HOME

 

Những Nguyên Tắc Dân Chủ Cho Việt Nam

 

ChuSa.

 

Mục tiêu Dân chủ phải được hướng dẫn bằng tư tưởng Dân chủ và xây dựng bởi nỗ lực Dân chủ. Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực hiện hoặc dễ thất bại khi nhân tố tham chính (cộng-sản hay không-cộng-sản) mang tư tưởng Duy vật và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Do đó trong quan niệm ‘vấn nạn hiện thực không phải là chấp nhận tư tưởng dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng và hành động phản-dân-chủ. Diễn Đàn Dân Chủ cố gắng giới thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu tư đến tương lai dân tộc có thể suy luận  để so sánh phủ định quan điểm và hành động phản-dân-chủ bởi v́ Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công cơ chế quốc trị dân chủ quy phục và phụng sự nhân dân trong tương lai trên nền tảng tư tưởng Duy vật và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp tục phát triển nhờ vào cơ chế dân chủ khai phóng tiềm năng đóng góp của toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo hèn bởi thành phần lănh đạo độc tài mang tư tưởng Duy vật và kinh nghiệm phản-dân-chủ?. Phần tài liệu Các vấn đề dân chủ sau đây tŕnh bày nhiều đề tài khả dụng như định chế dân chủ, vai tṛ chính đảng, truyền thông, luật pháp, kinh tế thị trường, trách nhiệm của chính quyền, bầu cử tự do và h́nh thức tuyển cử, xă hội dân sự, nhân quyền, tư sản, quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v.,tuy sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn Đàn Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quư bạn

 

*Các vấn đề dân chủ (Việt Nam sẽ đi tới)

 

I. Tổng Quát

 

1.   Dân chủ là ǵ?

2.   Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?

3.   Nguồn gốc của ư tưởng dân chủ

4.   Chế độ đại nghị có thực sự dân chủ không?

5.   Vai tṛ của chính đảng trong chế độ dân chủ

6.   Vai tṛ quan trọng của truyền thông trong một chế độ dân chủ

7.   Tại sao các chế độ dân chủ đại nghị có thể được xem là tự do?

8.   Có thể có những h́nh thức dân chủ nào khác với chế độ dân chủ tự do không?

9.   Dân chủ có đ̣i phải có kinh tế thị trường không?

10. Quyết định của đa số có phải lúc nào cũng dân chủ không?

11. Trong chế độ dân chủ, một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay không?

12. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và dân chủ có liên quan ǵ với nhau?

13. Có thể cai trị một quốc gia một cách dân chủ không?

14. Làm thế nào để giữ sau khi đă thiết lập được dân chủ?

15. Những thành tố chính yếu của một chế độ thực sự dân chủ

*(i) Những cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng

*(ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm

*(iii) Dân quyền và quyền chính trị

*(iv) Xă hội dân chủ hay xă hội dân sự

 

II. Những cuộc bầu cử tự do và công bằng

 

16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?

17. Nguyên thủ quốc gia có cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử không?

18. C̣n những người ở chức vụ nào khác cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử?

19. Có cần bầu một nghị viện thứ hai không?

20. Chu kỳ của các cuộc bầu cử

21. Có cần phải giới hạn quyền bầu cử không?

22. Làm sao thiết lập danh sách cử tri?

23. Có cần cưỡng chế bầu cử không?

24. Tại sao phải bỏ phiếu kín?

25. Điều kiện ứng cử

26. Tại sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?

27. Dân biểu được xem là "đại diện" của cử tri trong chừng mực nào?

28. Sự khác biệt của các lối bầu cử

29. Ưu và khuyết điểm của các lối bầu cử

30. H́nh thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?

31. Làm thế nào để bảo đảm sự công bằng trong diễn tiến bầu cử?

32. Công quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng không?

33. Có nên cho các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa 2 kỳ bầu cử không?

34. Các cử tri có quyền hành ǵ giữa hai kỳ bầu cử?

35. Trong chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng h́nh thức trưng cầu dân ư?

 

III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính quyền

 

36. Tại sao hoạt động trong suốt của chính quyền lại quan trọng đối với dân chủ?

37. Làm thế nào để bảo đảm cho hoạt động chính quyền được trong suốt?

38. Thế nào là trách nhiệm của chính quyền?

39. Tại sao sự phân quyền lại quan trọng?

40. Thế nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo vệ nguyên tắc đó?

41. Vai tṛ của quốc hội trong việc kiểm soát trách nhiệm của chính quyền

42. Ai có thể trở thành dân biểu quốc hội?

43. Có nên cho phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác không?

44. Làm thế nào để tận diệt tham nhũng chính trị?

45. Vai tṛ của bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ

46. Công dân có phương tiện nào để buộc các cơ quan chính quyền phải làm tṛn trách nhiệm đă được giao phó?

47. Làm thế nào để bảo đảm sự kiểm soát của một chính quyền dân sự đối với quân đội?

48. Cơ quan t́nh báo có chỗ đứng trong một chế độ dân chủ không?

49. Tại sao các đơn vị hành chánh địa phương lại quan trọng đối với nền dân chủ?

50. Chế độ liên bang thích hợp trong những điều kiện nào?

 

IV. Những quyền tự do cá nhân và phương cách bảo vệ chúng

 

51. Nhân quyền là ǵ?

52. Nhân quyền được phân loại ra sao?

53. Có nhân quyền nào được xem là quan trọng hơn các nhân quyền khác không?

54. Nhân quyền có tính phổ quát không?

55. Cộng đồng quốc tế có thể bày tỏ sự quan tâm chính đáng của ḿnh về cách thực thi nhân quyền tại một quốc gia nào đó không?

56. Nhân quyền liên quan ra sao với dân chủ?

57. Các quyền dân sự và chính trị liên quan ra sao với dân chủ?

58. Các quyền kinh tế và xă hội liên quan ra sao với dân chủ?

59. Trong trường hợp nào một chính quyền dân chủ được phép giới hạn nhân quyền?

60. Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nào th́ được phép đ́nh chỉ nhân quyền?

61. Một người có thể bị từ chối tư cách công dân trong một chế độ dân chủ không?

62. Quyền của các cộng đồng thiểu số có được bảo đảm không?

63. Về mặt thực tiễn, nhân quyền được bảo vệ bằng cách nào?

 

V. Xă hội dân chủ hoặc xă hội công dân

 

64. Xă hội công dân là ǵ ?

65. Hoạt động của các hiệp hội công dân có gây trở ngại cho dân chủ không?

66. Hoạt động của các tổ chức kinh tế có cần tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?

67. Tài sản tư nhân có cần thiết cho dân chủ không?.

 

Nguyên Tắc Dân Chủ

 

I. Tổng Quát

 

1.   Dân chủ là ǵ?

Trong đời sống, mỗi chúng ta đều thuộc về một nhóm hay đa số, kể đi từ gia đ́nh đến quốc gia và dân tộc, từ phường khóm đến câu lạc bộ hay công ty. Trong những đa số hay thiểu số nhỏ này, có những việc phải quyết định liên quan đến toàn thể, ví dụ như quyết định về mục tiêu, về nội quy hay về sự phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa những thành viên. Những quyết định này được xem là của tập thể để phân biệt với những quyết định cá nhân, chỉ liên quan đến riêng cá nhân ấy mà thôi.

Dân chủ là một thuộc tính của diễn tŕnh lấy quyết định của đa số. Dân chủ là hiện thân của lư tưởng, theo đó, những quyết định liên quan đến đa số phải được thông qua tất cả các thành viên của đa số đó, mỗi thành viên đều có quyền được tham gia như nhau vào diễn tŕnh lấy quyết định. Nói một cách khác, dân chủ đ̣i hỏi phải tôn trọng hai nguyên tắc được xem là căn bản như nhau sau đây: một là sự kiểm soát của dân chúng trên diễn tŕnh lấy quyết định đa số và hai là mỗi người đều có quyền ngang nhau khi thi hành việc kiểm soát đó. Một tập thể được gọi là dân chủ nếu mọi vấn đề liên quan đến đa số đó đều được quyết định dựa trên hai nguyên tắc vừa nêu trên.

Một định nghĩa như vậy về dân chủ sẽ dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, dân chủ sẽ không chỉ là thuộc tính của quốc gia hay của cơ quan quyền lực như người ta thường nghĩ, mặc dù trong thực tế, dân chủ trên b́nh diện quốc gia liên quan chặt chẽ với dân chủ biểu hiện trong các cơ cấu khác của xă hội. Nếu xem quốc gia như một hiệp hội với tầm hoạt động rộng lớn nhất, bao gồm quyền điều khiển và phối hợp các công việc của toàn xă hội và khả năng tăng thuế, th́ quả dân chủ ở b́nh diện quốc gia mang một tầm quan trọng đặc biệt. Do đó chúng ta sẽ lưu tâm xem xét kỹ đến những vấn đề dân chủ của những chính quyền.

Hệ quả thứ hai là dân chủ không thể được đo lường đơn giản theo cách hoặc có hoặc không và cũng không thể áp dụng loại tiêu chuẩn này để xét đoán xem một đa số, bất kỳ loại nào, có hoàn toàn dân chủ hay không. Đúng ra đây là vấn đề mức độ. Một mặt dân chủ phụ thuộc vào việc áp dụng các nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và về quyền b́nh đẳng chính trị, mặt khác dân chủ c̣n tùy thuộc vào mức độ thực hiện lư tưởng b́nh đẳng tham gia vào diễn tŕnh lấy quyết định. Thông thường chúng ta đánh giá một quốc gia là có dân chủ nếu những nhà lănh đạo quốc gia đó biết đặt hành động của họ dưới sự chấp thuận của dân chúng thông qua những cuộc bầu cử tự do để dân chúng chọn lựa người cầm quyền giữa các ứng cử viên khác nhau.

Như vậy tính chất dân chủ của một quốc gia được đánh giá qua việc các công dân trưởng thành của quốc gia đó có quyền bầu cử và ứng cử như nhau và việc các quyền công dân và chính trị được bảo vệ bởi luật pháp. Thực ra ngay cả tại các quốc gia thuộc dạng vừa kể, hai nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và về sự b́nh đẳng chính trị cũng chưa được tôn trọng tuyệt đối. Nh́n như vậy, tiến tŕnh dân chủ hóa sẽ không bao giờ được hoàn tất; v́ lẽ đó mà những con người dân chủ trên toàn thế giới, bất kể họ sống trong chế độ hoặc thể chế chính trị nào, vẫn tiếp tục tranh đấu để củng cố và phát huy việc áp dụng các nguyên tắc dân chủ.

 

2.   Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?

Sự gắn bó chính đáng với dân chủ có thể được biện minh bằng nhiều lư do, sau đây là 5 lư do quan trọng nhất.

(a) Mục đích của dân chủ là đem lại cho mọi cá nhân một sự đối xử như nhau. Nhà Hiến pháp học Jeremy Bentham viết rằng: "mỗi người chỉ được tính là một và không ai được tính hơn một" để phản bác lại lập luận của một số quư tộc cho rằng mạng sống của một số cá nhân nào đó quan trọng hơn của những người dân khác. Nguyên tắc b́nh đẳng này không chỉ nói lên rằng các chính sách chung phải nhằm bảo vệ quyền lợi của tất cả mọi người một cách như nhau mà c̣n cho thấy những quan điểm cá nhân cũng phải được tôn trọng như nhau, không có phân biệt giữa người này kẻ khác.

Trong một vở tuồng của Euripide, một công dân thành Athènes đă tuyên bố rằng: "chúng ta không chấp nhận trao quyền lực đặc biệt cho sự giàu có; tiếng nói của người nghèo cũng không ít quan trọng hơn của người khác". Những người chống dân chủ luôn cho rằng đám đông quá thiếu kiến thức, thiếu học và thiển cận để có thể tham gia dưới một h́nh thức nào đó vào việc xây dựng chính sách. Do đó người dân chủ phải trả lời rằng nếu quả thực là quần chúng cần thông tin và cần thời giờ để hiểu nó, th́ họ sẽ đủ khả năng để hành động một cách có trách nhiệm một khi t́nh thế đ̣i hỏi. Tất cả mọi người trưởng thành phải được xem như có trách nhiệm về lối sống của họ cũng như có khả năng tham gia vào những quyết định liên quan đến đời sống xă hội của họ.

(b) Một chính quyền thuộc loại dân chủ dễ thỏa măn nhu cầu của những dân thường hơn bất cứ loại chính quyền nào khác. Càng kéo nhiều người cùng tham gia vào việc định chính sách, chính sách càng dễ phản ánh những bận tâm và khát vọng của họ. Một ngạn ngữ cổ của Hy Lạp đă chẳng cho rằng "nếu người thợ làm ra đôi giày th́ chỉ kẻ mang nó mới biết có vừa không". Trong thực tế chính người dân thường là kẻ phải gánh chịu hậu quả của chính sách. Người làm chính sách chỉ rút được kinh nghiệm khi quần chúng được trang bị những phương tiện tốt và hữu hiệu để có thể gây những ảnh hưởng và áp lực cần thiết. Nếu dân chúng không có cách ǵ để tạo ảnh hưởng hoặc kiểm soát những người có chức quyền, cho dù họ có ư tốt, th́ những chính sách của họ, nếu khá, cũng không thể thích ứng được với nhu cầu của dân chúng, c̣n nếu xấu th́ những chính sách này sẽ chỉ là con đẻ của tham nhũng hoặc chỉ để phục vụ quyền lợi cá nhân.

(c) Dân chủ dựa trên sự tranh luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận. Khi tranh luận trong chế độ dân chủ, điều quan trọng không chỉ là sự có mặt của những quan niệm hoặc quyền lợi khác nhau đại diện cho phần đông những khuynh hướng lớn mà c̣n là sự tôn trọng quyền được phát biểu một quan điểm khác biệt và quyền được lắng nghe. Như vậy dân chủ chấp nhận sự đa dạng và đa nguyên trong xă hội cũng như sự b́nh đẳng giữa các công dân. Gặp sự biểu hiện đa dạng này, những khác biệt quan điểm phải được giải quyết bằng sự tranh luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận chứ không phải bằng sự cưởng bức hoặc bằng sự xác định quyền lực một cách đơn thuần. Người ta thường diễu các chế độ dân chủ đại diện như những bộ máy chuyên nói ba láp. Đáng lư ra khả năng tổ chức tranh luận công khai của những chế độ này cần phải đáng được khen hơn là bị chê bởi tranh luận là phương tiện tốt nhất để t́m đồng thuận cho các chính sách và tranh luận không nhất thiết cản trở việc hoạt động hiệu quả.

(d) Dân chủ bảo đảm việc tôn trọng các quyền tự do căn bản. Không thể có tự do tranh luận một phương tiện để bày tỏ và giải quyết những khác biệt trong xă hội- nếu những quyền tự do đó không được bảo vệ bởi những quy định về quyền công dân và quyền chính trị như: quyền tự do phát biểu, tự do lập hội, tự do đi lại và quyền được an toàn. Người ta có thể tin rằng chế độ dân chủ sẽ bảo vệ những quyền này bởi thiếu chúng cỗ máy dân chủ không thể hoạt động được. Nếu thực hiện một cách lư tưởng những quyền căn bản này, cá nhân sẽ phát triển và những quyết định tập thể sẽ dễ đạt được hơn khi bị đem ra đối chất với nhiều lư luận và chứng cứ khác.

(e) Dân chủ sẽ đem lại sự đổi mới xă hội. Bằng cách cho phép loại bỏ những chính sách hoặc những người lănh đạo bị thất bại hay đă hết hữu hiệu theo một tiến tŕnh nề nếp và ôn ḥa, những chế độ dân chủ sẽ có khả năng bảo đảm sự đổi mới của xă hội và sự tiếp nối giữa các thế hệ mà không tạo ra đảo lộn đáng kể nào hoặc làm rối loạn sinh hoạt quốc gia như thường xảy ra mỗi khi những người cầm quyền trong những chế độ phi dân chủ bị gạt bỏ.

 

3.   Nguồn gốc của ư tưởng dân chủ.

Trong suốt lịch sử loài người, quan niệm cho rằng người dân phải có quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến số phận của họ đă trở thành một khát vọng của nhiều xă hội. Chính tại Athènes vào thế kỷ thứ V và VI trước Thiên Chúa mà nguyên tắc này được nâng lên thành cơ chế. Khi quy định về việc các ứng cử viên vào các chức vụ công cộng phải là sở hữu chủ được băi bỏ vào hồi đầu thế kỷ thứ V, tất cả mọi công dân của Cộng ḥa Athènes đă được trực tiếp tham gia các cuộc luận bàn hoặc các cuộc bỏ phiếu tại Nghị viện; Nghị viện này có nhiệm vụ định ra luật lệ và chính sách của tập thể. Ngoài ra mỗi người đều có thể tham gia vào việc điều hành đô thị (chú thích: Athènes khi ấy là quốc gia đô thị) tỷ dụ như tham gia bồi thẩm đoàn hoặc hội đồng đô thị; thành viên của những cơ chế này được bầu lại định kỳ bằng cách bốc thăm.

Từ đó đến nay, sự điều hành của nền dân chủ đầu tiên này luôn được tham chiếu và được xem là kiểu mẫu cho tất cả các nền dân chủ. Sự kiện một chính quyền dân chủ được xây dựng lên trong một giai đoạn mà Athènes xác định được ưu thế về kinh tế và hàng hải và trải qua một thời kỳ mà sự sáng tạo trong nghệ thuật và sự tư biện trong triết học nở rộ một cách phi thường đủ đánh đổ quan niệm của những người chống dân chủ, cho rằng việc để cho thường dân tham gia vào việc quản lư việc công sẽ dẫn đến hoặc một xă hội hoàn toàn đồng nhất hoặc một loại chính quyền vô trách nhiệm.

Nền dân chủ tại Athènes thực ra vừa có mặt hơn vừa có mặt kém dân chủ hơn những chế độ dân chủ mà chúng ta biết đến ngày nay. Nó dân chủ hơn ở chỗ các công dân được phép can thiệp trực tiếp vào các quyết định chính liên quan đến xă hội mà họ đang sống (phù hợp với nguyên tắc dân chủ trực tiếp) trong khi các chế độ dân chủ hiện nay đều dựa trên nguyên tắc đại diện gián tiếp, mà trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ cho phép một sự tham gia bậc hai vào diễn tŕnh quyết định của chính quyền và quốc hội. Nhưng một chế độ dân chủ trực tiếp lại chỉ thực hiện được khi số lượng công dân c̣n tương đối nhỏ để có thể tụ họp lại tại một chỗ họp vừa đủ rộng, ngoài ra những công dân này lại phải có đủ thời giờ rảnh để tham gia một cách có ư thức vào việc bàn chọn chính sách. Ngày nay, chỉ xét về mặt dân số không thôi, bất kể dân số đó là bao nhiêu, chúng ta cũng thấy không điều nào trong hai đ̣i hỏi ở trên có thể thỏa măn được. Tuy nhiên điều này không cấm ta tạo điều kiện để các công dân tham gia trực tiếp vào các quyết định ở b́nh diện quốc gia, tỷ dụ như qua bầu cử hoặc trưng cầu dân ư hay tạo cho họ có điều kiện tham gia liên tục vào các quyết định tại địa phương.

Ngược lại nền dân chủ tại Athènes kém dân chủ hơn các chế độ dân chủ ngày nay ở chỗ chỉ có những người "đàn ông tự do" mới được xem là công dân. Đàn bà, nô lệ và ngoại kiều sống trong đô thị thời đó không có quyền công dân; họ phải làm việc nhà và sản xuất để các "ông công dân" có thể tham gia hoạt động chính trị. Ở đây rơ ràng người dân có được tham gia cai trị nhưng quyền tham gia này lại chỉ xuất phát từ hoàn cảnh tương đối ưu đăi của họ.

Cần nhắc lại rằng trong đa số các chế độ đại nghị Tây phương trước đây, quyền công dân cũng đă bị gắn liền với những hạn chế tương tự và chỉ đến đầu thế kỷ xx các hạn chế này mới bị hủy bỏ. Nguyên tắc "mọi quyền lực chính trị thuộc về nhân dân" dù đă được cuộc Cách mạng Pháp (1789) phổ biến nhưng đă không được áp dụng cho mọi người. Người đàn bà và những người vô sản đă phải chờ đến thế kỷ xx mới được công nhận quyền đi bỏ phiếu. Ngay cả ngày nay không phải ai cư trú tại một quốc gia, khi đến tuổi đi bầu cũng được phép tham gia các cuộc bầu cử, không cần biết rằng họ đóng góp như thế nào cho nền kinh tế quốc dân tại đó (thí dụ: các ngoại kiều).

 

4. Chế độ đại nghị có thực sự dân chủ không?

Jean Jacques Rousseau, một triết gia Pháp ở thế kỷ XVIII, cho rằng chế độ đại nghị không thực sự dân chủ. Ông cho rằng trong chế độ đại nghị, dân chúng thực sự chỉ được tự do vào lúc bầu cử. Qua kỳ bầu cử, dân chúng lại trở về t́nh trạng bị phụ thuộc những người cai trị, không khác chi nô lệ. Thực ra đây chỉ là một dạng quá khích của luận đề cổ điển của những nhà phê b́nh cực tả cho rằng các chế độ đại nghị thực ra không dân chủ. Luận đề này ngược với luận đề của phe hữu cho rằng những chế độ đại nghị đă dành một vai tṛ quá lớn cho dân chúng.

Để trả lời những nhà phê b́nh này, chúng ta có thể nói rằng, cho đến ngày hôm nay, khi mà số những công dân tăng lên hàng triệu và thời giờ không c̣n cho phép họ thường xuyên tham gia công việc chính trị nữa th́ chế độ đại nghị là chế độ tốt nhất được dựng lên để bảo đảm sự kiểm soát của dân chúng đối với người lănh đạo. Trên lư thuyết, người dân thi hành sự kiểm soát của họ qua việc bầu lên một người lănh đạo (tổng thống hay thủ tướng) và qua việc chọn lựa những dân biểu của quốc hội lập pháp, là những người được quyền thay mặt dân để thường xuyên kiểm soát chính phủ. Quốc hội này có những đặc quyền, chẳng hạn như chấp nhận hay bác bỏ một đạo luật hay chấp thuận chính sách thuế khóa. Song le sự kiểm soát của dân chúng có thực hay không là do các cuộc bầu cử có thực sự "tự do và công bằng" hay không, là do các hoạt động của bộ máy hành pháp có minh bạch hay không và do các quyền hạn trao cho quốc hội để t́m hiểu và kiểm soát các hoạt động của hành pháp có hữu hiệu hay không.

Trong một chế độ đại nghị, nếu bầu cử được xem là phương cách chính để dân chúng tham gia vào các hoạt động hành pháp, th́ đó không phải là phương cách duy nhất. Người dân có thể kết hợp thành đoàn thể để đ̣i hỏi sửa đổi về một vấn đề luật pháp nào đó hoặc để chống lại sự sửa đổi đó; Họ có thể tham gia vào một chính đảng để tạo áp lực trực tiếp lên các dân biểu. Ngược lại các chính quyền cũng sẽ phải tham khảo ư kiến của những người sẽ chịu hậu quả của các quyết định của họ, cho dù chỉ là tham khảo những thành phần tiêu biểu qua một cuộc thăm ḍ dư luận. Trên thực tế hiếm có chính quyền trong một chế độ đại nghị nào có thể gác bỏ ngoài tai dư luận quần chúng được phản ảnh thông qua những cuộc thăm ḍ dư luận, qua báo chí, truyền thanh và truyền h́nh. Tuy nhiên sự hữu hiệu của những trạm tiếp vận ảnh hưởng của quần chúng này rút cuộc lại phụ thuộc vào sự tiến hành tốt diễn tŕnh bầu cử, bởi v́ thực ra, các chính quyền chỉ chú ư một cách đúng đắn đến ư kiến của dân chúng nếu sự thờ ơ trước dư luận sẽ dẫn họ đến chỗ mất quyền.

Tóm lại sự kiểm soát của dân chúng, thứ nhất được thi hành thông qua các cuộc bầu cử, khi mà họ có thể cân nhắc về phương cách điều hành quốc gia và chọn lựa những người sẽ nhận trách nhiệm chính trị; thứ nh́ thông qua sự kiểm soát chính phủ thường xuyên của quốc hội, và cuối cùng là qua trung gian của các gịng diễn đạt dư luận quần chúng được chính phủ lưu ư đến.

Xét về nguyên tắc thứ hai của dân chủ về sự b́nh đẳng chính trị, chế độ đại nghị quả thiếu b́nh đẳng khi cho phép một thiểu số có quyền thay mặt đám đông để quyết định về chính trị. Để khắc phục những hạn chế này và để thỏa đáp tiêu chuẩn b́nh đẳng chính trị, chúng ta cần tạo điều kiện sao cho mỗi công dân lúc nào cũng có thể làm được ba việc sau đây: mưu t́m một trách vụ dân cử, công bố lập trường của ḿnh về các vấn đề quốc gia và được đền bù trong trường hợp gặp sai phạm của những người có chức quyền hành chánh. Nhưng điều cần thiết vẫn là hệ thống bầu cử phải dành cho mỗi cuộc bầu cử một giá trị như nhau. Trên thực tế đa số các chế độ đại nghị đă không giữ đúng được các nguyên tắc này. Đặc biệt nguyên tắc b́nh đẳng chính trị đă bị vi phạm trầm trọng bởi những bất b́nh đẳng tồn tại trong xă hội. Thí dụ, về mặt vật chất, các nhóm xă hội đă rất khác biệt nhau về phương tiện tài chính, về khả năng xoay sở và về quan hệ.

Do đó trong các nước theo chế độ đại nghị, phận sự của những con người dân chủ là phải t́m ra những giải pháp để hạn chế ảnh hưởng về mặt chính trị tạo nên bởi những bất b́nh đẳng xă hội và phải làm gia tăng sự hữu hiệu của những cơ chế giúp người dân kiểm soát chính phủ.

 

5. Vai tṛ của chính đảng trong chế độ dân chủ

Những cá nhân trong một xă hội chỉ có thể ảnh hưởng hạn chế vào việc điều hành quốc gia nếu họ không biết kết hợp thành hội đoàn. Đảng phái chính trị là tập hợp của những người có cùng chính kiến và quyền lợi trong việc phổ biến quan điểm, trong việc giành những trách vụ chính trị và trong khả năng ảnh hưởng vào công việc quốc gia. Các chính đảng đóng nhiều vai tṛ. Nh́n dưới khía cạnh bầu cử, các chính đảng góp phần đơn giản hóa sự chọn lựa bằng cách cống hiến cho cử tri một số quan điểm chính trị và những nét tổng quát của chương tŕnh hành động để họ dễ quyết định. Nh́n dưới khía cạnh chính quyền, các chính đảng là hậu thuẫn tương đối ổn vững để cho chính quyền có thể thực hiện tốt các chương tŕnh đă được đưa ra hứa hẹn lúc tranh cử. Ngoài ra chính đảng c̣n giúp cho những cá nhân hoạt động chính trị tích cực nhất có thể can thiệp vào việc nước, được học tập chính trị và có ảnh hưởng vào việc điều hành quốc gia.

Trong những chế độ có bầu cử tự do và công bằng, sự thành công của chính đảng phụ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của số cử tri mà họ đă giành và giữ được. Do đó họ phải luôn luôn lưu tâm đến ư kiến của cơ sở khi lập chương tŕnh hành động cũng như khi chọn các ứng cử viên vào những trách vụ dân cử, nếu không họ sẽ bị thua các đảng khác hoặc sẽ khiến có thêm những chính đảng mới được thành lập để đáp ứng khoảng trống chính trị do họ tạo nên. Cho nên chính đảng là một cơ chế quan trọng khiến chính quyền phải lắng nghe đúng mức những bận tâm của dân chúng. Song le các chính đảng chỉ có thể làm tṛn nhiệm vụ này nếu việc tranh cử được bảo đảm công bằng tuyệt đối, nghĩa là không để xảy ra việc có một số các chính đảng có quyền sử dụng những phương tiện công cộng hoặc những phương tiện truyền thông đại chúng trong khi những đảng khác lại không được phép. Đặc biệt điều này cũng bao hàm rằng ngay chính đảng cầm quyền cũng cần ư thức phân biệt rơ ràng phạm vi hoạt động của chính quyền với phạm vi hoạt động của đảng cũng như t́m ra h́nh thức tổ chức thích ứng cho từng loại hoạt động.

