Những Nguyên Tắc Dân Chủ Cho Việt Nam
ChuSa.
Mục tiêu
Dân chủ phải được hướng dẫn
bằng tư tưởng Dân chủ và xây dựng bởi
nỗ lực Dân chủ. Cơ chế quốc trị
dân chủ khó thực hiện hoặc dễ thất bại khi nhân tố tham chính (cộng-sản hay
không-cộng-sản) mang tư
tưởng Duy vật và kinh
nghiệm phản-dân-chủ. Do đó trong quan niệm ‘vấn
nạn hiện thực không phải
là chấp nhận tư tưởng dân chủ mà là
vượt thoát ngục tù tư tưởng và hành
động phản-dân-chủ. Diễn Đàn Dân Chủ cố
gắng giới thiệu những tài liệu căn bản
về các nguyên tắc dân chủ với hy vọng
độc giả ưu tư đến tương lai dân
tộc có thể suy luận
để so sánh phủ định quan điểm và
hành động phản-dân-chủ bởi v́ Việt Nam
sẽ khó xây dựng thành công cơ chế quốc trị
dân chủ quy phục và phụng sự nhân dân trong
tương lai trên nền tảng tư tưởng Duy
vật và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không lẽ trong
khi các quốc gia phú cường tiếp tục phát
triển nhờ vào cơ chế dân chủ khai phóng tiềm
năng đóng góp của toàn dân bất phân đảng phái,
dân tộc Việt Nam lại tiếp tục bị cầm
tù trong ngục tù nghèo hèn bởi thành phần lănh đạo
độc tài mang tư tưởng Duy vật và kinh
nghiệm phản-dân-chủ?. Phần tài liệu Các vấn
đề dân chủ sau đây tŕnh bày nhiều đề
tài khả dụng như định chế dân chủ, vai
tṛ chính đảng, truyền thông, luật pháp, kinh tế
thị trường, trách nhiệm của chính quyền,
bầu cử tự do và h́nh thức tuyển cử, xă
hội dân sự, nhân quyền, tư sản, quyền
lợi và giới hạn của công dân, v.v.,tuy sơ
lược nhưng minh bạch do đó Diễn Đàn Dân
Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quư
bạn
*Các vấn đề dân chủ (Việt Nam sẽ đi tới)
1. Dân chủ là ǵ?
2.
Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?
3.
Nguồn gốc của ư tưởng dân chủ
4.
Chế độ đại nghị có thực sự
dân chủ không?
5.
Vai tṛ của chính đảng trong chế độ
dân chủ
6.
Vai tṛ quan trọng của truyền thông trong một
chế độ dân chủ
7.
Tại sao các chế độ dân chủ đại
nghị có thể được xem là tự do?
8.
Có thể có những h́nh thức dân chủ nào khác
với chế độ dân chủ tự do không?
9.
Dân chủ có đ̣i phải có kinh tế thị
trường không?
10. Quyết định
của đa số có phải lúc nào cũng dân chủ không?
11. Trong chế độ dân
chủ, một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay
không?
12. Chủ nghĩa quốc gia
dân tộc và dân chủ có liên quan ǵ với nhau?
13. Có thể cai trị một
quốc gia một cách dân chủ không?
14. Làm
thế nào để giữ sau khi đă thiết lập
được dân chủ?
15. Những
thành tố chính yếu của một chế độ
thực sự dân chủ
*(i) Những
cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng
*(ii) Một
chính quyền hoạt động minh bạch và có trách
nhiệm
*(iii) Dân
quyền và quyền chính trị
*(iv) Xă
hội dân chủ hay xă hội dân sự
II. Những cuộc bầu cử tự do và
công bằng
16. Tại
sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?
17. Nguyên
thủ quốc gia có cần được chọn qua
một cuộc tổng tuyển cử không?
18. C̣n
những người ở chức vụ nào khác cần
được chọn qua một cuộc tổng tuyển
cử?
19. Có cần
bầu một nghị viện thứ hai không?
20. Chu kỳ
của các cuộc bầu cử
21. Có cần
phải giới hạn quyền bầu cử không?
22. Làm sao
thiết lập danh sách cử tri?
23. Có cần
cưỡng chế bầu cử không?
24. Tại
sao phải bỏ phiếu kín?
25. Điều
kiện ứng cử
26. Tại
sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?
27. Dân
biểu được xem là "đại diện"
của cử tri trong chừng mực nào?
28. Sự
khác biệt của các lối bầu cử
29. Ưu và
khuyết điểm của các lối bầu cử
30. H́nh
thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?
31. Làm
thế nào để bảo đảm sự công bằng
trong diễn tiến bầu cử?
32. Công
quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng không?
33. Có nên cho
các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa 2
kỳ bầu cử không?
34. Các cử
tri có quyền hành ǵ giữa hai kỳ bầu cử?
35. Trong
chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng
h́nh thức trưng cầu dân ư?
III. Tính trong suốt và trách nhiệm của
chính quyền
36. Tại
sao hoạt động trong suốt của chính quyền
lại quan trọng đối với dân chủ?
37. Làm
thế nào để bảo đảm cho hoạt
động chính quyền được trong suốt?
38. Thế
nào là trách nhiệm của chính quyền?
39. Tại
sao sự phân quyền lại quan trọng?
40. Thế
nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo
vệ nguyên tắc đó?
41. Vai tṛ
của quốc hội trong việc kiểm soát trách
nhiệm của chính quyền
42. Ai có
thể trở thành dân biểu quốc hội?
43. Có nên cho
phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác không?
44. Làm
thế nào để tận diệt tham nhũng chính
trị?
45. Vai tṛ
của bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ
46. Công dân có
phương tiện nào để buộc các cơ quan chính
quyền phải làm tṛn trách nhiệm đă được
giao phó?
47. Làm
thế nào để bảo đảm sự kiểm soát
của một chính quyền dân sự đối với
quân đội?
48. Cơ quan
t́nh báo có chỗ đứng trong một chế độ
dân chủ không?
49. Tại
sao các đơn vị hành chánh địa phương
lại quan trọng đối với nền dân chủ?
50. Chế
độ liên bang thích hợp trong những điều
kiện nào?
IV. Những quyền tự do cá nhân và
phương cách bảo vệ chúng
51. Nhân
quyền là ǵ?
52. Nhân
quyền được phân loại ra sao?
53. Có nhân
quyền nào được xem là quan trọng hơn các nhân
quyền khác không?
54. Nhân
quyền có tính phổ quát không?
55. Cộng
đồng quốc tế có thể bày tỏ sự quan tâm
chính đáng của ḿnh về cách thực thi nhân quyền
tại một quốc gia nào đó không?
56. Nhân
quyền liên quan ra sao với dân chủ?
57. Các
quyền dân sự và chính trị liên quan ra sao với dân
chủ?
58. Các
quyền kinh tế và xă hội liên quan ra sao với dân
chủ?
59. Trong
trường hợp nào một chính quyền dân chủ
được phép giới hạn nhân quyền?
60. Trong
trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nào
th́ được phép đ́nh chỉ nhân quyền?
61. Một
người có thể bị từ chối tư cách công
dân trong một chế độ dân chủ không?
62. Quyền
của các cộng đồng thiểu số có
được bảo đảm không?
63. Về
mặt thực tiễn, nhân quyền được
bảo vệ bằng cách nào?
V. Xă hội dân chủ hoặc xă hội công
dân
64. Xă hội
công dân là ǵ ?
65. Hoạt
động của các hiệp hội công dân có gây trở
ngại cho dân chủ không?
66. Hoạt
động của các tổ chức kinh tế có cần
tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?
67. Tài sản tư
nhân có cần thiết cho dân chủ không?.
Nguyên Tắc Dân Chủ
I. Tổng Quát
1. Dân chủ là ǵ?
Trong
đời sống, mỗi chúng ta đều thuộc
về một nhóm hay đa số, kể đi từ gia
đ́nh đến quốc gia và dân tộc, từ
phường khóm đến câu lạc bộ hay công ty. Trong
những đa số hay thiểu số nhỏ này, có
những việc phải quyết định liên quan
đến toàn thể, ví dụ như quyết định
về mục tiêu, về nội quy hay về sự phân chia
trách nhiệm và quyền lợi giữa những thành viên.
Những quyết định này được xem là
của tập thể để phân biệt với
những quyết định cá nhân, chỉ liên quan
đến riêng cá nhân ấy mà thôi.
Dân chủ là
một thuộc tính của diễn tŕnh lấy quyết
định của đa số. Dân chủ là hiện thân
của lư tưởng, theo đó, những quyết
định liên quan đến đa số phải
được thông qua tất cả các thành viên của
đa số đó, mỗi thành viên đều có quyền
được tham gia như nhau vào diễn tŕnh lấy
quyết định. Nói một cách khác, dân chủ đ̣i
hỏi phải tôn trọng hai nguyên tắc được
xem là căn bản như nhau sau đây: một là sự
kiểm soát của dân chúng trên diễn tŕnh lấy quyết
định đa số và hai là mỗi người
đều có quyền ngang nhau khi thi hành việc kiểm
soát đó. Một tập thể được gọi là
dân chủ nếu mọi vấn đề liên quan
đến đa số đó đều được
quyết định dựa trên hai nguyên tắc vừa nêu
trên.
Một
định nghĩa như vậy về dân chủ sẽ
dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, dân
chủ sẽ không chỉ là thuộc tính của quốc gia
hay của cơ quan quyền lực như người ta
thường nghĩ, mặc dù trong thực tế, dân
chủ trên b́nh diện quốc gia liên quan chặt chẽ
với dân chủ biểu hiện trong các cơ cấu khác
của xă hội. Nếu xem quốc gia như một
hiệp hội với tầm hoạt động rộng
lớn nhất, bao gồm quyền điều khiển và
phối hợp các công việc của toàn xă hội và
khả năng tăng thuế, th́ quả dân chủ ở
b́nh diện quốc gia mang một tầm quan trọng
đặc biệt. Do đó chúng ta sẽ lưu tâm xem xét
kỹ đến những vấn đề dân chủ
của những chính quyền.
Hệ
quả thứ hai là dân chủ không thể được
đo lường đơn giản theo cách hoặc có
hoặc không và cũng không thể áp dụng loại tiêu
chuẩn này để xét đoán xem một đa số,
bất kỳ loại nào, có hoàn toàn dân chủ hay không. Đúng
ra đây là vấn đề mức độ. Một
mặt dân chủ phụ thuộc vào việc áp dụng các
nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và
về quyền b́nh đẳng chính trị, mặt khác dân
chủ c̣n tùy thuộc vào mức độ thực hiện
lư tưởng b́nh đẳng tham gia vào diễn tŕnh
lấy quyết định. Thông thường chúng ta
đánh giá một quốc gia là có dân chủ nếu
những nhà lănh đạo quốc gia đó biết
đặt hành động của họ dưới sự
chấp thuận của dân chúng thông qua những cuộc
bầu cử tự do để dân chúng chọn lựa
người cầm quyền giữa các ứng cử viên khác
nhau.
Như
vậy tính chất dân chủ của một quốc gia
được đánh giá qua việc các công dân
trưởng thành của quốc gia đó có quyền
bầu cử và ứng cử như nhau và việc các
quyền công dân và chính trị được bảo vệ
bởi luật pháp. Thực ra ngay cả tại các quốc
gia thuộc dạng vừa kể, hai nguyên tắc về
sự kiểm soát của dân chúng và về sự b́nh
đẳng chính trị cũng chưa được tôn
trọng tuyệt đối. Nh́n như vậy, tiến
tŕnh dân chủ hóa sẽ không bao giờ được hoàn
tất; v́ lẽ đó mà những con người dân
chủ trên toàn thế giới, bất kể họ
sống trong chế độ hoặc thể chế chính
trị nào, vẫn tiếp tục tranh đấu
để củng cố và phát huy việc áp dụng các
nguyên tắc dân chủ.
2. Tại sao phải gắn bó với dân
chủ ?
Sự
gắn bó chính đáng với dân chủ có thể
được biện minh bằng nhiều lư do, sau đây
là 5 lư do quan trọng nhất.
(a) Mục đích của dân chủ là đem
lại cho mọi cá nhân một sự đối xử
như nhau. Nhà Hiến pháp học Jeremy Bentham viết
rằng: "mỗi người chỉ được
tính là một và không ai được tính hơn
một" để phản bác lại lập luận
của một số quư tộc cho rằng mạng sống
của một số cá nhân nào đó quan trọng hơn
của những người dân khác. Nguyên tắc b́nh
đẳng này không chỉ nói lên rằng các chính sách chung phải
nhằm bảo vệ quyền lợi của tất
cả mọi người một cách như nhau mà c̣n cho
thấy những quan điểm cá nhân cũng phải
được tôn trọng như nhau, không có phân biệt
giữa người này kẻ khác.
Trong một
vở tuồng của Euripide, một công dân thành Athènes
đă tuyên bố rằng: "chúng ta không chấp nhận
trao quyền lực đặc biệt cho sự giàu có;
tiếng nói của người nghèo cũng không ít quan
trọng hơn của người khác". Những
người chống dân chủ luôn cho rằng đám
đông quá thiếu kiến thức, thiếu học và
thiển cận để có thể tham gia dưới
một h́nh thức nào đó vào việc xây dựng chính sách.
Do đó người dân chủ phải trả lời
rằng nếu quả thực là quần chúng cần thông
tin và cần thời giờ để hiểu nó, th́ họ
sẽ đủ khả năng để hành động
một cách có trách nhiệm một khi t́nh thế đ̣i
hỏi. Tất cả mọi người trưởng
thành phải được xem như có trách nhiệm
về lối sống của họ cũng như có
khả năng tham gia vào những quyết định liên
quan đến đời sống xă hội của họ.
(b) Một chính quyền thuộc loại dân
chủ dễ thỏa măn nhu cầu của những dân
thường hơn bất cứ loại chính quyền nào
khác. Càng kéo nhiều người cùng tham gia vào việc
định chính sách, chính sách càng dễ phản ánh những
bận tâm và khát vọng của họ. Một ngạn
ngữ cổ của Hy Lạp đă chẳng cho rằng
"nếu người thợ làm ra đôi giày th́ chỉ kẻ
mang nó mới biết có vừa không". Trong thực
tế chính người dân thường là kẻ phải
gánh chịu hậu quả của chính sách. Người làm
chính sách chỉ rút được kinh nghiệm khi quần
chúng được trang bị những phương
tiện tốt và hữu hiệu để có thể gây
những ảnh hưởng và áp lực cần thiết.
Nếu dân chúng không có cách ǵ để tạo ảnh
hưởng hoặc kiểm soát những người có
chức quyền, cho dù họ có ư tốt, th́ những chính
sách của họ, nếu khá, cũng không thể thích
ứng được với nhu cầu của dân chúng, c̣n
nếu xấu th́ những chính sách này sẽ chỉ là con đẻ
của tham nhũng hoặc chỉ để phục
vụ quyền lợi cá nhân.
(c) Dân chủ dựa trên sự tranh luận,
sự thuyết phục và sự thỏa thuận. Khi tranh
luận trong chế độ dân chủ, điều quan
trọng không chỉ là sự có mặt của những quan
niệm hoặc quyền lợi khác nhau đại diện
cho phần đông những khuynh hướng lớn mà c̣n
là sự tôn trọng quyền được phát biểu
một quan điểm khác biệt và quyền
được lắng nghe. Như vậy dân chủ
chấp nhận sự đa dạng và đa nguyên trong xă
hội cũng như sự b́nh đẳng giữa các công
dân. Gặp sự biểu hiện đa dạng này,
những khác biệt quan điểm phải
được giải quyết bằng sự tranh
luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận
chứ không phải bằng sự cưởng bức
hoặc bằng sự xác định quyền lực
một cách đơn thuần. Người ta thường
diễu các chế độ dân chủ đại diện
như những bộ máy chuyên nói ba láp. Đáng lư ra khả
năng tổ chức tranh luận công khai của những
chế độ này cần phải đáng được
khen hơn là bị chê bởi tranh luận là phương
tiện tốt nhất để t́m đồng thuận
cho các chính sách và tranh luận không nhất thiết cản
trở việc hoạt động hiệu quả.
(d) Dân chủ bảo đảm việc tôn
trọng các quyền tự do căn bản. Không thể có
tự do tranh luận một phương tiện
để bày tỏ và giải quyết những khác
biệt trong xă hội- nếu những quyền tự do
đó không được bảo vệ bởi những quy
định về quyền công dân và quyền chính trị
như: quyền tự do phát biểu, tự do lập
hội, tự do đi lại và quyền được an
toàn. Người ta có thể tin rằng chế độ
dân chủ sẽ bảo vệ những quyền này bởi
thiếu chúng cỗ máy dân chủ không thể hoạt
động được. Nếu thực hiện một
cách lư tưởng những quyền căn bản này, cá
nhân sẽ phát triển và những quyết định
tập thể sẽ dễ đạt được
hơn khi bị đem ra đối chất với
nhiều lư luận và chứng cứ khác.
(e) Dân chủ sẽ đem lại sự
đổi mới xă hội. Bằng cách cho phép loại
bỏ những chính sách hoặc những người lănh
đạo bị thất bại hay đă hết hữu
hiệu theo một tiến tŕnh nề nếp và ôn ḥa,
những chế độ dân chủ sẽ có khả
năng bảo đảm sự đổi mới của
xă hội và sự tiếp nối giữa các thế hệ
mà không tạo ra đảo lộn đáng kể nào
hoặc làm rối loạn sinh hoạt quốc gia như
thường xảy ra mỗi khi những người
cầm quyền trong những chế độ phi dân
chủ bị gạt bỏ.
3. Nguồn gốc của ư tưởng dân
chủ.
Trong suốt
lịch sử loài người, quan niệm cho rằng
người dân phải có quyền tham gia vào các quyết
định liên quan đến số phận của họ
đă trở thành một khát vọng của nhiều xă
hội. Chính tại Athènes vào thế kỷ thứ V và VI
trước Thiên Chúa mà nguyên tắc này được nâng
lên thành cơ chế. Khi quy định về việc các
ứng cử viên vào các chức vụ công cộng phải
là sở hữu chủ được băi bỏ vào hồi
đầu thế kỷ thứ V, tất cả mọi
công dân của Cộng ḥa Athènes đă được
trực tiếp tham gia các cuộc luận bàn hoặc các
cuộc bỏ phiếu tại Nghị viện; Nghị
viện này có nhiệm vụ định ra luật lệ
và chính sách của tập thể. Ngoài ra mỗi
người đều có thể tham gia vào việc điều
hành đô thị (chú thích: Athènes khi ấy là quốc gia
đô thị) tỷ dụ như tham gia bồi thẩm
đoàn hoặc hội đồng đô thị; thành viên
của những cơ chế này được bầu
lại định kỳ bằng cách bốc thăm.
Từ đó
đến nay, sự điều hành của nền dân
chủ đầu tiên này luôn được tham chiếu và
được xem là kiểu mẫu cho tất cả các nền
dân chủ. Sự kiện một chính quyền dân chủ
được xây dựng lên trong một giai đoạn mà
Athènes xác định được ưu thế về
kinh tế và hàng hải và trải qua một thời kỳ
mà sự sáng tạo trong nghệ thuật và sự tư
biện trong triết học nở rộ một cách phi
thường đủ đánh đổ quan niệm
của những người chống dân chủ, cho
rằng việc để cho thường dân tham gia vào
việc quản lư việc công sẽ dẫn đến
hoặc một xă hội hoàn toàn đồng nhất
hoặc một loại chính quyền vô trách nhiệm.
Nền dân
chủ tại Athènes thực ra vừa có mặt hơn
vừa có mặt kém dân chủ hơn những chế
độ dân chủ mà chúng ta biết đến ngày nay. Nó
dân chủ hơn ở chỗ các công dân được phép
can thiệp trực tiếp vào các quyết định chính
liên quan đến xă hội mà họ đang sống (phù
hợp với nguyên tắc dân chủ trực tiếp) trong
khi các chế độ dân chủ hiện nay đều
dựa trên nguyên tắc đại diện gián tiếp, mà
trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ cho
phép một sự tham gia bậc hai vào diễn tŕnh quyết
định của chính quyền và quốc hội. Nhưng
một chế độ dân chủ trực tiếp lại
chỉ thực hiện được khi số
lượng công dân c̣n tương đối nhỏ
để có thể tụ họp lại tại một
chỗ họp vừa đủ rộng, ngoài ra những
công dân này lại phải có đủ thời giờ
rảnh để tham gia một cách có ư thức vào việc
bàn chọn chính sách. Ngày nay, chỉ xét về mặt dân
số không thôi, bất kể dân số đó là bao nhiêu,
chúng ta cũng thấy không điều nào trong hai đ̣i
hỏi ở trên có thể thỏa măn được. Tuy
nhiên điều này không cấm ta tạo điều
kiện để các công dân tham gia trực tiếp vào các
quyết định ở b́nh diện quốc gia, tỷ
dụ như qua bầu cử hoặc trưng cầu dân ư
hay tạo cho họ có điều kiện tham gia liên
tục vào các quyết định tại địa
phương.
Ngược
lại nền dân chủ tại Athènes kém dân chủ hơn
các chế độ dân chủ ngày nay ở chỗ chỉ
có những người "đàn ông tự do" mới được
xem là công dân. Đàn bà, nô lệ và ngoại kiều sống trong
đô thị thời đó không có quyền công dân; họ
phải làm việc nhà và sản xuất để các
"ông công dân" có thể tham gia hoạt động chính
trị. Ở đây rơ ràng người dân có
được tham gia cai trị nhưng quyền tham gia này
lại chỉ xuất phát từ hoàn cảnh tương
đối ưu đăi của họ.
Cần
nhắc lại rằng trong đa số các chế
độ đại nghị Tây phương trước
đây, quyền công dân cũng đă bị gắn liền
với những hạn chế tương tự và chỉ
đến đầu thế kỷ xx các hạn chế này
mới bị hủy bỏ. Nguyên tắc "mọi
quyền lực chính trị thuộc về nhân dân" dù
đă được cuộc Cách mạng Pháp (1789) phổ
biến nhưng đă không được áp dụng cho
mọi người. Người đàn bà và những
người vô sản đă phải chờ đến
thế kỷ xx mới được công nhận
quyền đi bỏ phiếu. Ngay cả ngày nay không
phải ai cư trú tại một quốc gia, khi
đến tuổi đi bầu cũng được phép
tham gia các cuộc bầu cử, không cần biết
rằng họ đóng góp như thế nào cho nền kinh
tế quốc dân tại đó (thí dụ: các ngoại
kiều).
4. Chế độ đại nghị có
thực sự dân chủ không?
Jean Jacques
Rousseau, một triết gia Pháp ở thế kỷ XVIII, cho
rằng chế độ đại nghị không thực
sự dân chủ. Ông cho rằng trong chế độ
đại nghị, dân chúng thực sự chỉ
được tự do vào lúc bầu cử. Qua kỳ
bầu cử, dân chúng lại trở về t́nh trạng
bị phụ thuộc những người cai trị,
không khác chi nô lệ. Thực ra đây chỉ là một
dạng quá khích của luận đề cổ
điển của những nhà phê b́nh cực tả cho
rằng các chế độ đại nghị thực ra
không dân chủ. Luận đề này ngược với
luận đề của phe hữu cho rằng những
chế độ đại nghị đă dành một vai
tṛ quá lớn cho dân chúng.
Để
trả lời những nhà phê b́nh này, chúng ta có thể nói
rằng, cho đến ngày hôm nay, khi mà số những công
dân tăng lên hàng triệu và thời giờ không c̣n cho phép
họ thường xuyên tham gia công việc chính trị
nữa th́ chế độ đại nghị là chế
độ tốt nhất được dựng lên
để bảo đảm sự kiểm soát của dân
chúng đối với người lănh đạo. Trên lư thuyết,
người dân thi hành sự kiểm soát của họ qua
việc bầu lên một người lănh đạo
(tổng thống hay thủ tướng) và qua việc
chọn lựa những dân biểu của quốc hội
lập pháp, là những người được
quyền thay mặt dân để thường xuyên kiểm
soát chính phủ. Quốc hội này có những đặc
quyền, chẳng hạn như chấp nhận hay bác
bỏ một đạo luật hay chấp thuận chính
sách thuế khóa. Song le sự kiểm soát của dân chúng có
thực hay không là do các cuộc bầu cử có thực
sự "tự do và công bằng" hay không, là do các
hoạt động của bộ máy hành pháp có minh bạch
hay không và do các quyền hạn trao cho quốc hội
để t́m hiểu và kiểm soát các hoạt động
của hành pháp có hữu hiệu hay không.
Trong một
chế độ đại nghị, nếu bầu cử
được xem là phương cách chính để dân chúng
tham gia vào các hoạt động hành pháp, th́ đó không
phải là phương cách duy nhất. Người dân có
thể kết hợp thành đoàn thể để đ̣i
hỏi sửa đổi về một vấn đề
luật pháp nào đó hoặc để chống lại
sự sửa đổi đó; Họ có thể tham gia vào
một chính đảng để tạo áp lực trực
tiếp lên các dân biểu. Ngược lại các chính
quyền cũng sẽ phải tham khảo ư kiến
của những người sẽ chịu hậu quả
của các quyết định của họ, cho dù chỉ
là tham khảo những thành phần tiêu biểu qua một
cuộc thăm ḍ dư luận. Trên thực tế hiếm
có chính quyền trong một chế độ đại nghị
nào có thể gác bỏ ngoài tai dư luận quần chúng
được phản ảnh thông qua những cuộc
thăm ḍ dư luận, qua báo chí, truyền thanh và
truyền h́nh. Tuy nhiên sự hữu hiệu của
những trạm tiếp vận ảnh hưởng
của quần chúng này rút cuộc lại phụ thuộc
vào sự tiến hành tốt diễn tŕnh bầu cử,
bởi v́ thực ra, các chính quyền chỉ chú ư một
cách đúng đắn đến ư kiến của dân chúng
nếu sự thờ ơ trước dư luận
sẽ dẫn họ đến chỗ mất quyền.
Tóm lại
sự kiểm soát của dân chúng, thứ nhất
được thi hành thông qua các cuộc bầu cử, khi
mà họ có thể cân nhắc về phương cách
điều hành quốc gia và chọn lựa những
người sẽ nhận trách nhiệm chính trị;
thứ nh́ thông qua sự kiểm soát chính phủ
thường xuyên của quốc hội, và cuối cùng là
qua trung gian của các gịng diễn đạt dư luận
quần chúng được chính phủ lưu ư
đến.
Xét về
nguyên tắc thứ hai của dân chủ về sự b́nh
đẳng chính trị, chế độ đại
nghị quả thiếu b́nh đẳng khi cho phép một
thiểu số có quyền thay mặt đám đông
để quyết định về chính trị. Để
khắc phục những hạn chế này và để
thỏa đáp tiêu chuẩn b́nh đẳng chính trị,
chúng ta cần tạo điều kiện sao cho mỗi công
dân lúc nào cũng có thể làm được ba việc sau
đây: mưu t́m một trách vụ dân cử, công bố
lập trường của ḿnh về các vấn đề
quốc gia và được đền bù trong
trường hợp gặp sai phạm của những
người có chức quyền hành chánh. Nhưng
điều cần thiết vẫn là hệ thống
bầu cử phải dành cho mỗi cuộc bầu cử
một giá trị như nhau. Trên thực tế đa
số các chế độ đại nghị đă không
giữ đúng được các nguyên tắc này. Đặc
biệt nguyên tắc b́nh đẳng chính trị đă
bị vi phạm trầm trọng bởi những bất
b́nh đẳng tồn tại trong xă hội. Thí dụ,
về mặt vật chất, các nhóm xă hội đă
rất khác biệt nhau về phương tiện tài chính,
về khả năng xoay sở và về quan hệ.
Do đó trong
các nước theo chế độ đại nghị,
phận sự của những con người dân chủ là
phải t́m ra những giải pháp để hạn chế
ảnh hưởng về mặt chính trị tạo nên
bởi những bất b́nh đẳng xă hội và phải
làm gia tăng sự hữu hiệu của những cơ
chế giúp người dân kiểm soát chính phủ.
5. Vai tṛ của chính đảng trong
chế độ dân chủ
Những cá
nhân trong một xă hội chỉ có thể ảnh
hưởng hạn chế vào việc điều hành
quốc gia nếu họ không biết kết hợp thành
hội đoàn. Đảng phái chính trị là tập hợp
của những người có cùng chính kiến và quyền
lợi trong việc phổ biến quan điểm, trong
việc giành những trách vụ chính trị và trong khả
năng ảnh hưởng vào công việc quốc gia. Các
chính đảng đóng nhiều vai tṛ. Nh́n dưới khía
cạnh bầu cử, các chính đảng góp phần
đơn giản hóa sự chọn lựa bằng cách
cống hiến cho cử tri một số quan điểm
chính trị và những nét tổng quát của chương
tŕnh hành động để họ dễ quyết
định. Nh́n dưới khía cạnh chính quyền, các
chính đảng là hậu thuẫn tương đối
ổn vững để cho chính quyền có thể thực
hiện tốt các chương tŕnh đă được
đưa ra hứa hẹn lúc tranh cử. Ngoài ra chính
đảng c̣n giúp cho những cá nhân hoạt động
chính trị tích cực nhất có thể can thiệp vào
việc nước, được học tập chính
trị và có ảnh hưởng vào việc điều hành
quốc gia.
