Cuồng
Vọng Thống Trị Thế Giới Của Bắc Kinh
Hôm nay chúng tôi muốn thưa
chuyện cùng quư thính giả về ba vấn đề:
1) Cố Giáo Hoàng John Paul II và Vấn
Đề Tôn Giáo
2) Âm Mưu Thâm Hiểm Của
Giới Cầm Quyền Bắc Kinh
3) Thái độ của chúng ta với
Trung Cộng
I)- Cố Giáo Hoàng John Paul II và Vấn
Đề Tôn Giáo:
Chúng tôi nghĩ rằng Cố
Giáo Hoàng John Paul II nên được gọi là John Paul The
Great mới phải v́ trong hơn 26 năm ở ngôi vị
Giáo Hoàng, Ngài đă đến viếng thăm khoảng 120
quốc gia với một sứ điệp thật rơ rằng:
“Giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mă là
một giáo hội của T́nh Thương, Bác Ái, Công Bằng
và là Giáo hội của người nghèo”. Nhưng qua tang
lễ của Cố Giáo Hoàng th́: Chúng ta đă thấy Rome với
tất cả sự hoành tráng và vĩ đại của
ḿnh, cho nên Giáo hội Công Giáo chưa chắc đă là một
giáo hội của người nghèo khó và bị áp bức
trên toàn thế giới này; ấy là chưa kể đến
việc tang tế Cố Giáo Hoàng lại gợi nhớ lại
nhiều thời kỳ đắng cay đă từng xảy
ra trong quá khứ giữa Rome (thần và thế quyền) với
rất nhiều vùng trên thế giới. Cho nên việc bầu
chọn một vị Giáo Hoàng mới có thể để lộ
ra một loạt các mâu thuẫn bên trong ḷng của Rome giữa
hai khuynh hướng: Một là tiếp tục mạnh dạn
tiến bước theo con đường mà Giáo Hoàng John
Paul II đă làm, hay trở về với truyền thống
độc tôn của Giáo hội đă được thiết
lập từ thời Giáo Hoàng tiên khởi Peter đến
giờ này. Nếu khuynh hướng thứ nhất
được chọn th́ một Hồng y ở châu Phi sẽ
trở thành Giáo Hoàng kế nhiệm, nếu khuynh hướng
thứ hai được chọn th́ một vị Hồng
y gốc Ư hay Đức sẽ lên ngôi Giáo Hoàng. Chúng tôi không
đặt nặng việc chọn lựa vị Tân Giáo
Hoàng từ các nơi khác như tại Nam Mỹ hoặc Phi
Luật Tân, mặc dù số tín đồ Công Giáo ở Nam Mỹ
lên đến gần 400 triệu, chỉ riêng ở Phi thôi,
số tín đồ Công Giáo đă lên đến 50 triệu.
Nhưng giáo hội tại các nước này tỏ ra bảo
thủ và hoàn toàn sống xa cách với môi trường chung quanh, cho nên nếu Hồng Y đoàn chọn
một vị Hồng Y từ hai nơi này th́ đó là một
bước thụt lùi thật đáng tiếc.
Trong điều kiện của
thế giới ngày nay, th́ dường như Giáo hội
không có nhiều chọn lựa ngoài việc tiến mạnh
nữa trên con đường mà Giáo Hoàng John Paul II đă vạch
ra, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn hợp nhất
sâu rộng hơn nữa, thiết thực hơn nữa
đối với các tôn giáo khác, mà quá khứ lịch sử
đă để lại nhiều mâu thuẫn giữa các tôn
giáo với nhau và cũng là giữa loài người với
nhau.
Lịch sử loài người
là lịch sử của sự hợp nhất, tôn giáo cũng
chẳng đi ra ngoài quy luật lịch sử khách quan
được, cho nên sự hợp nhất giữa loài
người với nhau nhằm phục vụ con người,
với tính cách là con người
đích thực cũng là mục tiêu tối hậu của
loài người nói chung. V́ vậy, nếu bất
cứ tôn giáo nào, chính quyền nào cố t́nh xa rời hoặc
từ bỏ mục tiêu tối hậu này th́ tôn giáo ấy,
chính quyền ấy sẽ bị
đào thải chẳng thương tiếc bởi chính
loài người.
Thế giới đang ở
trong một khúc quanh rất quan trọng trong quá tŕnh chuyển
hóa của ḿnh, nhằm đặt nền tảng cho một
xă hội Nhân Chủ Pháp Trị trên quy mô toàn cầu, trong
đó mọi chủng tộc, mọi quốc gia, mọi văn
hóa đều có chỗ đứng tương xứng
dưới ánh mặt trời. Cho nên, bất
cứ khuynh hướng phân liệt nào đều không
được thế giới chấp nhận. Trong
điều kiện của Giáo Hội Công Giáo hiện nay,
th́ các Hồng Y trụ cột hẳn nhiên hiểu rơ là Giáo
Hội Công Giáo cần thực hiện các bước tiên
phong, nhằm xóa bỏ các tồn đọng do lịch sử
để lại một cách kiên quyết, cho dù với nhiều
thương đau. Nhưng thử hỏi: Giáo Hội có
c̣n con đường nào khác không ? Do
đó, sứ mệnh của vị Giáo Hoàng kế vị sẽ
trở nên rất nặng nề v́ cái bóng của Cố Giáo
Hoàng John Paul II quá lớn. Giáo Hội Công Giáo trong thời
gian tới đây có lẽ phải tiến hành các hành động
cụ thể (thay v́ chỉ là các lời nói thông qua các cuộc
viếng thăm) nhằm thuyết phục các tôn giáo khác,
cùng nhau thực hiện các cải cách để từng
bước tiến đến chỗ cùng hiệp thông với
nhau và thoả thuận với nhau về các nguyên tắc
cư xử, để mọi tôn giáo đều cùng
đóng góp vào việc hoàn thiện con người, song song với
các nỗ lực từ phía các chính phủ cũng đang
ngày càng trở nên hợp nhất hơn, để cùng
đi đến một chính phủ toàn cầu. Việc này chắc chắn sẽ xảy ra chỉ
trong nửa đầu thế kỷ 21 này mà thôi.
Nếu không cam đảm nhận
lănh sứ mệnh ấy, mọi tôn giáo có thể sẽ bị
mất hết vị trí trong ḷng nhân loại trong một
tương lai nào đó v́: Ai biết rơ là trong các pḥng thí
nghiệm nào đó, các nhà khoa học đang nghiên cứu cái
ǵ ? Cái ǵ đấy sẽ
có khả năng làm đảo lộn thế giới về
mọi mặt chứ nói ǵ đến tôn giáo. Cho nên,
đây là lúc mà các tôn giáo đều đang gặp phải một
cuộc khủng hoảng chung nhất: Đó là sự mất
mát niềm tin về Thần Linh nơi con người, (Hồi
Giáo cũng không cưỡng lại sự mất niềm
tin này) cộng thêm với đà tiến triển của
khoa học đang phát huy cao độ, th́ đây là lúc các
tôn giáo phải quyết tâm làm một cái ǵ đó cho loài
người trong tương lai. Công Giáo phải
là người đi tiên phong, v́ dù muốn hay không ở
trong vị thế của ḿnh, Giáo hội Công Giáo “được”
mặc nhiên coi như là đại diện cho tiếng nói
tinh thần của toàn nhân loại.
Cái ǵ đấy có
lẽ nên bắt đầu bằng cách h́nh thành một tổ
chức hợp tác giữa các tôn giáo mang tính toàn cầu. Đây cũng là nơi trao đổi
các quan điểm về các vấn đề liên quan đến
đời sống tinh thần của con người,
để dần dà đi đến chỗ hợp tác với
nhau sâu rộng hơn và hợp tác với thế quyền
trên quy mô toàn cầu, nhằm h́nh thành một lớp công dân
mới mang tính toàn cầu. Một việc làm như vậy
sẽ từng bước xóa nḥa các mâu thuẫn c̣n tồn
tại do quá tŕnh tiến hóa của con người để
lại.
Một việc khác cũng có thể
tiến hành ngay mà không gây ra các hệ lụy liên quan đến
các việc giải thích các giáo lư hay giáo luật: Đó là các tôn giáo hăy đóng góp của
cải vật chất của các giáo hội vào việc cứu
vớt những người nghèo khổ hiện đang gia
tăng trên quy mô lớn do đà phát triển công nghiệp
như vũ băo. Xét cho cùng ra th́ Chúa Trời, thánh Allah, Đức
Phật, Chúa Giê-Su hay giáo chủ Mohamet đều có thiện
ư muốn cứu vớt loài người khốn khó cả!
Tất cả các giáo hội hiện nay đang bị trói buộc
chặt chẽ đến độ phi lư và phi đạo
lư nữa, bởi chính các giáo luật do con người
đặt ra. Nếu tất cả các tôn giáo
cứ bị đắm ch́m trong các câu thúc ấy, th́ tôn giáo
ngày càng ít được chấp nhận hơn, v́ tôn giáo
đă cố t́nh xa rời con người để trở
thành các công cụ phục vụ cho các điều luật
do chính con người đặt ra. Của cải vật
chất nên được coi là phương tiện phục
vụ con người, chứ không phải là phương
tiện nhằm xác định quyền uy của ḿnh đối
với kẻ khác. Khi nghĩ như thế hoặc hành
động như thế, hoặc hành động theo kiểu xác định rằng ḿnh nghĩ
như, thế th́ bất cứ tôn giáo nào cũng đang tự
ḿnh hạ thấp ḿnh xuống như những kẻ tầm
thường.
Thực ra th́ tài sản
của Giáo Hội từ trung ương đến địa
phương rất lớn. Việc sở đắc các tài sản ấy cũng
bị dị nghị bởi các giáo dân có tinh thần cấp
tiến, (giáo dân cần phân biệt tích sản của Giáo Hội
Công Giáo với ngân sách điều hành Vatican hằng năm)
cho nên Giáo Hội Công Giáo nên đi tiên phong, dấn thân thêm nữa
trong việc giúp đỡ những người nghèo khó, bệnh
tật. Ở trong thế giới hiện nay
th́ vấn đề bệnh AIDS ở Châu Phi đang trở
thành thách đố về mặt đạo đức
đối với toàn nhân loại. Giáo Hội
Công Giáo có thể đóng góp rất nhiều công sức vào
việc ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm này.
Hành động cụ thể xuất phát từ tâm của
Giáo Hội Công Giáo, sẽ từng bước giải quyết
các mâu thuẫn c̣n tồn đọng trong ḷng nhân loại một
cách toàn diện, mà không cần phải tốn nhiều công
sức để thương thuyết hoặc dẫn giải
này nọ. Điều này cũng làm cho Giáo Hội
trở nên nhân ái hơn nữa, dễ chấp nhận
hơn nữa và cơ hội ḥa hợp giữa các tôn giáo với
nhau là điều có thể làm được.