Nếu việc cạnh tranh công khai của các chính đảng trong khuôn khổ bầu cử là một trong những đặc trưng không thể thiếu được của những chế độ dân chủ đại nghị th́ đó cũng chính là chỗ nhược của thể chế này. Việc cạnh tranh công khai giữa các chính đảng cùng mưu đồ lèo lái quốc gia là một yếu tố phân chia về mặt xă hội và chính trị. Cái giá mà những người tham dự vào cuộc cạnh tranh này phải trả thường rất cao. Do đó nhất thiết -và đây chính là một trong những yếu tố sống c̣n của dân chủ- ta phải làm sao để cái giá mà những chính đảng và những ủng hộ viên của họ phải trả một khi họ bị loại khỏi quyền lực là một cái giá mà họ có thể chịu đựng được. Đặc biệt họ không được phép nghi ngờ về khả năng có thể thắng lại của họ trong một cuộc bầu cử sau cũng như về tính dài lâu của những quyền pháp định, cho dù hiện thất cử, họ vẫn có thể tụ tập thành viên, công bố quan điểm và chỉ trích chính quyền.

 

6. Vai tṛ quan trọng của truyền thông trong một chế độ dân chủ

Chính quyền của bất kỳ thể chế chính trị nào cũng muốn dân chúng ủng hộ hoặc tán thành các chính sách của họ. Nếu xem trọng dân chúng th́ người ta phải t́m cách tiếp cận với họ qua trung gian của các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh và truyền h́nh. Từ đó truyền thông có một vai tṛ chính trị quan trọng trong xă hội cận đại. Trong chế độ dân chủ, truyền thông không thể bị xem đơn giản như bộ phận tuyên truyền của chính phủ. Truyền thông c̣n có những nhiệm vụ quan trọng khác, đó là: rà xoát hoạt động của chính quyền, thông tin cho quần chúng, tạo tranh luận công khai, làm cho chính quyền phải chú ư đến dư luận và tạo áp lực lên chính quyền.

Nhiệm vụ điều tra và thông tin của truyền thông rất cần thiết để chống lại cái "tật" muốn giữ bí mật muôn thủa của các chính quyền và để cân bằng lại sức mạnh áp chế của guồng máy chính quyền trong lănh vực giao tế công cộng. Một chính quyền buộc phải có trách nhiệm với dư luận nếu dư luận có được thông tin về các hoạt động của họ cũng như có phương tiện độc lập để đánh giá về sự đúng đắn của những lời tuyên bố về chính sách của họ. Nếu một mặt truyền thông phải cẩn thận để khỏi soi mói vào đời tư người khác th́ mặt khác nó cũng có nhiệm vụ truyền đạt thông tin và nói lên phần nào mối quan tâm của quần chúng, một quần chúng có quyền được t́m hiểu. Không làm được việc này truyền thông sẽ không thể chu toàn trọng trách của "người canh gác quyền lợi công cộng". Ngoài vai tṛ cung cấp thông tin độc lập, truyền thông c̣n phải tạo diễn đàn tranh luận bằng cách mời các bộ trưởng và nhân sĩ trả lời -một cách dễ hiểu- những câu hỏi được đặt ra cho họ và tạo điều kiện để người dân b́nh thường cũng có thể tham gia cuộc tranh luận này. Truyền thông cũng phải làm sao để chính quyền lắng nghe dư luận. Đóng một lúc nhiều vai tṛ khác nhau như vậy mà tầm hoạt động lại rộng đến toàn thể dân chúng nên truyền thông sẽ bổ xung và củng cố cho hoạt động theo dơi và thảo luận của quốc hội.

Song le trong một thể chế dân chủ, truyền thông chỉ có thể hoàn thành những nhiệm vụ quan yếu này nếu nó thực sự độc lập và không phụ thuộc cả chính quyền lẫn những thế lực quyền lợi tư nhân. Để giới hạn ảnh hưởng của chính quyền người ta có thể ủy thác việc kiểm soát những phương tiện truyền thông do công quỹ tài trợ cho một ủy ban độc lập hoặc một ủy ban gồm đại diện những hiệp hội công dân và tạo sự cạnh tranh với những phương tiện truyền thông tư nhân. Để ngăn chặn những nhóm tài phiệt tư nhân thao túng lănh vực truyền thông người ta có thể đặt ra định mức tập trung sở hữu hoặc dùng các phương cách điều ḥa thích ứng khác. Tuy nhiên không một biện pháp nào có thể bảo đảm được rằng truyền thông sẽ chu toàn trách nhiệm dân chủ của họ một cách vô tư và hữu hiệu như mong đợi. Cuối cùng chúng ta cũng chỉ trông chờ nơi sự độc lập và tính chuyên nghiệp của các nhà báo, các chủ bút và các nhà sản xuất trong lănh vực thính thị cũng như mong quần chúng luôn ư thức rằng truyền thông sẽ góp phần tích cực vào sự hoạt động của một nền dân chủ.

 

7. Tại sao các chế độ dân chủ đại nghị có thể được xem là tự do?

Lư do thứ nhất xuất phát từ lịch sử: đại đa số các quốc gia tây phương đă được tự do trước khi trở thành dân chủ. Tại các quốc gia đó một chế độ tự do hiến định đă được thiết lập trước khi phổ thông đầu phiếu được chấp nhận và các chính đảng đại chúng được thành lập.

Chế độ đó có những đặc điểm như sau:

a) đặt sự hoạt động của chính quyền hoặc của bộ máy hành pháp vào khuôn khổ của luật pháp được chuẩn y bởi một quốc hội do dân bầu ("thượng tôn pháp luật");

b) công nhận những quyền cá nhân về tố tụng (quyền được xét xử công b́nh), về tự do ngôn luận, tự do tụ tập và tự do đi lại;

c) thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp để thể hiện đúng vai tṛ canh giữ luật pháp và quyền cá nhân. Trong lịch sử, những chế độ dân chủ cho áp dụng phổ thông đầu phiếu và để các chính đảng đại chúng phát triển trước khi củng cố các thành tố tự do vừa nêu đều đă không giữ được ổn định.

Việc này đưa chúng ta đến lư do thứ hai, thuộc lănh vực thực tiễn, để hiểu tại sao một chế độ tự do hiến định phải đi đôi với dân chủ. Trong một quốc gia tân tiến chính quyền thường nắm những quyền hành rất lớn. Nếu một chính quyền dù được ḷng dân không chấp nhận sự chi phối của luật pháp như bất cứ một công dân b́nh thường nào khác, hoặc không bị bắt buộc phải xin quốc hội chuẩn y những đạo luật theo những thủ tục được định sẵn, hay không chịu tôn trọng các quyền tự do của công dân (cho dù việc thực thi các quyền tự do đó đôi khi gây ra khá nhiều phiền toái), th́ trước sau ǵ chính quyền đó cũng sẽ vuột khỏi sự kiểm soát của dân chúng.

Dân chủ không phải là một thể chế chuyên t́m cách thỏa măn ngay tức thời hoặc càng nhanh càng tốt tất cả những đ̣i hỏi của người dân, mà là một thể chế nhằm bảo đảm cho người dân có những phương tiện để thực thi một cách lâu dài ảnh hưởng và sự kiểm soát của họ lên chính quyền. Trong số những phương tiện này chúng ta cần nhấn mạnh đến những thành tố quan trọng của một chế độ hiến định: sự thượng tôn pháp luật, sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp và sự tôn trọng các quyền và các tự do cá nhân.

Những đặc trưng và những thành tố của thể chế dân chủ đó chỉ có thể được bảo vệ một cách hữu hiệu nhất bằng một hiến pháp thành văn được phổ biến đến tất cả mọi người, trong đó định nghĩa rơ ràng các nghĩa vụ và quyền hạn của cá nhân cũng như của các cơ quan nhà nước. Qui chế đặc biệt của hiến pháp được xác định bởi hai sự việc. Thứ nhất, những người nhận trách nhiệm công vụ phải tuyên thệ trung thành với hiến pháp và không được phép diễn giải hiến pháp theo cách nh́n phe phái hoặc cục bộ của họ. Thứ hai, việc thay đổi hiến pháp đ̣i hỏi phải qua những thủ tục đặc biệt, tỷ dụ như qua một cuộc bỏ thăm với đa số tuyệt đối hoặc một cuộc trưng cầu dân ư. Về thực hành, sự bất khả xâm phạm của hiến pháp thành văn chỉ có thể được bảo đảm dưới hai điều kiện: có ngành tư pháp độc lập được chỉ định ra để thực thi sự tôn trọng hiến pháp và ngành tư pháp này phải có đủ quyền hành để hoàn thành trách nhiệm đó; và đồng thời quần chúng nhân dân phải luôn sẵn sang để giám sát sự tôn trọng hiến pháp.

 

8. Có thể có những h́nh thức dân chủ nào khác với chế độ dân chủ tự do không?

Trong thế kỷ 20 này người ta đă chứng kiến một số những thử nghiệm nhằm xây dựng một chế độ dân chủ trên b́nh diện quốc gia, thường dưới h́nh thức một chế độ độc đảng -phổ biến nhất là chế độ cộng sản-, mà không lưu tâm ǵ đến di sản tự do. Trong loại chế độ này, để biện minh cho sự "độc đảng" người ta thường nêu lên sự cần thiết phải bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân, phải tập trung sức mạnh của xă hội cho một chương tŕnh phát triển kinh tế, và phải loại bỏ ảnh hưởng của sở hữu tư nhân cũng như của quyền lợi cá thể trong hoạt động chính trị. Đảng cầm quyền được xem như là tiếng nói của nhân dân và là công cụ cho phép những người lănh đạo huy động dân chúng cho những mục tiêu của chính quyền.

Ngày nay, nếu c̣n lịch sự, th́ người ta chỉ có thể công nhận một sự năng động dân chủ nhất định thấy xuất hiện tại cơ sở của loại chế độ này. Ngược lại sự thiếu vắng của các quyền tự do ngôn luận và lập hội đă ngăn chặn sự h́nh thành quan điểm và sự thành lập những tổ chức nằm ngoài hệ thống của đảng. Kết quả là ảnh hưởng của dân chúng vào việc h́nh thành chính sách đă bị giới hạn nghiêm trọng và tinh thần trách nhiệm của những người cầm quyền đối với dân chúng cũng teo tóp đi. Cho dù có tự cho là đă gặt hái được những thành quả kinh tế đáng kể, những chế độ cộng sản đă tiêu biểu cho sự độc đoán chuyên quyền, cho việc phải dựa vào một chính sách đàn áp tỏa rộng và cho sự khinh thường pháp luật, đến nỗi chế độ cộng sản đă chỉ có thể giữ vững được nhờ một hệ thống công an tổ chức chặt chẽ.

Những thử nghiệm tại Phi Châu nhằm thiết lập những chế độ dân chủ độc đảng không cộng sản cũng dẫn đến những hậu quả tương tự, cho dù ư định ban đầu là tốt. Ở Phi Châu người ta mong rằng việc tập trung vào một đảng duy nhất sẽ tránh được những bất đồng do tranh chấp giữa những phe phái tạo nên, đặc biệt trong một khung cảnh xă hội có nhiều chia rẽ sắc tộc và một đảng duy nhất sẽ phản ảnh được truyền thống xem trọng sự đồng thuận (cho dù khái niệm đồng thuận hoàn toàn không ăn nhập ǵ với khái niệm "đối lập trung thành"). Các chế độ này đă cho phép cử tri chọn lựa giữa những ứng cử viên, cho phép họ loại bỏ một vài bộ trưởng bị mất ḷng dân với điều kiện là các "đối thủ" cũng phải là người của đảng và phải tuân theo đường lối của đảng. Ở đây lại một lần nữa, việc dân chúng không thể tập hợp được một cách độc lập bên ngoài đảng cầm quyền và việc họ không thể đưa ra được những ứng cử viên đối lập chống lại đảng trong các cuộc đầu phiếu đă đủ để tố cáo một chế độ độc đoán chuyên quyền và một sự coi thường ư kiến nhân dân ngày càng trầm trọng của những chính quyền và những người lănh đạo. Bên cạnh đó, sự thiếu vắng của sự phân quyền thực sự đă khiến cho các nguyên tắc về thượng tôn pháp luật và về trách nhiệm của chính quyền trước các dân biểu quốc hội đại diện cho dân chúng không được tôn trọng, và từ đó không bảo đảm được sự tôn trọng các quyền tự do của người dân.

Qua những tiền lệ lịch sử này người ta có thể kết luận rằng những thử nghiệm nhằm thiết lập một chế độ dân chủ mà không dựa trên nền tảng tự do đều thất bại. Cho dù quyền tự do lập hội và phương cách bầu cử tự do và đa nguyên có đem lại bao nhiêu phiền toái đi nữa th́ chúng ta cũng phải nhận rằng đây là hai công cụ rất cần thiết để bảo đảm cho ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân chúng đối với chính phủ được vĩnh cửu, để bảo đảm các nguyên tắc thượng tôn pháp luật và phân quyền, là những nguyên tắc bắt buộc chính quyền phải tuân theo một số thủ tục cần thiết để chấp nhận sự ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân chúng. Chế độ dân chủ tự do chắc chắn c̣n đủ rộng chỗ cho những thử nghiệm và thích ứng vào những điều kiện địa phương. Người ta sẽ lầm khi cho rằng có thể áp dụng mà không sợ lầm những h́nh thức dân chủ đă được xây dựng thành công trong những hoàn cảnh nhất định nào đó hoặc trong những xă hội có truyền thống dân chủ lâu đời.

 

9. Dân chủ có đ̣i phải có kinh tế thị trường không?

Câu hỏi phức tạp này không thể chỉ được trả lời một cách đơn giản là có hay không. Một mặt người ta có thể cho rằng hệ thống sản xuất và phân phối dựa trên nguyên tắc trao đổi tự do sẽ tạo nhiều thuận lợi cho dân chủ. Cũng giống như dân chủ, thị trường xem cá nhân tự do (không chịu sự điều khiển của ai) là người có thể phán đoán về quyền lợi của ḿnh một cách tốt nhất và phải chịu trách nhiệm về chọn lựa của ḿnh. Thị trường và dân chủ có nhiều điểm tương đồng. Người tiêu thụ là vua trên thị trường giống như cử tri được xem là vua trong thể chế dân chủ.

Tương tự, việc các công ty phụ thuộc vào sự ủng hộ của khách hàng cũng được so sánh như việc các chính đảng lệ thuộc vào tỷ lệ đầu phiếu. Ngoài ra thị trường c̣n kiềm chế các thế lực trong xă hội bằng cách phân tán quyền quyết định về kinh tế và trải rộng khả năng sinh hoạt, thông tin và phương tiện ra trong xă hội dân sự. Thị trường giúp cho dân chúng khỏi phụ thuộc chính phủ về mặt kinh tế và trong việc tài trợ các hoạt động chính trị và văn hóa độc lập của họ. Về các phương diện này th́ thị trường có thể được xem như hỗ trợ cho dân chủ.

Mặt khác, nếu để thị trường phát triển tự nhiên th́ nó sẽ tạo nên những thăng trầm đột biến trong hoạt động sản xuất, khiến cho nền kinh tế gặp khó khăn và xáo trộn rất lớn. Những thay đổi này khiến quốc gia phải chịu hậu quả của sự dao động về giá cả và về mặt giao thương trên b́nh diện quốc tế, từ đó làm cho quốc gia mất chủ động về kinh tế. Về mặt đối nội, thị trường làm tăng thêm sự bất b́nh đẳng trong việc đóng góp về khả năng và phương tiện giữa những thành viên kinh tế và tạo bất b́nh đẳng chính trị trong một thể chế dân chủ. Ngoài ra thị trường xem lao động là một món hàng cũng chịu sự chi phối bởi luật cung cầu như mọi món hàng khác, khiến khi không cần đến nó nữa th́ người ta có thể loại bỏ nó mà không để ư ǵ đến phẩm cách của người công dân.

Trong hoàn cảnh đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng chính các quốc gia tây phương đầu tiên bước vào thời đại công nghiệp đă cho rằng kinh tế thị trường không thích hợp với việc phổ thông đầu phiếu, điều mà họ đă ra công chống đối trong phần lớn thế kỷ 19. Người ta cũng không ngạc nhiên khi thấy việc toan tính áp dụng một chính sách kinh tế thả lỏng đă dẫn đến việc dựng nên những chính quyền chuyên chế để kiềm hăm sự bất măn của dân chúng. Kể từ sau đệ nhị thế chiến các chính quyền tây phương đă phối hợp dân chủ với kinh tế thị trường bằng cách can thiệp vào thị trường và điều phối nó ở mức độ quan trọng, bằng cách bảo đảm việc tái phân phối các kết quả của hoạt động kinh tế và bằng cách dựng nên một hệ thống luật lệ xă hội để bảo vệ những người yếu kém nhất trong xă hội trước những thăng trầm của thị trường.

Người ta cần phải nhắc nhở nhau về tính cách hai mặt trong quan hệ giữa dân chủ và thị trường để khỏi bị quyến rũ bởi sự đơn giản của nền kinh tế thả lỏng. Ngược lại hệ thống kinh tế hoạch định tập trung trong các chế độ xă hội chủ nghĩa đ̣i hỏi phải quản lư một bộ máy hành chánh vượt quá khả năng kiểm soát. Nó đă độc quyền sử dụng toàn bộ năng lực và sáng kiến của xă hội cho mục đích của một nhà nước và sinh ra những bất công chính trị lớn khi cho một số người đặc quyền đặc lợi. Đây là những điều không thích hợp với thể chế dân chủ.

C̣n về khả năng tồn tại trong kinh tế thị trường của một hệ thống công ty thuộc sở hữu tập thể được phân tán mỏng, cũng như về sự thích hợp của hệ thống này với một chế độ dân chủ đa đảng th́ sao? Đến hôm nay, h́nh thức xă hội chủ nghĩa dân chủ duy nhất c̣n tồn tại là h́nh thức dân-chủ-xă-hội được thành lập từ năm 1945 tại một số nước Bắc Âu và Tây Âu. Thực ra đây là một sự cải biến hơn là một sự dứt khoát với chủ nghĩa tư bản.

 

10. Quyết định của đa số có phải lúc nào cũng dân chủ không?

Người ta thường lầm dân chủ với sự thực thi quyền lực của đa số. Nếu hiểu theo nghĩa đen th́ dân chủ là sự thực thi quyền lực của người dân, và quyền lực này được thực thi bởi toàn thể dân chúng chứ không phải chỉ bởi một tập thể dân chúng bằng cách áp đặt ư muốn của họ lên một tập thể dân chúng khác. Nói cách khác, đặc trưng căn bản của dân chủ là công nhận cho mọi người quyền được b́nh đẳng tham gia vào quyết định chung, trong đó nguyên tắc đa số chỉ là một cái mẹo về thủ tục để giải quyết những bất đồng, sau khi mọi phương cách khác như tranh luận, bổ xung ư kiến và thỏa hiệp đă được tận dụng mà không mang lại kết quả.

Nhưng chúng ta có thể chắc chắn là khi đa số áp đặt ư muốn của họ th́ sẽ có dân chủ hơn là khi để cho những thiểu số được quyền quyết định hoặc được phép ngăn cản ư muốn của một số đông hơn. Song khi đẩy thiểu số xuống t́nh trạng bị bất lực và khi cướp đi của họ mọi phương tiện tham gia quyết định chung, th́ nguyên tắc đa số không c̣n có thể được xem là biểu hiện lư tưởng của dân chủ nữa mà chỉ là phương tiện thô bạo để đi đến quyết định.

Những người ủng hộ nguyên tắc đa số biện minh rằng thiểu số của hôm nay lúc nào cũng có thể hy vọng sẽ trở thành đa số của ngày mai và việc họ bị loại ra ngoài lề trong một quyết định hoặc trong một cuộc bầu cử nào đó sẽ được đền bù nếu sau này họ chiến thắng trở lại. Nói cách khác, phe thiểu số sẵn sàng chấp nhận luật chơi đa số dựa trên "nguyên tắc hỗ tương" nếu tin rằng một ngày kia khi họ trở thành đa số th́ phe kia cũng phải chấp nhận luật chơi cũng như chính họ đă từng chấp nhận. Song le, nguyên tắc này sẽ mất tác dụng khi đa số quyết định làm cho thiểu số bị mất khả năng phổ biến quan điểm của ḿnh hay dồn họ vào thế phải làm "đối lập muôn thủa" hoặc quyết định này quan trọng đến độ sự thất bại của phe thiểu số sau này không c̣n cách ǵ có thể bù đắp được nữa. Sau đây chúng ta sẽ xét từng trường hợp này một cách kỹ lưỡng.

Khi một quyết định của đa số (hoặc của một chính quyền được đa số hỗ trợ) xâm phạm đến những quyền dân chủ căn bản của một cá nhân hay một nhóm, th́ chiếu theo định nghĩa, quyết định này là phản dân chủ. Có những quyền được gọi là căn bản là bởi thiếu nó dân chúng không thể tham gia vào đời sống chính trị, thí dụ như: quyền tự do phát biểu, di chuyển và lập hội, quyền được bầu và ứng cử. Việc bảo đảm cho mọi công dân những quyền này là nền móng của mọi chế độ dân chủ. Để có thể bảo vệ những quyền này trước sự xâm phạm của đa số một cách lư tưởng nhất người ta có thể ghi chúng vào hiến pháp hoặc vào một tuyên ngôn về quyền công dân. Câu hỏi tế nhị liên quan đến những điều kiện cho phép ngưng hoặc giới hạn việc tôn trọng các quyền này sẽ được mổ xẻ sau.

Trường hợp thứ hai mà "nguyên tắc hỗ tương" không đem áp dụng được là trường hợp mà một thiểu số "muôn đời" bị là thiểu số. Đó là trường hợp các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc các nhóm được định nghĩa dựa trên bất cứ một tính chất "vĩnh cửu" nào. Nếu những chính đảng tham gia việc tranh giành quyền lực mà cố t́nh vạch ra thay v́ vượt lên trên những khác biệt này th́ có thể một ngày kia sẽ có một thiểu số bị vĩnh viễn loại ra khỏi việc điều hành quyền lực cũng như mất vai tṛ trong chính trường. Người ta có thể đặt nhiều biện pháp hiến định để ngăn ngừa việc đưa một thiểu số ra ngoài lề một cách vĩnh viễn. Người ta có thể dành cho thiểu số này một số bộ, tùy theo số lượng tương ứng mà bổ nhiệm họ vào một số chức vụ chính phủ; cho họ quyền phủ quyết những đạo luật liên quan đến quyền lợi sinh tồn của họ; công nhận cho họ được rộng quyền tự trị. Việc chọn biện pháp thích ứng nào phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể nhưng cho dù có chọn biện pháp nào th́ quyền được bảo tồn văn hóa ngày nay cũng được xem như một quyền con người căn bản và cần phải được bảo vệ bởi hiến pháp.

C̣n lại trường hợp của những nhóm thiểu số tranh đấu cho "những lư do thiêng liêng". Thiểu số này có thể xem một vấn đề quan trọng đến nỗi không thể nhượng bộ phe đa số về điểm này cho dù sau này được nhân nhượng về các điểm khác. Luật pháp không dự trù giải quyết loại trường hợp này. Song một đa số có kinh nghiệm và chín chắn sẽ biết có thể đưa cho thiểu số những nhượng bộ nào và biết tránh những quyết định áp đặt đơn thuần lên phe thiểu số. Sự bền lâu của dân chủ đ̣i hỏi các thành viên của cộng đồng phải chấp nhận chung sống với nhau, điều đ̣i hỏi rằng phe đa số và những chính quyền đại diện cho họ phải biết chừng mực và luôn thận trọng để đừng khai thác triệt để nguyên tắc đa số nhằm chiếm đoạt tất cả và áp đặt quan điểm của họ lên thiểu số.

 

11. Trong chế độ dân chủ, một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay không?

Sự "bất tuân dân sự", nghĩa là hành động vi phạm luật lệ một cách công khai, bất bạo động và nhân danh một nguyên tắc quan trọng hay một quyền lợi sống c̣n, được dành cho một vị trí quan trọng trong lịch sử dân chủ. Hành động này khác với các vi phạm h́nh sự bởi tính cách phô diễn, bởi tính chính trị của động cơ và bởi thực tế là những người thực hiện không có ư định trốn tránh sự truy nă, và nếu thất bại th́ họ sẵn sàng chấp nhận chịu án phạt. Sự bất tuân dân sự thường nhắm gây chú ư đến một sự bất công hay một vụ tai tiếng gây ra bởi nhà chức trách hoặc bởi một tổ chức tư nhân. Mục đích của nó là bắt giới hữu quyền phải xét lại một quyết định đang bị dân chúng lên án, sau khi những biện pháp nhằm đánh động lương tâm và để thuyết phục khác đă không đem lại kết quả. Trong một số trường hợp ít thấy hơn, những người phản đối t́m cách vô hiệu hóa một quyết định của chính quyền bằng cách tổ chức một phong trào chống đối rộng lớn. Dù sao, v́ đă vi phạm nguyên tắc hỗ tương là một nguyên tắc cơ bản cho sự đồng thuận pháp lư trong dân chủ, cho nên phải xem sự bất tuân dân sự là một cùng kế được đem ra áp dụng trong những điều kiện thật ngoại lệ.

Những người phản đối sự bất tuân dân sự cho rằng không có ǵ có thể biện hộ được cho hành động vi phạm luật pháp ấy. Đă xem luật pháp là nền tảng của xă hội văn minh mà c̣n để một cá nhân hay một nhóm người không tôn trọng nó th́ sau này sẽ có vô số người bắt chước theo. Nếu mỗi người tự cho phép ḿnh diễn giải luật pháp theo trí tưởng tượng của ḿnh th́ sớm muộn ǵ khung luật pháp cũng rạn nứt. Ngoài ra, hiến pháp của một chế độ dân chủ cũng đă dành cho dân chúng nhiều phương cách để họ sửa đổi luật pháp. Mỗi người có quyền dùng lá phiếu để tạo áp lực lên những đại diện dân cử của ḿnh hoặc phát động một chiến dịch -trong khuôn khổ luật pháp- nhằm thuyết phục dân chúng và chính quyền sửa đổi luật lệ hoặc một chính sách nào đó. Chỉ nội việc tham gia bầu cử tự nó đă nói lên sự ưng thuận chấp nhận kết quả và chấp nhận chương tŕnh hành động do đảng thắng cử đề ra. Tóm lại theo quan niệm của những người phản đối, sự bất tuân dân sự là một sự chà đạp lên nền dân chủ và lên nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

Những người đ̣i bảo vệ quyền bất tuân dân sự cho rằng việc đồng ư chấp nhận kết quả bầu cử không bắt buộc một cá nhân phải tôn trọng tất cả các luật lệ hoặc buộc họ phải chấp nhận toàn bộ hoạt động của chính quyền - bất kể các hoạt động này có bất công hay không. Những phương tiện hiến định để đánh động dư luận và để bày tỏ sự phản đối thường đi quá chậm, trong khi sự thiệt hại th́ không vớt lại được nữa. Trong thực tế, tiếng nói của các công dân b́nh thường luôn luôn bị bộ máy tuyên truyền của chính quyền và của các nhóm quyền lợi khỏa lấp. Trong hoàn cảnh đó, sự bất tuân dân sự không những không chống lại dân chủ mà c̣n phục vụ cho nó, một khi cho công luận biết đến sự hiện diện của tiếng nói đối lập qua cách tạo ấn tượng mạnh. Nói cho cùng mỗi cá nhân phải tự nhận định bằng lương tâm của ḿnh về giá trị đạo đức của luật pháp và không một ai v́ quán tính mà có thể tự cho phép tránh né trách nhiệm của ḿnh trong sự tồn dư dai dẳng của những đạo luật bất công. Lịch sử đă cho thấy sự chấp nhận thụ động những đạo luật mang tính đàn áp dân chúng c̣n tai hại hơn cả sự bất tuân phát xuất từ mong muốn bảo vệ các nguyên tắc.

