Miến Điện để lo săn sóc mẹ già. Ở tại thủ đô Miến, bà đă tận mắt trông thấy đồng bào lũ lượt xuống đường biểu t́nh chống chính quyền quân phiệt và đ̣i tự do dân chủ; đồng thời bà cũng vô cùng xúc động thấy cảnh máu đổ thịt rơi gây ra do sự đàn áp hết sức dă man của lũ bộ đội chính quyền. Khi bà chứng kiến được cảnh lôi xác chết của 41 sinh viên đi biểu t́nh rồi bị quân đội hốt lên xe thùng, đóng kín cửa lại khiến họ bị ngộp thở mà chết, th́ bà đă lấy một quyết định thay đổi hẳn cuộc sống an nhàn sung túc của bà: đó là nhập cuộc cùng toàn dân để tham gia cuộc đấu tranh đ̣i cho kỳ được tự do dân chủ cho quê hương. Những ǵ bà đă tận mắt nh́n thấy quả thật đúng là "giọt nước làm tràn ly nước". Và sau đó, bà Aung San Suu Kyi - qua sự cố vấn của cựu thủ tướng U Nu và cựu tướng lănh Tin Oo -đă thành lập đảng "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ" để đối thoại với chính quyền quân phiệt, và đ̣i chính quyền phải chấp nhận tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để tiến tới việc thành lập một chính quyền dân cử hợp hiến, hợp pháp trong tương lai. V́ bà được sự hưởng ứng nồng nhiệt của đồng bào ở bất cứ nơi nào bà đến nói chuyện, nên chính quyền quân phiệt - v́ sợ ảnh hưởng của bà lan rộng trong quần chúng - nên đă ra lệnh câu lưu và quản thúc bà tại gia, viện cớ là bà thân Cộng, có hành động chống đối nhằm lật đổ chính quyền. Đồng thời cựu tướng lănh Tin Oo, tổng thư kư của Liên Minh và một số lớn cán bộ ṇng cốt của đảng cũng bị bắt nhốt vào ngày 19 tháng 7, 1989, ngày tướng Aung San bị ám sát và chính là ngày mà bà và các đồng chí định tổ chức lễ giỗ lần thứ 41 của vị anh hùng dân tộc Miến. Từ ngày Ne Win dẹp cuộc biểu t́nh vĩ đại đ̣i tự do dân chủ của dân chúng Miến cho đến nay (19 tháng 7, 1989) cũng gần được một năm. Phía dân chúng th́ ḷng căm thù tập đoàn thống trị tuy vẫn c̣n sôi sục nhưng chưa có cơ hội để bộc phát trở lại, các đảng đối lập th́ tạm thời rút vào bí mật để tránh sự theo dơi của các cơ quan mật vụ của chính quyền; c̣n Ne Win - sau khi cho thành lập "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự" và giao lại cho lũ thủ túc thân tín - th́ tuyên bố rút lui khỏi chính trường, nhưng kỳ thật vẫn c̣n điều hành công việc nước trong bóng tối, qua trung gian của Hội Đồng.

            Qua mùa Thu năm 1989, Hội Đồng tướng lănh Miến Điện đă ban hành một quyết định về chính trị hết sức quan trọng: chính quyền sẽ tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 27 tháng 5, 1990. Có 3 lư do đưa đến quyết định nầy:

            Lư do thứ nhất: Miến Điện cũng như các nước theo chủ nghĩa xă hội khác trên thế giới như Nga Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam, Cuba đều kiệt quệ về kinh tế và đang ở sát bờ vực thẳm. Nếu không có sự viện trợ của các nước trong khối Thế Giới Tự Do th́ chế độ của các nước nầy không sớm th́ muộn cũng phải sụp đổ v́ dân nghèo đói quá tất nhiên phải nổi loạn để t́m sự sống. Riêng về Miến Điện, trong tháng 9, 1988, sau khi quân đội nổ súng vào đám dân biểu t́nh phản đối chế độ tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) cũng như tại một số đô thị lớn khác như Mandalay, Taunggi và giết chết khoảng 5000 người biểu t́nh, th́ Hoa Kỳ và Nhật Bản cùng một số quốc gia khác trên Thế Giới Tự Do đă ngưng ngay viện trợ cho Miến Điện; hành động nầy khiến cho nền kinh tế của Miến Điện đă kiệt quệ lại càng kiệt quệ thêm và chịu đựng hết muốn nổi. V́ vậy mà nhà cầm quyền quân phiệt Miến đành phải nhượng bộ các yêu sách của các cường quốc Tây Phương để được viện trợ trở lại, là phải có tự do, dân chủ và có bầu cử với sự tham dự của các chính đảng đối lập với chính quyền. Nếu chính quyền gian lận trong cuộc bầu cử th́ viện trợ cũng sẽ không đến với họ.

            Lư do thứ hai: Chính quyền quân phiệt Miến Điện vẫn tin tưởng là họ có đầy đủ phương tiện về nhân sự cũng như về tài chánh để yểm trợ cho đảng "Quốc Gia Thống Nhất" của họ; đồng thời họ cũng dư biết là phe đối lập thiếu đủ mọi phương tiện, nhất là về tài chánh, để vận động tuyển cử, th́ đảng của chính quyền thế nào cũng thắng cử là điều chắc chắn.

            Lư do thứ ba: Tất cả các lănh tụ và cán bộ cao cấp của các đảng đối lập đều bị tống giam hay bị quản thúc th́ phe đối lập như rắn không đầu, coi như đă bị vô hiệu hóa từ lâu và như vậy đảng cầm quyền tất nhiên phải cầm chắc sự đắc thắng trong tay.

            Dựa trên 3 lư do đó, chính quyền quân phiệt đă chấp nhận cho tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Họ c̣n đưa ra một đ̣n rất thâm độc là chấp nhận cho gần 200 đảng ra tranh cử để chia phiếu của phe đối lập và như vậy phe chính quyền tiện bề hốt trọn số ghế trong quốc hội. V́ chính quyền quân phiệt dự trù thực hiện những đ̣n phép gian manh đối với phe đối lập, nên họ không muốn cho phóng viên báo chí thuộc khối Thế Giới Tự Do đến Miến Điện nhiều để theo dơi cuộc bầu cử, cho nên họ chỉ cấp chiếu khán cho không đầy một trăm kư giả và chuyên viên truyền h́nh ngoại quốc vào theo dơi cuộc bầu cử một tuần trước ngày bầu cử mà thôi. Có lẽ họ sợ các phóng viên báo chí ngoai quốc ở lâu th́ sẽ phát giác ra nhiều sự bê bối của họ trong việc tổ chức cuộc tuyển cử.

            Tuy nhiên vừa mới đặt chân vào đất Miến đă thấy ngay sự chèn ép của chính quyền quân phiệt đối với các đảng đối lập v́ họ bị hạn chế rất nhiều trong việc xuất hiện để nói chuyện trước quần chúng. Trái lại đối với phe của chính quyền th́ tha hồ, chả có hạn chế ǵ hết. Biểu ngữ, bích chương của phe đối lập cũng không được dán bừa băi và thường hay bị chính quyền cho người đi xé. Có một biểu ngữ của phe chính quyền treo đối diện ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại Ngưỡng Quảng (Rangoon): "Đả đảo tay sai của Thực Dân". Trước ngày bầu cử độ ba tuần, chính quyền đă điều động thêm quân đội về thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) để gây áp lực với quần chúng, đồng thời báo chí - độc quyền của chính phủ - hằng ngày chạy tít lớn những bài báo đả kích các chính đảng đối lập và xỉ vả họ không tiếc lời. Giới nghiêm vẫn c̣n hiệu lực từ 10 giờ đêm đến 4 giờ sáng cốt để hạn chế sự xê dịch của phe đối lập; trái lại đối với phe thân chính phủ th́ tha hồ v́ di chuyển đă được nhân viên chính phủ theo hộ tống. "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp Và Tái Lập Trật Tự", cơ quan lănh đạo tối cao của Miến Điện gồm toàn sĩ quan cao cấp của quân đội tưởng là cho bầu quốc hội kỳ này là họ có thể làm cho Thế Giới Tự Do tưởng rằng Miến Điện đă bước một bước dài trên con đường dân chủ. Nhưng các quan sát viên của Thế Giới Tự Do đă thấy được những biện pháp gây khó khăn trong cuộc vận động tuyển cử đối với phe đối lập, nên họ cho rằng chính quyền quân đội chỉ tổ chức bầu cử quốc hội để đánh lừa dư luận quốc tế mà thôi. Và đây là cơ hội bằng vàng để cho chế độ độc tài quân phiệt hợp thức hóa chế độ qua lá phiếu của người dân dưới con mắt mà họ tưởng là "ngây thơ" của giới quan sát viên quốc tế. Bà Aung San Suu Kyi và cựu tướng Tin Oo - tuy bị cầm tù -nhưng vẫn nạp đơn ứng cử, và cả hai đều bị Hội Đồng Tổ Chức Bầu Cử bác đơn. Mặc dầu bà Aung San Suu Kyi không được phép ứng cử, nhưng đảng "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ" của bà vẫn đưa người ra tranh cử. Về phía chính quyền quân phiệt th́ họ âm thầm khuyến khích các đảng ra tranh cử càng nhiều càng tốt để chia bớt phiếu của các đảng đối lập lớn. Trong suốt thời gian vận động bầu cử, chính quyền đă tận dụng mọi cơ quan truyền thanh, truyền h́nh và báo chí của chính phủ để chỉ trích, vu khống, bôi nhọ bà Aung San Suu Kyi và đảng của bà ta. Hằng ngày hệ thống truyền thông của chính quyền không lúc nào ngưng nhắc đến tên của bà và đảng "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ " để làm đề tài chỉ trích và đôi khi để diễu cợt nữa là khác. Tṛ chơi này rất là nguy hiểm và chính quyền quân phiệt đă chơi dao hai lưỡi; thật ra họ chả am hiểu tư nào về tâm lư quần chúng cả. Ở trong những nước độc tài, phe đối lập nào dám đứng lên đ̣i tự do, dân chủ và đa nguyên đều được dân chúng nhiệt liệt ủng hộ, nhất là sau khi cuộc biểu t́nh bị đàn áp đẫm máu và bà Aung San Suu Kyi bị chính quyền câu lưu th́ uy tín của bà càng ngày càng lên cao trong ḷng quần chúng Miến Điện.

            Ngày 27 tháng 5, 1990 dân chúng Miến Điện đổ xô đi bầu cử đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến v́ họ quyết dùng lá phiếu để bầu cho phe đối lập, một cách để biểu dương sự chống đối của họ đối với chính quyền độc tài quân phiệt. Mặc dầu bà Aung San Suu Kyi và một số lớn lănh tụ của đảng Liên Minh bị chính quyền giam giữ, dân chúng vẫn nhất tề bỏ phiếu cho đảng này, bất cần nh́n đến tên của từng cá nhân một, v́ họ chỉ nh́n vào huy hiệu của đảng Liên Minh mà bỏ phiếu. Có thể nói cuộc bầu cử đă trở thành một cuộc trưng cầu dân ư: Ai tín nhiệm chính quyền độc tài quân phiệt th́ bỏ phiếu cho "đảng gia nô" Quốc Gia Thống Nhất của Ne Win, c̣n ai bất tín nhiệm chế độ độc tài quân phiệt th́ bỏ phiếu cho đảng viên "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ " của bà Aung San Suu Kyi. Có tất cả 2392 ứng cử viên của 234 đảng vừa lớn vừa nhỏ, để tranh 485 ghế dân biểu trong Quốc Hội Lập Hiến. Rốt cục đảng viên đảng "Liên Minh" của bà Aung San Suu Kyi đoạt 392 ghế dân biểu, và đảng "Quốc Gia Thống Nhất" của tướng Ne Win chỉ được vỏn vẹn có 10 ghế "biểu dân". Chủ tịch U Tha Gyaw và phát ngôn viên U Chit Hlaing của đảng "Quốc Gia Thống Nhất" - đảng gia nô -cũng đều thất cử một cách thiểu năo. Mặt trời của Ne Win giờ đây chỉ c̣n sáng như lúc chiều tà của một chiều băo tuyết. Tiếng "sét dân chủ" này không những đă làm rung động toàn thể nước Miến Điện dân chủ mà c̣n làm cho cả thế giới sững sờ v́ quá ngạc nhiên trước sự thảm bại không ngờ được của chính quyền quân phiệt Miến Điện. Ngay tại những nơi chung cư của quân đội mà đảng Liên Minh vẫn thắng phiếu cũng đủ chứng tỏ rằng người quân nhân Miến Điện thật t́nh yêu nước vẫn bỏ phiếu cho đảng đối lập. Qua cuộc bầu cử này coi như nhân dân Miến đă trả được mối thù bất cộng đái thiên đối với chính quyền quân phiệt. Về phần chính quyền Miến Điện - nếu sau này họ c̣n tổ chức bầu cử nữa - th́ thế nào họ cũng cho tráo thùng phiếu - viện cớ là có cộng sản hay quân phiến loạn tấn công, để "bảo đảm" cho đảng của chính quyền thắng phiếu phe đối lập; đó là cách gian lận bầu cử chắc chắn nhất thường được áp dụng tại một vài quốc gia nhược tiểu trong vùng Đông Nam Á.

            Sau khi đảng "Quốc Gia Thống Nhất" của chính quyền bị thảm bại trong cuộc bầu cử 17 tháng 5, 1990 chính quyền quân phiệt nhất định không cho tân quốc hội họp, viện dẫn đủ loại lư do. Cuối cùng tướng Khin Nyunt, tổng thư kư của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự đă tuyên bố trong một cuộc họp báo ngày 11 tháng 9, 1990 là v́ có nhiều đơn khiếu nại về gian lận bầu cử chưa được xét nên quốc hội chưa nhóm họp được. Tuy nhiên theo viên tướng này th́ Hội Đồng - trong khi chờ đợi - vẫn tiếp tục trông coi việc nước trước khi trao quyền lại cho một chính phủ được thành lập dựa trên bản hiến pháp do tất cả quư vị dân biểu của các chính đảng trong quốc hội soạn thảo. Nhưng không bao giờ Quốc Hội được "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự" triệu tập để soạn thảo hiến pháp. Một số lớn dân biểu đứng ra yêu cầu chính quyền phải giữ đúng lời hứa là chỉ quản thúc bà Aung San Suu Kyi một năm thôi, nhưng ngày 20 tháng 7, 1990 đă qua mà bà ta vẫn c̣n bị câu lưu. Để trả lời các vị dân biểu, chính quyền đă không phóng thích bà Aung San Suu Kyi mà vào hạ tuần tháng 10, 1990 họ lại c̣n bắt thêm hàng trăm dân biểu của đảng Liên Minh và của một số đảng đối lập khác nữa. Đến ngày 20 tháng 12, 1990 th́ "Hội Đồng" ra lệnh giải tán đảng "Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ" v́ bất hợp pháp.Từ đó về sau, dân chúng Miến Điện sống trong kinh hoàng, sợ hăi. "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp Và Tái Lập Trật Tự" ban hành lệnh thiết quân luật, giới nghiêm. Cảnh bắt bớ, tra tấn, tù đày, thủ tiêu những ai dám chống đối chính quyền đă xảy ra hằng ngày. Công pháp quốc tế cũng bị phe chính quyền chà đạp v́ binh sĩ Miến ngang nhiên xông vào các ṭa đại sứ Anh, Mỹ, Đức để bắt những nhân viên người Miến làm việc trong sứ quán mà họ nghi là có hành động chống lại chính quyền của quân đội.

            Trong một bản phúc tŕnh về t́nh h́nh chính trị ở Miến Điện, Amnesty International đă khẳng định là tại Miến Điện đang có t́nh trạng dân chủ bị chà đạp, và dân chúng sống dưới chế độ "khủng bố trắng". Chỉ sau 2 năm khi xảy ra cuộc biểu t́nh vĩ đại đ̣i tự do, dân chủ vào tháng 9, 1988 và tiếp theo là cảnh đàn áp dă man của quân đội, th́ chính quyền quân phiệt đă buộc hơn năm trăm ngàn người trong thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) phải rời nhà đến sinh sống tại những miền giáp ranh với các vùng dân thiểu số mà c̣n bắt họ phải trả tiền đất "cắm dùi" nữa! Trong khi dân t́nh đang ta thán v́ thiếu gạo ăn và bị buộc phải dời nhà đến các vùng hoang địa dọc biên giới miền Đông, th́ phe quân phiệt lại gây thêm thù oán với Phật giáo bằng cách giết chóc và bắt giam một số nhà sư trẻ mà họ cho là ủng hộ đảng Liên Minh Quốc Gia của bà Aung San Suu Kyi, ở tại Mandalay, đô thị lớn thứ nh́ sau thủ đô Ngưỡng Quảng. Sau vụ nầy, tướng Ne Win tức Shu Maung, chủ tịch "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lâp Trật Tự" đă hăm dọa trắng trợn Phật giáo trên đài phát thanh là "quân đội có quyền nhúng tay vào các vấn đề liên quan đến tôn giáo". Bên Phật giáo đă phản ứng lại một cách quyết liệt: hàng trăm chùa chiền và gần năm chục ngàn sư đă phát động chiến dịch tẩy chay, không hộ niệm hay làm lễ cầu an hay cầu siêu cho các gia đ́nh của quân đội nữa. Chính quyền quân phiệt đă trả đủa lại bằng cách mua chuộc các vị sư già trụ tŕ ở các chùa lớn bằng quà cáp và sau đó với sự chấp thuận của các vị đại lăo ḥa thượng, "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự" ra lệnh giải tán v́ bất hợp pháp "Hiệp Hội Các Sư Trẻ" được thành lập tại đô thị Mandalay.

            Những hành động chà đạp nhân quyền của phe quân phiệt cầm quyền ở Miến Điện đă làm cho các nước trong thế giới Tự Do ghê tởm và đồng loạt tẩy chay bất hợp tác về kinh tế và cúp mọi viện trợ nhân đạo cũng như tài chánh. Thêm vào đó, lại phải đương đầu thường xuyên với những cuộc nổi loạn vơ trang của các sắc dân thiểu số Karen, Shan, Kachin ở dọc theo biên giới phía Đông, nên chi tiêu cho nhu cầu đ̣i hỏi của quân đội tăng lên quá 50% ngân sách quốc gia, gây ra nạn lạm phát trầm trọng. V́ thiếu hụt ngoại tệ, chính quyền quân phiệt không c̣n nghĩ ǵ đến vấn đề liêm sĩ quốc gia nữa, nên đă bán đứt 60% đất của ṭa đại sứ Miến Điện ở Đông Kinh (Tokyo), thủ đô Nhật Bản cho công ty địa ốc và xây cất Nhật MCG để lấy 236 triệu mỹ kim vào đầu năm 1990. Đó là chưa kể việc bán các khu rừng gỗ Trắc rất quư cho thương gia Thái Lan khai thác mà không có buộc họ phải trồng lại rừng, giống hệt như ngụy quyền Cộng Sản Bắc Việt đang làm ở Việt Nam. Nhưng rừng đâu có thể cung cấp gỗ măi cho đám quân nhân Miến, nên chúng đă nghĩ ngay đến việc buôn ma túy.

            Từ trước tới nay Miến Điện là nước sản xuất ra thuốc phiện nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á. Nhất là sau vụ đàn áp đẫm máu cuộc biểu t́nh vĩ đại của dân chúng đ̣i tự do, dân chủ ở thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) th́ mọi viện trợ của Mỹ cho Miến Điện đều bị cắt hết, kể cả việc bài trừ ma túy ở vùng Đông Bắc Miến, thuộc tiểu bang của sắc dân Shan. Trước kia, 80% các nương thẩu làm ra thuốc phiện đều thuộc quyền kiểm soát của đảng Cộng Sản Miến Điện. Nhưng từ tháng 3 đến tháng 4, 1989 th́ đảng Cộng Sản Miến tan ră v́ tranh chấp nội bộ, nên cuộc vơ trang chống lại chính quyền quân phiệt Miến Điện cũng tạm thời chấm dứt. Chính quyền Miến Điện bèn nhân cơ hội đó, phái một số tướng lănh trước kia từng chỉ huy quân sự trong vùng tiểu bang Shan đến gặp cấp chỉ huy của từng nhóm Cộng Sản Miến ly khai và đề nghị kư kết thỏa ước ngưng chiến với họ; đồng thời cho họ hưởng một số quyền lợi về kinh tế, nhất là về lănh vực buôn bán ma túy, mà trong đó một số tướng lănh trong "Hội Đồng" lănh đạo cũng có tham gia. Họ được giao cho việc vận chuyển ma túy từ những nơi sản xuất ở vùng Đông Bắc đến trạm nhận hàng dọc theo biên giới ở miền trung Đông và Trung Nam Miến Điện. Ma túy luôn luôn được chuyển vận trên các xe vận tải của quân đội, phần lớn thuộc sư đoàn 99 Bộ binh Biên pḥng. Kể từ khi quân đội Miến đứng ra hợp tác với các nhóm Cộng Sản Miến ly khai để sản xuất ma túy th́ công việc làm ăn của các tay buôn lậu dọc theo biên giới miền Đông Miến Điện rất là phát đạt, do đó số lượng ma túy của Miến Điện đưa lậu vào Hoa Kỳ ngày càng tăng, trong khi đó th́ chính quyền Mỹ vẫn chưa t́m ra được một giải pháp nào để đối phó cho hữu hiệu.

            Trong khi các nước trên thế giới đang đặc biệt theo dơi cuộc tranh chấp sôi nổi giữa Anh quốc và Trung Cộng về vấn đề Hồng Kông trong cuối thập niên 80, th́ nhân cơ hội đó, Trung Cộng đă âm thầm thực hiện một kế hoạch mà họ dự tính từ lâu nhưng chưa có cơ hội thuận tiện để đem ra thi hành: đó là việc thành lập trục Bắc Kinh - Ngưỡng Quảng (Rangoon), để rồi từ đó Trung Cộng dần dần vươn lên địa vị siêu cường, c̣n phe quân phiệt Miến Điện th́ hy vọng kéo dài thêm một thời gian nữa nền thống trị của họ đối với nhân dân Miến. Sự tan ră bất ngờ của đảng Cộng Sản Miến Điện vào năm 1989 v́ tranh chấp nội bộ mặc dầu đảng nầy đă từng phát động chiến dịch nổi loạn của Cộng Sản kỳ cựu nhất chống lại chính quyền Miến; rồi gặp vụ biểu t́nh đ̣i tự do dân chủ của sinh viên và quần chúng tại Thiên An Môn ở Bắc Kinh đă thúc đẩy gấp việc bắt tay nhau giữa hai chế độ độc tài đảng trị của Trung Hoa và Miến Điện đă từng được móc nối với nhau vào đầu năm 1988. Trung Cộng đă cung cấp cho phe tướng lănh quân đội Miến Điện phương tiện mà họ cần thiết để nắm giữ chính quyền, mặc dầu họ rất sợ ảnh hưởng của ngoại bang và luôn luôn có tinh thần bài ngoại rất cao độ. Viện trợ đầu tiên đến với phe tướng lănh Miến Điện là một loạt hợp đồng cung cấp vũ khí trị giá 1400 triệu mỹ kim kư kết vào tháng 10, 1989 giữa chính quyền Trung Cộng và phái đoàn quân sự Miến Điện - do tướng Khin Nyunt cầm đầu - đến thăm viếng Trung Cộng lần đầu tiên. Thế rồi đoàn tàu chở vũ khí của Trung Cộng đến hải cảng Ngưỡng Quảng (Rangoon) vào tháng 8, 1990; và đoàn công voa đi đường bộ theo lộ tŕnh Wang Ting - Pang Hsai chạy thẳng đến Lashio.

