Dựng Cờ
Đại Nghĩa Quang Phục Tổ Quốc
Bài
viết dưới đây của bạn Ngô Hữu đă
được đăng trong nhiều website.
Nhận thấy bài viết này có giá trị cho công cuộc
đấu tranh chung của chúng ta và là những kinh
nghiệm cho những người muốn t́m lối quay
về với đại nghĩa dân tộc, mong muốn
sớm thấy một sự thay đổi thật sự
trên quê hương Việt Nam, chúng tôi mạo muội xin
được trích đăng để rộng
đường dư luận cho tất cả những ai
c̣n có tấm ḷng với quê hương và đất nước.
***
Vào đời
Tam Hoàng, vua Hoàng Đế, sau khi đánh tan quân Xi Vưu
ở Đồng Trác Lộc đă cho khắc trên một
phiến đá câu sau đây:
* - Trận
Trác Lộc đến nay vẫn chưa dứt
!
Xem đó, có
cuộc chiến nào phải chấm dứt khi chính
quyền đối phương bỏ chạy, quân
đội đối phương tan ră, đất đai của đối phương bị
chiếm đóng.
Bởi vậy
mà, Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, tự xưng
là Nhất Thế, muốn xây dựng triều đại
đến Vạn Thế nhưng chỉ truyền
đến được Nhị Thế Hồ Hợi
đă bị bọn hào kiệt Lục Quốc nổi lên
đánh cho tan tành.
Bởi vậy
mà quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hăn lănh đạo, Mông Kha
kế tiếp, chiếm gọn cả Trung Hoa như
lấy đồ trong túi. Nhưng chỉ đến
thế hệ thứ hai là Hốt Tất Liệt đă
bị tan biến trong quần chúng Hán tộc. Cuối
thế kỷ thứ 14 nước Đại Việt bắt
đầu một giai đoạn suy vong, các vị vua cuối
cùng nhà Trần nhu nhược, yếu hèn lại chểnh
mảng việc nước. Từ những chiến công
hiển hách đại thắng quân Nguyên (Mông Cổ)
của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Thượng
Tướng Trần Quang Khải ở đầu thế
kỷ thứ 13, đến cuối thế kỷ thứ
14, nhà Trần đă mất đi năng lực quốc
pḥng để ǵn giữ bờ cơi, biên cương.
Thời đó dân t́nh đói khổ, giặc giả khắp
nơi, Chiêm Thành là một nước nhỏ bé ở phía
Nam, dưới sự lănh đạo của Chế
Bồng Nga cũng đă thừa cơ hội đang lúc nhà
Trần suy vong đem quân vượt biên giới phía
Bắc tấn công cướp bóc tàn phá kinh đô Thăng
Long, vào Thăng Long quân Chiêm Thành thỏa chí hăm hiếp,
đốt phá và giết chóc (số lớn thanh nữ và
phụ nữ bị hăm hiếp và bị giết sạch),
đó là vào những năm Đinh Tỵ 1377, Mậu
Ngọ 1378, Canh Thân 1380. Trong giai đoạn nhiễu
nhương của đất nước, th́ Lê Quư Ly
xuất hiện như một “cứu tinh” để
cứu văn nhà Trần. Ông đă giúp triều đ́nh nhà
Trần củng cố lại triều chính và quân
đội. Sau đó thủy quân Đại Việt
đă giết được Chế Bồng Nga, chấm
dứt được họa cướp bóc của Chiêm
Thành. Nhưng cứu tinh Lê Qúy Ly đă trở thành
sợi dây tḥng lọng bức tử con cháu nhà Trần, Quư
Ly là con người khôn ngoan và nhiều mưu lược
cùng với quyền lực trong tay, Quư Ly đă chấm
dứt nhà Trần và mở ra triều đại nhà Hồ.
Tháng hai năm
Canh Th́n (1400) Lê Quư Ly cướp ngôi của cháu ngoại là
Thiếu Đế Án, lên ngôi, Quư Ly
đổi họ Lê ra họ Hồ lấy hiệu là Thành
Nguyên (Thành Nguyên để hợp với Nguyên-Minh, Thành
Tổ bên Tàu). Hồ Quư Ly là một con người
nhiều biệt tài, biết quyền biến và đầy
tham vọng. Nhưng sau đó họ Hồ phải “dâng
sổ đồ qú gối chốn biên cương”,
trước tham vọng to lớn hơn của Yên
Vương lệ ở phương Bắc. Yên Vương
lệ một con người có tài, đảm lược,
nhiều thủ đoạn, nhưng rất tàn bạo, cùng
thời gian đó bên Tàu, Yên Vương lệ cũng
vừa mới cướp ngôi người cháu là Huệ
Đế ở Kim Lăng, Trung Hoa, Yên Vương lệ
lên ngôi năm 1402 lấy hiệu là Minh Thành Tổ.
Dưới
triều đại của Minh Thành Tổ, nhà Minh
được sử sách Đông, Tây ghi nhận là một
triều đại cực thịnh của Trung Hoa với
binh hùng tướng mạnh, những người
được coi là ưu tú nhất của triều
đại nhà Minh như: Chu Năng, Hoàng Phúc, Trương
Phụ, Trịnh Hoà, Trần Hạp, Liễu Thăng, Vương
Thông, Phương Chính, Mă Anh Trần Trí v..v...và
hàng trăm chiến tướng khác không kể hết ra
đây được. Dưới sự lănh đạo
của Minh Thành Tổ, nhà Minh đă chiếm trọn Trung
Hoa và tiêu diệt các nước nhỏ chung
quanh, sau đó ông muốn mở rộng biên cương
về phía Nam. Nhân cơ hội một số quan lại nhà
Trần (bọn Trần Thiêm B́nh) chạy qua Kim Lăng dâng
sớ tố cáo nhà Hồ Quư Ly cướp ngôi nhà Trần.
Đây là cơ hội ngàn vàng, Minh Thành Tổ liền
dựng lên chiêu bài “Diệt
Hồ phù Trần”, để có cớ tung quân sang
chiếm lĩnh nước Việt. Tháng
tư năm Bính Tuất (1406) Minh Thành Tổ sai hai tướng
Hàn Quan và Hoàng Trung đem quân đánh Đại Việt.
Hoàng Trung và Hàn Quan thua trận phải giao
nộp Trần Thiêm B́nh và xin đường trở về
Tàu. Thấy bọn Hàn Quan và Hoàng Trung thua
trận trở về Minh Thành Tổ giận dữ
bằng mọi cách quyết đánh để chiếm
lĩnh nước Việt.