Nếu nói chung chung th́ cũng rất khó phán xét về hai quan điểm trái ngược nhau trên đây. Người ta chỉ có thể có quyết định cho từng trường hợp một, với ư thức rơ ràng về hoàn cảnh, về giá trị của các nguyên tắc đối kháng trong từng vụ việc và cân nhắc về hậu quả xảy ra một khi phải bảo vệ nguyên tắc này hay nguyên tắc kia. Thực ra câu hỏi nêu trên chỉ có thể được trả lời bởi từng cá nhân. Ngày nay nó thuộc về một lănh vực mà các lương tâm cá biệt được tôn trọng. Thí dụ như việc chống đối tham gia nghĩa vụ quân dịch (có vũ trang) v́ lư do lương tâm đă khiến nhiều quốc gia phải bổ túc thêm bằng các h́nh thức nghĩa vụ dân sự khác và giá trị lương tâm của những chống đối này hiện đă được công nhận rộng răi.

 

12. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và dân chủ có liên quan ǵ với nhau?

Trong thế giới hôm nay người ta thường cho rằng chủ nghĩa quốc gia và dân chủ là hai ư niệm hoàn toàn đối chọi nhau. Điều này không đúng bởi hai ư niệm này có cùng nguồn gốc lịch sử và tư tưởng dựa trên nguyên tắc "mọi quyền lực chính trị phát xuất từ dân chúng" của các nhà cách mạng Pháp. Quan niệm của những người theo chủ nghĩa quốc gia cho rằng dân chúng được quyền tự định đoạt trong phạm vi lănh thổ quốc gia của họ rất gần với nguyên tắc dân chủ nhằm bảo đảm cho mọi công dân của một nước quyền được tự do quyết định lấy công việc của ḿnh.

Nhưng chúng ta sẽ phải đào sâu thêm nữa. Dân chủ là một học thuyết có giá trị phổ cập, cho phép mọi con người -bất kể những đặc thù của nó- được tự do quyết định, trong khi chủ nghĩa quốc gia lại dựa trên tính đặc thù, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa các dân tộc và chiếu cố đến đặc tính quốc gia của các phong tục, các nền văn hóa và các lối sống. Như vậy chủ nghĩa quốc gia chủ yếu dựa trên sự loại bỏ trong khi dân chủ lại dựa chính trên sự bao gồm. Nguyên tắc loại bỏ sẽ trở thành phản dân chủ sâu sắc khi nó dẫn đến việc từ chối phẩm giá công dân và chối bỏ các quyền lợi của các người ngoại quốc đă sinh sống lâu năm tại một quốc gia chỉ bởi v́ họ không nói cùng một ngôn ngữ, không có cùng một tôn giáo cũng như không có cùng một nguồn gốc sắc tộc như nhóm dân chiếm đa số trong quốc gia ấy. Vấn đề này sẽ không được đặt ra nếu tất cả các mọi chính phủ được ḥa chung vào một dân tộc hoặc một quốc gia thuần nhất. Nhưng thực tế lại không như vậy bởi các sắc dân đă bị ḥa trộn với nhau bởi làn sóng di dân và bởi các cuộc đô hộ xảy ra trong nhiều thế kỷ. Thế nên ư niệm quốc gia một-dân-tộc, theo đó quốc gia được coi như là tổ quốc của một sắc dân duy nhất, chỉ là một ảo tưởng.

Nếu đă cho rằng những đ̣i hỏi về quyền được tự quyết trên b́nh diện quốc gia là phù hợp với nguyên tắc dân chủ th́ người ta cũng phải thấy rằng việc từ chối không cho những người đă cư trú lâu năm những quyền lợi về chính trị cũng như cho các dân tộc thiểu số trong nước được tự trị -dù là sự tự trị một phần- là phản dân chủ. Do đó nếu ư thức rằng những sự từ chối này sẽ đe dọa nền ḥa b́nh trong nước cũng như giữa những quốc gia với nhau th́ người ta không thể xem chúng như là công việc nội bộ của quốc gia liên hệ nữa. Ngày nay những quyền dân chủ cơ bản - một bộ phận của nhân quyền- được xem như là tài sản và khát vọng chính đáng của nhân loại nói chung. Việc cộng đồng nhân loại bất b́nh mỗi khi biết có một người bị tước các quyền cơ bản này cũng như có biện pháp chế tài đối với quốc gia liên hệ là chính đáng. Nói cách khác việc đ̣i hỏi tôn trọng những đặc thù dân tộc và sắc tộc chỉ chính đáng khi dung để kết hợp mọi người vào cộng đồng nhân loại chứ không phải để chia rẽ nó.

 

13. Có thể cai trị một quốc gia một cách dân chủ không?

J.S. Mill, một triết gia phái tự do ở đầu thế kỷ 19, cho rằng chế độ dân chủ đ̣i hỏi một tŕnh độ văn minh khá cao. Mill cho rằng các quốc gia phương đông không có khả năng tự trị và cần phải được cai quản bởi một chế độ vừa chuyên chế vừa sáng suốt, tốt nhất là được hướng dẫn bởi Tây phương. Quan niệm mang màu sắc của chủ nghĩa chủng tộc này cũng được các tư tưởng gia khác của thời đại ngày nay chia xẻ, kể cả những người sáng suốt nhất. Nếu cho rằng người dân có học tạo thành yếu tố thuận lợi cho dân chủ, theo nghĩa làm giảm bớt khoảng cách giữa người cầm quyền và kẻ bị trị, th́ không có ǵ chứng minh rằng người dân không được học (theo nghĩa đen) sẽ không có khả năng hiểu được những vấn đề liên quan đến họ, không có khả năng tranh luận về những vấn đề này cũng như không có khả năng điều hành công việc riêng của họ. Ngoài ra lịch sử các chế độ chuyên chế, dù đế quốc hay nội địa, đều đă không ghi lại một chứng tích nhân ái nào cả.

Ngược lại lịch sử cũng c̣n cho thấy rằng dân chủ không thể giành được nếu không huy động được và có sự đấu tranh của phần đông dân chúng, cho dù phải chấp nhận hy sinh gian khổ trong một thời gian dài. Điều này c̣n có nghĩa là số đông dân chúng phải hiểu được rằng chỉ có việc thiết lập một chính quyền dân chủ mới có thể đáp ứng được những khát vọng căn bản của họ và họ phải tự tổ chức lại để đấu tranh. Nói cách khác, dân chủ không rơi từ trời xuống như một phép lạ. Không ai, dù là một nhà lănh đạo b́nh thường, hoặc là các người độc tài quân phiệt hay cộng sản, hay các vị tổng thống trọn đời hoặc các kẻ xâm lăng, lại tự nguyện rời bỏ quyền lực! Họ chỉ chịu rời bỏ quyền lực một khi chế độ của họ đă bị mất uy tín trầm trọng và khi một sự huy động quần chúng làm cho họ hiểu rằng việc bám giữ quyền lực của họ chỉ gây thêm hỗn loạn và sự tê tiệt của chính quyền.

Sự yểm trợ của các quốc gia dân chủ ngoại quốc dĩ nhiên sẽ khiến cho các lực lượng dân chủ dễ chiến thắng hơn và sẽ đóng góp vào việc thiết lập một thể chế dân chủ. Song le, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua, các quốc gia dân chủ tây phương đă chỉ chú trọng đến việc giới hạn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản hơn là việc hỗ trợ công cuộc đấu tranh cho dân chủ trong các quốc gia cộng sản, và v́ lẽ đó, họ cũng đă góp phần duy tŕ một số chế độ cực kỳ phản dân chủ. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, cộng đồng quốc tế đă tiến bộ hơn và đă đứng hẳn về phía các phong trào và các chính quyền dân chủ. Sự hỗ trợ này chắc chắn sẽ rất quan trọng nhưng không thể nào thay thế được việc các dân tộc phải tự đứng lên đấu tranh chống lại các chế độ đă áp bức họ. Thực ra ta cũng thấy điều ǵ mâu thuẫn khi một chính quyền độc lập lại được dựng lên bởi các thế lực ở bên ngoài; thêm nữa một chế độ như vậy chắc chắn sẽ không tồn tại được bao lâu.

 

14. Làm thế nào để giữ sau khi đă thiết lập được dân chủ?

Không có bí quyết hoàn hảo nào có thể đưa ra để trả lời câu hỏi này. Nền dân chủ phương tây chỉ được ổn định sau một thời gian dài gặp thoái bộ định kỳ gây nên bởi sự chống đối của giới quư tộc, của chế độ độc tài quân phiệt hoặc phát xít. Trong những chế độ dân chủ trẻ mới được thành lập, để thực hiện dân chủ, người ta chỉ mong rằng t́nh h́nh đừng quá tồi tệ. Một chế độ chính trị tự do sẽ không thể hoạt động được tại những nước mà hố phân cách xă hội quá lớn; tại một số nước, nền kinh tế không có khả năng đáp ứng được các nguyện vọng chân chính của người dân; tại một vài nước khác, giới quân đội khó chấp nhận rút lui khỏi chính trường, một khi đă nắm được các quyền hành quá lớn.

Song ta đừng nghĩ rằng dân chúng tại những nước có hoàn cảnh khó khăn như vậy sẽ chấp nhận bó tay. Các cơ chế dân chủ vẫn có thể được xây dựng bằng nhiều biện pháp để bảo vệ người dân trước vô số những o ép. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là đào tạo và nâng cao phẩm chất cho những chuyên viên đảm nhận những trách vụ quan trọng nhất trong guồng máy chính phủ thí dụ như các quan ṭa và các chuyên viên về hiến pháp, các nhân viên trong quốc hội, những người đặc tổ chức tuyển cử. Nói chung đó là những công chức. Tương tự, cần phát triển các chính đảng và cần bảo đảm việc đào tạo cán bộ trong các chính đảng. Ngoài ra cũng cần mở rộng tác dụng của những cơ chế (cơ chế được hiểu như những thành tố) của một xă hội dân sự như truyền thông, công ty, nghiệp đoàn, tổ chức phi chính phủ, để chúng có thể hoạt động độc lập và ở ngoài sự giám hộ của chính phủ. Một yếu tố quan trọng khác là phẩm chất của những người lănh đạo chính trị. Khả năng, sự liêm khiết cũng như sự dấn thân nhằm xây dựng những cơ chế dân chủ và cơ chế hiến định của họ c̣n quan trọng hơn cả quyết tâm nhằm giải quyết tức thời các vấn đề và bảo vệ quyền lực của họ.

Cuộc tranh đấu giữ ǵn dân chủ được diễn ra trên hai trận tuyến. Trận tuyến thứ nhất nhằm chống lại các thế lực thù địch chống dân chủ. Những thế lực này không chịu chấp nhận những cơ chế tự do và không chấp nhận ảnh hưởng của các đoàn thể quần chúng lên việc điều hành xă hội. Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ thuộc vào sự sinh động của các cơ chế và những lực lượng xă hội có nguyện vọng bảo vệ dân chủ và sẵn sàng huy động lực lượng để bảo vệ nó. Trận tuyến thứ hai nhằm bảo vệ các nguyên tắc về chia xẻ quyền lực chính trị trong một chế độ dân chủ. Những nguyên tắc này thể hiện trong việc cạnh tranh quyền lực hay trong việc (cám dỗ!) xem chính trị là một tṛ chơi mà kẻ thắng sẽ lấy hết phần thưởng. Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ thuộc vào sự biết tự giới hạn của các người lănh đạo khi thi hành quyền lực, vào mong muốn giữ đối thoại với các đối thủ chính trị và vào việc tôn trọng các quyền chính trị của mỗi người dân.

 

15. Những thành tố chính yếu của một chế độ thực sự dân chủ

Một chế độ thực sự dân chủ luôn có 4 thành tố chính c̣n gọi là 4 trụ cột: những cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng; một chính quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm trước cơ quan lập pháp; sự tôn trọng dân quyền và quyền chính trị; và sự hiện hữu của một xă hội dân chủ hay nói cách khác là một xă hội dân sự. Những thành tố này hợp thành một "tháp dân chủ", trong đó các thành phần kết hợp chặt chẽ với nhau thành một tổng thể .

 

(i) Những cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng

Những cuộc bầu cử dựa trên nguyên tắc tranh đua là căn bản để cho những người nhận trách vụ công quyền phải chịu trách nhiệm trước dân chúng và chịu đặt ḿnh dưới sự kiểm soát của dân chúng. Những cuộc bầu cử này cũng là dịp để đánh giá nguyên tắc b́nh đẳng chính trị giữa những công dân, cả về phương diện ứng cử lẫn tranh cử. Khái niệm về "những cuộc bầu cử tự do và b́nh đẳng", được dùng ở đây như một tiêu chuẩn, trước tiên có ư nghĩa bao trùm lên cả hệ thống bầu cử, nghĩa là lên cả những đạo luật quy định về trách vụ dân cử, phẩm chất của những người muốn ứng cử, lịch tŕnh bầu cử, phẩm chất của cử tri, khu vực bầu cử, thủ tục kiểm phiếu, v.v... Thứ nữa, ư nghĩa của khái niệm này cũng bao trùm lên diễn tiến bầu cử, nghĩa là những thủ tục cụ thể của cuộc đầu phiếu: từ việc ghi danh cử tri, tổ chức vận động cho đến việc khui thùng phiếu, để bảo đảm cho việc áp dụng luật lệ một cách chặt chẽ và không thiên vị và để tránh mọi thủ đoạn gian lận dẫn đến việc nghi ngờ kết quả bầu cử.

 

(ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm

Trong thể chế dân chủ trách nhiệm của chính quyền trước dân chúng gồm hai mặt. Về mặt pháp lư, trách nhiệm của chính quyền trước các ṭa án tùy thuộc việc thi hành luật của các cá nhân đảm nhận trách vụ công quyền (chiếu theo nguyên tắc "thượng tôn pháp luật"). Trách nhiệm này tùy thuộc rất nhiều vào sự độc lập của các ṭa án đối với chính quyền. Có được độc lập, các ṭa án mới có thể buộc mọi người phải tuân theo hiến pháp, xác định được hành vi phạm tội của những người phạm pháp và trừng phạt họ. Về mặt chính trị, trách nhiệm của chính quyền được thể hiện qua việc chính quyền phải biện minh về chính sách và hành động của ḿnh trước quốc hội và dân chúng. Trách nhiệm này tùy thuộc vào quyền lực của quốc hội trong việc ban hành luật, quy định chính sách thuế khóa và kiểm soát hoạt động của chính quyền. Nếuđă có ư thức trách nhiệm về hànhđộng của ḿnh th́ một chính quyền dân chủ phải biết lắng nghe ư kiến dân chúng qua những phương cách thăm ḍ gián tiếp theo luật pháp quyđịnh hoặc bằng bất cứ phương cách nào khác.

 

(iii) Dân quyền và quyền chính trị

Dân quyền và quyền chính trị bao gồm các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại, nhằm bảo đảm cho công dân được tham gia vào đời sống chính trị dù ở dạng các hội đoàn trong một xă hội dân sự hoặc ở dạng những nhóm áp lực t́m cách ảnh hưởng lên chính quyền. Mặc dù chỉ là những quyền tự do của cá nhân thuộc trong nhóm nhân quyền (chỉ vậy cũng đủ xứng đáng để được bảo vệ rồi) nhưng tầm mức quan trọng của chúng lại bộc lộ trong sinh hoạt của tập thể: dưới dạng huy động nhân sự cho một mục tiêu có ích lợi chung hay dưới dạng những chiến dịch nhằm gây ư thức hoặc gây áp lực lên chính quyền. Thay v́ cho rằng những quyền cá nhân làm cản trở các hoạt động v́ lợi ích chung, cản trở diễn tŕnh quyết định của tập thể người ta nên xem rằng những quyền này đă tạo nên nền tảng chính của thể chế dân chủ.

 

(iv) Xă hội dân chủ hay xă hội dân sự

Thể chế muốn dân chủ th́ nhất thiết phải xây dựng trên một xă hội "dân sự", nghĩa là một xă hội với những hội đoàn làm đủ mọi việc công ích và độc lập với cơ quan công quyền. Ngoài những tổ chức đó ra, dân chúng sẽ không có một phương tiện nào khác để giới hạn quyền hành của Nhà nước, để dư luận được có khả năng bày tỏ ư kiến, để tránh cho dư luận bị phụ thuộc vào những người lănh đạo và để cho xă hội có đủ sức mạnh chống lại các sự độc đoán tùy tiện. Nhưng những hội đoàn này không thể chỉ "độc lập" là đủ. Các hội đoàn này cần phải được điều hành và hoạt động một cách dân chủ trong ư thức rằng dân chủ không thể bén rễ sâu trên b́nh diện quốc gia, nếu cách thức điều hành chuyên chế vẫn tràn lan ngoài xă hội. Nếu trong môi trường gia đ́nh, học đường, tôn giáo, những cá nhân bị khép vào một khuôn khổ chuyên quyền độc đoán, và nếu tại nơi làm việc, trong khu phố và trong những hội đoàn mà họ tham gia, họ không thể tập hợp lại được một cách độc lập hoặc họ không được phép tham gia vào việc điều hành một dự án chung, th́ chắc chắn những cá nhân này không thể là những công dân năng nổ hoặc họ sẽ không cảm thấy có trách nhiệm trước hiện trạng xă hội.

 

II. Những cuộc bầu cử tự do và công bằng

 

16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?

Trên phạm vi quốc gia những cuộc bầu cử có 2 nhiệm vụ. Một mặt phương cách bầu cử cho phép chọn lựa người cầm đầu chính quyền hoặc bộ máy hành chính và từ đó chọn lựa chính sách mà chính quyền đó dự định thực hiện. Mặt khác những cuộc bầu cử c̣n cho phép chỉ định những dân biểu trong viện dân cử hoặc quốc hội, là những người -nhân danh dân chúng- có nhiệm vụ biểu quyết về luật lệ, quyết định về thuế khóa và kiểm soát các hoạt động của chính phủ. Trong tổng thống chế với một tổng thống đứng đầu chính quyền th́ hai nhiệm vụ vừa nêu được tách bạch, những cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội được tiến hành riêng rẽ, mặc dù thời gian có thể trùng nhau. Trong một chế độ dựa vào thủ tướng hay trong quốc hội chế, người ta chỉ cần tổ chức một cuộc bầu cử để hoàn tất cả hai nhiệm vụ trên v́ các cử tri đă giao quyền điều hành chính phủ cho chính đảng chiếm đa số ghế trong quốc hội.

Việc bầu cử định kỳ để chọn người vào các nhiệm vụ chính thức theo một diễn tŕnh minh bạch và mang tính tranh đua là một trong những phương tiện kiểm soát hữu hiệu của dân chúng trong một chế độ dân chủ đại nghị. Bầu cử là sự minh xác rằng quyền lực chính trị thuộc về người dân và quyền lực này được thi hành dưới sự ủy nhiệm của dân và xác định rằng những chính khách phải chịu trách nhiệm về hoạt động của họ trước dân chúng. Về điểm cuối vừa nêu, việc tước bỏ chức vụ là cách tốt nhất để bảo đảm rằng những người được bầu sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Chính tính chất này cho phép bảo đảm khả năng của các chức trách chính trị và tùy t́nh thế thực hiện sự đổi mới nhân sự cũng như các chính sách trên b́nh diện chính quyền.

 

17. Nguyên thủ quốc gia có cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử không?

Nguyên thủ quốc gia được chú ư bởi vai tṛ vô cùng trang trọng và nhiều tính biểu tượng của họ. Vai tṛ này biểu tượng cho sự thống nhất của quốc gia vượt lên trên mọi tranh chấp đảng phái, cho sự liên tục nằm ngoài sự thay đổi của các chính quyền vắn số và cho sự hiện diện thường trực của hiến pháp so với bản chất hữu hạn của các nhiệm kỳ. Vai tṛ biểu tượng này sẽ vô cùng quan trọng khi quốc gia gặp khủng hoảng hoặc có những tranh chấp liên quan đến hiến pháp. Trong những trường hợp khó khăn ấy, vị nguyên thủ quốc gia sẽ phải sử dụng đến uy quyền đặc biệt của ḿnh.

Trong tổng thống chế vị tổng thống đắc cử kiêm nhiệm cả vai tṛ danh dự của một nguyên thủ quốc gia lẫn vai tṛ của một người cầm đầu chính phủ. Đó là trường hợp của Nga, Hoa Kỳ và đa số các quốc gia tại Nam Mỹ. Trong quốc hội chế, thông thường vị nguyên thủ quốc gia được bầu qua một cuộc tổng tuyển cử hoặc bởi quốc hội và không có quyền lực hành pháp. Đó là trường hợp của Đức, Ái Nhĩ Lan và Ấn Độ. Trong chế độ quân chủ lập hiến như tại Bỉ, Tây Ban Nha và Anh Quốc, vị nguyên thủ quốc gia được chỉ định bằng tính kế thừa và thi hành chức vụ này trọn đời.

Khó mà nói thể chế nào cho phép chỉ định nguyên thủ quốc gia một cách tốt nhất. Thật ra mỗi thể chế phải được hiểu trong cái tổng thể của nó. Tổng thống chế có nhược điểm là lôi kéo vị nguyên thủ quốc gia vào những tranh luận về cách điều hành quốc gia hoặc bắt vị này gánh chịu một phần trách nhiệm trong những chính sách mất ḷng dân.

 

18. C̣n những người ở chức vụ nào khác cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử?

V́ người đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm trước quốc hội về hành động và về khả năng của các nhân viên chính phủ, và do người đứng đầu hành pháp được dân bầu lên, cho nên việc để cho người đứng đầu hành pháp tự chọn nhân viên của ḿnh sẽ hợp lư hơn việc tuyển chọn qua một cuộc bầu cử, với điều kiện việc tuyển mộ phải lưu tâm đến mọi người có khả năng thích ứng. Song, trong việc tổ chức các cơ quan công quyền, thể chế dân chủ đ̣i hỏi phải có sự hiểu biết những nhu cầu thực tế và về bối cảnh phát triển của địa phương. Điều này nói lên sự cần thiết phải bầu ra những cơ cấu để giám sát việc điều hành một số các lănh vực như sức khỏe, giáo dục, cảnh sát, v.v... trên b́nh diện địa phương và để chịu trách nhiệm điều hành tất cả công việc địa phương. Việc tản quyền này thể hiện rơ trong cơ chế liên bang, khi trên b́nh diện tiểu bang, các tỉnh và các địa phương người ta t́m lại được những cấu trúc lập pháp và hành pháp tương ứng với cấu trúc của liên bang.

Đứng trước câu hỏi liệu có cần phải bầu ra các quan ṭa hay không, người ta dễ có khuynh hướng trả lời rằng nếu các vị đại biểu lập pháp và vị đứng đầu hành pháp đă được dân bầu, th́ dĩ nhiên cũng phải để dân bầu những quan ṭa. Song le, v́ các quan ṭa phải thi hành các nhiệm vụ pháp lư (chứ không phải là chính trị) -những nhiệm vụ chủ yếu dựa trên các nguyên tắc như sự gắn bó chặt chẽ (với luật pháp) và sự vô tư (không phụ thuộc vào sự đánh giá của quần chúng)- nên tốt hơn hết là không nên để cho những trách vụ này phải chịu sự phán quyết của dân chúng hoặc để chúng dễ bị phụ thuộc vào một phe nhóm nào đó của xă hội. Trong quyền hạn của ḿnh, chính quốc hội phải làm sao để những đạo luật (mà các quan ṭa áp dụng) và mức án (mà quan ṭa tuyên bố) phản ánh được dư luận quần chúng chứ không phải phản ánh tâm trạng của những người xử án. Tóm lại cách chọn quan ṭa là một vấn đề quan trọng của dân chủ, đặc biệt khi việc tuyển chọn này làm thiệt hại đến các nhóm có số lượng đông đảo trong xă hội như phụ nữ, dân tộc thiểu số hay các nhóm thiểu số khác.

 

19. Có cần bầu một nghị viện thứ hai không?

Muốn biện bạch cho việc cần bầu một nghị viện thứ hai (bầu theo những tiêu chuẩn hoàn toàn khác với quốc hội) người ta có thể viện dẫn lư do cần giám sát quốc hội càng kỹ càng tốt và ủng hộ nó càng nhiều càng hay. Lư luận này đặc biệt đúng trong một chế độ liên bang với một thượng viện đại diện cho quyền lợi của các tiểu bang thành viên chứ không đại diện cho quyền lợi của quốc gia trong tổng thể của nó. Trên b́nh diện lập pháp, thượng viện đóng vai đối trọng, rất cần thiết trong một quốc gia mà quyền cá nhân không được bảo vệ bởi Hiến pháp.

Nói chung, hai nghị viện sẽ được bầu theo hai phương thức khác nhau. Thượng viện được bầu theo thể thức gián tiếp hay bầu dựa trên một sự phân chia khu vực bầu cử khác hẳn hay theo một lịch tŕnh bầu cử khác để có thể thay đổi một phần các nghị sĩ trong thượng viện trong mỗi kỳ bầu cử. Trong các quốc gia theo quốc hội chế việc để cho cả nước trực tiếp bầu lại tất cả dân biểu trong hạ viện đă tạo nên bảo đảm cho tính chính đáng của quốc gia về phương diện điều hành quốc gia và giao cho hạ viện một vai tṛ ưu tiên trong việc soạn thảo luật pháp. Tốt hơn hết cần giao cho thượng viện quyền đ́nh chỉ hoặc quyền phủ quyết. Trong chế độ dân chủ không có ǵ có thể biện minh được cho sự thành lập một thượng viện mà không thông qua bầu cử.

 

20. Chu kỳ của các cuộc bầu cử

Ở thế kỷ 19 những nhà dân chủ cố chấp đă đ̣i hỏi phải cho bầu cử quốc hội mỗi năm một lần để có thể kiểm soát những dân biểu một cách hữu hiệu. Song, với nhiệm vụ ngày nay, trong ṿng một năm, chính quyền và quốc hội không thể điều hành hữu hiệu về kinh tế cũng như không thể đánh giá tác dụng của các chính sách được họ vạch ra. Thông thường người ta cho rằng một nhiệm kỳ 4 năm là một thỏa thuận hợp lư giữa một bên là sự liên tục cần thiết của các chính quyền và một bên là những nguyên tắc buộc chính quyền phải tôn trọng nguyện vọng của người dân và chịu trách nhiệm trước người dân.

Nhiệm kỳ của các vị dân cử dù dài dù ngắn thế nào chăng nữa, vấn đề quan trọng là quyết định kêu gọi toàn quốc đi bầu không được xuất phát từ chính phủ. Đ̣i hỏi các cuộc bầu cử phải "tự do và b́nh đẳng" cũng có nghĩa là (một hoặc những) chính đảng đang cầm quyền không được kiểm soát diễn tŕnh bầu cử và không được dùng nó để chiếm lợi thế. Điều này cũng được áp dụng cho lịch bầu cử cũng như các thức tiến hành bầu cử.

 

21. Có cần phải giới hạn quyền bầu cử không?

Trong đa số các quốc gia dân chủ việc giới hạn quyền bầu cử thường chỉ được áp dụng đối với trẻ em, với những người bị kết án h́nh sự, những bệnh nhân tâm thần và người ngoại quốc. Đây là một tập hợp không đồng nhất của những nhóm người không được quyền bầu cử v́ lư do riêng biệt cho từng trường hợp.

