Chiến Tranh, Bản
Chất và Mục Đích
1). Mối
Tương Quan Nhân Tính.
Mâu thuẫn
và xung đột là những hiện tượng thường
thấy trong xă hội loài người. Đó cũng là một
khía cạnh căn bản của nhân tính được biểu
lộ rơ rệt nhất trong mối tương quan giữa
người với người. Từ những kết hợp
nhỏ như gia đ́nh đến những tổ chức
lớn lao vĩ đại như xă hội, dân tộc, quốc
gia, nhân loại ... đều có dấu vết của mâu
thuẫn và xung đột. Tùy
theo mức độ nghiêm trọng, tùy theo lănh vực xảy
ra mâu thuẫn và xung đột mà chúng ta có những ngôn từ
thích hợp.
Bài viết này chỉ đề
cập đến chiến tranh, tức là ở phần cao
nhất của mối mâu thuẫn giăng mắc giữa
Quyền và Lực của những thực thể như xă
hội, quốc gia, dân tộc... Chiến tranh là điều
ai cũng e sợ, kinh khiếp v́ bản chất tàn nhẫn
gây giết chóc đỗ vỡ của nó , nhưng ở một
khía cạnh khác tích cực hơn, chiến tranh lại là một
nhu yếu của nhân loại, có mục đích dùng để
giải quyết những bế tắc căn bản mà những
vận dụng ngoại giao chính trị đă không đạt
được kết quả như dự ước. Với
thành quả chiến tranh, (chiến thắng hay chiến bại)
mối tương quan quyền lợi giữa những
đối thủ được sắp xếp lại
theo một trật tự mới căn cứ vào khả
năng vơ lực hiện có. Cũng trong bài viết này, giai
đoạn lịch sử đầy biến động của
dân tộc Việt
Để tránh
ngộ nhận, có một điều cần phải xác quyết
đây là cuộc chiến tranh quật khởi của toàn
dân Việt
2). Chiến Tranh
A. Định
nghĩa chữ chiến tranh
Chiến tranh là một danh từ
kép gồm hai chữ Chiến và Tranh. Riêng chữ Chiến
có nghĩa là đánh nhau, hai bên bày trận để phân thắng
bại, hơn thua. Phân tích tự dạng theo lối chiết
tự th́ Chiến ( ) gồm bộ
Qua ( ) là cái mác một loại
binh khí thời cổ và chữ Đơn ( ) là cô đơn, lẻ loi, trái nghĩa
với chữ Phúc rất nhiều. Kết hợp hai ư trên
th́ Chiến là dùng vơ lực để loại đối thủ
đoạt địa vị chí tôn, v́ một nước
không thể có hai Vua. C̣n chữ Tranh có nghĩa là giành giật,
căi cọ để được hơn người. Chữ
Tranh ( ) thuộc bộ Trảo
( ) tức là móng chân, móng tay ở
loài người hay là móng vuốt của loài thú dùng để
tự vệ hay sát hại con mồi.
Vậy chiến tranh là mức
độ cao nhất của mối mâu thuẫn giữa hai
hay nhiều thực thể phải tất yếu giải
quyết bằng sức mạnh của gươm giáo, súng
đạn. Ở đó, kẻ chiến thắng bao giờ
cũng áp chế kẻ chiến bại bằng “công lư” của
sức mạnh vơ lực.
B. Bản chất
của chiến tranh
Riêng trong thế kỷ hai
mươi vừa qua, nhân loại cũng đă chứng kiến
hai cuộc thế chiến và vô vàn các cuộc chiến tranh
địa phương có tính chất cục bộ. Hơn
ai hết, người Việt chúng ta trong cái bất hạnh
phải chấp nhận sống trong t́nh trạng chiến
tranh thường trực, kéo dài từ năm 1940 đến
nay, tất phải nh́n rơ cái khuôn mặt khủng khiếp của
chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima và
Nagasaki vào thượng tuần tháng 8 năm 1945, đă làm
cho cả nhân loại kinh hoàng v́ tính chất phá hoại tàn
khốc và quy mô của loại vũ khí khoa học hiện
đại. Qua những tài liệu báo cáo về tổn thất
nhân mạng và tài sản, chắc chắn cũng đă không
tạo được những ấn tượng hăi hùng
trong tâm khảm người Việt Nam bằng những
kinh nghiệm đẫm máu như Đại Lộ Kinh Hoàng,
Mậu Thân Huế và những cuộc “di tản chiến
thuật” hay các cuộc tháo chạy của người dân
miền Nam khi Cộng Sản tiến chiếm Sài G̣n vào
năm 1975 (sẽ có một bài
viết khác cho cuộc chiến năm 1975 đến nay).
Lư do thật giản dị, v́ nó có liên hệ sâu sắc và
có ảnh hưởng trực tiếp đến thân phận
chúng ta.
Bản chất của chiến
tranh là chém giết, đốt phá, tróc nă ... và vũ khí,
gươm đao, bom đạn là những thứ vô t́nh. Một
khi đao kiếm đă hoa lên, tên đă rời khỏi dây
cung, đạn đă bắn ra khỏi ṇng, bom (hỏa tiễn)
đă rời dàn phóng bay lên, th́ mọi sự xét lại
đều quá chậm so với độ bay của hỏa
tiễn. Lúc đó tất cả đều tuân theo những
luật tắc của khoa học chính xác đến độ
lạnh lùng và không bao giờ có trường hợp ngoại
trừ.
Nhân loại từ cổ chí
kim vẫn đề cao con người như một linh
thiêng đứng đầu vạn vật, “linh ư vạn
vật”. Người Cộng Sản duy vật cũng luôn
miệng đề cao “Người là vốn quư”, nhưng
trong thực tế tàn nhẫn của thời chiến cả
con người lẫn nhân phẩm đều bị Cộng
Sản hủy hoại, chà đạp một cách thô bạo.
Có một cuộc chiến
nào mà không có nhà cháy, người chết những mất mát
vật chất, những đổ vỡ t́nh cảm, những
suy sụp tinh thần?. Đứng trên nhiều
phương diện, người ta có thể đồng ư
với nhau coi chiến tranh là một thảm họa để
kết tội và xua đuổi chiến tranh; nhưng chiến
tranh vẫn c̣n đó, vẫn gần gũi với chúng ta
nhiều hơn nửa, tồn tại thường trực
như một nhu cầu thực tiễn không thể loại
bỏ, như một cây cầu chênh vênh tất yếu phải
vượt qua để đi đến đích điểm:
Lư tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc
trong ḥa b́nh mà loài người mơ ước.
V́ ḷng yêu chuộng ḥa b́nh, hay
nói đúng ra v́ ḷng yêu sống và ghét chết nên loài người
đă e sợ chiến tranh và ảo tưởng coi chiến
tranh như một t́nh trạng bất thường, trong
khi đó chính ḥa b́nh mới là một sự hăn hữu, một
t́nh trạng mong manh. Câu nói thời danh vẳng lại từ
ngàn xưa ở phương trời Âu: “Muốn ḥa b́nh phải chuẩn bị chiến tranh”
vẫn c̣n đúng tận đến giờ.
Phương ngôn Việt
“Nhân Nghĩa có thể trị
nước mà không thể trị quân. Quyền Biến có thể
dùng trị quân mà không thể dùng trị nước. Cái lẽ
nó phải như thế. Quắc Công không làm điều từ
ái mà bị nước Tấn diệt mất. Tấn Hầu
không chịu giữ bốn đức mà bị nước
Tần đánh thua. Ấy là không lấy nhân nghĩa để
mà trị nước đó. Tề Hầu không bắn
người quân tử mà bị hại với nước
Tấn. Tống Công không bắt người hai thứ tóc
mà bị thua với Sở. Ấy là không lấy quyền biến
mà trị quân vậy. Cho nên đáng nhân nghĩa mà dùng quyền
quyệt th́ nước tất nguy, như nước Tấn
nước Quắc đó; đáng biến trá mà chuộng lễ
nghĩa th́ binh tất bại, như nước Tề
nước Tống đó. Vậy cái đạo trị quốc
vốn không thể đem dùng trị quân được”.
Sự ngộ nhận Đạo
trị quốc với Thuật làm chiến tranh đă
đưa đến những ngộ nhận vô cùng tai hại,
cũng là nguyên nhân diệt vong của nhiều nước
ṇi. Đành rằng tín nghĩa là điều phải trọng,
lừa người là chuyện đáng chê trách, nhưng Khổng
Minh cả một đời chuyên dùng mưu thuật lừa
ngựi sao lại được nhân dân Tứ Xuyên ngàn
năm hương khói, được sử sách ghi lại
như gương sáng của một trung thần
lương đống?. Đại Vương Trần
Hưng Đạo hai lần thắng cường địch
bằng những quỷ kế, mưu thần, chém Phạm
Nhan, giết Ô Mă Nhi mà lúc chết lại được muôn
dân thờ phụng?. Có phải chăng đó là cái hơn
người của bậc đại trí biết phân biệt
nên không, tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà ứng dụng
không câu nệ tiểu tiết, khuôn sáo!. Riêng Dực Tông tức
vua Tự Đức, khi đọc đến việc giết
Ô Mă Nhi của Hưng Đạo Vương có hạ bút phê
bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa”. Dực Tông là ông vua
nhân từ hiếu thuận, giỏi văn thơ ...
nhưng những phẩm tính đó chưa đủ để
làm một người của một dân tộc đang phải
đối đầu với hiểm họa ngoại xâm và
sự phân hóa nội bộ. Bốn chữ “Bất nhân phi
nghĩa” mà Tự Đức phê cho Đại Vương
Trần Hưng Đạo đă chứng tỏ là Tự
Đức thiếu một nhăn quan chính trị sắc bén,
không nh́n được xa, không trông được rộng
để phát hiện kẻ thù, phân loại kẻ thù và thiết
kế dự mưu đối phó. Tự Đức đă
lẫn lộn giữa Đạo trị quốc và Thuật
làm chiến tranh. Đó là sự ngộ nhận tai hại
đưa đến nguyên nhân trực tiếp của
hơn 80 năm nước Việt
Bản chất của chiến
tranh là phá hoại, triệt hạ gây chết người,
mất của, đói rét, nghèo khổ, ngu dốt, trụy lạc
và bệnh tật ... rồi đi đến diệt vong.
Hiểu được bản chất của chiến
tranh tất hiểu được thể dụng của
chiến tranh. Chiến tranh là một phương tiện,
một phương tiện tối hậu để thực
hiện một mục tiêu, đạt được một
mục đích sau khi những phương tiện khác
đă được xử dụng nhưng thất bại.
C. Mục
Đích Của Chiến Tranh
Chiến tranh là một
phương tiện và như một phương tiện,
chiến tranh tự nó không tốt, không xấu. Tốt hay xấu
là tùy theo người làm chiến tranh và mục đích mà
chiến tranh nhằm thực hiện. Cũng như một
khẩu súng được xử dụng trong mục
đích tự vệ chính đáng hay được dùng
để uy hiếp dọa người, cướp của.
Trước công lư loài người, không phải là chiến
tranh mà là kẻ dùng chiến tranh phục vụ cho mưu
đồ đen tối cá nhân và bè nhóm bị xét xử rồi
kết tội. Ṭa án quốc tế
Trên thế giới hiện
nay vẫn c̣n biết bao nhiêu những bạo chúa, độc
tài phạm đủ loại tội lỗi trong chiến
tranh cũng như trong ḥa b́nh. Họ đang sống phè phỡn
trong kiêu sa, sống thừa thăi trên nỗi thống khổ,
đói rét, bệnh tật của toàn dân họ. Thực tế
, họ đă là tội phạm ít ra là đối với
dân tộc họ. Nhưng làm sao xét xử họ theo công lư của
loài người khi quyền uy c̣n nằm trong tay họ và tiếp
tục lan rộng, vươn dài theo khả năng tác xạ
của tầm bom, đạn khi họ c̣n được bảo
vệ bởi cả một hệ thống chính quyền? !
...
Để chống lại những
thế lực đă có đó tất nhiên phải tạo ra
một thế lực mới. Để chống lại một
cuộc chiến tranh xâm lược tất nhiên cũng phải
thực hiện một cuộc chiến tranh tự vệ.
Mục đích xâm lược và mục đích tự vệ,
tự bản chất đă nói lên được mục
đích tốt xấu của cuộc chiến và phủ lên
cuộc chiến một ư nghĩa bẩn thỉu, hay một
lư tưởng xứng đáng cho sự hy sinh xương
máu của nhân dân và sự đồng t́nh hổ trợ của
cả loài người.
Lư tưởng là một mục
đích cao đẹp dùng để hướng dẫn hành
động. Lư tưởng chính nó đă là sức mạnh
có hấp lực quấn hút và thuyết phục lẽ phải,
chính nghĩa và chân lư. V́ nhu cầu biện minh cho mục
đích của hành động, nên chiêu bài cũng được
đặt ra. Chiêu bài là bảng hiệu quảng cáo
thương mại được treo cao để tạo
sự chú ư của quần chúng và chiêu dụ khách hàng. Trong
chính trị chiêu bài là một lư tưởng giả mạo,
v́ thực chất không dùng đúng danh xưng, chủ ư là
để lừa gạt đám đông nhẹ dạ cả
tin kiểu gian thương “treo đầu dê bán thịt
chó”. V́ vậy ta phải sáng suốt phân biệt chân, giả,
đâu là thực chất, đâu là chiêu bài để khỏi
bị lừa dối đau thương:
*. Đạo nghĩa gớm
cho quân lợm khẩu,
*. Nhân quyền khiếp cả
lũ xanh ngươi !
(Đạo
trường ngâm - X. Y. Thái Dịch Lư Đông A)
Lư tưởng Quốc Gia Dân
Tộc là một lư tưởng vô cùng cao đẹp
nhưng nó đă bị những người Cộng Sản
xử dụng như một chiêu bài trong cuộc kháng chiến
chống Pháp để tạo danh: có chính nghĩa, để
tạo lực: có sự đoàn kết và tạo thế: nắm
chính quyền. v́ là chiêu bài nên Lư Tưởng Quốc Gia chỉ
được xử dụng tùy giai đoạn và như một
hậu quả tất yếu, những người Quốc
Gia tham gia kháng chiến đă bị thủ tiêu, tù đày,
bôi nhọ hay phải trốn chạy. V́ ḷng yêu nước
nhiệt thành mà biết bao nhiêu kẻ đă ngộ nhận
về bản chất người Cộng Sản và mục
đích tối hậu của con người Cộng Sản
là để làm cho chúng ta phải sống đau, chết hận
với những lỗi lầm đă trót phạm phải mà
ăn năn một đời khôn nguôi:
... Than ôi! Tôi là một kẻ ngu trung
Thân chiến sĩ đi a ṭng
lang sói ...
(Kỷ
Niệm Vào Thu -
Dưới ngọn cờ của
chính nghĩa, chiến tranh là một phương tiện
để thực hiện lư tưởng. Chiến tranh là
phải hao tổn tài sản, xương máu của toàn dân.
nhưng đó là sự hy sinh cao cả, cần thiết và
được mọi người chấp nhận. Độc Lập, Tự Do, Hạnh
Phúc và Ḥa B́nh là những thứ hiếm có trên đời,
không thể bỗng nhiên mà có như lượm được
của rơi, cũng không ai có dư để có thể
đem phát cho không cho mọi người. Trái lại, đó
là thứ phải Chiến để mà có, phải Tranh
để mà được.
Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Ḥa B́nh là những
kết quả trực tiếp hay gián tiếp của sự
đấu tranh, giữa những hệ thống quyền lực
giăng mắc chằng chịt khắp thế giới của
những thực thể quốc gia, của những liên
minh chính trị, của những khối quân sự. Quyền
và Lực bao giờ cũng tạo tương xứng. Lực
là điều kiện cơ bản để tạo Quyền.
Vô lực tức sẽ vô quyền. Đó là một chân lư
đúng ở bất cứ nơi nào, ở bất cứ
thời đại nào được phản ảnh rơ rệt
trong những điều khoản luật quy định về
sự vô năng lực của cá nhân. Trong đấu tranh,
chiến tranh là h́nh thức cao độ và hữu hiệu
nhất để hai bên lâm chiến, có cơ hội để
duyệt xét lại quyền lực của ḿnh một cách
thực tế và rồi sẽ thiết lập lại một
mối tương quan xứng hợp. Do đó bản chất
ḥa b́nh chỉ là một sự thăng bằng
về quyền lực giữa hai thực thể đối
nghịch nhau.
Với những
người bị áp bức, đè nén, dối gạt, phản
bội, chiến tranh là một sự cần thiết, một
giải pháp tất yếu, một thời cơ thuận lợi
để đánh đổ kẻ thù bằng Lực
đ̣i lại Quyền sống, quyền làm người.
Giá của việc thực hiện lư tưởng là giá máu xương của những người
đă giác ngộ, quyết làm và dám chết một cách hiên
ngang như những kẻ chịu chết để bảo
vệ ḷng tin yêu. Không đổ máu tất không xoay chuyển
được vận mạng của dân tộc ḿnh, cho
chính ḿnh và cục diện thời đại. V́ chỉ có
đồng đẳng con người mới có b́nh đẳng
thật sự, sự kỳ thị vẫn là một thực
tế đang tồn tại trong nhiều xă hội.
Không có những cuộc chiến
tranh tự vệ thời Đinh, Lê, Lư, Trần, không có cuộc
chiến tranh quật khởi của Lê Lợi ..., th́ Việt
Nam chẳng c̣n tới ngày nay, mà chịu chung số phận
bị đồng hóa như những chi Việt khác ở
Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây. Khi tổ quốc
đă không c̣n dân tộc đă bị diệt vong th́ lư tưởng
Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Ḥa B́nh chỉ là
những sáo ngữ, trơ trẽn vô duyên.
Nhưng chiến tranh chỉ
là một phương tiện, như là một
phương tiện, chiến tranh có thể được
dùng cho nhiều mục đích khác nhau tùy theo mưu tính của
người nắm quyền lực. Phát xuất từ những
mưu tính này là những Chính Lược căn bản có
tính cách toàn diện, ở đó chiến tranh và chiến
lược chỉ đạo và chiến thuật áp dụng
chỉ được coi là thành phần, nhưng tùy hoàn cảnh
sẽ giữ vai tṛ hổ trợ, phụ thuộc hay sẽ
trở thành chủ yếu trong số các mặt trận ngoại
giao, kinh tế, gián điệp, tuyên truyền ... Với khối
trục Đức-Ư-Nhật, chiến tranh đă được
coi như là phương tiện chính để bành trướng
quyền lực hồi Đệ Nhị Thế Chiến.
Với khối Cộng Sản và các cường quốc
Anh, Pháp ..., cuộc chiến tranh Việt Nam với sự
tham dự của Hoa Kỳ cho tới tháng 4/1975, chỉ là cục
bộ có tính cách hổ trợ dùng làm suy yếu tiềm
năng kinh tế và uy tín Hoa Kỳ trên toàn cầu. Nghĩa
là chiến tranh được dùng như một
phương tiện kéo Hoa Kỳ xuống để họ
lên xấp xỉ ngang hàng.
Và với chúng ta, trường
hợp Việt Nam hiện giờ chỉ có thể giải
quyết bằng một Cuộc
Chiến Tranh Cách Mạng Dân Tộc và Nhân Chủ
được thực hiện từ Bắc chí Nam với
sự hổ trợ của các mặt trận ngoại
giao, tuyên truyền ..., và mục đích tối hậu của
cuộc chiến tranh đó là: Để đạt một
nền ḥa b́nh công chính, không những cho riêng Việt Nam mà
cho cả Đông Nam Á và Á Châu, tạo ra một trật tự
mới cho thế giới, ở đó đóa hoa lư tưởng
Độc Lập, Tự Do, B́nh Đẳng, Ấm No và Hạnh
Phúc sẽ đời đời tươi thắm.
3). Kinh Nghiệm Lịch
Sử
* - Thời lai đồ
điếu thành công dị
* - Vận khứ anh
hùng ẩm hận đa
(Đặng Dung)
Cuộc chiến
Việt Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 và kết
thúc ngày 20 tháng 7 năm 1954 bằng hội nghị Genève chia
đôi đất nước ngang vĩ tuyến 17. Dưới
cái nh́n bao quát toàn thể, trong bối cảnh của một
thế giới đang phân cực và tranh giành ảnh hưởng,
cuộc chiến Việt, Pháp trở nên phức tạp với
những âm mưu can thiệp của các thế lực quốc
tế luôn luôn khuynh loát lẫn nhau. Lư tưởng giành độc
lập, tự do cho tổ quốc, xây đắp một
tương lai no ấm trong ḥa b́nh cho dân tộc, là một
mục đích tối thượng đối với những
người quốc gia, th́ trái lại với người
Cộng Sản, đó chỉ là một chiêu bài có tính giai
đoạn. Mục đích của họ vươn ra ngoài
biên cương quốc gia và dẫm lên quyền lợi dân
tộc, để phục vụ cho chủ thuyết Mác Xít
Lê Nin Nít, tạo lập một siêu đế quốc thống
trị toàn thế giới. Sự khác biệt sâu sắc về
lập trường chính trị, đă tất yếu
đưa đến sự xung đột Quốc - Cộng
và sau năm 1954 là sự h́nh thành của hai nước Việt
Nam.
Tuy nhiên trong phạm
vi hạn hẹp của bài viết này, giai đoạn lịch
sử 1945 - 1954 được nh́n lại chỉ để
t́m hiểu xem người Cộng Sản trong vai tṛ “lănh
đạo” đă khôn khéo dùng chiến tranh như một
phương cách để loại bỏ những người
Quốc Gia ra sao?. Họ đă đạt được những
mục đích ǵ?. Người Pháp tại sao lại thua trận?.
Họ đă phạm vào những sai lầm căn bản
nào trên phương diện chính trị cũng như trong
lănh vực quân sự?.
A. Chiến Tranh và Người
Cộng Sản
Người Cộng
Sản đă tỏ ra khôn khéo khi vận dụng chiến
tranh như một phương tiện tạo nên uy tín chính
trị cho chính họ, một phương tiện để
thủ tiêu và vô hiệu hóa kẻ tử thù là người
Quốc Gia và kẻ thù giai đoạn là thực dân Pháp. Họ
chính là người đă đuợc lănh nhận tất cả
những “vinh quang” do chiến thắng đưa lại. Họ
thành công trong chiến tranh nhưng người Cộng Sản
đă thất bại trong ḥa b́nh. Sự đói nghèo, chậm
tiến, lạc hậu của miền Bắc sau hơn 50
năm xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa và cũng như
miền Nam sau gần 30 năm “giải phóng”, là một bằng
chứng tỏ rơ tính cách tay sai mà người Cộng Sản
chỉ là công cụ của Đảng, đảng Cộng
Sản Hà Nội trong vai tṛ “cai thầu lănh đạo” một
dân tộc, để cung ứng những dịch vụ
xương máu cần thiết cho âm mưu bành trướng
thế lực Cộng Sản quốc tế. Mặt nạ
của đảng Cộng Sản Hà Nội đă rơi xuống
để toàn dân Việt nh́n rơ chân tướng sài lang của
bọn Hồ, Duẫn, Chinh, Đồng và giới cầm
quyền chóp bu nội thù hiện tại, chỉ là những
kẻ buôn dân, bán nước, làm tay sai, tôi mọi cho ngoại
xâm.
B. Những Nhận Định
Sai Lầm Về Người Cộng Sản
Dưới ách
đô hộ của thực dân Pháp, mọi phong trào quần
chúng và các tổ chức chính trị đều bị
đàn áp thẳng tay và trừng trị nặng nề bằng
sự giết chóc, tù đày, khổ sai. Trong sự khao khát
độc lập, tự do, quần chúng đă quan niệm
một cách giản dị là: “làm cách mạng chống Pháp là
yêu nước”. Và người Cộng Sản với những
thành tích xách động quần chúng chống Pháp, những
thành phần bất hảo bị tù đày, cũng
được Cộng Sản coi là những người
yêu nước. Trong thập niên 1940's, chủ nghĩa Cộng
Sản là một cái ǵ xa lạ không riêng với quần
chúng, mà ngay cả giới trí thức có hoạt động
đảng phái hay đă từng tham gia chính quyền. Bằng
chứng là Trần Trọng Kim với tư cách thủ
tướng chính phủ, đă hết ḷng can thiệp với
Bộ Tổng Tư Lệnh Nhật ở Hà Nội để
xin tha cho những cán bộ Cộng Sản bị Nhật bắt
giữ. Bà Cả Tề một nhân sĩ đă hết ḷng
che chở cho các đảng viên cao cấp Cộng Sản,
khi họ hoạt động ở ngoài và đi thăm nuôi
khi họ bị bắt cầm tù. H́nh như tất cả
đă cố t́nh quên đi những sự thật lịch sử
phủ phàng đáng suy gẫm về bản chất tráo trở
của các lănh tụ Cộng Sản. Cụ Phan Bội Châu
đă bị bán cho mật vụ Pháp bắt với giá
mười vạn đồng vào ngày 30 tháng 6 năm 1925,
người chủ mưu bán Cụ Phan không ai khác hơn là
Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này và Lâm Đức
Thụ một đảng Viên Cộng Sản. Ngoài Cụ
Phan Bội Châu, các thanh niên thuộc các đảng phái Quốc
Gia không theo Cộng Sản đều bị Cộng Sản
mật báo cho Pháp bắt khi những người này lén lút
trở về Việt Nam tổ chức cơ sở và hoạt
động quần chúng (Đây
là những kinh nghiệm bằng Máu và nước mắt của
những người đi trước để cảnh
tỉnh giới trẻ ở hải ngoại và những
người đang tranh đấu nhưng thiếu kinh
nghiệm hiện nay, phải nh́n cho thật rơ đâu là
chính nghĩa đâu là gian tà, kẻo sa chân vào cạm bẩy
của kẻ nội thù Cộng Sản và ngoại xâm
phương Bắc đang giương ra). Đây là một
sách lược thủ lợi đôi đường vừa
hiểm độc mượn tay Pháp diệt được
các đảng viên trung kiên, ṇng cốt của những
đảng phái Quốc Gia đối thủ của đảng
Cộng Sản khi thời cơ đến cùng ra tranh thủ
quần chúng, mà cũng vừa là một h́nh thức kinh tài
(của Cộng Sản) để hoạt động và cũng
để giữ được mối giao hảo ngấm
ngầm với thực dân Pháp. Sau này vào năm 1943 lại
chính Nguyễn Hải Thần, lănh tụ Việt Nam Cách Mạng
Đồng Minh Hội đă can thiệp với
Trương Phát Khuê, một tướng lănh Quốc Dân
Đảng Trung Hoa để tha cho Nguyễn Ái Quốc tức
Hồ Chí Minh lúc đó đang bị bắt giam v́ hoạt
động Cộng Sản. Trương Phát Khuê đồng
ư nhưng bắt Hồ Chí Minh phải từ bỏ chủ
nghĩa Cộng Sản và gia nhập Việt Nam Cách Mạng
Đồng Minh Hội tức Việt Cách.
