Từ
"Đồng Minh Chiến Lược" Đến
"Đối Thủ Chiến Lược"
ChuSa
1.
Tổng Thống W. Bush với cái nh́n toàn diện
Tổng
Thống Bush quyết định thiết kế "hàng
rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn" để
bảo vệ Hoa Kỳ và các nước đồng minh
trên toàn thế giới, nhất là vùng Á Châu, th́ người
ta liên tưởng ngay đến Nhật Bản và Đài
Loan là hai nước có quân đội mạnh nhất trong
vùng. Sở dĩ không đề cập đến Nam Hàn -
không phải v́ nơi đó đă có sẵn quân đội
Hoa Kỳ đồn trú rồi - nhưng v́ Tổng
Thống Kim Đại Trọng có gốc thiên Tả, nên
không được Hoa Kỳ tin cậy cho lắm. Tuy nhiên
cũng chính CIA của Hoa Kỳ đă cứu ông ta khỏi
chết khi mật vụ của Tổng Thống Phác Chánh
Hy đă đem ông ta ra thả ngoài bể, nhưng nhờ
Hoa Kỳ biết được nên đă cho phi cơ bay ra
thả hỏa châu làm sáng cả vùng bể khiến cho
mật vụ Nam Hàn không dám quẳng ông ta xuống bể
nữa. Nhưng nay ông đă trở thành tổng thống
Nam Hàn v́ dân chúng - quá chán ghét chế độ độc tài
của một số tướng lănh - nên đă dồn
phiếu cho ông thay v́ bỏ cho đối thủ của
ông, nhưng lại là con bài của phe tướng lănh. Nay
th́ ông ta muốn bắt tay với Kim Chính Nhật, tên
cộng sản độc tài của Bắc Hàn, để
thực hiện mộng thống nhất đất
nước. Nếu ông nuôi ảo mộng đó, th́ ông Kim
Đại Trọng không sớm th́ muộn thế nào
cũng bị tên Kim Chính Nhật lừa y hệt như
Hồ Chí Minh đă gạt các chính đảng quốc gia
ở Việt
Sau cuộc chiến tranh 8 năm
với Iran, Iraq đă được Liên Xô đổ
cố vấn quân sự và chiến cụ tối tân
nhất vào giúp nên đă trở thành một nước có
một đạo quân hùng mạnh đứng vào hàng
thứ 4 trên thế giới, sau Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung
Cộng. Nhờ vị trí địa dư gần Liên Xô
nhất, nên Iraq với nguồn lợi thiên nhiên về
dầu hỏa dồi dào vào bậc nh́ ở Trung Đông,
chỉ sau Ả Rập Saudi, đă được Liên Xô
đặc biệt chú ư đến. Mặt khác Iraq lại
là một khách hàng giàu có, dư điều kiện trả
tiền, th́ đó là một điểm son đối
với Liên Xô; nhất là khi người cầm đầu
Iraq lại là kẻ thù không đội trời chung với
Do Thái. Mặc dầu đứng về phía Đồng Minh
- lên án hành động xâm lăng Kuwait của Iraq - nhưng
Liên Xô vẫn c̣n lưu lại Iraq hơn 2000 cố vấn
quân sự kèm theo một số quân cụ có kỹ thuật
hiện đại để giúp Iraq tiếp nhận
những tin tức điều động quân sự
của quân đội Đồng Minh do các vệ tinh
của Liên Xô chuyển về.
Năm 1991, vài ngày trước khi quân đội
Đồng Minh mở cuộc tấn công ồ ạt
bằng Không quân vào các pḥng tuyến của quân đội
Iraq, th́ cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon có
viết: "Nếu chúng ta cần phải tham gia
cuộc chiến, th́ đó cũng không hẳn là v́ dầu
hỏa hay là v́ dân chủ. Sở dĩ chúng ta tham dự
cuộc chiến nầy là v́ Ḥa B́nh - không phải riêng cho
Ḥa B́nh trong thời đại của chúng ta mà thôi - mà chính
là cho Ḥa B́nh của các thế hệ mai sau. Hành động
tham gia vào cuộc chiến ở Vùng Vịnh của chúng ta
có một mục đích cao cả về đạo
đức". Nhưng mỗi quốc gia trong cuộc
đă hiểu và áp dụng hai chữ "đạo
đức" một cách khác nhau, tùy theo chủ
trương và quyền lợi riêng của nước
họ. Mặc dầu lúc đó Liên Bang Xô Viết cũng
gần tan ră đến nơi rồi, nhưng chúng ta
cũng cứ thử bắt đầu từ Liên Xô
trở đi. Qua tuần lễ đầu, sau khi không quân
Đồng Minh oanh tạc dữ dội Iraq, số cố
vấn quân sự c̣n trên lănh thổ Iraq không dưới 1700
người; nhưng Liên Xô lại tuyên bố số cố
vấn nầy chỉ có 145 người và đều là
những tên ngoan cố không tuân lệnh rút về của
Gorbachev. Lời tuyên bố vô lư nầy chứng tỏ Liên
Xô vẫn trắng trợn coi thường dư luận
quốc tế. Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, Liên
Xô đă chơi tṛ tḥ ḷ 2 mặt, vừa đứng vào phe
Đồng Minh, vừa đi đêm với Iraq. Kể
từ thời đại các Sa hoàng cho đến cuối
thập niên 1990, nước Nga - dù ở dưới
chế độ nào - cũng vẫn luôn luôn nuôi mộng làm
bá chủ ở Trung Đông. Dưới chế độ
Cộng Sản và trong thời kỳ "chiến tranh
lạnh", Liên Xô luôn luôn t́m đủ mọi cách
để gây ảnh hưởng tại các nước
Ả Rập theo Hồi giáo trong vùng như Ai Cập, Syria,
Iraq, Yemen, Lybia và ngấm ngầm cổ xúy phong trào tiêu
diệt nước Do Thái, một quốc gia
được Hoa Kỳ hết ḷng bảo trợ. Chủ
trương của Nga - từ lúc đó cho đến bây
giờ - là gây ảnh hưởng tại các nước
Ả Rập trong vùng Trung Đông - bằng cách bán chịu
vũ khí cho họ để họ có phương tiện
gây chiến với Do Thái. Cũng xin lưu ư bạn
đọc là tất cả các nước Ả Rập
ở Trung Đông đều sống dưới chế
độ độc tài phát xít nhưng lại ngụy trang
dân chủ qua những cuộc bầu cử gian lận,
giống như ở Nga từ gần một thế
kỷ nay. Nh́n lại lịch
sử các cuộc chiến tranh giữa Do Thái và các
nước Ả Rập bao quanh nước nầy ở
Trung Đông, chúng ta sẽ thấy - cứ mỗi khi quân Do
Thái sắp sửa chiến thắng quân đội của
các nước Ả Rập, th́ Liên Xô lại nhảy vào can
thiệp, đ̣i Hoa Kỳ phải áp lực với Do Thái và
buộc nước nầy phải ngưng chiến. Đă
hai lần Liên Xô đă biến thảm bại quân sự
của khối Ả Rập thành thắng lợi chính
trị cho họ. Lần nầy cũng vậy, khi thấy
quân đội Iraq bị thiệt hại quá nặng nề
v́ các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ, th́ Liên Xô lại
nhảy ra đóng vai tṛ trung gian ḥa giải. Nhưng trái
với những cuộc chiến tranh trước ở
Trung Đông mà lúc nào Hoa Kỳ cũng bị Liên Xô luôn luôn
chơi gác về ngoại giao, lần nầy Hoa Kỳ
chủ động về mọi mặt trong khi đó th́
Liên Xô đang bị t́nh h́nh kinh tế và chính trị nội
bộ làm cho mất hết khả năng lung lạc t́nh
h́nh chính trị thế giới.
Một chuyện tréo cẳng
ngỗng nữa trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh là
không phải ṭa Bạch Ốc định ngày
Có một thời gian báo chí Tây
phương từng loan tải là viên đại tá Alknis
thuộc quân khu vùng Baltic, hiện là một đại
biểu quốc hội Nga, đă lên diễn đàn quốc
hội và ra thời hạn 30 ngày cho Gorbachev phải lập
lại trật tự trong nước nếu không
"những người yêu nước" sẽ
đứng ra lănh nhiệm vụ này. Dư luận Tây
phương lúc bấy giờ rất lo cho số phận
của Gorbachev, trong khi đó th́ ông ta vẫn thản nhiên
như không v́ viên đại tá nầy chỉ là một tên
"c̣ mồi" của Gorbachev mà thôi. Ngay cả vụ
đàn áp đẫm máu tại Lithuania làm 18 người dân
bị thiệt mạng, Gorbachev cũng biện bạch
rằng ông ta không hề biết trước chuyện
động trời nầy và việc giết người
dă man nầy là do một số quân đội "vô kỷ
luật" làm! V́ e ngại cho ngôi báu của người
được giải ḥa b́nh Nobel và v́ cần sự
ủng hộ của Gorbachev trong cuộc chiến tranh
ở Trung Đông mà Tây Phương đă chỉ lên
tiếng phản đối chiếu lệ. Trước
khi Gorbachev mở cuộc "tấn công ḥa b́nh"
nhằm vô hiệu hóa chiến thắng của Hoa Kỳ và
Đồng Minh, th́ mật vụ KGB của Liên Xô và quân báo
GRU của Hồng quân đă đồng loạt vận
động báo chí mở cuộc tấn công đả kích
"chủ trương tàn phá Iraq" của Hoa Kỳ và cực
lực bênh vực Saddam Hussein. Tờ Gazette Littéraire ra ngày
Có 3 mục tiêu chính, quan trọng
như nhau, trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh:
a. Mục
tiêu thứ nhất là Hoa Kỳ cần triệt hạ
thế lực của Liên Xô tại Trung Đông qua
b. Mục
tiêu thứ 2: Nếu không nhân cơ hội nầy tiêu
diệt ngay tiềm lực quân sự của Iraq, th́
chỉ vài năm nữa thôi là Do Thái không làm sao chịu
nổi áp lực quân sự của Iraq, nhất là khi Saddam
Hussein hoàn tất xong giai đoạn chế tạo bom nguyên
tử.
c. Mục
tiêu thứ 3: Đây là cơ hội bằng vàng để
Hoa Kỳ xây dựng uy thế lănh đạo tại Trung
Đông. Nắm được nguồn năng
lượng nầy của thế giới là Hoa Kỳ
trở lại được vị trí lănh đạo
thế giới như ở thời kỳ chiến tranh
thế giới thứ hai.
Trước khi phe Đồng Minh
phát động cuộc chiến tranh chống Iraq bằng
quân sự th́ giới ngân hàng quốc tế đă "khai
chiến" với Saddam Hussein từ mấy tháng
trước rồi. Họ không cho
Ngược ḍng thời gian
về thời kỳ giáo chủ Khomeini đang chống
đối quốc vương Pahlevi, đảng Cộng
Sản Tudeh của Iran đă bố trí cho cán bộ của
họ móc nối với Khomeini qua Ahmah, con trai của ông ta.
Lúc Khomeini bị mật vụ của quốc vương
Những ai đọc qua lịch
sử Trung Đông thường bị ám ảnh bởi
cuộc chiến tranh kéo dài từ ngày Do Thái lập quốc
vào năm 1948 cho đến nay, giữa Do Thái và các quốc
gia Ả Rập, bắt nguồn từ sự khác biệt
về tôn giáo. Hầu hết người Do Thái đều
theo Do Thái Giáo, nhưng thật ra "ḷ lửa Trung
Đông" không phải chỉ đơn thuần do mâu
thuẫn giữa Do Thái và các nước Ả Rập mà do
những ḱnh chống kịch liệt giữa các
nước Ả Rập với nhau. Do đó đă có các
cuộc chiến tranh giữa Ả Rập Saudi với
Yemen; giữa Yemen với Ai Cập; giữa Jordan với
Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO); giữa Morocco
với Algeria; giữa Iran với Iraq và mới đây
nhất là giữa Iraq với Kuwait. Lần nầy cuộc
xâm lăng Kuwait đă lôi vào ṿng chiến Ai Cập, Ả
Rập Saudi, Syria và các tiểu quốc trên bán đảo
Ả Rập. Phía Iraq chỉ có PLO và Jordan, nhưng chỉ
ủng hộ bằng cách đánh vơ mồm thôi. Iraq th́ đă
khản cổ kêu gọi "thánh chiến" giải
phóng thánh địa Mecca khỏi sự thống trị
của ḍng họ Saud của quốc vương Fadh,
nhưng không một nước Ả Rập nào
hưởng ứng, mặc dầu Iraq rêu rao ḍng tộc
nầy thuộc gốc Do Thái. Cho nên các nước Ả
Rập không thể nào đoàn kết thực sự với
nhau để cùng đánh kẻ thù chung là Do Thái. Các dân
tộc không thuộc sắc dân Ả Rập tại Trung Đông
thường cho rằng dân tộc Ả Rập có tính nói
dối, không thật, đến ngay cả cấp lănh
đạo cũng lấy sự tráo trở đối
xử với nhau. Chính miệng quốc vương Hussein
của Jordan - khi c̣n sống - kể lại rằng, khi
cuộc chiến tranh giữa Ả Rập và Do Thái bùng
nổ vào năm 1967 th́ Nasser, lúc đó là tổng thống Ai
Cập, đă gọi điện thoại cho ông ta hay
rằng không quân Ai Cập đă tiêu hủy hết không
lực Do Thái và bộ binh của Ai Cập đă tiến
qua chiếm bán đảo Sinai và cũng đă tiến
tới nội địa Do Thái qua ngả sa mạc Neguev.