Đối với các trẻ em chưa đủ một tuổi nào đó, việc loại trừ mang ư nghĩa tốt và dựa trên lư do tâm lư liên quan đến sự phát triển của các em. Trước một tuổi nào đó, v́ đa số các em chưa có đủ kinh nghiệm và chưa ư thức được đầy đủ về hậu quả lâu dài của những chọn lựa của ḿnh, nên chưa thể miễn cho các em việc cần được bảo hộ tốt. Tại nhiều nước, khi đạt đến một tuổi nào đó, các em sẽ nhận được một số quyền của người trưởng thành: quyền hôn nhân, quyền sở hữu, quyền có tư cách pháp nhân trong kiện tụng và quyền bầu cử. Việc công nhận các quyền này thường đến với tuổi 18, tương ứng với việc học xong trung học và việc thi hành nghĩa vụ quân dịch.

Dù sao việc định độ tuổi trưởng thành cũng chỉ là một chọn lựa hoàn toàn tùy tiện. Ngày nay ai cũng biết rằng các trẻ em thường chín muồi trước tuổi. Hiện nay các em đă có một số quyền, thí dụ như quyền đi làm được trả lương, ngay cả khi chưa đạt đến 18 tuổi. Điều đáng buồn là hiện vẫn c̣n những em cần phải được bảo vệ trước những người có trách nhiệm đối với các em, và do đó người ta phải mở rộng cho các em quyền có tiếng nói trong những việc liên quan đến cá nhân các em, nhiều hơn là các em hiện nay đang có. Dù sao tiến tŕnh trưởng thành cũng là một tiến tŕnh liên tục, cho nên ngay từ tuổi nhỏ, người ta cần phải sửa soạn cho các trẻ em ư thức được trách nhiệm công dân của ḿnh trong một xă hội dân chủ bằng cách cho các em tham gia vào những quyết định được lấy một cách tập thể trong môi trường học đường hoặc gia đ́nh. Dù sao những suy nghĩ này cũng chưa đủ thuyết phục để hạ thấp một cách đáng kể mức tuổi được đi bầu -như mức 18 tuổi hiện nay- hoặc xóa bỏ đi việc ấn định độ tuổi tượng trưng cho sự công nhận của xă hội về sự trưởng thành cũng như về những quyền dành cho những thanh niên đạt đến độ tuổi đó.

Đối với những người bị kết án tù, người ta có thể biện minh cho việc tước quyền bầu cử của họ rằng khi đă vi phạm nghiêm trọng pháp luật th́ họ sẽ bị mất mọi quyền tham gia vào việc soạn thảo luật, dù bằng cách nào chăng nữa. Nhưng ngược lại việc mất tự do cũng không thể kéo theo việc mất tất cả các quyền công dân khác và đặc biệt hơn nữa, phải cho tù nhân được liên lạc với những vị dân cử để bảo đảm cho họ quyền được bảo vệ trước những cách đối xử phi pháp và dă man và để giám sát điều kiện giam giữ họ. Tương tự như vậy người ta cần có quan niệm rộng răi đối với những người bệnh tâm thần bởi không thể xếp họ vào một loại đồng nhất -loại người không c̣n có ư thức ǵ được về quyền lợi bản thân.

Cuối cùng chúng ta cần bàn về việc tước quyền bầu cử của những người ngoại quốc đang thường trú trong một nước. Trong trường hợp đặc biệt này quyền bầu cử nằm trong một vấn đề rộng lớn hơn là vấn đề nhập tịch. Nếu chúng ta thừa nhận rằng việc khai sinh dân chủ hồi thế kỷ XVIII phát xuất từ việc đặt lại vấn đề các nguyên tắc quân chủ (việc thụ hưởng các quyền chính trị phụ thuộc duy nhất vào yếu tố ḍng tộc hoặc sự thừa kế), th́ nếu nhất quán chúng ta không được xem quốc tịch là tiêu chuẩn duy nhất để tước quyền bầu cử của những người ngoại quốc đă sống nhiều năm tại một nước nào đó. Người ta có thể tranh căi nhiều về thời gian cư trú mà một người ngoại quốc cần có để được xem là "ổn cư", nhưng người ta phải thẩm định một cách hợp lư rằng thời gian cư trú dể cho ngoại kiều được phép nhập tịch một nước nào đó không thể quá năm (5) năm.

 

22. Làm sao thiết lập danh sách cử tri?

Mặc dù người ta có thể nghĩ rằng việc ghi danh, lập danh sách cử tri là một công tác hoàn toàn kỹ thuật, nhưng trên thực tế thủ tục ghi danh ảnh hưởng quan trọng đến việc thực thi quyền đầu phiếu. Lập danh sách cử tri trước khi có bầu cử là việc làm cần thiết: danh sách cử tri rất cần để nhận diện từng người đi bầu, để tránh việc có thể bỏ phiếu hai lần hay để ngăn ngừa việc mạo danh một cử tri khác hoặc có thể bỏ phiếu mặc dù không có quyền cử tri.

Tuy nhiên nhiều khi những thủ tục ghi danh đă cản trở người công dân thực hiện việc ghi danh hoặc thực hiện quyền cử tri của họ. Trường hợp này sẽ xảy ra khi việc ghi danh để cho tự nguyện và bị ảnh hưởng bởi đảng viên cuồng nhiệt của các chính đảng muốn dành lợi thế hoặc khi thời hạn khóa sổ ghi danh cách quá xa ngày bầu cử, cho dù vào thời điểm bầu cử danh sách cử tri cần phải được đóng lại. Người dân cũng rất sợ rằng danh sách cử tri sẽ được sử dụng vào các mục đích hành chính khác, chẳng hạn như để kiểm tra t́nh trạng thuế khóa, nghề nghiệp, gia đ́nh của họ là những dữ kiện mà người dân thường phải cung cấp theo những thủ tục riêng biệt khác.

Một thể thức đáp ứng đúng theo các nguyên tắc dân chủ đ̣i hỏi việc ghi danh cử tri phải có tính bắt buộc, phải được thi hành bởi một nhân viên chính thức được trả công và được đào tạo để làm việc này, việc cập nhật hóa danh sách cử tri cần thực hiện càng cận ngày bầu cử càng tốt, và những việc này phải được thực hiện một cách riêng biệt -về cả phương diện tài chính lẫn cách thức tiến hành-đối với các bộ hồ sơ hành chính khác.

 

23. Có cần cưỡng chế bầu cử không?

Tại những quốc gia có cưỡng chế bầu cử (thí dụ Úc) người ta cho việc bắt buộc tham gia chọn lựa chính quyền và dân biểu là một lợi quyền giống như một loại nghĩa vụ dân sự. V́ lợi quyền này là kết quả của sự tranh đấu của nhiều thế hệ nên ai muốn bỏ phiếu trắng th́ cứ ghi rơ sự từ chối của ḿnh trong danh sách cử tri thay v́ lánh xa các cuộc bầu cử giống như những cử tri thờ ơ, vắng mặt hoặc tử vong. Thực ra chúng ta thấy có một cái ǵ mâu thuẫn khi nêu đ̣i hỏi cưỡng chế trong một cuộc bầu cử "tự do" hoặc khi bắt người dân phải thi hành "lợi quyền" của chính họ. Nói cho cùng phiếu trắng -một cách biểu lộ quan trọng của dân chúng- là một dấu hiệu cảnh cáo về sự ách tắc của diễn tŕnh dân chủ.

Nhiều nước dân chủ hiện chấp nhận h́nh thức từ chối tham gia bầu cử. Nhưng nếu đă xem việc bầu cử là tự nguyện, th́ liệu nó có mâu thuẫn ǵ với việc nhiều quốc gia bắt phải thi hành ghi danh cử tri không? Câu trả lời là không, nếu cho phép người dân khi ghi tên vào danh sách cử tri vẫn c̣n có quyền chọn lựa có tham gia đầu phiếu hay không, v́ trên thực tế mỗi quốc gia cũng cần phải có các danh sách cử tri chính xác và đầy đủ để dùng cho các mục đích hoàn toàn hợp pháp về bầu cử, chẳng hạn như để điều chỉnh con số cử tri giữa các kỳ bầu cử.

 

24. Tại sao phải bỏ phiếu kín?

John Stuart Mill, một triết gia người Anh theo khuynh hướng tự do, cho rằng cần phải bỏ phiếu công khai để các cử tri có thể biện bạch chọn lựa của họ trước những người khác và để bắt họ phải đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá nhân.

Quan điểm này tuy rất "quư phái" nhưng không được các lư thuyết gia sau ông ủng hộ. Trong khi thi hành, nếu để bầu cử công khai như vậy, các cử tri sẽ ở vào t́nh trạng khó chống đở lại các áp lực của các người nắm giữ chức quyền như chủ nhân, sở hữu chủ, giáo sĩ, thượng cấp hoặc dễ bị các ứng cử viên t́m cách mua chuộc lá phiếu của họ. Việc bỏ phiếu kín ngày nay đă là một trong những đặc tính quan trọng được gắn liền với các chế độ dân chủ.

 

25. Điều kiện ứng cử

Trên nguyên tắc mọi cử tri đều có quyền ứng cử. Việc một số quốc gia ấn định một độ tuổi nhất định nào đó -trên mức tuổi có quyền đi bầu- để được ra ứng cử là một ấn định thừa thăi v́ ứng cử viên nào chưa có đủ kinh nghiệm trong việc điều hành quốc gia th́ cũng sẽ khó mà thắng cử được.

Trong khi đó việc quy định tiến tŕnh đề cử và ghi danh ứng cử lại là một vấn đề khác. Ở đa số các quốc gia, khi đ̣i hỏi rằng ứng cử viên phải được sự ủng hộ của những đại diện cử tri đoàn và / hoặc phải đóng một số tiền "thế chân" nào đó (mà họ sẽ mất nếu không đạt được một số lượng phiếu tối thiểu nhất định), thủ tục bầu cử thực ra chỉ nhằm ngăn chặn các ứng cử viên ngông nghênh. Tuy nhiên cả hai biện pháp nhằm loại bỏ các ứng cử viên "thích mơ mộng" này có một yếu điểm là có thể loại cả một số ứng cử viên đứng đắn, nhất là khi họ thuộc các nhóm chính trị mới thành lập. Một số nước khác, chỉ những ứng cử viên đại diện các chính đảng được công nhận mới có quyền ứng cử. Tại đó, cho dù mục đích là làm nản ḷng các ứng cử viên ngông nghênh nhưng phương cách này lại đưa đến hệ quả kiểm soát các chính đảng và các ứng cử viên và do đó giới hạn cả quyền chọn lựa chính đáng của dân chúng.

Tại Hoa Kỳ, mỗi chính đảng chỉ định ứng viên của ḿnh qua một ṿng bầu phiếu sơ bộ, trong đó chỉ có những đảng viên có tên trên danh sách cử tri của đảng mới được bỏ phiếu. Nếu phương thức này đă có thể tập trung các cử tri vào việc đề cử và bầu cử th́ nó lại tăng giá trị một cách thái quá các cuộc bầu cử (nội bộ đảng) và ưu đăi các ứng cử viên có nhiều tiền của riêng hoặc được các thế lực tài chính lớn ủng hộ. Để tránh t́nh trạng này người ta có thể chỉ định ứng viên qua một cuộc bầu cử dành cho mọi cảm t́nh viên của đảng tại quận hoặc khu vực đầu phiếu liên hệ. Dù rất khiêm tốn biện pháp dân chủ hóa việc chọn lựa các ứng viên này đến nay vẫn chưa được đem ra áp dụng một cách rộng răi cho xứng đáng với ư nghĩa của nó.

 

26. Tại sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?

Trong các chế độ dân chủ phương Đông tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội rất thấp so với tỷ lệ phụ nữ trong dân số. Ngay cả tại các nước có truyền thống dân chủ vững chắc tỷ lệ này vẫn dưới 15%: tại Bắc Âu là 35%, Pháp đội sổ với 6%, tại đa số các nước khác khoảng 10%. T́nh trạng này bắt nguồn từ những nguyên nhân lịch sử, truyền thống và chính trị. Từ xưa phụ nữ bị xem (do bản chất) là không đủ khả năng hoạt động chính trị, dẫn đến việc t́m cách đưa họ ra xa các loại hoạt động chính trị, để rồi từ đó cho rằng họ không hợp với chính trị. Được củng cố thêm bởi sự bất b́nh đẳng trong việc phân công công việc gia đ́nh (phụ nữ vẫn tiếp tục phải chăm lo con cái và nhà cửa nhiều hơn đàn ông) những di hại tư tưởng này đă cản trở việc phụ nữ hoạt động chính trị chuyên nghiệp để tự nuôi sống lấy ḿnh. Hoạt động chính trị đ̣i hỏi nhiều thời giờ; giờ giấc của nhân viên chính phủ hoặc dân biểu quốc hội thường không thích hợp với giờ giấc gia đ́nh b́nh thường. Tóm lại người đàn bà khó đến với các hoạt động chính trị một cách tự nhiên, cho dù bản chất có thích hợp với sự cạnh tranh, với những tranh chấp đảng phái và với sự nổi bật cá nhân.

T́nh trạng này có đáng lo ngại không? Nếu xét về nguyên tắc b́nh đẳng chính trị th́ thật đáng lo ngại khi một thành phần xă hội nào đó rơ ràng được ưu đăi để chiếm giữ các chức vụ công cộng hoặc dân cử. Người ta rất có lư khi cho rằng đàn ông không thể lưu tâm bằng phụ nữ đến các vấn đề liên quan đến phụ nữ hoặc không ưu tiên để chi tiêu ngân sách đúng mức cho các vấn đề này. Cho dù rằng phụ nữ nói chung có thể không cùng quan điểm và quyền lợi với nhau nhưng đa số đều rất bực dọc khi thấy một quốc hội gồm đa số là đàn ông mà lại làm ra các đạo luật về ngừa thai, phá thai, hiếp dâm, v.v... Tóm lại, khi người phụ nữ, với những khả năng và đặc thù riêng, không có chỗ đứng tương xứng trong đời sống cộng đồng th́ chính xă hội trong toàn thể của nó đă bị nghèo nàn đi.

Làm thế nào để sửa chữa t́nh trạng này? Chúng ta chỉ có thể sửa lại một sự bất b́nh đẳng chính trị do lịch sử để lại bằng cách thực hiện nhiều biện pháp trong nhiều lănh vực. Để bắt đầu chúng ta có thể thay đổi quan điểm trong các trường học và trong hệ thống giáo dục, gia tăng phương tiện trông giữ trẻ, cải tổ vấn đề tổ chức về thời gian của các dân biểu và sắp xếp các thiết bị dành cho họ sử dụng. Đặc biệt các chính đảng phải có bổn phận đưa ra những sáng kiến trong vấn đề này để khuyến khích phụ nữ tham gia việc đào tạo họ, dành ưu tiên cho các ứng cử viên phụ nữ bằng cách quy định số phần trăm ghế đại biểu hoặc dành một số chỗ nhất định cho họ. Những nước Bắc Âu đă cho áp dụng những biện pháp này một cách thành công.

 

27. Dân biểu được xem là "đại diện" của cử tri trong chừng mực nào?

 

*Về tư cách đại diện chính trị có hai cách diễn giải chính.

Cách thứ nhất dựa trên nguyên tắc "ủy nhiệm" cho rằng dân biểu là người được thân chủ ủy quyền để "thay mặt" cho họ và "hành động thay cho họ". Về một vài phương diện nào đó, vị dân biểu thụ ủy có thể thay mặt toàn thể các thân chủ hoặc cử tri trong địa hạt bầu cử thí dụ như để bảo vệ các quyền lợi địa phương, nói lên quan điểm của cử tri của địa hạt hoặc can thiệp để giải quyết các khiếu nại cá nhân. C̣n trong các trường hợp khác, dân biểu thụ ủy chỉ đại diện cho những cử tri nào đă bỏ phiếu cho họ để thực hiện chương tŕnh được đưa ra khi tranh cử (mà không thể đại diện cho những người đă không bỏ phiếu cho họ). Ư kiến cho rằng, trong mọi hoàn cảnh, dân biểu có thể phát biểu và hành động thay cho toàn thể cử tri trong địa hạt bầu cử của họ, là điều giả tưởng bởi nó sẽ trái với những dấn thân cho chương tŕnh mà các dân biểu đă đưa ra khi tranh cử, bao gồm hành động nhất quán cho chương tŕnh này và trách nhiệm để việc thực hiện có hiệu quả.

Cách diễn giải thứ hai về sự đại diện chính trị xuất phát từ quan niệm "tiểu vũ trụ", xem quốc hội như một toàn thể chứ không phải là tập thể các đại diện riêng lẻ. Trong quan niệm này một quốc hội lập pháp mang tính "đại diện chung" bởi nó phản ánh bản chất của cử tri một cách toàn diện về phương diện cấu thành xă hội, phân bố địa lư hoặc phân bố số phiếu dành cho mỗi chính đảng. Dĩ nhiên người ta có thể đặt vấn đề về số lượng của từng tiêu chuẩn này. Tuy mọi tiêu chuẩn đều quan trọng nhưng trong một cơ chế mà cử tri phải quyết định chọn lựa giữa những chính đảng có những chương tŕnh họat động chính phủ khác nhau th́ tiêu chẩn nào liên quan đến sự cấu thành quốc hội dựa trên số lượng phiếu dành cho các chính đảng sẽ là tiêu chuẩn ưu tiên. Cơ chế bầu cử dựa trên nguyên tắc đại diện tỷ lệ là cơ chế thích ứng với tiêu chuẩn này nhất (xx phần 28).

Chúng ta có thể xem rằng hai cách diễn giải dựa trên khái niệm "ủy quyền" và "tiểu vũ trụ" phản ánh hai nguyên tắc dân chủ cơ bản đă đề cập trước đây (xx phần 1). Nguyên tắc về chủ quyền toàn dân (quyền lực chính trị phát xuất từ nhân dân và các quyền lực lập pháp và hành pháp phải đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân) được thể hiện qua khái niệm cho rằng dân biểu là người được cử tri ủy nhiệm để thay mặt họ mà hành động, cũng như phải chịu trách nhiệm trước cử tri và có thể bị cử tri băi chức. Cách diễn giải thứ hai về quyền đại diện dựa trên khái niệm "tiểu vũ trụ" tương ứng với nguyên tắc b́nh đẳng chính trị, nghĩa là mỗi lá phiếu đều có trọng lượng hoặc giá trị như nhau, không phụ thuộc vào chỗ ở của cử tri hoặc sự ủng hộ một chính đảng nào đó của họ. V́ nguyên tắc này phải chịu một sự giám sát kỹ lưỡng mà quốc hội có thể được xem như một tiểu vũ trụ đại diện cho toàn thể cử tri, tôn trọng sự phân bố về mặt địa lư của cử tri cũng như sự phân bố về phiếu dành cho các chính đảng.

 

28. Sự khác biệt của các lối bầu cử

Hiện nay các nước trên thế giới đang cho áp dụng các lối bầu cử rất khác nhau. Dưới dây, 5 lối chính sẽ được tŕnh bày một cách khái quát để làm cơ sở suy xét cho phần 29.

 

(i) Lối bầu đơn danh một ṿng lấy đa số (áp dụng trong việc bầu quốc hội Hoa Kỳ, tại đa số các quốc gia Nam Mỹ, Anh Quốc và phần lớn các nước cựu thuộc địa)

Theo lối bầu cử này quốc gia được chia thành những khu vực có số cử tri tương đương với nhau. Mỗi khu vực chỉ được một ghế dân biểu và mỗi cử tri chỉ được bầu cho một ứng cử viên bằng lá phiếu của ḿnh. Ứng cử viên được nhiều phiếu nhất sẽ thắng, bất kể có đạt được đa số tuyệtđối hay không.

 

(ii) Lối bầu tuyển chọn hoặc ưu tiên (áp dụng để bầu Hạ viện Úc)

Theo lối bầu cử này các khu vực cử tri cũng được chia như lối trên. Chỉ có khác là cử tri sẽ sắp xếp các ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên. Khi tổng kết, nếu số phiếu dành cho các ứng cử viên có ưu tiên một không đưa đến kết quả là có một ứng viên nào đạt được đa số tuyệt đối th́ ứng viên ít phiếu nhất sẽ bị loại và số phiếu dành cho người này sẽ được đem chia cho các ứng viên được xếp thứ nh́ trên phiếu xếp ưu tiên. Thủ tục này sẽ được tiếp tục cho đến khi t́m ra được một ứng viên đạt được đa số tuyệt đối. Người ta cũng có thể đi đến kết quả tương tự bằng cách tổ chức bầu ṿng hai giữa hai ứng viên đạt nhiều phiếu nhất trong ṿng một (như tại Pháp).

 

(iii) Lối bầu duy nhất có thể chuyển nhượng (áp dụng tại Ái Nhĩ Lan, Malta và cho bầu cử Thượng viện Úc)

Theo lối này, tại mỗi khu vực cử tri có thể bầu từ ba đến bảy ghế đại diện theo tỷ lệ tương ứng với dân số. Mỗi cử tri sẽ có một số lá phiếu bằng số ghế đại diện và sẽ phải chọn một thứ tự ưu tiên. Muốn trúng cử mỗi ứng cử viên phải đạt được một hệ số (theo tỷ lệ cử tri) nào đó. Những ứng viên nào không đạt được hệ số đó qua những phiếu bầu có ưu tiên một, th́ sẽ được tính đến số phiếu có ưu tiên hai hoặc thấp hơn nữa dành cho họ theo một công thức tái phân phối phiếu ưu tiên.

 

(iv) Lối bầu danh sách (áp dụng tại Do Thái và đa số các quốc gia Đông Âu)

Theo lối này mỗi chính đảng phải lập danh sách ứng viên (được xếp theo thứ tự ưu tiên) cho vùng hoặc cho toàn quốc. Mỗi cử tri chỉ có một phiếu để bầu cho chính đảng ḿnh ưa thích. Các ứng viên trên danh sách thứ tự sẽ trúng cử tùy theo tỷ lệ phiếu dành cho đảng của ḿnh. Ở một vài quốc gia, các chính đảng phải đạt được một số phiếu tối thiểu nào đó để được vào quốc hội.

 

(v) Lối bầu hỗn hợp (áp dụng tại Đức, Hung Gia Lợi và Tây Tây Lan)

Theo lối bầu này một số đại diện (dưới 50%) sẽ được chọn trực tiếp qua lối bầu phiếu đơn danh lấy đa số đă được tŕnh bày trong điểm (i) và (ii) ở trên. Số đại diện c̣n lại sẽ được chọn theo lối danh sách, theo vùng hoặc toàn quốc, sao cho trong kết quả cuối cùng nói lên tương ứng giữa số ghế và số phiếu dành cho đảng của họ (càng gần với tương ứng này càng tốt). Trong lối này người ta cũng có thể quy định rằng, muốn hiện diện trong quốc hội, mỗi chính đảng phải đạt được một mức phiếu tối thiểu nào đó.

 

29. Ưu và khuyết điểm của các lối bầu cử

Chỉ có thể đánh giá đúng được những ưu điểm của từng lối bầu cử nếu đặt chúng trong khung cảnh của đặc điểm và sự phân bố dân số trong quốc gia liên hệ cũng như trong sự quan tâm về bầu cử của những chính đảng tại quốc gia đó. Do đó sẽ rất sai lầm khi cho áp dụng lối bầu tỷ lệ cho một quốc gia hoàn toàn không có những chính đảng đă bắt rễ được vào quần chúng, trong khi mà sự phân bố phiếu của dân chúng cho các lực lượng tương ứng lại chính là tinh thần của lối bầu tỷ lệ. Do đó sự đánh giá sau đây không nhằm mục đích tŕnh bày những đặc điểm chung của các lối bầu phiếu khi không xét đến những hậu quả của việc áp dụng.

Ưu điểm của lối bầu đa số một ṿng là sự đơn giản. Hơn hẳn các lối khác, lối bầu này cho phép một chính đảng chiếm được đa số trong quốc hội và cho phép chính đảng này cầm quyền một ḿnh. Nó khuếch đại sự ủng hộ của dân chúng đối với chính đảng quan trọng nhất. Và lối bầu này cũng cho phép những tiếng nói yếu thế có thể chuyển dịch để làm thay đổi đa số và dẫn đến sự thay đổi chính phủ, mặc dù sự thay đổi phụ thuộc vào số lượng các các khu vực cử tri "lung lay lập trường".

Khuyết điểm của lối bầu này là có thể tạo ra những kết quả hoàn toàn không tương ứng với số phiếu mà các chính đảng nhận được trên b́nh diện quốc gia hoặc trong mỗi khu vực cử tri. Lấy thí dụ có 4 chính đảng ra tranh cử trên b́nh diện quốc gia và đạt được số phiếu theo tỷ lệ sau: 40%, 30%, 20% và 10% và giả dụ số phiếu đạt được tại mỗi khu vực bầu cử cũng sẽ tương ứng với tỷ lệ này. Kết quả là một chính đảng sẽ dành được toàn bộ số ghế quốc hội trong khi 60% cử tri hoàn toàn không có một đại diện nào. Chúng ta có thể nghĩ rằng trường hợp này sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng rơ ràng lối bầu này sẽ ưu đăi những chính đảng có số ủng hộ viên ở tập trung về địa lư và trừng phạt những chính đảng có cử tri nằm rải đều tại các khu vực bầu cử. Việc phân bố cử tri ở đây rất quan trọng. Ngoài ra lối bầu này cũng khuyến khích lối bầu chiến thuật, với một kết quả bấp bênh, khi một cử tri bỏ phiếu cho một ứng viên khác với người mà họ ưa thích mà không thể biết chắc rằng những cử tri khác sẽ bầu ra sao.

Lối bầu cử tuyển chọn (hoặc ưu tiên) có ưu điểm hơn lối bầu đa số một ṿng ở chỗ bắt buộc ứng cử viên trúng cử phải đạt được đa số tuyệt đối của cử tri trong khu vực bầu cử, điều không nhất thiết phải xảy ra trong lối bầu cử đa số một ṿng. Như thế một ứng cử viên chỉ có thể đại diện cho một khu vực bầu cử nếu ứng viên này tối thiểu đạt được đa số phiếu. Lối bầu tuyển chọn tuy hơn lối bầu đa số một ṿng ở chỗ đ̣i hỏi ứng viên phải nắm vững về sự phân bố lá phiếu, song nó vẫn gây cản trở cho các đảng về thứ ba hoặc thứ tư trong cuộc bầu cử, là những đảng có số cử tri hỗ trợ tuy đông nhưng lại nằm rải rác.

Lối bầu chuyển nhượng cho phép những đảng yếu vẫn có thể có đại diện. Song, tính chất tỷ lệ (số ghế) trong lối bầu này phụ thuộc vào độ lớn của khu vực bầu cử và biến thiên thuận với độ lớn này. Ngoài ra các cảm t́nh viên của một đảng vẫn có thể chọn lựa giữa những ứng viên do đảng này đưa ra. Ngược lại độ lớn của khu vực bầu cử cũng là một vấn đề, chẳng hạn sự gắn bó giữa dân biểu và cử tri trong một khu vực có quyền có một ghế sẽ giảm đi. Sau hết cũng nên nói rằng phương thức để phân phối số phiếu của những ứng cử viên đạt được ít phiếu nhất cho những ứng cử viên khác là một bài toán rất phức tạp.