            Trong thời gian giữa 1990 cho đến cuối năm 1992, Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của phe quân phiệt Miến Điện đă nhận được của Trung Cộng 26 chiến đấu cơ F-6 hay c̣n gọi là F-9 (một loại chiến đấu cơ MIG-21 của Nga Xô được Trung Cộng bắt chước và sản xuất lại), khoảng hơn một trăm chiến xa T-69 II và T-63 (loại xe do Trung Cộng đánh cắp mẫu của xe lội nước PT-76 của Nga Xô), 180 xe thiết giáp loại vận chuyển quân đội, hàng trăm xe vận tải thường, 55 đại bác pḥng không, 16 tàu tuần dương Heinan kiểu vận tốc đỉnh, hai đài radar, hàng chục ngàn tấn vũ khí nhẹ và đạn dược. Thế rồi làn sóng viện trợ của Trung Cộng tiếp tục không ngừng. Vào đầu tháng giêng 1993, Miến Điện lại nhận thêm được một số lớn vũ khí và đồ phụ tùng trị giá 30 triệu mỹ kim và hơn 300 xe vận tải đưa từ Mang Shi ở Vân Nam qua Muse ở Miến Điện, những xe vận tải nầy đều chở đầy đạn đại bác. Và tiếp theo đoàn xe nầy là một đoàn (Convoy) công voa gồm có 300 xe vận tải loại Double chở toàn hỏa tiễn 130 ly. Ta cũng nên biết rằng Miến Điện đă cung cấp thuốc phiện mang về lợi nhuận riêng cho Tầu 1 năm khoảng 300 tỷ Dollars và 200 tỷ tiền thu từ các bang hội ở hăi ngoại tổng cộng khoảng 500 tỷ ( 500 tỷ = 500 ngàn triệu Dô la ), v́ vậy nh́n con số chiến cụ Tầu chi cho Miến Điện đó chỉ là số tiền lẻ của Tàu rớt ra mà thôi.

            Về phía Miến Điện - việc thương lượng ban đầu th́ giao cho những đại diện cao cấp trong hàng ngũ quân đội,- nhưng sau đó th́ mọi cuộc thương thuyết đều giao cho đại diện của tướng Aye Kyaw, tư lệnh quân khu Đông Bắc Miến Điện, đóng bản doanh tại Lashio. Sĩ quan phụ trách mọi cuộc thương thuyết với Trung Cộng là đại tá Yae Myint, phụ tá của tướng Aye Kyaw. Chính đại tá Yae Myint đă gặp phái đoàn của Trung Cộng do Hạ B́nh - con rể của Đặng Tiểu B́nh - cầm đầu, tại Thành Đô (Tứ Xuyên), vào tháng giêng 1993; Hạ B́nh là giám đốc của công ty Poly Technologies, phụ trách việc xuất cảng vũ khí thay mặt cho quân đội. Song song với việc nhập cảng vũ khí, các tướng lănh Miến Điện đă phái rất nhiều sĩ quan và Hạ sĩ quan trong quân đội qua Thành Đô để được huấn luyện về cách xử dụng tất cả các loại vũ khí do Trung Cộng cung cấp. Nhưng viện trợ vĩ đại của Trung Cộng không phải chỉ căn cứ trong lănh vực vũ khí mà thôi đâu, họ c̣n phóng mắt nh́n xa về tương lai bằng cách đề nghị với nhà cầm quyền Miến Điện một chương tŕnh vĩ đại canh tân hệ thống xa lộ và thiết lộ của nước nầy nữa; đặc biệt là tại các vùng Bắc và Đông Bắc Miến Điện, lân cận với biên giới giữa hai nước. Vào tháng 5, 1991 U Ohn Gyaw, bộ trưởng Ngoại Giao Miến đă kư một thỏa ước với bộ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng là Qi Huai Yuan để xây hai chiếc cầu qua các sông chạy dọc theo biên giới của hai nước. Hai chiếc cầu nầy là hai cây cầu chiến lược rất cần thiết cho việc điều động quân đội từ Trung Cộng vào lănh thổ Miến Điện, để tiến xuống Ấn Độ Dương. Chiếc cầu bắc qua sông Shweli nối liền thị trấn Ruili của Trung Cộng với thị trấn Muse của Miến Điện đă được khánh thành kể từ tháng 10, 1992; và một số kỹ sư Trung Cộng cũng đă bắt tay vào việc tân trang xa lộ nối liền thị trấn Lashio của Miến Điện đến thủ phủ Vân Nam của Trung Cộng. Một chiếc cầu chiến lược khác đă được bắt qua sông Salween, trên xa lộ Kengtoung – Taunggyi. Vào tháng 11, 1992 Hội Đồng quân nhân Miến Điện và Trung Cộng lại c̣n kư kết thêm một thỏa ước mới, tăng cường sự viện trợ bằng cách mở thêm 3 xa lộ mới trong tiểu bang Kachin nối liền thị trấn Ta Haw Hka của Vân Nam (Trung Cộng) với thị trấn Sima thuộc thủ phủ Myitkyina - sát ngay biên giới của tiểu bang Kachin. Chương tŕnh nầy được thực hiện giống như kế hoạch vạch ra từ năm 1985 của thứ trưởng bộ Giao Thông Trung Cộng, Pan Qi nhắm mở mang miền Tây Trung Cộng để tiến xuống biển Andaman, trong Ấn Độ Dương, băng qua lănh thổ Miến Điện. Ư kiến nầy đă được nhà cầm quyền Trung Cộng đem ra khai thác lại trong tờ báo Anh ngữ của họ "Journal of Contemporary International Relations"; tờ báo nầy đă nhấn mạnh vai tṛ quan trọng về Chiến Lược lẫn Kinh Tế của một xa lộ dẫn đến Ấn Độ Dương mà không cần phải qua ngă Hồng Kông. Từ bao nhiêu năm nay, mặc dầu Trung Cộng cố gắng viện trợ cho đảng Cộng Sản Miến và các sắc dân thiểu số để họ nổi loạn chống lại chính quyền Trung Ương Miến, nhưng chả đi đến đâu, nay bổng nhiên Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của phe quân phiệt Miến Điện đă giúp họ thành công một cách bất ngờ.

            Về phía  Cộng Sản Việt Nam kể từ đầu thập niên 1990, noi gương quan thầy Trung Cộng, cũng đă dấn thân trên con đường cải tổ kinh tế theo định hướng thị trường, trong khi vấn duy tŕ chặt chẽ chế độ độc đảng Cộng Sản ở trong nước, đúng là lối cải tổ theo kiểu ngợm Cộng Sản. Trước đó, các lănh tụ khác của Việt Nam và Trung Cộng cũng đă trao đổi kinh nghiệm phát triển chủ nghĩa Marxist thông qua tiến tŕnh cải tổ kinh tế qua đường lối tư bản các thành viên cao cấp của Bộ Chính Trị hai đảng Cộng sản Trung Cộng  và Việt Nam đă thảo luận vấn đề vừa nói trong cuộc họp tại thủ đô Bắc Kinh. Lư Thụy Hoàn, Ủy viên Thường Vụ BCT đảng Cộng sản Trung Cộng, đă bàn luận với nhân vật đối nhiệm là  Phạm Thế Duyệt, Ủy viên Thường Vụ BCT đảng Cộng sản Việt Nam. Cả hai  đều cho rằng chủ nghĩa Marxist là một giáo điều mô h́nh khuôn mẫu và trong t́nh h́nh hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc lại càng cần phải củng cố hơn nữa t́nh hữu nghị.

            Ngày 11/10/99 một phái đoàn của đảng Cộng sản Trung Cộng đă rời Bắc Kinh, để thăm Việt Nam theo lời mời của đảng Cộng sản Việt Nam. Phái đoàn này lănh đạo bởi Zhoushengtao, Ủy viên dự khuyết Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Cộng và là Phó Bí Thư Ủy Ban vùng Tự Trị Tân Cương. Đại sứ Cộng sản Việt Nam Bùi Hồng Phúc đă ra tận phi trường Bắc Kinh tiễn chân phái đoàn. Cùng lúc sau chuyến đi Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng, của  Bộ Trưởng Phủ thủ tướng Thái Lan cho biết, đă hoàn thành việc xây dựng chiếc cầu hữu nghị bắt qua sông MêKông và nối liền Mukdahan với Savanakhet. Đây có thể xem như bước đầu của hành lang Đông Tây. Những đoạn khác của con đường xuyên Á sẽ được tiến hành trong ṿng 2 hay 3 năm nữa.

            Cuộc họp cấp Bộ trưởng của tiểu vùng Mê Kông mở rộng (Greater Mekong sub-region, viết tắt là GMS), tại Manila, đă quyết định đẩy mạnh việc thực hiện dự án này và đại biểu của Việt Nam, Lào và Thái Lan đă gặp Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) để bàn về việc tài trợ cho dự án. Đường số 9 kéo dài sang Thái và Myanmar con đường số 9 sẽ trở thành một phần của một xa lộ mang tên “hành lang Đông Tây”, chạy dài từ Đà Nằng Việt Nam xuyên qua Lào tới miền Đông Bắc Thái Lan. Trong hai tháng vừa qua, có hai phái đoàn cao cấp Thái Lan với cả trăm người lặn lội qua đồi, qua suối, khảo sát khả năng phát triển con đường 9 này. Bộ Trưởng Thái cho biết vốn đầu tư xây dựng cầu sẽ do Quĩ hợp tác kinh tế Hải ngoại (OECF) của chính phủ Nhật tài trợ. OECF đă thỏa thuận cấp cho Lào khoản tiền vay 500 triệu baht (khoảng 20 triệu đô la) của chiếc cầu Mukdahan Savanakhet. Quĩ Hợp Tác Quốc Tế của Nhật (JIGA) cũng tài trợ cho việc phát triển đoạn cầu và đường từ Mukdahan- savannakhet đến biên giới Việt Nam. Trong những chuyến viếng thăm các tỉnh miền Trung gần đây, các viên chức Thái Lan khẳng định tuyến đường Đông Tây này sẽ đẩy mạnh thương mại, du lịch và đầu tư trong khu vực (?)

            Ông Khumprabob, người đă đến thăm vịnh Chân Mây trong chuyến đi này, khẳng định cảng Chân Mây sẽ có ưu thế hơn so với những cảng khác ở miền Trung. Bộ Giao Thông Vận Tải Việt Nam cho biết cần khoảng 40 triệu đôla để tiến hành dự án này trên lănh thổ của ḿnh, tức là phát triển con đường từ Lao Bảo đến Đà Nẵng và cải tiến cảng ở miền Trung, Ngân Hàng Thế Giới đă cam kết tài trợ cho dự án này. Đây không phải con đường duy nhất nối liền Việt Nam với Thái Lan. Một dự án xa lộ khác nối liền Thái Lan, Cambodia và Sài G̣n cũng đang tiến hành. Hành lang Đông Tây cũng không chỉ dừng lại ở Mukdahan mà sẽ chạy dài sang đến tỉnh Malamang ở phía nam Myamar. Dự án này sẽ tạo ra một con đường rất ngắn nối liền Ấn Độ Dương với Thái B́nh Dương và các cảng ở Malamang và ở miền Trung Việt Nam sẽ được xây dựng, cải tiến để thúc đẩy việc lưu thông hàng hóa giữa hai vùng Đông Nam và Nam Á Châu.

            Ngày 22/2/99, báo China daily của Trung Cộng cho biết là việc gỡ ḿn ở vùng biên giới Hoa-Việt sẽ được hoàn tất từ nay cho đến cuối năm. Trích dẫn một sĩ quan của tổng hành dinh Tham Mưu quân đội Trung Cộng, tờ báo nói rơ là binh sĩ Trung Quốc tháo gở 66,500 quả ḿn chống cá nhân trên một diện tích 120 cây số vuông tại các tỉnh phía Tây Nam Trung Quốc. Trong cuộc chiến tranh biên giới Hoa-Việt năm 1979 có ít nhất có 800 ngàn quả ḿn đă được gài ở các vùng giới tuyến các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây.

            ngày 25/2/99 Bắc Kinh lập tức ra lệnh gọi Lê Khả Phiêu sang tŕnh diện trong 7 ngày.

            Đến tháng 7/1999, Bắc Kinh tuyên bố công cuộc gở ḿn tại biên giới Hoa-Việt đă hoàn tất. Khoảng 2.3 triệu ḿn đă được tháo gỡ và hủy bỏ. Biên giới Hoa-Việt được hoàn toàn mở rộng với 27 cửa quan.

            Ngày 1/3/99, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trở về nước mang theo lệnh của Bắc Kinh phải khẩn cấp xây dựng đường Trường Sơn và phải cho 2 tỷ đô la hàng hóa từ Trung cộng vào Việt Nam mỗi năm. Đó là nói vậy thôi. Trung Quốc đổ hàng vào Việt Nam với giá rẻ mạt th́ ai biết đâu mà đếm hay ước lượng trị giá? Sau khi Lê Khả Phiêu về th́ người ta thấy trứng gà Trung Cộng tràn ngập với giá rẻ mạt 200 đồng/trứng, để giết ngành nuôi gà đẻ trứng tại Việt Nam. Rồi đến các hàng hóa khác củaTrung Cộng tràn ngập để giết chết kinh tế nội địa, như vậy Trung Cộng có dụng ư làm lũng đoạn, tan tác kinh tế nội địa và thu nhiều tỷ đô la do đồng bào gửi về cho thân nhân và đi du lịch.

            Ngày 25/7/99, Ông Richard Fisher thuộc Bộ Thương Mại Mỹ đă kư kết thỏa thuận trên nguyên tắc với Cộng sản Hà Nội để mở đường cho việc kư kết chính thức hiệp ước Thương Mại vào đầu tháng 9/1999. Ngay lập tức, Bắc Kinh ra lệnh cho đầu năo đảng Cộng sản và tổng bí thư Lê Khả Phiêu phải sang Bắc Kinh để nhận chỉ thị. Tại đây, Bắc Kinh và Cộng sản Hà Nội kư kết hiệp ước “Hợp tác kinh tế và quân sự”. Hiệp ước này có nghĩa biên giới sẽ mở rộng cho hàng hóa Trung Cộng tràn ngập Việt Nam. Quân đội hai nước sẽ cùng nhau phối hợp dưới sự chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Hoa Nam, đóng bản doanh tại thành đô (Chengdu) tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan). Cuộc “hợp tác quân sự” có nghĩa là quân đội Trung Quốc tự do tràn ngập Đông Dương trong khi Hà Nội phải động viên khoảng 4 triệu quân và 2 triệu dân công để chuẩn bị tiến đánh Thái Lan, Mă Lai Á và Tân Gia Ba theo tiến tŕnh domino.

            Vào cuối tháng 10/1999, trục đường bộ xuyên Việt phía Tây sẽ bắt đầu triển khai việc nối thông giữa các tuyến quốc lộ 21, 15, 71 thường được gọi là đường ṃn Hồ Chí Minh và đường 14. Theo kế hoạch giai đoạn I đến mùa khô năm nay 2003, tuyến đường sẽ khai thông vào đến thành Hồ (Sài G̣n) với chiều dài 1700 Km; tạo thành một mạng lưới giao thông đường bộ hoàn chỉnh và cùng với quốc lộ IA liên kết 63 đường ngang, bảo đảm giao thông luôn luôn thông suốt giữa các tỉnh, thành của 3 miền Bắc, Trung, Nam. Với thiết kế hai lằn xe nền đường 7.5 - 9.0 mét, mặt bê tông nhựa hoặc bê tông xi măng, tuyến đường này hỗ trợ cho quốc lộ IA tránh việc ách tắc giao thông trong mùa mưa lũ. Theo tính toán sơ bộ, trong giai đoạn I sẽ giải quyết khoảng 60 triệu ngày công, lao động thủ công, tương đương 200 ngàn lao động làm việc liên tục trong 1 năm.

            Đầu tháng 9/1999, Bắc Kinh đ̣i hỏi phía dân sự (quốc hội) phải sang Tàu kư kết hiệp ước thỏa thuận vấn đề “hợp tác” kinh tế và quân sự với Trung Cộng.

            Ngày thứ Tư 8/9/99, trong khi tiếp Nguyễn Phúc Thành, phó chủ tịch quốc hội Cộng sản Việt Nam lúc đó, Bộ trưởng quốc pḥng Trung Cộng Tŕ Hạo Điền (Chihaotian- tên đồ tể sát nhân tại Thiên An Môn) nói rằng Việt Nam và Trung Cộng theo đuổi sự lănh đạo của đảng Cộng sản và đang trong thời kỳ cải tổ và cởi mở. Tŕ Hạo Điền (Chihaotian) c̣n nói rằng sự trao đổi song phương về quốc pḥng và an ninh giữa hai nước có lợi không những lợi ích căn bản của hai dân tộc mà c̣n cho nền ḥa b́nh thế giới và sự an ninh trong vùng. Bộ trưởng Quốc Pḥng Trung Cộng cũng giải thích cho Nguyễn Phúc Thành về lập trường Trung Cộng đối với các vấn đề quốc tế?.

            Về phần ḿnh, Nguyễn Phúc Thành nói rằng hai quốc gia đang chú trọng tới việc phát triển kinh tế trong khi lưu ư đến tầm quan trọng của nền ḥa b́nh thế giới. Thành cũng tỏ ư hi vọng phát triển sự hợp tác và trao đổi giữa hai nước và hai quân đội Nguyễn Phúc Thành và phái đoàn của Thành bắt đầu cuộc viếng thăm 8 ngày theo lời mời của Quốc Hội Trung Cộng.

            Ngày 10/5/97 Hà Nội cho hay một ủy ban nhà nước Cộng sản Việt Nam đă được thành lập để đưa ra các hướng dẫn về việc xây dựng đường cao tốc (Highway) Bắc Nam với kinh phí dự trù trên 5 tỷ mỹ kim. Uỷ Ban này được đặt dưới quyền điều động của Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Sản và do thứ trưởng quốc pḥng Nguyễn Trọng Xuyên cầm đầu. Ba công ty xây dựng lớn nhất của quân đội Cộng sản là Trường Sơn, Thanh An và Lũng Lô đă được chọn để chuẩn bị xây dựng con đường này. Tổng số kinh phí xây dựng con đường dài 1800 cây số này dự trù sẽ lên đến 5 tỷ mỹ kim và khoảng 1.2 tỷ sẽ được chi trong giai đoạn đầu từ năm 1998 đến năm 2000. Cho đến nay việc xây dựng đường Trường Sơn sẽ gồm cả việc nối một số phần của hệ thống đường ṃn Hồ Chí Minh, con đường xâm nhập từ Bắc vào Nam khi trước, và dự trù sẽ mất 15 năm mới hoàn tất.

            Những quốc gia trong vùng Ấn Độ Dương, nhất là Ấn Độ đă theo rơi rất kỹ sự có mặt của những chuyên viên Trung Cộng tại các hải cảng của Miến Điện, như Mergui và Thiwala, nơi mà chính quyền Miến dự trù xây một hải cảng trong khu vực nước sâu của vùng châu thổ sông Irrawady. Những chuyên viên Trung Cộng cũng đứng ra điều khiển việc xây cất một căn cứ hải quân trên đảo Haing Gyi, ngay cửa sông Bassein. Công tác đầu tiên của chuyên viên Trung Cộng lúc mới đến miền Nam Miến Điện là tân trang ngay những căn cứ quân sự đă có sẵn ở trên đảo Coco, ngay trên miền Bắc của quần đảo Andaman thuộc Ấn Độ; và dàn radar mà Trung Cộng thiết kế trên đảo nầy vào năm 1995 đă cho phép Trung Cộng theo dơi hoạt động của hải quân Ấn Độ, nhất là quan sát dễ dàng việc Ấn Độ phóng thử các hỏa tiễn mới chế tạo của họ. Mặc dầu Trung Cộng hết sức cải chính và Miến Điện luôn luôn thanh minh là họ không bao giờ bán rẻ chủ quyền của họ cho Trung Cộng, nhưng Ấn Độ vẫn không tin sự "thành thật" của Miến Điện. Trong khi đó th́ giới ngoại giao quốc tế nghĩ rằng Miến Điện không thể có đủ phương tiện tài chánh để mua một lần 6 chiếc tàu tuần dương của Trung Cộng, mà đó chỉ là một món quà của Trung Cộng biếu không cho hải quân Miến Điện; để rồi họ sẽ dùng những tàu nầy làm tàu do thám việc xê dịch của hải quân Ấn Độ trên Ấn Độ Dương.

            Trước khi xảy ra vụ Miến Điện xây căn cứ hải quân trên đảo Haing Gyi và tân trang lại các căn cứ quân sự trên đảo Coco, th́ Hoa Kỳ - qua h́nh ảnh của các vệ tinh, cho thấy từng đoàn quân xa dài hàng mấy cây số không ngớt vượt biên giới từ Vân Nam (Trung Cộng) vào miền Bắc Miến Điện - đă thấy rơ ư đồ của Trung Cộng muốn dùng đất Miến để đặt căn cứ quân sự trên bờ Ấn Độ Dương, và xa hơn nữa, là muốn uy hiếp Ấn Độ, để vươn lên địa vị siêu cường. Khi chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Nga Xô chưa chấm dứt - cho đến cuối thập niên 80 - th́ giữa 2 siêu cường nầy đă có sự đồng thuận là phải chận đứng, bằng mọi cách, ư đồ của Trung Cộng luôn luôn t́m cách tiến xuống Ấn Độ Dương để uy hiếp Ấn Độ, một đồng minh của Nga Xô. Nay th́ Nga Xô đă tan ră và trước viễn ảnh Trung Cộng có thể dùng đất Miến để đặt thêm nhiều căn cứ quân sự nữa rải rác trên bờ Ấn Độ Dương, nên cả Mỹ lẫn Ấn Độ đều nghĩ rằng cả đôi bên cần phải bắt tay nhau chặt chẽ th́ mới ngăn chận được con sư tử Trung Cộng đang vươn ḿnh đứng lên trong khu rừng già Miến Điện. Riêng về phía Hoa Kỳ lại có thêm một vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết gấp là từ khi Trung Cộng bắt tay với Miến Điện th́ số lượng ma túy từ khu "Tam Giác Vàng" - giữa Miến Điện và Trung Cộng - nhập lậu vào Hoa Kỳ đă tăng lên hơn 60%. Ngoài vấn đề chiến lược quân sự, c̣n vấn đề xuất cảng ma túy. Thuốc phiện được chở từ Tam Giác Vàng xuống Chiengmai, Thái Lan, để tinh chế thành Heroin. Số lượng sản xuất Heroin năm 1998, khoảng 500 tấn và c̣n có thể gia tăng. Hải cảng Đà Nẵng cũng là nơi nỗi tiếng phân phối Heroin đi toàn thế giới, nhất là Hoa Kỳ. Các xa lộ Đông-Tây và Trường Sơn và các hải cảng Chân Mây, Đà Nẵng, đương nhiên sẽ rất tiện dụng cho việc chuyên chở và xuất cảng ma túy, có thể mang lại cho Bắc Kinh hàng trăm tỷ đôla mỗi năm. Trước đây Mỹ và Việt Cộng cứ kư hiệp ước Thương Mại, và Trung Quốc cứ khởi sự xây đường Trường Sơn để kéo hỏa tiễn và tiến quân vào Đông Dương. Người Mỹ trông thấy rơ hiệp ước Thương Mại buộc họ phải đụng độ với Trung Cộng tại Đông Dương và phải bảo vệ chế độ Cộng sản Hà Nội để chống Trung Cộng. Ta thấy rơ người Mỹ không dại ǵ vào Việt Nam buôn bán làm “thương mại”, trong khi hiểm họa Trung Cộng đe dọa bằng quân sự quá rơ ràng. Dĩ nhiên, người Mỹ chẳng dại ǵ tham chiến trực diện với Trung Cộng tại Đông Dương để cứu sống chế độ Cộng sản Hà Nội.