Cuối năm
Bính Tuất Minh Thành Tổ cử một đoàn: Thành,
Hầu, Bá hùng hậu; Thành Quốc Công Chu Năng
được phong làm “Chinh Di” Đại Tướng Quân, Tân
Thành hầu Trương Phụ làm “Chinh Di” Hữu Phó
Tướng Quân, Tây Thành Hầu Mộc Thạnh làm “Chinh Di”
Tả Phó tướng quân, Phong Thành Hầu Lư Bân, Vân
Dương Bá Trần Húc làm Tả, Hữu Tham Tướng
Quân v..v..., thống lĩnh hơn 80
vạn quân chia làm hai cánh tiến đánh nước ta, khi
quân Minh tiến đến Long Châu th́ Chu Năng bị
bịnh chết, Trương Phụ lên thay. Thực
chất của chiến dịch chinh “Di” Nam với hơn
800 ngàn quân (chưa kể bọn Phu binh lên đến vài
trăm ngàn) dưới chiêu bài“Diệt Hồ phù Trần”
của nhà Minh, là cuộc chiến tranh xâm lược đi
liền với một cuộc di dân vĩ đại, mà
Minh Thành Tổ muốn thôn tính phương Nam một
lần cho gọn, để xóa bỏ cái “tàn dư” của
ṇi giống Bách Việt, “bọn Nam Di ngoan cố” luôn luôn là
cái gai trước mắt và đă thách đố văn hóa
với ṇi Hán từ ngàn xưa đến nay. Minh
Thành Tổ muốn xóa hẳn Đại Việt để
nước Việt trở thành quận huyện của
Trung Hoa như Ngô Việt, Mân Việt trước đây.
Do đó, cuộc “chinh Nam” lần nầy không phải
chỉ là một cuộc viễn chinh quân sự, mà Minh Thành
Tổ đă phát động cuộc chiến tranh “xâm
lăng để đồng hóa” tổng hợp về
nhiều mặt: Quân sự, Kinh tế, Văn hóa và
Chủng tộc, chủ ư là xóa hẳn ṇi giống Việt.
Trương
Phụ dưới sự chỉ đạo của Yên Vương
lệ tức Minh Thành Tổ đă xua đoàn quân hơn 800
ngàn (800.000) sang xâm lăng nước Việt. Bọn quân
đội và phu binh này có tác dụng xóa hẳn ḍng máu
của dân Việt ở phương Nam, thay đổi
nếp sống và văn hóa Việt để đồng
hóa dân Việt vào dân Tàu. Trên mặt trận
tư tưởng với khẩu hiệu “Diệt Hồ
phù Trần” của Minh Thành Tổ, đă đánh vào
nhược điểm của chính quyền Hồ Quí Ly.
Chiêu (bài) “Công Tâm” nầy gây giao động mạnh mẽ
trong dân chúng và chi phối tâm lư cực mạnh trong ư chí chống
xâm lăng của quân dân Đại Việt
thời đó. Danh không chính th́ ngôn không thuận, không có chính
danh, Hồ Quí Ly mất đi hào quang lẫn đạo
đức để lănh đạo đất
nước, lănh đạo công cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược nhà Minh. Đáng
kể nhất là mặt trận văn hóa họ Hồ
đă thất nhân tâm nên không được ḷng dân,
thuận ḷng trời. V́ vậy họ
Hồ đă thất bại trên mặt trận chính trị
trước khi mặt trận quân sự bị sụp
đổ. Đến cuối cùng cha con họ Hồ
phải đem sổ đồ qú nơi Ải Nam Quan dâng
cho Trương Phụ, mặc dù chưa có một cuộc
giao tranh quân sự nào đáng kể xảy ra. Sự
hèn yếu nhu nhược của họ Hồ trong việc
“lănh đạo” công cuộc chiến đấu chống
quân xâm lược nhà Minh, một lần nửa đă
đưa toàn dân Việt vào ṿng nô lệ Bắc
phương.
Nhưng không
phải đến đời Yên Vương Lệ, Minh
Thành Tổ mới nghĩ chuyện xâm lăng
và xóa nḥa văn hóa Bách Việt. Trước đó
nhiều thế kỷ Bắc Phương đă nhiều
lần muốn thôn tính và xóa hẳn các dấu vết Văn
Hóa của Bách Việt, điển h́nh là Khổng Khâu
(hiệu Khổng Tử). Từ cuối đời
Xuân Thu ở Tàu để cướp văn hóa Bách
Việt, họ đă t́m mọi cách để hủy
diệt văn hóa và lịch sử phương Nam,
để làm ra cái mới riêng cho họ và cho phổ
biến trong dân chúng, giống Hán th́ họ biên chép lại,
sắp đặt lại cho có hệ thống để
xóa nḥa những dấu vết cũ của giống Bách
Việt (Việt, Di, Khương, v.v...) từ
trước, rồi bảo rằng: “Các giống ấy
chỉ là giống man di mọi rợ”. Người
đại diện cho công việc ấy không ai khác hơn
là Khổng Tử, nên “học thuyết” của Khổng
Tử đă trái ngược với học thuyết
của Lăo Tử ở phương Nam. Về
chính trị th́ họ Khổng chủ trương Hưng
Hoa Diệt Di (có cả dân Việt ở trong). Lối
nhân nghĩa và đạo đức giả tạo của
Khổng Tử là Đồng Hóa và Diệt Chủng các
giống dân khác, dùng nhân nghĩa ở đầu môi
để thay việc binh đao, lối đạo
đức ăn cắp của họ Khổng th́ như
câu sách Nho Tàu: “Thoái nhi tu
đức nhi hậu miêu tộc từ suy dao, đắc
đạo khả dĩ thứ nhân”, nghĩa là lùi không đánh, giả (bộ) lấy
“đạo đức” mà đồng hóa họ làm dân ḿnh.
Đây là cái thủ đoạn vô cùng thâm sâu của họ
Khổng, đấy cũng là một lối đế
quốc về đời Chu, nên thời ấy Mặc
Tử mới đề xướng thuyết Kiêm Ái
để chống lại lối giả nhân giả
nghĩa của Khổng tử. Tóm lại “thuật
nhĩ bất tác” họ Khổng chỉ chuyên đi lấy
của người làm của ḿnh và ở đây không có ǵ
để chúng ta bàn thêm nửa.
Những
việc như trên cho chúng ta thấy người Tàu đă
có cái “bệnh gia truyền” là cố ư xóa nḥa văn hóa Bách
Việt một cách có hệ thống từ xa xưa cho
đến Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) và kéo dài cho đến nay.
Thế hệ của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm
Đào bây giờ cũng không đi ra ngoài sự chỉ giáo
của Khổng tử, là: “tiêu diệt và đồng hóa
người Việt thành người Tàu, t́m mọi cách xóa
hết văn hóa của dân Việt”. Nhưng
lạ thay văn hóa Bách Việt chúng ta không bao giờ
bị xóa, mà ngược lại c̣n được lưu
truyền lại hay biến hóa một cách độc
đáo và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Xét cho
cùng th́ thông thường khi một dân tộc xâm lăng và
cai trị một dân tộc, có cùng một vóc dáng, có cùng
một màu da và dân số đông hơn, th́ chỉ trong ṿng
50 năm, dân tộc bị trị phải bị
đồng hóa và tiêu diệt, nhưng như chúng ta đă
biết dưới sự đô hộ hà khắc và tàn
bạo của người Tàu trong hơn 1000 năm đó.
