HOME 

 

Từ "Đồng Minh Chiến Lược" Đến "Đối Thủ Chiến Lược"

 

ChuSa

November 5th, 2002

 

       1. Tổng Thống W. Bush với cái nh́n toàn diện

       Tổng Thống Bush quyết định thiết kế "hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn" để bảo vệ Hoa Kỳ và các nước đồng minh trên toàn thế giới, nhất là vùng Á Châu, th́ người ta liên tưởng ngay đến Nhật Bản và Đài Loan là hai nước có quân đội mạnh nhất trong vùng. Sở dĩ không đề cập đến Nam Hàn - không phải v́ nơi đó đă có sẵn quân đội Hoa Kỳ đồn trú rồi - nhưng v́ Tổng Thống Kim Đại Trọng có gốc thiên Tả, nên không được Hoa Kỳ tin cậy cho lắm. Tuy nhiên cũng chính CIA của Hoa Kỳ đă cứu ông ta khỏi chết khi mật vụ của Tổng Thống Phác Chánh Hy đă đem ông ta ra thả ngoài bể, nhưng nhờ Hoa Kỳ biết được nên đă cho phi cơ bay ra thả hỏa châu làm sáng cả vùng bể khiến cho mật vụ Nam Hàn không dám quẳng ông ta xuống bể nữa. Nhưng nay ông đă trở thành tổng thống Nam Hàn v́ dân chúng - quá chán ghét chế độ độc tài của một số tướng lănh - nên đă dồn phiếu cho ông thay v́ bỏ cho đối thủ của ông, nhưng lại là con bài của phe tướng lănh. Nay th́ ông ta muốn bắt tay với Kim Chính Nhật, tên cộng sản độc tài của Bắc Hàn, để thực hiện mộng thống nhất đất nước. Nếu ông nuôi ảo mộng đó, th́ ông Kim Đại Trọng không sớm th́ muộn thế nào cũng bị tên Kim Chính Nhật lừa y hệt như Hồ Chí Minh đă gạt các chính đảng quốc gia ở Việt Nam vào năm 1945. Tổng Thống Bush ngoài miệng th́ nói không tin Kim Chính Nhật, nhưng biết đâu trong thâm tâm của ông ta cũng không mấy tin tưởng vào sự thành thật của ông Kim Đại Trọng, v́ trong kỳ họp hội nghị thượng đỉnh tại Okinawa, Nhật Bản, của một số lănh tụ thế giới, ông Kim Đại Trọng - sau khi họp riêng với Tổng Thống Nga Putin - đă nói theo luận điệu của ông nầy về lănh vực chống hỏa tiễn liên lục địa, đi ngược lại chính sách của Tổng Thống Bush, khiến bộ Ngoại Giao Nam Hàn phải lật đật lên tiếng cải chánh, và sau đó ông Kim Đại Trọng đă lên tiếng hối tiếc có sự hiểu lầm. Nhưng đối với mọi người, nhất là Hoa Kỳ, th́ lời tuyên bố đầu mới thể hiện đúng những suy tư thầm kín của ông, c̣n lời tuyên bố sau là v́ ông bị áp lực của bộ Ngoại Giao mà phải nói. Cũng v́ vậy mà chưa chắc Hoa Kỳ sẽ dùng Nam Hàn làm một trong những căn cứ tiếp vận cho "hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn" của họ trong tương lai ở Á Châu. Trong trường hợp mà v́ bắt buộc họ phải dùng Nam Hàn để làm căn cứ cho chương tŕnh hàng rào hỏa tiễn của họ, th́ biết đâu vào một ngày tối trời nào đó, lại sẽ có máy bay thả hỏa châu giúp cho một tướng lănh Nam Hàn đứng ra đảo chánh ông tổng thống thiên Tả, thân Cộng này cũng nên!

        Sau cuộc chiến tranh 8 năm với Iran, Iraq đă được Liên Xô đổ cố vấn quân sự và chiến cụ tối tân nhất vào giúp nên đă trở thành một nước có một đạo quân hùng mạnh đứng vào hàng thứ 4 trên thế giới, sau Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung Cộng. Nhờ vị trí địa dư gần Liên Xô nhất, nên Iraq với nguồn lợi thiên nhiên về dầu hỏa dồi dào vào bậc nh́ ở Trung Đông, chỉ sau Ả Rập Saudi, đă được Liên Xô đặc biệt chú ư đến. Mặt khác Iraq lại là một khách hàng giàu có, dư điều kiện trả tiền, th́ đó là một điểm son đối với Liên Xô; nhất là khi người cầm đầu Iraq lại là kẻ thù không đội trời chung với Do Thái. Mặc dầu đứng về phía Đồng Minh - lên án hành động xâm lăng Kuwait của Iraq - nhưng Liên Xô vẫn c̣n lưu lại Iraq hơn 2000 cố vấn quân sự kèm theo một số quân cụ có kỹ thuật hiện đại để giúp Iraq tiếp nhận những tin tức điều động quân sự của quân đội Đồng Minh do các vệ tinh của Liên Xô chuyển về.  Năm 1991, vài ngày trước khi quân đội Đồng Minh mở cuộc tấn công ồ ạt bằng Không quân vào các pḥng tuyến của quân đội Iraq, th́ cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon có viết: "Nếu chúng ta cần phải tham gia cuộc chiến, th́ đó cũng không hẳn là v́ dầu hỏa hay là v́ dân chủ. Sở dĩ chúng ta tham dự cuộc chiến nầy là v́ Ḥa B́nh - không phải riêng cho Ḥa B́nh trong thời đại của chúng ta mà thôi - mà chính là cho Ḥa B́nh của các thế hệ mai sau. Hành động tham gia vào cuộc chiến ở Vùng Vịnh của chúng ta có một mục đích cao cả về đạo đức". Nhưng mỗi quốc gia trong cuộc đă hiểu và áp dụng hai chữ "đạo đức" một cách khác nhau, tùy theo chủ trương và quyền lợi riêng của nước họ. Mặc dầu lúc đó Liên Bang Xô Viết cũng gần tan ră đến nơi rồi, nhưng chúng ta cũng cứ thử bắt đầu từ Liên Xô trở đi. Qua tuần lễ đầu, sau khi không quân Đồng Minh oanh tạc dữ dội Iraq, số cố vấn quân sự c̣n trên lănh thổ Iraq không dưới 1700 người; nhưng Liên Xô lại tuyên bố số cố vấn nầy chỉ có 145 người và đều là những tên ngoan cố không tuân lệnh rút về của Gorbachev. Lời tuyên bố vô lư nầy chứng tỏ Liên Xô vẫn trắng trợn coi thường dư luận quốc tế. Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, Liên Xô đă chơi tṛ tḥ ḷ 2 mặt, vừa đứng vào phe Đồng Minh, vừa đi đêm với Iraq. Kể từ thời đại các Sa hoàng cho đến cuối thập niên 1990, nước Nga - dù ở dưới chế độ nào - cũng vẫn luôn luôn nuôi mộng làm bá chủ ở Trung Đông. Dưới chế độ Cộng Sản và trong thời kỳ "chiến tranh lạnh", Liên Xô luôn luôn t́m đủ mọi cách để gây ảnh hưởng tại các nước Ả Rập theo Hồi giáo trong vùng như Ai Cập, Syria, Iraq, Yemen, Lybia và ngấm ngầm cổ xúy phong trào tiêu diệt nước Do Thái, một quốc gia được Hoa Kỳ hết ḷng bảo trợ. Chủ trương của Nga - từ lúc đó cho đến bây giờ - là gây ảnh hưởng tại các nước Ả Rập trong vùng Trung Đông - bằng cách bán chịu vũ khí cho họ để họ có phương tiện gây chiến với Do Thái. Cũng xin lưu ư bạn đọc là tất cả các nước Ả Rập ở Trung Đông đều sống dưới chế độ độc tài phát xít nhưng lại ngụy trang dân chủ qua những cuộc bầu cử gian lận, giống như ở Nga từ gần một thế kỷ nay.  Nh́n lại lịch sử các cuộc chiến tranh giữa Do Thái và các nước Ả Rập bao quanh nước nầy ở Trung Đông, chúng ta sẽ thấy - cứ mỗi khi quân Do Thái sắp sửa chiến thắng quân đội của các nước Ả Rập, th́ Liên Xô lại nhảy vào can thiệp, đ̣i Hoa Kỳ phải áp lực với Do Thái và buộc nước nầy phải ngưng chiến. Đă hai lần Liên Xô đă biến thảm bại quân sự của khối Ả Rập thành thắng lợi chính trị cho họ. Lần nầy cũng vậy, khi thấy quân đội Iraq bị thiệt hại quá nặng nề v́ các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ, th́ Liên Xô lại nhảy ra đóng vai tṛ trung gian ḥa giải. Nhưng trái với những cuộc chiến tranh trước ở Trung Đông mà lúc nào Hoa Kỳ cũng bị Liên Xô luôn luôn chơi gác về ngoại giao, lần nầy Hoa Kỳ chủ động về mọi mặt trong khi đó th́ Liên Xô đang bị t́nh h́nh kinh tế và chính trị nội bộ làm cho mất hết khả năng lung lạc t́nh h́nh chính trị thế giới.

        Một chuyện tréo cẳng ngỗng nữa trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh là không phải ṭa Bạch Ốc định ngày 15-1-1991 là thời hạn chót của tối hậu thư Đồng Minh gửi cho Iraq. Người chủ xướng thời điểm nầy lại chính là Gorbachev và tin nầy được tiết lộ do t́nh báo của Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương và cũng do tuần báo Newsweek, cơ quan bán chính thức của Ủy Hội Tay Ba (Trilateral), số ra ngày 28-1-91, trang 44. Liên Xô đă chọn thời biểu nầy v́ đó là ngày mà Mạc Tư Khoa ra lệnh dùng quân đội đàn áp phong trào tranh thủ độc lập của các quốc gia trong vùng Baltic. Gorbachev đă âm mưu dùng bom đạn ở Trung Đông để làm tấm màn khói che đậy cuộc đàn áp các dân tộc vùng Baltic do y chủ trương. Những hành động bỉ ổi của Liên Xô trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh khó mà kể ra cho hết. Ngoài mặt Liên Xô không phản đối hành động quân sự của Đồng Minh, nhưng trong khi đó th́ họ lại ngấm ngầm tiếp tế vũ khí và quân cụ cho Iraq qua ngă JordanIran. Hai tuần sau khi chiến tranh Vùng Vịnh bùng nổ, một tuần dương hạm của Hoa Kỳ tại Hồng Hải đă chận xét một tàu buôn Nga chở lậu chiến cụ của Liên Xô chuyển cho Iraq qua ngă Jordan. Trong khi chiến tranh tiếp diễn, thỉnh thoảng đài phát thanh Jordan lại lên tiếng tố cáo phi cơ Đồng Minh oanh tạc một số xe buưt chở hành khách. Thực ra đó là những chiếc xe buưt chở lậu chiến cụ từ Jordan qua Baghdad để tiếp viện cho Iraq. Tất cả những chiến cụ nầy đều xuất phát từ Hắc Hải thuộc hải phận Liên Xô, chạy ra Địa Trung Hải, qua kênh đào Suez để vào Hồng Hải, rồi cặp bến tại hải cảng Aqaba của Jordan. Hành động của Liên Xô là luôn luôn giữ cảm t́nh của Iraq để sau nầy c̣n tái vơ trang cho Iraq sau khi chiến tranh Trung Đông chấm dứt.

        Có một thời gian báo chí Tây phương từng loan tải là viên đại tá Alknis thuộc quân khu vùng Baltic, hiện là một đại biểu quốc hội Nga, đă lên diễn đàn quốc hội và ra thời hạn 30 ngày cho Gorbachev phải lập lại trật tự trong nước nếu không "những người yêu nước" sẽ đứng ra lănh nhiệm vụ này. Dư luận Tây phương lúc bấy giờ rất lo cho số phận của Gorbachev, trong khi đó th́ ông ta vẫn thản nhiên như không v́ viên đại tá nầy chỉ là một tên "c̣ mồi" của Gorbachev mà thôi. Ngay cả vụ đàn áp đẫm máu tại Lithuania làm 18 người dân bị thiệt mạng, Gorbachev cũng biện bạch rằng ông ta không hề biết trước chuyện động trời nầy và việc giết người dă man nầy là do một số quân đội "vô kỷ luật" làm! V́ e ngại cho ngôi báu của người được giải ḥa b́nh Nobel và v́ cần sự ủng hộ của Gorbachev trong cuộc chiến tranh ở Trung Đông mà Tây Phương đă chỉ lên tiếng phản đối chiếu lệ. Trước khi Gorbachev mở cuộc "tấn công ḥa b́nh" nhằm vô hiệu hóa chiến thắng của Hoa Kỳ và Đồng Minh, th́ mật vụ KGB của Liên Xô và quân báo GRU của Hồng quân đă đồng loạt vận động báo chí mở cuộc tấn công đả kích "chủ trương tàn phá Iraq" của Hoa Kỳ và cực lực bênh vực Saddam Hussein. Tờ Gazette Littéraire ra ngày 15-1-91 viết: "Một số lớn tướng lănh Liên Xô luôn luôn giữ mối cảm t́nh đặc biệt đối với Saddam Hussein". Tờ Sovietskaia Rossia ra ngày 18-1-91 viết: "Tại sao người ta lại có thể lên án Iraq? Tại sao dư luận Nga và thế giới không đ̣i hỏi việc hủy bỏ một số vơ khí của một kẻ xâm lăng khác là Do Thái... và trừng trị Hoa Kỳ về vụ tấn công GranadaPanama?" Ngày 22-1-91, báo Sự Thật (Pravda) của đảng Cộng Sản Nga đăng tít lớn "Quyền lợi về kinh tế đă khiến Hoa Kỳ hành động". Cũng trong ngày đó, thống chế Akhromeniev, cố vấn quân sự của Gorbachev, yêu cầu Liên Hiệp Quốc phải can thiệp vào Trung Đông để tiến tới một giải pháp ḥa b́nh cho cả hai bên. Và để đề pḥng lá bài Iraq thất bại, Gorbachev đi t́m một con bài khác dự pḥng cho thế đứng tương lai của Nga tại Trung Đông: đó là Iran.  Để nắm quân đội, Gorbachev đưa một số tướng tá của Pḥng 3 thuộc cơ quan KGB qua chỉ huy những sư đoàn tinh nhuệ của quân đội Liên Xô. Trong hệ thống KGB, pḥng 3 có nhiệm vụ theo dơi nội t́nh và ḷng trung thành của quân nhân đối với Đảng. Khi c̣n làm giám đốc "Cơ Quan Hành Chánh" (1980-1985), Gorbachev từng bổ nhiệm tướng Doushine làm trưởng pḥng 3 của cơ quan KGB. Năm 1989, Gorbachev thay Doushine "hơi cứng đầu" bằng tướng Serguiev "dễ bảo hơn". Đến mùa thu năm 1990 th́ Gorbachev đă bố trí xong người của ông ta vào pḥng 3 KGB và 14 quân khu bộ binh cũng như 4 quân khu Hải quân của Liên Xô. Vốn tiến thân là nhờ KGB, nên Gorbachev - hơn ai hết - hiểu rất rơ là muốn nắm quyền bính lâu dài ở Liên Xô th́ phải nắm chặt mật vụ KGB. Do đó, ông ta đă bổ nhiệm một người bạn thân là Krioutchkov vào chức vụ tổng giám đốc mật vụ KGB. Sau đó, ông ta lại đưa thêm một người bạn thân khác là Boris Pugo, một viên tướng của KGB vào chức vụ giám đốc MVD, cơ quan an ninh quốc nội. Pugo là người gốc Estonia. Năm 17 tuổi, Pugo được Arvid Pelche nhận làm con nuôi. Pelche là một ủy viên Bộ Chính Trị dưới triều đại Brejnev và là một tên đồ tể khét tiếng, từng sát hại hàng chục ngàn người yêu nước Estonia. Sau khi đă bố trí xong guồng máy bảo vệ ngôi báu của ḿnh rồi, Gorbachev bèn đưa ra một số sĩ quan KGB qua chỉ huy các sư đoàn tinh nhuệ nhất của Hồng quân Liên Xô. Đoạn y tuyên bố giải tán ngành sĩ quan chính trị nhưng thật ra chỉ giải tán ngành giảng dạy lư thuyết Cộng Sản, một lư thuyết không c̣n đảng viên nào thực sự tin tưởng. Gorbachev cũng như những người cộng sản khác chỉ là một anh chàng đạo đức giả. Lời nói và việc làm của y luôn luôn trái ngược nhau. Miệng th́ nói ủng hộ nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, nhưng trong bóng tối lại vận tải vũ khí tiếp tế cho Iraq. Miệng hô hào thế giới hợp tác và chung sống ḥa b́nh nhưng trong thực tế lại xúi bẩy các nước thù nghịch nhau để bán vũ khí kiếm lợi nhuận và tạo ảnh hưởng chính trị. Ông ta van xin viện trợ thực phẩm, nhưng lại cho phao tin thực phẩm viện trợ có thuốc độc để nhân dân Nga thù ghét Tây Phương. Ông ta thu hồi giấy bạc 50 và 100 Rúp (Ruble) để triệt hạ tư sản trong nước nhưng lại đổ cho nước ngoài đổ bạc giả vào Liên Xô để phá hoại nền kinh tế nước Nga. Ông ta hô hào cải cách nhưng lại tái lập độc tài chuyên chế khiến những người từng xả thân cho sự nghiệp cải cách của ông ta phải bỏ đi v́ thất vọng với những "cải cách bằng miệng" của ông ta.

        Có 3 mục tiêu chính, quan trọng như nhau, trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh:

       a. Mục tiêu thứ nhất là Hoa Kỳ cần triệt hạ thế lực của Liên Xô tại Trung Đông qua Iraq. Chính Liên Xô đă xúi Iraq xâm chiếm Kuwait, để rồi từ đó tràn tới Ả Rập Saudi và các tiểu quốc nằm trên bán đảo Ả Rập. Để che đậy âm mưu nầy, Liên Xô phải giả bộ đứng vào phe lên án Iraq và đ̣i Iraq phải rút ra khỏi Kuwait. Liên Xô tin rằng - cho dù Hoa Kỳ có tập trung quân tại Trung Đông - cũng chỉ để "hù" cho Iraq sợ mà thôi.

       b. Mục tiêu thứ 2: Nếu không nhân cơ hội nầy tiêu diệt ngay tiềm lực quân sự của Iraq, th́ chỉ vài năm nữa thôi là Do Thái không làm sao chịu nổi áp lực quân sự của Iraq, nhất là khi Saddam Hussein hoàn tất xong giai đoạn chế tạo bom nguyên tử.

       c. Mục tiêu thứ 3: Đây là cơ hội bằng vàng để Hoa Kỳ xây dựng uy thế lănh đạo tại Trung Đông. Nắm được nguồn năng lượng nầy của thế giới là Hoa Kỳ trở lại được vị trí lănh đạo thế giới như ở thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai.

        Trước khi phe Đồng Minh phát động cuộc chiến tranh chống Iraq bằng quân sự th́ giới ngân hàng quốc tế đă "khai chiến" với Saddam Hussein từ mấy tháng trước rồi. Họ không cho Iraq vay tiền nữa. Các công ty bảo hiểm cũng từ chối bảo hiểm cho hàng nhập cảng của Iraq. Mặc dầu Iraq nhất định dấu kín món nợ của ḿnh, nhưng Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đă phanh ra được tổng số tiền nợ của Iraq là 70 tỷ mỹ kim ! Riêng Liên Xô, nước bán chịu vũ khí cho Iraq nhiều nhất và được Iraq trả bằng tiền mặt, nhưng vẫn c̣n "được nợ" đến 8 tỷ mỹ kim. Chỉ có Pháp là nuớc xui xẻo nhất v́ Iraq c̣n thiếu nợ Pháp tới 3,5 tỷ mỹ kim. Cơ quan COFACE, quỹ bảo hiểm của chính phủ Pháp, v́ đứng ra bảo hiểm hộ cho Iraq, nên đành phải è cổ ra trả nợ đậy cho Iraq; và dĩ nhiên nạn nhân cuối cùng vẫn là nhân dân Pháp. Chỉ có Liên Xô là quốc gia thủ lợi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh. Ả Rập Saudi và các tiểu quốc có mỏ dầu hỏa trong bán đảo Ả Rập đă phải hùn nhau lo lót cho Liên Xô 4 tỷ mỹ kim để Liên Xô bỏ phiếu chống cuộc xâm lăng Kuwait của Iraq tại Liên Hiệp Quốc. Đó là chưa kể chính phủ lưu vong Kuwait c̣n bằng ḷng cho Liên Xô vay thêm 3 tỷ mỹ kim nữa. Đến đây lại nhớ bên nhà người ta thường chọc mấy gă đàn ông "dại gái": "Bắc thang lên hỏi ông trời, đem tiền cho gái có đ̣i được không?" Giờ đây, về trường hợp Kuwait cho Liên Xô vay thêm 3 tỷ mỹ kim nữa, th́ dân chúng ở Việt Nam sẽ hát lên rằng: " Bắc thang lên hỏi ông trời, biếu tiền kẻ cướp có đ̣i được chăng?". Tiểu quốc Kuwait, tuy đất đai không rộng bằng tiểu bang Connecticut của Hoa Kỳ, nhưng lại được rất nhiều nước o bế v́ nó giàu quá và đang cần tái thiết v́ nhiều cơ sở bị quân đội Iraq tàn phá. Tin sơ khởi cho biết số tiền dùng vào việc tái thiết lên tới 100 tỷ mỹ kim. Sáu ngày trước khi quân đội Đồng Minh mở cuộc tấn công bằng bộ binh vào Kuwait th́ trên 70% của 181 hợp đồng tái thiết Kuwait đă lọt vào tay các nhà thầu Hoa Kỳ, trong đó 3/4 các công ty nầy là thành viên của Ủy Hội Tay Ba. Số hợp đồng c̣n lại đă được Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh Quốc áp lực phải giao cả cho các công ty người Anh. Chỉ có Pháp là không được "xơ múi" ǵ cả. Kể như Liên Xô đă thua keo đầu trong ván cờ Trung Đông lần nầy v́ đă đi một nước cờ sai, khiến tổng thống Herbert Bush thắng lớn về quân sự lẫn chính trị. Tổng thống Herbert Bush đă khai thác tối đa vị trí "đồng minh" - cho dù chỉ là đồng minh ngoài miệng - của Liên Xô trong cuộc chiến tranh nầy để cầm chân Liên Xô và củng cố liên minh với các nước Ả Rập ngơ hầu nâng cao uy tín lănh đạo của Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế. Tổng thống Herbert Bush đă rất khôn khéo trói tay Liên Xô bằng sợi dây Đồng Minh, tránh mọi va chạm với Liên Xô để bảo vệ sự đoàn kết của phe Đồng Minh. Cho nên ngày 4-1-91, khi hải quân Hoa Kỳ chận bắt được một tàu Liên Xô chở vũ khí lậu cho Iraq qua ngă Jordan, ṭa Bạch Ốc đă ếm nhẹm vụ nầy đi cùng với hàng trăm vụ khác sau đó. Thực ra dù Liên Xô có đổ vũ khí ào ạt vào Iraq th́ cũng không cứu văn được Saddam Hussein v́ hàng ngàn chiến xa của Iraq tại Kuwait đă chỉ làm mồi cho phi cơ của Hoa Kỳ tàn sát và hàng trăm hỏa tiễn Scud cũng chỉ trở thành pháo bông trên nền trời Do Thái và Ả Rập Saudi mà thôi.