            Hiện nay trong vùng Ấn Độ Dương chỉ có Miến Điện và A Phú Hăn là hai nước sản xuất thuốc phiện và ma túy để xuất cảng đi khắp thế giới để đầu độc nhân loại. Giờ đây th́ A Phú Hăn đă chiếm trở lại địa vị số 1 như trong thập niên 1990 và đă sản xuất 70% số lượng thuốc phiện cung cấp trên thế giới, theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc. Và cũng theo cơ quan nầy th́ thuốc phiện và ma túy sản xuất tại A Phú Hăn chỉ bán lậu trong những vùng Tây Nam và Trung Á Châu, ở toàn cơi Phi Châu mà thôi và số người ghiền ma túy trong những vùng nầy lên đến 9 triệu người, tức 2/3 tổng số người ghiền trên toàn thế giới. Mặc dầu tổng thống Hamid Karzai của A Phú Hăn ban hành sắc lệnh cấm trồng cây thẩu sản xuất ra thuốc phiện và trả cho nông dân nào không trồng cây thẩu 500 mỹ kim mỗi một mẫu Anh (acre); nhưng bọn đầu nậu sản xuất bạch phiến và dân buôn lậu lại trả lén cho nông dân trồng thẩu 6400 mỹ kim mỗi mẫu. Thành thử hiện nay ở A Phú Hăn, dưới sự bảo trợ của các sứ quân có quân đội, dân chúng vẫn ngang nhiên trồng cây thẩu. Rơ ràng "tiền tài đi trước, mực thước theo sau" là vậy đó. Và thống kê của Liên Hiệp Quốc cũng cho biết vào năm ngoái, tại A Phú Hăn, đă có 225,000 mẫu đất đă được dân chúng canh tác để trồng cây thuốc phiện tức là cây thẩu.

            Cũng nên nhắc lại là khi A Phú Hăn đang c̣n dưới quyền của bọn Hồi giáo Taliban, th́ chúng đă đánh thuế từ khi gặt thẩu đến khi sản xuất bạch phiến, rồi chuyển vận ma túy; tất cả là ba loại thuế. Tiền thuế nầy chúng dùng để mua vũ khí và quân cụ, trang trải chi phí trong việc huấn luyện cán bộ khủng bố và yểm trợ tài chánh cho quân khủng bố hoạt động ngầm tại các nước mà chúng định mở chiến dịch phá hoại để gây tiếng vang trên thế giới. C̣n thuốc phiện và ma túy sản xuất trong khu "Tam Giác Vàng" của Miến Điện th́ được đem về cho Trung Cộng, sau đó tiêu thụ tại các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ châu, đặc biệt là Hoa Kỳ. Trong việc sản xuất thuốc phiện và ma túy hiện nay th́ Miến Điện chỉ đứng sau A Phú Hăn mà thôi, theo báo cáo của cơ quan bài trừ ma túy của Liên Hiệp Quốc, trong tam cá nguyệt của đầu năm 2003. Từ ngày phe quân phiệt lên nắm quyền tại Miến Điện th́ họ "tẩy chay" không tham dự hội nghị quốc tế bài trừ ma túy họp tại Chiang Mai (Thái Lan) vào năm 1993; v́ theo h́nh ảnh do vệ tinh chụp được của công ty Spot Image th́ diện tích của những nương trồng cây thẩu sản xuất ra thuốc phiện thuộc vùng chính phủ kiểm soát có diện tích lớn gấp hai các nương thẩu thuộc vùng quân phiến loạn, và phần lớn là thuộc vùng miền Đông của sông Salween, dọc theo biên giới Trung Cộng. C̣n những vùng đất mới, sau nầy mới bắt đầu trồng cây thẩu ở trung tâm và ở miền Nam của tiểu bang Shan th́ lại được đặt dưới sự kiểm soát của quân đội quốc gia Miến Điện. Nhưng măi về sau nầy - vào giữa thập niên 90 - chính quyền Miến Điện mới có chính sách "Bài Trừ Ma Túy" và họp mặt với quốc tế tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) trong hai ngày 9 và 10 tháng 2, 1994. Trong cuộc họp nầy, tướng Khin Nyunt và bộ trưởng Nội Vụ của chính quyền Miến là tướng Mya Thin có tuyên bố là sẽ hợp tác với các vị đại diện của Thái Lan và Lào trong chiến dịch bài trừ ma túy. Các quan sát viên ngoại quốc - khi nghe hai viên tướng Miến Điện tuyên bố như vậy - th́ ai cũng che miệng mà cười v́ ai cũng biết đó chỉ toàn là những lời hứa cuội theo lối Cộng Sản Bắc Việt mà thôi.

            Sau hội nghị nầy, chính quyền quân phiệt Miến Điện - v́ muốn lấy điểm với Hoa Kỳ trong chiến dịch "Bài Trừ Ma Túy" đă xuất tiền ra mướn ông Lester Wolff, cựu dân biểu của đảng Dân Chủ trong quốc hội Hoa Kỳ và cũng là cựu chủ tịch tiểu ban kiểm soát ma túy của quốc hội Hoa Kỳ trong thập niên 1970. Ông Lester Wolff có nhiều liên hệ chặt chẽ với giới quân nhân cao cấp Miến Điện, nên đă được phe quân phiệt nầy chi cho 10,000 (mười ngàn) đô la mỗi tháng để đi vận động trong hành lang Quốc Hội Hoa Kỳ, nhất là để cho Quốc Hội hiểu rơ thêm chính sách của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của phe quân đội Miến Điện. Có lẽ ông Lester Wolff làm việc quá đắc lực nên Quốc Hội Hoa Kỳ - v́ đă thấu triệt tối đa chính sách "Siết Cổ Dân Miến Điện" của phe quân phiệt Miến - nên đă bỏ phiếu cấm hàng hóa Miến Điện không được nhập cảng vào Hoa Kỳ trong cuộc đầu phiếu vào tháng 7 vừa qua. Tuy nhiên trước đó, Lester Wolff cũng có thuyết phục được một nhóm nghị sĩ Hoa Kỳ gồm 15 người, sang thăm viếng Ngưỡng Quảng với tư cách cá nhân. Khi nhóm nghị sĩ Hoa Kỳ vừa đặt chân lên đất Miến Điện th́ quân đội nước nầy bèn mở ngay một cuộc hành quân vĩ đại vào, vùng đất cấm của quân đội Mong Tai của trùm thuốc phiện Khun Sa. Đại bản doanh của Khun Sa nằm giữa sông Salween và biên giới Thái Lan. Sau cuộc hành quân nầy, thông cáo của chính quyền quân phiệt Miến Điện cho hay là đă huy động hai sư đoàn tinh nhuệ nhất của quân đội Miến trong cuộc hành quân nầy và đă chiếm được hai vị trí quân sự quan trọng của quân đội Mong Tai; quân phiến loạn chỉ rút lui êm chứ không có chống cự ǵ hết.

            Một nghị sĩ Hoa Kỳ, ông Larry Pressler cùng đi với ông Wolff đến thị trấn Mong Ton để quan sát vụ hành quân nầy; và đă được nhà cầm quyền địa phương đưa đến căn cứ Mong tai của Khun Sa vừa mới chiếm được, tại căn cứ nầy có phát giác được một nhà máy dùng để biến chế thuốc phiện thành chất bạch phiến tức là chất heroin. Và cuộc hành quân kỳ dị nầy đă chấm dứt ngay sau khi nhóm nghị sĩ Mỹ lên máy bay trở về lại Hoa Kỳ. Câu chuyện hành quân vào khu cấm địa của Khun Sa làm cho người ta nhớ đến cảnh các viên tỉnh trưởng thời đệ nhất cộng ḥa bứng các bụi chuối, các khóm thơm, rồi đem sắp xuống những vùng đất nào có đoàn xe của ông Diệm đi qua trong các chuyến "đi thăm dân cho biết sự t́nh", nhưng thật ra th́ ông ta chả biết ǵ hết, và vẫn bị tay chân bộ hạ gạt và qua mặt ông ta một cái vèo, và đó là hậu quả đến với những nhà lănh đạo quốc gia không chịu đặt trọng tâm vào việc theo dơi và kiểm soát hành động của cấp thừa hành. Sau vụ hành quân "cuội" nầy, phe "cựu phiến loạn Wa" kẻ thù không đội trời chung với Khun Sa, nhưng lại thân với phe quân phiệt Miến, tiết lộ rằng đó chỉ là một cuộc "hành quân cuội" dàn dựng ra để gạt nhân viên "Bài trừ Ma Túy" của Hoa Kỳ, với sự đồng ư của "vua thuốc phiện Khun Sa". Đối với Khun Sa - v́ quá giàu rồi - nên y nghĩ rằng đă đến lúc nên thay đổi nghề buôn lậu ma túy và quay về nghề làm chính trị, nhất là làm lănh tụ của một bộ lạc lớn nhất nh́ ở trên đất Miến Điện như bộ lạc SHAN; v́ vậy mà trong những năm sau nầy, Khun Sa đă xuất tiền của ra để bành trướng và củng cố vai tṛ chính trị của y trong cộng đồng thiểu số Shan; để rồi sau khi chế độ quân phiệt Miến tan ră như hầu hết các chế độ độc tài quân phiệt khác trên thế giới, th́ khi ấy y sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trên chính trường dân chủ của Miến Điện trong một tương lai không xa mấỵ V́ y đă chọn con đường chính trị trong tương lai, nên Khun Sa đă mất một phần khá quan trọng về lợi tức thu được trong việc buôn bán thuốc phiện và bạch phiến v́ phải chia xẻ số lợi tức nầy lại cho một số "đầu nậu mới" đang vươn lên trong ngành nầy. Mặc dầu số lợi tức thu được trong vụ buôn ma túy có sút kém, nhưng Khun Sa đă bù đắp việc sút kém nầy bằng cách tăng gia vụ xuất cảng lậu "ngọc thạch", một loại đá dùng làm nữ trang quí giá mà chỉ có ở Miến Điện mà thôi. Những "đầu nậu mới" nầy giờ đây đang bắt tay mật thiết với đám tướng lănh trong Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự của Miến Điện.

            Dưới thời Khun Sa, việc xuất cảng lậu ma túy sản xuất trong vùng "Tam Giác Vàng" đều được đưa ra hải ngoại qua ngă Thái Lan. Nay th́ một số đường dây qua ngă Thái Lan đă bị bỏ và thay thế vào đó là những đường dây vào ngă Trung Cộng, qua ba trục chính, và mỗi trục lại có một "đầu nậu mới" phụ trách. Cuối cùng ba trục chính đó đều quy về thủ phủ Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam, ở cực Nam Trung Quốc, trước khi đến tụ điểm là Hồng Kông, để từ đó phân phát đi khắp nơi trên thế giới. Đầu nậu thứ nhất là Lo Hsing Han, "cựu vua thuốc phiện", bị kết án tử h́nh rồi được ân xá, chỉ huy trưởng dân quân của chính quyền rồi trở thành kẻ trung gian "đặc biệt" giữa chính quyền Miến Điện và các nhóm phiến loạn vơ trang phát xuất từ đảng "cựu Cộng Sản Miến Điện". Y là thủ túc thân tín của tướng Khin Nyunt, trùm mật vụ Miến Điện. Lo Hsing Han hoạt động trong tiểu ban Shan, và đóng bản doanh tại Lashio, nhưng phần lớn các nhà máy tinh chế bạch phiến của y đều ở trong vùng Kokang, rồi chuyển về Côn Minh qua ngă thị trấn Kunlong, trong tiểu bang Shan. Đầu nậu thứ hai là Chao Ni Lai, chỉ huy trưởng dân quân WA thống nhất và đóng bản doanh tại Panghsang, đại diện chính thức của Hội Đồng tướng lănh Miến Điện về quan thuế tại biên giới Miến Điện Trung Cộng. Đầu nậu thứ ba là Li Min Shin, một cựu sĩ quan của Trung Cộng biệt phái qua Miến Điện để giúp đảng Cộng Sản Miến Điện trong thập niên 1960 rồi được lệnh ở lại luôn trong nước nầy sau khi đảng Cộng Sản Miến Điện tan ră. Hiện nay Li Min Shin kiểm soát miền Đông Nam tiểu ban Shan, giữa Kengtoung và biên giới Lào. Đường xuất cảng bạch phiến của y chạy qua thị trấn Mong La nơi mà y đóng đại bản doanh; thị trấn nầy đối diện với thị trấn Talua của Trung Cộng. Tại Talua, Li Min Shin có một nhà máy sản xuất thuốc điếu, và hoạt động dưới b́nh phong của một môn bài nhập cảng thuốc lá từ Hong Kong, và hăng thuốc lá nầy chỉ là cái b́nh phong để cho Li chuyển bạch phiến qua ngă Côn Minh, hay có thể nhập thẳng đến HongKong.

            Không phải chỉ một ḿnh tướng trùm mật vụ Miến Điện Khin Nyunt trong Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự thủ lợi trong vụ buôn lậu bạch phiến mà thôi đâu; toàn thể tướng lănh chỉ huy đơn vị trong lănh thổ tiểu bang Shan đều có dính líu và cùng nhau chia chác lợi nhuận thu được từ vụ buôn lậu bạch phiến nầy, nhất là những đơn vị quân đội trong vùng Kokang của sư đoàn 99 bộ binh Miến Điện. Đại tá Kyaw Than, nguyên chỉ huy trưởng sư đoàn nầy là người "làm tiền" nhiều nhất cho tướng Tun Kyi, thống đốc Vùng Mandalay. Từ khi tướng Tun Kyi lên làm bộ trưởng Bộ Thương Măi, th́ đại tá Kyaw Than được thăng cấp tướng và lên làm thống đốc Mandalay thay tướng Tun Kyi. Có người hỏi tại sao các tướng lănh trong Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự lại chạy đôn chạy đáo kể kiếm cho ra một số công ty ngoại quốc chấp thuận đầu tư vào Miến Điện là v́ lư do nào thúc đẩy? Xin thưa rằng là v́ các vị tướng tá nầy muốn rửa sạch "tiền dơ" thu được trong các dịch vụ buôn lậu bạch phiến; và ngoại tệ thu vào do sự buôn bán gỗ trắc, cấp giấy phép khai thác dầu hỏa hay xây cất cao ốc làm khách sạn của các công ty ngoại quốc đều nằm trong kế hoạch "rửa tiền dơ" (Money Laudering) của các tướng lănh trong hội đồng. Một khi đề cập tới vai tṛ của Trung Cộng giúp đỡ tận t́nh Hội Đồng tướng lănh Miến Điện trong việc nô lệ hóa nhân dân Miến Điện mà không nói tới Thái Lan, nước láng giềng giáp ranh phía Đông của nước nầy th́ đó là một điều thật là thiếu sót.

            Sau chuyến đi Bắc Kinh để cầu viện Trung Cộng về, và đă được sự chấp thuận của Đặng Tiểu B́nh, tướng Khin Nyunt, "người hùng" của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự cho hội đồng hay rằng nếu muốn có sự đầu tư vốn của các nước ngoài th́ công việc đầu tiên là phải dẹp cho được những cuộc nổi loạn của các sắc dân thiểu số để văn hồi an ninh trên toàn lănh thổ Miến Điện. Và sau khi nhận được một số lớn vũ khí của Trung Cộng, hội đồng tướng lănh, vào cuối năm 1994, đă ra lệnh cho quân đội mở những cuộc tấn công ồ ạt vào chiến khu của các sắc dân thiểu số Karen và Mon ở dọc theo ranh giới Thái Lan và Nam Miến Điện, sau khi tạo được sự ly gián có tính cách tôn giáo giữa đa số cấp chỉ huy trung ương theo Thiên Chúa giáo và 90% dân trong bộ lạc theo Phật giáo. Trong khi đó th́ Thái Lan cũng chấm dứt sự ủng hộ của họ đối với sắc dân Karen từ trước tới nay, sau khi được Hội Đồng tướng lănh Miến hứa hẹn dành cho nhiều quyền lợi thiết thực. Trước sự phản bội của Thái Lan, cuộc chiến đấu vơ trang chống lại chính quyền quân phiệt Miến Điện của dân thiểu số Karen đành phải chấm dứt và kháng chiến quân tạm thời ră ngũ và phân tán mỏng trên khắp lănh thổ. Từ đầu thập niên 60 đến gần giữa thập niên 90, Thái Lan luôn luôn gián tiếp giúp đỡ các sắc dân thiểu số vơ trang chống lại chính quyền quân phiệt Miến Điện để dễ bề trục lợi trong những dịch vụ buôn lậu. Nhưng trong những năm gần đây, chính quyền Thái Lan đă hoàn toàn thay đổi chính sách v́ nhu cầu cấp thiết của họ là xử dụng tài nguyên thiên nhiên sẵn có của Miến Điện để cung ứng vật liệu cũng như năng lượng cho nền kỹ nghệ đang phát triển của họ. Về phía chính quyền quân phiệt Miến th́ rất trông mong có sự đầu tư vốn của ngoại quốc, v́ có như vậy mới cải thiện được đời sống kinh tế quá lạc hậu trong nước. Mà đă đặt vấn đề đầu tư của ngoại quốc, th́ Hội Đồng tướng lănh phải chứng tỏ cho thế giới thấy là họ có đủ khả năng để giữ ǵn an ninh trong những khu vực được các công ty ngoại quốc chú ư đến, đặc biệt là vùng biên giới phía Nam giáp ranh với Thái Lan và cũng là nơi đồn trú của quân đội giải phóng Karen.

            Vài ngày sau khi tổng hành dinh quân đội giải phóng thuộc sắc dân Karen ở Manerplaw bị quân đội chính phủ Miến tấn công và chiếm đóng, th́ chính quyền quân phiệt đă kư kết một hợp đồng trị giá 1000 triệu mỹ kim với các công ty Unocal của Hoa Kỳ, Total của Pháp và PTT của Thái Lan, nhằm khai thác một hệ thống ống dẫn hơi đốt lấy từ mỏ dầu Yanada ở ngoài khơi vịnh Martaban, trong Ấn Độ Dương. Hơi đốt dự trữ của mỏ dầu nầy được ước tính từ 50 đến 140 tỷ mét khối (1 tỷ = 1000 triệu). Ống dẫn hơi đốt nầy dài 415 cây số, cung cấp hằng ngày từ 7 đến 8 triệu mét khối cho một nhà máy điện có công suất 2100 Megawatts (1 megawatt = 1 triệu Watts) được xây cất tại Ratchaburi, ở phía Tây Bangkok. Ngoài năng lượng ra Thái Lan c̣n cần nước nữa v́ từ nhiều năm qua, miền Tây Bắc Thái Lan liên tiếp bị nạn hạn hán mất mùa; v́ thế cho nên chính quyền Bangkok mới đề nghị với Hội Đồng tướng lănh Miến nên khai thác tài nguyên sẵn có về thủy lực của họ. Cơ quan EGAT của Thái Lan đặc trách nghiên cứu về sản xuất điện lực đă đưa ra một dự án xây cất 6 đập thủy điện, trong đó có 2 đập nằm trên sông Salween, với kinh phí về đầu tư được dự trù là 700 triệu mỹ kim; 90% điện lực được sản xuất sẽ bán cho Thái Lan và để tưới khoảng 70,000 mẫu đất canh tác thuộc miền Tây Bắc nước Thái. Sáu đập thủy điện nầy đều nằm về phía Nam của tiểu bang Shan, giữa sông Salween và biên giới Tây Bắc Thái. Vùng nầy trước đây nằm dưới quyền kiểm soát của Khun Sa, một lănh tụ của sắc dân Shan.

            Sau khi Khun Sa đầu hàng, Hội Đồng tướng lănh Miến Điện hoàn toàn rảnh tay để thực hiện những kế hoạch lớn lao trong tiểu bang Shan, như xây một số đập trên sông Salween. Những đập nầy giúp cho Thái Lan và ngay cả Vân Nam (Yunnan) của Trung Cộng giải quyết nhu cầu cấp thiết về nước và năng lượng của họ. Trong tiểu bang Shan, đâu đâu cũng thấy có mặt các chuyên viên Trung Cộng tại các công trường xây cất cầu qua sông Salween, hoặc xây xa lộ, thiết lộ mới. Hàng hóa của Trung Cộng từ Vân Nam, tràn ngập miền Đông Miến Điện, đánh bạt cả hàng hóa của Thái Lan v́ giá cả rẻ mạt. Hội Đồng tướng lănh Miến Điện được sự yểm trợ của khối người Miến gốc Hoa lưu vong có thông hành ngoại quốc trở về nước kinh doanh dưới danh nghĩa đại diện trung gian của các công ty đầu tư ngoại quốc, nhất là trong các dịch vụ đầu tư về du lịch, về khách sạn và về bất động sản. Lẽ dĩ nhiên là trong bất cứ dịch vụ nào cũng phải có phần hùn của các tướng lănh trong Hội Đồng và bà con nội ngoại của tướng Khin Nyunt, "ngụi hùng" của chế độ. T́nh cảnh của dân Miến Điện hiện nay thật là bi đát. Chỉ có giai cấp thống trị thuộc quân đội và cán bộ đảng của chính quyền được hưởng thụ tất cả mọi sự ưu đăi, c̣n nhân dân th́ vẫn nghèo đói, vẫn bị tước đoạt tự do, bị bóc lột đến tận xương tủy trước luỡi lê và họng súng, nên đành nhẫn nhục tạm thời im hơi lặng tiếng trước sự lộng hành của phe tướng lănh quân phiệt như: thủ đoạn làm tiền, bán tài nguyên quốc gia như đất công, cấp giấy phép khai thác các hầm mỏ, các rừng gỗ quí, cấp giấy phép xuất nhập cảng cho những con buôn biết cách hối lộ... Chính những tướng lănh quân đội - nhờ tích lũy tiền bạc tham nhũng quá nhiều - đă đứng ra thành lập những xí nghiệp do chính họ quản lư và kiểm soát, tạo ra cảnh một quốc gia trong một quốc gia, giống y chang như ở Việt Nam dưới chế độ sắt máu, tham tàn của lũ Cộng Sản Bắc Việt, một lũ "hạ nhân" không xứng đáng để được xếp vào ngay cả hàng ngũ cặn bă của xă hội loài người. Chỉ có bọn tướng lănh mới biết bỏ tiền vào đầu tư ở trong những công ty sinh lợi nhanh chóng nhất như khách sạn hoặc du lịch. Các nước như Trung Cộng, Thái Lan, Pháp, Tân Gia Ba, là những nước đang khai thác tài nguyên thiên nhiên của Miến Điện mạnh nhất hiện nay, chúng ta cũng đừng quên rằng Pháp là một nước "Văn Minh" lúc nào cũng hô hào Dân Chủ, Nhân Quyền, nhưng Pháp lại là một nước chuyên dùng những thủ đoạn dơ bẩn nhất để hưởng lợi và chà đạp trên nỗi thống khổ của nhiều dân tộc trong đó có Dân Tộc Việt Nam, những cái nợ của Lịch Sử này mai sau dân tộc Việt Nam phải đ̣i hỏi chính phủ Pháp phải thực thi những công bằng cho người dân Việt Nam.