Dân tộc Việt (Bách Việt) đă không bị diệt
vong mà vẫn hiên ngang tồn tại, để đến
ngày hôm nay lại có cơ phục hưng và phục hoạt
lại đất nước kể từ đầu
thế kỷ 21 này trở đi.
Trong
cảnh loạn ly của đất nước vào năm
1400. Nguyễn Trăi một thanh niên sinh ra
và lớn lên trong thời Trần mạt, là ḍng dơi
đại quan và là con cháu triều đ́nh nhà Trần (khi
nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, th́ thân sinh ông đă ra
phục vụ cho nhà Hồ). Nguyễn Trăi là một
gương mặt tiêu biểu cho thế hệ thanh niên
ở đầu thế kỷ 15, ông phải chứng
kiến những mất mát to lớn của gịng họ,
của gia đ́nh (cha và em ông bị bắt và bị đày
sang Tàu), của đất nước và của chính ông, ông
nh́n thấy sự bế tắc, phá sản của
triều đại nhà Trần trước cảnh
nước mất nhà tan, trước hoàn cảnh bi
thảm, đau thương của dân tộc. Ngày hôm nay
hiện t́nh bi thảm của đất nước to
lớn và nguy hiểm hơn nhiều so với hoàn cảnh
đất nước vào năm 1400 khi nhà Minh xâm lăng Việt Nam, là những thanh niên
của thời đại 2000, đang mang nhiều ưu tư
trong ḷng. Chúng ta nghĩ ǵ và sẽ làm ǵ? khi ôn lại những gịng sử đă (600 năm)
qua. H́nh ảnh của con người trí thức Nguyễn
Trăi biết yêu dân, thương nước hy sinh t́nh riêng,
quên t́nh nhà, rửa hờn cho nước như lời cha
(Nguyễn Phi Khanh) đă dặn trước khi khi từ
biệt, có làm cho chúng ta bừng tỉnh để
bước ra khỏi cái “tiểu ngă” đam mê danh vọng
vật chất hảo huyền hay không ?.
Đất nước thật sự đă bị bọn
nội thù Cộng Sản Hà Nội bán đứng cho
ngoại bang phương Bắc, hàng triệu những con
người thanh niên biết yêu dân, thương
nước. Chúng ta có nh́n thấy thảm cảnh đau
thương này của dân tộc hay không? chúng
ta có dám hy sinh t́nh nhà, rửa hờn cho nước
để quang phục tổ quốc như tiền nhân
(Nguyễn Trăi) đă làm.
Nguyễn Trăi
là con ông Nguyễn Ứng Long tự là Phi Khanh nguyên quán làng
Chí Ngại, huyện Phượng Sơn (Chí Linh, Hải Hưng)
đă nhiều đời sinh cơ lập nghiệp ở
Nhị Khê. Nguyễn Trăi, hiệu là Ức Trai người
làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (Thường Tín,
Hà Đông). Sinh năm 1380 mất năm 1442, Nguyễn Trăi
đậu Thái Học Sinh (tiến sĩ) năm 1400
dưới triều Hồ Hán Thương. Ông làm
đến chức ngự sử đài chính chưởng.
Năm 1407, Nguyễn Phi Khanh và hai em ông bị Trương
Phụ bắt đày sang Tàu. Khi chia tay
ở Ải Nam Quan, Nguyễn Phi Khanh dặn ḍ Nguyễn
Trăi phải về lại Thăng Long để lo việc
báo thù cho cha rửa hờn cho nước. Lúc
đó Nguyễn Trăi 27 tuổi. Nguyễn Phi Khanh
lấy bà Trần Thị Thái, con thứ ba của Đại
Tư Đồ Trần Nguyên Đán. (Trần Nguyên Đán là một
thần đồng, đậu tiến sĩ năm 14
tuổi và là ḍng dơi Thượng Tướng Trần Quang
Khải, con thứ của vua Trần Thái Tông, bốn
đời làm Tể Tướng). Ông Nguyễn Phi Khanh là
một học sinh nhà nghèo học giỏi, sử sách kể
rằng: Quan tư đồ Trần Nguyên Đán thấy Ứng
Long học giỏi nên yêu mến cho về làm thầy
dạy cô con gái, hai thầy tṛ yêu nhau mọi việc
đổ bể Nguyễn Ứng Long bỏ trốn. Quan
Tư Đồ Trần Nguyên Đán cho người đi kiếm
về để gă cô con gái đang mang thai
cho Nguyễn Ứng Long. Lúc đó ông mới 19
tuổi. Sau khi lấy bà Trần Thị
Thái, Nguyễn Ứng Long tiếp tục học ông thi thái
học sinh và đậu bảng nhăn.
Mười
năm sau khi chia tay với Cha và Em,
Nguyễn Trăi trở về nh́n đất nước tan
hoang, dân t́nh khốn khổ, ḷng người ly tán không
khỏi bồi hồi đau thương. quan quân triều
đính th́ đa số hèn yếu, giới quan lại tham
lam thối nát chỉ biết theo bọn nhà Minh để
hưởng thụ hay an phận, đáng trách nhất là
đám “trí thức văn nô cô đầu”, (tương
tự như hiện t́nh ngày nay của đám người
tự nhận là trí thức trong nước và hải
ngoại, chỉ biết chạy theo bả vinh hoa do Tàu
Cộng và Việt Cộng ban bố, đây là một
sự thật mà không ai có thể chối căi. Những
kẻ tự nhận ḿnh là “trí thức” ngoài kia
ai có tật xin đừng giật ḿnh). Thời gian này
bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh và hơn 800
ngàn quân Minh đă thật sự cai trị dân Việt và
đặt ách thống trị vô cùng hà khắc lên toàn cơi
đất nước. Đa số nhân
sự của triều đ́nh Hồ Quư Ly bị bắt
giải về Kim Lăng (trong đó có cha và em ông).
Một số nhỏ đầu hàng theo giặc, trong đó
có Trần Thúc Dao là con của đại tư đồ
Trần Nguyên Đán (Dao là cậu ruột của Nguyễn
Trăi), số lớn đầu quân kháng chiến chống
lại bọn giặc Minh, để mong khôi phục
lại triều đại nhà Trần.
Năm 1420
Nguyễn Trăi và người anh em con cô cậu là Trần
Nguyên Hăn t́m đến người nông dân Lê Lợi, trong
giai đoạn từ năm 1407 đến 1420 đă có
rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên (trên
dưới có khoảng 30 phong trào kháng chiến, nhưng
đều bị quân Minh đè bẹp. Đáng kể
nhất là cuộc giao chiến với nhà Minh trong trận
Bô Cô, được mô tả là cuộc giao tranh ác liệt nhất,
trong trận này dưới sự chỉ huy của
Giản Định Đế quân Đại Việt đă
giết được Đề H́nh Án Sát Sứ
Đại Tướng Lữ Nghị, Tây B́nh Hầu
Mộc Thạnh phải bỏ quân sĩ chạy về
thành Cổ Lộng).
