Chiến Lược Domino Trung Cộng tại Việt Nam

 

Chúng ta thử bàn về một thế chiến lược domino mới của Trung Cộng hiện nay tại Việt Nam.

 

      

Từ ngàn xưa, chiến lược quân sự cũng giống như ta đánh cờ. Nước cờ cao có nghĩa là đưa hay dồn quân địch vào cái thế phải thua, phải cầu ḥa hay đầu hàng, phải rút lui hay bỏ chạy. Khi đưa quân địch vào cái thế yếu hay thua th́ quân đội mạnh vô địch cũng phải thua. Nhất là khi quân đội ấy lại không có tướng giỏi cầm quân để phá cái thế trận bất lợi. Chiến lược quân sự không nhất thiết là phải ra quân, bài binh bố trận để đánh nhau để quyết định thắng hay bại, được hay thua! Thời đại văn minh ngày nay, chiến tranh và chiến lược quân sự đă khác xưa rất nhiều.  Hiện nay ta thấy Bắc Kinh đang bao vây Hoa Kỳ, đang gián tiếp dồn Hoa Kỳ vào cái thế bị động mà không thể trả đ̣n, trả đũa. Nếu Hoa Kỳ không có tướng giỏi cầm quân, hoặc "có vẻ" lộn xộn nội bộ như hiện nay (8/2002) th́ có thể cầm chắc cái thế yếu hay là cái thế phải thua.

 

1. Trung Cộng vẫn coi Hoa Kỳ là kẻ thù!

Ngày 25/12/1998, trong một cuộc họp tối mật với các tư lệnh quân binh chủng Hoa Lục, chủ tịch Trung Cộng  Giang Trạch Dân trong một bài diễn văn với lời lẽ mạnh mẽ đề ra sứ mạng "lớn nhất thế giới" cho quân lực Trung Cộng phải thực hiện. Họ Giang cho rằng chủ nghĩa "bá quyền và quyền lực chính trị c̣n tồn tại", ngụ ư Hoa Kỳ.  Do đó, họ Giang kêu gọi nhân dân Trung Cộng  quyết tâm bảo vệ sự thống nhất đất nước và chủ quyền lănh thổ! Giang nhắc nhở các tư lệnh quân đội rằng 2.9 triệu thành viên trong quân đội Giải Phóng Nhân Dân (People's Liberation Army - PLA) được đặt dưới sự lănh đạo của đảng Cộng sản. Họ Giang hứa đảng CS sẽ hậu thuẫn cho việc tối tân hóa quân đội để có thể "chống đỡ" những cuộc tấn công phủ đầu, cũng như các cuộc chiến tranh qui ước và chiến tranh nguyên tử.

Đáng lẽ bài diễn văn này không được tiết lộ v́ tỏ vẻ chống Mỹ ra mặt. Nhưng v́ bị lộ ra ngoài và đă đến giai đoạn cần phải lật ngửa ván bài nên Bắc Kinh đành phải cho công bố công khai khoảng 2 tuần lễ sau. Trong vấn đề lộ liễu này, Bắc Kinh cũng muốn ra mặt công khai chống Mỹ và đối phó với sự liên minh pḥng thủ Đông Bắc Á Châu của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và Bắc Phi Luật Tân. Hoa Kỳ và Nhật Bản đă chuẩn bị gắn một hàng rào "hỏa tiễn chống hỏa tiễn" (a cordon of anti-missile missiles) để ngăn chận mọi cuộc tấn công bằng hỏa tiễn từ phía Bắc Hàn và Hoa Lục nhắm vào Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan.

Quan niệm chiến tranh ngày nay không c̣n là sử dụng những số quân khổng lồ, hàng triệu quân. Mọi người đều quan tâm sử dụng kỹ thuật chiến tranh tối tân nhất. Đó là "bom bay" hay là hỏa tiễn (tên lửa) nhiều cỡ, nhiều loại khác nhau. Hỏa tiễn đă trở nên yếu tố quyết định trong bất cứ một trận chiến tranh nào trong thế kỷ 21.

Các hỏa tiễn tầm trung và ngắn của Bắc Hàn và Trung Cộng c̣n trong t́nh trạng thô  , có thể bị ngăn chận dễ dàng. Vấn đề người Mỹ có thể ngăn chận hỏa tiễn Liên Lục Địa (ICBM's) của Trung Cộng bằng hỏa tiễn hay bằng phương pháp nào khác th́ c̣n là một bí mật quốc pḥng, không ai biết rơ. Nhưng không ai dại ǵ đợi đến lúc hỏa tiễn khai hỏa rồi mới tính ngăn chận. Người ta cần phải tiêu diệt những bàn tay, hay cánh tay, có thể bấm c̣ súng, hay châm mồi lửa chiến tranh. Hiện nay ta thấy có nhiều "cánh tay" của Bắc Kinh: đó là Bắc Hàn, I-Rắc, Miến Điện, Cộng sản Việt Nam, Mă Lai Á, du kích quân Colombia và các băng đảng buôn lậu ma túy ở khắp nơi trên thế giới. Trong các cánh tay này, th́ Cộng sản Hà Nội là cánh tay quan trọng nhất.

Một mặt khác nằm trong kế hoạch "Vây Ngụy Cứu Triệu" là Bắc Kinh cần phải gây một điểm nóng phía Đông để tạm thời giảm áp lực (quân sự Hoa Kỳ) cho I-Rắc. Đây cũng là buộc Mỹ phải đương đầu với 3 mặt trận lớn cùng một lúc. Đó là Trung Đông, Bắc Á Châu và Đông Nam Á Châu. Ngoài ra c̣n một mặt trận thuộc chiến tranh ma túy, tuy nhỏ hơn nhưng không kém phần quan trọng và ngay tại Mỹ Châu, đó là ủng hộ quân du kích Mác Xít FARC, chiến tranh khủng bố, phát động chiến tranh du kích mạnh mẽ hơn nữa tại nơi sản xuất cocaine lớn nhất thế giới: xứ Colombia ở Trung Mỹ.

Vào thời điểm viết bài này, tháng 8, 2002, th́  nhiều  mặt trận, tạm gọi là "điểm nóng" v́ chưa hẳn có chiến tranh, đă sửa soạn xong. Đó là Trung Đông, Bắc Á Châu và Colombia.  Tại Colombia, quân du kích Mác Xít đă được Bắc Kinh trang bị đầy đủ đang chiếm đóng các vùng sản xuất lá coca. Quân du kích sẽ trực tiếp bảo vệ các cơ sở chế biến là coca thành bột tinh chế cocaine. Những số lượng khổng lồ cocaine sẽ được đưa đi phân phối và đầu độc toàn thế giới và để làm giầu cho Trung Cộng hàng trăm tỷ đôla mỗi năm. Mạng lưới phân phối ma túy heroin và cocaine từ các vùng Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Lưỡi Liềm Vàng (Golden Sickle) A Phú Hăn, Tam Giác Vàng, Colombia và Peru là các băng đảng người địa phương và người Hoa có mặt trên khắp thế giới.

Vào cuối tháng 1, 2002, th́ Trung Cộng đang mở một mặt trận thứ tư, có thể gọi là nặng nề, nguy hiểm nhất. Đó là ngay trên biển Nam Hải (South China Sea), trực diện với Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ!

 

2. Hà Nội sửa soạn chiến tranh?

Ngay sau khi Hoa Kỳ công bố bang giao với Cộng sản Hà Nội, ngày 11 tháng 7, 1995, th́ Trung Cộng ra lệnh cho Cộng sản Bắc Việt sửa soạn nhà máy lọc dầu Dung Quất và đường ṃn Trường Sơn (Hồ chí Minh) thành các cơ sở chiến tranh. Nhà máy "lọc dầu" Dung Quất thật ra chỉ là cái vỏ ngoài. Cái chuyện bao giờ xây xong nhà máy lọc dầu là điều không vội vă. Nhưng khu vực Dung Quất sẽ được dùng làm kho chứa xăng dầu.  Các ống dẫn dầu nhỏ loại 4 inches (10 cm) từ Dung Quất sẽ băng ngang qua Trường Sơn và Căm Bốt để tiếp tế các xe tăng và cơ giới nặng tiến đánh Thái Lan. Đường Trường Sơn sẽ được trải nhựa để tiện chuyên chở hỏa tiễn tầm trung từ Hoa lục xuống phía Nam, chiếu thẳng vào các nước Á Châu và Đệ Thất Hạm Đội. Việt Cộng tuy miệng nói không có tiền, nhưng vẫn huy động hàng chục vạn thanh niên xung phong đi đắp đường Trường Sơn, tuy không trải nhựa nhưng tạm thời có thể cho xe chở hỏa tiễn di chuyển.

Ngày 2 tháng 3, 1998, Trung Quốc loan báo đặt một trạm theo dơi vệ tinh và một tổng đài điện thoại viễn liên trên đảo Yong Xing trong quần đảo Hoàng Sa (Pacarels).  Các đường liên lạc điện thoại giữa Hoàng Sa và các đảo Macclesfields (Nansha và Zhongsha), Mischief Reef và Pattie (Việt Nam) thuộc Trường Sa (Spratly islands) cũng đă được thiết lập. Kỹ thuật phóng hỏa tiễn hiện nay rất cần sử dụng vệ tinh để hướng dẫn tới mục tiêu thật chính xác. Nếu Trung Cộng dùng vệ tinh do thám (spy satellites) th́ trạm theo dơi vệ tinh ở Hoàng Sa của Bắc Kinh có thể đặt toàn thể Đệ Thất Hạm Đội, vị trí từng chiếc tầu và sự di chuyển, trong ṿng kiểm soát của họ.

Năm 1996, sân bay tại quần đảo Hoàng Sa (Paracels) được nới rộng, kéo dào từ 1,500 mét lên đến 3,000 mét. Trung Cộng nói rằng để tiện dùng cho máy bay phản lực dân sự chở "du khách" hạ cánh!

Trung Cộng đă mướn 2 ḥn đảo nhỏ của Miến Điện (Myanmar) án ngữ ngay lối vào eo biển Malacca (Malacca Strait) từ phương Tây lại. Các tầu biển từ phương Tây đều phải đi qua 2 ḥn đảo này trước khi qua eo biển Malacca vào biển Đông để đi khắp Á Châu.  Tại 2 ḥn đảo này, Bắc Kinh đă xây dựng các cơ sở pḥng thủ và kiểm soát các tầu bè qua lại. Bất cứ lúc nào Bắc kinh cũng có thể gây rắc rối để chận con đường dương vận quan trọng vào bậc nhất thế giới này.

Nh́n chung, các cơ sở do Trung Cộng xây dựng từ Hải Nam, Hoàng Sa, Trường Sa sang đến Miến Điện đều là các mắt xích liên tục để trở thành một thứ pháo đài kiểm soát toàn bộ biển Đông. Khi các cơ sở này xây dựng xong, th́ Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tự thấy không là sức mạnh duy nhất tại Đông Nam Á.

Từ đầu năm 1998, Bắc Kinh ra lệnh cho Cộng sản Hà Nội phải xây dựng các cơ sở và tiện nghi trên đảo Pattie, trị giá khoảng 4 triệu đôla, để phục vụ quân lực Trung Cộng. Khi làm xong th́ đầu tháng 8, 1998, Trung Cộng lên tiếng "đ̣i" Việt Cộng phải tháo gỡ hết các cơ sở v́ toàn thể quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng.

Mới nghe người ta tưởng hai bên Bắc Kinh và Hà Nội lại tranh chấp chủ quyền và vấn đề biên giới. Nhưng đây chỉ là Bắc Kinh và Hà Nội đóng "kịch" chống nhau, để che đậy một ư đồ khác. Một dụng ư khác của Bắc Kinh là răn đe các nước khác, nhất là Phi Luật Tân, rằng không được xây cất ǵ trên bất cứ đảo nào tại Trường Sa. Một dụng ư khác nữa là để cho Hà Nội "có cớ" mua hỏa tiễn Con Muỗi và các vũ khí khác mà mọi người đều tưởng lầm là sẽ dùng để chống Trung Cộng!

Sau khi lên tiếng về vụ Việt Cộng xây cất tại Trường Sa th́ người ta thấy Bắc Kinh cử một phái đoàn hùng hậu đến Hà Nội ngày 17/9/98, do Ủy Kiện Hành dẫn đầu. Ủy Kiện Hành là nhân vậy thứ 4 trong 5 người của  Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị Trung Cộng.  Mục đích của Ủy Kiện Hành tại Hà Nội được giữ bí mật nhưng hoàn toàn không đả động đến vấn đề Việt Cộng xây dựng ở Trường Sa cho đến ngày nay . Ủy Kiện Hành chỉ lên tiếng khen ngợi cựu tổng bí thư Đỗ Mười rằng đă tích cực hợp tác với Bắc Kinh từ năm 1991 khi Mười lên cầm quyền. Hành không hề đả động đến Lê Khả Phiêu để khỏi tuyên bố rằng đă nói chuyện ǵ với tên này. Hành cũng ra lệnh cho Đỗ Mười và thủ tướng CS Phan văn Khải phải đi Bắc Kinh để kư kết với tư cách đại diện cho Đảng và cho Chính Phủ.

Đầu tháng 10, Đỗ Mười đi Bắc Kinh và mau chóng kư kết, với tư cách đại diện cho đảng CSVN, một hiệp ước hợp tác quân sự bí mật với Trung Cộng. Ngày 20 tháng 10, 1998, thủ tướng CS Phan văn Khải đi Bắc Kinh và gặp Chu Dung Cơ. Thủ tướng Trung Cộng nói rằng "Cả tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và cựu tổng bí thư đảng CSVN đă đạt được một thỏa hiệp quan trọng, dựa theo mối quan hệ chiến lược Việt Hoa...." Kết quả Khải cũng phải kư một hiệp ước bí mật với Tầu, nhân danh thủ tướng chính phủ Cộng sản.

Sau khi kư kết xong với Bắc Kinh, Mười quay về Hà Nội để báo cáo và tường tŕnh toàn bộ sự thỏa thuận và kư kết. Lập tức Bộ Chính Trị mời ngay bộ trưởng Quốc pḥng Nga đến Hà Nội để thương lượng việc mua bán vũ khí cùng với vấn đề tiền thuê vịnh Cam Ranh.  Ngày 18 tháng 10, 1998, bộ trưởng Quốc Pḥng Nga, Igor Sergeyev, đến Hà Nội để kư kết vấn đề hợp tác kỹ thuật quân sự giữa hai nước. Cộng sản Hà Nội muốn có vũ khí Nga và phụ tùng dự trữ để hiện đại hóa quân đội Hà Nội muốn mua thêm 24 chiến đấu cơ loại tối tân SU-27 trị giá 800 triệu đôla cộng vào với 12 chiếc SU-27 đă mua từ đầu năm 1997, cùng với nhiều máy bay MiG-29, tầu tuần phóng ngư lôi, tầu diệt lôi và các tầu trang bị dàn phóng phi đạn Molnya. Hai tầu phóng phi đạn Molnya đă được giao trong ṿng quư I, năm 1999. Hà Nội cũng mang gạo sang Bắc Hàn để mua 2 tầu ngầm loại bỏ túi để chở gián điệp xâm nhập các bờ biển. Tổng cộng số tiền mua vũ khí trị giá hơn 2 tỷ đôla.

Vấn đề mua vũ khí Nga th́ tham nhũng Cộng sản Hà Nội đă ăn rất bạo. Tháng 5 năm 1998, người Mỹ mua 19 phi cơ MIG 29 của Kazakhstan với một giá rẻ mạt là 14 triệu đôla.  Người Mỹ cần mua để khỏi lọt vào tay I-Rắc. Chuyên viên quốc pḥng Mỹ bay gấp sang tháo gỡ rời các máy bay rồi chất lên vận tải cơ khổng lồ của Mỹ chở về nước. 24 máy bay Su-27 của Nga bán theo giá phế thải, bán đổ bán tháo, v́ máy bay không thể đậu không lâu ngày, sẽ trở thành sắt vụn. Như vậy 24 máy bay Su-27 cao lắm là 30 chục triệu. Tham nhũng Hà Nội tính giá trên 30 triệu đôla cho 1 chiếc SU-27 hay là 800 triệu đôla cho 24 chiếc!

Đầu tháng 1, 1999, chính quyền Cộng sản Hà Nội đặt mua của Nga nhiều hỏa tiễn "Mosquito" (Con Muỗi) để chống tầu chiến. Hỏa tiễn Con Muỗi bay với tốc lực siêu thanh với tầm xa gần 80 dậm (120 cây số), bay theo kiểu hỏa tiễn "cruise", tức là bay ở cao độ rất thấp sát mặt biển, cao không quá 10 mét, nên có thể vô hiệu hóa hệ thống chống hỏa tiễn gắn trên chiến hạm của Hoa Kỳ. Sức bay thật nhanh trong một khoảng cách ngắn sẽ làm cho chiến hạm Mỹ không kịp đối phó, trừ phi phải bắn tan tầu địch ngay từ xa. Hỏa tiễn Con Muỗi sẽ tăng cường mạnh mẽ khả năng tác chiến của hải quân Cộng sản Việt Nam trong trường hợp có xung đột trên biển.

Trung Quốc cũng đặt mua nhiều hỏa tiễn Con Muỗi. Cuối năm 1998, tại căn cứ hỏa tiễn Wu Zhai, Trung Cộng  đă sửa soạn phóng "thử" hỏa tiễn Liên Lục Địa (ICBM's) DF-31 trên dàn phóng lưu động. Hỏa tiễn DF-31 có tầm xa 5,000 dậm (8,000 cây số), mang đầu đạn nguyên tử có sức công phá tương đương nửa triệu tấn TNT (half-megaton), hay là gấp 25 lần trái bom nguyên tử ở Hiroshima.  Trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima có sức mạnh tương đương 20 kilotons, hay là 20,000 tấn TNT.

Với dàn phóng lưu động, Trung Cộng đă tiến một bước thật xa trong lănh vực chiến tranh nguyên tử. Trong khi dàn phóng cố định có thể bị phá tan ngay trong thời gian khởi sự chiến tranh th́ dàn phóng lưu động có thể phóng hỏa tiễn phản công ngay. Tuy nhiên, cuộc phóng thử chỉ là xử dụng dàn phóng, chứ không dùng hỏa tiễn thật. Có lẽ con số hỏa tiễn của Trung Cộng c̣n ít nên họ phải tiết kiệm. Trung Cộng đă gửi rất nhiều gián điệp MSS (Military Secret Services) đi khắp nước Mỹ để lùng kiếm những tài liệu và sáng chế mới của kỹ thuật khoa học Hoa Kỳ. Làm như vậy, Bắc kinh sẽ tiết kiệm rất nhiều tiền bạc và thời giờ trong cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ.

Ngày 1 tháng 5, 1998, Cơ Quan T́nh Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) đă điều trần trước Quốc Hội Mỹ rằng Trung Cộng đă đặt 13 hỏa tiễn Liên Lục Địa hướng thẳng vào Hoa Kỳ.  Đầu tháng 11, 1998, Ngũ Giác Đài đă tŕnh lên Quốc Hội Mỹ rằng Trung Cộng đang chế tạo các dàn phóng tia "la de" để phá hủy các vệ tinh, và một thứ tia "la de" có khả năng phá hủy các hệ thống cảm từ (sensor) trên các vệ tinh gián điệp (spy satellites) của Mỹ. Do vậy, Trung Cộng có thể làm tê liệt các vệ tinh và phi cơ quân sự và t́nh báo của Mỹ. Các tia la-de ( LASER Beam ) này cũng có thể sử dụng để gián đoạn hay nhiễu loạn các vệ tinh thương mại và hệ thống thăm ḍ (scanning and probing) trong trường hợp xẩy ra chiến tranh thông tin (communications). Trung Cộng đă thành công kỹ thuật để có thể chế tạo vũ khí chống vệ tinh.

Vấn đề chống hay phá hủy được vệ tinh các loại vô cùng quan trọng. Các hỏa tiễn liên lục địa, máy bay bay xa, phần nhiều đều được kiểm soát và hướng dẫn bằng vệ tinh. Nếu làm tê liệt các vệ tinh này th́ toàn bộ hỏa tiễn và máy bay tầm xa cũng bị tê liệt luôn.

Ngày 22 tháng 7, 1998, chủ tịch Giang Trạch Dân sau khi họp Quân Ủy Trung Ương (Central Military Comission), trung tâm quyền lực mạnh nhất Trung Hoa, đă dứt khoát buộc quân đội phải ra khỏi doanh nghiệp, trao các cơ sở quân doanh cho bên dân sự.

Bắc Kinh viện cớ quân đội kinh doanh tại ra tham nhũng. Nhưng sự thật không phải vậy. Tất cả đều nằm trong vấn đề chuẩn bị cho quân đội có thể tác chiến, hoặc sơn cho quân đội một nước sơn tác chiến. Khi chuẩn bị lực lượng quân sự mạnh để đối phó với bên ngoài th́ họ Giang cũng phải lo đối phó với nội bộ bên trong. Quân đội sẽ là một lực lượng an ninh nội địa để bảo vệ đế quốc, chống lại mọi thứ nội loạn, nổi dậy.

Cuối tháng 12, 1998, Giang Trạch Dân đọc một bài diễn văn cứng rắn, cho hay là "sẽ dẹp tan mọi thách đố đối với đảng Cộng sản Trung Quốc và ra lệnh mọi mầm mống chống đối phải bị tiêu diệt từ trong trứng nước"!

Người ngoài nh́n vào lực lượng quân sự Trung Cộng sẽ không coi thường là một quân đội chỉ biết làm ăn buôn bán mà không biết đánh nhau.  Những cơ sở quân doanh được giao cho bên dân sự đều là những thứ nhỏ. Những cơ sở quân doanh lớn, nhất là về mặt chế tạo vũ khí đều do quân đội tiếp tục quản lư.