Trong
những chế độ có bầu cử tự do và công
bằng, sự thành công của chính đảng phụ
thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của
số cử tri mà họ đă giành và giữ
được. Do đó họ phải luôn luôn lưu tâm
đến ư kiến của cơ sở khi lập chương
tŕnh hành động cũng như khi chọn các ứng
cử viên vào những trách vụ dân cử, nếu không
họ sẽ bị thua các đảng khác hoặc sẽ
khiến có thêm những chính đảng mới
được thành lập để đáp ứng
khoảng trống chính trị do họ tạo nên. Cho nên
chính đảng là một cơ chế quan trọng
khiến chính quyền phải lắng nghe đúng mức
những bận tâm của dân chúng. Song le các chính
đảng chỉ có thể làm tṛn nhiệm vụ này
nếu việc tranh cử được bảo
đảm công bằng tuyệt đối, nghĩa là không
để xảy ra việc có một số các chính
đảng có quyền sử dụng những phương
tiện công cộng hoặc những phương tiện
truyền thông đại chúng trong khi những đảng
khác lại không được phép. Đặc biệt điều
này cũng bao hàm rằng ngay chính đảng cầm
quyền cũng cần ư thức phân biệt rơ ràng phạm
vi hoạt động của chính quyền với phạm
vi hoạt động của đảng cũng như t́m
ra h́nh thức tổ chức thích ứng cho từng
loại hoạt động.
Nếu
việc cạnh tranh công khai của các chính đảng trong
khuôn khổ bầu cử là một trong những
đặc trưng không thể thiếu được
của những chế độ dân chủ đại nghị
th́ đó cũng chính là chỗ nhược của thể
chế này. Việc cạnh tranh công khai giữa các chính
đảng cùng mưu đồ lèo lái quốc gia là một
yếu tố phân chia về mặt xă hội và chính
trị. Cái giá mà những người tham dự vào cuộc
cạnh tranh này phải trả thường rất cao. Do
đó nhất thiết -và đây chính là một trong
những yếu tố sống c̣n của dân chủ- ta
phải làm sao để cái giá mà những chính đảng
và những ủng hộ viên của họ phải trả
một khi họ bị loại khỏi quyền lực là
một cái giá mà họ có thể chịu đựng
được. Đặc biệt họ không được
phép nghi ngờ về khả năng có thể thắng
lại của họ trong một cuộc bầu cử sau
cũng như về tính dài lâu của những quyền pháp
định, cho dù hiện thất cử, họ vẫn có
thể tụ tập thành viên, công bố quan điểm và
chỉ trích chính quyền.
6. Vai tṛ quan trọng của truyền thông
trong một chế độ dân chủ
Chính
quyền của bất kỳ thể chế chính trị
nào cũng muốn dân chúng ủng hộ hoặc tán thành các
chính sách của họ. Nếu xem trọng dân chúng th́
người ta phải t́m cách tiếp cận với họ
qua trung gian của các phương tiện truyền thông
đại chúng như báo chí, truyền thanh và truyền h́nh.
Từ đó truyền thông có một vai tṛ chính trị quan
trọng trong xă hội cận đại. Trong chế
độ dân chủ, truyền thông không thể bị xem
đơn giản như bộ phận tuyên truyền
của chính phủ. Truyền thông c̣n có những nhiệm
vụ quan trọng khác, đó là: rà xoát hoạt động
của chính quyền, thông tin cho quần chúng, tạo tranh
luận công khai, làm cho chính quyền phải chú ư đến
dư luận và tạo áp lực lên chính quyền.
Nhiệm
vụ điều tra và thông tin của truyền thông
rất cần thiết để chống lại cái
"tật" muốn giữ bí mật muôn thủa
của các chính quyền và để cân bằng lại
sức mạnh áp chế của guồng máy chính quyền
trong lănh vực giao tế công cộng. Một chính quyền
buộc phải có trách nhiệm với dư luận
nếu dư luận có được thông tin về các
hoạt động của họ cũng như có
phương tiện độc lập để đánh
giá về sự đúng đắn của những lời
tuyên bố về chính sách của họ. Nếu một
mặt truyền thông phải cẩn thận để
khỏi soi mói vào đời tư người khác th́
mặt khác nó cũng có nhiệm vụ truyền đạt
thông tin và nói lên phần nào mối quan tâm của quần
chúng, một quần chúng có quyền được t́m
hiểu. Không làm được việc này truyền thông
sẽ không thể chu toàn trọng trách của
"người canh gác quyền lợi công cộng".
Ngoài vai tṛ cung cấp thông tin độc lập, truyền
thông c̣n phải tạo diễn đàn tranh luận bằng
cách mời các bộ trưởng và nhân sĩ trả
lời -một cách dễ hiểu- những câu hỏi
được đặt ra cho họ và tạo
điều kiện để người dân b́nh
thường cũng có thể tham gia cuộc tranh luận
này. Truyền thông cũng phải làm sao để chính
quyền lắng nghe dư luận. Đóng một lúc nhiều
vai tṛ khác nhau như vậy mà tầm hoạt động
lại rộng đến toàn thể dân chúng nên truyền thông
sẽ bổ xung và củng cố cho hoạt động
theo dơi và thảo luận của quốc hội.
Song le trong
một thể chế dân chủ, truyền thông chỉ có
thể hoàn thành những nhiệm vụ quan yếu này
nếu nó thực sự độc lập và không phụ
thuộc cả chính quyền lẫn những thế
lực quyền lợi tư nhân. Để giới hạn
ảnh hưởng của chính quyền người ta có
thể ủy thác việc kiểm soát những phương
tiện truyền thông do công quỹ tài trợ cho một
ủy ban độc lập hoặc một ủy ban
gồm đại diện những hiệp hội công dân
và tạo sự cạnh tranh với những phương tiện
truyền thông tư nhân. Để ngăn chặn những nhóm
tài phiệt tư nhân thao túng lănh vực truyền thông
người ta có thể đặt ra định mức
tập trung sở hữu hoặc dùng các phương cách
điều ḥa thích ứng khác. Tuy nhiên không một biện
pháp nào có thể bảo đảm được rằng
truyền thông sẽ chu toàn trách nhiệm dân chủ của
họ một cách vô tư và hữu hiệu như mong
đợi. Cuối cùng chúng ta cũng chỉ trông chờ
nơi sự độc lập và tính chuyên nghiệp
của các nhà báo, các chủ bút và các nhà sản xuất trong
lănh vực thính thị cũng như mong quần chúng luôn ư
thức rằng truyền thông sẽ góp phần tích cực
vào sự hoạt động của một nền dân
chủ.
7. Tại sao các chế độ dân
chủ đại nghị có thể được xem là
tự do?
Lư do thứ
nhất xuất phát từ lịch sử: đại đa
số các quốc gia tây phương đă được
tự do trước khi trở thành dân chủ. Tại các
quốc gia đó một chế độ tự do hiến
định đă được thiết lập
trước khi phổ thông đầu phiếu
được chấp nhận và các chính đảng
đại chúng được thành lập.
Chế
độ đó có những đặc điểm như
sau:
a) đặt sự hoạt động
của chính quyền hoặc của bộ máy hành pháp vào
khuôn khổ của luật pháp được chuẩn y
bởi một quốc hội do dân bầu
("thượng tôn pháp luật");
b) công nhận những quyền cá nhân về
tố tụng (quyền được xét xử công b́nh),
về tự do ngôn luận, tự do tụ tập và
tự do đi lại;
c) thiết lập một bộ máy tư pháp
độc lập với hành pháp và lập pháp để
thể hiện đúng vai tṛ canh giữ luật pháp và
quyền cá nhân. Trong lịch sử, những chế
độ dân chủ cho áp dụng phổ thông đầu
phiếu và để các chính đảng đại chúng
phát triển trước khi củng cố các thành tố
tự do vừa nêu đều đă không giữ
được ổn định.
Việc này
đưa chúng ta đến lư do thứ hai, thuộc lănh
vực thực tiễn, để hiểu tại sao
một chế độ tự do hiến định
phải đi đôi với dân chủ. Trong một quốc
gia tân tiến chính quyền thường nắm những
quyền hành rất lớn. Nếu một chính quyền dù
được ḷng dân không chấp nhận sự chi
phối của luật pháp như bất cứ một công
dân b́nh thường nào khác, hoặc không bị bắt
buộc phải xin quốc hội chuẩn y những
đạo luật theo những thủ tục
được định sẵn, hay không chịu tôn
trọng các quyền tự do của công dân (cho dù việc
thực thi các quyền tự do đó đôi khi gây ra khá
nhiều phiền toái), th́ trước sau ǵ chính quyền
đó cũng sẽ vuột khỏi sự kiểm soát
của dân chúng.
Dân chủ
không phải là một thể chế chuyên t́m cách thỏa
măn ngay tức thời hoặc càng nhanh càng tốt tất
cả những đ̣i hỏi của người dân, mà là
một thể chế nhằm bảo đảm cho
người dân có những phương tiện để
thực thi một cách lâu dài ảnh hưởng và sự
kiểm soát của họ lên chính quyền. Trong số
những phương tiện này chúng ta cần nhấn mạnh
đến những thành tố quan trọng của một
chế độ hiến định: sự thượng
tôn pháp luật, sự phân quyền giữa hành pháp, lập
pháp và tư pháp và sự tôn trọng các quyền và các
tự do cá nhân.
Những
đặc trưng và những thành tố của thể
chế dân chủ đó chỉ có thể được
bảo vệ một cách hữu hiệu nhất bằng
một hiến pháp thành văn được phổ
biến đến tất cả mọi người, trong
đó định nghĩa rơ ràng các nghĩa vụ và
quyền hạn của cá nhân cũng như của các
cơ quan nhà nước. Qui chế đặc biệt
của hiến pháp được xác định bởi
hai sự việc. Thứ nhất, những người
nhận trách nhiệm công vụ phải tuyên thệ trung
thành với hiến pháp và không được phép diễn
giải hiến pháp theo cách nh́n phe phái hoặc cục
bộ của họ. Thứ hai, việc thay đổi
hiến pháp đ̣i hỏi phải qua những thủ
tục đặc biệt, tỷ dụ như qua một
cuộc bỏ thăm với đa số tuyệt
đối hoặc một cuộc trưng cầu dân ư.
Về thực hành, sự bất khả xâm phạm của
hiến pháp thành văn chỉ có thể được
bảo đảm dưới hai điều kiện: có
ngành tư pháp độc lập được chỉ
định ra để thực thi sự tôn trọng
hiến pháp và ngành tư pháp này phải có đủ
quyền hành để hoàn thành trách nhiệm đó; và
đồng thời quần chúng nhân dân phải luôn sẵn
sang để giám sát sự tôn trọng hiến pháp.
8. Có thể có những h́nh thức dân
chủ nào khác với chế độ dân chủ tự do
không?
Trong thế
kỷ 20 này người ta đă chứng kiến một
số những thử nghiệm nhằm xây dựng một
chế độ dân chủ trên b́nh diện quốc gia,
thường dưới h́nh thức một chế
độ độc đảng -phổ biến nhất
là chế độ cộng sản-, mà không lưu tâm ǵ
đến di sản tự do. Trong loại chế độ
này, để biện minh cho sự "độc
đảng" người ta thường nêu lên sự
cần thiết phải bảo vệ thành quả cách
mạng của nhân dân, phải tập trung sức mạnh
của xă hội cho một chương tŕnh phát triển
kinh tế, và phải loại bỏ ảnh hưởng
của sở hữu tư nhân cũng như của
quyền lợi cá thể trong hoạt động chính
trị. Đảng cầm quyền được xem như
là tiếng nói của nhân dân và là công cụ cho phép những
người lănh đạo huy động dân chúng cho
những mục tiêu của chính quyền.
Ngày nay,
nếu c̣n lịch sự, th́ người ta chỉ có
thể công nhận một sự năng động dân
chủ nhất định thấy xuất hiện tại
cơ sở của loại chế độ này.
Ngược lại sự thiếu vắng của các
quyền tự do ngôn luận và lập hội đă
ngăn chặn sự h́nh thành quan điểm và sự thành
lập những tổ chức nằm ngoài hệ thống
của đảng. Kết quả là ảnh hưởng
của dân chúng vào việc h́nh thành chính sách đă bị
giới hạn nghiêm trọng và tinh thần trách nhiệm
của những người cầm quyền đối
với dân chúng cũng teo tóp đi. Cho dù có tự cho là
đă gặt hái được những thành quả kinh
tế đáng kể, những chế độ cộng
sản đă tiêu biểu cho sự độc đoán chuyên
quyền, cho việc phải dựa vào một chính sách
đàn áp tỏa rộng và cho sự khinh thường pháp
luật, đến nỗi chế độ cộng
sản đă chỉ có thể giữ vững
được nhờ một hệ thống công an tổ
chức chặt chẽ.
Những
thử nghiệm tại Phi Châu nhằm thiết lập
những chế độ dân chủ độc
đảng không cộng sản cũng dẫn đến
những hậu quả tương tự, cho dù ư
định ban đầu là tốt. Ở Phi Châu
người ta mong rằng việc tập trung vào một
đảng duy nhất sẽ tránh được những
bất đồng do tranh chấp giữa những phe phái tạo
nên, đặc biệt trong một khung cảnh xă hội có
nhiều chia rẽ sắc tộc và một đảng duy
nhất sẽ phản ảnh được truyền
thống xem trọng sự đồng thuận (cho dù khái
niệm đồng thuận hoàn toàn không ăn nhập ǵ
với khái niệm "đối lập trung thành").
Các chế độ này đă cho phép cử tri chọn
lựa giữa những ứng cử viên, cho phép họ
loại bỏ một vài bộ trưởng bị mất
ḷng dân với điều kiện là các "đối
thủ" cũng phải là người của
đảng và phải tuân theo đường lối
của đảng. Ở đây lại một lần
nữa, việc dân chúng không thể tập hợp
được một cách độc lập bên ngoài
đảng cầm quyền và việc họ không thể
đưa ra được những ứng cử viên
đối lập chống lại đảng trong các
cuộc đầu phiếu đă đủ để
tố cáo một chế độ độc đoán chuyên
quyền và một sự coi thường ư kiến nhân dân
ngày càng trầm trọng của những chính quyền và
những người lănh đạo. Bên cạnh đó,
sự thiếu vắng của sự phân quyền thực
sự đă khiến cho các nguyên tắc về
thượng tôn pháp luật và về trách nhiệm của
chính quyền trước các dân biểu quốc hội
đại diện cho dân chúng không được tôn
trọng, và từ đó không bảo đảm
được sự tôn trọng các quyền tự do
của người dân.
Qua những
tiền lệ lịch sử này người ta có thể
kết luận rằng những thử nghiệm nhằm
thiết lập một chế độ dân chủ mà không
dựa trên nền tảng tự do đều thất
bại. Cho dù quyền tự do lập hội và
phương cách bầu cử tự do và đa nguyên có
đem lại bao nhiêu phiền toái đi nữa th́ chúng ta
cũng phải nhận rằng đây là hai công cụ
rất cần thiết để bảo đảm cho
ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân chúng
đối với chính phủ được vĩnh
cửu, để bảo đảm các nguyên tắc thượng
tôn pháp luật và phân quyền, là những nguyên tắc
bắt buộc chính quyền phải tuân theo một số
thủ tục cần thiết để chấp nhận
sự ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân
chúng. Chế độ dân chủ tự do chắc chắn
c̣n đủ rộng chỗ cho những thử nghiệm
và thích ứng vào những điều kiện địa
phương. Người ta sẽ lầm khi cho rằng có
thể áp dụng mà không sợ lầm những h́nh thức
dân chủ đă được xây dựng thành công trong
những hoàn cảnh nhất định nào đó hoặc
trong những xă hội có truyền thống dân chủ lâu
đời.
9. Dân chủ có đ̣i phải có kinh tế
thị trường không?
Câu hỏi
phức tạp này không thể chỉ được
trả lời một cách đơn giản là có hay không.
Một mặt người ta có thể cho rằng hệ
thống sản xuất và phân phối dựa trên nguyên
tắc trao đổi tự do sẽ tạo nhiều
thuận lợi cho dân chủ. Cũng giống như dân
chủ, thị trường xem cá nhân tự do (không
chịu sự điều khiển của ai) là
người có thể phán đoán về quyền lợi
của ḿnh một cách tốt nhất và phải chịu
trách nhiệm về chọn lựa của ḿnh. Thị
trường và dân chủ có nhiều điểm
tương đồng. Người tiêu thụ là vua trên
thị trường giống như cử tri
được xem là vua trong thể chế dân chủ.
Tương
tự, việc các công ty phụ thuộc vào sự ủng
hộ của khách hàng cũng được so sánh như
việc các chính đảng lệ thuộc vào tỷ lệ
đầu phiếu. Ngoài ra thị trường c̣n kiềm
chế các thế lực trong xă hội bằng cách phân tán
quyền quyết định về kinh tế và trải
rộng khả năng sinh hoạt, thông tin và phương
tiện ra trong xă hội dân sự. Thị trường giúp
cho dân chúng khỏi phụ thuộc chính phủ về
mặt kinh tế và trong việc tài trợ các hoạt
động chính trị và văn hóa độc lập
của họ. Về các phương diện này th́ thị
trường có thể được xem như hỗ
trợ cho dân chủ.
Mặt khác,
nếu để thị trường phát triển tự
nhiên th́ nó sẽ tạo nên những thăng trầm
đột biến trong hoạt động sản
xuất, khiến cho nền kinh tế gặp khó khăn và
xáo trộn rất lớn. Những thay đổi này
khiến quốc gia phải chịu hậu quả của
sự dao động về giá cả và về mặt giao
thương trên b́nh diện quốc tế, từ đó làm
cho quốc gia mất chủ động về kinh tế.
Về mặt đối nội, thị trường làm
tăng thêm sự bất b́nh đẳng trong việc
đóng góp về khả năng và phương tiện
giữa những thành viên kinh tế và tạo bất b́nh
đẳng chính trị trong một thể chế dân
chủ. Ngoài ra thị trường xem lao động là
một món hàng cũng chịu sự chi phối bởi
luật cung cầu như mọi món hàng khác, khiến khi không
cần đến nó nữa th́ người ta có thể
loại bỏ nó mà không để ư ǵ đến phẩm
cách của người công dân.
Trong hoàn
cảnh đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi biết
rằng chính các quốc gia tây phương đầu tiên
bước vào thời đại công nghiệp đă cho
rằng kinh tế thị trường không thích hợp
với việc phổ thông đầu phiếu,
điều mà họ đă ra công chống đối trong
phần lớn thế kỷ 19. Người ta cũng không
ngạc nhiên khi thấy việc toan tính áp dụng một
chính sách kinh tế thả lỏng đă dẫn đến
việc dựng nên những chính quyền chuyên chế
để kiềm hăm sự bất măn của dân chúng.
Kể từ sau đệ nhị thế chiến các chính
quyền tây phương đă phối hợp dân chủ
với kinh tế thị trường bằng cách can
thiệp vào thị trường và điều phối nó
ở mức độ quan trọng, bằng cách bảo
đảm việc tái phân phối các kết quả của
hoạt động kinh tế và bằng cách dựng nên
một hệ thống luật lệ xă hội để
bảo vệ những người yếu kém nhất trong xă
hội trước những thăng trầm của
thị trường.
Người
ta cần phải nhắc nhở nhau về tính cách hai
mặt trong quan hệ giữa dân chủ và thị
trường để khỏi bị quyến rũ
bởi sự đơn giản của nền kinh tế
thả lỏng. Ngược lại hệ thống kinh
tế hoạch định tập trung trong các chế
độ xă hội chủ nghĩa đ̣i hỏi phải
quản lư một bộ máy hành chánh vượt quá khả
năng kiểm soát. Nó đă độc quyền sử
dụng toàn bộ năng lực và sáng kiến của xă
hội cho mục đích của một nhà nước và
sinh ra những bất công chính trị lớn khi cho một
số người đặc quyền đặc lợi.
Đây là những điều không thích hợp với thể
chế dân chủ.
C̣n về
khả năng tồn tại trong kinh tế thị
trường của một hệ thống công ty thuộc
sở hữu tập thể được phân tán
mỏng, cũng như về sự thích hợp của
hệ thống này với một chế độ dân
chủ đa đảng th́ sao? Đến hôm nay, h́nh thức
xă hội chủ nghĩa dân chủ duy nhất c̣n tồn
tại là h́nh thức dân-chủ-xă-hội được
thành lập từ năm 1945 tại một số
nước Bắc Âu và Tây Âu. Thực ra đây là một
sự cải biến hơn là một sự dứt khoát
với chủ nghĩa tư bản.
10. Quyết định của đa
số có phải lúc nào cũng dân chủ không?
Người
ta thường lầm dân chủ với sự thực thi
quyền lực của đa số. Nếu hiểu theo nghĩa
đen th́ dân chủ là sự thực thi quyền lực
của người dân, và quyền lực này
được thực thi bởi toàn thể dân chúng
chứ không phải chỉ bởi một tập thể
dân chúng bằng cách áp đặt ư muốn của họ lên
một tập thể dân chúng khác. Nói cách khác, đặc
trưng căn bản của dân chủ là công nhận cho
mọi người quyền được b́nh
đẳng tham gia vào quyết định chung, trong đó
nguyên tắc đa số chỉ là một cái mẹo về
thủ tục để giải quyết những bất
đồng, sau khi mọi phương cách khác như tranh
luận, bổ xung ư kiến và thỏa hiệp đă được
tận dụng mà không mang lại kết quả.
Nhưng chúng
ta có thể chắc chắn là khi đa số áp đặt
ư muốn của họ th́ sẽ có dân chủ hơn là khi
để cho những thiểu số được quyền
quyết định hoặc được phép ngăn
cản ư muốn của một số đông hơn. Song
khi đẩy thiểu số xuống t́nh trạng bị
bất lực và khi cướp đi của họ mọi
phương tiện tham gia quyết định chung, th́
nguyên tắc đa số không c̣n có thể được
xem là biểu hiện lư tưởng của dân chủ
nữa mà chỉ là phương tiện thô bạo
để đi đến quyết định.
Những
người ủng hộ nguyên tắc đa số
biện minh rằng thiểu số của hôm nay lúc nào
cũng có thể hy vọng sẽ trở thành đa số
của ngày mai và việc họ bị loại ra ngoài lề
trong một quyết định hoặc trong một
cuộc bầu cử nào đó sẽ được
đền bù nếu sau này họ chiến thắng trở
lại. Nói cách khác, phe thiểu số sẵn sàng chấp
nhận luật chơi đa số dựa trên "nguyên
tắc hỗ tương" nếu tin rằng một
ngày kia khi họ trở thành đa số th́ phe kia cũng
phải chấp nhận luật chơi cũng như chính
họ đă từng chấp nhận. Song le, nguyên tắc
này sẽ mất tác dụng khi đa số quyết
định làm cho thiểu số bị mất khả
năng phổ biến quan điểm của ḿnh hay
dồn họ vào thế phải làm "đối lập
muôn thủa" hoặc quyết định này quan
trọng đến độ sự thất bại
của phe thiểu số sau này không c̣n cách ǵ có thể bù
đắp được nữa. Sau đây chúng ta sẽ
xét từng trường hợp này một cách kỹ
lưỡng.
Khi một
quyết định của đa số (hoặc của
một chính quyền được đa số hỗ
trợ) xâm phạm đến những quyền dân chủ
căn bản của một cá nhân hay một nhóm, th́
chiếu theo định nghĩa, quyết định này là
phản dân chủ. Có những quyền được
gọi là căn bản là bởi thiếu nó dân chúng không
thể tham gia vào đời sống chính trị, thí dụ
như: quyền tự do phát biểu, di chuyển và lập
hội, quyền được bầu và ứng cử.
Việc bảo đảm cho mọi công dân những
quyền này là nền móng của mọi chế độ
dân chủ. Để có thể bảo vệ những quyền
này trước sự xâm phạm của đa số
một cách lư tưởng nhất người ta có thể
ghi chúng vào hiến pháp hoặc vào một tuyên ngôn về
quyền công dân. Câu hỏi tế nhị liên quan đến
những điều kiện cho phép ngưng hoặc
giới hạn việc tôn trọng các quyền này sẽ
được mổ xẻ sau.
Trường
hợp thứ hai mà "nguyên tắc hỗ
tương" không đem áp dụng được là
trường hợp mà một thiểu số "muôn
đời" bị là thiểu số. Đó là trường
hợp các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo,
ngôn ngữ hoặc các nhóm được định
nghĩa dựa trên bất cứ một tính chất
"vĩnh cửu" nào. Nếu những chính
đảng tham gia việc tranh giành quyền lực mà
cố t́nh vạch ra thay v́ vượt lên trên những khác
biệt này th́ có thể một ngày kia sẽ có một
thiểu số bị vĩnh viễn loại ra khỏi
việc điều hành quyền lực cũng như
mất vai tṛ trong chính trường. Người ta có
thể đặt nhiều biện pháp hiến định
để ngăn ngừa việc đưa một
thiểu số ra ngoài lề một cách vĩnh viễn.
Người ta có thể dành cho thiểu số này một
số bộ, tùy theo số lượng tương ứng
mà bổ nhiệm họ vào một số chức vụ
chính phủ; cho họ quyền phủ quyết những
đạo luật liên quan đến quyền lợi sinh
tồn của họ; công nhận cho họ được
rộng quyền tự trị. Việc chọn biện
pháp thích ứng nào phụ thuộc vào từng hoàn cảnh
cụ thể nhưng cho dù có chọn biện pháp nào th́
quyền được bảo tồn văn hóa ngày nay
cũng được xem như một quyền con
người căn bản và cần phải
được bảo vệ bởi hiến pháp.
C̣n lại
trường hợp của những nhóm thiểu số
tranh đấu cho "những lư do thiêng liêng".
Thiểu số này có thể xem một vấn đề
quan trọng đến nỗi không thể nhượng
bộ phe đa số về điểm này cho dù sau này
được nhân nhượng về các điểm khác.
Luật pháp không dự trù giải quyết loại trường
hợp này. Song một đa số có kinh nghiệm và chín
chắn sẽ biết có thể đưa cho thiểu
số những nhượng bộ nào và biết tránh những
quyết định áp đặt đơn thuần lên phe
thiểu số. Sự bền lâu của dân chủ đ̣i
hỏi các thành viên của cộng đồng phải
chấp nhận chung sống với nhau, điều đ̣i
hỏi rằng phe đa số và những chính quyền
đại diện cho họ phải biết chừng
mực và luôn thận trọng để đừng khai
thác triệt để nguyên tắc đa số nhằm
chiếm đoạt tất cả và áp đặt quan
điểm của họ lên thiểu số.
11. Trong chế độ dân chủ,
một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay không?
Sự
"bất tuân dân sự", nghĩa là hành động vi
phạm luật lệ một cách công khai, bất bạo
động và nhân danh một nguyên tắc quan trọng hay
một quyền lợi sống c̣n, được dành cho
một vị trí quan trọng trong lịch sử dân chủ.
Hành động này khác với các vi phạm h́nh sự
bởi tính cách phô diễn, bởi tính chính trị của
động cơ và bởi thực tế là những
người thực hiện không có ư định trốn
tránh sự truy nă, và nếu thất bại th́ họ
sẵn sàng chấp nhận chịu án phạt. Sự
bất tuân dân sự thường nhắm gây chú ư
đến một sự bất công hay một vụ tai
tiếng gây ra bởi nhà chức trách hoặc bởi
một tổ chức tư nhân. Mục đích của nó là
bắt giới hữu quyền phải xét lại một
quyết định đang bị dân chúng lên án, sau khi
những biện pháp nhằm đánh động lương
tâm và để thuyết phục khác đă không đem
lại kết quả. Trong một số trường
hợp ít thấy hơn, những người phản
đối t́m cách vô hiệu hóa một quyết định
của chính quyền bằng cách tổ chức một phong
trào chống đối rộng lớn. Dù sao, v́ đă vi
phạm nguyên tắc hỗ tương là một nguyên
tắc cơ bản cho sự đồng thuận pháp lư
trong dân chủ, cho nên phải xem sự bất tuân dân
sự là một cùng kế được đem ra áp
dụng trong những điều kiện thật ngoại
lệ.
Những
người phản đối sự bất tuân dân sự
cho rằng không có ǵ có thể biện hộ
được cho hành động vi phạm luật pháp
ấy. Đă xem luật pháp là nền tảng của xă hội
văn minh mà c̣n để một cá nhân hay một nhóm
người không tôn trọng nó th́ sau này sẽ có vô số
người bắt chước theo. Nếu mỗi
người tự cho phép ḿnh diễn giải luật pháp
theo trí tưởng tượng của ḿnh th́ sớm
muộn ǵ khung luật pháp cũng rạn nứt. Ngoài ra,
hiến pháp của một chế độ dân chủ
cũng đă dành cho dân chúng nhiều phương cách
để họ sửa đổi luật pháp. Mỗi
người có quyền dùng lá phiếu để tạo áp
lực lên những đại diện dân cử của ḿnh
hoặc phát động một chiến dịch -trong khuôn
khổ luật pháp- nhằm thuyết phục dân chúng và
chính quyền sửa đổi luật lệ hoặc
một chính sách nào đó. Chỉ nội việc tham gia
bầu cử tự nó đă nói lên sự ưng thuận
chấp nhận kết quả và chấp nhận
chương tŕnh hành động do đảng thắng
cử đề ra. Tóm lại theo quan niệm của
những người phản đối, sự bất tuân
dân sự là một sự chà đạp lên nền dân
chủ và lên nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
Những
người đ̣i bảo vệ quyền bất tuân dân
sự cho rằng việc đồng ư chấp nhận
kết quả bầu cử không bắt buộc một cá
nhân phải tôn trọng tất cả các luật lệ
hoặc buộc họ phải chấp nhận toàn bộ
hoạt động của chính quyền - bất kể các
hoạt động này có bất công hay không. Những
phương tiện hiến định để đánh
động dư luận và để bày tỏ sự
phản đối thường đi quá chậm, trong khi
sự thiệt hại th́ không vớt lại
được nữa. Trong thực tế, tiếng nói
của các công dân b́nh thường luôn luôn bị bộ máy
tuyên truyền của chính quyền và của các nhóm
quyền lợi khỏa lấp. Trong hoàn cảnh đó,
sự bất tuân dân sự không những không chống lại
dân chủ mà c̣n phục vụ cho nó, một khi cho công
luận biết đến sự hiện diện của
tiếng nói đối lập qua cách tạo ấn
tượng mạnh. Nói cho cùng mỗi cá nhân phải tự
nhận định bằng lương tâm của ḿnh
về giá trị đạo đức của luật pháp
và không một ai v́ quán tính mà có thể tự cho phép tránh né
trách nhiệm của ḿnh trong sự tồn dư dai
dẳng của những đạo luật bất công. Lịch
sử đă cho thấy sự chấp nhận thụ
động những đạo luật mang tính đàn áp dân
chúng c̣n tai hại hơn cả sự bất tuân phát
xuất từ mong muốn bảo vệ các nguyên tắc.