Lối bầu theo danh sách có thể xem như một thể thức tạo ra b́nh đẳng gần như hoàn toàn giữa các lá phiếu cử tri và nhờ đó mà việc phân phối các ghế dân biểu cho các chính đảng tùy theo lượng phiếu mà họ đạt được có thể thực hiện một cách tốt nhất. Nhưng thể thức này có một vài yếu điểm: một mặt những dân biểu sẽ không c̣n phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước một nhóm cử tri định sẵn nào đó, mặt khác cử tri (và cả những ủng hộ viên) cũng không thể ảnh hưởng ǵ lên thứ bậc trên danh sách ứng viên của các đảng được nữa. Hậu quả là chính bộ máy đảng -chứ không phải cử tri- quyết định việc chọn lựa các ứng viên. Bù lại lối bầu theo danh sách mở khả năng và tạo thuận lợi cho việc thiết lập các danh sách ứng cử viên "cân đối" lưu tâm đến những khuynh hướng và các nhóm xă hội khác nhau hoạt động trong đảng.

Lối bầu hỗn hợp sẽ dẫn đến các kết quả trong đó tính tỷ lệ sẽ bị phụ thuộc vào số phần trăm dân biểu đắc cử trong khu vực bầu cử, tương tự như lối bầu đơn danh. Lối này, trong trường hợp một đảng được ủng hộ mạnh mẽ, cũng có thể dẫn đến một chính quyền đa số, hoặc ngược lại trong trường hợp mà số phiếu được phân chia đồng đều hơn giữa các đảng, sẽ dẫn đến một chính quyền liên minh. Mặc dù lối bầu hỗn hợp chỉ định hai loại dân biểu, trong đó có một loại dân biểu bị gắn bó với khu vực bầu cử, nhưng cũng không tránh được các yếu điểm đă nêu của lối bầu theo danh sách. Những người ủng hộ cho lối bầu hỗn hợp cho rằng người ta có thể khắc phục những yếu điểm này bằng cách đưa những ứng viên đă thất cử trong ṿng bầu đơn danh vào danh sách ứng viên (chung) và buộc các dân biểu đă đắc cử qua danh sách phải chịu trách nhiệm đặc biệt về khu vực bầu cử của ḿnh.

 

30. H́nh thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?

Những người bênh vực lối bầu cử đại diện theo tỷ lệ cho rằng lối bầu lấy đa số và lối bầu tuyển chọn không được dân chủ bởi những cách ấy không đối xử công bằng với mọi lá phiếu của người dân, xem một số có trọng lượng hơn số khác. V́ hai lối bầu sau không tôn trọng sự b́nh đẳng chính trị, là nguyên tắc dân chủ căn bản nhất, nên đă dẫn đến việc thành lập các chính phủ chỉ đại diện cho một thiểu số cử tri, nhiều khi là một thiểu số rất nhỏ nữa. Ngược lại, những người chống lối bầu đại diện theo tỷ lệ lại cho rằng, v́ trên thực tế mỗi chính đảng khó có thể đạt được đa số tuyệt đối nên lối bầu tỷ lệ đương nhiên dẫn đến những liên minh cầm quyền.

Do đó dân chúng sẽ bị các lănh tụ của các chính đảng tước mất quyền chỉ định chính phủ, làm giảm sức mạnh của dân chúng trong việc kiểm soát chính phủ và trong việc đ̣i hỏi chính phủ phải chịu trách nhiệm về các hành động của ḿnh. Một chính phủ liên minh có thể ban cho những chính đảng nhỏ nhiều đặc quyền để câu họ, nhất là khi những chính đảng này giữ vị trí then chốt giữa hai khuynh hướng tả và hữu quá mạnh. Người ta có thể trả lời cho phía chống đối rằng những chính đảng tham gia chính phủ liên minh phải thông báo cho cử tri của họ biết về những quyết định của liên minh cầm quyền và những lực lượng ở giữa (hai khuynh hướng tả và hữu) không thể nào không quan tâm đến sự hoán chuyển khối lượng phiếu cử tri giữa các đảng khuynh tả và khuynh hữu trong các cuộc bỏ phiếu.

Lại một lần nữa, chúng ta khó tách bạch vấn đề trên lư thuyết mà không lưu ư đến những đặc thù quốc gia. Lịch sử cận đại đă cho thấy rơ những sai lầm của lối bầu cử một ṿng lấy đa số được áp dụng ở Anh Quốc cũng như những thiếu sót của lối bầu cử theo tỷ lệ đơn thuần xảy ra ở Ư Đại Lợi. Một hệ thống bầu cử, nếu muốn việc áp dụng được phổ cập, cần phối hợp những ưu điểm của lối bầu đa số với với một tỷ lệ đối trọng cân đối, trong đó liều lượng của mỗi hệ thống phụ thuộc t́nh trạng của các chính đảng và những điều kiện tổng quát ghi trong hiến pháp.

 

31. Làm thế nào để bảo đảm sự công bằng trong diễn tiến bầu cử?

*Sự công bằng trong bầu cử có thể bị xâm phạm nghiêm trọng bằng ba cách sau đây.

Thứ nhất, chính đảng hoặc liên minh cầm quyền có thể dùng ưu thế quyền lực để xâm phạm công bằng. Đây là một hiện tượng rất phổ biến mà chúng ta có thể dùng một số biện pháp để hạn chế tai hại. Biện pháp quan trọng nhất là ủy nhiệm cho một ủy ban bầu cử độc lập -được sự chấp nhận của tất cả các chính đảng- công việc kiểm soát toàn bộ diễn tŕnh bầu cử, từ việc làm thẻ bầu cử, việc lên danh sách cử tri, việc tổ chức đợt vận động và việc bỏ phiếu, đến việc kiểm phiếu. Đặc biệt, nếu không có sẵn một ủy ban độc lập để giám sát về truyền thanh truyền h́nh, ủy ban bầu cử cũng phải có trách nhiệm điều ḥa sự xuất hiện của các chính đảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong thời gian vận động bầu cử. Điểm quan trọng là luật pháp phải cấm mọi sự nhập nhằng giữa chức vụ trong đảng và chức vụ trong chính quyền. Trong trường hợp này tất cả các bộ trưởng phải từ bỏ toàn bộ nhiệm vụ và đặc quyền dành cho chức vụ trong suốt thời gian vận động, trừ những thứ cần thiết để duy tŕ trật tự công cộng.

Đe dọa thứ nh́ đến sự công bằng trong bầu cử là những hành vi gian lận của những đảng viên hoặc cảm t́nh viên của các chính đảng qua tham nhũng, hăm dọa, bôi nhọ nhân cách, phiếu giả, v.v... Người ta có thể chận đứng các hành vi này bằng cách giao cho một bộ phận đặc biệt gồm các nhân viên cảnh sát và những viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử khác nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho các ứng cử viên và bảo đảm tính hợp thức của tiến tŕnh bầu cử. Trên tinh thần đó, phải chú trọng đặc biệt đến phẩm chất của các viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử; Việc chỉ định cũng như đào tạo họ phải nằm trong thẩm quyền của ủy ban bầu cử quốc gia. Sự hiện diện của những quan sát viên quốc tế dày dặn kinh nghiệm cũng vô cùng ích lợi; Người ta cần phải kêu gọi họ làm công việc giám sát một cách công tâm để các công tác bầu cử được tiến hành đúng cách và họ cần truyền bá những cách thức bầu cử thích hợp nhất đă được áp dụng trong các cuộc bầu cử toàn quốc tại các nước dân chủ.

Sau hết sự công bằng trong bầu cử có thể bị xâm phạm khi những ứng cử viên nhờ có nhiều tiền của riêng hoặc khi những chính đảng nhờ được các thế lực tài chính lớn yểm trợ mà dành được lợi thế. Cách giải quyết đơn giản nhất là giới hạn gắt gao việc chi tiêu bầu cử -trên b́nh diện quốc gia hoặc địa phương- của các ứng cử viên hoặc của các chính đảng cho chính họ hoặc cho những việc đem lợi lại cho họ: Ngoài ra mọi ứng cử viên hoặc chính đảng phải được tự do lên các phương tiên truyền thông đại chúng như nhau, theo thể thức được ủy ban bầu cử thông qua.

Trong số những ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn đến sự công bằng trong diễn tŕnh bầu cử người ta phải kể đến những cuộc thăm ḍ dư luận tại một số quốc gia. Một số quốc gia có luật cấm loan báo kết quả thăm ḍ dư luận trong tuần lễ trước ngày bầu cử hoặc trong cả thời gian vận động. Biện minh cho quyết định này, người ta cho rằng những cuộc thăm ḍ dư luận sẽ tác động đến đến kết quả bầu cử: hoặc nó sẽ tạo ảnh hưởng nhân rộng hoặc ngược lại nó khiến cử tri có thái độ bác bỏ. Ngoài ra người ta c̣n cho rằng những cuộc thăm ḍ dư luận có thể gây ảnh hưởng đồi bại đến những cử tri chỉ thích nghe chuyện được thua, mất mát do kết quả bầu cử gây nên. Song le, phần đông những chuyên gia đều không tin việc thăm ḍ dư luận sẽ ảnh hưởng đến quyết định của cử tri cũng như họ không tin vào tác dụng của việc cấm thăm ḍ, v́ ngày nay người ta càng dễ t́m hiểu mọi vấn đề qua các phương tiện truyền thông quốc tế.

 

32. Công quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng không?

Những người muốn công quỹ tài trợ cho các chính đảng cho rằng v́ chính đảng đóng một vai tṛ then chốt trong sự hoạt động của một chính thể dân chủ nên cần nâng đỡ tài chính cho các chính đảng, và ngoài ra, một sự hỗ trợ của công quỹ sẽ giảm bớt ảnh hưởng của những nhóm quyền lợi có thế lực đối với các chính sách. Những chính đảng có thể nhận được tài trợ theo tỷ lệ phiếu nhận được trong các cuộc bầu cử cấp quốc gia. Những nhóm nào đ̣i tước quyền dân sự và quyền chính trị của một nhóm công dân hoặc đă phạm tội gian lậu bầu cử sẽ không được nhận tài trợ.

Những người chống việc tài trợ cho rằng những chính đảng chỉ thực sự đóng tốt vai tṛ phản ảnh dư luận quần chúng nếu họ độc lập về mặt tài chính với các cơ quan quyền lực. Sự độc lập này chỉ có được nếu các chính đảng được tài trợ bởi những nguồn tiền đóng góp tự nguyện. Các chính đảng sẽ phải cố gắng giành lấy sự tín nhiệm của dân khi chính họ phải chạy tiền để trang trải chi phí hoạt động. Ngoài ra nếu muốn hạn chế ảnh hưởng bất chính của những nhóm quyền lợi, người ta có thể bắt các chính đảng phải kê khai mọi món tiền ủng hộ vượt quá một giới hạn nào đó hoặc bắt các nơi muốn quyên tiền phải lấy sự chấp thuận của những thành viên hoặc cổ động.

Tại các nước có truyền thống dân chủ vững chăi, các chính đảng thường được tài trợ bởi những món tiền đóng góp tự nguyện, cho dù rằng chính phủ có thể tài trợ ở mức độ giới hạn nhất định cho các hoạt động được quy định thật rơ ràng, thí dụ như cho việc đào tạo cán bộ đảng hoặc cho phép sử dụng miễn phí các phương tiện truyền thông đại chúng trong các cuộc vận động bầu cử. Sự hỗ trợ tài chính có thể đặc biệt hữu dụng tại những nước đang chuyển tiếp để xây dựng chế độ dân chủ, khi không mấy người dân biết đến luật lệ tranh cử hoặc phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống chính đảng tại những nước đó.

 

33. Có nên cho các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa 2 kỳ bầu cử không?

Không nên. Khi ra tŕnh diện cử tri dưới một nhăn hiệu chính trị nhất định nào đó, ứng cử viên phải có bổn phận ủng hộ đảng của ḿnh trong suốt nhiệm kỳ quốc hội. Nếu không, phương cách dùng bầu cử để phân biệt các chương tŕnh và khuynh hướng chính trị sẽ mất mọi ư nghĩa.

Trong chế độ bầu cử dựa trên khu vực cử tri, những dân biểu nào muốn đổi đảng tịch đều phải từ nhiệm và ra ứng cử trở lại trong một cuộc bầu cử riêng rẽ. Trong chế độ bầu cử dựa theo lối bầu danh sách, người dân biểu muốn đổi đảng tịch chỉ cần từ nhiệm và nhường ghế dân biểu cho người kế tiếp trong danh sách của đảng cũ.

 

34. Các cử tri có quyền hành ǵ giữa hai kỳ bầu cử?

Người ta sẽ vô cùng sai lầm khi cho rằng các cử tri hoàn toàn bất lực giữa hai kỳ bầu cử v́ họ chỉ có thể biểu lộ ư kiến chính trị bằng cách bỏ phiếu khoảng bốn năm một lần mà thôi. Người ta quên rằng những đảng cầm quyền luôn luôn nghe ngóng dư luận v́ sợ sẽ bị cử tri chất vấn trong kỳ bầu cử tới. Nói cách khác, sự thất cử là nỗi sợ ám ảnh thường xuyên người cầm quyền. Điều này càng được thấy rơ hơn trong những quốc gia áp dụng lối bầu đa số, khi sự thất bại của đảng cầm quyền ở một địa phương có thể dẫn tới việc định hướng lại đường lối chính trị của chính quyền (trung ương), kể cả việc cải tổ lại nội các.

Ngoài ra, cử trị c̣n có vô số các phương tiện để ảnh hưởng lên chính quyền về một số lănh vực và giữa hai kỳ bầu cử. Họ có thể gia nhập những nhóm tạo áp lực hoặc hiệp hội, tham gia các chiến dịch vận động quần chúng, tiếp xúc với các dân biểu của họ và các nhân viên chính phủ, tham gia các cuộc biểu dương lực lượng, v.v... Sau hết, họ có thể dùng các phương tiện truyền thông để thường xuyên phát biểu ư kiến và tập hợp lực lượng.

 

35. Trong chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng h́nh thức trưng cầu dân ư?

Tại đa số các quốc gia dân chủ, những dự án nhằm sửa đổi hiến pháp hoặc những dự luật có ảnh hưởng đến hiến pháp đều phải thông qua một cuộc trưng cầu dân ư, nhiều khi c̣n đ̣i hỏi phải được thông qua với đa số tuyệt đối các cử tri. Người ta lư luận rằng hiến pháp thuộc về toàn dân chứ không thuộc riêng các nghị viện hoặc các chính phủ nhất thời. Do đó mọi thay đổi phải được người dân trực tiếp thông qua.

Nhưng nếu mở rộng ra hơn nữa th́ việc xin ư kiến dân chúng về những vấn đề chính trị chung chung hoặc về những dự luật căn bản qua một cuộc trưng cầu dân ư vẫn c̣n là một vấn đề gây tranh căi. Phe ủng hộ cho rằng phương cách trưng cầu dân ư là một phương tiện chính yếu trong đời sống dân chủ giúp cho người dân có ư kiến trực tiếp về những vấn đề hệ trọng, nếu không sẽ chẳng có ai để ư đến những vấn đề này hoặc chúng sẽ bị vùi giấu trong những lời tuyên bố ứng cử chung chung của một chính đảng.

C̣n phe chống đối lại cho rằng, một khi đă ư thức được sự liên quan đan cài giữa những vấn đề được đem ra cho công chúng phân xử (thí dụ như liên quan giữa các chính sách về thuế và ngân sách), th́ quả là khiên cưỡng khi đem tách một vấn đề ra khỏi bối cảnh chung của nó hoặc khi cho rằng các dân biểu không có quyền quyết định về một số vấn đề nào đó (trong khi họ lại được quyết định về mọi vấn đề khác).

Do đó, việc trưng cầu dân ư, trên thực tế, là một dấu hiệu của sự bất tín nhiệm chế độ đại diện cửa tri, và thay v́ gia tăng trách nhiệm cho các dân biểu th́ người ta lại c̣n làm giảm nó đi.Đây là một vấnđề mà ta không thể trả lời một cách rơ ràng là khi nào th́ nên hoặc không nên. Các quốc gia dân chủ sẽ phải tự t́m lấy câu trả lời thích ứng dựa trên tập quán chính trị của nước họ.

 

III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính quyền

 

36. Tại sao hoạt động trong suốt của chính quyền lại quan trọng đối với dân chủ?

Sự trong suốt của các hoạt động của chính quyền là điều không thể thiếu được trong dân chủ, bởi nếu không có những thông tin chính xác về các hoạt động của chính quyền cũng như về ảnh hưởng của các chính sách, th́ những người nắm giữ các trách nhiệm trong lănh cực công sẽ không thể nào đánh giá được về các hoạt động của ḿnh và người dân cũng bị mất những yếu tố dùng làm cơ sở xét đoán cho việc sử dụng lá phiếu của họ trong các kỳ bấu cử. Sự tiếp cận các nguồn thông tin loại này, do đó, phải được xem như là một loại quyền của công dân và của các phương tiện truyền thông hoạt động đại diện cho dân chứ không thể bị xem là quyền lợi được chính quyền ban phát. Bởi cử tri là người chọn ra chính quyền nên họ phải có quyền được biết họ đă bỏ tiền ra mua món hàng nào và người ta đă đại diện họ dể làm chuyện ǵ.

Dù rằng việc tổ chức để người dân có thể tiếp cận với các thông tin loại này bị xem là một sự phung phí ngân quỹ quốc gia nhưng chính việc này lại góp phần làm gia tăng hiệu năng của các hoạt động chính quyền bằng cách đưa ra ánh sáng những vụ lăng phí công quỹ, chống tệ nạn tham nhũng và vạch ra những sai lầm của chính quyền trước khi chúng trở thành bệnh măn tính. Việc để cho các công dân được tiếp cận với những hồ sơ của chính quyền cũng như của các cơ quan trực thuộc có liên quan đến dân là một thành tố quan trọng của việc bảo vệ các quyền tự do của người dân. Nhưng thế nào là sự trong suốt của hoạt động của chính quyền? Chúng ta có thể xem sự trong suốt này phải bao gồm bốn mặt chính.

Thứ nhất, sự trong suốt bao gồm việc chính quyền phải tự ḿnh cung cấp thông tin về những dữ kiện liên quan đến những chính sách, chẳng hạn như những số liệu được dùng làm cơ sở cho việc h́nh thành chính sách, những ảnh hưởng thực tế, những hậu quả, những phương thức áp dụng v.v...

Thứ nh́, sự trong suốt bao gồm khả năng để tư nhân và báo chí tiếp cận - một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quốc hội - với những hồ sơ tài liệu của chính quyền. Thứ ba, sự trong suốt bao gồm tính chất công khai của các buổi hội họp, thí dụ những phiên họp của quốc hội, của các ủy ban trong quốc hội, của những công sở hoặc đơn vị hành chánh địa phương.

Cuối cùng, sự trong suốt bao gồm việc chính quyền, khi muốn soạn thảo và thi hành những chính sách, phải tham khảo ư kiến của những nhóm quyền lợi liên hệ một cách có hệ thống, bao gồm cả việc phổ biến thông tin và những góp ư nhận được trong những buổi tham khảo này.

Sự trong suốt của hoạt động chính quyền có loại trừ một số loại thông tin nào đó không? Trong những thể chế dân chủ, những loại thông tin sau đây thường được xem là cần bảo mật một cách chính đáng: quyết định của nội các hay của hội đồng bộ trưởng, ư kiến mang tính cách chính trị của các công chức cao cấp đối với thành viên chính phủ. Đây là những tin tức mà nếu bị lộ ra th́ sẽ ảnh hưởng đến nền an ninh quốc gia, sự toàn vẹn của cơ chế dân chủ, sự an toàn nhân thân của một số cá nhân, những bí mật thương măi của những hăng xưởng, những hồ sơ nhân viên mà chỉ có người có trách nhiệm mới được phép xem xét.

 

37. Làm thế nào để bảo đảm cho hoạt động chính quyền được trong suốt?

Trong thế kỷ trước, khi phạm vi hoạt động chính quyền c̣n hạn chế, người ta nghĩ rằng chỉ cần quyền tự do báo chí là đủ để bảo đảm sự trong suốt của hoạt động chính quyền. Ngày nay, ư thức rằng sự phức tạp ngày càng tăng và ảnh hưởng ngày càng lớn của chính quyền, một sự bảo vệ chặt chẽ nhất về quyền tự do báo chí - trong đó bao gồm cả việc bảo mật những nguồn cung cấp thông tin cho báo chí - cũng chưa đủ. Chính quyền và những cơ quan hành chánh có khuynh hướng tự nhiên là thích ẩn núp sau bức màn bí mật để bao che cho những sai lầm hoặc lạm quyền, để tránh gặp phiền phức hoặc chỉ đơn giản là khỏi phải thú nhận những lỗi lầm. Ngày nay, phương cách hữu hiệu duy nhất để chặn đứng khuynh hướng này là việc thông qua một đạo luật bắt buộc phải bảo đảm sự trong suốt của hoạt động chính quyền, hay nói cách khác là bảo đảm quyền trực tiếp thông tin.

Hoa Kỳ và Thụy Điển là hai quốc gia có nhiều đạo luật tiêu biểu cho việc bảo đảm quyền tự do trực tiếp thông tin. Những đạo luật này (đă được mổ xẻ kỹ trong câu 36) quy định chính phủ có bổn phận phải công bố hoạt động của ḿnh, quy định quyền của người dân được xem xét những tài liệu của chính phủ, quy định phải mở cửa cho công chúng tham dự các buổi họp của các cơ chế quyền lực và quy định việc bảo vệ cho những thành viên nào của bộ máy hành pháp muốn đưa tin (tố cáo) về sự thi hành đáng chê trách hoặc gian lận của khối hành pháp. Đây là những đạo luật có tính cách củng cố và bổ túc cho những quy định cho phép các dân biểu hoặc thành viên quốc hội được quyền tiến hành các cuộc giám sát hoạt động của khối hành pháp. Đây là những đạo luật cho phép các ṭa án chứ không phải là chính quyền - đây mới chính là khía cạnh quan trọng nhất của các đạo luật thuộc lại này, được phép định nghĩa những ngoại lệ của nguyên tắc trong suốt, tức là những ngoại lệ cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia và đời sống riêng tư.

 

Chúng ta cũng cần bàn thêm về hai vấn đề sau đây:

 

Vấn đề thứ nhất: là tầm quan trọng của ngân quỹ được các chính quyền dùng trong việc giao tế công cộng (*). Ngày này giao tế công cộng không c̣n giới hạn trong việc tŕnh bày những thông tin dữ liệu liên quan đến hoạt động của chính phủ mà c̣n bao gồm cả những quyết định về lịch thông báo, việc lựa chọn chiến lược tŕnh bày thông tin sao cho thông tin được đón nhận một cách thuận lợi nhất, việc để ṛ rỉ những thông tin "đă được chọn lựa" và tất cả mọi thủ thuật trong ngành giao tế công cộng để gây ảnh hưởng đến dư luận xă hội. V́ có những thủ thuật như vậy nên luật pháp phải đặc biệt bảo đảm quyền được hỏi và quyền được kiểm tra những thông tin do chính quyền đưa ra một cách thực sự tự do. Liên quan đến vấn đề này, người ta cần thành lập một dịch vụ thống kê công cộng độc lập với chính quyền để cho quốc hội và dân chúng có thể hỏi thăm một cách thật b́nh đẳng (so với chính quyền).

 

Vấn đề thứ hai: là sự trong suốt của hoạt động chính quyền vượt quá phạm vi của quyền được tự do trực tiếp thông tin rất nhiều. Phạm vi của sự trong suốt bao gồm cả khả năng đ̣i hỏi một vị bộ trưởng phải biện hộ cho hành động của ḿnh và phải đưa vấn đề ra tranh luận công khai, bao gồm cả nghĩa vụ (mà tùy trường hợp sẽ được gia giảm về sự bó buộc) của một chính phủ phải đưa việc soạn thảo và thi hành chính sách ra hỏi ư kiến công luận. Về điểm cuối vừa nêu, người ta cần phải có một đạo luật ấn định rơ lịch tŕnh và phương thức tham khảo, ấn định việc phổ biến rộng răi các thông tin do các phe phái khác nhau cung cấp về vấn đề đang bàn căi và ấn định việc lượng giá sự ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của các dự án. Khái niệm về sự trong suốt ở đây bao gồm khả năng của một chính quyền cả trong việc biết làm đúng việc để cho người dân tiếp xúc với thông tin lẫn trong việc biết lắng nghe.

(*) Giao tế cộng cộng: public relation, relation publique, Oeffentlichkeitsarbeit.

 

38. Thế nào là trách nhiệm của chính quyền?

Trách nhiệm của chính quyền được đạt ra trên ba phương diện.

Thứ nhất: là trách nhiệm về mặt pháp lư, nghĩa là mọi cá nhân đảm nhiệm các trách vụ công cộng dù do dân bầu lên hay không, đều phải chịu trách nhiệm trước ṭa án về tính hợp pháp của các hành động của ḿnh. Đây là điểm cốt lơi của nguyên tắc thượng tôn pháp luật, theo đó, những người soạn thảo cũng như những người áp dụng luật pháp và chính sách đều phải hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và luật pháp, dựa trên những quyền hạn mà luật pháp quy định và giới hạn cho họ.

Thứ hai: là trách nhiệm về mặt chính trị, nghĩa là chính quyền hay bộ máy hành pháp phải có trách nhiệm tŕnh bày cho quốc hội hoặc dân chúng rằng, các chính sách, lớp lang tổ chức và phương thức thực hiện các chính sách đó được dựa trên những cơ sơ có căn cứ. Việc quy kết trách nhiệm trong loại trách nhiệm pháp lư có thể thực hiện được một cách tương đối đơn giản bằng cách đưa người có chức vụ ra ṭa để xử. Trong khi đó, việc quy kết trách nhiệm trong loại trách nhiệm chính trị không đơn giản chút nào v́ việc thực hiện chính sách rất phức tạp. Thông thường các cơ quan chính phủ trực thuộc chính quyền mà trong đó các nhân viên không được chọn qua một cuộc bầu cử (như trong bộ máy hành chánh, lực lượng vũ trang, lực lượng cảnh sát, các cơ quan an ninh) sẽ phải chịu trách nhiệm trước vị chủ tịch bộ máy hành pháp (do dân bầu) qua trung gian của các bộ trưởng do chính vị chủ tịch này bổ nhiệm. Về phần của họ, vị lănh đạo bộ máy hành pháp và các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước dân chúng (phán xét qua các kỳ bầu cử) cũng như trước quốc hội (trong vai tṛ đại diện của dân giữa hai kỳ bầu cử). Các dân biểu quốc hội sau đó cũng phải báo cáo lại cho các cử tri của ḿnh.

Thứ ba: là trách nhiệm về mặt tài chính nhằm bảo đảm việc chi dùng tiền thuế vào những mục đích đă được cơ quan lập pháp (quốc hội) phê chuẩn, để việc chi dùng này càng hữu hiệu bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Đường dây trách nhiệm của loại trách nhiệm tài chính cũng giống như đường dây của loại trách nhiệm chính trị cộng với vai tṛ của một vị tổng thanh tra các trương mục. Vị tổng thanh tra này tuy phải chịu trách nhiệm trước quốc hội nhưng lại hoạt động hoàn toàn độc lập về mặt chuyên môn khi đi kiểm tra chi tiết các khoản chi tiêu của chính phủ.

Mỗi đường dây này góp phần thực hiện nguyên tắc dân chủ: người dân được quyền kiểm soát chính phủ. Muốn quy trách nhiệm về chính trị và tài chính, người ta thấy cách tốt nhất là ủy nhiệm việc kiểm soát cho các cơ quan chuyên môn. Những cơ quan này trong phạm vi hoạt động của họ rất cần được hưởng sự bảo vệ tương đối nào đó trước áp lực của công chúng hoặc của những người giữ trách vụ chính trị và được kính trọng bởi lương tâm chức nghiệp của họ. Phân tích cho cùng, khi đă có ṭa án giữ ǵn việc tuân thủ luật pháp và khi có tổng thanh tra kiểm nhận các chi tiêu là phù hợp với sự duyệt xét ngân sách của quốc hội và với hiến pháp th́ chỉ c̣n trách nhiệm chính trị là cần đáng lưu ư hơn cả.