Sau khi kư kết xong với Cộng sản Hà Nội th́ họ Giang tính đến bảo vệ phía sau lưng hay là mặt biên giới với nước Nga. Ngày 23 tháng 11, 1998, Giang đi Nga và cố gắng gặp TT Yeltsin dù ông này đang dưỡng bệnh trong bệnh viện v́ bệnh sưng phổi.

TT Yeltsin dĩ nhiên phải bảo đảm với họ Giang là Nga sẽ không gây rắc rối biên giới. Ông Yeltsin hiểu rằng Giang quá lo âu vấn đề đối phó với Mỹ. Người Nga chỉ cần có chuyện lộn xộn, lung tung, để có thể bán vũ khí, lấy tiền. Tâm lư của các lái súng là cứ bán vũ khí cho bất cứ ai, để rồi "nhờ" Mỹ phá hủy tiêu tùng và lại được bán thêm nhiều nữa lấy tiền bỏ túi.

 

3. Trung Cộng gia tăng áp lực trên biển Đông và Trường Sa.

Trong tháng 10 và 11, 1998, các trận băo lớn, nhất là trận băo số 4 và số 5, đă quét sạch đường Trường Sơn. Trừ phi được xây dựng theo kỹ thuật tối tân và tốn tiền nhất như của Mỹ, đường Trường Sơn không thể chịu đựng nổi quá hai mùa mưa. Mỗi năm đều “phải” có mưa vào giữa năm và cuối năm.

Nhưng việc quân sự không thể ngưng v́ một vài trận mưa hay băo. Hơn nữa, Cộng sản Hà Nội đă kiệt quệ tiền bạc, không thể xây dựng khu vực Trường Sơn và Hạ Lào thành một thứ pháo đài khổng lồ để chế ngự biển Nam Hải. Công tŕnh xây dựng Trường Sơn có thể vĩ đại không kém công tŕnh xây dựng Đập Thủy điện Tam Khẩu trên sông Dương Tử. Thời gian cũng cần phải hàng chục năm. Sức lực "con kiến" của Hà Nội th́ làm sao kham nổi? Lập tức, Trung Cộng quay sang mặt biển hay là Trường Sa. Do đó ta thấy Bắc Kinh và Hà Nội đều cùng mua hỏa tiễn chống tầu chiến của Nga. Mục đích rơ rệt của họ là nhắm vào tầu chiến Mỹ của Đệ Thất Hạm Đội.

Trường Sa (Spratly islands) là một quần đảo với hơn 200 đảo trải rộng suốt con đường hàng hải chiến lược trong vùng biển phía Nam Trung Hoa. Có tới 6 xứ tuyên bố có chủ quyền đối với Trường Sa. Đó là Trung Cộng, Việt Nam, Đài Loan, Mă Lai Á và Phi Luật Tân. Brunei nói có chủ quyền ở một đảo.

Từ đầu năm 1998, Hà Nội đă cho xây dựng một cơ sở làm căn cứ tiếp tế cho tầu biển, được gọi là tầu đánh cá trên đảo Đá Tây (Orleans shoal và Kingston shoal - người Tầu gọi là Aonan và Jindun). Căn cứ này trị giá 4 triệu đôla gồm có các hồ chứa, cột neo tàu, các khu nhà ở, trạm phát điện, bơm nước và hồ chứa nước ngọt, bồn chứa nhiên liệu, băi đáp cho phi cơ trực thăng, hệ thống điện, các đường ống dẫn nước, dẫn dầu và toàn bộ chắn và cản sóng biển.

Trung Cộng làm bộ lên tiếng phản đối Việt Cộng đă xây dựng các cơ sở này và đ̣i Hà Nội phải tháo gỡ. Nhưng thật sự th́ Việt Cộng xây dựng các tiện nghi này cho Bắc Kinh sử dụng! Sự lên tiếng phản đối của Trung Cộng  chỉ để răn đe các nước khác như Phi Luật Tân, có thể bắt chước thi đua xây dựng trên vùng đảo Trường Sa.

Đầu tháng 11, 1998, Thượng viện Phi Luật Tân cứu xét việc phê chuẩn cho lính Mỹ trở lại Phi để ngăn Hoa Lục tại biển Đông. Bộ trưởng Quốc Pḥng Phi, Orlando Mercado, đă kêu gọi và mời quân Mỹ trở lại Phi Luật Tân, 7 năm sau khi Thượng viện nước này ra lệnh đóng cửa tất cả các căn cứ Hoa Kỳ tại đây. Giáo hội Thiên Chúa Giáo Phi phản đối việc này, nói rằng lính Mỹ đến sẽ gây ra nạn măi dâm! Điều này hơi lạ lùng v́ Giáo Hội Thiên Chúa Giáo (TCG) có vẻ không quan tâm đến an ninh quốc pḥng của quốc gia Phi Luật Tân. Giáo hội làm như nếu không có sự hiện diện của lính Mỹ th́ Phi Luật Tân không bao giờ có măi dâm chăng?  Nhưng tại sao vấn đề an ninh quốc pḥng lại cần phải có ư kiến hay là sự đồng ư một một giáo hội ngoại quốc?.

Sau khi kêu gọi và mời quân Mỹ, cuối tháng 11, 1998, ngoại trưởng Phi Domingo Siazon cho hay Trung  Cộng đă từ chối lời yêu cầu của Phi Luật Tân trong việc triệt hạ những cơ sở do dân công Trung Cộng mới làm lớn ra tại vùng đảo Vành Khăn (Mischief Reef), nơi cả hai nước đều cho rằng ḿnh có chủ quyền. Đảo này cách xa đảo Palawan của Phi chỉ có 190 cây số, trong khi đảo Hải Nam của Trung Cộng cách xa gần 1,000 cây số.

Trung Cộng vẫn cả quyết rằng những kiến trúc trên đảo này chỉ là những khu cư trú cho ngư dân và cơ xưởng sửa chữa tầu thuyền khi cần thiết.

Tháng 12, 1998, dân biểu Rohrabacher ( CH-Calif ), một người quen thuộc của người Việt tại Calif, đă đến tận đảo Vành Khăn để nh́n tận mắt các kiến trúc tại đây mà người Tầu gọi là "dân sự" dành cho tầu đánh cá và các ngư phủ. Dân biểu Rohrabacher đă thấy rơ có 3 chiến hạm Trung Cộng đậu tại đây. Cái cơ sở "đánh cá" này nguy nga đồ sộ như dinh một vị thống đốc quần đảo Trường Sa!

Ngày 7/1/99, đại sứ Trung Cộng tại Phi Luật Tân, Quản Đăng Minh, đă phát biểu rằng cuộc tranh chấp hiện nay tại Trường Sa là vấn đề "nội bộ" của Á Châu và các quốc gia khác không nên can dự vào. Quản đăng Minh nói: "Tôi thiết nghĩ vấn đề này là giữa các quốc gia Á Châu và chúng ta có thể tự giải quyết lấy mà không cần có sự can dự của các quốc gia khác."

Ngày 12 tháng 1, 1999, bộ trưởng Quốc pḥng Phi Luật Tân loan báo Hoa Kỳ sẵn sàng đứng ra dàn xếp một cuộc hội nghị giữa Trung Quốc và 5 nước Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa. Bộ trưởng Orlando Mercado nói Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ William Cohen đă nêu ư kiến đó với ông trong một cuộc hội kiến ở Hoa Thịnh Đốn nhân dịp ông Mercado viếng thăm Mỹ tuần trước. Đó sẽ là một cơ hội để Hoa Kỳ đóng vai tṛ trung gian một cách chân thành, giải quyết những khó khăn của các nước trong khu vực.

Mấy ngày sau, ngày 14/1/99, Việt Cộng và Mă Lai Á đều không tán thành Mỹ hay phe thứ Ba nào khác can dự đến cuộc tranh chấp tại Trường Sa.

Bắc Kinh vẫn thường nói biển Đông (Nam Hải - South China Sea) là một "hồ nước" của Trung Hoa từ bao nhiêu thế kỷ nay. Bắc Kinh không muốn quốc tế hóa vấn đề (Trường Sa) và cho rằng có thể giải quyết qua đàm phán song phương. Nhưng tại sao có tới 6 nước tranh chấp mà Bắc Kinh lại chỉ đ̣i đàm phán song phương, với từng nước một?

Đây là chiến thuật bẻ gẫy từng chiếc đũa. Dụng ư đàm phán kiểu "ăn cướp" của Trung Quốc đă rơ rệt. Bắc kinh họp với từng nước cho dễ đe dọa, trấn áp.  Bây giờ Trung Quốc lại muốn gạt Mỹ ra ngoài mọi cuộc hội nghị bàn tṛn với đủ các nước tham dự, kể cả Mỹ. Vấn đề Cộng sản Hà Nội và Mă Lai Á ủng hộ quyết định của Bắc Kinh, không cho Mỹ tham dự, chứng tỏ hai nước này đều là tay sai của Bắc Kinh trong thế chiến lược đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu.

 

4. Trung Cộng muốn đuổi Mỹ ra khỏi Á châu từ bao giờ?

Chiến lược xâm lăng, bành trướng và hất cẳng Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu, của Bắc Kinh đă được khởi sự từ năm 1989, hay là với sự cầm quyền của tập đoàn Giang Trạch Dân từ sau biến cố Thiên An Môn.

Nhưng đó là Bắc Kinh tính toán như vậy. Trên thực tế, ta phải t́m hiểu điều ǵ Bắc Kinh có thể làm được, và những điều gi không thể thực hiện? Cái ǵ là giả mà cái ǵ là thật? Diện (diversion) ở đâu? Và điểm (main target, main purpose) ở đâu?

Hiện nay Giang Trạch Dân tuổi đă cao (78 tuổi). Những lănh đạo khác có thể kế vị Giang như Lư Bằng, Chu Dung Cơ và Lưu Hoa Thanh cũng cao tuổi. Trước mắt, không có lănh đạo nào trẻ tuổi hơn có đủ tư cách, tài năng để thay thế tập đoàn lănh đạo hiện nay và đối đầu với Mỹ.  Như vậy họ Giang không thể "đợi" thời cơ thuận tiện hoặc cho đến khi đủ mạnh hơn nữa để đương đầu với Mỹ. Yếu tố thời gian đă trở nên bất lợi v́ quá ngắn ngủi. Giang và tập đoàn Bắc Kinh cần phải gấp rút.

Kể từ sau biến cố Thiên An Môn, tập đoàn lănh đạo mới tại Bắc Kinh, Giang Trạch Dân và các đồng chí, đă nắm chặt Hà Nội trong tay, không cho Việt Cộng đi với Mỹ.  Đó cũng là lư do Hoa kỳ không thể tiến lại gần hơn với Hà Nội. Đồng thời Hoa Kỳ cũng coi chừng Bắc Kinh và không coi Hoa Lục là bạn hay đồng minh như thời Đặng Tiểu B́nh.

Nếu Trung Hoa vẫn b́nh thường như trong thập niên 1980s th́ không bao giờ có chuyện Bắc Kinh dám thách đố Hoa Thịnh Đốn. Dịp may cho người Tầu là sang thập niên 1990s, họ đă xuất cảng sang Mỹ rất nhiều hàng hóa với số thặng dư mậu dịch từ 40 tỷ đôla năm 1994 đến 60 tỷ đôla được  ước lượng vào năm  1999.

Đáng lẽ sẵn tiền như vậy th́ lănh đạo nào cũng phải lo cho dân được no ấm, ổn định lâu dài. Nhưng lănh đạo Bắc Kinh có tham vọng bá quyền, bành trướng, muốn đuổi theo tập quán xưa cũ này từ nhiều ngàn năm qua. Muốn bành trướng th́ phải mạnh mẽ về quân sự. Bắc Kinh "tự nhiên" móc nối được với một số hăng Hoa Kỳ cung cấp những máy móc và kỹ thuật tối tân để có thể chế tạo hỏa tiễn nguyên tử Liên Lục Địa (ICBM's).

Tháng 1, 1996, người Mỹ khám phá ra hăng máy bay McDonnell-Douglas ở Long Beach đă "nhầm lẫn" khi gửi 17 máy cắt đặc biệt cho Trung Cộng. Loại máy cắt kim loại này có thể cắt các bộ phận máy bay hay hỏa tiễn thật chính xác. Người ta cũng thấy rằng "công ty" đứng ra mua chỉ là một công ty ma, không có thật ở Bắc Kinh. 17 dàn máy này đă được chở đến Thượng Hải và mau chóng chuyển đến các cơ sở quân sự chế tạo hỏa tiễn ngầm trong núi. Không đầy 2 năm sau, cuối năm 1997, Trung Cộng đă có thể đặt nhiều hỏa tiễn Liên Lục Địa (ICBM's) chĩa thẳng vào Hoa Kỳ.

Trung Cộng đă mua của Nga 50 máy bay tấn công SU-30MK, loại hiện đại nhất, 4 tầu ngầm Diesel loại "kilo" có thể phóng hỏa tiễn nguyên tử, 70 máy bay SU-30, hai tuần dương hạm (cruisers) loại Soverenny trị giá 800 triệu đôla. Hai bên cũng thỏa thuận xây dựng dây chuyền sản xuất khu trục cơ chiến đấu SU-27 ở thành phố Thẩm Dương (Shenyang) thuộc tỉnh Liêu Ninh (Liao Ning), phía Đông Bắc Trung Quốc. Nga cũng bán cho Hoa Lục 100 hệ thống phi đạn viễn khiển, các diệt lôi hạm có gắn phi đạn, 100 hệ thống đại bác 120 ly có chuôi tự xoay và tự di động tên là 2S23 Nova-SVK.  Ngoài ra Nga cũng bán cho Trung Cộng nhiều dàn phóng hỏa tiễn loại 300 ly gọi là Smerch (MLRS).

Một viên chức Mỹ phẩm b́nh về tin này, nói: "Các vũ khí Trung Cộng đang mua hay là đang tăng cường có một dụng ư chống Mỹ (Đệ Thất Hạm Đội) rơ ràng, chứ không phải để dùng chống Việt Nam hay các nước khác trong vùng biển Nam Hải."

Trong tháng 11/1998, Ngũ Giác Đài đă báo cáo rằng Trung Cộng có thể làm tê liệt các vệ tinh, phi cơ quân sự và t́nh báo Mỹ. Trung Cộng đă xử dụng được nhiều loại tia la-de (laser beam) và tia điện tử, có khả năng phá hủy các hệ thống cảm từ (sensor) trên các vệ tinh gián điệp, làm nhiễu loạn các vệ tinh thương mại (điện thoại, truyền h́nh, điện thư) và hệ thống thăm ḍ (probing/scanning systems).

Cuối tháng 12/1998, dân biểu Chris Cox (CH-Calif) đă tŕnh một bản báo cáo tối mật dài 700 trang về t́nh h́nh Trung Cộng đă đút lót, mua chuộc bằng nhiều cách và đă thủ đắc được rất nhiều kỹ thuật quốc pḥng tối tân của Hoa Kỳ. Tuy Bắc Kinh không được đọc bản báo cáo mật này, nhưng v́ "chạm nọc", nên đă lên tiếng kịch liệt phản đối, cho rằng câu chuyện "gián điệp kỹ thuật" chỉ có dụng ư bôi xấu Trung Cộng.

Tự nhiên người ta nh́n thấy ngay ư đồ nhiều mặt của Bắc Kinh. Chiến tranh lạnh đă chấm dứt. Như vậy Bắc Kinh cố gắng vũ trang tới mức có thể gây chiến tranh nguyên tử để làm ǵ? Trong khi Bắc Kinh vẫn cần phải giao thương với Hoa Kỳ, tới mức trên 200 tỷ đôla/năm, th́ tại sao lại coi Hoa kỳ là kẻ thù phải tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử?

Một suy nghĩ khác là Trung Cộng c̣n rất yếu và phải t́m cách mua lén kỹ thuật chiến tranh của Hoa Kỳ th́ làm sao có thể ra mặt đương đầu với Mỹ bằng quân sự?

 

5. Bắc Kinh suy nghĩ về t́nh h́nh chiến lược tương lai.

        Sau vụ Thiên An Môn năm 1989, Bắc Kinh hiểu rằng họ đang có một cái núi lửa nằm ngay trong nước, chỉ đợi dịp nổ tung, tiêu diệt chế độ Cộng sản. Đó là con số sinh viên được đào tạo tại nước ngoài, nhiều nhất là tại Hoa Kỳ. Hiện nay số sinh viên tốt nghiệp ngoại quốc ở trong nước đă vượt quá 1 triệu người. Những chuyên gia, trí thức này đương nhiên trở thành giai cấp lănh đạo Trung Hoa trong tương lai không xa lắm.

Nếu đám sinh viên học thành tài ngoại quốc đều thuần túy là người Hán th́ mọi việc cũng dễ xử. Chủng tộc Hán vẫn là chủng tộc "siêu" trong hàng trăm dân tộc thiểu số khác. Nhưng có một số không nhỏ từ các chủng tộc ít người đă có những suy nghĩ và ư kiến mới mẻ. Họ thấy rơ họ bị Hán tộc cai trị với nhiều thiệt tḥi trong nhiều thế kỷ đă qua.

Họ Giang và lănh đạo Bắc Kinh đă nh́n thấy cái mầm phân hóa nằm trong đám sinh viên du học đă hấp thụ nền tự do, văn minh và dân chủ của nước ngoài. Các sinh viên đều không thích vấn đề người này áp đặt chuyên chế lên trên đầu người khác, dù đó là cùng chủng tộc hay khác chủng tộc. Hơn nữa, quyền lănh đạo chính trị và kinh tế phần lớn nằm trong tay cán bộ ít học và phải tuân theo chỉ thị, chỉ tiêu do Đảng Cộng sản đề ra.  Sự nguy hiểm là dù biết như vậy, Trung Cộng vẫn phải tiếp tục gửi sinh viên ra nước ngoài, không thể ngưng. Một khi bánh xe tiến hóa đă chuyển động th́ không ai có thể kềm giữ hay quay ngược lại.

Năm tháng qua đi, các tỉnh bang đă có một lớp người mới, trẻ tuổi và có học. Những người này chưa thể lănh đạo dân tộc ít người của họ. Nhưng họ thấy rơ rằng quyền lực trong tỉnh nằm trong tay người Hán, hay là người của Bắc Kinh, đặt  để. Bắc Kinh có chủ trương từ lâu là không bao giờ dùng người địa phương làm tỉnh trưởng hay thống đốc.

Vụ Thiên An Môn đă làm cho những sinh viên và người địa phương hiểu rằng họ không thể bạo động quá sớm. Họ phải chờ thời cơ để cướp chính quyền dành lại độc lập, tự do và quyền sống. Họ hiểu rằng tập đoàn lănh đạo Cộng sản phải bị lật đổ, chứ không có cách nào khác. Không thể có sự điều đ́nh, xin sỏ hay ḥa giải ḥa hợp.  Sự chờ đợi cơ hội để nổi dậy đă cháy âm ỉ từ lâu, như lửa trong một núi lửa.

Bắc Kinh cũng hiểu sự nguy hiểm này. Nhưng Bắc Kinh suy nghĩ khác. Các nhà lănh đạo ở Trung Nam Hải nghĩ rằng họ có nhiều kẻ địch và kẻ thù. Mà Hoa Kỳ là kẻ thù số một. Họ cho là người Mỹ đă tiếp tay và luôn luôn hỗ trợ cho bất cứ cuộc nổi dậy nào để xé thành từng mảnh và làm tan nát Trung Hoa. Như vậy, nếu "hạ bệ" được Hoa Kỳ th́  mầm  mống ly khai, nổi loạn trong nước sẽ không thể bám víu vào đâu. Chủ ư của Bắc Kinh là khuấy động bên ngoài để giữ ổn định bên trong. Nếu Trung Hoa mà dành được địa vị siêu cường, đưa Mỹ xuống hàng thứ yếu (second class power) th́ cả thế giới sẽ thần phục Bắc Kinh, không riêng ǵ các tỉnh bang!

Nếu muốn ổn định nội bộ th́ phải dùng bàn tay sắt công an trị để kềm kẹp như vẫn làm từ trước đến nay. Với dân số đông đảo, nếu có nổi dậy th́ tấm vóc quá lớn, công an, cảnh sát sẽ không đủ sức trấn áp (subdue).

Bắc Kinh suy nghĩ rằng nếu muốn theo kịp Hoa Kỳ bằng siêu kỹ thuật th́ không có th́ giờ hay tiền bạc để làm. Vậy tốt nhất là mua chuộc cho khéo để mua được các kỹ thuật tối tân nhất của Mỹ. Rồi từ đó sẽ biến chế ra cho tốt hơn và hoàn hảo hơn.  Chỉ trong một thời gian ngắn, từ đầu thập niên 1990s đến nay, Bắc kinh đă "chơi trội" trên mọi lănh vực, nhất là lănh vực siêu kỹ thuật vệ tinh, hỏa tiễn nguyên tử tầm xa, điều khiển hỏa tiễn và siêu kỹ thuật la-de và điện tử.

Người Mỹ dù muốn hay không muốn, cũng phải nh́n thấy một cuộc chiến tranh lạnh mới bắt đầu với Trung Cộng và những bộ óc chiến tranh, mưu lược ghê gớm của Bắc Kinh. Bắc Kinh hiện nay đang tự coi ḿnh ngang bằng với Mỹ trên mọi phương diện, và không cần phải "nghe" bất cứ sự khuyến cáo nào của Mỹ. Bắc Kinh ngang nhiên mang các nhà tranh đấu dân chủ, đa nguyên (quốc doanh) ra xử án tù thật nặng, với tính cách độc tài chuyên chế.