Nhưng
Nguyễn Trăi vẫn nằm im trước các phong trào
nổi dậy của đám sĩ phu yêu nước.
Ông im lặng để quan sát thời cuộc và chờ
cơ hội. Thật ra trong 10 năm này
(1407-1420), nếu không nhờ Hoàng Phúc? che
chở th́ Nguyễn Trăi khó ḷng sống trong thành Đông Quan
(Thăng Long) mà không bị Trương Phụ hạch
tội. Sau này khi cùng Lê Lợi kháng chiến thành công, Nguyễn
Trăi bắt được Hoàng Phúc, v́ biết Hoàng Phúc là
người có tài và ông đă đối xử tử
tế với Hoàng Phúc, một kẻ thù nhưng nay đă sa
cơ, ông xin vua Lê tha cho v́ không nỡ giết. Đây là một cử chỉ vô cùng cao
thượng của giới sĩ phu Việt. Cuối
cùng ông và Trần Nguyễn Hăn đă t́m gặp Lê Lợi,
một hào trưởng vô danh đă lập căn cứ
địa ở Chí Linh chống giặc. Thái độ im
lặng của Nguyễn Trăi là tu luyện để tự
tạo cho ḿnh một khả năng hiểu biết,
tự t́m học để trở thành một người
hữu dụng, trong công cuộc kháng chiến Nguyễn Trăi
đă dành thời giờ suy nghĩ về một chiến
thuật chiến lược mới để cứu
nước. Nguyễn Trăi không tạo ra B́nh
Ngô Sách. Mà B́nh Ngô sách là kết tinh của
nhiều bộ óc lănh đạo kháng Minh thời đó,
trong đó phải kể đến Lê Lợi lại là nhân
vật chính yếu để h́nh thành “B́nh Ngô Sách”.
Nhiều người đời sau lầm tưởng
rằng “B́nh Ngô Sách” do Nguyễn Trăi suy tư rồi
viết ra.
Thật ra
trước khi Nguyễn Trăi vào Lam Sơn t́m gặp Lê
Lợi th́ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi đă
h́nh thành được hai năm trước đó, chính Lê
Lợi là người đă hoạch định mọi
kế sách cũng như chiến thuật chiến
lược trong công cuộc kháng Minh. Cũng có một vài
“nhà văn-học giả” gần đây cho rằng: “Lê Lợi là một người
Mường thân h́nh lông lá, mũi quặp như mũi két,
tính t́nh hung bạo”, đây là lối lập luận của
những người có cái nh́n hời hợt về
lịch sử, nếu không muốn nói là: Họ lợi dụng
“sử gia hay nhà văn” để đánh đổ
những anh hùng trong gịng sử Việt đă đóng góp công
nghiệp vĩ đại cho đất nước.
Cũng có thể các “sử gia hay nhà văn” trên đây
họ là những kẻ đang mang trong người cái “tâm
lư miệt thị Tổ Tiên” chăng?. Giả dụ vua Lê
Lợi là một người Mường như vài “sử
gia hay nhà văn” họ đă nói, th́ từ đó đến
nay trong gịng sử Việt đă có mấy ai tạo
được những chiến công hiển hách như
vậy. Từ hai bàn tay trắng
trước binh hùng tướng mạnh của nhà Minh
đă cai trị đất nước hơn 10 năm. Lê
Lợi đă đánh bại được nhà Minh, một
triều đại được coi là cường
thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa, gây dựng
lại cơ đồ, làm chủ đất nước,
giải phóng dân tộc, dành lại chủ quyền cho
nước Việt, cứu dân ra khỏi cảnh lầm
than, trong khi đó con cháu nhà Trần như: Giản
Định Đế Trần Ngỗi, Trần Quư Khoách, hay
như Trần Thúc Dao đă không có sách lược và tài trí
để lănh đạo cuộc kháng chiến đi
đến thành công. Chuyện nhà Lê đă bức tử
Trần Nguyên Hăn và (sau Lê Lợi) đă giết hại công
thần lại là một bí ẩn của lịch sử,
chứ không đơn giản như chuyện các bà “Cung
Phi” tranh giành quyền lợi, rồi đi đến
việc giết hại các quốc phụ của nhà
Lê. Không ai có thể bôi bẩn được lịch
sử, người Tàu hàng ngàn năm qua cũng mong muốn
làm sao xóa bỏ lịch sử Việt hay cố ư viết
cho sai lạc đi để dễ dàng đồng hóa chúng
ta, nhưng chúng đă thất bại. Mong rằng các nhà làm
sử sau này, phải bỏ công t́m ṭi để làm sáng
tỏ sự kiện lịch sử này .
Phả sử
ghi: Lê Lợi sinh năm 1385, ông rất am tường
về binh thư, nhưng ông phải
ẩn ḿnh nơi thôn dă chỉ để mưu cầu việc
đánh đuổi nhà Minh, dành độc lập cho tổ
quốc (có lẽ v́ vậy nên sau này người ta cho ông là
gốc người Mường chăng?). Năm 1418 khi
thấy thời cơ đă đến ông cùng 18
đồng chí dựng cờ khởi nghĩa (Hội
thề Lũng Nhai), sau này vào năm 1420 mới có thêm
Nguyễn Trăi, Trần Nguyên Hăn (Nguyễn Trăi đứng vào
hàng thứ 24 trong 29 người khai quốc công thần nhà
Lê), cũng theo Phả sử ghi lại rằng: Lê Hữu
Dũng, Nguyễn Trăi và Trần Nguyên Hăn t́m vào Lam Sơn
gặp Lê Lợi nhằm ngày giổ, Nguyễn Trăi thấy
Lê Lợi vừa cắt thịt vừa ăn, ông than
với Trần Nguyên Hăn rằng: Lê Lợi không có
tướng tinh, thần khí của một người lănh
tụ, thất vọng ông và Hăn trở về (Lê Hữu
Dũng ở lại, sau Dũng làm đến Đại
Tướng). Trở lại Lam Sơn lần thứ nh́,
Nguyễn Trăi thấy Lê Lợi thức khuya nghiền
ngẫm binh thư, thần khí
lần này lại khác, lúc đó Nguyễn Trăi mới vào ra
mắt. Vậy “binh thư” mà vua Lê Lợi đă nghiền
ngẫm có c̣n tồn tại đến ngày nay chăng ? và ai là
người đă viết ra những binh thư đó?.
Thời xưa
các sách Binh Thư là những tài
liệu bí mật về quân sự cũng như về nhiều
lănh vực, trong các sách binh thư đều ghi rơ h́nh
thể sông núi, ao hồ, đầm trạch, đồi g̣,
cao điểm, hạ lưu, mạch rạch, rừng
rậm. v..v...V́
vậy khi xâm lăng nước Việt Hoàng Phúc đă mang
theo cuốn binh thư mà Cao Biền đă viết ra khoảng
năm 865. “Cuốn Cao Biền Kiểu Tự Tấu
Thư” là một tấm bản đồ chi chít ghi rơ nhân
văn, địa h́nh, địa vật, của
nước ta. Vậy khi Nguyễn Trăi vào thấy “Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm
binh thư”, th́ “binh thư” đó
là các tài liệu bí mật về chính trị, quân sự,
văn hóa như đă nói trên.