        Ngược ḍng thời gian về thời kỳ giáo chủ Khomeini đang chống đối quốc vương Pahlevi, đảng Cộng Sản Tudeh của Iran đă bố trí cho cán bộ của họ móc nối với Khomeini qua Ahmah, con trai của ông ta. Lúc Khomeini bị mật vụ của quốc vương Iran ruồng bắt gắt gao, ông ta đành phải chạy qua tá túc tại Iraq, rồi một thời gian sau mới chạy qua sống lưu vong ở Pháp quốc. Tại nơi đây, Khomeini được đảng Cộng Sản Pháp giúp đỡ thiết kế một hệ thống truyền tin viễn liên tại tư gia. Nhưng khi trở về lại Iran và nắm được chính quyền th́ Khomeini đă nghe theo lời xúi bẩy của bọn tu sĩ cuồng tín nên đă ra lệnh sát hại một số đảng viên đảng Tudeh, tức đảng cộng sản Iran. Nhưng Liên Xô - không v́ thế mà bỏ hẳn Iran - trái lại họ tiếp tục gài thêm cán bộ vào guồng máy chính quyền Iran để dùng về sau nầy. Khi Iran bắt con tin Hoa Kỳ th́ ảnh hưởng của Liên Xô tại Iran lại càng lên cao. Trong cuộc chiến tranh 8 năm giữa Iran và Iraq, Liên Xô bán vũ khí cho cả hai bên để thủ lợi. Sau khi Khomeini qua đời và Rafsanjani lên làm tổng thống Iran, th́ Liên Xô có kư một thỏa ước cho Iran vay 15 tỷ mỹ kim để đổi lại việc Liên Xô đưa hàng ngàn cố vấn quân sự qua thủ đô Tehran. Khi Iraq xua quân xâm chiếm Kuwait, th́ Liên Xô có mời một phái đoàn cao cấp của Iran qua tham quan Mạc Tư Khoa. Trong phái đoàn nầy có 2 chuyên viên t́nh báo của Iran đă từng có quan hệ mật thiết với Anatoli Loukianov, chủ tịch Quốc Hội Liên Xô. Trước đó th́ Loukianov đă từng làm giám đốc "Cơ Quan Hành Chánh" vào năm 1987; cơ quan nầy có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi hoạt động của t́nh báo Liên Xô và Gorbachev cũng đă từng lănh đạo cơ quan nầy một thời gian. Và nếu Saddam Hussein có ngă ngựa th́ lá bài Iran càng trở nên sáng giá đối với điện Cẩm Linh và nếu phe mật vụ KGB và phe quân sự đoạt được quyền lực tối hậu - như hiện nay - th́ Iran sẽ trở nên một cường quốc quân sự lớn nhất ở Trung Đông. Báo chí Tây phương, nhất là những tờ báo lớn chịu ảnh hưởng của Ủy Hội Tay Ba (Trilateral) trong đó có cả báo giới Pháp, nhận định rằng Gorbachev đă trở thành con tin của quân đội Liên Xô. Thật ra Gorbachev vẫn sát cánh với giới quư tộc Đỏ (Nomenklatura) gồm giới lănh đạo ngành kỹ nghệ quốc pḥng, hai cơ quan mật vụ KGB và MVD và bọn quan liêu hành chánh.

        Những ai đọc qua lịch sử Trung Đông thường bị ám ảnh bởi cuộc chiến tranh kéo dài từ ngày Do Thái lập quốc vào năm 1948 cho đến nay, giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập, bắt nguồn từ sự khác biệt về tôn giáo. Hầu hết người Do Thái đều theo Do Thái Giáo, nhưng thật ra "ḷ lửa Trung Đông" không phải chỉ đơn thuần do mâu thuẫn giữa Do Thái và các nước Ả Rập mà do những ḱnh chống kịch liệt giữa các nước Ả Rập với nhau. Do đó đă có các cuộc chiến tranh giữa Ả Rập Saudi với Yemen; giữa Yemen với Ai Cập; giữa Jordan với Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO); giữa Morocco với Algeria; giữa Iran với Iraq và mới đây nhất là giữa Iraq với Kuwait. Lần nầy cuộc xâm lăng Kuwait đă lôi vào ṿng chiến Ai Cập, Ả Rập Saudi, Syria và các tiểu quốc trên bán đảo Ả Rập. Phía Iraq chỉ có PLO và Jordan, nhưng chỉ ủng hộ bằng cách đánh vơ mồm thôi. Iraq th́ đă khản cổ kêu gọi "thánh chiến" giải phóng thánh địa Mecca khỏi sự thống trị của ḍng họ Saud của quốc vương Fadh, nhưng không một nước Ả Rập nào hưởng ứng, mặc dầu Iraq rêu rao ḍng tộc nầy thuộc gốc Do Thái. Cho nên các nước Ả Rập không thể nào đoàn kết thực sự với nhau để cùng đánh kẻ thù chung là Do Thái. Các dân tộc không thuộc sắc dân Ả Rập tại Trung Đông thường cho rằng dân tộc Ả Rập có tính nói dối, không thật, đến ngay cả cấp lănh đạo cũng lấy sự tráo trở đối xử với nhau. Chính miệng quốc vương Hussein của Jordan - khi c̣n sống - kể lại rằng, khi cuộc chiến tranh giữa Ả Rập và Do Thái bùng nổ vào năm 1967 th́ Nasser, lúc đó là tổng thống Ai Cập, đă gọi điện thoại cho ông ta hay rằng không quân Ai Cập đă tiêu hủy hết không lực Do Thái và bộ binh của Ai Cập đă tiến qua chiếm bán đảo Sinai và cũng đă tiến tới nội địa Do Thái qua ngả sa mạc Neguev. Quốc vương Hussein của Jordan mừng quá vội vă ra lệnh cho quân đội của ông ta tấn công vào lănh thổ Do Thái. Ông ta có ngờ đâu đă bị Nasser gạt gẫm và quân đội của Jordan đă bị quân Do Thái đánh cho không c̣n một manh giáp và Do Thái đă nhân cơ hội nầy chiếm luôn vùng đất West Bank, tức vùng đất phía Tây của Jordan giáp ranh với Do Thái và chiếm giữ luôn cho tới ngày nay. Một trong những yếu tố thắng lợi trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh là yếu tố Ả Rập. Đất Trung Đông từ xưa đến nay thường được các sử gia gọi là "ḷ lửa Trung Đông" v́ chiến tranh thường xuyên diễn ra tại nơi đây, nhất là trong ṿng hạ bán niên thế kỷ thứ 20. Cũng chính tại Trung Đông là nơi ra đời của 2 tôn giáo lớn vào bậc nhất thế giới: đó là Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo. Đa số sắc dân ở Trung Đông là dân Ả Rập theo Hồi Giáo. Một đặc điểm của tôn giáo nầy là việc truyền đạo thường dựa vào vơ lực, bắt đầu từ Giáo Chủ Mohamet. Không biết có phải v́ thế mà người Ả Rập thường được các dân tộc khác coi là sắt máu hay không.  Không cái dại nào giống cái dại nào, mắc hỡm Nasser chưa đủ, quốc vương Hussein c̣n bị mắc hỡm Saddam Hussein nữa. Khi chiếm xong Kuwait, Saddam Hussein gọi điện thoại cho quốc vương Hussein của Jordan và hứa với ông nầy là y sẽ rút lui khỏi Kuwait đồng thời yêu cầu "hoàng thúc" ủng hộ y. Quốc vương Hussein cứ đinh ninh Saddam không nỡ dối trá ḿnh, nên đă bị kẹt cứng trong cuộc thảm bại của Iraq. Ngay cả tổng thống Herbert Bush, một người vốn ăn nói rất dè dặt, cũng gọi đích danh Saddam Hussein là một tên "nói dối" (a liar )trên truyền h́nh Hoa Kỳ.     

        Khi xảy ra chiến tranh Vùng Vịnh có dư luận cho rằng trong thành phần chính phủ Herbert Bush có rất nhiều thành viên của Ủy Hội Tay Ba (Trilateral) và cũng theo dư luận nầy th́ h́nh như chủ trương của Ủy Hội là kéo dài sự tồn tại của Liên Bang Xô Viết; v́ nếu cộng sản tiêu ma hết th́ Hoa Kỳ sẽ không c̣n được thế giới trọng nể nữa v́ lúc đó đâu c̣n "ma quỷ" nữa mà phải cần đến Hoa Kỳ bảo vệ. Nhận xét như vậy có lẽ không đúng lắm, v́ chính là nhờ tổng thống Herbert Bush ngầm đi đêm với ngoại trưởng Liên Xô thời ấy là Shevardnadze phá hoại bên trong, cho nên Liên Xô mới tan ră cấp kỳ như vậy và mối "t́nh thâm nghĩa trọng" giữa ông Bush (cha) và Shevardnadze (nay là đương kim tổng thống tiểu quốc Georgia) cho đến nay vẫn c̣n được tiếp nối như ông Bush (con) đă từng khẳng định trong bức thư tay ông ta gửi cho tổng thống Shevardnadze; và ông nầy đă đưa cho kư giả Hoa Kỳ Jim Hoagland xem, khi ông nầy qua Georgia để phỏng vấn Shevardnadze. Chuyện quan trọng là tổng thống G. W. Bush có hứa là sẽ gởi chuyên viên qua Georgia để lo vấn đề an ninh cho tổng thống Shevardnadze v́ ông nầy đă hai bận bị mật vụ KGB của Nga mưu sát, nhưng nhờ có mật vụ CIA của Hoa Kỳ bảo vệ, nên ông đă thoát chết.  Khí giới mà tổng thống Herbert Bush sử dụng để cầm chân Liên Xô trong cuộc chiến Vùng Vịnh ở Trung Đông là một "củ cà rốt" rất bự. Kể từ 10 tháng 9 đến 14 tháng 9, 1990 Bộ trưởng Thương Măi Robert Mosbacher đă cầm đầu một phái đoàn kỹ nghệ gia thượng thặng Hoa Kỳ trong các xí nghiệp dầu hỏa lớn nhất của Hoa Kỳ như Chevron, Texaco, Pruet Oil.....bay qua tham quan Liên Xô. Các giám đốc nầy đều nằm trong tổ chức USTEC, một thành viên của Ủy Hội Tay Ba. USTEC chuyên lo về quan hệ thương măi và trao đổi kỹ thuật với Liên Xô. USTEC hứa hẹn với Gorbachev là sẽ giúp Liên Xô chấn hưng ngành kỹ nghệ khai thác dầu hỏa của Liên Xô trong ṿng từ 2 đến 3 năm với điều kiện là tiến tŕnh cải tiến phải bắt đầu ngay và liên tục. Năng lượng là ch́a khóa của phát triển kinh tế, nên đề nghị của USTEC là một miếng mồi "không thể cầm ḷng được". Và ngay từ đầu năm 1991, người ta đă thấy xuất hiện tại Tengiz, gần bờ biển Lư Hải (Caspian Sea )và Turkmenistan những chuyên viên dầu hỏa Anh và Hoa Kỳ. Tổng thống Herbert Bush đă mua sự ủng hộ của Liên Xô trong cuộc chiến tranh với Iraq bằng kỹ thuật khai thác dầu hỏa hiện đại.  C̣n cho rằng một khi Liên Xô tan ră th́ Hoa Kỳ sẽ mất vị trí lănh đạo thế giới về chính trị cũng như về kinh tế th́ không đúng tư nào v́ từ khi Liên Bang Xô Viết tan ră cho đến ngày nay, vị trí lănh đạo thế giới của Hoa Kỳ về kinh tế cũng như về chính trị vẫn y nguyên, chả có ǵ thay đổi cả; trừ 8 năm dưới trào tổng thống "trốn lính" Bill Clinton th́ ư nghĩa về hai chữ "Đạo Đức" của tổng thống Nixon đă hoàn toàn bị Bill Clinton chà đạp, đồng thời dư luận chính giới quốc tế cũng đă không tiếc lời phê b́nh ông về  việc nầy.

       2. Trung Đông và Dân Tộc Kurd

        Khi cuộc chiến tranh Vùng Vịnh kết thúc, vào ngày 23 và 24 tháng 3, 1991 tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, ông Turgut Ozal đă qua thăm viếng Hoa Kỳ và ông ta đă nói thẳng với tổng thống H. Bush là ông ta chỉ có thể chấp nhận quyền tự trị cho dân Kurd ở miền Bắc, trong lănh thổ của Iraq mà thôi và ông ta cương quyết chống lại mọi việc chia cắt Iraq thành 3 nước nhỏ: nước Kurd ở miền Bắc, nước Shia ở miền Đông Nam và nước Iraq c̣n lại ở miền Tây Nam.. Tổng thống Ozal khuyến cáo tổng thống H. Bush đừng bao giờ tin lời tên nói dối thường trực Rafsanjani (tổng thống Iran). Tổng thống Ozal c̣n cho ông Bush hay là tuần nào Rafsanjani cũng gọi điện thoại cho ông ta xác nhận là không bao giờ hắn dung dưỡng tư tưởng thành lập một nước Shia bao gồm thị trấn Basra ở Đông Nam Iraq cả.  Ngày 4 tháng 3, 1991 khi Iraq chấp nhận đầu hàng quân đội Đồng Minh vô điều kiện, th́ cấp lănh đạo chính quyền giáo trị ở Iran họp khẩn cấp để bàn về vấn đề chiến lược ở Vùng Vịnh trong tương lai. Hiện diện trong phiên họp nầy có: Giáo chủ Ali Khameini, đại diện cao nhất của giáo quyền và cũng là cán bộ cộng sản cao cấp; Ali Rafsanjani, tổng thống Iran; Pháp sư Mehdi Karubi, chủ tịch Quốc Hội Iran; Pháp sư Mohamed Yazdi, đại diện tối cao của ngành Tư Pháp; Ali Falahian, Bộ trưởng T́nh Báo và An Ninh nội bộ; và Abdullah Nouri, Bộ trưởng Nội Vụ.  Chuyện đáng lưu ư trong cuộc thăm viếng Hoa Kỳ của tổng thống Ozal là ông ta biện hộ dùm cho Saddam Hussein và trao một bức "tâm thư" của tên nầy cho tổng thống H. Bush. Ngày thường, chính giới quốc tế thường hay mô tả Saddam Hussein là một lănh tụ đần độn nhất thế giới, nhưng hắn đă tránh được một hành động đần độn cuối cùng là không bao giờ đoạn giao với Thổ, mặc dầu hắn đă đoạn giao với rất nhiều nước trong khối Ả Rập và Tây Phương. Trong bức thư nầy, Saddam Hussein nhũn như con chi chi, cầu khẩn Hoa Kỳ đừng giúp đỡ phe chống đối chính phủ, hắn ta cũng c̣n biết tránh dùng hai chữ "phiến loạn" để gọi phe nổi dậy và nhấn mạnh rằng nếu phe chống đối thành công th́ không bao giờ Trung Đông có ổn định chính trị cả và nếu Hoa Kỳ loại bỏ Saddam ngay bây giờ th́ Trung Đông sẽ bất ổn lớn và kẻ được hưởng lợi nhiều nhất mà không tốn một viên đạn hay một sinh mạng nào là Iran.

        Sau buổi họp nầy, ngày 8 tháng 3, 1991 tổng thống Rafsanjani đă lên vô tuyến truyền h́nh kêu gọi Saddam Hussein và đảng Baath (đảng Phục Sinh) tuân theo ư muốn của nhân dân và hứa hẹn sẽ giúp đỡ cuộc nổi dậy của dân Iraq theo Hồi giáo thuộc phái Shia. Chiến lược của Iran lúc bấy giờ là cố gắng biến Iraq và cả Jordan thành những nước đặt dưới chế độ giáo trị Shia, chịu ảnh hưởng của Iran. Đồng thời Iran cũng tiếp tế vơ khí nhẹ cho dân tộc thiểu số Kurd đang nổi dậy ở tại miền Bắc Iraq.  Dân tộc Kurd là một dân tộc bất hạnh nhất trong vùng Kurdistan của Trung Đông. Sau khi đệ nhất thế chiến chấm dứt, hội Vạn Quốc (như Liên Hiệp Quốc thu hẹp ngày nay) - mặc dầu chưa có đến 50 quốc gia hội viên - đă họp lại để phân chia đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ - lúc đó theo Đức quốc - thành nước Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, IraqKuwait. Không ai thèm lưu tâm đến số phận của gần 30 triệu dân Kurd sống trong vùng Kurdistan. Trái lại, vùng nầy được chia cắt thành 3 mảnh: phía Bắc giao cho Thổ Nhĩ Kỳ, phía Tây giao cho Syria và Iraq, phía Đông ghép vào cho Liên Xô và Iran. Dân Kurd ở Thổ có khoảng 14 triệu; ở Syria 1,5 triệu; ở Iraq gần 5 triệu; ở Iran khoảng 7 triệu và ở Liên Xô gần nửa triệu. Kurdistan là vùng cao nguyên của Trung Đông, núi non hiểm trở nhiều hơn đồng bằng, và vùng 5 biên giới hiện nay là nơi đồn trú của đại bản doanh quân đội cách mạng Kurd. Dân tộc Kurd nói tiếng Farsi, họ có văn hóa riêng nhưng chưa bao giờ được hưởng quyền tự trị nói chi đến độc lập. Suốt 70 năm qua, dân Kurd kiên tŕ tranh thủ độc lập, nhưng các nước Thổ, Syria, Iraq và Iran bảo nhau chống phá nỗ lực giành độc lập của họ. Cuộc thảm bại của Saddam Hussein tưởng sẽ giúp cho dân Kurd có thời cơ thực hiện được giấc mộng độc lập nhưng cuối cùng giấc mơ ngàn đời của họ cũng chỉ trở thành ảo mộng v́ quyền lợi ích kỷ của các quốc gia trong vùng Trung Đông.

        Thủ lănh của dân Kurd ở Iraq lần nầy cũng là Barzani, nhưng không phải là tướng Barzani thời trước mà là Barzani, con trai của ông tướng Barzani nói trên đây. Do rút được bài học chua xót của bố, Barzani "con" lúc đầu rất dè dặt. Trong khi dân Iraq thuộc hệ phái Shia phát động cuộc "thánh chiến" ở tại miền Đông Nam Iraq để tiêu diệt tàn quân của Saddam Hussein, th́ quân của Barzani vẫn án binh bất động. Cho đến khi Iran tiếp tế vũ khí cho quân Shia đánh chiếm thành công nhiều vùng ở miền Đông Nam Iraq, th́ dân Kurd không thể chần chừ được nữa, nhất là lại được Iran trao vũ khí đến tận tay. Hơn nữa, tuy không được tổng thống Bush chính thức hứa hẹn sẽ yểm trợ, nhưng tin tưởng rằng tổng thống Hoa Kỳ đă ẩn dụ giúp đỡ họ lật đổ Saddam Hussein qua những lời tuyên bố trên đài truyền h́nh cho cả thế giới nghe, nên họ đă quyết định nhất tề nổi dậy . Một phát giác động trời nữa là không phải do tổng thống Ozal của Thổ Nhĩ Kỳ khuyên bảo mà tổng thống Bush thay đổi ư kiến về việc yểm trợ quân nổi dậy ở Iraq tại miền Nam cũng như tại miền Bắc. Tổng thống Bush đă có kế hoạch dùng tàn quân của Saddam Hussein để quét sạch dân quân nổi dậy Iraq, theo Hồi giáo thuộc hệ phái Shia thân Iran ở tại miền Đông Nam của Iraq, từ khi ông ra lệnh cho tướng Schwarzkofp ngưng truy kích đạo quân tháo chạy của Iraq, lúc 8 giờ sáng (giờ địa phương) ngày 28 tháng 2, 1991. H́nh ảnh bọn cuồng tín Shia của Iran bắt giữ con tin Hoa Kỳ tại ṭa đại sứ của nước nầy tại thủ đô Tehran không bao giờ phai mờ được trong đầu óc của mỗi người Mỹ. Để cho dân Iraq theo hệ phái Shia có được một lănh thổ riêng ở trong vùng Basra, thuộc Đông Nam Iraq, th́ tai họa sẽ c̣n ghê gớm hơn nữa. Cho nên không phải lúc nào câu: "Kẻ thù của kẻ thù của ta là bạn của ta" cũng đúng cả. Đó cũng là lư do Saddam Hussein được Hoa Kỳ "cho phép" xử dụng trực thăng vơ trang để tàn sát quân nổi dậy Shia thân Iran ở trong vùng Đông Nam của lănh thổ Iraq và lệnh nầy đă làm cho quân cách mạng Kurd trên miền Bắc Iraq cũng bị vạ lây. Hoa Kỳ cũng đă có lần nhúng tay vào cuộc tranh thủ quyền tự quyết của dân tộc Kurd. Khi đó Hoa Kỳ chưa mất chỗ đứng ở Iran, v́ câu chuyện xảy ra dưới thời quốc vương Pahlevi, vào năm 1974, khi 2 nước Iran và Iraq có chuyện tranh chấp đất đai ở dọc biên giới về phía Nam. Ông Henry Kissinger, lúc đó là ngoại trưởng, đă ngấm ngầm vận động thủ lănh dân Kurd là tướng Barzani nổi loạn đ̣i độc lập cho dân Kurd ở miền Bắc Iraq. Nhờ cuộc nổi loạn đó mà Iraq phải nhường mảnh đất tranh chấp cho Iran. Nhưng sau khi dành được đất th́ quốc vương Iran bỏ rơi dân Kurd ngay, để mặc cho Iraq tàn sát thường dân Kurd như thường lệ, sau mỗi lần dân Kurd nổi dậy. Tṛ chính trị trên chính trường quốc tế là vậy: "Hết xôi rồi việc".