Đây là một sự thách đố Hoa Kỳ trên lĩnh vực Nhân quyền. Bắc Kinh ngụ ư rằng họ không cần phải áp dụng nhân quyền kiểu Mỹ.  Bắc Kinh dồn Hoa Kỳ vào cái thế yếu, không c̣n là siêu cường đối với Bắc Kinh. Bắc Kinh cũng ngụ ư cho cả thế giới biết rằng Hoa Kỳ "không phải" là siêu cường duy nhất! Ngôi vị đó đă lung lay rất nhiều!  Khi tới thời hạn cấp qui chế tối huệ quốc mỗi năm (tháng 5) th́ Quốc Hội sẽ không c̣n sự lựa chọn rằng "cho hay không cho"! Trái lại Quốc Hội Mỹ "bắt buộc" phải chấp thuận cấp qui chế tối huệ quốc cho Bắc Kinh vĩnh viễn, không cần phải tái tục mỗi năm, v́ Bắc Kinh muốn vậy!

Ta thấy Bắc Kinh hiện nay sử dụng chiến lược mới mẻ. Đó là bao vây Hoa Kỳ bằng các điểm nóng ở khắp nơi. Ở Trung Đông th́ có I-Rắc, Ba Tư (Iran) và hàng trăm nhóm khủng bố cảm tử, sẵn sàng đánh phá Hoa kỳ ở khắp nơi. Bắc Kinh đang cố gắng mua chuộc khối Hồi giáo với dụng ư nắm chặt nguồn sản xuất dầu lửa.  Từ Mỹ Châu (Colombia) cho tới Bắc Hàn với nhiều nhóm loạn quân sẵn sàng nổi dậy phát động chiến tranh du kích và chiến tranh ma túy. Việt Nam và Trường Sa đang trở thành một điểm nóng đe đọa trực tiếp Đệ Thất Hạm Đội hay là sự hiện diện của Hoa Kỳ.  Ngoài ra, sự tràn ngập hàng rẻ tiền Trung Cộng trên khắp thế giới cũng là một mặt trận kinh tế sẽ phá hoại kinh tế của các quốc gia.

 

6. Cộng sản Hà Nội muốn ǵ?

Hà Nội hiện nay đang tính kế "bắt bí" Hoa Kỳ! Cộng sản Hà Nội đang nợ hàng chục tỷ đôla mà không thể kiếm đâu ra tiền trả nợ đáo hạn. Nếu không trả nợ đáo hạn th́ kinh tế ngoại thương và nhập cảng có thể bị gián đoạn bất cứ lúc nào. Nguồn tiền để cấp cứu (để trả nợ) duy nhất chỉ có từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và từ hai ngân khoản của họ là ESAF (Enhanced Structural Adjustment Facility) và SAC (Structural Adjustment Credit), mà ta gọi là "giật tạm, vay sổi" với mức lời rất nhẹ.

Nhưng Quỹ IMF đ̣i hỏi phải có sự hứa hẹn chắc chắn với lịch tŕnh trả nợ thật đúng ngày. Đó là chưa kể đến vấn đề phải áp dụng sửa đổi cơ cấu (đổi mới) kinh tế. Ngoài ra, hai ngân khoản nói trên rất ít ỏi, chỉ có vài trăm triệu đôla mỗi năm. Trong t́nh h́nh kiệt quệ tài chính của Hà Nội hiện nay, th́ mấy chục triệu hay mấy trăm triệu đôla cũng quư. Nhưng Hà Nội sẽ chỉ dùng để trả nợ tạm, mua thời gian, kéo dài sự thoi thóp kinh tế trong khi ráo riết sửa soạn chiến tranh.

Quỹ IMF nh́n thấy rơ là Hà Nội đang mua vũ khí của Nga để đe dọa Mỹ. Như vậy sẽ có một màn quịt nợ hay là gây hấn, gây căng thẳng chiến tranh để khỏi trả nợ theo lối săng-ta (blackmail). Hà Nội ngụ ư "nếu các anh đừng đ̣i nợ" th́ mọi việc sẽ êm đềm, vui vẻ. Nếu các anh cứ đ̣i, th́ chúng tôi gây xáo trộn, bất ổn trong vùng, để cho sụp đổ kinh tế tất cả. Như vậy IMF và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) sẽ lỗ to và mất mát nhiều hơn nữa! Do đó, hiện nay IMF đang thảo luận với Hà Nội về vấn đề cho vay ESAF và SAC, nhưng chắc không đi đến đâu. Lừa được Mỹ để lấy tiền đă khó. Mà dọa Mỹ để vay rồi quịt nợ lại càng khó hơn.

Một giả thuyết, nếu Bắc Kinh "sai khiến" Hà Nội gây căng thẳng tại biển Đông, dọa tấn công tầu hải quân Mỹ th́ người Mỹ tính sao? Năn nỉ bắc Kinh dàn ḥa dùm? Đồng thời I-Rắc và Bắc Hàn cũng gây hấn, sinh sự, th́ sao? Nếu có điều đ́nh hay dàn ḥa, hoặc "nhờ" Bắc Kinh thu xếp hộ th́ Hoa Kỳ vẫn ở cái thế yếu. Trên phương diện quân sự chiến lược, hễ mất thế "thượng phong" (initiatives) th́ kể như là thua, bị lép vế, và rất khó đảo ngược, trừ phi đánh nhau? Mà Hoa Kỳ không thể đánh nhau với Bắc Kinh trong khi Bắc Kinh không trực diện đối đầu, mà chỉ ném đá giấu tay!

Ngày 26/1/1999, tại Hà Nội, ông Eric Offerdal, đại diện Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, nói rằng nếu Việt Nam không có thay đổi trong quy mô cũng như phương hướng cải tổ th́ kinh tế Việt Nam khó ḷng ngóc đầu dậy nổi.

Trong khi vật giá gia tăng khoảng 50% với thuế Trị giá Gia Tăng th́ Hà Nội vẫn c̣n tính mức tăng trưởng sẽ đạt 5.8 đến 6%. IMF ước tính mức tăng trưởng hàng năm cao lắm sẽ là 3% trong khi mức đầu tư trực tiếp vào Việt Nam tiếp tục giảm. Vào đầu năm 1999, nhờ số Việt Kiều đông đảo về ăn Tết  mang theo thật nhiều đôla tiền mặt nên đồng tiền Cộng sản c̣n vững giá.

 

7. Người Mỹ suy nghĩ ra sao?

Trên b́nh diện quân sự chiến lược vào cuối thế kỷ 20, chiến tranh là một điều không thể chấp nhận. Trung Cộng không thể chấp nhận chiến tranh v́ như vậy là đế quốc Trung Hoa sẽ bị xé ra làm nhiều mảnh. Người Mỹ không thể gửi lính đi đánh nhau ở Á Châu. Nhưng người Mỹ cũng không thể ngồi đợi hỏa tiễn Trung Cộng rớt xuống đầu!  Người Mỹ cũng không thể ngồi yên mặc cho Trung Cộng thao túng toàn cầu và dồn Hoa Kỳ trở thành một thứ cường quốc hạng nh́!

Người viết không cần phải viết ra đây những yếu điểm hay là cái thế yếu, rất yếu của Trung Cộng. Bắc Kinh đương nhiên cũng biết rơ điều này. Nhưng Bắc Kinh tưởng rằng không ai biết!

Năm 1998, ta không thấy chính quyền Mỹ tỏ vẻ lo ngại hay bi quan. Quyền lực Hoa Kỳ vẫn điềm nhiên đưa vị Tổng Thống của họ ra “đấu tố” về "tội" trăng hoa, trai gái và bội thệ.

Quyền lực Hoa Kỳ quyết định mọi việc căn cứ trên những sự kiện thực tế. Họ không có chuyện "tin tưởng" vào sự thành thật của bất cứ ai, nhất là Cộng sản. Họ không tin vào những thủ đoạn đóng kịch bề ngoài. Nhưng quan trọng hơn hết là người Mỹ không hề tỏ thái độ rơ rệt về bất cứ chuyện ǵ. Ta cũng không biết ai là người thật sự cầm quyền ở Hoa Kỳ, cho nên rất khó ḍ xét ư kiến của họ.

Tháng 10, 1996, bộ trưởng Quốc Pḥng Trung Cộng, tướng Tŕ Hạo Điền (Chi Haotian) xin được viếng thăm Hoa Kỳ. Người Mỹ tŕ hoăn cuộc viếng thăm này 2 lần. Trong khi đó, bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ công khai chấp thuận bán cho Đài Loan một số vơ khí pḥng thủ trị giá 63 triệu mỹ kim gồm 74 đơn vị hỏa tiễn loại phản công, chống hỏa tiễn.

Sau khi việc mua bán này được kư kết, Hoa Kỳ mới chấp thuận cho Tŕ Hạo Điền đến Mỹ ngày 4/12/1996. Bộ Quốc Pḥng Hoa kỳ nói rơ chỉ tiếp đón tướng Tŕ một cách b́nh thương, chứ không "trải thảm đỏ" ǵ hết! Quốc Hội Mỹ đă hỏi thẳng vào mặt Tŕ Hạo Điền rằng có bao nhiêu sinh viên bị giết chết ở Thiên An Môn? Tên sát nhân chỉ huy vụ thảm sát này trả lời không ngượng miệng rằng “Không có một người nào bị giết ở Thiên An Môn!”  Quốc Hội Mỹ hỏi để mà hỏi, để xem họp Tŕ trả lời, ăn nói ra sao? Câu trả lời của họ Tŕ chứng tỏ Trung Cộng đă hiện nguyên h́nh ác thú khát máu, dám gây chiến tranh diệt chủng bất cứ dân tộc nào.

Cũng trong năm 1996, Quốc Hội Mỹ chấp thuận kế hoạch bán cho Đài Loan 1,299 hỏa tiễn cầm tay Stinger, loại mới, để chống máy bay Trung Cộng.

Hoa Kỳ cũng đă bán cho Đài Loan 300 chiến xa M60-A cùng với động cơ dự trữ, mắt kính nh́n đêm và 300 khẩu đại liên M24C. Đài Loan cũng khởi sự sản xuất hàng loạt hỏa tiễn "không đối không" Sky Bow II để dùng trên các phi cơ chiến đấu Mirage 2000 và F-16. Đài Loan đă tiếp nhận 960 hỏa tiễn không đối không MICA, 60 chiến đấu cơ Mirage 2000-5, 6 khu trục hạm La Fayette của Pháp và 150 phi cơ F-16 của Mỹ.

Trong tháng 11, 12, 1998, Bắc Kinh đưa những nhân vật "đối kháng" như Từ văn Lập, Tần Vĩnh Mẫn (Qin Yongmin), Vương Hữu Tài (Wang Youcai) và Trương Thiện Khang (Zhang Shangguang) ra xử tại Vũ Hán (Wu Han) và Hàng Châu (Hang Zhou). Án tù khoảng 10 đến 12 năm tù. Bắc Kinh có vẻ thách đố Hoa Kỳ rằng họ không cần phải tôn trọng nhân quyền hay chiều ư người Mỹ. Mặt khác, Bắc Kinh cố t́nh gây sự chú ư vào vấn đề đối kháng (dissident) và nhân quyền.

Nhưng người Mỹ lần này tỏ vẻ thản nhiên, không tỏ vẻ xúc động hay sôi nổi như đối với Vương Đán (Wang Dan) và Ngụy Kinh Sinh (Wei Zhingshing) trước kia. Có lẽ họ thấy nhiều thứ "kịch tính" ở trong các phiên ṭa xử này, có cùng một mẫu mực với các phiên ṭa xử Đoàn viết Hoạt, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích trí Siêu hay là toàn băng Vạn Hạnh ở Việt Nam. "Băng" nhân quyền Vạn Hạnh thuộc về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang (Unified Buddhist Church) mà nhân dân Việt Nam gọi là giáo hội Quốc doanh!

Về kinh tế và đầu tư th́ Trung Cộng cũng bắt đầu làm khó dễ các công ty Hoa Kỳ y như Hà Nội đang làm. Tất cả đều có dụng ư đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu. Bắc Kinh cũng gây khó khăn cho các công ty Mỹ, không cho họ đổi đồng tiền "Nguyên" (Yuan) của Trung Hoa sang đôla để có thể mang tiền lời về nước. Pḥng Tham Vấn Thương Mại Hoa Kỳ tại Hoa Lục mới làm một cuộc điều tra trên 50 công ty Mỹ tại Trung Cộng, cho thấy tới 80% bị mất nhiều thương vụ và 50% đang "xét lại", tŕ hoăn hoặc hủy bỏ các dự án đầu tư của họ.

Chủ tịch Pḥng Tham Vấn, ông Robert A. Kapp, nói rằng "Không khí chính trị đang xuống cấp th́ cũng lôi kéo sự trao đổi thương mại xuống theo". Báo cáo mật của Dân Biểu Cox đă ảnh hưởng thật xấu đến giao thương Hoa-Mỹ. Năm 1999 có thể là một năm cực xấu cho nên thương mại song phương Hoa-Mỹ tuy rằng số thặng dư mậu dịch năm 1998 là 60 tỷ đôla, nghiêng về phía Trung Cộng. Từ một số dự trữ ngoại tệ 19 tỷ đôla năm 1992, đến năm 1998, Trung Cộng đă có 140 tỷ đôla dự trữ.

 

8. Tại sao không thể có liên minh quân sự giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Hà Nội?

Cuộc viếng thăm của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ William Cohen tại Việt Nam trong 3 ngày từ ngày 13/3/2000.  Nghiên cứu những lời tuyên bố của Bộ Trưởng William Cohen tại Hà Nội.  

Khi đến Hà Nội ngày 13 tháng  3, 2000, ông Cohen được các cấp chỉ huy tối cao của quân đội Cộng sản trải thảm đỏ đón tiếp vào hàng đại thượng khách. Thôi th́ không c̣n vấn đề “chống Mỹ cứu nước”, “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”! Toàn Đảng Cộng sản  đă trở thành một lũ ăn mày khúm núm với vẻ hèụn hạ bợ đỡ ăn xin quân viện của Mỹ.

Vậy ta thử t́m hiểu xem ẩn ư của ông Cohen trong những lời nói của ông.  Tại Học Viện Quốc Pḥng ngày thứ Ba 14/3/2000, trước mặt 14 tướng Cộng sản và nhiều phóng viên báo chí, ông nói rất rơ: “Cần phải đối phó với Trung Quốc bằng cách đưa Trung Quốc vào cuộc đối thoại (với Hà Nội và các nước Đông Nam Á  khối ASEAN) và tránh đưa ra những lời tiên đoán như : "không thể thoát khỏi đụng độ". Chúng tôi hi vọng sẽ khuyến khích Trung Quốc  dấn bước tiến lên như một nước lớn có tinh thần hợp tác.”

Chỉ riêng một câu này ta thấy ông Cohen khuyên Hà Nội là đừng tính đến chuyện đương cự Trung Quốc bằng quân sự v́ chắc chắn Mỹ sẽ không viện trợ quân sự cho Hà Nội.  Lẽ giản dị là chỉ cần kư kết  hợp tác quân sự “không thôi” là đủ cho Trung Cộng có lư do kéo quân vào Bắc Việt ngay.  Bắc Kinh không thể ngồi “đợi” khoảng từ 3 đến 5 năm cho người Mỹ huấn luyện và trang bị nửa triệu quân Cộng sản Hà Nội cho thành thục và có khả năng chiến đấu.  Vấn đề nửa triệu quân Việt Cộng có đủ sức pḥng thủ chống lại một cuộc xâm lăng của Trung Cộng hay không  th́ lại là một chuyện khác. Dù sao th́ người Mỹ với Cộng sản Hà Nội hoàn toàn không có sự thân thiện và tin tưởng lẫn nhau để thành lập liên minh quân sự.

Cuộc chiến tranh Đông Dương kỳ Hai trong thập niên 1960s,  đă dậy người Mỹ không nên dại dột bảo vệ “chế độ” cầm quyền, nhất là khi nhân sự lănh đạo chế độ đó lại là những kẻ bất tài, có khi là kẻ thù và không bao giờ thành thật hay thân mật với Mỹ trong bất cứ mức độ hay trường hợp nào.  Vấn đề người Mỹ muốn bảo vệ một quốc gia hay một dân tộc th́ c̣n tùy thuộc nhiều vấn đề, nhất là vấn đề lănh đạo quốc gia có tài giỏi xứng đáng và được toàn thể dân tộc ủng hộ hay không?

             Vả lại vấn đề chế độ Việt Cộng lệ thuộc Trung Cộng từ  nhiều năm qua đă trở thành một “t́nh trạng hiện hữu” (status quo) mà bất cứ ai cũng thấy ngay, không thể giấu giếm.  Cộng sản Hà Nội ví như là tên đầy tớ của Bắc Kinh, một thứ chó săn, chó ngao tay sai cho Bắc Kinh, th́ người Mỹ dại ǵ viện trợ thêm cho nanh vuốt? Cộng  sản Hà Nội không thể chứng minh với Hoa Kỳ rằng chúng vẫn c̣n “độc lập” với Trung Cộng. Chỉ nh́n sơ qua t́nh h́nh từ sau khi đế quốc Liên Xô sụp đổ năm 1990, 1991, người ta đủ thấy Cộng sản Hà Nội đă nằm gọn trong quỹ đạo ảnh hưởng của Bắc Kinh. Trên bàn cờ chiến lược quân sự, người Mỹ đương nhiên nh́n thấy rằng họ đang phải đối phó với một “liên minh quân sự” của hai nước Trung Cộng và Việt Nam Cộng sản.

Người Mỹ không dại ǵ lao vào một kiểu viện trợ hay chiến thuật, chiến tranh cổ điển để lại bị sa lầy tại lục địa Á Châu lần thứ 3.  Người Mỹ đă hai lần, ở Triều Tiên năm 1951 và ở Việt Nam đúng 20 năm sau, năm 1971, đều phải thương lượng với Bắc Kinh để kư kết và rút quân, không phải để chiến thắng. Như vậy, chế độ bạo quyền Cộng sản Hà Nội không bao giờ nên hi vọng rằng Hoa Kỳ sẽ quân viện với cái dù che nguyên tử  để đương cự  Trung Cộng.

Mới đây, tờ báo của quân lực Trung Cộng, tờ Haowangjiao, đă đưa ra lư luận là Hoa Kỳ không dại ǵ bênh vực 20 triệu người Đài Loan để gây chiến tranh nguyên tử  với Bắc Kinh và gây nguy hiểm cho hơn 200 triệu người Mỹ!  Bắc Kinh đă nhắn qua tờ báo này rằng Hoa Kỳ không nên bênh vực Đài Loan bằng vũ lực để phương hại đến sự an ninh của nhân dân Mỹ.

Người viết bài này chỉ có thể khẳng định là trên b́nh diện chiến lược hiện nay tại Á Châu, chỉ có dân tộc Việt Nam là duy nhất có truyền thống chống ngoại xâm phương Bắc. Nhưng dân tộc Việt Nam hiện không có tự do và đang bị Cộng sản Hà Nội trói chặt bằng công an trị và sự nghèo khổ cùng cực.  Cộng sản Hà Nội đă thất nhân tâm đến mức bất cứ ai tiêu diệt Cộng sản Hà Nội, dù đó là Trung Cộng, đều được mọi người Việt hoan nghênh. Hiện nay chưa ai nắm được khối dân Việt Nam 80 triệu người mà quá nửa chưa tới 25 tuổi,  có truyền thống căm thù Cộng sản Hà Nội và Trung Cộng  xâm lăng. 

Hoa Kỳ và Bắc Kinh đều hiểu vấn đề là không một vị Tổng thống Hoa Kỳ nào lại muốn đưa quân đội bộ chiến Hoa Kỳ đến tham chiến tại lục địa Á Châu một lần nữa!  Như vậy chiến tranh, nếu xẩy ra, chỉ có thể là chiến tranh bằng hỏa tiễn nguyên tử và không quân chiến lược, cũng xử dụng bom nguyên tử.

Trung Quốc không bao giờ dám trực diện  công khai xâm lăng Việt Nam. V́ như vậy, ngoài sự chống Tầu của dân tộc Việt Nam, người Mỹ có thể trừng phạt Bắc Kinh bằng cách cắt đứt ngoại giao, cắt đứt thương mại th́ đế quốc Trung Hoa sẽ sụp đổ ngay và trở thành vài chục tiểu quốc.  Vả lại hiện nay vấn đề “chiếm đóng” cả 3 nước Đông Dương cũng là một thực tế chính trị và chiến lược hay là một sự đă rồi. Tất cả 3 chính quyền Việt Miên, Lào đều là người gốc Hoa và nhận mệnh lệnh từ Bắc Kinh.

Trung Quốc chỉ có thể, theo như kế hoạch hiện nay, đưa quân  và hỏa tiễn lén lút vào Trường Sơn trên “xa lộ chiến lược Trường Sơn” để uy hiếp Đệ Thất Hạm Đội, đuổi Mỹ ra khỏi Á châu Thái B́nh Dương. Vấn đề này không phải dễ dàng, không thể thực hiện xong một sớm, một chiều.  Kế hoạch này có quá nhiều sơ hở, lộ liễu và kéo dài quá nhiều thời gian. Trung Quốc cũng không c̣n các tướng lănh có tài cầm quân và chiến lược để th́ hành kế hoạch to lớn này,  dùng quân lực bành trướng đế quốc và áp đảo nổi siêu cường Hoa Kỳ.  Trung Quốc cũng chưa thể tin tưởng đă nắm chặt hoàn toàn đảng Cộng Sản Hà Nội, trừ phi có một màn thanh trừng số Cộng sản người Việt chống Tầu và chỉ thích đi với Mỹ. Chính kế hoạch xa lộ Trường Sơn, được công khai làm lễ khởi công ngày 5 tháng 4, 2000,  đă làm cho người Mỹ nghi ngờ và không thể có thiện chí thành thật với Hà Nội. Người Mỹ, cũng như người Pháp xưa kia, không bao giờ  quên rằng con đường đi từ Hà Nội hoặc đến Hà Nội đều phải đi qua Bắc Kinh!