Ở đây có
một điều quan trọng cần phải nói thêm là:
Các triều đại trước như Đinh, tiền
Lê, Lư, Trần đă chiến thắng giặc ngoại xâm
phương Bắc, khi các tiền triều đă hội
đủ 3 yếu tố; Quân, Quốc và Quyền
để đánh bại kẻ thù, nhưng điểm quan
trọng là kẻ thù chưa kiểm soát và làm chủ hoàn
toàn đất nước. Trong khi đó vua Lê Lợi khi
dựng cờ khởi nghĩa, th́ nhà Minh đă thiết
lập một hệ thống quân đội và t́nh báo
dầy đặc trên toàn cơi nước Việt đă trên
10 năm, ông khởi nghĩa với hai bàn tay trắng,
đương nhiên là ông không có những yếu tố Quân đội,
Quốc
gia và chính Quyền để tạo lực, với
khối óc đầy mưu lược và sự quyết
tâm của ban tham mưu và hai bàn tay trắng Đức Vua
Lê Lợi đă đánh bại triều đại nhà Minh
với binh hùng tướng mạnh, cùng một đoàn
Thành, Hầu, Bá và hàng trăm chiến tướng chỉ
biết chiến thắng chứ chưa bào giờ biết
chiến bại. Thiết nghĩ ông là một
Thần Nhân với mưu thần chước quỷ
mới tạo nên những chiến công hiển hách như
vậy. Đức Vua Lê Lợi là vị anh hùng có
một không hai trong lịch sử nước nhà. Mong rằng các sử gia sau này nên có một cái nh́n
đứng đắn với lịch sử, khi nghiên
cứu về lịch sử nước nhà phải có cái
nh́n xác thực hơn về con người thật của
Đức
Vua Lê Lợi.
Cuộc
kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi
được xây dựng trên quan điểm đúng
đắn về “chiến tranh chính nghĩa”. Để đương đầu với
khẩu hiệu “phù Trần” bịp bợm của Minh Thành
Tổ, ông dùng “chính nghĩa nhân ái” để công tâm
giặc. Đồng thời, ông cũng
đề cao ư niệm nhân bản, nhân tính của
Đạo Sống Việt bằng cách đưa ư niệm
nầy vào thực tế chính trị. Theo ông,
đối tượng của chính trị là nhân dân chứ
không phải là Đảng Phái hay Ḍng Họ. Vai tṛ của
những người lănh đạo là phải làm sao cho xă
hội ổn định, người dân sống an
lạc, công bằng và hạnh phúc. Do đó, đạo
sống (lư giả, lễ giả) không nằm ở
khẩu hiệu rỗng tuyếch, ở tuyên truyền
bịp bợm, mà nó nằm ở chổ phải thực hiện
được những cái mà người lănh đạo
đă đề ra, phải có những phương châm, phương
thức và phương pháp làm cho người dân hạnh
phúc, ấm no xă hội ổn định. Ông c̣n đề
ra những tiêu chuẩn bắt buộc những
người lănh đạo phải chứng minh được
khả năng đem lại cơm no áo ấm cho
người dân một cách cụ thể, chứ không
phải chỉ biết hứa hẹn, tiêu chuẩn đó
ngày nay được gọi là “b́nh sản thủy
chuẩn”, song vào đó ông cũng đề ra những
kế hoạch để phát triển kinh tế quốc
gia, vả lại, lấy chiến tranh để giải
quyết chiến tranh hầu đem lại một nền
ḥa b́nh lâu dài cho đất nước và cho dân tộc,
mục đích thánh thiện của chiến tranh là ḥa b́nh,
chứ không phải để xây dựng một chế
độ tàn bạo hơn, độc ác hơn, ghê tởm
hơn. Khi một chế độ độc ác, ghê
tởm và tàn bạo như chế độ Cộng
sản Hà Nội hiện nay được dựng lên
để thay thế chế độ cũ, th́ ngay
lập tức những xương máu mà người dân
đă hy sinh trong cuộc chiến đều mất giá
trị và trở nên vô nghĩa, để cuối cùng
cuộc chiến đó trở nên không có chính nghĩa. Nên khi
nhân danh “Đảng” hay bất cứ một lư
tưởng “vĩ đại” nào để mong xóa bỏ
văn hóa dân tộc, để bán đất nhượng
biển, để dâng tài nguyên quốc gia cho kẻ thù
truyền kiếp phương Bắc, để đàn áp
người dân, để bóc bột người dân,
để làm đời sống người dân lo sợ
bất ổn định, để làm cho dân tộc
điêu linh cùng khổ, th́ đây là một tội ác, khó có
thể tha thứ hay bỏ qua.
Những pho
sách như: Vạn Kiếp Bí Truyền, Vạn Pháp Quy Tông
hay Binh Thư Yếu Lược .v..v...của
đức Thánh Trần Hưng Đạo được
coi như sách lược quốc pḥng của Đại
Việt và của triều đại nhà Trần. Các bộ
sách nầy là biểu tượng của sự “Văn
Trị Vơ Công”, một triều đại sáng chói trong ḍng
sử Việt, đă giúp dân tộc Đại Việt
chiến thắng đoàn quân “bách chiến bách thắng”
Nguyên - Mông Cổ vào thế kỷ 13. Nhưng đến
thời điểm 2004 này, biểu tượng văn
trị vơ công hay sách lược quốc pḥng của tổ
tiên, không thể bảo vệ đất nước
trước sự xâm lăng và xâm thực của bọn
nội xâm Cộng sản, của bọn ngoại thù phương
Bắc, v́ sự hèn yếu và nhu nhược của con cháu
sau này như chúng ta.
