HOME

 Địa Vị Siêu Cường của Hoa Kỳ Trên Thế Giới

 

ChuSa                                                                                                        

NewYork November 1, 2002

 

          1. Máy Bay Thám Sát EP-3E

          " Mới nh́n qua ai cũng bảo ông tổng thống Bush có vẻ mặt rất là khắc khổ, chắc cuộc đời của ông ta sẽ không sung sướng đâu, nhưng đối với những người nghiên cứu thấu đáo về tướng mạo con người, th́ rồi đây uy danh ông sẽ lên như diều, chứ không bị tắc nghẽn như thân sinh của ông ta , và ông ta sẽ đắc cử dễ dàng nếu ông ra ứng cử thêm một nhiệm kỳ nữa v́ ông ấy có tướng làm ǵ cũng "tiên trở hậu thành" mà lại thành lớn". Sở dĩ nói  về ông TT W. Bush là v́ người víêt   tôi có nghiên cứu tướng số, nên tôi cũng có đôi chút kinh nghiệm về lănh vực này,  chỉ trong vài tháng nữa, uy danh của ông Bush sẽ lên tận mây xanh. Cứ mỗi lần có chiến tranh th́ quân đội Hoa Kỳ - với sự cộng tác tích cực của một số đại học kỹ thuật danh tiếng - lại có những phát minh mới giúp cho người lính chiến ở mặt trận phát hiện rất nhanh sự có mặt của địch quân đối diện với họ.

          Bạn đọc c̣n nhớ câu chuyện máy bay khu trục Trung Cộng uy hiếp chiếc máy bay thám sát EP-3E của Hải Quân Hoa Kỳ bay trên không phận quốc tế, ngoài khơi đảo Hải Nam của Trung Cộng, vào ngày 1 tháng 4, 2001. Viên phi công Trung Cộng - phần th́ quá hung hăng, phần th́ muốn thị uy với phi hành đoàn của chiếc máy bay thám sát Hoa Kỳ - nên đă bay sát và chạm vào chiếc máy bay 4 động cơ này. Sau khi hai bên đụng nhau trên không phận quốc tế th́ chiếc máy bay khu trục phản lực của Trung Cộng rơi xuống bể và tên phi công "cao bồi" kia mất tích luôn. Chiếc máy bay thám sát của Hải Quân Hoa Kỳ - tuy có bị hư hao đôi chút - nhưng vẫn khẩn cấp đáp xuống được phi trường quân sự của Trung Cộng trên đảo Hải Nam. Sau khi xảy ra vụ tai nạn này, nhà cầm quyền Trung Cộng tố cáo máy bay của Hải Quân Hoa Kỳ đă vi phạm không phận của họ và bắt giữ 24 nhân viên phi hành đoàn của chiếc máy bay này, đồng thời nhất định không cho Hoa Kỳ gởi nhân viên đến Hải Nam để sửa chữa những thiệt hại gây ra sau khi xảy ra vụ đụng độ trên không phận quốc tế, ngoài khơi đảo Hải Nam. Đó là chưa nói đến thái độ của Trung Cộng coi 24 nhân viên phi hành đoàn của Hoa Kỳ như là tù binh không bằng. Một hành động coi như "bần tiện" nhất của chính quyền Trung Cộng là - sau khi trả lại tự do cho phi hành đoàn Hoa Kỳ - họ c̣n tính tiền phí tổn nuôi ăn phi hành đoàn này là một triệu mỹ kim và bắt chính phủ Hoa Kỳ phải bồi hoàn tiền này lại cho họ. Bên phía Hoa Kỳ trả lời cho họ biết chỉ trả phí tổn ẩm thực trong 11 ngày của phi hành đoàn Hoa Kỳ là 34,000 mỹ kim thôi, chứ buộc họ trả một triệu mỹ kim th́ họ nhất định không trả. Chính quyền Hoa Kỳ cho biết là trước khi đáp khẩn cấp xuống phi trường Hải Nam của Trung Cộng, phi hành đoàn của chiếc EP-3E đă phá hủy phần lớn những bộ phận quan trọng dùng để "nghe lén" được thiết kế trên phi cơ này, nhưng thế nào nhà cầm quyền Trung Cộng cũng có thể kiếm được không nhiều th́ ít một số tài liệu kỹ thuật mà họ thu lượm được trên chiếc phi cơ của Hoa Kỳ để mang về nghiên cứu.

          Thế rồi 3 tháng sau, Hoa Kỳ phải cho chuyên viên đến đảo Hải Nam với một phi cơ vận tải khổng lồ để chở chiếc EP-3E về lại Hoa Kỳ, sau khi cắt đuôi và hai cánh của chiếc phi cơ này để cho tiện việc chuyên chở.

          Một năm sau khi xảy ra vụ đụng chạm trên không phận quốc tế, Trung Cộng bị mất luôn chiếc khu trục cơ phản lực lẫn viên phi công; c̣n chiếc phi cơ 4 cánh quạt EP-3E th́ được đưa về cơ xưởng của công ty Lockheed - Martin ở Marietta để sửa chữa và sẽ xong vào tháng 5, 2002. Sau đó chiếc EP-3E sẽ bay về Waco, trụ sở nhà máy công ty Raytheon ở Texas, để trang bị những máy kiểm thính điện tử tối tân vừa được sản xuất trong năm qua. Việc trang bị máy móc điện tử này sẽ hoàn tất vào cuối năm 2002, và máy bay EP-3E sẽ bắt đầu hoạt động lại cho Hải Quân vào khoảng đầu năm 2003.

          Tháng 6, 2002 , chính quyền Hoa Kỳ  rút ra khỏi hiệp ước chống lập hàng rào pḥng vệ hỏa tiễn liên lục địa kư với Liên Xô từ năm 1972. Theo giới chính quyền Mỹ th́ hiệp ước này đă làm chậm trễ và nhiều khi ngăn chận việc thử một số kỹ thuật tối tân có liên quan đến ngành hỏa tiễn pḥng vệ. Theo trung tướng Kadish, vào khoảng tháng 7, 2002  sau khi Hoa Kỳ rút ra khỏi hiệp ước về pḥng vệ hỏa tiễn , th́ Cơ Quan Thiết Lập Hàng Rào Hỏa Tiễn Pḥng Vệ sẽ bắt tay vào việc ngay để chuẩn bị việc thử một hỏa tiễn liên lục địa pḥng vệ trong tháng 7, 2002 . Công việc chuẩn bị gồm có việc xử dụng hệ thống rađa Aegis đặt trên tuần dương hạm dùng để thử bắn hạ những hỏa tiễn liên lục địa. Vào mùa thu năm 2001, Ngũ Giác Đài cũng đă có dự định việc bắn thử này rồi, nhưng bị một số luật sư ngăn cản v́ dùng rađa trên các tuần dương hạm để bắn hỏa tiễn liên lục địa là vi phạm hiệp ước. "Thành thử việc Hoa Kỳ rút ra khỏi hiệp ước IBM 1972 giúp cho chúng ta nhiều phương tiện hoạt động hơn", đó là ư kiến của trung tướng Không Quân Kadish. Mục đích của chính quyền tổng thống W. Bush khi thử hỏa tiễn pḥng vệ là để chứng minh với quần chúng Hoa Kỳ chương tŕnh thiết kế hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn không phải là một chương tŕnh tiêu hoang phí công quỹ, đồng thời cũng để chứng minh với phe chỉ trích  trong đó có một số đảng viên Cộng Ḥa  cho rằng việc thiết kế hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn ở Alaska sẽ không đáp ứng được sứ mệnh của chúng.

          Sau khi đắc cử tổng thống, ông Bush cũng đă lên tiếng cho Nga hay là ông sẽ rút chân ra khỏi hiệp ước ABM 1972 liên quan đến việc xử dụng hỏa tiễn nguyên tử giữa hai nước Nga và Hoa Kỳ, v́ hiệp ước này hạn chế việc tiến hành thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn của Hoa Kỳ. Khi vừa mới đắc cử, việc cấp thiết nhất của ông ta là lo việc pḥng thủ lănh thổ Hoa Kỳ trước hiểm họa hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử của một nước địch thủ - tuy hiện nay chưa ló dạng hẳn - nhưng tốt hơn hết cho Hoa Kỳ là cũng nên đề pḥng trước th́ hơn. V́ vậy ông ta đă tuyên bố sẽ tiếp tục khuếch trương chương tŕnh lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn nhưng qui mô hơn đang được dự trù vào năm cuối cùng trong nhiệm kỳ 2 của cựu tổng thống Clinton. Và đó cũng là một trong những dự tính của ông Bush khi ông ra tranh cử tổng thống.

            2. Viện Nghiên Cứu  MIT

          Trong đệ nhị thế chiến, pḥng thí nghiệm về phóng xạ của đại học MIT đă khuếch trương hệ thống rađa dùng để báo động khi có sự xuất hiện của phi cơ địch. Trong thời gian "chiến tranh lạnh" giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, chính đại học MIT cũng đă khai triển hệ thống hướng dẫn các hỏa tiễn. Giờ đây, đại học kỹ thuật MIT (Massachusetts Institute of Technology ) vừa trúng một cuộc đấu thầu 50 triệu mỹ kim của quân đội Hoa Kỳ để thành lập một viện nghiên cứu về quân phục dùng trang bị cho người chiến binh trong thời gian 5 năm tới đây. Viện nghiên cứu này qui tụ một trăm sinh viên ưu tú và 35 giáo sư xuất sắc của MIT chọn lựa từ nhiều khoa của trường như các khoa: công binh, kiến trúc, khoa học, kế hoạch và bắt đầu làm việc vào tháng 5, 2002 . Giáo sư ngành công binh, ông Ned Thomas viện trưởng viện nghiên cứu này đă từng tuyên bố: "mục tiêu của chúng tôi là nâng cao sự bảo vệ và tồn tại của người chiến binh".

          Mục tiêu cấp thiết nhất của viện nghiên cứu này là làm nhẹ hành trang của người chiến binh từ khoảng 70 kilô xuống c̣n 40 kilô, trọng lượng trang bị của một chiến binh dưới triều đại La Mă, vào thế kỷ thứ V thời Trung Cổ. Quân phục mới của người chiến binh Hoa Kỳ sẽ được chế biến từ một thứ nguyên liệu có "phân tử nhẹ", do đó áo cũng như quần sẽ cứng như chất thép và đạn bắn không thủng, có công dụng như một bao bó chân khi chân bị găy, báo động cho người chiến binh biết khi trong không khí có hơi độc hay có vi trùng, đắp thuốc vào vết thương và chuyển đến bộ chỉ huy tọa độ vị trí của người lính trên chiến trường. Quân phục mới này có khả năng thay đổi màu sắc như những con cắt kè cho giống với môi trường bên ngoài, khiến cho địch quân không phát hiện được họ. Quân phục gồm thêm đôi giày có trang bị ḷ xo, nên người chiến binh có thể nhảy cao khoảng gần 6 mét.

          Ông viện trưởng Thomas từng phát biểu như sau: "Chúng ta thử tưởng tượng khi địch quân đụng độ với một trung đội chiến binh Hoa Kỳ được trang bị với bộ quân phục mới này, th́ thế nào họ cũng cho là họ đă gặp phải người của hành tinh khác đến quả địa cầu để giúp cho quân đội Hoa Kỳ cũng nên!" Viện nghiên cứu mới này của đại học MIT sẽ hợp tác với các công ty chuyên về kỹ nghệ quốc pḥng trong đó có DuPont, Raytheon để đưa những "phần tử nhạy" vào trong vải dùng chế biến quân phục. Viện Nghiên Cứu cũng t́m cách thu thập và chưng mồ hôi của người chiến binh, qua bộ quân phục, để trở thành nước uống. Với tŕnh độ khoa học, kỹ thuật của Hoa Kỳ quá cao như vậy, nên dù cho có quốc gia nào đánh cắp được kỹ thuật này cũng khó ḷng bắt chước được, v́ bắt buộc họ phải có một nền kỹ nghệ siêu đẳng mới có thể hoàn thành được bộ quân phục do những phát minh của viện nghiên cứu MIT đề ra, đó là chưa kể phải có ngân khoản hằng tỷ mỹ kim để dùng vào việc chế tạo những dàn máy móc mới để sẵn sàng biến chế những ǵ đă được khoa học phát minh.

          Vào đầu thập niên 1950, trong thời gian "chiến tranh lạnh" đang vào thời kỳ gay cấn nhất, phía Hoa Kỳ và khối thế giới Tự Do đang cần có một loại máy bay thám thính bay trên biển cả - nhưng không quá nhanh như loại phi cơ phản lực - được trang bị đầy đủ những loại máy điện tử dùng để nghe lén và những máy rađa để phát hiện càng sớm càng tốt sự có mặt của tàu ngầm Liên Xô dưới ḷng biển cả, th́ may sao lúc ấy công ty Lockheed-Martin vừa cho ra chiếc máy bay chở hành khách Lockheed L188 Electra, có 4 động cơ cánh quạt mà tiêu chuẩn lại rất phù hợp với những điều kiện do Hải Quân đ̣i hỏi về một chiếc máy bay thám sát, nên đă được Hải Quân Hoa Kỳ chọn ngay. Nhưng sau khi Liên Xô tan ră, việc dùng máy bay thám thính để tuần pḥng trên các đại dương về hiểm họa tiềm thủy đỉnh của Nga Xô không c̣n là một vấn đề cấp thiết nữa, nên Ngũ Giác Đài đă có quyết định rất hợp thời là trang bị lại trên tất cả những máy bay thám sát bằng một loạt máy điện tử tối tân, nhất là về kiểm thính vừa mới được phát minh trong những năm cuối thế kỷ 20. Và khi hoàn tất xong công việc tối tân hóa các chiếc P-3 Orion này th́ xảy ra cuộc chiến tranh chinh phạt bọn Taliban và Al Qaeda của Osama Bin Laden ở A Phú Hăn. Lợi dụng cơ hội này, Ngũ Giác Đài bèn dùng máy bay 4 động cơ cánh quạt P-3 Orion để chở những biệt kích "người nhái" của Hải Quân dùng trong việc yểm trợ binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt đang hoạt động dưới đất - trong thung lũng Shah-e-Kot - thuộc vùng núi ở miền Đông Bắc A Phú Hăn. Nhờ những máy điện tử tối tân để phát hiện nhiệt độ phát ra từ châu thân của quân địch ở dưới đất, cộng thêm việc kiểm chứng của dàn rađa trên phi cơ, những "người nhái" trên phi cơ thám sát P-3 Orion bèn liên lạc với binh sĩ của Lực Lượng Đặc Biệt ở dưới đất và thông báo tọa độ về vị trí của quân địch ở dưới đất, nên Bộ Binh của Hoa Kỳ thấy rơ địch như trên phi cơ P-3 Orion thấy và tiêu diệt địch một cách rất dễ dàng. Trước khi muốn chiếm một ngọn đồi nào đó, Bộ Binh liên lạc với chuyên viên trên phi cơ nhờ quan sát hộ trên đồi đó có địch đóng hay không, nếu có th́ cho biết lực lượng pḥng thủ của chúng cũng như vũ khí chúng xử dụng trước khi mở cuộc tấn công vào ngọn đồi đó mà địch chẳng hay biết ǵ ráo. Nhờ có phi cơ thám sát P-3 Orion bay trên không trung với độ cao quá tầm mức của hỏa tiễn pḥng không cầm tay của địch, họ đă biến Bộ Binh dưới đất thành những hiệp sĩ có "mắt thần" đánh nhau với một lũ "lính mù" của bọn Hồi giáo khủng bố Osama Bin Laden. Và người ta có thể nói là nhờ máy bay thám sát P-3 Orion mà người chiến binh của Hoa Kỳ - tuy kẻ ở trên trời, và người ở dưới đất - mà hành động của họ được phối hợp chặt chẽ đến độ tuy hai mà lại là một, vô cùng tai hại cho bên địch v́ không biết hướng nào để pḥng bị cả.

          Cũng v́ đánh nhau với địch mà không biết rơ vị trí của địch ở đâu nên Nga mới bị sa lầy gần mười năm nay trong cuộc chiến tranh b́nh định quân đội kháng chiến của Chechnya ở tại miền Nam của nước Nga. Phải chi Hoa Kỳ cho Nga "mượn tạm" một chiếc máy bay thám sát P-3 Orion trong cuộc chiến b́nh định Chechnya th́ cuộc chiến tranh này đă chấm dứt từ lâu rồi; v́ khi ấy vai tṛ "hiệp sĩ mù" của Nga trong cuộc chiến tranh b́nh định Chechnya, sẽ trở thành một hiệp sĩ có "mắt thần" như quân đội Hoa Kỳ th́ kháng chiến quân Chechen có chạy đường trời cũng không thoát khỏi tầm tay của Nga. Nhưng dụng ư của Hoa Kỳ là làm cho Nga sa lầy và măi bận tâm lo bảo vệ ống dẫn dầu của họ trong vùng Grozny để khỏi bị kháng chiến quân Chechen phá hoại cũng đủ mệt rồi, đâu c̣n thời giờ nào nghĩ đến việc hại ngầm tổng thống Shevardnadze của tiểu quốc Georgia, một người bạn của gia đ́nh tổng thống W. Bush.

           Kể từ khi cựu tổng thống Ronald Reagan nêu quyết tâm thiết kế cho kỳ được một hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn vô phương xâm nhập được lănh thổ Hoa Kỳ cho đến nay, th́ chi phí cho việc phát minh về kỹ thuật chế tạo hỏa tiễn chống hỏa tiễn đă lên tới 60 tỷ (60 ngàn triệu) mỹ kim mà vẫn chưa t́m ra được một hệ thống chống hỏa tiễn hữu hiệu. Nay th́ Ngũ Giác Đài dự trù chi phí thêm 8 tỷ mỹ kim nữa vào năm nay để hoàn tất chương tŕnh chống hỏa tiễn này. Chính quyền Cộng Ḥa dự trù thiết kế vào mùa hè năm nay tại Fort Greely, gần Fairbanks, Alaska một căn cứ pḥng vệ nhỏ làm nơi xuất phát của 5 hỏa tiễn pḥng vệ sẽ được thử nghiệm trong tương lai gần đây và căn cứ này sẽ là căn cứ pḥng vệ đầu tiên lănh thổ Hoa Kỳ. Khi thấy việc phóng thành công 4 hỏa tiễn pḥng vệ, th́ một số nhân vật chống chương tŕnh này có đề nghị với Ngũ Giác Đài nên khai triển thêm một số hệ thống pḥng thủ khác như là phóng hỏa tiễn pḥng vệ từ các tàu chiến, các máy bay hay từ các căn cứ trên không gian có trang bị tia laser. Do đó, Ngũ Giác Đài đă bỏ ra hàng tỷ mỹ kim để chi tiêu vào việc khuếch trương thêm những kế hoạch xen kẽ này mà tổng thống Bush gọi là "hệ thống từng tầng" có khả năng bắn hạ các hỏa tiễn địch ở từng tầng khác nhau trên không gian, và sẽ được thiết kế vào giữa 2003 đến 2008 do hai công ty Boeing và Lockheed Martin đảm trách. Ngoài những công ty khổng lồ của Hoa Kỳ kể trên đây mà số vốn lên đến hằng triệu tỷ mỹ kim, phải kể đến vai tṛ vô cùng quan trọng của một quốc gia duy nhất trên quả địa cầu này đă, đang và luôn luôn sát cánh với Hoa Kỳ để giúp cho nước này thực hiện mộng trở nên siêu cường độc nhất trên thế giới, đó là Nhật Bản.

          3. Giải Giới Quân Đội Phù Tang

          Năm 1942, một năm sau khi Nhật Bản bất thần oanh tạc căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, ông Nicholas Spykman, trong quyển sách America's Strategy in World Politics có nhấn mạnh ở điểm một khi hai nước Đức và Nhật Bản bị Đồng Minh đánh bại, th́ Liên Bang Xô Viết sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Thành thử bằng bất cứ giá nào, sau khi chiến tranh chấm dứt, bắt buộc Hoa Kỳ phải ủng hộ hai nước này để chống lại đại họa cộng sản Liên Xô. Quyển sách này được xuất bản chỉ có mấy tháng sau vụ Nhật Bản ném bom lén Trân Châu Cảng, nên bị đa số dộc giả cho là phi lư. Một b́nh luận gia đă viết như sau: "Nh́n vị trí địa dư của Nhật Bản trên một bản đồ, th́ ai cũng biết Nhật Bản là một ḥn đảo, có một chính quyền độc tài phát xít do quân đội lănh đạo và luôn luôn có nhu cầu mở mang bờ cơi để đương đầu với những khủng hoảng nội bộ". Và ông Spykman đă trả lời lại như sau: "Các ông bộ trưởng đến rồi lại đi, ngay đến những nhà độc tài rồi cũng chết, duy chỉ có các ḥn núi là khi nào cũng vẫn luôn luôn đứng nguyên một chỗ".