Trên b́nh diện ngoại giao và giao thiệp cá nhân th́ hoàn toàn không có bất cứ sự thân mật và thành thật nào giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Có lẽ do vấn đề người Mỹ mất tích ( POW/MIA ) , c̣n  hơn 2000 người, mà Hà Nội há miệng mắc quai, không thể giải thích rằng số người này biến đâu mất, trong khi các bằng chứng và h́nh ảnh họ khi bị bắt tại Đông Dương rất rơ ràng.  Nếu Hà Nội không thể giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích, th́ “không bao giờ” có sự liên minh, hợp tác, liên hiệp với Hoa Kỳ dưới bất cứ h́nh thức nào. Vấn đề “t́m” người Mỹ mất tích c̣n sống MIA’s đă kéo dài trong suốt thập niên 1990 đă hoàn toàn không có kết quả. Hà Nội chỉ biết đ̣i đủ thứ, luôn miệng nói hợp tác chặt chẽ với Mỹ để t́m người, nhưng rút lại chỉ có vài bộ xương được giao cho Mỹ.

Sau cuộc họp,  khi được hỏi về vai tṛ tương lai của Trung Quốc trên thế giới,  ông Cohen nói với các tướng Cộng sản Hà Nội rằng: “Chỉ cần với tầm cỡ lớn như vậy, Trung Quốc ngày nay đang trở thành một nước có ảnh hưởng mạnh mẽ trong toàn vùng (Á Châu).”

Ông Cohen nói ông nh́n nhận có một sự quan tâm chính đáng ở Việt Nam và ở các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á về vấn đề Nam Hải, nơi đây có nhiều nước tranh chấp chủ quyền Trường Sa. Chính trong bối cảnh này ông Cohen nêu lên việc tạo ra một thứ “đ̣n bẩy liên minh” (alliance leverage) của các nước ASEAN để “bẩy” Trung Quốc vào cái thế phải ḥa hoăn và đối thoại.

Đây chính là một lối nói “Các anh -Việt Cộng và ASEAN- hăy lo lấy thân ḿnh và ráng đoàn kết liên minh với nhau th́ may ra Trung Cộng sẽ nể nang mà không dám làm dữ.”   Đồng thời Mỹ cũng ngụ ư là không muốn dây với “hủi” Trung Cộng v́ chẳng ai muốn gây ra một cuộc thử lửa, đối đầu với Bắc Kinh! Người Mỹ chẳng có mấy thiện cảm với Mă Lai Á, Việt Nam, Miến Điện và Thái Lan v́ những quốc gia này đều do lănh đạo và tập thể kinh tế người gốc Hoa  nắm giữ, và nhiều lần công khai chống Mỹ, thân Bắc Kinh. C̣n hai nước Miên, Lào th́ đều ở trong ṿng tay “ưu ái” của Hà Nội và Bắc Kinh.

Vấn đề liên minh quân sự cần phải nghiên cứu nhiều khía cạnh. Ngoài dân tộc Việt Nam, các chính quyền và dân tộc Đông Nam Á đều không có kinh nghiệm chiến tranh và nhất là không thể đoàn kết thật sự với nhau. Nếu Mỹ ra mặt giúp đỡ về quân sự th́ Mỹ phải tính đến chuyện tham chiến để bảo vệ các chính quyền không mấy lành mạnh của các quốc gia này. Lại c̣n vấn đề Hoa Kỳ không thể chấp nhận chiến tranh nguyên tử với Trung Cộng .

            Ông Cohen nói “Một trong các nguyên tắc để xây dựng mối quan hệ Mỹ-Việt Cộng là sự “trong suốt”. Muốn ám chỉ Trung Quốc, ông Cohen nói “Sự cởi mở rộng răi công khai về chiều hướng các quan hệ - giữa Mỹ và Việt Cộng -  đang phát triển từ từ là để  “bảo đảm không có sự hiểu lầm của bất cứ nước nào” (ngụ ư Trung Cộng ).

Điều này quá rơ rệt cho Cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh. Ông Cohen khẳng định không có sự đi đêm lén lút (hội họp bí mật) nào giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn trong mưu toan ngăn chận Bắc Kinh bành trướng. Ông Cohen cũng không muốn có sự hiểu lầm nào của Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ và Việt Cộng đang cấu kết với nhau bằng liên minh quân sự để ngăn chận  xâm lăng, bành trướng từ phương Bắc. Do câu này, ta có thể quyết đoán rằng hồi đầu năm 1997, Hà Nội cử một phái đoàn sĩ quan cấp tá đi Hạ Uy Di để bàn việc cho “mướn” Vịnh Cam Ranh với giá 30 tỉ đôla, chỉ là “giả” hay là một thủ đoạn nhử mồi, ḍ đường của người Mỹ.

Đă từ 2 năm nay, tổng bí thư Lê Khả Phiêu cố gắng vận động với Bắc Kinh để được kiêm nhiệm luôn chức chủ tịch nước, giống như Giang Trạch Dân. Trong chức vụ này, Lê Khả Phiêu có thể đơn phương và toàn quyền hội họp thượng đỉnh với Hoa Kỳ hay bất cứ nước nào. Nhưng Bắc Kinh không cho phép. Bắc Kinh không bao giờ để Việt Cộng xé rào, một ḿnh đi ăn mảnh với Mỹ. Chỉ riêng việc này, người Mỹ đủ biết Cộng sản Hà Nội đang bị Bắc Kinh kềm chế chặt chẽ và không c̣n chủ quyền quốc gia để nói chuyện với bất cứ ai.

Trong cuộc họp tại Học Viện Quốc Pḥng, Cộng sản cũng cấm không cho báo chí chụp ảnh và công bố tên tuổi đầy đủ của 14 viên tướng có mặt. Ta có thể h́nh dung một cuộc họp bí mật giữa Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị với viên toàn quyền Trung Cộng tại Hà Nội để mổ xẻ các lời đối thoại trong buổi họp với ông Cohen và báo cáo về Bắc Kinh, xin Bắc Kinh cho chỉ thị.

 

 

9. Luận về thế “địa lư chiến lược” của Á Châu. Truyền thống chống xâm lăng phương Bắc của dân tộc Việt Nam.

Ông Cohen bảo Hà Nội rằng  Sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng Á châu Thái B́nh Dương là cần thiết cho sự phồn vinh của vùng này.”

Ông Cohen cũng ngụ ư rằng sự hiện diện của quân lực Hoa Kỳ có tính cách chiến lược để ngăn chận Trung Cộng, không cho nuốt chửng Đông Dương và Đông Nam Á. Đây cũng là một lối nói quân lực Mỹ sẵn sàng ngăn chận thế domino Trung Cộng khởi sự từ Việt Nam và đồng thời bảo vệ ḥa b́nh (phồn thịnh) của  Đông Nam Á.

Dưới nhăn quan “địa lư chiến lược” (geo-strategic point-of-view), Trung Cộng không thể bành trướng sang bất cứ hướng nào, trừ phía Nam và phải đánh tràn xuống Thái Lan, Mă Lai... Cuộc xâm lăng “Nam Tiến” đă khởi đầu từ 23 thế trước đời Tần Thủy Hoàng (Shih Huang Ti) cuối thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch  ( 219- 214 B.C.) khi bạo chúa nhà Tần sai tướng Đồ Thư  mang 50 vạn quân xâm lăng nước Nam Việt, lúc đó lớn rộng từ Bắc Việt lên tới phía Nam sông Trường Giang, bao gồm phía nam hai tỉnh Giang Tô (Hàng Châu, Tô Châu)  và An Huy, và các tỉnh Triết Giang,  Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Nam,  Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay. 

Một số lớn người Việt lúc đó bị dồn lên miền núi Vạn Vạn Đại Sơn thuộc các tỉnh  Quí Châu và Quảng Tây để thành các bộ tộc thiểu số, đứng đầu là dân tộc Choang (Zhuang-Hmong)  với dân số khoảng gần 100 triệu người vào năm 2000. Riêng dân tộc Giao Chỉ thời đó  - người Việt có hai ngón chân cái cong, giao vào nhau nên được gọi là “Giao Chỉ” - dưới quyền chỉ huy của Thục Phán  An Dương Vương đă đánh du kích và giết tướng Đồ Thư năm 214 (trước T.L.) tại vùng rừng núi Lạng Sơn, ngăn chận cuộc xâm lăng  Nam Tiến của vua Tần, và bảo vệ sự tồn tại  lâu dài của dân tộc Giao Chỉ.

Vấn đề xâm lăng bành trướng xuống phía Nam, ta gọi là domino, đă ám ảnh các vua chúa Trung Hoa trải qua các triều đại, qua 23 thế kỷ. Nếu không có sự chiến đấu dũng cảm của người Giao Chỉ, ngày nay là Việt Nam, th́ toàn bộ Á Châu và cả Úc Châu hiện nay đă trở thành lục địa và lănh thổ Trung Hoa rộng lớn nhất thế giới.

Dưới sự chỉ huy của tướng lănh có tài như : Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng,  Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ,,, dân tộc Việt Nam đă bẻ gẫy tất cả mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Truyền thống chống xâm lăng phương Bắc đă trở thành một thứ truyền thống quốc gia, dân tộc. Vào thập niên 1990s và sang thế kỷ 21,  toàn thể dân tộc Việt Nam lại một lần nữa sôi sục căm thu ụTâp Đoàn Cộng sản  Hà Nội , v́ sự dâng đất, dâng biền cho Trung Cộng , muốn tiêu diệt quân nội thù, nội xâm Cộng sản.  Vấn đề Cộng sản bị tiêu diệt, chỉ là vấn đề thời gian.

Trong suy nghĩ  của các nhà quân sự Bắc Kinh, họ rất coi thường khả năng chiến đấu chống người Tầu xâm lăng của người Việt. Họ chỉ úy kỵ sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ. Hiện nay,  họ đang t́m một chiến lược khéo léo để có thể chiếm Đông Dương và Đông Nam Á mà không cần phải sử dụng vũ lực quân sự, và không cần phải trực diện đụng độ với Hoa Kỳ. 

 

10. Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mỹ  khuyên Việt Cộng nên lo thân , không nên làm tay sai cho Trung Cộng và quấy rối, gây chiến tranh.

Ông Cohen nói: “Hôm nay, trước bối cảnh tổng quát của một giai đoạn lịch sử mà hai nước cùng chia sẻ niềm kiêu hănh và nỗi thống khổ, tôi đứng trước quư vị đây để, nhân danh Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, nêu ra những điểm quan hệ về quyền lợi chung của hai nước, với niềm hi vọng là chúng ta c̣n có thể được hướng dẫn bới các quyền lợi chung đó.”

Trong câu này ông Cohen “răn đe” Việt Cộng rất rơ ràng. Hoàn toàn không có sự thân hữu hay hữu nghị giữa hai bên. Ông Cohen ngụ ư rất rơ: Nếu các anh biết điều yên thân lo quyền lợi, an ninh của ḿnh, đừng vọng động quấy rối, gây chiến. Ông Cohen “hi vọng” là Việt Cộng hiểu rằng một khi Hà Nội “quên” đi, hay không được “hướng dẫn” bởi  quyền lợi hay là sự yên vui, ḥa b́nh, mà liên tay với Trung Cộng  để xâm lăng và bành trướng xuống Đông Nam Á , th́ hậu quả sẽ không thể lường trước. Hoa Kỳ cần phải bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ và các nước ở Đông Nam Á cần sự bảo vệ  của quân lực Hoa Kỳ.  Nếu Bắc Kinh ra tay, tiến thêm một bước trong sự bành trướng xuống phía Nam, th́ Hoa Kỳ bắt buộc phải trả đũa bằng một chiến lược đặc biệt, dĩ nhiên là không ai có thể ước lượng hay đoán trước.

Về chiến lược quân sự, không ai đợi địch quân “ra tay” tấn công rồi mới đối phó. Hai bên ŕnh rập nhau từng đường đi, nước bước, từng lời nói hay hoạt động, kể cả gián điệp, để t́m hiểu ư đồ, kế hoạch, mưu lược, dụng ư và chiến lược của địch quân. Vấn đề cần phải ra tay tấn công trước hay không và vào thời điểm nào, cũng phải được đặt ra. Ta c̣n nhớ trong chiến tranh vùng Vịnh, người Mỹ để cho Saddam Hussein “đợi”trong sự nghẹt thở  từ tháng 8, 1990 đến tháng  4, 1991, mới tổng tấn công bằng chiến xa,  quân bộ chiến và không quân chiến lược, chiến thuật.  Chỉ trong 100 giờ đồng hồ là kết thúc chiến tranh với sự thảm bại và đầu hàng của quân I-Rắc (Iraq). Trong trận chiến Kosovo đầu năm 1999, Milosevic đă tưởng lầm là quân đội Hoa Kỳ và NATO sẽ đánh bộ chiến, và chuẩn bị chiến tranh du kích trường kỳ. Nhưng tất cả chỉ là nghi binh! Kết cuộc, Milosevic đă chịu thua sau 77 ngày đêm bị phi cơ oanh tạc và bỏ Kosovo để đổi lấy sự tồn tại của chế độ tại Nam Tư (Serbia).

Ông Cohen cũng nói rất rơ ràng: “Mục tiêu an ninh và thịnh vượng Á Châu đặt trên nhiều yếu tố (cột trụ), trong đó có một yếu tố thiết yếu là Hoa Kỳ phải tiếp tục bố trí và gắn bó với vùng này.” 

Do câu này, Hoa Kỳ khẳng định họ sẽ không bao giờ bỏ rơi Đông Nam Á và bỏ chạy về Hạ Uy Di như Bắc Kinh và Hà Nội đang hi vọng. Hoa Kỳ không phải là cọp giấy như Bắc Kinh tưởng lầm.

Ông Cohen nói: “Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có lợi khi xây dựng một mối quan hệ trưởng thành và bền vững. Bắc Kinh luôn luôn giữ vai tṛ then chốt cho nền ḥa b́nh khu vực.”

Ông Cohen minh định vai tṛ không thể tránh được của cường quốc Trung Hoa tại Á Châu và Đông Nam Á. Bắc Kinh nghe được câu này quả là mát ḷng, mát ruột với Mỹ. Bắc Kinh quả ở cái thế mạnh. Bắc Kinh không tấn công ai th́ thôi, chứ ai dám tấn công Trung Cộng?  Chuyện cái chữ “ngờ” th́ không quan trọng v́ Bắc Kinh không bao giờ thèm học cái chữ “ngờ” hay “bất ngờ” (the unexpected)!

Mỹ hiện có khoảng 100,000 quân bố trí tại Á châu-Thái B́nh Dương, tại Nam Hàn (38,000), Nhật Bản  (40,000) và Đệ Thất Hạm Đội (30,000) . Ông Cohen cũng nói một trụ cột khác rất quan trọng cho sự ổn định là liên minh (quân sự) của Mỹ với Nhật, với  Nam Hàn, với Úc Châu, với Thái Lan và những quan hệ được cải thiện với Phi Luật Tân - ngụ ư những cuộc thao diễn quân sự giữa Mỹ và Phi Luật Tân.

Ta có thể ước đoán là t́nh h́nh sẽ tạm yên trong thời gian tới, v́ người Mỹ chưa muốn đánh thức con cọp Trung Cộng thức dậy sớm quá. Bằng câu nói trên, ông Cohen cũng răn đe cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội rằng đừng có tính đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu Thái B́nh Dương. Lực lượng nguyên tử của Mỹ đang giữ thế quân b́nh quân sự tại Á Châu và  sẵn sàng dùng Á Châu, không phải Hoa Kỳ, làm băi chiến trường lần nữa.

Lời nói và thái độ của ông Cohen thật là nhẹ nhàng và có vẻ ḥa hoăn và được suy nghĩ, tính toán kỹ càng. Đây chính là mục đích của ông Cohen và Hoa Kỳ trong chuyến đi viếng “thăm” Hà Nội. Trước khi đến Hà Nội, ông Cohen đă nói thẳng rằng ông không đến để xin lỗi về cuộc chiến tranh đẫm máu vừa qua.  Ông nói chuyến viếng thăm của ông chú trọng nhiều về việc gia tăng hợp tác để t́m kiếm hài cốt của lính Mỹ ghi nhận là mất tích tại Việt Nam. Hai bên cũng “có thể” sẽ thảo luận các “hợp tác” trên phương diện như y tế và trợ giúp nhân đạo.

Như vậy trọng tâm của chuyến đi thăm Việt Nam của ông Cohen “không phải” v́ người Mỹ mất tích, không phải v́ hợp tác viện trợ quân sự cho Việt Cộng, không phải thuê mướn vịnh Cam Ranh như Việt Cộng tưởng thật trong hơn 10 năm qua,  không phải liên minh quân sự để ngăn chận Trung Cộng, cũng chẳng dính dáng ǵ đến hiệp ước Thương Mại hay là sự tồn tại, sống c̣n của chế độ Cộng sản. Ông Cohen đến Hà Nội để “trong suốt”  ư định của Hoa Kỳ là “không bao giờ” liên minh quân sự với Hà Nội để chống Bắc Kinh. Quân lực Hoa Kỳ đủ mạnh để kềm chế Bắc Kinh. Hà Nội cũng không nên hi vọng vấn đề “đi dây” (walking a tightrope) giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn như khi xưa đă làm giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.

Tháng 11 năm 1995, tại Hà Nội, ông cựu bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ, Robert McNamara, đă khuyến cáo Việt Cộng rằng “Chúng tôi đă giết khoảng 3.2 triệu cán binh Cộng sản. Đó là một con số kinh khủng so với tỷ lệ dân số trong nước. Vậy (các ông) không nên để tái diễn lần nữa!

Người Mỹ không cần phải nói quá rơ ràng nhưng ta có thể ước đoán rằng  trong giai đoạn chính trị chiến lược sắp tới, không có sự nhân nhượng, ḥa hoăn, với những lời nói và  cử chỉ lịch sự, nhă nhặn (niceties).  Cũng không có vấn đề người Mỹ hèn nhát hay bỏ chạy, bỏ lại Á Châu và Úc Châu cho Trung Cộng.

Chiến lược quân sự (military strategy), chưa phải chiến tranh, là sự suy nghĩ  tính  toán lạnh lùng, không có yếu tố nhân đạo hay nhân nhượng. Một vấn đề chiến lược là sự “ra tay trước” (take the initiative), nắm thế chủ động,  thật bất ngờ, thật gọn, th́ có thể toàn thắng! 

Cộng sản Hà Nội hoàn toàn chưng hửng v́ không có một lời hứa hẹn lạc quan nào. Mấy năm trước đây, sau khi công bố bang giao, người Mỹ có nhă ư thu nhận một số sĩ quan Cộng sản sang Mỹ tu nghiệp, học chiến tranh quân sự lối Mỹ và học khóa tham mưu cao cấp. Nhưng các sĩ quan này đă chứng tỏ tŕnh độ quá kém cỏi  không thể theo học nổi. Nếu có học “được” th́ khi trở về họ bị coi là CIA đă cài để làm gián điệp. Bắc Kinh cũng không bằng ḷng cho Hà Nội xử dụng các sĩ quan đă được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Bắc Kinh coi các sĩ quan này là nền tảng cho cuộc  hợp tác liên minh quân sự sau này giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn.

Cộng sản Hà Nội đă chứng tỏ sự thèm khát quân viện Mỹ qua sự đón tiếp ông Bộ trưởng Cohen một cách long trọng và nồng hậu. Nhưng vấn đề chiến lược không phải được quyết định do sự  đón tiếp hay bầy tỏ cảm t́nh... thân Mỹ, nhất là trong khi bị Bắc Kinh kềm giữ, trói chặt.

 

11. Quân đội Cộng sản Hà Nội đă trở thành quân buôn lậu, không có khả năng chiến đấu và không thể liên minh quân sự với Hoa Kỳ.

Một vấn đề khác là quân đội Cộng sản Hà Nội  từ lâu nay đă làm kinh tế, kinh doanh, buôn lậu.  Như vậy th́ làm sao đánh với chác? Chỉ riêng một điểm này người ta thấy quân đội Cộng sản Hà Nội hoàn toàn bất lực trong chiến tranh.

Không quá 20% vũ khí c̣n xài được. Các xe tăng, máy bay đều đă “quá đát” cần phải đại tu và tốn rất nhiều tiền. Cũng chẳng ai muốn tu sửa xe tăng T-54, T- 55 c̣n lại từ thập niên 70s và 80s.  Hiện nay nước Nga chỉ có xe tăng T-70 đă lỗi thời. C̣n T-90 là kiểu tối tân nhất th́ hỏa tiễn chưa được hoàn chỉnh để có thể đánh trúng mục tiêu. Cộng sản t́m sang Do Thái để sửa chữa vũ khí nhưng c̣n kẹt vấn đề trả tiền mặt.  Các xe tải, máy bay, tầu chiến, tầu vận tải đều được xử dụng buôn lậu, doanh thương nên đă hư hỏng gần hết.

Các báo cáo cho thấy nhiều cấp tướng quân đội  CSVN hiện diện nhiều trong cấp bậc cao nhất của Đảng CS. Ta có thể thấy rơ là Đảng tức là quân đội, hay quân đội tức là Đảng. Điều nguy hiểm là Đảng không thể chỉ huy được quân đội dù có những sáng kiến hoặc chính sách hay ho nhưng làm cho quân đội bị thiệt hại.