“Rửa
hờn cho cha, trả thù cho nước” trong mười
năm Nguyễn Trăi “nuôi chí phục thù “B́nh Ngô Sách” có
thể đây chỉ là lời thêu dệt của Lê Lợi
và Nguyễn Trăi cho có vẻ huyền thoại hóa vấn
đề, để Lê Lợi dễ bề ứng
biến trong công cuộc cách mạng chống nhà Minh sau này,
(ví như viết bằng mỡ trên lá cây 8 chữ: “Lê
Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần”), nên “B́nh Ngô Sách”
chỉ là cái tên, nhưng thật ra sách lược dùng
để vây đánh nhà Minh và làm cho cuộc kháng chiến Lê
Lợi đi đến thành công là một bộ “Binh
Thư” khác, hiện nay vẫn c̣n (xin nói thêm là người
Cộng Sản Hà Nội hiện nay không đủ tài
đức lẫn trí tuệ để giữ bộ binh
thư này), Do đó “B́nh Ngô Sách” ta phải hiểu đây là
cuốn “Lê Lợi Binh Thư” một nối tiếp
của sách lược Vạn Kiếp Bí Truyền, Vạn Pháp
Quy Tông, hay Binh Thư Yếu Lược và nhiều bộ
(pho) sách khác cũng là các chiến lược quốc pḥng
muôn đời của dân tộc Việt. Hơn nửa
Nguyễn Trăi v́ biết cơ nghiệp và vận hạn nhà
Trần đă hết, nhà Trần đang suy vong, vực dậy một chế
độ đă tan ră không phải là “lư tưởng” có
thể giải quyết những bế tắc của
đất nước, cứu nước không đồng
nghĩa trung thành với một chế độ tàn
bạo đă thối nát và trên đà tan ră, vả lại
ông đă hiểu được
thời biết
được thế, nh́n được cơ, biết người biết ta, nên ông quyết
định t́m đến Lê Lợi một con người
thảo dă nơi núi Lam Sơn. Nguyễn Trăi biết nghe theo
Lê Lợi ông đă đặt dân tộc lên hàng đầu,
ông xem việc nhà Trần mất ngôi không phải là
chuyện quan trọng, ông hiểu rằng: Muôn chế độ
chỉ là cái áo, nếu không hợp thời th́ phải thay
đổi, v́ trong gịng lịch sử nước nhà
từ xưa đến nay đă trải qua biết bao
chế độ, với ông (ái quốc) dân tộc và
tổ quốc mới là điều quan trọng. Mặc dù
Nguyễn Trăi là hậu duệ của nhà Trần, nhưng
với ông, khẩu hiệu “yêu
nước là yêu xă hội ... nhà Trần” không c̣n
đúng nữa, người xưa có câu “Trung
Quân Ái Quốc”, nhưng theo ông, hiện t́nh đất
nước trước mặt, trung quân không đồng
nghĩa với ái quốc, chế độ có thể thay
đổi để hợp với ḷng người
hợp với thời đại, nhưng tổ quốc
th́ măi măi vẫn là tổ quốc.
Quan
điểm nầy có thể đúng với quan điểm
của Nguyễn Phi Khanh, Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh
Khiêm và nhiều nhân vật khác trong lịch sử, nhưng
ở đây chỉ đưa ra hai nhân vật tiêu biểu
để chúng ta cùng suy nghiệm
a). Nguyễn
Phi Khanh: Khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần,
Nguyễn Phi Khanh mặc dầu là rễ của quan
đại tư đồ Trần Nguyên Đán, nhưng Phi
Khanh nhanh chóng ra phục vụ nhà Hồ. Ông chia tay với
triều đ́nh nhà Trần không luyến tiếc, ông không coi
trọng việc Hồ Quư Ly cướp ngôi vua nhà Trần
là điều trọng đại, ông xem việc cứu
nước là một điều tối quan trọng
để ông dấn thân, hay nói đúng hơn Nguyễn Trăi
đă giải quyết được tâm lư của một
thanh niên trước cái bế tắc của đất
nước. Đó là phải cắt dứt
cho được cái bệnh trung quân (quân xử
thần tử, thần bất tử bất trung)
để chỉ c̣n lại ái quốc (tổ quốc
phải đặt lên hàng đầu) trong công cuộc
giữ nước và cứu nước. Nguyễn Trăi đă bước ra khỏi cái
bệnh trung quân của thời kỳ “đại gia, hay là
đảng toàn trị” để nh́n về phía
tương lai của dân tộc. Khi ông
hiểu rằng một triều đại đă chết,
th́ không c̣n phương cách nào khác có thể làm cho nó sống
dậy, và càng không thể coi nó là cứu cánh cho công cuộc
cứu nước được nữa. Ông coi sự sống c̣n của tổ quốc là
điều tối quan trong hơn là tồn vong của
một triều đại. Ông không c̣n
trung quân nhưng ông đă ái quốc, ông tách dân tộc ra
khỏi chế độ. Ông phủ
nhận quan niệm “yêu nước
là yêu xă hội ... nhà Trần”. Chính điều nầy đă đánh
dấu sự trưởng thành về Lư Tưởng Dân Tộc
của Nguyễn Trăi và Trần Nguyên Hăn, khi cả hai
đều là hậu duệ chính thống của nhà
Trần, lư tưởng dân tộc đă thúc đẩy anh
em ông đi t́m sinh lộ mới, một con đường
mới. Đó là đường vào Lam Sơn, chỉ có Lam
Sơn mới làm cho đất nước hồi sinh và
thời điểm hấp hối tang thương của
đất nước vào năm 2004 này đây, Lam Sơn
phải trở thành Hoa Địa Cách Mạng cho cả dân
tộc. “Rồi đây khi đất
trời băo nổi”, rừng núi Lam Sơn sẽ làm cho
sử hồn sống lại.
b). Nguyễn
Bỉnh Khiêm: ông sinh năm 1491 đậu Trạng
Nguyên đời Mạc Đăng Doanh (1530-1540), làm quan
đến Lại Bộ Thị Lang kiêm Đông Các
Đại Học Sĩ, sau này nhà Mạc phong ông thêm
tước Tŕnh Quốc Công. Trong thời
Nam-Bắc triều ông giúp chúa Trịnh Kiểm (pḥ vua Lê) và
cũng giúp luôn cả Nguyễn Hoàng vào cuối năm
Mậu Ngọ (1558). Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh
Khiêm là người đă nh́n được cái thế “tam
phân thiên hạ”. Thế tam phân với nhà
Mạc (1527-1667), Nam Bắc Triều (1533-1592), Nam Bắc
Phân Tranh (1600-1786). Ở giai đoạn đó có nhà
Mạc, có vua Lê chúa Trịnh (ông cho Phùng Khắc Khoan giúp
họ Trịnh), có nhà Nguyễn (ông giúp Nguyễn Hoàng)
với câu sấm “Hoành sơn nhất đái,
khả dĩ dung thân” (sau chính Tự Đức đă
đổi chữ khả dĩ thành ra vạn
đại), cũng chính câu sấm trên ông đă giúp
Nguyễn Hoàng dựng nên sự nghiệp sau này (đây
gọi là thế Tam Phân của Việt Nam, sau nhà Lê trung
hưng, trong lịch sử duy nhất chỉ có Trạng
Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm bị đục tên ra khỏi
bia (đá) Tiến Sĩ, v́ ông đă ra giúp nhà Mạc).