          Năm 1945, tiềm lực Hải Quân Nhật Bản hoàn toàn bị hủy diệt: từ hạm đội vĩ đại 1941, chỉ c̣n lại vài đơn vị nằm ụ trong một số hải cảng v́ thiếu nhiên liệu. Ngày 1 tháng 12, 1945, hạm đội của Nhật Hoàng đă bị triệt tiêu, và Bộ Hải Quân đă trở thành Bộ Giải Ngũ; và hải quốc Nhật Bản đă nhường chỗ lại cho một quốc gia không có Hải Quân: liên tiếp trong nhiều năm qua, quốc kỳ Nhật Bản chỉ được treo sau lái tàu của các tàu buôn.

          Sau khi Mao Trạch Đông thôn tính lục địa Trung Hoa và đuổi Tưởng Giới Thạch chạy qua Đài Loan, và cũng sau cuộc chiến tranh Triều Tiên trong thập niên 1950, Hoa Kỳ không ngớt áp lực Nhật Bản thành lập một Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia đông 75,000 người vào tháng 7, 1950 và một Lực Lượng An Ninh Tuần Dương đông 7000 người vào tháng 4, 1952. một năm sau  lực lượng này đă trở thành lực lượng tuần duyên của Nhật Bản. Và đến tháng 7, 1954 hai lực lượng thủy, bộ được sáp nhập với lực lượng Không Quân để trở thành một Cơ Quan Tự Vệ do một ông Tổng Giám Đốc ngang hàng với một bộ trưởng trong nội các điều khiển. Tất cả nhân viên trong ba ngành Hải, Lục, Không Quân kể trên - đứng trước pháp luật - đều được coi như những thường dân và không được phép chiến đấu nếu không có lệnh của thủ tướng chính phủ, mặc dầu bị tấn công bất ngờ cũng vậy; và chỉ được tham dự các cuộc thao diễn huấn luyện trong ngành mà thôi.

          Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, lời cảnh cáo của ông Spykman không được các nhà chính khách Hoa Kỳ chú ư đến. Lúc bấy giờ Hoa Kỳ vẫn c̣n đặt niềm tin ở chính quyền tổng thống Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa mặc dầu tham nhũng ngập đầu và tạo cho Mao Trạch Đông một môi trường lư tưởng để lôi cuốn quần chúng Trung Hoa tham gia cuộc cách mạng vô sản; đồng thời Hoa Kỳ vẫn c̣n hận Nhật Bản đă đánh úp họ tại Trân Châu Cảng và binh sĩ họ đă bị hy sinh quá nhiều trong các trận chiến tàn khốc chiếm các đảo của Nhật Bản rải rác trên khắp Thái B́nh Dương. Từ mối hận đó, Hoa Kỳ mới quyết tâm giải giới Nhật Bản và triệt tiêu cho kỳ được về lâu về dài nạn quân phiệt của nước này. Kết quả là Hiến Chương 1947 ra đời, và đặc biệt nhất là điều 9 của Hiến Chương - được sự khuyến khích của đại tướng Mac Arthur - không cho phép Nhật Bản gây chiến với bất cứ nước nào trên thế giới, và cũng không được phép thành lập quân đội, nhưng có quyền tổ chức một lực lượng tự vệ. Và cho đến bây giờ, nước Nhật Bản vẫn c̣n dựa trên căn bản đó để hoạch định một chính sách an ninh mà nguyên tắc cơ bản vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay. Cho đến giờ này, chiến lược của Nhật Bản luôn luôn dựa trên pḥng vệ và loại bỏ việc dùng vơ lực trong mọi quan hệ quốc tế. Nhật Bản không có quân đội và chỉ có một Cơ Quan Tuần Dương được thành lập từ năm 1947, có nhiệm vụ truy lùng những người Triều Tiên nhập cảnh bất hợp pháp, những gián điệp Liên Xô và Bắc Hàn muốn xâm nhập lén lút vào nước này và cũng để làm nhiệm vụ gỡ ḿn nữa.

          Nhưng sự tiến triển t́nh h́nh quốc tế trong thập niên 1970 đă thúc đẩy Nhật Bản phải duyệt lại đường lối an ninh theo nhu cầu đ̣i hỏi của thời cuộc. Giờ đây, đă gần sáu chục năm qua kể từ ngày Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ngày 2 tháng 9, 1945 tiềm lực hải quân của Nhật Bản đă xuất hiện trở lại trên các đại dương và được liệt vào hàng thứ 3 trên thế giới vào thập niên 90. Mặc dầu không có binh lực và theo thủ tướng Ohira, "nước Nhật của chúng tôi chỉ có một đường lối ngoại giao dựa trên hy vọng và nguyện cầu" và được hỗ trợ bởi một đường lối ngoại giao đặc biệt khác dựa trên đồng Yen đă khiến cho thủ tướng Ohira thốt lên câu nói: "Nước Nhật không nên dính líu vào các cuộc tranh chấp của các liệt cường trên thế giới, nhưng phải làm tṛn bổn phận của một cường quốc về kinh tế đối với quốc tế". Chính sách đó đă được một số b́nh luận gia có tiếng tăm đặt cho cái tên "quân phiệt được ủy nhiệm" v́ "Nhật Bản biết kín đáo thiết lập những đường dây liên lạc chặt chẽ về kinh tế với các nước lân bang có quân đội vững mạnh. Nhờ vậy mà Nhật Bản đă trở nên một "trung tâm kinh tế" phồn thịnh trong khi đó th́ vẫn tiếp tục ủng hộ một ngoại diện có hệ thống quân sự mạnh.

      Thời gian càng trôi qua thi những kỷ luật đó lại càng trở nên khắt khe thêm như 3 nguyên tắc loại trừ nguyên tử được đề ra dưới trào thủ tướng Kishi: Nhật Bản sẽ "Không Có", "Không Chế Tạo" và "Không Tồn Trữ Vũ Khí Nguyên Tử" trên lănh thổ của Nhật Bản. Năm 1976, Chính phủ Miki cấm hẳn việc xuất cảng vũ khí và hạn chế ngân sách quốc pḥng là 1% tổng sản lượng quốc gia và như vậy là chính quyền Nhật Bản tự động hạn chế việc tăng gia thực ngạch của lực lượng tự vệ. Từ 1957 đến 1961 con số này là 255,600 người và đến 1986 là 272,000 người, nghĩa là chỉ có gia tăng khoảng vài ngàn người thôi. Hiệp ước ḥa b́nh San Francisco đă hợp thức hóa sự liên minh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản và đặt nước này dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Qua hiệp ước này, chính Hoa Kỳ tự làm một cái gông đeo vào cổ ḿnh, trong khi đó th́ Nhật Bản - khỏi bận tâm về chi phí quốc pḥng - tha hồ khuếch trương kinh tế và chỉ vài năm sau thôi đă nhảy lên địa vị số 1 về kinh tế trên hoàn cầu. Sau thập niên 60, sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản lại c̣n được siết chặt hơn nữa qua hiệp ước cứu trợ kư kết giữa 2 nước vào ngày 19 tháng giêng 1960 lại càng thuận lợi cho Nhật Bản hơn nữa: theo hiệp ước này th́ Hoa Kỳ sẽ tự động bảo vệ Nhật Bản trong trường hợp nước này bị tấn công bất th́nh ĺnh, nhưng khi Hoa Kỳ bị tấn công bất thần th́ không thấy đề cập đến vai tṛ của Nhật Bản sau đó. Hiệp ước cũng qui định là Hoa Kỳ không thể dùng những căn cứ của Hoa Kỳ trên đất Nhật để làm nơi xuất phát quân đội nếu không có sự đồng thuận của chính phủ Nhật Bản. Qua hiệp ước mới này, Nhật Bản được bảo đảm về sự bảo vệ của Hoa Kỳ, trong khi đó lại khỏi lo về gánh nặng chi phí quốc pḥng đè lên trên vai; đến độ các b́nh luận gia quốc tế đă đề cập đến vai tṛ "bảo hộ" của Hoa Kỳ đối với quốc gia Nhật Bản, nhưng cũng phải công tâm mà nói là hiệp ước này không chuyển nhượng cho Hoa Kỳ một chút quyền nào của một nước đô hộ.

          Đường lối ngoại giao này kéo dài hơn 40 năm và ông Tổng Giám Đốc Cơ Quan Tự Vệ của Nhật Bản đă tỏ ư rất hài ḷng khi nước của ông được chấp nhận là một thành viên của thế giới tự do. Ông ta nói: "Trong 40 năm đó, Nhật Bản đă sống trong ḥa b́nh và bảo toàn nền độc lập của nước họ, đồng thời thực hiện được một sự mở mang kinh tế vượt bực, sự việc trên đây chứng tỏ là về phương diện an ninh, Nhật Bản đă chọn đúng con đường của họ đă đi". Vậy th́ cần ǵ phải thay đổi nữa?

          4.Chủ Nghĩa Dân Tộc Nhật Bản Phục Hưng

      Khuynh hướng "Quân Quốc Chủ Nghĩa" lại càng được dân chúng ủng hộ nhất là sau khi trung úy phi công Belenko của Liên Xô đă dùng phi cơ B25 để t́m tự do vào năm 1976, bằng cách đáp chiếc máy bay này xuống phi trường Hokkaido ở miền Bắc nước Nhật mà không bị rađa của Nhật Bản phát hiện. Và qua năm 1978, tướng Kirisu, chủ tịch bộ tham mưu Liên Quân Nhật Bản đă chỉ trích không tiếc lời việc liên quân Nhật Bản sẽ vô phương chống đỡ nếu bị tấn công bất th́nh ĺnh. Lời chỉ trích trắng trợn này đă đưa đến hậu quả buộc lưỡng viện quốc hội Nhật Bản thành lập những ủy ban cứu xét t́nh trạng an ninh quốc gia và dẫn đến sự vận động xét lại và có thể đi đến việc hủy bỏ phần nào hiệp ước Mỹ - Nhật, và nếu không được như vậy th́ cũng cắt xén phần nào điều khoản 9 của hiệp ước Mỹ - Nhật. Đề nghị thay đổi điều 9 của hiệp ước đă được 58 dân biểu đồng kư tên và đệ tŕnh Hạ Viện vào năm 1982; ngoài số dân biểu nói trên c̣n có thêm hơn 100 nhân vật có tiếng tăm và uy tín trong xă hội Nhật Bản cùng kư tên vào bản kiến nghị này nữa. Lư do mạnh nhất được nêu trong kiến nghi này là khi kư hiệp ước này th́ số thu nhập của Nhật Bản chỉ bằng 8% số thu nhập của Hoa Kỳ mà thôi, giờ đây con số đó đă lên quá 50% rồi. Đồng thời ông Yasuhiro Nakasone lại được quốc hội chỉ định lên làm thủ tướng vào năm 1983, ông này trước đây là cựu Tổng Giám Đốc Cơ Quan Tự Vệ và cũng là người ủng hộ nhiệt thành đường lối "Quân Quốc Chủ Nghĩa".của các dân biểu Nhật Bản.

      Về phương diện kinh tế, Nhật Bản cũng lên tiếng đ̣i hủy bỏ điều khoản ghi trong hiệp ước với Đồng Minh cấm Nhật không được xuất cảng chiến cụ ra ngoại quốc. Sở dĩ từ trước tới nay, Nhật Bản không đề cập đến vấn đề này v́ khi ấy các trung tâm kỹ nghệ của họ không chịu nhận phiếu đặt hàng cho quân đội của bất cứ nước nào trên thế giới v́ nhận phiếu đặt hàng cho dân sự th́ họ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Nhưng nay v́ t́nh h́nh kinh tế khó khăn, và cạnh tranh th́ nhiều, nhất là Đại Hàn nên họ cần phải mở rộng thị trường nhất là thị trường về đóng tàu chiến và chế tạo vũ khí hữu hiệu như hỏa tiễn ASM 1 rất là chính xác. Chính sự đe dọa của Liên Bang Xô Viết là đầu dây mối nhợ của sự xoay chiều 180 độ này, nhưng được phụ họa thêm qua sự dấn thân của giới lănh đạo Nhật Bản. Sự phục hưng tinh thần yêu nước của quần chúng Nhật Bản có nhiều lư do bắt đầu từ việc phục hồi thầm lặng quá khứ oai hùng của dân tộc Phù Tang, nhưng đôi khi cũng rất lộ liễu như khi thủ tướng Nhật Bản lên tiếng ca ngợi "Khối Thịnh Vượng Chung của Vùng Đông Nam Á" mặc dầu khối này không mấy có cảm t́nh với các nước trong vùng đề cập trên đây. Việc chính phủ Nhật thủ tiêu tất cả sách giáo khoa đề cập đến hành động dă man tàn bạo của quân đội Nhật trên lục địa Trung Hoa bắt đầu từ năm 1937, khi Nhật Bản bắt đầu xâm lăng Trung Hoa dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Năm 1981, chính quyền Nhật Bản đă kích thích ḷng yêu nước của dân chúng bằng cách tổ chức một ngày tưởng nhớ đến đến các đảo trên miền Bắc bị Liên Xô cưỡng chiếm trước khi Nhật đầu hàng quân đội Đồng Minh mà nay cũng vẫn chưa chịu trả lại cho Nhật Bản mặc dầu nước này đă khiếu nại nhiều lần. Điểm cuối cùng là dân chúng Nhật Bản đặt vấn đề với chính phủ của họ là một khi Nhật Bản đă chiếm địa vị số 1 về kinh tế trên hoàn cầu thi không thể nào lại có một lực lượng quân sự đứng vào loại hai trên thế giới được.

      5. Mối Đe Dọa Của Liên Xô

      Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt cho đến đầu thập niên 1970, Nhật Bản luôn luôn nghĩ rằng họ vẫn có thể sống hài ḥa với tất cả các quốc gia lân bang tiếp cận với họ miễn là họ giữ đúng chủ trương đường lối của một nước trung lập, yêu chuộng ḥa b́nh. Nhưng vào thập niên 1970 - trước những hành động khiêu khích của Liên Xô - họ mới bắt đầu thấy rơ giờ đây Liên Xô có thể trở thành một kẻ thù nguy hiểm đối với họ trong tương lai khi họ có những hành động thân thiện đối với Trung Cộng. Thời điểm này là thời điểm Mao Trạch Đông sắp sửa ngả theo Hoa Kỳ, chống lại Liên Bang Xô Viết. Trong thời gian đó, Liên Xô đă có những hành động chống đối Nhật Bản ra mặt như từ chối việc trả lại những hải đảo ở miền Bắc nước Nhật mà Liên Xô đă chiếm đóng trước khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, và những vụ Không Quân Liên Xô xâm phạm liên miên không phận Nhật Bản (930 vụ vào năm 1983), bắt bớ các tàu đánh cá Nhật Bản cũng như tăng gia hoạt động của hạm đội Liên Xô trên vùng Bắc Thái B́nh Dương đă chứng minh cho Nhật Bản thấy Liên Xô giờ đây chỉ có chủ trương áp dụng biện pháp sức mạnh đối với nước của họ. Cho đến năm 1978, th́ Liên Xô vừa áp dụng biện pháp hăm dọa xen kẽ với những biện pháp xoa dịu đối với Nhật Bản; nhưng sau khi Nhật Bản kư kết hiệp ước thân thiện với Trung Cộng, th́ từ đó trở đi, Liên Xô đă bỏ hẳn chính sách xoa dịu đối với Nhật Bản. Qua những hành động hung hăng của Liên Xô, quần chúng Nhật Bản giờ đây mới ư thức được nguy cơ của một cuộc xâm lăng có thể đến từ bên ngoài để rồi cứ mỗi năm số người dân Nhật càng tăng thêm khi nghĩ đến họa xâm lăng có thể đến từ Liên Xô: 33% vào năm 1981 đối với 15% mười ba năm trước đó. Năm 1978, 74% dân chúng Nhật Bản trả lời họ không hề có thiện cảm đối với Liên Xô; nhưng đến năm 1983 th́ con số này tăng lên 84%. Việc dân chúng Nhật Bản chấp nhận ḥa ước an ninh Nhật Mỹ có lợi cho nước Nhật là 34% vào năm 1974, tăng lên 49% vào năm 1978, rồi 55% vào năm 1981, rồi 66% năm 1984. Trong khi đó các chính đảng Nhật Bản cũng chuyển hướng theo sự mong muốn của quần chúng về vấn đề an ninh của đất nước: Đầu thập niên 1970, các đảng đối lập đ̣i hủy bỏ hiệp ước an ninh kư kết với Hoa Kỳ, nhưng cho đến ngày nay th́ chỉ có đảng cộng sản là vẫn c̣n giữ nguyên lập trường này; c̣n các đảng khác th́ đồng ư về việc thành lập Lực Lượng Tự Vệ và duy tŕ hiệp ước từng kư kết với Hoa Kỳ.

      7.  Áp Lực Của Hoa Kỳ

      Khi ông Reagan lên nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ đầu thập niên 80, th́ chính phủ Cộng Ḥa của ông ta đă được quốc hội có đa số cộng ḥa ủng hộ, đă nhiều lần bỏ phiếu yêu cầu Nhật Bản tham gia vào việc chi tiêu về lănh vực an ninh quốc pḥng nhiều hơn nữa v́ càng ngày thiếu hụt về cán cân thương măi của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản càng ngày càng gia tăng: 9 tỷ mỹ kim mỹ kim năm 1979, 28 tỷ mỹ kim năm 1982 và 43 tỷ mỹ kim năm 1985.

      Theo ông Caspar Weinberger, bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng trong chính phủ Reagan th́ vai tṛ của quân đội Nhật Bản cần phải được gia tăng. Theo ông ta th́ từ 1982, Hoa Kỳ đă dùng cây dù nguyên tử, các lực lượng can thiệp cần thiết và bảo vệ các đường giao thông cần thiết cho Nhật Bản trong vùng Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái B́nh Dương. Nhưng nay th́ Nhật Bản phải tự bảo vệ các đường giao thông trong vùng Tây Bắc Thái B́nh Dương. Nhưng dù muốn hay không muốn, rồi đây Nhật Bản thế nào cũng phải chiều theo ư muốn của Hoa Kỳ v́ các tuyến giao thông của Nhật Bản với các nước bên ngoài đều hoàn toàn do đường thủy: Ba phần tư dầu hỏa dùng trong nước đều phải nhập cảng, 70% số lượng than đá, 90% quặng sắt dùng trong kỹ nghệ, 60% thực phẩm cũng đều do nhập cảng cả. V́ vậy vai tṛ ǵn giữ an ninh cho Nhật Bản đối với Hoa Kỳ rất là cần thiết v́ nếu Hoa Kỳ rút khỏi Nhật Bản th́ quốc gia này sẽ không chóng th́ chầy bị Nga hoặc Trung Cộng t́m cách gây ảnh hưởng ngay. Đối với Nhật Bản sự có mặt của Hoa Kỳ trên đất Nhật quá ư quan trọng khiến cựu thủ tướng Nhật Bản Nakasone đă ví nước Nhật của ông ta giống như một chiếc hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ, nhưng đặc biệt nhất là chiếc hàng không mẫu hạm này không có thể ch́m được. Lời tuyên bố này, có một thời, đă làm xôn xao dư luận Nhật Bản và quốc tế. Nhưng nghiệm cho cùng th́ lời tuyên bố của ông Nakasone, tuy nói ra sự thật, cũng có phần đúng. Cũng nhờ chiếc "hàng không mẫu hạm không thể ch́m này" mà giờ đây Hoa Kỳ đă hưởng được rất nhiều phát minh về kỹ thuật tối tân của ngành kỹ nghệ Nhật Bản như: sơn đặc biệt để sơn các phi cơ chiến đấu, tia laser, chất bán dẫn (semiconductor), máy tự động, phép đo điện tử, các loại hợp kim, các xơ quang học, những hợp kim mới, những ứng dụng về "thông minh nhân tạo"; tất cả đều thuộc về những lănh vực bí quyết mà Hoa Kỳ hằng ước mong t́m hiểu để sớm thực hiện chương tŕnh quân sự hóa không gian mà họ sắp thực hiện vào những năm đầu của thiên niên kỷ 2001.