            Để trấn áp dư luận quần chúng, các cơ quan truyền thanh và truyền h́nh của chính quyền quân phiệt Miến Điện ngày đêm không ngớt rêu rao thành tích xây dựng đất nước của Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự, nhưng dân chúng thừa biết họ chỉ là những con vật hy sinh bị phe tướng lănh tận dụng để củng cố địa vị và làm giàu cho chúng. Thành thử hệ thống truyền thông của chính quyền coi như bị vô hiệu hóa v́ dân chúng chỉ theo dơi tin tức quốc tế và trong nước qua các đài BBC và VOA mà thôi. Dân chúng Miến lại càng thêm phẫn uất khi chính quyền ra lệnh phá rối buổi phát thanh bằng tiếng Miến Điện của đài BBC về cuộc phỏng vấn bà Aung San Suu Kyi, chủ tịch "Đảng Liên Minh Quốc Gia Đấu Tranh Cho Dân Chủ", ngày 21 tháng 8, 1995, 40 ngày sau khi Hội Đồng tướng lănh Miến chấm dứt quản thúc bà ta. Hành động phá rối làn sóng điện của đài BBC đă làm cho dân chúng mất hết tín nhiệm ở nơi hội đồng; nhất là trước đó họ không ngớt chỉ trích bà ta trên báo chí và truyền thanh, truyền h́nh của họ. Trong khi đó th́ bà Aung San Suu Kyi không ngớt kêu gọi phe tướng lănh nên cùng bà mở cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề đất nước. Thái độ hống hách và trân tráo của phe tướng lănh khiến cho dân Miến không làm sao quên được hành động tàn sát quần chúng đi biểu t́nh đ̣i tự do dân chủ tại thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) trong tháng 9, 1988; và việc chính quyền quân phiệt không công nhận kết quả cuộc bầu cử quốc hội lập hiến do chính họ đứng ra tổ chức vào tháng 5, 1990.

            Cứ trông bề ngoài th́ ai cũng cho rằng phe quân phiệt Miến Điện đă hoàn toàn chiếm thế thượng phong khắp mọi lănh vực như: tiêu diệt phe đối lập đ̣i tự do, dân chủ; kiểm soát chặt chẽ giới sinh viên và giới các sư săi trẻ; thành lập trong Phật giáo một đẳng cấp có nhiệm vụ tăng cường niềm tin về đạo đức; kư kết khoảng 15 thỏa ước ngưng bắn với các sắc dân thiểu số; nối lại giao thương với một số quốc gia trong vùng Đông Nam Á; tiếp nhận đầu tư vốn của một số công ty lớn ngoại quốc. Nếu Hội Đồng tướng lănh Miến đă ở trong thế thượng phong rồi th́ tại sao trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi rồi mà lại không chịu mở cuộc thương thuyết với bà ta?. Có nhiều nguồn tin dai dẳng liên quan đến giới t́nh báo quốc tế cho rằng dụng ư của Hội Đồng tướng lănh khi trả lại tự do cho bà Aung San Suu Kyi là cốt để cho bà ta nôn nóng đi thăm các cơ sở của đảng Liên Minh trên toàn quốc, rồi họ sẽ nhân một cơ hội nào đó tạo ra một tai nạn đụng xe - như bọn Cộng Sản Bắc Việt thường làm ở Việt Nam - để giết bà ta và khóa luôn miệng phe đối lập. Nhưng t́nh báo của đảng Liên Minh cũng đă phát giác được âm mưu nầy của phe tướng lănh, cho nên bà Aung San Suu Kyi nhất định không ra khỏi nhà của bà ta; và quyết định của bà đă làm cho phe tướng lănh cụt hứng. Tuy bà Aung San Suu Kyi không chịu rời khỏi nhà, nhưng tuần nào bà cũng có tổ chức những buổi nói chuyện với đồng bào ngay tại tư gia, qui tụ vào khoảng từ 5000 đến 10,000 người, đông đến nỗi làm nghẽn cả những đường lân cận, và đó là theo tin của các hăng thông tấn ngoại quốc loan tải. Họ là những người bất chấp đạo luật của Hội Đồng tướng lănh qui định phạt tù tối đa là 20 năm bất cứ ai tham gia những buổi mít tinh chống chính phủ. Họ cũng bất chấp luôn những cơn mưa xối xả về mùa hè ở Miến Điện. Trời mưa hay trời nắng th́ bà Suu Kyi cũng chỉ đội có một cái nón lá mà phụ nữ Miến thường hay đội, c̣n đồng bào của bà th́ cuộn dù lại mặc dầu trời mưa, để tỏ ḷng tôn kính vị nữ anh hùng của dân tộc họ. Thành phần đến nghe bà nói chuyện gồm đủ hạng người trong xă hội: sinh viên, học sinh, thợ thuyền, các bà nội trợ, các người buôn thúng bán bưng, các sư săi trẻ v.v... Bà tuyên bố trước đám đông - mặc dầu Hội Đồng tướng lănh ra quyết định cấm "diễn thuyết phá rối trị an và gây xáo trộn cảnh an b́nh của đất nước", nhưng bà cũng vẫn cứ gặp đồng bào hằng tuần, vào ngày chúa nhật. Theo bà th́ chính những cuộc biểu t́nh do Hội Đồng tướng lănh tổ chức mới thật là nên cấm v́ họ đă áp lực dân chúng phải đến nghe họ đả phá bà ta và như thế mới đúng là làm xáo trộn an ninh trật tự của quốc gia. Bà bảo "nước Miến Điện của chúng ta đă bị bôi nhọ khi suốt ngày đêm truyền thanh và truyền h́nh không ngớt ra rả hô những khẩu hiệu đả phá tôi". Trong khi nói chuyện với đồng bào, bà thường đưa ra những phương thức để hàn gắn những vết thương của đất nước: đó là thực thi dân chủ, có nghĩa là để cho 40 triệu dân Miến Điện tự quyết định lấy ai sẽ là người lèo lái con thuyền quốc gia.

            Mặc dầu bà Aung San Suu Kyi kêu gọi các tướng lănh trong Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái lập Trật Tự nên cùng với các chánh đảng đối lập ngồi lại với nhau để t́m một giải pháp chung cho đất nước, nhưng họ vẫn làm ngơ và vẫn tiếp tục dùng hệ thống truyền thông để đả kích bà là tay sai của Anh quốc và của CIA Hoa Kỳ. Tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nghị sĩ Mitch McConnell của tiểu bang Kentucky, thuộc đảng Cộng Ḥa và nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan, tiểu bang New York, thuộc đảng Dân Chủ, đă cùng nhau đệ tŕnh thượng viện, vào hạ tuần tháng 6, 1996 một dự án luật nhằm trừng phạt Miến Đện về kinh tế với lư do vi phạm nhân quyền. Đồng thời trước thái độ ngoan cố và gian trá của tập đoàn tướng lănh Miến Điện giả vờ phóng thích bà Aung San Suu Kyi để lấy điểm với dư luận quốc tế, nên một số công ty lớn của Hoa Kỳ đang đầu tư ở Miến Điện như công ty sản xuất quần áo Levi Strauss & Co, công ty sản xuất giày Reebok International Ltd., công ty Liz Clairborne, công ty nước ngọt PepsiCo Inc. - v́ sợ giới tiêu thụ Hoa Kỳ tẩy chay hàng hóa của họ - nên đă chấm dứt mọi hoạt động của họ trên đất Miến. Chỉ c̣n lại 2 công ty lớn Hoa Kỳ là Unocal Corp. và Texaco Inc. là c̣n dính líu với công ty Total của Pháp và công ty PTT của Thái Lan trong dich vụ khai thác đưa hơi đốt từ mỏ dầu Yanada trong vịnh Martaban vào nội địa thái Lan. Bà Aung san Suu Kyi chống lại mọi h́nh thức đầu tư của ngoại quốc vào Miến điện dưới chế độ độc tài quân phiệt của nhóm tướng lănh bộ hạ của Khin Nyunt. Bà ta tuyên bố trong một buổi nói chuyện với đồng bào: "Kinh nghiệm Miến Điện cho thấy cải cách kinh tế mà không đi đôi với cải cách chính trị th́ chả đem lại lợi lộc ǵ cho quần chúng cả". Rồi bà lại tiếp: "Chỉ có một thiểu số tướng lănh và thương gia là trở nên giàu sụ với sự đầu tư vốn của ngoại quốc vào nước nầy mà thôi, trong khi đó th́ t́nh trạng sinh sống của quần chúng càng ngày càng thêm bi đát, coi như hết phương cứu chữa".

            Vào trung tuần tháng 5, 1996, chính quyền Clinton đă nhấn mạnh với Hội Đồng tướng lănh Miến Điện nên chấm dứt những "áp lực chiến thuật" của họ đối với bà Aung San Suu Kyi, đồng thời thông báo cho chính quyền quân phiệt hay là Hoa Kỳ sẽ phái hai đại diện qua Miến Điện vào thượng tuần tháng 6, 1996. Trước khi qua Miến Điện, hai ông William Brown và Stanley Roth sẽ ghé lại Nhật Bản và môt số quốc gia vùng Đông Nam Á để thảo luận và t́m một giải pháp chính trị thích nghi cho Miến Điện sau khi Hội Đồng tướng lănh ban hành đạo luật "khóa miệng" bà Aung San Suu Kyi và đảng đối lập của bà ta. Giới truyền thông của chính quyền quân phiệt cũng đă lên tiếng cảnh cáo bà Suu Kyi là nếu đảng Liên Minh của bà ta c̣n nuôi ư định thảo riêng một bản hiến pháp, khác với bản hiến pháp của chính quyền, th́ đảng Liên Minh sẽ bị coi như là bất hợp pháp và những người tự ư thảo hiến pháp mới nầy sẽ bị kết án cho đến 20 năm tù ở. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ - qua phát ngôn viên Nicholas Burns - đă thông báo cho chính quyền quân phiệt hay là "theo Công Pháp Quốc tế, bà Aung San Suu Kyi có quyền công bố cho thế giới biết hoàn cảnh hiện tại của đồng bào bà trong nước và bà cũng có quyền đ̣i Hội Đồng tướng lănh phải phóng thích ngay những người đă bị bắt v́ đến nghe bà nói chuyện." Nhưng Hội Đồng tướng lănh Miến Điện vẫn làm ngơ trước lời kêu gọi của Hoa Kỳ.

            Từ mấy thập niên qua, Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy của Hoa Kỳ đă tiêu hàng bao nhiêu tỷ mỹ kim của ngân sách quốc gia để chận đứng việc sản xuất, chuyển vận và phân phối ma túy từ Nam Mỹ, A Phú Hăn và Miến Điện nhập lậu vào Hoa Kỳ, nhưng kết quả thâu lượm được rất là nghèo nàn. V́ không đặt nặng vấn đề t́nh báo, nên Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy đă bị "hố" nhiều lần rất là thiểu năo. Cứ đọc bức thư của ông John Law, giám đốc Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy của Hoa Kỳ gởi cho Manuel Noriega ngày 8 tháng 5, 1986 th́ rơ: "..... nhân tiện đây tôi xin lưu ư ông là chúng tôi đă thấy được những hành động vượt bực của ông trong khi thi hành chính sách bài trừ ma túy qua việc trục xuất một số "đầu nậu" buôn ma túy thuộc hạng gộc ra khỏi Panama, đồng thời tịch thu một số lượng lớn ma túy lẫn hóa chất dùng trong việc biến chế chất nầy". Sau khi Noriega bị bắt, mọi người mới hay là tên trùm cầm đầu việc nhập lậu ma túy vào Hoa Kỳ lại chính là y, c̣n những tên đầu nậu bị y trục xuất ra khỏi Panama là v́ chia tiền lời cho y quá ít. Bức thư của ông John Law vẫn c̣n được giữ trong văn khố của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ. Và mọi chuyện xảy ra trong việc bài trừ ma túy ở Miến Điện trong thập niên 80 cũng giống y chang như ở Panama dưới thời Noriega; nghĩa là cấp tướng lănh trong "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự" của Miến Điện cũng xuất cảng ma túy sang Hoa Kỳ, trong khi đó cũng vẫn nhận tiền đều đều của Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy của Hoa Kỳ để tổ chức những buổi lễ đốt ma túy (vài gói tượng trưng để ở bên trên những đống bao đựng bột giả làm ma túy) do tướng Khin Nyunt - "người hùng của chế độ quân phiệt Miến" - đến chủ tọa để cho có vẻ trang trọng và cũng để cho mấy ông Mỹ giám đốc cơ quan dễ ăn nói và xin thêm tiền với chính quyền của họ. Nhưng sau khi chính quyền Miến Điện đàn áp đẫm máu cuộc biểu t́nh ngày 8 tháng 9, 1988 và ra lệnh câu lưu bà Aung San Suu Kyi, th́ chính quyền Hoa Kỳ đă cắt tất cả mọi viện trợ cho Miến Điện kể cả việc bài trừ ma túy. Tuy nhiên để vớt vát và trước khi có cuộc bầu cử quốc hội lập hiến, vào tháng 2, 1990 Bộ Ngoại Giao Miến Điện có cử một phái đoàn qua Hoa Kỳ để vận động xin lại viện trợ về khoản bài trừ ma túy. Nhưng v́ trong phái đoàn nầy lại có sự hiện diện của tướng Tin Hla, tư lệnh sư đoàn 22 Bộ Binh Miến Điện, sư đoàn nầy đă từng tham dự vào cuộc đàn áp và giết chết hàng ngàn dân chúng Miến đi biểu t́nh ở thủ đô Ngưỡng Quảng (Rangoon) ngày 8 tháng 9, 1988, vả lại viên tướng nầy cũng chưa từng tham gia vào một cơ quan bài trừ ma túy nào từ trước tới nay, nên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă từ chối không tiếp phái đoàn. Thế là xôi hỏng bỏng không, nhưng hành động của phái đoàn Miến qua Hoa Kỳ để xin được tái viện trợ, cũng đă chứng tỏ là Miến Điện vẫn muốn cầu thân với Mỹ - v́ qua Mỹ c̣n cả một khối lớn các nước trong khối Thế Giới Tự Do nữa; chứ nếu bắt tay không thôi với Trung Cộng mà vẫn bị các nước khác trên hoàn cầu tẩy chay, th́ về lâu về dài sẽ bị Trung Cộng nô lệ hóa một cách gián tiếp. Gần hơn mười hai năm qua, Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự Miến Điện chắc đă nếm được mùi của các cố vấn và huấn luyện viên Trung Cộng như thế nào rồi, đồng thời các tướng lănh trong Hội Đồng chắc cũng đă nghe tràn tai những lời xầm x́ bất măn của mọi cấp bực trong quân đội trước thái độ xấc xược, ngạo mạn, hống hách của lũ cố vấn và chuyên viên Tàu, nên cấp tướng lănh chỉ huy Miến Điện thấy rằng nếu họ c̣n khư khư ôm chân Trung Cộng trong khi bị toàn thế giới tẩy chay không hợp tác về kinh tế, th́ họ sẽ mất dần sự ủng hộ của quân đội và sẽ khó mà nắm giữ được chính quyền về lâu về dài, đó là chưa nói đến việc có thể mất mạng nữa là khác, nếu xảy ra nội loạn mà kẻ chủ chốt rất có thể phát xuất từ cấp sĩ quan trẻ trong quân đội.

            Bà Aung San Suu Kyi bị chính quyền độc tài quân phiệt Miến Điện bắt lại lần thứ 3 trong ṿng 14 năm, sau khi chính quyền ngầm tổ chức bọn côn đồ của chúng phục kích đoàn xe của bà ta đi tổ chức nói chuyện với quần chúng tại một thị trấn ở miền bắc Miến Điện. Hai lần bắt trước th́ bà Suu Kyi bị nhà cầm quyền quản thúc "tại gia"; nhưng lần thứ ba nầy th́ chúng đem giam bà ta tại nhà lao Insein ở thủ đô Ngưỡng Quảng, giống như nhà pha Hỏa Ḷ của bọn Cộng Sản Bắc Việt ở Hà Nội. Vào cuối tháng 6, 2003 th́ chúng đem bà đi biệt giam tại một địa điểm bí mật và không cho ai thăm viếng cả. Sở dĩ chính quyền quân phiệt bắt lại bà ta là v́ họ thấy uy tín của bà lên quá cao trong ḷng quần chúng Miến Điện. Để giải thích việc chính quyền bắt lại bà ta, bọn tướng lănh quân đội Miến đă vu khống bà Suu Kyi âm mưu đảo chánh chính quyền quân đội. Trong một cuộc họp của các bộ trưởng Ngoại Giao các nước Âu Châu và Á Châu, trong đó có Nhật Bản và Trung Cộng tại Bali (Nam Dương) vào ngày 27 tháng 7, 2003 th́ toàn thể đại diện của các nước nói trên đều đồng thanh kêu gọi Miến Điện phải trả lại tự do cho bà Suu Kyi tức khắc. Tuy nhiên trước đó th́ Trung Cộng đă lên tiếng bênh vực Miến Điện bằng cách cho việc Miến Điện bắt giam bà Suu Kyi chỉ là vấn đề nội bộ của chính quyền Miến Điện mà thôi. Sở dĩ Trung Cộng lên tiếng như vậy là v́ hiện nay tại lục địa Trung Hoa, Trung Cộng đang thực thi chiến dịch đàn áp dă man những người dân của họ đang tranh đấu cho nhân quyền. Một điểm nữa đáng lưu ư là từ trước tới nay, các nước trong "Liên Pḥng Đông Nam Á" không bao giờ xâm lo vào chuyện nội bộ của nhau; thế mà nay họ lại đồng thanh yêu cầu Miến Điện phải trả tự do ngay cho bà Aung San Suu Kyi, trong khi đó th́ chính quyền độc tài quân phiệt Miến không cho bộ trưởng Ngoại Giao của họ đến tham dự buổi họp tại Bali, v́ sợ bị chất vấn mà không trả lời được.

            Thủ tướng Mă Lai, ông Mahathir Mohamad c̣n bước thêm một bước nữa, vô cùng ngoạn mục bằng cách lên tiếng kêu gọi các nước trong khối ASEAN là phải trục xuất ngay Miến Điện ra khỏi khối nầy nếu họ không chịu phóng thích ngay bà Aung San Suu Kyi. Nhưng Nam Dương, một quốc gia vẫn c̣n chịu ảnh hưởng của quân đội như ở Miến Điện, bèn lên tiếng phản đối cho rằng ư kiến của thủ tướng Mă Lai chỉ là ư kiến riêng tư của ông ta mà thôi. Tuy nhiên bộ trưởng Ngoại Giao của Nam Dương, ông Hassan Wirajuda cũng đă lên tiếng trong hội nghị Bali là khối ASEAN đang theo dơi thái độ và hành động của Miến Điện và thành thật mà nói, đang "thiếu kiên nhẫn" về vụ trả lại tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Theo lời tuyên bố của ông ta, th́ đến ngày 28 tháng 7 vừa qua, bộ trưởng Ngoại Giao Miến Điện sẽ đến thủ đô Jakarta của Nam Dương để thảo luận về việc bắt giam bà Aung San Suu Kyi. Đồng thời trong khi đó th́ nhiều quốc gia trên thế giới đă đồng loạt lên tiếng kêu gọi phải có ngay những biện pháp trừng trị Miến Điện mới được. Hoa Kỳ là nước trước tiên có thái độ đối với Miến Điện.

            Ngày 15 tháng 7, 2003 quốc hội Hoa Kỳ đă chấp thuận một số biện pháp chế tài về kinh tế đối với Miến Điện, đồng thời ra lệnh sai áp (Freeze) những tài sản của chính quyền Miến Điện tại Hoa Kỳ. Trong tháng 6, 2003 vừa qua thượng viện Hoa Kỳ cũng đă thông qua một dự luật nhằm ban hành một số biện pháp chế tài về kinh tế đối với chính quyền độc tài quân phiệt Miên Điện sau vụ bắt lại bà Aung San Suu Kyi lần thứ 3. Và tổng thống W. Bush sẽ kư sắc lệnh ban hành quyết định chế tài của lưỡng viện quốc hội đối với Miến Điện trong những ngày sắp tới đây, sau khi dung ḥa những biện pháp chế tài của lưỡng viện quốc hội. Cũng nên ghi nhận là trong cuộc đầu phiếu về biện pháp chế tài đối với Miến Điện th́ ở Hạ viện có 418 phiếu thuận cho biện pháp chế tài và chỉ có 2 phiếu chống mà thôi. Ở Thượng viện th́ có 97 phiếu thuận và 1 phiếu chống. Cuộc đầu phiếu ở lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ chứng tỏ một cách rơ rệt là các đại diện dân cử của nước nầy đă nói lên sự thiếu kiên nhẫn của họ đối với chính sách chà đạp dân chủ của đám quân nhân độc tài đảng trị Miến Điện. Biện pháp chế tài nầy sẽ cấm hẳn mọi sự nhập cảng hàng hóa của Miến Điện vào Hoa Kỳ trong ṿng 3 năm. Đồng thời cũng cấm không cấp chiếu khán cho các lănh tụ Miến nhập cảnh vào lănh thổ Hoa Kỳ. Cũng nên nhớ rằng năm ngoái Hoa Kỳ nhập cảng hàng vải, quần áo, giày dép của Miến Điện trị giá 356 triệu mỹ kim. Biện pháp chế tài nầy chỉ chấm dứt lúc nào tổng thống W. Bush chứng nhận với quốc hội rằng Miến Điện đă có những hành động tôn trọng nhân quyền và đă có những cải cách thực sự hướng về dân chủ.Thiết tưởng cũng nên nhắc lại cho quư bạn đọc nhớ rằng quân đội Miến Điện - dưới sự lănh đạo của tướng Ne Win - đă đảo chánh chính phủ dân sự của U Nu để lên nắm quyền cai trị dân Miến Điện từ năm 1962, và đă có lần chấp nhận cho dân chúng bầu cử quốc hội lập hiến vào năm 1990; nhưng sau đó đă trở mặt không giao quyền lại cho đảng "Liên Minh Quốc Gia đấu tranh cho Dân Chủ" thắng cử của bà Aung San Suu Kyi mà lại c̣n bắt giam bà nầy 14 năm nữa. Quốc Hội Hoa Kỳ cũng có kêu gọi hai nước láng giềng của Miến Điện là Thái Lan và Trung Cộng nên có những hành động thích đáng để áp lực Miến Điện phải trả tự do lại cho bà Aung San Suu Kyi; đồng thời lưỡng viện cũng chỉ thị cho ngoại trưởng Colin Powell nên khuyến cáo một số quốc gia khác hăy chấm dứt sự ủng hộ của họ đối với Miến Điện.

