Các Cuộc “Thánh Chiến”
Đẫm Máu Trong Lịch Sử
Thái Sơn
Từ cổ chí kim
cho đến nay khi nói đến Tôn Giáo, mọi người
ai ai cũng đều nghĩ đến sự yêu
thương công b́nh và bác ái. Tôn giáo là một thứ t́nh yêu
cao cả nào đó mà các “đấng tối cao” đă
đem đến hay sẽ đem đến cho con người
sống nơi cơi trần gian “đầy đau khổ”
này, nhất là những con người chân thật và cùng khổ
như chúng ta. Thế nhưng khi đọc lại
lịch sử của các tôn giáo, chúng ta đều nh́n thấy
những sự thù hận, tham lam, bất công, ganh tị
được bí ẩn giấu đằng sau những chiếc
áo “đạo đức, t́nh thương, công b́nh, bác ái”.
Họ nhân danh tôn giáo như một thứ quyền năng
nào đó, để mưu đồ một cái ǵ đó cho
bản thân, cho phe nhóm của họ hay cho riêng chủng tộc
của họ. Trong hơn 2000 năm qua những nhóm Thần
Quyền nhân danh Tôn Giáo đă khống chế tư tưởng
của con người và họ đă gây ra biết bao nhiêu
tội ác, tai họa, đau thương
đầy máu và nước mắt cho con người trong
suốt chiều dài lịch sử từ Đông sang Tây, từ
Âu sang Á.
Đến nay
thiết nghĩ con người của thời đại
ngày hôm nay nên tỉnh ngộ vứt bỏ những cái xấu
xa tham lam hư hèn của thời quá khứ, mạnh dạn
đứng dậy đi về tương lai v́ chúng ta nên
hiểu rằng chỉ có chúng ta mới cứu được
chúng ta ra khỏi những vũng lầy man rợ của
quá khứ, chỉ có chúng ta mới thương yêu chúng,
không một “Đấng” nào thương yêu chúng ta nếu
chúng ta không đùm bọc chia sẻ và yêu thương lẫn
nhau, trong cuộc đời đầy đau khổ tham
lam thù ghét và ti tiện này. Để biết các “Tôn Giáo”
đă và đang làm ǵ cho con người xưa cũng
như nay. Thái Sơn xin mời quí bạn đọc cùng
chúng tôi trở về lại với lịch sử Thiên Chúa
Giáo và Hồi Giáo với những tranh chấp đẫm
máu của thời Trung Cổ các đây trên dưới 1000
năm (bài nghiên cứu dưới đây không kể những
cuộc “Thánh Chiến” đẫm máu bên Âu Châu và những cuộc
“Thánh chiến” để dành quyền lực của các nhóm
Hồi Giáo). Chúng tôi chỉ nêu lên những cuộc “Thánh Chiến”
có tính cách man rợ diệt chủng của hai giáo phái lớn
nhất địa cầu ngày nay là Thiên Chúa Giáo và Hồi
Giáo để đọc giả tự ḿnh suy tư và tự
t́m hiểu lại lịch sử của các “Tôn giáo” một
cách thận trọng hơn, v́ mỗi con người trong
chúng ta đều có trí khôn và sự tự do tuyệt đối
về cách suy nghĩ của ḿnh.
1) - Quân Đội Thập
Tự Chinh
Trong ngôn ngữ của
tiếng La-tinh chữ Crux có nghĩa
là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, đây là biểu tượng
của đạo Thiên Chúa Giáo. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ Crusade,
có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công giáo
từ Âu Châu kéo qua Trung Đông và các nước lân cận
để xâm lăng, tấn công những
người Hồi giáo trong thời Trung cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn
chinh Công giáo này đều mang huy hiệu chữ thập ở
phía trước ngực và phía sau lưng nên được
gọi là đoàn “Quân Thập Tự” (Crusaders). Chỉ
riêng hai thế kỷ 11 và 13 (tính từ năm 1096 đến
năm 1291) những đoàn quân Thập tự này đă gieo
rắc không biết bao nhiêu máu lửa, kinh hoàng tang tóc cho những
người Hồi giáo Ả-rập. H́nh ảnh tàn bạo
mang rợ của đoàn Quân Thập Tự Công giáo Âu Châu
đă in sâu vào tim óc của thế giới
Hồi giáo nói chung và của những người Hồi
giáo Ả-rập nói riêng. Đến nỗi
ngày nay, người Hồi giáo đă đồng hóa Công giáo
Âu Châu với chủ nghĩa thực dân đế quốc.
Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền
của Âu Châu họ thường tố cáo hành vi đó là “Tân chiến tranh Thập tự”
(New-Crusade).
Người xưa thường
nói: Đọc lịch sử để định hướng
tương lai, vậy chúng ta hăy coi lại lịch sử của
hai thế kỷ chiến tranh đẩm máu do những
đoàn quân chữ thập do Công giáo La Mă phát động
đánh nhau với những người Hồi giáo ở
Trung Đông trong hai thế kỷ 11 và 13. Những bài học
lịch sử dưới đây sẽ soi sáng cho chúng ta
nh́n được nhiều vấn đề thời cuộc
hôm nay và cũng để hiểu thêm về thực chất
của những tôn giáo thường hay tự xưng là
đạo của sự “Công bằng Bác ái” hay “Yêu
thương Huynh đệ”!. Để t́m hiểu thêm về
bài viết có tính cách lịch sử về các tôn giáo, xin mời
bạn đọc cùng chúng tôi t́m hiểu nguyên nhân nào đă
gây ra các cuộc đánh nhau đẫm máu được
khoát dưới các lớp áo tôn giáo mà họ coi là các vỏ
bọc an toàn nhất để nới rộng uy quyền
của những kẻ tham lam, tham vọng muốn biến
họ thành những con người thượng đẳng,
nên họ có những ảo tưởng tự cho họ là
những người đă nhân danh các Đấng Tiên Tri, họ
tự coi họ là những ông “Thánh” sống luôn đem t́nh
thương của các “đấng” thiêng liêng nào đó rao
giảng cho mọi người, nhưng những tài liệu
được nêu ra dưới đây sẽ chứng minh
họ là những con người như thế nào, các “ông
thánh, bà thánh” có thật sự là những Đấng như
họ thường rêu rao hay họ cũng chỉ là những
con người tầm thường mang trong người
đầy đủ những thói hư tật xấu của
hỷ, nộ, ái, ố, của tham lam, ti tiện, dục vọng
điên cuồng. Các ông, bà “Thánh” cũng chỉ là những
ngụy từ được khéo léo che đậy trong nhiều
ngàn năm qua, để họ đễ dàng thực hiện
những mưu đồ dơ bẩn của họ. Ngày
nay lịch sử đă được phơi bày ra ánh sáng,
khi hiểu được sự thật th́ trong mỗi con
người của chúng ta tự suy tư và suy nghĩ lấy,
để tự t́m ra một hướng đi đúng cho
ḿnh bây giờ và con cháu chúng ta sau này.
2) - Những Đế Quốc Hồi Giáo
Trong Lịch Sử
A) - Đế Quốc (Hồi
Giáo) Mông Cổ:
Người sáng lập đế
quốc Mông Cổ là “Thiết
Mộc Chân Thành Cát Tư Hăn” (Genghis Khan 1162-1227). Thành Các Tư Hăn là người có công thống nhất
các bộ lạc du mục Mông Cổ và đă dạy cho họ
cưỡi ngựa, bắn cung. Sau đó ông huấn
luyện và tổ chức họ thành đội ngũ và biến
họ thành những đoàn kỵ binh hung tợn và tàn bạo
có một không hai trong lịch sử loài người và với
đoàn quân hung tợn này Thành Cát Tư Hăn đă lần
lượt đánh chiếm nhiều nước từ Á
sang Âu tới tận Trung Đông và Phi Châu. Luật tác chiến
rất nổi tiếng của Thành Cát Tư Hăn là: “Khi đến nơi nào ngoan ngoăn
đầu hàng th́ được tha, ngược lại bất
cứ một thành phố hay làng mạc nào chống cự
đều bị đốt phá thành b́nh địa và tất
cả mọi người dân không kể già trẻ lớn
bé đều phải bị tàn sát hết!”.
- Năm 1219, quân Mông Cổ của Thành Cát
Tư Hăn đánh chiếm Tân Cương và Thổ-nhĩ-kỳ.
Vua Thổ cùng đoàn tuỳ tùng bỏ chạy
bị quân Mông Cổ truy kích qua
- Năm 1214 Hốt Tất Liệt (tức
là Nguyên Thế Tổ đổi quốc hiệu Mông Cổ
là nhà Nguyên từ đó) đem quân thôn tính nhà Nam Tống, chỉ
sau một trân thủy chiến quân Tống Đại bại
vua Tống phi nhảy xuống biển tự vận, từ
đó nhà Tống mất vào tay nhà Nguyên.
- Năm 1222 riêng tại thủ đô Pest của
Hung Gia Lợi ngày nay (người nắm quyền lúc đó
là vua Bela IV) sau khi thủ đô Pest bị thất thủ 50
vạn (500 ngàn) quân Hung đă bị quân Mông Cổ tàn sát
không sống sót một người, từ thành thị
đến thôn quê nước Hung đă ch́m trong biển máu
và lửa.
Mùa Thu năm 1226, Mông Cổ khởi sự
đánh nước Tây Hạ (Tây Hạ hiện nay không c̣n nửa)
v́ Tây Hạ không chịu giúp binh cho Mông Cổ trong cuộc
Tây chinh. Dân quân Tây Hạ chiến đấu
vô cùng oanh liệt. Mặc dù lúc đó Thành Cát Tư Hăn
đang mang bệnh nhưng ông ta vẫn đứng ra chỉ
huy cuộc chiến đấu vây hăm Tây Hạ, sau đó Thành
Cát Tư Hăn mang trọng bệnh và chết ngày 18 tháng 8
năm 1227. Vài ngày sau quân dân Tây Hạ đầu hàng, kết
quả là dân Tây Hạ bị quân Mông Cổ tàn sát hết
không chừa một người nào. Từ
đó nước Tây Hạ bị xóa tên trên bản đồ
cho đến nay. Thành Cát Tư Hăn mất người
con thứ lên thay tức là Nguyên Thái Tông, sau Nguyên Thái Tông là
Nguyên Định Tông. Nguyên Định Tông ở ngôi
được 3 năm th́ chết người em con nhà chú
lên thay tức là Nguyên Hiến Tông, sau Nguyên Hiến Tông là
Nguyên Thế Tổ và Nguyên Thế Tổ là người chính
thức đổi quốc hiệu nhà Nguyên từ đó.
- Năm 1237 tháng mười cho đến
năm 1238 quân Mông Cổ đă tàn phá nước Nga biến
nước Nga vào cảnh núi xương sông máu, chỉ
trong ṿng một năm quân Mông Cổ đă chiếm bốn
phần năm lănh thổ nước Nga
- Năm 1231, hàng loạt các thành phố nổi
tiếng của Hồi giáo như
- Năm 1255, Mông Cổ hoàn thành một
đế quốc rộng lớn bao la gồm Trung Hoa, Cao
Ly, Ngoại Mông cùng hàng chục nước Trung Á và Bắc Ấn
Độ, Syria, Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ.