 

39. Tại sao sự phân quyền lại quan trọng?

Việc cầm quyền ở các nước dân chủ được chia thành ba ngành, đó là ngành hành pháp (thường được gọi cho tiện là "chính quyền") có trách nhiệm soạn thảo và áp dụng các chính sách, ngành lập pháp (quốc hội hoặc viện dân biểu) có trách nhiệm phê chuẩn các đạo luật và các sắc thuế cũng như kiểm soát hành pháp, và ngành tư pháp (các ṭa án) có nhiệm vụ giám sát việc thi hành luật, nghĩa là t́m ra các trường hợp vi phạm, và xét xử thủ phạm của những vi phạm này.

Sự tách quyền lực thành ba ngành riêng biệt là nguyên tắc then chốt để bảo vệ những dạng trách nhiệm pháp lư, chính trị và tài chính vừa được đề cập ở trên. Nếu như ṭa án không độc lập với lập pháp và hành pháp th́ nó không thể canh chừng việc hành động phù hợp theo pháp luật của những người mang trách vụ công mà không sợ bị trả thù hoặc mong được thưởng. Tương tự như vậy, nếu quốc hội không có quyền phê chuẩn các đạo luật một cách thật độc lập, không có quyền quyết định về thuế khóa hoặc kiểm soát hành pháp th́ trách nhiệm chính trị và tài chính của chính quyền đối với cử tri sẽ bị sói ṃn.

Mặc dù sự tách biệt giữa ngành lập pháp và hành pháp là một trong những đặc trưng truyền thống của các chính quyền dân chủ nhưng sự tách biệt này cũng biến dạng tùy theo những chế độ chính trị khác nhau. Chính trong các chế độ có tổng thống, khi việc bầu vị chủ tịch hành pháp (tổng thống) được tách khỏi việc bầu các dân biểu và khi mà vị chủ tịch hành pháp không giữ vai tṛ nào trong lănh vực lập pháp, người ta thấy hai ngành quyền lực này được tách biệt rơ ràng nhất. Ngược lại, trong một chế độ đựa vào thủ tướng, khi người lănh đạo của chính đảng chiếm đa số trong quốc hội được gọi ra điều khiển chính quyền, th́ có thể nói rằng vị chủ tịch hành pháp này lúc nào cũng đứng ở vị trí đôi trong mọi lănh vực, vừa là chủ tịch hành pháp và vừa là trưởng khối đa số trong quốc hội.

Mỗi chế độ vừa nêu đều có ưu và khuyết điểm riêng. Nói chung, tổng thống chế có ưu điểm là bảo đảm cho những đại diện lập pháp có nhiều độc lập hơn để kiểm soát phía hành pháp, mặc dù rằng sự kiểm soát này c̣n tùy thuộc cách tổ chức các chính đảng cũng như phụ thuộc vào ảnh hưởng của hành pháp và lập pháp lên sự h́nh thành các lực lượng chính trị. Mặt khác chế độ này có khuyết điểm có thể đưa chính quyền vào thế kẹt bằng cách cản trở không cho nó có phương tiện làm luật và tài chính cần thiết để thực hiện những chương tŕnh mà dân chúng đă lựa chọn. Trong một vài trường hợp cực đoan, việc phân biệt này đă dẫn đến sự đụng độ giữa hai ngành quyền lực; Khi đó mượn tiếng được dân chúng trao cho ḿnh quyền lực hợp pháp qua cuộc tổng tuyển cử và lợi dụng uy quyền đối với lực lượng vũ trang, vị tổng thống có thể giành lấy quyền lập pháp qua một cuộc bỏ phiếu toàn dân.

Những chế độ được xây dựng trên ưu thế của vị thủ tướng chính phủ đặt nền tảng cho phép một sự phối hợp nhịp nhàng hơn giữa hoạt động của chính quyền và hoạt động của những dân biểu là những người được kêu gọi bỏ phiếu cho những đạo luật và sắc thuế cần cho việc thực hiện các chương tŕnh của chính phủ. Một lợi điểm khác là mô thức này giảm thiểu khả năng dùng bạo lực của hành pháp đối với quốc hội (ưu điểm này được xem là vô cùng quan trọng trong trường hợp các chế độ dân chủ mới được h́nh thành gần đây). Ngược lại loại chế độ này có khuyết điểm là trao cho hành pháp quyền đặt lịch tŕnh nghị sự cho quốc hội và giới hạn khả năng kiểm soát hành pháp của quốc hội bởi những dân biểu trong khối đa số tại quốc hội thường có khuynh hướng bảo vệ uy tín của chính phủ (mà họ c̣n mắc nợ v́ chiếc ghế dân biểu và từ đó quyết định cả sự thăng tiến của họ nữa) nên sẽ không tố cáo những thiếu sót của chính phủ.

 

40. Thế nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo vệ nguyên tắc đó?

Nguyên tắc thượng tôn pháp luật diễn tả khái niệm đơn giản, theo đó những người mang trách vụ công cộng, dù đó là chức vụ dân cử hay không, phải tuân theo luật pháp và hiến pháp khi hành xử những quyền hạn được trao cho họ; Những quyền hạn này được định nghĩa và giới hạn rơ ràng bởi luật pháp (xx câu 38 về trách nhiệm pháp lư). Nguyên tắc này bắt nguồn từ khái niệm của Aristote cho rằng loại chính quyền tốt nhất là loại chính quyền dựa trên sự thượng tôn pháp luật chứ không dựa trên con người. Theo nghĩa cận đại, nguyên tắc này xuất phát từ cuộc tranh đấu nhằm giới hạn không cho nhà cầm quyền và những đại diện chính thức của họ sử dụng quyền lực một cách tùy tiện và bắt hành pháp phải đặt mọi hoạt động của ḿnh dưới sự phán xét của các cơ quan tư pháp.

Người ta có thể xem nguyên tắc thượng tôn pháp luật như ḥn đá tảng của cả tự do cá nhân lẫn dân chủ. Không có nguyên tắc này th́ sẽ không thể bảo vệ được bất cứ quyền tự do cá nhân nào trước quyền lực của hành pháp. Vả lại khi luật pháp đă phát xuất từ một hiến pháp dân chủ và từ một cơ quan lập pháp dân cử th́ việc cơ quan hành pháp tuân thủ nguyên tắc này là một trong những đ̣i hỏi của những chế độ dân chủ. Bởi lẽ đó người ta có thể xem những toan tính nhằm bẻ quẹo các thủ tục và quy định pháp lư nhân danh "quyền lợi quốc gia" hoặc chịu áp lực từ yêu sách nhất thời của quần chúng là phản dân chủ.

Muốn áp dụng nguyên tắc thượng tôn pháp luật th́ phải có một bộ máy tư pháp độc lập để giám sát sự tôn trọng đó. Khi nói đến đến bộ máy tư pháp, Điều 1 của "Những nguyên tắc căn bản" của Liên hiệp quốc đă ghi rơ rằng "sự độc lập của bộ máy tư pháp cần được bảo đảm bởi chính phủ và phải được Hiến pháp và quốc hội thừa nhận". Sự độc lập này bao gồm cả sự độc lập tập thể của bộ máy tư pháp, như một cơ quan cần được bảo vệ trước những xâm phạm của ngành hành pháp, lẫn sự độc lập cá nhân của những thẫm phán, khi họ cần phải hoàn thành một cách trong sáng các trách vụ được giao phó. Việc bảo vệ sự độc lập song đôi này đ̣i hỏi nhiều hơn những ǵ đă được hiến pháp bảo đảm trên giấy tờ. Việc bảo vệ sự độc lập này phụ thuộc rất nhiều vào phương thức chỉ định các thẩm phán và vào sự bảo đảm để họ có thể tiếp tục chức vụ giao phó.

Việc chỉ định các thẩm phán không thể nằm trong quyền hạn của chính quyền hay bộ máy hành pháp mà phải do một ủy ban tư pháp của quốc hội hoặc do một ủy ban độc lập chuyên lo về công tác tư pháp được hiến pháp công nhận đảm trách. Những thẩm phán này không thể bị chính quyền đương thời cách chức. Ngược lại họ cần có những bảo đảm để có thể tiếp tục nhiệm vụ. Chỉ có cơ quan nào đă bổ nhiệm họ mới có thể cách chức họ nhưng cũng phải theo đúng thủ tục được dự trù cho mục đích này cũng như v́ những lư do được định nghĩa rơ ràng, thí dụ như tham nhũng, thiếu xót nghiêm trọng trong công việc giao phó hay bất cẩn. Sự tuân thủ những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho những nghề nghiệp tư pháp khác, khi mà sự độc lập của họ đối với hành pháp cũng cần thiết cho sự bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

 

41. Vai tṛ của quốc hội trong việc kiểm soát trách nhiệm của chính quyền

Quốc hội đóng vai tṛ quan trọng trong việc kiểm soát trách nhiệm về chính trị và tài chính của khối hành pháp. Trước hết Quốc hội có thể thi hành sự kiểm soát này nhờ dựa vào quyền phê chuẩn các đạo luật tổng quát và thuế khóa và nhờ dựa vào việc áp dụng những thủ tục bảo đảm rằng những đề nghị được chuyển cho quốc hội là những đề nghị đă được cân nhắc và bàn thảo kỹ lưỡng trước khi được các dân biểu thông qua. Thứ đến, Quốc hội có những quyền hạn cần thiết để giám sát hoạt động của khối hành pháp khi đặt câu hỏi với các bộ trưởng, khi kiểm soát các tài liệu thích hợp và khi tiến hành thủ tục chất vấn những nhân vật liên hệ trong bộ máy hành pháp. Những công việc này được thực hiện trong những phiên họp khoán đại của quốc hội hay trong những ủy ban chuyên môn được thành lập trong khuôn khổ của một tập thể có phối hợp.

Hiệu quả của công việc kiểm soát của quốc hội về cách thức mà chính quyền hoàn thành các nhiệm vụ phụ thuộc một phần vào quyền tự do phát biểu của người dân biểu. Thông thường người ta cho rằng chỉ cần ban cho các dân biểu quyền đặc miễn pháp lư về những đề nghị mà họ đưa ra trong quốc hội để họ có thể phát biểu không sợ sệt. Do sự phức tạp của các hoạt động của chính quyền đương thời nên những dân biểu chỉ có thể đóng vai tṛ phê phán một cách hữu hiệu khi họ có một văn pḥng làm việc và những phương tiện tra cứu cần thiết và khi họ có thể hợp tác với những chuyên viên khác ở ngoài. Một điều khá quan trọng là họ không bị bắt buộc phải tuân theo quan điểm của chính đảng của họ để đến nỗi đánh mất óc phê phán. Khi các dân biểu bị phụ thuộc vào bộ máy chính đảng của họ trong việc bầu hoặc đề cử vào các ủy ban chuyên môn th́ quan điểm của họ khó đi ra ngoài đường hướng của đảng.

Trong việc kiểm soát chính phủ chúng ta không thể bỏ qua vai tṛ quan trọng của hệ thống đảng phái có tổ chức. Chính đảng đối lập phải có khả năng hành xử như một chính quyền thay thế cũng như phối hợp những hoạt động kiểm soát chính quyền bằng cách giám sát thường xuyên các hoạt động của chính quyền bằng con mắt phê phán.

Nhiều người cho rằng đây là khía cạnh bạc bẽo của công việc của một dân biểu v́ trong nhiều trường hợp người ta có cảm tưởng rằng sự chỉ trích của phía đối lập chỉ nhằm mục đích gây cản trở và không có một biện pháp nào của chính phủ -dù có tốt đẹp- làm vừa được ḷng họ. Đó là trường hợp của quốc hội chế Anh quốc dựa trên sự đối lập của 2 chính đảng và những quốc hội chế khác cùng dựa trên hệ thống này. Cần nói thêm rằng mức độ cải tiến về cấu trúc của các chính phủ đương thời đ̣i hỏi việc kiểm soát của các chính đảng đối lập cũng phải có một cấu trúc phát triển tương ứng. Những chính đảng này phải được chỉ trích chính phủ một cách tự do mà không bị nghi ngờ về tinh thần ái quốc của họ.

 

42. Ai có thể trở thành dân biểu quốc hội?

Thực ra chúng ta bầu người đại diện chúng ta trong quốc hội không phải v́ khả năng riêng biệt của họ mà bởi v́ chúng ta tin tưởng họ. Chúng ta tin rằng họ sẽ cố gắng hết sức để bảo vệ quyền lợi của những người bầu ra họ, họ kiểm soát hoạt động cũng như những dự án của chính phủ, và giữ chính sách theo hướng mà họ đề ra khi tranh cử. Mọi người -bất kể thuộc tầng lớp xă hội nào- nếu thông minh vừa phải, có lương tâm, biết cách sắp xếp tổ chức, biết diễn đạt tương đối chính xác đều có thể hoàn tất nhiệm vụ của một dân biểu. Khi trúng cử người dân biểu sẽ có nhiều thời giờ và phương tiện để hoạt động tốt hơn. Họ sẽ dần dần thu thập kinh nghiệm, mặc dù trong chế độ dân chủ không ai có thể bảo đảm vai tṛ dân biểu này suốt đời cho họ được.

Số người có khả năng để làm dân biểu tuy rất nhiều nhưng trên thực tế chỉ có một số nhỏ được tuyển chọn. Con đường vào quốc hội -thông thường- là một con đường dài và khó khăn. Thường, các dân biểu là người của các chính đảng có tiếng tăm và đă hoạt động nhiều năm cho chính đảng này. Nhiều người từng có kinh nghiệm làm dân cử ở cấp quận hoặc tỉnh. Họ phải thuyết phục ban tuyển chọn ứng viên trong đảng và có thể đă có vài ba thất bại trước khi được đứng vào vị trí "sáng giá" trong khu vực bầu cử hoặc trên danh sách của đảng nhà. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, nếu đảng nhà gặp xui trong năm đó th́ chưa chắc họ sẽ trúng cử. Do đó người dân biểu cần rất nhiều sự bền chí và may mắn để thắng cử. Chỉ có những người nào đă bỏ nhiều công sức cho công việc xă hội và sẵn sàng làm việc ngày đêm mới đi được đến đích.

 

43. Có nên cho phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác không?

Những người ủng hộ lập trường này đưa ra những lư luận sau đây: người dân biểu không phải làm việc suốt cả năm, phụ cấp dân biểu không đủ sức hấp dẫn những người có tài dấn thân vào chính trường và một công việc ở ngoài sẽ giúp cho các dân biểu không mất liên lạc với thực tế. Thực ra không có lư luận nào ở trên là có lư. Dù rằng quốc hội không nhóm họp suốt cả năm nhưng công việc trong quốc hội rất bề bộn và đ̣i hỏi người ta phải làm việc liên tục, có nghĩa là, nếu muốn hoàn tất nhiệm vụ một cách đúng đắn người dân biểu lúc nào cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng. Đó là điều mà cử tri chờ đợi nơi người dân biểu. Bù lại cử tri cũng đă sẵn sàng trả thù lao cho dân biểu tùy theo chức vụ mà họ gánh vác cũng như đài thọ các chi phí cần thiết khác. Không có cách nào có thể giúp người dân biểu đi sát với thự tế hơn là việc tiếp xúc thường xuyên với cử tri thuộc mọi tầng lớp dân chúng, với những người đă bầu ra họ, và lắng nghe lời họ nói.

C̣n một vấn đề phụ khác nhưng rất dễ xảy ra trong thực tế. Một vài nhóm hay tổ chức có thể trả lương cho dân biểu hay kư hợp đồng để vị này bảo vệ quyền lợi cho họ trong quốc hội. Loại dịch vụ này khó có thể chấp nhận được mặc dù nó rất phổ biến trong một số các quốc hội. Làm sao có thể biện bạch được rằng các dân biểu có thể đại diện cho quyền lợi của cử tri của họ trong khi mà họ cũng ăn lương để đại diện chính thức cho các nhóm quyền lợi (thường) có tầm hoạt động trên b́nh diện quốc gia? Việc bắt các dân biểu kê khai những nguồn thu nhập này chỉ là phương cách tạm bợ; tốt nhất là nên tuyệt đối cấm loại hoạt động này.

Vai tṛ của dân biểu rất đặc biệt v́ nó có thể chấm dứt một cách đột ngột nếu không được cử tri bầu cho nữa. Điều này không có nghĩa là vị dân biểu đă thất bại trong nhiệm vụ của ḿnh mà nhiều khi chỉ v́ người lănh đạo hay chương tŕnh của chính đảng của họ không c̣n được ḷng của cử tri nữa. Nói cho cùng t́nh trạng này cũng không khác hoàn cảnh của người công nhân làm trong lănh vực tư nhân bị sa thải bất ngờ, không phải v́ lư do năng suất mà v́ nhu cầu thị trường. Trong cả hai trường hợp đó khổ chủ phải nhận được tiền bồi thường tương ứng với thời gian làm việc để có thể đi t́m việc làm mới. Hơn nữa họ phải nhận được quyền hoán chuyển tiền bồi thường này ra tiền hưu trí.

 

44. Làm thế nào để tận diệt tham nhũng chính trị?

Tham nhũng chính trị là việc lợi dụng chức quyền để làm giàu cho bản thân. Tham nhũng có thể xuất hiện ở mọi cấp trong hoạt động của chính quyền, bất kể đó là chính quyền của quốc gia nào. Ở tại các quốc gia dân chủ, nếu người ta nhắm mắt làm ngơ trước những hành động nhằm đem lại bổng lộc qua chức vụ, thí dụ như trong việc cho thầu các công tŕnh công cộng hoặc trong việc cấp giấy phép thương măi, th́ những hành động này sẽ làm dân chúng dần dần mất tin tưởng vào người đại diện "chính quyền". Niềm tin của dân chúng vào dân chủ cũng sẽ bị thương tổn bởi người dân sẽ cho rằng dân chủ không xứng đáng để được bảo vệ hoặc xây dựng. V́ lẽ đó mà chúng ta phải bằng mọi cách để đối phó đúng mức với vấn đề tham nhũng chính trị. Và dù biết tham nhũng sẽ không thể bị tận diệt được, chúng ta vẫn phải làm mọi cách để giới hạn nó lại một cách tối đa.

Tham nhũng chính trị dễ có điều kiện để phát triển khi những người có chức vụ công cộng được trả lương tương đối ít hoặc ngược lại khi tham nhũng là phương cách duy nhất trong xă hội để họ tăng nguồn thu nhập. Tham nhũng cũng sinh sôi nẩy nở khi sự phát triển trong kinh tế tư nhân bị phụ thuộc vào những quyết định mờ ám của chính quyền và khi khả năng bị lộ tẩy hoặc bị trừng trị khó xảy ra. Khi t́m hiểu môi trường phát sinh tham nhũng như trên, chúng ta cũng đă phần nào thấy những phương thuốc chữa bệnh tham nhũng: trả lương tương xứng cho những người giữ các trách vụ công mặc dù cũng không cần phải trả lương quá cao so với mức lương trong các ngành nghề khác; đặt một khung luật pháp và thủ tục rơ ràng minh bạch cho toàn bộ các quyết định có thể đem lợi lại cho giới kinh tế tư nhân; và cuối cùng làm cho các hoạt động chính quyền trở nên minh bạch theo đúng như luật pháp đ̣i hỏi để các cơ quan tư pháp có thể điều tra khách quan khi có nghi ngờ gian lận.

Phương thuốc hữu hiệu nhất để chữa bệnh tham nhũng là việc xây dựng một tinh thần và truyền thống không quá chú tâm đến những lợi lộc cá nhân trong một nền kinh tế thị trường. Cần nói rơ rằng tất cả những biện pháp này, nhất là biện pháp cuối cùng vừa nêu, đều không thể đem ra áp dụng ở những nơi mà nạn tham nhũng đă bám rễ sâu và trở thành măn tính.

 

45. Vai tṛ của bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ

Để hàng ngày có thể điều hành công việc quốc gia, chính phủ phải dựa vào những công chức hành chánh cao cấp. Đây là những người làm việc toàn thời gian nhưng không do dân bầu. Những công chức cao cấp này có hai nhiệm vụ.

Thứ nhất, họ là những chuyên viên có thể đóng góp ư kiến về các chính sách và về việc soạn thảo các dự luật để đưa ra quốc hội.

Thứ hai, họ là người lănh đạo nhân sự trong bộ máy hành chánh để thi hành các chính sách và áp dụng các đạo luật. Người ta chờ đợi họ sẽ thực thi hai chức năng này một cách có lương tâm và không thiên vị. Họ sẽ làm công việc này mà không chịu ảnh hưởng bởi (những) thế lực đang cầm quyền hoặc vào quan điểm của ngay cả chính cá nhân họ đối với chính sách đương thời. Nếu các chính phủ ngày nay không thể dựa trên một bộ máy hành chánh gồm những nhân sự chuyên nghiệp như vậy th́ hoạt động của bộ máy hành chánh trong một chế độ dân chủ sẽ đụng phải một số các vấn đề khá đặc biệt, chẳng hạn như việc chỉ định những người chịu trách nhiệm về bộ máy hành chánh, cơ chế giám sát hoạt động của những công chức cao cấp hoặc thể thức tuyển chọn họ.

*Vấn đề thứ nhất: (chỉ định nhân sự) thực ra là mối bận tâm của các chính đảng. Họ sợ nếu để các công chức cao cấp được tự do lựa chọn việc áp dụng chính sách của chính đảng đang cầm quyền th́ các công chức này có thể sẽ gây trở ngại hoặc có thể lợi dụng hiểu biết về các hồ sơ (mà chỉ có họ mới nắm vững) để cố vấn chệch hướng cho các bộ trưởng (thường không thông thạo các vấn đề bằng các cố vấn). Mối bận tâm này nhiều khi bị thổi phồng quá đáng. Phận sự của các công chức cao cấp là phải cho tiến hành việc đánh giá nghiêm chỉnh về các dự án của chính phủ dựa trên những ư kiến phản bác cũng như dựa trên những khó khăn mà dự án này có thể gây ra khi được đem ra áp dụng, v́ chính họ cũng là người có nhiệm vụ thực thi các dự án này.

V́ thế họ thường bị hiểu lầm là cố ư ngăn cản chính sách. Nhưng ngoài ra cũng c̣n có một vấn đề khác nữa: các công chức cao cấp có thể họp lại thành một tập thể tuy không được dân bầu nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hướng các chính sách nói chung và có thể lợi dụng ảnh hưởng này cho các mục đích phi dân chủ. Trong các chế độ dân chủ lâu đời, người ta dùng một trong hai phương thức sau đây để giới hạn sự rủi ro này lại. Phương cách thứ nhất cho phép thế lực cầm quyền được quyền bổ nhiệm một hay nhiều viên chức lănh đạo bộ máy hành chánh trong các bộ. Người đảm nhiệm chức vụ này, trên nguyên tắc, sẽ bị thuyên chuyển sau mỗi kỳ thay đổi chính phủ. Phương cách thứ hai là thành lập văn pḥng giúp đỡ cho bộ trưởng. Văn pḥng này gồm những chuyên viên có thể giải thích về các hồ sơ một cách khác cho vị bộ trưởng nghe cũng như có thể kiểm soát một cách hoàn toàn độc lập về các ư kiến của các công chức cao cấp. Phải nói ngay rằng không có phương thức nào trong hai cách trên là hoàn hảo nhưng nói cho cùng chúng vẫn mang lại lợi nhiều hơn hại.

*Vấn đề thứ hai: là trách nhiệm của những công chức cao cấp. Mỗi bộ được xây dựng trên một hệ thống nhân sự có thứ bậc, chịu trách nhiệm tăng dần với vị bộ trưởng và chịu trách nhiệm thông qua vị bộ trưởng này với quốc hội. Người ta có thể đặt vấn đề một cách xác đáng rằng, trong một chế độ dân chủ, liệu các công chức cao cấp có c̣n phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước luật pháp, đối với quốc hội và công chúng, để trong một vài trường hợp nào đó, trách nhiệm này sẽ phải được đặt cao hơn sự phục tùng theo thứ bậc quyền hạn. Một công chức sẽ phải xử sự thế nào khi lệnh trên hàm chứa một sự vi phạm pháp luật, một sự lừa dối quốc hội hoặc sự xâm phạm đến quyền lợi của những người mà họ có bổn phận phải phục vụ? Những thí dụ vừa kể đă cho ta thấy những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai loại trách nhiệm: giữa trách nhiệm của một công chức hành chánh và trách nhiệm của một công dân trong một chế độ dân chủ. Trong thực tế, nhiều công chức đă sử dụng phương cách cho ṛ rỉ thông tin để giải quyết thế kẹt này. Thực tế này lại càng cho thấy sự cần thiết phải cho thông qua một đạo luật nhằm bảo vệ những người cung cấp thông tin nằm trong bộ máy hành pháp.

*Vấn đề thứ ba: là phương thức tuyển chọn công chức hành chính cao cấp trong một chế độ dân chủ. Để bảo đảm nhân phẩm, các công chức sẽ được tuyển chọn trong số các ứng viên có tŕnh độ đại học hoặc được đào tạo và có khả năng chuyên môn thích ứng, dĩ không phụ thuộc vào thành phần đảng phái của họ. Nếu phương cách tuyển chọn này trong một chừng mực nào đó có thể bảo đảm rằng các ứng viên trúng tuyển thuộc về thành phần trí thức ưu tú th́ người ta cần giữ để sao cho nó không chỉ ưu đăi một số thành phần xă hội nào đó. Trong một chế độ dân chủ, nhà chức trách cần phải phản ảnh cấu trúc xă hội. Theo nguyên tắc b́nh đẳng chính trị th́ mọi việc ở các công sở phải rộng mở đối với mọi người không phân biệt họ thuộc thành phần xă hội nào. Điều này đ̣i hỏi phải có những biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự kỳ thị, để bảo đảm thực thi sự b́nh đẳng giữa các giới phái trong hệ thống giáo dục cũng như trong việc tuyển chọn công chức cho các cơ quan.

 

46. Công dân có phương tiện nào để buộc các cơ quan chính phủ phải làm tṛn trách nhiệm đă được giao phó?

Người dân trong một chế độ dân chủ có nhiều phương tiện hữu hiệu để đối phó với những đại diện của các cơ quan công quyền một khi quyền lợi của họ bị một quyết định phi pháp hoặc một lỗi lầm của bộ máy hành chính (cẩu thả, chậm trễ, tùy tiện, ...) xâm phạm. Gặp trường hợp lạm quyền, người dân có thể kiện sự vụ ra ṭa án. Gặp trường hợp cơ quan hành chánh làm sai, người dân có thể nhờ vị dân biểu của đơn vị bầu cử của ḿnh hoặc các cơ sở trung gian ḥa giải can thiệp. Cơ sở trung gian ḥa giải là nơi có trách nhiệm cứu xét đến nơi đến chốn những khiếu nại của những công dân cho rằng ḿnh bị chính quyền chèn ép. Mới đây có thêm Hiến Chương Công Dân ra đời để quy định việc bồi thường cho những người (tiêu thụ) phải chịu thiệt tḥi do sự thiếu trách nhiệm của những cơ quan cung cấp dịch vụ công cộng, khi các cơ quan này cung cấp cho họ trợ cấp thấp hơn mức luật pháp quy định.

Trên đây chúng ta đă chỉ nêu những thí dụ liên quan đến loại trách nhiệm về tiêu thụ và đ̣i hỏi những cam kết phải đặc biệt được tôn trọng. Loại trách nhiệm này khác với loại trách nhiệm tập thể mà chúng ta đă có dịp xem qua trong phần 38. Nh́n chung những thí dụ này nhắc nhở chúng ta rằng, dân chúng trong tổng thể của nó là khách hàng của những dịch vụ cung cấp bởi các cơ quan công quyền, và nói cho cùng th́ người lănh đạo quốc gia cũng phải có bổn phận báo cáo với dân chúng về việc thực hiện những trách nhiệm về tư pháp, chính trị và tài chính.