            Vấn đề Miến Điện là một vấn đề phức tạp, rất khó giải quyết v́ có ngoại bang nhúng tay vào - không phải họ thương ǵ dân Miến Điện - mà v́ quyền lợi riêng tư của từng nước một. Hoa Kỳ th́ quá sốt ruột khi thấy 60 % số lượng bạch phiến mang lậu vào đất nước của họ là từ khu "Tam Giác Vàng" của Miến Điện. Và chỉ có khi nào bà Aung San Suu Kyi và đảng "Liên Minh" của bà ta lên nắm chính quyền th́ họa chăng khi đó Hoa Kỳ mới có cơ hội yêu cầu chính quyền dân cử Miến phát động chiến dịch bài trừ ma túy qui mô được. Đó là chưa kể về vấn đề chiến lược, Hoa Kỳ chỉ muốn thấy trên bờ Ấn Độ Dương một nuóc Miến Điện hoàn toàn trung lập, không chịu ảnh hưởng của bất cứ một cường quốc nào trên thế giới. Trong khi đó th́ Trung Cộng cũng v́ quyền lợi giao thương và nhất là chiến lược sẽ không bao giờ bỏ rơi phe quân phiệt hiện đang nắm quyền tại Miến Điện. Trung Cộng là một nước theo xă hội chủ nghĩa nhưng cung cách cư xử về ngoại giao của họ lại không giống như các nước trong khối Cộng Sản Quốc tế, kể cả Liên Xô; đó là về phương diện t́nh cảm. Trung Cộng một khi đă đi với một nước nào rồi th́ rất khó làm cho họ tách rời khỏi nước đó. Như trong cuộc chiến tranh Việt Nam chẳng hạn, viện trợ của Trung Cộng cho Cộng Sản Việt Nam lên quá 200 tỷ mỹ kim (hai trăm ngàn triệu - đó là lời tiết lộ của ông Đặng Tiểu B́nh), thế mà khi Việt Cộng trở mặt chạy theo Liên Xô và quay về "đá" họ và chưởi bới họ không tiếc lời, th́ Trung Cộng phải chờ đến hơn 6 tháng sau mới có phản ứng dứt khoát. Và sau nầy, khi Trung Cộng giúp Hồi quốc chế tạo cho kỳ được bom nguyên tử -mặc dầu bị áp lực nặng nề đủ mọi cách của Hoa Kỳ -th́ họ cũng vẫn giúp Hồi quốc cho đến cùng. Đối với Hồi quốc c̣n như vậy huống hồ đối với phe quân phiệt Miến Điện, không những giúp cho Trung Cộng có được một bao lơn lư tưởng trông ra Ấn Độ Dương đă dành, lại c̣n chia chác cho nhân viên Bộ Chính Trị Trung Cộng mỗi người mỗi năm hàng trăm triệu mỹ kim, tiền thu được về buôn lậu bạch phiến giống như mấy năm trước đây "vua thuốc phiện" Khun Sa đút lót mỹ kim cho tướng lănh trong "Hội Đồng Văn Hồi Luật Pháp và Tái Lập Trật Tự"; th́ làm sao mà Trung Cộng có thể bỏ rơi phe tướng lănh Miến Điện cho được ?

            Giờ đây cấp chỉ huy quân đội Miến Điện đă trở thành một tổ chức Mafia chuyên sản xuất và xuất cảng lậu bạch phiến cho Trung Cộng và Việt Cộng để phân phát đi khắp thế giới, để đánh phá  xă hội Hoa Kỳ và đầu độc nhân loại; tiền của vào túi của chúng như nước, chả nhẽ một sớm một chiều chúng lại chịu phủi tay ra đi hay sao? Vả lại bàn tay của các tướng lănh Miến đă vấy quá nhiều máu của nhân dân Miến Điện rồi, giờ đây họ đang ở trong thế ngồi trên lưng cọp, nếu xuống không khéo sẽ bị cọp nhai xương ngay tức th́. V́ thế không bao giờ phe tướng lănh lại chịu rút lui êm đâu; cho nên nếu Hoa Kỳ - muốn giải quyết vấn đề đầu độc nhân loại bằng ma túy của phe tướng lănh Miến Điện - th́ chỉ có một biện pháp duy nhất là dùng quân đội để thanh toán bọn tướng lănh Mafia Miến Điện như tổng thống Bush cha đă xua quân đội vào nước Panama, bắt sống thủ lănh Noriega đem về Mỹ trị tội , đoạn đưa ra ṭa án xét xử và bỏ tù cho đến năm 2007 mới được phóng thích. Nhưng đối với Miến Điện, hiện nay có thể được coi như là một "thuộc địa" liên ranh với Trung Cộng, thử hỏi liệu Hoa Kỳ có thể dùng biện pháp quân sự như đối với Panama hay không? Và nếu dùng biện pháp quân sự th́ vai tṛ đồng minh rất là quan trọng. Có hai nước đáng được chú ư nhất là Anh quốc và Ấn Độ. Miến Điện trước đây là một thuộc địa của Anh quốc từ 1886 đến 1942 th́ bị Nhật chiếm đóng cho đến 1945, sau khi Nhật thất trận và đầu hàng quân đội Đồng Minh. Sau 1945 th́ Anh quốc trở lại Miến Điện, nhưng chỉ cai trị nước nầy cho đến tháng 10, 1947 th́ họ trả độc lập lại cho Miến Điện; v́ vậy mà dân chúng Miến mới nói lên cảm nghĩ của họ là "tuy người Anh ra đi nhưng nước Anh vẫn ở lại trong ḷng quần chúng Miến Điện".

            Ngoài ra lại c̣n có vấn đề t́nh cảm nữa; v́ bà Aung San Suu Kyi khi qua du học ở Anh quốc th́ lập gia đ́nh với một giáo sư người Anh và có được hai con bây giờ cũng đă trưởng thành. Khi bà Aung San Suu Kyi được giải thưởng Ḥa B́nh Nobel vào năm 1991, th́ chính con trai của bà lúc đó được 14 tuổi đứng ra nhận giải thưởng thay cho bà. Gia đ́nh bà chỉ được Hội Đồng tướng lănh Miến Điện chấp thuận cho thăm viếng một lần sau khi bà bị bắt lần đầu v́ có sự can thiệp rất tích cực của chính quyền Anh quốc. Và sau đó th́ bà không c̣n được chính quyền Miến Điện cho phép liên lạc với gia đ́nh nữa và khi phu quân bà qua đời v́ bệnh ung thư th́ bà cũng chẳng được liên lạc ǵ với hai con bà ở Luân Đôn cả. V́ có những dây mơ rễ má về t́nh cảm như vậy giữa Miến Điện và Anh quốc, nên rất có thể dân chúng Anh cũng chấp nhận cho Anh đóng vai tṛ đồng minh của Hoa Kỳ nếu nước nầy áp dụng biện pháp mạnh đối với tập đoàn mafia tướng lănh Miến Điện. C̣n vấn đề đưa cho được Ấn Độ vào thế liên minh quân sự với Hoa Kỳ để chống lại Trung Cộng trên lănh thổ Miến Điện th́ sẽ vô cùng khó khăn chứ không phải dễ dàng như đối với Anh quốc, muốn biết ta hăy trở về chút dĩ văng giữa Trung Cộng và Ấn Độ để nh́n lại lịch sử hai nước Trung-Ấn

            Sau khi chiếm xong lục địa Trung Hoa vào cuối năm 1949, th́ đến năm 1954, Trung Cộng và Ấn Độ cùng kư kết với nhau một “hiệp ước bất tương xâm” lẫn nhau và nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Và 5 năm sau, thủ tướng Nehru cùng cô con gái độc nhất của ông là Indira sang Nam Dương (Indonesia) để tham dự hội nghị của các nước Á Phi tổ chức tại Bandung. Tại nơi đây, thủ tướng Nehru tuyên bố sự thành lập của "Khối Các Quốc Gia Không Liên Kết", một khối chủ trương không gây hấn với ai và đứng giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Chủ trương của thủ tướng Nehru nghe bùi tai quá nên hầu hết các nước nhược tiểu Phi Châu đều tham gia khối nầy. Chu Ân Lai lúc đó là thủ tướng của Trung Cộng cũng có mặt tại hội nghị Bandung và ông ta niềm nở bắt tay thủ tướng Nehru và không ngớt đề cao tinh thần hữu nghị Hoa-Ấn. Khi về lại Ấn Độ, thủ tướng Nehru đă đi khắp Ấn Độ để quảng bá rộng răi tinh thần nầy và coi đó như là một thắng lợi ngoại giao vô cùng lớn lao của ông ta. Thế rồi bảy năm đă qua đi rất nhanh. Trong bảy năm đó thủ tướng Nehru cùng cô con gái không ngớt phát huy tinh thần hữu nghị giữa Trung Cộng và Ấn Độ ở khắp nơi trên toàn lănh thổ Ấn Độ và chỉ chú trọng vào việc vận động tranh cử để củng cố đảng của ông ta trong quốc hội; đồng thời rất lơ là về việc quốc pḥng, nhất là việc pḥng thủ đất nước dọc theo biên giới miền Đông và Tây Bắc. Trong khi đó th́ Mao Trạch Đông chỉ chú trọng đến việc vơ trang quân đội để chuẩn bị việc mở rộng bờ cơi như Lênin đă dạy. Và muốn mở mang bờ cơi hay nói đúng hơn là xâm lăng chiếm đất các nước chung quanh th́ chỉ có tiến về phía Tây thôi chứ phía Đông th́ đụng phải Thái B́nh Dương làm sao mà tiến được. Tiến về phía Tây th́ Trung Cộng đă tiến chiếm Tây Tạng từ 1959 rồi; vậy muốn chiếm thêm đất nữa th́ chỉ có chiếm đất của Ấn Độ dọc theo biên giới hai nước mà thôi. Thế rồi Chu Ân Lai đặt vấn đề biên giới với Ấn Độ, viện cớ là đường ranh Mac Mahon do thực dân vạch ra rất bất lợi cho Trung Cộng, vậy cần phải vạch lại đường ranh mới, lui sâu vào trong nội địa của Ấn Độ nên Ấn Độ không chịu.

            Thế là xảy ra chiến tranh giữa hai nước, với lực lượng quân sự giữa đôi bên rất là chênh lệch. Bên Trung Cộng - v́ có dụng ư - nên đă hoàn tất một hệ thống xa lộ khá tối tân chạy từ Tây Tạng ra tới biên giới phía Tây giáp ranh với Ấn Độ, nên tha hồ điều động quân đội một cách thoải mái, dễ dàng kể cả vũ khí hạng nặng. C̣n về phía Ấn Độ th́ đơn vị quân đội nào cũng không đủ túc số đă đành, quân trang, quân cụ cũng không đầy đủ, nhất là quần áo ấm cho binh sĩ không có, mà Trung Cộng lại chọn mùa lạnh để tấn công vào ngày 20 tháng 10, 1962. Họ xua quân qua ngă đèo Karakoram, tiến vào vùng cao nguyên Aksai Chin, để rồi từ đó chiếm trọn giải đất Ladakh thuộc miền Tây Bắc của đường biên giới dọc theo Hi Mă Lạp Sơn dài hơn ba ngàn cây số. Về khu vực miền Đông, trong vùng Assam, quân đội Trung Cộng chỉ trong vài ngày thôi đă chiếm được các thị trấn Tsang Dar, Bumla, Tawang rồi Kameng. Ngày 18 tháng 11 quân đội Trung Cộng đă tiến sâu vào nội địa của Ấn Độ khoảng 50 cây số, và khi vào đến ngoại ô thị trấn Tezpur thuộc vùng Assam th́ họ dừng lại không tiến quân nữa, đồng thời đơn phương tuyên bố ngưng bắn. Trong thời gian quân đội Trung Cộng xâm chiếm miền Bắc Ấn Độ, th́ thủ tướng Nehru - hằng ngày lên đài phát thanh kêu cứu với thế giới - là Trung Cộng đă vô cớ xâm chiếm nước của ông. Phản ứng "cấp thời" của các nước trong "Khối Các Quốc Gia Không Liên Kết" do Ấn Độ cầm đầu là các nước đó nín im thin thít, không một nước nào dám ho he lên tiếng chỉ trích hành động xâm lăng Ấn Độ của Trung Cộng hết. Giờ đây thủ tướng Nehru mới vỡ lẽ ra là trong "Khối" của ông chỉ toàn là một lũ chuột lắt và chả có con nào dám đem chuông đi buộc cổ "mèo hoang" Trung Cộng cả. Nản quá, ông ta đành xuống nước kêu cứu với Hoa Kỳ và Anh quốc trong khối Tư Bản; hai nước nầy lập tức ra lệnh cho quân đội của họ sẵn sàng ứng chiến, đồng thời huy động phi cơ, cùng chiến xa, đại pháo chuẩn bị lên đường ra mặt trận Bắc Ấn Độ để đuổi quân xâm lăng Trung Cộng. Cũng v́ có sự động binh của Hoa Kỳ và Anh quốc nên Trung Cộng mới ra lệnh cho quân đội của họ không được tiến lên nữa, đồng thời Trung Cộng cũng đơn phương tuyên bố ngưng bắn là vậy đó. Sau đó họ rút quân về nhưng vẫn chiếm đóng giải đất Ladakh của Ấn Độ, rộng khoảng 150 cây số dọc theo biên giới chạy dài theo Hi Mă Lạp Sơn.

            Sau khi bị Trung Cộng xâm lăng và mất giải đất Ladakh, thủ tướng Nehru đành muối mặt xin tổng thống Kennedy bán cho Ấn Độ 12 phi đội chiến đấu cơ siêu thanh, 2 phi đội phóng pháo cơ B- 47S, một trạm radar và vô số máy truyền tin. Thế là từ nay "t́nh Hữu Nghị Hoa Ấn" đành tan tành ra mây khói. Các nước trong "Khối Không Liên Kết" của ông lặng lẽ đi t́m những đồng minh có quân đội hùng hậu để làm thân; c̣n thủ tướng Nehru - v́ quá hận Trung Cộng - lại đang bị đau gan, nên đă nhuốm bệnh nặng và qua đời vào năm 1964, mang xuống tuyền đài một chủ trương khờ dại mà ông tưởng rằng dễ đối phó với lũ cộng sản ma đầu, nhưng rốt cục lại th́ chỉ làm tṛ cười cho hậu thế mai sau. Những người thừa kế thủ tướng Nehru sau nầy lúc nào cũng có thái độ e dè đối với Hoa Kỳ như dưới thời thủ tướng Nehru trước khi xảy ra vụ Trung Cộng xâm lăng. Thế rồi họ nghiêng về phía Nga Xô, tưởng rằng lấy độc trị độc là thượng sách, nhưng họ có biết đâu là họ đă vô t́nh mở rộng cửa cho quỷ sứ KGB vào nhà mà họ không hay. Hiện tại năm 2003 trong nước Nga cũng đă có tới hơn 20 triệu dân Tầu cư ngụ, trong đó có hơn một triệu người Tầu đă mang quốc tịch Nga, như vậy tổng cộng đạo quân thứ 5 của Hoa Lục đă lên hơn 150 triệu người trên toàn thế giới.

            Một kư giả của báo Libération, J.D. Merchet có viết trong báo nầy rằng Mạc Tư Khoa đă "cắt" mật vụ KGB ra làm hai và đó là một triệu chứng dân chủ hóa cơ quan nầy. Theo thiển ư của người viết th́ hành động nầy chỉ là một triệu chứng muốn hữu hiệu hóa thêm tổ chức nầy mà thôi.

            Từ 1986 cho đến ngày nay, cơ quan mật vụ KGB của Nga đă từng trải qua nhiều giai đoạn cải tổ, mà giai đoạn mới nhất là dưới trào của tổng thống Boris Yeltsin, chia mật vụ KGB ra làm hai ngành: FSB (ngành phản gián quốc nội) và SVR (ngành t́nh báo ở quốc ngoại). Trước đây tổ chức mật vụ NKVD - cha đẻ của KGB - cũng đă từng chia ra làm hai ngành, một ngành lo về quốc nội và một ngành lo về quốc ngoại và đều do Stalin cùng nội các của y điều khiển trong hậu trường. Giờ đây cũng vậy, chính Putin và nội các của y cũng điều khiển hai ngành FSB và SVR, nhưng lại cộng thêm tổ chức GRU (cơ quan t́nh báo quân sự đặt dưới quyền điều khiển của bộ Tổng Tham Mưu quân đội Nga) và có thêm một sự khác biệt nữa là cơ quan GRU từ nay lại hợp tác rất chặt chẽ với hai cơ quan FSB va SVR, chứ không có sự chống đối nhau như dưới thời Liên Bang Xô Viết nữa. Sở dĩ có sự kiện đặc biệt nầy xảy ra là nhờ - giữa 1985 đến 1992 - một nhóm sĩ quan cao cấp trong 3 ngành t́nh báo kể trên đă họp nhau để mổ xẻ những khuyết điểm đă từng làm tê liệt sự hữu hiệu của ba ngành nầy và kết quả của cuộc găp gỡ nầy là tăng hiệu năng của ngành mật vụ Nga dưới trào Gorbatchev rồi đến Yeltsin. Và sau đó, "Mạng Lưới Felix" ra dời, lấy tên Felix là để tưởng nhớ Felix Djerzinski, vị thủy tổ sáng lập ra Tcheka, cơ quan mật vụ đầu tiên của đảng Cộng Sản Nga Xô. Thế rồi từ 1993 đến 1999, "mạng lưới Felix" âm thầm hoạt động và bố trí ngầm một số nhân sự trong chính quyền Yeltsin để chuẩn bị đưa "người của họ" là Vladimir Putin ra nắm chính quyền sau nhiệm kỳ 2 của ông nầy. Giờ đây trong nội các của Putin gồm có 15 nhân vật đầu năo, th́ 14 người là cựu sĩ quan trong ngành mật vụ KGB; 89 cơ quan hành chánh địa phương của nước Nga nay được đặt dưới quyền kiểm soát của 7 thống đốc trong đó có 5 vị là cựu sĩ quan của mật vụ KGB hoặc của quân báo GRU. Trong khoảng thời gian giữa 1986 và 1992, "mạng lưới Felix" đă tổ chức nhiều khóa học tập để đả thông tư tưởng và chấm dứt sự kèn cựa thường xảy ra từ trước tới nay giữa 2 cơ quan mật vụ KGB và quân báo GRU của Nga.

            Chính Putin cũng đă từng tham dự những khóa huấn luyện "đả thông tư tưởng" nầy và cuối cùng đă được một số các "bậc lăo thành" trong "mạng lưới Felix" chọn, v́ là người có khả năng nhất trong hàng ngũ sĩ quan mật vụ KGB/GRU, để chuyển sang ngành chính trị. Y có nhiệm vụ nâng cao nền kinh tế nước Nga đang tuột dốc dưới trào tổng thống Yeltsin; nhưng chỉ đáp ứng điều kiện đó thôi cũng chưa đủ mà c̣n phải phục hồi lại bờ cơi trước đây của nước Nga dưới triều đại Liên Bang Xô Viết. Bằng chứng đă cho ta thấy là Putin đă thực hiện được một phần nào chương tŕnh nầy bằng cách đầu tư vào ngành kinh tế của các quốc gia trong vùng Trung Á vừa mới được độc lập cũng như vào các nước cựu chư hầu của Nga trong vùng Đông Âu qua các công tác gián điệp và lật đổ như ở các nước Ukraine, Bielorussia, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi; nhưng cách hoạt động của Nga giờ đây khác trước, nghĩa là âm thầm hành động và tránh dính líu với các cựu đảng viên cộng sản ở tại địa phương.

            Theo bản tường tŕnh của Bộ quốc pḥng Mỹ th́ cuộc chiến Đông Á sẽ phải bùng nổ. Thế nhưng chiến tranh có thể xảy ra tại khu vực này trong tương lai hay không? Bản nghiên cứu về an ninh của bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ trả lời là rất có thể. Theo các bản tin của hảng thông tấn Kyodo, một bộ phận cố vấn cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ là Ủy Ban An Ninh Quốc Gia vừa nghiên cứu và biên soạn bản phúc tŕnh.

            Ta có thể thấy rơ rệt là Hoa Kỳ vẫn để ư Trung Cộng vốn là một thực thể “đại cường” đứng đầu Á Châu. Ta cũng thấy rơ Việt Cộng ở vào cái thế bị Trung Cộng xích chặt như một con chó. Như vậy Cộng sản Hà Nội không bao giờ có thể thành thật với Mỹ trong bất cứ sự cam kết nào, trong bất cứ t́nh huống nào. Dù các đại sứ Hoa Kỳ có lạc quan, tin tưởng Cộng sản Hà Nội cách mấy đi nữa, th́ sự thật cũng vẫn là sự thật. Cộng sản Hà Nội nhầm lẫn ở điểm quá tin tưởng vào quyền lực của một ông đại sứ. Chúng tưởng cứ đánh lừa được ông đại sứ th́ cả bộ Ngoại Giao Mỹ cũng bị lừa luôn, nếu không có chiến tranh th́ quyền lực bộ Ngoại Giao là mạnh nhất trong chính quyền Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao đặt ra chính sách, đường lối đối ngoại và toàn thể chính phủ, kể cả Tổng thống, đều phải theo và phải tin là đúng, là phải.

            Nhưng trong thế chiến lược th́ lại khác. Đây là một vấn đề tối thượng với quyền lợi và nền an ninh của Hoa Kỳ là quan trọng hơn cả. Vấn đề Việt Nam chính là chiến lược. Khi đặt vấn đề lên cán cân chiến lược, th́ quyền lực của ông đại sứ và Bộ Ngoại Giao trở thành vô nghĩa trước các quyết định chiến lược. V́ vậy vấn đề Việt Nam phải do người Việt Nam đảm trách: đó là phải tiêu diệt Cộng sản Hà Nội và đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc!. Nếu các chiến lược gia Hoa Kỳ không có quyết định cụ thể để giúp đỡ dân tộc Việt Nam tiêu diệt Cộng Sản th́ hậu quả sẽ vô cùng thê thảm cho Á Châu và toàn thế giới không thể nào lường được.

            Tính theo Chiến lược th́ Bắc Kinh cũng đang kẹt nhiều vấn đề, kể cả vấn đề bị vây vào ṿng đai lửa, vấn đề Việt Nam cũng không c̣n nằm trong tay một vài nhà ngoại giao trung cấp mà đă được chuyển sang an ninh và quốc pḥng Hoa Kỳ. Việt Nam đă trở lại cái thế vào năm 1963, 1964 hay là gần 40 năm trước. Cái thế chiến lược domino Sô Viết thập niên 60 ngày nay đă trở thành domino Trung Cộng.