      Từ cuối thập niên 1940 cho đến những năm giữa thập niên 1975, Hoa Kỳ rất hài ḷng về thái độ thụ động của Nhật Bản đă để mặc cho Hoa Kỳ rảnh tay tùy tiện muốn làm ǵ th́ làm tại Á Châu. Nhưng về lâu về dài, Hoa Kỳ mới nhận thấy họ đă phải trả một giá quá đắt khi phải đứng ra bao thầu an ninh cho Nhật Bản, mà nguồn lợi thu vào th́ chẳng được bao nhiêu. Kể từ tháng giêng 1980, bộ trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Harold Brown đă đặt thẳng vấn đề chi tiêu tốn kém với Nhật Bản và đề nghị Nhật Bản nên gia tăng ngân sách quốc pḥng lên 9.7%, mức tối thiểu có thể chấp nhận được. Nhưng rốt cục Nhật Bản chỉ tăng ngân sách quốc pḥng của họ lên tới mức tối đa là 7.6% thôi, và bị giới chức cao cấp trong chính phủ Hoa Kỳ chỉ trích nặng nề.

      Trong bản phúc tŕnh của các nhà chức trách cao cấp Nhật Bản và Hoa Kỳ có khẳng định rơ ràng như sau: "Trong một thế giới mà kỹ thuật tân tiến nhất có thể góp phần quyết định vào việc phát triển những hệ thống pḥng vệ mới, Nhật Bản và Hoa Kỳ - những nước đă lănh đạo kỹ thuật tiên tiến trên hoàn cầu - cần phải sát cánh nhau theo đuổi sự hợp tác trong lănh vực nghiên cứu và phát triển". Chính tổng thống Reagan và thủ tướng Nakasone đều hoàn toàn đồng ư với bản văn đăng trong tờ Herald Tribune ngày 18 tháng 9, 1984. Và sau dó, lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, cứ tăng đều hằng năm nhưng tăng ít (50,000 lính, + 3% mỗi năm từ 1980); những cuộc thao diễn giữa quân đội của hai nước được tổ chức hằng năm với sự tham gia của Hải Lục Không Quân; và sau 1985, th́ phi cơ F-16 của Hoa Kỳ đă có căn cứ thường trực trên đảo miền Bắc của Hokkaido. Nhưng vũ khí mà hiện nay Hoa Kỳ - h́nh như tránh né không muốn đề cập đến sợ người ta chú ư - đó là tàu ngầm nguyên tử chiến lược của Hoa Kỳ, một loại vũ khí dùng để cả pḥng ngự lẫn tấn công mà không có một nước nào trên thế giới có thể theo kịp, kể cả Nga v́ khó mà phát hiện được.

      7. Tàu Ngầm Nguyên Tử, Hàng Rào Hỏa Tiễn Chống Hỏa Tiễn của Hoa Kỳ.

           Ngày 5 tháng 3, 1946, ông Winston Churchill đă tuyên bố tại Fulton, Hoa Kỳ, rằng một "bức màn sắt" đă được kéo xuống giữa Đông Âu và Tây Âu; đồng thời tổng thống Truman cũng đă cương quyết tuyên bố rằng trong "trường hợp đặc biệt" ông ta có thể xử dụng đến bom nguyên tử. Lời tuyên bố của tổng thống Truman được dư luận báo chí Hoa Kỳ và giới quân sự ủng hộ mạnh mẽ về việc nên phát động một cuộc chiến tranh chớp nhoáng để hạ bệ Liên Xô, nhất là khi Hoa Kỳ đang c̣n giữ độc quyền về bom nguyên tử, và không quân Hoa Kỳ được tiếng là mạnh nhất hoàn cầu. Thế rồi trong những năm kế tiếp đó, lần lượt các nước Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi đều bị đặt dưới chế độ Cộng Sản, làm cho Hoa Kỳ và các nước Tây Âu lo ngại vô cùng.

           Ngày 6 & 9 năm 1945. Hai ngày quan trọng nhất đánh dấu một khúc quanh trong lịch sử nhân loại, với sự xuất hiện lần đầu tiên của vũ khí hạch tâm, làm thay đổi hẳn cách suy tư của con người trước và sau cuộc oanh tạc Hiroshima và Nagasaki . Lẽ dĩ nhiên những thay đổi đó không xuất hiện ngay, mặc dầu lúc đó nhân loại cảm thấy rất bàng hoàng trước sự tiêu hủy hai thị trấn lớn của Nhật Bản kéo theo sự chết chóc của hàng trăm ngàn thường dân vô tội. Và cũng không có ai có thể tưởng tượng rằng hai quả bom nguyên tử đó có thể đánh dấu sự chấm dứt cuộc thế chiến thứ hai đồng thời mở màn cho cuộc "chiến tranh lạnh" (The Cold War ) giữa hai thế giới Tự Do và Cộng Sản, kéo dài thêm 46 năm nữa!

           Đó cũng là lúc mà một số lớn phóng pháo cơ có tầm bay xa của Hoa Kỳ được các nước bạn Tây Âu chấp nhận cho lập căn cứ trên lănh thổ của họ bao quanh Liên Bang Xô Viết. Nhưng về lâu về dài sự có mặt của không quân Hoa Kỳ trên các lănh thổ bạn đă đặt ra cho giới quân sự cũng như cho các chính khách Hoa Kỳ một vấn đề điên đầu khác, mỗi khi có sự xáo trộn hay thay đổi chế độ chính trị tại các nước bạn có căn cứ không quân của Hoa Kỳ. Và cũng v́ vậy mà chiến lược quân sự của Hoa Kỳ phải uyển chuyển thay đổi với thời gian, nhất là khi các chuyên gia của Ngũ Giác Đài nhận thấy rằng Hải Quân Hoa Kỳ có một tiềm năng hoạt động vô cùng to lớn, khi được dùng làm dàn phóng các loại vũ khí nguyên tử. Ư định dùng biển cả làm dàn phóng vũ khí nguyên tử được cụ thể hóa qua đề nghị của ủy ban "Poseidon" vào năm 1957, và kể từ đó cho đến ngày nay, đối với các nhà quân sự Hoa Kỳ, đại dương - với hơn 14 triệu cây số vuông - đă trở thành những dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử vô cùng vĩ đại của họ.

      Dưới thời Stalin, dự tính của chính quyền Xô Viết là sản xuất 1200 chiếc tiềm thủy đỉnh, nhưng sau khi Krouchtchev lên nắm quyền th́ chỉ đóng được 240 chiếc thuộc loại "K" hay "Whisky" theo Tây Phương; và đến đợt sau, loại "Roméo", th́ chỉ sản xuất được có 20 chiếc thay v́ 560 chiếc được dự tính v́ thiếu hụt ngân sách. Chính Stalin - vào cuối thập niên 1940 - cũng đă nhận thấy tầm mức quan trọng mà nguyên tử và biển cả sẽ đóng một vai tṛ nổi bật trong tương lai, và đưa địa vị của tàu ngầm lên hàng đầu trong cuộc tranh chấp quyết liệt một mất một c̣n giữa hai khối thế giới Tự Do và thế giới Cộng Sản. Để bắt cho kịp Hoa Kỳ trong lănh vực này với nhiều năm cách biệt, Stalin đă phát động cấp kỳ một chương tŕnh quân sự trong lănh vực nguyên tử, hy sinh hẳn chương tŕnh phát triển kinh tế và tăng gia sản xuất của Liên Xô trong nhiều thập niên qua. Nhưng đây chỉ là một lối biện minh của các nhà kinh tế học Liên Xô để bào chữa cho sự thất bại của tất cả các chương tŕnh khuếch trương kinh tế của họ nói riêng và của toàn thể thế giới Cộng Sản nói chung, do căn bệnh trầm kha của chế độ tạo ra và cũng đă được ghi vào xương, khắc vào tủy của mọi người cán bộ Cộng Sản, đó là tham nhũng thối nát, buôn quan bán tước và bóc lột nhân dân đến tận xương tủy, không chút nương tay.

      Trong lịch tŕnh phát triển hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử, Hải Quân Liên Xô bao giờ cũng tụt hậu từ 4 đến 5 năm đối với Hải Quân Hoa Kỳ. Lúc tàu ngầm nguyên tử Nautilus của Hoa Kỳ bắt đầu hoạt động vào năm 1954, th́ tàu ngầm K3 của Liên Xô, tương đương với chiếc Nautilus, chỉ bắt đầu hoạt động vào năm 1958. Chiếc George Washington, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ được trang bị hỏa tiễn "Polaris" và hạ thủy năm 1960, c̣n chiếc K19 của Liên Xô, tương đương với chiếc George Washington, th́ đang được thử máy cũng trong năm ấy. Tuy nhiên, măi cho đến năm 1967, th́ Liên Xô mới có được tàu ngầm phóng hỏa tiễn loại "Yankee", nhưng Liên Xô vẫn không chế được loại hỏa tiễn có nhiên liệu đặc như hỏa tiễn "Polaris" của Hoa Kỳ và đành phải dùng nhiên liệu lỏng rất là nguy hiểm cho sự an toàn của tàu ngầm và tầm hỏa tiễn của Liên Xô chỉ đi xa tối đa 3000 cây số. Thành thử muốn phóng hỏa tiễn vào những mục tiêu trên nội địa Hoa Kỳ, th́ tàu ngầm Liên Xô phải vượt qua bao nhiêu hàng rào chống tàu ngầm đặt dưới biển, đồng thời phải tránh cho được sự phát hiện của các tàu tuần tiểu Hải Quân và Không Quân được trang bị những máy móc tối tân nhằm mục tiêu phát giác sự hiện diện của những tàu ngầm lạ đang xâm nhập hải phận Hoa Kỳ.

      Trong đợt hai về loại tàu ngầm phóng hỏa tiễn của Liên Xô - loại Delta - th́ mỗi tàu mang được 12 hỏa tiễn liên lục địa có thể từ Liên Xô bắn tới nội địa Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ Liên Xô đă chế được nhiên liệu đặc, nhưng phải mất một thời gian khá dài mới đạt được kết quả mong muốn. Vẫn theo lời tuyên bố của chính quyền Xô Viết th́ đến năm 1981 - với sự xuất hiện trong đợt ba - của loại tàu ngầm Typhoon, th́ lực lượng về phẩm cũng như về lượng của Hoa Kỳ và Liên Xô tương đương nhau. Nhưng theo ư kiến của các chuyên gia Tây Phương về Hải Quân, tàu ngầm của Hoa Kỳ bỏ xa Liên Xô trong hai lănh vực vũ khí và phát hiện, v́ tàu ngầm của Hoa Kỳ - hầu như không có tiếng động khi di chuyển, nên rất khó bị phát giác. Hơn thế nữa, tàu ngầm Hoa Kỳ chỉ dùng phương pháp lắng nghe thụ động để t́m tàu địch chứ không dùng hệ thống phản âm để ḍ tung tích đối phương cho nên không bị tàu địch phát hiện. Về lănh vực này, vào cuối thập niên 70, Hoa Kỳ đă "gạt" Liên Xô bằng cách bán cho công ty điện tử Toshiba của Nhật một hệ thống "tối tân" máy móc để trang bị cho tàu ngầm chạy cho khỏi kêu, với điều kiện là không được bán tài liệu này cho bất cứ một quốc gia nào, nhưng với dụng ư là để cho công ty Toshiba bán lén lại cho Liên Xô. Và "cá Liên Xô" đă cắn phải lưỡi câu của "ngư ông Hoa Kỳ"; nhưng sau đó th́ Hoa Kỳ - giả bộ làm rùm beng - việc công ty Toshiba đă bội ước lời cam kết và đ̣i kiện hăng này. Thế rồi chuyện ǵ phải đến đă đến. Vài năm sau, nhà nghiên cứu nổi tiếng Hoa Kỳ , ông T. Stefanik - sau khi nghiên cứu kỹ càng và tỷ mỹ về thành tích của hai chiếc tàu ngầm tối mật Los Angeles (Hoa Kỳ) và Victor III (Liên Xô) đă công bố kết quả sưu tầm của ông ta như sau: trong những điều kiện hàng hải tương tợ về chiều sâu tối đa, tàu ngầm của Hoa Kỳ bị phát hiện khi tàu săn cách chiếc tàu này khoảng từ 1 đến 25 hải lư. C̣n đối với tàu ngầm của Liên Xô th́ khoảng cách bị tàu săn phát hiện là từ 20 đến 500 hải lư; nếu nói một cách nôm na th́ tàu ngầm của Liên Xô - khi xê dịch - phát ra tiếng động ồn ào không khác ǵ người ta khua một chiếc thùng thiếc rỗng. Không biết sau vụ nghiên cứu của ông T. Stefanik, t́nh báo Hoa Kỳ có ngầm thưởng cho công ty Toshiba của Nhật Bản một ít "tiền c̣m" hay không? Thế rồi cách đây hai năm, Trung Cộng lại làm tṛ cười cho toàn thế giới bằng cách ra lệnh cho một chiếc tàu ngầm của họ - mua lại của Nga - theo dơi một chiếc hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đang di chuyển trong vùng Hoàng Hải, giữa Đại Hàn và Nhật Bản. Tiếng động của chiếc tàu ngầm Trung Cộng quá to trong máy nghe của chiếc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ khiến chuyên viên kiểm thính của tàu này phải vặn bớt cường độ của ống nghe để khỏi bị đinh tai nhức óc, một hành động ngược lại làm cho mọi người đều ngạc nhiên khi thấy khả năng kỹ thuật của Nga và Trung Cộng - đàn anh trong khối Cộng Sản - lại quá tầm thường như vậy.

      Nếu một cuộc chiến tranh nguyên tử được phát động từ một căn cứ chỉ huy của một trong hai quốc gia đặt trên không gian hay trong một tàu ngầm nguyên tử chiến lược phóng hỏa tiễn ẩn sâu dưới ḷng biển cả, th́ chiến tranh sẽ được chấm dứt sau khi dàn hỏa tiễn đầu tiên được khai hỏa. V́ theo máy tính của các chuyên gia Hoa Kỳ cũng như Liên Xô lúc bấy giờ, th́ hỏa lực của một chiếc tàu ngầm chiến lược được trang bị hỏa tiễn có mang đầu đạn nguyên tử cũng đủ để tiêu diệt hoàn toàn mọi sự sống trên quả đất này. V́ ư thức được nguy cơ do tàu ngầm phóng hỏa tiễn gây ra cho cả đôi bên nên Liên Xô và Hoa Kỳ bắt buộc phải cùng nhau thương thuyết để đi đến việc hạn chế sản xuất một số lượng nhất định về loại tàu ngầm này. Cả hai quốc gia đă đi đến việc kư kết thỏa ước SALT-1, qui định mỗi bên chỉ được quyền sản xuất tối đa 41 tàu ngầm loại này, mỗi chiếc trang bị 16 hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử.

      Tuy nhiên thỏa ước SALT-1 vẫn không ngăn chận được cuộc chạy đua vơ trang được mệnh danh "Chiến Tranh Không gian" được phát động dưới trào tổng thống Reagan và phương pháp hữu hiệu nhất để pḥng ngừa việc xử dụng vũ khí hạch tâm là phải cho tàu ngầm tuần thám thường xuyên trên biển cả. Trong thập niên 80, Hải Quân Hoa Kỳ đă đặt ra một hệ thống tuần pḥng và đồn trú ngay dưới ḷng đại dương để pḥng bị trường hợp Liên Xô trở mặt tấn công bất ngờ Hoa Kỳ; và kể từ đó, lực lượng tàu ngầm chiến lược loại "Trident" đều được trang bị 24 hỏa tiễn, mỗi hỏa tiễn mang một số đầu đạn nguyên tử được điều khiển tự động. Để xác quyết những tính toán của các chuyên gia thuộc hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô thời bấy giờ, chúng ta cũng nên t́m hiểu thành tích của một trong những tàu ngầm "quái vật" nguyên tử khổng lồ này, chiếc tàu ngầm thuộc loại "OHIO" của Hải Quân Hoa Kỳ. Chiếc tàu này dài 170 mét và rộng 12,8 mét, có tầm nước 18 700 tấn. Công suất 60 000 mă lực của ḷ phản ứng hạt nhân của loại tàu này đă đưa tốc độ tàu lên đến 25 hải lư một giờ, và lặn sâu tối đa là 300 mét. Thủy thủ đoàn trên tàu gồm có 170 người kể cả 16 sĩ quan. Điều quan trọng là vũ khí của tàu này. Những ống phóng hỏa tiễn của một chiếc tàu "Ohio" này không thôi, có hỏa lực mạnh bằng hỏa lực được xử dụng trong 8 cuộc đệ nhị thế chiến. Khi một chiếc tàu ngầm "OHIO" phóng hết tất cả dàn hỏa tiễn mà họ mang theo, th́ khi đó trên quả đất này mọi sinh linh đều tiêu diệt và chỉ c̣n lại "mùa đông nguyên tử".

      Từ 1990, những chiếc tàu ngầm này đều được trang bị 24 hỏa tiễn liên lục địa "Trident II", mỗi hỏa tiễn mang từ 9 đến 14 đầu đạn nguyên tử, mỗi đầu đạn có công suất 475 kilô-tấn. Chỉ một hỏa tiễn cũng đủ biến một vùng rộng bao la bát ngát thành một biển lửa kinh hoàng. Tầm đạn đạo của một hỏa tiễn đi xa 11,000 cây số với độ chính xác sai khoảng 100 mét, nên được dùng để tiêu hủy - bất cứ ở nơi đâu - các hầm phóng hỏa tiễn của địch. Thành thử công dụng hữu hiệu nhất của loại hỏa tiễn này là phá hủy ngay các dàn phóng hỏa tiễn của địch trước khi địch có đủ thời giờ để phóng hỏa tiễn qua bên đất của ta.

      Để đối phó lại loại tiềm thủy đỉnh "OHIO" của Hoa Kỳ - trong thập niên 1980 - Liên Xô đă bí mật chế ra loại tiềm thủy đỉnh "TYPHOON", được đặc biệt trang bị để có thể hoạt động dưới băng sơn ở miền Bắc Băng Dương. Dài 170 mét, rộng 25 mét và cao 26 mét (không kể dây trời và tiềm vọng kính), loại "Typhoon" này có một tầm nước đặc biệt 25,000 tấn. Đó là loại tàu ngầm lớn nhất được chế tạo trên hoàn cầu này và chiếm một diện tích lớn gần bằng 2 sân đá banh. Nhưng có một điểm mà ít ai lưu ư đến, là trong ngành chế tạo tiềm thủy đỉnh, kỹ thuật đóng tàu càng cao th́ tàu được chế ra lại càng nhỏ và càng hữu hiệu. Sở dĩ kỹ thuật đóng tàu của Liên Xô đang c̣n thô sơ nên họ không thể nào chế tạo được những chiếc tiềm thủy đỉnh nhỏ và hữu hiệu như của Hoa Kỳ, nên bắt buộc họ phải đóng những chiếc tàu lớn dễ bị phát hiện lúc lặn sâu dưới ḷng biển cả. V́ tàu này quá lớn và để cho được an toàn khi lặn sâu dưới biển, nên thân tàu có hai vỏ bằng chất titanium và có đường kính vào khoảng 10 mét. Tàu ngầm này được trang bị 2 bộ ắc quy, mỗi bộ có công suất 190 ngàn watts và 2 tua bin 80,000 mă lực mỗi một chiếc dùng để vận chuyển tiềm thủy đỉnh có thể lặn sâu mà vẫn giữ tốc độ 30 hải lư/giờ. Loại tiềm thủy đỉnh này có thể làm vỡ mặt băng dày hơn một mét để nổi lên trên mặt bể vùng Bắc Cực, hoặc có thể lặn sâu hàng trăm mét dưới bể trong khoảng thời gian vô hạn định. Đời sống của thủy thủ trong tiềm thủy đỉnh này giống như trong một cao ốc 6 tầng. Thủy thủ đoàn gồm có 50 sĩ quan, 80 hạ sĩ quan và 40 thủy thủ, được phân phối trong những pḥng có từ 2 đến 4 giường, có bàn rửa mặt, máy điều ḥa không khí, có TV, video, có kệ để sách và một bàn giấy. Ngoài ra trong tàu cũng có hồ bơi và có cả lồng chim nuôi các con vẹt.