        Thảm kịch của dân tộc Kurd bắt đầu từ hành động chia cắt vùng Kurdistan thành 5 mảnh để ghép vào 5 nước khác nhau và ảnh hưởng c̣n tiếp tục kéo dài cho đến ngày nay và không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Dân tộc Kurd sống trong 5 nước Nga, Thổ, Syria, Iran và Iraq luôn luôn đứng lên đ̣i quyền dân tộc tự trị, nhưng chưa bao giờ họ thành công cả; v́ 5 nước kia đều lo ngại nếu họ tranh đấu được quyền tự trị tại một nước, th́ họ sẽ nổi lên ở các nước khác. Ngay như tổng thống Ozal của Thổ Nhĩ Kỳ cũng chỉ bằng ḷng cho 5 triệu dân Kurd được quyền tự trị ở phần đất của Iraq, c̣n quyền tự trị của 14 triệu dân Kurd trên đất của Thổ th́ lại không thèm đả động đến.  17 năm trước đây, Barzani "bố" dẫm phải vỏ chuối Mỹ, ngày nay Barzani "con" vừa dẫm phải vỏ chuối Mỹ, vừa đạp phải vỏ dưa Iran. Nhưng lần nầy tai họa đến với dân Kurd c̣n ghê gớm hơn nhiều, v́ hàng triệu dân Kurd sắp chết đói và chết rét tại các vùng biên giới Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Và Saddam Hussein th́ tha hồ tận diệt dân Kurd mà không có một quốc gia nào trên thế giới lên tiếng can thiệp. Đứng trên t́nh đồng loại, ai cũng nh́n cảnh dân Kurd bị Iraq tàn sát với ánh mắt bất nhẫn và phẫn hận. Khi đề cập tới lư do nhảy vào cuộc chiến ở Trung Đông, cựu tổng thống Nixon đă viện dẫn lư do "đạo đức". Không hiểu cái lư do "đem con bỏ chợ" dân Kurd của tổng thống Herbert Bush có phải cũng v́ "đạo đức" hay không? Ô hô hai chữ "đạo đức"! Cũng v́ mi mà dân Kurd bị diệt chủng !!!.  Nhưng thử đặt ḿnh vào địa vị của tổng thống Herbert Bush th́ bạn sẽ hành động như thế nào? Có thể làm khác tổng thống H. Bush được không? Giả sử cuộc nổi dậy của dân Kurd và dân Iraq thuộc hệ phái Hồi giáo Shia thành công, th́ Iraq sẽ bị cắt thành 3 nước nhỏ: phía Bắc là vùng dân Kurd, phía Nam là vùng dân Iraq, hệ phái Hồi giáo Shia thuộc ảnh hưởng của Iran, và Iraq chỉ c̣n lại vùng phía Tây mà thôi. Một khi Iran đặt chân lên được phía bên nầy của Vùng Vịnh th́ Iran sẽ không chỉ dừng mộng bành trướng ở Iraq không thôi, mà họ sẽ c̣n tiến măi về phía Tây, trước hết là xúi dục dân Palestinian lật đổ quốc vương Hussein để biến nước Jordan thành một quốc gia thuộc giáo trị Shia, kế tiếp là chiến tranh với Do Thái và ḷ lửa Trung Đông sẽ phát nổ, không phải chỉ trong ṿng một trăm giờ như cuộc chiến tranh Vùng Vịnh giữa quân đội Đồng Minh với Iraq.  Khi tổng thống Herbert Bush cho phép trực thăng vơ trang của Saddam được tự do tàn sát quân Shia ở miền Đông Nam Iraq, là Iran đă hiểu rằng tổng thống H. Bush đă quyết tâm loại bỏ ảnh hưởng của giáo phái Shia trên lănh thổ Iraq, và duy tŕ giáo phái Sunni tại Iraq để cân bằng lực lượng. Do đó, chuyện ḥa thuận giữa Iran và Hoa Kỳ chỉ c̣n là một ảo mộng. Hai nước nầy sẽ tiếp tục đương đầu với nhau trong nhiều năm nữa và đó là điều mà Nga mong muốn nhất.  Mục đích của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh là gây dựng lại thế lực của Mỹ ở Trung Đông, bẻ găy trục Mạc Tư Khoa - Tehran - Baghdad của Nga, đập tan thế lực giáo phái Shia của Hồi Giáo ở Miền Nam Iraq (một chi nhánh của Hồi Giáo Shia ở Iran) tạo đầu mối cho những bất ổn trong tương lai đối với Ả Rập Saudi và các tiểu quốc trong vùng bán đảo Ả Rập.

       3. Trục Ma Qủy 

       Từ ngày chiến tranh Vùng Vịnh chấm dứt cho đến nay, thấm thoát thế mà cũng đă gần một con giáp, và lịch sử h́nh như đang trên đà trở lại mười hai năm về trước. Ở Hoa Kỳ, tổng thống cũng thuộc ḍng họ Bush, nhưng mà Bush con (W. Bush) chứ không phải Bush cha (H. Bush ) và cả cha lẫn con đều là thành viên của "lốp by dầu hỏa" mạnh nhất hoàn cầu. C̣n nhân dân Iraq vẫn sống điêu linh dưới chế độ của tên độc tài khát máu Saddam Hussein, luôn luôn nuôi mộng muốn làm bá chủ vùng Trung Đông và triệt tiêu cho kỳ được nước Do Thái.

        Sau khi đập tan nhóm Hồi giáo khủng bố Taliban ở A Phú Hăn, việc mà tổng thống W. Bush lo trước tiên là phải chuẩn bị ngay tức khắc cuộc chiến tranh với Iraq, một trong 3 nước ủng hộ phong trào khủng bố của Bin Laden là Iraq, Iran và Bắc Hàn mà ông đă liệt tên trong " trục ma qủy "(đầu ). sau khi xảy ra vụ biến động 11 tháng 9, 2001 tại Hoa Kỳ. Ông cũng đă âm thầm ra chỉ thị cho Ngũ Giác Đài liên lạc với các công ty chế tạo bom đạn phải tăng gấp đôi năng xuất của họ nhất là về lănh vực chế bom được điều khiển bằng tia "laser"với đuôi bom có gắn máy do vệ tinh điều khiển để hướng dẫn rất chính xác cho bom rơi đúng ngay mục tiêu. Hiện nay, vấn đề ưu tiên của quân đội là thiết lập một kho dự trữ về "bom thông minh" nầy, càng sớm càng tốt, nhất là về loại bom JDAM, đă chính xác lại rẻ tiền ($25,000 một đơn vị), sau đó là bom Paveway được điều khiển bằng tia "laser" và có thể do bộ binh ở dưới đất hướng dẫn đến ngay mục tiêu. Loại bom thứ ba là hỏa tiễn Tomahawk được phóng đi từ tàu của Hải quân kể cả tiềm thủy đĩnh và đă được xử dụng trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh. Riêng về loại "bom thông minh" JDAM th́ trong năm 2002, công ty Boeing đă sản xuất được 9000 quả, và theo Phân Tích Gia John Pike th́ số lượng đó chỉ mới là một phần trong số 50,000 quả JDAM được Ngũ Giác Đài dự trù mua. Sở dĩ Ngũ Giác Đài cần nhiều bom JDAM là v́ họ nhắm phá hoại cơ sở hạ tầng của quân đội Iraq trong khi tránh thương vong cho quần chúng. Và c̣n thêm một cái lợi khác nữa là với một số máy bay nhất định, dùng bom JDAM có thể phá hủy được nhiều mục tiêu quân sự của bên địch hơn, trong một thời gian ngắn.  Phân tích gia Pike c̣n cho biết thêm - theo tiết lộ của một đề đốc hải quân là "bom thông minh JDAM" tăng khả năng gây thương vong cho kẻ địch của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ lên gấp 5 lần. Và nhờ có khả năng gây thương vong bên địch cao như vậy, nên nếu Hoa Kỳ có đem binh đi chinh phạt Iraq th́ cũng không cần phải điều động một số lượng quân đội khổng lồ như trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh cách đây gần một con giáp 12 năm. Giờ đây, xưởng chế tạo bom JDAM của công ty Boeing tại St. Charles, thuộc tiểu bang Missouri là nơi chế tạo 2 loại "bom thông minh" một ngàn kí lô và năm trăm kí lô để cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh tiêu diệt Iraq của Saddam Hussein trong tương lai gần đây. V́ công ty Boeing có nhiệm vụ chế tạo bộ óc thông minh của loại bom JDAM, nên chính quyền Hoa Kỳ luôn luôn bảo vệ quyền lợi của công ty nầy bằng mọi cách.

        Cách đây vài tháng, công ty chế tạo máy bay phản lực Airbus Industrie của Âu Châu đă vận động với một số chính phủ Âu Châu có cổ phần trong công ty nầy để phản đối với chính quyền Hoa Kỳ về vụ dùng áp lực chính trị với chính quyền Đài Loan để bác quyết định cho phép công ty hàng không China Airline (CAL) của chính phủ mua 16 máy bay chở hành khách Airbus 330, thay v́ mua máy bay phản lực 777 của công ty Boeing. Công ty Airbus Industrie khiếu nại là trong tháng 7, 2002 vừa qua, công ty hàng không CAL của Đài Loan đă thông báo cho họ hay là hợp đồng 3000 triệu mỹ kim bán cho chính phủ Đài Loan 16 chiếc Airbus 330 đă được chấp thuận; nhưng tại sao nay lại hủy bỏ hợp đồng ngang xương như vậy? Sau khi điều tra, Airbus Industrie mới biết có một số nghị sĩ, dân biểu của Quốc Hội Hoa Kỳ trong đó có dân biểu Henry Hyde, chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế của Hạ Viện gởi cho tổng thống Chen Shui-Bian của Đài Loan nhấn mạnh ở điểm chính quyền Đài Loan không mua máy bay của Boeing sẽ làm cho công ty nầy thiệt hại 30,000 "giốp" (jobs). Dân biểu Hyde cũng nhắc khéo tổng thống Đài Loan là trong khi chính quyền đảo nầy đang trên đà xây dựng một lực lượng quân sự vững vàng và hữu hiệu th́ công việc cấp thiết mà hai nước chúng ta cần phải làm ngay là củng cố an ninh, tăng cường mậu dịch và giao thương cho hữu hiệu giữa hai nước chúng ta. Một bức thư khác mà nội dung cũng tương tợ như bức thư trên đây, đă dược 16 nghị sĩ và dân biểu "nặng kí" của Quốc Hội Hoa Kỳ đồng kư tên vào bên dưới. Sự can thiệp của một số nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đă đưa đến việc công ty hàng không "China Airlines" của Đài Loan hủy bỏ hợp đồng 3000 triệu mỹ kim kư với công ty Airbus Industrie của Âu Châu và tạo ngay tại Đài Loan một luồng dư luận trong quần chúng là đảo nầy nên mua máy bay của công ty Boeing để bảo vệ t́nh hữu nghị giữa hai nước Hoa Kỳ và Đài Loan trong tương lai.  Cũng v́ bất măn về vụ công ty Airbus Industrie mất hợp đồng 3000 triệu mỹ kim nầy, nên tổng thống Chirac của Pháp đă ngả về phiá Nga để chống lại tổng thống Bush trong vụ lên án Iraq, sau ngày 13 tháng 9, 2002.

       4. Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp Quốc

        Bài diễn văn của tổng thống W. Bush đọc trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 12 tháng 9, 2002 tại New York đă lên án rất nặng nề Saddam Hussein kể từ 6 tháng nay; đồng thời ông cũng vạch rơ một cách rất tế nhị những lỗi lầm trong việc thi hành một số quyết nghị đă được đại hội biểu quyết của ông Annan, Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc và của một số thành viên trong Hội Đồng Bảo An - ngoài Hoa Kỳ - là Anh, Pháp, Nga và Trung Cộng. Đồng thời tổng thống W. Bush cũng đưa ra những lư do căn bản về những biện pháp cưỡng bức nhằm chống lại Iraq về ngoại giao cũng như về quân sự nếu cần, để bênh vực cho chủ trương thay đổi chế độ độc tài sắt máu của Saddam Hussein ở Iraq, đồâng thời mở rộng liên minh chống Saddam của Hoa Kỳ và Anh quốc. Tổng thống W. Bush cũng nhấn mạnh là cơ chế quốc tế của Liên Hiệp Quốc được đại hội đề ra từ 1948 đang lâm nguy và sự thách thức nầy - không phải đến từ Hoa Thịnh Đốn - mà lại đến từ Iraq.

        Trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, tổng thống W. Bush khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ đóng góp với Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để thảo ra một nghị quyết mới nhằm giải quyết mọi vấn đề với Iraq. Nhưng chắc ǵ chuyến này Saddam Hussein lại không giở tṛ phá thối như các trường hợp trước đây v́ ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kofi Annan quá nhu nhược. Rồi mọi người đều nhớ lại - khi Iraq ra lệnh trục xuất tất cả các thanh tra vũ khí của Liên Hiệp Quốc sau khi chiến tranh Vùng Vịnh chấm dứt - th́ đó là một sự sỉ nhục tầy trời đối với mọi nhân viên của Liên Hiệp Quốc - thế mà ông Kofi Annan đă không biết nhục, lại c̣n cất công qua Iraq để "xin được" diện kiến với Saddam Hussein. Sau khi trở về lại New York, ông ta lại c̣n tâm sự với thuộc hạ rằng Saddam Hussein là một nhân vật rất mềm dẻo và ông ta thấy có rất nhiều triển vọng để thương lượng với y, mặc dầu trong chuyến qua Iraq lần đầu tiên, ông đă trở về lại New York với tay không. Rồi tổng thống W. Bush kê ra một loạt những vụ vi phạm, coi thường các quyết định của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong 12 năm qua của Saddam Hussein như đàn áp đẫm máu nhân dân Iraq, giam giữ những kiều dân ngoại quốc sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh măi cho đến nay vẫn chưa trả lại tự do cho người ta; hỗ trợ các nhóm khủng bố qua chương tŕnh đổi dầu hỏa để mua thực phẩm và cuối cùng là dùng tiền nầy để chế tạo các loại vũ khí nhằm sát hại một số đông quần chúng nhân dân. Nếu những vụ khinh miệt coi thường những quyết định của Liên Hiệp Quốc không chấm dứt hay sửa chữa, th́ làm sao Liên Hiệp Quốc có thể duy tŕ cho được ḷng tin cậy vào cơ quan nầy của toàn dân trên thế giới và hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ ổn định toàn cầu? Tổng thống W. Bush đă khôn ngoan từ chối không theo quan điểm của phe "diều hâu" khuyên ông không nên xuất hiện trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc v́ làm như vậy th́ ông sẽ rơi vào "mê hồn trận" của Saddam Hussein và cuộc tranh chấp sẽ kéo dài chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt. Ông đă nghe theo lời khuyến cáo nên ra tŕnh bày quan điểm của ông trước Đại Hội Đồng Liên Quốc của ngoại trưởng Colin Powell và thủ tướng Tony Blair của Anh quốc.  Ông Bush cũng nhấn mạnh ở điểm là quyền hạn của Liên Hiệp Quốc đă bị Saddam Hussein coi thường, nếu tránh không dùng từ "chà đạp". Ông nhấn mạnh nhiệm vụ hiện nay của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc - với quyền phủ quyết của các thành viên - là có bổn phận giúp cho Liên Hiệp Quốc với cơ chế quốc tế mà họ đại diện - phải có biện pháp thích nghi cấp kỳ để đương đầu với những thách thức coi thường quyền hành của Liên Hiệp Quốc đă từng xảy ra từ trước tới nay của Saddam Hussein. Và nếu Liên Hiệp Quốc từ chối không chịu hành động, th́ Hoa Kỳ sẽ tự đảm đương trọng trách nầy, cùng với sự cọng tác của một số quốc gia hội viên, "v́ an ninh và quyền lợi của mọi người trên thế giới". Một số người chỉ trích tổng thống W. Bush đưa ra ư kiến là rồi đây bản nghị quyết của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc được thảo theo đề nghị của Hoa Kỳ và Anh quốc sẽ chỉ là một bản mở đầu cuộc chiến tranh đánh vào Iraq do các chuyên gia quân sự của hai nước Hoa Kỳ và Anh quốc soạn thảo, sắp được hoàn tất trong thời gian gần đây; và rất có thể là những điều kiện của tổng thống W. Bush đưa ra buộc Iraq phải chấm dứt sự ủng hộ các nhóm khủng bố và tàn sát vô tội vạ nhân dân Iraq sẽ không bao giờ được Saddam Hussein chấp nhận. Việc tổng thống W. Bush chọn con đường đi qua ngả Liên Hiệp Quốc rất là khôn ngoan v́ ông ta đă khôn khéo chọn diễn đàn nầy để chỉ trích sự tàn độc của Saddam Hussein đồng thời coi rẻ tất cả mọi quyết định của Liên Hiệp Quốc bằng cách không bao giờ thi hành những quyết định nầy; Ông cũng vạch trần vai tṛ "bù nh́n" của Liên Hiệp Quốc là không bao giờ dám lên tiếng kết án Iraq khi Saddam Hussein ra lệnh cho thuộc hạ của y đừng bao giờ chấp chưởng những quyết định của Hội Đồng Bảo An trong suốt 12 năm qua, sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh.

        Kể từ ngày Liên Hiệp Quốc được thành lập cho đến nay, thấm thoát đă được 54 năm và cũng vào năm đó ông bà Herbert Bush tổ chức lễ "thôi nôi" cho chú bé G.W. Bush, trưởng nam của ḍng họ Bush, đồng thời cùng một lúc, chứng kiến sự thành lập ngay trong nội bộ của Liên Hiệp Quốc một cơ quan mang tên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, nhưng trong thực tế th́ cơ quan nầy - phần lớn - chỉ gây ra hoặc duy tŕ "bất an" cho thế giới mà thôi. Có thể nói huỵch tẹt Liên Hiệp Quốc chỉ là một nơi để cho các nước độc tài đội lốt dân chủ: lớn th́ như Nga và Trung Cộng, nhỏ th́ như Iran, Iraq, Syria, Lybia, Sudan, Algeria, Cuba, Bắc Hàn... diệu vơ dương oai, diễu cợt, khinh thường các "quyết nghị" lên án những hành động của bọn chúng đă không bao giờ được thi hành mà lại c̣n bị chúng tái phạm nữa là khác.. Một nước Nga - v́ quân đội quá yếu và chuyên đào ngũ - đă lén dùng chất nổ Hexagen, một loại chất nổ do chính quyền Nga chế tạo và chỉ tồn trữ trong các kho của mật vụ Nga KGB - để làm nổ sập 3 cao ốc và giết hại 300 thường dân vô tội, rồi đổ tội cho kháng chiến quân Chechen ở miền Nam nước Nga gây ra vụ khủng bố nầy. Nhưng những hành động tầy trời nầy đều được Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp Quốc ếm nhẹm và chẳng bao giờ đưa vấn đề nầy ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc th́ c̣n nói chi đến những vụ Saddam Hussein giết hại hàng triệu dân Kurds !!! và Bắc Hàn bán hỏa tiễn cho Iraq, Lybia và giết hại hàng triệu thường dân vô tội Bắc Hàn bằng cách giữ lấy độc quyền thực phẩm do các quốc gia "giàu ḷng thương nhân loại" trên thế giới viện trợ, để rồi chỉ phát cho cán bộ cộng sản và quân đội của chúng mà thôi. Đă có quốc gia nào nêu vấn đề vô nhân đạo nầy của Bắc Hàn ra trước diễn đàn của Liên Hiệp Quốc chưa? Hay lại sợ làm "buồn ḷng" các nước độc tài ngụy trang dân chủ trong tổ chức Liên Hiệp Quốc phản dân chủ nầy?  Một Trung Cộng công khai sát hại hàng ngàn dân chúng biểu t́nh ở Thiên An Môn đ̣i Tự Do, Dân Chủ; sau đó vài năm lại cũng Trung Cộng bắt bớ, giam cầm, tra tấn và sát hại hàng vạn dân chúng theo môn Pháp Luân Công; hai trường hợp trên đây là chỉ mới đề cập đến quần chúng Trung Hoa bị nhà cầm quyền Trung Cộng sát hại và chưa đề cập đến quần chúng tại các vùng như Tây Tạng, Tân Cương - được Trung Cộng - "tự trị" hộ cho và sát hại quần chúng các nước nầy một cách công khai và chỉ có một quốc gia nhiều lần lên tiếng phản đối hành động dă man nầy là Hoa Kỳ mà thôi.