 

47. Làm thế nào để bảo đảm sự kiểm soát của một chính quyền dân sự đối với quân đội?

Ở tại các quốc gia có truyền thống dân chủ vững chắc, nghĩa là tại những xứ mà lằn ranh giữa lănh vực chính trị và quân sự được định nghĩa thật rơ ràng và được bảo vệ một cách chu đáo, sự kiểm soát của chính quyền dân sự đối với quân đội sẽ không gặp nhiều khó khăn ngoại trừ một vài trường hợp có tranh chấp nhỏ liên quan đến việc mua vũ khí, định mức quân số, điều kiện sinh hoạt của quân đội. Trong khi đó lịch sử tại các quốc gia dân chủ tân lập lại thường ghi nhận những vụ đảo chính, những chế độ quân phiệt, ở đó thành phần chính phủ và những chính sách dự tính đều phải đưa qua cho các lănh tụ quân đội duyệt xét. Bài toán quân đội lạm quyền tại những nước này hầu như khó có thể giải quyết được. Ở bất cứ ở nước nào cũng vậy, quân đội luôn luôn có nhiều phương tiện vật chất và tổ chức để có thể phế bỏ những vị lănh đạo chính trị dân cử, tiếm chiếm quyền lực và đặt dân chúng dưới sự điều khiển của họ. Như thế vấn đề mà chúng ta đang bàn phụ thuộc rất lớn vào thiện chí của quân đội trong việc hành xử cho đúng với vai tṛ của ḿnh.

Làm cách nào để thuyết phục quân đội theo chiều hướng này? Người ta khó có thể bảo đảm sự phục tùng của quân đội đối với giới lănh đạo chính trị dân cử bằng cách chỉ dạy họ rằng quân đội cần giữ thế phi chính trị, hoặc mua chuộc họ bằng lương cao, vị thế lớn, hay bằng cách trang bị những hệ thống vũ khí tinh vi cho họ. Sự bất b́nh trong quân đội hiếm khi gây ra những cuộc đảo chánh mặc dù đôi khi nó cũng đóng một vai tṛ xúc tác thêm. Thường quân đội đứng lên lật đổ chính phủ dân sự khi đất nước bị khủng khoảng nặng nề và lâu dài mà cả những người cầm quyền lẫn các cơ quan (dân sự) đều bó tay: nội chiến, lạm phát triền miên, trật tự xă hội rối loạn, tham nhũng lộ liễu và sâu rộng. Quân đội cũng có thể đảo chính để ngăn chặn một chính đảng cực đoan thắng cử và lên cầm quyền. Trong cả hai trường hợp vừa nêu nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp của quân đội không xuất phát từ bản chất của quân đội mà do chế độ dân chủ quá yếu kém khiến cho các cơ chế của nó không làm việc đúng đắn được.

Dù thế nào, một chính phủ quân đội tốt lắm cũng chỉ đem lại phương thuốc tạm và không thể là một giải pháp lâu bền cho những vấn đề của xă hội. Có thời, cách đây khoảng mười hay hai mươi năm, người ta có mốt ca ngợi quân đội là đầu tàu trong công cuộc canh tân kinh tế và xây dựng quốc gia, và đem nó ra để đối chọi với cơ chế chính trị dân chủ đầy rẫy tham nhũng và chia rẽ. Nhưng quân đội đă không thể đem lại cho chính phủ một tư thế chính danh trong việc cầm quyền, chưa kể rằng bản tổng kết về hoạt động của các chính quyền quân sự rất thê thảm. Không phải khi điều hành quốc gia một cách bất cần dư luận và trong sự bí mật mà người ta có thể đối phó hữu hiệu được với nạn tham nhũng. Ngược lại, điều này c̣n có thể bao che cho tham nhũng nữa. Chính phủ quân sự cũng không bảo đảm được cả cho những hoạt động kinh tế trong sạch nữa. Sau hết cần phải biết rằng, các chính phủ quân sự cũng có thành tích vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, là điều khó có thể chấp nhận đối với mọi h́nh thức chính phủ hoạt động dựa trên sự trong sáng.

Chúng ta hiện không có giải pháp nào đáng tin cậy hơn để thay thế tiến tŕnh từng bước củng cố các cơ chế dân chủ, củng cố một chính quyền hợp hiến và củng cố nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mà trong trường hợp thất bại, chúng ta sẽ phải nhờ đến sự hỗ trợ của cộng đồng thế giới. Để giải quyết các mâu thuẫn chính trong xă hội chúng ta cũng không có phương tiện nào khác hơn là t́m một giải pháp chính trị dựa trên sự thương lượng và thỏa thuận. Song song với phương thức này chúng ta cần định ra những phương thức hữu hiệu hơn nữa, cả trên b́nh diện quốc gia lẫn quốc tế, để truy ra và trừng phạt những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất, đặc biệt đối với những vi phạm của nhân viên trong bộ máy chính phủ, và để chế tài những chế độ dung dưỡng cho sự vi phạm nhân quyền đó.

 

48. Cơ quan t́nh báo có chỗ đứng trong một chế độ dân chủ không?

Về mặt nguyên tắc, dân chủ không chấp nhận bất cứ h́nh thức hoạt động bí mật nào của chính quyền. Nhưng các quốc gia dân chủ nào cũng bắt buộc phải có những hoạt động ngầm để bảo vệ cho người dân trước những đe dọa đến từ nước ngoài, từ những tổ chức phạm pháp hoạt động trong phạm vi lănh thổ quốc gia, hoặc những âm mưu lật đổ nhắm vào các cơ chế dân chủ. Loại hoạt động bí mật này sẽ dẫn đến việc áp dụng những phương thức xâm phạm vào quyền công dân bao gồm việc giám sát và dọ thám bằng điện tử, nghe lén điện thoại đến đủ mọi tṛ gian xảo khác. Do bản chất bí mật, những hoạt động này lại càng dễ bị lợi dụng vào những mục đích khác với mục đích được luật pháp cho phép chính thức và có thể bị đem áp dụng đối với những hoạt động hoặc những tổ chức chính trị hoàn toàn hợp pháp nhưng bị chính quyền đương thời xem là đi ngược với chính sách của họ.

Như vậy vấn đề được đặt ra ở đây phụ thuộc vào sự kiểm soát về mặt chính trị đối với các loại hoạt động bí mật này. Chỉ quy định chung chung rằng những hoạt động an ninh phải chịu trách nhiệm trước quốc hội hoặc trước một hay nhiều bộ trưởng chưa đủ. Cần phải thành lập một ủy ban đặc biệt của quốc hội - có thể nhóm họp bí mật bất cứ lúc nào thấy có nhu cầu cần thiết - để giám sát các loại hoạt động này cũng như kiểm soát việc thực sự áp dụng những quy định đă được công bố trước công chúng đối với loại hoạt động này. Ngoài ra ủy ban trung gian này phải có được thẩm quyền giải quyết những khiếu nại của người dân về những hành vi theo dơi các hoạt động hoàn toàn hợp pháp của họ khi họ có đủ lư do để chứng minh rằng hành vi này xâm phạm đến quyền công dân của họ.

 

49. Tại sao các đơn vị hành chánh địa phương lại quan trọng đối với nền dân chủ?

Để bảo đảm tính năng động, một quốc gia theo chế độ dân chủ cần phải có những đơn vị hành chánh địa phương (tỉnh, quận, xă) được người dân bầu lên v́ những lư do sau đây. Cơ chế đại diện địa phương gia tăng thêm khả năng tham gia vào diễn tŕnh quyết định những công việc chung cũng như số người tham gia vào diễn tŕnh ấy. Do tính bám rễ địa phương mà các cơ chế này dễ đáp ứng các nhu cầu và những đặc thù của địa phương hơn là chính quyền trung ương của b́nh diện quốc gia. Cơ chế này cũng cho phép đem thử nghiệm một vài chính sách trong một phạm vi nhỏ của địa phương và nếu thành công có thể đem áp dụng tại những địa phương khác kể cả việc áp dụng trên b́nh diện toàn quốc. Ngoài ra cơ chế này cũng được dùng làm thước đo thử sức những người muốn có sự nghiệp chính trị trên b́nh diện quốc gia và cũng cho phép các chính đảng thua cuộc trong cuộc đầu phiếu toàn quốc có thể rút về các thành tŕ địa phương của họ. Sau hết, để giới hạn sự tập trung quyền hành vào tay chính quyền trung ương, theo tinh thần của hiến pháp, cơ chế này c̣n mở nguyên tắc phân quyền ra về chiều rộng. Nh́n riêng rẽ, mỗi đặc tính này đều rất quan trọng; khi gộp chung lại, chúng cho thấy lợi ích không thể phản bác được của các đơn vị hành chánh dân cử địa phương.

Song, các thế lực hùng hậu tại các quốc gia trên thế giới hiện nay lại đang muốn tập trung diễn tŕnh quyết định chính trị vào tay trung ương. Do đó những người có trách nhiệm về tài chánh trong các chính quyền thường t́m cách kiểm soát tổng khối lượng chi tiêu trong lănh vực công, một phương cách được họ xem là phương tiện quan trọng để điều hành nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra chính quyền trung ương khó mà chấp nhận để cho các đối thủ chính trị có thể tạo cản trở đối với các chính sách của họ hoặc làm giảm ảnh hưởng của những chính sách này tại địa phương. Sau hết, trong một xă hội ngày càng có nhiều chuyển động, người dân ngày càng khó chấp nhận sự cách biệt quá lớn về mặt dịch vụ công cộng giữa các địa phương. Sự b́nh đẳng giữa các công dân đ̣i hỏi phải có sự b́nh đẳng về những dịch vụ mà họ được hưởng. Để thực hiện sự b́nh đẳng vừa kể, nếu bên cạnh các quy định chung lại c̣n bắt các địa phương phải chấp nhận một sự điều phối đáng kể về tài nguyên cho nhau, th́ sự tự trị của các đơn vị hành chánh địa phương sẽ bị sút giảm một cách đáng kể, và kèm theo đó là sự giảm sút về khả năng chọn lựa của cử tri trong các cuộc đầu phiếu.

Chúng ta không có một phương thức giải quyết nào vừa đơn giản vừa có khả năng áp dụng chung để giải quyết những ưu tiên xung khắc vừa nêu. Tuy nhiên, nếu chúng ta ư thức rằng hiện nay những áp lực mạnh nhất xuất phát từ phía những người ủng hộ tập quyền, th́ quyền lợi của những đơn vị hành chánh địa phương mới đáng được bảo vệ hơn cả. Một sự bảo vệ tối thiểu sẽ phải có đủ những đặc điểm sau đây: cử tri có thể hiểu một cách rơ ràng và dễ dàng về sự phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan quyền lực trung ương và địa phương; địa phương phải có đủ quyền và đủ phương tiện để có thể thực hiện những trách vụ của ḿnh trong khuôn khổ phải lưu tâm đến nhu cầu đặc thù của địa phương và những quy định quốc gia đang có hiệu lực. Muốn bảo vệ quyền lợi địa phương người ta cũng cần dự pḥng những phương cách thích hợp để cho các đại diện trách nhiệm của đơn vị hành chánh địa phương có thể báo cáo cho cử tri về các hoạt động của họ. Ngoài ra cũng cần phải có một đạo luật nhằm ngăn ngừa chính quyền trung ương lấn bước sang những đặc quyền của địa phương; Có thể giao cho một ṭa án hiến pháp giám sát việc áp dụng đạo luật này. Sau cùng và quan trọng hơn cả, tính chất của quan hệ giữa cơ quan quyền lực trung ương và địa phương phụ thuộc chính yếu vào thái độ hợp tác và sự công nhận lẫn nhau trên các lănh vực thẩm quyền của nhau - hơn là chấp nê với nhau về pháp lư.

 

50. Chế độ liên bang thích hợp trong những điều kiện nào?

Chế độ liên bang dựa trên nguyên tắc phân chia lănh thổ quốc gia thành nhiều tiểu bang riêng biệt, mỗi tiểu bang có một quốc hội dân cử và một bộ máy hành pháp riêng. Mỗi một quốc hội tiểu bang có quyền biểu quyết về mức độ thuế và việc thu thuế căn cứ vào sự phân chia quyền hạn giữa những tiểu bang và chính quyền trung ương quốc gia được quy định bởi hiến pháp. Lịch sử cho thấy các quốc gia theo chế độ liên bang đă được h́nh thành theo nhiều cách khác nhau: qua sự hợp nhất những nước trước đây hoàn toàn độc lập chủ quyền, hay qua sự công nhận chế độ tự trị của các vùng hoặc quốc gia trước đây thuộc về một nước duy nhất, hay qua việc cùng chấp nhận một thỏa ước dựng nước.

Nói chung chế độ liên bang thích hợp với những nước có lănh thổ rộng lớn bao gồm trong đó những vùng mang sắc thái văn hóa và địa lư rất khác biệt mà nằm gần nhau. Chế độ liên bang cũng có khả năng đáp ứng được với nhu cầu đ̣i tự trị của các thiểu số sắc tộc hoặc văn hóa cùng sống trong một không gian địa lư, để tránh khỏi phải chấp nhận một sự độc lập chủ quyền hoàn toàn. Nhiều khi việc chấp nhận sống chung dưới một mái nhà c̣n có lợi hơn việc chia cách hoàn toàn hoặc mất thời giờ tranh căi với nhau tối ngày. Người ta cũng thấy rằng một phần lớn những lập luận ủng hộ cho việc thành lập các quốc hội dân cử địa phương (mà chúng ta đă vừa xét qua ở phần trước) cũng đúng một cách xác đáng với chế độ liên bang.

 

IV. Những quyền tự do cá nhân và phương cách bảo vệ chúng

 

51. Nhân quyền là ǵ?

Nhân quyền và những tự do căn bản là những quyền cá nhân phát xuất từ các nhu cầu và khả năng của con người. Việc công nhận nhân quyền và việc tạo dựng những phương tiện trong luật quốc tế để bảo vệ nhân quyền có lẽ là những thành tựu tinh thần lớn nhất trong thế kỷ này. Cộng đồng thế giới đă thông một số rất lớn những hiệp định hoặc thỏa ước quốc tế về nhân quyền. Đây là những phương tiện được đưa ra để củng cố định nghĩa chính chung về việc mở rộng Nhân quyền và các tự do căn bản của con người và đồng thời bắt các chính quyền phải đưa ra những biện pháp cần thiết để bảo vệ những quyền đó, từ pháp lư đến thực hành, tại quốc gia của ḿnh.

Nguồn gốc chính của những nguyên tắc về nhân quyền là Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua vào ngày 10.12.1948. Vào năm 1966, Liên Hiệp Quốc đă thông qua hai Công ước quốc tế khác liên quan đến những nhân quyền được tuyên xưng trong Bản Tuyên ngôn nêu trên, đó là các Công ước về Quyền kinh tế, Xă hội và Văn hóa và Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị. Đến nay đă có hai phần ba các quốc gia trên thế giới kư vào hai Công ước này. Ngoài ra Liên Hiệp Quốc c̣n thông qua một Nghị Định Thư đi kèm với Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị, cho phép cá nhân được quyền khiếu nại lên Ủy ban Nhân quyền (của Liên Hiệp Quốc) là cơ quan có trách nhiệm (do Công ước qui định) kiểm soát sự vi phạm nhân quyền của các quốc gia. Song việc cầu cứu đến Ủy ban Nhân quyền chỉ có thể xảy ra khi quốc gia liên hệ đă chấp nhận kư kết cả Công ước lẫn Nghị định thư,điều mà đến nay chỉ mới có một số ít các quốc gia chịu làm.

Toàn thể các Công ước này. Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, hai bản Công ước và Nghị định thư hợp thành cái mà chúng ta gọi là Hiến chương Quốc tế về Nhân quyền. Sau hết nhân quyền c̣n là chủ đề của nhiều thỏa ước quốc tế và hiệp ước vùng như Công ước Mỹ châu về Nhân quyền, Hiến chương Phi châu về Nhân quyền và Dân tộc, Công ước Âu châu về Nhân quyền, mà nếu đem ra khai triển th́ sẽ vượt quá khuôn khổ của bài này.

 

52. Nhân quyền được phân loại ra sao?

Có nhiều cách để phân loại Nhân quyền nhưng cách phân loại hiện được chấp nhận chung là phân chia chúng thành nhóm quyền dân sự, quyền chính trị, quyền xă hội, quyền kinh tế và quyền văn hóa. Đây là cách phân loại được dùng trong Hiến chương Quốc tế về Nhân quyền.

Quyền dân sự và chính trị bao gồm quyền sống, việc nghiêm cấm sự tra tấn cá nhân, nghiêm cấm cưỡng bức lao động, việc được bảo vệ trước sự bắt bớ tùy tiện, tự do tư tưởng, tự do tinh thần, tự do tôn giáo và tín ngưỡng, quyền được tôn trọng có cuộc sống riêng tư, tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do được tham gia vào việc công. Nói một cách tổng quát quyền dân sự và chính trị nhằm bảo đảm không cho các cơ quan công quyền can thiệp vào đời sống của các cá nhân hoặc vào hoạt động của các nhóm người. Ngoài ra việc bảo vệ những quyền này c̣n đ̣i hỏi các cơ quan công quyền phải tạo ra các phương tiện thí dụ như bảo đảm về mặt tài chính cho một hệ thống trợ giúp pháp lư dành cho những người nghèo hoặc những người không có đủ khả năng (tài chính) để tự lo liệu lấy sự biện hộ trước ṭa. Một loại h́nh thức hoạt động khác của các cơ quan công quyền là việc tài trợ bằng công quỹ để cho các nhóm thiểu số có tiếng nói trên các phương tiện truyền thông.

Trong số các quyền xă hội và văn hóa người ta có thể đặc biệt kể đến quyền được có thực phẩm, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được có một mức sống tạm đủ, quyền được trả lương đồng đều cho một công việc tương tự, quyền được bảo trợ xă hội, quyền được làm việc, quyền đ́nh công, quyền có chỗ ở, quyền được đi học và quyền được tham gia vào đời sống văn hóa. Nói chung những quyền về xă hội và văn hóa nhằm bắt các cơ quan công quyền phải có trách nhiệm thực hiện các quyền này khi các cá nhân, v́ lư do thất nghiệp hoặc tàn tật, không thể tự đáp ứng các nhu cầu của họ được nữa.Những nhân quyền nêu trên cùng tuân theo một nguyên tắc quan trọng, một nguyên tắc không thể tách rời khỏi nhân quyền, là không một ai dù thuộc giới tính, chủng tộc, tôn giáo và tín ngưỡng nào lại có thể bị phân biệt đối xử khi hành xử các nhân quyền của họ.

 

53. Có nhân quyền nào được xem là quan trọng hơn các nhân quyền khác không?

Câu trả lời tốt nhất là tất cả các nhân quyền được công nhận trên b́nh diện quốc tế đều có ràng buộc với nhau và củng cố lẫn cho nhau. Những quyền mà các công dân được xem như là đă có được phụ thuộc vào tŕnh độ phát triển của của xă hội trong đó những quyền đó đang tiến triển cũng như phụ thuộc vào quyền có được một đời sống tạm đủ và những quyền đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở và được giáo dục tại các quốc gia giàu có.

Ngược lại tại những nước nghèo, những quyền này trước mắt vẫn c̣n là mối bận tâm của các cá nhân. Cần nói rằng trong các xă hội dân chủ, các quyền kinh tế và xă hội là những quyền căn bản cần được bảo vệ ngang bằng như những quyền căn bản khác như quyền dân sự và chính trị sơ đẳng, quyền được cai trị theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt và giam giữ một cách độc đoán, quyền có tự do ngôn luận và tự do lập hội. Theo công pháp quốc tế, mọi chính phủ có bổn phận khuyến khích sự tôn trọng cá quyền cá nhân dành cho mọi công dân mà không có phân biệt.

 

54. Nhân quyền có tính phổ quát không?

Câu hỏi được đặt ra là liệu nhân quyền có là quyền của mọi người ở mọi nơi không? Câu trả lời là có. Những tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền có liên quan đến toàn bộ những nhu cầu chung của con người cũng như mọi khả năng của các cá nhân mà không phân biệt cá nhân này đang sống tại quốc gia nào. Rơ ràng thế giới của chúng ta bao gồm nhiều vùng và nhiều văn hóa khác nhau, gồm cả nước giàu lẫn nước nghèo. Có người cho rằng những tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền chỉ liên quan đến cá nhân và như thế không thể nào dung ḥa được với những nền văn hóa chỉ xem cá nhân là một phần tử không thể tách rời được của cộng đồng và chỉ chú trọng đến bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng mà thôi. Câu hỏi liệu quan niệm (quốc tế) hiện nay về quyền cá nhân có làm các xă hội thay đổi quan niệm về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng đang là một đề tài tranh luận sôi nổi diễn ra tại cả những quốc gia phương Bắc (giàu) lẫn phương Nam (nghèo).

Sự thay đổi rơ ràng đă xảy ra mặc dù không có ǵ chứng minh rằng việc công nhận hay bảo vệ quyền cá nhân gây ảnh hưởng xấu đến sự đoàn kết giữa những con người hoặc trong xă hội. Ngược lại những chuẩn mực liên quan đến quyền phổ quát của cá nhân lại c̣n nhắm đến việc bảo vệ các nhóm người và các dân tộc khi thừa nhận sự cần thiết của việc kết nối cá nhân vào chung với đồng loại để cùng thực tập một ngôn ngữ riêng hoặc thừa nhận việc đồng nhất một cá nhân với tập thể cùng văn hóa, cùng tông giáo hay cùng nếp sống với nó. Luật quốc tế về nhân quyền công nhận ngay từ bước khởi đầu một số các quyền chung cho mọi người nhưng sau đó c̣n tiến xa hơn khi công nhận và chứng duyệt cho các nền văn hóa và các dân tộc bản địa được quyền thăng hoa và phát triển.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế cũng đề cập đến những bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng. Bản Tuyên ngôn này khẳng định rằng nhân cách của một cá nhân chỉ có thể thăng hoa và phát triển một cách tự do và đầy đủ trong một cộng đồng được họ cùng nhiều người khác dựng nên. Tuy nhiên khái niệm về nhân quyền chỉ phát sinh từ khi có sự khẳng định rằng mỗi cá nhân sinh ra đều có giá trị không ǵ thay thế được.

Có người giải thích rằng sự chống đối đặc tính phổ quát của nhân quyền phát xuất từ thực tế các nền văn hóa có quan niệm khác nhau về bổn phận và quyền lợi của cá nhân. Cách giải thích này chưa thực đủ. Điểm chính là các nền văn hóa đă quan niệm trái ngược nhau về việc đặt cá nhân cao hơn cộng đồng. Lẽ dĩ nhiên, tùy nền văn hóa người ta có thể có cách diễn đạt khác nhau về những khía cạnh của nhân quyền nhưng người ta không thể nghi ngờ tính phổ quát của nó. Những chỉ trích và chống đối vừa nêu c̣n được phụ trợ bởi thực tế hiển nhiên là các quốc gia trên thế giới thường có phản ứng thiếu công bằng đối với những vi phạm nhân quyền. Việc lên án vi phạm nhân quyền thường phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa các quốc gia. Nói cách khác các quốc gia thường tỏ ra nghiêm khắc đối với sự vi phạm nhân quyền tại các quốc gia thù địch và bỏ qua cho các quốc gia đồng minh. Để vận động được sự ủng hộ của toàn thể các quốc gia cho một trật tự quốc tế dựa trên sự tôn trọng nhân quyền chúng ta phải thiết lập được một cơ chế quốc tế có khả năng đánh giá một cách khách quan và không đăi lọc cung cách mà các quốc gia hoàn thành trách nhiệm bảo vệ những tiêu chuẩn nhân quyền phổ quát.

Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở Vienne thủ đô Áo quốc vào tháng 6.93 đă đưa ra những xác quyết quan trọng về nhân quyền và bổn phận của cộng đồng quốc tế: Tất cả mọi nhân quyền đều phổ quát, bất khả phân (không thể tách rời nhau), phụ thuộc lẫn nhau và ràng buộc chặt chẽ với nhau. Cộng đồng quốc tế phải bàn bạc giải quyết vấn đề nhân quyền một cách toàn cầu, công minh, cân đối, b́nh đẳng và xem mọi nhân quyền quan trọng như nhau. Không bỏ quên sự quan trọng của đặc thù quốc gia và địa phương cũng như sự đa dạng về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, các quốc gia - bất kể theo chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa nào, đều có bổn phận khuyến khích, xúc tiến và bảo vệ nhân quyền cũng như mọi quyền tự do căn bản (Tuyên ngôn và Chương tŕnh Hành động, điều 5).

 

55. Cộng đồng quốc tế có thể bày tỏ sự quan tâm chínhđáng của ḿnh về cách thực thi nhân quyền tại một quốc gia nào đó không?

Nguyên tắc không can thiệp vào nội t́nh các quốc gia là một trong những nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế mới, theo như Hiến chương của Liên Hiệp Quốc đă quy định.

Tuy nhiên, sự phát triển của phong trào bảo vệ nhân quyền trên b́nh diện thế giới và sự mở rộng thường xuyên các tiêu chuẩn về nhân quyền trên phạm vi thế giới đă là một sự công nhận chính thức các công ước về nhân quyền.

Do đó cung cách đối xử với các công dân sẽ được đưa lên khỏi phạm vi nội bộ của quốc gia và trở thành đối tượng của sự phê b́nh của các chính phủ khác cũng như các tổ chức phi chính phủ. Điều này hoàn toàn không thể xem là sự can thiệp vào nội bộ của các quốc gia. Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền đă xác nhận rằng sự khuyến khích, xúc tiến và bảo vệ tất cả các nhân quyền là mối bận tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế (Tuyên ngôn và Chương tŕnh Hành động, điều 4).

 

56. Nhân quyền liên quan ra sao với dân chủ?

Theo Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền, quyền con người và dân chủ (cũng như sự phát triển về kinh tế) phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau. Nói cách khác, hiên nay cộng đồng quốc tế đă nh́n nhận rằng việc bảo vệ nhân quyền và nguyên tắc thượng tôn pháp luật - không phải chỉ ở tại các quốc gia phát triển mà c̣n ở các quốc gia đang phát triển - chỉ có thể hữu hiệu nếu bảo vệ được các nguyên tắc dân chủ. Văn bản của Hội nghị cũng cho thấy rằng việc thực thi nhân quyền và các quyền tự do của con người rất cần để cho nền dân chủ có thể hoạt động tốt. Chỉ mới đây thôi có người c̣n cho rằng nhân quyền có thể được thực thi và bảo vệ tại các quốc gia không dân chủ, đặc biệt khi sự phát triển kinh tế được ưu tiên. Bằng chứng thường thấy là chẳng chóng th́ chầy các chế độ này sẽ mất đặc tính khoan dung và trở thành một chế độ đàn áp, tham nhũng và mất ổn định.

Thực ra quan niệm cho rằng dân chủ và nhân quyền có liên quan chặt chẽ với nhau không phải chỉ mới xuất hiện sau này. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 cũng đă ghi lên sự bảo vệ chính quyền dân chủ. "Ư nguyện của toàn dân là cơ sở cho quyền lực quốc gia" (đ. 21) là một trong những lư tưởng được ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế. Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị bắt buộc các quốc gia phải bảo đảm cho mỗi công dân nước họ quyền và phương tiện để "tham gia vào việc điều hành việc công -dù là trực tiếp hay gián tiếp thông qua những người đại diện đă được chọn lựa một cách tự do-, được bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử trong sạch được tổ chức định kỳ, và có thể đạt đến được các chức vụ công trong những điều kiện công bằng."