Năm 1258 Mông Cổ (tức Nguyên Thế
Tổ) sai sứ sang Việt Nam bắt vua nhà Trần thần
phục, vua Trần Thái Tông không những không chịu điều
yêu sách của Mông Cổ mà c̣n bắt giam sứ giả Mông Cổ lại
(nên nhớ đây là một điều thời đó trên thế
giới không một quốc gia nào dám làm đối với
đế quốc Mông Cổ). Từ đó đến
năm 1288 trong 30 năm nước Việt Nam đă bị
quân Nguyên thôn tính 3 lần, nhưng lần nào nhà Nguyên cũng
đều chuốc lấy thảm bại rất nhục
nhă. Nh́n lại lịch sử của đế quốc Mông
Cổ khởi nghiệp từ Thành Cát Tư Hăn vào năm
1162 cho đến năm 1830 quân đội Mông Cổ chỉ
biết chiến thắng, cho nên từ cổ chí kim người
ta thường nói quân Mông Cổ là một quân đội
bách chiến bách thắng tung hoành từ Đông sang Tây
hơn 700 năm chưa bao giờ chiến bại. Nhưng lạ thay 3 lần chạn trán với dân
quân Đại Việt th́ cả 3 lần họ đều
thảm bại một cách nhục nhă.
- Năm 1295, hoàng đế Mông Cổ Ghazan
Khan theo đạo Hồi thuộc giáo
phái Sunni. Từ đó về sau, các hoàng đế Mông Cổ
đều theo đạo Hồi. Càng về sau, các quan và cả triều đ́nh
đế quốc Mông Cổ đều trở thành những
tín đồ Hồi giáo. Các học sĩ Hồi giáo Ả-rập
(Ulama) được trọng dụng, nhất là trong việc
soạn thảo các bộ luật h́nh sự và dân sự phỏng
theo luật Hồi giáo Sharia.
- Năm 1387, Hoàng đế Mông Cổ Timur
Lenk đóng đô tại Thổ Nhĩ Kỳ xua quân đánh
chiếm Iran, năm 1395 chiếm hải cảng Golden Horde của
Nga, năm 1398 chiến Ấn Độ, tàn phá thủ
đô new Delhi và giết hàng chục ngàn tù binh của giáo
phái Hindu tại đây.
- Năm 1400, Timur chiếm hai nước
- Năm 1478, đế quốc Mông Cổ
chiếm
- Năm 1520 đến 1837, đế quốc
Mông cổ (Hồi Giáo) cai trị toàn Ấn Độ, Ấn
Độ lúc đó được mang tên là: “Mughul Empire of
India”. (Mughul có nghĩa là Mông Cổ) Hoàng đế
Mông Cổ đóng đô tại new Dehli.
- Năm 1643, hoàng đế Mông Cổ cho
xây ngôi mộ ở ngoại ô New Dehli rất nổi tiếng,
đó là ngôi mộ Taj Mahal.
- Năm 1747, đế quốc Mông Cổ
chiếm
- Năm 1831, người Anh chiếm Ấn
Độ và chấm dứt đế quốc Mông Cổ
trên lục địa châu Á.
B) - Đế Quốc
Hồi Giáo Ottoman
-
Năm 1280, đế quốc Hồi Giáo Ottman (danh từ Ottoman xuất phát từ
tên của một bộ lạc du mục là Osman ở phía tây
Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) khởi binh, chỉ trong 9
năm sau họ chiếm một vùng lănh thổ rộng lớn
gồm có Tây nam Á châu, Đông nam Âu châu và Đông bắc Phi
châu. Họ gọi đế quốc của họ
là Ottoman. Những người lănh đạo
đế quốc Hồi Giáo này thuộc giáo phái Sunni.
- Năm 1389, đế quốc Hồi Giáo
Ottoman chiếm
- Năm 1444, đế quốc
Hồi Giáo Ottoman đánh tan Thập Tự quân của Thiên
Chúa Giáo La-mă tại
- Năm 1453, đế quốc Hồi giáo
Ottoman xóa sổ đế quốc La Mă phương Đông
và chiếm thủ đô của đế quốc này là
thành phố Constantinople. Nhưng sau khi chiếm Constantinole và
nhiều thành phố của Byzantine, đế quốc Hồi
Giáo Ottoman công bố chính sách khoan hồng đối với
Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Nhờ vậy, trong
nhiều thế kỷ sau, Ottoman đă mở rộng
thương mại với các nước Thiên Chúa Giáo Âu
châu mà không có một cuộc chiến tranh nào đáng kể.
Tuy nhiên, đối với giáo phái Hồi Giáo Shiite, Ottoman có
một chính sách quyết liệt không nhân nhượng, cho
nên vào năm 1467; Ottoman công bố thánh chiến với giáo
phái Shiite và hàng trăm ngàn tín đồ Shiite bị lùng bắt
và đem đi hành quyết.
- Năm 1520 đến 1534, đế quốc Hồi Giáo
Ottoman chiếm Nam Tư và một phần của Âu châu tới
thủ đô Vienne của Áo.
- Năm 1605, Ottoman chiếm Romania, Hungaria,
Ba-lan và Tiệp khắc, lúc này đế quốc Hồi
Giáo Ottoman được coi là một quốc gia Hồi
Giáo hùng mạnh vào bậc nhất vào thời đó.
Nhưng đến đầu thế kỷ 19, các cường
quốc Âu châu Anh, Pháp, Đức (sau này có cả Nga) bắt
đầu xâm chiếm các phần đất của đế
quốc Hồi Giáo Ottoman và dồn đế quốc này vào
chỗ suy tàn rồi bị xóa hẳn.
C) - Đế Quốc
Hồi Giáo Safavids
Safavids Hồi Giáo
là một nhánh của giáo phái Shiite xuất phát tại nước
Azerbaizan ở tây nam biển Caspian. Năm 1501, lănh tụ
của giáo phái Safavids (thuộc giáo phái Shiite) là Esmail khởi
binh chiếm luôn cả nước Azerbaizan. Esmail tự
xưng là “vua Hồi Giáo” (Sha/ Sultan) và ra lệnh cho toàn dân
phải theo đạo Hồi (giáo phái
Shiite). Ít lâu sau, Esmail xua quân đánh chiếm các nước
lân cận theo “Chính Thống Giáo” là
Như trên đă tŕnh bày: Từ
thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, trong thế giới
Hồi Giáo đă xuất hiện ba đế quốc riêng
biệt và luôn luôn chém giết lẫn nhau. Cả ba đế
quốc Hồi giáo đă được thành lập
nhưng cuối cùng rồi cũng đi vào suy tàn, nhưng
nó đă để lại phía sau biết bao nhiêu máu và nước
mắt của hàng bao nhiêu triệu con người vô tội,
cũng chỉ v́ sự tham lam hung ác và ngu dốt của
nhóm người tự cho ḿnh có nhiều quyền năng do
“Đấng” thiêng liêng nào đó ban cho. Nhưng có một
điều lạ lùng là: “Đă
7 thế kỷ trôi qua, đến nay con người (nhất
là những giáo sĩ Hồi Giáo) chưa tỉnh ngộ
để nh́n ra sự chân thật và cải tổ lại
hệ thống tôn giáo cho đúng nghĩa hai chữ Tôn Giáo
Đích Thực”. Họ chỉ biết
khơi dậy ḷng căm thù, nên khi nh́n lại lịch sử
bành trướng và phát triển của đạo Hồi
luôn luôn gắn liền với máu lửa và chết chóc, với
chiến tranh và bạo lực. V́ thế Hồi Giáo nổi
tiếng là “tôn giáo của máu lửa” hay “tôn giáo của
lưỡi kiếm” hoặc “tôn giáo của những kẻ
man rợ”. Kinh Koran của Hồi Giáo được các nhà
nghiên cứu tôn giáo gọi đó là: “Cuốn sách của tử
thần” (The Book of the death) và đức tin Hồi giáo là
“đức tin của hung bạo”.
Nên trong hơn một
thế kỷ qua, thế giới Hồi Giáo đă bị
Tây phương dồn vào thế suy kiệt về mọi
mặt (điều này cũng không có ǵ để làm cho
chúng ta khó hiểu), họ không c̣n con đường nào khác
hơn là thực hiện “chủ nghĩa khủng bố”. Về h́nh thức chiến
tranh th́ ngày nay có khác với ngày xưa, nhưng về thực
chất th́ khủng bố là một h́nh thức của chiến
tranh bạo lực không quy ước, nên các nhà nghiên cứ
họ gọi đây là loại “chiến tranh khủng bố”.
Chiến tranh khủng bố là h́nh thức phá
hoại của những kẻ đă cùng đường và
yếu kém về mặt trí tuê. Như vậy
về lâu về dài th́ các cuộc khủng bố lẻ tẻ
trên thế giới như hiện nay cũng đều bị
tiêu diệt cũng như các đế quốc Hồi Giáo
đă bị tiêu diệt trong quá khứ. Nhưng một
điều chúng ta cần nên biết là: “Thế giới ngày nay không giống như ngày
xưa, v́ ngày xưa có nhiều đế quốc ngày nay chỉ
duy nhất có một siêu cường”.
Quá khứ chúng ta
phải công nhận sức mạnh của Hồi Giáo
đă tạo nên nhiều biến cố quan trọng để
có thể kềm chân La Mă không thôn tính được toàn cầu
bằng sức mạnh gươm giáo và thần quyền.
Từ thế kỷ
thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 6, toàn vùng Bắc
Phi và Trung Đông thuộc về lănh thổ của các giáo
phái Thiên Chúa Giáo. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ
7, đạo Hồi xuất hiện với sự bành
trướng với tốc độ vũ băo chưa từng
thấy khiến cả thế giới phải ngạc
nhiên. Chỉ trong ṿng 10 năm sau khi Muhammad qua đời,
quân Hồi chiếm trọn bán đảo Ả-rập bao
la, chiếm các nước Iraq, Syria, Palestine, Ai-cập và
phía tây của nước Iran. Hai năm sau,
quân Hồi chiếm Bắc Phi,
- Thế kỷ 7, Hồi giáo Ả-rập tiêu diệt
đế quốc Sassasian đă từng làm mưa làm gió ở
Trung Đông trong 10 thế kỷ trước đó.
- Đầu thế kỷ thứ
8 (711-716) quân Hồi
dám đánh chiếm một nước Âu châu nổi tiếng
sùng đạo Thiên Chúa Giáo, đó là nước Tây Ban Nha.
Trong thời gian đó, kỵ binh Hồi giáo chiếm trọn
Ba Tư (Iran) và từ đây xuất quân chiếm trọn
các nước Trung Á ở phía Nam nước Nga, chiếm
trọn vùng Bắc Ấn Độ (tức Pakistan va
Afghanistan ngày nay) đánh qua biên giới Trung Hoa và đụng
trận với quân nhà Đường trên sông Talas vào
năm 751. Thiên Chúa Giáo bị mất rất
nhiều đất và đồng thời cũng mất rất
nhiều tín đồ. Tuy nhiên, trong thời gian đó
đế quốc La Mă và Thiên Chúa Giáo bị lâm vào t́nh trạng
chia rẽ và suy yếu nên không dám thực hiện một
hành vi trả đũa nào đáng kể.
- Thế kỷ 15, Hồi giáo Thổ-nhĩ-kỳ
tiêu diệt đế quốc Thiên Chúa Giáo Byzantine (hậu
thân của đế quốc La-mă) chân đứng sự
bành trướng của La Mă xuống bán đảo Ả-rập
và Trung Đông.
- Thế kỷ 18 trở đi, các nước Âu
châu bắt đầu phát triển hùng mạnh về kỹ
thuật họ đă đẩy lùi các đế quốc Hồi
giáo đến chỗ suy tàn.