        Khi tổng thống W. Bush ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc ngày 12 tháng 9, 2002, 3 nước thành viên của Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp Quốc là Nga, Trung Cộng và Pháp cứ tưởng rằng sẽ dùng diễn đàn nầy để buộc Hoa Kỳ phải bỏ ư định tấn công Iraq nếu không được sự đồng ư của Đại Hội Đồng. Họ cứ tưởng tổng thống W. Bush cũng sẽ như cựu tổng thống "trốn lính" Bill Clinton khi nào cũng "nhắm mắt" chấp hành biểu quyết của Đại Hội Đồng LHQ, nhất là trong trường hợp của "mèo Iraq" th́ lũ "chuột nhắt" trong LHQ đâu có gan ĺ dám vỗ ngực mang chuông đi buộc cổ "mèo", cho nên Nga, Trung Cộng, Pháp và đa số các nước Ả Rập hoặc thân Ả Rập đều chờ có một cuộc bỏ phiếu mà - chúng sẽ chiếm đa số và Hoa Kỳ sẽ ngoan ngoăn nghe theo - để cứu văn tên độc tài Saddam Hussein. Nhưng LHQ có ngờ đâu tổng thống W. Bush chỉ dùng diễn đàn LHQ để hài tội tên độc tài khát máu Saddam Hussein, phơi bày sự bất lực của Koffi Annan, tổng thư Kư LHQ và miệt thị các thành viên trong Hội Đồng "Bất An" Liên Hiệp Quốc, để rồi cuối cùng ông ta khẳng định trước Đại Hội Đồng rằng nếu LHQ không có hành động thỏa đáng th́ chính Hoa Kỳ sẽ đơn phương hoặc cùng với sự góp sức của một số thành viên Liên Hiệp Quốc, đứng ra "thu xếp Iraq" để bảo vệ an ninh cho nhân loại và nhất là cho Hoa Kỳ trong một ngày gần đây. Chuyến nầy - tuy Hoa Kỳ chưa có cho Iraq nếm mùi mưa bom - nhưng tổng thống Bush đă đích thân cho "nổ một quả bom" ngay trước diễn đàn của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

       5. sự bang giao Hoa Kỳ - Trung Quốc

        Tân chính quyền Cộng Ḥa W. Bush th́ cách đối xử với Trung Cộng lại khác, nhất là một khi có sự tranh chấp th́ mọi việc phải được đưa ra ánh sáng, nhất là sau vụ Hoa Kỳ và Anh quốc dội bom xuống gần thủ đô Baghdad. Và không đầy một tuần sau khi Bắc Kinh hứa hẹn mở cuộc điều tra xem có công ty nào đang thiết kế máy móc dùng "sợi quanh học" để tăng cường độ chính xác cho các dàn cao xạ pḥng không của Iraq, th́ chính quyền Trung Cộng mà phát ngôn viên lại chính là bộ trưởng Ngoại Giao Tang Jiaxuan - đă tuyên bố trong một cuộc họp báo "chả có công ty nào của Trung Quốc giúp cho Iraq thiết kế máy móc dùng "sợi quang học" để tăng độ chính xác cho các dàn súng cao xạ bắn lên phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc". Mặc dầu ông Tang tuyên bố như vậy, nhưng một phát ngôn viên của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă xác nhận với đại sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh là cựu đô đốc Joseph W. Prueher, chính nhân viên bộ Ngoại Giao Trung Cộng có thông báo cho họ hay là Bắc Kinh đă chỉ thị cho các công ty Trung Cộng đang thiết kế máy móc giúp tăng cường hiệu năng ngành viễn liên của Iraq phải ngưng ngay công tác này và sẽ bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Sau đó, nhân viên bộ Ngoại Giao Trung Cộng c̣n hứa với đại sứ Prueher là Trung Cộng sẽ tôn trọng những luật cấm của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Một nhân viên cao cấp của Ngũ Giác Đài đă không ngần ngại tố ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Tang Jiaxuan đă nói dối. Ban đầu, Trung Cộng chỉ trích lời tố cáo của Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ và nhấn mạnh là họ cố ư làm như vậy để đánh lạc hướng dư luận quốc tế về vụ ném bom xuống Iraq mà không được sự chấp thuận của Liên Hiệp Quốc; nhưng đến khi họ trả lời lại cho Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 2, 2001, th́ họ lại dịu giọng xuống và cho biết là họ sẽ cho nhân viên điều tra lời khiếu nại này. Theo một số chuyên gia phân tích thời cuộc th́ sở dĩ Trung Cộng cứ nói quanh co như vậy là v́ họ sợ vụ Iraq này sẽ làm cho căng thẳng bang giao với Hoa Kỳ; nhưng sau đó, khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Tang tiếp xúc với báo chí nhân phiên họp hằng năm của Quốc Hội, th́ ông ta trở lại luận điệu cũ và c̣n cảnh cáo Hoa Kỳ về vụ bán khí giới cho Đài Loan. Ông Tang nhấn mạnh việc bán vơ khí cho Đài Loan sẽ làm tổn thương đến sự bang giao Hoa Kỳ - Trung Quốc, và nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ th́ vấn đề Đài Loan đă được giải quyết từ lâu rồi. Thường thường các nước trên thế giới hay tránh làm mất ḷng Tổng Thống Hoa Kỳ, nhất là khi ông ta vừa mới lên nhậm chức chưa được hai tháng. Nhưng Trung Cộng lại nhân cơ hội nầy để thăm ḍ và luôn tiện thử thách ông tân tổng thống. Bị bắt quả tang vi phạm lệnh hạn chế giao thương với Iraq, Trung Cộng đă lên tiếng chối bỏ thô lỗ một cách ầm ỉ mọi lời tố cáo của Hoa Kỳ. Đoạn đặt vấn đề thẳng thừng với Hoa Kỳ là nếu Hoa Kỳ tin những lời báo cáo của nhân viên t́nh báo của họ th́ sẽ làm tổn thương trầm trọng đến quyền lợi về thương măi và tổn thương mối quan hệ chiến lược giữa họ và Trung Quốc. Luận điệu này thường hay được họ nêu ra mỗi khi họ bị bắt quả tang vi phạm những điều cấm kỵ của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, hoặc những vi phạm các thỏa ước về sản xuất và buôn bán vơ khí hạch tâm đă được kư kết giữa hai nước Hoa Kỳ và Trung Quốc suốt 8 năm qua, dưới thời cựu Tổng Thống Clinton. Thành thực mà nói chỉ có chính quyền Clinton mới tin vào thế "đồng minh chiến lược" giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, chứ đối với nước nầy th́ chưa bao giờ họ tự cho họ là "đồng minh chiến lược" của Hoa Kỳ hết; tuy nhiên để t́nh trạng nầy nhập nhằng như vậy th́ lại càng có lợi cho họ mà thôi. Dưới thời cựu tổng thống Clinton, Trung Cộng đă dùng nói dối để bao che tất cả các vụ vi phạm của họ đối với quốc tế hay đối với Hoa Kỳ một khi bị bắt quả tang, đoạn hăm dọa chính quyền Hoa Kỳ là t́nh hữu nghị giữa hai nước sẽ bị tổn thương trầm trọng nếu Hoa Kỳ không chịu bỏ qua những vụ vi phạm "nhỏ nhặt" này; riết rồi nói dối và hăm dọa đă trở thành quốc sách của Trung Cộng đối với quốc tế nói chung và đối với chính quyền mềm yếu của Clinton nói riêng.

        Nhưng đối với chính quyền cộng ḥa của Tổng Thống Bush th́ những hành vi của Trung Cộng cần phải được phơi bày ra ánh sáng, trước dư luận quốc tế. Cho nên sau vụ dội bom xuống thủ đô Baghdad, chính quyền Bush đă yêu cầu Trung Cộng mở cuộc điều tra xem công ty Huawei Technologies có vi phạm hay không quyết định của Liên Hiệp Quốc cấm mọi quốc gia không được bán loại máy có liên quan đến "sợi quang học"cho Iraq. Ban đầu th́ Trung Cộng phủ nhận luận điệu này, nhưng sau đó có hứa với Hoa Kỳ là sẽ cho mở cuộc điều tra. Đồng thời Liên Hiệp Quốc có mật thông báo cho Hoa Kỳ hay là từ lâu Trung Cộng thừa biết ư đồ của Huawei Technologies là muốn bán cho Iraq một số máy móc tối tân về truyền tin mà trong đó ít nhất có một loại máy có xử dụng "sợi quang học" bị Liên Hiệp Quốc cấm, nhưng rồi công ty này vẫn tiến hành việc thiết kế loại máy tối tân này để tăng thêm sự chính xác của các dàn súng cao xạ Iraq được dùng để bắn máy bay Hoa Kỳ và Anh quốc. Cũng v́ vậy mới xảy ra chuyện Hoa Kỳ tố cáo Trung Cộng, để rồi Trung Cộng chối bỏ mọi sự vi phạm, và rốt cục cũng phải đấu dịu lại với Hoa Kỳ về vấn đề này, nhưng đồng thời tấn công trở lại Hoa Kỳ bằng cách đưa vấn đề Hoa Kỳ định vơ trang ào ạt cho Đài Loan, có thể tạo nên sự bất ổn trầm trọng cho nền an ninh của Trung Cộng. Nhưng thái độ của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng sau vụ dội bom xuống Baghdad, cũng đủ cho Bắc Kinh thấy rơ là với chính quyền Bush ở Hoa Thịnh Đốn, Trung Cộng khó mà trông chờ được một sự đăi ngộ như dưới thời chính phủ Clinton. Vả lại chờ măi mà chẳng thấy Tổng Thống Bush gọi điện thoại cho Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân sau khi ông tuyên thệ nhậm chức, nên Bắc Kinh đành phải "muối mặt" mở một cuộc tấn công ngoại giao bằng cách phái qua Hoa Kỳ 3 phái đoàn để t́m hiểu thêm thái độ của chính quyền Cộng Ḥa đối với họ, mặc dầu 3 phái đoàn nầy không hề được chính phủ Hoa Kỳ đạt giấy mời.

       Phái đoàn thứ nhất gồm có 3 cựu đại sứ đă từng phục vụ tại Hoa Kỳ và Gia Nă Đại, và đến Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 2, 2001.

       Phái đoàn thứ hai do ông Zhou Mingwei, Phó Giám Đốc Đài Loan Sự Vụ trong Viện Quốc Dân Trung Quốc cầm đầu, đă đến Hoa Thịnh Đốn vào đầu tháng 3.

       Phái đoàn thứ ba do Phó Thủ Tướng Qian Qichen cầm đầu, đă đến Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 3.

       Mọi người trong giới ngoại giao đoàn đều rất ngạc nhiên về sự thay đổi cách cư xử rất đột ngột của Bắc Kinh đối với chính quyền Bush, v́ dưới thời cựu Tổng Thống Clinton họ quen thói làm cao rồi, nhưng nay lại tỏ vẻ quá ư quỵ lụy, "không mời mà đến" cũng đủ chứng tỏ Trung Cộng - qua thái độ phớt tỉnh của ông Bush - đă cảm thấy băn khoăn lắm rồi. Tám năm về trước Trung Cộng chả cần làm ǵ hết, chỉ có việc ngồi chờ tân chính quyền Clinton phái sứ thần qua "triều kiến long nhan" tại Bắc Kinh. và nhận lănh "chỉ thị" của "hoàng đế Trung Cộng" mà thôi. Nay th́ Bắc Kinh có thái độ chịu "đi nước dưới" đối với chính phủ Bush th́ giới ngoại giao quốc tế quá đổi ngạc nhiên.  Chuyến đi của 3 phái đoàn nầy tuy đi một công mà có đôi ba việc. Việc thứ nhất là t́m hiểu lư do sâu xa về sự chuyển hướng của Hoa Kỳ trong việc đối xử với Trung Cộng từ thế "đồng minh chiến lược" nhảy băng qua thế "đối thủ chiến lược", để rồi c̣n có thể buớc thêm một bước thứ hai tận cùng là "kẻ thù chiến lược". Khi mà Hoa Kỳ đưa Trung Cộng vào thế tận cùng này, có nghĩa là họ muốn buộc nước này vào thế thi đua vơ trang, giống như họ đă buộc Liên Xô phải chạy đua vơ trang với họ, để rồi cuối cùng ngân sách quốc gia khánh kiệt và chế độ tiêu ma không kèn không trống. Việc thứ hai là cố gắng làm cho t́nh hữu nghị giữa hai nước trở lại thắm thiết như xưa. Việc thứ ba mới là đi vận động thật sự để Hoa Kỳ đừng bán 4 khu trục hạm thuộc loại Arleigh Burke có trang bị radar tối tân Aegis - có thể phát hiện một trăm mục tiêu cùng một lúc - cho Đài Loan.

        Phái đoàn thứ nhất gồm có 3 ông cựu đại sứ đă được một số nhân viên hạng trung của Bộ Ngoại Giao ra đón tiếp ở phi trường. Phái đoàn có ghé qua Houston để thăm cựu Tổng Thống Bush, thân sinh của đương kim tổng thống Hoa Kỳ và được ông này tiếp rất lơ là, nếu không muốn nói là lạnh nhạt. Trước khi ba phái đoàn này qua Hoa Kỳ, Bắc Kinh đă có nhờ người tiếp xúc với các ông Kissinger và Brent Scowcroft để nhờ họ nói giúp một tiếng với cựu Tổng Thống Bush th́ các vị này có hứa là họ sẽ can thiệp với thân sinh ông tổng thống để ông này sẽ "dạy cho ông con" không nên làm sứt mẻ t́nh hữu nghị giữa hai nước. Tưởng họ nhờ ai chứ nhờ ông Kissinger, người từng bị Lê Đức Thọ của Hà Nội qua mặt một cái vèo sau khi kư kết Hiệp định Ba Lê, th́ chuyện vận động của Bắc Kinh có cơ thất bại là cái chắc.

        Phái đoàn thứ 3 do Phó Thủ Tướng Qian Qichen cầm đầu, trước khi tới Hoa Thịnh Đốn, có ghé lại Nữu Ước, và trong buổi gặp báo chí tại nơi đây, ông Qian dơng dạc lên tiếng cảnh cáo Hoa Kỳ rằng việc nước nầy bán 4 chiếc Khu trục hạm Aegis cho Đài Loan sẽ làm sứt mẻ t́nh hữu nghị giữa hai nước và có thể đưa đến t́nh trạng chiến tranh. Ông ta nhấn mạnh: việc bán 4 khu trục hạm cho Đài Loan chứng minh rơ rệt là Hoa Kỳ đă vi phạm trầm trọng hiệp định 1982 qui định hạn chế việc bán vũ khí cho Đài Loan. Nhưng ông ta quên rằng bên cạnh hiệp định có kèm theo một trang ghi điều khoản gởi cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nói rơ lời tuyên bố của Tổng Thống Reagan là việc hạn chế đó chỉ có giá trị khi nào cán cân lực lượng giữa Trung Quốc và Đài Loan không có thay đổi. Nhưng từ ngày ấy đến nay, Trung Cộng đă đặt thêm hàng trăm hỏa tiễn dọc theo bờ bể tỉnh Phúc Kiến và hướng về phía Đài Loan. Nhân vụ Trung Cộng tăng cường vũ khí dọc theo eo bể Đài Loan, Đô Đốc Dennis Blair Tư Lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ trong khu vực Thái B́nh Dương có cho biết là ông ta đă có lưu ư Trung Cộng nên tiết giảm số hỏa tiễn dàn dọc theo bờ bể Phúc Kiến và nhắm về Đài Loan để cho t́nh h́nh giữa đôi bên bớt căng thẳng th́ đă được Trung Cộng trả lời là những vũ khí đó không nhắm vào Đài Loan. Khi nghe xong những điều tŕnh bày trên đây, Phó Thủ Tướng Qian đă trả lời cộc lốc: "Tôi không cho rằng những chuyện đó lại có thể trở thành một vấn đề". Ông Qian tỏ vẻ lạc quan vừa phải khi ông đề cập đến việc Hoa Kỳ dự tính bán 4 chiếc khu trục hạm cho Đài Loan, đoạn ông ta nhấn mạnh ở điểm là năm (năm 2000 ), chính Tổng Thống Clinton cũng đă một lần từ chối việc bán cho Đài Loan những chiếc khu trục hạm nầy. Tiện đây cũng nên nhắc lại là cách đây 3 năm (1999), quư ông Paul Wolfowitz (nay là Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng), Richard Armitage (nay là Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao) và ông I. Lewis Libby (Văn Pḥng Trưởng của Phó Tổng Thống Dick Cheney) có gởi một văn thư cho cựu Tổng Thống Clinton kêu gọi ông này nên có những hành động nhằm giúp thêm vũ khí cho Đài Loan. Nhưng ông Clinton - sợ mếch ḷng Trung Cộng - nên đă ngoảnh mặt làm ngơ, không trả lời.

       Phó Thủ Tướng Trung Cộng đă được Tổng Thống Bush tiếp kiến tại ṭa Bạch Ốc ngày 22 tháng 3 năm 2001. Cũng vào thời gian đó, phát ngôn viên bộ An Ninh của Trung Cộng ở Bắc Kinh cho báo chí hay là ngày 11 tháng 2, năm 2001, họ đă bắt bà Gao Zhan 40 tuổi, giáo sư tại đại học American University, Hoa Thịnh Đốn, cùng chồng của bà và em bé Andrew, 5 tuổi, con của bà ta. Cả ba người nầy đều bị giam riêng để thẩm vấn. Mặc dầu em bé Andrew chỉ mới có 5 tuổi mà cũng bị biệt giam 26 ngày liền, xa cha mẹ của em, th́ chắc tội của em cũng nặng lắm - theo nhân viên bộ An Ninh Trung Cộng - và rất có thể là em đă âm mưu lật đổ chế độ hà khắc, vô nhân đạo của Tổng Bí Thư Trung Cộng Giang Trạch Dân chăng? Bà Gao và ông Xue, gốc Trung Hoa, đang xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ; c̣n em Andrew - v́ sinh ở Hoa Kỳ - nên đă có quốc tịch Hoa Kỳ từ khi mới sinh ra đời. Nhưng khi bắt "nhà đại cách mạng Andrew" mới có 5 tuổi nầy, Bộ An Ninh Trung Cộng không thông báo cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh biết, là họ có bắt một công dân Hoa Kỳ bị t́nh nghi âm mưu phá rối nền an ninh của Trung Quốc; v́ giữa hai nước có kư thỏa ước khi nước nầy bắt kiều dân của nước kia, th́ nước bắt người bị t́nh nghi phải thông báo cho nước kia biết, chậm nhất trong ṿng 4 ngày. Nội một hành động nầy cũng đủ chứng minh cho thế giới biết là đối với Trung Cộng, việc thi hành và tôn trọng mọi hiệp ước được kư kết giữa đôi bên là chuyện của bên kia, c̣n vi phạm hiệp ước là chuyện đương nhiên hay nói cho chính xác hơn là "quyền của Trung Cộng!"

        Tổng Thống Bush và Ngoại Trưởng Powell đă được thông báo về vụ bắt bớ em bé Andrew, kiều dân Hoa Kỳ nầy.Và ông Powell đă thốt ra câu "thật là vô nhân đạo". C̣n dư luận của giới ngoại giao th́ quá ngạc nhiên khi thấy Bắc Kinh có một hành động điên rồ như vậy v́ chính bộ An Ninh Trung Cộng lại lựa đúng ngày Phó Thủ Tướng Qian đi gặp Tổng Thống Bush để loan tin cho thế giới biết là vừa bắt một gia đ́nh người Mỹ gốc Hoa có hành động làm nguy hại đến nền an ninh của Trung Quốc. Trong khi phó thủ tướng của họ đang chuẩn bị xin tổng thống Hoa Kỳ dẹp bỏ ư định bán 4 chiếc khu trục hạm Aegis tối tân cho Đài Loan, th́ Bắc Kinh lại có hành động khiêu khích, hăm dọa, đánh phủ đầu Hoa Kỳ như vậy, quả thật là xuẩn động! Thế rồi việc ǵ phải xảy ra đối với phái đoàn Trung Cộng đă đến. Tổng Thống Bush đă nhân cơ hội nầy để thuyết cho Phó Thủ Tướng Qian nghe quan niệm của ông về Nhân Quyền và Tự Do Tín Ngưỡng. Riêng ông Qian th́ im lặng ngồi nghe, ít nói, và tỏ thái độ rất là cung kính, theo lời tường thuật của một số báo chí lớn của Hoa Kỳ. Và cuối cùng, Tổng Thống Bush cho ông Qian hay việc bán 4 chiếc khu trục hạm hay không là quyền của Hoa Kỳ và ông mong rằng việc gia đ́nh của em bé Andrew sớm chóng được Bắc Kinh giải quyết càng sớm càng tốt

        Trong tháng 4 vưa qua, Tổng Thống Bush không gấp gáp ǵ mà tuyên bố việc bán 4 chiếc khu trục hạm Aegis cho Đài Loan để làm mất ḷng Trung Cộng trong lúc này v́ ông c̣n phải "xử lư" vụ Nga trước đă. Trong khi đó th́ ông lại treo một cây kiếm ngay trên đỉnh đầu Trung Cộng và ngầm cảnh cáo Trung Cộng nếu c̣n tiếp tục có thái độ hung hăng đối với Đài Loan, th́ khi đó ông sẽ ra lệnh bán 4 chiếc khu trục hạm Aegis ngay cho Đài Loan. Và để xoa dịu Đài Loan, ông sẽ chấp nhận bán cho Đài Loan một số khu trục hạm loại Kidd dùng đối phó với phi cơ Trung Cộng, một mối nguy kề cận nhất đối với Đài Loan. Vả lại nếu Đài Loan mua khu trục hạm loại Kidd, th́ đă có sẵn rồi, và Hoa Kỳ có thể giao ngay; c̣n loại có trang bị radar Aegis th́ phải chờ đến năm 2005 xưởng đóng loại tàu nầy ở Pascagoula, tại Mississipi mới đóng xong, với giá 1 tỷ mỹ kim cho một chiếc (1 tỷ bằng 1000 triệu ).  Qua cuộc tiếp xúc với phái đoàn Qian, Tổng Thống Bush đă tỏ ra rất cương quyết đối với Trung Cộng. Mặc dầu ông không nói rơ ư của ông, nhưng nội cách trả lời cứng rắn của ông với ông Qian cũng đủ thấy ông không nhân nhượng Trung Cộng tư nào cả và không lư ǵ đến vấn đề có chiến tranh hay không tại eo bể Đài Loan; có lẽ là ông đă có chủ ư cả rồi. Chúng ta cứ nh́n qua buổi ông ta tiếp kiến Tổng Thống Nam Hàn Kim Đại Trọng th́ mới thấy được - mặc dầu ông ít kinh nghiệm về ngoại giao, nhưng để lấp cái lỗ hổng đó, ông được trời đă phú cho có cái nh́n sắc bén về đối tượng của ḿnh, và một lương tri sáng suốt và b́nh tĩnh để nhận xét t́nh h́nh một cách khách quan. Ông Kim Đại Trọng đă có cái nh́n sai lạc về ông Bush khi ông tiếp xúc với ông này, nên mới đặt lại vấn đề tiếp tục cuộc điều đ́nh với Bắc Hàn về việc sản xuất hỏa tiễn đang c̣n bỏ dở dưới thời Clinton. TT Bush đă trả lời ngay với ông Kim Đại Trọng là ông không tin Bắc Hàn, nhất là về vấn đề kiểm soát, nên ông đă đơn phương hủy bỏ cuộc đàm phán đang bỏ dở này; mặc dầu ngày trước đó Ngoại Trưởng Powell có hứa với ông Kim Đại Trọng là chính phủ này sẽ tiếp tục lại cuộc đàm phán đang bỏ dở dưới thời ông Clinton. Lời tuyên bố của ông Ngoại Trưởng Colin Powell thế nào lại chẳng được ông Kim Đại Trọng gọi điện thoại về B́nh Nhưỡng để báo tin mừng này cho Kim Chính Nhật lănh tụ Bắc Hàn, làm cho tên này mừng hụt tưởng rằng ḿnh sẽ có cơ hội để "gạt tên Bush con này một mẻ cho mà xem!" Qua hai vụ tiếp xúc với đại diện hai nước Trung Cộng và Nam Hàn, chúng ta có thể nói chính ông Bush là người quyết định tối hậu về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, mà đôi khi không cần hỏi ư kiến cộng sự viên của ông ta.