Nếu nói
chung chung th́ cũng rất khó phán xét về hai quan
điểm trái ngược nhau trên đây. Người ta
chỉ có thể có quyết định cho từng
trường hợp một, với ư thức rơ ràng về
hoàn cảnh, về giá trị của các nguyên tắc
đối kháng trong từng vụ việc và cân nhắc
về hậu quả xảy ra một khi phải bảo
vệ nguyên tắc này hay nguyên tắc kia. Thực ra câu
hỏi nêu trên chỉ có thể được trả
lời bởi từng cá nhân. Ngày nay nó thuộc về
một lănh vực mà các lương tâm cá biệt
được tôn trọng. Thí dụ như việc
chống đối tham gia nghĩa vụ quân dịch (có
vũ trang) v́ lư do lương tâm đă khiến nhiều
quốc gia phải bổ túc thêm bằng các h́nh thức
nghĩa vụ dân sự khác và giá trị lương tâm
của những chống đối này hiện đă
được công nhận rộng răi.
12. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và
dân chủ có liên quan ǵ với nhau?
Trong thế
giới hôm nay người ta thường cho rằng
chủ nghĩa quốc gia và dân chủ là hai ư niệm hoàn
toàn đối chọi nhau. Điều này không đúng bởi
hai ư niệm này có cùng nguồn gốc lịch sử và
tư tưởng dựa trên nguyên tắc "mọi quyền
lực chính trị phát xuất từ dân chúng" của
các nhà cách mạng Pháp. Quan niệm của những
người theo chủ nghĩa quốc gia cho rằng dân
chúng được quyền tự định đoạt
trong phạm vi lănh thổ quốc gia của họ rất
gần với nguyên tắc dân chủ nhằm bảo đảm
cho mọi công dân của một nước quyền
được tự do quyết định lấy công
việc của ḿnh.
Nhưng chúng
ta sẽ phải đào sâu thêm nữa. Dân chủ là một
học thuyết có giá trị phổ cập, cho phép mọi
con người -bất kể những đặc thù
của nó- được tự do quyết định, trong
khi chủ nghĩa quốc gia lại dựa trên tính
đặc thù, nhấn mạnh đến sự khác
biệt giữa các dân tộc và chiếu cố đến
đặc tính quốc gia của các phong tục, các nền
văn hóa và các lối sống. Như vậy chủ
nghĩa quốc gia chủ yếu dựa trên sự
loại bỏ trong khi dân chủ lại dựa chính trên sự
bao gồm. Nguyên tắc loại bỏ sẽ trở thành
phản dân chủ sâu sắc khi nó dẫn đến
việc từ chối phẩm giá công dân và chối bỏ
các quyền lợi của các người ngoại quốc
đă sinh sống lâu năm tại một quốc gia
chỉ bởi v́ họ không nói cùng một ngôn ngữ, không
có cùng một tôn giáo cũng như không có cùng một
nguồn gốc sắc tộc như nhóm dân chiếm đa
số trong quốc gia ấy. Vấn đề này sẽ
không được đặt ra nếu tất cả các
mọi chính phủ được ḥa chung vào một dân
tộc hoặc một quốc gia thuần nhất.
Nhưng thực tế lại không như vậy bởi các
sắc dân đă bị ḥa trộn với nhau bởi làn sóng
di dân và bởi các cuộc đô hộ xảy ra trong
nhiều thế kỷ. Thế nên ư niệm quốc gia
một-dân-tộc, theo đó quốc gia được coi
như là tổ quốc của một sắc dân duy
nhất, chỉ là một ảo tưởng.
Nếu
đă cho rằng những đ̣i hỏi về quyền
được tự quyết trên b́nh diện quốc gia
là phù hợp với nguyên tắc dân chủ th́ người
ta cũng phải thấy rằng việc từ chối
không cho những người đă cư trú lâu năm
những quyền lợi về chính trị cũng như
cho các dân tộc thiểu số trong nước
được tự trị -dù là sự tự trị
một phần- là phản dân chủ. Do đó nếu ư
thức rằng những sự từ chối này sẽ
đe dọa nền ḥa b́nh trong nước cũng như
giữa những quốc gia với nhau th́ người ta
không thể xem chúng như là công việc nội bộ
của quốc gia liên hệ nữa. Ngày nay những
quyền dân chủ cơ bản - một bộ phận
của nhân quyền- được xem như là tài sản
và khát vọng chính đáng của nhân loại nói chung.
Việc cộng đồng nhân loại bất b́nh mỗi
khi biết có một người bị tước các
quyền cơ bản này cũng như có biện pháp chế
tài đối với quốc gia liên hệ là chính đáng.
Nói cách khác việc đ̣i hỏi tôn trọng những
đặc thù dân tộc và sắc tộc chỉ chính đáng
khi dung để kết hợp mọi người vào
cộng đồng nhân loại chứ không phải
để chia rẽ nó.
13. Có thể cai trị một quốc gia
một cách dân chủ không?
J.S. Mill,
một triết gia phái tự do ở đầu thế
kỷ 19, cho rằng chế độ dân chủ đ̣i
hỏi một tŕnh độ văn minh khá cao. Mill cho
rằng các quốc gia phương đông không có khả
năng tự trị và cần phải được cai
quản bởi một chế độ vừa chuyên
chế vừa sáng suốt, tốt nhất là
được hướng dẫn bởi Tây phương.
Quan niệm mang màu sắc của chủ nghĩa chủng
tộc này cũng được các tư tưởng gia
khác của thời đại ngày nay chia xẻ, kể
cả những người sáng suốt nhất. Nếu cho
rằng người dân có học tạo thành yếu tố
thuận lợi cho dân chủ, theo nghĩa làm giảm
bớt khoảng cách giữa người cầm quyền
và kẻ bị trị, th́ không có ǵ chứng minh rằng
người dân không được học (theo nghĩa
đen) sẽ không có khả năng hiểu được
những vấn đề liên quan đến họ, không có
khả năng tranh luận về những vấn
đề này cũng như không có khả năng
điều hành công việc riêng của họ. Ngoài ra
lịch sử các chế độ chuyên chế, dù
đế quốc hay nội địa, đều đă
không ghi lại một chứng tích nhân ái nào cả.
Ngược
lại lịch sử cũng c̣n cho thấy rằng dân
chủ không thể giành được nếu không huy
động được và có sự đấu tranh
của phần đông dân chúng, cho dù phải chấp
nhận hy sinh gian khổ trong một thời gian dài.
Điều này c̣n có nghĩa là số đông dân chúng phải
hiểu được rằng chỉ có việc thiết
lập một chính quyền dân chủ mới có thể
đáp ứng được những khát vọng căn
bản của họ và họ phải tự tổ
chức lại để đấu tranh. Nói cách khác, dân
chủ không rơi từ trời xuống như một
phép lạ. Không ai, dù là một nhà lănh đạo b́nh
thường, hoặc là các người độc tài quân
phiệt hay cộng sản, hay các vị tổng thống
trọn đời hoặc các kẻ xâm lăng, lại
tự nguyện rời bỏ quyền lực! Họ
chỉ chịu rời bỏ quyền lực một khi
chế độ của họ đă bị mất uy tín
trầm trọng và khi một sự huy động quần
chúng làm cho họ hiểu rằng việc bám giữ
quyền lực của họ chỉ gây thêm hỗn loạn
và sự tê tiệt của chính quyền.
Sự
yểm trợ của các quốc gia dân chủ ngoại
quốc dĩ nhiên sẽ khiến cho các lực
lượng dân chủ dễ chiến thắng hơn và
sẽ đóng góp vào việc thiết lập một thể
chế dân chủ. Song le, trong suốt thời kỳ
chiến tranh lạnh vừa qua, các quốc gia dân chủ
tây phương đă chỉ chú trọng đến
việc giới hạn sự bành trướng của
chủ nghĩa cộng sản hơn là việc hỗ
trợ công cuộc đấu tranh cho dân chủ trong các
quốc gia cộng sản, và v́ lẽ đó, họ cũng
đă góp phần duy tŕ một số chế độ
cực kỳ phản dân chủ. Sau khi chiến tranh
lạnh chấm dứt, cộng đồng quốc tế
đă tiến bộ hơn và đă đứng hẳn
về phía các phong trào và các chính quyền dân chủ. Sự
hỗ trợ này chắc chắn sẽ rất quan
trọng nhưng không thể nào thay thế được
việc các dân tộc phải tự đứng lên đấu
tranh chống lại các chế độ đă áp bức
họ. Thực ra ta cũng thấy điều ǵ mâu
thuẫn khi một chính quyền độc lập lại
được dựng lên bởi các thế lực ở
bên ngoài; thêm nữa một chế độ như vậy
chắc chắn sẽ không tồn tại được
bao lâu.
14. Làm thế nào để giữ sau khi
đă thiết lập được dân chủ?
Không có bí
quyết hoàn hảo nào có thể đưa ra để
trả lời câu hỏi này. Nền dân chủ phương
tây chỉ được ổn định sau một
thời gian dài gặp thoái bộ định kỳ gây nên
bởi sự chống đối của giới quư
tộc, của chế độ độc tài quân phiệt
hoặc phát xít. Trong những chế độ dân chủ
trẻ mới được thành lập, để
thực hiện dân chủ, người ta chỉ mong
rằng t́nh h́nh đừng quá tồi tệ. Một
chế độ chính trị tự do sẽ không thể
hoạt động được tại những
nước mà hố phân cách xă hội quá lớn; tại
một số nước, nền kinh tế không có khả
năng đáp ứng được các nguyện vọng
chân chính của người dân; tại một vài
nước khác, giới quân đội khó chấp nhận
rút lui khỏi chính trường, một khi đă nắm
được các quyền hành quá lớn.
Song ta
đừng nghĩ rằng dân chúng tại những
nước có hoàn cảnh khó khăn như vậy sẽ
chấp nhận bó tay. Các cơ chế dân chủ vẫn có
thể được xây dựng bằng nhiều biện
pháp để bảo vệ người dân trước vô
số những o ép. Một trong những biện pháp
hữu hiệu nhất là đào tạo và nâng cao phẩm
chất cho những chuyên viên đảm nhận những
trách vụ quan trọng nhất trong guồng máy chính
phủ thí dụ như các quan ṭa và các chuyên viên về
hiến pháp, các nhân viên trong quốc hội, những
người đặc tổ chức tuyển cử. Nói
chung đó là những công chức. Tương tự,
cần phát triển các chính đảng và cần bảo
đảm việc đào tạo cán bộ trong các chính
đảng. Ngoài ra cũng cần mở rộng tác
dụng của những cơ chế (cơ chế
được hiểu như những thành tố) của
một xă hội dân sự như truyền thông, công ty,
nghiệp đoàn, tổ chức phi chính phủ, để
chúng có thể hoạt động độc lập và
ở ngoài sự giám hộ của chính phủ. Một
yếu tố quan trọng khác là phẩm chất của
những người lănh đạo chính trị. Khả
năng, sự liêm khiết cũng như sự dấn thân
nhằm xây dựng những cơ chế dân chủ và
cơ chế hiến định của họ c̣n quan
trọng hơn cả quyết tâm nhằm giải quyết
tức thời các vấn đề và bảo vệ
quyền lực của họ.
Cuộc tranh
đấu giữ ǵn dân chủ được diễn ra
trên hai trận tuyến. Trận tuyến thứ nhất
nhằm chống lại các thế lực thù địch
chống dân chủ. Những thế lực này không chịu
chấp nhận những cơ chế tự do và không
chấp nhận ảnh hưởng của các đoàn
thể quần chúng lên việc điều hành xă hội.
Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ
thuộc vào sự sinh động của các cơ chế
và những lực lượng xă hội có nguyện
vọng bảo vệ dân chủ và sẵn sàng huy
động lực lượng để bảo vệ nó.
Trận tuyến thứ hai nhằm bảo vệ các nguyên
tắc về chia xẻ quyền lực chính trị trong
một chế độ dân chủ. Những nguyên tắc này
thể hiện trong việc cạnh tranh quyền lực
hay trong việc (cám dỗ!) xem chính trị là một tṛ
chơi mà kẻ thắng sẽ lấy hết phần
thưởng. Kết quả của cuộc tranh
đấu này phụ thuộc vào sự biết tự
giới hạn của các người lănh đạo khi thi
hành quyền lực, vào mong muốn giữ đối
thoại với các đối thủ chính trị và vào
việc tôn trọng các quyền chính trị của mỗi
người dân.
15. Những thành tố chính yếu của
một chế độ thực sự dân chủ
Một
chế độ thực sự dân chủ luôn có 4 thành
tố chính c̣n gọi là 4 trụ cột: những cuộc
bầu cử tự do và b́nh đẳng; một chính
quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm
trước cơ quan lập pháp; sự tôn trọng dân
quyền và quyền chính trị; và sự hiện hữu
của một xă hội dân chủ hay nói cách khác là một
xă hội dân sự. Những thành tố này hợp thành
một "tháp dân chủ", trong đó các thành phần
kết hợp chặt chẽ với nhau thành một
tổng thể .
(i) Những
cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng
Những
cuộc bầu cử dựa trên nguyên tắc tranh đua là
căn bản để cho những người nhận
trách vụ công quyền phải chịu trách nhiệm
trước dân chúng và chịu đặt ḿnh dưới
sự kiểm soát của dân chúng. Những cuộc bầu
cử này cũng là dịp để đánh giá nguyên
tắc b́nh đẳng chính trị giữa những công dân,
cả về phương diện ứng cử lẫn
tranh cử. Khái niệm về "những cuộc bầu
cử tự do và b́nh đẳng", được dùng
ở đây như một tiêu chuẩn, trước tiên có
ư nghĩa bao trùm lên cả hệ thống bầu cử,
nghĩa là lên cả những đạo luật quy
định về trách vụ dân cử, phẩm chất
của những người muốn ứng cử,
lịch tŕnh bầu cử, phẩm chất của cử
tri, khu vực bầu cử, thủ tục kiểm
phiếu, v.v... Thứ nữa, ư nghĩa của khái niệm
này cũng bao trùm lên diễn tiến bầu cử, nghĩa
là những thủ tục cụ thể của cuộc
đầu phiếu: từ việc ghi danh cử tri, tổ
chức vận động cho đến việc khui thùng
phiếu, để bảo đảm cho việc áp
dụng luật lệ một cách chặt chẽ và không
thiên vị và để tránh mọi thủ đoạn gian
lận dẫn đến việc nghi ngờ kết
quả bầu cử.
(ii) Một
chính quyền hoạt động minh bạch và có trách
nhiệm
Trong thể
chế dân chủ trách nhiệm của chính quyền
trước dân chúng gồm hai mặt. Về mặt pháp lư,
trách nhiệm của chính quyền trước các ṭa án tùy
thuộc việc thi hành luật của các cá nhân đảm
nhận trách vụ công quyền (chiếu theo nguyên tắc
"thượng tôn pháp luật"). Trách nhiệm này tùy
thuộc rất nhiều vào sự độc lập
của các ṭa án đối với chính quyền. Có
được độc lập, các ṭa án mới có
thể buộc mọi người phải tuân theo hiến
pháp, xác định được hành vi phạm tội
của những người phạm pháp và trừng
phạt họ. Về mặt chính trị, trách nhiệm
của chính quyền được thể hiện qua
việc chính quyền phải biện minh về chính sách và
hành động của ḿnh trước quốc hội và
dân chúng. Trách nhiệm này tùy thuộc vào quyền lực
của quốc hội trong việc ban hành luật, quy
định chính sách thuế khóa và kiểm soát hoạt
động của chính quyền. Nếuđă có ư thức
trách nhiệm về hànhđộng của ḿnh th́ một
chính quyền dân chủ phải biết lắng nghe ư
kiến dân chúng qua những phương cách thăm ḍ gián
tiếp theo luật pháp quyđịnh hoặc bằng
bất cứ phương cách nào khác.
(iii) Dân quyền và quyền chính trị
Dân quyền
và quyền chính trị bao gồm các quyền tự do ngôn
luận, tự do hội họp, tự do đi lại,
nhằm bảo đảm cho công dân được tham gia
vào đời sống chính trị dù ở dạng các
hội đoàn trong một xă hội dân sự hoặc
ở dạng những nhóm áp lực t́m cách ảnh
hưởng lên chính quyền. Mặc dù chỉ là những
quyền tự do của cá nhân thuộc trong nhóm nhân
quyền (chỉ vậy cũng đủ xứng đáng
để được bảo vệ rồi) nhưng
tầm mức quan trọng của chúng lại bộc
lộ trong sinh hoạt của tập thể: dưới
dạng huy động nhân sự cho một mục tiêu có
ích lợi chung hay dưới dạng những chiến
dịch nhằm gây ư thức hoặc gây áp lực lên chính
quyền. Thay v́ cho rằng những quyền cá nhân làm
cản trở các hoạt động v́ lợi ích chung,
cản trở diễn tŕnh quyết định của
tập thể người ta nên xem rằng những
quyền này đă tạo nên nền tảng chính của
thể chế dân chủ.
(iv) Xă
hội dân chủ hay xă hội dân sự
Thể
chế muốn dân chủ th́ nhất thiết phải xây
dựng trên một xă hội "dân sự", nghĩa là
một xă hội với những hội đoàn làm
đủ mọi việc công ích và độc lập
với cơ quan công quyền. Ngoài những tổ chức
đó ra, dân chúng sẽ không có một phương tiện
nào khác để giới hạn quyền hành của Nhà
nước, để dư luận được có
khả năng bày tỏ ư kiến, để tránh cho dư
luận bị phụ thuộc vào những người lănh
đạo và để cho xă hội có đủ sức
mạnh chống lại các sự độc đoán tùy
tiện. Nhưng những hội đoàn này không thể
chỉ "độc lập" là đủ. Các hội
đoàn này cần phải được điều hành và
hoạt động một cách dân chủ trong ư thức rằng
dân chủ không thể bén rễ sâu trên b́nh diện quốc
gia, nếu cách thức điều hành chuyên chế vẫn
tràn lan ngoài xă hội. Nếu trong môi trường gia
đ́nh, học đường, tôn giáo, những cá nhân
bị khép vào một khuôn khổ chuyên quyền độc
đoán, và nếu tại nơi làm việc, trong khu phố
và trong những hội đoàn mà họ tham gia, họ không
thể tập hợp lại được một cách
độc lập hoặc họ không được phép
tham gia vào việc điều hành một dự án chung, th́
chắc chắn những cá nhân này không thể là những
công dân năng nổ hoặc họ sẽ không cảm
thấy có trách nhiệm trước hiện trạng xă
hội.
II. Những cuộc bầu cử tự do và
công bằng
16. Tại sao những cuộc bầu
cử lại quan trọng?
Trên phạm
vi quốc gia những cuộc bầu cử có 2 nhiệm
vụ. Một mặt phương cách bầu cử cho phép
chọn lựa người cầm đầu chính
quyền hoặc bộ máy hành chính và từ đó chọn
lựa chính sách mà chính quyền đó dự định
thực hiện. Mặt khác những cuộc bầu cử
c̣n cho phép chỉ định những dân biểu trong
viện dân cử hoặc quốc hội, là những
người -nhân danh dân chúng- có nhiệm vụ biểu
quyết về luật lệ, quyết định về
thuế khóa và kiểm soát các hoạt động của
chính phủ. Trong tổng thống chế với một
tổng thống đứng đầu chính quyền th́ hai
nhiệm vụ vừa nêu được tách bạch,
những cuộc bầu cử tổng thống và quốc
hội được tiến hành riêng rẽ, mặc dù
thời gian có thể trùng nhau. Trong một chế
độ dựa vào thủ tướng hay trong quốc
hội chế, người ta chỉ cần tổ
chức một cuộc bầu cử để hoàn tất
cả hai nhiệm vụ trên v́ các cử tri đă giao
quyền điều hành chính phủ cho chính đảng
chiếm đa số ghế trong quốc hội.
Việc
bầu cử định kỳ để chọn
người vào các nhiệm vụ chính thức theo một
diễn tŕnh minh bạch và mang tính tranh đua là một trong
những phương tiện kiểm soát hữu hiệu
của dân chúng trong một chế độ dân chủ
đại nghị. Bầu cử là sự minh xác rằng
quyền lực chính trị thuộc về người dân
và quyền lực này được thi hành dưới
sự ủy nhiệm của dân và xác định rằng
những chính khách phải chịu trách nhiệm về
hoạt động của họ trước dân chúng.
Về điểm cuối vừa nêu, việc tước
bỏ chức vụ là cách tốt nhất để
bảo đảm rằng những người
được bầu sẽ phải hoàn thành nhiệm
vụ được giao phó. Chính tính chất này cho phép
bảo đảm khả năng của các chức trách chính
trị và tùy t́nh thế thực hiện sự đổi
mới nhân sự cũng như các chính sách trên b́nh diện
chính quyền.
17. Nguyên thủ quốc gia có cần
được chọn qua một cuộc tổng tuyển
cử không?
Nguyên thủ
quốc gia được chú ư bởi vai tṛ vô cùng trang
trọng và nhiều tính biểu tượng của họ.
Vai tṛ này biểu tượng cho sự thống nhất
của quốc gia vượt lên trên mọi tranh chấp
đảng phái, cho sự liên tục nằm ngoài sự thay
đổi của các chính quyền vắn số và cho
sự hiện diện thường trực của
hiến pháp so với bản chất hữu hạn của
các nhiệm kỳ. Vai tṛ biểu tượng này sẽ vô
cùng quan trọng khi quốc gia gặp khủng hoảng
hoặc có những tranh chấp liên quan đến hiến
pháp. Trong những trường hợp khó khăn ấy,
vị nguyên thủ quốc gia sẽ phải sử
dụng đến uy quyền đặc biệt của
ḿnh.
Trong tổng
thống chế vị tổng thống đắc cử
kiêm nhiệm cả vai tṛ danh dự của một nguyên
thủ quốc gia lẫn vai tṛ của một người
cầm đầu chính phủ. Đó là trường hợp
của Nga, Hoa Kỳ và đa số các quốc gia tại
Nam Mỹ. Trong quốc hội chế, thông thường
vị nguyên thủ quốc gia được bầu qua
một cuộc tổng tuyển cử hoặc bởi
quốc hội và không có quyền lực hành pháp. Đó là
trường hợp của Đức, Ái Nhĩ Lan và Ấn
Độ. Trong chế độ quân chủ lập hiến
như tại Bỉ, Tây Ban Nha và Anh Quốc, vị nguyên
thủ quốc gia được chỉ định
bằng tính kế thừa và thi hành chức vụ này
trọn đời.
Khó mà nói
thể chế nào cho phép chỉ định nguyên thủ
quốc gia một cách tốt nhất. Thật ra mỗi
thể chế phải được hiểu trong cái
tổng thể của nó. Tổng thống chế có
nhược điểm là lôi kéo vị nguyên thủ
quốc gia vào những tranh luận về cách điều
hành quốc gia hoặc bắt vị này gánh chịu một
phần trách nhiệm trong những chính sách mất ḷng dân.
18. C̣n những người ở chức
vụ nào khác cần được chọn qua một
cuộc tổng tuyển cử?
V́
người đứng đầu hành pháp phải chịu
trách nhiệm trước quốc hội về hành
động và về khả năng của các nhân viên chính
phủ, và do người đứng đầu hành pháp
được dân bầu lên, cho nên việc để cho
người đứng đầu hành pháp tự chọn
nhân viên của ḿnh sẽ hợp lư hơn việc tuyển
chọn qua một cuộc bầu cử, với
điều kiện việc tuyển mộ phải lưu
tâm đến mọi người có khả năng thích
ứng. Song, trong việc tổ chức các cơ quan công
quyền, thể chế dân chủ đ̣i hỏi phải có
sự hiểu biết những nhu cầu thực tế và
về bối cảnh phát triển của địa
phương. Điều này nói lên sự cần thiết
phải bầu ra những cơ cấu để giám sát
việc điều hành một số các lănh vực như
sức khỏe, giáo dục, cảnh sát, v.v... trên b́nh
diện địa phương và để chịu trách
nhiệm điều hành tất cả công việc
địa phương. Việc tản quyền này thể
hiện rơ trong cơ chế liên bang, khi trên b́nh diện
tiểu bang, các tỉnh và các địa phương
người ta t́m lại được những cấu
trúc lập pháp và hành pháp tương ứng với cấu
trúc của liên bang.
Đứng
trước câu hỏi liệu có cần phải bầu ra
các quan ṭa hay không, người ta dễ có khuynh hướng
trả lời rằng nếu các vị đại biểu
lập pháp và vị đứng đầu hành pháp đă
được dân bầu, th́ dĩ nhiên cũng phải
để dân bầu những quan ṭa. Song le, v́ các quan ṭa
phải thi hành các nhiệm vụ pháp lư (chứ không
phải là chính trị) -những nhiệm vụ chủ
yếu dựa trên các nguyên tắc như sự gắn bó
chặt chẽ (với luật pháp) và sự vô tư (không
phụ thuộc vào sự đánh giá của quần chúng)-
nên tốt hơn hết là không nên để cho những
trách vụ này phải chịu sự phán quyết của
dân chúng hoặc để chúng dễ bị phụ
thuộc vào một phe nhóm nào đó của xă hội. Trong
quyền hạn của ḿnh, chính quốc hội phải làm
sao để những đạo luật (mà các quan ṭa áp
dụng) và mức án (mà quan ṭa tuyên bố) phản ánh
được dư luận quần chúng chứ không
phải phản ánh tâm trạng của những
người xử án. Tóm lại cách chọn quan ṭa là
một vấn đề quan trọng của dân chủ,
đặc biệt khi việc tuyển chọn này làm
thiệt hại đến các nhóm có số lượng
đông đảo trong xă hội như phụ nữ, dân tộc
thiểu số hay các nhóm thiểu số khác.
19. Có cần bầu một nghị
viện thứ hai không?
Muốn
biện bạch cho việc cần bầu một nghị
viện thứ hai (bầu theo những tiêu chuẩn hoàn toàn
khác với quốc hội) người ta có thể
viện dẫn lư do cần giám sát quốc hội càng
kỹ càng tốt và ủng hộ nó càng nhiều càng hay. Lư
luận này đặc biệt đúng trong một chế
độ liên bang với một thượng viện
đại diện cho quyền lợi của các tiểu
bang thành viên chứ không đại diện cho quyền
lợi của quốc gia trong tổng thể của nó.
Trên b́nh diện lập pháp, thượng viện đóng vai
đối trọng, rất cần thiết trong một
quốc gia mà quyền cá nhân không được bảo
vệ bởi Hiến pháp.
Nói chung, hai
nghị viện sẽ được bầu theo hai
phương thức khác nhau. Thượng viện
được bầu theo thể thức gián tiếp hay
bầu dựa trên một sự phân chia khu vực bầu
cử khác hẳn hay theo một lịch tŕnh bầu cử
khác để có thể thay đổi một phần các
nghị sĩ trong thượng viện trong mỗi kỳ
bầu cử. Trong các quốc gia theo quốc hội
chế việc để cho cả nước trực
tiếp bầu lại tất cả dân biểu trong hạ
viện đă tạo nên bảo đảm cho tính chính
đáng của quốc gia về phương diện
điều hành quốc gia và giao cho hạ viện một
vai tṛ ưu tiên trong việc soạn thảo luật pháp.
Tốt hơn hết cần giao cho thượng viện
quyền đ́nh chỉ hoặc quyền phủ quyết.
Trong chế độ dân chủ không có ǵ có thể biện
minh được cho sự thành lập một
thượng viện mà không thông qua bầu cử.
20. Chu kỳ của các cuộc bầu
cử
Ở
thế kỷ 19 những nhà dân chủ cố chấp đă
đ̣i hỏi phải cho bầu cử quốc hội
mỗi năm một lần để có thể kiểm
soát những dân biểu một cách hữu hiệu. Song,
với nhiệm vụ ngày nay, trong ṿng một năm, chính
quyền và quốc hội không thể điều hành
hữu hiệu về kinh tế cũng như không thể
đánh giá tác dụng của các chính sách được
họ vạch ra. Thông thường người ta cho
rằng một nhiệm kỳ 4 năm là một thỏa
thuận hợp lư giữa một bên là sự liên tục
cần thiết của các chính quyền và một bên là
những nguyên tắc buộc chính quyền phải tôn trọng
nguyện vọng của người dân và chịu trách
nhiệm trước người dân.
Nhiệm
kỳ của các vị dân cử dù dài dù ngắn thế nào
chăng nữa, vấn đề quan trọng là quyết
định kêu gọi toàn quốc đi bầu không
được xuất phát từ chính phủ. Đ̣i hỏi
các cuộc bầu cử phải "tự do và b́nh
đẳng" cũng có nghĩa là (một hoặc
những) chính đảng đang cầm quyền không
được kiểm soát diễn tŕnh bầu cử và
không được dùng nó để chiếm lợi
thế. Điều này cũng được áp dụng cho
lịch bầu cử cũng như các thức tiến hành
bầu cử.
21. Có cần phải giới hạn
quyền bầu cử không?