Khởi đầu là nước
Nga đánh tan quân Ottoman ở vùng Biển Hắc Hải
năm 1774, chiếm lại
- Đầu thế kỷ 19, Nga chiếm toàn bộ miền
Trung Á gồm nhiều nước theo đạo Hồi thuộc
đế quốc Mông Cổ. Sau cuộc lật đổ
cướp chính quyền Sha (Nga) Hoàng do Lê Nin chủ xướng
vào tháng 10 năm 1917, các nước Hồi giáo Trung Á đă
biến thành các chư hầu của Cộng Sản Nga Sô.
Đến năm 1989 Cộng sản Nga sụp đổ
sau một thời gian kéo dài chiến tranh lạnh với
Hoa Kỳ, để rồi cuối cùng chế độ
tàn bạo Cộng sản cũng phải bị tiêu diệt,
các vùng đất mà Cộng sản Nga chiếm được
sau 70 năm gây nhiều máu lửa, cuối cùng rồi cũng
phải trả lại cho các nước Trung Á. Những dân
tộc nhỏ yếu nay có thể được vực dậy
sau một thời gian dài sống trong đen tối của
họa Hồi Giáo và Cộng sản).
- Đầu thế kỷ 19, Ḥa Lan chiếm
Indonenia và Mă-lai. Anh chiếm Ấn Độ bao gồm cả
một tiểu lục địa (sau 1947, Ấn Độ
bị chia thành nhiều nước:
- Cuối thế kỷ 19, Anh chiếm Ai Cập và
- Đầu thế kỷ 20, Ư chiếm Lybia, Anh và Pháp chiếm
Palestine, Jordan, Iraq, Syria và Liban.
Nói tóm lại, từ đầu
thế kỷ 20, chỉ ngoại trừ một nước
duy nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, c̣n lại toàn bộ thế
giới Hồi giáo đều trở thành những thuộc
địa của chủ nghĩa thực dân Âu châu. Như
vậy sự xuất hiện và phát triển lớn mạnh
của đạo Hồi đă tạo nên một cuộc
đọ sức ngang ngửa với Thiên Chúa Giáo La Mă và
chúng ta có thể nói rằng: “Hồi Giáo đă phá tan tham vọng
bá chủ thần quyền toàn cầu của đế quốc
thực dân La Mă
3)
- Muhammad ông là ai ?
Theo Giáo sư David Landes nhà nghiên cứu
sử học thế giới của đại học
Harvard nói rằng: “Chính
trị thần quyền (ám chỉ Hồi Giáo)
thường không phải là môi trường
tốt cho các phát minh nhằm phục vụ con
người”. Lập luận của ông
là ở những xã hội mà quan
điểm thống trị duy nhất chỉ có
“Đấng Tối Cao” mới quan trọng, thì
thường người ta chẳng mấy
tò mò về những gì ngoài
đấng tối cao của họ.
Mới đây
tổng thống Pakistan ông Pervez Musharraf (nên nhớ tổng
thống Musharraf cũng là người Hồi Giáo) phát biểu
rằng: “Cách đây ba năm tổng sản lượng
quốc nội của cộng đồng Hồi giáo
trên toàn thế giới chỉ bằng một
nửa tổng sản lượng quốc nội
của Đức, mặc dù cộng đồng
Hồi giáo chiếm tới 1/4 dân số thế
giới”. Ông Musharraf đã kêu gọi phải
có cuộc “jihad” nổi dậy trong thế giới Hồi
Giáo để “chống lại sự dốt nát,
nghèo đói, lạc hậu và thiếu thốn” mà
giới giáo sĩ Hồi Giáo đă tạo ra và ông nói
rằng: “Toàn bộ thế giới Hồi giáo
chỉ có 25 trường đại học có
chút ít tiếng tăm”.
Trung tuần tháng 8/2005 một
cựu Bộ trưởng chính phủ Anh ông
Lord Tebbit nói rằng: “Các quốc gia Hồi
Giáo chẳng bao giờ đưa ra
được những phát minh cho nền công
nghiệp trong vòng năm thế kỷ qua”. Ông
đă nói thêm rằng: “Hồi
giáo không hề có một cuộc cải cách nào
kể từ khi được sinh ra, đến
nỗi đến nay không có nơi nào trong thế
giới Hồi Giáo thực sự
đưa ra được những tiến bộ
về khoa học, nghệ thuật, văn chương hay
trong nghành công nghiệp trong vòng 500 năm qua”.
Nếu
đứng về mặt khách quan mà nhận xét th́
những gì ông Tebbitt nói hoàn toàn đúng. Chúng ta khó có thể
tìm thấy một phát minh đáng kể
nào giúp cải thiện đời sống
vật chất của thế giới mà lại
xuất phát từ một nước Hồi
Giáo. Các phát minh về cơ khí, điện tử, hàng
không, y khoa, hay sinh vật học ..v..v
…Nói chung là phát minh trong bất cứ lĩnh
vực nào mà chúng ta có thể nêu ra
đều xuất phát từ thế giới
phương Tây, các giải thưởng Nobel
về khoa học hay trong nhiều lănh vực khác,
thường do các nhà nghiên cứu
từ các trường đại học Hoa
Kỳ và phương Tây chiếm lănh. Nhưng
lạ thay thế giới phương Tây lại bị
thế giới Hồi Giáo coi khinh nhiều nhất.
Tuy nhiên một
vài điều quan trọng cần được nêu ra
đây: Trước hết, có vài trường
đại học rất tốt tại các
nước Hồi giáo, chẳng hạn tại
Alexandria ở Ai Cập hay tại Istanbul ở
Thổ Nhĩ Kỳ, họ cũng có một số
phát minh được đưa ra, nhưng
những phát minh tại đây so với tổng
số những phát minh khổng lồ mang tính
cải thiện cho đời sống của con người
từ Hoa Kỳ và Âu Châu, th́ mức độ phát minh của
giới sinh viên Hồi Giáo chỉ là những hạt cát
trong băi xa mạc. Các báo cáo phát triển con người
tại thế giới Arab của Liên Hiệp Quốc
thường nhấn mạnh một vấn đề
rằng: Các thư viện đại học tại
các nước Ả Rập Hồi Giáo thiếu các
nguồn tài lực, các phòng thí nghiệm
quá cũ kỹ, các lớp học quá
đông, các chương tŕnh học không thực tiễn
(đa số chỉ chuyên dạy về kinh Koran) các
học giả không được trả lương
thoả đáng. Đó là những
sản phẩm tạo ra sự nghèo khổ và chậm tiến.
Một
điều quan trọng nữa cần phải
được nêu ra là chuyện phân tích
một nền văn hoá xem nó có mở ra
những phát minh hay sáng tạo hay không, không
có nghĩa là lên án người dân của
nền văn hoá đó. Các trường
đại học thường thiếu sự
tự chủ, độc lập, và rất
nhiều trường học thường bị
kiểm soát trực tiếp bởi luật lệ
giáo điều của Hồi Giáo (quốc gia được
cai trị bởi những giáo sĩ Hồi Giáo cực
đoan và cuồng tín), nên sự chậm tiến về mọi
mặt là một điều đương nhiên phải xảy
ra.
Thuở
sinh thời Muhammad cũng như hàng triệu người Ả
Rập thời đó, ông cũng đam mê dục vọng
khao khát t́nh yêu như mọi người, ông cũng vui buồn
sầu khổ như mọi người, chứ chẳng
phải là một “Đấng Tiên Tri” tiên giác ǵ cả. Theo nhận xét của giới
nghiên cứu Lịch sử th́: Cuộc đời của
ông “Thánh Muhammad” đă được đánh bóng một cách
không có thật, dưới đây chúng ta hăy đọc qua
những trang sử được ghi lại về cuộc
đời của Muhammad như sau:
Trong Kinh Koran
Muhammad đ̣i hỏi những người đàn ông có nhiều
vợ phải dành cho mỗi người vợ một số
lượng thời gian bằng nhau và phải đối xử
công b́nh như nhau.
Trong thời gian này, Muhammad chỉ có 3 người vợ
là: Saudah (29 tuổi), Aisha (11 tuổi) và Hafsah (18 tuổi).
Để thực hiện điều ông vừa viết
trong kinh Koran, Muhammad lấy người vợ thứ
tư là Zaynab Kuzaymah, vợ góa của một chiến sĩ
mới tử trận trong tháng giêng năm 624 tại Badr. Vài tháng sau ông cưới thêm bà vợ thứ
năm là Salamah 29 tuổi, vợ góa của người em họ.
V́ Salamah rất xinh đẹp và khá thông minh, về
sau Salamah là một cố vấn đắc lực cho
Muhammad về nhiều phương diện.
Cũng nên nhắc lại rằng:
Cô Aisha chỉ mới 11 tuổi nhưng lại rất sinh
đẹp cô đă chung chăn với Muhammad khi cô mới
lên 9 tuổi lúc đó “tiên tri muhammad” (không viết hoa) lúc
đó đă 53 tuổi và cô Hafsah 16 tuổi đó là năm
625 (cha của Aisha là Abu Bakr và cha của Hafsah là Umar đều
gả con gái của ḿnh để kết thân với
Muhammad). Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi,
là tuổi bắt đầu dậy th́ thân thể Aisha bắt
đầu nở nang và đẹp hẳn ra. Nên
Muhammad yêu thích Aisha hơn tất cả các cô vợ khác, v́ vậy
nên đi đâu ông cũng mang theo Aisha bên
ḿnh. Kể ca những lúc Muhammad mang quân đi phục kích
để chận đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ
biển Hồng Hải, ông cũng dẫn Aisha đi theo. Thời đó Muhammad thường đem
quân phục kích bộ lạc Bani của Do Thái mục
đích là để cướp lạc đà, cừu và phụ
nữ v́ bộ lạc Bani giàu có và có nhiều phụ nữ.
Những lần bắt được các phụ nữ
sinh đẹp Muhammad thường tuyển chọn những
cô gái đẹp để lấy làm vợ, số c̣n lại
sẽ được thả sau khi bộ lạc Bani cho
thân nhân của họ đem lạc đà, cừu hay các sản
phẩm khác đến chuộc, thân phận và phẩm giá của
người phụ nữ Hồi Giáo từ xưa cho đến
nay rẻ hơn một con lạc đà hay hai con cừu,
(không tin cứ nh́n ngay đất nước Afghanistant ngày
nay [2005] th́ rơ).
Nhưng v́ đam
mê sắc đẹp của Aisha quá lộ liễu nên các cô
vợ khác của Muhammad ghen tuông và khiếu nại, viện
cớ kinh Koran dạy người chồng phải đối
xử công bằng với các bà vợ. Nên từ đó Muhammad phải theo thứ tự ngủ đêm mỗi pḥng với
một cô. Mỗi khi đi đâu, ông phải
rút thăm để biết ai là người sẽ cùng
đi với ông trong cuộc hành tŕnh. Tuy
nhiên, mỗi khi Muhammad đến đền thờ để
giảng đạo th́ chỉ có một người duy nhất
luôn luôn ở bên cạnh ông là Aisha. Ông nói với mọi
người rằng: “Aisha cũng
có ơn mặc khải của Thiên Chúa giống như ông”.
Đầu năm 627, Aisha 13 tuổi,
nàng bắt đầu đến tuổi dậy th́ nên bỗng
nhiên trổ mă lớn vượt lên và đẹp hẳn
ra. Muhammad yêu thích
Aisha hơn tất cả các cô vợ khác nên đi đâu ông
cũng mang theo Aisha. Thậm chí có một
hôm Muhammad mang quân đi phục kích để chận
đánh bộ lạc Do Thái Bani trên bờ biển Hồng Hải,
ông cũng dẫn Aisha đi theo bên ḿnh.