Quốc vương Hussein của
Khi xảy ra chiến tranh Vùng
Vịnh có dư luận cho rằng trong thành phần chính
phủ Herbert Bush có rất nhiều thành viên của Ủy
Hội Tay Ba (Trilateral) và cũng theo dư luận nầy
th́ h́nh như chủ trương của Ủy Hội là
kéo dài sự tồn tại của Liên Bang Xô Viết; v́
nếu cộng sản tiêu ma hết th́ Hoa Kỳ sẽ
không c̣n được thế giới trọng nể
nữa v́ lúc đó đâu c̣n "ma quỷ" nữa mà phải
cần đến Hoa Kỳ bảo vệ. Nhận xét
như vậy có lẽ không đúng lắm, v́ chính là nhờ
tổng thống Herbert Bush ngầm đi đêm với ngoại
trưởng Liên Xô thời ấy là Shevardnadze phá hoại
bên trong, cho nên Liên Xô mới tan ră cấp kỳ như
vậy và mối "t́nh thâm nghĩa trọng" giữa
ông Bush (cha) và Shevardnadze (nay là đương kim tổng
thống tiểu quốc Georgia) cho đến nay vẫn c̣n
được tiếp nối như ông Bush (con) đă
từng khẳng định trong bức thư tay ông ta
gửi cho tổng thống Shevardnadze; và ông nầy đă
đưa cho kư giả Hoa Kỳ Jim Hoagland xem, khi ông nầy
qua Georgia để phỏng vấn Shevardnadze. Chuyện quan
trọng là tổng thống G. W. Bush có hứa là sẽ gởi
chuyên viên qua Georgia để lo vấn đề an ninh cho
tổng thống Shevardnadze v́ ông nầy đă hai bận
bị mật vụ KGB của Nga mưu sát, nhưng
nhờ có mật vụ CIA của Hoa Kỳ bảo vệ,
nên ông đă thoát chết. Khí
giới mà tổng thống Herbert Bush sử dụng
để cầm chân Liên Xô trong cuộc chiến Vùng
Vịnh ở Trung Đông là một "củ cà
rốt" rất bự. Kể từ 10 tháng 9 đến
14 tháng 9, 1990 Bộ trưởng Thương Măi Robert
Mosbacher đă cầm đầu một phái đoàn kỹ
nghệ gia thượng thặng Hoa Kỳ trong các xí
nghiệp dầu hỏa lớn nhất của Hoa Kỳ
như Chevron, Texaco, Pruet Oil.....bay qua tham quan Liên Xô. Các giám
đốc nầy đều nằm trong tổ chức
USTEC, một thành viên của Ủy Hội Tay Ba. USTEC chuyên
lo về quan hệ thương măi và trao đổi kỹ
thuật với Liên Xô. USTEC hứa hẹn với Gorbachev là
sẽ giúp Liên Xô chấn hưng ngành kỹ nghệ khai thác
dầu hỏa của Liên Xô trong ṿng từ 2 đến 3
năm với điều kiện là tiến tŕnh cải
tiến phải bắt đầu ngay và liên tục.
Năng lượng là ch́a khóa của phát triển kinh
tế, nên đề nghị của USTEC là một miếng
mồi "không thể cầm ḷng được". Và
ngay từ đầu năm 1991, người ta đă
thấy xuất hiện tại Tengiz, gần bờ
biển Lư Hải (Caspian Sea )và Turkmenistan những chuyên viên dầu
hỏa Anh và Hoa Kỳ. Tổng thống Herbert Bush đă mua
sự ủng hộ của Liên Xô trong cuộc chiến
tranh với Iraq bằng kỹ thuật khai thác dầu
hỏa hiện đại.
C̣n cho rằng một khi Liên Xô tan ră th́ Hoa Kỳ
sẽ mất vị trí lănh đạo thế giới
về chính trị cũng như về kinh tế th́ không
đúng tư nào v́ từ khi Liên Bang Xô Viết tan ră cho
đến ngày nay, vị trí lănh đạo thế giới
của Hoa Kỳ về kinh tế cũng như về chính
trị vẫn y nguyên, chả có ǵ thay đổi cả;
trừ 8 năm dưới trào tổng thống
"trốn lính" Bill Clinton th́ ư nghĩa về hai
chữ "Đạo Đức" của tổng
thống Nixon đă hoàn toàn bị Bill Clinton chà đạp,
đồng thời dư luận chính giới quốc
tế cũng đă không tiếc lời phê b́nh ông về
việc nầy.
2.
Trung Đông và Dân Tộc Kurd
Khi cuộc chiến tranh Vùng
Vịnh kết thúc, vào ngày 23 và 24 tháng 3, 1991 tổng
thống Thổ Nhĩ Kỳ, ông Turgut Ozal đă qua thăm
viếng Hoa Kỳ và ông ta đă nói thẳng với tổng
thống H. Bush là ông ta chỉ có thể chấp nhận
quyền tự trị cho dân Kurd ở miền Bắc, trong
lănh thổ của Iraq mà thôi và ông ta cương quyết
chống lại mọi việc chia cắt Iraq thành 3
nước nhỏ: nước Kurd ở miền Bắc,
nước Shia ở miền Đông Nam và nước Iraq
c̣n lại ở miền Tây Nam.. Tổng thống Ozal
khuyến cáo tổng thống H. Bush đừng bao giờ
tin lời tên nói dối thường trực Rafsanjani
(tổng thống
Sau buổi họp nầy, ngày 8
tháng 3, 1991 tổng thống Rafsanjani đă lên vô tuyến
truyền h́nh kêu gọi Saddam Hussein và đảng Baath
(đảng Phục Sinh) tuân theo ư muốn của nhân dân và
hứa hẹn sẽ giúp đỡ cuộc nổi dậy
của dân Iraq theo Hồi giáo thuộc phái Shia. Chiến
lược của
Thủ lănh của dân Kurd ở
Thảm kịch của dân tộc
Kurd bắt đầu từ hành động chia cắt vùng
Kurdistan thành 5 mảnh để ghép vào 5 nước khác nhau
và ảnh hưởng c̣n tiếp tục kéo dài cho
đến ngày nay và không biết đến bao giờ
mới chấm dứt. Dân tộc Kurd sống trong 5
nước Nga, Thổ, Syria, Iran và Iraq luôn luôn đứng
lên đ̣i quyền dân tộc tự trị, nhưng chưa
bao giờ họ thành công cả; v́ 5 nước kia
đều lo ngại nếu họ tranh đấu
được quyền tự trị tại một
nước, th́ họ sẽ nổi lên ở các
nước khác. Ngay như tổng thống Ozal của
Thổ Nhĩ Kỳ cũng chỉ bằng ḷng cho 5
triệu dân Kurd được quyền tự trị
ở phần đất của Iraq, c̣n quyền tự
trị của 14 triệu dân Kurd trên đất của
Thổ th́ lại không thèm đả động
đến. 17 năm trước đây, Barzani
"bố" dẫm phải vỏ chuối Mỹ, ngày
nay Barzani "con" vừa dẫm phải vỏ chuối
Mỹ, vừa đạp phải vỏ dưa Iran.
Nhưng lần nầy tai họa đến với dân Kurd
c̣n ghê gớm hơn nhiều, v́ hàng triệu dân Kurd sắp
chết đói và chết rét tại các vùng biên giới
Thổ Nhĩ Kỳ và
3. Trục Ma Qủy
Từ
ngày chiến tranh Vùng Vịnh chấm dứt cho đến
nay, thấm thoát thế mà cũng đă gần một con
giáp, và lịch sử h́nh như đang trên đà trở
lại mười hai năm về trước. Ở Hoa
Kỳ, tổng thống cũng thuộc ḍng họ Bush,
nhưng mà Bush con (W. Bush) chứ không phải Bush cha (H. Bush )
và cả cha lẫn con đều là thành viên của
"lốp by dầu hỏa" mạnh nhất hoàn
cầu. C̣n nhân dân Iraq vẫn sống điêu linh
dưới chế độ của tên độc tài khát
máu Saddam Hussein, luôn luôn nuôi mộng muốn làm bá chủ vùng
Trung Đông và triệt tiêu cho kỳ được nước
Do Thái.
Sau khi đập tan nhóm Hồi
giáo khủng bố Taliban ở A Phú Hăn, việc mà tổng
thống W. Bush lo trước tiên là phải chuẩn bị
ngay tức khắc cuộc chiến tranh với Iraq,
một trong 3 nước ủng hộ phong trào khủng
bố của Bin Laden là Iraq, Iran và Bắc Hàn mà ông đă
liệt tên trong " trục ma qủy "(đầu ).
sau khi xảy ra vụ biến động 11 tháng 9, 2001
tại Hoa Kỳ. Ông cũng đă âm thầm ra chỉ
thị cho Ngũ Giác Đài liên lạc với các công ty
chế tạo bom đạn phải tăng gấp đôi
năng xuất của họ nhất là về lănh vực
chế bom được điều khiển bằng tia
"laser"với đuôi bom có gắn máy do vệ tinh
điều khiển để hướng dẫn rất
chính xác cho bom rơi đúng ngay mục tiêu. Hiện nay,
vấn đề ưu tiên của quân đội là
thiết lập một kho dự trữ về "bom thông
minh" nầy, càng sớm càng tốt, nhất là về
loại bom JDAM, đă chính xác lại rẻ tiền ($25,000
một đơn vị), sau đó là bom Paveway
được điều khiển bằng tia
"laser" và có thể do bộ binh ở dưới
đất hướng dẫn đến ngay mục tiêu.
Loại bom thứ ba là hỏa tiễn Tomahawk
được phóng đi từ tàu của Hải quân kể
cả tiềm thủy đĩnh và đă được
xử dụng trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh. Riêng
về loại "bom thông minh" JDAM th́ trong năm 2002,
công ty Boeing đă sản xuất được 9000
quả, và theo Phân Tích Gia John Pike th́ số lượng
đó chỉ mới là một phần trong số 50,000 quả
JDAM được Ngũ Giác Đài dự trù mua. Sở
dĩ Ngũ Giác Đài cần nhiều bom JDAM là v́ họ
nhắm phá hoại cơ sở hạ tầng của quân
đội
Cách đây vài tháng, công ty chế
tạo máy bay phản lực Airbus Industrie của Âu Châu
đă vận động với một số chính phủ
Âu Châu có cổ phần trong công ty nầy để phản
đối với chính quyền Hoa Kỳ về vụ dùng
áp lực chính trị với chính quyền Đài Loan
để bác quyết định cho phép công ty hàng không China
Airline (CAL) của chính phủ mua 16 máy bay chở hành khách
Airbus 330, thay v́ mua máy bay phản lực 777 của công ty
Boeing. Công ty Airbus Industrie khiếu nại là trong tháng 7, 2002
vừa qua, công ty hàng không CAL của Đài Loan đă thông báo
cho họ hay là hợp đồng 3000 triệu mỹ kim bán
cho chính phủ Đài Loan 16 chiếc Airbus 330 đă
được chấp thuận; nhưng tại sao nay
lại hủy bỏ hợp đồng ngang xương
như vậy? Sau khi điều tra, Airbus Industrie mới
biết có một số nghị sĩ, dân biểu của
Quốc Hội Hoa Kỳ trong đó có dân biểu Henry Hyde,
chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế của
Hạ Viện gởi cho tổng thống Chen Shui-Bian
của Đài Loan nhấn mạnh ở điểm chính
quyền Đài Loan không mua máy bay của Boeing sẽ làm cho
công ty nầy thiệt hại 30,000 "giốp" (jobs).
Dân biểu Hyde cũng nhắc khéo tổng thống Đài
Loan là trong khi chính quyền đảo nầy đang trên
đà xây dựng một lực lượng quân sự
vững vàng và hữu hiệu th́ công việc cấp
thiết mà hai nước chúng ta cần phải làm ngay là
củng cố an ninh, tăng cường mậu dịch và
giao thương cho hữu hiệu giữa hai nước
chúng ta. Một bức thư khác mà nội dung cũng
tương tợ như bức thư trên đây, đă
dược 16 nghị sĩ và dân biểu "nặng
kí" của Quốc Hội Hoa Kỳ đồng kư tên vào
bên dưới. Sự can thiệp của một số
nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đă
đưa đến việc công ty hàng không "China Airlines"
của Đài Loan hủy bỏ hợp đồng 3000
triệu mỹ kim kư với công ty Airbus Industrie của Âu
Châu và tạo ngay tại Đài Loan một luồng dư
luận trong quần chúng là đảo nầy nên mua máy bay
của công ty Boeing để bảo vệ t́nh hữu
nghị giữa hai nước Hoa Kỳ và Đài Loan trong
tương lai. Cũng v́
bất măn về vụ công ty Airbus Industrie mất hợp
đồng 3000 triệu mỹ kim nầy, nên tổng
thống Chirac của Pháp đă ngả về phiá Nga
để chống lại tổng thống Bush trong vụ
lên án Iraq, sau ngày 13 tháng 9, 2002.
4. Hội Đồng "Bất An" Liên
Hiệp Quốc
Bài diễn văn của tổng
thống W. Bush đọc trước Đại Hội
Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 12 tháng 9, 2002 tại New
York đă lên án rất nặng nề Saddam Hussein kể
từ 6 tháng nay; đồng thời ông cũng vạch rơ
một cách rất tế nhị những lỗi lầm
trong việc thi hành một số quyết nghị đă
được đại hội biểu quyết của
ông Annan, Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc và của
một số thành viên trong Hội Đồng Bảo An -
ngoài Hoa Kỳ - là Anh, Pháp, Nga và Trung Cộng. Đồng
thời tổng thống W. Bush cũng đưa ra
những lư do căn bản về những biện pháp
cưỡng bức nhằm chống lại Iraq về
ngoại giao cũng như về quân sự nếu cần,
để bênh vực cho chủ trương thay đổi
chế độ độc tài sắt máu của Saddam
Hussein ở Iraq, đồâng thời mở rộng liên minh
chống Saddam của Hoa Kỳ và Anh quốc. Tổng
thống W. Bush cũng nhấn mạnh là cơ chế
quốc tế của Liên Hiệp Quốc được
đại hội đề ra từ 1948 đang lâm nguy và
sự thách thức nầy - không phải đến từ
Hoa Thịnh Đốn - mà lại đến từ Iraq.