Đại
để là người Quốc Gia đă quá khinh xuất
không phân định được ai là kẻ đồng
hội, ai là người đồng thuyền, ai là thành phần
chủ lực trung kiên, ai là đồng minh giai đoạn,
ai là tối hậu địch nhân, ai là tương đối
địch nhân, ai là người Quốc Gia, ai là kẻ nội
thù Cộng Sản, chúng ta phải phân biệt, thẩm
định và xếp loại kẻ thù.
C. Những Cơ Hội Thuận
Lợi Dành Cho Cộng Sản Việt
Ngày 23 tháng 8
năm 1939 trùm Cộng Sản Stalin kư với Hitler một thỏa
ước bất tương xâm giữa Nga và Đức.
Với hiệp ước này, Cộng Sản Nga mở rộng
biên cương về phía Tây bằng cách sát nhập một
nửa nước Ba Lan và một số đất đai
quanh vùng. Cộng Sản Nga ngồi nh́n thế giới chiến
tranh, đóng vai tṛ ngư ông thủ lợi.
Vào tháng 6
năm 1941, Hitler bất thần tung quân xâm chiếm Nga. chỉ
trong khoảng 5 tháng Đức đă chiếm được
một phần lớn nước Nga, kiểm soát 40% dân số,
khai thác hơn 60% tổng sản lượng than và thép của
Nga. Nga tổ chức kháng chiến chống Đức.
Trước đó ít lâu, Hồ Chí Minh được lệnh
rời Mạc Tư Khoa về nước hoạt động,
phát triển đảng và bắt liên lạc với Đồng
Minh. Vào năm 1943 khi được Trương Phát Khuê
phóng thích, Hồ Chí Minh đă cam kết dùng người của
ḿnh đi thu thập tin tức về quân Nhật cho Quốc
Dân Đảng Trung Hoa. Hồ Chí Minh cũng đă bắt
liên lạc với một số sĩ quan t́nh báo Hoa Kỳ
(
Thế là trong
sự ngơ ngác, hoang mang hay sợ sệt của mọi
người, Cộng Sản đă chiếm được
thời cơ, đoàn ngũ hóa quần chúng và tiến lên địa
vị lănh đạo. Sự xuất hiện của các
đảng phái để công khai tranh thủ nhân dân và phản
ứng đối với việc Cộng Sản cướp
chính quyền có thể coi là chậm chạp, chỉ khởi
sự khi Quốc Quân Trung Hoa tiến vào Hà Nội để
giải giới Nhật theo đúng quy định của
hiệp ước Postdam. Với sự có mặt của Quốc
Quân Trung Hoa (thời đó dân chúng thường gọi là
quân Tàu Phù, v́ đa số bị phù xưng sốt rét, phù thủng
ghẻ Tàu), các đảng phái đă áp lực Cộng Sản
phải nhượng bộ cải tổ chính phủ và
dành một số ghế, 70 trong tổng số 444 ghế trong
quốc hội cho các đảng phái. Nhưng dưới
con mắt nghi kỵ của quốc dân, hậu quả của
hơn ngàn năm lệ thuộc Tàu và hơn tám mươi
năm lệ thuộc Pháp, hào quang cách mạng yêu nước
của các đảng phái đă bị hoen ố phần nào
v́ dựa thế quân ngoại quốc quá lộ liễu.
Sau bao khó
khăn, quốc hội Việt
Về phía hành
pháp, các người Quốc Gia nắm ghế bộ trưởng
như: Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân
Chính) nắm ngoại giao, Trương Đ́nh Trị (Việt
Cách) nắm y tế, Bồ Xuân Luật (Việt Cách) nắm
canh nông và kể cả Nguyễn Hải Thần (Việt
Cách) làm Phó Chủ Tịch nhà nước, đều chỉ
nắm hư vị, ngồi chơi xơi nước. Mọi
việc từ nhỏ đến lớn đều do
người Cộng Sản giải quyết. Hồ Chí Minh,
Vơ Nguyên Giáp và tổng đảng bộ Cộng Sản họp
bàn hoạch định đường lối và điều
động việc thi hành. Hồi đó, Tổng Đảng
Bộ Cộng Sản gồm có: Hạ Bá Cang, Nguyễn
Lương Bằng, Bùi Lân, Trường Chinh tức Đặng
Xuân Khu, Bùi Công Trừng và hai đảng viên Cộng Sản
quốc tế, một người Tàu tên Pô, một người
Nhật tên Tiêu Xung (cả hai đều dấu Họ).
Sự có mặt
hư vị của các đảng phái Quốc Gia trong chính
quyền được người Cộng Sản tính
toán và chấp nhận như một chiến thuật: Là
chia xẻ trách nhiệm trước quốc dân và tạo một
bộ mặt Quốc Gia cho chính họ, để tránh sự
có thể bị đàn áp bằng vơ lực của Quốc
Quân Trung Hoa. Kinh nghiệm về những cuộc đàn áp Cộng
Sản thẳng tay của Quốc Quân Đảng Trung Hoa
c̣n quá mới đối với những người Cộng
Sản và nhất là Hồ Chí Minh, mà cuộc tháo chạy
tơi tả dài cả vạn lư của Mao Trạch Đông
là một điển h́nh.
Đối với
người Cộng Sản, trở ngại lớn nhất
trên đường thực hiện chủ nghĩa không phải
là thực dân Pháp mà là người Quốc Gia Chân Chính, v́ thực
dân Pháp là “thời địch” có tính giai đoạn sẽ
qua đi. Chính người có tinh thần Quốc Gia mới
là kẻ tử thù, “tối hậu địch nhân” của
Cộng Sản, khi mà họ nhận ra được bản
chất của Cộng Sản là đế quốc cực
quyền chủ trương độc tài và áp chế. Chỉ
cần xét qua bản điều lệ gồm 21 điểm
quy định tổ chức Comintern, Đệ Tam Quốc
Tế Cộng Sản th́ đủ rơ. Điểm 6 triệt
để ngăn cấm các đảng viên Cộng Sản
địa phương không được có khuynh hướng
quốc gia. Điểm 14 buộc các đảng viên Cộng
Sản địa phương phải triệt để
và vô điều kiện ủng hộ Liên Bang Cộng Ḥa Sô
Viết. Điểm 16 buộc các đảng viên Cộng Sản
địa phương phải tuyệt đối trung
thành chấp hành toàn bộ mệnh lệnh của vô sản
quốc tế, trong đó đảng Cộng sản Nga nắm
quyền quyết định tối hậu.
Tổ chức
Đệ Tam Quốc Tế do V. I. Lenin triệu tập tại
Mạc Tư Khoa năm 1919, với khẩu hiệu “Vô sản
các nước hăy đoàn kết lại”, đă bị Stalin
giải tán vào năm 1943 sau khi bị Đức đánh chiếm
gần nửa lănh thổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một
chiến thuật của Stalin với mục đích làm an
ḷng “đế quốc” Mỹ, để Mỹ rộng tay
viện trợ cho Nga thêm nhiều quân trang, quân dụng, vũ
khí, thực phẩm … Sau khi cùng đồng minh thắng
Đức, Nga đương nhiên bước lên địa
vị siêu cường chia vùng ảnh hưởng với Mỹ,
th́ Stanlin lại tái thiết lập Cộng Sản đệ
tam quốc tế vào năm 1948, với danh xưng mới
Comintern để kiểm soát chặc chẻ hơn các
đảng Cộng Sản địa phương.
Chiến Thuật
của Stalin vào năm 1943 cũng đă được
đảng Cộng Sản Đông Dương áp dụng
vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, khi tuyên bố tự giải tán
để trấn an dư luận quần chúng, để
giải tỏa sự chống đối càng ngày càng gia
tăng của các đảng phái Quốc Gia và nhất là
để dành cảm t́nh của Hoa Kỳ. Trong nhiều cuộc
tiếp xúc với các đảng phái và tôn giáo, Hồ Chí
Minh luôn luôn chứng tỏ, cam kết và dùng tới cả lời
thề độc để làm cho những người
được Hồ Chí Minh tiếp xúc tin rằng, họ
Hồ là người Quốc Gia hay ít ra cũng đă dứt
khoát với quá khứ Cộng Sản của ḿnh. Cố vấn
chính phủ giám mục Lê Hữu Từ là một trong những
nhân vật đă được Hồ Chí Minh vận dụng
t́nh cảm theo kiểu này, để yêu cầu Thiên Chúa Giáo
cộng tác với Cộng Sản vào những ngày đầu
tiên khi Cộng Sản lên nắm chính quyền.
V́ những áp lực
chống đối nặng nề, nhất là từ phái các
đảng phái qua thế lực Quốc Dân Đảng
Trung Hoa, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản đă tính đến việc
đưa công dân Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo
Đại, đang giữ chức cố vấn tối cao
cho chính phủ liên hiệp ra lập chính phủ. Nhưng v́
sự tham nhũng của các tướng Quốc Dân Đảng
Trung Hoa, Cộng Sản đă khôn khéo dùng vàng quyên góp
được của dân chúng để xây dựng tổ
quốc, hối lộ những người có quyền hành
như tướng Tiêu Văn và Lư Hán. Được vàng
của Cộng Sản, Quốc Dân Đảng Trung Hoa bỏ
rơi các đảng phái Quốc Gia và để người
Cộng Sản rộng tay hoạt động tiêu diệt
các đảng phái Quốc Gia, những
người nhẹ dạ ngây thơ tin vào sự giúp đỡ
vô vị lợi của ngoại bang. Đây cũng là cái
gương để cho người Cộng Sản Hà Nội
hiện nay soi lại và đừng tin vào những ǵ kẻ
ngoại xâm nhất là người Tàu hứa hẹn giúp
đỡ, trong giờ phút thập tử này khi mà chế
độ không c̣n đường sinh lộ.
D. Chiến Tranh,
Phương Tiện Hoàn Hảo Thực Hiện Chủ Nghĩa
Cộng Sản
Ḥa
ước Trùng Khánh kư ngày 28/2/1946 giữa Pháp và Trung Hoa
đă cho Pháp tiến quân lên phía trên vĩ tuyến 16 thay thế
Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật. Đổi lại
Pháp nhượng cho Trung Hoa đường xe lửa Lào Kay
- Vân Nam, trả lại các tô giới cũ và hứa ưu
đăi Hoa kiều ở Đông Dương. Thâm ư của
Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) là rút quân về dồn
lực tiêu diệt Trung Cộng đang được Nga
giúp tiếp thu đất Măn Châu từ tay Nhật, và dùng
tay Pháp trấn áp Cộng Sản Việt Nam rồi làm phên dậu
che an toàn mặt biên giới phía Nam cho Trung Hoa.
Sự rút quân
Trung Hoa khỏi Việt
* - Ai Công hầu, ai Khanh Tướng, trong trần
ai, ai dễ biết ai !
(Đặng Trần
Thường)
* - Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp
thời thế, thế thời phải thế
(Ngô Thời Nhiệm)
Người Cộng
Sản cố mềm mỏng trong việc điều
đ́nh với Pháp để mua thời gian củng cố
lực lượng và phát triển cơ sở tổ chức.
Cộng Sản đă kư hiệp định sơ bộ
ngày 8/3/1946 với Pháp, thừa nhận sự đóng quân của
Pháp trên lănh thổ Việt Nam. Với hiệp ước
này, Cộng Sản đă bị người Quốc Gia chỉ
trích và quần chúng mất tin tưởng. Dư Luận
đă xôn xao, nghiêm khắc lên án kết tội Việt Minh
là kẻ rước Pháp vào tái lập chế độ thực
dân, như xưa Hồ Chí Minh đă từng cộng tác với
mật vụ Pháp để điềm chỉ bắt
người Quốc Gia, nên thời đó có thơ rằng:
“Đánh tan cái lũ bất nhân,
Đánh tan cái lũ rước quân Pháp về.
Cùng nhau hẹn một lời thề,
Đă làm cách mạng chẳng hề sợ chi.
Nhớ lời mạnh bước chân đi
Diệt quân Cộng Sản bỏ khi cực ḷng”
Và ngay cả những
người thiên tả trong nhóm thợ thuyền Việt
Nam tại Pháp cũng tỏ lộ sự phẫn nộ,
công khai đă kích Hồ Chí Minh. Tờ Paria xuất bản tại
Ba Lê vào những ngày đầu tháng 7/1946, đă đăng
một bức thư ngỏ gởi Hồ Chí Minh như
sau:
“Chúng tôi một số
đồng chí ít ỏi do chính đồng chí (Hồ Chí
Minh) đào tạo 1925. Những “tư tưởng?” của
đồng chí đă thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng
chí như biểu tượng cho tất cả tầng lớp
thợ thuyền Việt Nam trẻ.
Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết
hy vọng sau thỏa ước 8/3. Đồng chí đă kư
một thỏa ước chấp nhận tự trị mà
không phải độc lập. Sức mạnh ḷng tin
tưởng của chúng tôi đặt vào nơi đồng
chí là lănh tụ phong trào cách mạng phản đế, cũng
ngang ngửa với ḷng căm phẫn của chúng tôi. Chúng
tôi lấy làm xấu hổ là đă chọn lầm lănh tụ,
nhưng nhân dân Việt
Hội nghị
Đà Lạt họp vào tháng 4 và tháng 5/1946 và Fontainebleau vào
tháng 3 tháng 7, 8 và tháng 9/1946 để cố gắng sửa
lại thiếu sót đó, để đ̣i hỏi hoàn toàn
độc lập cho Việt Nam đă bị thất bại.
Hồ Chí Minh đích thân đi Ba Lê vận động qua
đường dây Cộng Sản Pháp nhưng cũng không
xong.
Sợ mất
quyền lực chính trị với quần chúng, họ Hồ
đành phải kư một Tạm Ước với tổng
trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại, Marius Moutet, đảng
viên xă hội (đă quen biết họ Hồ từ hai
mươi năm qua) vào ngày 14/9/1946. Tạm Ước này
chỉ là sự tái xác nhận nhiều đặc quyền
của thực dân Pháp trên lănh thổ Việt Nam.
Trào lưu chính
trị thế giới đă biến đổi với sự
h́nh thành của các thế lực siêu cường và những
vùng ảnh hưởng. Người Pháp đại diện
bằng De Gaulle và các chính khách thực dân vẫn chủ quan
nuôi tham vọng tái lập toàn vẹn thuộc địa,
được gọi là Pháp Quốc Hải Ngoại. Chính
sách duy tŕ toàn vẹn đế quốc thực dân dưới
danh hiệu mới Liên Hiệp Pháp được chấp
thuận tại hội nghị Brazzaville, thủ đô Congo
thuộc Pháp vào tháng 4/1945, mà sự áp dụng đầu
tiên là cuộc tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.
Với chính
lược đă quy định, việc Pháp tái chiếm Việt
Nam chỉ là vấn đề thời gian. Trong hoàn cảnh
cực kỳ khó khăn cho Cộng Sản, ngoài th́ bị kẻ
thời địch là thực dân Pháp lấn át, đ̣i những
điều kiện không thể chấp nhận được,
trong th́ bị những đảng phái quốc gia lật mặt
nạ chỉ trích và dân chúng bắt đầu nghi kỵ là
thỏa hiệp bắt tay với Pháp, Tổng Đảng
Bộ Cộng Sản sau những suy tính hơn thiệt
đă chấp nhận giải pháp chiến tranh như con
bài gỡ thế bí. Hồ Chí Minh hạ lệnh “Tiêu Thổ
Kháng Chiến”. Súng nổ vào tối ngày 19/12/1946.
Với chiến
tranh người Cộng Sản lấy lại được
uy thế chính trị, nắm được hào quang chính
nghĩa quốc gia. Chiến tranh như một
phương tiện tuyệt hảo được người
Cộng Sản dùng để thực hiện mục tiêu ngắn
hạn thuộc chiến thuật, cũng như những mục
tiêu dài hạn nằm trong chiến lược và cả những
mục tiêu tối hậu nằm trong chính lược toàn cầu
của Cộng Sản quốc tế, Cộng Sản luôn
luôn tâm niệm dùng cách mạng bạo lực để thực
hiện một chế độ vô sản chuyên chính. Chém giết
là phương tiện tốt nhất để trấn áp
chống đối và đạt thắng lợi, trong một
xă hội mà bản chất đấu tranh và sinh tồn giữa
những con người làm nên giai cấp xung đột
nhau trong mối tương quan Quyền, Lực. Với
người Cộng Sản chủ trương chiến
tranh toàn diện để đạt được mục
đích, tối hậu của chiến tranh là hoàn toàn tiêu diệt
được quân địch với tất cả
năng lực Công cũng như Thủ và không để kẻ
thù khôi phục tiềm năng, v́ ḥa b́nh chỉ được
coi là một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến
tranh sắp tới.
Trong cuộc
chiến tranh Pháp Việt 1945-1954, chiến tranh đă là một
duyên cớ chính đáng được Cộng Sản triệt
để vận dụng để biện minh cho những
hành động áp chế dân chúng của họ, quần
chúng đă cúi đầu chấp nhận chiến tranh
như chấp nhận số phận hẩm hiu của
chính họ. Với chiến lược tiêu thổ kháng chiến,
người Cộng Sản đă cho lệnh đốt phá
thẳng tay nhiều thành phố, cầu cống, nhà máy
trước khi rút lui. Nằm trong chiến lược trên,
Cộng Sản cũng đă lùa dân triệt để tản
cư về thôn quê, ra ngoại thành. Dụng ư xấu xa của
Cộng Sản khi cho đốt phá triệt hạ các thành
phố và lùa dân đi không chỉ đơn thuần trong mục
tiêu quân sự là: Di tản chiến thuật tạo khó
khăn cho quân Pháp, không cho chúng xử dụng các cơ sở,
tiện nghi vật chất để làm chiến tranh, cũng
không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu chính trị
giai đoạn: Tranh thủ dân với Pháp để Pháp
không có dân cai trị và xử dụng trong các dịch vụ
... Đành rằng các mục tiêu kể trên là những mục
tiêu thực tế và cấp thời, v́ yếu tố cơ
bản để làm chiến tranh là nhân dân. Không có dân không
có chiến tranh, không có dân không có người cầm súng.
Không có dân không có lương thực nuôi quân. Không có dân không
có t́nh báo để thấu triệt t́nh địch. Không có
dân không có chổ nương náu an toàn. Dân là nước và
quân là cá. Nhưng hành động đốt phá thành phố
của Cộng Sản nó c̣n mang thêm một ư nghĩa cao
hơn của chính lược Cộng Sản: vô sản hóa
quần chúng bằng chiến tranh, chuẩn bị nền
móng khai quang đất địa để xây dựng chế
độ vô sản chuyên chính. Người dân thành phố
sau khi bị cắt đứt với những liên hệ
tài sản của họ ở thành thị, họ chỉ
c̣n hai bàn tay trắng, và họ phải lệ thuộc vào
chính quyền về đồng lương nếu họ
là công chức, về thuế khóa nếu là người dân
buôn bán. Họ trong t́nh trạng vô sản tất sẽ dễ
dàng chấp nhận những biện pháp cải cách của
chính quyền Cộng Sản hơn cả những nông dân
thiếu ăn, thiếu mặc nhưng thừa đầu
óc tư hữu.
Sau khi Mao Trạch
Đông thống nhất Hoa Lục, tuyên bố thành lập
chế độ Cộng Ḥa Nhân Dân vào ngày 1/10/1949, Cộng
Sản Việt Nam cũng để lộ nguyên h́nh, họ
không cần dùng tới mặt nạ ngụy trang quốc
gia như trước nửa. Với họ, tư tưởng
Quốc Gia Dân Tộc bị kết án là hẹp ḥi, lạc
hậu và ... phản động. Ḷng yêu nước chân
chính (suy nghĩ theo kiểu Cộng Sản) phải là phục
vụ lư tưởng Cộng Sản và giai cấp vô sản
quốc tế. Đảng Cộng Sản được
tái lập với danh xưng mới: Đảng Lao Động
Việt
Được
sự giúp đỡ tận t́nh của Cộng Sản Trung
Cộng như một hậu phương lớn, vững
chắc và an toàn, Cộng Sản Việt Nam đă phản
công Pháp và dần dần đẩy Pháp vào thế bị bao
vây. Sự chênh lệch đă quá rơ rệt khi đem cân lực
lượng đôi bên, giữa thế lực quốc tế
đang lên là Cộng Sản và thế lực đă suy tàn của
đế quốc thực dân Pháp sau Đệ Nhị Thế
Chiến.
Ngày 20/7/1954 Pháp
và Việt Minh kư hiệp định Genève chia đôi Việt
Nam, trên Vĩ Tuyến 17 Cộng Sản tiếp tục công
việc đang làm dang dở qua phương tiện chiến
tranh: Cải tạo nhân dân, cải tạo xă hội mà
điển h́nh là cuộc cải cách ruộng đất thực
hiện từ 1953 - 1956 với trên nửa triệu người
dân bị Cộng Sản giết chết oan uổng, v́ những
ư niệm mơ hồ trong một nội dung co dăn như
Địa Chủ, Phú Nông, Tư Sản ... V́ những tội
danh chụp mũ như: hút máu mủ nhân dân, chống phá
cách mạng, Việt gian bán nước ... để bắt
ép cả nước vững chắc tiến nhanh, tiến
mạnh lên Xă Hội Chủ Nghĩa, bảo đảm hoàn
tất tốt đẹp nghĩa vụ quốc tế vô sản
được Mạc Tư Khoa giao phó: là tiền đồn
của Xă Hội Chủ Nghĩa.
4). Chiến Tranh Và
Người Pháp
A. Những Thời
Điểm Đáng Ghi Nhớ.
Ngày 16/6/1940
Đức chiếm Ba Lê. Thống chế Pétain được
sự ủy nhiệm của quốc hội Pháp để
cộng tác với Đức, thành lập chính phủ Vichy.
Đức để cho Pháp giữ nguyên các thuộc địa.
Jean Decoux, Tư Lệnh Hạm Đội Viễn Đông
được cử làm toàn quyền Đông Dương
thay tướng Catroux bỏ theo phe kháng chiến De Gaulle.
Ngày 25/4/1944 lực
lượng kháng chiến của De Gaulle theo chân Đồng
Minh vào giải phóng Ba Lê. De Gaulle cử Đô Đốc
Thierry D'Argenlieu làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân
đội Pháp tại Đông Dương. Nhưng v́ những
khó khăn chính trị De Gaulle tự ư rút lui, Georges Bidault lên
làm thủ tướng. Sự rút lui của De Gaulle không thuần
lư do nội bộ mà c̣n có những lời hứa tốt
đẹp đối với các thuộc địa khi De
Gaulle c̣n cần sự giúp đỡ về nhân lực và vật
lực của các thuộc địa để kháng chiến
chống Đức (Thủ
đoạn chính trị này lại được thấy
vào năm 1973 sau khi Mỹ và Việt Cộng kư hiệp
định Ba Lê. Tổng Thống Richard Nixon phải từ
nhiệm v́ vụ Watergate. Nh́n dưới khía cạnh chính
trị, đây chỉ là một vụ trốn thi hành những
mật ước mà Mỹ đă hứa với Việt Cộng
như: viện trợ tái thiết cầu cống, cơ sở
kỹ nghệ và Kinh Tế. Bằng chứng dù bị báo
chí bôi bẩn, Nixon vẫn được Tổng Thống
Reagan chính thức nhờ đại diện đi dự
đám tang của Tổng Thống Saddat và lănh những sứ
mạng đặc biệt đi Trung Cộng).
Tháng 4/1945, hội
nghị Brazzaville tại thủ đô Congo thuộc Pháp, quyết
định chính lược của Pháp chấp nhận canh
tân, nhưng vẫn duy tŕ đế quốc dưới danh
hiệu Liên Hiệp Pháp.
Cuối tháng
8/1945, Anh đổ quân giải giới Nhật theo hiệp
ước Postdam từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Với
sự đồng ư và sự giúp đỡ của Anh, Pháp
đă theo chân Anh vào tái chiếm Nam Bộ Việt
Ngày 28/2/1946 Pháp
kư hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa và thay thế
Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật từ trên vĩ
tuyến 16 trở lên.
Ngày 6/3/1946
Sainteney đại diện D'Argenlieu kư với Hồ Chí Minh
và Vũ Hồng Khanh hiệp định sơ bộ. Hiệp
định này thừa nhận quyền đóng quân của
Pháp trên lănh thổ Việt Nam thay quân Trung Hoa. Do đó ngày
18/3/1946 sư đoàn cơ giới của Tướng
Leclerc và bộ binh Pháp từ Hải Pḥng lên đóng tại
Hà Nội.
Trong hai tháng 4
và 5/1946, hội nghị Đà Lạt bàn tiếp về hiệp
định sơ bộ. Nguyễn Tường Tam làm
trưởng phái đoàn, Vơ Nguyên Giáp làm phụ tá. Hội
nghị bế tắc v́ thái độ cứng rắn của
Pháp.
Ngày 4/6/1946 Pháp
tách rời Nam Bộ, đưa bác sĩ Nguyễn Văn
Thinh làm thủ tướng lập chính phủ Nam Kỳ tự
trị.
Trong ba tháng 7, 8
và 9/1946 hội nghị Fontainebleau tiếp tục, hội
nghị Đà Lạt bàn về hiệp định sơ bộ
cũng bế tắc và ngày 12/9 một số nhân viên phái
đoàn Việt Nam bỏ về nước trước.
Ngày 14/9/1946 một
ḿnh chủ tịch nhà nước là Hồ Chí Minh đến
gặp riêng Bộ Trưởng Moutet tại tư gia vào nửa
đêm để kư bản tạm ước tái xác nhận
hiệp định sơ bộ 8/3/1946.
Ngày 20/11/1946
Pháp đánh chiến Hải Pḥng.
Ngày 19/12/1946 chiến
tranh Việt Pháp bùng nổ.
Ngày 5/6/1948 hiệp
định Hạ Long được kư kết. Cao Ủy
Bollaert đại diện Pháp long trọng tuyên bố thừa
nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp.
Cựu Hoàng Bảo Đại, chỉ định thiếu
tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ trung
ương lâm thời. Giải pháp Quốc Gia đă
được người Pháp nói đến từ lâu nay
mới được thành h́nh.
Ngày 8/3/1949 thỏa
ước Elyseé kư giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol
và cựu hoàng Bảo Đại tái xác nhận hiệp
định Hạ Long, thừa nhận Việt Nam độc
lập trong liên hiệp Pháp.
Ngày 20/7/1954 chiến
tranh kết thúc bằng hiệp ước Genève giữa
Pháp và Việt Minh chia đôi Việt
5). Những Sai Lầm
Chính Lược Của Pháp
Sau
Đệ Nhị Thế Chiến, đế quốc thức
dân Pháp hoàn toàn suy yếu, trong một bối cảnh thế
giới đă có những đổi thay tận gốc rễ
với những thế lực đang h́nh thành và chia vùng ảnh
hưởng. Sự thân thiết có tính chiến lược
của Mỹ với Nga qua Roosevelt và Stalin đă nói lên sự
kém vế của Anh, Pháp dù được xếp vào hàng
cường quốc. Chủ nghĩa thực dân đă trở
thành lỗi thời và là mục tiêu công kích của toàn thế
giới với sự hổ trợ của hai siêu cường
Mỹ (tự do), Nga (Cộng Sản). Nh́n được
trào lưu chính trị của thời đại, Anh đă
khôn khéo sớm trao trả độc lập cho các thuộc
địa và chân thành cộng tác với họ để
thành lập khối thịnh vượng chung Liên Hiệp
Anh. Trái lại, Pháp c̣n muốn cố gắng duy tŕ đế
quốc thực dân, dùng thuộc địa như những
phương tiện hữu hiệu để phục hồi
mẫu quốc Pháp đă bị tàn phá sau những năm bị
Đức chiếm đóng. Hội nghị
Pháp ngoan cố
muốn đi ngược lại tiến tŕnh hướng
thượng của nhân loại, với một chủ nghĩa
thực dân đă lỗi thời được ngụy
trang dưới chiêu bài “khai hóa” đă bị tố cáo và lật
tẩy, Pháp đă bị chống đối
đương nhiên bởi các thuộc địa, là đối
tượng để công kích của toàn thể loài người
yếu và của thế lực quốc tế nay đă trở
thành siêu đế quốc thực dân kiểu mới (kiểu
Cộng Sản).
6). Pháp Sai Lầm Chiến
Lược Trong Cuộc Chiến Đông Dương
1945-1954
Trong
tầm mức chiến lược, Pháp đă sai lầm
nghiêm trọng trên cả hai phương diện chính trị
lẫn quân sự. Sự thua trận của Pháp chỉ là một
kết quả đă thấy trước và tất yếu
phải đến (hiện tại Pháp đă và đang sai lầm
một lần nửa trên phương chính trị khi tự
cho ḿnh là siêu cường và muốn đối đầu với
Hoa Kỳ, khi pháp bắt tay với Trung Cộng đối
đầu với Mỹ trên bàn cờ chiến lược
tại Á Châu).
A).
Phương diện chính trị
V́ thiếu một
chính lược đúng đắn nên thái độ chính trị
của người Pháp cũng trở nên bất nhất. Nền
Đệ Tứ Cộng Ḥa Pháp với những chia rẽ
nội bộ và là những chính phủ yếu kém đă là
nguyên do chính của thái độ chính trị không dứt
khoát đó. Pháp đă thật sự thất bại trong việc
tạo một chiêu bài Quốc Gia cho cuộc chiến tranh
chống Cộng Sản. Bộ mặt thực dân quá lộ
liễu của Pháp đă đẩy một số lớn
dân chúng Việt Nam về phía Cộng Sản và làm cho những
người Quốc Gia Việt Nam bị bế tắc. Họ
bị chết đứng giữa hai gọng kềm Thực
Dân - Cộng Sản và họ là điểm ngắm giữa
hai lằn đạn thù.
Giải pháp Quốc
Gia đă được giới chính trị lẫn quân sự
Pháp đề cập đến từ lâu, nhưng chỉ
thành h́nh vào ngày 5/6/1948 với khuôn mặt Bảo Đại.
V́ sự không thực tế với người Pháp và thêm
vào đó là sự phá hoại của Cộng Sản Pháp tại
ngay nghị trường, điển h́nh là dân biểu Cộng
Sản Maurice Thorez (Maurice Thorez một cấp trên của Hồ
Chí Minh, được Stalin giao quyền trông coi Đông
Dương Cộng Sản Đảng khi Hồ Chí Minh bị
gọi về Mạc Tư Khoa khiển trách về vụ
Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1932, đă tố cáo Bollaert với
âm mưu làm sao ép buộc được cả năm quốc
gia Đông Dương vào Liên Hiệp Pháp ngay khi Bollaert
được đề cử làm Cao Ủy Đông
Dương ngày 5/3/1947) đă làm cho chiêu bài Quốc Gia mà họ
dựng lên, thiếu hấp dẫn đối với những
người Cách Mạng có tinh thần Quốc Gia đă có
thành tích chống Cộng và chống cả thực dân Pháp.
Chiêu bài Quốc Gia đó cũng kém hấp dẫn ngay cả
những người dân Việt
Không phải
Pháp không có những người nh́n ra sự cần thiết
phải có một chính nghĩa Quốc Gia để chống
lại Cộng Sản, trong một cuộc đấu tranh
chính trị để tranh thủ quần chúng, nhưng những
người nh́n được vấn đề,
đưa được giải pháp lại không phải
là những người nắm nhiệm vụ giải quyết
vấn đề. Hơn ai hết, với hơn 80 năm
kinh nghiệm đô hộ Việt nam, người Pháp tất
hiểu tinh thần đấu tranh kiên cường của
những đảng phái cách mạng ra sao!. Và cũng hơn
ai hết, những người Pháp có kinh nghiệm cai trị
tất hiểu rằng Cộng Sản đă e sợ và thù
ghét người Quốc Gia như thế nào!. V́ trên bản
chất, người Việt Nam Quốc Gia với lư tưởng
“Tổ Quốc Trên Hết” đă, đang và vĩnh viễn
sẽ là kẻ thù của bất cứ thế lực xâm
lược nào dù lộ liễu, lạc hậu như đế
quốc thực dân kiểu cũ , dù họ có trá h́nh khôn
khéo dưới một chủ thuyết (Cộng Sản)
được tôn xưng là khoa học, là đỉnh cao
trí tuệ như siêu đế quốc thực dân kiểu
mới.
V́ e sợ giải
pháp Quốc Gia được trao phó cho những Người
Quốc Gia Chân Chính (người
quốc gia chân chính là những người không thỏa hiệp,
không nhân nhượng, không xem tổ quốc ḿnh như một
món hàng để trao trao đổi) nên Cộng Sản
đă xuống tay thủ tiêu nhà văn Khái Hưng, đảng
viên của Đại Việt Dân Chính Đảng năm
1947. Nhà văn Nhượng Tống, đảng viên Quốc
Dân Đảng bị ám sát năm 1947. Nguyễn Văn Sâm,
sáng lập viên phong trào Quốc Gia Thống Nhất bị bắn
chết tại Sài G̣n năm 1947. Bác Sĩ Trương
Đ́nh Tri, Chủ Tịch Hội Đồng An Dân Bắc
Việt, bị bắn chết tại Hà Nội năm 1947
(Bác Sĩ Trương Đ́nh Tri đă từng làm Bộ
Trưởng Y Tế trong chính phủ Hồ Chí Minh năm
1945) và c̣n biết bao nhiêu các đảng viên trung kiên và ṇng cốt
của các đảng phái Quốc Gia khác, đă bị Cộng
Sản cầm tù, tra tấn, xử bắn với tội
danh Cộng Sản gán cho họ là Việt gian bán nước,
trong mục đích bôi xấu các đảng phái Quốc Gia
rồi có cớ giết đi để trừ hậu họa.
Năm 1948, vụ
phá hoại chiến hạm Amio D'Inville ở Sầm Sơn
(Thanh Hóa) là một vụ phản gián của t́nh báo Cộng
Sản phá giải pháp Quốc Gia, khi Pháp cố liên lạc
với các đảng phái Quốc Gia t́m người cộng
tác. Hoàng Đạo, một tên gián điệp Cộng Sản
mạo danh đại diện của Việt Nam Dân Tộc
Cách Mệnh Đảng (một đảng có thành tích chống
Cộng quyết liệt ở Thanh Hóa, Ninh B́nh, Nam Định
đă bị Cộng Sản đàn áp, bắt giam cả ngàn
đảng viên), để điều đ́nh với Pháp tổ
chức một cuộc nổi dậy bằng vơ trang ở
Liên Khu IV với sự yểm trợ của Pháp ở vùng
biển. Hoàng Đạo có nhờ Pháp mang gia đ́nh về
Hải Pḥng trên chiến hạm Amio D'Inville. Những va ly
hành lư chứa toàn chất nổ của gia đ́nh Hoàng
Đạo đă gây thiệt hại khá nặng cho chiếc
tàu này.
Trong một cuộc
công du Hoa Kỳ để yêu cầu tăng quân viện vào
ngày 20/9/1951, Đại Tướng De Latre de Tassigny, Cao Ủy
Kiêm Tổng Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương,
đă đề cao sự hy sinh của quân Liên Hiệp Pháp
đang giúp đỡ quân đội Quốc Gia Việt Nam
chống kẻ thù chung của thế giới tự do là Cộng
Sản. Nhưng báo chí Mỹ đă chỉ trích Pháp và đặt
câu hỏi: Tại sao những người Việt Nam chiến
đấu cho tổ quốc họ khỏi họa Cộng
Sản, khi tử trận người Pháp lại đề
trên mộ họ những hàng chữ ô nhục “Mort pour la
France” (chết cho nước Pháp? ! )
Chiến tranh cũng
cần có khôn khéo như trong chính trị, nghĩa là cũng
cần những lư do chính đáng để biện minh cho
hành động. V́ như một tiến tŕnh, chiến tranh
chỉ là một sự kế tiếp của đấu
tranh chính trị, dưới h́nh thức bạo lực trên
một tầng cấp cao có tính cách quyết liệt, triệt
để và toàn diện.
B) Phương Diện Quân Sự
Thiên Thời,
Địa Lợi và Nhân Ḥa là những yếu tố cần
thiết để tạo nên sự chiến thắng.
Nhưng không phải lúc nào ba yếu tố đó cũng
đi với nhau. V́ đó mà kẻ tài trí phải tranh, phải
mượn, phải tạo, phải đợi ... để
đạt chiến thắng. Và xét cho cùng, địa lợi
là việc quan trọng hơn cả đối với việc
dùng binh. Có một yếu tố địa lợi là cũng
đủ thắng người, tranh hơn với thiên hạ.
Địa Lợi là thứ phải tranh mới được,
không như Thiên Thời phải chờ mới có, không
như Nhân Ḥa phải tạo mới thành. Nói đến chiến
tranh tất nói đến trận mạc với cách thế
hành quân đánh địch, thủ thành. Chiến tranh phải
căn cứ thực tế đất địa mà ứng
biến thích nghi. Người xưa vẫn thường
nói Trận Địa là có ư đó. Có thể khẳng định
là không có đất địa, không có trận thế ... và
do đó có thể nói nguyên do thất trận của Pháp ở
Việt Nam là Pháp đă không nh́n ra được bản chất
và thực lực của đối thủ để từ
đó chọn chiến trường, chọn lối
đánh và ấn định thời gian dứt điểm.
Nếu người
Pháp nh́n ra được vùng tam giác Hồng Hà và vùng Thanh Hóa
như là đất tranh và dùng toàn lực để tranh và
giữ vùng đó, th́ cuộc chiến Đông Dương sẽ
ra sao?
Đất
Tranh theo binh pháp của Tôn Tử là vùng đất mà ta chiếm
được th́ ta lợi lớn, địch chiếm
được th́ địch cũng lợi vô cùng, đất
tranh v́ thế không thể nhường, mà phải xuất
tận lực nhanh tay mà lấy.
Những ngày
đầu của chiến tranh, lực lượng của
Cộng Sản không có ǵ đáng so sánh với quân đội
Viễn Chinh Pháp, thế mà Pháp không biết lợi dụng
ưu thế để tốc chiến tốc thắng,
Pháp đă để cho Cộng Sản lấy thời gian
mua không gian, “dùng thời gian như thần hộ vệ của
kẻ yếu như Clausewitz một chiến lược
gia Âu Châu đă nhận định”. Cốt nhiên vấn
đề không thuần quân sự, nhưng nếu nắm
được vùng đông dân cư thuộc sông Hồng và
Thanh Hóa, tức là nắm được nguồn tiếp tế
chiến tranh, người và vật lực của Cộng
Sản. Dân chúng cũng giống như nước, ở bầu
th́ tṛn, ở ống th́ dài. Hiểu được bản
chất bất định của quần chúng, Cộng Sản
đă đổ khuôn, đóng dấu quần chúng bằng
chiến dịch tản cư để lùa dân về vùng do
Cộng Sản kiểm soát, đó là Cộng Sản đă
phá cái thế Địa Lợi của Pháp.
Nếu những
ngày đầu của chiến tranh Pháp chiếm trọn
vùng đông dân cư châu thổ sông Hồng và sông Mă, rồi
vơ trang cho các đảng phái và tôn giáo để chống Cộng
Sản, như Pháp đă làm tại vùng châu thổ sông Cửu
Long, với giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo ... th́ Cộng Sản
không thể vẫy vùng một ḿnh một chợ. Nhưng
Pháp đă để uổng phí cơ hội tốt đó,
đến lúc Pháp nh́n ra được vấn đề là
phải gom dân giữ đất, th́ mọi việc đă
quá chậm. Cộng Sản đă có cả một hậu
phương vĩ đại tiếp tế nhân sự, vũ
khí, lương thực đó là lục địa Trung Cộng.
Kể từ đó, Cộng Sản (Tàu và Việt Cộng)
bắt đầu phản công Pháp và đánh bật Pháp ra khỏi
những đất sát biên giới Việt - Hoa mà Pháp đă
tốn công sức rải quân trấn đóng từ những
ngày đầu của cuộc chiến Đông Dương.
Để cứu văn t́nh thế, Pháp cử Đại
Tướng De Latre làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh
quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương
vào tháng 12/1950. Với tài năng quân sự, De Latre đă chận
được địch, giải tỏa áp lực địch
quanh vùng tam giác sông Hồng Hà và gây nhiều tổn thất
nặng nề cho địch. Vơ Nguyên Giáp được lịnh
phải trở về du kích chiến. Tài năng của De
Latre được biểu lộ rơ rệt nhất trong
các trận: Tô Vũ ở vùng Ḥa B́nh, với cách nhử
địch để diệt địch. Trận non
nước Ninh B́nh, chống chiến thuật cài răng
lược của Cộng Sản và hệ thống pháo
đài bê tông dây thép gai bảo vệ hữu hiệu vùng châu
thổ. Nhưng v́ lư do sức khỏe, De Latre phải trở
về Pháp chửa bệnh vào cuối năm 1951 và chết
vào đầu năm 1952. Cùng với cái chết của De
Latre niềm hy vọng giữ vững miền châu thổ
sông Hồng Hà như ngọn đèn tàn đă lóa lên rồi tắt
liệm ...
Chiến dịch
đổ bộ Bùi Chu, Phát Diệm với ư định
giúp Thiên Chúa Giáo tự trị cũng thất bại v́ quá
chậm. chỉ được thực hiện vào năm
1952, nghĩa là vào lúc t́nh thế đă ung thối đến
tột độ.
Cuối cùng
chuyện đến đă đến, Pháp thua trận
nhưng được an toàn rút khỏi Việt
7).
Kết Luận
Tóm lại, chiến
tranh với bản chất ngụy trá, tàn nhẫn, phá hoại
và giết chóc đă là một phương tiện để
thực hiện nhiều mục đích tùy theo sự
mưu tính của người hoạch định. Như
đă dẫn chứng, người Cộng Sản Việt
Nam đă dùng chiến tranh như một phương tiện
hữu hiệu để tiêu diệt người Quốc
Gia Việt Nam. Khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”,
“Đoàn kết kháng chiến chống Pháp” chỉ là một
chiêu bài chính trị không có thực chất. Thực dân Pháp
chỉ là một lư do để biện minh cho những hành
động tàn ác, mà Cộng Sản dùng để áp chế
dân chúng và tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia trong tiến
tŕnh xây dựng vô sản thế giới theo đúng
đường lối vạch ra của Đệ Tam Quốc
Tế. Cứ nh́n những khẩu hiệu của họ
đưa ra từng giai đoạn th́ tất rơ. Từ “Phản
Đế” họ tiến tới “Phản Phong”. Từ chống
Pháp, họ tiến tới tiêu diệt giai cấp phản
động và những sự cộng tác ngấm ngầm
lén lút của người Cộng Sản với thực
dân Pháp từ hồi c̣n xa xưa để tiêu diệt
người Quốc Gia, đều là những yếu tố
buộc tất cả mọi người chúng ta phải
suy đi nghĩ lại về bản chất tráo trở của
Người Cộng Sản và về những ǵ họ
đă phạm tới Tổ Quốc Việt Nam, với Dân
Tộc Việt Nam, khi người Cộng Sản coi nước
ṇi như một phương tiện để xử dụng,
chứ không như một cứu cánh cần phục vụ
và một lư tưởng phải tôn thờ. Hơn 50 năm
qua Cộng Sản xây dựng miền Bắc, miền Bắc
vẫn đói khổ, gần 30 năm “giải phóng” miền
Nam, miền Nam đă trở thành điêu tàn và sa đọa
!.
Đọc lịch
sử không chỉ đơn thuần để ḷng cười
khóc với những buồn vui của người xưa,
để thả hồn trôi lênh đênh qua những hưng
phế thăng trầm của thời đại. Đọc
lịch sử mang một ư nghĩa tích cực hơn nhiều.
Đọc sử là học hỏi, suy ngẫm, bàn luận
nguyên do đă tác động làm nên những biến chuyển
lịch sử, để rồi lại ứng dụng vào
những hoàn cảnh tương tự trong tương lai,
thể hiện di huấn ngàn đời “Con phải hơn
cha ... để rạng rỡ giống ṇi”. Những thế hệ cha anh
của chúng ta, v́ những bất lực của bản
thân, v́ những khó khăn của thời cuộc, đă
để lỡ một vận hội. C̣n chúng ta, những
thế hệ Việt
* - V́ ấu trĩ, thờ ơ, u tối
* - V́ muốn an thân, v́ tiếc máu xương
* - .................
* - Mấy ai người đem hết tâm can ?
* - Trước quân thù (Cộng Sản) hung hiểm
gian ngoan
* - Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng
lạc !
* - Nghĩ tới ngày mai ḷng ta tan tác
* - ........................
* - Ai đứng dậy diệt trừ lũ qủy
?
* - Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn
(V́ Ấu Trĩ
- Thơ Vô Đề - 1975)
Trần Chính Trung