Sau trận tấn công vũ băo của Muhammad, bộ
lạc Do Thái Bani bỏ chạy tán loạn, Lịch sử
không nói tới số thương vong của họ là bao
nhiêu, chỉ nói họ đă để lại chiến
trường 2000 lạc đà, 5000 con cừu và 200 phụ nữ.
Muhammad tuyển chọn một cô đẹp
nhất tên là Juwayriah để lấy làm vợ. Số
phụ nữ c̣n lại sẽ được trả tự
do sau khi thân nhân của họ mang tiền đến chuộc.
Muhammad
c̣n lấy cả con dâu nuôi của ḿnh là cô Zaynab Jahsh. Số
là Muhammad có một người con nuôi từ lúc nhỏ tên
là Zayd ở
Trong
tiệc cưới có nhiều người đàn ông đến
tham dự đă ở nán lại quá lâu để chiêm
ngưỡng sắc đẹp kiều diễm của cô
dâu đặc biệt này. Muhammad muốn
đuổi họ về nhưng lại không muốn làm mất
ḷng họ. V́ không thấy Muhammad nói ǵ nên những
người đàn ông đó đă đến sát gần các
bà vợ của Muhammad nói chuyện và rờ mó một cách
xàm sỡ. Muhammad thấy cần phải có biện
pháp ngăn cản những người “đàn ông đầy
dục vọng” này, để tách rời họ ra khỏi
các bà vợ trẻ đẹp của ông. Sau đó
Muhammad đă viết những câu thơ để diễn
đạt ư này trong kinh Koran đoạn 33:53 như
sau:
“Believers! do not enter the
house of the Prophet
For a meal without waiting for the proper time
Unless you are given leave.
But if you are invited, enter.
When you have eaten, disperse.
Do not engage in familiar talk
For this would annoy the Prophet
And he would be ashamed to bid you go
If you ask his wives for anything,
Speak to them from behind a curtain
(hijab).
This is more chaste
for your hearts and their hearts – Koran 33: 53”
Xin tạm dịch như sau:
“Các tín đồ đừng nên vào nhà của Tiên
Tri,
Khi dùng bữa nên để ư
đến giờ giấc nào cho thích hợp.
Khi các người được
Tiên Tri cho phép.
Nếu các người
được Tiên Tri mời ăn th́ cứ vào ăn.
Nhưng khi ăn xong rồi th́
phải giải tán.
Đừng nói chuyện với các bà quá nhiều,
các người sẽ làm phiền ḷng Tiên Tri.
V́ ngài rất ngượng khi phải
lên tiếng đuổi các người đi.
Nếu các
người muốn hỏi những người vợ của
Tiên Tri về bất cứ chuyện ǵ.
Hăy nói chuyện
với họ đằng sau tấm khăn che mặt.
Điều này làm cho trái tim của các người và của các nàng được
thanh khiết – Kinh Koran 33:53”.
Người ta gọi là “Những câu thơ trên
đây là những câu thơ của bức màn che” (The
Verses of the curtain). Bức màn che đó chính là tấm
khăn che mặt (veil) của phụ nữ Hồi Giáo, tiếng
Ả Rập gọi là Hijab. Thông thường th́ tấm
vải này có màu đen và đủ rộng để che kín
đầu, tóc, phủ đến vai và che kín cả mặt,
chỉ chừa khoảng trống nhỏ ở đôi mắt
để người phụ nữ có thể nh́n
đường. Cũng từ khi có mấy
câu thơ đó xuất hiện, các bà vợ của Muhammad
đều phải che khăn mỗi khi bước chân ra
khỏi nhà hoặc khi tiếp chuyện với mọi
người ngoài gia đ́nh. Đó cũng
là khuôn vàng thước ngọc về việc đeo
khăn (che mặt) của phụ nữ Hồi Giáo cho
đến ngày hôm nay.
a) - Những
cuộc “thánh chiến” đẫm máu - giữa những
người Hồi Giáo
Con đường
dọc theo bờ biển Hồng Hải
là trục lộ chính của các đoàn lữ hành từ
Mecca đi Syria. Đồng thời, các
thương gia
Tháng 9 năm 623, sau khi đă tăng cường
an ninh mọi mặt, Mecca ủy nhiệm cho đại
thương gia Umayah Juma hướng dẫn một đoàn
lữ hành rất lớn gồm có 2.500 lạc đà chở
hàng từ Mecca đi Syria. Muhammad hay tin này đă quyết
định huy động toàn lực và đích thân chỉ
huy cuộc tấn công để cướp số hàng lớn
lao này. Trước đó Muhammad đă thực
hiện nhiều cuộc đánh cướp như vậy,
cho nên các thương gia ở
Sự phẫn nộ của dân
Abu
Sufyan là một thủ lănh thông minh và giàu kinh nghiệm.
Trước khi đoàn lữ hành tiến đến một
địa điểm nguy hiểm hay khả nghi, Sufyan luôn
luôn cho một toán tiền thám phi ngựa đến đó
trước để quan sát hoặc thăm ḍ dân địa
phương. Toán tiền thám về báo cáo cho
biết quân phục kích của Muhammad hiện có mặt tại
Badr. Abu Sufyan ra lệnh
cho đoàn lữ hành rẽ hướng để đi xuống
vùng băi biển bằng phẳng của Hồng Hải,
đồng thời ông cho một người tiền thám rất
giỏi tên là Damdam phi ngựa về Mecca cấp báo và yêu cầu
mang quân ra để hộ tống đoàn lữ hành trên
đường về Mecca.
Sau khi
được Damdam báo tin về việc Muhammad bố trí
quân phục kích tại Badr, toàn dân Mecca hết sức tức
giận v́ chuyến hàng do Sufyan điều khiển là chuyến
hàng đắt giá nhất của giới thương gia
Mecca, hơn nữa cuộc đột kích diễn ra lúc này
đang trong tháng Ramadan chứng tỏ Muhammad bất chấp
tục lệ cổ truyền thiêng liêng của người
Ả Rập. Như vậy càng ngày Muhammad càng tỏ ra là một
tên thảo khấo vô cùng nguy hiểm đối với toàn
dân Mecca, do sự tức giận đó nên số người
tự nguyện tham gia đoàn quân tiếp cứu Sufyan ghi
tên rất đông.
Ngay
chiều hôm đó, đoàn quân tiếp cứu rời
Toán
thám báo của Muhammad báo cáo cho biết đoàn quân đông
đảo của Sufyan sắp đi ngang qua Badr. Muhammad kêu gọi mọi người phải quyết
tâm chiến đấu? (để
cướp hàng hóa) dù phải đối đầu với
bạn bè hoặc người ruột thịt. Muhammad bố trí người tại các giếng
nước ở Badr để ngăn chặn mọi nguồn
nước uống. Số quân c̣n lại
núp sau những đồi cát. Muhammad căn
dặn mọi người phải tiêu diệt những
người lănh đạo của
Trưa hôm sau, đoàn lữ hành
của Abu Sufyan và đoàn tiếp cứu của
Ngày hôm đó đoàn quân của
Muhammad chiến thắng trở về
“You
did not slay the ennemies, but God slew them.
When
thou threw it was not thyself that threw, but God threw.
And
that He might confer on the believers a fair benefits
– Koran 8:17”.
Tạm dịch như sau:
“Anh đă không giết người
như anh nghĩ mà là Chúa đă giết họ.
Khi anh quật ngă họ nhưng không phải do anh
mà là Chúa đă quật họ.
Đó là đặc quyền mà Chúa đă ban cho những
tín đồ của Ngài - Koran 8:17”.
Mặc dầu thực hiện những hành vi cướp của giết người
nhưng Muhammad và các tín đồ vẫn tin tưởng
ḿnh có chính nghĩa và luôn luôn được Thiên Chúa phù hộ,
cho nên dù cho quân số ít cũng vẫn có thể đánh thắng
những kẻ địch đông hơn gấp bội.
Điều này được viết trong kinh Koran như
sau:
“If there be twenty of you – patient men.
You will overcome two hundred.
If there be one thousand of you.
You will overcome two thousand,
By the leave of God
God is with the patient – Koran 8:6”.
Tạm dịch như sau:
“Nếu
quân số của anh chỉ có hai mươi, nhưng kiên
cường,
Các anh sẽ chiến thắng hai trăm địch.
Nếu quân số của anh có một ngàn,
Các anh sẽ chiến thắng
hai ngàn địch.
Đó là sự cho phép của Chúa
Chúa sẽ cùng với chúng ta [những
người kiên cường] Koran 8:67”.
Cho đến ngày nay những
người Hồi Giáo hay Thiên Chúa Giáo lúc nào họ cũng ảo
tưởng rằng Chúa lúc nào cũng đứng về
phía họ và bênh vực họ, mặc dù họ là những
người gây ra nhiều tội ác nhất, cũng như
nh́n lại các cuộc chiến tranh từ cổ xưa
đến ngày nay, gây ra bao nhiêu cảnh máu lửa cho nhân loại
trải dài nhiều ngàn năm qua đều do họ nhân
danh Thiên Chúa để tạo ra cả. Ngay tại thời
điểm này 2005 nếu chúng ta nh́n qua các cuộc đánh
bom tự sát để buộc người khác phải chết
theo ḿnh, những người Hồi Giáo
lúc nào cũng nhân danh Chúa để khủng bố và phá hoại
các quốc gia mà họ thù ghét.
b) - “Tiên Tri Muhammad”
Đối với Muhammad, mặc
dầu ông dạy các tín đồ tin tưởng vào sự
phù hộ đặc biệt của Chúa, nhưng Muhammad là
người rất thực tế và không tin nhiều vào
Chúa mà tin vào sự tính toán cẩn thận của ḿnh. Sau trận
đánh cướp hàng hóa ở Badr, Muhammad biết
Sau vụ
Muhammad chỉ huy vụ đánh cướp đoàn lữ
hành ở Badr, giới Hồi Giáo cầm quyền ở
Mecca đă cho tăng cường binh lực để tiêu
diệt căn cứ địa Medina của Muhammad. Một mặt họ cho người đi kết
thân với các bộ lạc ở Bedouin làm đồng minh,
họ chọn những người thiện chiến để
thành lập lại những đội binh có thể ứng
chiến nhanh chóng với các toán kỵ binh của Mohammad một
các hiệu quả. Điểm quan trọng là họ
đă ngầm liên lạc với các bộ lạc của
người Do Thái ở ngay trong thành
Tháng 3 năm
625 Sufyan bắt đầu mở chiến dịch phục
thù, lợi dụng trong một đêm tối trời Sufyan
bí mật dẫn 200 quân cảm tử đến bố trí
bên ngoài thành Medina, sau đó ông một ḿnh đột nhập
vào thành liên lạc với bộ lạc Do Thái Bani Nadir. Ông được bộ lạc này cung cấp nhiều
tin tức về quân số và hệ thống pḥng thủ của
Muhammad. Trước khi trời sáng, Sufyan bắt hai
người Hồi Giáo đem ra chém rồi bêu đầu
ngoài thành
Cũng trong năm 625,
Trong
trận này, Muhammad và quân sĩ chỉ măi lo đối phó với
đoàn quân của Sufyan ở phía trước mặt mà
không đề pḥng ở phía sau lưng. Bất
thần đoàn cung thủ của Sufyan đă núp sẵn ở
những đồi cát phía sau tiến lên bắn như
mưa vào đoàn quân Hồi Giáo. Hàng
trăm người chết tại chổ hàng trăm
người khác bị thương trong đó có “tiên tri”
Muhammad. V́ Muhammad bị bất tỉnh
nên quân Hồi Giáo chỉ lo rút lui để bảo vệ
chủ tướng. Rất may là quân
Sau
vụ thất trận thê thảm tại thị trấn
Uhud, tinh thần của cả cộng đồng Hồi
Giáo (Umma) xuống thấp chưa từng thấy. Nhiều
tín đồ trước đây đă nghe Muhammad thuyết
giảng là Thiên Chúa đứng về phe của Hồi
Giáo:
“Nếu quân số của anh chỉ có hai mươi,
nhưng kiên cường,
Các anh sẽ chiến thắng
hai trăm địch.