Trước đại hội
đồng Liên Hiệp Quốc, tổng thống W. Bush
khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ đóng góp
với Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để
thảo ra một nghị quyết mới nhằm giải
quyết mọi vấn đề với
Kể từ ngày Liên Hiệp
Quốc được thành lập cho đến nay,
thấm thoát đă được 54 năm và cũng vào
năm đó ông bà Herbert Bush tổ chức lễ "thôi
nôi" cho chú bé G.W. Bush, trưởng nam của ḍng họ
Bush, đồng thời cùng một lúc, chứng kiến
sự thành lập ngay trong nội bộ của Liên
Hiệp Quốc một cơ quan mang tên Hội Đồng
Bảo An Liên Hiệp Quốc, nhưng trong thực tế
th́ cơ quan nầy - phần lớn - chỉ gây ra hoặc
duy tŕ "bất an" cho thế giới mà thôi. Có thể
nói huỵch tẹt Liên Hiệp Quốc chỉ là một
nơi để cho các nước độc tài
đội lốt dân chủ: lớn th́ như Nga và Trung
Cộng, nhỏ th́ như Iran, Iraq, Syria, Lybia, Sudan, Algeria,
Cuba, Bắc Hàn... diệu vơ dương oai, diễu cợt,
khinh thường các "quyết nghị" lên án
những hành động của bọn chúng đă không bao
giờ được thi hành mà lại c̣n bị chúng tái
phạm nữa là khác.. Một
nước Nga - v́ quân đội quá yếu và chuyên đào
ngũ - đă lén dùng chất nổ Hexagen, một loại
chất nổ do chính quyền Nga chế tạo và chỉ
tồn trữ trong các kho của mật vụ Nga KGB -
để làm nổ sập 3 cao ốc và giết hại 300
thường dân vô tội, rồi đổ tội cho kháng
chiến quân Chechen ở miền Nam nước Nga gây ra
vụ khủng bố nầy. Nhưng những hành
động tầy trời nầy đều
được Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp
Quốc ếm nhẹm và chẳng bao giờ đưa
vấn đề nầy ra trước diễn đàn Liên
Hiệp Quốc th́ c̣n nói chi đến những vụ
Saddam Hussein giết hại hàng triệu dân Kurds !!! và Bắc
Hàn bán hỏa tiễn cho Iraq, Lybia và giết hại hàng
triệu thường dân vô tội Bắc Hàn bằng cách
giữ lấy độc quyền thực phẩm do các quốc
gia "giàu ḷng thương nhân loại" trên thế
giới viện trợ, để rồi chỉ phát cho cán
bộ cộng sản và quân đội của chúng mà thôi.
Đă có quốc gia nào nêu vấn đề vô nhân
đạo nầy của Bắc Hàn ra trước diễn
đàn của Liên Hiệp Quốc chưa? Hay lại sợ
làm "buồn ḷng" các nước độc tài
ngụy trang dân chủ trong tổ chức Liên Hiệp
Quốc phản dân chủ nầy?
Một Trung Cộng công khai sát hại hàng ngàn dân chúng
biểu t́nh ở Thiên An Môn đ̣i Tự Do, Dân Chủ; sau
đó vài năm lại cũng Trung Cộng bắt bớ,
giam cầm, tra tấn và sát hại hàng vạn dân chúng theo
môn Pháp Luân Công; hai trường hợp trên đây là chỉ
mới đề cập đến quần chúng Trung Hoa
bị nhà cầm quyền Trung Cộng sát hại và chưa
đề cập đến quần chúng tại các vùng
như Tây Tạng, Tân Cương - được Trung
Cộng - "tự trị" hộ cho và sát hại
quần chúng các nước nầy một cách công khai và
chỉ có một quốc gia nhiều lần lên tiếng
phản đối hành động dă man nầy là Hoa Kỳ
mà thôi.
Khi tổng thống W. Bush ra
trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc ngày 12 tháng
9, 2002, 3 nước thành viên của Hội Đồng
"Bất An" Liên Hiệp Quốc là Nga, Trung Cộng và
Pháp cứ tưởng rằng sẽ dùng diễn đàn
nầy để buộc Hoa Kỳ phải bỏ ư
định tấn công Iraq nếu không được
sự đồng ư của Đại Hội Đồng.
Họ cứ tưởng tổng thống W. Bush cũng
sẽ như cựu tổng thống "trốn lính"
Bill Clinton khi nào cũng "nhắm mắt" chấp hành
biểu quyết của Đại Hội Đồng LHQ,
nhất là trong trường hợp của "mèo Iraq"
th́ lũ "chuột nhắt" trong LHQ đâu có gan ĺ dám
vỗ ngực mang chuông đi buộc cổ "mèo",
cho nên Nga, Trung Cộng, Pháp và đa số các nước
Ả Rập hoặc thân Ả Rập đều chờ có
một cuộc bỏ phiếu mà - chúng sẽ chiếm
đa số và Hoa Kỳ sẽ ngoan ngoăn nghe theo - để
cứu văn tên độc tài Saddam Hussein. Nhưng LHQ có
ngờ đâu tổng thống W. Bush chỉ dùng diễn
đàn LHQ để hài tội tên độc tài khát máu Saddam
Hussein, phơi bày sự bất lực của Koffi Annan,
tổng thư Kư LHQ và miệt thị các thành viên trong
Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp Quốc,
để rồi cuối cùng ông ta khẳng định
trước Đại Hội Đồng rằng nếu
LHQ không có hành động thỏa đáng th́ chính Hoa Kỳ
sẽ đơn phương hoặc cùng với sự góp
sức của một số thành viên Liên Hiệp Quốc,
đứng ra "thu xếp Iraq" để bảo
vệ an ninh cho nhân loại và nhất là cho Hoa Kỳ trong
một ngày gần đây. Chuyến nầy - tuy Hoa Kỳ
chưa có cho Iraq nếm mùi mưa bom - nhưng tổng
thống Bush đă đích thân cho "nổ một quả
bom" ngay trước diễn đàn của Đại
Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
5. sự bang giao Hoa Kỳ - Trung Quốc
Tân chính quyền
Cộng Ḥa W. Bush th́ cách đối xử với Trung
Cộng lại khác, nhất là một khi có sự tranh
chấp th́ mọi việc phải được
đưa ra ánh sáng, nhất là sau vụ Hoa Kỳ và Anh
quốc dội bom xuống gần thủ đô Baghdad. Và
không đầy một tuần sau khi Bắc Kinh hứa
hẹn mở cuộc điều tra xem có công ty nào đang
thiết kế máy móc dùng "sợi quanh học"
để tăng cường độ chính xác cho các dàn
cao xạ pḥng không của Iraq, th́ chính quyền Trung Cộng
mà phát ngôn viên lại chính là bộ trưởng Ngoại
Giao Tang Jiaxuan - đă tuyên bố trong một cuộc họp
báo "chả có công ty nào của Trung Quốc giúp cho Iraq
thiết kế máy móc dùng "sợi quang học"
để tăng độ chính xác cho các dàn súng cao xạ
bắn lên phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc".
Mặc dầu ông Tang tuyên bố như vậy, nhưng
một phát ngôn viên của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
đă xác nhận với đại sứ Hoa Kỳ tại
Bắc Kinh là cựu đô đốc Joseph W. Prueher, chính
nhân viên bộ Ngoại Giao Trung Cộng có thông báo cho họ hay
là Bắc Kinh đă chỉ thị cho các công ty Trung Cộng
đang thiết kế máy móc giúp tăng cường
hiệu năng ngành viễn liên của Iraq phải ngưng
ngay công tác này và sẽ bị đưa ra hội
đồng kỷ luật. Sau đó, nhân viên bộ
Ngoại Giao Trung Cộng c̣n hứa với đại
sứ Prueher là Trung Cộng sẽ tôn trọng những
luật cấm của Hội Đồng Bảo An Liên
Hiệp Quốc. Một nhân viên cao cấp của Ngũ
Giác Đài đă không ngần ngại tố ông Bộ
Trưởng Ngoại Giao Tang Jiaxuan đă nói dối. Ban
đầu, Trung Cộng chỉ trích lời tố cáo
của Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ và nhấn mạnh là
họ cố ư làm như vậy để đánh lạc
hướng dư luận quốc tế về vụ ném
bom xuống Iraq mà không được sự chấp
thuận của Liên Hiệp Quốc; nhưng đến khi
họ trả lời lại cho Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 2,
2001, th́ họ lại dịu giọng xuống và cho
biết là họ sẽ cho nhân viên điều tra lời
khiếu nại này. Theo một số chuyên gia phân tích
thời cuộc th́ sở dĩ Trung Cộng cứ nói quanh
co như vậy là v́ họ sợ vụ Iraq này sẽ làm
cho căng thẳng bang giao với Hoa Kỳ; nhưng sau
đó, khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Tang tiếp xúc
với báo chí nhân phiên họp hằng năm của Quốc
Hội, th́ ông ta trở lại luận điệu cũ và
c̣n cảnh cáo Hoa Kỳ về vụ bán khí giới cho
Đài Loan. Ông Tang nhấn mạnh việc bán vơ khí cho
Đài Loan sẽ làm tổn thương đến sự
bang giao Hoa Kỳ - Trung Quốc, và nếu không có sự can
thiệp của Hoa Kỳ th́ vấn đề Đài Loan
đă được giải quyết từ lâu rồi.
Thường thường các nước trên thế
giới hay tránh làm mất ḷng Tổng Thống Hoa Kỳ,
nhất là khi ông ta vừa mới lên nhậm chức
chưa được hai tháng. Nhưng Trung Cộng lại
nhân cơ hội nầy để thăm ḍ và luôn tiện
thử thách ông tân tổng thống. Bị bắt quả
tang vi phạm lệnh hạn chế giao thương
với Iraq, Trung Cộng đă lên tiếng chối bỏ
thô lỗ một cách ầm ỉ mọi lời tố cáo
của Hoa Kỳ. Đoạn đặt vấn đề
thẳng thừng với Hoa Kỳ là nếu Hoa Kỳ tin
những lời báo cáo của nhân viên t́nh báo của họ
th́ sẽ làm tổn thương trầm trọng
đến quyền lợi về thương măi và tổn
thương mối quan hệ chiến lược giữa
họ và Trung Quốc. Luận điệu này thường
hay được họ nêu ra mỗi khi họ bị
bắt quả tang vi phạm những điều cấm
kỵ của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp
Quốc, hoặc những vi phạm các thỏa ước
về sản xuất và buôn bán vơ khí hạch tâm đă
được kư kết giữa hai nước Hoa Kỳ
và Trung Quốc suốt 8 năm qua, dưới thời
cựu Tổng Thống Clinton. Thành thực mà nói chỉ có
chính quyền Clinton mới tin vào thế "đồng
minh chiến lược" giữa Hoa Kỳ và Trung
Cộng, chứ đối với nước nầy th́
chưa bao giờ họ tự cho họ là "đồng
minh chiến lược" của Hoa Kỳ hết; tuy
nhiên để t́nh trạng nầy nhập nhằng như
vậy th́ lại càng có lợi cho họ mà thôi. Dưới
thời cựu tổng thống Clinton, Trung Cộng đă
dùng nói dối để bao che tất cả các vụ vi
phạm của họ đối với quốc tế hay đối
với Hoa Kỳ một khi bị bắt quả tang,
đoạn hăm dọa chính quyền Hoa Kỳ là t́nh
hữu nghị giữa hai nước sẽ bị tổn
thương trầm trọng nếu Hoa Kỳ không chịu
bỏ qua những vụ vi phạm "nhỏ
nhặt" này; riết rồi nói dối và hăm dọa
đă trở thành quốc sách của Trung Cộng đối
với quốc tế nói chung và đối với chính
quyền mềm yếu của Clinton nói riêng.
Nhưng đối với chính
quyền cộng ḥa của Tổng Thống Bush th́
những hành vi của Trung Cộng cần phải
được phơi bày ra ánh sáng, trước dư
luận quốc tế. Cho nên sau vụ dội bom xuống
thủ đô Baghdad, chính quyền Bush đă yêu cầu Trung
Cộng mở cuộc điều tra xem công ty Huawei
Technologies có vi phạm hay không quyết định của
Liên Hiệp Quốc cấm mọi quốc gia không
được bán loại máy có liên quan đến
"sợi quang học"cho Iraq. Ban đầu th́ Trung
Cộng phủ nhận luận điệu này, nhưng sau
đó có hứa với Hoa Kỳ là sẽ cho mở cuộc
điều tra. Đồng thời Liên Hiệp Quốc có
mật thông báo cho Hoa Kỳ hay là từ lâu Trung Cộng
thừa biết ư đồ của Huawei Technologies là
muốn bán cho Iraq một số máy móc tối tân về truyền
tin mà trong đó ít nhất có một loại máy có xử
dụng "sợi quang học" bị Liên Hiệp
Quốc cấm, nhưng rồi công ty này vẫn tiến
hành việc thiết kế loại máy tối tân này
để tăng thêm sự chính xác của các dàn súng cao
xạ Iraq được dùng để bắn máy bay Hoa
Kỳ và Anh quốc. Cũng v́ vậy mới xảy ra
chuyện Hoa Kỳ tố cáo Trung Cộng, để
rồi Trung Cộng chối bỏ mọi sự vi
phạm, và rốt cục cũng phải đấu
dịu lại với Hoa Kỳ về vấn đề
này, nhưng đồng thời tấn công trở lại
Hoa Kỳ bằng cách đưa vấn đề Hoa Kỳ
định vơ trang ào ạt cho Đài Loan, có thể tạo
nên sự bất ổn trầm trọng cho nền an ninh
của Trung Cộng. Nhưng thái độ của Hoa
Kỳ đối với Trung Cộng sau vụ dội bom
xuống Baghdad, cũng đủ cho Bắc Kinh thấy rơ
là với chính quyền Bush ở Hoa Thịnh Đốn,
Trung Cộng khó mà trông chờ được một sự
đăi ngộ như dưới thời chính phủ Clinton.