            Nay t́nh huống đă khác. Nước Việt Nam đă thống nhất. Dân tộc Việt Nam đă trở thành một khối người khổng lồ và chỉ căm thù Cộng sản. Năm 1975 Cộng sản chiếm được cả nước Việt Nam với sự vui mừng đại thắng. Ngày nay, Cộng sản chỉ là một thiểu số nhỏ nhoi, bơ vơ, lạc lỏng trong một biển người đầy lửa hận thù. Việt Cộng hiểu rằng khối người Việt hận thù đang nhằm tiêu diệt chúng. Chúng tính bỏ chạy Bắc Kinh hiểu rằng nếu nhảy vào Việt Nam th́ phải trực diện chiến tranh với Hoa Kỳ. Khi khởi động chiến tranh th́ vấn đề đặt ra là hỏa tiễn Bắc Kinh có bay tới Hoa Kỳ hay không? Vụ thử hỏa tiễn bắn hỏa tiễn liên lục địa  của người Mỹ vừa qua, đă thành công hoàn toàn và vô cùng chính xác. Cuộc biểu diễn này có sự hiện diện của tàu ngầm do thám Trung Cộng tại quần đảo Marshall trên Thái B́nh Dương.

            Người Mỹ đă thành công chế tạo hỏa tiễn “chống” hỏa tiễn từ lâu, từ đầu thập niên 1980, cái thời gọi là chiến tranh không gian (star war”. Nhưng ngày nay, đúng vào thời điểm Bắc Kinh yên chí là có thể dùng hỏa tiễn nguyên tử làm cái “dù che” bảo vệ cho cuộc tiến công domino vào Việt Nam và Đông Nam Á, th́ người Mỹ mới mang ra biểu diễn, để chứng tỏ họ có thể vô hiệu hóa toàn bộ hỏa tiễn Trung Cộng. Người Mỹ chứng tỏ họ vô địch và không ai có thể đẩy họ ra khỏi địa vị siêu cường bá chủ và bảo vệ trật tự ḥa b́nh thế giới.

            Ngược lại, người Mỹ có quyền “mưa” hỏa tiễn nguyên tử xuống lục địa Trung Hoa đó sẽ là ngày đế quốc Trung Hoa tan ră, tàn tạ c̣n thê thảm hơn đế quốc Nga Xô năm 1991. Chiến sách Tôn Tử đả dạy: Tiên hạ thủ vi cường!. Đánh kẻ địch sớm chừng nào hay chừng đó và nên ra tay trước, không nên chậm trể v́ kẻ địch sẽ có thể mạnh mẽ hơn hay khôn ngoan hơn. Trong một cuộc đấu súng, phần thắng về kẻ nào bắn giỏi, bắn nhanh và nổ súng trước!. Bắc Kinh ngại ngùng v́ nếu trực diện chiến tranh nguyên tử với Hoa Kỳ th́ cả nước Tàu sẽ bị tiêu diệt. Nếu cứ đi nước chậm, tiến từng bước th́ cũng vẫn thua v́ kế hoạch quá lộ liễu.

            Một ẩn số khác làm điên đầu Cộng sản Hà Nội là “ai” sẽ là người đứng ra lănh đạo toàn dân Việt để tiêu diệt chúng? Lực lượng và kế hoạch nào có thể tiêu diệt một chế độ chuyên chế công an trị, vẫn thường tự hào là không thể có đảo chính từ bên trong nội bộ hay tấn công từ bên ngoài. Một điều thê thảm cho Cộng sản Hà Nội là chúng biết chắc chắn rằng sẽ chết nhưng không biết ai sẽ tiêu diệt chúng và tiêu diệt bằng cách nào?.

            Binh pháp yếm trá! (không phải binh bất yếm trá). Việc quân sự chiến lược đang diễn biến th́ không thể nói thật. Tác giả chỉ có thể khẳng định là tập đoàn Cộng sản Hà Nội và các tổ chức ngoại vi Cộng sản, quốc doanh trong Mặt Trận Tổ Quốc, đặt biệt là các tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng đang hoạt động tại Hoa Kỳ, trong các diện tị nạn chính trị, giả dạng HO (bằng cách hành hạ tra tấn hoặc bỏ đói các tù nhân chính trị miền Nam cho chết rồi dùng tên tuổi và số quân của họ ép uổng vợ con họ ghép form để sang Hoa Kỳ dưới danh nghĩa cựu tù nhân chính trị và tiếp tục nằm vùng hoạt động cho Cộng Sản, tất cả những tṛ hề rẻ tiền này Việt Cộng không qua mắt được người Mỹ), ODP, bảo lănh, con lai v.v...chúng phải bị loại bỏ càng sớm càng hay. Với người hiểu biết chiến lược quân sự, cũng như t́nh h́nh chiến lược sở trường, sở đoản của đối phương, th́ Trung Hoa chỉ là một con cọp giấy đang bị què quặt, không có giá trị quân sự đáng kể. Dân tộc Việt Nam không cần phải sợ Cộng sản Hà Nội hay Cộng sản Bắc Kinh.

            Nh́n xa hơn nữa, cái thế kẹt của Hà Nội c̣n nặng nề hơn nhiều. Hà Nội và Bắc Kinh đă không thể lừa Mỹ bằng cách dùng tiền lợi nhuận từ kinh tế hay thương mại với Mỹ để sửa soạn domino. Kế hoạnh tiến tŕnh domino đă lộ tẩy! Bắc Kinh càng ngày càng tỏ ra hung hăng hỗn láo với Mỹ. Dù muốn, dù không người Mỹ cũng phải coi Bắc Kinh và Cộng sản Hà Nội là kẻ thù nguy hiểm. Việt Cộng sẽ hoàn thành đường Trường Sơn vào năm 2003?, ta có thể thấy đây có thể là một thứ “phản tin” (Disinformation). Sự thật th́ chính công binh Trung Cộng sẽ trực tiếp xây dựng cầu cống và các kiến trúc đ̣i hỏi kỹ thuật cao và khó khăn, Bắc Kinh không thể tin Cộng sản Hà Nội sẽ hoàn tất công tŕnh xây dựng chiến tranh. Do đó họ phải làm lấy cũng như họ đă xử dụng một quân đoàn dă chiến và nhiều đơn vị công binh để gở khoàng 2.3 triệu quả ḿn tại biên giới Hoa-Việt, từ năm 1994 đến 1999 mới hoàn tất. Bắc Kinh cần phải làm xong đường Trường Sơn trong thời gian kỷ lục và đủ để chuyển quân ngay trong năm nay!.

            Một lư do rùng rợn khác cho Cộng sản Hà Nội là khối người Việt 80 triệu đang căm thù chúng đến múc sôi sùng sục, chỉ chờ cơ hội là bùng nổ, nổi loạn. Việt Nam như là một kho xăng vĩ đại chỉ cần 1 cây quẹt, một que diêm, là đủ thiêu đốt chúng ngay. Việt Cộng đang lo bỏ chạy với tiền bạc, sẽ chẳng c̣n bụng dạ nào giữ ǵn trật tự hay bảo vệ chính quyền. Nếu quân Tàu phải tiến vào để chiếm đóng Đông Dương và giữ trật tự th́ mọi việc sẽ nổ to hơn cả Đệ Nhị Thế Chiến, v́ đó là chiến tranh nguyên tử mà Việt Nam sẽ là băi chiến trường khởi sự. Lúc đó th́ không c̣n ai có thể kiểm soát nổi t́nh h́nh. Điều quan trọng là nước cờ chiến lược giữa Bắc Kinh và Hoa Kỳ hiện nay, mà dân tộc Việt Nam 80 triệu người sẽ là “điểm”, sẽ là yếu tố gây sự và cũng là yếu tố quyết định.

            Thành thử ông Bush phải được đắc cử thêm một nhiệm kỳ nửa và nếu ông Bush có ư định áp dụng biện pháp mạnh đối với lũ tướng lănh Miến Điện để chận đứng nạn đầu độc nhân loại bằng ma túy của bọn mafia được Trung Cộng đỡ đầu nầy, th́ không nên kỳ vọng vào Ấn Độ sẽ là đồng minh của Mỹ, v́ cố vấn Nga sẽ không bao giờ để cho Ấn Độ nghiêng mạnh về phía Hoa Kỳ và sẽ khuyến cáo Ấn Độ nên có thái độ "kính nhi viễn chi" đối với Hoa Kỳ là tốt nhất, Một thí dụ cụ thể là ngày 24 tháng 6 vừa qua, tổng thống Nga Putin đă tuyên bố trên đài phát thanh về thị trấn Konigsberg được đổi tên Kaliningrad khi Liên Bang Xô Viết chiếm đóng vào năm 1945 và nay lănh thổ nầy vẫn thuộc về nước Nga; nhưng thật ra thị trấn Konigsberg trước đây thuộc về nước Đức. Và cái gương của Ấn Độ có là bài học cho Nga trong tương lai chăng, một ngày đẹp trời nào đó con cháu của Hồng Thất Công tự nhiên vứt bỏ Đả Câu Bổng, từ trong các “trại Lao Cải” vượt tuyến chạy sang Nga khoảng 50 triệu nửa th́ liệu ông trùm Puttin sẽ tính sao đây?, vậy Nga và Ấn Độ có nên "kính nhi viễn chi" chăng?.

            Trong nhiều năm qua bọn Cộng sản Hà Nội không bao giờ dám nói lên, báo chí, phát thanh, truyền thông thân Cộng ở hải ngoại lại càng không bao giờ nói đến. Lẽ giản dị là hầu hết bọn Việt gian Cộng sản và chó săn tay sai, quốc doanh c̣ mồi, đều quá ấu trĩ, ngu dốt, kiêu căng, ích kỷ. Chúng tưởng rằng chúng đang làm "chính trị Cộng sản" và chắc chắn sẽ thành công, sẽ buộc Hoa Kỳ phải thua chúng và phải cho chúng các đặc quyền, đặc lợi và hàng trăm tỷ đôla đầu tư, thương mại, viện trợ, cho vay. Đám c̣ mồi Việt Gian ở Hoa Kỳ và hải ngoại chúng chỉ lo bợ đỡ, nịnh nọt Cộng sản đến mức không bao giờ nhắc nhở đến vấn đề phải lật đổ hay tiêu diệt Cộng sản. Chúng ngang nhiên công nhận sự hiện hữu của Cộng sản. Chúng không bao giờ dám nhắc đến tội ác Cộng sản. Chúng không bao giờ dám nhắc đến ḷng căm thù Cộng sản của toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong hơn 10 năm qua, hầu hết bọn báo chí, phát thanh, thông tin chỉ tuyên truyền có lợi cho Cộng sản. Chúng chỉ đ̣i tự do tôn giáo, và đ̣i hỏi nhân quyền kiểu c̣ mồi Cộng Sản chúng không hề có một tiếng nói cho dân tộc Việt Nam, cho tổ quốc Việt Nam. Trên thực tế nhiều sự thật chính trị và chiến lược đang diễn tiến ngoài sự hiểu biết ngu dốt của bọn t́nh báo Cộng Sản nằm vùng ở hải ngoại cũng như ở Hoa Kỳ.

            Tuy trông bề ngoài bọn nội thù Cộng Sản chúng vẫn b́nh yên, nhưng không c̣n một thằng Cộng sản nào nghĩ đến đảng, đến đồng chí, đến chống Mỹ cứu nước. Tên Cộng sản nào cũng đầy túi tham, biết cái chết đến nơi và chỉ lo t́m đường chạy trốn. Nhưng biết chạy đi đâu Lư tưởng duy nhất hiện nay của chúng là chạy sang Mỹ! Nhưng hỡi ơi, Bắc Kinh cũng hiểu điều này và không cho chúng chạy sang Mỹ. Bọn Việt gian Cộng sản phải làm bù nh́n chó săn, tay sai cho Bắc Kinh cho đến khi nào Trung Cộng chiếm đóng toàn bộ Đông Nam Á Châu. Bắc Kinh không thể chấp nhận cho Việt Cộng phản thùng, trở cờ chạy theo Mỹ. Người Tầu đă âm thầm hạ  sát và tiêu diệt tất cả những tên Cộng sản "muốn" đi với Mỹ và chống Tầu và những tên Cộng sản đang hoạt động và trú ngụ tại Hoa Kỳ. Nhưng c̣n nước th́ c̣n tát, bọn cán bộ Cộng sản ở Hoa Kỳ và bọn ở Việt Nam muốn chạy trốn sang Mỹ vẫn c̣n mơ mộng hăo huyền rằng Mỹ sẽ dung nạp chúng, sẽ sử dụng chúng như một lực lượng khả dĩ đối đầu với Trung Cộng. Trung Cộng "đă" thôn tính Việt Nam và dùng bọn bù nh́n người gốc Hoa như: Lê Khả Phiêu, Lê Minh Hương, Phan văn Khải, Phạm văn Trà, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Mỹ Hoa. Đứng sau lưng bọn này c̣n có tên toàn quyền người Tầu và khoảng 250,000 ngàn cán bộ, gián điệp Tầu. Bắc Kinh chưa cần phải sử dụng quân đội và vũ khí chiếm đóng Việt Nam và Đông Nam Á ngay cấp thời. Người Tầu dùng chiến lược "tầm ăn dâu", tiến chiếm Đông Nam Á theo chiến lược domino từ từ trong sự yên lặng. V́ cần phải tiếp tục buôn bán với Mỹ, người Tầu hiểu rằng mọi sự lộ liễu sẽ khiến cho Mỹ làm khó dễ mậu dịch và như vậy sẽ ảnh hưởng ngay đến kinh tế Trung Cộng với hơn 500 triệu công nhân sản xuất.

            Tháng 7 năm 2003 vừa qua Trung Cộng coi như đă chiếm xong Miến Điện, Đông Dương với 3 nước Việt Miên Lào. Đầu tháng 9 năm nay 2003 bắc Kinh ra thông báo cho dân Tầu đi du lịch thoải mái ra nước ngoài, nhưng thanh niên Tầu “chỉ thích” đi du lịch ở 3 nước đông dương , (Việt Miên Lào) Miến Điện và Cộng Ḥa Nga, (đây là lối chiến thuật chuyển quân tương đối mới), một nguồn tin từ Bộ Quốc Pḥng xin miễn nêu tên cho hay vào giữa tháng 8 2003 Trung Cộng đă bí mật đưa thêm khoảng 250 ngàn (250,000) quân qua đông dương và đang uy hiếp, khống chế Thái Lan và Tân Gia Ba Indonesia, Lào và Phi Luật Tân th́ đang hỗn loạn bởi bàn tay gián điệp Trung Cộng. Các nước Đông Nam Á ngay sau khi Bắc Kinh công khai khống chế biển Nam Hải và con đường hải vận qua biển Nam Hải, quan trọng vào bậc nhất thế giới phần lớn thành phần lănh đạo chính trị và kinh tế của các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam hiện nay, đều là người gốc Hoa. Riêng Thái Lan có hơn 7 triệu người Hoa và gốc Hoa trong số 60 triệu dân, lănh đạo mọi ngành. Bắc Kinh sẽ xua nhiều triệu quân Tầu chiếm đóng Đông Nam Á theo lối diệt chủng dân địa phương, theo kiểu lấy thịt đè người, Bắc Kinh đang chuẩn bị những phương tiện cần thiết cho một chiến lược đại quy mô và tân tiến. Đó là vấn đề xây dựng đường xá, cầu cống, hải cảng, tiếp liệu xăng dầu, và quan trọng nhất là xây dựng các pháo đài, các căn cứ hỏa tiễn cùng với xa lộ Trường Sơn dài hơn 1,000 dậm/miles (khoảng 1600 cây số) để khống chế toàn bộ vùng biển Nam Hải, Bắc kinh sẽ bất thần tấn công Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, Guam và quần đảo Hạ Uy Di. Các yếu tố địa h́nh chiến lược (geostrategic position) của Đông Nam Á và sự bành trướng phối trí chậm chạp (slow deployment) của bối cảnh sự triển khai toàn diện (full strategic development) địa bàn chiến lược. Nếu tính từ thập niên 1990 đến nay 2003 th́ Bắc Kinh đă thực hiện "xong" kế hoạch chiến lược tiến chiếm Đông Nam Á mà không cần phải trực diện nổ súng.

            Bắc Kinh thong thả, không cần vội vàng v́ người Tầu thấy rằng không có ai, kể cả Hoa Kỳ có kế hoạch chiến lược cụ thể khả dĩ đối phó hay ngăn cản. Bắc Kinh tin tưởng chắc chắn rằng không có ai, nhất là Hoa Kỳ, có can đảm đưa quân vào lục địa Á Châu để đối đầu với họ. Chiến tranh tại lục địa Á Châu là một cơn ác mộng hơn là một chiến lược, mà không chiến lược gia hay tướng lănh quân sự nào dám nghĩ tới. Đối với Bắc Kinh, Á Châu đă là lănh thổ của họ từ ngàn xưa, Đông Nam Á là món đồ nằm trong túi, cất kỹ trong tủ sắt của Trung Cộng, và nước Việt nam chỉ là một tỉnh nỗi loạn của Tầu, như trong các sách giáo khoa mà Tầu đă dạy dân của họ, khi các cầu đường chiến lược, các hải cảng, cơ sở lọc dầu ở Việt Nam, các sân bay, bệnh viện, ống dẫn dầu được chuẩn bị xong trong đầu năm 2003, th́ cuộc chuyển quân của Bắc Kinh xuống phía Nam sẽ bắt đầu. Bọn lănh đạo đảng Cộng sản Hà Nội chỉ cần kêu rầm là đang bị Hoa Kỳ đe dọa tấn công và cầu cứu Bắc Kinh, là đủ lư do cho quân Tầu tràn vào chiếm đóng Bắc Việt để bảo vệ chế độ Cộng sản Hà Nội bù nh́n của Tầu. Lịch sử Việt Nam hơn một ngàn năm dưới sự thống trị diệt chủng đồng hóa của Trung Hoa và cuộc chiếm đóng 30 năm của quân Minh từ năm 1396 đến 1427, và gần đây nhất là trận đánh kiểu "diệt chủng" tại Lạng Sơn, biên giới Hoa - Việt tháng 2 năm 1979, th́ ta hiểu rằng lần này người Tầu cương quyết tiêu diệt dân tộc Việt Nam, một dân tộc duy nhất trong hơn 2 ngàn năm qua, đă bẻ gẫy mọi cuộc tiến quân của Trung Hoa xuống phía Nam để chiếm đóng toàn bộ Á Châu.

            Ta có thể h́nh dung quân Tầu tràn ngập Việt Nam. Chúng sẽ đẩy một số thanh niên Việt Nam - quân đội Việt Cộng - tiến chiếm Thái Lan, Tân Gia Ba. Trong khi đó chúng tiêu diệt số đàn ông, con trai ở lại. Chúng sẽ bắt hết đàn bà, con gái làm nô lệ, lao động, hộ lư và đẻ con Tầu lai. Một số dân ở các vùng sản xuất phải nai lưng sản xuất gạo lúa, rau quả, gà vịt, ḅ lợn để tiếp tế nuôi hàng triệu quân Tầu, nuôi kẻ thống trị. Gia đ́nh binh sĩ Tầu sẽ chiếm đóng các tỉnh và tịch thu toàn bộ nhà cửa, vàng bạc, cơ sở sản xuất, ngân hàng, cửa hàng, hàng hóa. Người Tầu sẽ buộc phải dùng tiền Tầu với đồng "nguyên" nhân dân tệ và áp dụng luật pháp sắt máu và tàn bạo đối với kẻ bị trị. Các trường học sẽ phải dạy tiếng Tầu làm ngôn ngữ chính. Tiếng Việt sẽ chỉ c̣n là tiếng nói cho đến khoảng 10 năm sau hay là một thế hệ sau, tiếng Tầu sẽ là ngôn ngữ chính với lũ trẻ Tầu lai. Nông dân Tầu không có ruộng đất sẽ tràn sang và dần dần thay thế nông dân Việt Nam tại vùng đồng ruộng. Một số lớn con gái, phụ nữ sẽ được thu gom gửi về Tầu để làm vợ.... những người Tầu trong số 110 triệu người không thể kiếm ra vợ. Nạn trai thừa gái thiếu tại Trung Hoa do vấn đề chỉ được phép sinh một con và người Tầu thường giết bào thai và trẻ sơ sinh gái để sinh con trai.

            Chỉ trong một thời gian ngắn Trung Cộng dùng chiến lược "lấy thịt đè người" có thể đưa nhiều triệu quân tràn ngập Việt Nam và Đông Nam Á, đe dọa toàn thể Á Châu và thế giới, và không quá 10 năm, Việt Nam và các nước Đông Nam Á có thể bị xóa tên hẳn trên bản đồ thế giới. Trong trường hợp diễn tiến như trên Hoa Kỳ có thể sử dụng vũ khí nguyên tử và Việt Nam sẽ có thể trở thành chiến trường nguyên tử. Như vậy, chiến tranh nguyên tử và các đám mây bụi phóng xạ sẽ gây cái chết cho Việt Nam và các dân tộc toàn thế giới c̣n mau chóng hơn nữa. Người Việt hải ngoại nên ư thức được sự thật vô cùng nguy hiểm cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam, vạch trần âm mưu thâm độc, tàn ác của bọn Việt gian Cộng sản và bọn chó săn tay sai báo chí, phát thanh, thông tin, quốc doanh - liên tôn - đang hoạt động mạnh mẽ cho Cộng sản Hà Nội ở hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ. Nguy hiểm hơn nữa là bọn tay sai chó săn cho Cộng sản Hà Nội ngày nay làm việc hoạt động trực tiếp do lệnh từ Bắc Kinh. Chúng ngậm miệng không dám đả động đến vấn đề Trung Cộng đang chiếm giữ việt Nam qua bọn tay sai bù nh́n là Trung Ương Đảng Cộng sản Hà Nội. Như vậy bọn chó ngao chó săn báo chí truyền thông, quốc doanh - liên tôn phạm thêm tội nửa là bán nước cho Tầu.

            Vào năm 2000 Trung Cộng làm thân với Nga ở phía Bắc và lấn chiếm Lào, diệt chủng người Hmong ở Lào. Họ ra lệnh cho Cộng sản Hà Nội xúc tiến làm đường xa lộ Lạng Sơn - Hà Nội dài 160 cây số và đă hoàn tất cuối tháng 1, 2001, với ngân khoản $120 triệu đôla do Ngân Hàng Phát Triển Á Châu cho vay con đường này được nối liền với xa lộ số 5 nối liền Hà Nội với cảng Hải Pḥng. Hà Nội cũng được lệnh từ Bắc Kinh phải xây thêm 5 cây cầu vượt sông Hồng. Những cầu này mỗi chiếc dài khoảng 3 cây số (2 dậm/miles), rộng 8 làn xe với 32 mét ngang, sẽ được xây dựng tại Thanh Tŕ, Nhật Tân, Vĩnh Tuy, Thượng Cát và Từ Liêm. Mỗi cây cầu trị giá khoảng $400 triệu mỹ kim hay là hơn 2 tỷ mỹ kim cho cả 5 cây cầu. Cầu Thanh Tŕ đă được khởi công xây cất từ lâu để hoàn thành vào cuối năm nay (năm 2003). Cộng sản Hà Nội có thể được Ngân Hàng Thế Giới và Phát Triển Á Châu cho vay tiền hoặc du di từ những dự án khác. Thí dụ Ngân Hàng Thế Giới đă đưa cho Hà Nội một sự án xây đường xe điện (métro) ngầm và nổi cho vùng Saigon, Chợ Lớn, Vũng Tầu, trị giá $2,650 triệu đôla Bắc Kinh cũng ra lệnh cho Hà Nội xây dựng cảng Vũng Áng ở Hà Tĩnh để tiếp nhận tiếp tế cho những đoàn quân xâm lăng tiến xuống Đông Nam Á. Dĩ nhiên xa lộ Trường Sơn sẽ dùng làm xương sống cho hệ thống pháo đài, căn cứ quân sự và căn cứ hỏa tiễn để khống chế toàn vùng Đông Nam Á và bất thần tấn công Đệ Thất Hạm Đội .