       6. Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Canada

        Vào đầu tháng 9 vừa qua, "Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Canada cho thế kỷ thứ 21" đă công bố một bản báo cáo vạch rơ t́nh trạng thê thảm về quốc pḥng của Canada. Theo giáo sư J. L.Granatstein, một sử gia có tên tuổi của Canada, th́ chính phủ của ông Chrétien chả lưu tâm ǵ đến vấn đề quốc pḥng của nước nầy và theo ông ta, th́ muốn đột nhập vào Hoa Kỳ, không có ǵ dễ dàng hơn bằng cách đột nhập qua ngả Canada, một yếu điểm trong hệ thống pḥng thủ của Hoa Kỳ. Tờ National Post, một nhật báo có con số phát hành cao vào mức nhất nh́ ở Canada đă viết như sau:

       (1 ) Không quân Canada có rất ít sĩ quan hoa tiêu có kinh nghiệm, v́ từ khi chính phủ từ chối không trả lương cho họ tương đương như bên dân sự, th́ họ đă t́m việc làm tại hăng Hàng Không Air Canada.

       (2 ) Hiện nay, Canada rất "yếu" về quân dụng, nhất là về loại đạn dược điều khiển bằng tia Laser của loại phi cơ F18s đă từng hoạt động ở Serbia và Kosovo cách đây 4 năm, nhưng cho đến nay vẫn chưa được bổ sung lại.

       (3 ) Nếu cần phải điều động Hải quân như ở Vùng Vịnh chẳng hạn, th́ Canada chỉ cung ứng - nhiều lắm - là 3 chiến hạm thôi.

       (4 ) Canada không có đủ bác sĩ quân y để cung cấp cho một bệnh viện dă chiến.

        Sau khi "chiến tranh lạnh" chấm dứt vào cuối thập niên 1990, các nước trong khối Tự Do đều lơ là về vấn đề quốc pḥng, v́ theo họ - c̣n đâu "nguy cơ Cộng Sản" nữa mà phải chi tiêu rất tốn kém về quân đội cho mất công. Theo họ, th́ lo chuyện an ninh trật tự cho thế giới đă có Hoa Kỳ đảm trách rồi. Khi chiến tranh Vùng Vịnh được phát động vào đầu thập niên 1991, nên các nước tham gia cuộc chiến đang c̣n giữ quân đội và chiến cụ; nhưng giờ đây - 12 năm đă qua - quân đội của họ, phần lớn được giải ngũ, vũ khí không sản xuất thêm th́ chớ, lại trở nên lạc hậu với thời gian, nên khả năng chiến đấu rất là yếu kém, không c̣n hữu hiệu nữa v́ thiếu huấn luyện. Trường hợp của Canada là một trường hợp điển h́nh.  Khi tổng thống W. Bush đến Detroit để gặp thủ tướng của Canada là ông Chrétien trong đầu tháng 9, 2002 th́ đă được ông nầy cho biết là trước khi nước ông tham gia cuộc chiến đánh Iraq, th́ tổng thống Bush phải trưng bày bằng chứng cho ông ta biết rơ ràng sự liên hệ giữa Iraq với tổ chức Hồi giáo khủng bố Bin Laden; nếu không th́ Canada sẽ không có tham gia cuộc chiến nầy. Đó là một cách từ chối khéo của ông Chrétien, v́ ông Bush - trước khi qua thăm Canada - đă dư biết là nước nầy có muốn tham gia đánh nhau với Iraq cũng không có khả năng; ngay như dẹp một cuộc náo loạn tại một sân đá bóng chưa chắc nước nầy đă có khả năng làm được, chứ đừng nói chi đến việc dàn trận đánh nhau với quân của Saddam Hussein, v́ khả năng quân sự của Canada - có thể nói hiện nay chả có ǵ cả.

       Tháng 7, 1958 quốc vương Faisal của Iraq bị quân đội dưới quyền chỉ huy của tướng Kassem và đại tá Aref đảo chánh và giết chết. Sau đó th́ tướng Kassem đă làm áp lực cho đại tá Aref phải lưu vong ra ngoại quốc để ông ta độc quyền cai trị nước Iraq; nhưng ông ta không hay biết ǵ về việc chính phủ cộng sản Đông Đức đă đặt được một hệ thống gián điệp hữu hiệu trong nước nầy và làm "tai mắt" cho Liên Xô. Thế rồi đại tá Aref trở về lại Iraq, tổ chức ám sát thành công tướng Kassem và lên cầm quyền thay thế ông nầy, cai trị Iraq cho đến năm 1966 th́ ông ta chết v́ tai nạn trực thăng và em của ông ta lên thay thế cho đến năm 1968 th́ Saddam Hussein - từ thị tộc Takriti xuất hiện - và chiếm quyền lănh đạo Iraq như tên độc tài Hafez-el-Assad, thuộc thị tộc Alaouite đă làm giống hệt như vậy ở Syria.

        Tháng 8, 2002 tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ông Bill Kristol, chủ biên của tuần báo Weekly Standard, một "cột trụ" trong "hệ thống Lốp By Do Thái" do một nhóm kiều dân Do Thái quá khích có quốc tịch Hoa Kỳ và một số thành viên hiếu động của Giáo Hội Phúc Âm Hoa Kỳ lănh đạo, đang vận động ráo riết cho một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Iraq, theo chủ trương của thủ tướng Do Thái Ariel Sharon nhắm mục tiêu đưa quốc gia Do Thái lên hàng số 1 trong vùng Trung Đông; đồng thời sắp xếp lại hàng ngũ của một số quốc gia Ả Rập thân Tây Phương, qua sự chỉ đạo trong bóng tối của một số nhân vật đầu năo nằm trong các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ - Anh quốc. Cuộc vận động nầy đang đi vào giai đoạn cuối cùng và ông Kristol đă viết trong báo của ông là "cuộc bàn căi đă chấm dứt và giờ hành động đă đến!". Cho nên từ ngày 30 tháng 8, 2002 chỉ trong ṿng 8 ngày mà phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc đă oanh tạc 5 bận các dàn súng cao xạ pḥng không của Iraq bị nghi có gắn hệ thống pḥng không tối tân S. 300 do Nga cung cấp cho Trung Cộng. Mặc dầu Nga vẫn rêu rao là luôn luôn ủng hộ Hoa Kỳ chống lại "trục ma đầu" Iraq, Iran và Bắc Hàn, nhưng vẫn tiếp tục công khai kư kết với Iraq - qua đại diện bộ trưởng Ngoại Giao của nước nầy là Naji Sabri, tại thủ đô Mạc Tư Khoa một thỏa ước viện trợ cho Iraq 40 tỷ mỹ kim trong ṿng 10 năm. Lư do mà Putin viện dẫn là sự hợp tác của Nga với các nước trong "trục ma đầu" chỉ là một giải pháp để tránh sự đụng độ tai hại có thể xảy ra, để rồi về lâu về dài sẽ kéo họ trở về lại đại gia đ́nh các nước trong khối thế giới Tự Do. Thế rồi thời gian trôi qua và 34 năm sau tên độc tài khát máu Saddam Hussein vẫn c̣n tại vị ở Iraq với hai bàn tay vấy máu của dân nước nầy - trải qua không biết bao nhiêu cuộc mưu đồ đảo chánh y, thiệt cũng có mà giả cũng có khi tên độc tài nầy muốn thủ tiêu ai mà hắn không thích. Dưới chế độ độc tài sắt máu của Saddam Hussein, Iraq đă đi tới bờ vực thẳm giống hệt như ở Bắc Hàn, và lư do chính của sự tàn lụi nầy là v́ các tên độc tài cai trị hai nước nầy đều ham mê tậu cho được một số vũ khí tối tân để lên mặt với các nước lân bang của chúng.

        Chúng tôi cũng xin lưu ư bạn đọc là Iraq đă được hội "Vạn Quốc" lập nên vào đầu thập niên 1920, theo đề nghị của các công ty dầu hỏa quốc tế và của bộ Ngoại Giao Anh Quốc, lúc đó đang nắm "quyền sinh sát" ở các vùng đất trong miền Trung và Cận Đông. Ban đầu, Anh quốc từng dự tính thành lập một quốc gia Kurd có 20 triệu dân, tọa lạc giữa các nước Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Iran bao gồm luôn các trung tâm khai thác dầu hỏa Kirkouk và Mossoul và chịu sự điều khiển của một quốc vương thuộc ḍng họ Hachemite. Nhưng rồi Anh quốc lại thay đổi ư kiến và chia dân Kurd ra thành nhiều nhóm ở tản mác trong 5 quốc gia là Iraq, Thổ, Syria, Iran và Nga.

       Theo ông Richard Sharpe, giám đốc nguyệt san Jane's Fighting Chips đă từng tuyên bố với một số phóng viên báo chí là có một số cơ sở t́nh báo của các nước trong khối Thế Giới Tự Do đă nhận được nhiều tin tức chính xác về việc Iraq sản xuất các loại vũ khí hóa học và vi trùng học, nhưng họ (CIA và NSA của Hoa Kỳ chẳng hạn ) không dám công khai lên tiếng tố cáo v́ sợ làm "cháy" các nguồn tin của họ trong nước Iraq. Cho đến năm 1990, Mạc Tư Khoa và Hoa Thịnh Đốn đều nhắm mắt làm ngơ trước mọi hành động hống hách của Saddam Hussein đối với các nước láng giềng của hắn. Hoa Kỳ cũng dư biết là 80% vũ khí của Iraq đều do Liên Xô cung cấp và cũng nằm trong kế hoạch ngấm ngầm thúc đẩy tên độc tài Saddam Hussein xua quân xâm chiếm nước Ả Rập Saudi và toàn thể các tiểu quốc trên bán đảo Ả Rập để tóm thâu hầu hết các mỏ dầu hỏa trong Vùng Vịnh và lên làm chúa tể hoàn cầu, qua sự giựt dây của Liên Bang Xô Viết trong bóng tối. Nhưng Hoa Kỳ đâu có chịu để cho Saddam Hussein tự tung tự tác như vậy được ở Vùng Trung Đông và Hoa Kỳ đă bố trí để cho bà Đại Sư Hoa Kỳ tại tiểu quốc Kuwait gặp Saddam và khẳng định với tên nầy là nếu Saddam Hussein có chiếm lănh Kuwait th́ Hoa Kỳ cũng không bao giờ can thiệp. Thế là cá Saddam đă cắn lưỡi câu của ngư ông Herbert Bush, và cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đă xảy ra như Hoa Kỳ dự tính.

       7. Phe Đối Lập Iraq Chống Đối Saddam Hussein

        Ngày 10 tháng 8, 2002 bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld và viên tham mưu trưởng của ông ta đă gặp các đại diện trong Đại Hội Đồng (nhóm Tứ Bang, Phong Trào Quân Chủ Lập Hiến, đại diện của một số sĩ quan lưu vong) và lănh tụ Barzani đă biểu lộ sự dè dặt của ông ta đối với kế hoạch can thiệp của Hoa Kỳ trong việc hạ bệ chính quyền Saddam Hussein ở Iraq. Mặc dầu trong mùa hè vừa qua, Hoa Kỳ có phái Shalabi qua Iran để điều đ́nh với nước nầy nên giữ thái độ trung lập một khi Hoa Kỳ tấn công vào Iraq; nhưng những lời hứa hẹn của cựu tổng thống Rafsanjani và của Rahim Safavi, tướng tư lệnh đội quân "Bảo Vệ Cách Mạng" th́ chả có ǵ đáng tin cậy cho lắm v́ tất cả mọi quyết định của Iran đều do giáo chủ Khameini định đoạt th́ khi ấy mới có giá trị.

        Thượng tuần tháng 9, 2002 một liên bang đối lập chống chính quyền Saddam Hussein đă được thành lập và gồm có các tổ chức sau đây: Nhóm Tứ Bang nằm trong "Đại Hội Đồng" do Shalabi chủ tọa và gồm có: "Liên Minh Yêu nước Kurdistan" của Talabani, "Đảng Dân Chủ Kurdistan" của Barzani, "Liên Minh Quốc Gia Iraq" của Ayad Alawi và "Hội Đồng Tối Thượng Cách Mạng Hồi Giáo" của giáo lănh Baqr có trụ sở tại thủ đô Tehran của Iran Và sau đó, lại có tháp thêm vào "Đại Hội Đồng" một "Tổ Chức Quân Chủ Lập Hiến" của Ali Ben Hussein, em họ của quốc vương Iraq đă bị ám sát, và cuối cùng có thêm 3 tổ chức của cựu quân nhân Iraq là "Liên Minh Quốc Gia Iraq" gồm toàn cựu sĩ quan của Tawiq el- Salhi; "Phong Trào Vận Động Sĩ Quan Iraq" do Fawzi el-Shamari cầm đầu cùng với một số sĩ quan lưu vong qua Syria và Âu Châu mà phát ngôn viên là Wafiq el- Samarrai và Nizar el- Khazradji. Sự tập hợp của hầu hết các nhóm lưu vong vào "Đại Hội Đồng" do Shalabi cầm đầu có mục tiêu tiến tới việc thành lập một chính phủ "hậu Saddam Hussein".

       Saddam Hussein phải bị lật đổ . Nhưng sau đó phải có người thay thế hắn chứ? Chính quyền Hoa Kỳ hiện nay có danh sách của hằng trăm - nếu tránh không nói đến hằng ngàn dân Iraq chống Saddam Hussein đă lũ lượt đến tỵ nạn tại Anh quốc, Âu Châu, và Hoa Kỳ: Họ là những cựu tướng lănh, sĩ quan cao cấp trong quân đội Iraq, những nhà ngoại giao, những nhân viên cao cấp của chính quyền nầy, những thân bằng quyến thuộc trong sắc tộc Takriti của Saddam Hussein. Tuy họ ở trong tư thế lưu vong, "ăn nhờ ở đậu" nhưng họ vẫn luôn luôn kết bè kéo cánh, lắm khi đi đến chống phá nhau kịch liệt, và người nào cũng vỗ ngực cho ḿnh là "ngon lành" hơn các người khác. Trong đám nầy, có ông Ahmed Shalabi, 57 tuổi, đă từng dính líu trong cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991, sáng lập viên "Nghị Hội Quốc Gia Iraq" vào năm 1992 (Iraqi National Congress) có trụ sở đặt tại Luân Đôn và Hoa Thịnh Đốn.

        Năm 1999, ông Shalabi xác nhận có nhận được của cơ quan CIA và của một số mạnh thường quân Hoa Kỳ một số tiền 12 triệu mỹ kim(được ông ta xác nhận ). Đa số các nhân vật Iraq lưu vong có tên tuổi đều trách ông ta có tính hống hách và lắm mưu mô. Rất gần đây, chính ông Shalabi đă tố cáo ông y sĩ Ayad Alawi, 57 tuổi, cựu thành viên của đảng Baas (đảng của chính quyền Iraq ) có liên hệ mật thiết với cơ quan CIA và muốn giữ độc quyền tiền viện trợ của Hoa Kỳ đối với 5 tổ chức kháng chiến quốc gia Iraq khác. Ông Alawi đă phản pháo lại và tố ông Shalabi đă dùng tiền viện trợ của Hoa Kỳ để mua chuộc một số nhà báo viết bài ca ngợi ông ta là vị thủ lănh duy nhất của tổ chức kháng chiến quốc gia Iraq hiện nay. Một tổ chức kháng chiến nhỏ khác, "Nghị Hội Những Người Iraq Tự Do" cũng đă đứng ra tố cáo Shalabi luôn luôn t́m cách chia rẽ hàng ngũ kháng chiến lưu vong từ 1992 đến 1999, và trong thời gian nầy th́ Shalabi muốn thành lập một Hội Đồng gồm 25 người, với bên cạnh y một người Kurd, một người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni, một người Hồi giáo theo hệ phái Shia và những người nầy đều phải do y chọn lựa, chứ không phải do các thành viên của Hội Đồng bầu ra. Trong hàng ngũ dân Kurd cũng có sự chia rẽ giữa "Liên Minh Yêu Nước Kurdistan" (Patriotic Union of Kurdistan) (PUK) của Jalal Talabani, 69 tuổi, hùng cứ một nửa miền Đông của miền Bắc Iraq; và "Đảng Dân Chủ Kurdistan" (Kurdistan Democratic Party) (KDP) mà lănh tụ là Massoud Barzani, 57 tuổi, hùng cứ nửa miền Tây của Vùng Bắc Iraq, với số 4 triệu dân Kurd chung sống với 25 triệu dân Iraq. Trong cuộc gặp gỡ phái đoàn gồm hầu hết đại diện các tổ chức kháng chiến Iraq vào thượng tuần tháng 8, 2002 vừa qua, đại diện của chính phủ Hoa Kỳ đă long trọng tuyên bố trước hội nghị là nếu có cuộc hành quân hỏi tội Saddam Hussein th́ chính phủ Hoa Kỳ sẽ bảo vệ dân Kurds cư ngụ trong vùng Bắc Iraq để tránh cho dân Kurds khỏi bị quân đội Iraq tàn sát như có chuyện đáng tiếc đă xảy ra trong năm 1991, sau khi chiến tranh Vùng Vịnh chấm dứt. Nhưng vị đại diện của chính quyền Hoa Kỳ lại tránh không khẳng định sẽ bảo vệ dân phản loạn Iraq theo Hồi giáo, thuộc hệ phái Shia sinh sống trong vùng Đông Nam nước nầy; mặc dầu họ cũng đă từng bị quân đội của Saddam Hussein tàn sát trong vụ nổi loạn vào năm 1991, giống như dân Kurds trên miền Bắc Iraq. Rồi vị đại diện của Hoa Kỳ lại nhấn mạnh thêm một lần nữa là nếu quân đội của Saddam Hussein tấn công vào dân Kurds lần nầy th́ chúng tôi sẽ trực tiếp can thiệp ngay tức khắc. C̣n riêng đối với dân Iraq theo Hồi giáo Shia, sống trong vùng śnh lầy thuộc Đông Nam Iraq, th́ chúng tôi cũng đă có biện pháp chia Iraq ra thành 2 vùng cấm địa Nam và Bắc Iraq và cấm không cho không quân Iraq được phép xâm nhập tự do vào hai vùng kể trên, và nếu họ vi phạm th́ sẽ bị Không quân của Anh và Hoa Kỳ bắn rơi ngay. Và sau một ngày hội thảo tại trụ sở của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với quư ông thứ trưởng Ngoại Giao Marc Grossman và thứ trưởng Quốc Pḥng Douglas Feith, phe đối lập Iraq đă ra một thông cáo khẳng định sự quyết tâm của họ là phải hạ cho bằng được chế độ độc tài sắt máu của Saddam Hussein tại Iraq. Trước khi giải tán, các lănh tụ Iraq thuộc phe đối lập có thỏa thuận với nhau là sẽ gặp lại trong một ngày gần đây và sẽ có mặt một số đại diện - v́ lư do nầy hay v́ lư do khác - đă không đến dự được buổi họp đoàn kết hôm nay. Ngày giờ và địa điểm buổi họp sắp tới sẽ được thông báo sau.  Mục tiêu của buổi họp ngày 9 tháng 8 vừa qua là để nối lại sợi dây liên lạc giữa chính phủ Hoa Kỳ và phong trào chống đối chính quyền Iraq đă bị tan vỡ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh. Dưới trào cựu tổng thống Clinton, quốc hội Hoa Kỳ có biểu quyết một ngân sách 97 triệu mỹ kim để tài trợ cho phe đối lập Iraq, số tiền nầy cũng được tính vào tiền huấn luyện quân sự và quân trang cho kháng chiến quân; nhưng sau đó th́ chính quyền Clinton cứ chần chờ không chịu chi tiền ra, viện lư do là họ có chi thử ra một ít tiền cho phe kháng chiến, nhưng v́ kế toán của phe kháng chiến lem nhem, không phân minh nên sau đó quốc hội mới đ́nh chỉ sự viện trợ. Trong buổi họp đầu tiên, một số nhân vật của phe kháng chiến có lên tiếng thổ lộ nổi lo âu của họ sợ rồi đây Hoa Kỳ cũng sẽ bỏ rơi họ như 12 năm trước đây; nhưng họ trách Hoa Kỳ như vậy mà họ lại không tự trách chính ḿnh đă dùng chiêu bài "KHÁNG CHIẾN MA" để thụt quỹ viện trợ của Hoa Kỳ làm của riêng cho chính họ và thân bằng quyến thuộc của họ. Trước đây dân Việt Nam lưu vong ở hải ngoại - v́ nặng ḷng yêu tổ quốc - nên đôi ba phen v́ nhẹ dạ, đă từng bị nhiều bọn lưu manh dùng "KHÁNG CHIẾN MA" lường gạt và đă mất tiền toi cho chúng mà không kêu ca với ai được; đằng nầy - chuyện làm cho mọi người ngạc nhiên vô cùng - là ngay chính phủ Hoa Kỳ cũng bị bọn "KHÁNG CHIẾN MA" bịp .