Vả lại chờ măi mà chẳng thấy Tổng
Thống Bush gọi điện thoại cho Tổng Bí
Thư Giang Trạch Dân sau khi ông tuyên thệ nhậm
chức, nên Bắc Kinh đành phải "muối
mặt" mở một cuộc tấn công ngoại giao
bằng cách phái qua Hoa Kỳ 3 phái đoàn để t́m
hiểu thêm thái độ của chính quyền Cộng Ḥa
đối với họ, mặc dầu 3 phái đoàn
nầy không hề được chính phủ Hoa Kỳ
đạt giấy mời.
Phái
đoàn thứ nhất gồm có 3 cựu đại sứ
đă từng phục vụ tại Hoa Kỳ và Gia Nă
Đại, và đến Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 2,
2001.
Phái
đoàn thứ hai do ông Zhou Mingwei, Phó Giám Đốc Đài
Loan Sự Vụ trong Viện Quốc Dân Trung Quốc
cầm đầu, đă đến Hoa Thịnh Đốn
vào đầu tháng 3.
Phái
đoàn thứ ba do Phó Thủ Tướng Qian Qichen cầm
đầu, đă đến Hoa Kỳ vào trung tuần tháng
3.
Mọi
người trong giới ngoại giao đoàn đều
rất ngạc nhiên về sự thay đổi cách cư
xử rất đột ngột của Bắc Kinh
đối với chính quyền Bush, v́ dưới thời
cựu Tổng Thống Clinton họ quen thói làm cao rồi,
nhưng nay lại tỏ vẻ quá ư quỵ lụy,
"không mời mà đến" cũng đủ
chứng tỏ Trung Cộng - qua thái độ phớt
tỉnh của ông Bush - đă cảm thấy băn
khoăn lắm rồi. Tám năm về trước Trung Cộng
chả cần làm ǵ hết, chỉ có việc ngồi
chờ tân chính quyền
Phái đoàn thứ nhất gồm
có 3 ông cựu đại sứ đă được
một số nhân viên hạng trung của Bộ Ngoại
Giao ra đón tiếp ở phi trường. Phái đoàn có
ghé qua
Phái đoàn thứ 3 do Phó Thủ
Tướng Qian Qichen cầm đầu, trước khi
tới Hoa Thịnh Đốn, có ghé lại Nữu
Ước, và trong buổi gặp báo chí tại nơi
đây, ông Qian dơng dạc lên tiếng cảnh cáo Hoa Kỳ
rằng việc nước nầy bán 4 chiếc Khu
trục hạm Aegis cho Đài Loan sẽ làm sứt mẻ
t́nh hữu nghị giữa hai nước và có thể
đưa đến t́nh trạng chiến tranh. Ông ta
nhấn mạnh: việc bán 4 khu trục hạm cho Đài
Loan chứng minh rơ rệt là Hoa Kỳ đă vi phạm
trầm trọng hiệp định 1982 qui định
hạn chế việc bán vũ khí cho Đài Loan. Nhưng
ông ta quên rằng bên cạnh hiệp định có kèm theo
một trang ghi điều khoản gởi cho Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia nói rơ lời tuyên bố
của Tổng Thống Reagan là việc hạn chế
đó chỉ có giá trị khi nào cán cân lực lượng
giữa Trung Quốc và Đài Loan không có thay đổi.
Nhưng từ ngày ấy đến nay, Trung Cộng đă
đặt thêm hàng trăm hỏa tiễn dọc theo bờ
bể tỉnh Phúc Kiến và hướng về phía Đài
Loan. Nhân vụ Trung Cộng tăng cường vũ khí
dọc theo eo bể Đài Loan, Đô Đốc Dennis Blair
Tư Lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ trong
khu vực Thái B́nh Dương có cho biết là ông ta đă có
lưu ư Trung Cộng nên tiết giảm số hỏa
tiễn dàn dọc theo bờ bể Phúc Kiến và nhắm
về Đài Loan để cho t́nh h́nh giữa đôi bên
bớt căng thẳng th́ đă được Trung
Cộng trả lời là những vũ khí đó không
nhắm vào Đài Loan. Khi nghe xong những điều tŕnh
bày trên đây, Phó Thủ Tướng Qian đă trả
lời cộc lốc: "Tôi không cho rằng những
chuyện đó lại có thể trở thành một vấn
đề". Ông Qian tỏ vẻ lạc quan vừa
phải khi ông đề cập đến việc Hoa
Kỳ dự tính bán 4 chiếc khu trục hạm cho Đài
Loan, đoạn ông ta nhấn mạnh ở điểm là
năm (năm 2000 ), chính Tổng Thống Clinton cũng
đă một lần từ chối việc bán cho Đài
Loan những chiếc khu trục hạm nầy. Tiện
đây cũng nên nhắc lại là cách đây 3 năm (1999),
quư ông Paul Wolfowitz (nay là Thứ Trưởng Bộ Quốc
Pḥng), Richard Armitage (nay là Thứ Trưởng Bộ
Ngoại Giao) và ông I. Lewis Libby (Văn Pḥng Trưởng
của Phó Tổng Thống Dick Cheney) có gởi một
văn thư cho cựu Tổng Thống Clinton kêu gọi
ông này nên có những hành động nhằm giúp thêm vũ
khí cho Đài Loan. Nhưng ông
Phó
Thủ Tướng Trung Cộng đă được
Tổng Thống Bush tiếp kiến tại ṭa Bạch
Ốc ngày 22 tháng 3 năm 2001. Cũng vào thời gian đó,
phát ngôn viên bộ An Ninh của Trung Cộng ở Bắc
Kinh cho báo chí hay là ngày 11 tháng 2, năm 2001, họ đă
bắt bà Gao Zhan 40 tuổi, giáo sư tại đại
học American University, Hoa Thịnh Đốn, cùng chồng
của bà và em bé Andrew, 5 tuổi, con của bà ta. Cả ba
người nầy đều bị giam riêng để
thẩm vấn. Mặc dầu em bé Andrew chỉ mới có 5
tuổi mà cũng bị biệt giam 26 ngày liền, xa cha
mẹ của em, th́ chắc tội của em cũng nặng
lắm - theo nhân viên bộ An Ninh Trung Cộng - và rất có
thể là em đă âm mưu lật đổ chế
độ hà khắc, vô nhân đạo của Tổng Bí
Thư Trung Cộng Giang Trạch Dân chăng? Bà Gao và ông Xue,
gốc Trung Hoa, đang xin nhập quốc tịch Hoa
Kỳ; c̣n em Andrew - v́ sinh ở Hoa Kỳ - nên đă có
quốc tịch Hoa Kỳ từ khi mới sinh ra
đời. Nhưng khi bắt "nhà đại cách
mạng Andrew" mới có 5 tuổi nầy, Bộ An Ninh
Trung Cộng không thông báo cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ
ở Bắc Kinh biết, là họ có bắt một công dân
Hoa Kỳ bị t́nh nghi âm mưu phá rối nền an ninh của
Trung Quốc; v́ giữa hai nước có kư thỏa
ước khi nước nầy bắt kiều dân của
nước kia, th́ nước bắt người bị
t́nh nghi phải thông báo cho nước kia biết, chậm
nhất trong ṿng 4 ngày. Nội một hành động
nầy cũng đủ chứng minh cho thế giới biết
là đối với Trung Cộng, việc thi hành và tôn
trọng mọi hiệp ước được kư
kết giữa đôi bên là chuyện của bên kia, c̣n vi
phạm hiệp ước là chuyện đương nhiên
hay nói cho chính xác hơn là "quyền của Trung
Cộng!"
Tổng Thống Bush và Ngoại
Trưởng Powell đă được thông báo về
vụ bắt bớ em bé Andrew, kiều dân Hoa Kỳ
nầy.Và ông Powell đă thốt ra câu "thật là vô nhân
đạo". C̣n dư luận của giới ngoại
giao th́ quá ngạc nhiên khi thấy Bắc Kinh có một hành
động điên rồ như vậy v́ chính bộ An Ninh
Trung Cộng lại lựa đúng ngày Phó Thủ
Tướng Qian đi gặp Tổng Thống Bush
để loan tin cho thế giới biết là vừa
bắt một gia đ́nh người Mỹ gốc Hoa có
hành động làm nguy hại đến nền an ninh
của Trung Quốc. Trong khi phó thủ tướng của
họ đang chuẩn bị xin tổng thống Hoa Kỳ
dẹp bỏ ư định bán 4 chiếc khu trục hạm
Aegis tối tân cho Đài Loan, th́ Bắc Kinh lại có hành
động khiêu khích, hăm dọa, đánh phủ
đầu Hoa Kỳ như vậy, quả thật là
xuẩn động! Thế rồi việc ǵ phải
xảy ra đối với phái đoàn Trung Cộng đă
đến. Tổng Thống Bush đă nhân cơ hội
nầy để thuyết cho Phó Thủ Tướng Qian
nghe quan niệm của ông về Nhân Quyền và Tự Do Tín
Ngưỡng. Riêng ông Qian th́ im lặng ngồi nghe, ít nói, và
tỏ thái độ rất là cung kính, theo lời
tường thuật của một số báo chí lớn
của Hoa Kỳ. Và cuối cùng, Tổng Thống Bush cho ông
Qian hay việc bán 4 chiếc khu trục hạm hay không là
quyền của Hoa Kỳ và ông mong rằng việc gia
đ́nh của em bé Andrew sớm chóng được Bắc
Kinh giải quyết càng sớm càng tốt
Trong tháng 4 vưa qua, Tổng
Thống Bush không gấp gáp ǵ mà tuyên bố việc bán 4
chiếc khu trục hạm Aegis cho Đài Loan để làm
mất ḷng Trung Cộng trong lúc này v́ ông c̣n phải
"xử lư" vụ Nga trước đă. Trong khi
đó th́ ông lại treo một cây kiếm ngay trên
đỉnh đầu Trung Cộng và ngầm cảnh cáo
Trung Cộng nếu c̣n tiếp tục có thái độ hung
hăng đối với Đài Loan, th́ khi đó ông sẽ
ra lệnh bán 4 chiếc khu trục hạm Aegis ngay cho
Đài Loan. Và để xoa dịu Đài Loan, ông sẽ
chấp nhận bán cho Đài Loan một số khu trục
hạm loại Kidd dùng đối phó với phi cơ Trung
Cộng, một mối nguy kề cận nhất đối
với Đài Loan. Vả lại nếu Đài Loan mua khu
trục hạm loại Kidd, th́ đă có sẵn rồi, và
Hoa Kỳ có thể giao ngay; c̣n loại có trang bị radar
Aegis th́ phải chờ đến năm 2005 xưởng
đóng loại tàu nầy ở Pascagoula, tại Mississipi
mới đóng xong, với giá 1 tỷ mỹ kim cho một chiếc
(1 tỷ bằng 1000 triệu ).
Qua cuộc tiếp xúc với phái đoàn Qian, Tổng
Thống Bush đă tỏ ra rất cương quyết
đối với Trung Cộng. Mặc dầu ông không nói rơ
ư của ông, nhưng nội cách trả lời cứng
rắn của ông với ông Qian cũng đủ thấy
ông không nhân nhượng Trung Cộng tư nào cả và không lư
ǵ đến vấn đề có chiến tranh hay không
tại eo bể Đài Loan; có lẽ là ông đă có chủ ư
cả rồi. Chúng ta cứ nh́n qua buổi ông ta tiếp
kiến Tổng Thống Nam Hàn Kim Đại Trọng th́
mới thấy được - mặc dầu ông ít kinh
nghiệm về ngoại giao, nhưng để lấp cái
lỗ hổng đó, ông được trời đă phú
cho có cái nh́n sắc bén về đối tượng
của ḿnh, và một lương tri sáng suốt và b́nh
tĩnh để nhận xét t́nh h́nh một cách khách quan. Ông
Kim Đại Trọng đă có cái nh́n sai lạc về ông
Bush khi ông tiếp xúc với ông này, nên mới đặt
lại vấn đề tiếp tục cuộc
điều đ́nh với Bắc Hàn về việc sản
xuất hỏa tiễn đang c̣n bỏ dở dưới
thời Clinton. TT Bush đă trả lời ngay với ông Kim
Đại Trọng là ông không tin Bắc Hàn, nhất là
về vấn đề kiểm soát, nên ông đă đơn
phương hủy bỏ cuộc đàm phán đang bỏ
dở này; mặc dầu ngày trước đó Ngoại
Trưởng Powell có hứa với ông Kim Đại
Trọng là chính phủ này sẽ tiếp tục lại
cuộc đàm phán đang bỏ dở dưới thời
ông Clinton. Lời tuyên bố của ông Ngoại
Trưởng Colin Powell thế nào lại chẳng
được ông Kim Đại Trọng gọi
điện thoại về B́nh Nhưỡng để báo
tin mừng này cho Kim Chính Nhật lănh tụ Bắc Hàn, làm cho
tên này mừng hụt tưởng rằng ḿnh sẽ có
cơ hội để "gạt tên Bush con này một
mẻ cho mà xem!" Qua hai vụ tiếp xúc với
đại diện hai nước Trung Cộng và Nam Hàn,
chúng ta có thể nói chính ông Bush là người quyết
định tối hậu về chính sách ngoại giao
của Hoa Kỳ, mà đôi khi không cần hỏi ư kiến
cộng sự viên của ông ta.