Tương lai của Giáo Hội
Công Giáo lệ thuộc chặt chẽ vào việc định
một hướng đi mới cho Giáo Hội Công Giáo, nhằm
đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng một xă hội
Nhân Chủ, nhân ái thực sự trên quy mô toàn cầu.
Ước mong tất
cả các tôn giáo trên thế giới này sẽ măi măi là tôn
giáo của t́nh thương
yêu, bác ái, khoan ḥa.
II)- Âm Mưu Thâm Hiểm Của Giới cầm
Quyền Bắc Kinh:
1)- Đường Lối Của Tàu:
a) Kiểm điểm lịch
sử:
Lịch sử Á Châu từ cổ
đại đến nay trải qua đến 5000 năm,
là lịch sử của cuộc tranh đấu không khoan
nhượng giữa Hán tộc và Bách Việt. Các nhánh khác của Á Châu chỉ trở thành thế
lực lớn trong thế kỷ qua khi văn minh
Phương Tây tràn đến Á Châu mà thôi. Nhưng khi
văn minh Phương Tây v́ một lư do ǵ đó giảm nhẹ
ảnh hưởng của ḿnh để Á Châu vươn
lên, th́ cuộc tranh chấp giữa Hán tộc và Bách Việt
lại mau chóng trở thành một chủ đề gây nhiều
tranh căi và có cơ bùng nổ lớn làm thay đổi cục
diện trong vùng và hẳn nhiên là cả thế giới nữa.
Không một chủng
tộc nào ở Á Châu có nhiều kinh nghiệm đấu
tranh với Hán tộc hơn Bách Việt, mà Việt
Bốn bài học lịch sử
(chỉ lấy bốn bài học tiêu biểu) mà đất
nước ta đă trải qua trong 1000 năm đụng
độ với Tàu, đă chỉ cho chúng ta thấy: “Nếu muốn tồn tại,
chúng ta phải mạnh về cả hai mặt vật chất
lẫn tinh thần, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác về
các âm mưu thâm độc do Bắc Kinh gây ra cho chúng ta và
cho tất cả các lân bang của Tàu, việc xưa đă
vậy, việc nay cũng không khác”.
Trong điều kiện của
thế giới hôm nay, chúng ta phải cần t́m hiểu về
Tàu một cách toàn diện trong bối cảnh các quan hệ
quốc tế ngày càng trở nên phức tạp, đầy
các mâu thuẫn, quyền lợi của các phía được
đan chéo với nhau trong một thế giới chẳng
có tôn ty trật tự ǵ cả. Thế chiến
II đă phế bỏ các đế quốc kiểu cũ
và tạo ra cuộc chiến tranh lạnh. Nay cuộc
chiến tranh lạnh đă chấm dứt và tạo ra một
khoảng trống quyền lực một cách lớn lao,
th́ đây là một cơ hội cho các thế lực tong
quyền cực đoan nhân danh tông giáo (Hồi Giáo là một
ví dụ) trỗi dậy và cũng là cơ hội để
chủ nghĩa xâm lược bành trướng Hán tộc bộc
phát trên quy mô toàn Á Châu và hiện đang có dấu hiệu
lan sang đến nhiều vùng khác, kể cả Nam Mỹ,
Châu Phi.
Tự ngàn xưa người
Tàu luôn luôn t́m cách chiếm đoạt, đồng hóa hay
tiêu diệt và ăn cướp văn
minh của người khác để nhận làm văn minh
của ḿnh. Đây là sách lược xuyên suốt trong chiều dài
lịch sử của Hán tộc. Ta tự hỏi: Bao
nhiêu dân tộc cùng tồn tại trong lănh thổ mà ta gọi
là “Trung Hoa” ngày nay đă từng bị Hán tộc thôn tính và
đồng hóa ? Con số ấy không thể
dưới 100 dân tộc. Khi Mông Cổ thôn tính gần
như toàn bộ Á Châu (ngoại trừ Việt Nam và Nhật)
và một phần Âu Châu, tạo ra một đế quốc
rộng lớn nhất hoàn cầu vào thế kỷ 13 (Mông
Cổ 2 triệu ruỡi dân đă chiếm toàn lănh thổ
Trung Hoa 80 triệu dân trong ṿng 90 năm, thái độ khiếp
nhược của Nho sĩ Trung Hoa đă khiến Mông Cổ
khinh miệt và xếp họ dưới gái điếm, chỉ
trên ăn mày – 8 gái điếm, 9 Nho sĩ, 10 ăn mày), th́
cuối cùng Mông Cổ cũng bị Tàu đồng hóa một
phần (Nội Mông ngày nay). Măn Châu thôn tính toàn bộ nước
Tàu, lập ra nhà Thanh (dưới sự điều khiển
của quân sư Phạm Văn Tŕnh, Măn Châu 1 triệu dân
đă diệt triều đại nhà Minh 150 triệu dân và
đặt nền đô hộ Trung Hoa gần 3 thế kỷ
từ 1616 đến 1911), nhưng cuối cùng th́ Măn Thanh cũng
bị Tàu đồng hoá. Căn nguyên chính yếu là v́ họ
không giữ bản sắc riêng của ḿnh mà lại mang dân
tộc ḿnh ḥa vào ḍng Hán tộc, một giống dân chuyên
đi thôn tính và đồng hoá kẻ khác.
Người Tàu không lật
đổ các triều đại ngoại lai ấy bằng
chính sức mạnh của ḿnh khi các triều đại ấy
đang trong giai đoạn sơ khai hoặc trong giai đọan
chiếm đóng, mà phải chờ cho các triều đại
ngoại lai ấy suy thoái, th́ thế lực nội địa
mới trỗi dậy để nắm lấy quyền lực
(nhà Minh hay Tôn Dật Tiên cũng thế thôi). Tinh thần quốc
gia của Tàu rất yếu (v́ dân Tàu là sự kết hợp
cưỡng ép giữa Hán tộc và trên 100 dân tộc khác
đă bị Hán tộc chiếm đất và đồng
hoá bằng bạo lực) nên phải cai trị bằng bạo
lực là vậy.
Khi súng đạn, kỹ thuật
của Âu Châu tràn tới Á Châu vào thế kỷ 19 th́ nước
Tàu chỉ bị xâu xé tại một số vùng nằm dọc
theo duyên hải (Hong Kong, Ma Cao, Thượng Hải .v..v…) nhưng triều đ́nh nhà Thanh vẫn tồn
tại. Họ tồn tại mà không bị đô hộ toàn
diện chẳng phải v́ người Tàu tài giỏi ǵ, mà
v́ lục địa Tàu đủ rộng lớn để
các thế lực Âu Châu không thể tiến hành việc thôn
tính như Ấn Độ được. Ngoài
ra thế lực Anh-Pháp sau khi tới Á Châu th́ một thời
gian sau cũng đă đuối sức (so với sức mạnh
của Âu Châu thời đó). Vả lại nếu tiến
quá sâu vào trong Á Châu th́ những tuyến tiếp vận lại
quá xa, ấy là chưa kể đến việc tiến vào
Á Châu quá sâu th́ sẽ tạo ra mối đe dọa với
Nga và Nga sẽ phải phản ứng. Đây là một
điều mà Anh-Pháp không muốn xảy ra. Cho nên
nước Tàu có một thời gian tương đối
ổn định để họ vừa có cơ hội
tiếp xúc với Phương Tây nhưng vẫn ǵn giữ
được truyền thống Hán tộc của họ,
đồng thời có thể thi hành một số biện
pháp nhằm can thiệp vào t́nh h́nh tại các nước lân
bang của ḿnh hầu chờ cơ hội quật khởi.
Cơ
hội ấy là lúc các mâu thuẫn trong ḷng các xă hội Âu
Châu và giữa các quốc gia Âu Châu với nhau ngày càng trở
nên gay gắt (vấn đề chính là giữa giới thợ
thuyền và chủ nhân, vấn đề thứ hai là giữa
Đức với hai thế lực chính yếu ở Âu Châu là
Anh và Pháp). T́nh h́nh này dẫn đến Thế
Chiến I và II và cuộc chiến tranh lạnh sau đó.
Người
Tàu đă biết lợi dụng cơ hội này để
ngoi lên nhằm cố gắng xác định vai tṛ của
ḿnh, như là thế lực chủ yếu chi phối t́nh
h́nh Á Châu, nhiên hậu có thể thành một thế lực
có khả năng tam phân thiên hạ với Mỹ và với
Âu Châu nói chung (Nga cũng chỉ nằm trong trụ thứ
ba của Âu Châu dưới mắt các chiến lược
gia Tàu). Để đạt được mục đíchh tối
hậu ấy, nước Tàu có hai chủ trương:
a1) T́m mọi cơ hội để tiếp thu được học thuật
Phương Tây nhằm canh tân nước Tàu về mọi
mặt (kinh tế, kỹ thuật, chính trị, quân sự).
a2) Ra sức đặt nền móng cho việc
thôn tính Hán hóa các lân bang, để từng bước tiến
tới việc biến các quốc gia này thành một tỉnh
của Tàu (nh́n gương Tây Tạng th́ rơ. Tây
Tạng đă bị thôn tính bằng vơ lực để trở
thành một tỉnh của Tàu. Dân Tây Tạng bị
đàn áp dă man, thô bạo, nền văn hóa lâu đời của
Tây Tạng bị hủy diệt, dân Hán đă tràn sang và nắm
mọi sinh hoạt của xă hội Tây Tạng), nhằm mở
rộng ṿng đai bảo vệ Bắc Kinh (trung tâm quyền
lực Hán tộc). Nếu chiến tranh xảy ra th́ các tỉnh
ở ṿng ngoài phải chịu hy sinh chết chóc nhưng
đầu năo Hán tộc vẫn an toàn.
Nếu thế lực ngoại
bang mạnh th́ Tàu hy sinh các tỉnh ở ṿng ngoài nhưng cố
thủ ở trung tâm, để chờ cơ hội quật
lại khi các thế lực ngoại bang mâu thuẫn nhau hay
yếu đi (lịch sử như vậy đă xảy ra
nhiều lần, vừa mới đây điều này cũng
đă xảy ra khi Pháp chủ trương Liên Âu nên băi bỏ
cấm vận vũ khí với Tàu). Tùy theo
đà mâu thuẫn mà Tàu sẽ t́m cách tiến lên ngôi vị
chi phối toàn cầu về mọi mặt để cuối
cùng th́ Hán hóa toàn cầu.