Trong đa
số các quốc gia dân chủ việc giới hạn
quyền bầu cử thường chỉ được
áp dụng đối với trẻ em, với những
người bị kết án h́nh sự, những bệnh
nhân tâm thần và người ngoại quốc. Đây là
một tập hợp không đồng nhất của
những nhóm người không được quyền
bầu cử v́ lư do riêng biệt cho từng trường
hợp.
Đối
với các trẻ em chưa đủ một tuổi nào
đó, việc loại trừ mang ư nghĩa tốt và
dựa trên lư do tâm lư liên quan đến sự phát triển
của các em. Trước một tuổi nào đó, v́ đa
số các em chưa có đủ kinh nghiệm và chưa ư
thức được đầy đủ về hậu
quả lâu dài của những chọn lựa của ḿnh,
nên chưa thể miễn cho các em việc cần
được bảo hộ tốt. Tại nhiều
nước, khi đạt đến một tuổi nào
đó, các em sẽ nhận được một số
quyền của người trưởng thành: quyền hôn
nhân, quyền sở hữu, quyền có tư cách pháp nhân
trong kiện tụng và quyền bầu cử. Việc công
nhận các quyền này thường đến với
tuổi 18, tương ứng với việc học xong
trung học và việc thi hành nghĩa vụ quân dịch.
Dù sao
việc định độ tuổi trưởng thành
cũng chỉ là một chọn lựa hoàn toàn tùy tiện.
Ngày nay ai cũng biết rằng các trẻ em thường
chín muồi trước tuổi. Hiện nay các em đă có
một số quyền, thí dụ như quyền đi làm
được trả lương, ngay cả khi chưa
đạt đến 18 tuổi. Điều đáng buồn là
hiện vẫn c̣n những em cần phải
được bảo vệ trước những
người có trách nhiệm đối với các em, và do
đó người ta phải mở rộng cho các em
quyền có tiếng nói trong những việc liên quan
đến cá nhân các em, nhiều hơn là các em hiện nay
đang có. Dù sao tiến tŕnh trưởng thành cũng là
một tiến tŕnh liên tục, cho nên ngay từ tuổi
nhỏ, người ta cần phải sửa soạn cho
các trẻ em ư thức được trách nhiệm công dân
của ḿnh trong một xă hội dân chủ bằng cách cho
các em tham gia vào những quyết định
được lấy một cách tập thể trong môi
trường học đường hoặc gia đ́nh. Dù
sao những suy nghĩ này cũng chưa đủ
thuyết phục để hạ thấp một cách
đáng kể mức tuổi được đi bầu
-như mức 18 tuổi hiện nay- hoặc xóa bỏ
đi việc ấn định độ tuổi
tượng trưng cho sự công nhận của xă hội
về sự trưởng thành cũng như về những
quyền dành cho những thanh niên đạt đến
độ tuổi đó.
Đối
với những người bị kết án tù,
người ta có thể biện minh cho việc tước
quyền bầu cử của họ rằng khi đă vi
phạm nghiêm trọng pháp luật th́ họ sẽ bị
mất mọi quyền tham gia vào việc soạn thảo
luật, dù bằng cách nào chăng nữa. Nhưng
ngược lại việc mất tự do cũng không
thể kéo theo việc mất tất cả các quyền công
dân khác và đặc biệt hơn nữa, phải cho tù
nhân được liên lạc với những vị dân
cử để bảo đảm cho họ quyền
được bảo vệ trước những cách
đối xử phi pháp và dă man và để giám sát
điều kiện giam giữ họ. Tương tự
như vậy người ta cần có quan niệm rộng
răi đối với những người bệnh tâm
thần bởi không thể xếp họ vào một
loại đồng nhất -loại người không c̣n có
ư thức ǵ được về quyền lợi bản
thân.
Cuối cùng
chúng ta cần bàn về việc tước quyền
bầu cử của những người ngoại
quốc đang thường trú trong một nước.
Trong trường hợp đặc biệt này quyền
bầu cử nằm trong một vấn đề rộng
lớn hơn là vấn đề nhập tịch. Nếu
chúng ta thừa nhận rằng việc khai sinh dân chủ
hồi thế kỷ XVIII phát xuất từ việc
đặt lại vấn đề các nguyên tắc quân
chủ (việc thụ hưởng các quyền chính
trị phụ thuộc duy nhất vào yếu tố ḍng
tộc hoặc sự thừa kế), th́ nếu nhất
quán chúng ta không được xem quốc tịch là tiêu
chuẩn duy nhất để tước quyền bầu cử
của những người ngoại quốc đă
sống nhiều năm tại một nước nào
đó. Người ta có thể tranh căi nhiều về
thời gian cư trú mà một người ngoại
quốc cần có để được xem là
"ổn cư", nhưng người ta phải
thẩm định một cách hợp lư rằng thời
gian cư trú dể cho ngoại kiều được phép
nhập tịch một nước nào đó không thể quá
năm (5) năm.
22. Làm sao thiết lập danh sách cử tri?
Mặc dù
người ta có thể nghĩ rằng việc ghi danh,
lập danh sách cử tri là một công tác hoàn toàn kỹ
thuật, nhưng trên thực tế thủ tục ghi danh
ảnh hưởng quan trọng đến việc
thực thi quyền đầu phiếu. Lập danh sách
cử tri trước khi có bầu cử là việc làm
cần thiết: danh sách cử tri rất cần để
nhận diện từng người đi bầu,
để tránh việc có thể bỏ phiếu hai lần
hay để ngăn ngừa việc mạo danh một
cử tri khác hoặc có thể bỏ phiếu mặc dù
không có quyền cử tri.
Tuy nhiên
nhiều khi những thủ tục ghi danh đă cản
trở người công dân thực hiện việc ghi danh
hoặc thực hiện quyền cử tri của họ.
Trường hợp này sẽ xảy ra khi việc ghi danh
để cho tự nguyện và bị ảnh hưởng
bởi đảng viên cuồng nhiệt của các chính
đảng muốn dành lợi thế hoặc khi thời
hạn khóa sổ ghi danh cách quá xa ngày bầu cử, cho dù
vào thời điểm bầu cử danh sách cử tri
cần phải được đóng lại. Người
dân cũng rất sợ rằng danh sách cử tri sẽ
được sử dụng vào các mục đích hành chính
khác, chẳng hạn như để kiểm tra t́nh
trạng thuế khóa, nghề nghiệp, gia đ́nh của
họ là những dữ kiện mà người dân thường
phải cung cấp theo những thủ tục riêng biệt
khác.
Một
thể thức đáp ứng đúng theo các nguyên tắc dân
chủ đ̣i hỏi việc ghi danh cử tri phải có
tính bắt buộc, phải được thi hành bởi
một nhân viên chính thức được trả công và
được đào tạo để làm việc này,
việc cập nhật hóa danh sách cử tri cần thực
hiện càng cận ngày bầu cử càng tốt, và
những việc này phải được thực hiện
một cách riêng biệt -về cả phương diện
tài chính lẫn cách thức tiến hành-đối với
các bộ hồ sơ hành chính khác.
23. Có cần cưỡng chế bầu
cử không?
Tại
những quốc gia có cưỡng chế bầu cử
(thí dụ Úc) người ta cho việc bắt buộc tham
gia chọn lựa chính quyền và dân biểu là một
lợi quyền giống như một loại nghĩa
vụ dân sự. V́ lợi quyền này là kết quả
của sự tranh đấu của nhiều thế
hệ nên ai muốn bỏ phiếu trắng th́ cứ ghi rơ
sự từ chối của ḿnh trong danh sách cử tri thay
v́ lánh xa các cuộc bầu cử giống như những
cử tri thờ ơ, vắng mặt hoặc tử vong.
Thực ra chúng ta thấy có một cái ǵ mâu thuẫn khi nêu
đ̣i hỏi cưỡng chế trong một cuộc
bầu cử "tự do" hoặc khi bắt
người dân phải thi hành "lợi quyền"
của chính họ. Nói cho cùng phiếu trắng -một cách
biểu lộ quan trọng của dân chúng- là một
dấu hiệu cảnh cáo về sự ách tắc của
diễn tŕnh dân chủ.
Nhiều
nước dân chủ hiện chấp nhận h́nh thức
từ chối tham gia bầu cử. Nhưng nếu đă
xem việc bầu cử là tự nguyện, th́ liệu nó
có mâu thuẫn ǵ với việc nhiều quốc gia bắt
phải thi hành ghi danh cử tri không? Câu trả lời là
không, nếu cho phép người dân khi ghi tên vào danh sách
cử tri vẫn c̣n có quyền chọn lựa có tham gia
đầu phiếu hay không, v́ trên thực tế mỗi
quốc gia cũng cần phải có các danh sách cử tri
chính xác và đầy đủ để dùng cho các mục
đích hoàn toàn hợp pháp về bầu cử, chẳng
hạn như để điều chỉnh con số
cử tri giữa các kỳ bầu cử.
24. Tại sao phải bỏ phiếu kín?
John Stuart
Mill, một triết gia người Anh theo khuynh
hướng tự do, cho rằng cần phải bỏ
phiếu công khai để các cử tri có thể biện
bạch chọn lựa của họ trước những
người khác và để bắt họ phải
đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá
nhân.
Quan
điểm này tuy rất "quư phái" nhưng không
được các lư thuyết gia sau ông ủng hộ. Trong
khi thi hành, nếu để bầu cử công khai như
vậy, các cử tri sẽ ở vào t́nh trạng khó
chống đở lại các áp lực của các
người nắm giữ chức quyền như chủ
nhân, sở hữu chủ, giáo sĩ, thượng cấp
hoặc dễ bị các ứng cử viên t́m cách mua
chuộc lá phiếu của họ. Việc bỏ phiếu
kín ngày nay đă là một trong những đặc tính quan
trọng được gắn liền với các chế
độ dân chủ.
25. Điều kiện ứng cử
Trên nguyên
tắc mọi cử tri đều có quyền ứng
cử. Việc một số quốc gia ấn định
một độ tuổi nhất định nào đó -trên
mức tuổi có quyền đi bầu- để
được ra ứng cử là một ấn định
thừa thăi v́ ứng cử viên nào chưa có đủ kinh
nghiệm trong việc điều hành quốc gia th́ cũng
sẽ khó mà thắng cử được.
Trong khi
đó việc quy định tiến tŕnh đề cử
và ghi danh ứng cử lại là một vấn đề
khác. Ở đa số các quốc gia, khi đ̣i hỏi
rằng ứng cử viên phải được sự
ủng hộ của những đại diện cử tri
đoàn và / hoặc phải đóng một số tiền
"thế chân" nào đó (mà họ sẽ mất
nếu không đạt được một số
lượng phiếu tối thiểu nhất định),
thủ tục bầu cử thực ra chỉ nhằm
ngăn chặn các ứng cử viên ngông nghênh. Tuy nhiên
cả hai biện pháp nhằm loại bỏ các ứng
cử viên "thích mơ mộng" này có một yếu
điểm là có thể loại cả một số
ứng cử viên đứng đắn, nhất là khi
họ thuộc các nhóm chính trị mới thành lập.
Một số nước khác, chỉ những ứng
cử viên đại diện các chính đảng
được công nhận mới có quyền ứng
cử. Tại đó, cho dù mục đích là làm nản ḷng
các ứng cử viên ngông nghênh nhưng phương cách này
lại đưa đến hệ quả kiểm soát các
chính đảng và các ứng cử viên và do đó giới
hạn cả quyền chọn lựa chính đáng của
dân chúng.
Tại Hoa
Kỳ, mỗi chính đảng chỉ định ứng
viên của ḿnh qua một ṿng bầu phiếu sơ bộ,
trong đó chỉ có những đảng viên có tên trên danh
sách cử tri của đảng mới được
bỏ phiếu. Nếu phương thức này đă có
thể tập trung các cử tri vào việc đề
cử và bầu cử th́ nó lại tăng giá trị
một cách thái quá các cuộc bầu cử (nội bộ
đảng) và ưu đăi các ứng cử viên có nhiều
tiền của riêng hoặc được các thế
lực tài chính lớn ủng hộ. Để tránh t́nh
trạng này người ta có thể chỉ định
ứng viên qua một cuộc bầu cử dành cho mọi
cảm t́nh viên của đảng tại quận hoặc
khu vực đầu phiếu liên hệ. Dù rất khiêm
tốn biện pháp dân chủ hóa việc chọn lựa các
ứng viên này đến nay vẫn chưa được
đem ra áp dụng một cách rộng răi cho xứng
đáng với ư nghĩa của nó.
26. Tại sao ít có phụ nữ trong các
chức vụ dân cử?
Trong các
chế độ dân chủ phương Đông tỷ lệ
phụ nữ trong quốc hội rất thấp so với
tỷ lệ phụ nữ trong dân số. Ngay cả
tại các nước có truyền thống dân chủ
vững chắc tỷ lệ này vẫn dưới 15%:
tại Bắc Âu là 35%, Pháp đội sổ với 6%,
tại đa số các nước khác khoảng 10%. T́nh
trạng này bắt nguồn từ những nguyên nhân
lịch sử, truyền thống và chính trị. Từ
xưa phụ nữ bị xem (do bản chất) là không
đủ khả năng hoạt động chính trị,
dẫn đến việc t́m cách đưa họ ra xa các
loại hoạt động chính trị, để rồi
từ đó cho rằng họ không hợp với chính
trị. Được củng cố thêm bởi sự
bất b́nh đẳng trong việc phân công công việc gia
đ́nh (phụ nữ vẫn tiếp tục phải
chăm lo con cái và nhà cửa nhiều hơn đàn ông)
những di hại tư tưởng này đă cản
trở việc phụ nữ hoạt động chính
trị chuyên nghiệp để tự nuôi sống lấy
ḿnh. Hoạt động chính trị đ̣i hỏi nhiều
thời giờ; giờ giấc của nhân viên chính phủ
hoặc dân biểu quốc hội thường không thích
hợp với giờ giấc gia đ́nh b́nh thường.
Tóm lại người đàn bà khó đến với các
hoạt động chính trị một cách tự nhiên, cho
dù bản chất có thích hợp với sự cạnh tranh,
với những tranh chấp đảng phái và với
sự nổi bật cá nhân.
T́nh trạng
này có đáng lo ngại không? Nếu xét về nguyên tắc
b́nh đẳng chính trị th́ thật đáng lo ngại khi
một thành phần xă hội nào đó rơ ràng
được ưu đăi để chiếm giữ các
chức vụ công cộng hoặc dân cử. Người
ta rất có lư khi cho rằng đàn ông không thể lưu tâm
bằng phụ nữ đến các vấn đề liên
quan đến phụ nữ hoặc không ưu tiên
để chi tiêu ngân sách đúng mức cho các vấn
đề này. Cho dù rằng phụ nữ nói chung có thể
không cùng quan điểm và quyền lợi với nhau
nhưng đa số đều rất bực dọc khi
thấy một quốc hội gồm đa số là
đàn ông mà lại làm ra các đạo luật về
ngừa thai, phá thai, hiếp dâm, v.v... Tóm lại, khi
người phụ nữ, với những khả năng
và đặc thù riêng, không có chỗ đứng tương
xứng trong đời sống cộng đồng th́ chính
xă hội trong toàn thể của nó đă bị nghèo nàn
đi.
Làm thế
nào để sửa chữa t́nh trạng này? Chúng ta chỉ
có thể sửa lại một sự bất b́nh
đẳng chính trị do lịch sử để lại
bằng cách thực hiện nhiều biện pháp trong
nhiều lănh vực. Để bắt đầu chúng ta có
thể thay đổi quan điểm trong các trường
học và trong hệ thống giáo dục, gia tăng
phương tiện trông giữ trẻ, cải tổ
vấn đề tổ chức về thời gian của
các dân biểu và sắp xếp các thiết bị dành cho họ
sử dụng. Đặc biệt các chính đảng phải
có bổn phận đưa ra những sáng kiến trong
vấn đề này để khuyến khích phụ nữ
tham gia việc đào tạo họ, dành ưu tiên cho các
ứng cử viên phụ nữ bằng cách quy định
số phần trăm ghế đại biểu hoặc
dành một số chỗ nhất định cho họ.
Những nước Bắc Âu đă cho áp dụng những
biện pháp này một cách thành công.
27. Dân biểu được xem là
"đại diện" của cử tri trong chừng
mực nào?
*Về
tư cách đại diện chính trị có hai cách diễn
giải chính.
Cách thứ
nhất dựa trên nguyên tắc "ủy nhiệm" cho
rằng dân biểu là người được thân
chủ ủy quyền để "thay mặt" cho
họ và "hành động thay cho họ". Về
một vài phương diện nào đó, vị dân biểu
thụ ủy có thể thay mặt toàn thể các thân
chủ hoặc cử tri trong địa hạt bầu
cử thí dụ như để bảo vệ các quyền
lợi địa phương, nói lên quan điểm
của cử tri của địa hạt hoặc can
thiệp để giải quyết các khiếu nại cá
nhân. C̣n trong các trường hợp khác, dân biểu thụ
ủy chỉ đại diện cho những cử tri nào
đă bỏ phiếu cho họ để thực hiện
chương tŕnh được đưa ra khi tranh cử
(mà không thể đại diện cho những người
đă không bỏ phiếu cho họ). Ư kiến cho rằng,
trong mọi hoàn cảnh, dân biểu có thể phát biểu và
hành động thay cho toàn thể cử tri trong địa
hạt bầu cử của họ, là điều giả
tưởng bởi nó sẽ trái với những dấn
thân cho chương tŕnh mà các dân biểu đă đưa ra
khi tranh cử, bao gồm hành động nhất quán cho
chương tŕnh này và trách nhiệm để việc
thực hiện có hiệu quả.
Cách diễn
giải thứ hai về sự đại diện chính
trị xuất phát từ quan niệm "tiểu vũ
trụ", xem quốc hội như một toàn thể
chứ không phải là tập thể các đại diện
riêng lẻ. Trong quan niệm này một quốc hội
lập pháp mang tính "đại diện chung" bởi
nó phản ánh bản chất của cử tri một cách
toàn diện về phương diện cấu thành xă
hội, phân bố địa lư hoặc phân bố số
phiếu dành cho mỗi chính đảng. Dĩ nhiên
người ta có thể đặt vấn đề
về số lượng của từng tiêu chuẩn này.
Tuy mọi tiêu chuẩn đều quan trọng nhưng trong
một cơ chế mà cử tri phải quyết
định chọn lựa giữa những chính
đảng có những chương tŕnh họat
động chính phủ khác nhau th́ tiêu chẩn nào liên quan
đến sự cấu thành quốc hội dựa trên
số lượng phiếu dành cho các chính đảng
sẽ là tiêu chuẩn ưu tiên. Cơ chế bầu cử
dựa trên nguyên tắc đại diện tỷ lệ là
cơ chế thích ứng với tiêu chuẩn này nhất (xx
phần 28).
Chúng ta có
thể xem rằng hai cách diễn giải dựa trên khái
niệm "ủy quyền" và "tiểu vũ
trụ" phản ánh hai nguyên tắc dân chủ cơ
bản đă đề cập trước đây (xx
phần 1). Nguyên tắc về chủ quyền toàn dân
(quyền lực chính trị phát xuất từ nhân dân và các
quyền lực lập pháp và hành pháp phải đặt
dưới sự kiểm soát của nhân dân)
được thể hiện qua khái niệm cho rằng
dân biểu là người được cử tri ủy
nhiệm để thay mặt họ mà hành động,
cũng như phải chịu trách nhiệm trước
cử tri và có thể bị cử tri băi chức. Cách
diễn giải thứ hai về quyền đại
diện dựa trên khái niệm "tiểu vũ
trụ" tương ứng với nguyên tắc b́nh
đẳng chính trị, nghĩa là mỗi lá phiếu
đều có trọng lượng hoặc giá trị
như nhau, không phụ thuộc vào chỗ ở của
cử tri hoặc sự ủng hộ một chính
đảng nào đó của họ. V́ nguyên tắc này
phải chịu một sự giám sát kỹ lưỡng mà
quốc hội có thể được xem như một
tiểu vũ trụ đại diện cho toàn thể
cử tri, tôn trọng sự phân bố về mặt
địa lư của cử tri cũng như sự phân
bố về phiếu dành cho các chính đảng.
28. Sự khác biệt của các lối
bầu cử
Hiện nay các
nước trên thế giới đang cho áp dụng các
lối bầu cử rất khác nhau. Dưới dây, 5
lối chính sẽ được tŕnh bày một cách khái
quát để làm cơ sở suy xét cho phần 29.
(i) Lối
bầu đơn danh một ṿng lấy đa số (áp
dụng trong việc bầu quốc hội Hoa Kỳ,
tại đa số các quốc gia Nam Mỹ, Anh Quốc và
phần lớn các nước cựu thuộc địa)
Theo lối
bầu cử này quốc gia được chia thành
những khu vực có số cử tri tương
đương với nhau. Mỗi khu vực chỉ
được một ghế dân biểu và mỗi cử
tri chỉ được bầu cho một ứng cử
viên bằng lá phiếu của ḿnh. Ứng cử viên
được nhiều phiếu nhất sẽ thắng,
bất kể có đạt được đa số
tuyệtđối hay không.
(ii) Lối
bầu tuyển chọn hoặc ưu tiên (áp dụng
để bầu Hạ viện Úc)
Theo lối
bầu cử này các khu vực cử tri cũng
được chia như lối trên. Chỉ có khác là
cử tri sẽ sắp xếp các ứng cử viên theo
thứ tự ưu tiên. Khi tổng kết, nếu số
phiếu dành cho các ứng cử viên có ưu tiên một
không đưa đến kết quả là có một
ứng viên nào đạt được đa số
tuyệt đối th́ ứng viên ít phiếu nhất
sẽ bị loại và số phiếu dành cho người
này sẽ được đem chia cho các ứng viên
được xếp thứ nh́ trên phiếu xếp ưu
tiên. Thủ tục này sẽ được tiếp
tục cho đến khi t́m ra được một
ứng viên đạt được đa số tuyệt
đối. Người ta cũng có thể đi
đến kết quả tương tự bằng cách tổ
chức bầu ṿng hai giữa hai ứng viên đạt
nhiều phiếu nhất trong ṿng một (như tại
Pháp).
(iii) Lối
bầu duy nhất có thể chuyển nhượng (áp
dụng tại Ái Nhĩ Lan, Malta và cho bầu cử
Thượng viện Úc)
Theo lối
này, tại mỗi khu vực cử tri có thể bầu
từ ba đến bảy ghế đại diện theo
tỷ lệ tương ứng với dân số. Mỗi
cử tri sẽ có một số lá phiếu bằng số
ghế đại diện và sẽ phải chọn một
thứ tự ưu tiên. Muốn trúng cử mỗi ứng
cử viên phải đạt được một hệ
số (theo tỷ lệ cử tri) nào đó. Những
ứng viên nào không đạt được hệ số đó
qua những phiếu bầu có ưu tiên một, th́ sẽ
được tính đến số phiếu có ưu tiên
hai hoặc thấp hơn nữa dành cho họ theo một
công thức tái phân phối phiếu ưu tiên.
(iv) Lối
bầu danh sách (áp dụng tại Do Thái và đa số các
quốc gia Đông Âu)
Theo lối
này mỗi chính đảng phải lập danh sách ứng
viên (được xếp theo thứ tự ưu tiên) cho
vùng hoặc cho toàn quốc. Mỗi cử tri chỉ có
một phiếu để bầu cho chính đảng ḿnh
ưa thích. Các ứng viên trên danh sách thứ tự sẽ
trúng cử tùy theo tỷ lệ phiếu dành cho đảng
của ḿnh. Ở một vài quốc gia, các chính đảng
phải đạt được một số phiếu
tối thiểu nào đó để được vào
quốc hội.
(v) Lối
bầu hỗn hợp (áp dụng tại Đức, Hung Gia
Lợi và Tây Tây Lan)
Theo lối
bầu này một số đại diện (dưới
50%) sẽ được chọn trực tiếp qua
lối bầu phiếu đơn danh lấy đa số
đă được tŕnh bày trong điểm (i) và (ii)
ở trên. Số đại diện c̣n lại sẽ
được chọn theo lối danh sách, theo vùng hoặc
toàn quốc, sao cho trong kết quả cuối cùng nói lên
tương ứng giữa số ghế và số phiếu
dành cho đảng của họ (càng gần với
tương ứng này càng tốt). Trong lối này
người ta cũng có thể quy định rằng,
muốn hiện diện trong quốc hội, mỗi chính
đảng phải đạt được một
mức phiếu tối thiểu nào đó.
29. Ưu và khuyết điểm của các
lối bầu cử
Chỉ có
thể đánh giá đúng được những ưu
điểm của từng lối bầu cử nếu
đặt chúng trong khung cảnh của đặc
điểm và sự phân bố dân số trong quốc gia
liên hệ cũng như trong sự quan tâm về bầu
cử của những chính đảng tại quốc gia
đó. Do đó sẽ rất sai lầm khi cho áp dụng
lối bầu tỷ lệ cho một quốc gia hoàn toàn
không có những chính đảng đă bắt rễ
được vào quần chúng, trong khi mà sự phân bố
phiếu của dân chúng cho các lực lượng
tương ứng lại chính là tinh thần của
lối bầu tỷ lệ. Do đó sự đánh giá sau
đây không nhằm mục đích tŕnh bày những
đặc điểm chung của các lối bầu
phiếu khi không xét đến những hậu quả
của việc áp dụng.
Ưu
điểm của lối bầu đa số một ṿng
là sự đơn giản. Hơn hẳn các lối khác,
lối bầu này cho phép một chính đảng chiếm
được đa số trong quốc hội và cho phép
chính đảng này cầm quyền một ḿnh. Nó khuếch
đại sự ủng hộ của dân chúng đối
với chính đảng quan trọng nhất. Và lối
bầu này cũng cho phép những tiếng nói yếu
thế có thể chuyển dịch để làm thay
đổi đa số và dẫn đến sự thay
đổi chính phủ, mặc dù sự thay đổi
phụ thuộc vào số lượng các các khu vực
cử tri "lung lay lập trường".
Khuyết
điểm của lối bầu này là có thể tạo ra
những kết quả hoàn toàn không tương ứng
với số phiếu mà các chính đảng nhận
được trên b́nh diện quốc gia hoặc trong
mỗi khu vực cử tri. Lấy thí dụ có 4 chính
đảng ra tranh cử trên b́nh diện quốc gia và
đạt được số phiếu theo tỷ lệ
sau: 40%, 30%, 20% và 10% và giả dụ số phiếu
đạt được tại mỗi khu vực bầu
cử cũng sẽ tương ứng với tỷ
lệ này. Kết quả là một chính đảng sẽ
dành được toàn bộ số ghế quốc hội
trong khi 60% cử tri hoàn toàn không có một đại
diện nào. Chúng ta có thể nghĩ rằng trường
hợp này sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng rơ ràng
lối bầu này sẽ ưu đăi những chính
đảng có số ủng hộ viên ở tập trung
về địa lư và trừng phạt những chính
đảng có cử tri nằm rải đều tại
các khu vực bầu cử. Việc phân bố cử tri ở
đây rất quan trọng. Ngoài ra lối bầu này cũng
khuyến khích lối bầu chiến thuật, với
một kết quả bấp bênh, khi một cử tri
bỏ phiếu cho một ứng viên khác với
người mà họ ưa thích mà không thể biết
chắc rằng những cử tri khác sẽ bầu ra sao.
Lối
bầu cử tuyển chọn (hoặc ưu tiên) có ưu
điểm hơn lối bầu đa số một ṿng
ở chỗ bắt buộc ứng cử viên trúng cử
phải đạt được đa số tuyệt
đối của cử tri trong khu vực bầu cử,
điều không nhất thiết phải xảy ra trong
lối bầu cử đa số một ṿng. Như
thế một ứng cử viên chỉ có thể
đại diện cho một khu vực bầu cử
nếu ứng viên này tối thiểu đạt
được đa số phiếu. Lối bầu
tuyển chọn tuy hơn lối bầu đa số
một ṿng ở chỗ đ̣i hỏi ứng viên phải
nắm vững về sự phân bố lá phiếu, song nó
vẫn gây cản trở cho các đảng về thứ ba
hoặc thứ tư trong cuộc bầu cử, là
những đảng có số cử tri hỗ trợ tuy
đông nhưng lại nằm rải rác.
Lối
bầu chuyển nhượng cho phép những đảng
yếu vẫn có thể có đại diện. Song, tính
chất tỷ lệ (số ghế) trong lối bầu này
phụ thuộc vào độ lớn của khu vực
bầu cử và biến thiên thuận với độ
lớn này. Ngoài ra các cảm t́nh viên của một
đảng vẫn có thể chọn lựa giữa
những ứng viên do đảng này đưa ra.
Ngược lại độ lớn của khu vực
bầu cử cũng là một vấn đề, chẳng
hạn sự gắn bó giữa dân biểu và cử tri trong
một khu vực có quyền có một ghế sẽ
giảm đi. Sau hết cũng nên nói rằng phương
thức để phân phối số phiếu của
những ứng cử viên đạt được ít
phiếu nhất cho những ứng cử viên khác là
một bài toán rất phức tạp.
Lối
bầu theo danh sách có thể xem như một thể
thức tạo ra b́nh đẳng gần như hoàn toàn
giữa các lá phiếu cử tri và nhờ đó mà việc
phân phối các ghế dân biểu cho các chính đảng tùy
theo lượng phiếu mà họ đạt
được có thể thực hiện một cách
tốt nhất. Nhưng thể thức này có một vài
yếu điểm: một mặt những dân biểu
sẽ không c̣n phải chịu trách nhiệm trực
tiếp trước một nhóm cử tri định
sẵn nào đó, mặt khác cử tri (và cả những
ủng hộ viên) cũng không thể ảnh hưởng
ǵ lên thứ bậc trên danh sách ứng viên của các
đảng được nữa. Hậu quả là chính
bộ máy đảng -chứ không phải cử tri-
quyết định việc chọn lựa các ứng viên.