Nếu quân số của anh có một
ngàn,
Các anh sẽ chiến thắng
hai ngàn địch.
Đó là sự cho phép của
Chúa
Chúa sẽ cùng với chúng ta [những
người kiên cường] Koran 8:67”.
Nay chính giáo chủ Muhammad vừa
thua trận và cũng đang bị thương bất tỉnh,
quân bị chết nhiều và đoàn quân Hồi chưa kịp
đánh đă phải rút chạy. Nhiều tín đồ
tỏ ư thất vọng và coi trận Uhud là một dấu
hiệu cho thấy Thiên Chúa đă bỏ rơi tiên tri
Muhammad.
Mấy hôm sau,
Muhamamad tỉnh lại và nghe được chuyện này,
Mohammad sợ những người Rập sẽ bỏ rơi
ḿnh nên Mohammad vội viết vào kinh Koran mấy câu thơ nhắc
nhở tín đồ như sau:
“Các tín đồ
đừng bao giờ nghĩ tiên tri nói sai
Và cũng không nên coi
thất bại ở trận Uhud
Là dấu hiệu của
Thiên Chúa đă bỏ rơi tiên tri của ngài,
Mà hăy coi đó là dịp
để xem ai là tín đồ chân chính và ai không là chân chính
Koran 3:13, 3:152”.
Sau
cuộc chiến thắng của quân
“Nếu thấy điều
đó (lấy nhiều vợ) là tốt cho anh
Hăy lấy thêm
hai, ba, bốn vợ”.
(Marry such women
as seem good to you
two,
three or four - Koran 4:3)
“Hăy lấy những người
đàn bà không có chồng
ở trong cộng đồng
của các người”.
(Marry the spouseless
among you - Koran 24:33).
Khi viết những
câu thơ trên Muhammad có nhiều dụng ư. Một là cổ vũ
cho các thanh niên cồng tín Hồi Giáo tự do hưởng lạc
và coi đó như là một phần thưởng để
tưởng thưởng những người có công và
trung thành với Muhammad. Thứ hai là ân huệ cho những
“chiến sĩ” của ḿnh để ngày mai ra trận không
may họ có chết đi th́ cũng không c̣n ǵ để nuối
tiếc những lạc thú của cuộc đời, (có
người ví những thiếu phụ Hồi Giáo vào thời
đó cũng giống như các cô cán bộ Hộ Lư trong
quân đội của Cộng sản Bắc Việt
trước đây khi c̣n chiến tranh vậy, điều
này chứng tỏ ông “thánh sáp” Hồ Chí Minh cũng rất
sỏi tâm lư thanh niên như ông “thánh tiên tri” Muhammad, nhưng
vấn đề tàn bạo, xảo trá, lưu manh và quỷ
quyệt th́ chắc hẳn trên thế gian này không ai hơn
họ Hồ cả, cho đến nay không thấy sách vở
hay tài liệu nào của Hồi Giáo nói đến số phận
các em bé của một ông cha có 5 hay 7 bà vợ sẽ ra sao ?,
v́ người chiến sĩ Hồi Giáo của ngày hôm nay sẽ
chết trận ngày mai, th́ các cô vợ hôm nay sẽ trở
thành cô vợ của một chiến sĩ khác vào ngày mai). Thứ ba là để tránh sự phản bội của
những người chiến sĩ và để cầm
chân họ sẽ phục vụ măi măi cho tham vọng của
ḿnh nên Muhammad trói buộc họ bằng những sợi dây
t́nh cảm.
Ngày xưa dân Hồi Giáo Ả Rập họ
sống từng bộ lạc trong xa mạc nóng cháy da, thân
phận của người phụ nữ Hồi Giáo vô cùng
cay nghiệt, họ thường bị lợi dụng và bắt
nạt, hơn nửa các lănh chúa người Ả Rập
họ coi nhân lực và vật lực trong các bộ lạc
đó là sở hửu riêng của họ, những thiếu
nữ trẻ đẹp thường được mang
đi bán hoặc bị đem đi trao đổi cho các bộ
lạc khác để lấy lạc đà, ngựa hay cừu,
những khi có sự xung đột đánh nhau th́ thường
họ bắt các thiếu nữ hay thiếu phụ trẻ
đẹp đem về và họ coi đó như là những
chiến lợi phẩm để mang đi tặng cho
nhau.
c)
- Kinh Mushaf
Có nhiều nguyên nhân dẫn
đến những cuộc tận t́nh chém giết nhau giữa
những phe Hồi Giáo Ả Rập, nhưng tựu trung
không đi ra ngoài các vấn đề là: Tranh chấp lănh thổ,
xung đột quyền lực v́ không ai chịu phục
tùng ai cả (từ khi Muhammad c̣n sống cho đến măi vễ
sau này và đến nay vẫn c̣n tiếp diễn), các cuộc
chém giết mà người Hồi Giáo Ả Rập thường
cho là “thánh chiến” đó cũng chỉ là những chiêu bài
lừa bịp của đám giáo sĩ và chuyên dối gạt
người khác phải chết thay cho ḿnh, chết cho sự
tham lam ngu dốt của một nhóm người mà họ tự
xưng là họ đă “đại diện cho Chúa” (chúa nào bắt
người khác phải chết thay cho ḿnh?, chúa nào ra lịnh
chặt tay hay chặt chân những ai không tin Chúa?). Nếu
nh́n kỹ chúng ta sẽ thấy lư thuyết của Cộng
Sản có thể nói rập khung lư thuyết của các đạo
giáo, v́ vậy có nhiều người họ ví Tôn Giáo là Cộng
Sản cũng không sai bao nhiêu.
Dưới đây chúng ta hăy xem
qua kinh Koran để hiểu kinh Koran là kinh ǵ
? Tại sao người Hồi Giáo Ả Rập họ
cuồng tín đến như thế:
Kinh Koran là kinh thánh của đạo
Hồi (Koran: The Muslim Gospel), nhưng kinh Mushaf là “Kinh
Thánh Chính Thức Của Tất Cả Người Hồi
Giáo”. Kinh Koran công nhận Jesus là vị
tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng kinh Koran
phủ nhận tính cách thiêng liêng của Chúa Jesus. Kinh
Koran gọi các phép lạ của Jesus là những tṛ học
mót ở
(Tưởng cũng nên nhắc
lại ở đây là: “Các h́nh thức phong Thánh của bất
cứ tôn giáo nào ở bất kỳ xă hội nào đều
là những hành động phạm thượng với
Thánh, Thần, Phật, Chúa ở cơi siêu h́nh nào đó”. V́ con
người ở cơi thế gian trần tục th́ làm sao có
thế “phong thánh” cho một cơi mà họ chưa đủ
trí tuệ để biết đến và cũng chưa
đủ hiểu biết để có thể giải thích
được là cơi siêu h́nh ấy ở đâu, vả lại
họ có chắc rằng liệu các cơi siêu h́nh ấy họ
có thể chấp nhận các “vị Thánh” do những con
người đầy tham lam, ti tiện nơi trần
gian vô minh này phong cho họ chăng ?.
Như vậy các giáo sĩ của các đạo giáo đă
quá coi thường nơi cơi Phật, cơi Chúa, cơi Thánh, Thần,
vậy làm sao họ có thể bắt con người phải
tôn thờ ở một cơi cao hơn cơi trần gian mà chính họ
là những người lại coi thường các cơi
đó. Người xưa quả nói không sai “Vô Tri Nên Bất
Mộ”, v́ không biết nên coi thường, mà chính những kẻ dám coi thường trời
đất lại là những kẻ khoát lên người họ
các màu áo tôn giáo để thực hiện quyền lực
cho tôn giáo của họ).
Đạo Hồi
Giáo rất ghét đạo Do thái v́ Do thái gọi Thiên Chúa bằng
số nhiều Elohim (số nhiều của El), đạo
Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả
Rập là Il. Đi liền với Il có chữ “ah” là một mạo tự
(article trong ngôn ngữ Ả Rập) v́ thế Il thành Il (ah).
Khi chuyển sang Anh ngữ, các chữ I thành A, v́ thế Il (ah) thành AllaH (cũng như Ibrahim trong tiếng
Ả Rập được đổi thành Abraham trong tiếng
Anh). Nên Muhammad gọi chung những người theo đạo
Do Thái và đạo Thiên Chúa Giáo là “những tín đồ của
các sách Thánh kinh” (The people/ the followers of the Books) hoặc gọi
chung là “những kẻ không tin Thiên Chúa Allah” (The unbelievers). Riêng với các tín đồ Thiên Chúa Giáo Muhammad gọi
họ là “những kẻ thời thần tượng” (The
idolers).
Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi
các tín đồ Hồi Giáo phải chiến đấu chống
lại những kẻ theo Do Thái Giáo,
Thiên Chúa Giáo và tất cả những ai không tin theo đạo
Hồi Giáo của ông. Trong lănh thổ của Hồi Giái từ
xưa cho đến nay bất cứ ai không phải là
đạo Hồi Giáo đều phải nạp thuế
thân cũng như thuế không phải là đạo Hồi
Giáo và nhiều thứ thuế khác rất nặng và phải
chấp nhận một địa vị thấp kém nhất
xă hội (Fight those who do not
believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight
them until they personally pay tax on non-Muslims ackowledging their
inferiority - Koran, Sura 9). V́ vậy chúng ta không thấy ǵ làm
lạ khi dân Ả Rập Hồi Giáo coi khinh tất cả
các giống dân khác đều là hạ cấp chỉ v́ họ
không phải là người tin theo đạo
Hồi Giáo.
Kinh Koran cũng chẳng có ǵ là
đặc biệt hay cao siêu ǵ cả, mà kinh Koran được
viết theo lối văn kể chuyện
thông thường (Oral recitation) của những người
b́nh dân quen lối sống du mục trong xa mạc nóng cháy. Kinh Koran có tổng cộng có 114 chương
(suras/chapters) gồm 6616 câu thơ (verses). Sự phân phối
các câu thơ trong các chương không đều nhau:
chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn
nhất chỉ có 3 câu. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn
bất thường: Câu thơ dài nhất chiếm tới
nửa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ!. Phần
lớn kinh Koran (85 chương) được Muhammad viết
tại
Như trên đă nói v́ sợ
người dân không c̣n tin theo lư thuyết Hồi Giáo và
để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ
Hồi Giáo, họ cần phải có người tài giỏi
biên tập tất cả các nguyên bản thành một cuốn
Thánh kinh duy nhất. Người có thẩm quyền
đầu tiên đứng ra lo việc này là Abu Bakr kế vị
Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi Giáo đầu
tiên thống nhất bán đảo Ả rập để
biến nơi này thành điểm xuất phát bành trướng
Hồi giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một
thanh niên 22 tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ
bản của kinh Koran do Muhammad viết tập trung tại
Người kế
nghiệp thứ ba (the third caliph) là vua Uthman (644-657) chú tâm
đến việc phục hồi kinh Koran, năm 652, vua
Uthman giao cho Zayd và ba người phụ tá nhiệm vụ
biên tập các bản thảo của Muhammad thu hồi
được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm
vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi
Muhammad qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran
do Zayd viết lại và gọi nó là “Mushaf” có nghĩa là “Kinh
thánh chính thức của mọi người Hồi Giáo”. Sau đó vua Uthman cho đem cuốn kinh Thánh này
lưu trữ tại thành phố Kufa (
* - 2 bản hiện lưu trữ
tại thư viện Taskhent ở
Uzebekistan.