Người ta thấy quân đội CS Hà Nội dự định lập 13 khu kinh tế quân sự tại các vùng gần biên giới Trung Cộng, Căm Bốt và Lào, để trở thành nơi định cư cho khoảng 85,000 gia đ́nh binh sĩ, được ước lượng sẽ hoàn thành năm 2013! (Đây là Việt Cộng nói. Có thể đến năm 2053 cũng không xong, trong khi chính Cộng sản có thể chết vào năm 2002!)

Quân đội kinh doanh, mỗi năm lời cả tỷ đôla, nhưng tiền đi đâu mất? Chắc chắn không phải để mua vũ khí hoặc canh tân quân đội.  Như vậy th́ làm sao người Mỹ quân viện cho một quân đội đă trở thành kinh doanh ăn cắp, dùng phương tiện quân đội để buôn lậu, vận tải hàng lậu? Người Mỹ chắc chắn không thể kiểm soát quân đội Cộng sản Hà Nội. Cộng sản Hà Nội không bằng ḷng như vậy.  Các  tướng và đơn vị quân đội chuyên buôn lậu, kinh doanh, ăn cắp, bất lực, được phong chức do vây cánh, phe phái hay đảng tịch đều phải bị loại bỏ.  Nếu không thể kiểm soát th́ không thể quân viện.  Muốn quân viện Hà Nội, người Mỹ phải xử dụng không dưới 30,000 cố vấn các ngành và khoảng 10 tỷ đôla cho những năm đầu.  Đây là một vấn đề lớn, cần phải thương lượng ở cấp cao và phải có hiệp ước kư kết với nhiều cam kết và sự thành thật.  Cộng sản Hà Nội sở trường nói láo, nói dối và ăn cắp,  và Bắc Kinh th́  không chấp thuận và phá bĩnh.

Một điểm khác là Việt Cộng (và Bắc Kinh) chỉ tính đánh lừa Mỹ quân viện rồi sau đó vẫn đi với Bắc Kinh.  Cộng sản Hà Nội không hiểu vấn đề nhận quân viện của Mỹ.  Trước hết là các chuyên gia, cố vấn Mỹ phải đến tận Việt Nam để khảo sát, thẩm định t́nh h́nh tại chỗ, nghiên cứu và làm báo cáo phúc tŕnh về t́nh trạng quân đội CS trên mọi mặt.  Chỉ riêng một điểm này, ta có thể thấy là Mỹ phải rút lui thật nhanh, ngay từ lúc chưa kư kết quân viện.

Một điểm khác là “Hội chứng Hoa Kỳ” (The American Syndrome) - không phải hội chứng CIA - trong tâm lư quân đội CS. Gương người Mỹ bỏ rơi miền Nam năm 1975 c̣n sờ sờ ra đó th́ làm sao bộ đội Cộng sản có thể tin là cố vấn Mỹ không bỏ chạy khi khoảng 1 triệu quân Tầu vượt qua biên giới để tràn ngập miền Bắc?  Nếu trường hợp này xẩy ra, ta có thể h́nh dung bộ đội Cộng sản sẽ chạy như ma đuổi, bỏ lại các cố vấn Mỹ đứng chơ để Trung Cộng bắt làm tù binh!

Đầu năm 1997, khi có hi vọng là đại sứ Peterson sẽ đến Hà Nội vào tháng 4 và Hà Nội đă sửa soạn ăn mừng “3 đại thắng”, đó là: có đại sứ Mỹ đến Hà Nội, có qui chế tối huệ quốc  và hiệp ước Thương Mại, và mừng đại thắng 30 tháng 4. Cùng lúc với bộ trưởng tài chính Nguyễn sinh Hùng sang Mỹ mời mọc đầu tư th́ thứ trưởng Quốc Pḥng Nhật Bản, ông Nawaki Morata, cũng tới Việt Nam cuối tháng 1, 1997, để tính đến vấn đề liên minh quân sự để “chống” Trung Cộng. Thời đó, dưới con mắt “lạc quan” của Tokyo và Hoa Thịnh Đốn th́  Việt Nam là một trong những nước có thể ngăn chận sự bành trướng của Trung Quốc về hướng Nam (domino) nếu Việt Nam có một lực lượng quân sự vững mạnh.

Kết quả là sau chuyến đi của ông Morata, Nhật Bản đă hoàn toàn im lặng. Bộ trưởng Tài Chính Mỹ đến Hà Nội ngày 6 tháng 4, 1997, nhưng “không kư” hiệp ước Thương Mại. Đại sứ Peterson cũng né tháng 4, và chỉ đến Hà Nội ngày 8 tháng 5, và tŕnh ủy nhiệm thư ngày 14 tháng 5, 1997. Hà Nội tẽn ṭ, sững sờ, và phải bỏ cái vụ ăn mừng “3 đại thắng”!

 

12. Trung Cộng sẽ tiêu diệt phe thân Mỹ trong quân đội Cộng sản Việt Nam?

Trả lời bài diễn văn của ông Cohen, tướng Nguyễn văn Trí, chủ nhiệm Học viện Quốc Pḥng CS,  nói “Chính sách của Việt Nam là lănh thổ không được (cho Trung Cộng) dùng để xâm lược nước thứ ba!”  Hầu như toàn bộ 14 tướng Cộng sản đều câm như thóc. Không ai có đủ tŕnh độ đối thoại với ông Cohen. Chỉ có tướng Trí nói lên được một câu.

Thật đúng là ông nói gà, bà nói vịt! Câu này ngụ ư nhiều việc, nhưng cũng chứng tỏ sự khác biệt hẳn nhau về suy nghĩ giữa người Mỹ và Cộng sản Hà Nội.

Với người Mỹ, tướng Trí có thể ngụ ư dọa nạt là nếu các ông không liên minh và viện trợ  quân sự th́ chúng tôi (Cộng sản Hà Nội) sẽ cho Trung Cộng mượn đất và sử dụng làm bàn đạp tiến đánh domino xuống các nước Đông Nam Á.

Câu này chứng tỏ thái độ gần như tuyệt vọng của phe Cộng sản người Việt. Không hiểu t́nh huống chiến lược thâm độc của Bắc Kinh và không hiểu kế hoạch chiến lược của Hoa Kỳ,  tướng Trí và phe người Việt CS không hiểu tại sao Mỹ lại lơ là chuyện  viện trợ cho họ để chống Trung Cộng?  Nếu không có sự hợp tác với Mỹ th́ Trung Cộng chắc chắn sẽ ép buộc Hà Nội phải dùng lănh thổ Việt Nam cho một cuộc tiến công domino, dưới sự quân viện, điều khiển và chỉ huy của Trung Cộng.

Bắc Kinh, hay nói đúng hơn phe Cộng sản Hà Nội làm tay sai cho Trung Cộng,  coi câu nói của tướng Trí như là thái độ mong muốn tới mức ép buộc Hoa Kỳ phải quân viện để cho Hà Nội đủ khả năng đương cự Trung Quốc.  Buổi họp với ông Cohen và thái độ những tướng ham muốn được “đi” với Mỹ đẵ trở thành một cuộc “trắc nghiệm” tâm lư của Bắc Kinh. Chỉ cần nh́n sơ qua, cán bộ Tầu có thể thấy tướng Cộng sản Hà Nội nào háo hức “muốn đi” với Mỹ! Ta có thể ước đoán một màn thanh trừng đẫm máu trong quân đội Cộng sản Hà Nội để loại bỏ những thành phần manh nha muốn hợp tác với Mỹ để chống Tầu.

Trong buổi họp có 14 tướng CS này, số cán bộ cấp tướng thuộc phe “bảo thủ”, thân Trung Quốc và không chơi với Mỹ, chỉ có vài ba người. C̣n lại th́ là những thành phần người Việt đầy sự nôn nóng, háo hức, muốn đi với Mỹ thật nhanh, trong khi áp lực từ Bắc Kinh mỗi ngày mỗi nặng hơn, bắt buộc Cộng sản Hà Nội phải động viên quân đội và tung vào chiến trường domino. Bắc Kinh cũng muốn dồn Hà Nội vào cái thế phải chống Mỹ công khai và tiến quân xuống Đông Nam Á.  Trong khi đó Bắc Kinh chỉ đứng đằng sau, mặc kệ cho Mỹ bối rối trong một hoàn cảnh khó xử. Bắc Kinh ném đá giấu tay nên Mỹ không thể sử dụng vũ khí nguyên tử. Trái lại, Bắc Kinh lại ra mặt nghĩa hiệp, ra ơn với Mỹ bằng cách trung gian  dàn ḥa, đồng thời đuổi khéo Mỹ ra khỏi Á Châu.

Ngày 5 tháng 4, 2000, tại xă Sơn Trạch thuộc tỉnh Quảng B́nh, thủ tướng CS Phan văn Khải làm lễ khởi công xây dựng một đoạn xa lộ dài 625 dậm (1,000 cây số) từ Hà Nội đi xuống Ninh B́nh (vùng Xuân Sơn, Áng Sơn) đi theo con đường Kim Tân, Chợ Rịa vào đến KonTum. Đường này sẽ có 6 làn xe, tốn phí 380 triệu mỹ kim và sẽ hoàn thành trong 3 năm.

Về phương diện kỹ thuật và tiền bạc th́ Hà Nội đă không nói “thật”. 380 triệu đôla và 3 năm không bao giờ đủ để xây dựng 625 dậm đường 6 làn xe và hàng 500 cây cầu, nhiều ngh́n cống thoát nước, trên vùng rừng núi với hàng triệu bom đạn đại bác chưa nổ.  Một cây cầu lớn có thể tốn tới 100 triệu đôla.

Hiện nay, vùng Trường Sơn c̣n hàng  trăm ngàn, nếu không muốn nói hàng triệu, quả bom và đạn đại bác chưa nổ.  Dọn dẹp số bom đạn này cần tới hàng chục năm và hàng tỷ đôla. Dọn bom không dễ như dọn ḿn. Riêng vụ sửa soạn xây dựng một “đầu cầu” tại Quảng B́nh, người ta t́m thấy 601 quả bom và hàng ngàn đầu đạn chưa nổ. Ông Searcy, một chuyên gia giải trừ các băi ḿn cho biết các công nhân thường bị chết khi đào trúng bom đạn chưa nổ.  Tổng số bom Hoa Kỳ ném xuống Việt Nam, phần lớn trong vùng Trường Sơn, gấp 3 lần (14.3 triệu tấn) số bom dùng trong Đệ Nhị Thế chiến, với nhiều loại bom cực kỳ nguy hiểm. Có loại bom  trong có “bọ rận” (bugs). Những con bọ này khi đánh được hơi người đến gần, chúng làm náo động một bộ phận trong quả bom và làm cho bom nổ.  Một loại đạn đại bác không nổ và trở thành ḿn khi chôn sâu xuống đất và chỉ nổ khi người (VC) tới gần hoặc được điều khiển cho nổ từ xa (bằng remote control).   Hàng triệu quả bom và đạn đă được trút xuống, khoảng 10% không nổ và hiện c̣n đang nằm “đợi” giờ nổ!

             Biện pháp tốt nhất là khoanh vùng Trường Sơn để bảo vệ môi sinh, rừng già, cho rừng mọc trở lại và các loại thú vật hiếm.   Vấn đề xây dựng cái gọi là “xa lộ Trường Sơn” hoàn toàn chỉ có mục đích chiến lược,  cho chiến lược domino Trung Cộng.  Nếu Việt Nam tiêu diệt Cộng sản sớm (trong năm 2002?), một xa lộ kinh tế ṿng quanh Đông Dương có thể được thực hiện dễ dàng, ít tốn kém hơn và có thể bảo vệ vùng rừng núi nhiệt đới (rain forest) Trường Sơn cùng với các thú vật, cây cỏ quư hiếm. Vùng Trường Sơn có thể được dọn sạch sẽ bom đạn để trở thành một thứ “công viên quốc gia” và một địa điểm du lịch. Du khách có thể thăm các vùng rừng già nhiệt đới, thú lạ quư hiếm trong không khí mát mẻ cao nguyên.  Những người sắc tộc sẽ được tự do sinh sống với thiên nhiên. Chính họ sẽ là người bảo vệ thiên nhiên và không tàn phá thiên nhiên.

      Như vậy, con đường “ṃn” Trương Sơn chỉ là một câu chuyện dùng để hù dọa Hoa Kỳ rằng nếu các ông không viện trợ quân sự th́ chúng tôi sẽ xây dựng đường chiến lược Trường Sơn để chuyển quân tiến đánh Đông Nam Á.  Cán bộ Cộng Sản quá dốt nát không hiểu thời giá xây dựng nên đă đưa ra con số 380 triệu mỹ kim. V́ mưa hàng năm, xa lộ 6-làn-xe Trường Sơn có thể tốn kém như bất cứ xa lộ nào ở Mỹ, hay là trị giá không dưới 50 triệu đôla một dậm. Để so sánh, xa lộ 105 ở vùng Los Angeles tốn 21 tỷ mỹ kim cho 19 dậm rưỡi ở vùng đồng bằng, không có cầu lớn và phải 5 năm mới làm xong với kỹ thuật tối tân của Mỹ.  Và nếu không biết tổ chức thi công cũng như đầy đủ tiền bạc, xa lộ Trường Sơn sẽ vĩnh viễn chỉ là một giấc mơ hăo huyền.  Điều này chứng tỏ là không có sự nghiên cứu kỹ thuật và giá cả. Tất cả chỉ là bịp để che dấu vấn đề “chính” Công binh Trung Cộng đang thi công xây dựng xa lộ Trường Sơn và sẽ chỉ có “một làn xe”, đủ cho hỏa tiễn di chuyển.

 

13. Cuộc thanh trừng cán bộ Cộng sản Hà Nội “muốn” kư hiệp ước Thương Mại với Mỹ.

Ngày 3 tháng 2, 1999, để kỷ niệm 5 năm Mỹ công bố  băi bỏ cấm vận năm 1994, đại sứ Lê văn Bàng bay về Hà Nội hân hoan tuyên bố rằng sắp kư hiệp ước Thương Mại , trong khoảng tháng 3 hay 4, 1999. Ngay lập tức Bắc Kinh cho lệnh gọi Lê Khả Phiêu phải sang triều kiến ngày 25/2/1999, trong một chuyến đi 7 ngày. Bề ngoài, Lê Khả Phiêu ra vẻ sắp có tiền Mỹ đến nơi nên chấp nhận nhập cảng 2 tỉ đôla hàng hóa từ Trung Cộng mỗi năm và sẽ gia tăng mỗi năm sau đó.

Mọi người nghe đều mừng v́ Bắc Kinh có vẻ không chống đối sự kết thân giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Trái lại Bắc Kinh có vẻ “hiền khô”, và chỉ mong gia tăng xuất cảng sang Việt Nam.  Đến tháng 7, 1999, Bắc Kinh công bố cho mọi người đều nghe là công binh Trung Cộng đă gỡ khoảng 2.3 triệu trái ḿn dọc biên giới Hoa Việt. Biên giới phía Bắc hoàn toàn trống trải, rất thuận tiện cho quân đội Trung Quốc tràn sang bất cứ lúc nào!

Nhưng không ai ngờ rằng đồng thời, Công binh Trung Cộng cũng được lệnh kiến thiết  cấp tốc xa lộ Trường Sơn để sẵn sàng chuyển các đơn vị hỏa tiễn tầm trung bay xa 2,500 cây số, có thể chế ngự toàn vùng Đông Nam Á và Úc Châu,  và các dàn hỏa tiễn pḥng không “địa đối không” (surface-to-air missiles). Nhiều đơn vị công binh khác cũng đă tới vùng Thái Nguyên để xây cất những doanh trại  cho khoảng 3 sư đoàn dă chiến Trung Cộng (field divisions - 120,000 quân) đóng. Đoàn quân này sẽ chế ngự Hà Nội và Bắc Việt mà không cần ra mặt sống chung với dân Việt, để tránh va chạm, sô sát. Một toán thăm ḍ địa h́nh khác đă đi thăm vùng Phả Lại và dọc bờ sông Bạch Đằng để t́m chỗ đóng quân bảo vệ con đường  huyết mạch chuyển vận lương thực cho cánh quân trấn đóng Thái Nguyên và vùng địa đầu xa lộ Trường Sơn.

Nhưng đường Trường Sơn gặp nhiều trở ngại v́ c̣n quá nhiều bom đạn của Mỹ ném trước kia chưa nổ. Riêng vấn đề dọn dẹp số bom đạn này cũng phải mất nhiều năm và rất tốn tiền.

Chiến lược của Trung Cộng là  Mỹ kư kết hiệp ước Thương Mại và viện trợ cho Cộng sản Hà Nội th́ Hà nội chỉ  là bù nh́n giữ dưa, và người Mỹ nuôi ong tay áo. Tiền viện trợ Mỹ và các nguồn lợi khác sẽ nhanh chóng trở thành tiền tăng cường sức mạnh của quân đội Hà Nội và các công tŕnh xây dựng quân sự, dưới sự kiểm soát chỉ huy của Bắc Kinh. Người Mỹ hiểu rằng khi  Nội đủ mạnh th́ vấn đề phản Mỹ đi với Bắc Kinh là chuyện tất nhiên.

Nhưng người Mỹ đă khôn ngoan hơn. Họ cảm thấy (hay biết trước?) là Cộng sản Hà Nội sẽ lừa lọc và sẽ không giao tù binh Mỹ như đă hứa “sau” khi kư kết.  Cộng sản Hà Nội đă lúng túng, viện cớ rằng nội bộ chưa giải quyết ổn thỏa khi Bà Ngoại Trưởng Albright tới Hà Nội ngày 6 tháng 9, 1999, để buộc Hà Nội phải dứt khoát giao trả tù binh trước khi đặt bút kư kết. Hiệp Ước Thương Mại  chứng tỏ người Mỹ quan tâm đến chiến lược toàn diện, toàn khu vực hơn là cục bộ với mục đích ve văn, làm vui ḷng Cộng sản Hà Nội. Các nhà đầu tư, kinh doanh thấy chiều hướng đi xuống và tương lai mù mịt, nên cũng đă lẳng lặng kiếm đường đi ra khỏi Việt Nam, không cần quay cổ lại nh́n lần chót.

Bắc Kinh xoa tay vui mừng. Nếu kư kết xong Hiệp Ước Thương Mại th́ tại Hà Nội sẽ “mọc ra” một phe thân Mỹ mạnh mẽ với nhiều đôla.  Bắc Kinh hiểu sức mạnh của đồng đôla và sẽ vô cùng khó xử với nhiều nghi ngờ khi những cán bộ cao cấp của Cộng sản Hà Nội đều bị CIA mua chuộc!  Hoa Kỳ đă dứt khoát không muốn nhẩy vào Việt Nam và không muốn tái diễn thời kỳ thập niên 1960s.

Nhưng những cán bộ ra mặt  thân Mỹ và thúc dục Mỹ phải kư hiệp ước đều phải  bị Bắc Kinh thanh trừng, loại bỏ. Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng Thương Mại Trương đ́nh Tuyển đă mất chức. Ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Nguyễn Tấn Dũng sau khi đi Mỹ cuối năm 1998 vận động kư hiệp ước Thương Mại trở về, cũng đă ch́m dần và Trương Tấn Sang được đôn từ Saigon ra thay thế. Đặc biệt là Nguyễn Thái Nguyên, trợ lư tay chân ruột thịt của thủ tướng Phan văn Khải, là người cổ vũ Hiệp ước Thương Mại mạnh nhất, cùng khoảng mấy chục người kém tên tuổi hơn, đă bị bắt bỏ tù và loại bỏ.

Nguyễn Tấn Dũng đă sai lầm khi tưởng rằng cuộc đi Mỹ vận động của y cuối năm 1998 sẽ đánh lừa được người Mỹ. Nhưng y không ngờ Bắc Kinh nghi ngờ bất cứ ai  liên lạc và giao hảo mật thiết với Mỹ. Chuyến đi Mỹ của Nguyễn Tấn Dũng đă giết chết sự nghiệp chính trị của y. Cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh đều có “hội chứng CIA” (the CIA syndrome) và  không thể tin cậy bất cứ ai đă từng giao thiệp liên lạc với người Mỹ.

Những người Cộng sản Hà Nội, Việt Nam hay gốc Hoa,  khi đọc bài này nên ư thức rằng  họ đang nằm trong cái cũi, trong bàn tay sắt của người Tầu. Bất cứ một chiều hướng nào nghiêng về Mỹ đều phải bị thanh trừng, tiêu diệt, không thể khác!

 

14. Những người Cộng sản “gốc Việt” đă bị Bắc Kinh thanh trừng .

Thủ đoạn của Bắc Kinh tiêu diệt những thành phần Cộng sản người Việt rất khéo để nắm giữ Việt Nam chặt chẽ trong tay họ bằng chính trị, khủng bố sát nhân và gián điệp. Đội ngũ gián điệp của Bắc Kinh ở Việt Nam lên tới 50,000 người. Họ lẫn lộn trong đủ mọi cơ quan đầu năo trong chính phủ, quốc hội và đảng Cộng sản.  Không mấy người ngờ rằng trong Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc Hội, quân đội  đều có các ủy viên thường trực, đại biểu quốc hội và cố vấn người Tầu 100%.  Ở ṿng ngoài có cán bộ người gốc Hoa. Do đó không ai có thể thay thế hay lật đổ chế độ Cộng sản dễ dàng  tai mắt, tay chân của Bắc Kinh ở khắp nơi.

Thời xưa có trung tướng Trung Cộng La Quư Ba, cùng với Nguyễn văn Trấn, tức Bẩy Trấn, “hung thần Chợ Đệm”, vừa làm ủy viên Trung Ương Đảng vừa làm đại biểu Quốc Hội. Bẩy Trấn và La Quư Ba hiện nay được thay thế bằng những tên khác, kể cả viên “Toàn Quyền” Trung Cộng ở ngay Hà Nội để chỉ huy toàn cơi Đông Dương màkhông ai biết tên.

Người đầu tiên bị Bắc Kinh giết trong thập niên 1960s   Dương Bạch Mai, ( và NXNam, Nam chạy thoát qua Pháp,,,   ). Trước khi họp Trung Ương Đảng để quyết định chính sách theo yêu cầu của Bắc Kinh, họ Dương đă dại dột hô lớn rằng “tôi sẽ bỏ phiếu chống Trung Quốc!” Chỉ hơn 3 giờ sau, sau khi ăn cơm trưa, Mai được mời uống nước có pha thuốc độc và gục chết trước khi họp và bỏ phiếu. Một người khác bị  Bắc Kinh giết về tội thân Pháp là bác sĩ Tôn Thất Tùng khoảng năm 1980. Hai danh tướng Bắc Việt được toàn thể quân đội Cộng sản  kính trọng là Lê Trọng Tấn và Hoàng văn Thái đều bị Bắc Kinh đầu độc chết trước khi nắm bộ Quốc Pḥng. Hai tướng Thái, Tấn và sau này là tướng Hoàng Lam, Trần B́nh đều bị hạ sát v́ có tư tưởng và điều nghiên kế hoạch quân sự chống Trung Cộng.  Thủ tướng Phạm Hùng, sau khi kư kết với tường Vessey năm 1989 để thả tù binh VNCH và cho đi Mỹ  với gia đ́nh họ, và đă cam kết thả hết số tù binh Mỹ c̣n lại để mở đầu cho liên minh quân sự với Mỹ chống Bắc Kinh, đă bị đầu độc chết sau khi ăn cơm trưa, năm 1990. Chỉ có bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch và bộ trưởng Công An Mai Chí Thọ được sống sót không bị giết năm 1991, chỉ bị mất chức, có lẽ nhờ đề pḥng do sự bảo vệ và báo tin trước của tướng Dương Thông.( Dương Thông và nhiều tên nưa sau này cũng bị Bắc Kinh giết )

Bùi Tín đi Pháp  cuối năm 1990 rồi sang Mỹ với tư cách đại sứ bán chính thức của Hà Nội đă tưởng rằng t́nh h́nh liên minh, liên hiệp với Mỹ sẽ tốt đẹp và khả quan. Đổi lại, bác sĩ  Bùi Duy Tâm cũng đến Hà Nội đầu năm 1991 để hoạt động với tư cách đại diện không chính thức cho Hoa Kỳ và khối người Việt quốc gia. Tất cả hai con bài này đều bị Bắc Kinh đốt cháy tiêu. Sau này những con bài đi với Hà Nội như  giáo sư  Stephen Young và nhóm Nguyễn đ́nh Huy, và một vài nhân vật ngoại giao Hoa Kỳ, đă thất bại hoàn toàn v́ không tính đến yếu tố Bắc Kinh.

Nếu nói rằng Bắc Kinh đă và đang tiêu diệt mọi thành phần cốt cán người Việt của Cộng sản Hà Nội trong mấy chục năm qua và cho đến ngày nay, là điều rất đúng.  Lúc này, (8/2002) những người Việt Quốc  Gia chống Cộng chưa ra mặt, chưa được Mỹ công nhận, th́ Bắc Kinh chính là yếu tố cần thiết để tiêu diệt mọi mầm mống liên minh với Mỹ của Cộng sản Hà Nội.

Trên b́nh diện kế hoạch tiêu diệt Cộng sản Hà Nội, ta không thể không tính đến yếu tố Bắc Kinh. Làm thế nào để vô hiệu hóa ảnh hưởng và cán bộ Bắc Kinh tại Việt Nam và đồng thời đương cự Bắc Kinh “sau khi” tiêu diệt Cộng sản Hà Nội, là một bài toán khó giải cho bất cứ ai tính đến tiêu diệt Cộng Sản Hà Nội, hóa giải chiến lược domino Trung Cộng,  để lấy lại độc lập tự do cho Việt Nam. Ngoài ra c̣n vấn đề tiêu diệt bọn Cộng sản nằm vùng trở lại, núp dưới chiêu bài giáo hội ma giáo quốc doanh gọi là “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” và dùng chùa chiền làm căn cứ,  địa điểm xuất phát gây rối loạn, tiến tới lật đổ chính quyền quốc gia.

Hiện nay mới chỉ có Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Không Tánh, Đoàn viết Hoạt và bọn Mạng Lưới Nhân Quyền, Mặt trận Kháng chiến Ma,  và bọn GHPGVNTN nằm vùng hải ngoại tại Hoa Kỳ ra mặt. Hiện nay, Cộng sản không dám công khai chí ngâm hoạt động tại Hoa Kỳ . Mọi hoạt động Cộng sản tại Hoa Kỳ đều do Mặt Trận Kháng Chiến Ma ra mặt, giật dây với GHPGVNTN, Hội đồng Liên Tôn và các tổ chức chính trị ngoại vi, và bè lũ báo chí đài phát thanh, bồi bút c̣ mồi quốc doanh. Chúng tung hứng lẫn nhau với nhiệm vụ xóa hẳn hận thù Cộng sản và lái hướng chống Cộng sang hướng sống chung ḥa b́nh với Cộng sản, chỉ “xin” tí ti nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo.

Chúng không bao giờ nghĩ rằng chúng đang ở trong cái thế chết. Sớm hay muộn th́ Bắc Kinh cũng giết chết. Nếu không th́ khi tiêu diệt Cộng sản, người quốc gia Việt Nam sẽ phải tiêu diệt bọn chó săn nằm vùng quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và tập thể sư công an.  

            Toàn bộ GHPGVNTN với hơn 20,000 sư công an đảng viên Cộng sản loại ṇng cốt, ( và hơn 72.000  công an loại trung kiên nhất  ở Haĩ  Ngoại -USA ) ,  chiếm ngụ hơn 10,000 chùa chiền trên toàn quốc.( với hơn 200 chùa ở  Mỹ và Canada ) Những chùa này và tăng ni quốc doanh Cộng sản GHPGVNTN đă trở thành ổ hoạt động Cộng sản nằm vùng, với đầy đủ tiền bạc phương tiện, kể cả các phương tiện tuyên truyền dối trá, bịp bợm, gian ngoan,  và sẵn sàng đánh phá bất cứ chính quyền quốc gia nào sau này, để cướp lại chính quyền.

Chủ nhiệm Tổng Cục Phản Gián, tướng Dương Thông, một người “biết quá nhiều” và có thể tiêu diệt các cán bộ thân Bắc Kinh, đă bị hạ sát ngày 27 tháng 4, 1995. Dương Thông được coi là tai mắt của chế độ. Mất Dương Thông, Cộng sản Hà Nội đă trở thành điếc, mù, mặc t́nh cho cán bộ Bắc Kinh thao túng. Đến đầu năm 1996 ( hay là sau khi Tổng Cục Phản Gián đưa con baiụ dỏm  Nguyễn Chí Thiện ra làm c̣ moi ở  Haĩ  Ngoại ) th́ người quốc gia tung  Sát Lệảnh tiêu diệt Cộng sản trước khi đại hội Đảng kỳ 8 nhóm họp ngày 28 tháng 6, 1996.   Sát Lệnh này đă được cán bộ Bắc Kinh tích cực thi hành để tiêu diệt và loại bỏ gần như toàn bộ lănh đạo Cộng sản phe người Việt.  Đầu tiên là Trần văn Trà, đă từng đi Mỹ tham quan với Nguyễn thị Định, ngày 20 tháng 4, 1996. Vài ngay sau đến lượt Đào Duy Tùng và hàng chục cán bộ ít tên tuổi hơn.  Trà và Tùng đều được đưa gấp đi Tân Gia Ba chữa bệnh. Trà chết hẳn, c̣n Tùng th́ sống sót nhưng ngớ ngẩn, năo bộ hỏng v́ thuốc độc làm cho tê liệt và mất trí, và không dám trở về Việt Nam.

Phải đến cuối năm 1997, để khỏi mang tiếng giết đồng chí, thượng tướng Lê Khả Phiêu, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, đă buộc Tùng phải trở về Việt Nam cho y mang ra tŕnh diện rằng c̣n sống. Tùng đă ra sân khấu với vẻ ngơ ngẩn, mất hồn. Tùng chết mấy tháng sau đó, đầu năm 1998.  Người miền Bắc đều hiểu rằng tổng bí thư Lê Khả Phiêu là một thứ đao phủ của Bắc Kinh để tiêu diệt những người Cộng sản Việt Nam, có tinh thần truyền thống chống Bắc Kinh.

             Sau Tùng đến lượt thứ trưởng Ngoại Giao Lê Mai bị giết ngày 12 tháng 6, 1996. Mai là “kiến trúc sư” thực hiện hiệp ước Thương Mại với Hoa Kỳ. ( ChuSa có xem buổi hộp cuả Lê Mai qua Video Tape ) Mai có triển vọng lên chức bộ trưởng Ngoại Giao một khi kư kết hiệp ước Thương Mại xong. Sau Lê Mai đến Nguyễn đ́nh Tứ, tân ủy viên bộ Chính Trị, một người thân Nga và chống Tầu, bị giết ngay buổi tối ngày 28/6/96, sau khi khai mạc đại hội Đảng vào buổi sáng.

Tháng 6 năm 1995,  văn Kiệt và phe thân Mỹ đă soạn thảo xong “Cương Lĩnh thân Mỹ” (pro-American political platform) cho Đại Hội Đảng, với nhiều hi vọng sẽ đưa Đảng Cộng sản Hà Nội vào con đường “thân Mỹ chống Tầu”.  Bắc Kinh phản ứng, gửi Bí thư tỉnh ủy Giang Tây (Jiang Xi) đến Hà Nội trong mấy tuần lễ vào tháng 11, 1995, để viết Cương Lĩnh Mao Ít, theo Trung Quốc.  Cương lĩnh này đă được áp dụng cho Đại Hội Đảng kỳ 8 và có hiệu lực cho đến Đại Hội Đảng kỳ 9 năm 2001 và,,,  đến nay 2002.

Cũng trong thời kỳ đại hội đảng kỳ 8 năm 1996, một màn thanh trừng, tiêu diệt các đảng viên thân Mỹ đă xẩy ra và hoàn toàn bí mật. Hàng trăm đảng viên đă bị loại và bị giết trong âm thâm

Người Mỹ sững sờ và trở nên dè dặt khi họ thấy Cộng sản Hà Nội không hoàn toàn tự do đi với Mỹ.  “Đi với Mỹ” đă trở thành bản án tử h́nh cho bất cứ đảng viên nào. Cán bộ Bắc Kinh thâm độc ở điểm họ “mặc kệ” cho cán bộ người Việt hoạt động với Mỹ. Nếu “được” cái ǵ th́ càng hay. Nhưng dù “được” hay “không được” th́ cái “tội” đi với Mỹ, hứa hẹn với Mỹ, đều là tội tử h́nh hay loại bỏ. 

Người Mỹ th́ ngẩn ngơ khi thấy cán bộ người Việt ra mặt, nói chuyện, thương thảo, hứa hẹn cam kết đủ thứ. Để rồi những kẻ hứa hẹn đó biến đâu mất, chỉ c̣n những bộ mặt ngu ngốc, ngớ ngẩn, “đám ma  để nói láo, nói lếu cho qua. Chính các giới chức Mỹ cũng trở thành “nói láo” khi báo cáo tốt đẹp về những chuyện thương lượng cam kết của phía Hà Nội. Các doanh gia Mỹ và quốc tế thừa hiểu rằng những kẻ ăn tiền và hứa hẹn ngày hôm nay th́ ngày mai đă biến mất tiêu, để đưa các bộ mặt khác ra, để rồi lại có yêu cầu mới, ṿi vĩnh mới,  luật lệ mới và ăn tiền cũng mới nốt! 

Ngày 22 tháng 3, 2000, thủ tướng CS Phan văn Khải phải kư sắc lệnh hủy bỏ khoảng 600 loại “giấy phép con” trước ngày 1 tháng 7, 2000. Loại giấy phép lẻ loi này không căn cứ vào luật, mà do các địa phương “chế tạo” ra để làm tiền các doanh gia, doanh nghiệp để có cơ hội sách nhiễu, làm tiền, đ̣i điều kiện th́ dụ như cung cấp xe hơi, “bao” du lịch tu nghiệp, tham quan....

Tuy nhiên, một số nhân viên ngoại giao Mỹ không có tầm vóc hiểu nổi t́nh huống chính trị và chiến lược vô cùng phức tạp tại Việt Nam, đă cố gắng làm hết sức để tiến tới kư kết hiệp ước Thương Mại với Hà Nội. Họ giúp đỡ Cộng sản nhiều ưu tiên, quyền lợi, và dẹp tan mọi mưu toan và hành động chống Cộng  của người Việt quốc gia. Những giới chức ngoại giao này quá kiêu căng. Họ coi là họ đi đúng đường.? . Họ tin tưởng là Trung Cộng không dám trực diện đối đầu với Mỹ tại Việt Nam.  Họ tin tưởng là Cộng sản sẽ phải theo Mỹ, thay đổi từ đỏ sang xanh,  trung thành với Mỹ để t́m đường sống. Họ tin tưởng Cộng sản Hà Nội sẽ dám chống Bắc Kinh và có khả năng động viên toàn thể nhân dân Việt đứng lên chống xâm lăng phương Bắc.  Những nhà ngoại giao ngây thơ người Mỹ không thể hiểu  rằng các nước Việt Nam, Thái Lan, Mă Lai, Cao Miên, Phi Luật Tân, Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Miến Điện .... đều do những người gốc Hoa (ethnic Chinese groups) nắm toàn bộ chính trị, kinh tế và quyền lực. 

Những nhà ngoại giao Mỹ phải hiểu rằng nhân dân Việt Nam căm thù Cộng sản thấu xương.  Họ phải tiêu diệt Cộng sản và hoan nghênh bất cứ ai, kể cả Trung Cộng, giúp họ tiêu diệt Cộng sản. Cộng sản phải bị tiêu diệt để Việt Nam sống. Chỉ có một dân tộc Việt Nam độc lập, tự do, mới có thể đương đầu với những đoàn quân xâm lăng từ phương Bắc!  Dù sao th́ t́nh h́nh chiến lược tại Á Châu đă trở nên thuận lợi tốt đẹp về phía Hoa Kỳ khi những nhà ngoại giao Mỹ ngây thơ bị gạt bỏ qua một bên.  Vấn đề Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai là “chiến lược”, không phải ngoại giao!

Vào năm 2002, Trung Cộng đă thành công chiếm lĩnh Việt Nam bằng số cán bộ người gốc Hoa. Bắc Kinh không cần dùng quân đội theo đường lối xâm lăng thông thường.  Những tên người gốc Hoa Lê Khả Phiêu, Lê Minh Hương, Phạm văn Trà, Nguyễn văn Hưởng, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên,  Vũ Khoan, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Vơ viết Thanh, Trương Mỹ Hoa...  đă công khai ra mặt làm chó săn cho Tầu và  nhận mệnh lệnh từ Bắc Kinh.  Chính bọn này đă tiêu diệt đầu năo Cộng sản người Việt Nam.

Trên phương diện nhiều kẻ thù, th́ dân tộc Việt Nam đă dùng Cộng sản Tầu tiêu diệt Cộng sản người Việt và bớt đi một kẻ thù.  Ta có thể ước lượng sau chuyến đi của ông Cohen đến Hà Nội, một số tướng CS người Việt sẽ bị loại bỏ hay thủ tiêu.  Đến một ngày nào đó, những người quốc gia Việt nam sẽ tiêu diệt tập thể lănh đạo Cộng sản người gốc Tầu tại Hà Nội.

 

15. Người Mỹ thay đổi suy nghĩ chiến lược và soay chiến lược sang hướng khác.

Phải đến tháng 9, 1999, những nhân vật Mỹ cấp tối cao mới ư thức được sự nguy hiểm của cái bẫy sập Việt Nam mà các nhà ngoại giao trung cấp của Hoa Kỳ đang đưa nước Mỹ chui vào. Cố vấn An Ninh Bạch Cung, ông Samuel Berger, tuyên bố: “Thật là ấu trĩ  (ngoại giao) khi thương thảo mà lại chắc chắn sẽ phải kư kết vào một ngày nào đó!”  Người Mỹ lập tức ngưng hẳn vấn đề thương thảo.  Họ thấy không có lợi lộc ǵ, trong khi cái hại có thể là vô cùng nguy hiểm cho b́nh diện chiến lược Á Châu. 

Đối phó với hiểm họa xâm lăng bành trướng Trung Cộng cũng đủ mệt. Huống hồ lại nuôi bọn Việt Cộng cho béo để chúng làm chó săn, chó ngao cho Trung Cộng!

Sự kiện bất ngờ này đă làm cho Việt Cộng điêu đứng, choáng váng.  Chúng tính lừa Mỹ rồi sẽ đưa tất cả gia đ́nh, của cải, tài sản di tản sang Mỹ “trước khi” quân Tầu tràn vào Bắc Việt. Trung Cộng muốn cho bọn này đi sang Mỹ, cho Mỹ nuôi, để không c̣n bất cứ ai lănh đạo, chỉ huy người Việt chống Tầu.  Tháng 7 năm 1999, tổng lănh sự Mỹ tại Saigon, Charles Ray, đă hân hoan tuyên bố sẽ cấp ồ ạt 300,000 chiếu khán nhập cảnh, cho Việt Cộng du lịch Hoa Kỳ, và như vậy chung có thể  ở lại Mỹ,?  (300,000 riêng trong năm 2000! )

Ngày 25 tháng 9, 1999, chánh biện lư (District Attorney) quận Cam,  ông Tony Rackaukas, họp với Cộng đồng người Việt, yêu cầu họ giúp đỡ đối phó với khoảng 8,000 thành viên băng đảng người Việt riêng tại quận Cam và 109 tên cầm đầu lănh đạo.  Chưa có du lịch Việt Cộng mà đă có khoảng 2 lữ đoàn (brigades) băng đảng người Việt chỉ riêng trong quận Cam!

Phải chăng những nhà ngoại giao lỗi lạc Hoa Kỳ muốn đưa hàng trăm ngàn cán bộ đảng viên Cộng sản vào Hoa Kỳ để dẹp tan những người Việt chống Cộng, không cho họ biểu t́nh chống Cộng, và cho khởi động chiến tranh du kích giữa Cộng sản và nhân dân Việt chống Cộng ngay trên đường phố Hoa Kỳ?

Phải chăng một vài nhà ngoại giao Hoa Kỳ muốn cho cán bộ Cộng sản tràn ngập quận Cam và tiện cho việc đặt tổng lănh sự Cộng Sản tại khu Bolsa với cờ đỏ sao vàng? Tổng lănh sự Cộng sản Nguyễn xuân Phong đă chuẩn bị trả lại văn pḥng ở San Francisco và dọn nhà xuống khu Bolsa.  Ai đă ra lệnh cho cảnh sát Westminster tập trung khoảng 900 người sẵn sàng đàn áp biểu t́nh ngày 20 tháng 2, 1999, để rồi rút lui sớm, nhưng để lại cái hóa đơn lương phụ trội cho  cảnh sát gần một triệu đôla mà thành phố Westminster phải cắn răng chịu?

Câu tuyên bố của ông Ray khiến cho nhiều ngàn người xếp hàng mỗi ngày tại trước cửa ṭa tổng lănh sự Mỹ. Sau này, chính ông Ray đă phải cải chính khéo và chỉ cho những người đủ điều kiện “trở lại” Việt Nam mới được cấp chiếu khán du lịch vào Mỹ!  Ông Ray cũng nực nội về con số hàng ngàn người xếp hàng mỗi ngày trước cửa văn pḥng của ông, trông ra cái cảnh Việt Cộng đang bỏ chạy sang Mỹ và để cho ông làm lănh sự với... Bắc Kinh! Ông Ray đành phải ra lệnh cho những người xin visa đi Hoa kỳ phải đóng $45 đôla (không hoàn lại) cho ngân hàng Citibank, rồi cầm biên nhận tới ṭa lănh sự xin mẫu đơn xin visa.

 

16. Đài Loan trở thành điểm chiến lược nóng bỏng tại Á Châu và thời kỳ bầu cử tổng thống, tháng 3, 2000.

Chiến lược làm cho Việt Nam trống trải cho Trung Cộng tiến quân domino xuống Đông Nam Á  đă hoàn toàn bị bẻ gẫy năm 1999 và 2000, nhưng chưa phải là gẫy hẳn. Cuộc bầu cử Tổng thống Đài Loan ngày 16 tháng 3, 2000 với ông Trần Thủy Biển đắc cử, đă là một chiến lược chính trị để đối phó với Bắc Kinh.

Từ năm 1987, các nhà lănh đạo Quốc Dân Đảng Trung Hoa đă nh́n thấy cái thế nguy hiểm của vụ Trung Quốc “đ̣i” thống nhất trong khẩu hiệu “Một nước Trung Hoa”. Đài Loan quá giầu với ngoại tệ dự trữ hơn 200 tỷ đôla trong khi Bắc Kinh nghèo thê thảm, nghèo mạt.  Bắc Kinh có quyền đ̣i thống nhất v́ lănh đạo Đài Loan lúc đó là người lục địa chạy qua.  Nếu là người Đài Loan làm tổng thống th́ cái thế đối diện với Trung Cộng có thể khác đi. 

Tổng thống Tưởng Kinh Quốc lập tức cho phép doanh gia Đài Loan được vào Hoa Lục đầu   (tổng cộng đến nay gần 30,000 dự án, trị giá nhiều chục tỷ đôla) để xoa dịu t́nh h́nh kinh tế quá nghèo đói ở Hoa Lục. Đồng thời Quốc Dân Đảng sửa soạn chuyển quyền từ từ sang những nhân vật sinh trưởng tại Đài Loan. Quân lực Đài Loan cũng được phát triển, hiện đại hóa với hàng chục tỉ đôla để mua những máy bay, hỏa tiễn và tầu chiến loại tối tân nhất. Đài Loan sẵn tiền. Chỉ mua 60 phi cơ chiến đấu Mirage của Pháp cũng tốn 4 tỉ đôla.  Do đó, Tưởng tổng thống đă ủy quyền cho ông Lư đằng Huy thay thế khi ông từ trần.  Nhưng phải đến năm 1995, cuộc bầu cử tổng thống dân cử và công khai mới được thực hiện và ông Lư đằng Huy đương nhiên đắc cử.

Bắc Kinh hiểu rằng Đài Loan đă dùng “bầu cử dân chủ” để chống lại mưu toan thống nhất, nuốt trọn đảo quốc này. Một tổng thống “dân cử” th́ đương nhiên có quyền quyết định - thống nhất hay ly khai với Hoa Lục -  theo lối dân chủ và được toàn thể dân chúng ủng hộ.  Một lá bài khác của Bắc Kinh là dùng vơ lực hăm dọa để cho dân Đài Loan nhụt chí, không dám bỏ phiếu cho người Đài Loan chủ trương ly khai.

Thấy Bắc Kinh đưa ra những lời đe dọa sắt máu nhất, người Mỹ cũng tưởng thật. Cuối tháng 2, 2000, Đô Đốc tư lệnh quân lực Hoa Kỳ ở Thái B́nh Dương (CinCPAC) Dennis Blair tới tận Bắc Kinh để hỏi thẳng là họ có tính dùng vũ lực đối phó với Đài Loan “thật” hay không? Bắc Kinh không ngờ thái độ của người Mỹ “bất ngờ” đến như vậy, nên đă xụi lơ, và nói rằng chúng tôi không có sửa soạn chiến tranh ǵ cả! Vấn đề hung hăng hùng hổ của Bắc Kinh chỉ là sự “dọa nạt hùng hổ” (bluff) của một con cọp giấy, không  có nanh vuốt ǵ cả.

Đây là một tai hại chiến lược lớn cho Bắc Kinh. Khác với lần trước năm 1995, Hoa Kỳ đă gửi hai hàng không mẫu hạm và một lực lượng đặc nhiệm đến tận eo biển Đài Loan. Bắc Kinh hùng hổ làm dữ. Lần này, Bắc Kinh cũng tưởng như lần trước. Bắc Kinh “dọa già” mạnh hơn nữa. Báo chí quân đội Trung Cộng, có lẽ để nâng cao tinh thần quân đội không sợ Mỹ, đă hung hăng đến mức đe dọa tấn công Hoa Kỳ bằng nguyên tử.

Ngày 24/3/2000, Lư Gia Quân, một chiến lược gia Bắc Kinh phải thú nhận rằng “thời điểm tấn công Đài Loan là một thời điểm không giới hạn thời gian” (Timetable without time limit).  Nếu thống nhất qua những cuộc đàm phán trong ḥa khí th́ là một chặng đường thật dài v́ có nhiều vấn đề kỹ thuật cần phải tranh căi.  C̣n nếu dùng vũ lực th́ chỉ cần vài giờ đồng hồ sẽ gây ra xung đột rộng lớn với các lực lượng quân sự nước ngoài.”

Như vậy cuộc thảm bại gần như chắc chắn và kéo theo những sự trừng phạt và sụp đổ kinh tế dành cho kẻ hiếu chiến bại trận.

Do vấn đề xử sự một cách nông nổi và thiếu suy nghĩ nêu trên, ta có thể thấy Trung Cộng chỉ làm một thứ cọp giấy, không có chiến lược gia tài giỏi khôn ngoan và cũng không có khả năng gây chiến cục bộ hay toàn bộ.  Trung Quốc muốn trở thành một thứ siêu bạo cường hành xử bạo quyền, ăn cướp, buôn lậu, bóc lột, triều cống theo kiểu cả thế giới phải làm thuộc địa và phải khấu đầu (kowtow) triều kiến “Thiên triều Bắc Kinh”! 

Trong khi đó th́ siêu cường Hoa Kỳ hành xử như một kẻ cứu khốn pḥ nguy, trừ gian diệt bạo, đánh dẹp các tên độc tài, ác bá, theo kiểu làm cảnh sát quốc tế.. không lương, và không được ai biết ơn hay trả ơn! Việt Cộng và Trung Cộng, Liên Xô đều hay chửi Mỹ là “sen đầm quốc tế” cũng là do tinh thần chống Cộng Sản tới mức khủng khiếp của quốc gia này!

Muốn hiểu sự việc Hoa Kỳ tàn sát Cộng sản th́ ta nên hỏi người Bắc Hàn xem Hoa Kỳ thời chiến tranh dùng máy bay B-29 ném bom trải thảm đến mức thành phố “B́nh Nhưỡng” đă trở thành “B́nh Địa”.  Bắc Hàn chết khoảng 6 triệu người riêng v́ bom Mỹ. Quân Trung Cộng bị chết hơn 1 triệu.  C̣n Việt Nam th́ con số được ước lượng không dưới 7 triệu cán binh Cộng sản bị tiêu diệt, phần lớn do hàng chục triệu tấn bom nổ và bom trung ḥa tử và dọc theo Trường Sơn trên 3 quốc gia Đông Dương.

            Dĩ nhiên chúng ta chỉ suy đoán “nửa chừng”! Vấn đề chiến lược rất khó biết. Đôi khi có biết cũng không nên nói v́ là thời sự đang diễn biến khiến ta có thể bị sai lầm. Nói dzậy mà không phải dzậy!   Tuy thấy thế này những biến đổi lại ra thế khác.    

            Thời cuộc thế giới hiện nay vào năm 2000 không hẳn là chiến tranh quân sự mà là chiến lược. Ta có thể nói hiện nay thế giới đang có nhiều cuộc  chiến tranh chiến lược” cả về mặt quân sự,  chính trị và kinh tế. Cái nọ ràng buộc cái kia. Ta có thể tính thắng bằng quân sự  nhưng ta lại thua  về kinh tế.  Phần thắng quân sự cũng chưa  bảo đảm chắc chắn. Nhưng phần thua kinh tế th́ chắc chắn một khi có tiếng súng nổ!

            Từ sau khi đàn áp đẫm máu tại Thiên An Môn, lănh đạo Bắc Kinh coi Mỹ là kẻ thù nguy hiểm cho họ. Tuy vẫn gửi sinh viên sang Mỹ du học, mỗi năm khoảng 40 ngàn người, nhưng họ cho rằng Mỹ đă “cấy” tinh thần và khái niệm dân chủ cho giới trẻ và thành phần lănh đạo tương lai của Trung Hoa.  Và do đó vụ Thiên An Môn đă xẩy ra vào đầu năm 1989 và kết thúc bằng một cuộc thảm sát ngày 4 tháng 6, 1989.

            Người Mỹ không bao giờ có ư thức lật đổ chính quyền Bắc Kinh, kể cả vấn đề xúi dục sinh viên biểu t́nh đ̣i dân chủ. Họ coi vấn đề sinh viên, giới trẻ và có học, đ̣i hỏi dân chủ là một diễn biến tự nhiên phải có, cho mỗi cá nhân hoặc cho xă hội.  Một nước lớn như Trung Cộng với dân số vượt quá 1 tỷ người th́ vấn đề ư thức khác nhau và sự tranh chấp nội bộ là điều không thể tránh.  Từ sự chia rẽ tư tưởng, suy nghĩ đến sự chia rẽ quốc gia, hay ly khai, chống lại trung ương tập quyền (centralization of power) là điều tất nhiên phải xẩy ra,  song song với sự tiến hóa văn minh, khoa học, học vấn, không sớm th́ muộn.

            Nếu lănh đạo Bắc Kinh khôn ngoan th́ họ nên nh́n gương Hoa Kỳ, Ấn Độ và sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết  để liệu bề thu xếp cho các tỉnh bang thêm quyền hạn với sự bầu cử dân chủ, dùng người địa phương cai trị người địa phương, với những quyền lợi, phong tục,  ngôn ngữ, tập quán địa phương phải được tôn trọng và duy tŕ.   

Khi địa phương hóa như vậy th́ đảng Cộng sản tự nhiên trở thành thứ yếu và quyền lực trung ương ở Bắc Kinh sẽ lo những vấn đề cực kỳ quan trọng như ngoại thương, hoạch định kế hoạch kinh tế cho tương lai, và nhất là phải lo cho nhân dân được sinh sống ở mức cao hơn.

Một thí dụ, Trung Quốc hiện nay chỉ lo sản xuất và xuất cảng để lấy ngoại tệ và đổ vào các kế hoạch phát triển hỏa tiễn, gia tăng khả năng quân sự và tiềm năng chiến tranh. Sự chia sẽ quyền lợi không đồng đều trong các thành phố nhộn nhịp với đời sống văn minh, sung túc, xa hoa, th́ khoảng 900 triệu nông dân sống trong mức bần cùng, đói khổ nhất, mà chưa biết tương lai ra sao?

Nếu Bắc Kinh b́nh tĩnh lại và đưa ra các kế hoạch phát triển nông thôn và xây cất đường xá - như Hoa Kỳ đă làm trong thập niên 1950s -  cho các tỉnh bang tự do giao dịch mua bán với nhau, th́ chỉ trong khoảng 5 năm Trung  Cộng sẽ sung túc v́ mức xuất nhập cảng nội địa giữa các tỉnh gia tăng mạnh mẽ. Áp lực cần phải xuất cảng ra nước ngoài cũng giảm đi. Ngược lại dân chúng Trung Hoa có thể mua hàng nước ngoài tiêu dùng, và cán cân chi phí có thể được thăng bằng, với sự tốt đẹp lâu dài. Một nước Trung Hoa phồn thịnh  quả là một sự tốt đẹp trên toàn thế giới.

Vào thời điểm viết bài này, 30/8/2002, vấn đề Đài Loan . Trung Cộng thấy khó nuốt trôi Đài Loan nhưng không thích Đài Loan tuyên bố độc lập. Nếu Đài Loan làm vậy sẽ gây ra sự suy nghĩ  “đ̣i” tự trị, ly khai tại các tỉnh bang khác trong lục địa. Đó chính là cái mầm nội loạn. Muốn trừ diệt cái mầm nội loạn th́ Trung Quốc phải tiêu diệt Đài Loan để trừng phạt và để răn đe các tỉnh bang và họ sẽ không dám nổi loạn hay đ̣i ly khai, độc lập. Thủ tướng Chu Dung Cơ (Zhu Rongji) phải lên truyền h́nh với bộ mặt sát khí đằng đằng để de dọa Đài Loan, cũng v́ lư do này.

Dĩ nhiên Đài Loan cũng chỉ dọa già và phải lui bước ngay.  Đài Loan tính rằng nếu đánh nhau th́ chỉ có sự tàn phá và thua hay ḥa, không thể thắng!  Ngược lại Trung Quốc khi tấn công Đài Loan sẽ phải tính đánh tấn công Hoa Kỳ cùng một lúc. Và đây là thế chiến bằng hỏa tiễn nguyên tử, không phải chuyện chơi. Ngay khi khởi sự tấn công Đài Loan th́ toàn thể guồng máy kinh tế, xuất nhập cảng của Trung Quốc bị đ́nh chỉ và tê liệt ngay. Các tỉnh sẽ náo loạn và nổi loạn. Các đại đơn vị quân đội trấn đóng tại các tỉnh sẽ có thể ly khai và bất phục tùng Bắc Kinh.   Bắc Kinh hiểu rằng trong khi họ chĩa 30 hỏa tiễn nguyên tử vào Hoa Kỳ th́ đối lại cũng có hàng trăm hỏa tiễn nguyên tử của Mỹ chiếu thẳng vào Bắc Kinh và các cứ điểm quan trọng của Trung Quốc.  Đó là chưa kể đến vấn đề  kỹ thuật, sự vô hiệu hóa bằng hỏa tiễn chống hỏa tiễn hay vệ tinh chiến lược.

Chiến tranh, dù nhỏ hay lớn, không phải là chuyện một sớm một chiều,  chửi nhau xong là sắn tay áo đánh nhau liền.  Như vậy Đài Loan và Trung Quốc đều ở trong cái thế “bất chiến”, bất khả gây chiến, chỉ có nhường nhịn nhau để sống chung ḥa b́nh như  từ trước đến bây giờ!

            Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển đă gửi đặc sứ bí mật sang Bắc Kinh để dàn ḥa. Đàng nào th́ Đài Loan vẫn đang độc lập và b́nh an. Cần ǵ phải tuyên bố “độc lập” làm chi để chọc giận và gây khó khăn cho Bắc Kinh?  Đài Loan cũng tính bước xa hơn bước nữa để chứng tỏ thiện chí với Bắc Kinh là giải tán Quốc Hội dân cử. Cái quốc hội này có rất nhiều người, v́ không hiểu chiến lược hay chiến tranh, lại cứ to mồm đ̣i độc lập để kiếm phiếu.

             Trong 10 năm qua, Bắc Kinh đă khuấy động lung tung để phá Mỹ và đứng đàng sau các lực lượng  độc tài ác bá như  I Rắc (Iraq) Nam Tư (Serbia), Ba Tư (Iran), khối Hồi giáo và các nhóm khủng bố.  Những hoạt động này không thể được ngưng một sớm một chiều.  Dă tâm của Bắc Kinh khuynh đảo Hoa Kỳ và thế giới đă trở nên rơ rệt và người Mỹ đương nhiên phải đối phó. Đối phó bằng chiến lược nào th́ ta không thể bàn v́ đó là vấn đề thời sự đang diễn tiến.

Sang thế kỷ 21, nhân loại đă đủ khôn ngoan để dùng chiến lược đối phó với các bạo quyền và bạo động, chiến tranh. Các lực lượng hùng mạnh có thể được sử dụng trong các thế chiến lược khôn ngoan mà không cần phải chiến tranh quân sự với nhiều người chết và đổ máu.  Nhiều nước văn minh, nhất là Hoa Kỳ, đều không thể chấp nhận chiến tranh với cảnh tượng ghê rợn là đếm xác chết và báo tang cho từng gia đ́nh.  Lại c̣n vấn đề t́m xác chết, đ̣i tù binh, đ̣i người mất tích, để bị dồn vào cái thế phải năn nỉ điều đ́nh với địch quân.  Chính v́ lư do không muốn có chiến tranh quân sự, mà Hoa Kỳ bị Trung Cộng và nhiều nước khinh khi là “cọp giấy”!

            Hitler và tướng lănh Đức Quốc Xă đă lầm về người Mỹ khi gây ra Đệ Nhị Thế Chiến năm 1940, 1941.  Người Đức nói rằng Hoa Kỳ chỉ giỏi chế tạo xe hơi, máy lạnh, tủ lạnh, chứ không biết chế tạo vũ khí và nhất là không biết đánh nhau, hay là chỉ chủ trương biệt lập (isolationism), ở ĺ cô lập tại Mỹ Châu và không muốn phiêu lưu mạo hiểm ra ngoài Mỹ Châu. Người Đức không ngờ rằng ngay khi chiến tranh xẩy ra th́ các nhà máy Hoa Kỳ lập tức chuyển sang sản xuất quân cụ, vũ khí  tới mức khủng khiếp. Hoa Kỳ quả có một đội ngũ công nhân, chuyên gia, kỹ thuật gia tài giỏi, có nhiều năng lực nhất thế giới. Máy bay, tầu chiến, xe tăng, xe tải, tầu vận tải, các thứ quân trang, quân dụng, bom, đạn dược, thuốc men... từ các xưởng máy đổ ra liên tục, suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ.

             Hồ chí Minh và Vơ Nguyên Giáp năm 1960 đă lầm về Hoa Kỳ. Giáp tuyên bố sẵn sàng đổi mạng, 10 tên du kích đổi mạng một lính Mỹ, th́ đủ làm cho Mỹ nhụt chí bỏ chạy ra khỏi Việt Nam. Nhưng kết quả là khoảng 150 lính Việt Cộng đổi mạng một lính Mỹ cùng với sự tàn phá tan hoang cả nước v́ gần 17 triệu tấn bom đạn.  Hậu quả thê thảm hơn nữa là chiến lược domino đánh chiếm Đông Nam Á hoàn toàn thất bại vào năm 1979, đưa đến sự sụp đổ đế quốc Liên Xô đúng 10 năm sau. 

Việt Cộng quả là vô duyên với Hoa Kỳ. Trong gần 60 năm qua, người Mỹ muốn mua chuộc Cộng sản Việt Nam để “đi” với họ, chống Trung Quốc và Liên Xô để mang lại thế quân b́nh chiến lược cho Á Châu và toàn thế giới.  Nhưng ngay lúc hai bên sáp gần lại với nhau nhất, th́ người Mỹ nh́n ra một khía cạnh chiến lược khác và nh́n ra bộ mặt thật, bộ mặt chó săn tay sai cho Bắc Kinh, của Cộng sản Hà Nội.

Cuối năm 1999, ông Kissinger nói “Chúng ta đă lầm trong thời gian thập niên 1950s khi muốn đối thoại với Cộng sản Hà Nội!”  Đây là một câu nói khó hiểu, tùy sự lư đoán và xét đoán của quư bạn đọc.  Phải chăng ông Kissinger muốn nói “người Mỹ đă lầm khi muốn bang giao, liên minh, liên kết thân mật với Cộng sản Hà Nội trong thập niên 1990s?

 

17.  Hoa Kỳ “nợ” dân tộc Việt Nam ra sao?

            Người Mỹ chỉ nói họ thua chiến tranh ở Việt Nam và rút ra. Nhưng họ không bao giờ nói là họ đă thắng trận chiến domino Sô Viết và cứu toàn thế giới, cả Hoa Kỳ, thoát khỏi chiến tranh nguyên tử! V́ nếu nói rằng “thắng domino” th́ họ sẽ mang “nợ” với dân tộc Việt Nam và mang tiếng dùng đất nước Việt làm băi chiến trường,  để đạt mục đích, để rồi bỏ rơi, bỏ chạy, không phải chi trả một xu!

Thật khó nói trước rằng Hoa Kỳ sẽ trả “nợ” dân tộc Việt Nam bằng cách nào? Đây cũng là một vấn đề chiến lược đang diễn tiến, không thể tŕnh bày trong phạm vi bài viết này.  Dân tộc Việt Nam hiện nay không có người tài giỏi ra mặt.??? .  Không thấy người nào hay tổ chức nào có thể nói chuyện, đối thoại với Hoa Kỳ. Cũng không thấy Hoa Kỳ ủng hộ bất cứ người Việt quốc gia nào! Chỉ thấy một lũ c̣ mồi nhân quyền, giáo hội quốc doanh, và một lũ văn nô, bồi bút, báo lá cải, đài phát thanh, chính trị gia thân Cộng ... cam tâm làm Việt gian, tôi mọi, tay sai, chó săn, c̣ mồi ḥa b́nh, c̣ mồi nhân quyền cho Cộng sản.

Chiến tranh Việt Nam trong 15 năm từ 1960 đến 1975, đă làm cho Mỹ tốn khoảng 300 tỷ đôla. Với Mỹ th́ số tiền này đă nuôi kinh tế Hoa Kỳ và các nước Nhật Bản, Hồng Kông, Tân Gia Ba, Đài Loan, Nam Hàn và đẩy họ lên hàng những con rồng, cọp kinh tế. Chỉ có dân Việt Namăn bom, đạn, rồi tan cửa nát nhà, mất nước, lưu vong. 

Ngày nay chiến tranh mang một bộ mặt thực tế là... tiền! Có tiền th́ mới nói chuyện mộ lính, mua súng đạn, máy bay, tầu chiến, xe tăng, đại pháo, quân trang, quân dụng. Nếu ta tính cuộc chiến để lấy lại Việt Nam phải cần đến 1 triệu quân và... 100 tỷ đôla - theo thời giá này nay chỉ bằng 20 tỷ thập niên 1960s, nếu tính giá trị vơ khi tối tân th́ chỉ bằng... 5 tỷ thời trước! Một xe Jeep thời đó khoảng 5 ngàn đô. Ngày nay một xe Jeep “Humvee” 200,000 đôla chưa kể trang bị. C̣n giá tiền một xe tăng Abrams hay hỏa tiễn pḥng không Patriot th́... có lẽ ta không nên tính đến chuyện xử dụng xe tăng hay hỏa tiễn Patriot làm chi cho mệt!

Như vậy Cộng sản Hà Nội có thể rung đùi yên chí là không có một người Việt Nam hải ngoại nào đủ tiền để thành lập một đoàn quân phục quốc đủ mạnh để về nước chiến đấu tiêu diệt Cộng sản. Tiền không có, căn cứ không có, người không có, hậu thuẫn tiền bạc cũng không có nốt, th́ nếu có nói kháng chiến, phục quốc, th́ chỉ là chuyện ma mănh, bịp bợm, phở ḅ, phở tái, kinh tài cho Việt Cộng, chứ làm ǵ có thật?

             Nói chuyện chính trị hay nhân quyền  th́ phải có sức mạnh hay lực lượng hùng mạnh hậu thuẫn đứng đàng sau, th́ mới nói. Chính khách Cộng sản được Hà Nội cho đi chính thức công khai ra hải ngoại, chỉ có người không với Mác Cộng Sản to tổ bố, mà nỏ mồm “đ̣i” nhân quyền nhưng không làm ǵ cả, th́ đúng là một lũ bịp nhà quê, chỉ biết bịp bợm theo kiểu ngu dốt, bần cố nông, chứ ai có thể tin? Sư quốc doanh Cộng sản Thích Quảng Độ quả xứng đáng được đề nghị giải Nobel “ḥa b́nh Cộng sản” v́ nếu có “ḥa b́nh” th́ Cộng sản Hà Nội mới sống lâu và giáo hội quốc doanh Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mới tồn tại làm “quốc giáo Cộng sản”!  Tội nghiệp cho giáo hội Công Giáo trong Hội Đồng Liên Tôn, đóng vai chầu ŕa mà chẳng ăn thua ǵ!  Cộng sản sống th́ chỉ có GHPGVNTN quốc doanh được “ăn có”. Khi Cộng sản bị tiêu diệt th́ giáo hội Công Giáo lại mang tội cấu kết, bang giao, hợp tác với Cộng sản!

Phải chăng Giáo hội Công Giáo đă hết thời nên mới làm chính trị lối ngu xuẩn như vậy? Phải chăng giáo hội Công giáo c̣n thích thú cái thời kỳ “đoàn kết” với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quốc Doanh  những năm 1964, 1965, 1966 để đánh phá các chính quyền quốc gia và để báo thù cho Tổng Thống Công giáo Ngô đ́nh Diệm? Phải chăng Giáo Hội Công Giáo lúc nào cũng phải cấu kết với bạo quyền, bất cứ bạo quyền nào, từ thực dân đến Cộng sản, để dựa thế lực và tiếp tục bành trướng giáo hội?

 

18. Tổng Cục Phản Gián và bọn c̣ mồi quốc doanh không ngờ rằng “đề nghị giải Nobel Ḥa B́nh” chỉ là đề nghị bánh vẽ.         

Thích Quảng Độ và Đoàn viết Hoạt “chưa bao giờ” được coi là chính khách chính trị gia có tầm vóc quốc tế và đại diện chính trị của dân tộc Việt Nam.  Đề nghị giải Nobel ḥa b́nh có tới hơn 150 người, Quảng Độ chỉ là một. 

Không ai coi Thích Quảng Độ là Mandela của Việt Nam. Quảng Độ và bọn c̣ mồi quốc doanh đă nhầm khi chỉ chú trọng “đ̣i” tự do tôn giáo, đ̣i nhân quyền, nhưng không bao giờ đ̣i dẹp bỏ chế độ và nhân sự Cộng sản. Ông Nelson Mandela th́ khác. Ông Mandela không đ̣i tự do, nhân quyền hay đ̣i người Da Trắng phải bỏ kỳ thị. Ông Mandela thẳng thừng đ̣i người Da Trắng phải trao trả chủ quyền “hoàn toàn” cho người bản xứ da đen để tránh sự tàn sát.

Ông Mandela đang ở “tù thật” và được chính quyền Mỹ vận động mạnh mẽ “buộc” chính quyền da trắng Nam Phi phải cho ông ra khỏi tù. Sau đó hăng Coca Cola chi 16 triệu đôla cho cựu tù Mandela sang Mỹ “bán chính thức”. Tại Mỹ, ông Mandela được đón tiếp như quốc khách, được ra trước Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ trong sự hoan nghênh nồng nhiệt. Khi trở về Nam Phi, chính quyền Da Trắng sửa soạn tổng tuyển cử và ông Mandela đương nhiên đắc cử Tổng Thống và tổ chức chính quyền Da Đen thay thế. Người da trắng mừng v́ tránh được chiến tranh đổ máu và cuộc tàn sát khủng khiếp. Tài sản và sinh mạng của người da trắng được bảo vệ với quyền lợi đầy đủ.

Ở Việt Nam th́ khác hẳn. Thích Quảng Độ và Đoàn viết Hoạt chỉ được Tổng Cục Phản Gián tung ra hải ngoại với tính cách c̣ mồi bánh vẽ “đ̣i nhân quyền, tự do tôn giáo” để bịp người hải ngoại. Thích Quảng Độ và Đoàn viết Hoạt cũng được thêm các tổ chức ngoại vi của Mặt Trận Tổ Quốc  là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất quốc doanh, Hội Đồng Liên Tôn Quốc Doanh, Mặt Trận Kháng Chiến Phục Quốc Quốc Doanh Phở Tái Hoàng Cơ Minh, Mạng Lưới Nhân Quyền Quốc Doanh, Liên Minh Việt Nam Tự Do Quốc Doanh, Phong Trào Trẻ Quàng Khăn Đỏ Dấn Thân, Thanh niên Quốc Doanh Phan Bội Châu... ủng hộ liên minh và hoạt động như một Mặt Trận C̣ Mồi để bịp người Việt hải ngoại.  

Chính quyền Mỹ chưa bao giờ tỏ thái độ hay cử chỉ công nhận Thích Quảng Độ hay Đoàn viết Hoạt là những chính khách,  lănh tụ chân chính của dân tộc Việt Nam. Không bao giờ họ đối xử với hai tên này như họ tôn trọng ông Mandela. Ngay cả bộ Chính trị và chính phủ Cộng sản Hà Nội cho đến nay vẫn chưa được người Mỹ tiếp đón chính thức. Cũng không có cả sự đối thoại chính trị v́ hai tên chó săn quốc doanh này “không bao giờ” dám kêu gọi phải tiêu diệt Cộng sản.

Tổng Cục Phản Gián và Hà Nội đă bị những bài báo chợ ḷe bịp và tưởng rằng hai tên cán bộ c̣ mồi quốc doanh  này đă thành công chính trị hải ngoại.  Nếu Thích Quảng Độ, Đoàn Viết Hoạt,   Thích Tuệ Sỹ   và toàn băng Mafia GHPGVNTN Vạn Hạnh c̣n chút liêm sỉ, biết thân biết nhục, th́ nên câm họng, chui đầu vào đâu mà trốn, không nên chường mặt bịp ra nữa.

             Có bao giờ ta thấy Thích Quảng Độ, Đoàn viết Hoạt, báo Người Việt, Việt Báo Kinh Tế, Mạng Lưới Nhân Quyền,  Hội Đồng Liên Tôn, Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh, Liên Minh Việt Nam Tự Do, và bọn Phong Trào Tuổi Trẻ “quàng khăn đỏ” Dấn Thân, Hội Chuyên Gia quốc doanh,  Thanh niên quốc doanh Phan Bội Châu... nói năng ǵ đến “độc lập tự do cho quốc gia, dân tộc” và vấn đề cần phải tiêu diệt Cộng sản?  Chúng chỉ đ̣i tự do... tôn giáo và ḥa b́nh sống chung, để cứu sống chế độ Cộng sản.

               Người Việt quốc gia không có báo, không có đài phát thanh, và đứng trong bóng tối. Như vậy rất dễ nh́n rơ ràng mặt mũi bọn tăng ni, giáo hội quốc doanh và chó săn c̣ mồi, tay sai Cộng sản. Cộng sản nuôi bọn ăn hại này th́ làm nên tṛ trống ǵ?  Cộng sản tin tưởng những tṛ bịp bợm của bọn này th́ sẽ chết không có chỗ chôn. Cộng sản hi vọng sẽ trốn vào trong chùa th́ chính các chùa sẽ là tử địa, sẽ là nơi chúng bị tàn sát để được tắm trong máu của chúng.

               Cần phải dùng chiến tranh vũ trang lật ngược thế cờ ở Việt Nam hiện nay và tiêu diệt Cộng sản và đồng bọn chó săn c̣ mồi quốc doanh, để mang lại độc lập, tự do và sự trường tồn cho tổ quốc dân tộc Việt Nam. Cán bộ Cộng sản Thích Quảng Độ và đồng bọn đồng chí quốc doanh, c̣ mồi cứ làm “cán bộ ḥa b́nh nhân quyền Cộng sản”. Dân tộc Việt Nam chỉ thích dùng chiến tranh vũ trang tiêu diệt Cộng sản và bọn chó săn c̣ mồi quốc doanh nhân quyền. Để xem ai sẽ thắng?

Nói thật với các đồng chí tăng ni quốc doanh GHPGVNTN và các đồng chí c̣ mồi nhân quyền, c̣ mồi chê Đảng, c̣ mồi phê Đảng để xây dựng Đảng, và bọn văn nô bồi bút báo chùa, báo chợ quốc doanh rằng chúng tôi đă treo sẵn án tử h́nh trên đầu các đồng chí! Đảng viên Cộng sản các đồng chí quá nguy hiểm, quá gian ngoan, tráo trở, giảo quyệt và vô cùng thâm độc, tàn ác, th́ bắt buộc chúng tôi phải hạ sát lệnh tiêu diệt các đồng chí. Các đồng chí có thể hi sinh v́ đảng Cộng sản và sẽ thành liệt sĩ Cộng sản. Lệnh truy nă sẽ theo đuổi truy diệt các đồng chí đến cùng, cho đến khi nào các đồng chí chết mới thôi.  Dân tộc Việt Nam cần phải tiêu diệt các đồng chí, và đó là một cái giá quá rẻ để được sống trong ḥa b́nh, ổn định.

Sự đời “Cùng tất biến, biến tất thông!”  Việt Nam đă ở đường cùng, trên bờ vực thẳm của sự diệt chủng do tay Cộng sản. Dân tộc Việt Nam đă chịu đựng muôn vàn đau thương, tang tóc trong gần 2 thế kỷ đă qua.  Cái thế “biến” tất phải có để làm lối thoát chấm dứt một giai đoạn lịch sử và để mở một giai đoạn lịch sử mới cùng với thiên niên kỷ. 

Người Mỹ có bổn phận phải giúp Việt Nam tiêu diệt Cộng sản. Nhưng giúp hay không giúp c̣n tùy theo lương tâm và sự khôn ngoan chiến lược của lănh đạo Hoa Kỳ. Yếu tố duy nhất để làm thăng bằng cán cân quân sự và ổn định chính trị tại Á Châu, trớ trêu thay, lại là khối 80 triệu người dân Việt Nam! Nhưng cho đến giờ này, tháng 8/2002, chưa ai biết cách nào để sử dụng khối nhân lực hùng mạnh này.

 

19. Tương lai Cộng sản Hà Nội trong chiến lược đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu!

              Cộng sản Hà Nội không thể thực tâm chạy theo Mỹ v́ Bắc Kinh không muốn như vậy. Người Mỹ thấy rơ Cộng sản Hà Nội không c̣n chủ quyền, th́ họ không cần phải tính đến viện trợ và liên minh quân sự. Khi Cộng sản Hà Nội hợp tác, hay làm tay sai cho Bắc Kinh trong thế chiến lược đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu, th́ cũng là cái thế chết cho chúng.

Cộng sản Hà Nội hiện ở trong cái thế "thù trong, giặc ngoài", kinh tế tan hoang,  lại bị Trung Cộng xiết cổ thật chặt, không cho cục cựa, th́ làm sao tồn tại được lâu dài?

Trong t́nh huống thê thảm như vậy th́ một vài người ngoại quốc thân Cộng, hay một vài chính khách nhân quyền của nhà nước ta th́ làm được cái ǵ? Mấy tên c̣ mồi nhân quyền, tăng ni quốc doanh GHPGVNTN, kháng chiến quốc doanh Hoàng Cơ Minh và cái gọi là Hội Đồng Liên Tôn  th́ chỉ có múa rối một cách vô liêm sỉ, vô duyên, chứ làm sao cứu được chế độ Cộng sản?

Cộng sản Hà Nội mới cải tổ. Nguyễn Mạnh Cầm đă bị loại ra khỏi chức bộ trưởng Ngoại Giao v́ Cầm đă thất bại hoàn toàn trong vấn đề xin tiền Mỹ. Hà Nội đang cố gắng chuyển ḿnh sang một thứ chính phủ và kinh tế chiến tranh! Nhưng sự thê thảm cho Hà Nội là vấn đề không c̣n nhân sự nào sáng giá hay có đủ uy tín làm lănh tụ, lănh đạo. Thời thế của Cộng sản Hà Nội đă hết nên người cũng không c̣n.

Cộng sản Hà Nội có thể hứa sẽ trao trả tù binh Mỹ. Nhưng khi kư kết xong th́ Bắc Kinh lại ra lệnh thay đổi người để khỏi giữ lời cam kết, th́ Mỹ biết hỏi ai?  Những người nói chuyện thương lượng mới Mỹ năm 1999 như Nguyễn Mạnh Cầm, Trương đ́nh Tuyển đă mất chức. Bây giờ lại cho những bộ mặt mới ra “nói chuyện” với Mỹ bằng lối gửi văn thư, mật thư th́ chỉ có chết sớm! Khi người Mỹ tiết lộ “mật thư” th́ cũng là một cách bôi bác, làm nhục Cộng sản đang ăn mày, ăn xin, lạy van họ. Cái cảnh lạy van kẻ thù cũ để xin đôla, coi bộ không khá!

             Tóm lại, Cộng sản Hà Nội đă hiểu làThương Mại cần phải có để “cứu sống” chế độ Cộng sản, không phải v́ thương mại, kinh tế ǵ ráo. Người Mỹ không cần phải “thương” Cộng sản Hà Nội. Nếu Cộng sản Hà Nội chết th́ cũng là điều rất hay cho mọi người, cho dân tộc Việt Nam và cho Hoa Kỳ.

Và ngay lúc Hoa Kỳ không ngờ nhất th́ Hà Nội sẽ trở mặt theo Bắc Kinh chống Mỹ và đuổi Mỹ ra khỏi Á châu. Trong thập niên 1960s, Liên Xô đă ngần ngại không viện trợ cho Hà Nội vũ khí và hỏa tiễn tối tân v́ sợ Trung Cộng sẽ ăn cắp để chế tạo. Bắc Kinh chỉ nhằm giết những tên Cộng sản người Việt, như Lê Mai, Lê văn Bàng,  lăm le cấu kết với Mỹ thật sự.

             Một vấn đề khác kẹt cho Tổng Cục Phản Gián và những con c̣ mồi quốc doanh Thích Quảng Độ và Đoàn viết Hoạt.  Chúng tưởng rằng đưa ra những tiếng nói phản kháng, đối lập để sơn cho Cộng Sản nước sơn “dân chủ”, cho phép đối lập đối thoại,  bồi thường chất độc Da Cam, bồi thường chiến tranh  trị giá  hàng trăm tỷ đôla.  Nhưng chúng không ngờ thế cờ chính trị và chiến lược đă đổi khác. Người Mỹ đă quay 180 độ, bỏ mặc Việt Cộng cho Bắc Kinh xử lư. Cái “răng” Bắc Kinh có bổn phận phải “nuôi” cái “môi” Hà Nội! Nếu Cộng sản Hà Nội giầu mạnh th́ chỉ Bắc Kinh có lợi mà thôi.  Nếu Bắc Kinh giết chết hay bóp chặt Việt Cộng Hà Nội không cho cục cựa, th́ đó là điều đáng mừng cho tất cả mọi người.

Nếu nói rằng tất cả chế độ Cộng sản và bọn cán bộ quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và Vạn Hạnh là một lũ ngu dốt như chó, cũng không phải  quá đáng. Chính trị Hoa Kỳ và quốc tế không phải là những bản văn ngô nghê ngớ ngẩn, sặc mùi chó săn quốc doanh, nhân quyền Cộng sản đăng trên báo Người Việt, Việt Báo Kinh Tế và phát thanh trên đài VNCR hay Á Châu Tự Do.... Làm chính trị tại Hoa Kỳ mà làm theo  kiểu nhà quê trên báo chợ báo đảng với một lũ bồi bút quốc doanh ngu như chó lợn th́ đảng Cộng sản có chết nhăn răng, cũng là vừa .

           Xét chung, t́nh h́nh Việt Nam hiện nay giống như khung cảnh hai năm 1965 khi Mỹ kéo quân vào và 1975 khi Mỹ bỏ miền Nam, nhập lại làm một. Như vậy có nghĩa là mọi việc hiện nay sẽ không kéo dài trong 10 năm như trước kia. T́nh h́nh chính trị và quân sự sẽ thay đổi thật nhanh và thật chớp nhoáng, ngang với tốc độ của hỏa tiễn!

ChuSa rất tiếc không thể làm "thầy bói" đoán ṃ hay đoán thật mọi việc sẽ biến chuyển ra sao trong năm 2002....? Những chuyện đang diễn tiến là những bí mật không thể tiết lộ.  ChuSa chỉ có thể đoán rằng "có đục nước th́ mới béo c̣"!  Nếu nước trong veo, ( Thanh Thuỹ  Điếu Ngử ) không có cá, th́ c̣ làm sao bắt cá để mà béo mập? T́nh h́nh có biến đổi thật nhanh, thật mạnh th́ mới mau đưa đến sự tiêu diệt chế độ Cộng sản Hà Nội.  Dân tộc Việt Nam sẽ là kẻ thắng sau cùng. Quốc gia, dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai thật sáng lạn, huy hoàng trong thời gian rất gần đây! 

Những người Cộng Sản Hà Nội, Việt Nam hay gốc Hoa, khi đọc bài này nên ư thức rằng họ đang nằm trong cái cũi, trong bàn tay sắt của người Tầu. Bất cứ một chiều hướng nào nghiêng về Mỹ đều phải bị thanh trừng, tiêu diệt, không thể khác!

             Chiến tranh Việt Nam từ 1960 đến 1975 đă làm tốn rất nhiều giấy mực, từ các nhà b́nh luận quân sự, từ tin tức báo chí, và từ những người đă từng tham dự cuộc chiến.  Mỗi người mỗi ư. Mỗi người hiểu và suy nghĩ khác nhau về chiến tranh Việt Nam.

Một vấn đề không ai muốn nói đến là “Ư nghĩa thật sự” của chiến tranh Việt Nam. Phải chăng đó là Hoa Kỳ giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam chiến đấu chống Cộng?  Điều này rất  đúng. Nhưng đến khi người Mỹ nh́n ra chiến lược domino Sô Viết và sự tàn bạo của Cộng sản Việt Nam, th́ họ xoay sang hướng suy nghĩ chiến lược khác. Đó là “bất chiến”, giả thua, rút ra, cho Cộng sản thắng và chui vào bẫy sập miền Nam. Ta thấy rơ Cộng sản “thắng” ở miền Nam, để rồi chết trong sự tan ră và kiệt quệ.

Chiến tranh chống Cộng đă trở thành thứ yếu. Trọng tâm của người Mỹ là làm sao ngăn chận domino Sô Viết, tiêu diệt đại quân Cộng sản và làm cho tiềm năng, khả năng chiến tranh của Cộng sản Hà Nội phải kiệt quê, tiêu tùng.

Người Mỹ đă thành công. Họ đă thắng hoàn toàn trong chiến lược domino. Họ đă ngăn chận domino Sô Viết. Thế chiến nguyên tử đă không xẩy ra. Đế quốc Cộng sản gọi là Liên Bang Sô Viết đă sụp đổ, đúng 15 năm sau khi thắng trận ở Saigon. Nhưng cho đến ngày nay, người Mỹ không bao giờ nói rằng thắng domino ở Việt Nam. Họ nói rằng họ đă thua trong chiến cuộc Việt Nam. 

Đáng lẽ chiến tranh Việt Nam đă đi vào lịch sử và ch́m dần trong sự quên lăng. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn c̣n phải sống trong chế độ nô lệ Cộng sản tàn bạo, độc ác nhất thế giới.  Bắc Kinh không bỏ lỡ cơ hội sử dụng Việt Nam một lần nữa cho chiến lược domino thôn tính Á Châu.

Thành thử vào năm 2002, người Mỹ không thể quên hẳn Việt Nam. Cái thế domino Trung Cộng phải thất bại, và chắc chắn sẽ thất bại, chính là lư do giúp cho Việt Nam tiêu diệt Cộng sản, dành lại độc lập tự do.  Bài này phải được viết  ra để cho mọi  người Việt hiểu rằng chúng ta vẫn c̣n hi vọng thắng trận cuối cùng, trong cuộc chiến đấu tiêu diệt Cộng sản.

Bàn cờ chiến lược Đông Nam Á c̣n đang mở rộng cho tất cả những “tay chơi”. Tuy ta chưa biết bên nào, Mỹ hay Hoa sẽ thắng. Nhưng ta có thể chắc chắn rằng Việt Cộng sẽ là kẻ thua. Khi người Mỹ không tính đến liên minh quân sự với Cộng Sản Hà Nội th́ họ đă dứt khoát không muốn cam kết bất cứ một điều ǵ phải cần đến cố vấn Mỹ và bộ binh tác chiến. Như vậy, họ cũng không phải ở trong cái thế đối đầu, thử lửa (confrontation showdown) với Bắc Kinh! Họ mặc nhiên để mặc Việt Nam Cộng Sản trong cái thế liên minh với Bắc Kinh và trong ṿng ảnh hưởng của người Tầu. Nếu Việt Cộng và Trung Cộng dồn quân, nhiều triệu quân, để tiến đánh Đông Nam Á theo chiến lược domino, th́ người Mỹ không dại ǵ mà không dùng đến Việt Nam làm băi chiến trường để tiêu diệt số quân khổng lồ này bằng vũ khí nguyên tử. Từ xưa đến nay, người Mỹ vốn sở trường vấn đề dùng đất nước của người khác làm băi chiến trường.

Trong 27 năm qua, hay là từ năm 1975, người Mỹ và thế giới đă thâu gom hầu hết tinh hoa người Việt Nam. Họ đă làm tṛn nhiệm vụ khi cố gắng mang tất cả những người tù học tập cải tạo và gia đ́nh họ, khoảng nửa triệu người sang Hoa Kỳ.

                                                                                                                                   

Chu-Sa

ngày 31/8/2002.