      Lần đầu tiên trong lịch sử tiềm thủy đỉnh của Liên Xô, những tàu ngầm này giờ đây mới được trang bị hỏa tiễn có nhiên liệu đặc. Mỗi tàu ngầm có 20 hỏa tiễn RMS52, mỗi hỏa tiễn nặng 100 tấn, cao 16 mét và có đường kính 2.5 mét và có thể phá hoại một mục tiêu cách xa 9000 cây số. Có một điểm mà giới đóng tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô tránh né không dám nói ra là - thay v́ rút những khuyết điểm được phát hiện trong những tàu ngầm được đóng trước đây để mà tránh phạm phải những lỗi lầm cũ - chiếc "Typhoon" tối tân này, vẫn được ban vẽ kiểu giữ y nguyên những lỗi lầm cũ. Một số chuyên viên về tàu ngầm nguyên tử đă thấy được những khuyết điểm nêu trên từ lâu, nhưng không dám nói ra v́ sợ mang họa vào thân, trong đó có Phó đô đốc Nicolai Mormoul. Theo họ th́ v́ kỹ thuật đóng tàu ngầm của Liên Xô kém nên họ không thể đóng tàu ngầm nhỏ mà thành tích hữu hiệu giống như tàu ngầm Hoa Kỳ; v́ vậy bắt buộc họ phải đóng tàu ngầm lớn, nặng nề th́ mới có thể coi như hữu hiệu như tàu ngầm nhỏ nhưng bền chắc của Hoa Kỳ. Thế rồi kết luận "ngầm" của giới chuyên gia Liên Xô là chính quyền Xô Viết đóng những tàu ngầm vĩ đại này với mục đích giúp cho tàu ngầm Hoa Kỳ dùng những chiếc tàu ngầm khổng lồ này làm "tàu mục tiêu" để Hoa Kỳ có tàu dùng huấn luyện chuyên viên tàu ngầm của họ. Trong giai đoạn thử máy của loại tàu ngầm khổng lồ này, các chuyên viên phát hiện vô số khuyết điểm nhất là về tiếng động quá lớn khi tàu này di chuyển, có thể nói mười mấy lần lớn hơn dự trù, đó là chưa kể những ống phóng ngư lôi lại không đúng cỡ với ngư lôi. Tuy nhiên ban tiếp thu vẫn chấp nhận cho thông qua tất cả mọi khuyết điểm và biên bản tiếp thu tàu ngầm này là một chuỗi dài "bốc thơm" những tai to mặt lớn của chính quyền Liên Xô có dính líu không nhiều th́ ít đến việc sản xuất loại tàu này, để sau này họ được nhà nước Liên Xô cho huy chương ban khen, kể cả tưởng thưởng về hiện kim nữa! Thế rồi phải chờ đến khi đóng xong chiếc tàu ngầm "Typhoon" thứ 6 - và có sự vận động tận lực - của thống chế Ogarkov và đô đốc Amelko mới đ́nh chỉ hẳn việc đóng những chiếc tàu ngầm khổng lồ và tốn kém này. Trong khi đề cập đến hiểm họa do những chiếc tàu ngầm này gây nên, ông C. Eggert, Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ đă cho biết ư kiến của ông như sau: "Tôi nghĩ rằng mọi ngành trong quân đội Liên Xô chỉ là một nguồn chi tiêu ngân quỹ vĩ đại hơn là một đe dọa đối với thế giới bên ngoài. Đó là một gánh nặng mà nhân dân Nga phải gánh chịu và cũng là một trở ngại rất lớn trong việc phát triển đất nước của họ". Và có người hài hước nêu ra ư kiến - muốn biết rơ kỹ thuật thực sự về ngành Hải Quân của quân đội Liên Xô - chỉ cần nh́n vào việc một anh chàng người Đức trẻ tên Mathias Rust, đă vượt qua những dàn rađa bao quanh Liên Xô, và cho chiếc phi cơ của hắn ta đáp xuống ngay "Công Trường Đỏ", giữa thủ đô Mạc Tư Khoa mà không bị lực lượng pḥng không của Liên Xô, dưới trào Brejnev, phát hiện và báo động.

      Từ 1963 đến nay, Hải Quân Hoa Kỳ mất 2 chiếc tàu ngầm nguyên tử, chiếc thứ nhất Thresher ch́m ở ngoài khơi Mỏm Cod ngày 10 tháng 4, 1963. Chiếc thứ hai là chiếc Scorpion, biệt tăm từ khoảng 21 đến 27 tháng 5, 1968 cách Tây Nam quần đảo Acores khoảng 400 hải lư. Và từ bấy đến nay không có một chiếc tàu ngầm nguyên tử nào bị mất tích thêm nữa.

      Tại sao Hoa Kỳ chỉ có 2 chiếc tàu ngầm bị mất tích, và sau 1968 th́ không có chiếc tàu ngầm nào bị đắm nữa; trong khi đó th́ hạm đội tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô rồi đến Nga vẫn bị hoặc đắm hoặc mất tích dài dài cho đến những năm gần đây? Lư do đơn giản và rất dễ hiểu là v́ Hoa Kỳ biết sửa chữa ngay những sai lầm trong khi đóng những tàu mới của họ; c̣n Liên Xô th́ v́ các chuyên viên đóng tàu muốn tranh thủ thời gian để được cấp trên khen thưởng, chứ họ không bao giờ chịu lưu ư đến vấn đề an ninh của thủy thủ đoàn điều khiển chiếc tàu !

      Trong 40 năm qua, càng ngày người ta thấy càng nhiều tàu chạy bằng nguyên tử qua lại trên biển cả, ở khắp năm châu. Từ đầu thập niên 50 cho đến nay, Liên Xô đă đóng 235 tiềm thủy đỉnh nguyên tử, đó là chưa kể hơn 300 tiềm thủy đỉnh chạy bằng dầu cặn, cộng thêm 2 tuần dương hạm hạng nặng mang dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử và 6 chiếc tàu phá băng nguyên tử. Về phía Hoa Kỳ đă sản xuất 150 tiềm thủy đỉnh nguyên tử và 18 tiềm thủy đỉnh chạy bằng dầu cặn, 6 hàng không mẫu hạm và 9 tuần dương hạm, tất cả đều chạy bằng nguyên tử. Anh quốc có 18 tiềm thủy đỉnh nguyên tử trong đó có 4 chiếc được trang bị dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử; Trung Cộng có 10 chiếc tiềm thủy đỉnh mua lại của Liên Xô và Pháp có 9 tiềm thủy đỉnh nguyên tử. Trái lại hạm đội tàu ngầm nguyên tử của Nga (từ Liên Bang Xô Viết cho đến nước Nga ngày nay) đă có 8 chiếc tàu ngầm nguyên tử bị đắm, lẫn mất tích:

      Ngày 11 tháng 4, 1968 một chiếc tàu ngầm nguyên tử trang bị 5 hỏa tiễn nguyên tử, mất tích trên Thái B́nh Dương, cách đảo Hawaii 750 hải lư về hướng Tây Bắc. Cũng trong năm này, một chiếc tàu ngầm khác có trang bị 4 hỏa tiễn nguyên tử, đă mất tích về mạn Đông Bắc của Đại Tây Dương.

       Ngày 12 tháng 4, 1970, cách bờ bể Bretagne của nước Pháp khoảng 700 hải lư. Cũng trong ngày ấy, một tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô bị mất tích trong vùng Đông Bắc Đại Tây Dương, tàu này có trang bị 4 hỏa tiễn nguyên tử.

      Vào tháng 6, 1983 một chiếc tàu ngầm có trang bị 8 hỏa tiễn nguyên tử đă bị mất tích ngoài khơi bán đảo Kamtchatka.

      Ngày 4 tháng 10, 1986 một chiếc tàu ngầm nguyên tử khác của Liên Xô có trang bị hỏa tiễn nguyên tử, đă ch́m trong vùng Đông Bắc của vùng Bermuda, Thái B́nh Dương.

      Ngày 7 tháng 4, 1989 tiềm thủy đỉnh nguyên tử có trang bị hỏa tiễn nguyên tử, chiếc Komsomolets đă ch́m cách bờ bể Na Uy 150 hải lư, về phía Tây Nam đảo Medvezhy.

      Và chiếc tiềm thủy đỉnh nguyên tử Kursk đă bị đắm v́ ngư lôi nổ trong một cuộc tập trận trong vùng hải cảng Mourmansk thuộc miền Bắc nước Nga vào cuối năm 2000.

          Trong đám sĩ quan hải quân cao cấp của ngành tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, đặc biệt có Phó Đề Đốc Nicolai Mormoul là người có gan lỳ và có công tâm vạch ra tất cả những khiếm khuyết do ông ta phát hiện trong khi ông làm nhiệm vụ tiếp nhân những tàu ngầm nguyên tử vừa mới đóng xong. Cũng v́ ông ta là một người trực tánh và không sợ nói thật, nên ông ta đă mang họa vào thân mặc dầu anh em bè bạn thân thiết trong giới Hải Quân đă nhiều phen khuyên ông ta không nên quá thẳng thắn trong việc bới lông t́m vết khi ông ta đứng ra tiếp nhân những chiếc tàu ngầm nguyên tử vừa mới đóng xong, v́ làm như vậy - không trước th́ sau - thế nào ông ta cũng sẽ bị tập đoàn Mafia quân đội và chuyên gia kỹ thuật lập kế hại ngầm v́ ông ta đă cản trở việc "làm ăn" của chúng. Thế rồi việc ǵ phải đến đă đến với Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul.

          Tập đoàn Mafia quân đội và chuyên gia kỹ thuật Nga đă ngấm ngầm vận động Bộ Chính Trị trong quân đội vu khống cho Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul tội ăn cắp rượu cồn của quân đội - nhưng không có bằng chứng - tuy nhiên ông ta vẫn bị ṭa án tuyên án 10 năm tù ở và bị tước mọi chức tước trong quân đội, vào năm 1983, dưới trào Andropov làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô. Chính quyền đă phải triệu tập ṭa án xét xử Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul trong một nhà lao để không cho phóng viên báo chí theo dơi. Và phải đợi đến khi Gorbatchev lên cầm quyền, và với sự vận động không ngừng của bạn bè trong quân ngũ cũng như giới khoa học gia có tên tuổi trong lănh vực khoa học quốc tế, ông ta mới được phóng thích trước thời hạn qui định trong bản án, vào ngày 2 tháng 3, 1989 sau khi nằm trong nhà tù 5 năm 4 tháng và 5 ngày, theo lời tuyên bố chua chát của ông ta với báo chí. Sau khi ra tù, cựu phó đề đốc Nicholai Mormoul bị tước hết chức tước trong quân đội và đành phải đi làm nghề thợ điện thường tại hải cảng Mourmansk để kiếm tiền nuôi sống gia đ́nh mặc dầu ông ta là một khoa học gia có tên tuổi trên trường quốc tế, trong lănh vực khoa học nguyên tử. Khi được báo chí phỏng vấn, cựu phó đề đốc Nicholai Mormoul cho biết là đă đến lúc tôi thấy cần phải lên tiếng. Sở dĩ trước tháng 8, 1991, tôi sống trong t́nh trạng của một tù nhân được phóng thích trước thời hạn và có thể bị bắt trở vào tù lại bất cứ lúc nào. Nhưng nay thời hạn đó đă triệt tiêu rồi và tôi phải lên tiếng v́ tôi đă từng tuyên thệ trung thành với đồng bào tôi, chứ không phải trung thành với lũ người lănh đạo đất nước vô trách nhiệm. Năm năm sống trong ngục tù đă giết chết mọi sợ sệt trong tôi v́ tôi thấy những kinh nghiệm bản thân tôi có thể giúp ích cho những thế hệ tới đây kể cả cho tất cả nhân loại nữa. Tôi phải lên tiếng để vinh danh cho những bạn đồng ngũ của tôi đă bỏ ḿnh trong vô số tai nạn đă xảy ra trong hạm đội tiềm thủy đỉnh của Liên Xô. Tôi tưởng nhớ đến những người bạn đă âm thầm bỏ ḿnh trong thầm lặng được nhà cầm quyền bưng bít và dấu kín đến nỗi măi cho đến ngay nay tên tuổi của họ không hề được ghi trên bất cứ một đài kỷ niệm nào trên đất nước này. Họ đă chết v́ họ là nạn nhân của sự bất cẩn, sự thờ ơ của nhà cầm quyền. Muốn ư thức được sự can đảm vô bờ bến của những người thủy thủ vô danh này, ta cần phải luôn luôn ghi nhớ là họ đă phải sống trong một môi trường được bao bọc bởi những tia phóng xạ nguyên tử, mà nếu quá mức sẽ trở thành những tia phóng xạ giết người.

      Kể từ tháng 8, 1945 tên Hiroshima - một thị trấn Nhật Bản đă bị tiêu hủy v́ bom nguyên tử - đă trở thành tên của đơn vị phóng xạ giết người. Quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima đă giết chết 138,700 người; chưa kể đến hàng chục ngàn nạn nhân bị nhiễm phóng xạ của quả bom nguyên tử này. Rồi đến tháng 4, 1986 vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl tại Liên Xô đă biến một vùng đất có 5 triệu cư dân thành một vùng bị tia phóng xạ làm ô nhiễm và nguy hiểm cho tánh mạng của cư dân trong nhiều thập niên tới đây. Chỉ riêng cho năm 1992, đă có 12,000 người bỏ ḿnh v́ nhiễm độc của tia phóng xạ; đó là chưa kể trong 600,000 người đứng ra cứu trợ nạn nhân th́ hết 200,000 đă bị coi như nhiễm xạ rất nặng.

      Đối với Liên Xô, chiến cụ thuộc vào loại sản phẩm đặc biệt ưu tiên. Trong thời gian gần 70 năm qua, nền kinh tế của đất nước đă bị hy sinh cho ngành quốc pḥng. Mặc dầu dưới triều đại Brejnev, chính quyền Liên Bang Xô Viết vẫn luôn luôn rêu rao là cần phải có chính sách tiết kiệm về kinh tế, nhưng khi đề cập đến nền kỹ nghệ quốc pḥng th́ mọi tiêu chuẩn sinh lợi đều bị gạt bỏ. Cứ lấy một thí dụ cụ thể th́ rơ: việc bảo tŕ toàn bộ một tiềm thủy đỉnh phải tốn từ 25 đến 32 triệu đồng Rúp (đơn vị tiền tệ của Liên Xô ), trong khi đó th́ đóng một chiếc tiềm thủy đỉnh mới chỉ tốn vào khoảng 36 triệu đồng Rúp thôi.

      Cho đến giờ phút này, tất cả mọi chiến cụ đều được nghiên cứu trong hàng trăm văn pḥng hoặc viện nghiên cứu gồm toàn tinh hoa trong giới kỹ sư và chuyên viên. Hàng ngàn tổ chức kinh doanh được chính quyền giao phó công tác nghiên cứu tất cả mọi loại chiến cụ sẽ được xử dụng, bất chấp vấn đề sinh lợi, thời giá hay giá vốn v́ tiêu chuẩn của chiến cụ luôn luôn phải là hạng nhất. Trên lư thuyết, một hệ thống chọn lựa và kiểm soát chi ly như vậy nhất định phải giảm thiểu tối đa những sự rủi ro có thể xảy đến. Nhưng trong thực tế th́ sự thật rất là phũ phàng v́ hàng trăm tai nạn đă xảy ra trên các tiềm thủy đỉnh nguyên tử của Liên Xô và 8 chiếc đă bị ch́m; đó là chưa kể hàng trăm thủy thủ sống dở chết dở v́ bị nhiễm xạ nặng, trong khi đó th́ thiệt hại vật chất lên đến hàng tỷ đồng Rúp.

      Sau khi 2 chiếc tiềm thủy đỉnh của Hoa Kỳ là chiếc Thresher và chiếc Scorpion bị đắm th́ các kỹ sư Liên Xô G. Lissov và A. Narousbaiev rồi đến Viện Hải Quân Liên Xô đă có ấn hành 2 quyển sách nghiên cứu về tai nạn xảy đến cho hai chiếc tiềm thủy đỉnh này và kết luận của họ là Hoa Kỳ - "v́ muốn tranh thủ thời gian để giảm bớt phí tổn - nên đă khiếm khuyết trong việc chú trọng đến sự an toàn của thủy thủ đoàn". "Rất tiếc là Liên Xô - nói th́ hay mà vỗ tay th́ dở - v́ Liên Xô cũng phạm những lỗi lầm ghi trên đây của Hoa Kỳ - v́ không ai dám lên tiếng báo động với thượng cấp v́ sợ mang họa vào ḿnh như bản thân của tôi đây", và đó là lời kết luận của cựu phó đô đốc Nicholai Mormoul, nay chỉ c̣n là một anh thợ điện - sau khi măn tù - v́ ông ta đă bị chính quyền Liên Xô tước hết chức tước và ngay cả huy chương "Anh Hùng Dân Tộc Liên Xô" của ông ta.

      Với Hoa Kỳ, không bao giờ hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử lại được trang bị một hải cảng mật như ở Liên Xô v́ họ thấy không cần thiết. Biển cả khắp hoàn cầu với hơn 14 triệu cây số vuông cũng đủ dư sức để cho cho họ tiềm phục mấy chục chiếc tiềm thủy đỉnh chiến lược - hầu như không có tiếng động - ở dưới ḷng đại dương, khắp mọi nơi trên thế giới, một cách an toàn, v́ Nga không có đủ phương tiện vật chất để phát hiện sự có mặt của họ. Nếu vạn nhất có xảy ra chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nga, th́ chỉ trong những phút đầu thôi, những đầu đạn nguyên tử của Hoa Kỳ đă biến tất cả các tàu ngầm - khua ồn ào như thùng rỗng của Nga, các hầm chứa hỏa tiễn nguyên tử trên đất liền của Nga thành ra tro bụi và nước Nga - khi đó đă trở thành hoang địa - th́ c̣n đâu có cơ hội để gọi là trả đũa lại Hoa Kỳ ? Cho đến giờ này, hải quân của nước Nga có được 6 tiềm thủy đỉnh loại "Typhoon" bắt đầu hoạt động kể từ tháng 9, 1980; so với Hoa Kỳ có 12 chiếc "Ohio". Hải cảng riêng cho loại tàu ngầm "Typhoon" đặt tại Nerpitchia, cách Zapadnaia Litsa 14 cây số, gần hải cảng Mourmansk. Và điểm đặc biệt là địa danh Nerpitchia không được ghi trên bản đồ hàng hải của Nga.

      Năm 1982, trước khi đô đốc Hymen Rickover về hưu, Quốc Hội Hoa Kỳ có thảo luận một đạo luật tặng cho chức đô đốc Hải Quân của ông thêm một ngôi sao thứ năm nữa và nếu Hoa Kỳ có dự trù đóng thêm một chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử nữa, th́ chiếc đó sẽ được mang tên của ông. Và đứng trước Quốc Hội Hoa Kỳ, ông đă can đảm tŕnh bày nội tâm xao xuyến của ông trước hiểm họa nguyên tử trong tương lai. Ông nói: "Tất cả chúng ta đều quên rằng chúng ta đang chuẩn bị gieo một tai ương cho nhân loại mà chỉ cứu văn được khi chúng ta chấm dứt, không c̣n sản xuất tất cả các loại vũ khí nữa. Và nếu thượng đế ban cho tôi cái quyền đó, th́ tôi sẽ ra lệnh đánh đắm tất cả các tiềm thủy đỉnh do tôi chế tạo, không chừa lại một chiếc nào. Phải thành thật mà nói, tôi không hănh diện tư nào cả về thời gian dài tôi ở trong quân ngũ của Hải Quân Hoa Kỳ!" Dưới sự điều khiển tích cực của đô đốc Rickover, cha đẻ của hạm đội tàu ngầm nguyên tử Hoa Kỳ - vào cuối thập niên 1950 - tàu ngầm nguyên tử Hoa Kỳ đă thực hiện 6 hải vụ dưới băng của Bắc Băng Dương, ngoài b́a hải phận của Liên Xô. Và đô đốc Rickover - trong suốt thời gian ông tại ngũ - vẫn luôn luôn chủ trương phái tàu ngầm lên thám hiểm Bắc Băng Dương, để nghiên cứu khả năng dùng tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn tấn công Liên Bang Xô Viết, đó là chưa kể cứ mỗi chiếc tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đi ra khỏi hải phận của nước này đều bị tàu ngầm của Hoa Kỳ theo dơi ngày đêm từ hơn 40 năm nay rồi. Và hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử của Hoa Kỳ, hiện nay, có thể được coi như là vũ khí dùng để tấn công cũng như để pḥng vệ hữu hiệu và nguy hiểm nhất của nước này.