* - 1 bản lưu trữ tại
thư viện Tpokabi Thổ nhĩ kỳ.
* - 1 bản tại
bảo tàng viện
* - 1 bản mới
t́m thấy tại
Nhưng khi so sánh các bản chính
nói trên với kinh Koran do vua Uthman công bố năm 657 người
ta đă phát giác có nhiều sự khác biệt, việc này
đưa đến các nhận định của các học
giả nghiên cứu về Hồi giáo là: Việc vua Uthman ra
lệnh tiêu huỷ các bản viết tay của Muhammad là một
tổn thất hết sức nặng nề cho Hồi Giáo
và 5 bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo cổ
đă thu thập được cũng đủ xác minh một
sự thật đáng buồn cho thế giới Hồi
Giáo (ư muốn nói chỉ toàn là các bản giả), và có lẽ
vua Uthman và ban biện tập của Zayd đă tự ư sửa
đổi kinh Koran theo ư của họ. Tuy
nhiên, hầu hết các giáo sĩ Hồi giáo hiện nay
đă cấm người Hồi Giáo nêu lên những vấn
đề nói trên. Các giáo sĩ vẫn cho rằng bản
kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm
657 là kinh Koran do Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.
Khi chúng ta đọc
vào kinh Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc
tính siêu việt của “Ngài”. V́ đạo Hồi là đạo Thiên Chúa
thứ ba, xuất hiện sau Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo và
ngoài Thiên Chúa ra, kinh Koran dạy phải tin có các thiên thần
và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc khải của đạo
Do Thái và Thiên Chúa Giáo cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận
thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết
đều được sống lại, tin có Thiên
đàng, Hỏa ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền
định. Kinh Koran cũng khác với Cựu Ước
và Tân Ước chỉ đề cập đến vấn
đề thiêng liêng hoặc lịch sử, kinh Koran đồng
thời cũng là một bộ luật đầu tiên và
cao nhất của Hồi giáo, nhưng kinh Koran cũng là một
bộ luật vô cùng sắt máu và mâu thuẫn nhất, ví dụ
như:
* - Cấm săn bắn trong thời
gian hành hương
* - Cấm trộm cướp,
tội trộm cướp sẽ bị chặt tay (kinh Koran 5:31). Nhưng xin xem lại giáo chủ
Muhammad đă làm ǵ để thành lập đạo Hồi
Giáo, nếu không phải là tấn công các đoàn lữ hành
buôn bán để cướp lạc đà, ngựa, cừu
và hàng hóa đem về chia nhau.
* - Cấm nằm gần đàn
bà có kinh nguyệt (kinh Koran 2:221), nhưng lại chặt đầu
hay chặt tay, chân tội nhân hoặc những
ai không tin ở Allah.
* - Cấm ăn thịt heo v́ thịt
heo dơ (kinh Koran 5:30), nhưng lại cho ăn thịt ngựa, thịt
cừu, thịt lạc đà, thịt dê .v..v…
Tóm lại dựa theo kinh Koran
các giáo sĩ Hồi Giáo viết ra những luật lệ rất
quái đản để áp dụng cho người dân Hồi
Giáo, ví dụ như các giáo sĩ Hồi Giáo ở Phi Châu ra
điều luật phải cắt bỏ phần âm vật
của phái nữ, v́ họ giải thích rằng:
“Đó là nơi dơ bẩn tạo ra sự dâm làm ô uế
cho sự linh thiêng khi thờ phụng Allah”, nhưng
các giáo sĩ lại quên rằng họ từ nơi đâu
sinh ra, chứ không phải từ nơi “dơ bẩn” mà họ
gọi là ô uế đó (không dâm sao có thánh hiền?).
Bất cứ người đàn bà nào bị cáo buộc
về tội ngoại t́nh đều bị đem ra cho
công chúng ném đá đến chết (kinh Koran 4:15).
Nhưng cũng chính thiên sứ Muhammad viết như sau: “Hăy
lấy những người đàn bà không có chồng ở
trong cộng đồng của các người”. Marry the
spouseless among you (kinh Koran 24:33).
Kinh Koran qui định h́nh phạt
hết sức nặng nề cho bất cứ ai “chống
Thiên Chúa Allah hoặc chống Thiên sứ Muhammad”. Người
đó sẽ bị đóng đinh vào cây giá phơi nắng
cho chết hoặc bị chặt hết chân tay
(Sura 5). Đàn ông hay đàn bà nếu bị ghép vào tội trộm
cướp th́ tùy theo nặng nhẹ mà
chặt một hay hai tay (Koran.5:3). (xin quí
độc giả xem lại đoạn trên về những
cuộc đánh cướp do Muhammad chỉ huy). Những
người Thiên Chúa Giáo thờ
ảnh tượng bị coi là hạng người dơ
bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo
(The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred
mosque - Koran 9:28). Các người Do Thái và Thiên Chúa Giáo bị
cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa
chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước
ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm
ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Thiên Chúa Giáo bị coi là đa thần
giáo có thể bị giết bất cứ lúc nào. Trong
kinh Koran chương 9 câu 5 đă quy định: “Khi những
tháng thánh qua đi, các ngươi hăy giết những kẻ
đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng,
hăy phục kích để bắt chúng” (When the sacred month have
passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives
and wait for them in every ambush - Koran Sura 9: verse 5). Cho nên người phương Tây gọi những
câu kinh trên là “những câu kinh của bọn man rợ”.
V́ dám cười cợt
trước cảnh đầu rơi máu đổ của
đồng loại, nên các đạo quân Hồi Giáo
được coi là những đạo quân tàn bạo nhất
nh́ trong lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, nh́n lại
chỉ trong ṿng một thế kỷ, các đoàn quân Hồi
giáo đă chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần
Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới nhà
Đường. Nhưng đồng thời những câu
thơ thù hận nói trên cũng đă gây nhiều cuộc
chiến tranh đẫm máu kéo dài trong lịch sử và cũng
là nguyên nhân gây nên các cuộc “thánh chiến” kinh hoàng trải
dài gần 2000 năm qua.
Ngày hôm nay khi đọc lại
lịch sử của các “Đạo” nói trên những con
người hậu sinh như chúng ta hiện nay sẽ nghĩ
ǵ, phải chăng tôn giáo là mầm mống của mọi
sự tội lỗi, oán thù kéo dài qua nhiều đời.
Tôn giáo là yêu thương hay tôn giáo chỉ đem lại nhiều
nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Con người của ngày
hôm nay có thật sự cần có tôn giáo hay sự tín ngưỡng
ở thần linh không có thể xác, hay chúng ta cần một
đời sống lấy t́nh đồng loại chia sẻ
cho nhau xóa bỏ biên cương tôn giáo, lấy t́nh người
xóa bỏ hận thù chủng tộc, xóa bỏ những dị
biệt của màu da, thương yêu và chia sẻ cho nhau
để cùng nhau chung sống trong quả địa cầu
nhỏ bé này.
d)
- Thiên Chúa Giáo Và Hồi Giáo.
Đạo Hồi
Giáo xuất hiện và bành trướng mạnh nhất
trong thế kỷ thứ 7 như một cơn băo dữ
khiến cả nhân loại từ Đông sang Tây phải
kinh hoàng. Chúng ta hăy t́m hiểu nguyên nhân nào đă làm cho Hồi
Giáophát triển nhanh như vậy:
Thứ
nhất: Có lẽ
qua hàng nhiều thế kỷ sống trên các cánh đồng
cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp
sống lang thang của những người Ả Rập
càng ngày càng trở nên khó khăn, về đất đai
ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ thứ 6,
bộ lạc Quraysh tổ tiên của Muhammad có sáng kiến
bỏ nghề du mục để chuyển sang nghề
thương mại để sinh sống. Họ tổ chức
các cuộc đi buôn đường xa với những
đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và
rất nhiều ngựa, lạc đà để chờ
hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí .v..v… Dần dần, thị trường
ngày càng được mở rộng, nhu cầu
thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành
có thể gia tăng lên tới hàng ngàn người. Do
nhu cầu cầu tự vệ, mọi người trong
đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa,
cưỡi lạc đà, luyện tập xử dụng
các thứ vũ khí như gươm giáo, cung tên, kể cả
vơ thuật và các chiến thuật đánh nhau. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ,
học cả địa lư và phong tục tập quán của
các nước lân cận để gia tăng khả
năng giao dịch thương mại. Trải
qua nhiều thập niên như vậy, những
thương gia (traders) Ả Rập trở thành những
người đa tài. Họ chẳng những là những
thương gia rành nghề mà c̣n là những quân nhân thiện
chiến, kỷ luật và c̣n là những người
được quần chúng ngưỡng mộ và nghe theo.
Đầu thế kỷ 7,
Thứ
hai: Từ thế kỷ
4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc
Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên
nhau thống trị: Đế quốc Byzantine là hậu
thân của đế quốc La Mă được đại
đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ
phủ tại hải cảng Byzantine của Hy Lạp. Từ
đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời
hoàng đế cuối cùng của đế quốc
Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều
là những hoàng đế theo Thiên Chúa Giáo Đông
Phương. Sau này họ mới trở thành Chính Thống
Giáo. Sassanian chính là nước Ba Tư ngày nay.
Đế Quốc Sassnian tồn tại 427
năm (từ 224-651). Các hoàng đế của đế
quốc Sassanian đều theo đạo
Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên
đă tranh chấp quyền lực và đánh nhau liên miên suốt
4 thế kỷ, cho đến đầu thế kỷ 7
th́ cả hai đế quốc này đều bị kiệt
quệ và người cũng như về của (nhân lực
và tài lực) cho nên tạo ra một khoảng trống quyền
lực tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, khi những
đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập xâm lăng đă tiến vào lănh thổ của cả
hai đế quốc này như tiến vào chỗ không
người. Từ hai nước được
gọi là đế quốc đă bị những đoàn kỵ
binh của những bộ lạc man rợ thôn tính một
cách dễ dàng. Một điều quan trọng nữa
là người dân trong hai đế quốc nói trên họ
đă sống trong 3 thế kỷ đầy máu và sợ
hăi nên họ đă oán ghét chiến tranh và bọn cầm quyền,
máu người thân của họ đă đổ xuống
một cách oan uổng cho bọn thống trị gian ác một
cách vô ư nghĩa, cho nên sự kêu gọi chống xâm lăng
đă không được người dân hưởng ứng.
V́ vậy đất nước họ đă lọt vào tay bọn kỵ binh Hồi Giáo một cách dễ
dàng.