6.
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
Vào đầu tháng 9 vừa qua,
"Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
(1 ) Không
quân Canada có rất ít sĩ quan hoa tiêu có kinh nghiệm, v́
từ khi chính phủ từ chối không trả
lương cho họ tương đương như bên
dân sự, th́ họ đă t́m việc làm tại hăng Hàng Không
Air Canada.
(2 ) Hiện
nay, Canada rất "yếu" về quân dụng,
nhất là về loại đạn dược
điều khiển bằng tia Laser của loại phi
cơ F18s đă từng hoạt động ở Serbia và
Kosovo cách đây 4 năm, nhưng cho đến nay vẫn
chưa được bổ sung lại.
(3 ) Nếu
cần phải điều động Hải quân như
ở Vùng Vịnh chẳng hạn, th́
(4 )
Sau khi "chiến tranh
lạnh" chấm dứt vào cuối thập niên 1990, các
nước trong khối Tự Do đều lơ là về
vấn đề quốc pḥng, v́ theo họ - c̣n đâu
"nguy cơ Cộng Sản" nữa mà phải chi tiêu
rất tốn kém về quân đội cho mất công. Theo
họ, th́ lo chuyện an ninh trật tự cho thế
giới đă có Hoa Kỳ đảm trách rồi. Khi
chiến tranh Vùng Vịnh được phát động vào
đầu thập niên 1991, nên các nước tham gia
cuộc chiến đang c̣n giữ quân đội và
chiến cụ; nhưng giờ đây - 12 năm đă qua -
quân đội của họ, phần lớn
được giải ngũ, vũ khí không sản
xuất thêm th́ chớ, lại trở nên lạc hậu
với thời gian, nên khả năng chiến đấu
rất là yếu kém, không c̣n hữu hiệu nữa v́
thiếu huấn luyện. Trường hợp của
Tháng 7, 1958
quốc vương Faisal của
Tháng 8, 2002 tại thủ đô Hoa
Thịnh Đốn, ông Bill Kristol, chủ biên của
tuần báo Weekly Standard, một "cột trụ" trong
"hệ thống Lốp By Do Thái" do một nhóm
kiều dân Do Thái quá khích có quốc tịch Hoa Kỳ và
một số thành viên hiếu động của Giáo
Hội Phúc Âm Hoa Kỳ lănh đạo, đang vận
động ráo riết cho một cuộc chiến tranh
giữa Hoa Kỳ và Iraq, theo chủ trương của
thủ tướng Do Thái Ariel Sharon nhắm mục tiêu
đưa quốc gia Do Thái lên hàng số 1 trong vùng Trung
Đông; đồng thời sắp xếp lại hàng
ngũ của một số quốc gia Ả Rập thân Tây
Phương, qua sự chỉ đạo trong bóng tối
của một số nhân vật đầu năo nằm trong
các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ - Anh quốc. Cuộc
vận động nầy đang đi vào giai đoạn
cuối cùng và ông Kristol đă viết trong báo của ông là "cuộc
bàn căi đă chấm dứt và giờ hành động đă
đến!". Cho nên từ ngày 30 tháng 8, 2002 chỉ
trong ṿng 8 ngày mà phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc
đă oanh tạc 5 bận các dàn súng cao xạ pḥng không
của Iraq bị nghi có gắn hệ thống pḥng không
tối tân S. 300 do Nga cung cấp cho Trung Cộng. Mặc
dầu Nga vẫn rêu rao là luôn luôn ủng hộ Hoa Kỳ
chống lại "trục ma đầu" Iraq, Iran và
Bắc Hàn, nhưng vẫn tiếp tục công khai kư kết
với Iraq - qua đại diện bộ trưởng
Ngoại Giao của nước nầy là Naji Sabri, tại
thủ đô Mạc Tư Khoa một thỏa ước
viện trợ cho Iraq 40 tỷ mỹ kim trong ṿng 10 năm.
Lư do mà Putin viện dẫn là sự hợp tác của Nga
với các nước trong "trục ma đầu"
chỉ là một giải pháp để tránh sự
đụng độ tai hại có thể xảy ra,
để rồi về lâu về dài sẽ kéo họ
trở về lại đại gia đ́nh các nước
trong khối thế giới Tự Do. Thế rồi
thời gian trôi qua và 34 năm sau tên độc tài khát máu
Saddam Hussein vẫn c̣n tại vị ở Iraq với hai bàn
tay vấy máu của dân nước nầy - trải qua
không biết bao nhiêu cuộc mưu đồ đảo
chánh y, thiệt cũng có mà giả cũng có khi tên
độc tài nầy muốn thủ tiêu ai mà hắn không
thích. Dưới chế độ độc tài sắt máu
của Saddam Hussein, Iraq đă đi tới bờ vực
thẳm giống hệt như ở Bắc Hàn, và lư do chính
của sự tàn lụi nầy là v́ các tên độc tài cai
trị hai nước nầy đều ham mê tậu cho
được một số vũ khí tối tân để
lên mặt với các nước lân bang của chúng.
Chúng tôi cũng xin lưu ư bạn
đọc là Iraq đă được hội "Vạn
Quốc" lập nên vào đầu thập niên 1920, theo
đề nghị của các công ty dầu hỏa quốc
tế và của bộ Ngoại Giao Anh Quốc, lúc đó
đang nắm "quyền sinh sát" ở các vùng
đất trong miền Trung và Cận Đông. Ban
đầu, Anh quốc từng dự tính thành lập
một quốc gia Kurd có 20 triệu dân, tọa lạc
giữa các nước Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Iran
bao gồm luôn các trung tâm khai thác dầu hỏa Kirkouk và
Mossoul và chịu sự điều khiển của một
quốc vương thuộc ḍng họ Hachemite. Nhưng
rồi Anh quốc lại thay đổi ư kiến và chia dân
Kurd ra thành nhiều nhóm ở tản mác trong 5 quốc gia là
Iraq, Thổ, Syria, Iran và Nga.
Theo ông
Richard Sharpe, giám đốc nguyệt san Jane's Fighting Chips đă
từng tuyên bố với một số phóng viên báo chí là có
một số cơ sở t́nh báo của các nước
trong khối Thế Giới Tự Do đă nhận
được nhiều tin tức chính xác về việc
Iraq sản xuất các loại vũ khí hóa học và vi trùng
học, nhưng họ (CIA và NSA của Hoa Kỳ chẳng
hạn ) không dám công khai lên tiếng tố cáo v́ sợ làm
"cháy" các nguồn tin của họ trong nước
Iraq. Cho đến năm 1990, Mạc Tư Khoa và Hoa
Thịnh Đốn đều nhắm mắt làm ngơ
trước mọi hành động hống hách của
Saddam Hussein đối với các nước láng giềng
của hắn. Hoa Kỳ cũng dư biết là 80% vũ
khí của Iraq đều do Liên Xô cung cấp và cũng
nằm trong kế hoạch ngấm ngầm thúc đẩy
tên độc tài Saddam Hussein xua quân xâm chiếm nước
Ả Rập Saudi và toàn thể các tiểu quốc trên bán
đảo Ả Rập để tóm thâu hầu hết các
mỏ dầu hỏa trong Vùng Vịnh và lên làm chúa tể
hoàn cầu, qua sự giựt dây của Liên Bang Xô Viết
trong bóng tối. Nhưng Hoa Kỳ đâu có chịu
để cho Saddam Hussein tự tung tự tác như vậy
được ở Vùng Trung Đông và Hoa Kỳ đă
bố trí để cho bà Đại Sư Hoa Kỳ tại
tiểu quốc Kuwait gặp Saddam và khẳng định
với tên nầy là nếu Saddam Hussein có chiếm lănh Kuwait
th́ Hoa Kỳ cũng không bao giờ can thiệp. Thế là cá
Saddam đă cắn lưỡi câu của ngư ông Herbert
Bush, và cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đă xảy ra
như Hoa Kỳ dự tính.
7. Phe Đối Lập
Ngày 10 tháng 8, 2002 bộ
trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld và viên tham mưu
trưởng của ông ta đă gặp các đại
diện trong Đại Hội Đồng (nhóm Tứ Bang,
Phong Trào Quân Chủ Lập Hiến, đại diện
của một số sĩ quan lưu vong) và lănh tụ Barzani
đă biểu lộ sự dè dặt của ông ta
đối với kế hoạch can thiệp của Hoa
Kỳ trong việc hạ bệ chính quyền Saddam Hussein
ở Iraq. Mặc dầu trong mùa hè vừa qua, Hoa Kỳ có
phái Shalabi qua Iran để điều đ́nh với
nước nầy nên giữ thái độ trung lập
một khi Hoa Kỳ tấn công vào Iraq; nhưng những
lời hứa hẹn của cựu tổng thống
Rafsanjani và của Rahim Safavi, tướng tư lệnh
đội quân "Bảo Vệ Cách Mạng" th́
chả có ǵ đáng tin cậy cho lắm v́ tất cả
mọi quyết định của Iran đều do giáo
chủ Khameini định đoạt th́ khi ấy mới có
giá trị.
Thượng tuần tháng 9, 2002
một liên bang đối lập chống chính quyền
Saddam Hussein đă được thành lập và gồm có các
tổ chức sau đây: Nhóm Tứ Bang nằm trong
"Đại Hội Đồng" do Shalabi chủ
tọa và gồm có: "Liên Minh Yêu nước Kurdistan"
của Talabani, "Đảng Dân Chủ Kurdistan"
của Barzani, "Liên Minh Quốc Gia Iraq" của Ayad
Alawi và "Hội Đồng Tối Thượng Cách
Mạng Hồi Giáo" của giáo lănh Baqr có trụ sở
tại thủ đô Tehran của Iran Và sau đó, lại có
tháp thêm vào "Đại Hội Đồng" một
"Tổ Chức Quân Chủ Lập Hiến" của
Ali Ben Hussein, em họ của quốc vương Iraq đă
bị ám sát, và cuối cùng có thêm 3 tổ chức của
cựu quân nhân Iraq là "Liên Minh Quốc Gia Iraq" gồm
toàn cựu sĩ quan của Tawiq el- Salhi; "Phong Trào
Vận Động Sĩ Quan Iraq" do Fawzi el-Shamari cầm
đầu cùng với một số sĩ quan lưu vong qua
Syria và Âu Châu mà phát ngôn viên là Wafiq el- Samarrai và Nizar el-
Khazradji. Sự tập hợp của hầu hết các nhóm
lưu vong vào "Đại Hội Đồng" do
Shalabi cầm đầu có mục tiêu tiến tới
việc thành lập một chính phủ "hậu Saddam Hussein".
Saddam Hussein phải bị lật đổ . Nhưng sau đó phải có người
thay thế hắn chứ? Chính quyền Hoa Kỳ hiện
nay có danh sách của hằng trăm - nếu tránh không nói
đến hằng ngàn dân Iraq chống Saddam Hussein đă
lũ lượt đến tỵ nạn tại Anh
quốc, Âu Châu, và Hoa Kỳ: Họ là những cựu
tướng lănh, sĩ quan cao cấp trong quân đội
Iraq, những nhà ngoại giao, những nhân viên cao cấp
của chính quyền nầy, những thân bằng quyến
thuộc trong sắc tộc Takriti của Saddam Hussein. Tuy
họ ở trong tư thế lưu vong, "ăn nhờ
ở đậu" nhưng họ vẫn luôn luôn kết
bè kéo cánh, lắm khi đi đến chống phá nhau
kịch liệt, và người nào cũng vỗ ngực
cho ḿnh là "ngon lành" hơn các người khác. Trong
đám nầy, có ông Ahmed Shalabi, 57 tuổi, đă từng
dính líu trong cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991, sáng
lập viên "Nghị Hội Quốc Gia
Năm 1999, ông Shalabi xác nhận có
nhận được của cơ quan CIA và của
một số mạnh thường quân Hoa Kỳ một
số tiền 12 triệu mỹ kim(được ông ta xác
nhận ). Đa số các nhân vật
Điều làm cho chính phủ Hoa
Kỳ ngạc nhiên nhất là tất cả các nhóm kháng
chiến về Hoa Kỳ tham dự buổi họp
đều đồng ư là sau khi lật đổ Saddam
Hussein rồi, th́ chính phủ kế tiếp của Iraq
phải là một chính phủ dân chủ, đa nguyên, duy tŕ
toàn vẹn lănh thổ với 23 triệu dân Iraq. Riêng
Thổ Nhĩ Kỳ th́ chỉ sợ rồi đây - khi mà
có một nước Iraq độc lập có cư dân Kurds
- th́ dân Kurds sống trên lănh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ
sẽ đứng lên đ̣i quyền tự trị. Và các
nước Ả Rập trong vùng Vịnh cũng như Hoa
Kỳ sẽ lo rằng rồi đây dân
Vào thượng tuần tháng 10
dương lịch, năm 2002, các tai to mặt lớn trong
kỹ nghệ dầu hỏa Nga và Hoa Kỳ đă
đến Houston (Hoa Kỳ ) để tham dự buổi
họp mặt đầu tiên của hội nghị
thượng đỉnh Nga - Hoa về thương măi và
năng lượng. Đồng thời người ta
cũng thấy xuất hiện một số bộ
trưởng trong chính phủ W. Bush như ông Donald Evans,
bộ trưởng Bộ Thương Măi và ông Spencer
Abraham, bộ trưởng Bộ Năng Lượng cùng
nhiều nhân viên cao cấp khác trong chính quyền hiện
tại. Mục tiêu chính của buổi họp
thượng đỉnh nầy là để thảo
luận việc nhập cảng thêm dầu hỏa của
Nga - một loại hàng chiến lược - vào thị
trường Hoa Kỳ, trước khi hai bên có thể
đi đến việc đặt nền móng cho một
sự hợp tác về vấn đề năng
lượng hầu mang đến sự ổn
định lâu dài và an ninh cho thị trường dầu
hỏa thế giới. Một vấn đề quan
trọng nữa là các thành viên trong hội nghị
thượng đỉnh nầy sẽ thảo luận
về tương lai của Iraq, nhất là về quyền
lợi của Hoa Kỳ và Nga về dầu hỏa tại
nơi đây, một khi Saddam Hussein bị lật
đổ. Những người Nga đến tham dự
hội nghị thượng đỉnh nầy đều
là ủy viên cao cấp trong ban quản trị các công ty
dầu hỏa Nga, trong đó xen lẫn một số công ty
có kư hợp đồng với Iraq, nên họ cần theo dơi
chính sách của Hoa Kỳ đối với chính quyền
Saddam Hussein một cách rất là thận trọng. Họ
rất lo ngại là nếu có chiến tranh xảy ra và sau
khi Saddam Hussein bị hạ bệ, th́ quyền lợi
dầu hỏa của Nga tại Iraq sẽ bị tiêu tan,
nên họ đang cố gắng t́m cách móc nối với môt
số thủ lănh thuộc phe đối lập của Iraq
- để khi có tân chính phủ Iraq ra đời - th́
họ cũng sẽ được mời tham dự vào
vào các cuộc thảo luận chia sẻ quyền lợi
về dầu hỏa với các nước đồng minh
tham chiến cùng với Hoa Kỳ để lật đổ
Saddam.