        Điều làm cho chính phủ Hoa Kỳ ngạc nhiên nhất là tất cả các nhóm kháng chiến về Hoa Kỳ tham dự buổi họp đều đồng ư là sau khi lật đổ Saddam Hussein rồi, th́ chính phủ kế tiếp của Iraq phải là một chính phủ dân chủ, đa nguyên, duy tŕ toàn vẹn lănh thổ với 23 triệu dân Iraq. Riêng Thổ Nhĩ Kỳ th́ chỉ sợ rồi đây - khi mà có một nước Iraq độc lập có cư dân Kurds - th́ dân Kurds sống trên lănh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ đứng lên đ̣i quyền tự trị. Và các nước Ả Rập trong vùng Vịnh cũng như Hoa Kỳ sẽ lo rằng rồi đây dân Iraq theo Hồi giáo - hệ phái Shia - sẽ bị Iran đồng hóa. Sở dĩ các thủ lănh trong phong trào kháng chiến cứ luôn luôn nhấn mạnh là phải có một chính phủ "liên bang" v́ họ thuộc nhiều sắc dân có tôn giáo khác biệt nhau như dân Kurds, dân Hồi giáo thuộc các hệ phái Sunni và hệ phái Shia, nên cần phải có một chính phủ liên bang th́ họ mới có thể chính thức có quyền kiểm soát các vùng ảnh hưởng của họ được. Có mặt trong buổi họp ở bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 9 tháng 8, 02 gồm có các ông Ahmad Chalabi, thủ lănh "Nghị Hội Quốc Gia Iraq", ông Jalal Talabani, chủ tịch "Liên Minh Yêu Nước Kurdistan", ông Hoshyar Zebari, đại diện cho ông Barzani thủ lănh của đảng "Dân Chủ Kurdistan", ông Sharif Ali bin Hussein, đại diện của "Phong Trào Quân Chủ Lập Hiến" và ông Iyad Allawi, đại diện của "Nghị Hội Quốc Gia Iraq".  Một số thủ lănh của "Hội Đồng Tối Cao Cách Mạng Iraq" có trụ sở tại Iran cũng có đến tham gia buổi họp, với dụng ư cho thấy là Iran cũng gián tiếp ủng hộ việc Hoa Kỳ chủ trương "hạ bệ" Saddam Hussein; lư do sâu xa của sự đồng ư nầy là trong cuộc chiến tranh 1980 - 1988 giữa Iraq và Iran, chính Saddam Hussein là kẻ đă xua quân qua xâm chiến Iran trước. Trong buổi họp ngày hôm ấy, phe chống đối không đặt vấn đề trợ giúp quân sự như về huấn luyện và cung cấp vũ khí, theo tiết lộ của chính quyền Hoa Kỳ và buổi họp cũng được truyền h́nh quay phim với sự có mặt của Phó Tổng Thống Dick Cheney của Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Colin Powell cũng có vào pḥng họp để chào hỏi các thành viên của phe chống đối chính quyền Iraq.

        Vào thượng tuần tháng 10 dương lịch, năm 2002, các tai to mặt lớn trong kỹ nghệ dầu hỏa Nga và Hoa Kỳ đă đến Houston (Hoa Kỳ ) để tham dự buổi họp mặt đầu tiên của hội nghị thượng đỉnh Nga - Hoa về thương măi và năng lượng. Đồng thời người ta cũng thấy xuất hiện một số bộ trưởng trong chính phủ W. Bush như ông Donald Evans, bộ trưởng Bộ Thương Măi và ông Spencer Abraham, bộ trưởng Bộ Năng Lượng cùng nhiều nhân viên cao cấp khác trong chính quyền hiện tại. Mục tiêu chính của buổi họp thượng đỉnh nầy là để thảo luận việc nhập cảng thêm dầu hỏa của Nga - một loại hàng chiến lược - vào thị trường Hoa Kỳ, trước khi hai bên có thể đi đến việc đặt nền móng cho một sự hợp tác về vấn đề năng lượng hầu mang đến sự ổn định lâu dài và an ninh cho thị trường dầu hỏa thế giới. Một vấn đề quan trọng nữa là các thành viên trong hội nghị thượng đỉnh nầy sẽ thảo luận về tương lai của Iraq, nhất là về quyền lợi của Hoa Kỳ và Nga về dầu hỏa tại nơi đây, một khi Saddam Hussein bị lật đổ. Những người Nga đến tham dự hội nghị thượng đỉnh nầy đều là ủy viên cao cấp trong ban quản trị các công ty dầu hỏa Nga, trong đó xen lẫn một số công ty có kư hợp đồng với Iraq, nên họ cần theo dơi chính sách của Hoa Kỳ đối với chính quyền Saddam Hussein một cách rất là thận trọng. Họ rất lo ngại là nếu có chiến tranh xảy ra và sau khi Saddam Hussein bị hạ bệ, th́ quyền lợi dầu hỏa của Nga tại Iraq sẽ bị tiêu tan, nên họ đang cố gắng t́m cách móc nối với môt số thủ lănh thuộc phe đối lập của Iraq - để khi có tân chính phủ Iraq ra đời - th́ họ cũng sẽ được mời tham dự vào vào các cuộc thảo luận chia sẻ quyền lợi về dầu hỏa với các nước đồng minh tham chiến cùng với Hoa Kỳ để lật đổ Saddam.

        8. Nguồn Dầu Hỏa Phi Châu Xích Đạo.

        Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh vào năm 1991, đại diện của Liên Xô Primakov đă công khai ủng hộ Saddam Hussein trong khi đó vẫn đi theo Đồng Minh nhưng không tham gia cuộc chiến; nhưng rồi sau đó - khi cuộc chiến đă tàn - th́ Liên Xô là nước được thủ lợi nhiều nhất. Giờ đây, trước bầu không khí sôi nổi là Hoa Kỳ và Anh quốc có thể lănh đạo cuộc chiến tranh "hạ bệ" Saddam Hussein, th́ Nga lại muốn dùng lại chiến thuật của Primakov mười hai năm trước đây để hưởng lợi của cả hai bên. Một mặt th́ tổng thống Putin - kéo theo Pháp - nhất định cản trở việc Hoa Kỳ được tự do đơn phuơng hành động nếu Liên Hiệp Quốc không đồng ư dùng biện pháp mạnh đối với Iraq. Mặt khác th́ Putin lại phái một số "tài phiệt dầu hỏa" - tay chân bộ hạ của y - qua họp thượng đỉnh về thương măi và năng lượng giữa Nga và Hoa Kỳ để gài Hoa Kỳ vào thế làm quảng cáo không công cho Nga trên thị trường dầu hỏa thế giới mà từ trước tới nay rất ít quốc gia biết đến, để rồi từ đó vươn lên trên thị trường dầu hỏa quốc tế, qua sự đỡ đầu của Hoa Kỳ. Putin hy vọng rằng nếu Nga càng chống đối mạnh việc để cho Hoa Kỳ rảnh tay "xử lư" vụ Iraq, th́ 'sứ mạng" của phái đoàn đại diện cao cấp các công ty dầu hỏa Nga sẽ thành công ở Houston; và chỉ khi đó Putin mới chịu để cho Hoa Kỳ thanh toán Saddam Hussein theo ư muốn của họ và Putin sẽ được ngồi vào bàn hội nghị để chia lợi dầu hỏa của Iraq. C̣n nếu phái đoàn "dầu hỏa Nga" thất bại trong cuộc điều đ́nh th́ Putin sẽ ra lệnh cho đại diện của y trong Hội Đồng "Bảo An" Liên Hiệp Quốc phải chống đối đến cùng việc để cho Hoa Kỳ tự do hành động ở Iraq.  Trở về hội nghị thượng đỉnh Nga - Hoa Kỳ về thương măi và năng lượng, chúng ta thấy Nga đă đưa qua Hoa Kỳ một phái đoàn hùng hậu, gồm những nhân vật có quyền hành nhất trong hậu trường nước Nga v́ xuất cảng dầu hỏa và hơi đốt của họ chiếm 40% xuất cảng của toàn thể nước Nga.. Thành thử ở Nga dân gian thường nói: "Khi các "tay tổ dầu hỏa" nói là tổng thống Putin nghe liền". Và các "tay tổ dầu hỏa Nga" th́ rất mong muốn được các công ty dầu hỏa lớn của Hoa Kỳ chấp nhận cho "theo đuôi" họ để làm ăn trên khắp thế giới. Họ cũng đă biết rằng trước kia họ làm ăn rất lem nhem và rất hay lương lẹo; nhưng nay th́ nhờ cấp lănh đạo các công ty dầu hỏa Nga được trẻ trung hóa, biết làm "trong sáng ngành kế toán", nên đă lấy lại được sự tin tưởng của giới dầu hỏa quốc tế mà nhất là của Hoa Kỳ, trước khi họ xin tham gia vào thị trường chứng khoán quốc tế, để rồi từ đó được chung vốn dài hạn với các công ty Hoa Kỳ.  Không phải cấp lănh đạo dầu hỏa Nga chỉ mong được Hoa Kỳ chấp nhận cho tham gia vào sinh hoạt của họ để rồi từ đó nhờ vào kỹ thuật tân tiến của Hoa Kỳ về dầu hỏa để cải tiến nền kỹ nghệ dầu hỏa thô sơ của Nga mà thôi, mà họ c̣n muốn được xáp gần với Hoa Kỳ hơn nữa là v́ họ luôn luôn bị ám ảnh về tính chất hay thay đổi của nền chính trị nước Nga và có thể đưa đến viễn ảnh của một cuộc quốc hữu hóa phen nữa cũng nên. Cũng v́ có sự bấp bênh trong nền chính trị của Nga, cho nên các người cầm đầu các công ty dầu hỏa Nga mong có cơ hội để "bán đứng" Saddam Hussein, để rồi từ đó được Hoa Kỳ thưởng cho một ít cổ phần dầu hỏa của Iraq. V́ họ chủ trương phải luôn luôn dựa vào thế liên minh với Hoa Kỳ trong lănh vực dầu hỏa, cho nên trong mấy tháng vừa qua, họ đă liên lạc chặt chẽ với cấp lănh đạo các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ để nhấn mạnh với giới nầy là họ "tán thành" sự chủ trương của Hoa Kỳ nhằm tiến đến việc truất phế Saddam Hussein ở Iraq. Và họ nhấn mạnh trong cuộc vận động nầy là họ không đ̣i hỏi ǵ hơn được Hoa Kỳ chấp nhận cho họ được chung vốn với các công ty dầu hỏa Hoa Kỳ. Họ cũng đưa ra viễn ảnh một sự hợp tác dài lâu giữa Nga và Hoa Kỳ về dầu hỏa: Nga xuất cảng mỗi ngày 5 triệu thùng dầu hỏa (mỗi thùng có thể tích vào khoảng 150 lít) và sau khi chiếm xong Iraq th́ tân chính phủ Iraq sẽ xuất cảng mỗi ngày 4 triệu thùng dầu, cọng lại là 9 triệu thùng dầu cho mỗi ngày; trong khi đó dầu hỏa của Ả Rập Saudi xuất cảng mỗi ngày chỉ có 8 triệu thùng dầu, thành thử Hoa Kỳ sẽ khỏi lo bị Ả Rập Saudi cấm vận về dầu hỏa trong tương lai, nếu Hoa Kỳ và Nga nắm tay nhau chặt chẽ trong vấn đề khai thác dầu hỏa trên thế giới.

        Mặc dầu tổng thống W. Bush và thân sinh của ông ta đều ở trong "Lốp By Dầu Hỏa Hoa Kỳ", nhưng rất có thể chủ trương của ông đánh Iraq không phải hoàn toàn v́ vấn đề dầu hỏa Iraq; v́ ngoài Trung Đông ra, Hoa Kỳ c̣n có những nơi cung cấp dầu hỏa khác, đă gần mà lại c̣n bảo đảm không có ai tranh dành: đó là Vùng Phi Châu Xích Đạo. Chính quyền Bush rất tế nhị là không bao giờ hô hoán với thế giới là họ rất chú ư đến dầu hỏa Phi Châu, v́ sợ làm mếch ḷng các nước sản xuất dầu hỏa ở Trung Đông, đồng thời cũng muốn tránh lời dị nghị của dân các nước Phi Châu có dầu hỏa cho rằng Hoa Kỳ chú trọng nhiều đến nước của họ là v́ dầu hỏa mà thôi. Nhưng chú trọng về dầu hỏa th́ đă sao? Trên đời nầy chả có ai có thể lấy thúng úp voi được, kể cả Hoa Kỳ, nhất là mới đây, ngoại trưởng Colin Powell đă qua thăm viếng xă giao Angola và Gabon, hai nước xuất cảng dầu hỏa mạnh nhất qua Hoa Kỳ. Cũng xin lưu ư bạn đọc đây là lần đầu tiên mà một vị bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đến thăm nước Gabon. Dầu hỏa Phi Châu có nhiều điểm thuận tiện đối với Hoa Kỳ hơn các nơi khác v́ các mỏ dầu - phần lớn đều nằm dưới ḷng Đại Tây Dương và gần bờ bể của miền Tây Phi Châu - nên chuyên chở rất thuận tiện cho Hoa Kỳ hơn dầu hỏa vùng Vịnh hay vùng bể Lư Hải (Caspian Sea ). Từ trước tới nay, Phi Châu là nơi ít khi được các nhà ngoại giao Hoa Kỳ chú ư tới, v́ mỗi khi đề cập đến Phi Châu là mọi người đều liên tưởng đến bệnh AID, đến loạn lạc, đói khổ. Trên mặt đất của Phi Châu, khi mới nh́n vào th́ thấy ghê tởm như vậy, nhưng dưới ḷng đất của châu nầy th́ lại chứa đầy ắp dầu hỏa chưa được khai thác, hay có khai thác th́ cũng rất dễ. Trong vùng Phi Châu Xích Đạo, chỉ có Nigeria là hội viên của "Tổ Chức Các Nước Xuất Cảng Dầu Hỏa" (OPEC) mà thôi, c̣n sự xuất cảng dầu ở các nước khác th́ không bị ràng buộc vào bất cứ một tổ hợp nào cả. Trước kia Gabon cũng có chân trong OPEC, nhưng đă ra khỏi tổ chức nầy kể từ 1995, nên lệnh cấm vận của OPEC không có ảnh hưởng ǵ đối với Gabon cả. Hoa Kỳ cũng đă có nhiều cố gắng để giảm thiểu quyền hành của OPEC bằng cách vận động với một số quốc gia rút chân ra khỏi tổ chức nầy. Và để chứng tỏ Hoa Kỳ đang chú ư rất nhiều về Phi Châu, tổng thống W. Bush đă phái ngoại trưởng Colin Powell qua thăm viếng xă giao một số quốc gia Phi Châu đang khai thác dầu hỏa như Angola, Gabon và Sudan, trong thượng tuần tháng 9 vừa qua. Chính ông bộ trưởng Bộ Năng Lượng Spencer Abraham đă từng tuyên bố - vào tháng 6 năm nay - với Ủy Ban Giao Dịch Quốc Tế của quốc hội: "Năng lượng đến từ Phi Châu sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trong vấn đề an toàn về năng lượng của chúng ta". Mặc dầu hiện nay Phi Châu chưa sẵn sàng cho lắm trong vấn đề bù trừ sự thiếu hụt phần nào về nhiên liệu nếu có chiến tranh với Iraq, nhưng dầu hỏa Phi Châu sẽ làm nhẹ bớt sự thiếu hụt này trong khi Hoa Kỳ chờ đợi t́m được sự cung cấp nhiên liệu ở một nơi khác. Hiện nay Phi Châu cung cấp 15% số lượng nhập cảng dầu hỏa của Hoa Kỳ và con số nầy có thể c̣n tăng cao hơn nữa khi Hoa Kỳ quyết định thiết kế một ống dẫn dầu mới nối liền miền Nam nước Chad với một số hải cảng nằm dọc theo bờ Đại Tây Dương của vùng Phi Châu Xích Đạo. Giới khai thác dầu hỏa quốc tế tiên đoán là trong thập niên tới đây - với sự khai thác các giếng dầu dự trữ ngoài khơi Đại Tây Dương chạy dọc theo bờ bể miền Tây Phi Châu, th́ Phi Châu sẽ vượt qua số lượng dầu được sản xuất trong vùng Bắc Hải (North Sea) thuộc Miền Bắc Âu Châu; và khi đó số lượng dầu hỏa nhập cảng vào Hoa Kỳ trong vùng nầy sẽ lên đến 25% và sẽ giảm bớt sự lệ thuộc của Hoa Kỳ về dầu hỏa của Ả Rập Saudi, khi mà không khí chính trị giữa 2 nước đi đến mức "cơm không lành, canh không ngọt" nữa, sau vụ khủng bố 11 tháng 9, 2001. Hoa Kỳ cũng dư biết là muốn cho sự cung cấp dầu hỏa được thường xuyên và an toàn th́ phải có nhiều nơi cung cấp, nên đối với Hoa Kỳ, nguồn dầu hỏa Phi Châu Xích Đạo rồi đây sẽ trở nên quan trọng hơn dầu hỏa của Nga.

        Sau khi ông Bush ra điều trần trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, th́ sau đó ông đă tiếp xúc với các thủ lănh của mười quốc gia Phi Châu ngay tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc và thúc đẩy họ nên ủng hộ các hiệp nghị nhằm chấm dứt các vụ xung đột xảy ra ở Congo và các nơi khác ở Phi Châu, đồng thời yêu cầu họ tiếp tay trong vấn đề chống nạn khủng bố. Tổng thống W. Bush cũng cho các vị đó biết chương tŕnh thăm viếng Phi Châu của ông vào khoảng đầu năm 2003, và sẽ viếng thăm Nigeria, nước sản xuất dầu hỏa lớn nhất trong vùng Phi Châu Xích Đạo và cũng là nước đứng vào hàng thứ 5 về xuất cảng dầu hỏa qua Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng có dự trù việc mở lại lănh sự quán Hoa Kỳ tại Guinea Xích Đạo, đă bị đóng cửa vào thập niên 1990 v́ lư do thiếu hụt tài chánh; nhưng nay văn pḥng sắp được mở cửa lại v́ một số công ty dầu sắp đến hoạt động tại quốc gia nầy sau khi một số giếng dầu mới vừa được phát hiện ở ngoài khơi của Guinea Xích Đạo. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng đă dự trù xây một đại sứ quán tại thủ đô Luanda của nước Angola, và trong cuộc viếng thăm Luanda, ngoại trưởng Colin Powell đă thốt ra một câu nói rất ngắn nhưng bất hủ đối với nhân viên ṭa đại sứ: ".....nhưng chúng ta đến nơi đây để mà ở lại". Dầu hỏa c̣n th́ Hoa Kỳ c̣n ! "Phi Châu nhất đái, vạn đại dung thân mà !" Biết đâu ông ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin Powell là hậu duệ của Cụ Trạng Tŕnh nhà ḿnh cũng nên, c̣n dầu th́ Hoa Kỳ c̣n, hết dầu th́ Hoa Kỳ rút. Trong Quốc Hội cũng như ở Ngũ Giác Đài, đă có sự thảo luận về việc tăng gia trao đổi quân sự với một số quốc gia trong vùng Tây Phi Châu, để rồi tiến tới viêc thành lập một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trên đảo mà cũng là nước Săo Tomé nằm trong vịnh Guinea của Tây Phi Châu. Trong cuộc gặp gỡ các lănh tụ Phi Châu, nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ ít khi thảo luận về vấn đề dầu hỏa, nhưng hay nhấn mạnh đến các vấn đề tranh chấp địa phương, giảm thiểu nạn tham nhũng, bảo vệ nhân quyền, gia tăng việc xây cất trường ốc, bành trướng an sinh xă hội qua chương tŕnh viện trợ mới của chính phủ Hoa Kỳ lấy tên là "Millennium Challenge Account".  Hiện giờ tất cả các nước sản xuất dầu hỏa ở Phi Châu đang cố gắng tăng năng suất các mỏ của họ lên. Giờ đây Nigeria sản xuất hằng ngày 2.2 triệu thùng dầu mỗi ngày và dự trù tăng năng suất của họ lên 3 triệu thùng vào năm 2007. Nước Chad - dưới miền Nam sa mạc Sahara - dự trù sản xuất mỗi ngày 225,000 thùng một khi ống dẫn dầu chạy qua Cameroon, nối liền Chad với bờ bể Đại Tây Dương được hoàn tất vào năm 2004. Nước Guinea Xích Đạo tuy nhỏ, nhưng cũng đang cố gắng tăng gấp đôi năng xuất của họ lên 350,000 thùng mỗi ngày, trong ṿng 3 năm nữa.  Những chuyên gia dầu hỏa dự trù là trong ṿng 5 năm tới đây, một phần tư số lượng dầu được khai thác ngoài các quốc gia vùng vịnh Persian sẽ đến từ Tây Phi Châu; lúc đó  không khí chính trị trong vùng nầy sẽ trở nên phức tạp, nhưng vấn đề chuyên chở lại dễ dàng hơn, đó là nhận xét của ông Daniel Yergin, chủ tịch "Viện Nghiên Cứu Năng Lượng Cambridge". Liệu rồi đây Hoa Kỳ có dám chấp nhận cho Nga trở nên một thành viên của "lốp by dầu hỏa quốc tế" hay không? Và rồi đây, liệu Hoa Kỳ có đối phó nổi với bản chất tráo trở, rất dễ phản phúc của tập đoàn cai trị nước Nga, thoát thai từ mật vụ KGB của Liên Bang Xô Viết hay không?. Trước khi Liên Bang Xô Viết tan ră, lúc nào Hoa Kỳ cũng chỉ coi Phi Châu là một nơi mà loạn lạc không bao giờ chấm dứt và Hoa Kỳ chỉ lo "bơm" tiền vào tài trợ cho một số quốc gia chống cộng như Jonas Savimbi nổi loạn chống lại chính quyền thân cộng ở Angola. Trong thập niên 1990, chính quyền Clinton có một vài cố gắng trên phương diện trao đổi mậu dịch và đầu tư ở Phi Châu, đồng thời mở chiến dịch chống lại hiểm họa lan tràn của bệnh AID, và chỉ có thế thôi, chứ không bao giờ nghĩ đến rồi đây Phi Châu có thể trở nên một lục địa có tầm chiến lược rất là quan trọng đối với Hoa Kỳ, v́ dưới ḷng đất Phi Châu có rất nhiều mỏ dầu hỏa. Nhưng liệu rồi đây dầu hỏa Phi Châu - trong tương lai - sẽ làm lợi cho nhân loại, hay lại chỉ làm béo bổ cho một số lănh tụ thối nát, tham nhũng như ở Trung Đông, c̣n dân chúng th́ vẫn nghèo khổ, vẫn đói rách như từ trước đến nay? Và đó là sự hên xui của dân tộc Phi Châu.  Nhân viên của chính phủ Hoa Kỳ cũng đồng ư là quốc gia càng ổn định th́ sản xuất dầu càng gia tăng và đồng thời cũng khuyến khích sự đầu tư và trao đổi mậu dịch. Đối với họ, trong khi các nước xuất cảng dầu hỏa như Venezuela và Colombia ở Nam Mỹ đang lâm vào cảnh hỗn loạn, bất ổn của nội chiến, th́ một số quốc gia Phi Châu - trong đó có Angola và Congo - đang đi dần đến ổn định sau cuộc nội chiến. Nếu các vị lănh đạo các quốc gia dầu hỏa biết dùng tiền thâu được khi khai thác dầu để cải thiện đời sống vật chất và học vấn của người dân trong nước thay v́ kư thác tiền nầy vào các chương mục riêng của họ trong các ngân hàng Thụy Sĩ, th́ việc khai thác dầu sẽ trở nên hữu hiệu vô cùng ,v́ ai ai cũng nức ḷng làm việc cho quốc gia dân tộc của họ. Giờ nầy Cộng  Sản Việt Nam có học bài học nầy th́ cũng đă muộn.