Thứ
ba: Đạo Hồi
là sản phẩm tinh thần của người Ả Rập
nên được người Ả Rập đón nhận
một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa
xưa, người Ả Rập đă chấp nhận niềm
tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (Allah) tin có Thiên
đàng, Hỏa ngục, tin có thiên thần .v..v...
Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một
đạo ngoại lai, mà họ coi Hồi Giáo là đạo
cổ truyền của dân tộc Ả Rập. Văn
thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập
là những “áng thơ văn tuyệt tác”. Mỗi khi họ
đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ
cảm thấy những vần thơ đó rất hấp
dẫn v́ rất hợp với khiếu thẩm mỹ
văn chương của họ. Ư niệm thánh chiến và
hiến dâng (jihad) và ư niệm tử v́ đạo hoàn toàn
phù hợp với tâm lư vốn hung bạo của người
Ả Rập v́ họ rất quen thuộc với cuộc sống
đầy bất trắc tại sa mạc.
Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối
với các chiến binh trẻ tuổi, theo
kinh Koran th́: “Sau khi chết trận, được coi như tử
v́ đạo sẽ được Thiên Chúa (Allah) cho lên
thiên đàng để được hưởng đủ
thứ lạc thú (t́nh dục) cho đến muôn đời.
Lạc thú độc đáo nhất và duy nhất chỉ
đạo Hồi Giáo mới có, đó là những người
chết trận hoặc tử v́ đạo đều
được những cô Gái Trinh tuyệt đẹp
đón tiếp và phục vụ lạc thú t́nh dục cho
đến muôn đời, v́ mọi người ở thiên
đàng đều trẻ măi không già!”. Niềm tin
“đặc biệt” này đă là một yếu tố tâm lư
quan trọng khiến cho những người lính Hồi
Giáo trở thành những chiến sĩ rất “dũng cảm”
trong các cuộc thánh chiến. Họ dũng cảm cũng
chỉ v́ cuồng tín và khoái hưởng những “lạc
thú” do Allah trao cho, những đoàn quân Hồi Giáo đă
điên cuồng lao vào chổ chết
để mong lập nên những “kỳ tích” vượt xa
sự tưởng tưởng của mọi người.
Cho nên quá khứ cũng như hiện tại chúng ta thấy
những tên lính Hồi Giáo ngu dốt và cuồng tín họ
coi sinh mạng của chính họ như một thứ cỏ
rác cần phải vứt bỏ, để mong về với Thiên Chúa (Allah) và tận
hưởng lạc thú t́nh dục đến muôn đời.
đ)
- Những Cuộc Chiến Tranh Mở Rộng Nước
Chúa
Theo sự giải thích của
các giáo sĩ Hồi Giáo cuồng tín th́: “Muốn mở rộng
nước Chúa th́ phải gây ra chiến tranh, máu lửa, v́
“tử v́ Đạo” là điều cần phải có. V́ vậy từ ngày người Ả Rập lập
đạo Hồi Giáo cho đến nay lúc nào họ cũng
nghĩ đến chiến tranh, có nghĩa là phải mở
rộng nước Chúa. Chiến tranh mở rộng
nước Chúa của Hồi Giáo (
* - Thời kỳ thứ
nhất: Từ thế
kỷ 7 đến thế kỷ 13, đạo Hồi Giáo
bành trướng và phát triển tạo thành một số
quốc gia theo đạo Hồi Giáo được gọi
chung là khối Hồi Giáo Ả Rập, đứng đầu
khối cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua
được gọi là Caliph, có nghĩa là “người kế
vị của giáo chủ Muhammad về phương diện
thế quyền”. Chúng ta cũng nên nhớ một điều
là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối
cùng của Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah),
cho nên ngoài Muhammad ra không một ai có quyền tự trị
xưng là kẻ thừa kế của Thiên Chúa về
phương diện thế quyền.
·
- Thời kỳ thứ hai: Từ thế kỷ 13 đến
thế kỷ 20 do những biến cố đặc biệt
của thế giới đă đưa đến sự
h́nh thành ba đế quốc Hồi giáo. Trước hết
là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm nước
Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Âu và
nhiều nước Á châu khác tạo thành một đế
quốc Mông Cổ rộng lớn (như đă nói ở
trên) .
Từ cuối thế kỷ thứ
13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo
đạo Hồi đă tạo nên đế quốc Hồi
giáo Mughul (do chữ Mongol - “Mông Cổ” mà ra). Trong giữa thế
kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi
Giáo đă lấy ra phương thức chế thuốc
súng từ “tù nhân” Hồ Nguyên Trừng (là con của Hồ
Qúy Ly) và chế ra thuốc súng đầu tiên ở Âu Châu.
Tưởng cũng nên nhắc lại là cha con Hồ Qúy Ly
và Hồ Nguyên Trừng bị bắt giải về kim
lăng vào năm 1407, tức là trước khi Âu Châu chế
ra thuốc súng khoảng nửa thế kỷ. Hai cha con Hồ
Qúy Ly là những người có tài nhưng không được
ḷng dân nên phải tự trói ḿnh qùi gối trước Ải
Nam Quan nộp ḿnh cho Minh Thành Tổ. Hồ Qúy Ly là người
chế ra Tiền Giấy
đầu tiên trên thế giới này (loại tiền chúng
ta xài ngày hôm nay). Con ông là Hồ Nguyên Trừng cũng là
người đầu tiên chế ra thuốc súng thần
công (súng đại bác ngày nay) trên thế giới này, gần
50 năm sau tại Âu Châu người Thổ Nhĩ Kỳ
mới học theo phương thức chế ra thuốc nổ
loại súng thần công của Hồ Nguyên Trừng mà chế
ra súng đại bác ngày nay, Hồ Nguyên Trừng tuy là tù binh
của đời nhà Minh, nhưng sau này ông được
vua nhà Minh phong đến chức Công Bộ Thị Lang
tương đương với chức Bộ Trưởng
Pháo Binh bây giờ,
(Công là ngày xưa gọi là súng thần công, ngày nay gọi là
pháo binh) và bộ sách ông viết là bộ Nam Ông Mộng Lục
hiện nay c̣n lưu truyền bên Tàu.
Như trên
đă nói dựa vào sức mạnh quân sự, người
Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều
nước trên cả ba lục địa Âu, Á, Phi và lập
nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan
ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh
vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm
nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế
quốc Safavids theo giáo phái Shiite. V́ vậy ngày nay chúng ta hiểu
rằng tại sao đạo Hồi Giáo có hai giáo phái Shiite
và Suni họ luôn luôn oán thù nhau và lúc nào họ cũng sẳn
sàng gươm giáo để chuẩn bị giết nhau
không thương tiếc.
4) - Những cuộc “Thập
Tự Chinh” đẫm máu
Trở lại đầu thế kỷ 11, Thiên
Chúa Giáo chia thành hai giáo phái với hai giáo quyền thù nghịch
nhau. Đó là giáo hội Công Giáo La-mă (Roman Catholic)
đóng đô tại Vatican và giáo hội Chính Thống Giáo
(The Eastern Orthodox Church) đóng đô tại Byzantine, c̣n
được gọi là Constantinople tức Istanbul, thủ
đô của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.
* - Lư do thứ nhất là vào năm 1091, quân Hồi Giáo tấn công
Byzantine. Hoàng
đế Alexius Comnenus đứng đầu giáo hội
Chính Thống Giáo tuy không ưa Công Giáo nhưng cũng
đành phải viết văn thư
chính thức yêu cầu giáo hoàng La Mă đem quân đến cứu
giúp. Vatican lúc đó muốn giúp Vatican th́ ít nhưng điều
quan tâm hàng đầu là tái chiếm thánh địa
*
- Lư do thứ hai
được nêu lên là những vụ người Hồi
Giáo hành hạ những người Công Giáo Âu châu đi hành
hương ở
Các giáo dân Âu châu
đa số thời đó đa số là những nông dân thất
học và cuồng tín nhất là giới thanh thiếu niên,
trong số đó có rất nhiều trẻ vị thành niên
đă mù quáng ghi tên tham gia vào đoàn quân chữ thập. Lịch sử Âu châu đă gọi
đoàn quân chữ thập này là “Đoàn
quân nông dân” hoặc “Đoàn
quân con nít” (Popular Crusade – The Children’s Crusade). Vào thời kỳ
đó, Âu Châu đang ở trong bóng tối tinh thần (The
Dark Age) nên từ vua tới dân, từ tu sĩ đến
các bổn đạo, tất cả đều không có một
sự hiểu biết nào về Hồi Giáo, không có một
chút kiến thức nào về t́nh h́nh chính trị xă hội
và địa thế của các nước phương
Đông. Sự thiển cận về kiến thức và
tinh thần cuồng tín tôn giáo đă mau chóng biến việc
tái chiếm
* - Cuộc Thập Tự
Chiến Thứ Nhất (1096-1099)
Như trên đă tŕnh bày, sự
vận động cho cuộc viễn chinh đầu tiên của
đoàn quân Thập Tự khởi đầu từ những
năm 1091 do sự cầu viện của hoàng đế
Byzantine, nhưng măi tới năm 1096, tức 5 năm sau mới
thực hiện được. Đoàn quân Thập tự
gồm hàng trăm ngàn người được điều
khiển bởi các hiệp sĩ chuyên nghiệp, xuất
phát từ hai nước Ư và Pháp. Đoàn quân của Pháp chia
làm hai nhánh: Nhánh quân ở miền Bắc tập trung tại
Normandie, nhánh quân ở miền
Trên đường hành quân, khi
đi ngang qua đồng bằng sông Rhin, đoàn quân Thập
tự của Pháp đă lùng bắt những người Do
Thái rồi đưa họ ra băi hoang chém giết tập thể.
Hiện nay tại những vùng đồng bằng sông Rhin
thuộc nước Đức có nhiều nơi vẫn
c̣n ghi dấu bằng những bia đá
ghi tên những người Do Thái bị sát hại trong dịp
này.
Vào mùa thu năm 1096, một
đạo quân thứ ba của Pháp tập trung tại
Clairmont đi thẳng đến Rome để kết hợp
với 50,000 quân Ư. Sau đó liên quân Pháp-Ư cũng kéo đến
Constantinople. Vua và triều đ́nh Byzantine vô
cùng ngạc nhiên khi thấy đoàn quân Thập Tự chỉ
là một đám nông dân rách rưới bẩn thỉu và có
quá nhiều trẻ vị thành niên ngơ ngác. Vua Byzantine lập tức ra lệnh cho quân đội
ngăn chận không cho đoàn quân ô hợp này vào thành phố.
Tuy nhiên, nhà vua cung cấp cho đoàn quân này số
lương thực và cho quân đội áp tống
đám quân Thập Tự này
đến Boporus thuộc miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ.
Trong lúc đoàn quân Thập Tự này trú đóng tại
Boporus th́ bị quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ bất
ngờ tấn công giết chết rất nhiều. Đoàn
quân c̣n lại th́ tiếp tục đi tới Anatolia, một
thành phố thuộc phần đất Á Châu của Thổ
Nhĩ Kỳ, rồi đến bao vây thành phố Hồi
Giáo Antioch ở phía cực Nam nước Thổ. Trong lúc
đang bao vây thành Antioch, đoàn quân Thập Tự bất
ngờ bị quân Hồi Giáo Iraq kéo đến bao vây ṿng
ngoài từ ngày 21-10-1097 đến ngày 3-6-1098. Đoàn quân Thập
Tự bị kẹt ở giữa v́ thành Antioch quá kiên cố
không thể xâm nhập, trong khi đó đoàn quân Iraq lại
quá hùng hậu nên quân Thập tự không thể phá
được ṿng vây. Sau hơn 5 tháng bị
vây hăm quá chặt, quân Thập tự bị cạn hết
lương thực nên bị chết đói rất nhiều.