Ư đồ chiến
lược này không phải h́nh thành một cách toàn diện
bằng việc trí thức Tàu thẩm định lịch
sử để đề ra một chính lược toàn diện
trong đường dài. Nó là kết quả của nhiều bài học lịch
sử đă diễn tiến trong hơn 150 năm qua với
việc:
- Đại úy Francis Garnier đem
quân vô Hà Nội th́ nhà Thanh cho tướng Lưu Vĩnh Phúc
đem quân vô Việt Nam để chống Pháp (nhà Nguyễn
quá yếu kém về trí tuệ trong chuyện này). Khi Francis Garnier bị quân Tàu giết th́ Pháp phải
nhượng bộ.
- Anh, Pháp, Đức, Nga, .v..v… quá phân hoá nên không dám xâm lăng Tàu toàn diện.
Hoa Kỳ có sức mạnh cực lớn vào đầu thế
kỷ 20 tỏ ra sẵn sàng giúp Tàu, hoặc ít ra không có ư
định biến Tàu thành thuộc địa, v́ vậy
Tàu có thể dùng chiến thuật “bẽ đũa từng
chiếc một” để tạo đồng minh và tiếp
thu trợ giúp về kỹ thuật.
- Trong các vấn đề quốc
tế, Tàu chủ trương dựa vào thế lực nọ
để thương thuyết hay bắt bí thế lực
kia hầu thủ lợi, ai chết mặc
kệ. Tàu không ra mặt đối đầu
trực tiếp với bất cứ thế lực mạnh
nào cho tới khi nước Tàu đủ mạnh và chỉ
trong điều kiện không c̣n phương cách tránh né
để thủ lợi nào khác th́ Tàu mới phải phát
động chiến tranh. Khi phát động chiến
tranh th́ đạo quân thứ 5 của Bắc Kinh là những
người Tàu ở hải ngoại sẽ là lực
lượng toàn bích kết hợp chính trị, quân sự,
kinh tế, t́nh báo, phá hoại, gián điệp, lật đổ
để biến các lân bang xa gần thành những quốc
gia ngoại vi hay là cánh tay nối dài của Tàu.
Nhưng để đạt
được các ư đồ chiến lược này,
nước Tàu phải được canh tân và cải cách
để thích nghi với t́nh thế mới của thế
giới vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ
20. Sự canh tân và cải cách này được
thực hiện bởi Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) khi ông ta
đề ra “Tam Dân Chủ Nghĩa”. Nhưng khi cao trào
Cộng sản chủ nghĩa thắng lợi ở Nga vào
năm 1917, nhất là khi Quốc Tế Cộng Sản III
(Cộng sản đệ tam) hô hào đảng Cộng sản
tại các quốc gia thuộc thực dân, phải có nghĩa
vụ xây dựng và củng cố các đảng Cộng sản
ở các quốc gia thuộc địa, để h́nh thành
trận tuyến quốc tế Cộng sản nhằm
đánh sập chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn cầu,
th́ nước Tàu bị chia ra làm hai khuynh hướng
nhưng cũng chỉ có cùng một mục tiêu: Đó là
xâm lăng và Hán hóa lân bang. Họ Mao (Mao Trạch
Đông) nghĩ rằng: Tuyệt đại đa số
dân Tàu là nông dân nghèo khó, vậy muốn bành trướng thế
lực th́ nước Tàu phải xử dụng chủ nghĩa
Cộng sản như là một công cụ tối thượng
để thống nhất ḷng dân từ đó thôn tính lân
bang. V́ vậy, Mao coi Quốc Dân Đảng Tàu là đảng của
người giàu, tay sai cho ngoại bang cho nên Quốc Dân
Đảng không thể thực hiện được ư
đồ chiến lược to lớn ấy. Dĩ nhiên
Mao và những người theo Mao cũng thấy rơ là: Cuộc
chiến tranh giữa Cộng sản Quốc tế do Liên
Xô lănh đạo và khối Tư Bản do Hoa Kỳ lănh
đạo là không thể tránh được. V́ thế, lănh đạo Tàu đă lợi dụng
chiến tranh để bành trướng thế lực là vậy.
b) Quốc Dân Đảng Tàu và Cộng
Sản Tàu:
Chúng ta cần phải phân biệt
thuyết Tam Dân (sic) do Tôn Văn chủ trương với
Quốc Dân Đảng Tàu. Mao Trạch Đông không phải là
không đồng ư với Tôn Văn, mà là không đồng ư với
Tưởng Giới Thạch trong việc thi hành đường
lối bành trướng Hán tộc, mặc dù mục tiêu tối
hậu của Tôn Văn, Tưởng Giới Thạch và
Mao Trạch Đông là Hán hóa toàn nhân loại như đă
tŕnh bày ở trên.
2- Cái nh́n sâu sắc của Cụ Lư Đông A về hiểm
họa Tàu:
Để minh chứng cho điều
này, ta cần phải ghi ra đây điều mà Cụ Lư
Đông A đă thẩm định về chính trị lộ tuyến
của Quốc Dân Đảng Tàu (Trung Hoa) như thế nào:
*
- ĐỐI TÀU: Muốn biết lập
trường của ḿnh đối với người và
người đối với ḿnh, sự tự xem ḿnh
đă cần, sự xem người trên hết các xu hướng
của phát triển lịch sử, cũng là chính trị lộ
tuyến của người về phía ḿnh một mặt
c̣n rất cần.
Trung tâm quy luật của lịch
sử Tàu là: “Hữu đức giả hữu
thổ”; hữu đức
đây không phải là đạo đức, nhưng lấy
ư nghĩa nghiêm ngặt của nó trong kinh sử Tàu mà giảng
giải th́ nó là lấy tài hóa thu nhân tâm. Cái quy luật đó đem phối hợp với
ư chí của dân tộc ấy là “hưng
Hoa diệt Di”, h́nh thành một cái định nghĩa
của một tấm lịch sử xâm lược. Cái nguyên tắc chủ yếu từ cổ tới
nay đă từng thực hành mà c̣n có thể nói có chứng cớ
rằng vẫn thực hành. Bằng cứ
sự đem ra thực tiễn các kho nguyên tắc này là kinh
sử vẫn thấy nhan nhản. Kinh sử
vốn là miệng lưỡi thanh giáo nhà nho. Kinh sử
vốn là miệng lưỡi của cái thanh giáo nhà nho làm
trung kiên cho xă hội quan liêu dân chủ, trung lưu tư sản
phong kiến của cái thiên hạ đại đồng chủ
nghĩa lối Hán, mà vũ khí và thủ đoạn chủ
yếu là chủng tộc xâm lược. Chủng tộc
được suy tiến theo lối “tam niên dưỡng
nhi giáo chi tất giai ngô dân”, văn hóa đựơc suy tiến
sau chủng tộc làm sự duy hệ và thế thủ sau thế công: “tuần
tuyên văn giáo, thủ tại
tứ Di”, kinh tế theo sau nữa: “hữu đức
giả hữu thổ” mà chính trị chiếm lĩnh là cần
yếu hơn “phổ thiên chi hạ, mạc phi vương
thổ” tất cả đều phục ṭng dưới
lưỡi lê: “nhưỡng Di Địch, phạt Man
Khương”.
Nếu không tin mà c̣n tin vào Khổng
Mạnh, xin hăy dở pho sử muôn năm của ta vơi tất
cả thảm thương sỉ nhục của sự bị
đè nén, bị xâm lược, bị hiếp tróc; lại
xin tham khảo lịch sử của các dân tộc Man Di bốn
phía Tàu. Quốc dân, chính trị gia và cách mạng gia hăy dở
lại cái quan hệ của sự giúp đỡ cách mạng
lẫn nhau giữa ṇi giống ta và ṇi giống Hán, hăy thể
nghiệm cái sầu hận đời Hậu Trần và Lê
Chiêu Thống, hăy tiếc róc cái đối đăi tốt của
ta đối với lũ Hậu Tống, Hậu Minh.
C̣n có kẻ thân Tàu, sùng bái Khổng
Mạnh, ủng hộ Tôn Văn, nói rằng việc cũ
bỏ đi, trăm điều phải trông vào xu hướng
mới. Cái xu hướng mới của Cách Mạng Tân Hợi
(1911) tức là sự chuyển h́nh của một đế
quốc lối Á Đông phong kiến, sang lối dùng những
tinh thần và vật chất vũ khí của các đế
quốc tư bản lối Âu Châu.
Hăy xem Đảng Quốc
Dân Tàu hiện làm chủ trào lưu của chính trị lộ
tuyến và xu hướng nước ấy. Sự quyết định
chính sách của mỗi đảng hay mỗi nước
c̣n căn cứ vào cái thành phần xă hội của đảng
hay nước ấy, tự nó giải nghĩa hết và
quy định hết các hành vi hay tâm lư
để rồi hăy xem đến quốc sách với chủ
trương sau. Nền tảng của Quốc Dân Đảng
Tàu bao gồm một giai cấp từ trung tư bản
đến đại tư bản trở lên cầm đầu
bởi lũ quân phiệt, tư bản nho sĩ, đè nén
tiểu tư sản và vô sản giai cấp, mua chuộc sự
thỏa hiệp với đế quốc bên ngoài, mong học
đ̣i cái kết cấu ấy quyết định con
đường tư bản đế quốc chủ nghĩa,
phối hợp với chủng tộc thiên hạ chủ
nghĩa cũ mà nảy nở ra một h́nh thức đế
quốc chủ nghĩa Tam Dân. Tam Dân chủ
nghĩa chỉ là một chủ nghĩa chủng tộc
xâm lược, hơn nữa là một chủ nghĩa xâm
lược thế giới. Đă biết rằng Tam
Dân chủ nghĩa là thủ đoạn đó, sự phân
tích dân tộc chủ nghĩa là đặc biệt cần
yếu (chú ư: dân tộc chủ nghĩa của Tam Dân). Dân tộc
chủ nghĩa ấy tóm tắt 5 yếu điểm này:
A. Trung Quốc dân tộc tự
cầu giải phóng hay là ṇi Hán tự cầu đổi lốt.
B. Quốc nội dân tộc nhất
luật b́nh đẳng.
Khoảng năm 1885 cách mạng
Tôn Văn ra đời, cực lực chủ trương
chủng tộc. Lúc bấy giờ y đề xướng
ra ṇi Hán diệt ṇi Măn, rồi lănh đạo ṇi khác ở Á
Đông, chưa bị hay hiện bị dưới ách của
Tàu. Sự dập gẫy làm y giảm bớt sự quá khích
mà đề xướng Ngũ Tộc Cộng
Ḥa (khoảng Tân Hơi 1911). Ngũ Tộc Cộng Ḥa chỉ
là một liều thuốc độc bọc bánh ngọt, bởi
v́ nếu kể về nhân khẩu trong đất Tàu th́ 90%
là Hán c̣n 10% là các ṇi Măn, Mông, Tạng và Miêu (Việt núi).