8. Nguồn
Dầu Hỏa Phi Châu Xích Đạo.
Trong cuộc chiến tranh Vùng
Vịnh vào năm 1991, đại diện của Liên Xô
Primakov đă công khai ủng hộ Saddam Hussein trong khi đó
vẫn đi theo Đồng Minh nhưng không tham gia
cuộc chiến; nhưng rồi sau đó - khi cuộc
chiến đă tàn - th́ Liên Xô là nước được
thủ lợi nhiều nhất. Giờ đây,
trước bầu không khí sôi nổi là Hoa Kỳ và Anh
quốc có thể lănh đạo cuộc chiến tranh
"hạ bệ" Saddam Hussein, th́ Nga lại muốn dùng
lại chiến thuật của Primakov mười hai
năm trước đây để hưởng lợi
của cả hai bên. Một mặt th́ tổng thống
Putin - kéo theo Pháp - nhất định cản trở
việc Hoa Kỳ được tự do đơn
phuơng hành động nếu Liên Hiệp Quốc không
đồng ư dùng biện pháp mạnh đối với
Iraq. Mặt khác th́ Putin lại phái một số "tài
phiệt dầu hỏa" - tay chân bộ hạ của y
- qua họp thượng đỉnh về thương măi
và năng lượng giữa Nga và Hoa Kỳ để gài
Hoa Kỳ vào thế làm quảng cáo không công cho Nga trên
thị trường dầu hỏa thế giới mà
từ trước tới nay rất ít quốc gia biết
đến, để rồi từ đó vươn lên
trên thị trường dầu hỏa quốc tế, qua
sự đỡ đầu của Hoa Kỳ. Putin hy
vọng rằng nếu Nga càng chống đối mạnh
việc để cho Hoa Kỳ rảnh tay "xử
lư" vụ Iraq, th́ 'sứ mạng" của phái đoàn
đại diện cao cấp các công ty dầu hỏa Nga
sẽ thành công ở Houston; và chỉ khi đó Putin mới
chịu để cho Hoa Kỳ thanh toán Saddam Hussein theo ư
muốn của họ và Putin sẽ được ngồi
vào bàn hội nghị để chia lợi dầu hỏa
của Iraq. C̣n nếu phái đoàn "dầu hỏa
Nga" thất bại trong cuộc điều đ́nh th́
Putin sẽ ra lệnh cho đại diện của y trong
Hội Đồng "Bảo An" Liên Hiệp Quốc
phải chống đối đến cùng việc
để cho Hoa Kỳ tự do hành động ở
Mặc dầu tổng thống W.
Bush và thân sinh của ông ta đều ở trong "Lốp
By Dầu Hỏa Hoa Kỳ", nhưng rất có thể
chủ trương của ông đánh Iraq không phải hoàn
toàn v́ vấn đề dầu hỏa Iraq; v́ ngoài Trung
Đông ra, Hoa Kỳ c̣n có những nơi cung cấp dầu
hỏa khác, đă gần mà lại c̣n bảo đảm
không có ai tranh dành: đó là Vùng Phi Châu Xích Đạo. Chính
quyền Bush rất tế nhị là không bao giờ hô hoán
với thế giới là họ rất chú ư đến
dầu hỏa Phi Châu, v́ sợ làm mếch ḷng các
nước sản xuất dầu hỏa ở Trung
Đông, đồng thời cũng muốn tránh lời
dị nghị của dân các nước Phi Châu có dầu
hỏa cho rằng Hoa Kỳ chú trọng nhiều
đến nước của họ là v́ dầu hỏa mà
thôi. Nhưng chú trọng về dầu hỏa th́ đă
sao? Trên đời nầy chả có ai có thể lấy
thúng úp voi được, kể cả Hoa Kỳ, nhất
là mới đây, ngoại trưởng Colin Powell đă qua
thăm viếng xă giao Angola và Gabon, hai nước xuất
cảng dầu hỏa mạnh nhất qua Hoa Kỳ.
Cũng xin lưu ư bạn đọc đây là lần
đầu tiên mà một vị bộ trưởng
Ngoại Giao Hoa Kỳ đến thăm nước Gabon.
Dầu hỏa Phi Châu có nhiều điểm thuận
tiện đối với Hoa Kỳ hơn các nơi khác v́
các mỏ dầu - phần lớn đều nằm
dưới ḷng Đại Tây Dương và gần bờ
bể của miền Tây Phi Châu - nên chuyên chở rất
thuận tiện cho Hoa Kỳ hơn dầu hỏa vùng
Vịnh hay vùng bể Lư Hải (Caspian Sea ). Từ
trước tới nay, Phi Châu là nơi ít khi
được các nhà ngoại giao Hoa Kỳ chú ư tới, v́
mỗi khi đề cập đến Phi Châu là mọi
người đều liên tưởng đến bệnh
AID, đến loạn lạc, đói khổ. Trên mặt
đất của Phi Châu, khi mới nh́n vào th́ thấy ghê
tởm như vậy, nhưng dưới ḷng đất
của châu nầy th́ lại chứa đầy ắp
dầu hỏa chưa được khai thác, hay có khai thác
th́ cũng rất dễ. Trong vùng Phi Châu Xích Đạo,
chỉ có Nigeria là hội viên của "Tổ Chức Các
Nước Xuất Cảng Dầu Hỏa" (OPEC) mà thôi,
c̣n sự xuất cảng dầu ở các nước khác
th́ không bị ràng buộc vào bất cứ một tổ
hợp nào cả. Trước kia
Sau khi ông Bush ra điều
trần trước đại hội đồng Liên
Hiệp Quốc, th́ sau đó ông đă tiếp xúc với các
thủ lănh của mười quốc gia Phi Châu ngay tại
trụ sở của Liên Hiệp Quốc và thúc đẩy
họ nên ủng hộ các hiệp nghị nhằm chấm
dứt các vụ xung đột xảy ra ở Congo và các
nơi khác ở Phi Châu, đồng thời yêu cầu
họ tiếp tay trong vấn đề chống nạn
khủng bố. Tổng thống W. Bush cũng cho các vị
đó biết chương tŕnh thăm viếng Phi Châu
của ông vào khoảng đầu năm 2003, và sẽ
viếng thăm Nigeria, nước sản xuất dầu
hỏa lớn nhất trong vùng Phi Châu Xích Đạo và
cũng là nước đứng vào hàng thứ 5 về
xuất cảng dầu hỏa qua Hoa Kỳ. Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng có dự trù việc mở
lại lănh sự quán Hoa Kỳ tại Guinea Xích Đạo,
đă bị đóng cửa vào thập niên 1990 v́ lư do
thiếu hụt tài chánh; nhưng nay văn pḥng sắp
được mở cửa lại v́ một số công ty
dầu sắp đến hoạt động tại
quốc gia nầy sau khi một số giếng dầu
mới vừa được phát hiện ở ngoài
khơi của Guinea Xích Đạo. Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ cũng đă dự trù xây một đại sứ
quán tại thủ đô Luanda của nước Angola, và
trong cuộc viếng thăm Luanda, ngoại trưởng
Colin Powell đă thốt ra một câu nói rất ngắn
nhưng bất hủ đối với nhân viên ṭa
đại sứ: ".....nhưng chúng ta đến
nơi đây để mà ở lại". Dầu
hỏa c̣n th́ Hoa Kỳ c̣n ! "Phi
Châu nhất đái, vạn đại dung thân mà !" Biết đâu ông ngoại trưởng Hoa
Kỳ Colin Powell là hậu duệ của Cụ Trạng
Tŕnh nhà ḿnh cũng nên, c̣n dầu th́ Hoa Kỳ c̣n, hết
dầu th́ Hoa Kỳ rút. Trong Quốc Hội cũng
như ở Ngũ Giác Đài, đă có sự thảo
luận về việc tăng gia trao đổi quân sự
với một số quốc gia trong vùng Tây Phi Châu,
để rồi tiến tới viêc thành lập một
căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trên đảo mà
cũng là nước Săo Tomé nằm trong vịnh Guinea của
Tây Phi Châu. Trong cuộc gặp gỡ các lănh tụ Phi Châu,
nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ ít khi
thảo luận về vấn đề dầu hỏa,
nhưng hay nhấn mạnh đến các vấn đề
tranh chấp địa phương, giảm thiểu
nạn tham nhũng, bảo vệ nhân quyền, gia tăng
việc xây cất trường ốc, bành trướng an
sinh xă hội qua chương tŕnh viện trợ mới
của chính phủ Hoa Kỳ lấy tên là "Millennium
Challenge Account". Hiện
giờ tất cả các nước sản xuất dầu
hỏa ở Phi Châu đang cố gắng tăng năng
suất các mỏ của họ lên. Giờ đây
9.
"Đồng Minh Chiến Lược"
Sau khi Liên Xô
sụp đổ, vào khoảng đầu thập niên 1990,
nước Nga là nơi dụng vơ của một loại
tư bản quá độ, để rồi từ đó
sản xuất ra một loại nhà thầu trẻ,
chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm sao cho ra
tiền, bất chấp luân lư đạo đức. Trước
sự kiện đó, dân chúng đâm ra thù ghét loại
chế độ tư bản đê tiện, luồn cúi
đó; để rồi phát sinh ra một mối thất
vọng năo nề đối với khái niệm tự do
kinh tế, và ḷng mong muốn trở về lại nền
kinh tế chỉ huy dưới thời Liên Xô của
một số đông quần chúng chán chường. Hơn
nữa người dân Nga rất mong muốn chính quyền
thực hiện nhiều sự cải cách về
phương diện xă hội trước khi đề
cập đến việc chuyển hướng đi
của đất nước qua nền kinh tế thị
trường. V́ trong hiện tại của thời
buổi đó, viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ
và của Tây Âu chả có giúp ích ǵ cho sự phát huy dân
chủ và sự chuyển hướng của nước
Nga về nền kinh tế thị trường. V́
quá tin tưởng vào Yeltsin nên chính quyền Clinton đă
để cho Nga thao túng và đặt lại nền móng
đô hộ ngầm trên các nước cựu chư
hầu khi c̣n Liên Bang Xô Viết, trừ ba tiểu quốc
trong vùng bể Baltic là Lithuania, Latvia và Estonia. Nếu cựu
TT Clinton không thiên vị đối với TT Yeltsin, th́
việc đầu tiên ông phải hành động là làm cho
cân bằng thế lực của Nga trong các nước
vừa mới được độc lập như Ukraine,
Azerbaidjan, Kazakhstan và Turkmenistan, nhất là 3 nước
liệt kê sau lại có tiềm năng kinh tế về
dầu hỏa rất là vĩ đại. Riêng về
Ngay cho đến bây giờ, Nga
vẫn chưa phải là một nước dân chủ theo
tiêu chuẩn của Tây Phương. V́ sao? Một
nước có dân chủ không phải là v́ nước
ấy có tổ chức bầu cử mà bắt buộc
nước ấy phải có một hệ thống chính
quyền có những cơ quan được đặt ra
để bảo vệ những giá trị tinh thần mà
một xă hội tự do và có kỷ luật thiết tha
đ̣i hỏi. Từ sau khi "chiến tranh lạnh"
chấm dứt cho đến nay, Nga tự coi ḿnh là một
nước dân chủ, nhưng thật sự chỉ dân
chủ ở bề ngoài để mị dân và gạt
quốc tế mà thôi. Tuy nhiên ông Clinton vẫn khư khư
cho rằng khi mà chiến tranh lạnh chấm dứt, th́
sau đó Nga sẽ trở thành một quốc gia
"đồng minh chiến lược" với Hoa
Kỳ, trên phạm vi toàn cầu. Và ông ta đă bị
"hố" quá nặng. V́ không những Nga không giúp
được ǵ trong việc giải quyết những
vấn đề trọng đại trên hoàn cầu kể
từ khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mà Nga đă
ngoảnh mặt làm ngơ không bao giờ chịu hợp
tác trong bất cứ mọi dàn xếp nào mặc dầu có
sự vận động và cổ xúy của quốc
tế, trừ phi sự dàn xếp đó có mang quyền
lợi thiết thực đến cho Nga, chỉ có thế
thôi. Sự việc này thường xảy ra trong lănh
vực bán vũ khí và xuất cảng những nguyên
liệu hạch tâm mà Nga có một thế đứng
rất vững chắc trên thị trường quốc
tế. Nhưng cũng có một trường hợp
ngoại lệ xảy ra - tuy không được mời
tham gia vào cuộc chiến ở Kosovo (Nam Tư ), nhưng
Nga cũng "muối mặt" gởi một tiểu
đoàn Dù vào chiếm một khoảnh đất trong phi
trường Pristina, đặt Đồng Minh trước
một sự đă rồi. Sở dĩ có chuyện Nga
nhảy vào "ăn có, chia phần" như vậy là v́
ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, Nga đă
từng nuôi mộng bành trướng lănh thổ vào vùng Ba
Nhĩ Cán (Balkans ), nhưng luôn luôn bị các nước Tây
Phương cản mũi. V́ nhu cầu chiến
lược và văn hóa, Nga vẫn luôn luôn nuôi mộng bành
trướng lănh thổ xuống miền nam dưới
thời Liên Bang Xô Viết hay sau khi chiến tranh lạnh chấm
dứt. Mặc dầu thành tích dân chủ của Yeltsin
rất kém, nhưng chính quyền
Trong năm cuối cùng nhiệm
kỳ tổng thống của ông, Yeltsin - v́ muốn ganh
đua mị dân với hai cánh quốc gia và cộng sản
trong quốc hội - cũng đă bắt chước hai
phe này đưa ra một chương tŕnh nhắm phục
hồi lại quyền uy của thời cực thịnh
giả tạo, chỉ có cái vỏ bên ngoài, dưới
thời Liên Bang Xô Viết. Và sự quan hệ giữa Nga
với tiểu quốc Bielorussia đă trở nên căn
bản cho sự phục hồi quyền lợi xa xưa
của nước Nga. Tổng Thống Yeltsin cũng
bị thời cuộc bắt buộc phải xếp hàng
theo một số điểm trong chương tŕnh mị
dân của đảng Cộng Sản và đă đi xa
dần chủ trương tự do dân chủ mà các
nước Tây Phương mong muốn ở nơi
nước Nga, sau sự sụp đổ của Liên Xô.