       9. "Đồng Minh Chiến Lược"

        Sau khi Liên Xô sụp đổ, vào khoảng đầu thập niên 1990, nước Nga là nơi dụng vơ của một loại tư bản quá độ, để rồi từ đó sản xuất ra một loại nhà thầu trẻ, chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm sao cho ra tiền, bất chấp luân lư đạo đức. Trước sự kiện đó, dân chúng đâm ra thù ghét loại chế độ tư bản đê tiện, luồn cúi đó; để rồi phát sinh ra một mối thất vọng năo nề đối với khái niệm tự do kinh tế, và ḷng mong muốn trở về lại nền kinh tế chỉ huy dưới thời Liên Xô của một số đông quần chúng chán chường. Hơn nữa người dân Nga rất mong muốn chính quyền thực hiện nhiều sự cải cách về phương diện xă hội trước khi đề cập đến việc chuyển hướng đi của đất nước qua nền kinh tế thị trường. V́ trong hiện tại của thời buổi đó, viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ và của Tây Âu chả có giúp ích ǵ cho sự phát huy dân chủ và sự chuyển hướng của nước Nga về nền kinh tế thị trường. V́ quá tin tưởng vào Yeltsin nên chính quyền Clinton đă để cho Nga thao túng và đặt lại nền móng đô hộ ngầm trên các nước cựu chư hầu khi c̣n Liên Bang Xô Viết, trừ ba tiểu quốc trong vùng bể Baltic là Lithuania, Latvia và Estonia. Nếu cựu TT Clinton không thiên vị đối với TT Yeltsin, th́ việc đầu tiên ông phải hành động là làm cho cân bằng thế lực của Nga trong các nước vừa mới được độc lập như Ukraine, Azerbaidjan, Kazakhstan và Turkmenistan, nhất là 3 nước liệt kê sau lại có tiềm năng kinh tế về dầu hỏa rất là vĩ đại. Riêng về Ukraine không thôi cũng có thể dùng làm "đối trọng chiến lược" khi Nga có manh nha xây mộng bá quyền trong vùng. Rất tiếc là chính quyền Clinton tuy có tỏ thái độ ủng hộ những nước này, nhưng chỉ làm cho có lệ mà thôi; trong khi đó th́ dân chúng tại các nước vừa mới được độc lập rất mong thoát khỏi ách đô hộ của Nga kể từ các triều đại Sa Hoàng từ thế kỷ thứ XVIII và XIX. Đối với các nước Tây Phương, các nước cựu chư hầu của Liên Xô rất được sự chú ư của họ về phương diện kinh tế trong tương lai. Không hiểu có một lư do bí mật nào thúc đẩy khiến cho cựu TT Clinton lại hành động như vậy chứ theo truyền thống xưa nay của Hoa Kỳ th́ họ luôn luôn tích cực ủng hộ những dân tộc bị đô hộ mà muốn đứng lên tranh đấu dành độc lập, thoát khỏi sự kềm kẹp của các nước thực dân, mặc dù trong đó có những nước rất thân với Hoa Kỳ. Trong khi đó th́ Tổng Thống Yeltsin lại dùng một phần viện trợ đó để tiếp tục cho bằng được cuộc chiến tranh không lối thoát ở Chechnya. và cũng v́ vậy mà càng ngày dân chúng Nga càng oán hận các nước Tây Phương mà nhất là Hoa Kỳ, mặc dầu các nước này đă có nhiều cố gắng để giúp đỡ họ. Trong nhiệm kỳ đầu của ông - từ 92 đến 96 - cựu TT Clinton thường hay khoe với báo chí là ông ta rất tự hào về thành quả tốt đẹp đă đạt được trong sự giao hảo đối với Nga, và nhất là đối với Tổng Thống Yeltsin, một người nhiệt thành yêu chuộng dân chủ, và có thể đưa nước Nga vào con đường kinh tế thị trường. V́ ông ta quá tin vào Yeltsin nên ông Clinton đă bị hố to. Riêng đối với Yeltsin và chính phủ của ông ta, th́ chính quyền Clinton đă tỏ ra quá rộng lượng khi cho rằng họ cũng "dân chủ" như các nước Tây Phương. Đành rằng Yeltsin được bầu lên qua một cuộc bỏ phiếu của dân Nga chọn ông ta c̣n hơn chọn một ông tổng thống đảng viên Cộng Sản, nhưng sự tham chứng dân chủ của ông ta đến đây là chấm dứt v́ ông ta tỏ thái độ và hành động coi khinh quốc hội cũng được dân bầu như ông ta. Thói quen của Yeltsin là lấy những quyết định liên quan đến chính trị trong một môi trường hoàn toàn bí mật, với một số cố vấn tin cậy mà thôi. Ông ta thiếu trung thực với dân Nga khi ông tuyên bố nhiều lần trên đài truyền h́nh là cuộc chiến ở Chechnya đă chấm dứt, nhưng kỳ thật chiến tranh tại nơi này vẫn tiếp diễn đều đều. Đặc biệt là Tổng Thống Yeltsin rất ưa dùng "biện pháp mạnh" để giải quyết một số vấn đề như dội bom xuống Chechnya, hay pháo kích vào trụ sở Quốc Hội. Ngay trong nước Nga dân chúng cũng bảo ông ta chả dân chủ tư nào cả v́ chỉ chấp nhận cho 2 người đảng viên Cộng Sản được ứng cử tổng thống mà thôi.

        Ngay cho đến bây giờ, Nga vẫn chưa phải là một nước dân chủ theo tiêu chuẩn của Tây Phương. V́ sao? Một nước có dân chủ không phải là v́ nước ấy có tổ chức bầu cử mà bắt buộc nước ấy phải có một hệ thống chính quyền có những cơ quan được đặt ra để bảo vệ những giá trị tinh thần mà một xă hội tự do và có kỷ luật thiết tha đ̣i hỏi. Từ sau khi "chiến tranh lạnh" chấm dứt cho đến nay, Nga tự coi ḿnh là một nước dân chủ, nhưng thật sự chỉ dân chủ ở bề ngoài để mị dân và gạt quốc tế mà thôi. Tuy nhiên ông Clinton vẫn khư khư cho rằng khi mà chiến tranh lạnh chấm dứt, th́ sau đó Nga sẽ trở thành một quốc gia "đồng minh chiến lược" với Hoa Kỳ, trên phạm vi toàn cầu. Và ông ta đă bị "hố" quá nặng. V́ không những Nga không giúp được ǵ trong việc giải quyết những vấn đề trọng đại trên hoàn cầu kể từ khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mà Nga đă ngoảnh mặt làm ngơ không bao giờ chịu hợp tác trong bất cứ mọi dàn xếp nào mặc dầu có sự vận động và cổ xúy của quốc tế, trừ phi sự dàn xếp đó có mang quyền lợi thiết thực đến cho Nga, chỉ có thế thôi. Sự việc này thường xảy ra trong lănh vực bán vũ khí và xuất cảng những nguyên liệu hạch tâm mà Nga có một thế đứng rất vững chắc trên thị trường quốc tế. Nhưng cũng có một trường hợp ngoại lệ xảy ra - tuy không được mời tham gia vào cuộc chiến ở Kosovo (Nam Tư ), nhưng Nga cũng "muối mặt" gởi một tiểu đoàn Dù vào chiếm một khoảnh đất trong phi trường Pristina, đặt Đồng Minh trước một sự đă rồi. Sở dĩ có chuyện Nga nhảy vào "ăn có, chia phần" như vậy là v́ ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, Nga đă từng nuôi mộng bành trướng lănh thổ vào vùng Ba Nhĩ Cán (Balkans ), nhưng luôn luôn bị các nước Tây Phương cản mũi. V́ nhu cầu chiến lược và văn hóa, Nga vẫn luôn luôn nuôi mộng bành trướng lănh thổ xuống miền nam dưới thời Liên Bang Xô Viết hay sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt. Mặc dầu thành tích dân chủ của Yeltsin rất kém, nhưng chính quyền Clinton vẫn coi ông ta là người tiêu biểu cho dân chủ nhất của nước Nga. Tai hại nhất là Hoa Kỳ đă xử dụng viện trợ kinh tế để ủng hộ ông ta, và như vậy đă vô t́nh hạ thấp giá trị dân chủ xuống, và làm cho dân Nga tưởng rằng dân chủ là tất cả những cảnh lộn xộn họ đang thấy xảy ra trước mắt khiến cho họ mơ ước được trở lại sống dưới một chế độ độc tài như chế độ của Liên Xô thời xưa. Trái lại, Nga không bao giờ hợp tác hay nhiều khi lại c̣n chận đứng sự có mặt của một số nước Tây Phương trong những vùng mà Nga đă có sẵn một thế đứng chiến thuật như ở IranIraq hay trong vùng Cáp Ca (Caucasus ). Tại những vùng đất này, đường lối chính trị của Nga không phải chỉ giải ly đối với đường lối chung của cộng đồng quốc tế thôi đâu, trái lại Nga c̣n có những hành động chống đối lại là khác. Nga đă công khai giúp đỡ hai nước Iran và Iraq bằng cách bán vật liệu hạch tâm và một số tiềm thủy đĩnh cho Iran, trong khi đó th́ cộng đồng quốc tế đă có nhiều hành động nhằm cô lập hóa nước này. Trong vùng Cáp Ca (Caucasus) th́ Nga công khai ra mặt xúi dục các tiểu quốc trong vùng luôn luôn gây hấn lẫn nhau để cho Nga thủ lợi v́ nước nào cũng cần sự bảo vệ của Nga. Đồng thời Nga cũng luôn luôn cố gắng ngăn chận không cho bất cứ một quốc gia nào ngoài vùng Cáp Ca (Caucasus )có manh nha ảnh hưởng vào nội t́nh của các nước trong vùng này, v́ Nga cho rằng các nước này trước đây đều ở trong Liên Bang Xô Viết trước khi Liên Bang này tan ră, thành nay Nga tự xem ḿnh là nước duy nhất có quyền lănh đạo và bảo vệ họ mà thôi. Đồng thời Nga xúc tiến mạnh mẽ việc siết chặc bang giao với Trung Cộng qua việc kư kết hiệp ước tương trợ lẫn nhau tại Bắc Kinh dưới thời Yeltsin, và nay Nga,Trung Cộng  lại  kư một hiệp ước hỗ tương giữa đôi bên vào tháng 6, 2001 tại Mạc Tư Khoa, dưới trào Putin. Những vận động ngoại giao này xảy ra dưới mắt một cộng đồng quốc tế đang t́m cách buộc Trung Cộng nên có một đường lối ḥa hoăn hơn trước.

        Trong năm cuối cùng nhiệm kỳ tổng thống của ông, Yeltsin - v́ muốn ganh đua mị dân với hai cánh quốc gia và cộng sản trong quốc hội - cũng đă bắt chước hai phe này đưa ra một chương tŕnh nhắm phục hồi lại quyền uy của thời cực thịnh giả tạo, chỉ có cái vỏ bên ngoài, dưới thời Liên Bang Xô Viết. Và sự quan hệ giữa Nga với tiểu quốc Bielorussia đă trở nên căn bản cho sự phục hồi quyền lợi xa xưa của nước Nga. Tổng Thống Yeltsin cũng bị thời cuộc bắt buộc phải xếp hàng theo một số điểm trong chương tŕnh mị dân của đảng Cộng Sản và đă đi xa dần chủ trương tự do dân chủ mà các nước Tây Phương mong muốn ở nơi nước Nga, sau sự sụp đổ của Liên Xô. Để làm cho t́nh h́nh khẩn trương thêm, sự im lặng của chính quyền Hoa Thịnh Đốn trước sự ngụy tạo tin tức của chính phủ Yeltsin liên quan đến cuộc chiến Chechnya, đă bôi nhọ không những Hoa Kỳ mà ngay cả khối thế giới Tự Do. Khi ông Clinton cho rằng chiến tranh Chechnya là một vấn đề "nội bộ" của nước Nga th́ ông đă phản lại tất cả những ǵ thế giới tự do đă từng tranh đấu suốt nửa thế kỷ nay để phát huy cho kỳ được nhân quyền. Và giọt nước đă làm tràn ly nước lúc cựu Tổng Thống Clinton ví cuộc chiến tranh ở Chechnya như cuộc chiến tranh Nam-Bắc của Hoa Kỳ, làm cho toàn thế giới trở nên im lặng v́ quá bẽ bàng. Sự dửng dưng của Hoa Kỳ và của Tây Âu đối với cuộc chiến ở Chechnya đă làm cho toàn thế giới Tự Do đặt ra câu hỏi: "Phải chăng thế giới tự do có đặt ra một tiêu chuẩn riêng đối với nước Nga khác với tiêu chuẩn đối với các nước khác trên thế giới trong một trường hợp tương tự ?" Và nếu quả thật là như thế, th́ hành động này sẽ đẩy nước Nga càng ngày càng đi vào con đường xấu mà thôi! Đồng thời cũng làm mất hết giá trị những nguyên tắc mà các nước trong khối Thế Giới Tự Do đă từng bảo vệ hết ḿnh trong suốt thời gian chiến tranh lạnh. Thành thử đối với Yeltsin th́ chỉ nên đứng xa y và xem y hành động, để rồi khuyến khích y khi y đi đúng đường lối, và cảnh cáo y khi y đi lạc hướng, th́ đó mới là thượng sách và hữu hiệu nhất. Cũng v́ các nước trong khối Thế Giới Tự Do không buộc Nga phải tôn trọng những nguyên tắc Dân Chủ khi viện trợ cho nước nầy, thanh thử Tổng Thống Yeltsin mới tha hồ làm mưa làm gió trên chính trường nước Nga, nhất là khi Hoa Kỳ cho hay cuộc chiến tranh xâm lăng Chechnya có thể chấp nhận được nếu không gây quá nhiều chết chóc. Lời tuyên bố này đă làm nhục Hoa Kỳ và các nước Tây Phương. Nếu trong tương lai nước Nga cũng có những hành động xâm lăng tương tợ như vụ Chechnya, th́ chắc chắn là khối thế giới tự do khó ḷng mà lên án họ được. Giờ đây th́ dư luận quốc tế đă thấy rơ lỗi lầm của cựu Tổng Thống Clinton khi dùng Yeltsin để phát huy dân chủ và mở rộng kinh tế thị trường ở Nga, nhất là sau khi thấy ông ta điều khiển đất nước Nga một cách độc tài, độc đoán như vậy, thử hỏi c̣n người dân Nga nào dám tin tưởng vào những lời của ông hô hào cổ vơ cho khái niệm dân chủ và kinh tế thị trường! Nói tóm lại, một đàng viện trợ kinh tế Tây Phương - v́ không biết xử dụng - nên đă trở thành một món quà có tẩm thuốc độc đối với một nước nặng đầu óc "bài ngoại" như nước Nga, một đàng Tổng Thống Yeltsin đă chứng minh quá tồi tệ khi y cầm lá cờ dân chủ đi tiên phong.

       10. "Đối Thủ Chiến Lược"

        Sau khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ, ông W. Bush thành lập chính phủ, nhưng theo một đường lối rất đặc biệt là dành ưu tiên cho những nhân vật chủ trương đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Thông thường đối với những ông tổng thống tiền nhiệm, thành phần chính phủ thường được chọn trong hàng ngũ của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại (Council On Foreign Relations ) gọi tắt là "CFR", mà chỉ có một số ít người biết đến. Và chính thành phần thành viên của Hội Đồng này mới là quan trọng, chứ phân biệt người này thuộc đảng Cộng Ḥa, kẻ kia thuộc đảng Dân Chủ chỉ là giả tạo hết.  Đô Đốc Chester Ward, một thành viên kỳ cựu của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại (CFR ) có viết từ năm 1971 về hội đồng này như sau: "Năm nay kỷ niệm năm thứ 40, ngày chúng ta thành lập Hội Đồng. Từ 40 năm nay, những vị chỉ đạo của chúng ta hầu như đă kiểm soát toàn diện chính sách ngoại giao và quốc pḥng của Hoa Kỳ. Từ 1928 cho đến năm nay, chín trên số mười hai vị tổng thống Hoa Kỳ là thành viên của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại (CFR ),và nếu J.F. Kennedy không phải thành viên của Hội Đồng, toàn thể thành phần trong nội các của ông ta đều ở trong Hội Đồng...Từ 1934 cho đến thời đại Kissinger... tất cả các bộ trưởng Ngoại Giao, bộ trưởng và thứ trưởng Quốc Pḥng (trừ 2 người ), các tham mưu trưởng Liên Quân, các giám đốc Trung Ương T́nh Báo (CIA ), những vị điều khiển ngành truyền thông....tất cả đều là thành viên của Hội Đồng..."

       Từ năm 1978 đến nay hay là 24 năm qua , đây là lần đầu tiên mà 22 vị bộ trưởng trong chính phủ của Tổng Thống George W. Bush không do 70% cho đến 75% thành viên của  Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại (CFR ) nắm giữ như dưới thời cựu Tổng Thống Clinton, mà chỉ có 4 vị thôi: Dick Cheney (Phó Tổng Thống ),Colin Powell (Ngoại Giao ),Condoleeza Rice (Hội Đồng An Ninh Quốc Gia )và Christine Todd Whitman (Môi Sinh ).Bốn vị kể trên đây đều thuộc về "cánh Hữu" của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại. Họ chống "chủ nghĩa xă hội" và cũng chống luôn "cánh Tả" thiên Cộng. Trong cựu chính quyền Clinton, 75% thành phần chính phủ là thành viên "cánh Tả" của Hội Đồng. Không có một thành viên nào thuộc "cánh Hữu" của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại nằm trong chính phủ Clinton. Thành phần các vị bộ trưởng thuộc CFR của chính phủ W.Bush:

       - DICK CHENEY, Phó Tổng Thống, có thể nói là viên quản lư của chính phủ W. Bush. Ông ta đă qui tụ khoảng năm mươi cố vấn chung quanh ông và chủ tọa một hội đồng mà mục tiêu là theo dơi thường xuyên những hoạt động của Ngũ Giác Đài, của bộ Ngoại Giao, của Trung Ương T́nh Báo CIA, và của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; một vai tṛ mà cựu Phó Tổng Thống Gore dưới trào Clinton không được ủy thác. Bộ ba Cheney, Powell, Rice làm việc với nhau rất chặt chẽ v́ ông Powell và bà Rice đều biết đóng vai tṛ phụ tá cho ông Cheney một cách kín đáo nhưng rất hữu hiệu, mặc dầu bà Rice rất được tổng thống Bush lắng nghe. Một đặc điểm của hội đồng nầy là: Không Chấp Nhận Chủ Nghĩa Xă Hội  Bất Cứ Dưới H́nh Thức Nào.

       - CONDOLEEZA RICE, Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, có lập trường dứt khoát - đối nghịch lại với chủ trương của cựu TT Clinton - khi bà ta tuyên bố "đối với thế giới bên ngoài chúng ta không c̣n là số điện thoại 911 nữa" (911 là số điện thoại kêu cứu ở Hoa Kỳ). Rồi bà nói tiếp: "Vai tṛ của binh sĩ chúng ta không c̣n là vai tṛ của một bà vú đưa đón con em chúng ta đến tận cổng nhà trường". Với sự đồng ư của Tổng Thống Bush, bà Rice bác bỏ vai tṛ can thiệp của Hoa Kỳ trên khắp thế giới do khối Tự Do Tả Khuynh chủ trương dưới thời Clinton, v́ mục tiêu nhân đạo. Từ hai năm nay, kể từ năm 1999, Bà Rice không ngớt lưu ư quần chúng Hoa Kỳ "chống lại ảo giác làm cho ta tưởng rằng sự sụp đổ của chế độ Liên Xô sẽ làm giảm thiểu hoạt động gián điệp của Mật Vụ Nga"; và bà ta cũng chống lại luận điệu cho rằng mở rộng cửa thương trường cho Trung Cộng sẽ làm cho chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc dịu lắng xuống và thích nghi hơn. Condoleeza Rice  lại chọn ông Daniel Fried làm giám đốc Âu Châu Sự Vụ, chứng tỏ bà có vẻ lưu ư nhiều đến vấn đề Âu Châu v́ ông Fried trước đây đă từng làm đại sứ ở Ba Lan và là một chuyên gia nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Nga Xô và Nam Tư. Về Phi Châu Sự Vụ, Bà lại chọn bà Jendayi Frazer, người da màu, tốt nghiệp đại học Harvard, và là một chuyên viên về những vấn đề liên quan đến an ninh quốc tế. Gần đây nhất, bà Rice lại chọn ông Gerrit W. Gong làm cố vấn cho bà về những vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Ông Gong theo đạo Mormon.