Như thế th́ chế độ Ngũ Tộc Cộng
Ḥa dung túng cho số đông nuốt số ít mà số
đông ấy càng được đông người và thêm
đất, hợp với mục đích lập quốc lắm.
Nhưng bệnh quá khích lại nổi dậy
để Tôn Văn (khoảng năm 1916) đề xướng
ra luận quốc tộc. Quốc tộc
là ǵ? Để Tôn Văn tự giải
nghĩa. Là: đúc các dân tộc vào một ḷ mà thống
nhất thế giới. Sự yêu cầu đồng hóa bằng
áp bách và hiếp tróc các dân tộc chung
quanh là như thế. C̣n một điểm cần chú ư
trong tập “Kiến Quốc Đại Cương” nó bày tỏ
cái mâu thuẫn của dă tâm đó càng bộc lộ là đă
nói để các dân tộc nhỏ yếu trong nước
được b́nh đẳng, tự quyết mà nguyên tắc
kiến quốc tối cao lại quy định đem chia
toàn quốc ra tỉnh, quận, huyện. Sự
quy định ấy giá trị một ḷ đồng hóa
người.
C. Liên hiệp nhược
tiểu, cộng kháng cường quyền, nó là một băi nhổ chua chát vàomặt các ṇi giống
nhỏ yếu toàn thế giới, bằng sự liên hợp
ấy làm dưới Đại Á Tế Á chủ nghĩa của
Tôn Văn (khoảng năm 1921-1922). Tôn Văn nói: “Ta phải
đem các dân tộc Thái, Việt... liên hợp lại cùng chống
đế quốc” (chú ư đến chữ “đem” và “liên hợp”). Ấy đấy sự liên hợp
như vậy, nghĩa là đem mà thôn tính vào, tất nhiên
cái truyền thống “thủ tại tứ Di” với cái
thuật ngữ “sinh tồn không gian” làm cho người Hán
ngớp đất Nam Dương nhiều nhất.
D. Hưng diệt kế
tuyệt, cứu nhược phù khuynh, gọi là lư tưởng ngoại giao của lễ
vận đại đồng của họ, nhưng đó
chỉ là một chiêu bài giả đạo đức bao
trùm cái sự thực can thiệp đến đời sống
người khác và bắt ép các ṇi giống nhỏ yếu
thế nhập đảng Tàu và tôn phù chủ nghĩa Tam
Dân để mà đi đến mục đích cuối cùng
là:
Đ.
Hoàn thành kiến thiết thế
giơi đại đồng,
nghĩa là xâm lược thế giới là bước cuối
cùng của chủ nghĩa. Dân Sinh với Dân Quyền là những
hộc lương, xẻng đất và súng ống đeo
lên lưng Dân Tộc chủ nghĩa để đi trên con
đường năm chặng trên kia, bất
tất luận.
Nhưng nếu có người
trách tôi là nhiễu sự và moi móc th́ nên hiểu rằng ta
phải cùng lư để mà tri ngôn, lời nói đa số là
mặt nạ, phải ḍ đến bối cảnh và động
cơ của các lời nói ấy mơi biết rơ cái hành
động tiềm tàng trong bản vị. C̣n nhớ Tôn
Văn nói với cụ Phan: “Các ông bất tất phải
làm, Việt Nam chỉ là một tỉnh của Tàu, chúng tôi
làm xong th́ xong”. Cũng như họ Tưởng bây giờ
nuôi mấy đứa Việt gian và nói rằng: Việt Nam
là Tàu, Việt Nam để người Tàu làm giúp cho”. Thử
hỏi khi Tàu đổ bộ trên đất này, bao nhiêu quyền
hành về tay Hoa kiều cả, binh sĩ bị hỗn hóa
với lính Tàu th́ thi hành kế ǵ để đuổi chúng
về ?
Nhưng nếu lại c̣n nghi nữa,
cho rằng đấy chỉ đứng về lư luận
mà quan sát, cần biết rơ những hành động thưc
tế của chính phủ ấy th́ những chứng cớ
thực tiễn, ta lại phải bày tỏ ra đây để
cùng chứng minh cho sự thực là sự thực, phải
là sự thực hay sẽ là sự thực:
— Dư luận dưới sự
chỉ đạo của đảng Quốc Dân Tàu, nói về
vấn đề Việt Nam chỉ có hai câu trên trăm
ngh́n muôn miệng là: Việt Nam là thuộc địa
của Tàu, ta phải thu phục lại đất mất
cũ của ta là Việt Nam.
— Giáo dục để nuôi cái xu
hướng chính trị trong mầm mống ṇi giống cũng
chỉ có hai câu đó suốt từ ấu học đến
đại học.
Học thuật và lư
luận chỉ đạo của lịch sử học tiến
từ “Quốc Tộc Luận” và “Hán tộc ưu việt”
đến “Quốc Quân Sử luận” một ngày một
tăng tiến đến lĩnh vực của dă tâm.
— Chính Trị Địa
Lư Bộ, tức là bộ tham mưu chính trị quy định
chính lược và chiến luợc. Bộ ấy ở Trùng Khánh
năm 1940 lên tiếng ra bộ “Đông Á Địa Lư” quy định
tám con đường phát triển của ṇi Hán sau này:
1)
Tây Bá Lơi Á
2)
Tây Tạng, Ba Tư.
3)
Tân Cương.
4)
Ấn Độ
5)
Việt, Thái, Miến, Tân Gia Ba.
6)
Nam Dương liệt đảo.
7)
Úc Châu.
8)
Thái B́nh Dương Đông liệt đảo, Hàn.
Nhưng mà sự chuẩn bị
quân sư để nhập Việt có thể moi móc cái tim ruột, cái mục đích của cuộc
hành quân này, mặc dầu là đi giải phóng, bằng sự
phát quật các chiến lệnh trong quân, ngoài dân do bộ
tuyên truyền và quân chính bí mật phát bố ra:
1)
Lộ ố Nàm phồ (lấy vợ An
2)
D́u ố Nàm śn (tiêu tiền An
3)
Ch́ ố Nàm t́ (ở đất An
—
Kiều Vụ Chính Sách: tức
là tiền phong của ngoại giao xâm lược. Ngày 1
tháng 5 năm 1933, tờ Đại Lộ Nguyệt San ở
Thựơng Hải đăng một cuộc “Nam
Dương Hoa Kiều Cộng Ḥa Quốc vận động”
chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực lập
quốc, xâm lựơc lấy toàn đất Nam
Dương lập thành Hoa kiều Cộng Ḥa Quốc, trong
đó có quy định về Việt Nam: Bắc Kỳ quy
về mẫu quốc, Trung Kỳ và Nam Kỳ thuộc về
Hoa kiều thống trị. Nước ấy
sau khi đồng hóa hết thổ dân rồi sẽ hợp
nhất với mẫu quốc. Cái suy luận ấy
suy động bởi Quốc Dân Đảng Tàu, cũng
như hồi 1942, tháng 11, ngày 26 trên tờ Quảng Tây Nhật
Báo một nhà Kiều Vụ Ủy Viên Trung Ương có tiếng
đề xướng ra “Hoa kiều thổ hóa vận
động” quy định rằng bề mặt phải
thổ hóa, nghĩa là người Hoa kiều phải ăn
mặc theo người thổ dân, nói tiếng người
thổ dân, ảnh hưởng văn hóa người thổ
dân để bề trong tăng mạnh thêm tác dụng Hoa
hóa.
Chính sách chiến hậu của
người Tàu theo đúng như mục tiêu chính trị
trên, đối trong hết sức tăng gia quân bị, trọng
công nghiệp và đào tạo một quốc dân hoàn toàn Ban
Siêu và Mă Viện thưc dân, khi ấy đối ngoài phải
tranh đ̣i quyền lợi Hoa hóa cho Hoa kiều và đối
đăi với các nước phiên thuộc cũ theo một
chế độ mới. Sự Tôn Khoa yêu cầu ở Hoa
Thịnh Đốn chiếm lĩnh Việt với Hàn chứng
thực rằng họ muốn nối gót đế quốc,
xây đắp một liên hiệp “Thập quốc” đ̣i
đứng làm môi giới giữa Đông Tây (ngoại giao
tay trên) và làm sức an định (tiếng thuật ngữ
của đế quốc Anh) cho Đông Á (nghĩa là bá chiếm),
đồng thời đ̣i thực hành bảo hộ mậu
dịch chính sách (ăn cắp chính sách bloc).
Họ
hiện nay đang dang hai chân, một chân đứng về
đế quốc, một chân đứng về nhược
tiểu để mà đóng vai “con trời” trên thế giới.
Sự giúp đỡ De Gaulle và nể sợ Pétain đi
đôi với sự ngược đăi cách mệnh Việt
tỏ rơ rằng họ muốn làm cường quốc và
đứng về phe liệt cường để quay
giáo lại các nước nhỏ yếu. Đối riêng Việt
Nam, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một tỉnh,
nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ
thế nào, tiễu trừ dân tộc ư thức cách nào, làm
sao cho người Việt tưởng ḿnh là Hán, khôi phục
chữ nho thế nào, truyền bá Tam Dân chủ nghĩa thế
nào, thống trị thế nào? Hỡi người Hán! Hăy
quay lại mà dùng cách thực dân truyền thống nhà Minh
đă văn minh chán, thử xem người Việt sẽ
biết đối phó cách nào ?
Chúng ta hăy quay về
ḿnh xem h́nh thể của tự ḿnh. Đất ta là đất
cơ sở của Thái B́nh Dương, trung tâm của
Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế,
được ta th́ tiến lên xưng bá loài người,
lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị,
quân sự, kinh tế, chiến
lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm
của trung tâm. Cho nên tự phần ta nên hiểu: đời
nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh
mà ta hững hờ th́ tất diệt. Lại đời
nay, diệt tức là toàn diệt đó. Ta chớ nên ḥng làm
Ḥa Lan hay Thụy Sĩ; bọn thân Tàu tất
cũng diệt hết đi chớ để nó làm tay trong
như Phần Lan với Nga. Ta c̣n nguy hiểm hơn Phần
Lan đối với Nga nhiều. Phần
Lan chỉ có một Nga, ta c̣n phải
pḥng cả thế giới, v́ thế giới kẻ nào chiếm
đựơc ta mơi xưng bá được lâu dài; tiện
nhất và thẳng đừơng nhất là Tàu, ta là cái
xương hóc giữa cổ họng chú chiệc, phải
hiểu thế.