Bù lại lối bầu theo danh sách mở khả năng và
tạo thuận lợi cho việc thiết lập các danh
sách ứng cử viên "cân đối" lưu tâm
đến những khuynh hướng và các nhóm xă hội
khác nhau hoạt động trong đảng.
Lối
bầu hỗn hợp sẽ dẫn đến các kết
quả trong đó tính tỷ lệ sẽ bị phụ
thuộc vào số phần trăm dân biểu đắc
cử trong khu vực bầu cử, tương tự
như lối bầu đơn danh. Lối này, trong
trường hợp một đảng được
ủng hộ mạnh mẽ, cũng có thể dẫn
đến một chính quyền đa số, hoặc ngược
lại trong trường hợp mà số phiếu
được phân chia đồng đều hơn
giữa các đảng, sẽ dẫn đến một
chính quyền liên minh. Mặc dù lối bầu hỗn
hợp chỉ định hai loại dân biểu, trong
đó có một loại dân biểu bị gắn bó với
khu vực bầu cử, nhưng cũng không tránh
được các yếu điểm đă nêu của
lối bầu theo danh sách. Những người ủng
hộ cho lối bầu hỗn hợp cho rằng
người ta có thể khắc phục những yếu
điểm này bằng cách đưa những ứng viên
đă thất cử trong ṿng bầu đơn danh vào danh
sách ứng viên (chung) và buộc các dân biểu đă
đắc cử qua danh sách phải chịu trách nhiệm
đặc biệt về khu vực bầu cử của
ḿnh.
30. H́nh thức liên minh cầm quyền có
dân chủ không?
Những
người bênh vực lối bầu cử đại
diện theo tỷ lệ cho rằng lối bầu lấy
đa số và lối bầu tuyển chọn không
được dân chủ bởi những cách ấy không
đối xử công bằng với mọi lá phiếu
của người dân, xem một số có trọng
lượng hơn số khác. V́ hai lối bầu sau không
tôn trọng sự b́nh đẳng chính trị, là nguyên
tắc dân chủ căn bản nhất, nên đă dẫn
đến việc thành lập các chính phủ chỉ
đại diện cho một thiểu số cử tri,
nhiều khi là một thiểu số rất nhỏ
nữa. Ngược lại, những người chống
lối bầu đại diện theo tỷ lệ lại
cho rằng, v́ trên thực tế mỗi chính đảng khó
có thể đạt được đa số tuyệt
đối nên lối bầu tỷ lệ đương
nhiên dẫn đến những liên minh cầm quyền.
Do đó dân
chúng sẽ bị các lănh tụ của các chính đảng
tước mất quyền chỉ định chính
phủ, làm giảm sức mạnh của dân chúng trong
việc kiểm soát chính phủ và trong việc đ̣i
hỏi chính phủ phải chịu trách nhiệm về các
hành động của ḿnh. Một chính phủ liên minh có
thể ban cho những chính đảng nhỏ nhiều
đặc quyền để câu họ, nhất là khi
những chính đảng này giữ vị trí then chốt
giữa hai khuynh hướng tả và hữu quá mạnh.
Người ta có thể trả lời cho phía chống
đối rằng những chính đảng tham gia chính
phủ liên minh phải thông báo cho cử tri của họ
biết về những quyết định của liên minh
cầm quyền và những lực lượng ở
giữa (hai khuynh hướng tả và hữu) không thể
nào không quan tâm đến sự hoán chuyển khối
lượng phiếu cử tri giữa các đảng khuynh
tả và khuynh hữu trong các cuộc bỏ phiếu.
Lại
một lần nữa, chúng ta khó tách bạch vấn
đề trên lư thuyết mà không lưu ư đến
những đặc thù quốc gia. Lịch sử cận
đại đă cho thấy rơ những sai lầm của
lối bầu cử một ṿng lấy đa số
được áp dụng ở Anh Quốc cũng như
những thiếu sót của lối bầu cử theo
tỷ lệ đơn thuần xảy ra ở Ư Đại
Lợi. Một hệ thống bầu cử, nếu
muốn việc áp dụng được phổ cập,
cần phối hợp những ưu điểm của
lối bầu đa số với với một tỷ
lệ đối trọng cân đối, trong đó
liều lượng của mỗi hệ thống phụ
thuộc t́nh trạng của các chính đảng và những
điều kiện tổng quát ghi trong hiến pháp.
31. Làm thế nào để bảo
đảm sự công bằng trong diễn tiến bầu
cử?
*Sự công
bằng trong bầu cử có thể bị xâm phạm nghiêm
trọng bằng ba cách sau đây.
Thứ
nhất, chính đảng hoặc liên minh cầm quyền có
thể dùng ưu thế quyền lực để xâm
phạm công bằng. Đây là một hiện tượng
rất phổ biến mà chúng ta có thể dùng một số
biện pháp để hạn chế tai hại. Biện
pháp quan trọng nhất là ủy nhiệm cho một ủy
ban bầu cử độc lập -được sự
chấp nhận của tất cả các chính đảng-
công việc kiểm soát toàn bộ diễn tŕnh bầu
cử, từ việc làm thẻ bầu cử, việc lên
danh sách cử tri, việc tổ chức đợt vận
động và việc bỏ phiếu, đến việc
kiểm phiếu. Đặc biệt, nếu không có sẵn
một ủy ban độc lập để giám sát về
truyền thanh truyền h́nh, ủy ban bầu cử cũng
phải có trách nhiệm điều ḥa sự xuất
hiện của các chính đảng trên các phương
tiện truyền thông đại chúng trong thời gian
vận động bầu cử. Điểm quan trọng là
luật pháp phải cấm mọi sự nhập nhằng
giữa chức vụ trong đảng và chức vụ
trong chính quyền. Trong trường hợp này tất
cả các bộ trưởng phải từ bỏ toàn
bộ nhiệm vụ và đặc quyền dành cho chức
vụ trong suốt thời gian vận động, trừ
những thứ cần thiết để duy tŕ trật
tự công cộng.
Đe dọa
thứ nh́ đến sự công bằng trong bầu cử
là những hành vi gian lận của những đảng
viên hoặc cảm t́nh viên của các chính đảng qua
tham nhũng, hăm dọa, bôi nhọ nhân cách, phiếu
giả, v.v... Người ta có thể chận đứng các
hành vi này bằng cách giao cho một bộ phận
đặc biệt gồm các nhân viên cảnh sát và những
viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử khác
nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho các ứng
cử viên và bảo đảm tính hợp thức của
tiến tŕnh bầu cử. Trên tinh thần đó, phải
chú trọng đặc biệt đến phẩm chất
của các viên chức có trách nhiệm về công tác bầu
cử; Việc chỉ định cũng như đào tạo
họ phải nằm trong thẩm quyền của ủy
ban bầu cử quốc gia. Sự hiện diện của
những quan sát viên quốc tế dày dặn kinh nghiệm
cũng vô cùng ích lợi; Người ta cần phải kêu
gọi họ làm công việc giám sát một cách công tâm
để các công tác bầu cử được tiến
hành đúng cách và họ cần truyền bá những cách
thức bầu cử thích hợp nhất đă
được áp dụng trong các cuộc bầu cử toàn
quốc tại các nước dân chủ.
Sau hết
sự công bằng trong bầu cử có thể bị xâm
phạm khi những ứng cử viên nhờ có nhiều
tiền của riêng hoặc khi những chính đảng
nhờ được các thế lực tài chính lớn
yểm trợ mà dành được lợi thế. Cách
giải quyết đơn giản nhất là giới
hạn gắt gao việc chi tiêu bầu cử -trên b́nh
diện quốc gia hoặc địa phương- của
các ứng cử viên hoặc của các chính đảng cho
chính họ hoặc cho những việc đem lợi
lại cho họ: Ngoài ra mọi ứng cử viên hoặc
chính đảng phải được tự do lên các
phương tiên truyền thông đại chúng như nhau,
theo thể thức được ủy ban bầu cử
thông qua.
Trong số
những ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn
đến sự công bằng trong diễn tŕnh bầu
cử người ta phải kể đến những
cuộc thăm ḍ dư luận tại một số
quốc gia. Một số quốc gia có luật cấm loan
báo kết quả thăm ḍ dư luận trong tuần
lễ trước ngày bầu cử hoặc trong cả
thời gian vận động. Biện minh cho quyết
định này, người ta cho rằng những cuộc
thăm ḍ dư luận sẽ tác động đến
đến kết quả bầu cử: hoặc nó sẽ
tạo ảnh hưởng nhân rộng hoặc ngược
lại nó khiến cử tri có thái độ bác bỏ. Ngoài
ra người ta c̣n cho rằng những cuộc thăm ḍ
dư luận có thể gây ảnh hưởng đồi
bại đến những cử tri chỉ thích nghe
chuyện được thua, mất mát do kết quả
bầu cử gây nên. Song le, phần đông những chuyên
gia đều không tin việc thăm ḍ dư luận
sẽ ảnh hưởng đến quyết định
của cử tri cũng như họ không tin vào tác dụng
của việc cấm thăm ḍ, v́ ngày nay người ta
càng dễ t́m hiểu mọi vấn đề qua các
phương tiện truyền thông quốc tế.
32. Công quỹ có cần tài trợ cho các
chính đảng không?
Những
người muốn công quỹ tài trợ cho các chính
đảng cho rằng v́ chính đảng đóng một vai
tṛ then chốt trong sự hoạt động của
một chính thể dân chủ nên cần nâng đỡ tài
chính cho các chính đảng, và ngoài ra, một sự hỗ
trợ của công quỹ sẽ giảm bớt ảnh
hưởng của những nhóm quyền lợi có thế
lực đối với các chính sách. Những chính
đảng có thể nhận được tài trợ theo
tỷ lệ phiếu nhận được trong các
cuộc bầu cử cấp quốc gia. Những nhóm nào
đ̣i tước quyền dân sự và quyền chính
trị của một nhóm công dân hoặc đă phạm
tội gian lậu bầu cử sẽ không được
nhận tài trợ.
Những
người chống việc tài trợ cho rằng
những chính đảng chỉ thực sự đóng
tốt vai tṛ phản ảnh dư luận quần chúng
nếu họ độc lập về mặt tài chính
với các cơ quan quyền lực. Sự độc
lập này chỉ có được nếu các chính
đảng được tài trợ bởi những
nguồn tiền đóng góp tự nguyện. Các chính
đảng sẽ phải cố gắng giành lấy
sự tín nhiệm của dân khi chính họ phải chạy
tiền để trang trải chi phí hoạt động.
Ngoài ra nếu muốn hạn chế ảnh hưởng
bất chính của những nhóm quyền lợi,
người ta có thể bắt các chính đảng phải
kê khai mọi món tiền ủng hộ vượt quá
một giới hạn nào đó hoặc bắt các nơi
muốn quyên tiền phải lấy sự chấp
thuận của những thành viên hoặc cổ
động.
Tại các
nước có truyền thống dân chủ vững chăi, các
chính đảng thường được tài trợ
bởi những món tiền đóng góp tự nguyện, cho
dù rằng chính phủ có thể tài trợ ở mức
độ giới hạn nhất định cho các hoạt
động được quy định thật rơ ràng,
thí dụ như cho việc đào tạo cán bộ
đảng hoặc cho phép sử dụng miễn phí các
phương tiện truyền thông đại chúng trong các
cuộc vận động bầu cử. Sự hỗ
trợ tài chính có thể đặc biệt hữu dụng
tại những nước đang chuyển tiếp để
xây dựng chế độ dân chủ, khi không mấy
người dân biết đến luật lệ tranh
cử hoặc phải xây dựng lại toàn bộ hệ
thống chính đảng tại những nước
đó.
33. Có nên cho các dân biểu thay đổi
đảng tịch giữa 2 kỳ bầu cử không?
Không nên. Khi
ra tŕnh diện cử tri dưới một nhăn hiệu
chính trị nhất định nào đó, ứng cử viên
phải có bổn phận ủng hộ đảng của
ḿnh trong suốt nhiệm kỳ quốc hội. Nếu
không, phương cách dùng bầu cử để phân
biệt các chương tŕnh và khuynh hướng chính
trị sẽ mất mọi ư nghĩa.
Trong chế
độ bầu cử dựa trên khu vực cử tri,
những dân biểu nào muốn đổi đảng
tịch đều phải từ nhiệm và ra ứng
cử trở lại trong một cuộc bầu cử
riêng rẽ. Trong chế độ bầu cử dựa theo
lối bầu danh sách, người dân biểu muốn
đổi đảng tịch chỉ cần từ
nhiệm và nhường ghế dân biểu cho người
kế tiếp trong danh sách của đảng cũ.
34. Các cử tri có quyền hành ǵ giữa
hai kỳ bầu cử?
Người
ta sẽ vô cùng sai lầm khi cho rằng các cử tri hoàn toàn
bất lực giữa hai kỳ bầu cử v́ họ
chỉ có thể biểu lộ ư kiến chính trị
bằng cách bỏ phiếu khoảng bốn năm một
lần mà thôi. Người ta quên rằng những
đảng cầm quyền luôn luôn nghe ngóng dư luận
v́ sợ sẽ bị cử tri chất vấn trong kỳ
bầu cử tới. Nói cách khác, sự thất cử là
nỗi sợ ám ảnh thường xuyên người
cầm quyền. Điều này càng được thấy rơ
hơn trong những quốc gia áp dụng lối bầu
đa số, khi sự thất bại của đảng
cầm quyền ở một địa phương có
thể dẫn tới việc định hướng
lại đường lối chính trị của chính
quyền (trung ương), kể cả việc cải
tổ lại nội các.
Ngoài ra,
cử trị c̣n có vô số các phương tiện
để ảnh hưởng lên chính quyền về
một số lănh vực và giữa hai kỳ bầu
cử. Họ có thể gia nhập những nhóm tạo áp
lực hoặc hiệp hội, tham gia các chiến dịch
vận động quần chúng, tiếp xúc với các dân
biểu của họ và các nhân viên chính phủ, tham gia các
cuộc biểu dương lực lượng, v.v... Sau
hết, họ có thể dùng các phương tiện
truyền thông để thường xuyên phát biểu ư
kiến và tập hợp lực lượng.
35. Trong chế độ dân chủ, khi nào
phải sử dụng h́nh thức trưng cầu dân ư?
Tại
đa số các quốc gia dân chủ, những dự án
nhằm sửa đổi hiến pháp hoặc những
dự luật có ảnh hưởng đến hiến
pháp đều phải thông qua một cuộc trưng
cầu dân ư, nhiều khi c̣n đ̣i hỏi phải
được thông qua với đa số tuyệt
đối các cử tri. Người ta lư luận rằng
hiến pháp thuộc về toàn dân chứ không thuộc riêng
các nghị viện hoặc các chính phủ nhất thời.
Do đó mọi thay đổi phải được
người dân trực tiếp thông qua.
Nhưng
nếu mở rộng ra hơn nữa th́ việc xin ư
kiến dân chúng về những vấn đề chính
trị chung chung hoặc về những dự luật
căn bản qua một cuộc trưng cầu dân ư vẫn
c̣n là một vấn đề gây tranh căi. Phe ủng hộ
cho rằng phương cách trưng cầu dân ư là một
phương tiện chính yếu trong đời sống dân
chủ giúp cho người dân có ư kiến trực tiếp
về những vấn đề hệ trọng, nếu
không sẽ chẳng có ai để ư đến những
vấn đề này hoặc chúng sẽ bị vùi giấu
trong những lời tuyên bố ứng cử chung chung
của một chính đảng.
C̣n phe
chống đối lại cho rằng, một khi đă ư
thức được sự liên quan đan cài giữa
những vấn đề được đem ra cho công
chúng phân xử (thí dụ như liên quan giữa các chính sách
về thuế và ngân sách), th́ quả là khiên cưỡng khi
đem tách một vấn đề ra khỏi bối
cảnh chung của nó hoặc khi cho rằng các dân biểu
không có quyền quyết định về một số
vấn đề nào đó (trong khi họ lại
được quyết định về mọi vấn
đề khác).
Do đó,
việc trưng cầu dân ư, trên thực tế, là một
dấu hiệu của sự bất tín nhiệm chế
độ đại diện cửa tri, và thay v́ gia tăng
trách nhiệm cho các dân biểu th́ người ta lại c̣n
làm giảm nó đi.Đây là một vấnđề mà ta không
thể trả lời một cách rơ ràng là khi nào th́ nên
hoặc không nên. Các quốc gia dân chủ sẽ phải
tự t́m lấy câu trả lời thích ứng dựa trên
tập quán chính trị của nước họ.
III. Tính trong suốt và trách nhiệm của
chính quyền
36. Tại sao hoạt động trong
suốt của chính quyền lại quan trọng
đối với dân chủ?
Sự trong suốt
của các hoạt động của chính quyền là
điều không thể thiếu được trong dân
chủ, bởi nếu không có những thông tin chính xác
về các hoạt động của chính quyền cũng
như về ảnh hưởng của các chính sách, th́
những người nắm giữ các trách nhiệm trong
lănh cực công sẽ không thể nào đánh giá
được về các hoạt động của ḿnh và
người dân cũng bị mất những yếu
tố dùng làm cơ sở xét đoán cho việc sử
dụng lá phiếu của họ trong các kỳ bấu
cử. Sự tiếp cận các nguồn thông tin loại
này, do đó, phải được xem như là một
loại quyền của công dân và của các phương
tiện truyền thông hoạt động đại
diện cho dân chứ không thể bị xem là quyền
lợi được chính quyền ban phát. Bởi cử
tri là người chọn ra chính quyền nên họ phải
có quyền được biết họ đă bỏ
tiền ra mua món hàng nào và người ta đă đại
diện họ dể làm chuyện ǵ.
Dù rằng
việc tổ chức để người dân có thể
tiếp cận với các thông tin loại này bị xem là
một sự phung phí ngân quỹ quốc gia nhưng chính
việc này lại góp phần làm gia tăng hiệu năng
của các hoạt động chính quyền bằng cách
đưa ra ánh sáng những vụ lăng phí công quỹ,
chống tệ nạn tham nhũng và vạch ra những sai
lầm của chính quyền trước khi chúng trở
thành bệnh măn tính. Việc để cho các công dân
được tiếp cận với những hồ
sơ của chính quyền cũng như của các cơ
quan trực thuộc có liên quan đến dân là một thành
tố quan trọng của việc bảo vệ các
quyền tự do của người dân. Nhưng thế
nào là sự trong suốt của hoạt động của
chính quyền? Chúng ta có thể xem sự trong suốt này
phải bao gồm bốn mặt chính.
Thứ
nhất, sự trong suốt bao gồm việc chính
quyền phải tự ḿnh cung cấp thông tin về
những dữ kiện liên quan đến những chính
sách, chẳng hạn như những số liệu
được dùng làm cơ sở cho việc h́nh thành chính
sách, những ảnh hưởng thực tế, những
hậu quả, những phương thức áp dụng
v.v...
Thứ nh́, sự trong suốt bao gồm khả
năng để tư nhân và báo chí tiếp cận -
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
quốc hội - với những hồ sơ tài liệu
của chính quyền. Thứ ba, sự trong suốt bao
gồm tính chất công khai của các buổi hội
họp, thí dụ những phiên họp của quốc
hội, của các ủy ban trong quốc hội, của
những công sở hoặc đơn vị hành chánh
địa phương.
Cuối cùng, sự trong suốt bao gồm việc chính
quyền, khi muốn soạn thảo và thi hành những chính
sách, phải tham khảo ư kiến của những nhóm
quyền lợi liên hệ một cách có hệ thống, bao
gồm cả việc phổ biến thông tin và những góp
ư nhận được trong những buổi tham khảo
này.
Sự trong
suốt của hoạt động chính quyền có loại
trừ một số loại thông tin nào đó không? Trong
những thể chế dân chủ, những loại thông tin
sau đây thường được xem là cần bảo
mật một cách chính đáng: quyết định của
nội các hay của hội đồng bộ
trưởng, ư kiến mang tính cách chính trị của các
công chức cao cấp đối với thành viên chính
phủ. Đây là những tin tức mà nếu bị lộ ra
th́ sẽ ảnh hưởng đến nền an ninh
quốc gia, sự toàn vẹn của cơ chế dân
chủ, sự an toàn nhân thân của một số cá nhân,
những bí mật thương măi của những hăng
xưởng, những hồ sơ nhân viên mà chỉ có
người có trách nhiệm mới được phép xem
xét.
37. Làm
thế nào để bảo đảm cho hoạt
động chính quyền được trong suốt?
Trong thế
kỷ trước, khi phạm vi hoạt động chính
quyền c̣n hạn chế, người ta nghĩ rằng
chỉ cần quyền tự do báo chí là đủ
để bảo đảm sự trong suốt của
hoạt động chính quyền. Ngày nay, ư thức rằng
sự phức tạp ngày càng tăng và ảnh hưởng
ngày càng lớn của chính quyền, một sự bảo
vệ chặt chẽ nhất về quyền tự do báo
chí - trong đó bao gồm cả việc bảo mật những
nguồn cung cấp thông tin cho báo chí - cũng chưa
đủ. Chính quyền và những cơ quan hành chánh có
khuynh hướng tự nhiên là thích ẩn núp sau bức màn
bí mật để bao che cho những sai lầm hoặc
lạm quyền, để tránh gặp phiền phức
hoặc chỉ đơn giản là khỏi phải thú
nhận những lỗi lầm. Ngày nay, phương cách
hữu hiệu duy nhất để chặn đứng
khuynh hướng này là việc thông qua một đạo
luật bắt buộc phải bảo đảm sự
trong suốt của hoạt động chính quyền, hay
nói cách khác là bảo đảm quyền trực tiếp
thông tin.
Hoa Kỳ và
Thụy Điển là hai quốc gia có nhiều đạo
luật tiêu biểu cho việc bảo đảm quyền
tự do trực tiếp thông tin. Những đạo
luật này (đă được mổ xẻ kỹ trong
câu 36) quy định chính phủ có bổn phận phải
công bố hoạt động của ḿnh, quy định
quyền của người dân được xem xét
những tài liệu của chính phủ, quy định
phải mở cửa cho công chúng tham dự các buổi
họp của các cơ chế quyền lực và quy
định việc bảo vệ cho những thành viên nào
của bộ máy hành pháp muốn đưa tin (tố cáo)
về sự thi hành đáng chê trách hoặc gian lận
của khối hành pháp. Đây là những đạo luật có
tính cách củng cố và bổ túc cho những quy
định cho phép các dân biểu hoặc thành viên quốc
hội được quyền tiến hành các cuộc giám
sát hoạt động của khối hành pháp. Đây là
những đạo luật cho phép các ṭa án chứ không
phải là chính quyền - đây mới chính là khía cạnh
quan trọng nhất của các đạo luật thuộc
lại này, được phép định nghĩa những
ngoại lệ của nguyên tắc trong suốt, tức là
những ngoại lệ cần thiết để bảo
vệ an ninh quốc gia và đời sống riêng tư.
Chúng ta
cũng cần bàn thêm về hai vấn đề sau đây:
Vấn
đề thứ nhất: là tầm
quan trọng của ngân quỹ được các chính
quyền dùng trong việc giao tế công cộng (*). Ngày này
giao tế công cộng không c̣n giới hạn trong việc
tŕnh bày những thông tin dữ liệu liên quan đến
hoạt động của chính phủ mà c̣n bao gồm
cả những quyết định về lịch thông báo,
việc lựa chọn chiến lược tŕnh bày thông tin
sao cho thông tin được đón nhận một cách
thuận lợi nhất, việc để ṛ rỉ
những thông tin "đă được chọn
lựa" và tất cả mọi thủ thuật trong
ngành giao tế công cộng để gây ảnh
hưởng đến dư luận xă hội. V́ có
những thủ thuật như vậy nên luật pháp
phải đặc biệt bảo đảm quyền
được hỏi và quyền được kiểm
tra những thông tin do chính quyền đưa ra một cách
thực sự tự do. Liên quan đến vấn
đề này, người ta cần thành lập một
dịch vụ thống kê công cộng độc lập
với chính quyền để cho quốc hội và dân chúng
có thể hỏi thăm một cách thật b́nh đẳng
(so với chính quyền).
Vấn
đề thứ hai: là sự
trong suốt của hoạt động chính quyền
vượt quá phạm vi của quyền được
tự do trực tiếp thông tin rất nhiều. Phạm
vi của sự trong suốt bao gồm cả khả
năng đ̣i hỏi một vị bộ trưởng
phải biện hộ cho hành động của ḿnh và
phải đưa vấn đề ra tranh luận công khai,
bao gồm cả nghĩa vụ (mà tùy trường hợp
sẽ được gia giảm về sự bó buộc)
của một chính phủ phải đưa việc
soạn thảo và thi hành chính sách ra hỏi ư kiến công
luận. Về điểm cuối vừa nêu, người
ta cần phải có một đạo luật ấn
định rơ lịch tŕnh và phương thức tham
khảo, ấn định việc phổ biến rộng
răi các thông tin do các phe phái khác nhau cung cấp về vấn
đề đang bàn căi và ấn định việc
lượng giá sự ảnh hưởng đến môi
trường xung quanh của các dự án. Khái niệm
về sự trong suốt ở đây bao gồm khả
năng của một chính quyền cả trong việc
biết làm đúng việc để cho người dân
tiếp xúc với thông tin lẫn trong việc biết
lắng nghe.
(*) Giao
tế cộng cộng: public relation, relation publique,
Oeffentlichkeitsarbeit.
38. Thế nào là trách nhiệm của chính
quyền?
Trách
nhiệm của chính quyền được đạt ra
trên ba phương diện.
Thứ
nhất: là trách nhiệm về mặt pháp lư, nghĩa
là mọi cá nhân đảm nhiệm các trách vụ công
cộng dù do dân bầu lên hay không, đều phải
chịu trách nhiệm trước ṭa án về tính hợp
pháp của các hành động của ḿnh. Đây là điểm
cốt lơi của nguyên tắc thượng tôn pháp luật,
theo đó, những người soạn thảo cũng
như những người áp dụng luật pháp và chính
sách đều phải hoạt động trong khuôn khổ
của hiến pháp và luật pháp, dựa trên những
quyền hạn mà luật pháp quy định và giới
hạn cho họ.
Thứ hai: là trách
nhiệm về mặt chính trị, nghĩa là chính quyền
hay bộ máy hành pháp phải có trách nhiệm tŕnh bày cho
quốc hội hoặc dân chúng rằng, các chính sách, lớp
lang tổ chức và phương thức thực hiện
các chính sách đó được dựa trên những cơ
sơ có căn cứ. Việc quy kết trách nhiệm trong
loại trách nhiệm pháp lư có thể thực hiện
được một cách tương đối
đơn giản bằng cách đưa người có
chức vụ ra ṭa để xử. Trong khi đó,
việc quy kết trách nhiệm trong loại trách nhiệm
chính trị không đơn giản chút nào v́ việc
thực hiện chính sách rất phức tạp. Thông
thường các cơ quan chính phủ trực thuộc chính
quyền mà trong đó các nhân viên không được
chọn qua một cuộc bầu cử (như trong bộ
máy hành chánh, lực lượng vũ trang, lực
lượng cảnh sát, các cơ quan an ninh) sẽ phải
chịu trách nhiệm trước vị chủ tịch
bộ máy hành pháp (do dân bầu) qua trung gian của các bộ
trưởng do chính vị chủ tịch này bổ
nhiệm. Về phần của họ, vị lănh
đạo bộ máy hành pháp và các bộ trưởng
phải chịu trách nhiệm trước dân chúng (phán xét
qua các kỳ bầu cử) cũng như trước
quốc hội (trong vai tṛ đại diện của dân giữa
hai kỳ bầu cử). Các dân biểu quốc hội sau
đó cũng phải báo cáo lại cho các cử tri của
ḿnh.
Thứ ba: là trách
nhiệm về mặt tài chính nhằm bảo đảm
việc chi dùng tiền thuế vào những mục đích
đă được cơ quan lập pháp (quốc hội)
phê chuẩn, để việc chi dùng này càng hữu
hiệu bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Đường dây trách
nhiệm của loại trách nhiệm tài chính cũng
giống như đường dây của loại trách
nhiệm chính trị cộng với vai tṛ của một
vị tổng thanh tra các trương mục. Vị
tổng thanh tra này tuy phải chịu trách nhiệm trước
quốc hội nhưng lại hoạt động hoàn toàn
độc lập về mặt chuyên môn khi đi kiểm
tra chi tiết các khoản chi tiêu của chính phủ.
Mỗi
đường dây này góp phần thực hiện nguyên
tắc dân chủ: người dân được quyền
kiểm soát chính phủ. Muốn quy trách nhiệm về
chính trị và tài chính, người ta thấy cách tốt
nhất là ủy nhiệm việc kiểm soát cho các cơ
quan chuyên môn. Những cơ quan này trong phạm vi hoạt
động của họ rất cần được
hưởng sự bảo vệ tương đối nào
đó trước áp lực của công chúng hoặc của
những người giữ trách vụ chính trị và
được kính trọng bởi lương tâm chức
nghiệp của họ. Phân tích cho cùng, khi đă có ṭa án giữ
ǵn việc tuân thủ luật pháp và khi có tổng thanh tra
kiểm nhận các chi tiêu là phù hợp với sự
duyệt xét ngân sách của quốc hội và với
hiến pháp th́ chỉ c̣n trách nhiệm chính trị là
cần đáng lưu ư hơn cả.
39. Tại sao sự phân quyền lại
quan trọng?