Tóm lại
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đặt lư tưởng dân
tộc, quyền lợi đất nước lên cao
hơn quyền lợi của giới lănh đạo (vua-chúa),
của giới cầm quyền, bởi v́ ông hiểu
được thời biết được thế, ông
đă mạnh dạn bước ra khỏi sự ràng
buộc của “Trung Quân”, nên ông chỉ c̣n lại quan điểm
“Ái Quốc”, ông đă giúp tất cả những ai làm
lợi cho đất nước, chỉ những kẻ anh
hùng mới có thể “tri mệnh thức thời duy
tuấn kiệt”, khi sống trong thời loạn ông
hiểu được giá trị của vua, vậy cái hay
nhất của kẻ sĩ là biết tách rời lư tưởng
trung với vua ra khỏi cái t́nh của nước,
để chỉ c̣n lại hiếu với dân. Bởi v́:
“dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh”, ông biết đưa
dân lên hàng đầu v́ nếu không có dân, cũng chẳng có
vua, nên dân th́ vạn đại, nhưng quan (vua-chế
độ-chính quyền) chỉ nhất thời. Một
chế độ có thể đổi thay theo
thời gian, nhưng dân tộc th́ vĩnh viễn tồn
tại, nên giá trị trường tồn phải hơn
thời gian ngắn ngủi, v́ một chế độ không
quan trọng bằng sự trường tồn của dân
tộc. Vậy! Người lănh đạo hay một nhóm
người đại diện (chính quyền) cho một
thể chế, không quan trọng bằng gịng sống
của cả một dân tộc. Như
vậy trung thành với “lănh tụ” (vua) là trung với
chế độ cho dù chế độ ấy đă quá
thối nát và tàn rửa, đó là loại người có trí
óc kém cơi không hiểu thời, biết thế và nh́n được
thời cơ. Họ đă “cận
thị” nên không nh́n được xa, họ tự chọn
cho họ cái tôi nhỏ ti tiện mà bỏ đi cái nghĩa
lớn của đất nước dân tộc, để
đến khi chợt hiểu ra, dẫu có hối tiếc
th́ cũng đă muộn.
Trong giai
đoạn chống quân Minh 1407 – 1418 có ba thành phần
ở đầu thế kỷ thứ 15, thành phần
thứ nhất là thành phần chọn cho ḿnh chổ
đứng trong hàng ngũ quân xâm
lăng. Thành phần nầy có thể họ là những
người nhẹ dạ tin tưởng vào khẩu
hiểu “phù Trần” của nhà Minh nên đă ra hợp tác
với chế độ, những người nầy
đại biểu cho nhóm người “cận
thị”với sự hiểu biết hạn hẹp, khi
hợp tác với giặc họ quên đi cái thảm
họa mất nước. Họ sẳn sàng rước
về cho dân tộc nhiều thảm họa nguy hiểm
hơn là cái thảm họa thay đổi thể chế
chính trị. Thành phần thứ hai là những người
không có lư tưởng, thấy cái tuyệt vọng trong
việc giành độc lập cho đất nước
nên đành đứng vào hàng ngũ
giặc để t́m bả vinh hoa cho cá nhân và gia đ́nh.
Hai thành phần trên đều đứng về phía giặc
hoặc làm công cụ và tay sai cho
giặc. Họ đă góp tay, góp sức với giặc, tiêu diệt
văn hóa và sức sống dân tộc, một cách trực
tiếp và gián tiếp họ đă bẻ gảy gần 30
cuộc cách mạng của dân tộc Việt chống
sự xâm lăng cai trị của nhà Minh. Thành phần c̣n
lại là những thanh niên như Nguyễn Trăi, Trần
Nguyên Hăn chính họ đă viết lên những trang sử
sáng chói để lưu lại cho đời sau chiêm ngưỡng.
Ngày hôm nay khi
đọc lại những gịng lịch sử của
tiền nhân, chúng ta không thể không rung động
trước những h́nh ảnh đẹp nhất của
những chiến sĩ cách mạng trong lịch sử
chống ngoại xâm và nội thù, giành độc lập
cho dân tộc, cái đẹp của ḷng yêu nước
thiết tha, nhưng cũng chất chứa nhiều
nỗi u hoài, tuyệt vọng. Những Trần B́nh
Trọng “Thà làm quỉ nước Nam, chớ không thèm làm
Vương đất Bắc”, một Nguyễn Biểu
ung dung ngồi rung đùi ăn cỗ đầu
người trước mặt Trương Phụ,
để có một Đặng Dung mài kiếm dưới
trăng thề diệt kẻ thù, để có một Vơ
Tánh, một Ngô Tùng Châu “Khảng khái cần vương
dị, thung dung tựu nghĩa nan”, để có một Phan
Thanh Giản “Hết dạ giúp Vua trời đất
biết, tan ḿnh v́ nước quỉ thần hay !;
để có một nguyễn Khuyến “Diện ngoại
bất cầu như mỹ ngọc, tâm trung thường
thủ tự kiên kim”, để có một Nguyễn Thái
Học“ Chết v́ tổ quốc, cái chết vinh quang, chí ta
sung sướng, ḷng ta nhẹ nhàng !”, đă khơi dậy
những phong trào yêu nước cao độ, kích động
được ḷng yêu nước nồng nàn của hàng bao
thế hệ, những tấm gương ngàn đời
vằng vặc như đôi vầng nhật nguyệt cho đến
ngày nay. Chính những hy sinh cao cả đó của những
con người dám làm và dám chết cho tổ quốc đă
kết thành hồn sử linh thiêng của dân tộc và làm
cho ư thức dân tộc lớn lao lên. Cuộc đời của Nguyễn Trăi ông đă
phát huy cao độ của ḷng yêu nước với tinh
thần yêu nước một cách thực dụng và
thực tế.
Lịch sử
cũng cho chúng ta thấy yêu nước mù quáng sẽ
dễ dàng trở thành tay sai cho những
chiêu bài nhân nghĩa giả dối bịp bợm của
ngoại bang. Họ khéo léo đầu cơ
ḷng yêu nước, nhiều tầng lớp thanh niên sẽ
bị lợi dụng, nếu không học những bài
học lịch sử. “Ḷng yêu nước đui mù”
sẽ biến người yêu nước thành tay sai mà
họ tưởng ḿnh đang làm cách mạng dân tộc, nên
dễ dàng ngoảnh mặt quay lưng với tổ
quốc, tiêu diệt văn hoá và sức sống dân tộc
mà lương tâm không bị cắn rức?. T́nh yêu
nước phải gắn liền với một tâm
hồn trong sáng và đầy đủ trí tuệ cũng
như sách lược để giải quyết vấn
đề đất nước hiện tại cũng
như tương lai.
Phi Khanh, Ức
Trai hay Bạch Vân Cư Sĩ đă phân biệt giữa t́nh
yêu nước và lư trí, giữa con tim và khối óc, là
người biết được Thời hiểu
được Thế và nh́n
được Cơ. Trong “Quân Trung Từ
Mệnh Tập”Nguyễn Trăi đă viết thư cho
Vương Thông với lời lẽ như sau: “Được
Thời có Thế th́ biến mất làm c̣n, hóa nhỏ thành
lớn. Mất thời không thế th́ quay mạnh làm
yếu, yên chuyển thành nguy, chỉ như khoản
trở bàn tay thôi ... trong thiếu
lương thực, ngoài thiếu viện binh, ông đă
không am hiểu Cơ trời. Đó là điều phải
thua.”.