Hiện giờ
đây ṇi Hán đă và đang c̣n tiếp sẽ uy hiếp
đến sinh mệnh ta. Chúng ta thử tính xem số Hoa kiều trong nứơc
ngoài 60 vạn, hợp với số minh hương hơn
2 triệu, một số 3 triệu nội gián ấy trên mặt
nhân chủng quen thói lấy vợ người mà giữ gái
ḿnh, ảnh hưởng tới sinh lư của ṇi giống là
thế nào? Sự lũng đoạn kinh tế của bọn
Hoa kiều mới lớn, từ đô thị đến
ngơ hẽm, từ tầu biển đến ghe sông, từ
mỏ quặng đến đồng ruộng, từ bán gạo
đến lạc rang, nhất nhất nằm trong tay bọn
chiệc cả. Lấy sức tiền ấy mà giẫy th́
dân chủ hay cộng sản, ba phần tư nghị viện
với nội các giao tay người Tàu.
Sự ngoại giao tay trên của người Tàu đi với
các điều kiện xâm nhập muốn làm mưa gió th́
làm trong ta, đủ cho chính trị của ta không phải
chính sách Việt nữa, uy hiếp quân sự càng lớn với
nội ứng, ngoại hợp trên các chiến thuật tối
tân ngày nay. Sự đồng hóa càng dễ về văn hóa,
một khi nó lợi dụng được bọn thân Tàu
và đồ nho. Ấy chỉ riêng một cái
ám ảnh Hoa kiều, mặc dầu cuộc chiến tranh
này Nhật Bản đă làm tổn hại và giảm đi
chút ít, cũng đủ làm cho ta thấy sự diệt vong
trước mắt, nói chi đến cả sức của
chính quốc.
Huống chi Nhật, Pháp chỉ
là quân địch trước mắt chớp qua và quá độ,
Tàu mới là quân địch sau cùng, tức là kẻ có thể
quyết định diệt vong được ḿnh. Chúng ta
phải nghiên cứu, quan sát và đề pḥng kỹ lưỡng
quân địch tối hậu và sự đấu tranh với
họ mới hẳn quyết định cái vận mệnh
của ḿnh. Những sách lược của chúng ta phải
tính tới và tập trung vào vận mệnh tối hậu,
nghĩa là vào quân địch tối hậu. Chúng ta phải
biết bắn vượt tầm con mắt chúng ta qua khỏi
cái trứơc mắt chúng ta, như thế mới nắm
được sự sống c̣n trong tay
chúng ta. Cho nên kể đường trường ra, chúng ta
mắc vào tay quân Tàu trong ba tháng th́ toàn dân đói khát, cái
đũa không c̣n mà dùng, trong sáu tháng th́ ruộng bỏ
hoang, đường hết ngừơi đi, đàn bà tự
tử quá nửa, trẻ con chết ba phần tư,
đàn ông chết hai phần ba và trong mười năm th́
ṇi giống hoàn toàn diệt vong. Nhưng có thể
trông thấy rằng Tưởng và Uông từ năm 1944
đều xuống cả. Nước Tàu từ
năm 1945 trở đi trong 20 năm nội loạn và ngoại
hoạn ê chề c̣n đến để trừng phạt
cái dă tâm muôn thuở ấy. Quân của nó sang ta mảnh giáp
không c̣n mà về dưới sức lan
tràn sùng sục của sóng đáy.
* - Trích trong bộ
* - Cương lĩnh Cách mạng
Việt của X. Y. Thái Dịch Lư Đông A
3)- Tội Ác Của Lănh Đạo Tàu Đối
Với Nhân Loại:
Chúng tôi không lần dở lại
thời kỳ cổ đại khi các vua chúa Tàu đă Hán
hóa cách dă man các dân tộc lân bang như thế nào, ăn cắp
những phần tinh hoa của Bách Việt ra sao
? Đó là một chuỗi các tội ác mà trời
chẳng dung, đất chẳng tha cho ḍng Hán tộc.
Các chuyện này mọi người đều đă biết
và điều này giải thích tại sao trong chỗ thâm sâu
nhất là: Tại sao Tàu cứ quyết tâm tiêu diệt Bách
Việt (mà Việt Nam là hậu duệ chân truyền nhất
c̣n sót lại) đến như thế! V́:
“Bách Việt c̣n, Hán chẳng yên
Đồng Trụ chẳng chiết,
Giao Chỉ chẳng bị diệt” là vậy
Chúng tôi chỉ trở lại thời
kỳ cận đại trong lịch sử Tàu dựa vào
các hành động cụ thể của đảng Cộng
sản Tàu đối với lân bang liên quan đến
đường lối bành trướng Hán tộc mà thôi. Đường lối này là xuyên suốt, thống nhất
trong suốt chiều dài lịch sử Hán tộc. Khi
đọc qua phần trích dẫn trên, một tài liệu mà
Cụ Lư Đông A đă viết từ hơn 60 năm
trước, chắc hẳn thính giả Việt Nam và thính
giả không phải là người Việt Nam ở khắp
nơi trên thế giới phải rùng ḿnh trước dă tâm
to lớn của Quốc Dân Đảng Tàu. Nhưng Quốc Dân
Đảng Tàu so với đảng Cộng sản Tàu th́ vẫn
thua xa, chưa thấm vào đâu về hàng loạt tội
ác chống nhân loại mà Mao Trạch Đông và những
người theo Mao đă làm, chẳng phải chỉ đối
với dân Tàu không thôi mà c̣n đối với tất cả
các lân bang của Tàu, đặc biệt là Việt Nam.
Kể về tội ác chống
nhân loại một cách có hệ thống, quy mô, xảo quyệt,
thâm độc của Tàu cộng, th́ tội ác của Hitler
chống Do Thái, của Staline chống lại dân Nga và các
vùng bị Nga đồng hóa chỉ là tṛ trẻ con. Ta hăy
xem xét đôi điều cụ thể đă xảy ra:
* - Trong cuộc Vạn Lư Trường
Chinh của Mao khi bị quân Tưởng Giới Thạch
đánh bật ra khỏi vùng Trung Nguyên, mặc dù bị thiệt
hại nặng nề nhưng cộng quân Tàu đă chiếm
vùng Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng và áp đặt
ra chính quyền thân Mao ở đó. Hàng triệu,
hàng triệu dân ở các vùng này bị giết hại âm thầm
mà chẳng ai hay, v́ vào thời kỳ đó; Phương Tây
c̣n bận tâm vào nhiều vấn đề khác nóng bỏng
hơn. Vả lại, lúc đó
Phương Tây vẫn c̣n mâu thuẫn với nhau nghiêm trọng
và chưa xuất hiện một thế lực mạnh
để đứng ra làm trọng tài phân xử các việc
giữa Phương Tây với nhau. Biến
cố năm 1950 khi Tàu cộng xua quân chiếm Tây Tạng
chỉ là một đ̣n cuối cùng nhằm xác định
quyền uy Tàu. Đức Đạt Lai Lạt Ma và những
người Tây Tạng lưu vong hơn ai hết, họ
hiểu rơ những tội ác tày trời của Cộng sản
Tàu đối với dân Tây Tạng. Chính Đức Đạt
Lai Lạt Ma đă nói rằng: “Điều thiết yếu
cho con người là t́nh thương và trí tuệ, chứ
không phải bạo lực hay tín ngưỡng”.
* - Trong chiến tranh lạnh, lợi
dụng cuộc chiến với Pháp cùng với sự dốt
nát và ngu xuẩn của Hồ Chí Minh và những người
theo ông ta, quân Cộng sản Tàu đă giúp Hồ Chí Minh thắng
Pháp tại Điện Biên Phủ (Tàu cộng đă làm công việc
mà nhà Thanh đă làm hồi giữa thế kỷ 19, khi đại
úy Francis Garnier của Pháp mang quân đến Bắc Việt,
th́ giặc Cờ Đen do tướng Tàu là Lưu Vĩnh Phúc
mang quân sang Việt Nam đánh Pháp và giết Francis Garnier, với
lư do quân Pháp đóng quân sát biên giới Tàu, uy hiếp an ninh
nước Tàu). Sau khi Việt Nam bị chia đôi theo hiệp
định Geneva năm 1954 quân Tàu cộng vẫn không chịu
rút về nước, mà kéo về vùng lănh thổ Việt
Nam dọc sát ngay biên giới với Tàu để làm thế
ỷ dốc, đồng thời gây áp lực với Hồ
Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam để
buộc Cộng sản Việt Nam phải đi theo Tàu, từ
đó Cộng sản Hà Nội trở thành con bài bung xung và
làm tiền đồn bảo vệ cho Tàu ở phía nam.
Khi đất nước Việt
Ngoài tội ác đó với dân
Việt Nam, Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Măn Châu
và với các sắc dân thiểu số khác trong lục địa
Trung Hoa, ta c̣n phải kể ra đây tội ác chống nhân
loại của Cộng sản Tàu với dân tộc Campuchia
sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, khi Cộng sản Campuchia nắm
quyền tại đây. Do bàn tay chỉ
đạo của Bắc Kinh mà bù nh́n Pol Pot đă giết
chết một cách vô cùng dă man hơn 2 triệu người
dân Campuchia vô tội.
4)- Tham vọng lấn chiếm thế
giới của Tàu:
Thời kỳ tŕ hoăn chiến
(hay chiến tranh gián chỉ, proxy war) giữa khối Cộng
Sản và Tự Do chấm dứt khi Việt Nam Cộng Hoà
bị bức tử vào tháng 4 năm 1975, để thế
giới bước vào giai đoạn chuyển tiếp tức
là lúc Liên Xô can thiệp vào khắp nơi trên thế giới.
Giai đoạn này báo hiệu sự cáo chung của Liên Xô,
nhưng cũng là một dấu hiệu chỉ ra thời
kỳ mà Tàu cộng chuyển qua sách lược xâm lấn
các lân bang một cách có quy mô, hệ thống ở khắp
nơi. Do vậy, ta cần phải xem xét các điều
đă và đang xảy ra đối với các lân bang của
Tàu. Năm 1978 khi Liên Xô tung nhân lực, tài lực và vật
lực để can thiệp vào nhiều vùng trên thế giới
nhằm gắng sức đánh sập Mỹ và
Phương Tây, nhưng Liên Xô đă trúng kế Mỹ một
cách thảm thương v́ tài nguyên của Liên Xô có giới
hạn, kinh tế của Liên Xô lại èo uột và sự
hiểu biết của Liên Xô về thế giới quá nghèo
nàn và một chiều, trong khi Trung cộng lại ngả hẳn
sang phía Mỹ th́ mọi cố gắng của Liên Xô coi
như vô vọng. Do đó, sự tan ră của Liên Xô chỉ
c̣n là vấn đề của thời gian.
Để thưởng công cho Trung
cộng, Phương Tây và Mỹ đă giúp Bắc Kinh về
kinh tế, kỹ thuật (cả Phương Tây-Mỹ và
Trung cộng đều có ư đồ trong sự trợ
giúp này, sẽ bàn vào một dịp khác khi thời gian cho
phép) và chính trị (giúp Trung cộng có 1 chân trong Hội Đồng
Bảo An Liên Hiệp Quốc). Như thế, Trung cộng
yên hàn với Phương Tây-Mỹ khi Liên Xô tan ră. Trung cộng
không phải lo đối đầu với con gấu Bắc
Cực nữa. Tàu biết là đă đến lúc họ phải
cần tập trung tối đa nỗ lực nhằm khai
thác tối đa, trong thời kỳ lúc quan hệ với
Hoa Kỳ đang tốt đẹp để củng cố
và phát triển tối đa về kinh tế, kỹ thuật
đồng thời chuẩn bị các phương tiện
nhằm xâm chiếm các nước lân bang một cách âm thầm
thông qua đường lối
mua chuộc ngoại giao, kết hợp với kinh tế,
quân sự đi liền với đà di dân để đồng
hoá các vùng biên giới giữa Tàu và các nước lân bang
(
thí dụ rơ nét nhất về âm mưu di dân thâm hiểm này
đang xảy ra tại Việt Nam. Chính quyền tay sai Việt cộng thân Tàu đă cho phép dân
Tàu hay là Tàu cộng đă được huấn luyện
có quyền qua biên giới Việt-Tàu để đi lại
khắp vùng lănh thổ Việt
Chúng ta phải nhớ rằng: Hiện
nay có khoảng hơn 100 triệu thanh niên Tàu không thể kiếm
được vợ ngay trong nước Tàu v́ nạn “Trai
Thừa Gái Thiếu” do hậu qủa của chính sách “Một
Con” do đảng Cộng sản Tàu đề ra. Những thanh niên t́nh báo này khi
sang Việt Nam th́ lấy gái Việt Nam và được lệnh
từ Bắc Kinh để định cư tại 1 vùng
chiến lược nào đó tại Việt Nam. Với tiền
bạc dồi dào được cung cấp từ các nhóm
t́nh báo Tàu trá h́nh làm con buôn đă nằm sẳn trong nước
Việt Nam, các thanh niên này thông qua gia đ́nh vợ Việt,
họ sẽ phát triển mạng lưới kinh tế và
t́nh báo khắp Việt Nam. Tại các vùng chiến lược
tại Việt Nam, th́ nhóm Tàu t́nh báo chiến lược này
với tiền bạc và ưu thế về kinh tế, họ
sẽ dần dần nắm hệ thống chính quyền
địa phương. Theo thời gian, dân chúng trong những
vùng chiến lược này sẽ là Tàu, Tàu lai hay những
người có họ hàng thân thiết với Tàu hay có con rễ
người Tàu.
Khi cần có một cuộc
trưng cầu dân ư tỏ vẻ “dân chủ kiểu Tàu”,
để xem dân chúng ở các vùng chiến lược này có
muốn đất đai nơi họ cư ngụ thuộc
về Việt Nam hay Bắc Kinh, th́ đương nhiên dân
chúng vùng này sẽ ngả về phía Bắc Kinh. Như vậy
Việt
Theo ước tính này th́ trong
ṿng chưa tới 50 năm nữa, tức là khoảng
năm 2050 th́ toàn bộ vùng Đông Nam Á sẽ bị Hán hóa hoàn
toàn. Khi Đông Nam Á bị mất vào tay Tàu mà Phương Tây-Mỹ
chẳng làm ǵ được th́ Úc Châu, Tân Tây Lan sẽ bị
đe dọa và cùng cách thức áp dụng tại các nước
Đông Nam Á. Người Tàu tại Úc, Tân Tây Lan cũng sẽ
chiếm ít nhất một nửa dân số để từ
đó đưa Úc và Tân Tây Lan thành những tỉnh của
Tàu vào khoảng năm 2050. (chúng ta nên hiểu rằng sau
tháng 4 năm 1975 khi đàn em Cộng sản Hà Nội tung
quân chiếm trọn Việt Nam, th́ Bắc Kinh đă có những
kế sách xuất cảng người Tàu sang các nước
lân bang phía Nam và Tây phương, đây là một sách lược
lâu dài và vô cùng tinh vi, Bắc Kinh hiểu rằng phải khống
chế Úc Châu mới đẩy Hoa Kỳ sang bên kia quần
đảo Hawaii - Hạ Uy Di, tính đến nay không ai có thể
biết rơ là có bao nhiêu t́nh báo người “Việt” nói tiếng
Tàu đang nằm vùng và làm việc cho Bắc Kinh khắp
nơi tại Úc Châu. Sau 30 năm đến nay người
“Việt Nam” c̣n “vượt biên” đến Úc Châu từ Nam
Dương-Indonesia, Timor. Nhưng theo tin mới nhất từ
Bộ Di trú Úc th́ hầu như những người Việt
Nam này th́ lại không biết nói tiếng Việt Nam mà chỉ
biết nói tiếng Trung Hoa, từ Vân Nam người Tàu có
thể đi đường xe hỏa xuống Kualalumpur
sang Jakarta và “vượt biển tị nạn” sang Úc. V́ vậy
Bắc Kinh mới gọi con đường sắt nối
liền Vân
Khi Úc đă mất, tất cả
các đảo nhỏ ở Thái B́nh Dương sẽ bị
Tàu xâm chiếm bằng ngả di dân (Nhập cảnh lậu
hay di dân chính thức bằng cách hối lộ chính quyền
địa phương tham nhũng tại các nước
này) và cũng vào khoảng năm 2050, Hawaii sẽ bị
Hán hóa. Với đà lấn chiếm thâm hiểm như vậy,
thời điểm 2050 th́ Tàu sẽ ngang nhiên trở thành thế
lực chi phối toàn bộ 2/3 vùng Châu Á-Thái B́nh
Dương và Ấn Độ Dương, một phần Châu
Phi, riêng Úc Châu th́ coi như đă bị Bắc Kinh xóa tên, v́
Úc Châu đất rộng nhưng dân số lại ít, để
đẩy Âu Châu và Mỹ co cụm vào thế pḥng thủ
trên 1/3 diện tích Thái B́nh Dương và Vùng Bắc Đại
Tây Dương mà thôi. Riêng Trung-Nam Mỹ th́ cũng
sẽ bị Tàu khống chế. Mặc khác, thông qua
các Cộng Ḥa Hồi Giáo thuộc Liên Xô cũ, Tàu sẽ
tràn lên hướng Tây Bắc, theo con đường buôn
bán tơ lụa khi xưa để chiếm toàn vùng biển
Caspian, mạn Nam Nga, Iran, Iraq, Syria, v..v…
theo đúng con đường mà ngày xưa Thành Cát Tư Hăn
đă thực hiện trong thế kỷ thứ 13.
Theo chúng tôi ước tính chính
xác là: Trước năm 2100, toàn bộ thế giới sẽ
bị Tàu đô hộ, mọi quyết định về vận
mạng thế giới sẽ xuất phát từ Bắc
Kinh. Đây là một sự thật được lượng
định rơ ràng chứ không phải ảo tưởng,
mong các nhà nghiên cứu chiến lược để tâm theo dơi.
Không phải là Tàu không quan tâm
đến thái độ của Hoa Kỳ hay Âu Châu nhưng
Tàu đánh giá là: Mạng lưới t́nh báo Tàu thông qua đạo
quân thứ 5 hiện đang hiện diện hơn 60 triệu
người khắp thế giới và đang nắm nền
kinh tế tại nhiều nước (thí dụ vùng Đông Nam
Á) th́ Tàu đủ sức khuấy động, tạo sự
bất ổn về t́nh h́nh chính trị, xă hội, kinh tế
của Hoa Kỳ và Âu Châu. Ở một tầm nh́n chiến
lược cao hơn, Tàu nghĩ rằng: Xă hội Phương Tây quá phóng túng và tự do theo chủ nghĩa cá nhân, th́ xă hội này sẽ
dăy chết trước làn sóng xâm thực một cách từ
từ nhưng vô cùng hữu hiệu của Tàu mà Tàu không cần
gây chiến tranh toàn diện. Nếu bất đắc dĩ
Bắc Kinh phải tham gia vào cuộc chiến tranh đối
đầu trực tiếp bằng vơ lực th́ Bắc Kinh
sẵn sàng làm liều, giáng trả với tất cả sức
mạnh nguyên tử hay chiến tranh cổ điển và bất
chấp mọi qui ước, v́ Bắc Kinh nghĩ là sau cuộc
chiến tranh, với đất rộng, người
đông Trung Hoa vẫn c̣n tồn tại trong khi đối
phương gần như bị tận diệt dân số.
5)- Bài Học Tiêu Biểu:
Để minh chứng cho nhận
định trên, chúng tôi xin đưa ra đây một số
trường hợp cụ thể tiêu biểu:
a)
Khủng Bố: Câu
nói để đời với những ai quen với chính
trị là thế này: “Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn
ta”. Như vậy Tàu xác định rơ kẻ
thù tối hậu của họ là Hoa Kỳ, mà Hoa Kỳ là
kẻ thù của các nhóm cực đoan trong thế giới
Hồi Giáo. Vậy Hồi Giáo cực
đoan là bạn thân của Bắc Kinh. V́ vậy, Bắc
Kinh đứng đằng sau vụ 9-11 tại Hoa Kỳ
là không sai!
Chúng
ta hăy xem cuốn “Unrestricted
Warfare” của hai đại tá Trung cộng là Qiao Liang
(Dao Lương) và Wang Xiangsui (Vương Sơn Thủy),
viết 3 năm trước khi vụ 9-11 xảy ra ở
New York th́ rơ (cuốn sách
Unrestricted Warfare của nhà xuất bản Pan American Publishing
Company, Introduction by Ai Santoli – Al Santoli hiện là thứ
trưởng quốc pḥng Hoa Kỳ). Giang Trạch Dân rất
thích thú và cho thâu lại thành băng (tape) để Giang xem
đi xem lại nhiều lần cảnh toà Tháp Đôi tại
New York bị khủng bố tấn công và sập đổ,
(người ta đếm được là họ Giang
đă xem đi xem lại tổng cộng 32 lần trong 1
ngày).
Chúng tôi cũng xin nói rơ là: Tung ra vũ khí hóa học, sinh vật
học để khủng bố thế giới cũng là
do bàn tay của Bắc Kinh, cho dù kẻ xử dụng vũ
khí này là bọn khủng bố cực đoan Hồi giáo (Bắc
Kinh chơi tṛ ném đá dấu tay, đưa vũ khí sinh
hóa học, vi trùng học cho bọn Hồi giáo quá khích để
giết Mỹ và Phương Tây). Nếu cần xử dụng
bom bẩn hay vũ khí nguyên tử khi t́nh h́nh thực sự
bất lợi cho Tàu th́ Tàu sẵn sàng làm ngay. Mao Trạch
Đông đă từng tuyên bố: “Nếu chết 500 triệu
người Trung Hoa để chiếm cả thế giới
th́ Trung Hoa sẵn sàng làm”.
Trung Cộng nghĩ rằng: Nếu
thảm cảnh này xảy ra th́ xă hội Tây Phương-Mỹ
sẽ dễ bị suy sụp v́ họ không có nền “kinh tế
quốc dân” (kinh tế dân sinh tự túc) theo kiểu tự
cung cấp để có thể tồn tại được
khi t́nh h́nh cực xấu xảy ra và v́ sức chịu
đựng cực khổ, căng thẳng tinh thần của
Mỹ và Tây Phương không được mạnh lắm
nếu so với dân Tàu.
b) Bài Học
Từ Các Lân Bang Của Tàu: Chiến thuật “dương đông kích tây” luôn
được Tàu xử dụng. Theo nhận định này th́ Đài Loan, Nhật Bản,
Triều Tiên là “dương đông” để Trung cộng
lấy tiền và hàng hóa, âm thầm thôn tính Miến Điện,
Việt Nam, Lào, Campuchia, Nepal, Bhutan là “kích tây” để chiếm
đất đai và tài nguyên. Kế tiếp sẽ là Mă
Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân và xa hơn nữa là Úc,
Tân Tây Lan, Hawaii, Iran, Iraq, Pakistan, Ả Rập Saudi và các
nước Hồi giáo thuộc Liên Xô cũ (Trung Á). Khi các
vùng này thuộc về Tàu th́ Ấn Độ phải quy hàng,
Nga phải xếp giáo, Âu Châu phải quỳ gối và Hoa Kỳ
phải găy cánh. Kết quả, thế giới
chỉ có Tàu và Tàu làm chủ mà thôi.
Chúng tôi muốn nêu vấn đề
này lên để cảnh tỉnh thế giới không phải
v́ quyền lợi của đất nước Việt
Nam chúng tôi không thôi, mà v́ là Hiểm
Họa Liên Hệ Đến
Toàn Cầu Đang Tiến Tới Gần Kề Do Bắc Kinh
Gây Ra. Trường hợp Việt Nam hiện nay chỉ
là điển h́nh cho sách lược thâm hiểm này thôi.
6)- Âm mưu thôn tính Việt
Năm 1978 khi Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ theo Liên Xô và hăm he xuất cảng cách mạng
đỏ sang Đông Nam Á, đe dọa an ninh của các đồng
minh Mỹ và quyền lợi của Mỹ tại đó,
th́ Đặng Tiểu B́nh coi đó là hành động đe dọa
an ninh của Tàu và sau đó xua quân sang đánh Việt Nam gọi
là dạy cho Việt Nam 1 bài học (Đặng bắn 1 mũi
tên mà giết chết 2 con chim: Tỏ ra nhiệt t́nh với
Mỹ, nhưng cũng là cách để diệt nhóm Tứ
Nhân Bang và những người theo Giang Thanh). Khi Liên Xô sụp
đổ th́ đảng Cộng sản Việt
Song song với nỗ lực biến
Phú Quốc thành một Singapore thông qua bàn tay người Tàu
ở Hong Kong, Thái Lan hay Singapore, thậm chí cả từ Đài
Loan, th́ nay Bắc Kinh cũng đang thực hiện một
nỗ lực vô cùng quan trọng khác là: “Sẽ t́m cách chiếm lưu vực sông Hồng Hà ở
Bắc Việt Nam và khu vực Biển Hồ của
Campuchia”. Với đà lấn chiếm này th́ chỉ trong
ṿng 15 năm nữa thôi Trung cộng sẽ kiểm soát 2
vùng quan trọng này ở Đông Dương. Tại sao chúng tôi
tiên đoán như vậy ? Xin thưa: Về phương diện
phong thủy th́ đảo Hải Nam của Tàu và Biển Hồ
có vị trí đối xứng, vùng châu thổ sông Hồng
có thể trấn áp vùng Hoa Nam của Tàu (có nguồn gốc
từ dăy Hy Mă Lạp Sơn) và toàn thể nước Tàu.
V́ vậy, Bắc Kinh t́m mọi cách phải chiếm Bắc
Việt đầu tiên để phá thế phong thủy
nguy hiểm cho nước Tàu, sau đó sẽ từng
bước chiếm toàn thể Việt Nam và cả vùng Đông
Nam Á, theo đúng như những điều Cụ Lư Đông A
đă tiên đoán cách đây hơn 60 năm.
Một vài ḥn đảo của
Campuchia dành cho Tàu xử dụng, dự án làm kinh đào ở
Nam Thái Lan kư kết với Tàu và một số ḥn đảo
của Miến Điện hiện đang được Tàu
cho xây cất các công sự hạ tầng về kinh tế,
quân sự, tiếp vận, pḥng thủ, tất cả đều
nằm trong ư đồ chiến lược đen tối
xâm chiếm Á Châu của Bắc Kinh.
Con đường muôn thuở
của sách lược Hán hóa của lănh đạo Tàu là
như thế này “kết hợp
kinh tế, quân sự, ngoại giao, di dân”, để ép
buộc các lân bang phải tương nhượng một
vùng lănh thổ chiến lược nào đó, rồi
đưa thêm dân Tàu tới đó để biến các vùng
đó thành các vùng do người Tàu thống trị, trong
tường kỳ hủy diệt văn hóa của người
bản xứ, biến vùng ấy, nước ấy thành một
tỉnh của Trung Hoa.
Tất cả điều
đó, Trung cộng đang dốc toàn lực tiến hành
trên quy mô lớn nhờ Bắc Kinh có nhiều tiền do thặng
dư mậu dịch của Tàu với thế giới
đang gia tăng từng ngày, đến khi thế giới
nh́n thấy th́ đă trễ. Tàu đang tuôn hàng hóa ồ ạt
sang Việt Nam, Lào, Campuchia, Miến Điện, Nepal, Bắc
Hàn, Krygystan qua đường biên giới với giá rẻ
mạt nhằm hủy diệt nền “kinh tế quốc
dân” của các lân bang, đồng thời gây bất ổn
trong vùng biên giới, nắm chặt các nhóm lănh đạo
thân Tàu tại các nước này, nhằm gây sức ép buộc
các chính quyền thân Tàu này cắt đất, dâng biển
cho Tàu và phải mở cửa biên giới để người
Tàu có quyền đi lại tự do trên lănh thổ các
nước này. Đây là sách lược “trộn lẫn một số nhỏ với khối
lớn là 1 tỷ 3 người Tàu” nên chẳng bao lâu nữa,
các quốc gia ấy sẽ trở thành tỉnh lỵ của
Tàu là vậy.
Nếu xét về phương diện
chiến lược th́: Tàu rất hănh diện là đă kết
hợp mọi cách đánh cao siêu nhất mà không phải nổ
súng, không phải gây chú ư nơi dư luận quốc tế.
Ta có thể gọi sách lược này của Tàu là “lấy
nông thôn bao vây thành thị (Phương Tây-Mỹ) bằng
kinh tế, dân số, kết hợp với quân sự, ngoại
giao”.
Nhưng
Bắc Kinh đă lầm lớn!
III)- Thái Độ Của Chúng Ta Với Tàu:
Không một dân tộc nào trên thế giới hiểu
rơ dă tâm thâm độc của Tàu bằng chính người
Việt
Với tư cách là một nạn
nhân lâu đời của Tàu và trước thảm cảnh
là đất nước chúng tôi đang bị Tàu chiếm
đóng thông qua nhóm bù nh́n tay sai của Tàu là đảng Cộng
sản Hà Nội đang thi hành mọi chỉ đạo từ
Bắc Kinh, chúng tôi long trọng lên tiếng cảnh tỉnh
toàn thế giới về các âm mưu thâm độc của
Bắc Kinh đối với toàn thể nhân loại.
1) Đối với các nước
Đông Nam Á: Chúng tôi
phải nhấn mạnh rằng: “Chúng ta đều là
dân Bách Việt cả”. Nay Việt Nam đang bị Tàu
xâm lấn th́ chẳng mấy chốc cả Phi Luật Tân,
Mă Lai, Nam Dương, Úc, Tân Tây Lan, Ấn Độ, v..v... cũng sẽ rơi vào bàn tay tham lam của
Bắc Kinh mà thôi. V́ thế, các quốc gia nằm trong vùng
Đông Nam Á, Nam Á hăy nhớ một điều là: Quư vị
đang là mục tiêu kế tiếp trong tiến tŕnh nô dịch
toàn cầu của Bắc Kinh. Vậy quư vị
cần xác định “tối
hậu địch nhân của quư vị và của dân tộc
Việt
2) Đối với thế giới
Hồi Giáo: Chúng
tôi cần phải nói thế này: Nói chung, tôn giáo là để
phục vụ con người, cho nên quư vị đừng
để tôn giáo hoặc những kẻ lợi dụng tôn
giáo cấu kết với Trung cộng, để giúp Bắc
Kinh thực hiện được ư đồ bành trướng
Hán tộc đi khắp nơi trên thế giới, để
rồi chính các quốc gia của quư vị, tôn giáo của
quư vị sẽ là mục tiêu thôn tính kế tiếp của
Bắc Kinh. Chuyện này chắc chắn sẽ
xảy ra v́ Trung cộng đang rất đói khát về
năng lượng dầu hỏa và Bắc Kinh rất muốn
chiếm các mỏ dầu hoả trên đất nước
của quư vị khi thời cơ đến (nhất là chiếm
các mỏ dầu của
3) Đối
với Âu Châu: Chúng tôi cần nhấn mạnh thế
này: Nếu Trung cộng thống trị thế giới th́
cả Âu Châu sẽ bị Tàu chiếm đoạt cho bằng
hết, ngọn cỏ cũng chẳng c̣n chứ nói ǵ
đến giá trị văn hóa La-Hy, chủ nghĩa cá nhân
hưởng thụ. V́ thế, Âu Châu cần hợp
tác mật thiết với Hoa Kỳ trong việc ổn
định thế giới mới. Nhất là Pháp quư vị
đừng v́ một chút tư lợi nho nhỏ trước
mắt do Bắc Kinh đem đến cho quư vị, để
rồi quư vị trở thành công cụ cho Bắc Kinh hủy
diệt nhân loại và cả quư vị nữa trong
tương lai rất gần.