Việc công nhận một cách rơ ràng quan hệ phụ thuộc giữa quan niệm về quyền cá nhân trong luật quốc tế và quan niệm căn bản về thể chế dân chủ là một trong những tiến bộ quan trọng nhất xuất hiện trên lănh vực bang giao quốc tế kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt. Tương tự như vậy việc tập thể các quốc gia đang phát triển cùng nh́n nhận rằng quyền phát triển chỉ có thể được thực hiện thông qua việc tôn trọng nhân quyền và các nguyên tắc dân chủ là một tiến bộ thêm nữa trên b́nh diện quốc tế trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh.

 

57. Các quyền dân sự và chính trị liên quan ra sao với dân chủ?

Trong một chế độ dân chủ, việc bảo đảm các quyền dân sự và quyền chính trị của người dân mang 2 nhiệm vụ. Thứ nhất, các quyền này rất quan trọng nếu người ta muốn tôn trọng 2 nguyên tắc dân chủ căn bản, đó là nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và nguyên tắc về b́nh đẳng chính trị khi cần lấy quyết định tập thể.

Thứ hai, những quyền và tự do này sẽ giới hạn phạm vi hoạt động của tập thể bằng cách định ra những phạm vi tự do và phạm vi lựa chọn của cá nhân nằm ngoài tầm quyết định của tập thể. Để giải thích nhiệm vụ đôi này chúng ta thử xét qua một số quyền dân sự và quyền chính trị có liên hệ mật thiết với chế độ dân chủ.

(i) Tự do và an toàn bản thân: Nếu không được bảo vệ khỏi bị bắt bớ, tù, đầy, trục xuất một cách độc đoán, th́ người dân sẽ không thể vững tâm tham gia vào những cuộc tranh luận hoặc các hoạt động chính trị. Do đó những thành viên của khối lập pháp - tức là các dân biểu - phải được hưởng quyền bất khả xâm phạm về pháp lư trong khi thi hành nhiệm vụ. Song, trong chế độ dân chủ, việc tôn trọng quyền tự do lại là một nguyên tắc cần được áp dụng cho mọi người trong đó có cả những người bị quan điểm chung loại ra - những người mà sự tự do và sự toàn vẹn thể xác cần được bảo vệ. Nguyên tắc này cũng luôn thách thức quan điểm của khối đa số.

(ii) Những bảo đảm cho thủ tục tố tụng hợp thức: Những lư luận vừa nêu cũng được dùng để biện minh cho sự cần thiết phải bảo vệ người dân trước những lời buộc tội vô căn cứ, những cách đối xử sai trái, trước sự tra tấn và những phiên xử thiếu công bằng. Trong các chế độ mà các nguyên tắc dân chủ không được tôn trọng, các đối thủ chính trị của chế độ thường hay bị đưa ra ṭa. Một xă hội dân chủ đ̣i hỏi phải có một hệ thống tư pháp độc lập và đ̣i hỏi sự vận hành của các ṭa án h́nh sự phải dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, tránh những ảnh hưởng và lèo lái về chính trị và ư thức hệ.

(iii) Tự do tư tưởng và tự do tinh thần: Trong một xă hội dân chủ mỗi người có quyền tự do suy nghĩ và gắn bó với những tư tưởng hoặc triết lư sống tùy sở thích. Một xă hội dân chủ cũng công nhận cho cá nhân quyền tự do được tụ hợp với những người khác thành một tôn giáo hoặc một tín ngưỡng, quyền tự do thuyết giảng và thực hành những niềm tin của ḿnh. Các quyền tự do này chỉ có mỗi một giới hạn, đó là quyền tự do của những người khác. Quyền tự do tư tưởng cần được bảo vệ trong mọi t́nh huống, cần được bảo vệ như là quyền của cá nhân trước các niềm tin khác của khối đa số, dù cho các niềm tin đó có mạnh đến đâu hoặc có mang sắc thái tôn giáo hay không. Điều này cần đặc biệt áp dụng cho những cộng đồng thiểu số có những tín ngưỡng và niềm tin khác biệt nhưng cũng phải được hưởng những bảo đảm giống như cộng đồng đa số.

(iv) Tự do phát biểu và tự do truyền thông: Như ta đă biết, điều cốt yếu trong một chế độ dân chủ là mỗi người dân phải có được một tiếng nói và mọi tiếng nói phải có quyền được phát biểu b́nh đẳng như nhau. Nếu công nhận cho mỗi người dân khả năng được phát biểu th́ quyền tự do phát biểu là một quyền cá nhân căn bản. Những tiêu chuẩn quốc tế về tự do ngôn luận không chỉ bảo đảm quyền phát biểu một quan điểm mà c̣n bao gồm cả "quyền t́m kiếm và tiếp nhận mọi thông tin và ư tưởng, bằng mọi phương tiện và qua mọi biên giới". Đối với các xă hội tân tiến, quyền này cũng hàm ư là các phương tiện truyền thông đại chúng phải được độc lập, và, trong sự tôn trọng những quy ước được định ra một cách rơ ràng để bảo vệ thanh danh và đời tư của cá nhân, các phương tiện truyền thông này được tự do thông tin đến người dân, chỉ trích chính quyền, mở ra các cuộc tranh luận đủ loại để giúp người dân định hướng tổng quát trong xă hội mà họ đang sống.

Sự trong suốt trong cách vận hành guồng máy chính quyền trong thể chế dân chủ cũng được củng cố bằng nguyên tắc tự do thông tin. Tự do thông tin cũng bao hàm rằng những nguồn thông tin và tài liệu xuất phát từ chính quyền không bị xếp loại "mật" hoặc đang c̣n giữ trong ṿng bí mật và công chúng có quyền tự do xem xét những tài liệu này ngoài một số đă được quy định chặt chẽ (xx thêm phần 37).

(v) Tự do tụ tập và tự do lập hội: Những chế độ dân chủ đại diện hiện nay sẽ không thể hoạt động được nếu không bảo đảm cho người dân quyền tự do tụ họp để bàn thảo về các vấn đề quốc gia, để thành lập các công đoàn hoặc các hiệp hội đủ loại trong mục đích bảo vệ quyền lợi đối với chính quyền, cũng như để thành lập các chính đảng và tham gia vào đó. Những quyền tự do này cũng bao gồm cả quyền tụ tập trong khuôn khổ của một cuộc biểu dương lực lượng, và quyền đưa thỉnh nguyện thư đến những người hữu trách nhằm mục đích đ̣i hỏi giải quyết các vấn đề bị ta thán.

 

58. Các quyền kinh tế và xă hội liên quan ra sao với dân chủ?

Theo tháp dân chủ đă được tŕnh bày ở phần trên (xx câu 15) th́ những quyền căn bản nhằm bảo đảm công ăn việc làm, nhà ở, thực phẩm, mức sống khả dĩ, bảo đảm giáo dục và thỏa măn một số các nhu cầu căn bản khác được xem là nền tảng của xă hội dân sự. Những cơ chế dân chủ chỉ có thể vận hành tối hảo trong một xă hội mà phần lớn người dân không chỉ ăn v́ đói. Một sự vận hành hữu hiệu của chế độ dân chủ đ̣i hỏi phải thỏa măn những nhu cầu tối thiểu để bảo đảm sự sinh tồn.

Việc tôn trọng các nguyên tắc dân chủ đ̣i hỏi rằng các lá phiếu của cử tri hoặc người dân phải có giá trị ngang nhau. Một sự chênh lệch thái quá về mặt triển vọng của cuộc sống cũng như về quyền được giáo dục giữa các thành phần xă hội sẽ làm giảm một cách đáng kể khả năng phát triển dân chủ của một xă hội. Mặt khác, dân chủ nếu được xem là một tiến tŕnh tập thể sẽ cho phép ta nhận diện và sửa chữa những bất công đó.

Điều này cũng đúng với sự phát triển. Sự phát triển chỉ có thể lâu dài nếu những chính sách phát triển có đủ khả năng biện bạch trước công chúng và nếu chúng được đem ra áp dụng chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ nhân quyền và nguyên tắc thượng tôn pháp luật (xx câu 68).

 

59. Trong trường hợp nào một chính quyền dân chủ được phép giới hạn nhân quyền?

Luật quốc tế cho phép thực thi việc giới hạn một số nhân quyền (nhất định) nếu chính quyền liên hệ nêu lên được những lư do đă được luật quốc tế định nghĩa rất rơ ràng, thí dụ có liên quan đến trật tự công cộng, giá trị đạo đức, an ninh quốc gia hay việc bảo vệ quyền lợi tha nhân. Tuy nhiên có một số nhân quyền không thể bị giới hạn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Trong một xă hội dân chủ một cá nhân, trong mọi t́nh huống, cũng không thể bị tước một số bảo đảm cơ bản thí dụ như các bảo đảm không bị tra tấn, không mất tự do tư tưởng và không bị kỳ thị.

Công pháp quốc tế quy định rất rơ về các nguyên tắc mà một chính phủ phải tuân theo khi muốn can thiệp vào sự thực thi nhân quyền của người dân hoặc muốn đ́nh hoăn áp dụng nhân quyền. Sự giới hạn này phải được ghi vào luật lệ quốc gia, có nghĩa nó phải có mục đích chính đáng, phải rơ ràng phù hợp với công pháp quốc tế hoặc phải chứng minh được sự cần thiết để bảo vệ các nguyên tắc dân chủ. Về mặt thực hành, chính quyền nào muốn có quyết định như trên th́ chính quyền ấy phải chứng minh được rằng hành động của họ tương xứng với nguyên nhân đă đưa họ đi đến quyết định giới hạn việc thực thi một quyền tự do hoặc một nhân quyền nào đó.

Như vậy, hành động cấm đoán một chính đảng hoạt động không thể biện bạch bằng bất cứ lư do nào ngoại trừ trường hợp chính đảng đó bị xác định thuộc về một lực lượng chính trị có hoạt động bạo lực hoặc nhằm chống lại hiến pháp. Một cách tương tự, luật quốc tế chỉ cho phép kiểm duyệt báo chí trong những trường hợp thật đặc biệt, thí dụ như khi có một tờ báo dự định công bố những thông tin rất nhạy cảm, mà một ṭa án lại phán quyết rằng nếu bị tiết lộ, chúng sẽ gây nguy hiểm cho mạng sống của một số công dân hoặc đe dọa nền an ninh quốc gia.

 

60. Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nào th́ được phép đ́nh chỉ nhân quyền?

Luật quốc tế về nhân quyền cho phép tạm thời đ́nh chỉ việc bảo đảm một số quyền dân sự và chính trị khi quốc gia ở trong t́nh trạng đặc biệt với tuyên bố chính thức rằng t́nh trạng này đang đe dọa sinh mạng của quốc gia. Những nguyên nhân được các chính quyền dựa vào để ban hành t́nh trạng đặc biệt thường là những mâu thuẫn nội chính mang tính chất chính trị hay sắc tộc đă thoái hóa thành những xung đột bạo lực hay hành vi khủng bố. Thông thường, trong trường hợp này các lực lượng cảnh sát hoặc an ninh sẽ bị buộc phải tăng cường các hoạt động bắt bớ hoặc khám xét mà có thể dẫn đến các quyết định bắt giam không xét xử.

Những xă hội dân chủ thường rất ngại phải dùng đến những quyền lực ngoại lệ nêu trên và chỉ sử dụng các quyền lực đặc biệt này trong trường hợp tối cần thiết mà thôi cũng như cố gắng tối đa để tránh những lạm dụng khi phải chọn lựa sử dụng đến những quyền lực đặc biệt này.

Ngay cả trong t́nh trạng đặc biệt được mô tả ở trên người ta cũng không được phép vi phạm hoặc đ́nh chỉ một số nhân quyền như quyền sống, quyền tư do tư tưởng, tư do lương tri, quyền không bị tra tấn hành hạ. Đây là những quyền được xem là những quyền bất khả xâm phạm và do đó là những nhân quyền và quyền tự do tuyệt đối.

 

61. Một người có thể bị từ chối tư cách công dân trong một chế độ dân chủ không?

Trên nguyên tắc một Quốc gia có quyền định ra những điều kiện cho những ai muốn xin hưởng quy chế làm thành viên của cộng đồng (sắc tộc) quốc gia, c̣n gọi là quy chế công dân, và định ra những thủ tục để xin quyền của công dân. Song khi thi hành quyền lực tối cao này Quốc Gia phải tránh mọi hành vi kỳ thị và luôn chú ư để (thí dụ như) không áp dụng một chính sách di dân dựa trên sự kỳ thị chủng tộc. Hơn nữa Quốc gia phải tôn trọng những hiệp định quốc tế về việc tiếp nhận người tỵ nạn đă được kư kết.

Một Quốc gia có thể từ chối không cho người (ngoại quốc) những quyền chính trị nếu họ chưa là công dân sống trên lănh thổ đó, mặc dù các nước dân chủ hiện có lệ cho những người ngoại quốc từng sống một thời gian tương đối lâu tại nước họ có quyền tham gia vào đời sống chính trị bao gồm cả quyền bầu cử (xx câu 21). Ngoại trừ những quyền chính trị không cách ǵ tách khỏi tư cách công dân, Quốc gia cần bảo đảm để cho mọi người ngoại quốc sống hợp pháp trên lănh thổ của nó được hưởng mọi nhân quyền và quyền tự do căn bản mà không hề có sự phân biệt hoặc kỳ thị nào.

 

62. Quyền của các cộng đồng thiểu số có được bảo đảm không?

Luật quốc tế nhân quyền có ghi rơ những bảo đảm đặc biệt cho những cộng đồng thiểu số, dù đó là thiểu số về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc, dân tộc hay ngôn ngữ. Những cộng đồng thiểu số này có quyền đ̣i hỏi quốc gia không phải chỉ tôn trọng sự hiện diện của họ mà c̣n phải bảo vệ bản sắc đặc thù cũng như tạo thuận lợi cho sự phát huy bản sắc này.

Thành viên các cộng đồng thiểu số phải được hưởng toàn bộ các quyền dân chủ, trong đó có quyền được tham gia vào việc điều hành quốc gia ở trong những điều kiện b́nh đẳng như mọi công dân khác và được tham gia vào các quyết định liên quan đến cộng đồng đặc thù của họ cũng như liên quan đến khu vực mà họ đang sinh sống.

Ở trên chúng ta vừa chỉ mới nêu lên một vài nguyên tắc thuộc "Tuyên ngôn về Quyền của các Cộng đồng thiểu số Dân tộc, Sắc tộc, Tôn giáo, Ngôn ngữ" được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua vào tháng 12.92. Rất nhiều nếu không muốn nói là đa số các quốc gia trên thế giới đều có các cộng đồng thiểu số. Do đó việc tôn trọng quyền thiểu số cũng là một trong những tiêu chuẩn để xét về bản chất dân chủ của một quốc gia. Do đó việc thực thi các nguyên tắc của bản Tuyên ngôn nêu trên của Liên hiệp quốc sẽ phải được xem như một mục đích hàng đầu và phải được công bố rơ ràng trong toàn quốc.

 

63. Về mặt thực tiễn, nhân quyền được bảo vệ bằng cách nào?

Trong các xă hội dân chủ, nhân quyền đă được bảo vệ bằng những phương tiện rất khác nhau. Luật quốc tế về nhân quyền cũng chỉ cung cấp một số nguyên tắc, nhưng trong đó có một nguyên tắc có tính bắt buộc là phải giúp cho mọi người dân có thể kêu cứu, một khi họ có cảm tưởng rằng nhân quyền của họ bị vi phạm. Mọi người dân phải có quyền đ̣i hỏi được hưởng những nhân quyền nằm trong những thỏa ước quốc tế về nhân quyền mà chính phủ của họ đă kư kết. Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, các quốc gia đều có một bản hiến pháp thành văn, trong đó không chỉ ghi cách thức vận hành của một cơ chế dân chủ mà c̣n định nghĩa về các nhân quyền mà quốc gia đó cam kết công nhận và bảo vệ. Nói chung các ṭa án là tuyến đầu bảo vệ những nhân quyền cá nhân được định nghĩa trong phần "Hiến chương các quyền" của hiến pháp.

Mọi người dân phải được quyền kiện thưa lên ṭa án mà không hề có bất cứ hạn chế nào, kể cả trường hợp không có phương tiện th́ sẽ được nhận sự trợ giúp về mặt pháp lư, để có thể bảo vệ những quyền của họ; Những phán quyết và ư kiến của ṭa án phải được các cơ quan công quyền đem ra áp dụng, có nghĩa là trong giới hạn ấn định bởi hiến pháp, các cơ quan này hoặc sẽ phải hủy bỏ một số đạo luật nhất định nào đó, hoặc phải bồi thường tiền bạc hay quyền lợi. Tuy nhiên việc bảo vệ nhân quyền cũng thường đ̣i hỏi phải có các biện pháp hỗ trợ bổ túc một cách đa dạng, trong đó có thể có một vài biện pháp pháp lư, thí dụ như để có thể ngăn cấm mọi h́nh thức kỳ thị hoặc để giúp cho những thành phần yếu kém trong xă hội như trẻ em, những người kém may mắn hoặc tàn tật có thể thực thi những quyền căn bản của họ.

Trong một xă hội dân chủ, người dân thường nhờ các vị dân biểu giúp họ chống lại các bất công hoặc giúp họ cơ hội thực thi quyền. Các cơ quan truyền thông cũng đóng một vai tṛ then chốt khi làm người chú tâm canh giữ luật pháp, sẵn sàng tố cáo mọi vi phạm. Trong thực hành, người ta có thể đặt ra rất nhiều những cơ chế bảo vệ nhân quyền như ủy ban trung gian ḥa giải hoặc một tổ chức độc lập có trách nhệm kiểm soát các hoạt động của các cơ quan hành pháp. Thực ra nếu chỉ có bằng chừng đó thôi th́ chưa đủ. Một sự bảo vệ hữu hiệu nền dân chủ chủ yếu dựa trên niềm tin vào những nguyên tắc và mục đích của dân chủ. Do đó việc quan trọng là phải thiết lập ở mọi cấp một chương tŕnh giáo dục nhân quyền và giáo dục về đời sống dân sự trong một xă hội dân chủ. Những chương tŕnh giáo dục này sẽ không phải chỉ đóng khung giới hạn tại các trường học hoặc đại học mà nhất thiết cần phải được tỏa rộng ra đến cả các cơ quan hành chánh, trong đó có các lực lượng cảnh sát và các cơ quan quân sự.

 

V. Xă hội dân chủ hoặc xă hội công dân

 

64. Xă hội công dân là ǵ ?

(Các tác giả hiện chưa thống nhất cách dịch từ société civile hoặc civil society. Người gọi là xă hội công dân, người gọi nó là xă hội dân sự. Hai cách gọi này chỉ khác nhau bởi góc độ nh́n. Chúng tôi chọn cách gọi thứ nhất, gần với chữ Buergergesellschaft của Đức).

Xă hội công dân - một thành tố quan trọng của dân chủ - đă trở thành đặc biệt quan trọng khi trong thế kỷ 20, hai chế độ độc tài phát xít và cộng sản đă cùng t́m cách tóm thâu mọi cơ chế xă hội và đặt chúng dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Khái niệm về xă hội công dân có thể được diễn giải bằng 2 cách khác nhau. Trong nghĩa tiêu cực, nó có mục đích giới hạn ảnh hưởng của chính phủ, ngăn chặn chính phủ qui định hóa mọi hoạt động của xă hội, ngăn chặn chính phủ xâm nhập vào mọi lănh vực đời sống của xă hội. Trong nghĩa tích cực, xă hội công dân có mục đích thiết lập nên vô số các trung tâm tự trị trong xă hội để người dân có thể tập hợp lại để tự giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm. Những trung tâm tự trị này được xem như là những trạm truyền thông ra với dư luận cũng như là công cụ để tạo áp lực lên các cơ quan quyền lực cũng như dể chống lại sự xâm lấn của các cơ quan này.

Xă hội công dân có những đặc thù chính như sau: một nền kinh tế thị trường (xx câu 9), những phương tiện thông tin và truyền thông tự trị (xx câu 6), những trung tâm gồm những chuyên viên tinh thông độc lập với chính phủ có đủ khả năng đánh giá về chính sách và các hoạt động của công quyền trên mọi lănh vực. Trên hết, xă hội công dân cần một mạng lưới những hội đoàn tự nguyện hoạt động trên mọi lănh vực của đời sống xă hội để người dân có thể tự lo liệu về các vấn đề của họ. Tùy nơi tùy lúc, hoặc tổ chức này hoặc tổ chức kia sẽ đóng góp tích cực hơn vào việc bảo vệ và phát triển dân chủ. Khi th́ đó là các nghiệp đoàn công nhân, khi th́ đó là các hội chuyên viên, các nhóm đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ hoặc nhân quyền, các hội lo về phát triển, các nhóm tương tế, các tổ chức tôn giáo hoặc đó là đủ mọi loại hội đoàn hoạt động trên b́nh diện địa phương.

Trong khung cảnh có tự do ngôn luận và tự do lập hội, sự gia tăng số lượng các hội nhóm là điều tự nhiên, cũng tự nhiên như việc người dân ư thức được rằng họ có nhu cầu phải hoạt động tập thể để giải quyết các vấn đề mà họ cùng quan tâm - hoặc để tranh đấu hoặc để xúc tiến thực hiện các quyền lợi của họ. Việc h́nh thành các tổ chức tập thể sẽ càng được chú trọng khi vai tṛ của các tổ chức được chính thức công nhận, chẳng hạn như khi các tổ chức này được mời làm cố vấn cho những vấn đề mà cơ quan công quyền đang quan tâm giải quyết.

 

65. Hoạt động của các hiệp hội công dân có gây trở ngại cho dân chủ không?

Do tự trị từ tổ chức cho đến tài chính, các hiệp hội và các tổ chức hoạt động trong xă hội công dân có thể có khả năng gây ảnh hưởng làm thay đổi một số mặt nào đó của hoạt động của các cơ quan công quyền hoặc có thể gây cản trở cho chúng. Chúng ta sẽ rất khó xác định rằng bắt đầu từ lúc nào th́ các hoạt động loại này của các tổ chức sẽ đi ngược lại với các nguyên tắc dân chủ.

Đa số các chính phủ được bầu lên một cách dân chủ thường t́m cách hỏi ư kiến các tổ chức bảo vệ quyền lợi của các nhóm người khác nhau trong xă hội và t́m cách thỏa thuận với họ. Phương thức này là một trong những đặc thù chính yếu của một chính phủ hoạt động với sự đồng thuận của người dân. Song le sẽ có một số nhóm quyền lợi có thể dựa vào cách thức tổ chức, vào phương tiện tài chính hoặc những quen biết để tạo nhiều ảnh hưởng hơn các nhóm khác. Một khi sự ảnh hưởng này tương ứng với số lượng thành viên của nhóm đó th́ nó c̣n dân chủ hơn loại ảnh hưởng tạo ra bởi những phương tiện tài chính và quyền lực của một tổ chức bị một vài người khống chế.

Dó đó, nếu có những hiệp hội có nhiều ảnh hưởng trong xă hội mà sự điều hành nội bộ phù hợp với các nguyên tắc dân chủ và những người lănh đạo lại là những đại diện xứng đáng, th́ những hiệp hội đó phải được xem trọng hơn những hội đoàn khác. Sau cùng, một xă hội công dân cần phải dành cho những tổ chức sau đây vai tṛ cố vấn đặc biệt. Đó là các tổ chức đại diện cho những người v́ một sự thua xút nào đó về mặt xă hội, kinh tế hoặc thân thể mà không thể có tiếng nói tham gia vào diễn tŕnh hoạch định chính sách cho nên sẽ coi như là bất lực nếu không được sự hỗ trợ của các nhóm này.

 

66. Hoạt động của các tổ chức kinh tế có cần tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?

Nhiều người dân chủ cho rằng chỗ làm việc là một trong yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến cách sống của từng người, quan trọng đến nỗi họ cho rằng, muốn thiết lập một xă hội thật sự dân chủ người ta phải đặc biệt chú trọng đến việc dân chủ hóa các quan hệ trong chỗ làm việc. Tối thiểu nhất người ta phải ngăn chặn không để các người chủ cản trở việc thành lập các nghiệp đoàn, để cho các công nhân có thể cùng nhau hoạt động trong việc tự bảo vệ hoặc để họ có thể cùng tranh đấu nhằm cải thiện mức sống và điều kiện làm việc.

Ở một mức cao hơn, người ta cần gắn bó công nhân vào sự tiến triển cũng như sự lời lỗ của hăng, làm cho họ có trách nhiệm với sự thành công của hăng và đầu tư sức ḿnh cho chuyện đó. Có người sẽ phản đối rằng những ư tưởng như vậy sẽ giới hạn quyền hành của người chủ trong việc sa thải cũng như về mặt áp dụng kỷ luật với công nhân. Song, kinh nghiệm chung cho thấy rằng các hăng xưởng thành công nhất trong lănh vực kinh tế hiện nay lại là những hăng xưởng biết kích thích sáng kiến của nhân viên và phương cách tốt nhất để đạt được điều này là phải xem nhân viên như những "công dân" chứ không là những "đối tượng". Nói cách khác, dân chủ và hiệu năng kinh tế không nhất thiết phải đối nghịch với nhau, cho dù việc dân chủ hóa các quan hệ trong hăng xưởng là nhằm tạo ra áp lực để làm giảm khoảng cách quá đáng về đồng lương và về điều kiện làm việc giữa nhân viên lănh đạo và công nhân sản xuất.

Trong một xă hội dân chủ các tổ chức kinh tế cũng phải có trách nhiệm đặc biệt đối với cộng đồng địa phương nơi chúng đặt cơ sở, thí dụ như ảnh hưởng của các hoạt động của tổ chức kinh tế đối với môi trường sinh thái. Quyền khiếu nại, kiện cáo của các công dân đối với các cơ quan chính phủ một khi quyền lợi của họ bị đụng chạm cũng được áp dụng đối với các hăng xưởng tư nhân, khi mà sức khỏe và sự thoải mái thân thể của người dân bị ảnh hưởng bởi những hoạt động của hăng xưởng. Do đó hoạt động của các tổ chức kinh tế phải được đặt nằm trong cái khung của những qui định pháp lư chặt chẽ cũng như phải chịu sự giới hạn của các qui định bảo vệ môi sinh nghiêm ngặt.

 

67. Tài sản tư nhân có cần thiết cho dân chủ không?

Nếu như về mặt kinh tế tài sản riêng được xem là một thành phần thiết yếu của kinh tế thị trường, th́ về mặt chính trị, nó cũng được bảo vệ bởi những lư luận chính trị vững chắc cho rằng nó giúp cho người dân thực hiện được những hoạt động chính trị nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Như vậy chúng ta có thể xem tài sản riêng như là một cơ chế của xă hội công dân và như là một h́nh thức bảo vệ sự tự do chính trị.

Song le chúng ta chớ nên vội kết luận rằng mọi can thiệp của nhà nước vào quyền tư hữu phải nhất thiết đe dọa đến quyền tự do cá nhân và cần chống lại nó. Quan niệm về tài sản riêng phát sinh từ việc giới hạn quyền tự do cá nhân đă được toàn xă hội chấp nhận và áp đặt về phương diện thi hành. Việc độc quyền hưởng thụ các tài sản riêng bao giờ cũng đi đôi với việc giới hạn người khác trong việc hưởng thụ những tài sản đó. Những điều kiện để truất phế quyền tự do cần phải được toàn xă hội cùng định ra và việc biến những điều kiện này thành luật cần được thực hiện tùy hoàn cảnh. Tóm lại, đ̣i hỏi để luật pháp qui định việc sử dụng tài sản riêng là một đ̣i hỏi chính đáng, trong đó, cách thức phân phối các tài sản riêng có thể để tùy thuộc các chính sách áp dụng chung. Chúng ta có thể xem rằng, dù trên nguyên tắc tài sản riêng rất quan trọng đối với nền dân chủ nhưng nó không là một quyền tự nhiên hay tuyệt đối. Sự chính đáng của quyền tư hữu phải nằm trong khuôn khổ những ǵ được đa số định ra và giới hạn lại.

 

ChuSa