      8. Hợp Tác Kinh Tế Để Đối Đầu Khối Ả Rập Hồi Giáo

      Một năm trước khi Bill Clinton măn nhiệm kỳ thứ hai, Putin đă đi thăm viếng 23 quốc gia trước đây đă từng "chịu ơn mưa móc" của Liên Bang Xô Viết và đi đến bất cứ nơi nào ông ta cũng vẫn nhai đi nhai lại bài bản đă từng sắp xếp để chỉ trích Hoa Kỳ không tiếc lời. Sở dĩ Putin mạnh miệng bêu xấu Hoa Kỳ như vậy là Mật Vụ KGB thế nào lại chẳng trao cho ông ta tài liệu về đời tư - lúc thiếu thời - của Bill Clinton khi ông ta được KGB mời qua tham quan Mạc Tư Khoa và được cơ quan Mật Vụ KGB bố trí cho ăn ở mười hôm tại khách sản lớn nhất của thủ đô Liên Xô. Và với một con dê cụ háu đá như Clinton th́ việc ǵ mà KGB cần phải làm trong nghề của họ th́ tất cả mọi người đều biết hết cả rồi. Cho nên mấy mươi năm sau đó, tha hồ cho Putin cứ việc ra rả chỉ trích Hoa Kỳ trong chuyến đi thăm 23 quốc gia vừa đề cập trên đây th́ phản ứng của Clinton là im thin thít, không dám bứt dây v́ sợ động rừng. Nhưng đến khi George W. Bush được bầu lên làm tổng thống Hoa Kỳ, th́ Putin đổi ngay thái độ và nhận ngay lời mời qua viếng thăm nông trại của ông Bush ở tiểu bang Texas khi được ông này mời. Thế là cây cầu ngoại giao giữa hai nước Nga và Hoa Kỳ đă được bắc qua Đại Tây Dương; nhưng phải chờ đến khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng 9 và Nga tuyên bố với thế giới là nước họ hết ḿnh ủng hộ việc Hoa Kỳ thành lập Mặt Trận Quốc Tế Chống Khủng Bố, mới thấy rơ chính quyền Putin - v́ rất thực tế - nên đă bỏ thái độ chống đối Hoa Kỳ do Liên Xô chủ trương từ hơn 70 năm nay v́ họ thấy rằng chống đối Hoa Kỳ th́ chỉ có thiệt tḥi thôi, chứ chả được lợi lộc ǵ cả. Cái gương Liên Bang Xô Viết v́ chống đối Hoa Kỳ nên đă bị nước này "đá hậu" cho nên đă bị tan ră.

      Dưới triều đại Liên Bang Xô Viết rồi đến dưới sự lănh đạo của ông tổng thống say rượu ngày đêm Yeltsin sau khi Liên Bang Xô Viết tan ră, nước Nga - trong gần 80 năm liền - chưa bao giờ có một cuộc cải cách trong guồng máy chính quyền hướng về sự cải thiện đời sống cơ cực của người dân. Nhưng giờ đây, dưới thời Putin th́ quả thật có sự cải cách thật sự và Putin đă ổn định được sự bấp bênh của nền kinh tế nước Nga. Không như dưới thời Yeltsin có một ngân sách "tùy hứng", Putin điều hành nước Nga với một ngân sách dựa trên thực tế của nền kinh tế nước nhà v́ chính quyền đă thâu được thuế nhờ có luật pháp nghiêm minh. Putin đă chận dứng được hơn phân nửa việc bọn tài phiệt tẩu tán vốn liếng ra ngoại quốc so với những năm từ 1992 đến 1998. Rồi nhờ khuếch trương được việc khai thác dầu hỏa và hơi đốt để xuất cảng ra ngoại quốc, nên nhờ vậy mà các kinh tế gia Nga có thể dự trù khuếch trương được những dự tính về kinh tế trong tương lai. Mức sống của dân chúng được nâng cao, đó là một điều mà ai cũng phải công nhận và chưa từng thấy xảy ra từ 80 năm qua suốt thời gian chạy dài từ Liên Bang Xô Viết đến hết triều đại của tổng thống Yeltsin. Trước đó th́ khoảng 65% dân chúng nước Nga sống dưới mức nghèo khổ; nhưng nay th́ chỉ c̣n từ 40 đến 45% thôi và rồi đây sẽ c̣n có nhiều hy vọng để con số này sẽ tụt xuống thấp hơn nữa. Và muốn đạt được kết quả đó th́ điều kiện cấp thiết ưu tiên là việc gia tăng sản xuất dầu hỏa và hơi đốt cũng như việc t́m cho ra các nơi tiêu thụ trường kỳ, như tổng thống Putin đă từng tuyên bố trước quốc hội vào giữa tháng 4, 2002 vừa qua. Đồng thời tổng thống Putin đă thẳng tay loại hẳn thống đốc ngân hàng quốc gia Nga là Gueraschenko từng mang tiếng là "lem nhem" về tiền bạc, và thay vào chức vị này một nhân viên rất tin cậy của ông ta là S. Ignatiev. Ông này cùng với A. Koudrine, đệ nhất Phó thủ tướng Chính Phủ là cặp bài trùng đă từng cương quyết chủ trương sẽ đưa nước Nga ra khỏi ách quản trị lạc hậu về tài chánh dưới thời Liên Bang Xô Viết.

      Tổng Thống Putin cũng răn đe khoảng mười lăm tên tỷ phú rằng từ nay trở đi họ nên dè dặt trong những hành động của họ, v́ tuy họ có quyền làm giàu cho riêng cá nhân ḿnh, nhưng không phải v́ vậy mà quên hẳn quyền lợi của những người dân khác. Ông cũng nhấn mạnh cho họ biết rằng làm ǵ cũng được, nhưng cấm không được làm chính trị như Berezovski và Goussinsky. Mặc dầu hai tỷ phú này đă lưu vong ra ngoại quốc và các cơ quan truyền thanh và truyền h́nh cùng báo chí của họ đă bị nhà nước quản lư, nhưng vẫn c̣n lại khoảng mười hai nhật báo và tuần báo lớn th́ vẫn được tiếp tục tự do xuất bản và vẫn có quyền tiếp tục nói lên chủ trương đường lối của họ và có thể chỉ trích chính phủ... nếu họ biết dùng lời lẽ trong phạm vi đoan chính. Ê kíp "Putin/Mật Vụ KGB" gồm khoảng 25 thành viên, tất cả đều sinh trưởng tại Leningrad tức là Saint Pétersbourg dưới triều đại các Sa Hoàng. Sự cấu kết chặt chẽ của họ chung quanh Putin bắt nguồn từ đó và cũng nhờ tất cả những người này đều là những sĩ quan hay cựu sĩ quan cao cấp trong ngành mật vụ KGB nên họ rất am tường về thời cuộc và cũng nhờ vậy mà họ biết khôn khéo thi hành những biện pháp nhẹ nhàng về kinh tế để đưa nước Nga bắt cho kịp đà tiến bộ của các nước Âu Châu ngày nay.

       Tháng 4, 2002 tại thủ đô Mạc Tư Khoa, sở bưu điện nước Nga có cho phát hành một loạt tem thư mới mang h́nh ảnh của 6 nhân vật đầu năo đầu tiên trong ngành mật vụ Liên Xô và cũng là thủy tổ trong ngành mật vụ của đương kim tổng thống Nga Putin hiện nay. Rồi quần chúng rỉ tai cho nhau nghe là bọn "mặt mày hắc ám" ăn mừng lễ tám mươi năm "giết dân không cần giấy phép" của bọn mật vụ KGB. Đồng thời tổng thống Putin đă buộc những dân biểu thuộc các phe đối lập với đảng của ông ta trong quốc hội phải đồng thuận với nhau để đưa ra một đạo luật mới truất quyền lănh đạo của các nhân viên thuộc đảng cộng sản trong 8 ủy ban của 28 hội đồng mà trong đó quan trọng nhất là hội đồng điều hành guồng máy hành chánh của quốc gia. Ngân sách của hội đồng này trước đây là 65 triệu mỹ kim một năm, nhưng vừa mới được tăng lên 100 triệu mỹ kim cho niên khóa 2002/2003. Từ trước tới nay, đảng cộng sản của Nga đă lương lẹo rút bớt hàng triệu mỹ kim trong quỹ này để nuôi sống 500.000 đảng viên của chúng, và cũng nhờ có số tiền ăn bớt này mà đảng cộng sản Nga mới giữ được kỷ luật trong đảng và sai bảo dễ dàng bọn đàn em bằng cách dọa cúp số "tiền c̣m" này nếu không tuân lệnh. Cũng nhờ có tiền của "quỹ đen" này mà đảng cộng sản Nga hiện nay có được năm trăm ngàn đảng viên, trong khi đó th́ số đảng viên của các đảng khác trong quốc hội Nga chỉ có từ 10.000 đến 100.000 đoàn viên mà thôi.

      Giờ đây đường lối ngoại giao của tổng thống Putin là xoay chiều 180 độ: trước khi ông George W. Bush đắc cử tổng thống Hoa Kỳ th́ nước Nga ủng hộ các nước có dân Ả Rập như Iraq, Syria và nước có dân Ba Tư như Iran và chống đối nước Do Thái. Nhưng trước khi Tổng Thống W. Bush qua gặp Tổng Thống Putin của Nga tại thủ đô Mạc Tư Khoa vào tháng 5, 2002 th́ vào trung tuần tháng 4, 2002, tổng thống Putin đă mở một buổi tiệc rất lớn tại Mạc Tư Khoa để khoản đăi một số giáo lănh cao cấp của Do Thái giáo. Những tai to mặt lớn trên chính trường của thủ đô nước Nga đều rất ngạc nhiên về thái độ thân thiện của tổng thống Putin đối với các giáo lănh cao cấp của Do Thái Giáo mà từ trước tới nay, tất cả mọi chính quyền, từ Liên Bang Xô Viết cho đến ngày nay vẫn bị theo dơi hành động v́ họ cho rằng tôn giáo này luôn luôn có những hành động thân quốc gia Do Thái và thân cả với Hoa Kỳ nữa.

      9. Lưới T́nh Báo Vây Quanh Tổng Thống W. Bush

       Nhiều kư giả có tên tuổi của một số nhật báo lớn của Hoa Kỳ như Los Angeles Times, Christian Science Monitor, Washington Post và ở tại nhiều tiểu bang khác trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5, 2002 đều có đề cập đến áp lực nặng nề của sự vận động này. Ngày 30 tháng 4, 2002 Richard Cohen đă viết trong nhật báo Washington Post như sau: "Nếu tôi không phải là người Do Thái th́ cũng đă bị "phong trào" này liệt vào loại "bài xích Do Thái" v́ thỉnh thoảng tôi cũng có đứng về phía người Palestinian. Và luôn luôn tôi vẫn khẳng định rằng việc quân đội Do Thái chiếm đóng lănh thổ thuộc tả ngạn sông Jordan là một sự sai lầm..." Ở trên đất Do Thái, nếu có ai đưa ra ư kiến này th́ cũng chuyện thường thôi; chứ ở Hoa Kỳ mà chỉ trích Do Thái trên báo chí như vậy là thế nào cũng bị liệt ngay vào sổ đen bài xích Do Thái". Chính "lốp by" này đă cầm chân ông W. Bush c̣n mạnh hơn "lốp by dầu hỏa" mà ḍng họ Bush là một thành viên. Chính thủ tướng Ariel Sharon cũng biết vậy, cho nên lắm lúc TT W. Bush yêu cầu ông này rút quân ra khỏi một số địa điểm do quân đội Do Thái chiếm đóng trên phần đất thuộc lănh thổ Palestine mà ông ta vẫn làm ngơ như không nghe, thế mà rốt cục vẫn được TT W. Bush khen ông ta là một "người yêu ḥa b́nh" !

       Mạng lưới bao quanh tổng thống W. Bush là có thật chứ không phải là một chuyện hoang đường. Đó là một sự liên hiệp giữa một số đảng viên theo Thiên Chúa giáo trong đảng Cộng Ḥa của Hoa Kỳ và một nhóm người hoạt động tích cực thân Do Thái trong đảng Dân Chủ cũng của Hoa Kỳ nhưng lại có nhiều liên hệ trong đảng Cộng Ḥa, như ông Kiracofe đă từng viết. V́ sự hoạt động của mật vụ Do Thái lắm lúc đi quá trớn nên đă trở thành lộ liễu, nên chính quyền Bush - v́ sợ có ảnh hưởng xấu trong quần chúng - đă âm thầm ra lệnh trục xuất hàng trăm sinh viên Do Thái xin qua Hoa Kỳ tập sự trong các ngành quan yếu liên hệ đến sự pḥng thủ của Hoa Kỳ.

       Sau khi làm cố vấn hơn mười một năm trong Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ, dưới sự lănh đạo của nghị sĩ Richard Helms thuộc đảng Cộng Ḥa (nay đă về hưu), ông Clifford Kiracofe có viết trong nhật báo Daily Star ra ngày 27-4-2002 tai thủ đô Beyrouth, Liban rằng "mặc dầu ông Colin Powell là người được chỉ định để điều khiển đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng trên thực tế th́ hoạt động của ông ta đă bị một mạng lưới t́nh báo cực kỳ bảo thủ thân thủ tướng Sharon của Do Thái tiềm phục trong Ngũ Giác Đài và trong hệ thống lănh đạo của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ làm cho tê liệt."

       Nếu không lưu ư đến sự kiện này, th́ sẽ không thể nào hiểu được v́ sao có sự mâu thuẫn và không nhất trí trong đường ngoại giao của tổng thống W. Bush tại Trung Đông. Và măi về sau này, một số nhật báo lớn của Hoa Kỳ mới khám phá ra vào cuối tháng 4, 2002 là sự cản trở tạo ra cho ông ngoại trưởng Colin Powell, theo một thành viên của New American Foundation, ông Michael Lind đến từ sự "vận động trong hậu trường của Do Thái" mà ta gọi là "lốp by" (lobby) cho tiện v́ ngắn gọn hơn. Chính Liên Hiệp Quốc cũng phải chiều theo ư muốn của "lốp by Do Thái" nên đă phải hủy bỏ việc gởi phái đoàn đến điều tra vụ thảm sát tại Jenin ở Palestine, mặc dầu trong phái đoàn này có cả ông William Burns, một phụ tá của ngoại trưởng Colin Powell của Hoa Kỳ.

        Năm 1997, Franz Katz, phó chủ tịch của AIPAC, đă được chỉ định làm giám đốc tài chánh của Ủy Ban quốc gia của đảng Dân Chủ Hoa Kỳ; và Steve Grossman, cựu chủ tịch của AIPAC, cũng đă trở thành Chủ tịch của Ủy Ban này. AIPAC là ủy ban phụ trách các dịch vụ Do Thái - Hoa Kỳ. Cơ quan AIPAC này được thành lập rất kín đáo từ lâu, nhưng được phát triển mạnh dưới trào Bill Clinton. Chính tờ The Jewish News xuất bản tại Detroit đă từng nói huỵch tẹt ra đó là "một trung tâm huấn luyện cán bộ cho Capitole" ; Capitole là nơi tọa lạc của Hạ viện, Thượng viện và của các cơ quan hành chánh đầu năo của chính phủ Hoa Kỳ. Cơ quan AIPAC luôn luôn có 140 thường vụ trong đó có 7 người được chỉ định phụ trách liên lạc thường xuyên với các thành viên trong giới nghị trường, với nhân viên trong ṭa Bạch Ốc như Ari Fleischer, phát ngôn viên của tổng thống W. Bush, và với các bộ viện và các cơ quan đầu năo của chính quyền Cộng Ḥa hiện tại. Tom Delay là con chim đầu đàn của AIPAC ở Hạ viện. John Lieberman, từng đứng trong liên danh của Al Gore, là người đại diện cho Cơ quan tại Thượng viện, hai nhân vật này chỉ là hai mốc băng nhô lên trên băng sơn Do Thái hoạt động trên lănh thổ Hoa Kỳ.

       Cũng trong thời gian đó, cán bộ của AIPAC vẫn tiếp tục công việc xâm nhập vào hàng ngũ lănh đạo của đảng Cộng Ḥa trong lưỡng viện Quốc Hội qua trung gian của Gary L. Bauer và William Kristol. Kín đáo dưới trào Nixon, hơi lộ liễu một chút dưới trào Reagan, gần như vỗ ngực công khai dưới trào Carter và Clinton, dồng thời được xử dụng những phương tiện tài chánh vô cùng to lớn, cơ quan AIPAC đă đưa được vào Hạ viện 37 dân biểu và vào Thượng viện Hoa Kỳ 10 nghị sĩ làm việc cho "lốp by Do Thái", một con số mà báo Financial Times xuất bản tại thủ đô Luân Đôn đă cho là "kinh khủng".

       Những người hoạt động tích cực cho "lốp by Do Thái" đă t́m ra được đất "dụng vơ" lư tưởng với 8 năm dưới trào của Bill Clinton. V́ phạm vi tờ tạp chí không cho phép, nên chỉ xin đơn cử 2 trường hợp độc đáo thôi. Người đóng vai phụ kia, William Kristol, là con của học giả Irving. Ông này là giám đốc của tuần báo The Weekly Standard, rất có ảnh hưởng trên chính trường Hoa Kỳ, nhất là trong các chính giới vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn và vùng New York. Cả hai người này, Bauer và Kristol, đều tin về vận hội mới được đề cập phần trên đây. Họ là cái nhân của một liên minh chính trị mà cơ quan AIPAC là đầu năo.

       Gary Bauer, tốt nghiệp đại học Harvard năm 1972, chuyên ủng hộ những dân biểu, nghị sĩ thuộc loại "tiến bộ" như McGovern. Ông này có lập ra một nhóm lấy tên "American Values" (Những Giá trị Hoa Kỳ) và rất say mê ư kiến của một giáo phái Công Giáo đóng bản doanh ở Memphis. Giáo phái này từng thuyết giảng cho con chiên nghe là theo thánh kinh, khi nào dân Do Thái lưu vong ở xứ người ồ ạt trở về lại vùng đất Palestine để dựng nước và xây lại thánh đường Jerusalem, th́ khi đó mới là lúc khởi điểm của một vận hội mới cho thế giới. Th́ té ra trong thế giới văn minh ngày nay - Đông cũng như Tây - vẫn c̣n rất nhiều cụ Trạng Tŕnh. Martin Indyk, một người Úc gốc Do Thái, di cư chưa được một năm qua Hoa Kỳ, đă nhập quốc tịch Hoa Kỳ sau khi vào làm việc với AIPAC và được Bill Clinton phong cho làm đại sứ Hoa Kỳ tại quốc gia Do Thái. Trước khi bàn giao quyền hành lại cho tân tổng thống W. Bush, Bill Clinton đă kư giấy ân xá cho triệu phú Mark Rich đang bị chính quyền Dân Chủ truy lùng v́ phạm pháp nhưng tên này đă ủng hộ tài chánh cho nhiều tai to mặt lớn của đảng Dân Chủ trong lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ nên được Bill Clinton nhắm mắt "tha Tào"; vụ này đă được báo chí phanh phui và không tiếc lời chỉ trích hành động chà đạp công lư của ông cựu tổng thống "trốn lính" này.

      10. AIPAC Và Cơ Quan Hành Chánh Hoa Kỳ

       Vào đầu tháng 5, 2002 Quốc Hội Hoa Kỳ - do dân biểu DeLay cầm đầu - và ngoài số tiền viện trợ hằng năm là 3 tỷ mỹ kim cho Do Thái, trong đó 70% dùng để trang trải các chi phí quân sự, Quốc Hội Hoa Kỳ c̣n chi thêm cho Do Thái 200 triệu mỹ kim nữa. Và nhật báo Ha'aretz của Do Thái đă viết là Hoa Kỳ ủng hộ Do Thái hơn cả người Do Thái nữa. Châm biếm hay thành thật đây ? Trong Cơ Quan An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ, người của "lốp by Do Thái" là hai ông Elliot Abrams và John Hannah một trong những người phụ tá của Phó tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney.  Những nhân vật được đề cập đến trên đây đều đă qua cửa ải của AIPAC, hoặc của "Washington Institute For A Near East Policy" một cơ sở ngụy trang của "lốp by Do Thái".