4) Với toàn thể nhân loại: Chúng tôi cần phải nói thế
này: Hoa Kỳ không phải là quốc gia đế quốc
như nhiều người lầm tưởng, quá khứ
và hiện tại đă chứng minh như vậy và
tương lai “Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một nước
Tiền Duy Dân đang dẫn loài người tiến lên nền
Nhân Chủ Pháp Trị”. Nếu quyền
lợi của Hoa Kỳ và của quốc gia quư vị có
mâu thuẫn th́ đó cũng chỉ là mâu thuẫn tạm thời.
Tối hậu địch nhân
của nhân loại chính là giới lănh đạo tham lam, tàn
ác Bắc Kinh. V́ thế, chúng tôi kêu gọi toàn thể
loài người văn minh tiến bộ trên thế giới,
không phân biệt màu da, tôn giáo, chủng tộc, tất cả
hăy sát cánh cùng Hoa Kỳ trong sứ mệnh cao cả - “tiêu diệt âm mưu nô lệ
hoá con người” của Bắc Kinh hầu đưa
nhân loại tiến vào thời kỳ Nhân Chủ Pháp Trị
đầy tốt đẹp.
* Chúng tôi cũng kêu gọi dân
chúng hiện nay đang sống dưới các chế độ
độc tài, độc đảng các bạn hăy can đảm,
mạnh mẽ đứng lên lật đổ các chế
độ độc tài, độc đảng, tham lam, tham
nhũng, phản dân hại nước ấy, nhằm thiết
lập một chế độ dân chủ tự do thật
sự trên quê hương của các bạn. Không
ai có thể làm việc này thay cho các bạn được.
Các bạn phải làm trước rồi sự
trợ giúp mới tới sau. Dân Chủ - Tự Do là sản
phẩm tư tưởng và quyền căn bản của
con người chứ không phải của riêng ai, nó cũng
không phải là của riêng Âu Châu hay Mỹ Châu. Chỉ có các
chế độ độc tài, độc đảng, tàn
ác, tham lam, tham nhũng mới sợ tiếng nói Tự Do –
Dân Chủ. Cho nên các chế độ độc tài, độc
đảng, tham lam, tham nhũng này đang là đồng
minh hay tay sai thân tín của chủ nghĩa bành trướng
Đại Hán của Bắc Kinh.
5) Đối với lănh đạo đảng Cộng
sản Trung cộng ở Bắc Kinh: Hôm nay đây, chúng tôi gởi
đến cho các ông một tính hiệu rất rơ ràng. Đó là: Các ông đừng tưởng rằng
dă tâm nham hiểm của các ông đă lừa bịp
được hơn 80 triệu người Việt tại
Việt Nam và hơn 2 triệu người Việt tại
hải ngọai. Các ông đă lầm to! Đă
có một nhóm người Việt
Hôm nay đây chúng tôi thành thật
nói với nhóm lănh đạo Bắc Kinh rằng (nhân dân
Trung Hoa với dân số 1 tỷ 3, nếu kể thêm người
Tàu hải ngoại th́ khoảng 1 tỷ 360 triệu): Các anh
không sợ sức mạnh của Hoa Kỳ à
? Các anh nghĩ rằng Hoa Kỳ không biết ǵ về
các ư đồ thâm độc của các anh sao
? Các anh quá lầm lẫn! Nếu các anh không biết hoặc
cố t́nh không biết, chúng tôi sẽ nói cho các anh biết:
Khi cuộc chiến nổ ra th́ không một chiếc máy bay,
hỏa tiễn nào của các anh có thể cất cánh hay
phóng lên được cả. Cũng chẳng có chiếc
tàu ngầm, tàu nổi nào của “Hồng Quân” các anh có thể
rời khỏi cái hồ nhỏ ở vùng biển Hoàng Hải
hay Nam Hải được đâu. Và tệ hại hơn
nữa, nếu cần thiết để cứu nhân loại
này th́ “người ta” cũng sẽ sẵn sàng cho nổ tung đập Tam Khẩu ngay lập tức.
Lúc đó các anh sẽ chết ít nhất cũng
hàng trăm triệu người. Các anh nên biết
người biết ta mà liệu sức ḿnh! Các anh muốn
chết 500 triệu th́ “Người Ta” sẽ cho các anh chết
700 triệu mà họ chẳng hối hận ǵ cả, v́ các
anh muốn đánh chiếm và thống trị toàn thế giới.
Chúng tôi cũng nói thật cho các anh rơ: Hiện tại sách lược
đă có vấn đề chỉ c̣n là cân nhắc về mặt
đạo đức đấy thôi. Không ai muốn
chiến tranh, v́ chiến tranh đem đến cho con
người quá nhiều tang thương, chết chóc hẳn
nhiên là những người có lương tâm trong sáng không
ai muốn chiến tranh xảy ra, nhưng nếu lấy
chiến tranh để giải quyết chiến tranh hầu
đem đến một nền ḥa b́nh muôn thuở cho nhân
loại này, cho thế giới này không bị diệt vong,
th́ Hoa Kỳ sẽ phải đi vào chiến tranh bằng tất
cả sức mạnh và sự khôn ngoan của họ vậy
Chúng tôi cũng nói rơ với hai
ông Giang-Hồ (Giang Trạch Dân-Hồ Cẩm Đào) và toàn
ban lănh đạo của đảng cộng sản Trung cộng
là: Khi chúng tôi đă vạch mặt chỉ tên kẻ thù th́
không c̣n ǵ để khoan nhượng nữa. Bắc Kinh mới
chỉ hiểu và nắm Việt
6) Chúng tôi kêu gọi nhân dân Trung
Hoa: Chỉ
có các bạn mới cứu được chính các bạn
và con cháu các bạn. Cuộc chiến tranhh toàn diện này (một
bên là thế giới tự do do Hoa Kỳ lănh đạo và
bên kia là tập đoàn Cộng sản và khủng bố do
Bắc Kinh lănh đạo) không phải là “không thể tránh
được”. Nếu các bạn biết đứng lên lật
đổ tiêu diệt chế độ Cộng sản Bắc
Kinh, th́ các bạn sẽ tiết kiệm được
xương máu của chính các bạn và con cháu các bạn rất
nhiều, nếu không th́ hậu quả sẽ không sao lường
được cho dân tộc và cho đất nước
các bạn.
* Đặc biệt với các dân tộc
Hoa Nam: Các bạn
và dân tộc Việt Nam chúng tôi và các dân tộc ở vùng
Đông Nam Á, chúng ta có chung một nguồn gốc tổ tiên là
Bách Việt. Sự sung măn của Hoa
7) Với Hoa Kỳ: Trước dă tâm thâm độc,
tàn ác của giới lănh đạo Bắc Kinh đối với
nhân loại, hôm nay đây chúng tôi chính thức yêu cầu: Hoa
Kỳ xử dụng tất cả sức mạnh kinh tế,
kỹ thuật, quân sự của ḿnh để ngăn chặn
các âm mưu thâm hiểm này của Bắc Kinh trong ư đồ
xâm lược thế giới, đồng hóa các nước
nhỏ, tiêu diệt các nền văn minh khác và Hán hóa toàn cầu.
Nếu vạn bất đắc dĩ không thể tránh
được, th́ Hoa Kỳ cần phải xử dụng
sức mạnh quân sự tối ưu của ḿnh để
đập tan chế độ độc tài, tham lam, tàn ác
của Bắc Kinh để cứu chính dân Trung Hoa và cứu
loài người yếu. Tội ác chống
nhân loại của nhóm lănh đạo Bắc Kinh đă
đến thời điểm cực kỳ nghiêm trọng.
Nó tội lỗi và tàn độc hơn bất
cứ chế độ độc tài, tàn ác nào từ
xưa tới nay trong lịch sử nhân loại.
8)
Đối với nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước: Chúng tôi kêu gọi mọi
người cần ư thức thật rơ ràng về việc
Trung cộng đă thực sự chiếm lĩnh Việt
Nam qua bọn tay sai, bù nh́n, tội đồ của dân tộc
Việt Nam là đảng Cộng sản Hà Nội, do đó
đảng Cộng sản Hà Nội chỉ c̣n là công cụ
để cho Bắc Kinh thao túng Việt Nam và đồng
hóa dân ta một cách âm thầm mà thôi. Trong t́nh
huống này, sắp tới đây, Bắc Kinh sẽ kiểm
soát quân đội Cộng sản Việt
V́ vậy, chúng tôi kêu gọi tất
cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước:
Không phân biệt đảng phái, chính kiến, tôn giáo
Chúng ta có bất cứ thứ vũ
khí ǵ th́ xử dụng vũ khí ấy, để tiêu diệt
hết mọi thành phần làm t́nh báo, gián điệp, tay
sai cho Trung cộng, được Bắc Kinh gài vào trá h́nh
làm người Việt sinh sống tại Việt Nam,
để thực hiện ư đồ bành trướng Hán
tộc và tiêu diệt văn hóa cũng như đồng
hóa dân tộc Việt Nam.
Chúng ta nhất
định không để chuyện Trọng Thủy - Mỵ
Châu tái diễn một lần nữa trên đất nước
Việt
Nhưng trước hết,
nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước, chúng ta phải
nhanh tay kết hợp nhau lại để lật đổ
bọn cầm quyền bán nước nguy hiểm là nhóm Cộng
sản Hà Nội hiện đang làm tay sai cho Bắc Kinh
để thực hiện các đường lối Hán hóa
Việt Nam của Bắc Kinh.
Thế giới sẽ cứu giúp chúng ta nhưng
chúng ta phải tự cứu ḿnh trước đă. Do
đó chỉ có chúng ta mới cứu dân tộc chúng ta
được. Hoa Kỳ sẽ sát cánh cùng dân tộc Việt
Nam và các dân tộc khác trong cuộc chiến tranh thần
thánh này để “đập tan âm mưu bành
trướng để thống trị toàn thế giới
của Hán tộc của Bắc Kinh” hầu đem lại
vinh quang, hạnh phúc, ấm no cho xứ sở Việt Nam
và cho cả loài người nữa.
Trân Trong Kính Chào,
Lê
Văn Xương