            Chỉ riêng 5 cây cầu vượt sông Hồng, cộng thêm 3 cây cầu đă có sẵn, ta có thể thấy Trung Cộng chuẩn bị đưa nhiều triệu quân xuống phía Nam, tràn ngập các quốc gia Đông Nam Á. Những con đường Xuyên Á từ bờ biển Việt Nam xuyên qua Bắc Thái Lan đến Miến Điện, bờ biển Ấn Độ Dương, và những con đường từ Vân Nam Quí Châu xuống Miến Điện, xa lộ Trường Sơn cũng đang được hoàn thành. Ta cũng có thể thấy Cộng sản Hà Nội đă trở thành bù nh́n, chó săn cho Bắc Kinh, và tiếp tay quân đội Tầu chiếm cứ Việt Nam và các nước khác.

            Vấn đề tiêu diệt Cộng sản Hà Nội trở nên gấp rút hơn bao giờ hết! Việt Nam đă trở thành yếu tố quan trọng trong chiến lược quân sự quốc tế. Sự sống c̣n của chế độ Bắc Kinh và Cộng sản Hà Nội tùy thuộc và các diễn biến chiến lược, có thể ngay trong năm nay. Trong khi đó th́ Cộng sản và toàn bộ báo chí phát thanh Việt gian và tuyên vận Cộng sản hải ngoại tại Hoa Kỳ, vẫn loay hoay đánh lừa và đánh lạc hướng người Việt với mấy con bài c̣ mồi Thích Quảng Độ, Nguyễn văn Lư, Nguyễn Chí Thiện với chiêu bài "Hiệp Định Paris", Việt Nam Cộng Ḥa Foundation do "Quân Sư" Vũ Quốc Thúc đứng bên trong giật dây.

            Ta có thể ước lượng chỉ trong vài ba năm nữa, Bắc Kinh sẽ khống chế toàn bộ Đông Nam Á và Á Châu và có ảnh hưởng chính trị, quyền lực mạnh mẽ từ Âu sang Á. Hoa Kỳ sẽ bị hạ giá xuống thành cường quốc hạng nh́. Lúc đó, với sự tổ chức Thế Vận Hội tại Bắc Kinh năm 2008, cả thế giới sẽ đến "thiên triều" Bắc Kinh để "chầu" và treo cờ, tranh giải. Vậy vấn đề được đặt ra là làm sao cho Cộng Sả Hà Nội và Cộng Sản Bắc Kinh sụp đổ càng sớm càng hay!

            Đứng trên b́nh diện chính trị cao và siêu chiến lược quốc tế, th́ mấy tên cán bộ cục Phản Gián gần chết như Đặng Phúc Tuệ tức Thích Quảng Độ, Nguyễn văn Năng tức Thích Thanh Cát, Lê đ́nh Nhàn tức Thích Huyền Quang, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Thanh Giang.... (tất cả những tên này đều mang quân hàm Tướng Công An) đều là những tên mù tịt tiếng Anh, th́ làm nên cơm cháo ǵ với siêu chiến lược quân sự của Hoa Kỳ? Hoạt động chính trị, gián điệp, tuyên vận, kiều vận, tại Hoa Kỳ mà chỉ nhờ vào mấy tên chó săn, tay sai, c̣ mồi tung hứng, hoan hô, cổ vũ trên các hệ thống truyền thanh báo chí của chúng th́ làm sao thành công? Rồi lại được mấy tên Việt gian trở cờ dốt như Vẹm, tiếng Anh chỉ đủ đi chợ và loan truyền tin đồn nhảm, giầu tưởng tượng lạc quan tếu, th́ Tổng Cục Phản Gián Yết Kiêu Hà Nội sẽ phải chết thật nhanh th́ cũng đúng thôi.

            Từ bây giờ và cho đến khi Cộng sản bị tiêu diệt, sẽ chẳng có tên tổng bí thư Cộng sản Hà Nội nào được đến Bạch Cung gặp tổng thống Hoa Kỳ, hội hợp, hợp tác thượng đỉnh. Người Mỹ để dành sự gặp gỡ thượng đỉnh cho lănh đạo người quốc gia trong tương lai. Vị lănh đạo này sẽ được sự hợp tác và ủng hộ toàn diện của Hoa Kỳ và quốc tế.

            Vấn đề Cộng sản Hà Nội lệ thuộc Bắc Kinh, làm bù nh́n, tay sai, bán nước cho Tầu là chuyện rơ ràng, ai cũng biết. Chỉ có bọn tay sai, nằm vùng hoạt động cho Cộng Sản tại Hoa Kỳ là không bao giờ dám lên tiếng nhắc đến chuyện này. Nhưng TCPG "quên" rằng Hà Nội không c̣n một chút síu liên lạc và vận động hành lang hay là "cảm t́nh" ǵ với Hoa Thịnh Đốn. Bọn lốp bi đă hết làm việc từ lâu rồi. Chính quyền của TT Bush toàn là những bộ mặt... chiến tranh với những nhân vật từng có những kinh nghiệm và kỷ niệm cay đắng, sắt máu với Cộng sản Hà Nội. Bộ trưởng Ngoại Giao Colin Powell là một cựu chiến binh từng đánh nhau ở Việt Nam. Richard Armitag thứ trưởng Ngoại Giao lại là một nhân vật Ngũ Giác Đài. Ông Armitage nói tiếng Việt như cháo, có vợ người Việt, từng phục vụ 4 nhiệm kỳ ở Việt Nam. Cuối tháng 4, 1975, ông Armitage c̣n cứu được 30 tầu hải quân VNCH đưa sang Phi Luật Tân.

            Đầu tháng 3, hầu như tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều cho cắm "lá cờ POW-MIA với h́nh người tù binh Mỹ cúi đầu bên chấn song sắt" cùng với lá cờ tiểu bang và liên bang. Đây là dấu hiệu rơ ràng cho Hà Nội thấy rơ vấn đề người Mỹ mất tích mà Hà Nội c̣n giam giữ vẫn là sự quan tâm hàng đầu trong mọi thương lượng, cũng từ đầu năm các tiểu bang và thành phố trên nước Mỹ đua nhau ra Nghị Quyết cho cắm cờ Việt Nam Cộng Ḥa (cờ vàng ba xọc đỏ) (Logo?), để biểu hiện tinh thần chống Cộng của người Việt Nam tự do đang sinh sống trên đất nước Hoa Kỳ. V́ "quên" như vậy nên Tổng Cục Phản Gián đă hố to khi không chịu thay đổi kế hoạch chiến thuật và nhân sự. Ngày nay, những tên như : Đặng Phúc Tuệ tức Thích Quảng Độ, Nguyễn văn Năng tức Thích Thanh Cát, Lê đ́nh Nhàn tức Thích Huyền Quang, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện, Đoàn viết Hoạt, Nguyễn Thanh Giang... đă hết ăn khách chúng chỉ là những con số không to tướng với chính quyền Hoa Kỳ. Lâu lâu người ta mới thấy nhà "Thơ Con Cóc" Nguyễn Chí Thiện xuất hiện một lần "bố Thiện" nói đến văng cả nước bọt mà cũng chỉ có trên dưới vài chục tên c̣ mồi ngồi nghe. Thật là tội nghiệp cho ông Thiện vào ngày 17 tháng 8 năm 2003 bọn c̣ mồi tổ chức buổi nói chuyện cho ông Thiện tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng Việt Nam tại bắc California, mà cũng chẳng có ma nào thèm nghe. Nhưng cũng đáng mừng cho ông Thiện là sau 27 năm " làm ngục sĩ", vừa bịnh ho lao, vưà lé, vừa lưng gù, ngày nay, sau khi ở mỹ được 8 năm ông Thiện nhờ "Đế Quốc Mỹ" nuôi ăn nuôi ở cho nên ông Thiện trông Béo ra, "Tướng Tốt" như một “lănh tụ” người Việt Nam ở hải ngoại, (3 tấm ảnh ông Thiện mặc áo vét (vest) cổ cồn chụp vào năm 1951, 1958 và 1959 được in trong tập thơ " Hạt Máu Thơ hay là Hoa Địa Ngục 2 " của ông Nguyễn Chí Thiện cho thấy " nhà Thơ " Nguyễn Chí Thiện không bị lé, hơn nửa từ năm 1956 cho đến năm 1958 cả miền bắc kinh hoàng v́ Đảng Cộng Sản trong chiến dịch đấu tô Nhân Văn Giai Phẩm, và trước đó là chiến dịch Phản Phong do Cộng Sản chủ trương, vậy thời đó ông Thiện là ai mà đi đâu cũng Com Lê Áo Vét? trong khi cả Miền Bắc thời đó hàng triệu triệu người đang khốn khổ, không có cơm ăn áo mặc đói rét , th́ chỉ có ông Thiện và gia đ́nh ông được ăn no mặc đẹp quư độc giả tự suy nghiệm lấy muốn biết thêm xin độc giả vào trang Web. www.dominotrungcong.com). Từ năm 1992 đến nay, hầu như mỗi ngày, trên báo đảng đài đảng hải ngoại chỉ nghe thấy tin tức do tên "bịp phịa" Vơ văn Ái tung tin nào là Cộng Sản đàn áp tôn giáo trong nước dữ lắm, Cộng Sản bắt bớ tra tấn các tu sĩ Phật Giáo rất dă man, nào là "bắt rồi lại thả", "bỏ tù rồi lại tha", tịch thu máy vi tính, công an bỏ các "Ngài" ngoài đường trước cổng chùa để "ngài tăng thống Vẹm" Thích Huyền Quang phải đi bộ vào chùa," nào là quản chế tại gia" nhưng vẫn ở trong chùa, vẫn tự do đi khắp nơi, khắp nước, chửi bới công an Cộng sản như chửi chó, mà vẫn không sao!. Rồi báo chí, phát thanh, thông tin Cộng sản loan báo rầm rầm là Cộng sản đàn áp tôn giáo ghê gớm lắm.

            Hơn mười mấy năm qua, hay là vào đầu thập niên 1990, Cộng sản Hà Nội đă nhập cảng văn hóa Tầu vào Việt Nam. Trẻ con thích mặc đồ Tầu, coi phim bộ Tầu. Ngay ở trên nước Mỹ này nhất là quận Cam,(Orange County, CA) trong số báo Tầu có một tờ báo, báo Chí Linh, (và đa số các báo Việt ngữ đều có mục mỗi tuần một nhân vật HongKong), chuyên phổ biến những chuyện Tầu và truyện cổ, truyện xưa, với tính cách nhồi sọ từ từ và dần dần với tính cách trường kỳ, cho văn hóa Tầu quen thuộc và tiêm nhiễm vào trí năo người Việt, bên Việt Nam th́ xe gắn máy Trung Cộng tràn ngập Việt Nam với giá rẻ. Trên truyền h́nh các tỉnh hầu hết là phim bộ của Tầu với cả gia đ́nh chúi đầu vào xem. Trẻ con và một số lớn Thanh niên, Thanh nữ Việt Nam thuộc sử Tầu, đời nhà Minh, nhà Thanh hơn thuộc sử Việt Nam. Số hàng nhập cảng qua Lạng Sơn vừa chính thức vừa qua dạng hàng lậu đă lên trên 3 tỷ đôla mỗi năm. Hàng hóa rẻ tiền Trung Cộng đang tiêu diệt kinh tế èo uột trong nước và thu gom hầu hết tiền ngoại tệ nặng (Dollars) do người Việt  gửi về nuôi thân nhân (khoảng 5 tỷ đôla/năm). Mới đây, có tin Cộng sản Hà Nội sẽ bơm 800 triệu đôla cho kỹ nghệ may dệt để tăng xuất cảng gấp 4 lần, ước lượng sẽ lời 4 tỉ đôla năm 2005 và 8 tỉ đôla năm 2010. Ta đừng vội mừng, nếu t́m hiểu th́ 800 triệu này là vốn của Tầu Cộng và Tầu Đài Loan. Chúng tính sẽ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ để hưởng qui chế tối huệ quốc, đồng thời chuyển kỹ nghệ may dệt của Việt Nam thành kỹ nghệ của Tầu!.

            Người Việt hải ngoại và trong nước vẫn chỉ là một khối 80 triệu người thầm lặng. Họ không có một tiếng nói, một tờ báo hay đài phát thanh ở bất cứ đâu. Lẽ giản dị là bọn Việt gian Cộng sản và lũ chó săn, tay sai, c̣ mồi quốc doanh đă chiếm lĩnh, kiểm soát hầu hết báo chí, sách báo, và các đài phát thanh hải ngoại. Chúng đang tiếp tay cho hai kẻ nội thù và ngoại thù là Việt Cộng - Trung Cộng tiêu diệt dân tộc Việt Nam! Một vài tờ báo hay đài phát thanh độc lập thường chỉ hoạt động có tính cách tư nhân. Những danh từ "kháng chiến chống Cộng", nhân quyền", "tranh đấu", "tôn giáo" đều bị chúng làm cho trở thành nhơ nhuốc kinh tởm khiến không c̣n ai dám nghĩ đến. Các cuộc biểu t́nh, xuống đường chống Cộng và các tổ chức chính trị đều bị chúng lũng đoạn, lung lạc, nhồi sọ bằng "ḥa b́nh, sống chung" "Ḥa hợp, ḥa giải", Đa Nguyên, Đa Đảng", và lái sang hướng "không” chống Cộng!. Khối người Việt 80 triệu không có lănh đạo, không có tổ chức, không có báo chí thông tin, nhưng 80 triệu người Việt đều có một mối căm hờn, căm thù tột độ đối với Cộng sản. Trong thâm tâm, mỗi người Việt đều hiểu rằng phải tiêu diệt Cộng sản để cứu Tổ Quốc Việt Nam, cứu lấy quê hương thân yêu, cứu đồng bào đang sống trong đói khổ, đọa đầy của hỏa ngục Cộng sản. Đây chính là sức mạnh chính yếu và vô địch sẽ tiêu diệt Cộng sản và ngăn chận tham vọng quân xâm lăng của Trung Cộng .

            Đây là sự thật chiến lược và tại sao đất nước và dân tộc Việt Nam đang ở trong một t́nh trạng chiến lược vô cùng khủng khiếp: Bị kẹt giữa thế đối đầu, thử lửa, tranh chấp của hai sức mạnh ghê gớm nhất thế giới hiện nay: Hoa Kỳ và Trung Cộng!. Bọn xâm lăng phương Bắc hiểu rằng con đường xâm lăng là con đường hai chiều. Sự xâm lăng Việt Nam sẽ trở thành sự thất bại đưa đến sự sụp đổ đế quốc Trung Hoa! Bọn xâm lăng phương Bắc phải hiểu rằng trong lịch sử, chúng đă thảm bại mỗi lần đưa quân xâm lăng Việt Nam. Bọn xâm lăng phương Bắc phải hiểu rằng chúng sẽ thua trận, thảm bại trong mưu đồ xâm lăng diệt chủng Việt Nam và đế quốc Trung Hoa sẽ tan ră thành nhiều mảnh.

            Nói chung, từ 1995 đến nay, chính trị chiến lược của Cộng sản Hà Nội hoàn toàn không có ǵ thay đổi hay mới lạ. Vẫn con đường chủ nghĩa xă hội một chiều Cộng sản Hà Nội ở trong cái thế "trên đe, dưới búa" hay là cái thế kẹt, thế chết. Bắc Kinh th́ kềm kẹp chặt chẽ từ lời ăn tiếng nói, từng bước đi, đứng, th́ làm sao đi với Mỹ? Đối với Mỹ th́ Cộng sản Hà Nội không bao giờ có thể thành thật, mà người Mỹ th́ không thể chấp nhận sự dối trá, lường gạt. Ngoài ra, c̣n vấn đề chiến lược. Cộng sản Hà Nội ở vào cái thế một tên đầy tớ gian manh, ăn cắp, giảo quyệt, phản trắc, sớm đầu tối đánh, nói láo như ranh.... th́ không có "ông chủ" nào chịu nổi. Vấn đề cán bộ Cộng sản giầu có, trở thành tư bản đỏ, muốn chạy trốn sang Mỹ định cư, an hưởng của cải ăn cướp, th́ lại càng mơ hồ, xa vời hơn nữa. Nhiều chuyện "tai nạn bất ngờ" đă khiến cho các diễn biến chiến lược thay đổi thật nhanh và có lợi cho dân tộc Việt Nam. Vấn đề tiêu diệt Cộng sản Hà Nội sẽ rất dễ dàng và trong thời gian thật ngắn. Tư bản đỏ, cán bộ Cộng sản, ngoại giao đoàn Cộng sản, sẽ bị dẫn độ về nước để đền tội, trong một ngày không xa. Tự nhiên vấn đề thay thế chế độ Cộng sản phải đặt ra, về yếu tố sức mạnh chiến lược Á Châu th́ là vấn đề sử dụng sức mạnh nhân dân Việt Nam, sự thử lửa đầu tiên (first test, first blood) về sức mạnh này là vấn đề sử dụng để tiêu diệt chế độ Cộng sản Hà Nội, sức mạnh này đă được hun đúc bằng lửa căm thù Cộng sản mỗi ngày mỗi tăng thêm, từ hơn 50 năm qua. Điều lạ lùng là không ai, kể cả Cộng Sản Hà Nội và Trung Cộng, dám nhắc nhở đến sức mạnh này, v́ đó là một sức mạnh không mấy người biết và không thể kiểm soát hay điều khiển bằng những thủ đoạn, chiến thuật thông thường.

            Năm 1945, toàn dân Việt Nam, lúc đó mới có hơn 20 triệu người, đang trỗi dậy với niềm khao khát độc lập tự do sau hơn một thế kỷ hỗn loạn, chiến tranh, nô lệ. Hồ chí Minh và Việt Minh đă cướp chính quyền dễ dàng với sự trỗi dậy và khao khát đó. Ngày nay, với gần 80 triệu người hun đúc lửa căm thù Cộng sản, Việt Nam đă trở thành một cái núi lửa, có thể đốt cháy tiêu tất cả chế độ Cộng sản Hà Nội với 2.5 triệu đảng viên và bất cứ đoàn quân xâm lăng nào từ phương Bắc.

            Gần đây có tin cho hay là Lê Khả Phiêu "bị hạ bệ" th́ đây chỉ là một màn c̣ mồi nhiều mặt. Mặt thứ nhất là dụ cho các đảng viên cấp cao thân Mỹ chống Tầu "lên tiếng" phụ họa để giết, tiêu diệt làm sạch sẽ đảng Cộng Sản với những tên thân Mỹ, manh nha đi với Mỹ. Mặt khác th́ dụ Mỹ rằng các anh cứ vào Cam ranh đi, chúng tôi đă khóa tay Lê Khả Phiêu tên cán bộ Tầu, rồi bất thần tấn công Đệ Thất Hạm Đội. Mặt khác nữa là nhử mồi bọn cán bộ tuyên vận và bọn tay sai chó săn c̣ mồi, bọn làm kinh tế, gián điệp nằm vùng tại Hoa Kỳ là Đảng vẫn có khả năng đi với Mỹ, đừng vội bỏ chạy hay phản thùng (jump ship)!. Nếu hiểu Cộng sản th́ ta biết ngay tṛ bịp Cộng sản. Với chức vụ tổng bí thư, Lê Khả Phiêu có toàn quyền sinh sát. Thật ra th́ Lê Khả Phiêu có toàn quyền sinh sát ngay từ cuối năm 1989 với sự hậu thuẫn của Bắc Kinh. Phiêu đă ra lệnh hạ sát Phạm Hùng bằng thuốc độc ngay năm 1990 để cắt đứt vấn đề giao hảo, liên minh quân sự với Mỹ.

            Năm 1991, chính Phiêu đă hạ bệ bộ trưởng Công An Mai Chí Thọ và bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch v́ hai tên này chủ trương đi với Mỹ. Tổng Cục Phản Gián cũng được lệnh Phiêu cho gián điệp nhà thổ Dương thu Hương đốt cháy con bài "đi với Mỹ" là bác sĩ Bùi Duy Tâm vào tháng 3/1991. Năm 1991, 1992, Phiêu cũng ra lệnh giết các tướng Trần B́nh (bằng đụng xe), Hồng Lam (bằng súng hăm thanh), Lê Trọng Tấn và Hoàng văn Thái (bằng thuốc độc bỏ trong nước uống). Những người này là tướng giỏi có uy tín với quân đội và có tinh thần, chủ trương điều quân chống Trung Cộng. Phiêu có tướng ti hí mắt lươn, mặt hơi ngái ngủ, là tướng của một tên đại dâm, và cũng là đa sát. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu không giết ai th́ thôi, chứ "bố thằng nào" dám tính chuyện hạ bệ tổng bí thư? ta nên nhớ rằng bọn Cộng Sản không bao giờ chia quyền lực cho ai kể cả người của chúng, v́ chúng có quá nhiều kinh nghiệm giết người cướp của, cho nên chúng biết rằng, một khi rời khỏi quyền lực th́ sẽ bị những tên Cộng Sản khác hay là chính những tên thủ hạ của chúng sẽ t́m mọi cách giết ngay để cướp đoạt tài sản và quyền lực

            Bắc Kinh hiểu bọn Cộng sản Hà Nội là bọn chó đẻ phản phúc nhất, nên họ kềm giữ thật chặt chẽ, không cho cục cựa hay phản thùng đi với Mỹ. Người Tầu khinh bỉ coi thường bọn Cộng sản Hà Nội là thứ chó đẻ hèn mạt nhất, không thể tin tưởng chúng bất cứ điều ǵ. Mỗi khi họp Trung Ương Đảng, Quốc Hội hay đại hội đảng tại Hà Nội đều phải có cán bộ Tầu Cộng ngồi ngay hàng ghế đầu, hay ngồi ghế chủ tọa, để cố vấn, chỉ đạo, ra lệnh. Cộng sản Hà Nội chỉ là một lũ chó săn ngậm miệng, không dám sủa lên một tiếng gọi là có. Lê Khả Phiêu làm chó săn bù nh́n của Bắc Kinh đương nhiên sẽ ở lại cho đến khi t́m ra một con chó săn khác của Bắc Kinh thay thế. Ta có thể nh́n thấy ngay Cộng sản Hà Nội chỉ là chư hầu, chó săn cho Bắc Kinh, ngay từ thập niên 1950, từ tên đồ tể Hồ Chí Minh cho đến ngày nay, th́ làm ǵ c̣n chủ quyền, độc lập?, nhưng chúng lúc nào cũng to mồm nói tự chủ, tự do, xâm phạm chủ quyền mỗi khi chúng bị thế giới lên án chỉ trích. Cộng sản ngu đến nỗi cố gắng bám chặt quyền lực thống trị. Chúng tưởng mọi người Việt sẽ mắc lừa chúng với vài ba tên c̣ mồi nhân quyền, ḥa giải, ḥa hợp, phản kháng, phê đảng và quên đi vấn đề tiêu diệt Cộng sản. Cộng sản cần phải hiểu rằng sức mạnh tiêu diệt Cộng sản không ở trong tay một số hội đoàn của người Việt hải ngoại. Những hoạt động hải ngoại của Cộng sản đă trở thành những cuộc tấn công vào khoảng không!. Nhưng ai sẽ tiêu diệt Cộng sản, và ở đâu, từ đâu đến, là điều khó đoán trước?. Làm sao biến căm thù thành hành động và sức mạnh tiêu diệt Cộng sản đó mới là vấn đề chính.

            Trong bài diễn văn tuyên thệ nhậm chức của Tổng Thống G. W. Bush đọc trước Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Một điểm đáng chú ư là Ṭa Bạch Cung không mời bất cứ một thân hào, nhân sĩ, tôn giáo, đảng phái, báo chí, phát thanh nào trong các cộng đồng Việt Nam, kể cả đại sứ Cộng Sản Hà Nội Lê văn Bàng, làm đại diện cho khối dân tộc Việt Nam. Bạch Cung cũng không mời bất cứ sắc dân nào trên thế giới. Bạch Cung đă mời một người Việt Nam "vô danh", anh Lê Minh 29 tuổi, làm "đại diện" dân tộc Việt Nam, đến ngồi chung danh dự cùng với gia đ́nh tổng thống Bush khi ông đọc diễn văn!. Như vậy chính quyền Hoa Kỳ đă "nh́n ra" sức mạnh vô địch của 80 triệu người Việt Nam. Sức mạnh này có thể tiêu diệt Cộng sản, cản bước tiến của Bắc Kinh tràn xuống Đông Nam Á ! Điều bí hiểm là toàn thế giới, kể cả những bộ óc hạng nhất ở Bắc Kinh và Hà Nội đều không hiểu phương pháp, kế hoạch nào có thể xử dụng sức mạnh toàn dân (Peoplés Power) ghê gớm và vô địch này.

            Ngày 27 tháng 4, 1995, trung tướng Dương Thông, tổng cục trưởng Tổng Cục Phản Gián, bị Lê Khả Phiêu ra lệnh đầu độc giết chết. Dương Thông vốn dĩ là tai mắt của chế độ và đảng Cộng sản từ thập niên 1950. Dương Thông đă ngăn ngừa mọi sự mâu thuẫn, sô sát và nổi loạn, đảo chính, trong nội bộ đảng. Sau khi giết được Dương Thông, Lê Khả Phiêu hoàn toàn thao túng đảng Cộng sản Hà Nội và tiêu diệt phe người Việt chống Bắc Kinh và muốn đi với Mỹ. Với người Việt quốc gia, Lê Khả Phiêu đă có "công" khi tiêu diệt bớt một số đảng viên Cộng sản nguy hiểm. Sau này, vấn đề tiêu diệt Lê Khả Phiêu và bọn cán bộ đảng viên cấp cao thân Bắc Kinh sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng. Cũng cần phải nhắc lại là chính Lê Khả Phiêu đă ra lệnh giết thủ tướng Phạm Hùng năm 1990 và hai tướng CS Hoàng văn Thái và Lê Trọng Tấn - hai tướng có tài và rất có uy tín trong quân đội CS và có thể điều quân chống xâm lăng Trung Cộng - đă bị Phiêu ra lệnh đầu độc giết chết trước khi hai tướng này nắm giữ bộ Quốc Pḥng. Sau đó, Phiêu chỉ định tướng Đoàn Khuê, một tướng "Tầu" lên nắm bộ Quốc Pḥng.

            Ngày 28 tháng 2, 2001, tổng thống Nga Vladimir Putin đến Hà Nội để bàn chuyện mua bán vũ khí, chuyện nợ nần và Vịnh Cam Ranh. Hà Nội hí hửng mừng thầm. Hà Nội xin được Nga giảm nợ từ 10 tỉ đôla xuống 85% c̣n 1.5 tỉ đôla và trả trong 23 năm, mỗi năm 100 triệu, bằng cà phê và gạo. Cộng sản Hà Nội tính rằng Nga phải trả tiền thuê Cam Ranh là 2 tỉ đôla cho đến năm 2004 và định dùng tiền này để mua vũ khí Nga để... đánh Mỹ, hay là dùng áp lực quân sự buộc Mỹ phải cho quy chế tối huệ quốc và viện trợ đầu tư. Nhưng TT Putin trả lời thẳng thừng là năm 1979, trong một hiệp ước, Cộng Sản Hà Nội đă cam kết cho Nga sử dụng cảng Cam Ranh "miễn phí"! Một nhà ngoại giao Mỹ ở Hà Nội nói thẳng: "Vấn đề Hà Nội muốn cho Nga thuê Cam Ranh 5 năm nay 10 năm, chẳng quan trọng ǵ đối với chúng tôi" Bọn Cộng sản Hà Nội muốn đi với Mỹ quá nên thích tạo dựng và thổi phồng rằng Mỹ rất thích Cam Ranh, sẽ "vào" Cam Ranh, và chính bản thân chúng hi vọng rằng chuyện có thật để chúng được chạy trốn sang Mỹ.

            T́m hiểu lịch sử th́ Cộng sản Hà Nội giả vờ quên. Ngày 17 tháng 2, 1979, trong cái lạnh 0 độ, gần 2 triệu quân Trung Cộng tràn qua hơn một ngàn cây số biên giới từ Lạng Sơn đến Lào Kay và tiêu diệt toàn bộ quân trú pḥng Việt Cộng, khoảng 70 ngàn quân. Trung Ương đảng và bộ Chính trị tưởng quân Tầu kéo vào Hà Nội ngay, chỉ cách khoảng 140 cây số, nên vội vă bỏ chạy như ma đuổi vào Saigon. Quân Tầu dọn dẹp sạch sẽ toàn biên giới trong một trận đánh "diệt chủng" (genocidal warfare) đầu tiên của thế giới trong thế kỷ 20, xong rồi rút ngay và nói là cho Cộng sản Hà Nội một "bài học". Người Tầu úy kỵ Nga Xô sẽ đánh từ phía Bắc xuống và Cộng sản Hà Nội đánh từ phía Nam lên thành gọng ḱm, nên phải rút vội. Tháng 9, 1979, Hà Nội và Mạc Tư Khoa mới kư kết một cách muộn màng Hiệp Ước Hỗ Tương Quân Sự (Mutual Defense Pact) để pḥng hờ Trung Cộng đánh nữa th́ Nga Xô sẽ tấn công ngay. Trong hiệp ước này, Hà Nội đă bằng ḷng cho Nga Xô sử dụng cảng Cam Ranh miễn phí và vĩnh viễn.

            Ngày 14/12/1995, một đoàn cán bộ cấp cao của đoàn Cộng sản Trung Cộng do Jia Qinglin (Giả Thanh Lâm), bí thư tỉnh ủy Phúc Kiến và cũng là ủy viên trong ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng sản Trung Cộng, cầm đầu để "giúp" Cộng sản Hà Nội viết "Cương Lĩnh Chính Trị" (Political Platform) cho Đại hội đảng kỳ 8. Phái đoàn đến ở Hà Nội trong 2 tuần và đi - không được thông tin cho báo chí biết. Cương Lĩnh này hoàn toàn cứng rắn, không đổi mới, không dân chủ và không đi với Mỹ. Đầu năm 2001, người Tầu cũng đến Hà Nội để viết Cương Lĩnh "dùm". Trung Ương Đảng hội họp liên miên về cái Cương Lĩnh Chính Trị "thổ tả" này. Dù sao th́ Đảng Cộng Sản Hà Nội phải nghe "lệnh" từ 3 quan sát viên Trung Cộng có mặt thường trực ngay tại Hà Nội cán bộ Tầu có mặt mỗi khi họp Quốc Hội, họp Trung Ương Đảng và bộ Chính Trị, Bắc Kinh kềm giữ Hà Nội vô cùng chặt chẽ, không cho nhúc nhích cục cựa.

            Chủ Thuyết Cộng Sản là biến các tên lănh đạo Đảng trở thành những tay tư bản đỏ cho nên phần lớn các tên tư bản đỏ ở Việt Nam v́ đă bóc lột, vơ vét xương máu và tham nhũng của dân quá nhiều tiền nên đă t́m cách nghỉ hưu non và muốn ôm tiền chạy trốn sang Mỹ, c̣n bọn đang lănh đạo lại là những tên ăn chưa no và vơ vét chưa đầy túi, chưa có hàng trăm triệu gởi các nhà băng (bank) ngoại quốc và bị buộc phải làm theo lệnh Bắc Kinh. Lệnh Bắc Kinh quái ác ở chỗ phải tiêu diệt bất cứ tên nào manh nha trốn đi Mỹ và chuyển tiền sang Mỹ rồi cho vợ con sang Mỹ trước. Phe tư bản đỏ có quá nhiều tiền, chúng tính chẳng dại ǵ ở lại chịu chết, nên cố chuyển tiền và chạy trốn sang Mỹ. Nhưng tính là một chuyện. Mang được tiền vào Mỹ an toàn lại là chuyện khác. Rồi đến bản thân có vào được Mỹ sinh sống hay không lại là chuyện khác nữa!, mà vợ con đă sống ở Mỹ rồi th́ có được sống yên thân hay không lại là chuyện đáng nói khác. Riêng bọn cán bộ tư bản đỏ có nhiều tiền th́ tính đường chuyển tiền sang Mỹ và bỏ chạy. Bọn này hiểu rằng t́nh h́nh quá nguy ngập với toàn thể nhân dân thù hận bên trong, Bắc Kinh đè đầu cưỡi cổ, và Mỹ th́ chỉ có bánh vẽ nơi đầu lưỡi, đầu môi. Cái thế 80 triệu người thù hận với hai anh khổng lồ chận đầu, chận đuôi, th́ làm sao sống, làm sao tồn tại, làm sao chạy trốn?. T́nh h́nh c̣n nguy khốn hơn nữa nếu Hoa Kỳ bỏ rơi luôn, cắt đứt mọi viện trợ, cho vay, cắt bỏ mọi thứ chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ, th́ cán bộ Cộng sản tư bản đỏ, giầu có chỉ c̣n có nước khóc. Không có tiền Mỹ, Bắc Kinh sẽ ra lệnh lột của tư bản đỏ lấy tiền. Ta có thể thấy một màn rùng rợn là Cộng sản làm thịt lẫn nhau. Mang cái "mác thân Mỹ" cũng có nghĩa là bản án tử h́nh, tiền bạc bị lột sạch sẽ. Từ năm 1995 đến nay, nhiều người Việt đă phát tài v́ mang tiền mặt sang Mỹ dùm cho cán bộ để hưởng hoa hồng, khoảng 20%. Một số văn pḥng chuyển tiền đă trở thành rửa tiền (Money Laundering) hay là ủi tiền cho tư bản đỏ. Nhưng hầu như những món tiền khổng lồ thất tán, xé lẻ khi qua nhiều tay, nhiều giai đoạn. Trong khi đó th́ chính chủ nhân những số tiền khổng lồ này c̣n bị kẹt ở Việt Nam không thể sang Mỹ. Ta thấy đồng tiền tham nhũng, ăn cắp của nhân dân khó mà bảo toàn hay hưởng thụ. Đôla Mỹ th́ trả về Mỹ! Của thiên trả địa là vậy!

            Ngày 27 tháng 3, truyền h́nh Cộng sản Hà Nội đă chiếu một đoạn phim ngắn về cuộc "nổi loạn" của đồng bào Thượng. H́nh ảnh cho thấy những người biểu t́nh dùng "súng" cao su (ná thung) bắn đạn sỏi vào bộ đội, công an mang súng AK! Ta có thể h́nh dung người Thượng thấy sự tàn sát và cái chết đến nơi đă phải dùng "súng" cao su chống lại trong tuyệt vọng, 24 người Thượng chạy sang Căm Bốt, tỉnh Mondolkiri, và bị bắt, khai rằng c̣n khoảng 1,100 người Thượng (đàn ông) đang chạy trốn khi quân Cộng sản bố ráp, tiêu diệt họ. Nhưng số 1,100 người đă biến mất tiêu, có lẽ họ đă bị Cộng sản tiêu diệt. Chính quyền Hun Sen chuẩn bị giao những người Thượng khốn khổ này cho Việt Cộng và đó là cái chết chắc chắn cho họ. Tổng cộng số "vũ khí" mà Cộng sản tịch thu được của người Thượng Cao Nguyên "nổi loạn" là 30 khẩu súng săn kiểu thô sơ 80 năm về trước, được Cộng sản công bố kể là thành tích.

            Cuối cùng Hun Sen đă nhượng bộ, đưa những người Thượng này về Nam Vang. Liên Hiệp Quốc có đại diện đến thăm họ và Hoa Kỳ sẵn sàng tiếp nhận họ định cư. Khoảng đầu tháng 4 có tin những người Thượng đói khổ và mang bệnh sốt rét này đă được làm thủ tục đi Hoa Kỳ. Ngày 10/4, Cộng sản Hà Nội cay cú chính thức phản đối Hoa Thịnh Đốn về quyết định cho tị nạn 24 người Thượng này Phan Thúy Thanh, phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Cộng nói" Chúng tôi coi đây là một hành động can thiệp vào nội bộ Việt Nam, một việc làm sẽ khuyến khích những vụ vượt biên bất hợp pháp và gây bất ổn trong khu vực. Những người đó tuyệt nhiên không xin tị nạn chính trị. Họ phải được trở về việt Nam." Ngày 13/4, 10 người Thượng đầu tiên đă lên đường đi Mỹ định cư. Đầu tháng 7 vừa qua có khoảng 60 người thượng đến Nam vang xin được tị nạn chính trị Toà Đại Sứ Mỹ ở Nam Vang đă chấp thuận yêu cầu của họ.

            Ngày 3 tháng 2, 2001, để kỷ niệm ngày thành lập đảng Cộng sản Đông Dương, TCPG tung ra một đ̣n "6,000 người Thượng biểu t́nh" để có cớ, có lư do dùng 2 quân đoàn và máy bay, xe tăng đàn áp tiêu diệt người sắc tộc, theo đúng chỉ thị từ Bắc Kinh. TCPG cũng pḥng hờ là nếu cần th́ sẽ dùng người Thượng làm điều kiện trao đổi với Mỹ.

            Về phương diện chiến lược, Trung Cộng "ép" mạnh mẽ buộc Cộng sản Hà Nội phải diệt chủng người sắc tộc, nhất là những người Thượng theo Tin Lành, khoảng 2 triệu người sống dọc theo vùng Trường Sơn, để Bắc Kinh xây dựng Trường Sơn thành pháo đài khổng lồ khống chế Đệ Thất Hạm Đội và kiểm soát toàn bộ vùng Nam Hải và Đông Nam Á Châu, từ đảo Hải Nam đến eo biển Malacca, cửa ra vào Ấn Độ Dương và thông thương giữa Tây Phương và Á Châụ Khi kế hoạch này thành h́nh, trong vài ba năm, th́ Nhật Bản và Đài Loan, Nam Hàn chỉ c̣n nước bó giáo quy hàng. Quân lực Hoa Kỳ phải trở về ranh giới phía Đông quần đảo Hạ Uy Di. Hoa Kỳ sẽ trở thành cường quốc số 2, nhường cho Trung Cộng trở thành số một. Lúc đó, khoảng năm 2005, th́ cả thế giới, kể cả Hoa Kỳ, phải cúi đầu hướng về phía "thánh địa" Bắc Kinh để thần phục và triều cống. Có lẽ v́ tính trước ư đồ của Bắc Kinh, ngày 28/3/01, Hạ Viện Hoa Kỳ đă bỏ phiếu khuyến cáo Ủy Hội Thế Vận không nên cho Trung Quốc tổ chức Thế Vận năm 2008.

            Chiến lược của Bắc Kinh đă rơ ràng - quá rơ ràng, nên không thể che mắt bất cứ ai. Như vậy dụng ư của Bắc Kinh lộ liễu, công khai, không cần phải úy kỵ người Mỹ. Người Tầu nghĩ rằng người Mỹ không có chiến lược nào khả dĩ đối nghịch với chiến lược "tầm ăn dâu" của họ. Vả lại Trung Cộng họ “không” ra mặt hoạt động gián điệp hay phá hoại trên lănh thổ Hoa Kỳ th́ người Mỹ không thể cáo buộc, và không thể tấn công.

            Vậy chiến lược của Hoa Kỳ đối phó ra sao! Người Mỹ có biết trước thủ đoạn chiến lược của Bắc Kinh hay không? Phạm vi bài này không thể nói ra nhiều chi tiết chiến lược quân sự. Muốn đối phó với Bắc Kinh và chiến lược "tĩnh", thầm lặng, theo kiểu tầm ăn dâu, đi từ từ, không phải là điều dễ làm. Lấy "động" để khắc chế "tĩnh". Cái "động" này lại không cần phải có chiến tranh và nổ súng. Đó là bí mật siêu chiến lược! Vậy "mặt mũi" của cái siêu chiến lược này ra sao Hoa Kỳ đă nghĩ ra chưa Hà Nội và Bắc Kinh đang điên đầu v́ chưa có chiến lược gia nào đủ tầm vóc suy nghĩ "siêu chiến lược" cũng như chiến lược "hóa giải"!

            Ngày 1/4/01 chiếc phi cơ do thám điện tử Mỹ loại EP-3E (Electronic Patrol) Aries II bị phi cơ Trung Cộng đụng trên không phận quốc tế và phải xin đáp khẩn cấp xuống phi trường Lingshui (Lăng Thủy) đảo Hải Nam. Trung Cộng đă bắt phi hành đoàn gồm 24 người (21 nam 3 nữ) để làm con tin và đưa hàng trăm chuyên viên điện toán đến để tháo gở và ăn cắp toàn bộ các dữ kiện được chứa trong máy điện toán trên chiếc phi cơ, mà phi hành đoàn chưa kịp xóa bỏ, đến nay 2003 Ngũ Giác Đài mới cho biết là họ đă bị Trung Cộng lấy cắp một số dữ kiện "Tối Mật" của Hoa Kỳ được chứa trong chiếc máy bay thám thính đó.

            Ngày 8/4/01 Bắc Kinh ra lệnh cho gián điệp tại Việt Nam đặt chất nổ giết toán t́m kiếm người Mỹ mất tích gồm 16 người, có 7 Mỹ và 9 Việt Cộng, (trong bản tin không được công bố th́ trong chiếc máy bay này chở đến 21 người) chiếc trực thăng phát nổ rớt tại Bố Trạch Quảng B́nh.

            Tự nhiên ta thấy người Mỹ nhượng bộ Trung Cộng tại Việt Nam, không bán khu trục hạm thiết trí hỏa tiễn/rađa Aegis cho Đài Loan, và cho Bắc Kinh được tổ chức Thế Vận Hội, tất cả để xoa dịu sự căng thẳng của Bắc Kinh. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng "giao trả" Cộng sản Hà Nội cho Bắc Kinh, rút ra khỏi Việt Nam, để tránh cái vụ nuôi ong tay áo Hà Nội là bù nh́n, tay sai, chó săn của Bắc Kinh và được Bắc Kinh bao bọc, che chở th́ người Tầu phải cáng đáng. Người Mỹ không cần phải thắc mắc. Đây chính là cái thế "thua" rất cần thiết để cho người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và Á Châu.

            Ngày 14/4/01, Đài Loan công bố thấy không cần thiết phải mua chiến hạm thiết trí Aegis nữa. Đây có phải là sự khởi đầu cho người Mỹ bỏ chạy khỏi Việt Nam và Á Châu. Giả thử người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và Á Châu th́ Bắc Kinh có thể thắng được không? Theo suy nghĩ chiến lược th́ có lẽ "không"! Bắc Kinh với số thặng dư hàng hóa khổng lồ, sẽ dùng Á Châu làm thị trường "đổ hàng" (dump market) để giết kinh tế các nước này, kể cả Việt Nam, với những điều kiện thắt họng, kiểu "chơi cha" chỉ có lợi cho người Tầu!. Ta có thể thấy ngay toàn đảng Cộng sản và quân đội, công an, nhân dân Việt Nam và toàn thể Á Châu nổi lên tinh thần chống Tầu, bài Hoa, chống Bắc Kinh! Biển người Á Châu sẽ chống Bắc Kinh trong sự tuyệt vọng và sẽ lôi kéo theo toàn thế giới. Vấn đề người Mỹ có trở lại Á Châu hay không, hoặc làm thế nào mà trở lại, là một chuyện mà người viết bài này không thể lạm bàn.

            Khi ra quân, ta phải ước lượng quân địch sẽ đối phó, phản công ra sao để khắc chế. Ta có thể ước lượng "siêu chiến lược" sắp tới, có thể xẩy ra để đối phó với Bắc Kinh bành trướng xuống phía Nam, sẽ thay đổi hẳn vận mệnh thế giới. Rồi đây Trung Cộng sẽ "được" chia làm 13 tiểu quốc độc lập, nhưng theo suy nghĩ của cựu tổng thống Đài Loan là Lư Đăng Huy th́ Trung Cộng sẽ chia làm 9 mảnh. Toàn thể các sắc dân Trung Hoa khoảng 1,300 triệu người sẽ sống trong ḥa b́nh, no ấm, không c̣n xâm lăng, bành trướng, đi diệt chủng dân tộc khác. Mộng xâm lăng của tập đoàn cai trị Cộng Sản Trung Cộng sẽ chấm dứt vĩnh viễn và đi vào lịch sử. Việt Nam sẽ trở thành sự quân b́nh quân sự và kinh tế tại Á Châu toàn cầu sẽ thật sự sống trong ḥa b́nh, an lạc trong nhiều thiên niên kỷ.

            Lịch sử thế giới sau này sẽ chứng tỏ rằng giai đoạn chiến lược hiện tại giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ vô cùng quyết liệt và có tính cách quyết định cho lịch sử nhân loại. Các đế quốc xâm lăng bành trướng và đế quốc tôn giáo, các chế độ độc tài tàn ác và ngu xuẩn sẽ bị tiêu diệt. Chính Quyền Việt Nam mới sẽ ra lịnh dẫn độ bọn Việt gian Cộng sản và bè lũ chó săn, chim mồi về Việt nam trị tội dù chúng có chạy trốn ở bất cứ nơi đâu.

 

ChuSa

 

Chú thích:

Tất cả các bài viết cũng như tài liệu được đăng trên web . www.dominotrungcong.com này, chúng tôi đă dịch ra Anh Ngữ và được gởi đi cho những người có trách nhiệm trước khi chúng tôi cho đăng bài lên trên web này .

 

HOME