Cuối cùng, ngày 3-6-1098, đoàn quân Thập Tự buộc
ḷng phải chấp nhận một trận quyết tử
để mở đường máu phá vỡ ṿng vây của
quân Hồi giáo Iraq.
Đoàn quân Thập
Tự tiếp tục lên đường trong hơn một
năm mới tới được
Cuộc chiến tranh thứ nhất
của đoàn quân Thập Tự Công Giáo La Mă (The First
Crusade) là một ấn tượng ghê tởm nhất đối
với người Hồi Giáo và Do thái giáo, và là một bài
học kinh nghiệm nhớ đời cho toàn thế giới
Hồi Giáo về sự man rợ khủng khiếp của
bọn tín đồ Công Giáo cuồng tín. Tuy nhiên, cũng do
cuộc chiến tranh này mà người Âu Châu đă có cơ
hội hiểu biết về thế giới Ả Rập
và Hồi Giáo. Họ không ngờ thế giới
Hồi Giáo quá rộng lớn, bao trùm một vùng lănh thổ
từ Bắc Phi qua Âu Châu tới tận Viễn Đông.
Họ không ngờ Hồi Giáo cũng là một nền
văn minh, trong đó có môn toán học tiến bộ vượt
xa Âu Châu. Cũng từ đó, người Âu
Châu đă dần dần tự t́m hiểu để tự
giải thoát họ ra khỏi thời đại “đen tối”
(The Dark Age).
Về bằng chứng giết
người tàn bạo của quân Thập Tự tại
Jerusalem trong những ngày đầu của cuộc “thánh chiến”
hiện nay vẫn c̣n một chứng tích lịch sử
độc đáo. Đó là bức thư của vị
tướng tổng chỉ huy quân Thập Tự gửi từ
Jerusalem về Vatican để báo cáo các tin mừng chiến
thắng lên Giáo hoàng Urban II. Bức thư
này hiện được lưu trữ tại Văn khố
của Ṭa thánh. Trong thư có đoạn
viết như sau: “Đức thánh cha có biết
chúng con đă đối xử với kẻ thù của
chúng ta ở
“Ṭa Thánh
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Thứ Hai (1147-1149)
Nguyên nhân dẫn đến cuộc
Thập Tự Chinh thứ hai (The Second Crusade) là do biến cố
quân Hồi Giáo thuộc giáo phái Sunni từ các nước Ả
Rập và Thổ Nhĩ Kỳ tấn công tái chiếm tỉnh
Edessa thuộc Vương quốc La Tinh Jerusalem. Để thực hiện quyết tâm phục thù,
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Thứ Ba (1190-1192)
Đối với
Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo th́
Nỗi vui mừng
chiến thắng của Hồi Giáo càng lớn bao nhiêu, th́
nỗi đau của Vatcian và Giáo Hội Công Giáo càng thấm
thía và ê chề bấy nhiêu. Do rút tỉa của những kinh nghiệm thất
bại trước đây, lần này Vatican chuẩn bị
chu đáo hơn với sự hội ư của ba ông vua
đầy quyền lực tại Âu Châu là vua Pháp, vua Đức
và đặc biệt là vua Anh Richard I – người
được mệnh danh là “Richard Trái tim Sư tử”
(Richard The Lion-Hearted). Cũng xin nói thêm đây là Giáo Hội
Công Giáo Anh tách rời khỏi giáo quyền
Cuộc Thập Tự Chinh thứ
ba có tới 3 hoàng đế Âu châu điều khiển nên
các sử gia thường gọi cuộc Thập Tự
Chinh này là “Cuộc Thập tự chinh của các vua” (The
Crusade of the Kings). Vua Anh đích thân điều
khiển cuộc viễn chinh từ 1190 cho đến khi
chiến dịch kết thúc vào năm 1191. Trong hai năm chinh chiến, đoàn quân chữ Thập
tái chiếm hầu hết lănh thổ của Vương quốc
La Tinh Jerusalem. Nhưng thành phố quan trọng
nhất là thánh địa
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Thứ Tư (1201-1204)
Giáo Hội Công Giáo La Mă rất
thù ghét Giáo Hội Chính Thống Giáo (The Eastern Orthodox Church) là
một giáo hội Thiên Chúa Giáo tách rời khỏi giáo quyền
Vatican vào giữa thế kỷ 11. Trong thời gian quân Thập
Tự chiếm đóng Jerusalem, các tín đồ đạo
Chính Thống Giáo ở Âu châu bị cấm không được
hành hương đến thánh địa. Các
giáo dân và tu sĩ đạo Chính Thống Giáo tại
Ḥa ước
Byzantine - Thổ Nhĩ Kỳ làm cho mối bất ḥa giữa
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Thứ Năm (1217-1221)
Cuộc Thập Tự Chinh thứ
năm không có một nguyên nhân chính trị hay tôn giáo nào mà
hoàn toàn do sự bốc đồng của vua Andrew nước
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Thứ Sáu (1228-1229)
Cuộc Thập Tự Chinh lần
này do
* - Cuộc Thập Tự
Chinh Cuối Cùng (1248-1254)
Lư do dẫn đến cuộc
Thập Tự Chinh thứ 7 là vụ quân Hồi Giáo định
chiếm lại thánh địa
Đến năm 1291, quân Hồi
Giáo chiếm lại tất cả những phần đất
đă mất về tay đoàn quân Thập Tự trước
đây, chấm dứt hoàn toàn Vương quốc La Tinh
Jerusalem sau 195 năm tồn tại. Cũng xin
nói thêm ở đây là trong lịch sử các cuộc “thánh
chiến” của đoàn quân Thập Tự có hai vua Pháp tên
Louis tham dự. Vua Louis VII bị thất
bại nhục nhă trong cuộc Thập Tự Chinh lần
thứ hai (1147-1149) và vua Louis IX bị thất bại trong
cuộc Thập Tự Chinh cuối cùng (1248-1254). Tuy
nhiên, Louis IX là con cưng của vatican nên
ông vua kém tài này đă được Vatican Phong Thánh. V́ thế, người Pháp không c̣n gọi là vua
Louis IX nữa mà gọi là
Ngày nay khi đọc lại
các cuộc “thánh chiến” của các đoàn quân Thập Tự
thời Trung Cổ, chúng ta sẽ gặp nhiều tài liệu
lịch sử đưa ra những con số khác nhau về
những cuộc chiến tranh của quân Thập Tự. Có
tài liệu nói là 6 trận, có tài liệu nói 7, 8 hoặc nhiều
hơn. Lư do chính yếu làm cho các sử gia bối rối
không thể nêu lên con số chính xác về cuộc chiến
của Thập Tự quân kéo dài gần 2 thế kỷ (195
năm). Trong thời gian dài dằng dặc đó đă xảy
ra nhiều cuộc chuyển quân của Thập Tự quân
giả dạng làm những đoàn người đi hành
hương hoặc đoàn người đi buôn bán... Nhưng sau đó vẫn có thể thực hiện
được những cuộc tấn công vào quân Hồi
Giáo. Một điều phức tạp hơn nữa
là sau thế kỷ II, nhiều giáo hội Công Giáo Âu Châu tách
rời khỏi giáo quyền Vatican như Chính Thống Giáo,
Anh giáo và Tin Lành. Th́
Các cuộc chiến tranh của
quân Thập Tự tại Trung Đông trong thời Trung Cổ
và có thể nói rằng c̣n kéo dài đến ngày nay đă làm
cho tệ nạn buôn bán nộ lệ và t́nh dục trở
thành một kỹ nghệ phát đạt. Ngày
xưa các phe Hồi Giáo cũng như quân Thập Tự khi
giao chiến đều chú tâm bắt sống tù binh và bắt
các thường dân ở các vùng chiếm đóng để
đem bán tại các chợ ở khắp miền Trung
Đông. Các
thiếu phụ, thiếu nữ đẹp luôn
luôn là món hàng đắt giá nhất được các nhà
giàu hoặc các quan quyền của cả hai phía mua về
làm t́ thiếp hay nô lệ t́nh dục. Trước đây
vài năm (từ năm 2000 trở về trước) các bộ
lạc nhỏ cũng thường đánh nhau và bắt các
thiếu nữ trẻ trong vùng họ chiếm đóng,
để trao đổi hay bán lại cho các bộ lạc
khác để làm nô lệ t́nh dục, nhiều nhất là chế
độ Taliban Afghanistan khi
chưa xụp đổ.
Trong suốt 195 năm “thánh chiến”
giữa những người Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo là một
giá máu quá đắt mà con người phải trả cho
tham vọng của những kẻ điên cuồng, họ
lợi dụng tôn giáo để bành trướng quyền
lực và mưu đồ thống trị thế giới
bằng thần quyền. Chỉ tính riêng năm 1095, Giáo
hoàng Urban II đi khắp các nước Công Giáo Âu Châu kích
động quần chúng tín đồ Công Giáo đầu
quân tham gia đoàn quân Thập Tự hoặc đóng góp tiền
bạc để tài trợ cho “cuộc
chiến thần thánh” nhằm bảo vệ ngôi mộ của
Chúa. Nhưng “ngôi
mộ của Chúa” chỉ là chuyện hăo huyền v́ nó chẳng
bao giờ có. Nếu Chúa đă sống lại
và lên trời th́ làm ǵ có mộ của Chúa? C̣n nếu
Chúa đă bị quân La Mă đóng đinh trên thập tự
giá th́ theo luật của La Mă là mọi tử
tội đă bị hành quyết bằng cách treo trên thập
tự giá phải bị vứt xác ra băi hoang cho kên kên và chó
hoang ăn thịt. Trong lịch sử có ghi
các h́nh luật của La Mă tuyệt đối không có chuyện
xác tử tội được trao cho người nhà
đem về chôn cất tử tế ở trong mồ.
Chúa Jesus bị quân La Mă xếp vào loại tử tội nguy
hiểm chẳng lẽ lại được La Mă dành cho một
đặc ân ngoại lệ duy nhất
là trao xác Jesus cho người nhà đem về chôn trong mồ
hay sao? Chuyện ngôi mộ của Chúa Jesus là một
chuyện hăo huyền của bọn giáo sĩ
V́ vậy sử gia Lloyd M. Graham
đă viết về vấn đề này như sau: “Chúng
ta hăy quan tâm đến những cuộc chiến tranh của
thập tự quân, đó là những cuộc chiến tranh
khủng khiếp nhằm bảo vệ “ngôi mộ thánh của
Chúa” mà nó chẳng bao giờ
có thật, thế mà hơn ba triệu người đă
bị giết một cách vô ích, oan uổng trong số
đó có sáu mươi ngàn trẻ em” (“Deceptions and
Myths of the Bible”). Ba triệu sinh linh là giá máu quá
đắt mà nhân loại đă phải trả cho một
chuyện hoang đường của tà đạo thần
quyền Công Giáo La Mă. Ba triệu người đă tức
tưởi chui xuống những nấm mồ có thật
chỉ v́ một nấm mồ không có thật của một
người được mệnh danh là Chúa Cứu Thế !. Ngày nay chúng ta nghĩ ǵ về những
chuyện hoang đường như đă nói ở trên, hay
là chúng ta c̣n u tối nghe theo những tên
đại bịp được mang danh là: “Những
người đi rao giảng t́nh thương của Chúa”.
Thái Sơn