       Theo ông Eytan Sheshinski một cựu cố vấn kinh tế cho nhiều chính phủ của Do Thái trước đây đă tuyên bố "Do Thái đang ở trong một t́nh trạng rất dễ bùng nổ". Những người Do Thái Chính Thống (10% dân chúng) trong đảng Shas hiện đang ủng hộ Sharon th́ đ̣i thêm tiền trợ cấp, nếu không họ sẽ rút chân ra khỏi chính phủ và khi ấy chính phủ của Sharon sẽ sụp đổ. Không biết rồi đây chính quyền Sharon có dám giảm bớt chi tiêu về quốc pḥng để dành tiền làm thỏa măn sự ṿi vĩnh của một số đảng trong chính phủ của ông ta không th́ không biết v́ hiện giớ ông ta đang bị dằng co giữa tham vọng thực hiện cho được giấc mơ về một nước Đại Do Thái hay là phải ráng làm vừa ḷng “các con hạm” chỉ biết có quyền lợi của phe phái họ mà thôi! Một nước Đại Do Thái đó là giấc mơ của Ariel Sharon và cũng giống như một số các giấc mơ xưa trong đó có giấc mơ của Syria chỉ muốn thôn tính các nước Liban và Jordan để thành lập một quốc gia rộng lớn với quốc kỳ "lưỡi liềm vàng" trong vùng Cận Đông của thời đại xa xưa. Sự xâm nhập của "lốp by Do Thái" vào các vai tṛ điều khiển guồng máy chính quyền của Hoa Kỳ bắt đầu từ thời kỳ Reagan, và những người "nằm vùng" này đều đóng vai tṛ đảng viên tích cực của đảng Cộng Ḥa, đôi khi c̣n tỏ ra "hữu khuynh" nữa là khác. Như Richard Perle, giờ đây là đương kim cố vấn nặng kư về vấn đề quốc pḥng cho bộ trưởng Donald Rumsfeld. Cạnh ông này c̣n có các bạn của ông ta như Douglas Feith, hiện nay là thứ trưởng chính trị sự vụ và Paul Wolfowitz, nhân vật số 2 hiện nay trong bộ Ngoại Giao của tổng thống G.W. Bush.

       Mặc dầu Hoa Kỳ ồ ạt viện trợ tài chánh cho Do Thái, nhưng rồi đây liệu Do Thái có tránh khỏi được nạn "lạm phát phi mă" hay không? Năm 1967, Bộ Quốc Pḥng Do Thái có một ngân sách chỉ bằng nửa ngân sách quốc pḥng của các nước lân cận như Ai Cập, I Rắc, SyriaJordan. Vào mùa đông 2001-2002, theo nhận xét của tạp chí International Security xuất bản tại Hoa Kỳ, th́ ngân sách quốc pḥng hiện nay của Do Thái cao hơn 30% tất cả ngân sách quốc pḥng của các quôc gia vừa kể trên đây cộng lại. Thường thường th́ những nhân vật trong lốp by này hay đứng sau b́nh phong "Thiên Chúa giáo" của Gary Bauer để hoạt động. Kư giả Roy Denman đă từng viết trong nhật báo International Herald Tribune ra ngày 19 tháng 4, 2002 như sau: "Những người Thiên Chúa giáo hướng về cội nguồn của Bauer hiện diện trong đảng Cộng Ḥa cho rằng cần phải ủng hộ Ariel Sharon, v́ - theo thánh kinh - th́ lănh thổ Palestine thuộc về người Do Thái".  Nói chung th́ ngân sách của chính phủ Do Thái đi từ thiếu hụt này đến thiếu hụt khác, từ khi Ariel Sharon lên làm thủ tướng. Giá cả vật liệu tăng vọt theo nhịp độ phi mă, lợi tức về du lịch coi như không thu được v́ khách ngoại quốc sợ bom đạn nên không qua du lịch Do Thái nữa, nạn thất nghiệp vượt lên quá mức 10%, vốn của các công ty tẩu tán ra nước ngoài và nạn trốn lính - trong ngành trừ bị - lên đến 30%. Vào đầu tháng 5, 2002 Ari Fleischer, phát ngôn viên của tổng thống W. Bush đă đi nói chuyện tại nhiều thánh thất của Do Thái giáo rằng "nhân danh liên minh cộng ḥa Do thái, tôi khẳng định rằng kể từ nay, cửa của Ṭa Bạch Ốc đă mở rộng và là cái điểm tựa cho quốc gia Do Thái".  phải tái chiếm những lănh thổ hiện nay đang đặt dưới quyền kiểm soát của Arafat". Hai nhân vật nữa, trong "lốp by Do Thái" cũng tán thành ư kiến này, đó là Peter Rodman, hiện nay phụ trách Do Thái Sự Vụ và Dov Zackiem hiện đang phụ trách Vụ Syria và Liban. Tất cả những hoạt động của "lốp by Do Thái" trên đất Hoa Kỳ đều được mật vụ KGB của Nga báo cáo rất tỷ mỹ, tường tận về Mạc Tư Khoa cho tổng thống Putin v́ ông này đang t́m một cơ hội thuận tiện để bắt tay chặt chẽ với Hoa Kỳ mà vẫn giữ được thể diện cho nước Nga, một cựu siêu cường đă từng hét ra lửa dưới triều đại Liên Bang Xô Viết, nhưng v́ bị cựu tổng thống Reagan biết là "lửa rơm" bạo phát bạo tàn, nên rốt cục v́ chạy đua vũ khí với Hoa Kỳ mà hụt hơi, nên đành phải tan bè ră ngũ nên Yeltsin mới có cơ hội lên nắm chính quyền. Với một ông tổng thống có khả năng, có một bộ tham mưu giỏi, dám hy sinh cho nước, cho dân, th́ giờ đây nước Nga có thể tiến bộ như một số quốc gia hạng hai của Âu Châu. Nhưng nước Nga lại quá vô phước nên đă gặp phải một ông tổng thống bị bệnh tim ra vào bệnh viện nhiều hơn là đến văn pḥng làm việc, thêm cái bệnh nghiền rượu suốt ngày say sưa, thỉnh thoảng trong những lúc tỉnh rượu th́ lại nghĩ đến chuyện truất phế hoặc hoán chuyển nhân viên thân cận đi các nơi khác v́ sợ họ cấu kết với nhau mưu đồ đảo chánh ḿnh, và triều đại Yeltsin chỉ có vậy thôi. Tệ đến độ là khi gần hết nhiệm kỳ đầu sự tín nhiệm của dân chúng tụt xuống chỉ c̣n 8% so với 52% lúc mới vào nhiệm kỳ. Sau nhờ có sự giúp đỡ của Bill Clinton gởi qua Mạc Tư Khoa 5 người cố vấn giúp con gái của ông ta đứng ra vận động tranh cử cho phụ thân, nên mới thắng được ứng cử viên của đảng cộng sản một cách vẻ vang. Nhưng qua nhiệm kỳ 2 th́ sức khỏe của Yeltsin càng ngày càng trở nên tồi tệ, bệnh ghiền rượu càng nặng thêm và t́nh trạng chính trị, kinh tế và quân sự càng ngày càng thêm bi đát và cùng đi xuống dốc một cách thê thảm, có thể nói là theo nhịp độ t́nh trạng sức khỏe của tổng thống ghiền rượu này.

       Sở dĩ tổng thống Bush hành động NHƯ là bị "lốp by Do Thái" dồn ép ông PHẢI đi theo đường lối của họ, nhưng kỳ thật là v́ "chủ trương giai đoạn" của ông cũng đi cùng một hướng với chủ trương cố hữu của "lốp by Do Thái" là chống chủ trương của các nước Ả Rập do Ả Rập Saudi cầm đầu, tuy ngoài miệng vẫn luôn luôn tuyên bố chống nạn khủng bố, nhưng vẫn có những hành động lén lút ủng hộ Osama Bin Laden. Cộng thêm vào việc chống lại khối Ả Rập muốn dựa vào thánh chiến để khuynh loát thế giới Tây phương, tổng thống Bush c̣n thêm một vấn đề khác làm cho ông băn khoăn là việc bầu cử vào mùa thu 2002 đây, đặc biệt là cuộc bầu cử thống đốc của 4 tiểu bang: Texas, California, New York và Florida, mà thống đốc là Jeff Bush, em trai của ông ta. Mặc dầu chỉ có hai tiểu bamg trong 4 tiểu bang kể trên đây là người Hoa Kỳ gốc Do Thái mạnh về chính trị, nhưng ở một số tiểu bang khác th́ họ lại tương đối mạnh về tài chánh, nên muốn cho chắc thắng nên ông Bush - cũng nhân cơ hội làm việc theo đường lối của ḿnh - mà ngả tư ti về "lốp by Do Thái" th́ cũng không đến nỗi nào. Đừng tưởng rằng sở dĩ tổng thống Bush nhượng bộ "lốp by Do Thái" là v́ ông ta quá mềm yếu, nghĩ như vậy th́ lầm to; v́ khi ra tranh cử tổng thống năm 1999, ông ta đă chống lại "lốp by Do Thái" đang tận lực vận động cho liên danh của đảng Dân Chủ Gore - Lieberman (gà ṇi của lốp by Do Thái ) là ǵ, thế mà ông ta vẫn đắc cử.

      11. Tổng Thống Yeltsin, Kinh Tế Nga Xô và Mafia

       1. Theo thống kê của Viện Xă Hội Học thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học của Nga th́ dưới triều đại Yeltsin, tổ chức Mafia kiểm soát 40% nền kinh tế của nước Nga thời bấy giờ. Vả lại, từ lúc c̣n mồ ma Liên Bang Xô Viết, tổ chức Mafia đă có dây mơ rễ má sẵn trong xă hội tham nhũng thối nát có từ lúc mới khai sinh của đảng Cộng Sản rồi. Sau khi Liên Bang Xô Viết tan ră, sự xuất hiện của một số tân quốc gia vừa mới được độc lập là những môi trường rất thuận tiện cho sự tham nhũng nẩy nở kèm theo sự xuất hiện đương nhiên của vô số tổ chức mafia. Có 3 nguồn tham nhũng ở Nga và các tân quốc gia vừa mới được độc lập cách nay đă hơn mươi năm:

      a. Nguồn thứ nhất khi Liên Bang Xô Viết tan ră th́ những cán bộ cao cấp của Đảng Cộng Sản biến ngay tức khắc thành những "thầu khoán". Những tài nguyên cực kỳ phong phú của Liên Bang Xô Viết (tức là của nhà nước, nghĩa là không thuộc về ai cả) đă rơi thẳng vào túi của những cựu nhân viên của chế độ Xô Viết. Hàng chục ngàn cựu đảng viên đảng cộng sản Nga Xô đă nhảy ra chiếm lĩnh những tài nguyên đó mà người ta trị giá có thể lên tới hàng ngàn tỷ mỹ kim. Như công ty hơi đốt Gazprom chẳng hạn, trị giá khoảng một trăm tỷ mỹ kim đă được thủ tướng của nước Nga Viktor Tchernomyrdine phân phối cho bà con ḍng họ của y.

      b. Nguồn thứ hai  phát xuất từ đảng Cộng Sản Liên Xô đă cung cấp một loại phân bón "tuyệt vời" để giúp cho tham nhũng và tổ chức Mafia phát triển theo nhịp độ phi mă. Sở dĩ chế độ Cộng Sản tồn tại được lâu như vậy là nhờ sự tham nhũng kinh khủng của cấp cán bộ cao cấp của chúng; và hành động của bọn này không khác ǵ hành động của một tổ chức Mafia lớn, cán bộ th́ được bao che, ăn chơi trác táng thả dàn, ơn mưa móc của Đảng ban phát xuống cho cán bộ không có lănh vực nào bị bỏ quên, từ trường học có giáo sư giỏi cho đến các cửa hàng dành riêng cho cán bộ; ngoài ra c̣n nhiều đặc quyền đặc lợi khác nữa và đảng cộng sản đă dùng những quyền lợi đó để mua chuộc ḷng trung kiên của đảng viên.

      c. Nguồn tham nhũng thứ ba mới xuất hiện sau này khi các chính phủ Tây phương không chịu hỗ trợ cho nước Nga về phương diện tài chánh lúc mà họ cần nhất, vào năm 1992. Lúc đó, thủ tướng Egor Gaidar, người từng chủ trương thay đổi sâu rộng, có đưa ra một chương tŕnh cải cách - tuy không được hoàn bị cho lắm - nhưng cũng c̣n khá hơn những chương tŕnh sau đó. V́ các nước Tây phương cho chương tŕnh này quá táo bạo nên không ủng hộ tài chánh, cho nên tổng thống Yeltsin đành phải bắt tay với những cán bộ cũ của Liên Xô, nên mới xảy ra vụ làm giàu trắng trợn của hạng người này, v́ vô số giám đốc cũ các xí nghiệp dưới thời Liên Bang Xô Viết nay trở thành "chủ nhân ông" của những xí nghiệp này sau đợt tư hữu hóa dưới chính phủ Yeltsin.

      2. Hậu quả của việc "tư hữu hóa từ bên trong" là chả có sự thay đổi ǵ cả về kinh tế v́ những người điều hành vẫn là những người cũ dưới chế độ Liên Xô, có thể nói là tuy "b́nh mới nhưng vẫn là rượu cũ". Trong bất cứ một quốc gia nào, sự tham nhũng và phạm tội kinh tế đưa đến những hậu quả sau đây :

      a) Giảm thiểu tiền thu vào cho ngân quỹ quốc gia, tạo thêm những sự chi tiêu vô bổ nhưng tốn kém để đường đầu với sự phạm pháp và đó là chưa nói đến chính bọn Mafia là những thành phần "trốn xâu lậu thuế" mạnh nhất trong xă hội hiện nay của nước Nga.

      b) Hậu quả quan trọng không kém là làm nhụt nhuệ khí đầu tư của các công ty ngoại quốc về tiền bạc cũng như về máy móc.

      c) Người sản xuất hàng hóa phải chi thêm một số tiền ngoài việc sản xuất để lo hối lộ mà ta có thể coi đó là một loại thuế thường rất cao.

      d) Loại hối lộ này tạo dựng nên những hàng rào trước những khu vực khả dĩ mang lợi tức nhiều cho nền kinh tế và làm sai lạc những qui luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường v́ nó có thể tạo điều kiện nâng đỡ một cách bất hợp pháp những xí nghiệp kém hữu hiệu trong việc sản xuất nhưng trái lại những xí nghiệp này được sự hỗ trợ của một vài "thế lực" đàng sau hậu trường.

       T́nh trạng này xảy ra v́ 2 nguyên do :

      1. Quân đội Nga đang lâm vào một t́nh trạng đói rách tận cùng. Những đoàn quân đóng ở ngoại quốc lúc trước hay đóng tại những nước vừa được độc lập sau khi Liên Bang Xô Viết tan ră, đă bán đổ bán tháo tất cả các kho vũ khí do họ quản lư trước khi rời khỏi những nơi này, kể cả việc bán vũ khí cá nhân của họ cho kháng chiến quân Chechen để mua ma túy.

      2. Tiền lương quá thấp của thợ thuyền trong các công xưởng chế tạo vũ khí dưới trào Liên Bang Xô Viết. Ở Toula, một thị trấn chuyên sản xuất vũ khí hạng nhẹ, lương tháng của một người thợ là một trăm ngàn đến năm trăm ngàn rúp (đơn vị tiền tệ của Liên Xô và nay là của Nga) tương đương với 25 đến 100 mỹ kim); trong khi đó trên thị trường "chợ đen" một tiểu liên Kalachnikov trị giá 1500 mỹ kim, một viên đạn giá một mỹ kim. Thành thử việc buôn bán "chợ đen" này là nguồn sống độc nhất của họ.

       Một kư giả của báo Libération, J.D. Merchet có viết trong báo này rằng Mạc Tư Khoa đă "cắt" mật vụ KGB ra làm hai và đó là một triệu chứng dân chủ hóa cơ quan này. Theo thiển ư của người viết th́ hành động này chỉ là một triệu chứng muốn hữu hiệu hóa thêm tổ chức này mà thôi. Chính Putin cũng đă từng tham dự những khóa huấn luyện "đả thông tư tưởng" này và cuối cùng đă được một số các "bậc lăo thành" trong "mạng lưới Felix" chọn, v́ là người có khả năng nhất trong hàng ngũ sĩ quan mật vụ KGB/GRU, để chuyển sang ngành chính trị. Y có nhiệm vụ nâng cao nền kinh tế nước Nga đang tuột dốc dưới trào tổng thống Yeltsin; nhưng chỉ đáp ứng điều kiện đó thôi cũng chưa đủ mà c̣n phải phục hồi lại bờ cơi trước đây của nước Nga dưới triều đại Liên Bang Xô Viết. Giờ đây trong nội các của Putin gồm có 15 nhân vật đầu năo, th́ 14 người là cựu sĩ quan trong ngành mật vụ KGB; 89 cơ quan hành chánh địa phương của nước Nga nay được đặt dưới quyền kiểm soát của 7 thống đốc trong đó có 5 vị là cựu sĩ quan của mật vụ KGB hoặc của quân báo GRU. Trong khoảng thời gian giữa 1986 và 1992, "mạng lưới Felix" đă tổ chức nhiều khóa học tập để đả thông tư tưởng và chấm dứt sự kèn cựa thường xảy ra từ trước tới nay giữa 2 cơ quan mật vụ KGB và quân báo GRU của Nga. Bằng chứng đă cho ta thấy là Putin đă thực hiện được một phần nào chương tŕnh này bằng cách đầu tư vào ngành kinh tế của các quốc gia trong vùng Trung Á vừa mới được độc lập cũng như vào các nước cựu chư hầu của Nga trong vùng Đông Âu qua các công tác gián điệp và lật đổ như ở các nước Ukraine, Bielorussia, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi; nhưng cách hoạt động của Nga giờ đây khác trước, nghĩa là âm thầm hành động và tránh dính líu với các cựu đảng viên cộng sản ở tại địa phương.

Từ 1986 cho đến ngày nay, cơ quan mật vụ KGB của Nga đă từng trải qua nhiều giai đoạn cải tổ, mà giai đoạn mới nhất là dưới trào của tổng thống Boris Yeltsin, chia mật vụ KGB ra làm hai ngành: FSB (ngành phản gián quốc nội) và SVR (ngành t́nh báo ở quốc ngoại). Trước đây tổ chức mật vụ NKVD - cha đẻ của KGB - cũng đă từng chia ra làm hai ngành, một ngành lo về quốc nội và một ngành lo về quốc ngoại và đều do Sít Ta Lin cùng nội các của y điều khiển trong hậu trường. Giờ đây cũng vậy, chính Putin và nội các của y cũng điều khiển hai ngành FSB và SVR, nhưng lại cộng thêm tổ chức GRU (cơ quan t́nh báo quân sự đặt dưới quyền điều khiển của bộ Tổng Tham Mưu quân đội Nga) và có thêm một sự khác biệt nữa là cơ quan GRU từ nay lại hợp tác rất chặt chẽ với hai cơ quan FSB va SVR, chứ không có sự chống đối nhau như dưới thời Liên Bang Xô Viết nữa. Sở dĩ có sự kiện đặc biệt này xảy ra là nhờ - giữa 1985 đến 1992 - một nhóm sĩ quan cao cấp trong 3 ngành t́nh báo kể trên đă họp nhau để mổ xẻ những khuyết điểm đă từng làm tê liệt sự hữu hiệu của ba ngành này và kết quả của cuộc găp gỡ này là tăng hiệu năng của ngành mật vụ Nga dưới trào Gorbatchev rồi đến Yeltsin. Và sau đó, "Mạng Lưới Felix" ra dời, lấy tên Felix là để tưởng nhớ Felix Djerzinski, vị thủy tổ sáng lập ra Tcheka, cơ quan mật vụ đầu tiên của đảng Cộng Sản Nga Xô. Thế rồi từ 1993 đến 1999, "mạng lưới Felix" âm thầm hoạt động và bố trí ngầm một số nhân sự trong chính quyền Yeltsin để chuẩn bị đưa "người của họ" là Vladimir Putin ra nắm chính quyền sau nhiệm kỳ 2 của ông này.  Một thí dụ cụ thể là ngày 24 tháng 6 vừa qua, tổng thống Nga Putin đă tuyên bố trên đài phát thanh về thị trấn Konigsberg được đổi tên Kaliningrad khi Liên Bang Xô Viết chiếm đóng vào năm 1945 và nay lănh thổ này vẫn thuộc về nước Nga; nhưng thật ra thị trấn Konigsberg trước đây thuộc về nước Đức.

       Bọn "Mafia Nga" đă khôn khéo lợi dụng sự xáo trộn xảy ra trong xă hội nước Nga sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Một phụ tá viên Giám Đốc của Cơ quan An Ninh Liên Bang Hoa Kỳ (FBI) đă công khai xác định rồi đây tập đoàn Mafia Nga sẽ vượt lên trên tập đoàn Mafia Ư để trở thành nhóm gây phạm pháp nhiều nhất ở Hoa Kỳ trong tương lai tới đây. Đối với các tổ chức Mafia cạnh tranh khác, bọn Mafia Nga được hưởng một thế thượng phong vô tiền khoáng hậu: chúng xử dụng được một số "hàng hóa" mà trên thị trường các tổ chức Mafia quốc tế không bén mảng đến được, đó là kho vũ khí khổng lồ của quân đội Liên Bang Xô Viết cũ.  