V́ vậy khi thấy vận hạn nhà Trần đă
chấm dứt, Nguyễn Trăi đă can đảm chia tay với quá khứ, ông dám bước ra
khỏi bóng che của triều đại nhà Trần
để t́m đến Lê Lợi. Ông biết
t́m đến những người yêu nước, không
nặng nợ với quá khứ, để mở ra
một hướng đi mới cho dân tộc. Nguyễn Trăi đă nh́n được chiêu bài
bịp bợm của nhà Minh, ông đứng trên lập
trường Diệt Minh để
chuẩn bị cho ngày quang phục tổ quốc. Nguyễn Trăi đă phóng tầm nh́n vào tương
lai để xác định lập trường của
ông. Ông đứng trên lập
trường của một nước Việt mới,
một nước Việt sắp ra đời và sẽ
phải ra đời.
Năm
1420, Nguyễn Trăi đă cùng 28 vị anh hùng Lam Sơn cùng
nhau kết ước hội thề (Hội Thề
Lũng Nhai). Ư niệm hội thề là một sáng kiến
cách mạng về mô h́nh tổ chức chính trị. Ư
nghĩa của hội thề là sự ràng buộc
những người làm việc nước bằng qui
ước đạo đức để giảm
thiểu tính chuyên chế, tham lam, thủ cựu và
đồng thời đề cao tính lư tưởng, tính
khai phóng và rộng lượng của người lănh
đạo kháng chiến, cũng như người lănh
đạo đất nước trong tương lai. Hội thề là xă ước thành văn
đầu tiên, nối kết cuộc vận động
thời đại với những ǵ thiêng liêng của dân
tộc, thiết lập giá trị đạo đức
cho công cuộc cứu nước. Hội Thề
Lũng Nhai, cũng như quan điểm về thời đại
của Nguyễn Trăi như đă nói trên, một lần
nữa xác định sự trưởng thành về ư thức
dân tộc của một thế hệ mới. Nhiệm
vụ cứu quốc tồn chủng không c̣n là độc
quyền của một ḍng họ, của triều
đ́nh, của giai cấp quí tộc hay của một
Đảng “quản lí”, mà là của mọi người,
từ kẻ khoa bảng đến nông dân vô danh, từ
người trí thức đến kẻ thất phu và
đó cũng là ư nghĩa của câu “quốc gia hưng vong
thất phu hữu trách”. Hội Thề
Lũng Nhai là ư niệm b́nh đẳng dân chủ, là
khởi điểm để đi đến xác
định được giá trị chính thống lịch
sử. Nhờ đó phong trào kháng chiến Lam Sơn,
tái tạo được đạo đức của
tầng lớp lănh đạo, xây dựng lại “nội
lực” dân tộc, để h́nh thành một triều
đại mới và một nước Việt mới.
Từ Hội Thề Lũng Nhai, Lam Sơn đă trở
thành căn cứ địa hồi sinh dân tộc. Xuất
phát điểm lịch sử ấy đă đẩy
cuộc khởi nghĩa Lê Lợi đến thành công,
đă giúp Lê Lợi giành được độc lập
cho tổ quốc, khai sáng triều đại nhà Lê, hoàn
thành được sứ mệnh cứu quốc tồn
chủng của tiền nhân, và mở ra một thời
đại phục hưng, phục hoạt cho dân tộc
mới và làm cho dân Việt lớn lao lên.
Trong
điều kiện hiện tại công việc chúng ta
phải làm là: “Tập hợp dân tộc, khơi lại ḍng
sống lịch sử của tiền nhân, chuẩn bị
cho ḿnh có một khả năng hiểu biết, để
nhận lấy trách nhiệm khi đất nước
cần”. Nhưng tập hợp và khơi
lại lịch sử chưa đủ. V́ lịch
sử “tương lai” đ̣i hỏi người lănh
đạo phải có một viễn kiến sâu rộng,
một tầm nh́n lớn về con đường
phục hưng và phục hoạt dân tộc, cũng như
công tác kiến thiết đất nước. Đó là
nền tảng để đưa đất nước
vào thời đại mới, một thời đại an
b́nh và hạnh phúc và theo đà tiến
của thế giới để làm định
hướng cho mầm sống dân tộc được
bật ra và lớn lao lên. Mầm sống
đó là giấc mơ về một tổ quốc sẽ
được hồi sinh và sự trông ngóng vào một xă
hội mới nhân bản tươi đẹp hơn, nhân
tính khai phóng hơn. Cái lực của mầm sống
đó là công cuộc tập hợp để trở về
với dân tộc, công cuộc tập hợp những anh
hùng hào kiệt của thời đại, để
định hướng đi mới, để cho cái chủ
thuyết mới, tư tưởng mới sẽ phải
ra đời. Đó là lực chính chỉ
đạo tư tưởng của thời đại.
Cuộc vận động cứu lấy
nước, giữ lấy ṇi đ̣i hỏi chúng phải
thấy được mầm sống của dân tộc
trong mỗi một giai đoạn, khi đất
nước đến hồi bế tắc.
Khi mầm
sống ấy đến ngày thành thục nó sẽ bộc
phát thành gịng sóng đáy, thành một bùng nổ lịch
sử, nó sẽ làm vỡ những bờ đê đóng cơi,
phá vỡ những rào cản thời đại, quét đi
những ươn hèn thối nát, những tàn dư xấu
xa của xă hội cũ, để làm thành cái “xuất
lộ lịch sử” cho dân tộc. Cái đột biến
ấy nó đ̣i hỏi những người đi làm
lịch sử, phải thật tâm nh́n thấy những cái
sai quấy của thời đại cũ, những cái vô
lư bất công của xă hội cũ, những cái xuẩn
động cục bộ phản lại gịng sống
của dân tộc.
Xuất
Lộ Lịch Sử là khởi điểm của
công cuộc xoay chuyển thời đại để
mở ra thời kỳ phục hưng và phục hoạt
để làm cho dân tộc Việt lớn lao lên, để
công tác bảo vệ bờ cơi bền vững hơn,
để xây dựng một đất nước hợp
lư hơn, hợp với ḷng người hơn, hợp
với qui luật phát triển hơn, hợp với
lịch sử hơn,. Đó là ư nghĩa
của cuộc cách mạng cao đẹp và cũng là thông
điệp của tiền nhân đă gởi đến cho
thế hệ chúng ta. Ông cha chúng ta đă
đem gần như cả cuộc đời cống
hiến cho tổ quốc. C̣n chúng ta,
chúng ta sẽ là những lớp người kế
tiếp, nối bước tiền nhân hoàn thành sứ
mạng Dựng Cờ Đại Nghĩa trên quê
hương yêu dấu, để Quang Phục Tổ
Quốc. Với những kiên tâm, quyết chí đi theo con đường lư tưởng, th́
nhiệm vụ nào cũng hoàn tất, khó khăn nào cũng
vượt qua.
Ngô Hữu