       - COLIN POWELL, cựu Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, thích người ta gọi ông là Bộ Trưởng Ngoại Giao hơn gọi ông là tướng. Chính ông đă khuyên cựu Tổng Thống Bush đừng có xua quân đồng minh vào chiếm thủ đô Baghdad và truy lùng Saddam Hussein trong cuộc chiến Vùng Vịnh, vào đầu thập niên 1991, để rồi bây giờ Saddam Hussein trở lại gây rắc rối cho Hoa Kỳ. Ông Colin Powell thiên về chủ trương ḥa hoăn và giỏi về quản trị. Đối với những người nồng cốt trong chính phủ Bush, ông này thường được coi là ít diều hâu nhất. Vừa rồi ông chỉ định ông John Huntsman làm đại sứ của Hoa Kỳ tại Trung Cộng, nhưng ông đang gặp khó khăn với Bắc Kinh v́ ông Huntsman theo đạo Mormon như ông Gong đang làm việc với bà Rice.

       Những chuyên gia về vấn đề Trung Cộng trong hai chính phủ của các cựu Tổng Thống Carter và Clinton đều lên tiếng chống đối việc chọn hai ông Huntsman và Gong v́ hai ông này luôn luôn đề cao cảnh giác và chống lại chiến lược của Trung Cộng. Nghị Sĩ Dan Coats của tiểu bang Indiana cũng được chỉ định làm đại sứ ở Đức quốc. Ông này cũng đă từng được TT Bush tiếp xúc về chức vụ bộ trưởng Quốc Pḥng, nhưng sau đó không được chọn v́ có ông Rumsfeld mạnh thế hơn. Dưới thời chính phủ Clinton, trong 600 chức vụ có quyền lấy quyết định th́ 184 chức vụ lănh đạo và 290 chức vụ phụ tá đều thuộc về thành viên của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại. C̣n trong chính phủ Bush th́ chỉ có khoảng 20 người thôi. Về nhân sự Do Thái, dưới chính phủ Clinton có 41 người Do Thái giữ những chức vụ cao nhất trong chính phủ, trong chính phủ Bush hiện nay th́ chỉ có 5 người thôi.

       Sau khi Tổng Thống Bush lập xong chính phủ, báo chí cho rằng chính phủ của ông c̣n bảo thủ hơn dưới thời cựu Tổng Thống Reagan nữa; và chịu ảnh hưởng của hai tổ chức hữu khuynh: American Enterprise Institute và Heritage Foundation do Richard Perle, gốc Do Thái, rất bảo thủ, và James Baker, cựu ngoại trưởng trong chính phủ Reagan điều khiển. Cho đến nay chỉ mới có 2 "nhóm thế lực" nặng kư nhất là nhóm Carlyle và nhóm New Atlantic Initiative.

       Nhóm Carlyle, có căn cứ chính đóng ở Washington, là một trong những tổ hợp mạnh nhất trên thế giới về cổ phần và đầu tư, và do 51 nhân vật có tên tuổi làm quản lư thường trực, được điều khiển qua một hội đồng quản trị gồm có 5 vị. Cựu Tổng Thống Bush là người phụ trách khu vực Á Châu; cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao James Baker, cựu Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo CIA Frank Carlucci, Karl Otto Poehl cựu Giám Đốc Ngân Hàng Trung Ương của Đức, cựu Thủ Tướng Thái Lan Anand Panyarachun, cựu Thủ Tướng Anh quốc John Major và vị phụ tá của ông ta Lord Howe, Fidel Ramos cựu Tổng Thống Phi Luật Tân.....Nhóm Carlyle có 8 văn pḥng tại Hoa Kỳ, và một số văn pḥng ở rải rác khắp nơi trên thế giới như Ấn Độ, Hong Kong, Hán Thành, Tân Gia Ba, Đông Kinh, Milan, Munich, Mạc Tư Khoa, Luân Đôn, Riyad (Saudi Arabia) và Paris .....

       Nhóm New Atlantic Initiative, mới thành lập từ năm 1996 nhưng đă vươn lên hàng đầu rất nhanh, với Giám Đốc Điều Hành Jeffrey Gedmin, một chuyên gia về những dịch vụ liên quan tới Đức quốc; và rất gần gủi với bộ ba Cheney-Powell-Rice và thân cận với Thủ Tướng G. Schroder và các chuyên gia Do Thái nghiên cứu những dịch vụ liên hệ đến nước Đức. Hội Đồng Điều Hành của nhóm này gồm có 79 vị trong dó có Colin Powell, Richard Perle, Robert Zoellick đặc trách về thương măi quốc tế trong chính phủ Bush, Kissinger và Brzezinski.

       Khi ông Clinton vừa mới đắc cử nhiệm kỳ đầu, việc đầu tiên của ông ta là lo cho sứ giả bay qua Bắc Kinh "triều bái" Trung Cộng trước tiên như các vua của Việt Nam cho sứ sang Tàu để triều cống các hoàng đế Trung Hoa vậy. Đối với Tổng Thống Bush th́ lại khác, ông có gọi điện thoại cho 22 vị thủ lănh của các quốc gia trên thế giới, trừ Trung Cộng và Nga là ông chưa gọi mà thôi. Chuyện đó kể ra cũng dễ hiểu, v́ trong khi đi vận động tranh cử, ông Bush đă tuyên bố với quốc dân là ông ta xem hai nước Trung Cộng và Nga như là "đối thủ chiến lược" chứ không phải là "đồng minh chiến lược" như ông Clinton thường hay tuyên bố. Mà đă liệt hai nước đó vào hàng đối thủ rồi, chỉ thăm viếng xă giao thôi th́ khi nào gọi lại chả được, có ǵ mà phải gấp gáp. Nhưng không phải v́ vậy mà không tỏ thái độ thái độ cho họ biết, nhất là đối với Trung Cộng. 

       Rồi đến ngày 16 tháng 2, 2001, không quân Hoa Kỳ và Anh quốc được lệnh dội bom xuống các dàn Radar và cao xạ pḥng không của Iraq chung quanh thủ đô Baghdad; sau đó Hoa Kỳ có thông báo cho Trung Cộng hay là họ đă chọn ngày thứ sáu để dội bom - v́ họ biết ngày ấy nhân viên của Trung Cộng đang thực hiện công tác thiết kế máy móc dùng "sợi quang học (Fiber-Optics )" để tăng độ chính xác cho các dàn Radar điều khiển súng pḥng không bắn phi cơ của Hoa Kỳ và Anh quốc - nghỉ, không làm việc. Thật ra th́ Hoa Kỳ đâu có lo cho sự an toàn của các chuyên viên Trung Cộng, nhưng mà Hoa Kỳ nói vậy là cốt cho Trung Cộng biết rằng việc họ vi phạm lệnh cấm đoán của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc không được bán máy móc có liên hệ tới "sợi quang học" cho Iraq đă bị phát giác rồi đấy. Dưới thời cựu Tổng Thống Clinton, những vụ vi phạm lệnh cấm buôn bán hoặc thiết kế máy móc có tính cách quân sự cho Iraq đối với Trung Cộng thường xảy ra như ăn cơm bữa, nhưng Hoa Kỳ vẫn cứ làm ngơ, không phản đối hoặc có phản đối th́ chỉ làm cho có lệ, rồi đâu lại vào đấy, và không có biện pháp trừng phạt đi tiếp theo sau. Riết rồi Trung Cộng đâm ra lờn mặt và coi lệnh cấm đoán của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chẳng ra cái thớ ǵ nữa. Vào tháng 11, năm 2000, Trung Cộng có hứa với chính quyền Clinton là sẽ chấm dứt việc bán kỹ thuật lẫn dụng cụ chế tạo hỏa tiễn cho một số quốc gia. Và đây là lần thứ 3 mà Trung Cộng hứa hẹn với Hoa Kỳ. Sau 2 lần hứa hẹn trước và chỉ trong một thời gian ngắn thôi, họ đă vi phạm trở lại .

       Giờ đây, vụ dội bom của Hoa Kỳ xuống các dàn súng cao xạ có gắn radar ở chung quanh thủ đô Baghdad là nhắm mục đích cảnh cáo Trung Cộng rằng họ sẽ bị thiệt hại nếu c̣n tiếp tục vi phạm lệnh cấm đoán của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Vấn đề bên trong của Trung Cộng là muốn gây khó khăn cho Hoa Kỳ trong địa vị siêu cường nên họ đă cổ xúy và ngầm yểm trợ cho những nước nào chấp nhận chủ trương phá rối đó; đồng thời cũng để dằn mặt Hoa Kỳ nên thận trọng trong việc tiếp tế vũ khí cho Đài Loan. Tám năm dưới thời Clinton, chính quyền Hoa Kỳ đă âm thầm chấp nhận công thức đó, v́ một chính phủ mà 75% thành phần bộ trưởng đều thuộc cánh Tả (thiên Cộng ) của Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại (CFR ), th́ đường lối của chính phủ đó khi nào cũng phải chủ trương "dĩ ḥa vi quư" đối với Trung Cộng là chuyên đương nhiên.

       11.Tổng Thống Putin ngấm ngầm chống lại Hoa Kỳ.

        Ngày 13 tháng 3, 2001, nhân đề cập đến những dự tính liên quan đến "hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn", Tổng Thống Bush - khi nhắc đến nước Nga - có nói ông "không coi Nga như một kẻ thù, nhưng Nga có thể trở thành một nguy cơ hăm dọa thế giới nếu họ muốn, v́ họ có một kho vũ khí nguyên tử". Theo ông, tất cả những quốc gia có sản xuất vũ khí nguyên tử đều là những nguy cơ hăm dọa. Và theo ư của ông Bush th́ sự pḥng vệ bằng hàng rào hỏa tiễn là một cách để bắt đầu tập trung tài nguyên chống lại những sự hăm dọa thật sự hướng về Hoa Kỳ. Và cho đến nay, những cố vấn của Tổng Thống Bush không liệt nước Nga vào hàng ngũ những nước "lưu manh".

       Vào cuối tháng 2 năm 2001, Tổng Thống Nga Putin qua viếng thăm thủ đô Hà Nội của nước Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Khi cựu Tổng Thống Clinton qua thăm Việt Nam trước khi ông măn nhiệm kỳ - th́ mặc dầu chính quyền Việt Cộng không chủ trương đón tiếp long trọng ông - nhưng dân chúng Việt Nam vẫn tự động ào ạt đổ xô ra đường để hoan hô Tổng Thống Clinton, một dịp bằng vàng để cho họ có cơ hội làm ngược lại chủ trương của chính quyền Cộng Sản cho bỏ ghét. Khi phái đoàn tổng thống Nga đến Hà Nội th́ chả có người dân Việt Nam nào chạy ra đường hoan hô cả, khiến chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại bỉ mặt thêm một lần nữa!. Trong chuyến viếng thăm này, giọng lưỡi của Putin không khác ǵ một ông anh cả nói với một thằng em út. Putin ngỏ lời ban khen cộng sản Hà Nội đă giữ vững ḷng trung kiên với Đảng, không chao đảo như các lănh tụ Cao Miên và nhất là Ai Lao. Putin đă cho Hà Nội hay là ông ta vẫn nhất quyết, không những chỉ đồn quân tại hải cảng Cam Ranh mà thôi, mà c̣n sẽ tăng cường quân số tại nơi đây nữa. Putin dư biết Hoa Kỳ rất chú trọng đến Á Châu; và coi nơi này là một trọng điểm trong chương tŕnh thiết kế "hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn". Trong cuộc thăm viếng của Đại Tướng Zhang Wannian, nhân vật số 2 của Quân Ủy Hội Trung Cộng tại Mạc Tư Khoa, và thảo luận với Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nga Igor Sergueiev, hai bên đă đi đến quyết định cùng nhau tập trung nổ lực và phương tiện để đánh phá dự tính của Hoa Kỳ thiết lập "hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn" bằng cách triệt tiêu tất cả các căn cứ tiếp vận của Hoa Kỳ, nhất là tại khu vực Viễn Đông, như Cam Ranh chẳng hạn. Igor Sergueiev (nay đă bị thay thế ) có nhắc lại là vào mùa hè năm 2000, Tổng Thống Putin có nhấn mạnh với Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân về sự cấp thiết hội nhập hệ thống pḥng thủ giữa hai nước để chống lại cho hữu hiệu "hiểm họa Hoa Kỳ". Tướng Zhang cũng cho biết là Cơ Quan T́nh Báo của Việt Nam cũng đă xin tham gia vào "Cộng Đồng T́nh Báo" chống Tây Phương nói chung và chống Hoa Kỳ nói riêng. Vào cuối năm 2000, Mạc Tư Khoa - sau một thời gian vận động ráo riết - đă hội nhập Ấn Độ vào trong "Cộng Đồng T́nh Báo" này, đồng thời Nga cũng khuyến khích Ấn Độ nên có những sự liên lạc thường xuyên với Bắc Kinh và Hà Nội. V́ vậy trong tháng giêng vừa rồi bộ trưởng Quốc Pḥng Ấn Độ đă bay qua Hà Nội để gặp bộ trưởng Quốc Pḥng Việt Cộng và một số thỏa ước liên quan đến sự cộng tác về khoa học và hạch tâm đă được kư kết giữa đôi bên. Cũng xin lưu ư bạn đọc là từ nhiều năm về trước Ấn Độ coi như hoàn toàn chịu sự kiểm soát của Nga về ngành kỹ nghệ quân sự.

       Trong hơn một năm trời làm tổng thống, Putin đă đi thăm hơn hai mươi quốc gia phần nhiều là thân chủ cũ của Liên Bang Xô Viết trước kia, nhưng đă bị Yeltsin bỏ rơi trong mấy năm lèo lái nước Nga. Đi đến đâu ông cũng cổ xúy việc chống Hoa Kỳ, v́ khi đó cựu Tổng Thống Clinton, v́ đă thiên Tả rồi, th́ đâu c̣n dám nói năng chi. Nhưng từ khi ông Bush lên nhậm chức cho đến nay, ông thấy ông Putin chỉ hơn ông Yeltsin một chút thôi về hữu hiệu trong công việc, và bệnh trầm kha của tân tổng thống Nga cũng là bệnh của tất cả các lănh tụ của thời Liên Bang Xô Viết xa xưa. Đó là bệnh hứa quá nhiều với dân chúng mà thực hiện th́ chẳng được bao nhiêu. Vừa mới lên nhậm chức, ông đă bị ngay một thử thách quá nặng mà ông lại đương đầu một cách hết sức vụng về, nếu không nói là "xuẩn động", đó là vụ chiếc tàu ngần nguyên tử bị đắm trong vịnh Barentz, lúc đang dự cuộc thao diễn, gây thiệt mạng cho hơn một trăm binh sĩ trong thủy thủ đoàn. Hai lỗi lầm lớn nhất của Putin lúc đó là từ chối sự giúp đỡ của một số quốc gia Tây phương để trục chiếc Kursk lên trong những ngày đầu khi xảy ra tai nạn, để cứu những thủy thủ hăy c̣n sống sót, và điều lầm lỗi sau là ông không chịu rời nơi nghỉ mát ở bể Hắc Hải ngay để trở về Mạc Tư Khoa lo chuyện cứu vớt thủy thủ đoàn của chiếc Kursk. Kể ra dân chúng Nga - v́ quá hiền ḥa, hay quá sợ chính quyền - mà không dám biểu t́nh phản đối ông ta, chứ như chuyện nầy mà xảy ra ở một nước Tây Phương th́ ông tổng thống nước đó đă dễ ǵ ngồi yên với họ, không khéo lại c̣n mất chức nữa là khác.

       TT Putin lên truyền h́nh và hứa với dân chúng là sẽ giải quyết cuộc chiến ở Chechnya ngay, nhưng măi cho đến nay chiến tranh vẫn c̣n tiếp diễn, gây chết chóc dài dài cho binh sĩ, trung b́nh từ một trăm đến hai trăm người mỗi tháng, và không biết sẽ c̣n kéo dài bao nhiêu lâu nữa. Để tránh những lỗi lầm phạm phải sau hai vụ Kursk và Chechnya, TT Putin hứa với quốc dân sẽ cải tổ guồng máy quân sự cho hữu hiệu hơn, nhưng hứa th́ hứa vậy mà cải tổ th́ vẫn ù lỳ như trước đây. Ông lên truyền h́nh khoe với dân chúng là ông đă làm cho nền kinh tế Nga tăng trưởng hơn trước kia nhiều, nhưng chỉ 3 ngày sau th́ giá dầu hỏa lại tụt xuống và trên thị trường chứng khoán phải bỏ ra 28 Rúp mới mua được một mỹ kim. Ông khẳng định với IMF sẽ tái cấu trúc tổ hợp khổng lồ Gazprom về điện lực và hỏa xa cho thích nghi với đ̣i hỏi của quần chúng, nhưng v́ tổ hợp nầy có một "ngân sách vô h́nh" - lớn không khác ǵ ngân sách chính thức - nhưng không đóng thuế cho nhà nước, và đó là nguồn lợi riêng của các tai to mặt lớn trong tổ chức, nên không ai dám đụng tới v́ không biết ông tân tổng thống có được chia phần lời trong đó hay không mà chuyện tái cấu trúc tổ hợp nầy vẫn im hơi lặng tiếng, chả c̣n ai đề cập đến nữa.

       Ông cũng hứa lo cho sức khỏe của dân nhưng cho đến nay, dân có đau ốm th́ cũng ráng chịu chứ bác sĩ tư th́ chỉ chửa bệnh cho những người giàu có mà thôi. Ông hứa làm trong sạch guồng máy tư pháp nhưng vấn đề "pháp đ́nh cổng hậu" giờ đây lại c̣n hoạt động mạnh hơn dưới thời Liên Bang Xô Viết nhiều. Chỉ có một việc ông Putin làm mà người dân Nga thấy được rơ rệt là ông kư sắc lệnh tuyên bố từ nay cờ nước Nga sẽ là cờ Tam Tài, huy hiệu là h́nh hai con chim đại bàng dưới thời đại các Sa Hoàng, cờ đỏ là cờ của quân đội, nhạc quốc ca là nhạc của bài quốc ca dưới thời Liên Bang Xô Viết c̣n lời của bài quốc ca mới cũng do thi sĩ Sergei Mikhalkov - năm nay 87 tuổi - viết, và cũng chính ông nầy viết lời cho bài quốc ca của Liên Bang Xô Viết, năm 1944. Mặc dầu Tổng Thống Putin chứng tỏ ông có khả năng liên kết chim đại bàng của các Sa Hoàng với quốc ca của Liên Bang Xô Viết bằng cách hạ bút kư sắc lệnh, nhưng nếu ông lại dùng phương pháp đó để vượt qua những cơn khủng hoảng về chính trị và kinh tế của đất nước th́ quả thật là vô phương. Nếu cộng thêm những "thành công" về ngoại giao của ông qua hơn hai mươi nước mà ông viếng thăm, th́ những "thành công" đó chỉ có một mục đích duy nhất và tai hại cho nước Nga sau nầy là "chọc tức" và "khiêu khích" Hoa Kỳ, siêu cường độc nhất trên thế giới hiện nay. Thảo nào cách đây hơn năm thế kỷ, một người đồng hương của Tổng Thống Putin, nhà tiên tri Vassili Nemtshin có tiên đoán là đến đầu năm 2001, "một tên lùn có mặt mày hắc ám sẽ lên nắm quyền lănh đạo nước Nga, nhưng không có lâu đâu.....". Tổng Thống Putin cao không quá một thước sáu mươi lăm phân, đối với người Nga quả thật là lùn, c̣n "mặt mày hắc ám" không phải muốn nói ông ta có nước da sạm, nhưng để ám chỉ ông làm việc cho Mật Vụ KGB, v́ ở bên Nga, người dân mỗi khi muốn nói người đó là cộng tác viên của Mật vụ KGB th́ mọi người v́ sợ tai mách vạch rừng nên nói chệch ra "người đó có mặt mày hắc ám" lắm. Kể ra ông Vassili cũng giỏi thần sầu không kém ǵ ông Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm.

       Hiện tại nước Nga dưới bàn tay "mật vụ" của Putin cũng giống như một chiếc tàu chở dầu chạy ngoài biển cả, gặp sóng to gió lớn nhưng bộ máy dầu cặn lại bị hoen rỉ quá nhiều nên chỉ xê dịch được nhiều lắm là một dặm một giờ, không làm sao theo kịp tàu tối tân của Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản. Thành thử mặc dầu đất đai th́ rộng lớn, lại có thêm kho vơ khí hạch tâm đáng kể, nhưng v́ nền kinh tế của Nga - chỉ đứng giữa Đan Mạch và Bồ Đào Nha mà thôi - nên đối với quốc tế th́ chỉ được liệt vào hàng các nước hạng 3 trên thế giới.  Tuy nhiên theo những tin tức thu lượm được trong hai tháng vừa qua, th́ Tổng Thống Putin của Nga đă có những vận động ngấm ngầm chống lại Hoa Kỳ như một kẻ thù. Yeltsin, cựu Tổng Thống Nga, trao quyền lại cho Đại Tá Mật Vụ KGB Putin vào cuối năm 1999, đúng vào mùa bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Cuộc bầu cử diễn ra rất sôi nổi và gay cấn đến phút chót đă đưa ông George W. Bush, ứng cử viên của đảng Cộng Ḥa lên ghế tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 2000-2004. Trong khi đi vận động tranh cử, Tổng Thống Bush có tuyên bố là ông sẽ coi Trung Cộng và Nga là hai "đối thủ chiến lược" của Hoa Kỳ nếu ông đắc cử. Vậy giờ đây chúng ta cũng nên t́m hiểu thêm thành phần tân chính phủ Hoa Kỳ,-W.Bush  một chính phủ mà trọng trách là phải đương đầu với hai "cường quốc" cực Tả trên thế giới, và Hoa Kỳ phải chứng tỏ địa vị siêu cường của ḿnh.

 

ChuSa

November 5th, 2002

 

GHI CHÚ:  Chúng tôi sẽ phổ biến danh sách và tên tuổi của một số thành viên CFR (Council On Foreign Relations) – Hội Đồng Đặc Trách Đối Ngoại đang phục vụ trong các Bộ, các Ngành, của Chính Phủ Hoa Kỳ.

 

 

 

                                    HOME