      12. Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ Đồng Ư Tấn Công IRAQ ?

      Theo những nguồn tin mới nhất th́ Saddam Hussein - trong những năm sau này - đă cho thiết lập khá nhiều pḥng thí nghiệm bí mật để sản xuất vũ khí sinh-hóa học; nhưng không thành công trong việc chế tạo vũ khí hạch tâm như người ta đồn. Có thể Saddam Hussein đă chế tạo được những loại bom nguy hiểm phát ra tia phóng xạ, nhưng chế tạo được bom hạch tâm th́ chưa thành công. Nhưng sau khi ông G.W. Bush của Đảng Cộng Ḥa đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2000-2004, và cương quyết dùng vơ lực dẹp bọn Hồi giáo khủng bố Osama Bin Laden ở A Phú Hăn, th́ chính giới quốc tế không dám coi thường ông ta như Bill Clinton nữa, v́ họ biết rằng khi ông Bush đă có quyết định đánh Iraq, không sớm th́ muộn thế nào ông ta cũng xua quân vào nước này để hạ bệ cho được tên đồ tể Saddam Hussein như ông ta đă từng tuyên bố trên hệ thống vô tuyến truyền h́nh. Một điểm đặc biệt nhất của quân đội Hoa Kỳ dưới trào tổng thống W. Bush là đa số phe tướng lănh lại không "hiếu chiến" bằng phe dân sự, nhất là phe dân sự trong bộ Quốc Pḥng, như các ông Rumsfeld và Wolfowitz, trong "lốp by Do Thái". Những người này gây ảnh hưởng rất mạnh đến ông Bush theo chiều hướng là nên tấn công Iraq càng sớm càng tốt.

       Không phải như dưới thời Bill Clinton, giờ đây trong những tháng vừa qua, không khí chính trị trên chính trường quốc tế đă hoàn toàn thay đổi. Các quốc gia như Nga, Pháp, trước kia rất chống việc Hoa Kỳ đánh Iraq, nay - sau khi nghe lời khẳng định của tổng thống Bush sẽ trừng trị tên độc tài Saddam Hussein để tránh cho thế giới cái họa diệt vong - th́ đă nín khe, để mặc ông Bush muốn làm ǵ th́ làm, khác hẳn với thái độ của Nga - khi c̣n là Liên Bang Xô Viết - là tận lực bênh vực cho Iraq khỏi bị quân đội Đồng Minh tấn công, nhưng rốt cục công của ngoại trưởng Liên Xô lúc bấy giờ là Primakov vẫn là công dă tràng, và quân đội Đồng Minh vẫn đánh tan quân đội của Iraq. Tuy nhiên ngoại trưởng Primakov của Liên Xô cũng được các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ - kể cả Kuwait - tặng cho 15 tỷ mỹ kim để cứu nguy nền kinh tế nguy ngập của Liên Xô, theo lời khiếu khổ của Primakov; nhưng khi nhận được tiền rồi th́ ngoại trưởng Primakov lật đật mang 15 tỷ Mỹ kim này qua thủ đô Tehran của Iran để viện trợ cho nước này và bảo đó là tiền của Liên Xô tặng.

Giờ đây th́ Nga không làm như thế với ông Bush được, nhưng cả Nga lẫn Pháp đă biết đi trước thời cuộc, bằng cách cho giới thương gia của họ đi móc nối với phe đối lập Iraq để bàn tính ngấm ngầm trước cách thức làm ăn sau khi Saddam Hussein bị lật đổ và người của phe đối lập lên nắm chính quyền ở Iraq.

Các chiến lược gia Hoa Kỳ có đề nghị nhiều giải pháp để hạ Saddam Hussein. Có thể dùng Không quân dội bom xuống Iraq, đồng thời gây một cuộc nổi dậy của nhân dân trong nước dưới sự hướng dẫn của dân Kurd ở miền Bắc và dân Iraq theo hệ phái Hồi giáo Shia ở miền Nam nước này; hoặc là một cuộc đảo chánh do Cơ quan T́nh báo CIA  ( Central Intelligence Agency ) của Hoa Kỳ vận động ngấm ngầm trong hàng ngũ nhân sự thân cận chung quanh Hussein. Nhưng trước đó phải để cho phái đoàn thanh tra của Liên Hiệp Quốc vào thanh sát các pḥng thí nghiệm bí mật của Saddam Hussein chế tạo vũ khí sinh-hóa học và có thể là vũ khí nguyên tử nữa. Dư luận thế giới thường nghi ngờ về hiệu năng của một phong trào chống đối Saddam Hussein trong nước Iraq v́ người ta cho rằng tổ chức đó không có đủ khả năng để làm một cuộc nổi dậy lật đổ Saddam Hussein, nhưng sự thật đă chứng minh là phe chống đối đă từng nổi loạn, nhưng đă bị đánh tan.

Theo Robert Baer, một cựu sĩ quan của cơ quan CIA Hoa Kỳ - trong quyển sách "See No Evil" của ông ta đă nói huỵch tẹt là vào tháng 3, 1995 các quân nổi loạn Kurd và Hồi giáo Shia, với sự tiếp tay của một số đơn vị quân sự đă nổi loạn như Sư Đoàn 15 Bộ Binh, Trung Đoàn 76, Sư Đoàn 5 Cơ Giới của quân đội Iraq đă đánh bại sư đoàn 5, tinh nhuệ nhất của Saddam Hussein; và tác dụng "đô mi nô" đă bắt đầu xuất hiện trong nước, trong khi ấy ở ngoại quốc Hội Đồng Quốc Gia Iraq lưu vong sắp sửa tham gia cuộc nổi loạn này, và mọi người đều trông chờ ở sự can thiệp của Không quân Hoa Kỳ tiếp tay cho quân nổi loạn. Nhưng Hội Đồng An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ do Anthony Lake cầm đầu và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ theo chỉ thị của tổng thống (trốn đi lính) Bill Clinton đă từ chối việc dùng Không quân Hoa Kỳ để yểm trợ cho quân nổi loạn. Hậu quả tiếp theo là hàng ngàn dân Iraq và dân Kurd đă bị quân đội của Saddam Hussein tàn sát không nương tay; để rồi từ đó phe chống đối Saddam Hussein trong nội địa Iraq đâm ra nghi ngờ những lời hứa hẹn giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Chúng ta cũng không nên trách họ sao quá đa nghi như vậy. Một năm sau sau cuộc nổi dậy tổng thống trốn lính Bill Clinton lại ra chỉ thị cho Ngũ Giác Đài phải vạch ngay một kế hoạch tấn công vào Iraq, để hạ bệ tên độc tài khát máu Saddam Hussein. Tất cả các nước trên thế giới đều biết tin này, nhưng chả có mấy ai lưu ư đến, v́ họ cho rằng đó chỉ là một câu chuyện lửa rơm, bạo phát bạo tàn mà thôi. Quả thật nhận xét của chính giới quốc tế về quyết định đánh Saddam Hussein của Bill Clinton rồi cũng ch́m xuồng như bao lần ông ta ra lệnh rút quân, khi bị bọn khủng bố Hồi giáo đặt chất nổ làm thiệt mạng hàng trăm lính Thủy Quân Lục Chiến như ở Beirut, thủ đô Liban; hoặc bị phục kích và thiệt mạng gần 20 lính Dù như ở Mogadishu một thị trấn của Somalia thuộc miên Đông Phi Châu.

       Năm 1979, kể từ ngày Saddam Hussein lên nắm chính quyền ở Iraq   th́ việc làm đầu tiên của hắn ta là nhằm tiêu diệt gần 5 triệu người dân tộc thiểu số Kurd sống trong vùng Đông Bắc Iraq để sau này tránh cái họa nổi loạn đ̣i độc lập cho số đông dân Kurd . Vào cuối thập niên 1980, Saddam Hussein đă phát động "chiến dịch Anfal" bắng cách ra lệnh cho lực lượng an ninh của hắn thủ tiêu 180,000 dân Kurd và lưu đày 2 triệu dân Kurd, đồng thời tiêu hủy 4500 làng mạc và thị trấn trong vùng trú ngụ của dân Kurd ở miền Đông Bắc Iraq. Và bản báo cáo này cho hay là Iraq vẫn tiếp tục thi hành chương tŕnh thủ tiêu dân Kurd không có sinh sống trong những vùng đất do Hoa Kỳ và Anh quốc vạch ra cho họ được phép sống an toàn trong miền Đông Bắc của Iraq cho đến ngày nay. Ngoài vùng đất an toàn này, lực lượng an ninh của Iraq tự cho chúng có quyền chém đầu tất cả những phụ nữ Kurd mà chúng liệt vào vào hạng "đĩ điếm" để tiện bề thủ tiêu theo đạo luật dă man của Saddam Hussein. Và theo bản báo cáo này th́ đă có hơn 2000 phụ nữ Kurd bị chém đầu như vậy theo đạo luật dă man này; nhưng đau đớn nhất cho dân Kurd là các chính quyền "tôn trọng tự do" của Tây Phương không hề lưu ư đến những hành động dă man tàn khốc của chính quyền tàn độc ở thủ đô Baghdad. Hành động tàn độc dă man của Saddam Hussein làm cho ta nhớ đến việc Đức Quốc Xă của Hitler tàn sát dân Do Thái trước khi họ lập quốc vào năm 1948, sau bao nhiêu trận giao tranh với quân đội Ả Rập của các nước bao quanh vùng đất Palestine.

Ngọn gió chính trị cũng đă bắt đầu đổi chiều ở vùng Trung Đông. Vào thượng tuần tháng 8, 2002 chính quyền Iran đă tiếp phái đoàn đối lập Iraq do Ahmed Chalibi, chủ tịch Iraqi National Congress cầm đầu, trước khi phái đoàn này bay qua thủ đô Hoa Thịnh Đốn để gặp Phó Tổng Thống Dick Cheney, rồi thăm viếng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Ngũ Giác Đài. Tại Tehran, chủ tịch Chalibi có gọi điện thoại cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hay là Iran vừa từ chối việc Saddam Hussein yêu cầu Iran giao lại cho Iraq một số phi cơ khu trục và phóng pháo của họ bay quá tá túc bên Iran để tránh bom của Hoa Kỳ, qua trung gian điều đ́nh của ngoại trưởng Primakov của Liên Xô thời bấy giờ. Đồng thời Chalibi cũng cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết thêm là Iran đă từ chối lời đề nghị của Saddam Hussein muốn mua của Iran một số vũ khí và quân cụ để chống lại cuộc tấn công sắp tới của quân đội Hoa Kỳ.

Cuộc thăm viếng Thổ Nhĩ Kỳ của thứ trưởng Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ Wolfowitz trong tháng 7 vừa qua cho biết là giới quân sự Thổ cũng rất ủng hộ cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Iraq để hạ bệ Saddam Hussein vào mùa đông tới đây. Chính quyền Thổ cũng sẽ ban hành một số đạo luật về nhân quyền có lợi cho dân thiểu số Kurd ở miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ vào thượng tuần tháng 11 tới đây, và đó cũng là mối băn khoăn của ông Wolfowitz trong cuộc viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ lần này, v́ nếu không làm cho dân thiểu số Kurd vừa ḷng th́ sự hợp tác của họ trong cuộc tấn công vào Iraq chưa chắc đă xuôi chèo mát mái; v́ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, từ 1991 cho đến nay, không có chính quyền nào ở Hoa Kỳ chịu để ư đến việc cấp thiết là giải quyết vấn đề dân Kurd bằng cách thu xếp cho dân thiểu số này một quốc gia độc lập giữa miền Đông Bắc Iraq và Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, và làm được việc này th́ vùng Trung Đông - đầy ắp dầu hỏa - mới hưởng được thanh b́nh lâu dài. Theo tài liệu mới nhất của hai tổ chức Nhân Quyền vừa được công bố liên quan đến việc Saddam Hussein ra lệnh tàn sát một cách quá dă man dân thiểu số Kurd sống trong vùng Đông Bắc của Iraq. Rồi Liên Hiệp Quốc cứ măi viện lư do là việc thành lập một quốc gia độc lập cho dân thiểu số Kurd sẽ gây loạn lạc trong nước Iraq và bất ổn sẽ đến với Thổ Nhĩ Kỳ trên miền Bắc của nước này. Rồi họ viện cớ mặc dầu dân Kurd chưa có được một quốc gia để cho họ trú ngụ mà từ 15 năm nay, miền Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ vẫn ở trong t́nh trạng báo động khẩn trương do cuộc nổi dậy của dân thiểu số Kurd. Nhận xét đó quá đúng, v́ ngày nào dân tộc thiểu số Kurd chưa có một quốc gia độc lập để cho họ dung thân và có một quân đội để bảo vệ sự sống c̣n của dân Kurd, bắt buộc họ phải nổi loạn để dành cho được độc lập th́ họ mới thôi.

       Trong khi một số quốc gia trong Vùng Vịnh lên tiếng khẳng định chống việc dự tính của Hoa Kỳ tấn công Iraq và sẽ không chấp nhận cho Hoa Kỳ đồn quân trên nước họ để tấn công Iraq, như Jordan và Ả Rập Saudi chẳng hạn, th́ dư luận báo chí quốc tế cho rằng - sở dĩ các nước này tuyên bố như vậy - là v́ sợ Iraq tấn công nước của họ trước khi bị Hoa Kỳ tấn công. Lư luận này có thể đúng đối với Jordan, chứ chưa chắc đă đúng đối với Ả Rập Saudi.

Từ bao nhiêu năm nay dân Kurd đă mất hết niềm tin vào các nước tự do Tây Phương và họ cho rằng những quốc gia này đang tránh không muốn chạm đến quyền lợi lănh thổ của quốc gia Iraq nếu chấp nhận cho dân Kurd được trở thành một quốc gia. Giờ đây, nếu Hoa Kỳ hứa hẹn với họ là sau khi chiến thắng Saddam Hussein rồi th́ dân Kurd sẽ có được một quốc gia độc lập, và chỉ có hứa hẹn như vậy th́ toàn thể dân Kurd sẽ hăng hái tham gia vào cuộc chiến tiêu diệt Saddam Hussein, kẻ thù truyền kiếp của họ. C̣n như sợ rằng Thổ Nhĩ Kỳ lo ngại dân Kurd - một khi được độc lập - sẽ gây khó dễ cho chính quyền Ankara, th́ đó chỉ là viện dẫn một lư do rất yếu để hợp thức hóa những vi phạm trắng trợn về nhân quyền của họ đối với dân thiểu số Kurd mà thôi. Và chỉ có như vậy th́ miền Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ mới hưởng được ḥa b́nh lâu dài.

Tại sao Hoa Kỳ lần này lại chịu công khai chấp nhận là sẽ bảo vệ dân Kurd cư ngụ trên miền Bắc Iraq nếu có xảy ra cuộc tấn công giải thoát dân Iraq khỏi ách độc tài khát máu của Saddam Hussein và không để cho tên độc tài này tàn sát dân Kurd một lần thứ hai như đă xảy sau vụ nổi dậy trong năm 1991.

Ngược lại, tại sao một nhân viên cao cấp trong chính quyền cộng ḥa hiện nay lại từ chối không lặp lại lời hứa hẹn bảo vệ này đối với dân Hồi giáo Iraq, thuộc hệ phái Shia, đang sinh sống tại miền Nam Iraq? Lư do là dân hồi giáo Shia này có nhiều liên hệ mật thiết và được nước Iran ngấm ngầm vơ trang để chống lại Saddam Hussein. Chúng ta nên nhớ Iran là nước đang bị Hoa Kỳ liệt kê vào sổ đen nuôi dưỡng bọn khủng bố quốc tế mà Hoa Kỳ đang lên án. Sau khi tŕnh bày với Ủy Ban Cố Vấn và chiếu xong 24 slide trên màn ảnh, nhà phân tích gia Murawiec đưa đến kết luận Ả Rập Saudi là nước ủng hộ quân khủng bố Hồi giáo chống lại Hoa Kỳ và là kẻ thù nguy hiểm nhất của Hoa Kỳ tại Trung Đông và đề nghị chính phủ Hoa Kỳ nên gởi tối hậu thư cho nước này rằng nếu họ không chấm dứt việc ủng hộ bọn khủng bố th́ Hoa Kỳ có thể đi đến biện pháp chiếm đóng các mỏ dầu hỏa tại Trung Đông và tịch thu tài sản của họ gởi trong các ngân hàng Hoa Kỳ. Cuộc tŕnh bày này lẽ tất nhiên không phải là phản ảnh quan điểm của Ủy Ban Cố Vấn hay của chính phủ Hoa Kỳ; nhưng trước khi chấm dứt th́ chỉ có một ḿnh ông Henri Kissinger lên tiếng bênh vực cho Ả Rập Saudi mà thôi.

Cũng xin lưu ư bạn đọc hiện nay ông Kissinger có một văn pḥng luật sư ở New York: Kissinger Associates để bênh vực quyền lợi cho các quốc gia hay các đại công ty của bất cứ nước nào trên thế giới chịu đóng tiền cho ông ta, thường thường ít nhất là nửa triệu mỹ kim mỗi năm.

Một thí dụ cụ thể liên quan đến ông Kissinger bênh vực công ty Freeport Indonesian Company ở Nam Dương bị các tổ chức từ thiện quốc tế tố cáo đă vận dụng quân đội Nam Dương tàn sát thổ dân Papua trên đảo Irian Jaya, nơi mà công ty này đang khai thác mỏ vàng Grasberg lớn nhất thế giới, trên cao độ 4000 mét, trong rặng núi Sudirman. Công ty Freeport Indonesian Company là một chi nhánh của đại công ty Hoa Ky McMoran Copper & Gold ở New Orleans, Hoa Kỳ. Trong khi công ty Freeport bị tố cáo tàn sát thổ dân Papua trên đảo Irian Jaya, th́ chủ tịch của "công ty mẹ" McMoran đă mướn ông Kissinger sáu trăm ngàn mỹ kim mỗi năm để nhờ ông ta vận động với Ṭa Bạch Ốc can thiệp dùm.

Ngày 10 tháng 7, 2002 vừa qua, nhật báo Washington Post có đăng tải bài tường thuật về một buổi họp của "Ủy ban Cố vấn về Chính sách Quốc pḥng" của Ngũ Giác Đài để nghe Laurent Murawiec, một phân tích gia của Rand Corp. tŕnh bày về đường lối chính trị hiện nay của nước Ả Rập Saudi. Có mặt trong buổi họp này toàn là tai to mặt lớn của chính giới Hoa Kỳ như quư ông: Richard Perle, cựu phụ tá Bộ trưởng Quốc Pḥng, đương kim chủ tịch Ủy Ban, cựu Phó tổng thống Dan Quayle, cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Henri Kissinger, quí ông cựu Bộ trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger và Harold Brown, cựu chủ tịch Ha viện Hoa Kỳ Newt Gingrich và Tom Foley, 2 vị cựu Phó Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, đô đốc David Jeremiah và William Owens. Trong vụ "tố khổ Ả Rập Saudi" của phân tích gia Laurent Murawiec th́ chỉ có một ḿnh ông Henri Kissinger lên tiếng bênh vực cho Ả Rập Saudi mà thôi, và theo ông ta th́ Ả Rập Saudi là một quốc gia thân Hoa Kỳ ở miền Trung Đông và chúng ta có thể "điều khiển" họ. Trong khi đó th́ người điều khiển chính sách đối ngoại cũng như đối nội của Ả Rập Saudi là hoàng thân Abdullah, người sẽ lên ngôi vua ở Ả Rập Saudi sau khi quốc vương Fahd qua đời. Có thể nói là trong nước Ả Rập Saudi, người số một chống Hoa Ky là Osama Bin Laden và người chống Hoa Kỳ số 2 không ai vượt qua được hoàng thân Abdullah. Ông Kissinger cũng cho biết hiện nay Ả Rập Saudi không phải là thân chủ của công ty Kissinger Associates, nhưng biết đâu trong tương lai gần đây công ty của ông lại chẳng nhận được hàng trăm triệu mỹ kim của Ả Rập Saudi th́ sao ?