Để làm cho t́nh h́nh khẩn trương thêm, sự im
lặng của chính quyền Hoa Thịnh Đốn
trước sự ngụy tạo tin tức của chính
phủ Yeltsin liên quan đến cuộc chiến Chechnya,
đă bôi nhọ không những Hoa Kỳ mà ngay cả
khối thế giới Tự Do. Khi ông
10.
"Đối Thủ Chiến Lược"
Sau khi tuyên thệ nhậm chức
tổng thống Hoa Kỳ, ông W. Bush thành lập chính
phủ, nhưng theo một đường lối rất
đặc biệt là dành ưu tiên cho những nhân vật
chủ trương đặt quyền lợi của
đất nước lên trên hết. Thông thường
đối với những ông tổng thống tiền
nhiệm, thành phần chính phủ thường được
chọn trong hàng ngũ của Hội Đồng
Đặc Trách Đối Ngoại (Council On Foreign Relations )
gọi tắt là "CFR", mà chỉ có một số
ít người biết đến. Và chính thành phần thành
viên của Hội Đồng này mới là quan trọng,
chứ phân biệt người này thuộc đảng
Cộng Ḥa, kẻ kia thuộc đảng Dân Chủ
chỉ là giả tạo hết.
Đô Đốc Chester Ward, một thành viên kỳ
cựu của Hội Đồng Đặc Trách
Đối Ngoại (CFR ) có viết từ năm 1971 về
hội đồng này như sau: "Năm nay kỷ
niệm năm thứ 40, ngày chúng ta thành lập Hội
Đồng. Từ 40 năm nay, những vị chỉ đạo
của chúng ta hầu như đă kiểm soát toàn diện
chính sách ngoại giao và quốc pḥng của Hoa Kỳ.
Từ 1928 cho đến năm nay, chín trên số
mười hai vị tổng thống Hoa Kỳ là thành viên
của Hội Đồng Đặc Trách Đối
Ngoại (CFR ),và nếu J.F. Kennedy không phải thành viên
của Hội Đồng, toàn thể thành phần trong
nội các của ông ta đều ở trong Hội
Đồng...Từ 1934 cho đến thời
đại Kissinger... tất cả các bộ trưởng
Ngoại Giao, bộ trưởng và thứ trưởng
Quốc Pḥng (trừ 2 người ), các tham mưu
trưởng Liên Quân, các giám đốc Trung Ương T́nh
Báo (CIA ), những vị điều khiển ngành truyền
thông....tất cả đều là thành viên của Hội
Đồng..."
Từ
năm 1978 đến nay hay là 24 năm qua , đây là lần
đầu tiên mà 22 vị bộ trưởng trong chính
phủ của Tổng Thống George W. Bush không do 70% cho
đến 75% thành viên của
Hội Đồng Đặc Trách Đối
Ngoại (CFR ) nắm giữ như dưới thời
cựu Tổng Thống Clinton, mà chỉ có 4 vị thôi: Dick
Cheney (Phó Tổng Thống ),Colin Powell (Ngoại Giao
),Condoleeza Rice (Hội Đồng An Ninh Quốc Gia )và
Christine Todd Whitman (Môi Sinh ).Bốn vị kể trên đây
đều thuộc về "cánh Hữu" của Hội
Đồng Đặc Trách Đối Ngoại. Họ
chống "chủ nghĩa xă hội" và cũng
chống luôn "cánh Tả" thiên Cộng. Trong
cựu chính quyền Clinton, 75% thành phần chính phủ là
thành viên "cánh Tả" của Hội Đồng. Không
có một thành viên nào thuộc "cánh Hữu" của
Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại
nằm trong chính phủ Clinton. Thành phần các vị bộ
trưởng thuộc CFR của chính phủ W.Bush:
-
DICK CHENEY, Phó Tổng Thống, có thể nói là viên
quản lư của chính phủ W. Bush. Ông ta đă qui tụ
khoảng năm mươi cố vấn chung quanh ông và
chủ tọa một hội đồng mà mục tiêu là
theo dơi thường xuyên những hoạt động
của Ngũ Giác Đài, của bộ Ngoại Giao,
của Trung Ương T́nh Báo CIA, và của Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia; một vai tṛ mà cựu Phó
Tổng Thống Gore dưới trào Clinton không được
ủy thác. Bộ ba Cheney, Powell, Rice làm việc với nhau
rất chặt chẽ v́ ông Powell và bà Rice đều
biết đóng vai tṛ phụ tá cho ông Cheney một cách kín
đáo nhưng rất hữu hiệu, mặc dầu bà Rice
rất được tổng thống Bush lắng nghe.
Một đặc điểm của hội đồng
nầy là: Không Chấp Nhận Chủ Nghĩa Xă
Hội Bất Cứ
Dưới H́nh Thức Nào.
-
CONDOLEEZA RICE, Cố Vấn Hội Đồng An Ninh
Quốc Gia, có lập trường dứt khoát - đối
nghịch lại với chủ trương của cựu
TT Clinton - khi bà ta tuyên bố "đối với thế
giới bên ngoài chúng ta không c̣n là số điện thoại
911 nữa" (911 là số điện thoại kêu cứu
ở Hoa Kỳ). Rồi bà nói tiếp: "Vai tṛ của
binh sĩ chúng ta không c̣n là vai tṛ của một bà vú
đưa đón con em chúng ta đến tận cổng nhà
trường". Với sự đồng ư của
Tổng Thống Bush, bà Rice bác bỏ vai tṛ can thiệp
của Hoa Kỳ trên khắp thế giới do khối
Tự Do Tả Khuynh chủ trương dưới
thời
-
COLIN POWELL, cựu Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa
Kỳ, thích người ta gọi ông là Bộ Trưởng
Ngoại Giao hơn gọi ông là tướng. Chính ông đă
khuyên cựu Tổng Thống Bush đừng có xua quân
đồng minh vào chiếm thủ đô Baghdad và truy lùng
Saddam Hussein trong cuộc chiến Vùng Vịnh, vào đầu
thập niên 1991, để rồi bây giờ Saddam Hussein
trở lại gây rắc rối cho Hoa Kỳ. Ông Colin Powell
thiên về chủ trương ḥa hoăn và giỏi về
quản trị. Đối với những người
nồng cốt trong chính phủ Bush, ông này thường
được coi là ít diều hâu nhất. Vừa rồi
ông chỉ định ông John Huntsman làm đại sứ
của Hoa Kỳ tại Trung Cộng, nhưng ông đang gặp
khó khăn với Bắc Kinh v́ ông Huntsman theo đạo
Mormon như ông Gong đang làm việc với bà Rice.
Những
chuyên gia về vấn đề Trung Cộng trong hai chính
phủ của các cựu Tổng Thống Carter và Clinton
đều lên tiếng chống đối việc chọn
hai ông Huntsman và Gong v́ hai ông này luôn luôn đề cao cảnh
giác và chống lại chiến lược của Trung
Cộng. Nghị Sĩ Dan Coats của tiểu bang Indiana
cũng được chỉ định làm đại
sứ ở Đức quốc. Ông này cũng đă
từng được TT Bush tiếp xúc về chức
vụ bộ trưởng Quốc Pḥng, nhưng sau đó không
được chọn v́ có ông Rumsfeld mạnh thế
hơn. Dưới thời chính phủ Clinton, trong 600
chức vụ có quyền lấy quyết định th́
184 chức vụ lănh đạo và 290 chức vụ
phụ tá đều thuộc về thành viên của Hội
Đồng Đặc Trách Đối Ngoại. C̣n trong
chính phủ Bush th́ chỉ có khoảng 20 người thôi.
Về nhân sự Do Thái, dưới chính phủ Clinton có 41
người Do Thái giữ những chức vụ cao
nhất trong chính phủ, trong chính phủ Bush hiện nay th́
chỉ có 5 người thôi.
Sau
khi Tổng Thống Bush lập xong chính phủ, báo chí cho
rằng chính phủ của ông c̣n bảo thủ hơn
dưới thời cựu Tổng Thống Reagan nữa;
và chịu ảnh hưởng của hai tổ chức
hữu khuynh: American Enterprise Institute và Heritage Foundation do
Richard Perle, gốc Do Thái, rất bảo thủ, và James
Baker, cựu ngoại trưởng trong chính phủ Reagan
điều khiển. Cho đến nay chỉ mới có 2
"nhóm thế lực" nặng kư nhất là nhóm Carlyle
và nhóm New Atlantic Initiative.
Nhóm
Carlyle, có căn cứ chính đóng ở
Nhóm
New Atlantic Initiative, mới thành lập từ năm
1996 nhưng đă vươn lên hàng đầu rất nhanh,
với Giám Đốc Điều Hành Jeffrey Gedmin, một
chuyên gia về những dịch vụ liên quan tới
Đức quốc; và rất gần gủi với bộ
ba Cheney-Powell-Rice và thân cận với Thủ Tướng G.
Schroder và các chuyên gia Do Thái nghiên cứu những dịch
vụ liên hệ đến nước Đức. Hội
Đồng Điều Hành của nhóm này gồm có 79
vị trong dó có Colin Powell, Richard Perle, Robert Zoellick
đặc trách về thương măi quốc tế trong
chính phủ Bush, Kissinger và Brzezinski.
Khi ông
Clinton vừa mới đắc cử nhiệm kỳ
đầu, việc đầu tiên của ông ta là lo cho
sứ giả bay qua Bắc Kinh "triều bái" Trung
Cộng trước tiên như các vua của Việt Nam cho
sứ sang Tàu để triều cống các hoàng đế
Trung Hoa vậy. Đối với Tổng Thống Bush th́
lại khác, ông có gọi điện thoại cho 22 vị
thủ lănh của các quốc gia trên thế giới,
trừ Trung Cộng và Nga là ông chưa gọi mà thôi.
Chuyện đó kể ra cũng dễ hiểu, v́ trong khi
đi vận động tranh cử, ông Bush đă tuyên
bố với quốc dân là ông ta xem hai nước Trung
Cộng và Nga như là "đối thủ chiến
lược" chứ không phải là "đồng minh
chiến lược" như ông Clinton thường hay
tuyên bố. Mà đă liệt hai nước đó vào hàng
đối thủ rồi, chỉ thăm viếng xă giao
thôi th́ khi nào gọi lại chả được, có ǵ mà
phải gấp gáp. Nhưng không phải v́ vậy mà không
tỏ thái độ thái độ cho họ biết,
nhất là đối với Trung Cộng.