Việc
cầm quyền ở các nước dân chủ
được chia thành ba ngành, đó là ngành hành pháp
(thường được gọi cho tiện là "chính
quyền") có trách nhiệm soạn thảo và áp dụng
các chính sách, ngành lập pháp (quốc hội hoặc
viện dân biểu) có trách nhiệm phê chuẩn các
đạo luật và các sắc thuế cũng như
kiểm soát hành pháp, và ngành tư pháp (các ṭa án) có nhiệm
vụ giám sát việc thi hành luật, nghĩa là t́m ra các
trường hợp vi phạm, và xét xử thủ phạm
của những vi phạm này.
Sự tách
quyền lực thành ba ngành riêng biệt là nguyên tắc then
chốt để bảo vệ những dạng trách
nhiệm pháp lư, chính trị và tài chính vừa
được đề cập ở trên. Nếu như
ṭa án không độc lập với lập pháp và hành pháp th́
nó không thể canh chừng việc hành động phù
hợp theo pháp luật của những người mang
trách vụ công mà không sợ bị trả thù hoặc mong
được thưởng. Tương tự như
vậy, nếu quốc hội không có quyền phê chuẩn
các đạo luật một cách thật độc
lập, không có quyền quyết định về thuế
khóa hoặc kiểm soát hành pháp th́ trách nhiệm chính trị
và tài chính của chính quyền đối với cử tri
sẽ bị sói ṃn.
Mặc dù
sự tách biệt giữa ngành lập pháp và hành pháp là
một trong những đặc trưng truyền thống
của các chính quyền dân chủ nhưng sự tách
biệt này cũng biến dạng tùy theo những chế
độ chính trị khác nhau. Chính trong các chế
độ có tổng thống, khi việc bầu vị
chủ tịch hành pháp (tổng thống) được
tách khỏi việc bầu các dân biểu và khi mà vị
chủ tịch hành pháp không giữ vai tṛ nào trong lănh vực
lập pháp, người ta thấy hai ngành quyền lực
này được tách biệt rơ ràng nhất. Ngược
lại, trong một chế độ đựa vào thủ
tướng, khi người lănh đạo của chính
đảng chiếm đa số trong quốc hội
được gọi ra điều khiển chính
quyền, th́ có thể nói rằng vị chủ tịch hành
pháp này lúc nào cũng đứng ở vị trí đôi trong
mọi lănh vực, vừa là chủ tịch hành pháp và
vừa là trưởng khối đa số trong quốc
hội.
Mỗi
chế độ vừa nêu đều có ưu và khuyết
điểm riêng. Nói chung, tổng thống chế có ưu
điểm là bảo đảm cho những đại
diện lập pháp có nhiều độc lập hơn
để kiểm soát phía hành pháp, mặc dù rằng sự
kiểm soát này c̣n tùy thuộc cách tổ chức các chính
đảng cũng như phụ thuộc vào ảnh
hưởng của hành pháp và lập pháp lên sự h́nh thành
các lực lượng chính trị. Mặt khác chế
độ này có khuyết điểm có thể đưa
chính quyền vào thế kẹt bằng cách cản trở
không cho nó có phương tiện làm luật và tài chính
cần thiết để thực hiện những
chương tŕnh mà dân chúng đă lựa chọn. Trong
một vài trường hợp cực đoan, việc phân
biệt này đă dẫn đến sự đụng
độ giữa hai ngành quyền lực; Khi đó
mượn tiếng được dân chúng trao cho ḿnh
quyền lực hợp pháp qua cuộc tổng tuyển
cử và lợi dụng uy quyền đối với
lực lượng vũ trang, vị tổng thống có
thể giành lấy quyền lập pháp qua một cuộc
bỏ phiếu toàn dân.
Những
chế độ được xây dựng trên ưu
thế của vị thủ tướng chính phủ
đặt nền tảng cho phép một sự phối
hợp nhịp nhàng hơn giữa hoạt động
của chính quyền và hoạt động của những
dân biểu là những người được kêu
gọi bỏ phiếu cho những đạo luật và
sắc thuế cần cho việc thực hiện các
chương tŕnh của chính phủ. Một lợi
điểm khác là mô thức này giảm thiểu khả
năng dùng bạo lực của hành pháp đối với
quốc hội (ưu điểm này được xem là
vô cùng quan trọng trong trường hợp các chế
độ dân chủ mới được h́nh thành gần
đây). Ngược lại loại chế độ này có
khuyết điểm là trao cho hành pháp quyền đặt
lịch tŕnh nghị sự cho quốc hội và giới
hạn khả năng kiểm soát hành pháp của quốc
hội bởi những dân biểu trong khối đa
số tại quốc hội thường có khuynh
hướng bảo vệ uy tín của chính phủ (mà
họ c̣n mắc nợ v́ chiếc ghế dân biểu và
từ đó quyết định cả sự thăng
tiến của họ nữa) nên sẽ không tố cáo những
thiếu sót của chính phủ.
40. Thế nào là thượng tôn pháp
luật và làm sao để bảo vệ nguyên tắc
đó?
Nguyên tắc
thượng tôn pháp luật diễn tả khái niệm
đơn giản, theo đó những người mang trách
vụ công cộng, dù đó là chức vụ dân cử hay
không, phải tuân theo luật pháp và hiến pháp khi hành
xử những quyền hạn được trao cho
họ; Những quyền hạn này được
định nghĩa và giới hạn rơ ràng bởi luật
pháp (xx câu 38 về trách nhiệm pháp lư). Nguyên tắc này
bắt nguồn từ khái niệm của Aristote cho
rằng loại chính quyền tốt nhất là loại
chính quyền dựa trên sự thượng tôn pháp luật
chứ không dựa trên con người. Theo nghĩa cận
đại, nguyên tắc này xuất phát từ cuộc tranh
đấu nhằm giới hạn không cho nhà cầm
quyền và những đại diện chính thức của
họ sử dụng quyền lực một cách tùy
tiện và bắt hành pháp phải đặt mọi
hoạt động của ḿnh dưới sự phán xét
của các cơ quan tư pháp.
Người
ta có thể xem nguyên tắc thượng tôn pháp luật
như ḥn đá tảng của cả tự do cá nhân
lẫn dân chủ. Không có nguyên tắc này th́ sẽ không
thể bảo vệ được bất cứ
quyền tự do cá nhân nào trước quyền lực
của hành pháp. Vả lại khi luật pháp đă phát
xuất từ một hiến pháp dân chủ và từ
một cơ quan lập pháp dân cử th́ việc cơ quan
hành pháp tuân thủ nguyên tắc này là một trong những
đ̣i hỏi của những chế độ dân chủ.
Bởi lẽ đó người ta có thể xem những
toan tính nhằm bẻ quẹo các thủ tục và quy
định pháp lư nhân danh "quyền lợi quốc
gia" hoặc chịu áp lực từ yêu sách nhất
thời của quần chúng là phản dân chủ.
Muốn áp
dụng nguyên tắc thượng tôn pháp luật th́
phải có một bộ máy tư pháp độc lập
để giám sát sự tôn trọng đó. Khi nói đến
đến bộ máy tư pháp, Điều 1 của
"Những nguyên tắc căn bản" của Liên
hiệp quốc đă ghi rơ rằng "sự độc
lập của bộ máy tư pháp cần được
bảo đảm bởi chính phủ và phải được
Hiến pháp và quốc hội thừa nhận". Sự
độc lập này bao gồm cả sự độc
lập tập thể của bộ máy tư pháp, như
một cơ quan cần được bảo vệ trước
những xâm phạm của ngành hành pháp, lẫn sự
độc lập cá nhân của những thẫm phán, khi
họ cần phải hoàn thành một cách trong sáng các trách
vụ được giao phó. Việc bảo vệ sự
độc lập song đôi này đ̣i hỏi nhiều
hơn những ǵ đă được hiến pháp bảo
đảm trên giấy tờ. Việc bảo vệ sự
độc lập này phụ thuộc rất nhiều vào
phương thức chỉ định các thẩm phán và
vào sự bảo đảm để họ có thể
tiếp tục chức vụ giao phó.
Việc
chỉ định các thẩm phán không thể nằm trong
quyền hạn của chính quyền hay bộ máy hành pháp mà
phải do một ủy ban tư pháp của quốc
hội hoặc do một ủy ban độc lập chuyên
lo về công tác tư pháp được hiến pháp công
nhận đảm trách. Những thẩm phán này không
thể bị chính quyền đương thời cách
chức. Ngược lại họ cần có những
bảo đảm để có thể tiếp tục
nhiệm vụ. Chỉ có cơ quan nào đă bổ
nhiệm họ mới có thể cách chức họ nhưng
cũng phải theo đúng thủ tục được
dự trù cho mục đích này cũng như v́ những lư
do được định nghĩa rơ ràng, thí dụ
như tham nhũng, thiếu xót nghiêm trọng trong công
việc giao phó hay bất cẩn. Sự tuân thủ
những nguyên tắc này cũng được áp dụng
cho những nghề nghiệp tư pháp khác, khi mà sự
độc lập của họ đối với hành pháp
cũng cần thiết cho sự bảo vệ nguyên
tắc thượng tôn pháp luật.
41. Vai tṛ của quốc hội trong
việc kiểm soát trách nhiệm của chính quyền
Quốc
hội đóng vai tṛ quan trọng trong việc kiểm soát
trách nhiệm về chính trị và tài chính của khối
hành pháp. Trước hết Quốc hội có thể thi
hành sự kiểm soát này nhờ dựa vào quyền phê
chuẩn các đạo luật tổng quát và thuế khóa và
nhờ dựa vào việc áp dụng những thủ
tục bảo đảm rằng những đề
nghị được chuyển cho quốc hội là
những đề nghị đă được cân
nhắc và bàn thảo kỹ lưỡng trước khi
được các dân biểu thông qua. Thứ đến,
Quốc hội có những quyền hạn cần thiết
để giám sát hoạt động của khối hành
pháp khi đặt câu hỏi với các bộ trưởng,
khi kiểm soát các tài liệu thích hợp và khi tiến hành
thủ tục chất vấn những nhân vật liên
hệ trong bộ máy hành pháp. Những công việc này
được thực hiện trong những phiên họp
khoán đại của quốc hội hay trong những
ủy ban chuyên môn được thành lập trong khuôn
khổ của một tập thể có phối hợp.
Hiệu
quả của công việc kiểm soát của quốc
hội về cách thức mà chính quyền hoàn thành các
nhiệm vụ phụ thuộc một phần vào quyền
tự do phát biểu của người dân biểu. Thông
thường người ta cho rằng chỉ cần ban
cho các dân biểu quyền đặc miễn pháp lư về
những đề nghị mà họ đưa ra trong
quốc hội để họ có thể phát biểu không
sợ sệt. Do sự phức tạp của các hoạt
động của chính quyền đương thời nên
những dân biểu chỉ có thể đóng vai tṛ phê phán
một cách hữu hiệu khi họ có một văn pḥng
làm việc và những phương tiện tra cứu
cần thiết và khi họ có thể hợp tác với
những chuyên viên khác ở ngoài. Một điều khá quan
trọng là họ không bị bắt buộc phải tuân
theo quan điểm của chính đảng của họ
để đến nỗi đánh mất óc phê phán. Khi các
dân biểu bị phụ thuộc vào bộ máy chính
đảng của họ trong việc bầu hoặc
đề cử vào các ủy ban chuyên môn th́ quan điểm
của họ khó đi ra ngoài đường hướng
của đảng.
Trong việc
kiểm soát chính phủ chúng ta không thể bỏ qua vai tṛ
quan trọng của hệ thống đảng phái có
tổ chức. Chính đảng đối lập phải
có khả năng hành xử như một chính quyền thay
thế cũng như phối hợp những hoạt động
kiểm soát chính quyền bằng cách giám sát thường
xuyên các hoạt động của chính quyền bằng con
mắt phê phán.
Nhiều
người cho rằng đây là khía cạnh bạc bẽo
của công việc của một dân biểu v́ trong
nhiều trường hợp người ta có cảm
tưởng rằng sự chỉ trích của phía
đối lập chỉ nhằm mục đích gây cản
trở và không có một biện pháp nào của chính phủ
-dù có tốt đẹp- làm vừa được ḷng
họ. Đó là trường hợp của quốc hội
chế Anh quốc dựa trên sự đối lập
của 2 chính đảng và những quốc hội chế
khác cùng dựa trên hệ thống này. Cần nói thêm
rằng mức độ cải tiến về cấu trúc
của các chính phủ đương thời đ̣i
hỏi việc kiểm soát của các chính đảng đối
lập cũng phải có một cấu trúc phát triển
tương ứng. Những chính đảng này phải
được chỉ trích chính phủ một cách tự do
mà không bị nghi ngờ về tinh thần ái quốc
của họ.
42. Ai có thể trở thành dân biểu
quốc hội?
Thực ra
chúng ta bầu người đại diện chúng ta trong
quốc hội không phải v́ khả năng riêng biệt
của họ mà bởi v́ chúng ta tin tưởng họ.
Chúng ta tin rằng họ sẽ cố gắng hết
sức để bảo vệ quyền lợi của
những người bầu ra họ, họ kiểm soát
hoạt động cũng như những dự án của
chính phủ, và giữ chính sách theo hướng mà họ
đề ra khi tranh cử. Mọi người -bất
kể thuộc tầng lớp xă hội nào- nếu thông
minh vừa phải, có lương tâm, biết cách sắp
xếp tổ chức, biết diễn đạt
tương đối chính xác đều có thể hoàn
tất nhiệm vụ của một dân biểu. Khi trúng
cử người dân biểu sẽ có nhiều thời
giờ và phương tiện để hoạt
động tốt hơn. Họ sẽ dần dần thu
thập kinh nghiệm, mặc dù trong chế độ dân
chủ không ai có thể bảo đảm vai tṛ dân biểu
này suốt đời cho họ được.
Số
người có khả năng để làm dân biểu tuy
rất nhiều nhưng trên thực tế chỉ có
một số nhỏ được tuyển chọn. Con
đường vào quốc hội -thông thường- là
một con đường dài và khó khăn. Thường,
các dân biểu là người của các chính đảng có
tiếng tăm và đă hoạt động nhiều năm
cho chính đảng này. Nhiều người từng có kinh
nghiệm làm dân cử ở cấp quận hoặc
tỉnh. Họ phải thuyết phục ban tuyển
chọn ứng viên trong đảng và có thể đă có vài
ba thất bại trước khi được đứng
vào vị trí "sáng giá" trong khu vực bầu cử
hoặc trên danh sách của đảng nhà. Nhưng ngay
cả trong trường hợp này, nếu đảng nhà
gặp xui trong năm đó th́ chưa chắc họ sẽ
trúng cử. Do đó người dân biểu cần rất
nhiều sự bền chí và may mắn để thắng
cử. Chỉ có những người nào đă bỏ
nhiều công sức cho công việc xă hội và sẵn sàng
làm việc ngày đêm mới đi được
đến đích.
43. Có nên cho phép dân biểu nhận các
việc làm có thù lao khác không?
Những
người ủng hộ lập trường này
đưa ra những lư luận sau đây: người dân
biểu không phải làm việc suốt cả năm,
phụ cấp dân biểu không đủ sức hấp
dẫn những người có tài dấn thân vào chính
trường và một công việc ở ngoài sẽ giúp cho
các dân biểu không mất liên lạc với thực
tế. Thực ra không có lư luận nào ở trên là có lư. Dù
rằng quốc hội không nhóm họp suốt cả
năm nhưng công việc trong quốc hội rất
bề bộn và đ̣i hỏi người ta phải làm
việc liên tục, có nghĩa là, nếu muốn hoàn
tất nhiệm vụ một cách đúng đắn
người dân biểu lúc nào cũng phải ở trong
tư thế sẵn sàng. Đó là điều mà cử tri
chờ đợi nơi người dân biểu. Bù lại
cử tri cũng đă sẵn sàng trả thù lao cho dân
biểu tùy theo chức vụ mà họ gánh vác cũng như
đài thọ các chi phí cần thiết khác. Không có cách nào có
thể giúp người dân biểu đi sát với thự
tế hơn là việc tiếp xúc thường xuyên
với cử tri thuộc mọi tầng lớp dân chúng,
với những người đă bầu ra họ, và
lắng nghe lời họ nói.
C̣n một
vấn đề phụ khác nhưng rất dễ xảy
ra trong thực tế. Một vài nhóm hay tổ chức có
thể trả lương cho dân biểu hay kư hợp
đồng để vị này bảo vệ quyền
lợi cho họ trong quốc hội. Loại dịch
vụ này khó có thể chấp nhận được
mặc dù nó rất phổ biến trong một số các
quốc hội. Làm sao có thể biện bạch
được rằng các dân biểu có thể đại
diện cho quyền lợi của cử tri của họ
trong khi mà họ cũng ăn lương để
đại diện chính thức cho các nhóm quyền lợi
(thường) có tầm hoạt động trên b́nh
diện quốc gia? Việc bắt các dân biểu kê khai
những nguồn thu nhập này chỉ là phương cách
tạm bợ; tốt nhất là nên tuyệt đối
cấm loại hoạt động này.
Vai tṛ
của dân biểu rất đặc biệt v́ nó có thể
chấm dứt một cách đột ngột nếu không
được cử tri bầu cho nữa. Điều này không
có nghĩa là vị dân biểu đă thất bại trong nhiệm
vụ của ḿnh mà nhiều khi chỉ v́ người lănh
đạo hay chương tŕnh của chính đảng
của họ không c̣n được ḷng của cử tri
nữa. Nói cho cùng t́nh trạng này cũng không khác hoàn
cảnh của người công nhân làm trong lănh vực
tư nhân bị sa thải bất ngờ, không phải v́ lư
do năng suất mà v́ nhu cầu thị trường. Trong
cả hai trường hợp đó khổ chủ phải
nhận được tiền bồi thường
tương ứng với thời gian làm việc
để có thể đi t́m việc làm mới. Hơn
nữa họ phải nhận được quyền hoán
chuyển tiền bồi thường này ra tiền hưu
trí.
44. Làm thế nào để tận diệt
tham nhũng chính trị?
Tham nhũng
chính trị là việc lợi dụng chức quyền
để làm giàu cho bản thân. Tham nhũng có thể
xuất hiện ở mọi cấp trong hoạt
động của chính quyền, bất kể đó là
chính quyền của quốc gia nào. Ở tại các quốc
gia dân chủ, nếu người ta nhắm mắt làm
ngơ trước những hành động nhằm đem
lại bổng lộc qua chức vụ, thí dụ như
trong việc cho thầu các công tŕnh công cộng hoặc trong
việc cấp giấy phép thương măi, th́ những hành
động này sẽ làm dân chúng dần dần mất tin
tưởng vào người đại diện "chính
quyền". Niềm tin của dân chúng vào dân chủ
cũng sẽ bị thương tổn bởi
người dân sẽ cho rằng dân chủ không xứng
đáng để được bảo vệ hoặc xây
dựng. V́ lẽ đó mà chúng ta phải bằng mọi
cách để đối phó đúng mức với vấn
đề tham nhũng chính trị. Và dù biết tham nhũng
sẽ không thể bị tận diệt được,
chúng ta vẫn phải làm mọi cách để giới
hạn nó lại một cách tối đa.
Tham nhũng
chính trị dễ có điều kiện để phát
triển khi những người có chức vụ công
cộng được trả lương tương
đối ít hoặc ngược lại khi tham nhũng là
phương cách duy nhất trong xă hội để họ
tăng nguồn thu nhập. Tham nhũng cũng sinh sôi
nẩy nở khi sự phát triển trong kinh tế tư
nhân bị phụ thuộc vào những quyết định
mờ ám của chính quyền và khi khả năng bị
lộ tẩy hoặc bị trừng trị khó xảy ra.
Khi t́m hiểu môi trường phát sinh tham nhũng như
trên, chúng ta cũng đă phần nào thấy những
phương thuốc chữa bệnh tham nhũng: trả
lương tương xứng cho những người
giữ các trách vụ công mặc dù cũng không cần
phải trả lương quá cao so với mức
lương trong các ngành nghề khác; đặt một khung
luật pháp và thủ tục rơ ràng minh bạch cho toàn
bộ các quyết định có thể đem lợi
lại cho giới kinh tế tư nhân; và cuối cùng làm cho
các hoạt động chính quyền trở nên minh bạch
theo đúng như luật pháp đ̣i hỏi để các cơ
quan tư pháp có thể điều tra khách quan khi có nghi
ngờ gian lận.
Phương
thuốc hữu hiệu nhất để chữa bệnh
tham nhũng là việc xây dựng một tinh thần và
truyền thống không quá chú tâm đến những lợi
lộc cá nhân trong một nền kinh tế thị
trường. Cần nói rơ rằng tất cả những
biện pháp này, nhất là biện pháp cuối cùng vừa
nêu, đều không thể đem ra áp dụng ở
những nơi mà nạn tham nhũng đă bám rễ sâu và
trở thành măn tính.
45. Vai tṛ của bộ máy hành chính trong
chế độ dân chủ
Để hàng
ngày có thể điều hành công việc quốc gia, chính
phủ phải dựa vào những công chức hành chánh cao
cấp. Đây là những người làm việc toàn thời
gian nhưng không do dân bầu. Những công chức cao
cấp này có hai nhiệm vụ.
Thứ nhất, họ là những chuyên viên có
thể đóng góp ư kiến về các chính sách và về
việc soạn thảo các dự luật để
đưa ra quốc hội.
Thứ hai, họ là người lănh
đạo nhân sự trong bộ máy hành chánh để thi
hành các chính sách và áp dụng các đạo luật.
Người ta chờ đợi họ sẽ thực thi
hai chức năng này một cách có lương tâm và không
thiên vị. Họ sẽ làm công việc này mà không chịu
ảnh hưởng bởi (những) thế lực
đang cầm quyền hoặc vào quan điểm của
ngay cả chính cá nhân họ đối với chính sách
đương thời. Nếu các chính phủ ngày nay không
thể dựa trên một bộ máy hành chánh gồm
những nhân sự chuyên nghiệp như vậy th́ hoạt
động của bộ máy hành chánh trong một chế
độ dân chủ sẽ đụng phải một
số các vấn đề khá đặc biệt, chẳng
hạn như việc chỉ định những
người chịu trách nhiệm về bộ máy hành chánh,
cơ chế giám sát hoạt động của những
công chức cao cấp hoặc thể thức tuyển
chọn họ.
*Vấn
đề thứ nhất: (chỉ định nhân
sự) thực ra là mối bận tâm của các chính
đảng. Họ sợ nếu để các công chức
cao cấp được tự do lựa chọn việc
áp dụng chính sách của chính đảng đang cầm
quyền th́ các công chức này có thể sẽ gây trở
ngại hoặc có thể lợi dụng hiểu biết
về các hồ sơ (mà chỉ có họ mới nắm
vững) để cố vấn chệch hướng cho
các bộ trưởng (thường không thông thạo các
vấn đề bằng các cố vấn). Mối bận
tâm này nhiều khi bị thổi phồng quá đáng.
Phận sự của các công chức cao cấp là phải
cho tiến hành việc đánh giá nghiêm chỉnh về các
dự án của chính phủ dựa trên những ư kiến
phản bác cũng như dựa trên những khó khăn mà
dự án này có thể gây ra khi được đem ra áp
dụng, v́ chính họ cũng là người có nhiệm
vụ thực thi các dự án này.
V́ thế
họ thường bị hiểu lầm là cố ư
ngăn cản chính sách. Nhưng ngoài ra cũng c̣n có một
vấn đề khác nữa: các công chức cao cấp có
thể họp lại thành một tập thể tuy không
được dân bầu nhưng lại có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến việc định
hướng các chính sách nói chung và có thể lợi dụng
ảnh hưởng này cho các mục đích phi dân chủ.
Trong các chế độ dân chủ lâu đời,
người ta dùng một trong hai phương thức sau
đây để giới hạn sự rủi ro này
lại. Phương cách thứ nhất cho phép thế
lực cầm quyền được quyền bổ
nhiệm một hay nhiều viên chức lănh đạo
bộ máy hành chánh trong các bộ. Người đảm
nhiệm chức vụ này, trên nguyên tắc, sẽ bị
thuyên chuyển sau mỗi kỳ thay đổi chính phủ.
Phương cách thứ hai là thành lập văn pḥng giúp
đỡ cho bộ trưởng. Văn pḥng này gồm
những chuyên viên có thể giải thích về các hồ
sơ một cách khác cho vị bộ trưởng nghe
cũng như có thể kiểm soát một cách hoàn toàn độc
lập về các ư kiến của các công chức cao
cấp. Phải nói ngay rằng không có phương thức
nào trong hai cách trên là hoàn hảo nhưng nói cho cùng chúng
vẫn mang lại lợi nhiều hơn hại.
*Vấn
đề thứ hai: là trách nhiệm của
những công chức cao cấp. Mỗi bộ
được xây dựng trên một hệ thống nhân
sự có thứ bậc, chịu trách nhiệm tăng
dần với vị bộ trưởng và chịu trách
nhiệm thông qua vị bộ trưởng này với
quốc hội. Người ta có thể đặt vấn
đề một cách xác đáng rằng, trong một
chế độ dân chủ, liệu các công chức cao cấp
có c̣n phải chịu trách nhiệm trực tiếp
trước luật pháp, đối với quốc hội
và công chúng, để trong một vài trường hợp
nào đó, trách nhiệm này sẽ phải được
đặt cao hơn sự phục tùng theo thứ bậc
quyền hạn. Một công chức sẽ phải xử
sự thế nào khi lệnh trên hàm chứa một sự vi
phạm pháp luật, một sự lừa dối quốc
hội hoặc sự xâm phạm đến quyền
lợi của những người mà họ có bổn
phận phải phục vụ? Những thí dụ vừa
kể đă cho ta thấy những mâu thuẫn có thể
xảy ra giữa hai loại trách nhiệm: giữa trách
nhiệm của một công chức hành chánh và trách nhiệm
của một công dân trong một chế độ dân
chủ. Trong thực tế, nhiều công chức đă
sử dụng phương cách cho ṛ rỉ thông tin
để giải quyết thế kẹt này. Thực
tế này lại càng cho thấy sự cần thiết
phải cho thông qua một đạo luật nhằm
bảo vệ những người cung cấp thông tin
nằm trong bộ máy hành pháp.
*Vấn
đề thứ ba: là phương thức
tuyển chọn công chức hành chính cao cấp trong một
chế độ dân chủ. Để bảo đảm nhân
phẩm, các công chức sẽ được tuyển
chọn trong số các ứng viên có tŕnh độ
đại học hoặc được đào tạo và
có khả năng chuyên môn thích ứng, dĩ không phụ
thuộc vào thành phần đảng phái của họ.
Nếu phương cách tuyển chọn này trong một
chừng mực nào đó có thể bảo đảm
rằng các ứng viên trúng tuyển thuộc về thành
phần trí thức ưu tú th́ người ta cần
giữ để sao cho nó không chỉ ưu đăi một
số thành phần xă hội nào đó. Trong một chế
độ dân chủ, nhà chức trách cần phải
phản ảnh cấu trúc xă hội. Theo nguyên tắc b́nh
đẳng chính trị th́ mọi việc ở các công
sở phải rộng mở đối với mọi
người không phân biệt họ thuộc thành phần xă
hội nào. Điều này đ̣i hỏi phải có những
biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa
sự kỳ thị, để bảo đảm thực
thi sự b́nh đẳng giữa các giới phái trong hệ
thống giáo dục cũng như trong việc tuyển
chọn công chức cho các cơ quan.
46. Công dân có phương tiện nào
để buộc các cơ quan chính phủ phải làm tṛn
trách nhiệm đă được giao phó?
Người
dân trong một chế độ dân chủ có nhiều
phương tiện hữu hiệu để đối
phó với những đại diện của các cơ quan
công quyền một khi quyền lợi của họ
bị một quyết định phi pháp hoặc một
lỗi lầm của bộ máy hành chính (cẩu thả,
chậm trễ, tùy tiện, ...) xâm phạm. Gặp
trường hợp lạm quyền, người dân có
thể kiện sự vụ ra ṭa án. Gặp trường
hợp cơ quan hành chánh làm sai, người dân có thể
nhờ vị dân biểu của đơn vị bầu cử
của ḿnh hoặc các cơ sở trung gian ḥa giải can
thiệp. Cơ sở trung gian ḥa giải là nơi có trách
nhiệm cứu xét đến nơi đến chốn
những khiếu nại của những công dân cho rằng
ḿnh bị chính quyền chèn ép. Mới đây có thêm Hiến
Chương Công Dân ra đời để quy định
việc bồi thường cho những người (tiêu
thụ) phải chịu thiệt tḥi do sự thiếu trách
nhiệm của những cơ quan cung cấp dịch
vụ công cộng, khi các cơ quan này cung cấp cho họ
trợ cấp thấp hơn mức luật pháp quy
định.
Trên đây
chúng ta đă chỉ nêu những thí dụ liên quan
đến loại trách nhiệm về tiêu thụ và đ̣i
hỏi những cam kết phải đặc biệt
được tôn trọng. Loại trách nhiệm này khác
với loại trách nhiệm tập thể mà chúng ta đă
có dịp xem qua trong phần 38. Nh́n chung những thí dụ
này nhắc nhở chúng ta rằng, dân chúng trong tổng
thể của nó là khách hàng của những dịch vụ
cung cấp bởi các cơ quan công quyền, và nói cho cùng th́
người lănh đạo quốc gia cũng phải có
bổn phận báo cáo với dân chúng về việc thực
hiện những trách nhiệm về tư pháp, chính trị
và tài chính.
47. Làm thế nào để bảo
đảm sự kiểm soát của một chính quyền
dân sự đối với quân đội?