       13. Nước Nga: Sau Cơn Mưa Trời Lại Sáng 

       Đang lúc Ả Rập Saudi bị "tố" là kẻ thù của Hoa Kỳ, th́ Iran - một nước bị tổng thống Bush liệt vào hàng cao nhất trong các nước đỡ đầu cho bọn khủng bố Bin Laden - đă "đá hậu" Ả Rập Saudi một cú đá động trời bằng cách trao cho nước này 16 tên cán bộ khủng bố của Osama Bin Laden có quốc tịch Ả Rập Saudi, mà nước này giam giữ từ lâu. Hành động này đặt Ả Rập Saudi vào một thế cỡi cọp, v́ nếu chính quyền Ả Rập giao 16 tên khủng bố này cho Hoa Kỳ, th́ họ sẽ bị nhân dân của họ nguyền rủa, c̣n nếu không trao chúng cho Hoa Kỳ th́ sẽ bị dư luận thế giới cho rằng lời tố cáo của phân tích gia Laurent Muriawic của Rand Corp. xếp loại Ả Rập Saudi và nhất là Cơ Quan T́nh Báo của nước này vào hàng kẻ thù số 1 của Hoa Kỳ ở Trung Đông là đúng. Và đàng nào Ả Rập Saudi cũng "chết một cửa tứ" cho mà xem!

Phe Ả Rập Hồi giáo th́ gân cổ lên bảo rằng : "Có cứng mới đứng đầu gió", nhưng nếu là gió nồm th́ đúng đấy, c̣n gió đến từ Hoa Kỳ lại là gió băo táp (tornado), đến như ṭa nhà bin đin bê tông cốt sắt cũng bị cơn gió băo này cuốn xập luôn th́ sá ǵ "ngôi báu" của ḍng họ Saud mà tổ tiên chỉ biết chăn cừu trong sa mạc, th́ làm sao trụ lại băo táp đến từ Hoa Kỳ ?

       Mối quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ hiện nay dựa trên nền tảng kinh tế, và như người Việt ta thường nói, bánh ít trao đi, bánh qui trả lại. Thành thật mà nói, dụng ư của Nga móc nối với Hoa Kỳ là không phải có dụng ư bán dầu hỏa cho Hoa Kỳ, mà mục tiêu chính họ nhắm là sự hỗ trợ của Hoa Kỳ ở các nơi khác trên thế giới. Và Hoa Kỳ cũng hứa là sẽ tận dụng ảnh hưởng của họ để giúp Nga trong lănh vực đó.

Một thí dụ cụ thể hiện nay các công ty dầu hỏa Nga đang gặp sự chống đối tại các nước Âu Châu khi họ muốn thiết kế tại nơi đây một số cơ sở lọc và phân phối dầu. Và họ chỉ muốn nhờ Hoa Kỳ nói một tiếng với các nước Âu Châu rằng dầu hỏa của Nga cũng xài được lắm. Đồng thời Nga cũng mong rằng Hoa Kỳ rồi đây sẽ trực tiếp đầu tư vào nước Nga, v́ hiện nay Nga rất cần vốn của ngoại quốc để giúp họ khai thác những mỏ dầu mới v́ một số mỏ cũ đă cạn rồi. Nhưng vấn đề đầu tư này c̣n phải lệ thuộc vào luật lệ nhiêu khê của Nga, nên c̣n phải mất một thời gian nữa để cho hai bên đả thông tư tưởng, rồi mới tiến hành công việc hợp tác được. C̣n dụng ư nhất thời của công ty Yukos hiện nay là cốt đề cao vai tṛ của họ đối với giới dầu hỏa quốc tế, v́ từ trước tới nay, dầu hỏa Nga xuất cảng th́ ít mà đem xài phung phí cho các xí nghiệp của nhà nước th́ nhiều, nên ở ngoại quốc ít biết đến dầu hỏa của Nga là vậy đó. Việc đầu tư vốn của các công ty ngoại quốc vào nước Nga đang gặp khó khăn là v́ T.T. Putin - tuy ngoài miệng th́ hô hào các nước ngoài đầu tư vào việc mở mang ngành khai thác dầu hỏa của Nga, nhưng bản năng bảo thủ của ông ta lại muốn chận các đại công ty ngoại quốc không được quyền mua đất trong nội địa nước Nga, và làm như vậy là chận đứng việc các công ty này không có quyền được làm sở hữu chủ những mỏ dầu t́m được trong nội địa nước Nga. Lại thêm luật của Quốc Hội Nga không cho các công ty này được quyền hưởng loại thuế sản xuất nhẹ, dành đặc biệt cho các công ty dầu hỏa. Điểm khó khăn thứ ba là Nga chỉ muốn cổ xúy các công ty ngoại quốc khai thác dầu của những mỏ ở ngoài khơi các biển của Nga, v́ họ biết khai thác những mỏ dầu ngoài biển rất tốn kém và nhiêu khê về vấn đề kỹ thuật mà ngành kỹ nghệ của Nga không đáp ứng kịp. V́ vậy, họ có thể dùng luật pháp để dành độc quyền việc khai thác dầu trong nội địa, dễ dàng hơn nhiều đối với họ.

Hiện giờ, Nga đang cần sự đầu tư của các công ty ngoại quốc với một số vốn 4500 triệu mỹ kim để khai thác những mỏ dầu ngoài khơi đảo Sakhalin. dọc bờ biển Thái B́nh Dương, đồng thời thiết kế một ống dẫn dầu chạy dài từ Kazakhstan băng ngang qua nước Nga, rồi dẫn đến Hắc Hẳi. Nhưng đối với nước Nga hiện nay th́ Hoa Kỳ vẫn coi họ như là một "nước sản xuất đệm" mà thôi, tuy nhiên họ có thể tiếp tay cho Hoa Kỳ phần nào nếu Ả Rập Saudi trở mặt, lại áp dụng biện pháp cấm vận như là một biện pháp chế tài về chính trị một lần nữa. Tổng thống Bush cũng đă tính kỹ vấn đề dầu hỏa khi chưa gặp tổng thống Putin ở Mạc Tư Khoa. Sở dĩ ông khôn ngoan viện lư do hạ bệ Saddam Hussein và giải phóng dân Kurd là v́ gia đ́nh ông ở trong "lốp by dầu hỏa" nên ông muốn dùng mỏ dầu hỏa của Iraq làm "nguồn cung cấp đệm" cho Hoa Kỳ, nếu nước ông gặp rắc rối đối với OPEC của Ả Rập Saudi, và nhất là giảm thiểu quyền tăng giá dầu của nước này một cách quá lố trong tương lai.

       Ngày 3 tháng 7, 2002 một ngày trước ngày lễ độc lập của Hoa Kỳ, chiếc tàu chở dầu "Astro Lupus" thuộc công ty dầu hỏa Yukos của Nga cặp bến tàu Houston, mang đến cho một số nhà máy lọc dầu Hoa Kỳ 2 triệu thùng dầu thô, mỗi thùng có thể tích khoảng 150 lít, nghĩa là chiếc tàu dầu này, trong đợt đầu tiên đến Hoa Kỳ đă mang đến cho một số công ty dầu Hoa Kỳ 3 trăm triệu lít dầu thô của Nga. Đây là một số lượng dầu khá to lớn, v́ trong đệ nhị thế chiến, khi không quân Hoàng Gia Nhật Bản đến oanh tạc bất thần hải quân Hoa Kỳ đóng ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), th́ một điều lầm lẫn rất lớn của họ - là v́ quá đắc ư về kết quả thu được - nên họ quên thiêu hủy bằng cách bắn phá một số bồn chứa dầu của Hải Quân Hoa Kỳ ở cách hải cảng này chỉ có 5 dặm mà thôi. Về sau, Đô Đốc Chester Nimittz đă tiết lộ phải chi lúc ấy không quân của Nhật Bản bắn cháy tiêu những bồn dầu chứa đựng 4 triệu rưỡi thùng dầu dự trữ (tương đương với 675 triệu lít) th́ cuộc chiến tranh bắt buộc phải kéo dài thêm 2 năm nữa.

       Tất cả sự việc xảy ra trên đây trong ṿm trời nặng mùi thuốc súng của Trung Đông đều được cơ quan t́nh báo hải ngoại SVR của Nga báo cáo tỷ mỉ về cho tổng thống Putin để ông này có một tầm nh́n bao quát trước khi có quyết định thích nghi có thể mang quyền lợi đến cho nước Nga. Nh́n về quá khứ, từ gần một thế kỷ trước đây, nước Nga bao giờ cũng "đứng mũi chịu sào" trong mọi sự việc chống lại Hoa Kỳ trên khắp thế giới, kể cả việc chạy đua vơ trang mà kết quả cuối cùng là một sự thất bại nặng nề đưa dân tộc Nga đến sự bần cùng, cơ cực, khó có thể tưởng tượng được. Thế là Nga bán dầu hỏa cho Mỹ và Mỹ chịu mua dầu hỏa của Nga. Nếu mọi việc đều xuôi chèo mát mái, th́ rồi đây trong tương lai, rất có thể dân Ả Rập Saudi - v́ không tiêu thụ được dầu hỏa của họ như trước nữa - nên đành trở về lại sa mạc để sinh sống, ăn trái chà là và uống sữa dê, cừu để sống cho qua ngày. Tiên đoán như vậy cũng có vẻ hơi lạc quan tếu, nhưng biết đâu đạo trời có vay th́ phải có trả.

       Nhờ sự hữu hiệu của mật vụ SVR, tổng thống Putin đă biết tường tận là trong khoảng tháng 4, 2002 hoàng thân Abdullah của Ả Rập Saudi đă đe tổng thống Bush là sẽ cấm vận dầu hỏa trong 2 tháng nếu vấn đề ḥa b́nh ở Trung Đông không được giải quyết giữa Do Thái và Palestinian. Ông ta cũng biết tổng thống Bush rất đỗi bực ḿnh và hận hoàng thân Abdullah lúc nào cũng đem vấn đề cấm vận dầu hỏa ra hăm dọa Hoa Kỳ, nên ông đă bàn với bộ tham mưu  là trong chuyến viếng thăm nước Nga của tổng thống Bush vào hạ tuần tháng 5, 2002 ông sẽ đặt vấn đề cung cấp dầu hỏa của Nga cho Hoa Kỳ, đồng thời nếu không "hốt" được thị trường dầu hỏa của các nước Ả Rập ở Trung Đông đối với Hoa Kỳ (chỉ có 15% thôi) th́ ít nhất cũng để cho Hoa Kỳ thấy từ nay các nước Ả Rập không c̣n dám làm "săng ta" Hoa Kỳ về chính trị nữa. Và nếu Hoa Kỳ chấp nhận, th́ kể từ nay, không những Hoa Kỳ sẽ không c̣n bị lệ thuộc về dầu hỏa đối với các nước Ả Rập ở Trung Đông, mà cả hai nước Nga và Hoa Kỳ có thể đi đến việc hủy bỏ những hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử nhiều hơn nữa, như vậy đối với Nga lại khỏi phải chi tiền ra để bảo tŕ việc tồn trữ những hỏa tiễn này, rất có lợi cho công quỹ trong t́nh trạng quốc gia đang c̣n chưa được dồi dào về tài chánh cho lắm. Đúng là nhất cử mà lưỡng tiện. Đề nghị này đă được tổng thống Putin đưa ra tŕnh bày với tổng thống Bush và ông này đă đồng ư ngay.

       Trong hai thập niên 1980 và 1990, Nga đă bán chịu cho Saddam Hussein trên một trăm tỷ mỹ kim về đủ loại vũ khí và khi xảy ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh th́ Iraq c̣n nợ Nga 80 tỷ mỹ kim chưa trả được. V́ vậy ngoại trưởng Liên Xô thời đó là Primakov đă chạy khắp nơi trên thế giới để nhờ các nhà cầm quyền nói hộ với tổng thống Herbert Bush đừng hỏi tội Iraq nữa, nếu hắn ta chịu rút quân khỏi tiểu quốc Kuweit, v́ Liên Xô sợ Iraq thua th́ sẽ quỵt nợ của Liên Xô. Số tiền nợ đó cho đến nay cũng vẫn chưa trả hết, nhưng thái độ tổng thống Putin của Nga đối với sự quyết tâm của tổng thống W. Bush đánh Iraq rất thản nhiên, không chống đối và nếu nói rơ ra là ông ta ủng hộ ông Bush trong việc này th́ có lẽ cũng không sai. Đây là một khúc quanh lịch sử trong vấn đề ngoại giao của nước Nga đối với Hoa Kỳ, kể từ khi chế độ cộng sản khai sinh ở Nga, rồi sụp đổ 70 năm sau, và cho đến ngày nay. Tổng thống Putin của Nga và bộ tham mưu đầu năo của ông ta đều thấy rơ việc nước Nga chống đối Hoa Kỳ từ trước đến nay là một sai lầm rất lớn và họ quyết tâm sửa sai bằng cách bắt tay Hoa Kỳ để cùng nhau đồng tiến bước trên con đường thịnh vượng lâu dài của tương lai.  Ư nghĩ đầu tiên của người Hoa Kỳ là dầu hỏa Nga sẽ đánh bật dầu hỏa Ả Rập, nhưng nếu chuyện đó có xảy ra th́ cũng c̣n lâu, v́ lượng dầu tồn trữ trong ḷng đất của Ả Rập Saudi bằng một phần tư lượng dầu tồn trữ trên thế giới. Sự có mặt của dầu hỏa Nga trên thị trường thế giới có thể - kể từ nay - sẽ vô hiệu hóa ảnh hưởng của dầu hỏa thuộc vùng Trung Đông. Hai chính phủ Nga và Hoa Kỳ đều gọi cuộc gặp gỡ giữa hai vị tổng thống của 2 nước là một cuộc "đối thoại về năng lượng". Trong bản tuyên bố chung, hai ông Bush và Putin đều hứa hẹn là sẽ phát triển sự hợp tác song phương nhằm giảm thiểu t́nh trạng bấp bênh và đề cao việc dự đoán giá cả của dầu hỏa trên thị trường quốc tế, đồng thời đẩy mạnh việc đầu tư vào kỹ nghệ sản xuất dầu hỏa Nga.

      14. Trung Cộng và Trung Tâm Đào Tạo Khủng Bố Tại Miền Nam A Phú Hăn 

      Khi tin bọn khủng bố của Bin Laden cướp máy bay và cho đâm vào Ngũ Giác Đài và hai cao ốc của Trung Tâm Thương Măi Quốc Tế được các đài truyền thanh, truyền h́nh quốc tế loan tin, th́ hai nước đầu tiên trên thế giới cho dân chúng tổ chức biểu t́nh ủng hộ bọn khủng bố Bin Laden và liên hoan là hai nước cộng sản Trung Cộng và Việt Nam. Thế rồi vài hôm sau đó, khi thấy đa số các nước trên thế giới lên tiếng chia buồn với Hoa Kỳ và t́nh nguyện tham gia vào mặt trận chống và tiêu diệt bọn khủng bố trên toàn thế giới - và khi thấy Nga cũng tham gia vào mặt trận này - th́ Trung Cộng bèn lật đật tuyên bố xin tham gia, nhưng không phải để chiến đấu, mà để chia sẻ với Hoa Kỳ những tin tức về bọn khủng bố. Dĩ nhiên  Hoa Kỳ thừa biết ư đồ đen tối của Trung Cộng khi xin tham gia tổ chức chống khủng bố này là cốt để "nằm vùng" hầu lấy thêm tin tức của Hoa Kỳ để rồi lại ngầm thông báo lại cho Osama Bin Laden biết. Tuy biết như vậy nhưng Hoa Kỳ cũng vẫn cứ nhận cho Trung Cộng tham gia vào Mặt Trận Chống Khủng Bố Quốc Tế này để cho xôm tṛ về phương diện tuyên truyền với thế giới và cũng để kiểm soát ngầm hành động của Trung Cộng cho dễ. C̣n Việt Cộng biết ḿnh nhỡ tàu rồi v́ bị đàn anh bỏ rơi, nên đành phải im hơi lặng tiếng.

       Một bản phúc tŕnh "Mật" dày 166 trang đă được đệ tŕnh lên TT.  W. Bush tám ngày trước khi xảy ra vụ khủng bố làm nổ sập hai cao ốc WTC ở New York và làm sập một phần nhỏ Trung Tâm Quân Sự của Ngũ Giác Đài ngày 11 tháng 9, năm 2001, đă vạch trần mọi lỗi lầm đă phạm phải của cơ quan FBI từ 3 năm nay: báo cáo để sang một bên không đọc, hoặc không có ǵ quan trọng cho lắm để cho ông giám đốc Louis Freeh phải mất công bỏ thời giờ ra để đọc và lắm khi ông giám đốc cơ quan cũng không hay biết ǵ về những điều lầm lỗi này để bổ khuyết hoặc để t́m hiểu xem có phải những lỗi lầm này là cố ư hay là do kết quả của sự thiếu khả năng của một số chuyên gia  hay luận giả viên; từ chối không chịu nghe những lời khuyến cáo của các chuyên gia - nay đă về hưu - như ông Vincent Cannistraro, có một thời từng làm Vụ Trưởng chống khủng bố tại cơ quan CIA.

       Trong tám năm đảng Dân Chủ cầm quyền, t́nh trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược đă xảy ra rất thường trong nội bộ cũng như giữa các cơ quan đặc trách t́nh báo của Hoa Kỳ. Trong nhiều năm qua, Cơ Quan FBI (Cơ Quan An Ninh Điều Tra Liên Bang )cũng như cơ quan CIA ( Trung Ương T́nh Báo )của chính phủ Hoa Kỳ đă bị người của bên "địch" - không cần biết xuất xứ - xâm nhập rất nhiều, đó là chưa kể việc tuyển dụng vào trong cơ quan một số chuyên viên tuy có khả năng về chuyên môn nhưng lại không có một tư hiểu biết ǵ về tâm lư kẻ thù của Hoa Kỳ là bọn khủng bố. Trong khi đó th́  FBI , CIA, cũng như cơ quan NSA hay NSC( Hội Đồng An Ninh Quốc Gia ) lâm vào t́nh trạng ganh tỵ trầm trọng giữa các cơ quan với nhau, đồng thời tỵ hiềm xảy ra ngay trong nội bộ của từng cơ quan riêng biệt. Mấy tháng trước khi cựu tổng thống Clinton măn nhiệm kỳ th́ giới t́nh báo Hoa Kỳ đă nhận được tin là Trung Cộng vừa được chính quyền Taliban của A Phú Hăn chấp nhận cho hai công ty quốc doanh của Trung Cộng về ngành truyền tin viễn liên là Huawei Technologies và Zhongxing Telecom được "phép" hoạt động tại thủ đô Kabul để thiết kế cho Cục Dân Quân của Taliban một hệ thống điện thoại vừa đủ cho khoảng 130,000 người dùng. Sự có mặt không kèn không trống tại Kabul của hai công ty viễn liên của Trung Cộng nói trên đă chứng minh cho quốc tế biết là Trung Cộng luôn luôn nói một đàng mà làm một nẻo v́ trước đó Trung Cộng đă từng rêu rao là họ chả có công ty nào hoạt động tại A Phú Hăn cả. Công ty Huawei Technologies là một trong 3 công ty viễn liên của Trung Cộng đă từng vi phạm lệnh của Liên Hiệp Quốc cấm thiết kế cho Iraq một hệ thống viễn liên bằng sợi quang học, v́ hệ thống này có mục đích điều chỉnh độ chính xác của các dàn cao xạ pḥng không khi bắn các phi cơ đồng minh bay trên không phận Iraq. C̣n Zhongxing Telecom th́ phụ trách việc thiết kế hệ thống điện thoại cho Nam Tư dưới thời Milosevic.

       Gần đây nhất là vụ John O' Neill, 49 tuổi, một chuyên viên đặc trách điều tra, theo dơi bọn khủng bố Hồi Giáo, và đă từng được biệt phái mở cuộc điều tra về vụ khủng bố cho nổ bom phá hoại chiếc diệt ngư lôi hạm Cole của Hoa Kỳ tại Aden thuộc Yemen, và một số vụ phá hoại khác bằng chất nổ - vào năm 1998 - tại các ṭa đại sứ Hoa Kỳ ở miền Đông Phi Châu. Vụ điệp viên Ames của Liên Xô nằm vùng trong cơ quan CIA ngót 20 năm rồi mới bị phát hiện; rồi đến vụ điệp viên Robert Philip Hanssen - cũng của Liên Xô -  được cài vào cơ quan FBI  hơn 15 năm rồi mới bị bắt ngày 18 tháng 2 năm 2001, đă chứng minh rơ sự bất lực của hai cơ quan t́nh báo đầu năo quan trọng nhất của Hoa Kỳ dưới sự lănh đạo của chính quyền đảng Dân Chủ trong suốt 2 nhiệm kỳ của cựu T.T. Clinton.  Nhưng điểm thành công của bọn khủng bố không phải hoàn toàn do ở chúng mà do sự chia rