Các Cuộc “Thánh Chiến” Đẫm Máu Trong Lịch Sử

 

 

Thái Sơn

 

Từ cổ chí kim cho đến nay khi nói đến Tôn Giáo, mọi người ai ai cũng đều nghĩ đến sự yêu thương công b́nh và bác ái. Tôn giáo là một thứ t́nh yêu cao cả nào đó mà các “đấng tối cao” đă đem đến hay sẽ đem đến cho con người sống nơi cơi trần gian “đầy đau khổ” này, nhất là những con người chân thật và cùng khổ như chúng ta. Thế nhưng khi đọc lại lịch sử của các tôn giáo, chúng ta đều nh́n thấy những sự thù hận, tham lam, bất công, ganh tị được bí ẩn giấu đằng sau những chiếc áo “đạo đức, t́nh thương, công b́nh, bác ái”. Họ nhân danh tôn giáo như một thứ quyền năng nào đó, để mưu đồ một cái ǵ đó cho bản thân, cho phe nhóm của họ hay cho riêng chủng tộc của họ. Trong hơn 2000 năm qua những nhóm Thần Quyền nhân danh Tôn Giáo đă khống chế tư tưởng của con người và họ đă gây ra biết bao nhiêu tội ác, tai họa, đau thương đầy máu và nước mắt cho con người trong suốt chiều dài lịch sử từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á.

 

          Đến nay thiết nghĩ con người của thời đại ngày hôm nay nên tỉnh ngộ vứt bỏ những cái xấu xa tham lam hư hèn của thời quá khứ, mạnh dạn đứng dậy đi về tương lai v́ chúng ta nên hiểu rằng chỉ có chúng ta mới cứu được chúng ta ra khỏi những vũng lầy man rợ của quá khứ, chỉ có chúng ta mới thương yêu chúng, không một “Đấng” nào thương yêu chúng ta nếu chúng ta không đùm bọc chia sẻ và yêu thương lẫn nhau, trong cuộc đời đầy đau khổ tham lam thù ghét và ti tiện này. Để biết các “Tôn Giáo” đă và đang làm ǵ cho con người xưa cũng như nay. Thái Sơn xin mời quí bạn đọc cùng chúng tôi trở về lại với lịch sử Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo với những tranh chấp đẫm máu của thời Trung Cổ các đây trên dưới 1000 năm (bài nghiên cứu dưới đây không kể những cuộc “Thánh Chiến” đẫm máu bên Âu Châu và những cuộc “Thánh chiến” để dành quyền lực của các nhóm Hồi Giáo). Chúng tôi chỉ nêu lên những cuộc “Thánh Chiến” có tính cách man rợ diệt chủng của hai giáo phái lớn nhất địa cầu ngày nay là Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo để đọc giả tự ḿnh suy tư và tự t́m hiểu lại lịch sử của các “Tôn giáo” một cách thận trọng hơn, v́ mỗi con người trong chúng ta đều có trí khôn và sự tự do tuyệt đối về cách suy nghĩ của ḿnh.

 

1) - Quân Đội Thập Tự Chinh

Trong ngôn ngữ của tiếng La-tinh chữ Crux nghĩa là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, đây là biểu tượng của đạo Thiên Chúa Giáo. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ Crusade, có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công giáo từ Âu Châu kéo qua Trung Đông và các nước lân cận để xâm lăng, tấn công những người Hồi giáo trong thời Trung cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn chinh Công giáo này đều mang huy hiệu chữ thập ở phía trước ngực và phía sau lưng nên được gọi là đoàn “Quân Thập Tự” (Crusaders). Chỉ riêng hai thế kỷ 11 và 13 (tính từ năm 1096 đến năm 1291) những đoàn quân Thập tự này đă gieo rắc không biết bao nhiêu máu lửa, kinh hoàng tang tóc cho những người Hồi giáo Ả-rập. H́nh ảnh tàn bạo mang rợ của đoàn Quân Thập Tự Công giáo Âu Châu đă in sâu vào tim óc của thế giới Hồi giáo nói chung và của những người Hồi giáo Ả-rập nói riêng. Đến nỗi ngày nay, người Hồi giáo đă đồng hóa Công giáo Âu Châu với chủ nghĩa thực dân đế quốc. Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền của Âu Châu họ thường tố cáo hành vi đó là “Tân chiến tranh Thập tự” (New-Crusade).

 

Người xưa thường nói: Đọc lịch sử để định hướng tương lai, vậy chúng ta hăy coi lại lịch sử của hai thế kỷ chiến tranh đẩm máu do những đoàn quân chữ thập do Công giáo La Mă phát động đánh nhau với những người Hồi giáo ở Trung Đông trong hai thế kỷ 11 và 13. Những bài học lịch sử dưới đây sẽ soi sáng cho chúng ta nh́n được nhiều vấn đề thời cuộc hôm nay và cũng để hiểu thêm về thực chất của những tôn giáo thường hay tự xưng là đạo của sự “Công bằng Bác ái” hay “Yêu thương Huynh đệ”!. Để t́m hiểu thêm về bài viết có tính cách lịch sử về các tôn giáo, xin mời bạn đọc cùng chúng tôi t́m hiểu nguyên nhân nào đă gây ra các cuộc đánh nhau đẫm máu được khoát dưới các lớp áo tôn giáo mà họ coi là các vỏ bọc an toàn nhất để nới rộng uy quyền của những kẻ tham lam, tham vọng muốn biến họ thành những con người thượng đẳng, nên họ có những ảo tưởng tự cho họ là những người đă nhân danh các Đấng Tiên Tri, họ tự coi họ là những ông “Thánh” sống luôn đem t́nh thương của các “đấng” thiêng liêng nào đó rao giảng cho mọi người, nhưng những tài liệu được nêu ra dưới đây sẽ chứng minh họ là những con người như thế nào, các “ông thánh, bà thánh” có thật sự là những Đấng như họ thường rêu rao hay họ cũng chỉ là những con người tầm thường mang trong người đầy đủ những thói hư tật xấu của hỷ, nộ, ái, ố, của tham lam, ti tiện, dục vọng điên cuồng. Các ông, bà “Thánh” cũng chỉ là những ngụy từ được khéo léo che đậy trong nhiều ngàn năm qua, để họ đễ dàng thực hiện những mưu đồ dơ bẩn của họ. Ngày nay lịch sử đă được phơi bày ra ánh sáng, khi hiểu được sự thật th́ trong mỗi con người của chúng ta tự suy tư và suy nghĩ lấy, để tự t́m ra một hướng đi đúng cho ḿnh bây giờ và con cháu chúng ta sau này.

 

2) - Những Đế Quốc Hồi Giáo Trong Lịch Sử

A) - Đế Quốc (Hồi Giáo) Mông Cổ:

Người sáng lập đế quốc Mông Cổ là “Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hăn” (Genghis Khan 1162-1227). Thành Các Tư Hăn là người có công thống nhất các bộ lạc du mục Mông Cổ và đă dạy cho họ cưỡi ngựa, bắn cung. Sau đó ông huấn luyện và tổ chức họ thành đội ngũ và biến họ thành những đoàn kỵ binh hung tợn và tàn bạo có một không hai trong lịch sử loài người và với đoàn quân hung tợn này Thành Cát Tư Hăn đă lần lượt đánh chiếm nhiều nước từ Á sang Âu tới tận Trung Đông và Phi Châu. Luật tác chiến rất nổi tiếng của Thành Cát Tư Hăn là: “Khi đến nơi nào ngoan ngoăn đầu hàng th́ được tha, ngược lại bất cứ một thành phố hay làng mạc nào chống cự đều bị đốt phá thành b́nh địa và tất cả mọi người dân không kể già trẻ lớn bé đều phải bị tàn sát hết!”.

 

- Năm 1219, quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hăn đánh chiếm Tân Cương và Thổ-nhĩ-kỳ. Vua Thổ cùng đoàn tuỳ tùng bỏ chạy bị quân Mông Cổ truy kích qua Iran tới tận Azerbaizan th́ bị bắt. Nơi nào quân Mông Cổ đi qua đều để lại phía sau sự kinh hoàng của máu và đổ nát.

 

- Năm 1214 Hốt Tất Liệt (tức là Nguyên Thế Tổ đổi quốc hiệu Mông Cổ là nhà Nguyên từ đó) đem quân thôn tính nhà Nam Tống, chỉ sau một trân thủy chiến quân Tống Đại bại vua Tống phi nhảy xuống biển tự vận, từ đó nhà Tống mất vào tay nhà Nguyên.

 

- Năm 1222 riêng tại thủ đô Pest của Hung Gia Lợi ngày nay (người nắm quyền lúc đó là vua Bela IV) sau khi thủ đô Pest bị thất thủ 50 vạn (500 ngàn) quân Hung đă bị quân Mông Cổ tàn sát không sống sót một người, từ thành thị đến thôn quê nước Hung đă ch́m trong biển máu và lửa.

 

Mùa Thu năm 1226, Mông Cổ khởi sự đánh nước Tây Hạ (Tây Hạ hiện nay không c̣n nửa) v́ Tây Hạ không chịu giúp binh cho Mông Cổ trong cuộc Tây chinh. Dân quân Tây Hạ chiến đấu vô cùng oanh liệt. Mặc dù lúc đó Thành Cát Tư Hăn đang mang bệnh nhưng ông ta vẫn đứng ra chỉ huy cuộc chiến đấu vây hăm Tây Hạ, sau đó Thành Cát Tư Hăn mang trọng bệnh và chết ngày 18 tháng 8 năm 1227. Vài ngày sau quân dân Tây Hạ đầu hàng, kết quả là dân Tây Hạ bị quân Mông Cổ tàn sát hết không chừa một người nào. Từ đó nước Tây Hạ bị xóa tên trên bản đồ cho đến nay. Thành Cát Tư Hăn mất người con thứ lên thay tức là Nguyên Thái Tông, sau Nguyên Thái Tông là Nguyên Định Tông. Nguyên Định Tông ở ngôi được 3 năm th́ chết người em con nhà chú lên thay tức là Nguyên Hiến Tông, sau Nguyên Hiến Tông là Nguyên Thế Tổ và Nguyên Thế Tổ là người chính thức đổi quốc hiệu nhà Nguyên từ đó.

 

- Năm 1237 tháng mười cho đến năm 1238 quân Mông Cổ đă tàn phá nước Nga biến nước Nga vào cảnh núi xương sông máu, chỉ trong ṿng một năm quân Mông Cổ đă chiếm bốn phần năm lănh thổ nước Nga

 

- Năm 1231, hàng loạt các thành phố nổi tiếng của Hồi giáo như Baghdad, Bukhara, Damacus..v..v… đều bị đốt phá thành b́nh địa với hàng vạn thây người chết la liệt trên đường phố. Dân chúng kinh hoàng lượt kéo nhau chạy qua các nước lân cận để tránh sự giết chóc.

 

- Năm 1255, Mông Cổ hoàn thành một đế quốc rộng lớn bao la gồm Trung Hoa, Cao Ly, Ngoại Mông cùng hàng chục nước Trung Á và Bắc Ấn Độ, Syria, Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ.

 

Năm 1258 Mông Cổ (tức Nguyên Thế Tổ) sai sứ sang Việt Nam bắt vua nhà Trần thần phục, vua Trần Thái Tông không những không chịu điều yêu sách của Mông Cổ mà c̣n bắt giam  sứ giả Mông Cổ lại (nên nhớ đây là một điều thời đó trên thế giới không một quốc gia nào dám làm đối với đế quốc Mông Cổ). Từ đó đến năm 1288 trong 30 năm nước Việt Nam đă bị quân Nguyên thôn tính 3 lần, nhưng lần nào nhà Nguyên cũng đều chuốc lấy thảm bại rất nhục nhă. Nh́n lại lịch sử của đế quốc Mông Cổ khởi nghiệp từ Thành Cát Tư Hăn vào năm 1162 cho đến năm 1830 quân đội Mông Cổ chỉ biết chiến thắng, cho nên từ cổ chí kim người ta thường nói quân Mông Cổ là một quân đội bách chiến bách thắng tung hoành từ Đông sang Tây hơn 700 năm chưa bao giờ chiến bại. Nhưng lạ thay 3 lần chạn trán với dân quân Đại Việt th́ cả 3 lần họ đều thảm bại một cách nhục nhă.

 

- Năm 1295, hoàng đế Mông Cổ Ghazan Khan theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni. Từ đó về sau, các hoàng đế Mông Cổ đều theo đạo Hồi. Càng về sau, các quan và cả triều đ́nh đế quốc Mông Cổ đều trở thành những tín đồ Hồi giáo. Các học sĩ Hồi giáo Ả-rập (Ulama) được trọng dụng, nhất là trong việc soạn thảo các bộ luật h́nh sự và dân sự phỏng theo luật Hồi giáo Sharia.

 

- Năm 1387, Hoàng đế Mông Cổ Timur Lenk đóng đô tại Thổ Nhĩ Kỳ xua quân đánh chiếm Iran, năm 1395 chiếm hải cảng Golden Horde của Nga, năm 1398 chiến Ấn Độ, tàn phá thủ đô new Delhi và giết hàng chục ngàn tù binh của giáo phái Hindu tại đây.

- Năm 1400, Timur chiếm hai nước IranIraq. Tại đây, Timur ra lệnh tàn sát hàng triệu người thuộc giáo phái Shiite. V́ quá say máu chiến thắng năm 1404, Timur kéo quân ngược về phía Trung Á rồi vượt biên giới tiến đánh vào phía Tây Trung Hoa. Cuộc chiến kéo dài qua năm sau và Hoàng đế Mông Cổ Timur cũng bị tử trận trong năm 1405. Sau đó các Hoàng đế Mông Cổ kế tiếp chú trọng việc mở rộng đế quốc ở châu Á.

 

- Năm 1478, đế quốc Mông Cổ chiếm Indonesia và biến nước này thành một nước Hồi giáo. Ngày nay, Indonesia là một nước đông dân nhất của thế giới Hồi Giáo với trên 200 triệu dân.

 

- Năm 1520 đến 1837, đế quốc Mông cổ (Hồi Giáo) cai trị toàn Ấn Độ, Ấn Độ lúc đó được mang tên là: “Mughul Empire of India”. (Mughul có nghĩa là Mông Cổ) Hoàng đế Mông Cổ đóng đô tại new Dehli.

 

- Năm 1643, hoàng đế Mông Cổ cho xây ngôi mộ ở ngoại ô New Dehli rất nổi tiếng, đó là ngôi mộ Taj Mahal.

 

- Năm 1747, đế quốc Mông Cổ chiếm Afghanistancai trị nước này trong 100 năm.

 

- Năm 1831, người Anh chiếm Ấn Độ và chấm dứt đế quốc Mông Cổ trên lục địa châu Á.

 

B) - Đế Quốc Hồi Giáo Ottoman

 - Năm 1280, đế quốc Hồi Giáo Ottman (danh từ Ottoman xuất phát từ tên của một bộ lạc du mục là Osman ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) khởi binh, chỉ trong 9 năm sau họ chiếm một vùng lănh thổ rộng lớn gồm có Tây nam Á châu, Đông nam Âu châu và Đông bắc Phi châu. Họ gọi đế quốc của họ là Ottoman. Những người lănh đạo đế quốc Hồi Giáo này thuộc giáo phái Sunni.

- Năm 1389, đế quốc Hồi Giáo Ottoman chiếm Albania và Kosovo, biến vùng này thành những nước theo Hồi giáo.

 

- Năm 1444, đế quốc Hồi Giáo Ottoman đánh tan Thập Tự quân của Thiên Chúa Giáo La-mă tại Bulgaria.

 

- Năm 1453, đế quốc Hồi giáo Ottoman xóa sổ đế quốc La Mă phương Đông và chiếm thủ đô của đế quốc này là thành phố Constantinople. Nhưng sau khi chiếm Constantinole và nhiều thành phố của Byzantine, đế quốc Hồi Giáo Ottoman công bố chính sách khoan hồng đối với Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Nhờ vậy, trong nhiều thế kỷ sau, Ottoman đă mở rộng thương mại với các nước Thiên Chúa Giáo Âu châu mà không có một cuộc chiến tranh nào đáng kể. Tuy nhiên, đối với giáo phái Hồi Giáo Shiite, Ottoman có một chính sách quyết liệt không nhân nhượng, cho nên vào năm 1467; Ottoman công bố thánh chiến với giáo phái Shiite và hàng trăm ngàn tín đồ Shiite bị lùng bắt và đem đi hành quyết.

 

- Năm 1520 đến 1534, đế quốc Hồi Giáo Ottoman chiếm Nam Tư và một phần của Âu châu tới thủ đô Vienne của Áo.

 

- Năm 1605, Ottoman chiếm Romania, Hungaria, Ba-lan và Tiệp khắc, lúc này đế quốc Hồi Giáo Ottoman được coi là một quốc gia Hồi Giáo hùng mạnh vào bậc nhất vào thời đó. Nhưng đến đầu thế kỷ 19, các cường quốc Âu châu Anh, Pháp, Đức (sau này có cả Nga) bắt đầu xâm chiếm các phần đất của đế quốc Hồi Giáo Ottoman và dồn đế quốc này vào chỗ suy tàn rồi bị xóa hẳn.

 

C) - Đế Quốc Hồi Giáo Safavids

Safavids Hồi Giáo là một nhánh của giáo phái Shiite xuất phát tại nước Azerbaizan ở tây nam biển Caspian. Năm 1501, lănh tụ của giáo phái Safavids (thuộc giáo phái Shiite) là Esmail khởi binh chiếm luôn cả nước Azerbaizan. Esmail tự xưng là “vua Hồi Giáo” (Sha/ Sultan) và ra lệnh cho toàn dân phải theo đạo Hồi (giáo phái Shiite). Ít lâu sau, Esmail xua quân đánh chiếm các nước lân cận theo “Chính Thống Giáo” là Armenia, Georgia và vùng núi Caucase của Nga. Trong thời gian chiếm đóng, quân Hồi Giáo Safavids đă giết hại rất vô số người Chính Thống giáo. Riêng tại Armenia, số tín đồ Chính Thống giáo bị giết lên tới một triệu người (nên nhớ 1 triệu người vào thời đó là một con số kinh khủng). Sau đó, quân Hồi Giáo Safavids chuyển qua phía Đông tấn công thành phố Anatolis để dằn mặt đế quốc Hồi Giáo Ottoman theo giáo phái Sunni. Nhóm nổi dậy theo quân Hồi Giáo Safavids ra lệnh cho cả nước Ba Tư phải theo giáo phái Shiite, ai bất tuân lệnh đề bị giết. Tất cả các giáo sĩ (Ulamas) lănh đạo giáo phái Sunni đều bị hành quyết và bêu đầu nơi chốn công chúng để thị oai, nên không một giáo sĩ nào sống sót. Kể từ đó, nước Ba Tư trở thành một quốc gia hoàn toàn theo giáo phái Shiite. các vua Hồi giáo Ba Tư được gọi là “SHA” (nghĩa là vừa là vua vừa là giáo chủ), phần đông đều cực đoan và hung ác. Đa số các Giáo sĩ Hồi giáo Ba Tư đều theo môn phái “Triết học Thần bí” (mystical philosophy) được tóm gọn như sau: “Chính trị và Tôn giáo là một, không thể tách rời, mọi cải cách xă hội không thể vượt quá tư tưởng tôn giáo”. (ư chỉ tư tưởng Hồi Giáo). Với bản chất hung ác cuồng tín cực đoan cố hữu của giáo sĩ Hồi Giáo (giáo phái Shiite), nay lại có thêm triết học thần bí của các Mullahs (học sĩ), giáo phái Shiite ngày càng trở nên cực đoan nguy hiểm. Họ luôn luôn có thái độ bất khoan dung với các tôn giáo khác, hay cùng là Hồi Giáo và nhất là đối với giáo phái Hồi giáo Sunni, chiếm 80% dân số đạo Hồi.

 

Như trên đă tŕnh bày: Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, trong thế giới Hồi Giáo đă xuất hiện ba đế quốc riêng biệt và luôn luôn chém giết lẫn nhau. Cả ba đế quốc Hồi giáo đă được thành lập nhưng cuối cùng rồi cũng đi vào suy tàn, nhưng nó đă để lại phía sau biết bao nhiêu máu và nước mắt của hàng bao nhiêu triệu con người vô tội, cũng chỉ v́ sự tham lam hung ác và ngu dốt của nhóm người tự cho ḿnh có nhiều quyền năng do “Đấng” thiêng liêng nào đó ban cho. Nhưng có một điều lạ lùng là: “Đă 7 thế kỷ trôi qua, đến nay con người (nhất là những giáo sĩ Hồi Giáo) chưa tỉnh ngộ để nh́n ra sự chân thật và cải tổ lại hệ thống tôn giáo cho đúng nghĩa hai chữ Tôn Giáo Đích Thực”. Họ chỉ biết khơi dậy ḷng căm thù, nên khi nh́n lại lịch sử bành trướng và phát triển của đạo Hồi luôn luôn gắn liền với máu lửa và chết chóc, với chiến tranh và bạo lực. V́ thế Hồi Giáo nổi tiếng là “tôn giáo của máu lửa” hay “tôn giáo của lưỡi kiếm” hoặc “tôn giáo của những kẻ man rợ”. Kinh Koran của Hồi Giáo được các nhà nghiên cứu tôn giáo gọi đó là: “Cuốn sách của tử thần” (The Book of the death) và đức tin Hồi giáo là “đức tin của hung bạo”.

 

Nên trong hơn một thế kỷ qua, thế giới Hồi Giáo đă bị Tây phương dồn vào thế suy kiệt về mọi mặt (điều này cũng không có ǵ để làm cho chúng ta khó hiểu), họ không c̣n con đường nào khác hơn là thực hiện “chủ nghĩa khủng bố”. Về h́nh thức chiến tranh th́ ngày nay có khác với ngày xưa, nhưng về thực chất th́ khủng bố là một h́nh thức của chiến tranh bạo lực không quy ước, nên các nhà nghiên cứ họ gọi đây là loại “chiến tranh khủng bố”. Chiến tranh khủng bố là h́nh thức phá hoại của những kẻ đă cùng đường và yếu kém về mặt trí tuê. Như vậy về lâu về dài th́ các cuộc khủng bố lẻ tẻ trên thế giới như hiện nay cũng đều bị tiêu diệt cũng như các đế quốc Hồi Giáo đă bị tiêu diệt trong quá khứ. Nhưng một điều chúng ta cần nên biết là: “Thế giới ngày nay không giống như ngày xưa, v́ ngày xưa có nhiều đế quốc ngày nay chỉ duy nhất có một siêu cường”.

 

Quá khứ chúng ta phải công nhận sức mạnh của Hồi Giáo đă tạo nên nhiều biến cố quan trọng để có thể kềm chân La Mă không thôn tính được toàn cầu bằng sức mạnh gươm giáo và thần quyền.

 

Từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 6, toàn vùng Bắc Phi và Trung Đông thuộc về lănh thổ của các giáo phái Thiên Chúa Giáo. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 7, đạo Hồi xuất hiện với sự bành trướng với tốc độ vũ băo chưa từng thấy khiến cả thế giới phải ngạc nhiên. Chỉ trong ṿng 10 năm sau khi Muhammad qua đời, quân Hồi chiếm trọn bán đảo Ả-rập bao la, chiếm các nước Iraq, Syria, Palestine, Ai-cập và phía tây của nước Iran. Hai năm sau, quân Hồi chiếm Bắc Phi, Carthage và Hy Lạp.

 

- Thế kỷ 7, Hồi giáo Ả-rập tiêu diệt đế quốc Sassasian đă từng làm mưa làm gió ở Trung Đông trong 10 thế kỷ trước đó.

- Đầu thế kỷ thứ 8 (711-716) quân Hồi dám đánh chiếm một nước Âu châu nổi tiếng sùng đạo Thiên Chúa Giáo, đó là nước Tây Ban Nha. Trong thời gian đó, kỵ binh Hồi giáo chiếm trọn Ba Tư (Iran) và từ đây xuất quân chiếm trọn các nước Trung Á ở phía Nam nước Nga, chiếm trọn vùng Bắc Ấn Độ (tức Pakistan va Afghanistan ngày nay) đánh qua biên giới Trung Hoa và đụng trận với quân nhà Đường trên sông Talas vào năm 751. Thiên Chúa Giáo bị mất rất nhiều đất và đồng thời cũng mất rất nhiều tín đồ. Tuy nhiên, trong thời gian đó đế quốc La Mă và Thiên Chúa Giáo bị lâm vào t́nh trạng chia rẽ và suy yếu nên không dám thực hiện một hành vi trả đũa nào đáng kể.

 

- Thế kỷ 15, Hồi giáo Thổ-nhĩ-kỳ tiêu diệt đế quốc Thiên Chúa Giáo Byzantine (hậu thân của đế quốc La-mă) chân đứng sự bành trướng của La Mă xuống bán đảo Ả-rập và Trung Đông.

 

- Thế kỷ 18 trở đi, các nước Âu châu bắt đầu phát triển hùng mạnh về kỹ thuật họ đă đẩy lùi các đế quốc Hồi giáo đến chỗ suy tàn.

Khởi đầu là nước Nga đánh tan quân Ottoman ở vùng Biển Hắc Hải năm 1774, chiếm lại Armenia và vùng núi Caucase. Năm 1792, Nga chiếm GeorgiaRomania từ tay Ottoman.

 

- Đầu thế kỷ 19, Nga chiếm toàn bộ miền Trung Á gồm nhiều nước theo đạo Hồi thuộc đế quốc Mông Cổ. Sau cuộc lật đổ cướp chính quyền Sha (Nga) Hoàng do Lê Nin chủ xướng vào tháng 10 năm 1917, các nước Hồi giáo Trung Á đă biến thành các chư hầu của Cộng Sản Nga Sô. Đến năm 1989 Cộng sản Nga sụp đổ sau một thời gian kéo dài chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ, để rồi cuối cùng chế độ tàn bạo Cộng sản cũng phải bị tiêu diệt, các vùng đất mà Cộng sản Nga chiếm được sau 70 năm gây nhiều máu lửa, cuối cùng rồi cũng phải trả lại cho các nước Trung Á. Những dân tộc nhỏ yếu nay có thể được vực dậy sau một thời gian dài sống trong đen tối của họa Hồi Giáo và Cộng sản).

 

- Đầu thế kỷ 19, Ḥa Lan chiếm Indonenia và Mă-lai. Anh chiếm Ấn Độ bao gồm cả một tiểu lục địa (sau 1947, Ấn Độ bị chia thành nhiều  nước: Pakistan, Bagladesh, Tích Lan và Ấn Độ).

 

- Cuối thế kỷ 19, Anh chiếm Ai Cập và Sudan. Pháp chiếm Algeria, Tunisia và Maroc.

 

- Đầu thế kỷ 20, Ư chiếm Lybia, Anh và Pháp chiếm Palestine, Jordan, Iraq, Syria và Liban.

 

Nói tóm lại, từ đầu thế kỷ 20, chỉ ngoại trừ một nước duy nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, c̣n lại toàn bộ thế giới Hồi giáo đều trở thành những thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu châu. Như vậy sự xuất hiện và phát triển lớn mạnh của đạo Hồi đă tạo nên một cuộc đọ sức ngang ngửa với Thiên Chúa Giáo La Mă và chúng ta có thể nói rằng: “Hồi Giáo đă phá tan tham vọng bá chủ thần quyền toàn cầu của đế quốc thực dân La Mă Vatican”.

 

3) - Muhammad ông là ai ?

Theo Giáo sư David Landes nhà nghiên cứu sử học thế giới của đại học Harvard nói rằng: “Chính trị thần quyền (ám chỉ Hồi Giáo) thường không phải là môi trường tốt cho các phát minh nhằm phục vụ con người”. Lập luận của ông là ở những xã hội mà quan điểm thống trị duy nhất chỉ có “Đấng Tối Cao” mới quan trọng, thì thường người ta chẳng mấy tò mò về những gì ngoài đấng tối cao của họ.

 

Mới đây tổng thống Pakistan ông Pervez Musharraf (nên nhớ tổng thống Musharraf cũng là người Hồi Giáo) phát biểu rằng: “Cách đây ba năm tổng sản lượng quốc nội của cộng đồng Hồi giáo trên toàn thế giới chỉ bằng một nửa tổng sản lượng quốc nội của Đức, mặc dù cộng đồng Hồi giáo chiếm tới 1/4 dân số thế giới”. Ông Musharraf đã kêu gọi phải có cuộc “jihad” nổi dậy trong thế giới Hồi Giáo để “chống lại sự dốt nát, nghèo đói, lạc hậu và thiếu thốn” mà giới giáo sĩ Hồi Giáo đă tạo ra và ông nói rằng: “Toàn bộ thế giới Hồi giáo chỉ có 25 trường đại học có chút ít tiếng tăm”.

 

Trung tuần tháng 8/2005 một cựu Bộ trưởng chính phủ Anh ông Lord Tebbit nói rằng: “Các quốc gia Hồi Giáo chẳng bao giờ đưa ra được những phát minh cho nền công nghiệp trong vòng năm thế kỷ qua”. Ông đă nói thêm rằng: Hồi giáo không hề có một cuộc cải cách nào kể từ khi được sinh ra, đến nỗi đến nay không có nơi nào trong thế giới Hồi Giáo thực sự đưa ra được những tiến bộ về khoa học, nghệ thuật, văn chương hay trong nghành công nghiệp trong vòng 500 năm qua”.

 

Nếu đứng về mặt khách quan mà nhận xét th́ những gì ông Tebbitt nói hoàn toàn đúng. Chúng ta khó có thể tìm thấy một phát minh đáng kể nào giúp cải thiện đời sống vật chất của thế giới mà lại xuất phát từ một nước Hồi Giáo. Các phát minh về cơ khí, điện tử, hàng không, y khoa, hay sinh vật học ..v..v …Nói chung là phát minh trong bất cứ lĩnh vực nào mà chúng ta có thể nêu ra đều xuất phát từ thế giới phương Tây, các giải thưởng Nobel về khoa học hay trong nhiều lănh vực khác, thường do các nhà nghiên cứu từ các trường đại học Hoa Kỳ và phương Tây chiếm lănh. Nhưng lạ thay thế giới phương Tây lại bị thế giới Hồi Giáo coi khinh nhiều nhất.

 

Tuy nhiên một vài điều quan trọng cần được nêu ra đây: Trước hết, có vài trường đại học rất tốt tại các nước Hồi giáo, chẳng hạn tại Alexandria ở Ai Cập hay tại Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ, họ cũng có một số phát minh được đưa ra, nhưng những phát minh tại đây so với tổng số những phát minh khổng lồ mang tính cải thiện cho đời sống của con người từ Hoa Kỳ và Âu Châu, th́ mức độ phát minh của giới sinh viên Hồi Giáo chỉ là những hạt cát trong băi xa mạc. Các báo cáo phát triển con người tại thế giới Arab của Liên Hiệp Quốc thường nhấn mạnh một vấn đề rằng: Các thư viện đại học tại các nước Ả Rập Hồi Giáo thiếu các nguồn tài lực, các phòng thí nghiệm quá cũ kỹ, các lớp học quá đông, các chương tŕnh học không thực tiễn (đa số chỉ chuyên dạy về kinh Koran) các học giả không được trả lương thoả đáng. Đó là những sản phẩm tạo ra sự nghèo khổ và chậm tiến.

 

Một điều quan trọng nữa cần phải được nêu ra là chuyện phân tích một nền văn hoá xem nó có mở ra những phát minh hay sáng tạo hay không, không có nghĩa là lên án người dân của nền văn hoá đó. Các trường đại học thường thiếu sự tự chủ, độc lập, và rất nhiều trường học thường bị kiểm soát trực tiếp bởi luật lệ giáo điều của Hồi Giáo (quốc gia được cai trị bởi những giáo sĩ Hồi Giáo cực đoan và cuồng tín), nên sự chậm tiến về mọi mặt là một điều đương nhiên phải xảy ra.

 

Thuở sinh thời Muhammad cũng như hàng triệu người Ả Rập thời đó, ông cũng đam mê dục vọng khao khát t́nh yêu như mọi người, ông cũng vui buồn sầu khổ như mọi người, chứ chẳng phải là một “Đấng Tiên Tri” tiên giác ǵ cả. Theo nhận xét của giới nghiên cứu Lịch sử th́: Cuộc đời của ông “Thánh Muhammad” đă được đánh bóng một cách không có thật, dưới đây chúng ta hăy đọc qua những trang sử được ghi lại về cuộc đời của Muhammad như sau:

 

Trong Kinh Koran Muhammad đ̣i hỏi những người đàn ông có nhiều vợ phải dành cho mỗi người vợ một số lượng thời gian bằng nhau và phải đối xử công b́nh như nhau. Trong thời gian này, Muhammad chỉ có 3 người vợ là: Saudah (29 tuổi), Aisha (11 tuổi) và Hafsah (18 tuổi). Để thực hiện điều ông vừa viết trong kinh Koran, Muhammad lấy người vợ thứ tư là Zaynab Kuzaymah, vợ góa của một chiến sĩ mới tử trận trong tháng giêng năm 624 tại Badr. Vài tháng sau ông cưới thêm bà vợ thứ năm là Salamah 29 tuổi, vợ góa của người em họ. V́ Salamah rất xinh đẹp và khá thông minh, về sau Salamah là một cố vấn đắc lực cho Muhammad về nhiều phương diện.

 

Cũng nên nhắc lại rằng: Cô Aisha chỉ mới 11 tuổi nhưng lại rất sinh đẹp cô đă chung chăn với Muhammad khi cô mới lên 9 tuổi lúc đó “tiên tri muhammad” (không viết hoa) lúc đó đă 53 tuổi và cô Hafsah 16 tuổi đó là năm 625 (cha của Aisha là Abu Bakr và cha của Hafsah là Umar đều gả con gái của ḿnh để kết thân với Muhammad). Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi, là tuổi bắt đầu dậy th́ thân thể Aisha bắt đầu nở nang và đẹp hẳn ra. Nên Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các cô vợ khác, v́ vậy nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha bên ḿnh. Kể ca những lúc Muhammad mang quân đi phục kích để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo. Thời đó Muhammad thường đem quân phục kích bộ lạc Bani của Do Thái mục đích là để cướp lạc đà, cừu và phụ nữ v́ bộ lạc Bani giàu có và có nhiều phụ nữ. Những lần bắt được các phụ nữ sinh đẹp Muhammad thường tuyển chọn những cô gái đẹp để lấy làm vợ, số c̣n lại sẽ được thả sau khi bộ lạc Bani cho thân nhân của họ đem lạc đà, cừu hay các sản phẩm khác đến chuộc, thân phận và phẩm giá của người phụ nữ Hồi Giáo từ xưa cho đến nay rẻ hơn một con lạc đà hay hai con cừu, (không tin cứ nh́n ngay đất nước Afghanistant ngày nay [2005] th́ rơ).

 

Nhưng v́ đam mê sắc đẹp của Aisha quá lộ liễu nên các cô vợ khác của Muhammad ghen tuông và khiếu nại, viện cớ kinh Koran dạy người chồng phải đối xử công bằng với các bà vợ. Nên từ đó Muhammad phải theo thứ tự ngủ đêm mỗi pḥng với một cô. Mỗi khi đi đâu, ông phải rút thăm để biết ai là người sẽ cùng đi với ông trong cuộc hành tŕnh. Tuy nhiên, mỗi khi Muhammad đến đền thờ để giảng đạo th́ chỉ có một người duy nhất luôn luôn ở bên cạnh ông là Aisha. Ông nói với mọi người rằng: “Aisha cũng có ơn mặc khải của Thiên Chúa giống như ông”.

 

Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi, nàng bắt đầu đến tuổi dậy th́ nên bỗng nhiên trổ mă lớn vượt lên và đẹp hẳn ra. Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các cô vợ khác nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha. Thậm chí có một hôm Muhammad mang quân đi phục kích để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo bên ḿnh.

Sau trận tấn công vũ băo của Muhammad, bộ lạc Do Thái Bani bỏ chạy tán loạn, Lịch sử không nói tới số thương vong của họ là bao nhiêu, chỉ nói họ đă để lại chiến trường 2000 lạc đà, 5000 con cừu và 200 phụ nữ. Muhammad tuyển chọn một cô đẹp nhất tên là Juwayriah để lấy làm vợ. Số phụ nữ c̣n lại sẽ được trả tự do sau khi thân nhân của họ mang tiền đến chuộc.

 

          Muhammad c̣n lấy cả con dâu nuôi của ḿnh là cô Zaynab Jahsh. Số là Muhammad có một người con nuôi từ lúc nhỏ tên là Zayd ở Mecca. Đầu năm 626 Muhammad đến thăm Zayd, Muhammad choáng váng trước sắc đẹp kiều diễm của Zaynab Jahsh vợ của Zayd, nên Muhammad tỏ ư muốn Zaynab làm vợ ḿnh. Zaynab vô cùng cảm động khi “đấng tiên tri” ngỏ ư lấy ḿnh. Sau đó Zaynab nói thẳng với chồng là nàng muốn ly dị để lấy Muhammad, Zayd rất đau khổ về chuyện này nhưng Zayd đành phải đến gặp Muhammad để hỏi xem Muhammad có thật muốn lấy Zaynab làm vợ không. Muhammad trả lời đồng ư nên Zayd về làm thủ tục ly dị vợ. Đây là lần đám cưới thứ sáu chính thức (không tính những cô vợ bị bắt từ các bộ lạc khác đem về làm vợ), vài ngày sau Muhammad tổ chức một đám cưới vô cùng linh đ́nh, Zaynab Jahsh từ vị trí đứa con dâu (nuôi) trở thành vợ của người cha (nuôi) của ông chồng cũ.

 

          Trong tiệc cưới có nhiều người đàn ông đến tham dự đă ở nán lại quá lâu để chiêm ngưỡng sắc đẹp kiều diễm của cô dâu đặc biệt này. Muhammad muốn đuổi họ về nhưng lại không muốn làm mất ḷng họ. V́ không thấy Muhammad nói ǵ nên những người đàn ông đó đă đến sát gần các bà vợ của Muhammad nói chuyện và rờ mó một cách xàm sỡ. Muhammad thấy cần phải có biện pháp ngăn cản những người “đàn ông đầy dục vọng” này, để tách rời họ ra khỏi các bà vợ trẻ đẹp của ông. Sau đó Muhammad đă viết những câu thơ để diễn đạt ư này trong kinh Koran đoạn 33:53 như sau:

 

“Believers! do not enter the house of the Prophet

For a meal without waiting for the proper time

Unless you are given leave.

But if you are invited, enter.

When you have eaten, disperse.

Do not engage in familiar talk

For this would annoy the Prophet

And he would be ashamed to bid you go

If you ask his wives for anything,

Speak to them from behind a curtain (hijab).

This is more chaste for your hearts and their hearts – Koran 33: 53”

 

Xin tạm dịch như sau:

 

“Các tín đồ đừng nên vào nhà của Tiên Tri,

Khi dùng bữa nên để ư đến giờ giấc nào cho thích hợp.

Khi các người được Tiên Tri cho phép.

Nếu các người được Tiên Tri mời ăn th́ cứ vào ăn.

Nhưng khi ăn xong rồi th́ phải giải tán.

Đừng nói chuyện với các bà quá nhiều, các người sẽ làm phiền ḷng Tiên Tri.

V́ ngài rất ngượng khi phải lên tiếng đuổi các người đi.

Nếu các người muốn hỏi những người vợ của Tiên Tri về bất cứ chuyện ǵ.

Hăy nói chuyện với họ đằng sau tấm khăn che mặt.

Điều này làm cho trái tim của các người và của các nàng được thanh khiết – Kinh Koran 33:53”.

 

Người ta gọi là “Những câu thơ trên đây là những câu thơ của bức màn che” (The Verses of the curtain). Bức màn che đó chính là tấm khăn che mặt (veil) của phụ nữ Hồi Giáo, tiếng Ả Rập gọi là Hijab. Thông thường th́ tấm vải này có màu đen và đủ rộng để che kín đầu, tóc, phủ đến vai và che kín cả mặt, chỉ chừa khoảng trống nhỏ ở đôi mắt để người phụ nữ có thể nh́n đường. Cũng từ khi có mấy câu thơ đó xuất hiện, các bà vợ của Muhammad đều phải che khăn mỗi khi bước chân ra khỏi nhà hoặc khi tiếp chuyện với mọi người ngoài gia đ́nh. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc về việc đeo khăn (che mặt) của phụ nữ Hồi Giáo cho đến ngày hôm nay.

 

a) - Những cuộc “thánh chiến” đẫm máu - giữa những người Hồi Giáo

          Con đường dọc theo bờ biển Hồng Hải là trục lộ chính của các đoàn lữ hành từ Mecca đi Syria. Đồng thời, các thương gia Mecca tuyển nhiều kỵ binh ưu tú thuộc bộ lạc Bedouin để tăng cường bảo vệ các đoàn lữ hành. Trong mấy tháng đầu năm 623, Muhammad cho người đi thám thính để theo dơi t́nh h́nh của các đoàn lữ hành Mecca đi Syria. Quân thám thính về báo cáo có một đoàn lữ hành sắp đi ngang qua Medina và có rất ít người bảo vệ. Muhammad sai Hamzah dẫn vài chục kỵ binh đi phục kích. Sau khi giết hết mọi người trong đoàn lữ hành, đoàn kỵ binh của Hamzah dẫn hết lạc đà, ngựa và toàn bộ chiến lợi phẩm về Medina.

 

Tháng 9 năm 623, sau khi đă tăng cường an ninh mọi mặt, Mecca ủy nhiệm cho đại thương gia Umayah Juma hướng dẫn một đoàn lữ hành rất lớn gồm có 2.500 lạc đà chở hàng từ Mecca đi Syria. Muhammad hay tin này đă quyết định huy động toàn lực và đích thân chỉ huy cuộc tấn công để cướp số hàng lớn lao này. Trước đó Muhammad đă thực hiện nhiều cuộc đánh cướp như vậy, cho nên các thương gia ở Mecca đối phó bằng cách kư hiệp ước với các bộ lạc ở dọc theo bờ biển Hồng Hải. Các cuộc tấn công các đoàn lữ hành do Muhammad điều khiển đa số đều được thành công đă làm cho Mecca bắt đầu cảm thấy phải nể sợ Muhammad. Sau vụ này, Mecca đành tạm ngưng các chuyến buôn phải qua Medina. Thay v́ đi về phương bắc, họ đi về phương nam để buôn bán với xứ Yemen. Mặc dầu Mecca đă bỏ tuyến đường phía bắc và phải đổi về tuyến đường phía nam buôn bán với Yemen, nhưng Muhammad vẫn không buông tha. Tháng giêng năm 624, Muhammad sai Abdallah mang quân đi ṿng xuống phía nam của bán đảo Ả Rập, cách Medina tới hơn 400 dặm, để chận đánh đoàn lữ hành của Mecca đang trên đường tới Yemen. Đoàn quân của Abdallah cướp trọn số hàng đem về Medina. Vụ này gây phẫn nộ cho mọi người Ả Rập v́ theo truyền thống của đạo cổ truyền th́ tháng giêng là tháng thiêng liêng, mọi việc cướp của giết người phải được kiêng cữ. từ đó dân Mecca gọi Muhammad là kẻ vô thần thảo khấu.

 

Sự phẫn nộ của dân Mecca chưa kịp nguôi th́ xảy ra vụ kế tiếp. Đó là vào tháng ăn chay Ramadan, tức tháng 3 năm 624, Muhammad nghe tin một đại thương gia của Mecca là Abu Sufyan sẽ dẫn một đoàn lữ hành gồm trên 1000 người chở nhiều hàng quí giá của ngoại quốc đem về Mecca. Muhammad huy dộng 500 quân, gồm có 350 tín đồ Hồi Giáo t́nh nguyện và 150 người thuộc các bộ lạc ở Medina. Muhammad dẫn quân đến bố trí tại các đồi cát ở Badr, một địa danh ở sát bờ biển Hồng Hải và cách Medina khoảng 100 cây số về phía tây. Badr là nơi các bộ lạc Ả Rập thường tổ chức hội chợ để mua bán trao đổi các đặc sản của ḿnh.

 

          Abu Sufyan là một thủ lănh thông minh và giàu kinh nghiệm. Trước khi đoàn lữ hành tiến đến một địa điểm nguy hiểm hay khả nghi, Sufyan luôn luôn cho một toán tiền thám phi ngựa đến đó trước để quan sát hoặc thăm ḍ dân địa phương. Toán tiền thám về báo cáo cho biết quân phục kích của Muhammad hiện có mặt tại Badr.  Abu Sufyan ra lệnh cho đoàn lữ hành rẽ hướng để đi xuống vùng băi biển bằng phẳng của Hồng Hải, đồng thời ông cho một người tiền thám rất giỏi tên là Damdam phi ngựa về Mecca cấp báo và yêu cầu mang quân ra để hộ tống đoàn lữ hành trên đường về Mecca.

 

          Sau khi được Damdam báo tin về việc Muhammad bố trí quân phục kích tại Badr, toàn dân Mecca hết sức tức giận v́ chuyến hàng do Sufyan điều khiển là chuyến hàng đắt giá nhất của giới thương gia Mecca, hơn nữa cuộc đột kích diễn ra lúc này đang trong tháng Ramadan chứng tỏ Muhammad bất chấp tục lệ cổ truyền thiêng liêng của người Ả Rập. Như vậy càng ngày Muhammad càng tỏ ra là một tên thảo khấo vô cùng nguy hiểm đối với toàn dân Mecca, do sự tức giận đó nên số người tự nguyện tham gia đoàn quân tiếp cứu Sufyan ghi tên rất đông.

 

          Ngay chiều hôm đó, đoàn quân tiếp cứu rời Mecca tiến về Badr. Họ phải đi qua Badr đến địa điểm đă hẹn trên bờ biển Hồng Hải để gặp đoàn lữ hành của Sufyan. Quân số của cả hai đoàn gộp lại lên tới trên 2000 người. Ỷ vào quân số đông gấp bốn lần quân số của Muhammad nên họ yên tâm lên đường trở về Mecca.

 

          Toán thám báo của Muhammad báo cáo cho biết đoàn quân đông đảo của Sufyan sắp đi ngang qua Badr. Muhammad kêu gọi mọi người phải quyết tâm chiến đấu? (để cướp hàng hóa) dù phải đối đầu với bạn bè hoặc người ruột thịt. Muhammad bố trí người tại các giếng nước ở Badr để ngăn chặn mọi nguồn nước uống. Số quân c̣n lại núp sau những đồi cát. Muhammad căn dặn mọi người phải tiêu diệt những người lănh đạo của Mecca ngay từ đầu để gây rối loạn hàng ngũ của địch. Quân số của Muhammad tuy ít nhưng Muhammad đă nhiều lần chỉ huy cướp bóc tương tự nên ông ta đă có nhiều kinh nghiệm, vả lại đi cướp hàng mà dẫn theo cả một đoàn người th́ dễ tạo ra hỗn loạn.

 

Trưa hôm sau, đoàn lữ hành của Abu Sufyan và đoàn tiếp cứu của Mecca từ từ tiến vào Badr. Các cung thủ của Muhammad núp sau những đồi cát đột nhiên xuất hiện và tấn công đoàn lữ hành. Trong một thời gian hầu hết các người chỉ huy của đoàn lữ hành đều bị giết sạch kể cả quân ứu viện đến từ Meccc. Muhammad điều động quân từ các nơi phục kích xông lên tha hồ chém giết, đoàn quân đông đảo của Sufyan gần như bị giết sạch, chỉ c̣n một số may mắm chạy thoát về được Mecca . Muhammad thâu được hàng trăm ngựa, lạc đà, cừu và hàng hóa đủ loại. Trong số các tù binh lữ hành nàycó một số là bạn bè hoặc người thân của Muhammad hoặc những người trong họ họ hàng Hồi Giáo của ông trước đây ở Mecca. Trong số đó có Suhayl, tù trưởng bộ lạc Amir là bạn thân của Muhammad trước đây và một người tù binh lữ hành tên là Abbas (Abbas chính là chú ruột của Muhammad) và hai người con trai của Abu Talif (Abu Talif cũng là một người chú ruột và cũng là cha nuôi của Muhammad khi Muhammad c̣n nhỏ) tên là Abu Aquil và Abu Nawfal.

 

Ngày hôm đó đoàn quân của Muhammad chiến thắng trở về Medina dân chúng chạy ra đón mừng với niềm hân hoan chưa từng có. Bởi v́ cứ mỗi lần đoàn quân chiến thắng trở về th́ tất cả những đồ cướp được (loots) Muhammad đều phân phát cho tất cả mọi người. Nhưng lần này họ lại cướp được quá nhiều hàng hóa. Trong khi đoàn quân thảo khấu của Muhammad đang ăn mừng các của cướp được, th́ các bộ lạc của Do Thái tại vùng Medina tỏ ra hết sức lo ngại v́ những người Ả Rập Hồi Giáo quá hiếu chiến, hiếu sát và tàn bạo sẽ trở thành một mối nguy hiểm khó lường được trong tương lai. Sau đó tại Mecca tin tức được loan đi trên khắp các bán đảo Ả Rập về trận đánh ở Badr đă làm mọi người phải bàng hoàng v́ sự tổn thất lớn lao về người và của mà Muhammad đă gây ra không riêng cho Mecca, mà cả những bộ lạc Bedouin và Do Thái cũng phải chuẩn bị để đối phó với đạo quân cướp của Muhammad. Tin tức đó đến được tai của Muhammad và các “tín đồ” theo ông, nhưng ông không quan tâm, mà trái lại ông c̣n cảm thấy rất phấn khởi v́ đă tạo ra một chiến thắng lớn hơn dự tưởng. Điều này đă làm cho Muhammad tin tưởng rằng Chúa đă phù hộ một cách đặc biệt cho đoàn quân Hồi Giáo của ông, và ông đă nói rằng chính Thiên Chúa đă tiêu diệt người Mecca chứ không phải ông diệt họ. Nhân danh Thiên Chúa để giết người và cướp của là đặc quyền của người Hồi Giáo. Nên Muhammad đă diễn đạt những ư trên trong kinh Koran như sau:

 

“You did not slay the ennemies, but God slew them.

When thou threw it was not thyself that threw, but God threw.

And that He might confer on the believers a fair benefits – Koran 8:17”.

 

Tạm dịch như sau:

 

“Anh đă không giết người như anh nghĩ mà là Chúa đă giết họ.

Khi anh quật ngă họ nhưng không phải do anh mà là Chúa đă quật họ.

Đó là đặc quyền mà Chúa đă ban cho những tín đồ của Ngài - Koran 8:17”.

 

Mặc dầu thực hiện những hành vi cướp của giết người nhưng Muhammad và các tín đồ vẫn tin tưởng ḿnh có chính nghĩa và luôn luôn được Thiên Chúa phù hộ, cho nên dù cho quân số ít cũng vẫn có thể đánh thắng những kẻ địch đông hơn gấp bội. Điều này được viết trong kinh Koran như sau:

 

“If there be twenty of you – patient men.

You will overcome two hundred.

If there be one thousand of you.

You will overcome two thousand,

By the leave of God

God is with the patient – Koran 8:6”.

 

Tạm dịch như sau:

 

Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng kiên cường,

Các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch.

Nếu quân số của anh có một ngàn,

Các anh sẽ chiến thắng hai ngàn địch.

Đó là sự cho phép của Chúa

Chúa sẽ cùng với chúng ta [những người kiên cường] Koran 8:67”.

 

Cho đến ngày nay những người Hồi Giáo hay Thiên Chúa Giáo lúc nào họ cũng ảo tưởng rằng Chúa lúc nào cũng đứng về phía họ và bênh vực họ, mặc dù họ là những người gây ra nhiều tội ác nhất, cũng như nh́n lại các cuộc chiến tranh từ cổ xưa đến ngày nay, gây ra bao nhiêu cảnh máu lửa cho nhân loại trải dài nhiều ngàn năm qua đều do họ nhân danh Thiên Chúa để tạo ra cả. Ngay tại thời điểm này 2005 nếu chúng ta nh́n qua các cuộc đánh bom tự sát để buộc người khác phải chết theo ḿnh, những người Hồi Giáo lúc nào cũng nhân danh Chúa để khủng bố và phá hoại các quốc gia mà họ thù ghét.

 

 

b) - “Tiên Tri Muhammad”

Đối với Muhammad, mặc dầu ông dạy các tín đồ tin tưởng vào sự phù hộ đặc biệt của Chúa, nhưng Muhammad là người rất thực tế và không tin nhiều vào Chúa mà tin vào sự tính toán cẩn thận của ḿnh. Sau trận đánh cướp hàng hóa ở Badr, Muhammad biết Mecca sẽ nhất định trả thù bằng cách kéo quân đến tấn công Medina. Do đó, việc trước tiên ông phải làm là đối xử tốt với các tù binh, để đánh vào nhân tâm của quân Hồi Giáo Mecca, v́ vậy ông đích thân đi gặp các tù binh mà ông vừa bắt được và việc làm đâu tiên là Muhammad ra lịnh đem chém và bêu đầu một số để thị oai, số c̣n lại đem giam vào ngục nhưng cho ăn uống và đối xử tử tế. Sau đó Muhammad ra lịnh cho thân nhân các tù binh được đem vàng bạc, lạc đà, cừu hay các gia đ́nh nào có các cô thiếu nữ trẻ đẹp được trao đổi để chuộc mạng cho anh em hoặc cha chú của ḿnh. Từ đó về sau họ thường phục kích và bắt những người buôn bán đi ngang qua để buộc các bộ lạc khác trao đổi cho họ gái đẹp và sản vật đă trở thành gần như một tục lệ trong các bộ lạc của Hồi Giáo Ả Rập.

 

          Sau vụ Muhammad chỉ huy vụ đánh cướp đoàn lữ hành ở Badr, giới Hồi Giáo cầm quyền ở Mecca đă cho tăng cường binh lực để tiêu diệt căn cứ địa Medina của Muhammad. Một mặt họ cho người đi kết thân với các bộ lạc ở Bedouin làm đồng minh, họ chọn những người thiện chiến để thành lập lại những đội binh có thể ứng chiến nhanh chóng với các toán kỵ binh của Mohammad một các hiệu quả. Điểm quan trọng là họ đă ngầm liên lạc với các bộ lạc của người Do Thái ở ngay trong thành Medina để có thể làm nội ứng cho họ để diệt trừ Mohammad càng sớm càng tốt. Sau đó họ vẽ ra một chiến thuật để chuẩn bị tấn công Medina, nhưng yếu điểm của giới Hồi Giáo ở Mecca là họ không có người tài giỏi đứng ra lănh đạo các đội binh nói trên chống lại Muhammad, duy nhật chỉ c̣n một người có đủ khả năng đới đầu với quân đội của Muhammad là Abu Sufyan (Abu Sufyan) có vợ và hai con trai vừa bị quân Hồi Giáo của Muhammad giết chết trong trận đánh ở Badr vừa qua.

 

          Tháng 3 năm 625 Sufyan bắt đầu mở chiến dịch phục thù, lợi dụng trong một đêm tối trời Sufyan bí mật dẫn 200 quân cảm tử đến bố trí bên ngoài thành Medina, sau đó ông một ḿnh đột nhập vào thành liên lạc với bộ lạc Do Thái Bani Nadir. Ông được bộ lạc này cung cấp nhiều tin tức về quân số và hệ thống pḥng thủ của Muhammad. Trước khi trời sáng, Sufyan bắt hai người Hồi Giáo đem ra chém rồi bêu đầu ngoài thành Mecca, rồi Sufyan cho nổi lửa đốt thành Mecca trước khi rút lui. Đến khi Muhammad hay tin, đem quân đến tiếp ứng th́ toán binh của Sufyan đă đi xa rồi. Sau đó Muhammad cho toán t́nh báo của ông đi điều tra. Kết quả t́nh báo cho biết bộ lạc Do Thái Bani Nadir đă thông đồng với Abu Sufyan. Bộ lạc này có khoảng một ngàn người chuyên nghề thợ rèn binh khí và làm thủ công. Mấy hôm sau, nhân một vụ xích mích giữa một nhóm người Do Thái với một nhóm người Ả Rập Hồi Giáo, kết quả của vụ ẩu đả làm cho một người Ả Rập Hồi Giáo bị thiệt mạng. Muhammad nhân cơ hội này đem quân bao vây khu vực của bộ lạc Bani Nadir. Sau hai tuần lễ bao vây, Muhammad không thấy các bộ lạc Do Thái khác có phản ứng ǵ và cũng không thấy quân Mecca tới cứu đồng minh của họ. Tù trưởng bộ lạc Do Thái Bani Nadir không hy vọng được tiếp cứu nên phải đầu hàng và xin Muhammad tha mạng. Muhammad ra lệnh cho đàn ông và con trai toàn thể bộ lạc Bani Nadir phải rời khỏi Medina và chỉ được mang theo các đồ dùng cá nhân, đàn bà con gái nhất là các thiếu nữ trẻ đẹp đều phải bị bắt lại để cho binh lính của Muhammad toàn quyền xử dụng. Tất cả nhà cửa ruộng vườn, cũng như tài sản khác hều bị tịch thu. Sau khi buộc bộ lạc Bani Nadir phải rời khỏi Medina th́ tại ốc đảo này vẫn c̣n lại hai bộ lạc Do Thái khác là bộ lạc Aws và bộ lạc Khasraj.

 

Cũng trong năm 625, Mecca quyết định mở cuộc tấn công Medina. Tổng số quân huy động được lên tới 3000 người với 2000 lạc đà và 200 ngựa, tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của Abu Sufyan. Cuộc chuyển quân phải mất hơn một tuần lễ th́ đoàn quân này mới tới gần Medina. Quân mật báo về cho Muhammad, Muhammad hay tin nên đem một ngàn quân đi nghênh chiến tại thị trấn Uhud cách Medina 20 dặm về phía Nam và ngày 23-3-625, quân hai bên đối diện nhau tại thị trấn Uhud. Nhưng có một điều đặc biệt là trong đoàn quân của Sufyan có một toán quân phụ nữ, họ dàn hàng ngang phía sau các đoàn quân vừa đánh trống tambourines vừa ca hát để khích lệ tinh thần của các binh sĩ Mecca.

 

          Trong trận này, Muhammad và quân sĩ chỉ măi lo đối phó với đoàn quân của Sufyan ở phía trước mặt mà không đề pḥng ở phía sau lưng. Bất thần đoàn cung thủ của Sufyan đă núp sẵn ở những đồi cát phía sau tiến lên bắn như mưa vào đoàn quân Hồi Giáo. Hàng trăm người chết tại chổ hàng trăm người khác bị thương trong đó có “tiên tri” Muhammad. V́ Muhammad bị bất tỉnh nên quân Hồi Giáo chỉ lo rút lui để bảo vệ chủ tướng. Rất may là quân Mecca tuy đông gấp ba lần quân Hồi nhưng đă không truy kích. Đoàn quân Hồi Giáo của Muhammad phải để xác đồng đội ở lại chiến trường. Đoàn quân Hồi Giáo Mecca của Sufyan đă trả thù bằng cách cắt xẻo những xác chết của quân Hồi.

 

          Sau vụ thất trận thê thảm tại thị trấn Uhud, tinh thần của cả cộng đồng Hồi Giáo (Umma) xuống thấp chưa từng thấy. Nhiều tín đồ trước đây đă nghe Muhammad thuyết giảng là Thiên Chúa đứng về phe của Hồi Giáo:

 

Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng kiên cường,

Các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch.

Nếu quân số của anh có một ngàn,

Các anh sẽ chiến thắng hai ngàn địch.

Đó là sự cho phép của Chúa

Chúa sẽ cùng với chúng ta [những người kiên cường] Koran 8:67”.

 

Nay chính giáo chủ Muhammad vừa thua trận và cũng đang bị thương bất tỉnh, quân bị chết nhiều và đoàn quân Hồi chưa kịp đánh đă phải rút chạy. Nhiều tín đồ tỏ ư thất vọng và coi trận Uhud là một dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đă bỏ rơi tiên tri Muhammad.

 

          Mấy hôm sau, Muhamamad tỉnh lại và nghe được chuyện này, Mohammad sợ những người  Rập sẽ bỏ rơi ḿnh nên Mohammad vội viết vào kinh Koran mấy câu thơ nhắc nhở tín đồ như sau:

 

“Các tín đồ đừng bao giờ nghĩ tiên tri nói sai

Và cũng không nên coi thất bại ở trận Uhud

Là dấu hiệu của Thiên Chúa đă bỏ rơi tiên tri của ngài,

Mà hăy coi đó là dịp để xem ai là tín đồ chân chính và ai không là chân chính

  Koran 3:13, 3:152”.

 

          Sau cuộc chiến thắng của quân Mecca ở thị trấn Uhud đă để lại cho phía Muhammad nhiều phụ nữ trẻ góa phụ, vài tháng sau quân Hồi Giáo lại bị quân Mecca phục kích giết thêm một số nửa. Đứng trước thảm cảnh hàng ngàn phụ nữ trẻ không chồng. Muhammad đă khuyến kích các chiến sĩ của ông ta lấy thêm vợ, để cổ vơ cho chế độ đa tha  Muhammad đă viết trong kinh Koran như sau:

 

“Nếu thấy điều đó (lấy nhiều vợ) là tốt cho anh

          Hăy lấy thêm hai, ba, bốn vợ”.

          (Marry such women as seem good to you

          two, three or four - Koran 4:3)

 

          “Hăy lấy những người đàn bà không có chồng

          trong cộng đồng của các người”.

          (Marry the spouseless among you - Koran 24:33).

 

          Khi viết những câu thơ trên Muhammad có nhiều dụng ư. Một là cổ vũ cho các thanh niên cồng tín Hồi Giáo tự do hưởng lạc và coi đó như là một phần thưởng để tưởng thưởng những người có công và trung thành với Muhammad. Thứ hai là ân huệ cho những “chiến sĩ” của ḿnh để ngày mai ra trận không may họ có chết đi th́ cũng không c̣n ǵ để nuối tiếc những lạc thú của cuộc đời, (có người ví những thiếu phụ Hồi Giáo vào thời đó cũng giống như các cô cán bộ Hộ Lư trong quân đội của Cộng sản Bắc Việt trước đây khi c̣n chiến tranh vậy, điều này chứng tỏ ông “thánh sáp” Hồ Chí Minh cũng rất sỏi tâm lư thanh niên như ông “thánh tiên tri” Muhammad, nhưng vấn đề tàn bạo, xảo trá, lưu manh và quỷ quyệt th́ chắc hẳn trên thế gian này không ai hơn họ Hồ cả, cho đến nay không thấy sách vở hay tài liệu nào của Hồi Giáo nói đến số phận các em bé của một ông cha có 5 hay 7 bà vợ sẽ ra sao ?, v́ người chiến sĩ Hồi Giáo của ngày hôm nay sẽ chết trận ngày mai, th́ các cô vợ hôm nay sẽ trở thành cô vợ của một chiến sĩ khác vào ngày mai). Thứ ba là để tránh sự phản bội của những người chiến sĩ và để cầm chân họ sẽ phục vụ măi măi cho tham vọng của ḿnh nên Muhammad trói buộc họ bằng những sợi dây t́nh cảm.

 

Ngày xưa dân Hồi Giáo Ả Rập họ sống từng bộ lạc trong xa mạc nóng cháy da, thân phận của người phụ nữ Hồi Giáo vô cùng cay nghiệt, họ thường bị lợi dụng và bắt nạt, hơn nửa các lănh chúa người Ả Rập họ coi nhân lực và vật lực trong các bộ lạc đó là sở hửu riêng của họ, những thiếu nữ trẻ đẹp thường được mang đi bán hoặc bị đem đi trao đổi cho các bộ lạc khác để lấy lạc đà, ngựa hay cừu, những khi có sự xung đột đánh nhau th́ thường họ bắt các thiếu nữ hay thiếu phụ trẻ đẹp đem về và họ coi đó như là những chiến lợi phẩm để mang đi tặng cho nhau.

 

 

c) - Kinh Mushaf

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những cuộc tận t́nh chém giết nhau giữa những phe Hồi Giáo Ả Rập, nhưng tựu trung không đi ra ngoài các vấn đề là: Tranh chấp lănh thổ, xung đột quyền lực v́ không ai chịu phục tùng ai cả (từ khi Muhammad c̣n sống cho đến măi vễ sau này và đến nay vẫn c̣n tiếp diễn), các cuộc chém giết mà người Hồi Giáo Ả Rập thường cho là “thánh chiến” đó cũng chỉ là những chiêu bài lừa bịp của đám giáo sĩ và chuyên dối gạt người khác phải chết thay cho ḿnh, chết cho sự tham lam ngu dốt của một nhóm người mà họ tự xưng là họ đă “đại diện cho Chúa” (chúa nào bắt người khác phải chết thay cho ḿnh?, chúa nào ra lịnh chặt tay hay chặt chân những ai không tin Chúa?). Nếu nh́n kỹ chúng ta sẽ thấy lư thuyết của Cộng Sản có thể nói rập khung lư thuyết của các đạo giáo, v́ vậy có nhiều người họ ví Tôn Giáo là Cộng Sản cũng không sai bao nhiêu.

 

Dưới đây chúng ta hăy xem qua kinh Koran để hiểu kinh Koran là kinh ǵ ? Tại sao người Hồi Giáo Ả Rập họ cuồng tín đến như thế:

 

Kinh Koran là kinh thánh của đạo Hồi (Koran: The Muslim Gospel), nhưng kinh Mushaf“Kinh Thánh Chính Thức Của Tất Cả Người Hồi Giáo”. Kinh Koran công nhận Jesus là vị tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng kinh Koran phủ nhận tính cách thiêng liêng của Chúa Jesus. Kinh Koran gọi các phép lạ của Jesus là những tṛ học mót ở Babylon (magic and such things as come down at babylon - Koran 2:102). Kinh Koran hoàn toàn phủ nhận tội tổ tông và hoàn toàn phủ nhận cái chết của Chúa Jesus trên thập tự giá. Nên kinh Koran khẳng định người Do Thái không giết và không đóng đinh Chúa Jesus (The Jews killed him not, nor cruxified him - Koran 4:157). Người Hồi Giáo rất ghét Thiên Chúa Giáo v́ “tiên tri Muhammad” cho rằng đạo Công Giáo thờ ảnh và tượng, vi phạm điều răng thứ hai của Môise. Một điều nữa mà “tiên tri Muhammad” ghét cay ghét đắng là lư thuyết Thiên Chúa ba ngôi của đạo Thiên Chúa Giáo. Đối với Muhammad, Thiên Chúa Giáo là đạo Đa thần giáo, nên Thiên Chúa Giáo chống lại lư thuyết độc thần của tổ phụ Abraham. Như vậy Hồi giáo và Do Thái Giáo là hai đạo độc thần nên họ chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (Monotheist Religion = Only-One-God Religion). Công giáo La-mă thờ ảnh tượng, thờ ba Thiên Chúa, quá tôn sùng bà Maria và các thánh do Vatican tự phong (Vatican La Mă họ đă tự phong cho rất nhiều thánh tùy theo t́nh h́nh chính trị). Do đó Thiên Chúa Giáo là một tà đạo đa thần chứ không phải là đạo Thiên Chúa đúng nghĩa.

 

(Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là: “Các h́nh thức phong Thánh của bất cứ tôn giáo nào ở bất kỳ xă hội nào đều là những hành động phạm thượng với Thánh, Thần, Phật, Chúa ở cơi siêu h́nh nào đó”. V́ con người ở cơi thế gian trần tục th́ làm sao có thế “phong thánh” cho một cơi mà họ chưa đủ trí tuệ để biết đến và cũng chưa đủ hiểu biết để có thể giải thích được là cơi siêu h́nh ấy ở đâu, vả lại họ có chắc rằng liệu các cơi siêu h́nh ấy họ có thể chấp nhận các “vị Thánh” do những con người đầy tham lam, ti tiện nơi trần gian vô minh này phong cho họ chăng ?. Như vậy các giáo sĩ của các đạo giáo đă quá coi thường nơi cơi Phật, cơi Chúa, cơi Thánh, Thần, vậy làm sao họ có thể bắt con người phải tôn thờ ở một cơi cao hơn cơi trần gian mà chính họ là những người lại coi thường các cơi đó. Người xưa quả nói không sai “Vô Tri Nên Bất Mộ”, v́ không biết nên coi thường, mà chính những kẻ dám coi thường trời đất lại là những kẻ khoát lên người họ các màu áo tôn giáo để thực hiện quyền lực cho tôn giáo của họ).

 

Đạo Hồi Giáo rất ghét đạo Do thái v́ Do thái gọi Thiên Chúa bằng số nhiều Elohim (số nhiều của El), đạo Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả Rập là Il. Đi liền với Il có chữ “ah” là một mạo tự (article trong ngôn ngữ Ả Rập) v́ thế Il thành Il (ah). Khi chuyển sang Anh ngữ, các chữ I thành A, v́ thế Il (ah) thành AllaH (cũng như Ibrahim trong tiếng Ả Rập được đổi thành Abraham trong tiếng Anh). Nên Muhammad gọi chung những  người theo đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa Giáo là “những tín đồ của các sách Thánh kinh” (The people/ the followers of the Books) hoặc gọi chung là “những kẻ không tin Thiên Chúa Allah” (The unbelievers). Riêng với các tín đồ Thiên Chúa Giáo Muhammad gọi họ là “những kẻ thời thần tượng” (The idolers).

 

Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi các tín đồ Hồi Giáo phải chiến đấu chống lại những kẻ theo Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và tất cả những ai không tin theo đạo Hồi Giáo của ông. Trong lănh thổ của Hồi Giái từ xưa cho đến nay bất cứ ai không phải là đạo Hồi Giáo đều phải nạp thuế thân cũng như thuế không phải là đạo Hồi Giáo và nhiều thứ thuế khác rất nặng và phải chấp nhận một địa vị thấp kém nhất xă hội (Fight those who do not believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight them until they personally pay tax on non-Muslims ackowledging their inferiority - Koran, Sura 9). V́ vậy chúng ta không thấy ǵ làm lạ khi dân Ả Rập Hồi Giáo coi khinh tất cả các giống dân khác đều là hạ cấp chỉ v́ họ không phải là người tin theo đạo Hồi Giáo.

 

Kinh Koran cũng chẳng có ǵ là đặc biệt hay cao siêu ǵ cả, mà kinh Koran được viết theo lối văn kể chuyện thông thường (Oral recitation) của những người b́nh dân quen lối sống du mục trong xa mạc nóng cháy. Kinh Koran có tổng cộng có 114 chương (suras/chapters) gồm 6616 câu thơ (verses). Sự phân phối các câu thơ trong các chương không đều nhau: chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất chỉ có 3 câu. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn bất thường: Câu thơ dài nhất chiếm tới nửa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ!.  Phần lớn kinh Koran (85 chương) được Muhammad viết tại Mecca, c̣n lại 29 chương viết tại Medina. Muhammad viết kinh Koran trên lá cọ khô và trên những tấm da súc vật phơi khô. Nhưng sau khi Muhammad chết vào năm 632, phần lớn các bản chép tay nói trên bị thất lạc hoặc phân tán rải rác nhiều nơi. Các vua chúa Hồi Giáo thời đó lo sợ người dân Ả Rập không c̣n tin theo lư thuyết đạo Hồi và nguy cơ có thể làm cho ngai vàng các vua chúa thời đó bị lung lay, nên các vua chúa cố gắng sưu tầm và thu hồi các nguyên bản viết tay của giáo chủ Muhammad, nhưng khó có thể t́m lại nguyên vẹn v́ các bộ tộc Hồi Giáo luôn luôn đánh phá lẫn nhau để cướp tài sản và vật chất của nhau trong nhiều thế kỷ dài.

 

Như trên đă nói v́ sợ người dân không c̣n tin theo lư thuyết Hồi Giáo và để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ Hồi Giáo, họ cần phải có người tài giỏi biên tập tất cả các nguyên bản thành một cuốn Thánh kinh duy nhất. Người có thẩm quyền đầu tiên đứng ra lo việc này là Abu Bakr kế vị Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi Giáo đầu tiên thống nhất bán đảo Ả rập để biến nơi này thành điểm xuất phát bành trướng Hồi giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một thanh niên 22 tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ bản của kinh Koran do Muhammad viết tập trung tại Medina. Công việc đang được tiến hành tốt đẹp th́ Abu Bakr qua đời. Các tài liệu do Zayd thu thập đều được chuyển giao cho vị vua Hồi giáo kế nhiệm là Umar Khattab. Vị vua này là một nhà quân sự tương đối có tài, chỉ trong 10 năm (634-644) ông đă mở rộng lănh thổ của Hồi Giáo ra toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi. V́ ham mê lo việc chiếm đất và bành trướng lănh thổ nên vị vua này đă bỏ quên công việc biên tập kinh Koran, nên tạo ta hậu quả nghiêm trọng là ở những địa phương khác nhau các giáo sĩ Hồi Giáo truyền miệng cho dân chúng những câu thơ của kinh Koran khác nhau và sự tranh căi về tính trung thực của kinh Koran càng ngày càng trở nên gay gắt và hỗn loạn. Cuối cùng các cuộc tranh căi đă dẫn đến cuộc “thánh chiến” giữa hai phe Hồi Giáo giáo tại Nehavand, gây cảnh đầu rơi máu đổ kinh hoàng kéo dài 7 năm từ năm 650 cho đến cuối năm 657.

 

          Người kế nghiệp thứ ba (the third caliph) là vua Uthman (644-657) chú tâm đến việc phục hồi kinh Koran, năm 652, vua Uthman giao cho Zayd và ba người phụ tá nhiệm vụ biên tập các bản thảo của Muhammad thu hồi được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi Muhammad qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran do Zayd viết lại và gọi nó là “Mushaf” có nghĩa là “Kinh thánh chính thức của mọi người Hồi Giáo”. Sau đó vua Uthman cho đem cuốn kinh Thánh này lưu trữ tại thành phố Kufa (Iraq ngày nay) và để tráng dị nghị cho sau này về việc kinh giả, kinh thật cũng như tranh căi gây cảnh máu đổ thịt rơi. Vua Uthman ra lệnh tiêu huỷ toàn bộ các bản viết tay của Muhammad trên lá cọ và da thú vật. Công việc này tương tự như hành động của hoàng đế La Mă Constantine ra lệnh thiêu huỷ toàn bộ các sách thánh kinh và các di tích thật của Jesus sau công đồng Nicea năm 325. Nhưng một điều khó hiểu là ngày nay các bản viết tay của “Muhammad” người ta lại có đến những 5 bản chính được Muhammad viết trên da ḅ:

 

* - 2 bản hiện lưu trữ tại thư viện Taskhent ở Uzebekistan.

* - 1 bản lưu trữ tại thư viện Tpokabi Thổ nhĩ kỳ.

* - 1 bản tại bảo tàng viện London.

* - 1 bản mới t́m thấy tại Yemen năm 1979.

 

Nhưng khi so sánh các bản chính nói trên với kinh Koran do vua Uthman công bố năm 657 người ta đă phát giác có nhiều sự khác biệt, việc này đưa đến các nhận định của các học giả nghiên cứu về Hồi giáo là: Việc vua Uthman ra lệnh tiêu huỷ các bản viết tay của Muhammad là một tổn thất hết sức nặng nề cho Hồi Giáo và 5 bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo cổ đă thu thập được cũng đủ xác minh một sự thật đáng buồn cho thế giới Hồi Giáo (ư muốn nói chỉ toàn là các bản giả), và có lẽ vua Uthman và ban biện tập của Zayd đă tự ư sửa đổi kinh Koran theo ư của họ. Tuy nhiên, hầu hết các giáo sĩ Hồi giáo hiện nay đă cấm người Hồi Giáo nêu lên những vấn đề nói trên. Các giáo sĩ vẫn cho rằng bản kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm 657 là kinh Koran do Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.

 

Khi chúng ta đọc vào kinh Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của “Ngài”. V́ đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo và ngoài Thiên Chúa ra, kinh Koran dạy phải tin có các thiên thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc khải của đạo Do Thái và Thiên Chúa Giáo cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định. Kinh Koran cũng khác với Cựu Ước và Tân Ước chỉ đề cập đến vấn đề thiêng liêng hoặc lịch sử, kinh Koran đồng thời cũng là một bộ luật đầu tiên và cao nhất của Hồi giáo, nhưng kinh Koran cũng là một bộ luật vô cùng sắt máu và mâu thuẫn nhất, ví dụ như:

 

* - Cấm săn bắn trong thời gian hành hương Mecca hay trong các tháng Thánh ( Kinh Koran 5:93). Nhưng cũng trong kinh Koran chương 9 câu 5 đă quy định: “Khi những tháng Thánh qua đi, các ngươi hăy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hăy phục kích để bắt chúng”. Hai câu “Kinh” trên lại mâu thuẫn với nhau, tháng Thánh th́ cấm săn bắn loài vật nhưng cũng trong thánh Thánh th́ được quyền giết loài người, chỉ v́ con loài người đó không theo đạo Hồi Giáo.

 

* - Cấm trộm cướp, tội trộm cướp sẽ bị chặt tay (kinh Koran 5:31). Nhưng xin xem lại giáo chủ Muhammad đă làm ǵ để thành lập đạo Hồi Giáo, nếu không phải là tấn công các đoàn lữ hành buôn bán để cướp lạc đà, ngựa, cừu và hàng hóa đem về chia nhau.

 

* - Cấm nằm gần đàn bà có kinh nguyệt (kinh Koran 2:221), nhưng lại chặt đầu hay chặt tay, chân tội nhân hoặc những ai không tin ở Allah.

 

* - Cấm ăn thịt heo v́ thịt heo dơ (kinh Koran 5:30), nhưng lại cho ăn thịt ngựa, thịt cừu, thịt lạc đà, thịt dê .v..v

 

Tóm lại dựa theo kinh Koran các giáo sĩ Hồi Giáo viết ra những luật lệ rất quái đản để áp dụng cho người dân Hồi Giáo, ví dụ như các giáo sĩ Hồi Giáo ở Phi Châu ra điều luật phải cắt bỏ phần âm vật của phái nữ, v́ họ giải thích rằng: “Đó là nơi dơ bẩn tạo ra sự dâm làm ô uế cho sự linh thiêng khi thờ phụng Allah”, nhưng các giáo sĩ lại quên rằng họ từ nơi đâu sinh ra, chứ không phải từ nơi “dơ bẩn” mà họ gọi là ô uế đó (không dâm sao có thánh hiền?). Bất cứ người đàn bà nào bị cáo buộc về tội ngoại t́nh đều bị đem ra cho công chúng ném đá đến chết (kinh Koran 4:15). Nhưng cũng chính thiên sứ Muhammad viết như sau: “Hăy lấy những người đàn bà không có chồng ở trong cộng đồng của các người”. Marry the spouseless among you (kinh Koran 24:33).

 

Kinh Koran qui định h́nh phạt hết sức nặng nề cho bất cứ ai “chống Thiên Chúa Allah hoặc chống Thiên sứ Muhammad”. Người đó sẽ bị đóng đinh vào cây giá phơi nắng cho chết hoặc bị chặt hết chân tay (Sura 5). Đàn ông hay đàn bà nếu bị ghép vào tội trộm cướp th́ tùy theo nặng nhẹ mà chặt một hay hai tay (Koran.5:3). (xin quí độc giả xem lại đoạn trên về những cuộc đánh cướp do Muhammad chỉ huy). Những người Thiên Chúa Giáo thờ ảnh tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo (The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred mosque - Koran 9:28). Các người Do Thái và Thiên Chúa Giáo bị cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Thiên Chúa Giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị giết bất cứ lúc nào. Trong kinh Koran chương 9 câu 5 đă quy định: “Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hăy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hăy phục kích để bắt chúng” (When the sacred month have passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives and wait for them in every ambush - Koran Sura 9: verse 5). Cho nên người phương Tây gọi những câu kinh trên là “những câu kinh của bọn man rợ”. V́ dám cười cợt  trước cảnh đầu rơi máu đổ của đồng loại, nên các đạo quân Hồi Giáo được coi là những đạo quân tàn bạo nhất nh́ trong lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, nh́n lại chỉ trong ṿng một thế kỷ, các đoàn quân Hồi giáo đă chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới nhà Đường. Nhưng đồng thời những câu thơ thù hận nói trên cũng đă gây nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài trong lịch sử và cũng là nguyên nhân gây nên các cuộc “thánh chiến” kinh hoàng trải dài gần 2000 năm qua. 

 

Ngày hôm nay khi đọc lại lịch sử của các “Đạo” nói trên những con người hậu sinh như chúng ta hiện nay sẽ nghĩ ǵ, phải chăng tôn giáo là mầm mống của mọi sự tội lỗi, oán thù kéo dài qua nhiều đời. Tôn giáo là yêu thương hay tôn giáo chỉ đem lại nhiều nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Con người của ngày hôm nay có thật sự cần có tôn giáo hay sự tín ngưỡng ở thần linh không có thể xác, hay chúng ta cần một đời sống lấy t́nh đồng loại chia sẻ cho nhau xóa bỏ biên cương tôn giáo, lấy t́nh người xóa bỏ hận thù chủng tộc, xóa bỏ những dị biệt của màu da, thương yêu và chia sẻ cho nhau để cùng nhau chung sống trong quả địa cầu nhỏ bé này.

 

d) - Thiên Chúa Giáo Và Hồi Giáo.

          Đạo Hồi Giáo xuất hiện và bành trướng mạnh nhất trong thế kỷ thứ 7 như một cơn băo dữ khiến cả nhân loại từ Đông sang Tây phải kinh hoàng. Chúng ta hăy t́m hiểu nguyên nhân nào đă làm cho Hồi Giáophát triển nhanh như vậy:

 

Thứ nhất: Có lẽ qua hàng nhiều thế kỷ sống trên các cánh đồng cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp sống lang thang của những người Ả Rập càng ngày càng trở nên khó khăn, về đất đai ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ thứ 6, bộ lạc Quraysh tổ tiên của Muhammad có sáng kiến bỏ nghề du mục để chuyển sang nghề thương mại để sinh sống. Họ tổ chức các cuộc đi buôn đường xa với những đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và rất nhiều ngựa, lạc đà để chờ hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí .v..vDần dần, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành có thể gia tăng lên tới hàng ngàn người. Do nhu cầu cầu tự vệ, mọi người trong đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà, luyện tập xử dụng các thứ vũ khí như gươm giáo, cung tên, kể cả vơ thuật và các chiến thuật đánh nhau. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ, học cả địa lư và phong tục tập quán của các nước lân cận để gia tăng khả năng giao dịch thương mại. Trải qua nhiều thập niên như vậy, những thương gia (traders) Ả Rập trở thành những người đa tài. Họ chẳng những là những thương gia rành nghề mà c̣n là những quân nhân thiện chiến, kỷ luật và c̣n là những người được quần chúng ngưỡng mộ và nghe theo.

 

Đầu thế kỷ 7, Mecca là thủ phủ của những người Quaraysh đă trở nên một trung tâm thương mại  lớn nhất tại Trung Đông. Những người Quraysh không c̣n cái dáng dấp quê mùa nghèo khổ của các thế kỷ trước nữa, trái lại họ đă trở thành những người lịch sự giầu có. Điều đó đă làm cho nhiều bộ lạc Ả Rập khác phải thèm muốn và cố gắng noi theo. Một trong những bộ lạc nổi tiếng là man rợ và hung ác đó là bộ lạc Bedouins đă bắt chước bộ lạc Quaraysh đă bỏ nghề du mục và tham gia vào các đoàn lữ hành của Mecca. Nhưng vào giữa thế kỷ 7, gặp cơ hội đạo Hồi phát triển, các bộ lạc Ả Rập, nhất là những người Quaraysh và bộ lạc Bedouin, đă nô nức nhập cuộc dùng tôn giáo làm phương tiện bành trướng lănh thổ để thay đổi môi trường sống tại bán đảo Ả-rập đă quá khô cằn và nóng bức. Từ đó họ dung tôn giáo như là một phương tiện để động viên tinh thần của dân Hồi Giáo, lấy bạo lực của gươm giáo để thôn tính các quốc gia lân cận có đất đai trù phú.

 

Thứ hai: Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên nhau thống trị: Đế quốc Byzantine là hậu thân của đế quốc La Mă được đại đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ phủ tại hải cảng Byzantine của Hy Lạp. Từ đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời hoàng đế cuối cùng của đế quốc Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều là những hoàng đế theo Thiên Chúa Giáo Đông Phương. Sau này họ mới trở thành Chính Thống Giáo. Sassanian chính là nước Ba Tư ngày nay. Đế Quốc Sassnian tồn tại 427 năm (từ 224-651). Các hoàng đế của đế quốc Sassanian đều theo đạo Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên đă tranh chấp quyền lực và đánh nhau liên miên suốt 4 thế kỷ, cho đến đầu thế kỷ 7 th́ cả hai đế quốc này đều bị kiệt quệ và người cũng như về của (nhân lực và tài lực) cho nên tạo ra một khoảng trống quyền lực tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, khi những đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập xâm lăng đă tiến vào lănh thổ của cả hai đế quốc này như tiến vào chỗ không người. Từ hai nước được gọi là đế quốc đă bị những đoàn kỵ binh của những bộ lạc man rợ thôn tính một cách dễ dàng. Một điều quan trọng nữa là người dân trong hai đế quốc nói trên họ đă sống trong 3 thế kỷ đầy máu và sợ hăi nên họ đă oán ghét chiến tranh và bọn cầm quyền, máu người thân của họ đă đổ xuống một cách oan uổng cho bọn thống trị gian ác một cách vô ư nghĩa, cho nên sự kêu gọi chống xâm lăng đă không được người dân hưởng ứng. V́ vậy đất nước họ đă lọt vào tay bọn kỵ binh Hồi Giáo một cách dễ dàng.

 

Thứ ba: Đạo Hồi là sản phẩm tinh thần của người Ả Rập nên được người Ả Rập đón nhận một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa xưa, người Ả Rập đă chấp nhận niềm tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (Allah) tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin có thiên thần .v..v... Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một đạo ngoại lai, mà họ coi Hồi Giáo là đạo cổ truyền của dân tộc Ả Rập. Văn thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập là những “áng thơ văn tuyệt tác”. Mỗi khi họ đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ cảm thấy những vần thơ đó rất hấp dẫn v́ rất hợp với khiếu thẩm mỹ văn chương của họ. Ư niệm thánh chiến và hiến dâng (jihad) và ư niệm tử v́ đạo hoàn toàn phù hợp với tâm lư vốn hung bạo của người Ả Rập v́ họ rất quen thuộc với cuộc sống đầy bất trắc tại sa mạc. Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối với các chiến binh trẻ tuổi, theo kinh Koran th́: “Sau khi chết trận, được coi như tử v́ đạo sẽ được Thiên Chúa (Allah) cho lên thiên đàng để được hưởng đủ thứ lạc thú (t́nh dục) cho đến muôn đời. Lạc thú độc đáo nhất và duy nhất chỉ đạo Hồi Giáo mới có, đó là những người chết trận hoặc tử v́ đạo đều được những cô Gái Trinh tuyệt đẹp đón tiếp và phục vụ lạc thú t́nh dục cho đến muôn đời, v́ mọi người ở thiên đàng đều trẻ măi không già!”. Niềm tin “đặc biệt” này đă là một yếu tố tâm lư quan trọng khiến cho những người lính Hồi Giáo trở thành những chiến sĩ rất “dũng cảm” trong các cuộc thánh chiến. Họ dũng cảm cũng chỉ v́ cuồng tín và khoái hưởng những “lạc thú” do Allah trao cho, những đoàn quân Hồi Giáo đă điên cuồng lao vào chổ chết để mong lập nên những “kỳ tích” vượt xa sự tưởng tưởng của mọi người. Cho nên quá khứ cũng như hiện tại chúng ta thấy những tên lính Hồi Giáo ngu dốt và cuồng tín họ coi sinh mạng của chính họ như một thứ cỏ rác cần phải vứt bỏ, để mong về  với Thiên Chúa (Allah) và tận hưởng lạc thú t́nh dục đến muôn đời.

 

          đ) - Những Cuộc Chiến Tranh Mở Rộng Nước Chúa

Theo sự giải thích của các giáo sĩ Hồi Giáo cuồng tín th́: “Muốn mở rộng nước Chúa th́ phải gây ra chiến tranh, máu lửa, v́ “tử v́ Đạo” là điều cần phải có. V́ vậy từ ngày người Ả Rập lập đạo Hồi Giáo cho đến nay lúc nào họ cũng nghĩ đến chiến tranh, có nghĩa là phải mở rộng nước Chúa. Chiến tranh mở rộng nước Chúa của Hồi Giáo (Kingdom of Allah) được chia ra làm hai thời kỳ:

 

* - Thời kỳ thứ nhất: Từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13, đạo Hồi Giáo bành trướng và phát triển tạo thành một số quốc gia theo đạo Hồi Giáo được gọi chung là khối Hồi Giáo Ả Rập, đứng đầu khối cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua được gọi là Caliph, có nghĩa là “người kế vị của giáo chủ Muhammad về phương diện thế quyền”. Chúng ta cũng nên nhớ một điều là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối cùng của Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah), cho nên ngoài Muhammad ra không một ai có quyền tự trị xưng là kẻ thừa kế của Thiên Chúa về phương diện thế quyền.

 

·        - Thời kỳ thứ hai: Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20 do những biến cố đặc biệt của thế giới đă đưa đến sự h́nh thành ba đế quốc Hồi giáo. Trước hết là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm nước Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Âu và nhiều nước Á châu khác tạo thành một đế quốc Mông Cổ rộng lớn (như đă nói ở trên) .

 

Từ cuối thế kỷ thứ 13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo đạo Hồi đă tạo nên đế quốc Hồi giáo Mughul (do chữ Mongol - “Mông Cổ” mà ra). Trong giữa thế kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo đă lấy ra phương thức chế thuốc súng từ “tù nhân” Hồ Nguyên Trừng (là con của Hồ Qúy Ly) và chế ra thuốc súng đầu tiên ở Âu Châu. Tưởng cũng nên nhắc lại là cha con Hồ Qúy Ly và Hồ Nguyên Trừng bị bắt giải về kim lăng vào năm 1407, tức là trước khi Âu Châu chế ra thuốc súng khoảng nửa thế kỷ. Hai cha con Hồ Qúy Ly là những người có tài nhưng không được ḷng dân nên phải tự trói ḿnh qùi gối trước Ải Nam Quan nộp ḿnh cho Minh Thành Tổ. Hồ Qúy Ly là người chế ra Tiền Giấy đầu tiên trên thế giới này (loại tiền chúng ta xài ngày hôm nay). Con ông là Hồ Nguyên Trừng cũng là người đầu tiên chế ra thuốc súng thần công (súng đại bác ngày nay) trên thế giới này, gần 50 năm sau tại Âu Châu người Thổ Nhĩ Kỳ mới học theo phương thức chế ra thuốc nổ loại súng thần công của Hồ Nguyên Trừng mà chế ra súng đại bác ngày nay, Hồ Nguyên Trừng tuy là tù binh của đời nhà Minh, nhưng sau này ông được vua nhà Minh phong đến chức Công Bộ Thị Lang tương đương với chức Bộ Trưởng Pháo Binh bây giờ, (Công là ngày xưa gọi là súng thần công, ngày nay gọi là pháo binh) và bộ sách ông viết là bộ Nam Ông Mộng Lục hiện nay c̣n lưu truyền bên Tàu.

 

          Như trên đă nói dựa vào sức mạnh quân sự, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều nước trên cả ba lục địa Âu, Á, Phi và lập nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế quốc Safavids theo giáo phái Shiite. V́ vậy ngày nay chúng ta hiểu rằng tại sao đạo Hồi Giáo có hai giáo phái Shiite và Suni họ luôn luôn oán thù nhau và lúc nào họ cũng sẳn sàng gươm giáo để chuẩn bị giết nhau không thương tiếc.

 

4) - Những cuộc “Thập Tự Chinh” đẫm máu

 Trở lại đầu thế kỷ 11, Thiên Chúa Giáo chia thành hai giáo phái với hai giáo quyền thù nghịch nhau. Đó là giáo hội Công Giáo La-mă (Roman Catholic) đóng đô tại Vatican và giáo hội Chính Thống Giáo (The Eastern Orthodox Church) đóng đô tại Byzantine, c̣n được gọi là Constantinople tức Istanbul, thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

 

* - Lư do thứ nhất là vào năm 1091, quân Hồi Giáo tấn công Byzantine. Hoàng đế Alexius Comnenus đứng đầu giáo hội Chính Thống Giáo tuy không ưa Công Giáo nhưng cũng đành phải viết văn thư chính thức yêu cầu giáo hoàng La Mă đem quân đến cứu giúp. Vatican lúc đó muốn giúp Vatican th́ ít nhưng điều quan tâm hàng đầu là tái chiếm thánh địa Jerusalem để giáo dân toàn Âu Châu được tự do đến đó hành hương. Mối thù lớn nhất của dân Công Giáo Âu Châu đối với đạo Hồi Giáo là trong thời gian chiếm đóng Jerusalem, quân Hồi Giáo đă triệt phá “Nhà thờ Kính Mộ Chúa” (Church of the Holy Sepulchure - ư chỉ mồ chôn của Jesus). Tội triệt phá nhà thờ Kính Mộ Chúa đă trở thành lư do chính cho các cuộc thánh chiến trả thù của Công Giáo.

 

* - Lư do thứ hai được nêu lên là những vụ người Hồi Giáo hành hạ những người Công Giáo Âu châu đi hành hương ở Jerusalem năm 1076. Những người đi hành hương sống sót trở về Âu Châu đă kể nhiều chuyện về sự ngược đăi của người Hồi Giáo khiến cho dân Âu Châu rất phẩn nộ. Tu sĩ Peter Hermit là người hết sức cuồng nhiệt vận động quần chúng tín đồ Công Giáo ở các nước Âu Châu tham gia cuộc “Thánh Chiến Chống Hồi Giáo”, để rồi từ đây các cuộc chém giết nhau  dành quyền lực thống trị giữa hai tôn giáo được ngụy trang bằng danh từ thánh chiến đă kéo dài gần hai thế kỷ, đă để lại nhiều máu và nước mắt cho nhiều triệu người, thiết nghĩ đây là bài học để đời cho nhân loại từ cổ chí kim.

 

Các giáo dân Âu châu đa số thời đó đa số là những nông dân thất học và cuồng tín nhất là giới thanh thiếu niên, trong số đó có rất nhiều trẻ vị thành niên đă mù quáng ghi tên tham gia vào đoàn quân chữ thập. Lịch sử Âu châu đă gọi đoàn quân chữ thập này là “Đoàn quân nông dân” hoặc “Đoàn quân con nít” (Popular Crusade – The Children’s Crusade). Vào thời kỳ đó, Âu Châu đang ở trong bóng tối tinh thần (The Dark Age) nên từ vua tới dân, từ tu sĩ đến các bổn đạo, tất cả đều không có một sự hiểu biết nào về Hồi Giáo, không có một chút kiến thức nào về t́nh h́nh chính trị xă hội và địa thế của các nước phương Đông. Sự thiển cận về kiến thức và tinh thần cuồng tín tôn giáo đă mau chóng biến việc tái chiếm Jerusalem khỏi tay quân Hồi Giáo thành một khát vọng thiêng liêng vô cùng cuồng nhiệt. Chỉ trong một thời gian ngắn có hàng trăm ngàn nông dân ghi tên đầu quân, trong số đó có ít nhất là 60,000 trẻ vị thành niên !

 

* - Cuộc Thập Tự Chiến Thứ Nhất (1096-1099)

Như trên đă tŕnh bày, sự vận động cho cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân Thập Tự khởi đầu từ những năm 1091 do sự cầu viện của hoàng đế Byzantine, nhưng măi tới năm 1096, tức 5 năm sau mới thực hiện được. Đoàn quân Thập tự gồm hàng trăm ngàn người được điều khiển bởi các hiệp sĩ chuyên nghiệp, xuất phát từ hai nước Ư và Pháp. Đoàn quân của Pháp chia làm hai nhánh: Nhánh quân ở miền Bắc tập trung tại Normandie, nhánh quân ở miền Nam tập trung tại Toulouse. Cả hai nhánh này tiến quân thẳng tới Constantinople.

 

Trên đường hành quân, khi đi ngang qua đồng bằng sông Rhin, đoàn quân Thập tự của Pháp đă lùng bắt những người Do Thái rồi đưa họ ra băi hoang chém giết tập thể. Hiện nay tại những vùng đồng bằng sông Rhin thuộc nước Đức có nhiều nơi vẫn c̣n ghi dấu bằng những bia đá ghi tên những người Do Thái bị sát hại trong dịp này.

 

Vào mùa thu năm 1096, một đạo quân thứ ba của Pháp tập trung tại Clairmont đi thẳng đến Rome để kết hợp với 50,000 quân Ư. Sau đó liên quân Pháp-Ư cũng kéo đến Constantinople. Vua và triều đ́nh Byzantine vô cùng ngạc nhiên khi thấy đoàn quân Thập Tự chỉ là một đám nông dân rách rưới bẩn thỉu và có quá nhiều trẻ vị thành niên ngơ ngác. Vua Byzantine lập tức ra lệnh cho quân đội ngăn chận không cho đoàn quân ô hợp này vào thành phố. Tuy nhiên, nhà vua cung cấp cho đoàn quân này số lương thực và cho quân đội áp tống đám  quân Thập Tự này đến Boporus thuộc miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lúc đoàn quân Thập Tự này trú đóng tại Boporus th́ bị quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ bất ngờ tấn công giết chết rất nhiều. Đoàn quân c̣n lại th́ tiếp tục đi tới Anatolia, một thành phố thuộc phần đất Á Châu của Thổ Nhĩ Kỳ, rồi đến bao vây thành phố Hồi Giáo Antioch ở phía cực Nam nước Thổ. Trong lúc đang bao vây thành Antioch, đoàn quân Thập Tự bất ngờ bị quân Hồi Giáo Iraq kéo đến bao vây ṿng ngoài từ ngày 21-10-1097 đến ngày 3-6-1098. Đoàn quân Thập Tự bị kẹt ở giữa v́ thành Antioch quá kiên cố không thể xâm nhập, trong khi đó đoàn quân Iraq lại quá hùng hậu nên quân Thập tự không thể phá được ṿng vây. Sau hơn 5 tháng bị vây hăm quá chặt, quân Thập tự bị cạn hết lương thực nên bị chết đói rất nhiều. Cuối cùng, ngày 3-6-1098, đoàn quân Thập Tự buộc ḷng phải chấp nhận một trận quyết tử để mở đường máu phá vỡ ṿng vây của quân Hồi giáo Iraq.

 

Đoàn quân Thập Tự tiếp tục lên đường trong hơn một năm mới tới được Jerusalem. tại thành phố thánh địa này lúc đó có rất ít quân Hồi Giáo pḥng thủ nên đoàn quân Thập Tự đă chiếm thành phố thánh địa một cách dễ dàng vào ngày 15-7-1099. Sau khi chiếm Jerusalem, Thập tự quân ra lệnh cấm người Hồi Giáo không được leo lên tháp cao ở đền thờ để kêu gọi mọi người đọc kinh, không được ăn chay trong thánh Ramadan, không được xây đền thờ mới và cấm sửa chữa đền thờ cũ. Tất cả những tín đồ Thiên Chúa Giáo cải sang đạo Hồi đều bị tử h́nh. Chỉ trong ṿng vài tuần lễ đầu chiếm đóng Jerusalem, đoàn quân Thập Tự đă tàn sát những đàn ông Do Thái và người Hồi Giáo Ả Rập tổng cộng lên đến 30,000 người. Thánh địa của cả ba tôn giáo lớn biến thành một nhà xác khổng lồ. Lư do là số người chết nhiều hơn số quân số quân Thập Tự tại Jerusalem, và không có ai lo chuyện chôn người chết cả. Cho tới 5 tháng sau, các cống rănh và các thung lũng ở Jerusalem vẫn c̣n sặc mùi hôi thối của các xác chết. Một điều ghê sợ và hăi hùng nhất là quạ, kênh kênh bay đầy trời để ăn xác người chết và cả chó hoang cũng ăn xác người chết.

 

Cuộc chiến tranh thứ nhất của đoàn quân Thập Tự Công Giáo La Mă (The First Crusade) là một ấn tượng ghê tởm nhất đối với người Hồi Giáo và Do thái giáo, và là một bài học kinh nghiệm nhớ đời cho toàn thế giới Hồi Giáo về sự man rợ khủng khiếp của bọn tín đồ Công Giáo cuồng tín. Tuy nhiên, cũng do cuộc chiến tranh này mà người Âu Châu đă có cơ hội hiểu biết về thế giới Ả Rập và Hồi Giáo. Họ không ngờ thế giới Hồi Giáo quá rộng lớn, bao trùm một vùng lănh thổ từ Bắc Phi qua Âu Châu tới tận Viễn Đông. Họ không ngờ Hồi Giáo cũng là một nền văn minh, trong đó có môn toán học tiến bộ vượt xa Âu Châu. Cũng từ đó, người Âu Châu đă dần dần tự t́m hiểu để tự giải thoát họ ra khỏi thời đại “đen tối” (The Dark Age).

 

Về bằng chứng giết người tàn bạo của quân Thập Tự tại Jerusalem trong những ngày đầu của cuộc “thánh chiến” hiện nay vẫn c̣n một chứng tích lịch sử độc đáo. Đó là bức thư của vị tướng tổng chỉ huy quân Thập Tự gửi từ Jerusalem về Vatican để báo cáo các tin mừng chiến thắng lên Giáo hoàng Urban II. Bức thư này hiện được lưu trữ tại Văn khố của Ṭa thánh. Trong thư có đoạn viết như sau: “Đức thánh cha có biết chúng con đă đối xử với kẻ thù của chúng ta ở Jerusalem ra sao không? Tại cổng thành Solomon và trong Đền thánh, đoàn kỵ binh của chúng con phải đi qua những vũng máu bẩn của quân Hồi Giáo Saracenes ngập cao đến đầu gối của những con ngựa”. (“Deceptions and Myths of the Bible”, by Lloyd Graham, trang 462). Kết quả lớn nhất của cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân thập tự là sự h́nh thành một vương quốc trực thuộc Vatican. Vương quốc này trải dài khoảng 800 miles dọc theo bờ biển Địa Trung Hải mang tên “Vương Quốc La Tinh Jerusalem” (Latin Kingdom of Jerusalem) bao gồm: Hai tỉnh Antioch và Edessa ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, nước Syria, nước Liban, xứ Judea và xứ Gallilee, trong đó có thành phố thánh địa Jerusalem.

 

“Ṭa Thánh Vatican” trực tiếp cai trị bằng cách phong vương cho người đứng đầu vương quốc này. Nhưng thay v́ gọi là “vua” của vương quốc, toà thánh gọi là “Người bảo vệ Mộ Chúa” (Protector of the Holy Sepulchere). Vương quốc La Tinh Jerusalem tồn tại được 88 năm (từ 1099 đến 1187) qua 7 đời vua do Vatican chọn lựa và tấn phong. Trong 88 năm cai trị vương quốc Jerusalem, quân Thập Tự đă tàn sát rất nhiều người Hồi Giáo và Do Thái Giáo, bất kể họ là người già, phụ nữ hay trẻ em (hiện nay chúng ta cũng c̣n được nghe những luận điệu theo kiểu tuyền truyền của Vatican là: “Người Do Thái đă giết Chúa Jesus”). Quân Thập Tự cũng xây cất rất nhiều pháo đài và lâu đài pḥng thủ kiên cố để bảo vệ vương quốc, đến nay vẫn c̣n những di tích lịch sử để lại tại các nước Trung Đông dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Hai (1147-1149)

Nguyên nhân dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ hai (The Second Crusade) là do biến cố quân Hồi Giáo thuộc giáo phái Sunni từ các nước Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ tấn công tái chiếm tỉnh Edessa thuộc Vương quốc La Tinh Jerusalem. Để thực hiện quyết tâm phục thù, Vatican ra lệnh cho vua Pháp là Louis VII và vua Ư là Conrad III phối hợp với nhau tổ chức cuộc Thập Tự Chinh thứ hai. Năm 1147, liên quân Pháp-Ư trong đoàn quân Thập Tự lên đường đến Thổ Nhĩ Kỳ để chiếm lại Edessa nhưng đă gặp sức chống trả mănh liệt của quân Hồi Giáo, cuối cùng liên quân Pháp-Ư đă hoàn toàn bị đánh bại. Họ phải rút tàn quân chạy về phía Nam thuộc lănh thổ Liban và Syria. Nhưng măi đến hai năm sau vào năm 1149, toàn bộ đám tàn quân này đă bị quân Hồi tiêu diệt tại Damacus (thủ đô Syria ngày nay).

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Ba (1190-1192)

Đối với Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo th́ Jerusalem là thánh địa duy nhất của họ. Đối với người Hồi Giáo th́ thánh địa quan trọng nhất là Mecca (thủ đô của nước Ả Rập Saudi). Thánh địa thứ hai là Medina, một thành phố cách thủ đô Mecca 250 dặm về phía bắc và Jerusalem là thánh địa thứ ba của Hồi Giáo. V́ tương truyền rằng Muhammad đă lên trời từ thành phố này. Quân Thập Tự của Vatican chiếm Jerusalem vào năm 1096 là một kỷ niệm ô nhục và đau đớn cho thế giới Hồi Giáo. Người Hồi Giáo đă phải nuốt hận chịu đựng trong gần một thế kỷ mới có cơ hội phục thù. Cái nhân của cơ hội phục thù là sự xuất hiện của một nhân vật lừng danh thế giới Hồi Giáo, đó là vị tướng Saladin (1137-1193) gốc người Kurd theo giáo phái Sunni. Ông được dân Ai Cập và Syria tôn lên làm vua (Sultan). Nhân vật Saladin trở nên một nhân vật huyền thoại trong nhiều tác phẩm văn chương của các nước Âu Châu thời đó. Quả thật, Saladin đă thu phục được nhân tâm của nhiều dân tộc theo đạo Hồi. Dưới sự lănh đạo của ông, quân Hồi đă tái chiếm Jerusalem và nhiều phần đất khác của vương quốc La Tinh vào năm 1187. Toàn thế giới Hồi Giáo Ả Rập vui mừng v́ thánh địa thứ ba đă được tái chiếm và danh dự của Hồi Giáo đă được phục hồi.

 

Nỗi vui mừng chiến thắng của Hồi Giáo càng lớn bao nhiêu, th́ nỗi đau của Vatcian và Giáo Hội Công Giáo càng thấm thía và ê chề bấy nhiêu. Do rút tỉa của những kinh nghiệm thất bại trước đây, lần này Vatican chuẩn bị chu đáo hơn với sự hội ư của ba ông vua đầy quyền lực tại Âu Châu là vua Pháp, vua Đức và đặc biệt là vua Anh Richard I – người được mệnh danh là “Richard Trái tim Sư tử” (Richard The Lion-Hearted). Cũng xin nói thêm đây là Giáo Hội Công Giáo Anh tách rời khỏi giáo quyền Vatican do vua Henri VIII chủ xướng vào năm 1534. Trước đó, các vua Anh đều thần phục giáo quyền Vatican như hầu hết các vua khác ở Âu châu.

 

Cuộc Thập Tự Chinh thứ ba có tới 3 hoàng đế Âu châu điều khiển nên các sử gia thường gọi cuộc Thập Tự Chinh này là “Cuộc Thập tự chinh của các vua” (The Crusade of the Kings). Vua Anh đích thân điều khiển cuộc viễn chinh từ 1190 cho đến khi chiến dịch kết thúc vào năm 1191. Trong hai năm chinh chiến, đoàn quân chữ Thập tái chiếm hầu hết lănh thổ của Vương quốc La Tinh Jerusalem. Nhưng thành phố quan trọng nhất là thánh địa Jerusalem th́ lại không chiếm được. Quân Hồi Giáo chận đứng đoàn quân chữ thập của Richard I tại thành phố Acre ở phía bắc Jerusalem. Trong thời gian trú đóng tại Acre (1191-1192) vua Anh Richard “The Lion-Hearted” đă ra lệnh chém đầu tập thể trên 3000 người Hồi Giáo Ả Rập. Vụ giết người một cách tập thể này đă đi vào lịch sử Hồi Giáo như một bằng chứng về tội ác diệt chủng của Giáo Hội Công Giáo La Mă (The Cross and the Crescent, by Malcom Billing, trang 116). Hiện nay, tại thư viện Quốc Gia của Pháp có lưu trữ một bức họa thời Trung Cổ vẽ cảnh vua Richard I ngồi trên khán đài tươi cười chứng kiến đoàn quân Thập Tự chém đầu tập thể những người Hồi Giáo.

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư (1201-1204)

Giáo Hội Công Giáo La Mă rất thù ghét Giáo Hội Chính Thống Giáo (The Eastern Orthodox Church) là một giáo hội Thiên Chúa Giáo tách rời khỏi giáo quyền Vatican vào giữa thế kỷ 11. Trong thời gian quân Thập Tự chiếm đóng Jerusalem, các tín đồ đạo Chính Thống Giáo ở Âu châu bị cấm không được hành hương đến thánh địa. Các giáo dân và tu sĩ đạo Chính Thống Giáo tại Jerusalem đều bị ngược đăi tàn tệ. Đó chính là những lư do khiến cho hoàng đế Byzantine và Giáo Hội Chính Thống Giáo không thể ngồi yên trước sự lộng hành của Vatican. Để tránh bị lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch”, hoàng đế Byzantine và Giáo Hội Chính Thống Giáo thương thuyết với vua Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả hai bên đạt tới việc kư kết ḥa ước cam kết không gây chiến tranh xâm chiếm lẫn nhau, để họ rảnh tay đối phó với Vatican.

 

Ḥa ước Byzantine - Thổ Nhĩ Kỳ làm cho mối bất ḥa giữa Vatican và Chính Thống Giáo ngày càng trở nên sâu sắc. Bọn quá khích cầm đầu ở Âu Châu lúc đó là các hiệp sĩ (Knights) trong những nước Công Giáo cuồng tín đă lập những kiến nghị yêu cầu ṭa thánh Vatican phát động cuộc Thập Tự Chinh thứ tư để tiêu diệt đế quốc Byzantine và Chính Thống Giáo. Cuộc “thánh chiến” lần này được Vatican uỷ nhiệm cho các thủ lănh hiệp sĩ Ư và Đức thực hiện. Trên danh nghĩa, cuộc Thập Tự Chinh thứ tư nhằm trừng phạt Byzantine và Chính Thống Giáo, nhưng mục tiêu chính là để tiêu diệt một đồng minh tương lai của Hồi Giáo. Cuộc chiến kéo dài trong 3 năm từ 1201 đến 1204, đoàn quân Thập Tự chiếm trọn lănh thổ đế quốc Byzantine. Vatican đặt tên cho lănh thổ này là “Đế quốc La Tinh Constantinople”. Vatican chia đế quốc này thành nhiều thái ấp (feuds) và phong chức lănh chúa cho các hiệp sĩ (Knights) có công để cai trị các thái ấp đó. Vatican đă biến toàn đế quốc Byzantine xưa thành một xă hội phong kiến. Các lănh chúa có toàn quyền hành xử như: Bắt và bán hay trao đổi nô lệ, có quyền thu thuế của dân và một phần lớn được trích ra để nộp về cho Vatican. Nhưng “Đế quốc La Tinh Constantinople” chỉ tồn tại được 57 năm, tính từ năm 1204 cho đến năm 1261 th́ chấm dứt.

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Năm (1217-1221)

Cuộc Thập Tự Chinh thứ năm không có một nguyên nhân chính trị hay tôn giáo nào mà hoàn toàn do sự bốc đồng của vua Andrew nước Hungary. Nước Hungary chỉ là một nước nhỏ nằm ở giữa Châu Âu. Vua Andrew là người cuồng tín và có quá nhiều ảo vọng quyền lực. Ông ta đă không lượng trước sức của ḿnh, tự ư thành lập một đạo quân Thập Tự rồi kéo quân đến tấn công một nước xa xôi là Ai Cập. Nhưng ông ta may mắn đă thành công trong việc chiếm thành phố Dannietta của Ai Cập. Người Ai Cập nhân danh Hồi Giáo thương thuyết với Andrew là: “Nếu vua Andrew chịu trả lại thành phố Dannietta cho Ai Cập th́ Hồi Giáo sẽ trả lại Jerusalem cho Giáo Hội Công Giáo Vatican. Vua Andrew đă kiêu hănh bác bỏ đề nghị này và kéo quân tiến đánh thủ đô Cairo của Ai Cập. Điều này đă làm cho quân Hồi Giáo Ai Cập hết sức phẩn nộ đă mănh liệt phản công. Cuối cùng quân Hồi Giáo tiêu diệt hoàn toàn quân Thập Tự và vua Andrew cũng bị giết thảm vào năm 1221.

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Sáu (1228-1229)

Cuộc Thập Tự Chinh lần này do Vatican giao cho vua Đức là Frederic II thực hiện để trả thù cho vua Andrew. Vatican đă cấp cho vua Frederic một ngân khoản rất lớn để vơ trang thật hùng hậu cho đoàn quân Thập Tự. Tuy nhiên, vua Frederic là một con người bất tài và kém cơi, ông đă phạm phải nhiều lỗi lầm nghiêm trọng về chiến thuật, nên toàn bộ đoàn quân Thập Tự mới đặt chân lên vùng đất Ai Cập đă bị quân Hồi Giáo Ai Cập tiêu diệt. Riêng bản thân vua Frederic II bị quân Hồi Giáo Ai Cập bắt sống. Vatican đă phải điều đ́nh và trả một số tiền rất lớn để chuộc mạng cho Frederic, y được quân Hồi Giáo phóng thích cho về nước an toàn.

 

 

* - Cuộc Thập Tự Chinh Cuối Cùng (1248-1254)

Lư do dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ 7 là vụ quân Hồi Giáo định chiếm lại thánh địa Jerusalem vào năm 1244. Vatican trao nhiệm vụ tổ chức cuộc “thánh chiến” cho vua Pháp Louis IX. Nhà vua tuân lệnh và nhận tiền của Vatican chuẩn bị tổ chức cuộc viễn chinh Thập Tự lần thứ 7 trong ṿng 4 năm. Nhưng vua Louis IX của Pháp cũng là một người bất tài ngang ngửa với vua Frederic II của Đức, vào năm 1248, vua Louis IX đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh, kéo quân qua các nước Syria, Liban, Palestine... đi tới đâu đều bị quân Hồi Giáo phục kích tấn công đến đó. Cuộc chiến kéo dài không phân thắng bại, khiến quân Thập tự vô cùng chán nản. Sáu năm sau, đoàn quân Thập Tự vẫn không tới được Jerusalem. Nhưng đến năm 1254, quân Hồi tổng phản công khắp nơi khiến cho đoàn quân Thập Tự của Louis IX phải tan ră và bỏ chạy, những kẻ sống sót t́m đường trở lại Âu Châu.

Đến năm 1291, quân Hồi Giáo chiếm lại tất cả những phần đất đă mất về tay đoàn quân Thập Tự trước đây, chấm dứt hoàn toàn Vương quốc La Tinh Jerusalem sau 195 năm tồn tại. Cũng xin nói thêm ở đây là trong lịch sử các cuộc “thánh chiến” của đoàn quân Thập Tự có hai vua Pháp tên Louis tham dự. Vua Louis VII bị thất bại nhục nhă trong cuộc Thập Tự Chinh lần thứ hai (1147-1149) và vua Louis IX bị thất bại trong cuộc Thập Tự Chinh cuối cùng (1248-1254). Tuy nhiên, Louis IX là con cưng của vatican nên ông vua kém tài này đă được Vatican Phong Thánh. V́ thế, người Pháp không c̣n gọi là vua Louis IX nữa mà gọi là Saint Louis (thánh Louis). Tên của ông “thánh” đă được dùng để đặt tên cho một thành phố lớn tại Hoa Kỳ là St Louis city, bang Missouri v́ thành phố này có nhiều người Mỹ gốc Pháp.

Ngày nay khi đọc lại các cuộc “thánh chiến” của các đoàn quân Thập Tự thời Trung Cổ, chúng ta sẽ gặp nhiều tài liệu lịch sử đưa ra những con số khác nhau về những cuộc chiến tranh của quân Thập Tự. Có tài liệu nói là 6 trận, có tài liệu nói 7, 8 hoặc nhiều hơn. Lư do chính yếu làm cho các sử gia bối rối không thể nêu lên con số chính xác về cuộc chiến của Thập Tự quân kéo dài gần 2 thế kỷ (195 năm). Trong thời gian dài dằng dặc đó đă xảy ra nhiều cuộc chuyển quân của Thập Tự quân giả dạng làm những đoàn người đi hành hương hoặc đoàn người đi buôn bán... Nhưng sau đó vẫn có thể thực hiện được những cuộc tấn công vào quân Hồi Giáo. Một điều phức tạp hơn nữa là sau thế kỷ II, nhiều giáo hội Công Giáo Âu Châu tách rời khỏi giáo quyền Vatican như Chính Thống Giáo, Anh giáo và Tin Lành.  Th́ Vatican cũng tổ chức những đoàn quân cũng mang danh là quân Thập Tự đi tàn sát những kẻ ly khai đó. Trường hợp rơ nét nhất là cuộc Thập Tự Chinh lần thứ tư (1201-1204) Vatican đánh chiếm hoàn toàn lănh thổ đế quốc Byzantine của Chính Thống Giáo, vậy có nên coi cuộc Thập Tự Chinh này là một trong những cuộc Thập Tự Chinh chống Hồi Giáo hay không ? Nhiều sử gia trả lời là có v́ mục tiêu chính của Vatican là triệt hạ một đồng minh mới của Hồi Giáo. Nhưng riêng phía Hồi Giáo cũng chia ra làm hai giáo phái Sunni và Shiite đánh nhau trong 13 thế kỷ dài. Các tín đồ Hồi Giáo được gọi chung là Sunni, có nghĩa là “đa số”, nhưng vua Ali Talib (656-662, v́ không thần phục các giáo sĩ của Sunni nên Ali đă lập ra một giáo phái mới là giáo phái Shiite. Sau này vào năm 680, vua Yazid (con của Muawiyah) đến Medina chận bắt con trai của Ali Talib là Husayn và giết nhiều người thuộc giáo phái Shiite. Năm sau, Yazid mang quân trở lại Medina (nơi ở cuối cùng của Muhammad) tàn phá và d́m thành phố thánh địa này trong biển máu. Để trả thù, giáo phái Shiite mang quân chiếm thánh địa Mecca và tàn phá nặng nề thành phố này. Từ đó đến nay, trải qua trên 13 thế kỷ, hai giáo phái Sunni và Shiite thường xuyên xung đột nhau nhiều trận đẫm máu. Số người tử trận cả hai bên có thể lên tới nhiều chục triệu người. Đây là một thảm họa lớn nhất trong lịch sử của con người nói chung và thế giới Hồi Giáo nói riêng. Đến nay các cuộc đánh bom tự sát ở Iraq có thể nói đều là sự xung đột của hai giáo phái Sunni và Shiite để tranh dành quyền lực.

 

Các cuộc chiến tranh của quân Thập Tự tại Trung Đông trong thời Trung Cổ và có thể nói rằng c̣n kéo dài đến ngày nay đă làm cho tệ nạn buôn bán nộ lệ và t́nh dục trở thành một kỹ nghệ phát đạt. Ngày xưa các phe Hồi Giáo cũng như quân Thập Tự khi giao chiến đều chú tâm bắt sống tù binh và bắt các thường dân ở các vùng chiếm đóng để đem bán tại các chợ ở khắp miền Trung Đông. Các  thiếu phụ, thiếu nữ đẹp luôn luôn là món hàng đắt giá nhất được các nhà giàu hoặc các quan quyền của cả hai phía mua về làm t́ thiếp hay nô lệ t́nh dục. Trước đây vài năm (từ năm 2000 trở về trước) các bộ lạc nhỏ cũng thường đánh nhau và bắt các thiếu nữ trẻ trong vùng họ chiếm đóng, để trao đổi hay bán lại cho các bộ lạc khác để làm nô lệ t́nh dục, nhiều nhất là chế độ Taliban  Afghanistan khi chưa xụp đổ.

 

Trong suốt 195 năm “thánh chiến” giữa những người Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo là một giá máu quá đắt mà con người phải trả cho tham vọng của những kẻ điên cuồng, họ lợi dụng tôn giáo để bành trướng quyền lực và mưu đồ thống trị thế giới bằng thần quyền. Chỉ tính riêng năm 1095, Giáo hoàng Urban II đi khắp các nước Công Giáo Âu Châu kích động quần chúng tín đồ Công Giáo đầu quân tham gia đoàn quân Thập Tự hoặc đóng góp tiền bạc để tài trợ cho “cuộc chiến thần thánh” nhằm bảo vệ ngôi mộ của Chúa. Nhưng “ngôi mộ của Chúa” chỉ là chuyện hăo huyền v́ nó chẳng bao giờ có. Nếu Chúa đă sống lại và lên trời th́ làm ǵ có mộ của Chúa? C̣n nếu Chúa đă bị quân La Mă đóng đinh trên thập tự giá th́ theo luật của La Mă là mọi tử tội đă bị hành quyết bằng cách treo trên thập tự giá phải bị vứt xác ra băi hoang cho kên kên và chó hoang ăn thịt. Trong lịch sử có ghi các h́nh luật của La Mă tuyệt đối không có chuyện xác tử tội được trao cho người nhà đem về chôn cất tử tế ở trong mồ. Chúa Jesus bị quân La Mă xếp vào loại tử tội nguy hiểm chẳng lẽ lại được La Mă dành cho một đặc ân ngoại lệ duy nhất là trao xác Jesus cho người nhà đem về chôn trong mồ hay sao? Chuyện ngôi mộ của Chúa Jesus là một chuyện hăo huyền của bọn giáo sĩ Vatican bịp bợm. Nhưng cũng v́ câu chuyện hăo huyền ấy đă làm đổ máu của hơn ba triệu người, trong số đó có ít nhất là 60 ngàn trẻ em.

 

V́ vậy sử gia Lloyd M. Graham đă viết về vấn đề này như sau: “Chúng ta hăy quan tâm đến những cuộc chiến tranh của thập tự quân, đó là những cuộc chiến tranh khủng khiếp nhằm bảo vệ “ngôi mộ thánh của Chúa” mà nó chẳng bao giờ có thật, thế mà hơn ba triệu người đă bị giết một cách vô ích, oan uổng trong số đó có sáu mươi ngàn trẻ em” (“Deceptions and Myths of the Bible”). Ba triệu sinh linh là giá máu quá đắt mà nhân loại đă phải trả cho một chuyện hoang đường của tà đạo thần quyền Công Giáo La Mă. Ba triệu người đă tức tưởi chui xuống những nấm mồ có thật chỉ v́ một nấm mồ không có thật của một người được mệnh danh là Chúa Cứu Thế !. Ngày nay chúng ta nghĩ ǵ về những chuyện hoang đường như đă nói ở trên, hay là chúng ta c̣n u tối nghe theo những tên đại bịp được mang danh là: “Những người đi rao giảng t́nh thương của Chúa”.

 

Thái Sơn