Ở
tại các quốc gia có truyền thống dân chủ
vững chắc, nghĩa là tại những xứ mà lằn ranh giữa
lănh vực chính trị và quân sự được
định nghĩa thật rơ ràng và được bảo
vệ một cách chu đáo, sự kiểm soát của chính
quyền dân sự đối với quân đội sẽ
không gặp nhiều khó khăn ngoại trừ một vài
trường hợp có tranh chấp nhỏ liên quan
đến việc mua vũ khí, định mức quân
số, điều kiện sinh hoạt của quân
đội. Trong khi đó lịch sử tại các quốc
gia dân chủ tân lập lại thường ghi nhận
những vụ đảo chính, những chế độ
quân phiệt, ở đó thành phần chính phủ và
những chính sách dự tính đều phải đưa
qua cho các lănh tụ quân đội duyệt xét. Bài toán quân
đội lạm quyền tại những nước này
hầu như khó có thể giải quyết
được. Ở bất cứ ở nước nào
cũng vậy, quân đội luôn luôn có nhiều
phương tiện vật chất và tổ chức để
có thể phế bỏ những vị lănh đạo chính
trị dân cử, tiếm chiếm quyền lực và
đặt dân chúng dưới sự điều khiển
của họ. Như thế vấn đề mà chúng ta đang
bàn phụ thuộc rất lớn vào thiện chí của
quân đội trong việc hành xử cho đúng với vai
tṛ của ḿnh.
Làm cách nào
để thuyết phục quân đội theo chiều
hướng này? Người ta khó có thể bảo
đảm sự phục tùng của quân đội
đối với giới lănh đạo chính trị dân
cử bằng cách chỉ dạy họ rằng quân
đội cần giữ thế phi chính trị, hoặc
mua chuộc họ bằng lương cao, vị thế
lớn, hay bằng cách trang bị những hệ thống
vũ khí tinh vi cho họ. Sự bất b́nh trong quân
đội hiếm khi gây ra những cuộc đảo
chánh mặc dù đôi khi nó cũng đóng một vai tṛ xúc
tác thêm. Thường quân đội đứng lên lật
đổ chính phủ dân sự khi đất nước
bị khủng khoảng nặng nề và lâu dài mà cả
những người cầm quyền lẫn các cơ quan
(dân sự) đều bó tay: nội chiến, lạm phát
triền miên, trật tự xă hội rối loạn, tham nhũng
lộ liễu và sâu rộng. Quân đội cũng có
thể đảo chính để ngăn chặn một
chính đảng cực đoan thắng cử và lên cầm
quyền. Trong cả hai trường hợp vừa nêu
nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp của quân
đội không xuất phát từ bản chất của
quân đội mà do chế độ dân chủ quá yếu
kém khiến cho các cơ chế của nó không làm việc
đúng đắn được.
Dù thế
nào, một chính phủ quân đội tốt lắm
cũng chỉ đem lại phương thuốc tạm
và không thể là một giải pháp lâu bền cho những
vấn đề của xă hội. Có thời, cách đây
khoảng mười hay hai mươi năm, người
ta có mốt ca ngợi quân đội là đầu tàu trong
công cuộc canh tân kinh tế và xây dựng quốc gia, và
đem nó ra để đối chọi với cơ
chế chính trị dân chủ đầy rẫy tham
nhũng và chia rẽ. Nhưng quân đội đă không
thể đem lại cho chính phủ một tư thế
chính danh trong việc cầm quyền, chưa kể
rằng bản tổng kết về hoạt động
của các chính quyền quân sự rất thê thảm. Không
phải khi điều hành quốc gia một cách bất
cần dư luận và trong sự bí mật mà người
ta có thể đối phó hữu hiệu được
với nạn tham nhũng. Ngược lại,
điều này c̣n có thể bao che cho tham nhũng nữa.
Chính phủ quân sự cũng không bảo đảm
được cả cho những hoạt động kinh tế
trong sạch nữa. Sau hết cần phải biết
rằng, các chính phủ quân sự cũng có thành tích vi
phạm nhân quyền nghiêm trọng, là điều khó có
thể chấp nhận đối với mọi h́nh
thức chính phủ hoạt động dựa trên sự
trong sáng.
Chúng ta
hiện không có giải pháp nào đáng tin cậy hơn
để thay thế tiến tŕnh từng bước
củng cố các cơ chế dân chủ, củng cố
một chính quyền hợp hiến và củng cố nguyên
tắc thượng tôn pháp luật, mà trong trường
hợp thất bại, chúng ta sẽ phải nhờ
đến sự hỗ trợ của cộng đồng
thế giới. Để giải quyết các mâu thuẫn chính
trong xă hội chúng ta cũng không có phương tiện nào
khác hơn là t́m một giải pháp chính trị dựa trên
sự thương lượng và thỏa thuận. Song song
với phương thức này chúng ta cần định ra
những phương thức hữu hiệu hơn
nữa, cả trên b́nh diện quốc gia lẫn quốc
tế, để truy ra và trừng phạt những vi
phạm nhân quyền trầm trọng nhất, đặc
biệt đối với những vi phạm của nhân
viên trong bộ máy chính phủ, và để chế tài
những chế độ dung dưỡng cho sự vi
phạm nhân quyền đó.
48. Cơ quan t́nh báo có chỗ đứng
trong một chế độ dân chủ không?
Về
mặt nguyên tắc, dân chủ không chấp nhận bất
cứ h́nh thức hoạt động bí mật nào của
chính quyền. Nhưng các quốc gia dân chủ nào cũng
bắt buộc phải có những hoạt động
ngầm để bảo vệ cho người dân
trước những đe dọa đến từ
nước ngoài, từ những tổ chức phạm pháp
hoạt động trong phạm vi lănh thổ quốc gia,
hoặc những âm mưu lật đổ nhắm vào các
cơ chế dân chủ. Loại hoạt động bí
mật này sẽ dẫn đến việc áp dụng
những phương thức xâm phạm vào quyền công dân
bao gồm việc giám sát và dọ thám bằng điện
tử, nghe lén điện thoại đến đủ
mọi tṛ gian xảo khác. Do bản chất bí mật,
những hoạt động này lại càng dễ bị
lợi dụng vào những mục đích khác với
mục đích được luật pháp cho phép chính
thức và có thể bị đem áp dụng đối
với những hoạt động hoặc những
tổ chức chính trị hoàn toàn hợp pháp nhưng
bị chính quyền đương thời xem là đi
ngược với chính sách của họ.
Như vậy
vấn đề được đặt ra ở đây
phụ thuộc vào sự kiểm soát về mặt chính
trị đối với các loại hoạt động bí
mật này. Chỉ quy định chung chung rằng những
hoạt động an ninh phải chịu trách nhiệm
trước quốc hội hoặc trước một hay
nhiều bộ trưởng chưa đủ. Cần
phải thành lập một ủy ban đặc biệt
của quốc hội - có thể nhóm họp bí mật
bất cứ lúc nào thấy có nhu cầu cần thiết -
để giám sát các loại hoạt động này cũng
như kiểm soát việc thực sự áp dụng
những quy định đă được công bố
trước công chúng đối với loại hoạt
động này. Ngoài ra ủy ban trung gian này phải có
được thẩm quyền giải quyết những
khiếu nại của người dân về những hành
vi theo dơi các hoạt động hoàn toàn hợp pháp của
họ khi họ có đủ lư do để chứng minh
rằng hành vi này xâm phạm đến quyền công dân
của họ.
49. Tại sao các đơn vị hành chánh
địa phương lại quan trọng đối
với nền dân chủ?
Để
bảo đảm tính năng động, một quốc
gia theo chế độ dân chủ cần phải có
những đơn vị hành chánh địa phương
(tỉnh, quận, xă) được người dân
bầu lên v́ những lư do sau đây. Cơ chế
đại diện địa phương gia tăng thêm
khả năng tham gia vào diễn tŕnh quyết định
những công việc chung cũng như số người
tham gia vào diễn tŕnh ấy. Do tính bám rễ địa
phương mà các cơ chế này dễ đáp ứng các
nhu cầu và những đặc thù của địa
phương hơn là chính quyền trung ương của
b́nh diện quốc gia. Cơ chế này cũng cho phép
đem thử nghiệm một vài chính sách trong một
phạm vi nhỏ của địa phương và nếu
thành công có thể đem áp dụng tại những
địa phương khác kể cả việc áp dụng
trên b́nh diện toàn quốc. Ngoài ra cơ chế này cũng
được dùng làm thước đo thử sức
những người muốn có sự nghiệp chính
trị trên b́nh diện quốc gia và cũng cho phép các chính
đảng thua cuộc trong cuộc đầu phiếu
toàn quốc có thể rút về các thành tŕ địa
phương của họ. Sau hết, để giới
hạn sự tập trung quyền hành vào tay chính quyền
trung ương, theo tinh thần của hiến pháp, cơ
chế này c̣n mở nguyên tắc phân quyền ra về
chiều rộng. Nh́n riêng rẽ, mỗi đặc tính này
đều rất quan trọng; khi gộp chung lại, chúng
cho thấy lợi ích không thể phản bác được
của các đơn vị hành chánh dân cử địa
phương.
Song, các
thế lực hùng hậu tại các quốc gia trên thế
giới hiện nay lại đang muốn tập trung
diễn tŕnh quyết định chính trị vào tay trung
ương. Do đó những người có trách nhiệm
về tài chánh trong các chính quyền thường t́m cách
kiểm soát tổng khối lượng chi tiêu trong lănh
vực công, một phương cách được họ
xem là phương tiện quan trọng để
điều hành nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra chính
quyền trung ương khó mà chấp nhận để cho
các đối thủ chính trị có thể tạo cản
trở đối với các chính sách của họ hoặc
làm giảm ảnh hưởng của những chính sách này
tại địa phương. Sau hết, trong một xă
hội ngày càng có nhiều chuyển động,
người dân ngày càng khó chấp nhận sự cách
biệt quá lớn về mặt dịch vụ công cộng
giữa các địa phương. Sự b́nh đẳng
giữa các công dân đ̣i hỏi phải có sự b́nh
đẳng về những dịch vụ mà họ
được hưởng. Để thực hiện sự
b́nh đẳng vừa kể, nếu bên cạnh các quy
định chung lại c̣n bắt các địa
phương phải chấp nhận một sự
điều phối đáng kể về tài nguyên cho nhau, th́
sự tự trị của các đơn vị hành chánh
địa phương sẽ bị sút giảm một cách
đáng kể, và kèm theo đó là sự giảm sút về
khả năng chọn lựa của cử tri trong các
cuộc đầu phiếu.
Chúng ta không
có một phương thức giải quyết nào vừa
đơn giản vừa có khả năng áp dụng chung
để giải quyết những ưu tiên xung khắc
vừa nêu. Tuy nhiên, nếu chúng ta ư thức rằng hiện
nay những áp lực mạnh nhất xuất phát từ
phía những người ủng hộ tập quyền, th́
quyền lợi của những đơn vị hành chánh
địa phương mới đáng được
bảo vệ hơn cả. Một sự bảo vệ
tối thiểu sẽ phải có đủ những
đặc điểm sau đây: cử tri có thể
hiểu một cách rơ ràng và dễ dàng về sự phân chia
nhiệm vụ giữa các cơ quan quyền lực trung
ương và địa phương; địa
phương phải có đủ quyền và đủ
phương tiện để có thể thực hiện
những trách vụ của ḿnh trong khuôn khổ phải
lưu tâm đến nhu cầu đặc thù của
địa phương và những quy định quốc
gia đang có hiệu lực. Muốn bảo vệ
quyền lợi địa phương người ta
cũng cần dự pḥng những phương cách thích
hợp để cho các đại diện trách nhiệm của
đơn vị hành chánh địa phương có thể
báo cáo cho cử tri về các hoạt động của
họ. Ngoài ra cũng cần phải có một đạo
luật nhằm ngăn ngừa chính quyền trung
ương lấn bước sang những đặc
quyền của địa phương; Có thể giao cho
một ṭa án hiến pháp giám sát việc áp dụng
đạo luật này. Sau cùng và quan trọng hơn cả,
tính chất của quan hệ giữa cơ quan quyền
lực trung ương và địa phương phụ
thuộc chính yếu vào thái độ hợp tác và sự
công nhận lẫn nhau trên các lănh vực thẩm quyền
của nhau - hơn là chấp nê với nhau về pháp lư.
50. Chế độ liên bang thích hợp
trong những điều kiện nào?
Chế
độ liên bang dựa trên nguyên tắc phân chia lănh
thổ quốc gia thành nhiều tiểu bang riêng biệt,
mỗi tiểu bang có một quốc hội dân cử và
một bộ máy hành pháp riêng. Mỗi một quốc
hội tiểu bang có quyền biểu quyết về
mức độ thuế và việc thu thuế căn
cứ vào sự phân chia quyền hạn giữa những
tiểu bang và chính quyền trung ương quốc gia
được quy định bởi hiến pháp. Lịch
sử cho thấy các quốc gia theo chế độ liên
bang đă được h́nh thành theo nhiều cách khác nhau:
qua sự hợp nhất những nước trước
đây hoàn toàn độc lập chủ quyền, hay qua
sự công nhận chế độ tự trị của
các vùng hoặc quốc gia trước đây thuộc
về một nước duy nhất, hay qua việc cùng
chấp nhận một thỏa ước dựng
nước.
Nói chung
chế độ liên bang thích hợp với những
nước có lănh thổ rộng lớn bao gồm trong
đó những vùng mang sắc thái văn hóa và địa lư
rất khác biệt mà nằm gần nhau. Chế độ
liên bang cũng có khả năng đáp ứng
được với nhu cầu đ̣i tự trị
của các thiểu số sắc tộc hoặc văn hóa
cùng sống trong một không gian địa lư, để
tránh khỏi phải chấp nhận một sự
độc lập chủ quyền hoàn toàn. Nhiều khi
việc chấp nhận sống chung dưới một mái
nhà c̣n có lợi hơn việc chia cách hoàn toàn hoặc
mất thời giờ tranh căi với nhau tối ngày.
Người ta cũng thấy rằng một phần
lớn những lập luận ủng hộ cho việc
thành lập các quốc hội dân cử địa
phương (mà chúng ta đă vừa xét qua ở phần
trước) cũng đúng một cách xác đáng với
chế độ liên bang.
IV. Những quyền tự do cá nhân và
phương cách bảo vệ chúng
51. Nhân quyền là ǵ?
Nhân quyền
và những tự do căn bản là những quyền cá
nhân phát xuất từ các nhu cầu và khả năng
của con người. Việc công nhận nhân quyền và
việc tạo dựng những phương tiện trong
luật quốc tế để bảo vệ nhân
quyền có lẽ là những thành tựu tinh thần
lớn nhất trong thế kỷ này. Cộng đồng
thế giới đă thông một số rất lớn
những hiệp định hoặc thỏa ước
quốc tế về nhân quyền. Đây là những
phương tiện được đưa ra để
củng cố định nghĩa chính chung về việc
mở rộng Nhân quyền và các tự do căn bản
của con người và đồng thời bắt các
chính quyền phải đưa ra những biện pháp
cần thiết để bảo vệ những quyền
đó, từ pháp lư đến thực hành, tại quốc
gia của ḿnh.
Nguồn
gốc chính của những nguyên tắc về nhân
quyền là Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế
được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
thông qua vào ngày 10.12.1948. Vào năm 1966, Liên Hiệp Quốc
đă thông qua hai Công ước quốc tế khác liên quan
đến những nhân quyền được tuyên
xưng trong Bản Tuyên ngôn nêu trên, đó là các Công
ước về Quyền kinh tế, Xă hội và Văn hóa
và Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị.
Đến nay đă có hai phần ba các quốc gia trên thế
giới kư vào hai Công ước này. Ngoài ra Liên Hiệp
Quốc c̣n thông qua một Nghị Định Thư đi kèm
với Công ước về Quyền Dân sự và Chính
trị, cho phép cá nhân được quyền khiếu
nại lên Ủy ban Nhân quyền (của Liên Hiệp
Quốc) là cơ quan có trách nhiệm (do Công ước qui
định) kiểm soát sự vi phạm nhân quyền
của các quốc gia. Song việc cầu cứu
đến Ủy ban Nhân quyền chỉ có thể xảy
ra khi quốc gia liên hệ đă chấp nhận kư kết
cả Công ước lẫn Nghị định thư,điều
mà đến nay chỉ mới có một số ít các
quốc gia chịu làm.
Toàn thể
các Công ước này. Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế,
hai bản Công ước và Nghị định thư
hợp thành cái mà chúng ta gọi là Hiến chương
Quốc tế về Nhân quyền. Sau hết nhân quyền
c̣n là chủ đề của nhiều thỏa ước
quốc tế và hiệp ước vùng như Công
ước Mỹ châu về Nhân quyền, Hiến
chương Phi châu về Nhân quyền và Dân tộc, Công
ước Âu châu về Nhân quyền, mà nếu đem ra khai
triển th́ sẽ vượt quá khuôn khổ của bài này.
52. Nhân quyền được phân loại
ra sao?
Có nhiều
cách để phân loại Nhân quyền nhưng cách phân
loại hiện được chấp nhận chung là phân
chia chúng thành nhóm quyền dân sự, quyền chính trị,
quyền xă hội, quyền kinh tế và quyền văn
hóa. Đây là cách phân loại được dùng trong Hiến
chương Quốc tế về Nhân quyền.
Quyền dân
sự và chính trị bao gồm quyền sống, việc
nghiêm cấm sự tra tấn cá nhân, nghiêm cấm
cưỡng bức lao động, việc được
bảo vệ trước sự bắt bớ tùy tiện,
tự do tư tưởng, tự do tinh thần, tự do
tôn giáo và tín ngưỡng, quyền được tôn
trọng có cuộc sống riêng tư, tự do ngôn
luận, tự do lập hội và tự do được
tham gia vào việc công. Nói một cách tổng quát quyền
dân sự và chính trị nhằm bảo đảm không cho
các cơ quan công quyền can thiệp vào đời sống
của các cá nhân hoặc vào hoạt động của các
nhóm người. Ngoài ra việc bảo vệ những
quyền này c̣n đ̣i hỏi các cơ quan công quyền
phải tạo ra các phương tiện thí dụ như
bảo đảm về mặt tài chính cho một hệ
thống trợ giúp pháp lư dành cho những người nghèo
hoặc những người không có đủ khả
năng (tài chính) để tự lo liệu lấy sự
biện hộ trước ṭa. Một loại h́nh thức
hoạt động khác của các cơ quan công quyền là
việc tài trợ bằng công quỹ để cho các nhóm
thiểu số có tiếng nói trên các phương tiện
truyền thông.
Trong số
các quyền xă hội và văn hóa người ta có thể đặc
biệt kể đến quyền được có
thực phẩm, quyền được bảo vệ
sức khỏe, quyền được có một mức
sống tạm đủ, quyền được trả
lương đồng đều cho một công việc
tương tự, quyền được bảo trợ
xă hội, quyền được làm việc, quyền
đ́nh công, quyền có chỗ ở, quyền
được đi học và quyền được tham
gia vào đời sống văn hóa. Nói chung những
quyền về xă hội và văn hóa nhằm bắt các
cơ quan công quyền phải có trách nhiệm thực
hiện các quyền này khi các cá nhân, v́ lư do thất
nghiệp hoặc tàn tật, không thể tự đáp
ứng các nhu cầu của họ được
nữa.Những nhân quyền nêu trên cùng tuân theo một nguyên
tắc quan trọng, một nguyên tắc không thể tách
rời khỏi nhân quyền, là không một ai dù thuộc
giới tính, chủng tộc, tôn giáo và tín ngưỡng nào
lại có thể bị phân biệt đối xử khi
hành xử các nhân quyền của họ.
53. Có nhân quyền nào được xem là
quan trọng hơn các nhân quyền khác không?
Câu trả
lời tốt nhất là tất cả các nhân quyền
được công nhận trên b́nh diện quốc tế
đều có ràng buộc với nhau và củng cố
lẫn cho nhau. Những quyền mà các công dân
được xem như là đă có được phụ
thuộc vào tŕnh độ phát triển của của xă
hội trong đó những quyền đó đang tiến
triển cũng như phụ thuộc vào quyền có
được một đời sống tạm
đủ và những quyền đủ ăn, đủ
mặc, có nhà ở và được giáo dục tại các
quốc gia giàu có.
Ngược
lại tại những nước nghèo, những quyền
này trước mắt vẫn c̣n là mối bận tâm
của các cá nhân. Cần nói rằng trong các xă hội dân
chủ, các quyền kinh tế và xă hội là những
quyền căn bản cần được bảo
vệ ngang bằng như những quyền căn bản
khác như quyền dân sự và chính trị sơ
đẳng, quyền được cai trị theo nguyên
tắc thượng tôn pháp luật, quyền
được bảo vệ khỏi bị bắt và giam giữ
một cách độc đoán, quyền có tự do ngôn
luận và tự do lập hội. Theo công pháp quốc
tế, mọi chính phủ có bổn phận khuyến khích
sự tôn trọng cá quyền cá nhân dành cho mọi công dân mà
không có phân biệt.
54. Nhân quyền có tính phổ quát không?
Câu hỏi
được đặt ra là liệu nhân quyền có là
quyền của mọi người ở mọi nơi
không? Câu trả lời là có. Những tiêu chuẩn quốc
tế về nhân quyền có liên quan đến toàn bộ
những nhu cầu chung của con người cũng
như mọi khả năng của các cá nhân mà không phân
biệt cá nhân này đang sống tại quốc gia nào. Rơ
ràng thế giới của chúng ta bao gồm nhiều vùng và
nhiều văn hóa khác nhau, gồm cả nước giàu
lẫn nước nghèo. Có người cho rằng những
tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền chỉ liên
quan đến cá nhân và như thế không thể nào dung ḥa
được với những nền văn hóa chỉ xem
cá nhân là một phần tử không thể tách rời
được của cộng đồng và chỉ chú
trọng đến bổn phận của cá nhân
đối với cộng đồng mà thôi. Câu hỏi
liệu quan niệm (quốc tế) hiện nay về
quyền cá nhân có làm các xă hội thay đổi quan niệm
về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng
đang là một đề tài tranh luận sôi nổi
diễn ra tại cả những quốc gia phương
Bắc (giàu) lẫn phương Nam (nghèo).
Sự thay
đổi rơ ràng đă xảy ra mặc dù không có ǵ
chứng minh rằng việc công nhận hay bảo vệ
quyền cá nhân gây ảnh hưởng xấu đến
sự đoàn kết giữa những con người
hoặc trong xă hội. Ngược lại những
chuẩn mực liên quan đến quyền phổ quát
của cá nhân lại c̣n nhắm đến việc bảo
vệ các nhóm người và các dân tộc khi thừa
nhận sự cần thiết của việc kết
nối cá nhân vào chung với đồng loại để
cùng thực tập một ngôn ngữ riêng hoặc thừa
nhận việc đồng nhất một cá nhân với
tập thể cùng văn hóa, cùng tông giáo hay cùng nếp
sống với nó. Luật quốc tế về nhân
quyền công nhận ngay từ bước khởi
đầu một số các quyền chung cho mọi
người nhưng sau đó c̣n tiến xa hơn khi công
nhận và chứng duyệt cho các nền văn hóa và các dân
tộc bản địa được quyền thăng
hoa và phát triển.
Bản Tuyên
ngôn Nhân quyền Quốc tế cũng đề cập
đến những bổn phận của cá nhân
đối với cộng đồng. Bản Tuyên ngôn này
khẳng định rằng nhân cách của một cá nhân
chỉ có thể thăng hoa và phát triển một cách
tự do và đầy đủ trong một cộng
đồng được họ cùng nhiều người
khác dựng nên. Tuy nhiên khái niệm về nhân quyền
chỉ phát sinh từ khi có sự khẳng định
rằng mỗi cá nhân sinh ra đều có giá trị không ǵ
thay thế được.
Có
người giải thích rằng sự chống
đối đặc tính phổ quát của nhân quyền
phát xuất từ thực tế các nền văn hóa có quan
niệm khác nhau về bổn phận và quyền lợi
của cá nhân. Cách giải thích này chưa thực
đủ. Điểm chính là các nền văn hóa đă quan niệm
trái ngược nhau về việc đặt cá nhân cao
hơn cộng đồng. Lẽ dĩ nhiên, tùy nền
văn hóa người ta có thể có cách diễn đạt
khác nhau về những khía cạnh của nhân quyền
nhưng người ta không thể nghi ngờ tính phổ
quát của nó. Những chỉ trích và chống đối
vừa nêu c̣n được phụ trợ bởi thực
tế hiển nhiên là các quốc gia trên thế giới
thường có phản ứng thiếu công bằng
đối với những vi phạm nhân quyền. Việc
lên án vi phạm nhân quyền thường phụ thuộc
vào tương quan lực lượng giữa các quốc
gia. Nói cách khác các quốc gia thường tỏ ra nghiêm
khắc đối với sự vi phạm nhân quyền
tại các quốc gia thù địch và bỏ qua cho các quốc
gia đồng minh. Để vận động
được sự ủng hộ của toàn thể các
quốc gia cho một trật tự quốc tế dựa
trên sự tôn trọng nhân quyền chúng ta phải thiết
lập được một cơ chế quốc tế
có khả năng đánh giá một cách khách quan và không
đăi lọc cung cách mà các quốc gia hoàn thành trách nhiệm
bảo vệ những tiêu chuẩn nhân quyền phổ
quát.
Hội
nghị Quốc tế về Nhân quyền ở Vienne
thủ đô Áo quốc vào tháng 6.93 đă đưa ra
những xác quyết quan trọng về nhân quyền và
bổn phận của cộng đồng quốc tế:
Tất cả mọi nhân quyền đều phổ quát,
bất khả phân (không thể tách rời nhau), phụ
thuộc lẫn nhau và ràng buộc chặt chẽ với
nhau. Cộng đồng quốc tế phải bàn bạc
giải quyết vấn đề nhân quyền một cách
toàn cầu, công minh, cân đối, b́nh đẳng và xem
mọi nhân quyền quan trọng như nhau. Không bỏ quên
sự quan trọng của đặc thù quốc gia và
địa phương cũng như sự đa dạng
về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, các
quốc gia - bất kể theo chế độ chính
trị, kinh tế và văn hóa nào, đều có bổn
phận khuyến khích, xúc tiến và bảo vệ nhân
quyền cũng như mọi quyền tự do căn
bản (Tuyên ngôn và Chương tŕnh Hành động,
điều 5).
55. Cộng đồng quốc tế có
thể bày tỏ sự quan tâm chínhđáng của ḿnh về
cách thực thi nhân quyền tại một quốc gia nào
đó không?
Nguyên tắc
không can thiệp vào nội t́nh các quốc gia là một trong
những nguyên tắc căn bản của trật tự
quốc tế mới, theo như Hiến chương
của Liên Hiệp Quốc đă quy định.
Tuy nhiên,
sự phát triển của phong trào bảo vệ nhân
quyền trên b́nh diện thế giới và sự mở
rộng thường xuyên các tiêu chuẩn về nhân
quyền trên phạm vi thế giới đă là một
sự công nhận chính thức các công ước về nhân
quyền.
Do đó cung
cách đối xử với các công dân sẽ
được đưa lên khỏi phạm vi nội
bộ của quốc gia và trở thành đối
tượng của sự phê b́nh của các chính phủ khác
cũng như các tổ chức phi chính phủ. Điều này
hoàn toàn không thể xem là sự can thiệp vào nội
bộ của các quốc gia. Hội nghị Quốc tế
về Nhân quyền đă xác nhận rằng sự khuyến
khích, xúc tiến và bảo vệ tất cả các nhân
quyền là mối bận tâm chính đáng của cộng
đồng quốc tế (Tuyên ngôn và Chương tŕnh Hành
động, điều 4).
56. Nhân quyền liên quan ra sao với dân
chủ?
Theo Hội
nghị Quốc tế về Nhân quyền, quyền con
người và dân chủ (cũng như sự phát triển
về kinh tế) phụ thuộc và hỗ trợ lẫn
nhau. Nói cách khác, hiên nay cộng đồng quốc tế
đă nh́n nhận rằng việc bảo vệ nhân
quyền và nguyên tắc thượng tôn pháp luật - không
phải chỉ ở tại các quốc gia phát triển mà
c̣n ở các quốc gia đang phát triển - chỉ có
thể hữu hiệu nếu bảo vệ
được các nguyên tắc dân chủ. Văn bản
của Hội nghị cũng cho thấy rằng việc
thực thi nhân quyền và các quyền tự do của con
người rất cần để cho nền dân chủ
có thể hoạt động tốt. Chỉ mới đây
thôi có người c̣n cho rằng nhân quyền có thể
được thực thi và bảo vệ tại các
quốc gia không dân chủ, đặc biệt khi sự phát
triển kinh tế được ưu tiên. Bằng
chứng thường thấy là chẳng chóng th́ chầy
các chế độ này sẽ mất đặc tính khoan
dung và trở thành một chế độ đàn áp, tham
nhũng và mất ổn định.
Thực ra
quan niệm cho rằng dân chủ và nhân quyền có liên quan
chặt chẽ với nhau không phải chỉ mới
xuất hiện sau này. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc
tế năm 1948 cũng đă ghi lên sự bảo vệ
chính quyền dân chủ. "Ư nguyện của toàn dân là
cơ sở cho quyền lực quốc gia" (đ. 21) là
một trong những lư tưởng được ghi vào
Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế. Công ước Quốc
tế về Quyền Dân sự và Chính trị bắt
buộc các quốc gia phải bảo đảm cho mỗi
công dân nước họ quyền và phương tiện
để "tham gia vào việc điều hành việc
công -dù là trực tiếp hay gián tiếp thông qua những
người đại diện đă được
chọn lựa một cách tự do-, được
bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu
cử trong sạch được tổ chức
định kỳ, và có thể đạt đến
được các chức vụ công trong những
điều kiện công bằng."