Rồi
đến ngày 16 tháng 2, 2001, không quân Hoa Kỳ và Anh quốc
được lệnh dội bom xuống các dàn Radar và cao
xạ pḥng không của Iraq chung quanh thủ đô Baghdad; sau
đó Hoa Kỳ có thông báo cho Trung Cộng hay là họ đă
chọn ngày thứ sáu để dội bom - v́ họ
biết ngày ấy nhân viên của Trung Cộng đang
thực hiện công tác thiết kế máy móc dùng
"sợi quang học (Fiber-Optics )" để tăng
độ chính xác cho các dàn Radar điều khiển súng
pḥng không bắn phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc -
nghỉ, không làm việc. Thật ra th́ Hoa Kỳ đâu
có lo cho sự an toàn của các chuyên viên Trung Cộng,
nhưng mà Hoa Kỳ nói vậy là cốt cho Trung Cộng
biết rằng việc họ vi phạm lệnh cấm
đoán của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp
Quốc không được bán máy móc có liên hệ tới
"sợi quang học" cho Iraq đă bị phát giác
rồi đấy. Dưới thời cựu Tổng
Thống Clinton, những vụ vi phạm lệnh cấm
buôn bán hoặc thiết kế máy móc có tính cách quân sự cho
Iraq đối với Trung Cộng thường xảy ra
như ăn cơm bữa, nhưng Hoa Kỳ vẫn cứ
làm ngơ, không phản đối hoặc có phản
đối th́ chỉ làm cho có lệ, rồi đâu lại
vào đấy, và không có biện pháp trừng phạt đi
tiếp theo sau. Riết rồi Trung Cộng đâm ra
lờn mặt và coi lệnh cấm đoán của Hội
Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chẳng ra cái
thớ ǵ nữa. Vào tháng 11, năm 2000, Trung Cộng có hứa
với chính quyền
Giờ đây,
vụ dội bom của Hoa Kỳ xuống các dàn súng cao
xạ có gắn radar ở chung quanh thủ đô Baghdad là
nhắm mục đích cảnh cáo Trung Cộng rằng
họ sẽ bị thiệt hại nếu c̣n tiếp
tục vi phạm lệnh cấm đoán của Hội
Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Vấn
đề bên trong của Trung Cộng là muốn gây khó
khăn cho Hoa Kỳ trong địa vị siêu cường
nên họ đă cổ xúy và ngầm yểm trợ cho
những nước nào chấp nhận chủ trương
phá rối đó; đồng thời cũng để
dằn mặt Hoa Kỳ nên thận trọng trong việc
tiếp tế vũ khí cho Đài Loan. Tám năm dưới
thời Clinton, chính quyền Hoa Kỳ đă âm thầm
chấp nhận công thức đó, v́ một chính phủ mà
75% thành phần bộ trưởng đều thuộc cánh
Tả (thiên Cộng ) của Hội Đồng Đặc
Trách Đối Ngoại (CFR ), th́ đường lối
của chính phủ đó khi nào cũng phải chủ
trương "dĩ ḥa vi quư" đối với Trung
Cộng là chuyên đương nhiên.
11.Tổng Thống Putin ngấm ngầm
chống lại Hoa Kỳ.
Ngày 13 tháng 3, 2001, nhân đề
cập đến những dự tính liên quan đến
"hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn",
Tổng Thống Bush - khi nhắc đến nước Nga
- có nói ông "không coi Nga như một kẻ thù, nhưng
Nga có thể trở thành một nguy cơ hăm dọa
thế giới nếu họ muốn, v́ họ có một
kho vũ khí nguyên tử". Theo ông, tất cả những
quốc gia có sản xuất vũ khí nguyên tử
đều là những nguy cơ hăm dọa. Và theo ư
của ông Bush th́ sự pḥng vệ bằng hàng rào hỏa
tiễn là một cách để bắt đầu tập
trung tài nguyên chống lại những sự hăm dọa
thật sự hướng về Hoa Kỳ. Và cho
đến nay, những cố vấn của Tổng
Thống Bush không liệt nước Nga vào hàng ngũ
những nước "lưu manh".
Vào cuối
tháng 2 năm 2001, Tổng Thống Nga Putin qua viếng
thăm thủ đô Hà Nội của nước Việt
Nam dưới chế độ Cộng Sản. Khi cựu
Tổng Thống Clinton qua thăm Việt Nam trước
khi ông măn nhiệm kỳ - th́ mặc dầu chính quyền
Việt Cộng không chủ trương đón tiếp long
trọng ông - nhưng dân chúng Việt Nam vẫn tự
động ào ạt đổ xô ra đường
để hoan hô Tổng Thống Clinton, một dịp
bằng vàng để cho họ có cơ hội làm ngược
lại chủ trương của chính quyền Cộng
Sản cho bỏ ghét. Khi phái đoàn tổng thống Nga
đến Hà Nội th́ chả có người dân Việt
Trong hơn
một năm trời làm tổng thống, Putin đă đi
thăm hơn hai mươi quốc gia phần nhiều là
thân chủ cũ của Liên Bang Xô Viết trước kia,
nhưng đă bị Yeltsin bỏ rơi trong mấy năm
lèo lái nước Nga. Đi đến đâu ông cũng
cổ xúy việc chống Hoa Kỳ, v́ khi đó cựu
Tổng Thống Clinton, v́ đă thiên Tả rồi, th́
đâu c̣n dám nói năng chi. Nhưng từ khi ông Bush lên
nhậm chức cho đến nay, ông thấy ông Putin
chỉ hơn ông Yeltsin một chút thôi về hữu
hiệu trong công việc, và bệnh trầm kha của tân
tổng thống Nga cũng là bệnh của tất cả
các lănh tụ của thời Liên Bang Xô Viết xa xưa.
Đó là bệnh hứa quá nhiều với dân chúng mà
thực hiện th́ chẳng được bao nhiêu. Vừa
mới lên nhậm chức, ông đă bị ngay một
thử thách quá nặng mà ông lại đương
đầu một cách hết sức vụng về,
nếu không nói là "xuẩn động", đó là
vụ chiếc tàu ngần nguyên tử bị đắm
trong vịnh Barentz, lúc đang dự cuộc thao diễn,
gây thiệt mạng cho hơn một trăm binh sĩ trong
thủy thủ đoàn. Hai lỗi lầm lớn nhất
của Putin lúc đó là từ chối sự giúp đỡ
của một số quốc gia Tây phương để
trục chiếc Kursk lên trong những ngày đầu khi
xảy ra tai nạn, để cứu những thủy
thủ hăy c̣n sống sót, và điều lầm lỗi sau là
ông không chịu rời nơi nghỉ mát ở bể Hắc
Hải ngay để trở về Mạc Tư Khoa lo
chuyện cứu vớt thủy thủ đoàn của
chiếc Kursk. Kể ra dân chúng Nga - v́ quá hiền ḥa, hay quá
sợ chính quyền - mà không dám biểu t́nh phản
đối ông ta, chứ như chuyện nầy mà xảy
ra ở một nước Tây Phương th́ ông tổng
thống nước đó đă dễ ǵ ngồi yên
với họ, không khéo lại c̣n mất chức nữa là
khác.
TT Putin lên
truyền h́nh và hứa với dân chúng là sẽ giải
quyết cuộc chiến ở Chechnya ngay, nhưng măi cho
đến nay chiến tranh vẫn c̣n tiếp diễn, gây
chết chóc dài dài cho binh sĩ, trung b́nh từ một trăm
đến hai trăm người mỗi tháng, và không
biết sẽ c̣n kéo dài bao nhiêu lâu nữa. Để tránh
những lỗi lầm phạm phải sau hai vụ Kursk và
Chechnya, TT Putin hứa với quốc dân sẽ cải
tổ guồng máy quân sự cho hữu hiệu hơn,
nhưng hứa th́ hứa vậy mà cải tổ th́
vẫn ù lỳ như trước đây. Ông lên truyền
h́nh khoe với dân chúng là ông đă làm cho nền kinh tế
Nga tăng trưởng hơn trước kia nhiều,
nhưng chỉ 3 ngày sau th́ giá dầu hỏa lại tụt
xuống và trên thị trường chứng khoán phải
bỏ ra 28 Rúp mới mua được một mỹ kim.
Ông khẳng định với IMF sẽ tái cấu trúc
tổ hợp khổng lồ Gazprom về điện
lực và hỏa xa cho thích nghi với đ̣i hỏi của
quần chúng, nhưng v́ tổ hợp nầy có một
"ngân sách vô h́nh" - lớn không khác ǵ ngân sách chính
thức - nhưng không đóng thuế cho nhà nước, và
đó là nguồn lợi riêng của các tai to mặt lớn
trong tổ chức, nên không ai dám đụng tới v́ không
biết ông tân tổng thống có được chia
phần lời trong đó hay không mà chuyện tái cấu trúc
tổ hợp nầy vẫn im hơi lặng tiếng,
chả c̣n ai đề cập đến nữa.
Ông cũng
hứa lo cho sức khỏe của dân nhưng cho
đến nay, dân có đau ốm th́ cũng ráng chịu
chứ bác sĩ tư th́ chỉ chửa bệnh cho
những người giàu có mà thôi. Ông hứa làm trong
sạch guồng máy tư pháp nhưng vấn đề
"pháp đ́nh cổng hậu" giờ đây lại
c̣n hoạt động mạnh hơn dưới thời
Liên Bang Xô Viết nhiều. Chỉ có một việc ông
Putin làm mà người dân Nga thấy được rơ
rệt là ông kư sắc lệnh tuyên bố từ nay cờ
nước Nga sẽ là cờ Tam Tài, huy hiệu là h́nh hai
con chim đại bàng dưới thời đại các Sa
Hoàng, cờ đỏ là cờ của quân đội,
nhạc quốc ca là nhạc của bài quốc ca
dưới thời Liên Bang Xô Viết c̣n lời của bài
quốc ca mới cũng do thi sĩ Sergei Mikhalkov - năm
nay 87 tuổi - viết, và cũng chính ông nầy viết
lời cho bài quốc ca của Liên Bang Xô Viết, năm
1944. Mặc dầu Tổng Thống Putin chứng tỏ ông
có khả năng liên kết chim đại bàng của các Sa
Hoàng với quốc ca của Liên Bang Xô Viết bằng cách
hạ bút kư sắc lệnh, nhưng nếu ông lại dùng
phương pháp đó để vượt qua những
cơn khủng hoảng về chính trị và kinh tế
của đất nước th́ quả thật là vô
phương. Nếu cộng thêm những "thành công"
về ngoại giao của ông qua hơn hai mươi
nước mà ông viếng thăm, th́ những "thành
công" đó chỉ có một mục đích duy nhất và
tai hại cho nước Nga sau nầy là "chọc
tức" và "khiêu khích" Hoa Kỳ, siêu cường
độc nhất trên thế giới hiện nay. Thảo
nào cách đây hơn năm thế kỷ, một
người đồng hương của Tổng
Thống Putin, nhà tiên tri Vassili Nemtshin có tiên đoán là
đến đầu năm 2001, "một tên lùn có
mặt mày hắc ám sẽ lên nắm quyền lănh
đạo nước Nga, nhưng không có lâu đâu.....".
Tổng Thống Putin cao không quá một thước sáu
mươi lăm phân, đối với người Nga
quả thật là lùn, c̣n "mặt mày hắc ám" không
phải muốn nói ông ta có nước da sạm, nhưng
để ám chỉ ông làm việc cho Mật Vụ KGB, v́
ở bên Nga, người dân mỗi khi muốn nói người
đó là cộng tác viên của Mật vụ KGB th́ mọi
người v́ sợ tai mách vạch rừng nên nói chệch
ra "người đó có mặt mày hắc ám"
lắm. Kể ra ông Vassili cũng giỏi thần sầu
không kém ǵ ông Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hiện tại nước Nga dưới
bàn tay "mật vụ" của Putin cũng giống
như một chiếc tàu chở dầu chạy ngoài
biển cả, gặp sóng to gió lớn nhưng bộ máy
dầu cặn lại bị hoen rỉ quá nhiều nên
chỉ xê dịch được nhiều lắm là một
dặm một giờ, không làm sao theo kịp tàu tối tân
của Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản. Thành thử
mặc dầu đất đai th́ rộng lớn, lại
có thêm kho vơ khí hạch tâm đáng kể, nhưng v́ nền
kinh tế của Nga - chỉ đứng giữa Đan
Mạch và Bồ Đào Nha mà thôi - nên đối với
quốc tế th́ chỉ được liệt vào hàng các
nước hạng 3 trên thế giới. Tuy nhiên theo những tin tức thu
lượm được trong hai tháng vừa qua, th́
Tổng Thống Putin của Nga đă có những vận
động ngấm ngầm chống lại Hoa Kỳ
như một kẻ thù. Yeltsin, cựu Tổng Thống Nga,
trao quyền lại cho Đại Tá Mật Vụ KGB Putin
vào cuối năm 1999, đúng vào mùa bầu cử tổng
thống Hoa Kỳ. Cuộc bầu cử diễn ra rất
sôi nổi và gay cấn đến phút chót đă đưa
ông George W. Bush, ứng cử viên của đảng
Cộng Ḥa lên ghế tổng thống thứ 43 của Hoa
Kỳ, nhiệm kỳ 2000-2004. Trong khi đi vận
động tranh cử, Tổng Thống Bush có tuyên bố
là ông sẽ coi Trung Cộng và Nga là hai "đối
thủ chiến lược" của Hoa Kỳ nếu
ông đắc cử. Vậy giờ đây chúng ta cũng
nên t́m hiểu thêm thành phần tân chính phủ Hoa
Kỳ,-W.Bush một chính
phủ mà trọng trách là phải đương
đầu với hai "cường quốc" cực
Tả trên thế giới, và Hoa Kỳ phải chứng
tỏ địa vị siêu cường của ḿnh.
ChuSa
November 5th, 2002
GHI CHÚ: Chúng tôi sẽ phổ biến danh
sách và tên tuổi của một số thành viên CFR (Council On
Foreign Relations) – Hội Đồng Đặc
Trách Đối Ngoại đang phục
vụ trong các Bộ, các Ngành, của Chính Phủ Hoa Kỳ.