Việc công
nhận một cách rơ ràng quan hệ phụ thuộc
giữa quan niệm về quyền cá nhân trong luật
quốc tế và quan niệm căn bản về thể
chế dân chủ là một trong những tiến bộ quan
trọng nhất xuất hiện trên lănh vực bang giao
quốc tế kể từ khi chiến tranh lạnh
chấm dứt. Tương tự như vậy việc
tập thể các quốc gia đang phát triển cùng nh́n
nhận rằng quyền phát triển chỉ có thể
được thực hiện thông qua việc tôn trọng
nhân quyền và các nguyên tắc dân chủ là một tiến
bộ thêm nữa trên b́nh diện quốc tế trong giai đoạn
hậu chiến tranh lạnh.
57. Các quyền dân sự và chính trị liên
quan ra sao với dân chủ?
Trong một
chế độ dân chủ, việc bảo đảm các
quyền dân sự và quyền chính trị của
người dân mang 2 nhiệm vụ. Thứ nhất, các
quyền này rất quan trọng nếu người ta
muốn tôn trọng 2 nguyên tắc dân chủ căn bản,
đó là nguyên tắc về sự kiểm soát của dân
chúng và nguyên tắc về b́nh đẳng chính trị khi
cần lấy quyết định tập thể.
Thứ hai, những
quyền và tự do này sẽ giới hạn phạm vi
hoạt động của tập thể bằng cách
định ra những phạm vi tự do và phạm vi
lựa chọn của cá nhân nằm ngoài tầm quyết
định của tập thể. Để giải thích
nhiệm vụ đôi này chúng ta thử xét qua một số
quyền dân sự và quyền chính trị có liên hệ
mật thiết với chế độ dân chủ.
(i) Tự do
và an toàn bản thân: Nếu không được
bảo vệ khỏi bị bắt bớ, tù, đầy,
trục xuất một cách độc đoán, th́
người dân sẽ không thể vững tâm tham gia vào
những cuộc tranh luận hoặc các hoạt
động chính trị. Do đó những thành viên của
khối lập pháp - tức là các dân biểu - phải
được hưởng quyền bất khả xâm
phạm về pháp lư trong khi thi hành nhiệm vụ. Song,
trong chế độ dân chủ, việc tôn trọng
quyền tự do lại là một nguyên tắc cần
được áp dụng cho mọi người trong đó
có cả những người bị quan điểm chung
loại ra - những người mà sự tự do và
sự toàn vẹn thể xác cần được bảo
vệ. Nguyên tắc này cũng luôn thách thức quan
điểm của khối đa số.
(ii) Những
bảo đảm cho thủ tục tố tụng hợp
thức: Những lư luận vừa nêu cũng
được dùng để biện minh cho sự cần
thiết phải bảo vệ người dân trước
những lời buộc tội vô căn cứ, những
cách đối xử sai trái, trước sự tra tấn
và những phiên xử thiếu công bằng. Trong các chế
độ mà các nguyên tắc dân chủ không được
tôn trọng, các đối thủ chính trị của
chế độ thường hay bị đưa ra ṭa.
Một xă hội dân chủ đ̣i hỏi phải có một
hệ thống tư pháp độc lập và đ̣i
hỏi sự vận hành của các ṭa án h́nh sự phải
dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, tránh
những ảnh hưởng và lèo lái về chính trị và ư
thức hệ.
(iii) Tự
do tư tưởng và tự do tinh thần: Trong một
xă hội dân chủ mỗi người có quyền tự
do suy nghĩ và gắn bó với những tư tưởng
hoặc triết lư sống tùy sở thích. Một xă hội
dân chủ cũng công nhận cho cá nhân quyền tự do
được tụ hợp với những người
khác thành một tôn giáo hoặc một tín ngưỡng,
quyền tự do thuyết giảng và thực hành những
niềm tin của ḿnh. Các quyền tự do này chỉ có
mỗi một giới hạn, đó là quyền tự do
của những người khác. Quyền tự do tư
tưởng cần được bảo vệ trong
mọi t́nh huống, cần được bảo vệ
như là quyền của cá nhân trước các niềm tin
khác của khối đa số, dù cho các niềm tin đó
có mạnh đến đâu hoặc có mang sắc thái tôn
giáo hay không. Điều này cần đặc biệt áp
dụng cho những cộng đồng thiểu số có
những tín ngưỡng và niềm tin khác biệt nhưng
cũng phải được hưởng những
bảo đảm giống như cộng đồng đa
số.
(iv) Tự do
phát biểu và tự do truyền thông: Như ta
đă biết, điều cốt yếu trong một
chế độ dân chủ là mỗi người dân
phải có được một tiếng nói và mọi
tiếng nói phải có quyền được phát biểu
b́nh đẳng như nhau. Nếu công nhận cho mỗi
người dân khả năng được phát biểu
th́ quyền tự do phát biểu là một quyền cá nhân
căn bản. Những tiêu chuẩn quốc tế về
tự do ngôn luận không chỉ bảo đảm
quyền phát biểu một quan điểm mà c̣n bao gồm
cả "quyền t́m kiếm và tiếp nhận mọi
thông tin và ư tưởng, bằng mọi phương
tiện và qua mọi biên giới". Đối với các xă
hội tân tiến, quyền này cũng hàm ư là các
phương tiện truyền thông đại chúng phải
được độc lập, và, trong sự tôn
trọng những quy ước được định
ra một cách rơ ràng để bảo vệ thanh danh và
đời tư của cá nhân, các phương tiện truyền
thông này được tự do thông tin đến
người dân, chỉ trích chính quyền, mở ra các
cuộc tranh luận đủ loại để giúp
người dân định hướng tổng quát trong xă
hội mà họ đang sống.
Sự trong
suốt trong cách vận hành guồng máy chính quyền trong
thể chế dân chủ cũng được củng
cố bằng nguyên tắc tự do thông tin. Tự do thông
tin cũng bao hàm rằng những nguồn thông tin và tài
liệu xuất phát từ chính quyền không bị xếp
loại "mật" hoặc đang c̣n giữ trong ṿng
bí mật và công chúng có quyền tự do xem xét những tài
liệu này ngoài một số đă được quy
định chặt chẽ (xx thêm phần 37).
(v) Tự do
tụ tập và tự do lập hội: Những
chế độ dân chủ đại diện hiện nay
sẽ không thể hoạt động được
nếu không bảo đảm cho người dân quyền
tự do tụ họp để bàn thảo về các
vấn đề quốc gia, để thành lập các công
đoàn hoặc các hiệp hội đủ loại trong
mục đích bảo vệ quyền lợi đối
với chính quyền, cũng như để thành lập
các chính đảng và tham gia vào đó. Những quyền
tự do này cũng bao gồm cả quyền tụ tập
trong khuôn khổ của một cuộc biểu dương
lực lượng, và quyền đưa thỉnh
nguyện thư đến những người hữu
trách nhằm mục đích đ̣i hỏi giải quyết
các vấn đề bị ta thán.
58. Các quyền kinh tế và xă hội liên
quan ra sao với dân chủ?
Theo tháp dân
chủ đă được tŕnh bày ở phần trên (xx
câu 15) th́ những quyền căn bản nhằm bảo
đảm công ăn việc làm, nhà ở, thực phẩm,
mức sống khả dĩ, bảo đảm giáo dục
và thỏa măn một số các nhu cầu căn bản khác được
xem là nền tảng của xă hội dân sự. Những
cơ chế dân chủ chỉ có thể vận hành tối
hảo trong một xă hội mà phần lớn người
dân không chỉ ăn v́ đói. Một sự vận hành
hữu hiệu của chế độ dân chủ đ̣i
hỏi phải thỏa măn những nhu cầu tối
thiểu để bảo đảm sự sinh tồn.
Việc tôn
trọng các nguyên tắc dân chủ đ̣i hỏi rằng
các lá phiếu của cử tri hoặc người dân
phải có giá trị ngang nhau. Một sự chênh lệch
thái quá về mặt triển vọng của cuộc
sống cũng như về quyền được giáo
dục giữa các thành phần xă hội sẽ làm giảm
một cách đáng kể khả năng phát triển dân
chủ của một xă hội. Mặt khác, dân chủ
nếu được xem là một tiến tŕnh tập
thể sẽ cho phép ta nhận diện và sửa chữa
những bất công đó.
Điều này
cũng đúng với sự phát triển. Sự phát
triển chỉ có thể lâu dài nếu những chính sách
phát triển có đủ khả năng biện bạch
trước công chúng và nếu chúng được đem ra
áp dụng chủ yếu nhằm mục đích bảo
vệ nhân quyền và nguyên tắc thượng tôn pháp
luật (xx câu 68).
59. Trong trường hợp nào một chính
quyền dân chủ được phép giới hạn nhân
quyền?
Luật
quốc tế cho phép thực thi việc giới hạn
một số nhân quyền (nhất định) nếu
chính quyền liên hệ nêu lên được những lư do
đă được luật quốc tế định
nghĩa rất rơ ràng, thí dụ có liên quan đến
trật tự công cộng, giá trị đạo
đức, an ninh quốc gia hay việc bảo vệ
quyền lợi tha nhân. Tuy nhiên có một số nhân
quyền không thể bị giới hạn trong bất
cứ hoàn cảnh nào. Trong một xă hội dân chủ một
cá nhân, trong mọi t́nh huống, cũng không thể bị
tước một số bảo đảm cơ bản
thí dụ như các bảo đảm không bị tra tấn,
không mất tự do tư tưởng và không bị kỳ
thị.
Công pháp
quốc tế quy định rất rơ về các nguyên
tắc mà một chính phủ phải tuân theo khi muốn can
thiệp vào sự thực thi nhân quyền của
người dân hoặc muốn đ́nh hoăn áp dụng nhân
quyền. Sự giới hạn này phải được
ghi vào luật lệ quốc gia, có nghĩa nó phải có
mục đích chính đáng, phải rơ ràng phù hợp với
công pháp quốc tế hoặc phải chứng minh
được sự cần thiết để bảo
vệ các nguyên tắc dân chủ. Về mặt thực
hành, chính quyền nào muốn có quyết định như
trên th́ chính quyền ấy phải chứng minh
được rằng hành động của họ
tương xứng với nguyên nhân đă đưa họ
đi đến quyết định giới hạn
việc thực thi một quyền tự do hoặc
một nhân quyền nào đó.
Như
vậy, hành động cấm đoán một chính
đảng hoạt động không thể biện
bạch bằng bất cứ lư do nào ngoại trừ
trường hợp chính đảng đó bị xác
định thuộc về một lực lượng chính
trị có hoạt động bạo lực hoặc
nhằm chống lại hiến pháp. Một cách
tương tự, luật quốc tế chỉ cho phép
kiểm duyệt báo chí trong những trường hợp
thật đặc biệt, thí dụ như khi có một
tờ báo dự định công bố những thông tin
rất nhạy cảm, mà một ṭa án lại phán quyết
rằng nếu bị tiết lộ, chúng sẽ gây nguy
hiểm cho mạng sống của một số công dân
hoặc đe dọa nền an ninh quốc gia.
60. Trong trường hợp đặc
biệt nghiêm trọng nào th́ được phép đ́nh
chỉ nhân quyền?
Luật
quốc tế về nhân quyền cho phép tạm thời
đ́nh chỉ việc bảo đảm một số
quyền dân sự và chính trị khi quốc gia ở trong
t́nh trạng đặc biệt với tuyên bố chính
thức rằng t́nh trạng này đang đe dọa sinh
mạng của quốc gia. Những nguyên nhân
được các chính quyền dựa vào để ban hành
t́nh trạng đặc biệt thường là những mâu
thuẫn nội chính mang tính chất chính trị hay sắc
tộc đă thoái hóa thành những xung đột bạo
lực hay hành vi khủng bố. Thông thường, trong
trường hợp này các lực lượng cảnh sát
hoặc an ninh sẽ bị buộc phải tăng
cường các hoạt động bắt bớ hoặc
khám xét mà có thể dẫn đến các quyết
định bắt giam không xét xử.
Những xă
hội dân chủ thường rất ngại phải dùng
đến những quyền lực ngoại lệ nêu trên
và chỉ sử dụng các quyền lực đặc
biệt này trong trường hợp tối cần
thiết mà thôi cũng như cố gắng tối đa
để tránh những lạm dụng khi phải chọn
lựa sử dụng đến những quyền lực
đặc biệt này.
Ngay cả
trong t́nh trạng đặc biệt được mô
tả ở trên người ta cũng không được
phép vi phạm hoặc đ́nh chỉ một số nhân
quyền như quyền sống, quyền tư do tư
tưởng, tư do lương tri, quyền không bị
tra tấn hành hạ. Đây là những quyền
được xem là những quyền bất khả xâm
phạm và do đó là những nhân quyền và quyền
tự do tuyệt đối.
61. Một người có thể bị
từ chối tư cách công dân trong một chế
độ dân chủ không?
Trên nguyên
tắc một Quốc gia có quyền định ra
những điều kiện cho những ai muốn xin
hưởng quy chế làm thành viên của cộng
đồng (sắc tộc) quốc gia, c̣n gọi là quy
chế công dân, và định ra những thủ tục
để xin quyền của công dân. Song khi thi hành quyền
lực tối cao này Quốc Gia phải tránh mọi hành vi
kỳ thị và luôn chú ư để (thí dụ như) không áp
dụng một chính sách di dân dựa trên sự kỳ
thị chủng tộc. Hơn nữa Quốc gia phải
tôn trọng những hiệp định quốc tế
về việc tiếp nhận người tỵ nạn
đă được kư kết.
Một
Quốc gia có thể từ chối không cho người
(ngoại quốc) những quyền chính trị nếu
họ chưa là công dân sống trên lănh thổ đó,
mặc dù các nước dân chủ hiện có lệ cho
những người ngoại quốc từng sống một
thời gian tương đối lâu tại nước
họ có quyền tham gia vào đời sống chính trị
bao gồm cả quyền bầu cử (xx câu 21). Ngoại
trừ những quyền chính trị không cách ǵ tách khỏi
tư cách công dân, Quốc gia cần bảo đảm
để cho mọi người ngoại quốc sống
hợp pháp trên lănh thổ của nó được
hưởng mọi nhân quyền và quyền tự do căn
bản mà không hề có sự phân biệt hoặc kỳ
thị nào.
62. Quyền của các cộng đồng
thiểu số có được bảo đảm không?
Luật
quốc tế nhân quyền có ghi rơ những bảo
đảm đặc biệt cho những cộng
đồng thiểu số, dù đó là thiểu số
về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc, dân tộc hay ngôn
ngữ. Những cộng đồng thiểu số này có
quyền đ̣i hỏi quốc gia không phải chỉ tôn
trọng sự hiện diện của họ mà c̣n phải
bảo vệ bản sắc đặc thù cũng như
tạo thuận lợi cho sự phát huy bản sắc này.
Thành viên các
cộng đồng thiểu số phải được
hưởng toàn bộ các quyền dân chủ, trong đó có
quyền được tham gia vào việc điều hành
quốc gia ở trong những điều kiện b́nh
đẳng như mọi công dân khác và được tham
gia vào các quyết định liên quan đến cộng đồng
đặc thù của họ cũng như liên quan
đến khu vực mà họ đang sinh sống.
Ở trên
chúng ta vừa chỉ mới nêu lên một vài nguyên tắc
thuộc "Tuyên ngôn về Quyền của các Cộng
đồng thiểu số Dân tộc, Sắc tộc, Tôn
giáo, Ngôn ngữ" được Đại hội
đồng Liên hiệp quốc thông qua vào tháng 12.92. Rất
nhiều nếu không muốn nói là đa số các quốc
gia trên thế giới đều có các cộng đồng
thiểu số. Do đó việc tôn trọng quyền
thiểu số cũng là một trong những tiêu chuẩn
để xét về bản chất dân chủ của
một quốc gia. Do đó việc thực thi các nguyên
tắc của bản Tuyên ngôn nêu trên của Liên hiệp
quốc sẽ phải được xem như một
mục đích hàng đầu và phải được công
bố rơ ràng trong toàn quốc.
63. Về mặt thực tiễn, nhân
quyền được bảo vệ bằng cách nào?
Trong các xă
hội dân chủ, nhân quyền đă được
bảo vệ bằng những phương tiện rất
khác nhau. Luật quốc tế về nhân quyền cũng
chỉ cung cấp một số nguyên tắc, nhưng trong
đó có một nguyên tắc có tính bắt buộc là
phải giúp cho mọi người dân có thể kêu cứu,
một khi họ có cảm tưởng rằng nhân
quyền của họ bị vi phạm. Mọi
người dân phải có quyền đ̣i hỏi
được hưởng những nhân quyền nằm
trong những thỏa ước quốc tế về nhân quyền
mà chính phủ của họ đă kư kết. Ngoại
trừ một vài trường hợp ngoại lệ, các
quốc gia đều có một bản hiến pháp thành
văn, trong đó không chỉ ghi cách thức vận hành
của một cơ chế dân chủ mà c̣n định
nghĩa về các nhân quyền mà quốc gia đó cam
kết công nhận và bảo vệ. Nói chung các ṭa án là
tuyến đầu bảo vệ những nhân quyền cá
nhân được định nghĩa trong phần
"Hiến chương các quyền" của hiến pháp.
Mọi
người dân phải được quyền kiện
thưa lên ṭa án mà không hề có bất cứ hạn
chế nào, kể cả trường hợp không có
phương tiện th́ sẽ được nhận
sự trợ giúp về mặt pháp lư, để có thể
bảo vệ những quyền của họ; Những phán
quyết và ư kiến của ṭa án phải được
các cơ quan công quyền đem ra áp dụng, có nghĩa là
trong giới hạn ấn định bởi hiến pháp,
các cơ quan này hoặc sẽ phải hủy bỏ
một số đạo luật nhất định nào
đó, hoặc phải bồi thường tiền bạc
hay quyền lợi. Tuy nhiên việc bảo vệ nhân
quyền cũng thường đ̣i hỏi phải có các
biện pháp hỗ trợ bổ túc một cách đa
dạng, trong đó có thể có một vài biện pháp pháp
lư, thí dụ như để có thể ngăn cấm mọi
h́nh thức kỳ thị hoặc để giúp cho
những thành phần yếu kém trong xă hội như
trẻ em, những người kém may mắn hoặc tàn tật
có thể thực thi những quyền căn bản
của họ.
Trong một
xă hội dân chủ, người dân thường nhờ
các vị dân biểu giúp họ chống lại các bất
công hoặc giúp họ cơ hội thực thi quyền. Các
cơ quan truyền thông cũng đóng một vai tṛ then
chốt khi làm người chú tâm canh giữ luật pháp,
sẵn sàng tố cáo mọi vi phạm. Trong thực hành,
người ta có thể đặt ra rất nhiều
những cơ chế bảo vệ nhân quyền như
ủy ban trung gian ḥa giải hoặc một tổ chức
độc lập có trách nhệm kiểm soát các hoạt
động của các cơ quan hành pháp. Thực ra nếu
chỉ có bằng chừng đó thôi th́ chưa đủ.
Một sự bảo vệ hữu hiệu nền dân
chủ chủ yếu dựa trên niềm tin vào những
nguyên tắc và mục đích của dân chủ. Do đó
việc quan trọng là phải thiết lập ở
mọi cấp một chương tŕnh giáo dục nhân
quyền và giáo dục về đời sống dân sự
trong một xă hội dân chủ. Những chương tŕnh
giáo dục này sẽ không phải chỉ đóng khung
giới hạn tại các trường học hoặc
đại học mà nhất thiết cần phải
được tỏa rộng ra đến cả các
cơ quan hành chánh, trong đó có các lực lượng
cảnh sát và các cơ quan quân sự.
V. Xă hội dân chủ hoặc xă hội công
dân
64. Xă hội công dân là ǵ ?
(Các tác
giả hiện chưa thống nhất cách dịch từ
société civile hoặc civil society. Người gọi là xă
hội công dân, người gọi nó là xă hội dân sự.
Hai cách gọi này chỉ khác nhau bởi góc độ nh́n.
Chúng tôi chọn cách gọi thứ nhất, gần với
chữ Buergergesellschaft của Đức).
Xă hội
công dân - một thành tố quan trọng của dân chủ -
đă trở thành đặc biệt quan trọng khi trong
thế kỷ 20, hai chế độ độc tài phát xít
và cộng sản đă cùng t́m cách tóm thâu mọi cơ
chế xă hội và đặt chúng dưới sự
kiểm soát của Nhà nước. Khái niệm về xă
hội công dân có thể được diễn giải
bằng 2 cách khác nhau. Trong nghĩa tiêu cực, nó có mục
đích giới hạn ảnh hưởng của chính
phủ, ngăn chặn chính phủ qui định hóa
mọi hoạt động của xă hội, ngăn
chặn chính phủ xâm nhập vào mọi lănh vực
đời sống của xă hội. Trong nghĩa tích
cực, xă hội công dân có mục đích thiết lập
nên vô số các trung tâm tự trị trong xă hội
để người dân có thể tập hợp lại
để tự giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm. Những trung tâm tự trị này
được xem như là những trạm truyền thông
ra với dư luận cũng như là công cụ
để tạo áp lực lên các cơ quan quyền lực
cũng như dể chống lại sự xâm lấn
của các cơ quan này.
Xă hội
công dân có những đặc thù chính như sau: một
nền kinh tế thị trường (xx câu 9), những
phương tiện thông tin và truyền thông tự trị
(xx câu 6), những trung tâm gồm những chuyên viên tinh thông
độc lập với chính phủ có đủ khả
năng đánh giá về chính sách và các hoạt động
của công quyền trên mọi lănh vực. Trên hết, xă
hội công dân cần một mạng lưới những
hội đoàn tự nguyện hoạt động trên
mọi lănh vực của đời sống xă hội
để người dân có thể tự lo liệu về
các vấn đề của họ. Tùy nơi tùy lúc,
hoặc tổ chức này hoặc tổ chức kia sẽ đóng
góp tích cực hơn vào việc bảo vệ và phát
triển dân chủ. Khi th́ đó là các nghiệp đoàn công
nhân, khi th́ đó là các hội chuyên viên, các nhóm đấu
tranh cho quyền lợi của phụ nữ hoặc nhân
quyền, các hội lo về phát triển, các nhóm
tương tế, các tổ chức tôn giáo hoặc đó
là đủ mọi loại hội đoàn hoạt
động trên b́nh diện địa phương.
Trong khung
cảnh có tự do ngôn luận và tự do lập hội,
sự gia tăng số lượng các hội nhóm là
điều tự nhiên, cũng tự nhiên như việc
người dân ư thức được rằng họ có
nhu cầu phải hoạt động tập thể
để giải quyết các vấn đề mà họ
cùng quan tâm - hoặc để tranh đấu hoặc
để xúc tiến thực hiện các quyền lợi
của họ. Việc h́nh thành các tổ chức tập
thể sẽ càng được chú trọng khi vai tṛ
của các tổ chức được chính thức công
nhận, chẳng hạn như khi các tổ chức này
được mời làm cố vấn cho những vấn
đề mà cơ quan công quyền đang quan tâm giải
quyết.
65. Hoạt động của các hiệp
hội công dân có gây trở ngại cho dân chủ không?
Do tự
trị từ tổ chức cho đến tài chính, các
hiệp hội và các tổ chức hoạt động
trong xă hội công dân có thể có khả năng gây ảnh
hưởng làm thay đổi một số mặt nào
đó của hoạt động của các cơ quan công
quyền hoặc có thể gây cản trở cho chúng. Chúng ta
sẽ rất khó xác định rằng bắt đầu
từ lúc nào th́ các hoạt động loại này của
các tổ chức sẽ đi ngược lại với
các nguyên tắc dân chủ.
Đa số các
chính phủ được bầu lên một cách dân chủ
thường t́m cách hỏi ư kiến các tổ chức
bảo vệ quyền lợi của các nhóm người
khác nhau trong xă hội và t́m cách thỏa thuận với
họ. Phương thức này là một trong những
đặc thù chính yếu của một chính phủ
hoạt động với sự đồng thuận
của người dân. Song le sẽ có một số nhóm
quyền lợi có thể dựa vào cách thức tổ
chức, vào phương tiện tài chính hoặc những
quen biết để tạo nhiều ảnh hưởng
hơn các nhóm khác. Một khi sự ảnh hưởng này tương
ứng với số lượng thành viên của nhóm đó
th́ nó c̣n dân chủ hơn loại ảnh hưởng
tạo ra bởi những phương tiện tài chính và
quyền lực của một tổ chức bị
một vài người khống chế.
Dó đó,
nếu có những hiệp hội có nhiều ảnh
hưởng trong xă hội mà sự điều hành nội
bộ phù hợp với các nguyên tắc dân chủ và
những người lănh đạo lại là những
đại diện xứng đáng, th́ những hiệp
hội đó phải được xem trọng hơn
những hội đoàn khác. Sau cùng, một xă hội công dân
cần phải dành cho những tổ chức sau đây vai
tṛ cố vấn đặc biệt. Đó là các tổ chức
đại diện cho những người v́ một
sự thua xút nào đó về mặt xă hội, kinh tế
hoặc thân thể mà không thể có tiếng nói tham gia vào
diễn tŕnh hoạch định chính sách cho nên sẽ coi
như là bất lực nếu không được sự
hỗ trợ của các nhóm này.
66. Hoạt động của các tổ
chức kinh tế có cần tuân theo các nguyên tắc dân
chủ không?
Nhiều
người dân chủ cho rằng chỗ làm việc là
một trong yếu tố ảnh hưởng quan trọng
đến cách sống của từng người, quan
trọng đến nỗi họ cho rằng, muốn
thiết lập một xă hội thật sự dân chủ
người ta phải đặc biệt chú trọng
đến việc dân chủ hóa các quan hệ trong chỗ
làm việc. Tối thiểu nhất người ta phải
ngăn chặn không để các người chủ
cản trở việc thành lập các nghiệp đoàn,
để cho các công nhân có thể cùng nhau hoạt
động trong việc tự bảo vệ hoặc
để họ có thể cùng tranh đấu nhằm
cải thiện mức sống và điều kiện làm
việc.
Ở
một mức cao hơn, người ta cần gắn bó
công nhân vào sự tiến triển cũng như sự
lời lỗ của hăng, làm cho họ có trách nhiệm
với sự thành công của hăng và đầu tư sức
ḿnh cho chuyện đó. Có người sẽ phản
đối rằng những ư tưởng như vậy
sẽ giới hạn quyền hành của người
chủ trong việc sa thải cũng như về mặt
áp dụng kỷ luật với công nhân. Song, kinh nghiệm
chung cho thấy rằng các hăng xưởng thành công nhất
trong lănh vực kinh tế hiện nay lại là những hăng
xưởng biết kích thích sáng kiến của nhân viên và
phương cách tốt nhất để đạt
được điều này là phải xem nhân viên như
những "công dân" chứ không là những
"đối tượng". Nói cách khác, dân chủ và
hiệu năng kinh tế không nhất thiết phải
đối nghịch với nhau, cho dù việc dân chủ hóa
các quan hệ trong hăng xưởng là nhằm tạo ra áp
lực để làm giảm khoảng cách quá đáng về
đồng lương và về điều kiện làm
việc giữa nhân viên lănh đạo và công nhân sản
xuất.
Trong một
xă hội dân chủ các tổ chức kinh tế cũng
phải có trách nhiệm đặc biệt đối
với cộng đồng địa phương nơi
chúng đặt cơ sở, thí dụ như ảnh
hưởng của các hoạt động của tổ
chức kinh tế đối với môi trường sinh
thái. Quyền khiếu nại, kiện cáo của các công dân đối
với các cơ quan chính phủ một khi quyền lợi
của họ bị đụng chạm cũng
được áp dụng đối với các hăng
xưởng tư nhân, khi mà sức khỏe và sự thoải
mái thân thể của người dân bị ảnh
hưởng bởi những hoạt động của
hăng xưởng. Do đó hoạt động của các
tổ chức kinh tế phải được
đặt nằm trong cái khung của những qui
định pháp lư chặt chẽ cũng như phải
chịu sự giới hạn của các qui định
bảo vệ môi sinh nghiêm ngặt.
67. Tài sản tư nhân có cần thiết
cho dân chủ không?
Nếu
như về mặt kinh tế tài sản riêng
được xem là một thành phần thiết yếu của
kinh tế thị trường, th́ về mặt chính
trị, nó cũng được bảo vệ bởi
những lư luận chính trị vững chắc cho rằng
nó giúp cho người dân thực hiện được
những hoạt động chính trị nằm ngoài sự
kiểm soát của chính phủ. Như vậy chúng ta có
thể xem tài sản riêng như là một cơ chế
của xă hội công dân và như là một h́nh thức
bảo vệ sự tự do chính trị.
Song le chúng ta
chớ nên vội kết luận rằng mọi can
thiệp của nhà nước vào quyền tư hữu
phải nhất thiết đe dọa đến quyền
tự do cá nhân và cần chống lại nó. Quan niệm
về tài sản riêng phát sinh từ việc giới hạn
quyền tự do cá nhân đă được toàn xă hội
chấp nhận và áp đặt về phương diện
thi hành. Việc độc quyền hưởng thụ các
tài sản riêng bao giờ cũng đi đôi với
việc giới hạn người khác trong việc
hưởng thụ những tài sản đó. Những
điều kiện để truất phế quyền
tự do cần phải được toàn xă hội cùng
định ra và việc biến những điều
kiện này thành luật cần được thực
hiện tùy hoàn cảnh. Tóm lại, đ̣i hỏi để
luật pháp qui định việc sử dụng tài
sản riêng là một đ̣i hỏi chính đáng, trong đó,
cách thức phân phối các tài sản riêng có thể
để tùy thuộc các chính sách áp dụng chung. Chúng ta có
thể xem rằng, dù trên nguyên tắc tài sản riêng
rất quan trọng đối với nền dân chủ
nhưng nó không là một quyền tự nhiên hay tuyệt
đối. Sự chính đáng của quyền tư
hữu phải nằm trong khuôn khổ những ǵ
được đa số định ra và giới
hạn lại.
ChuSa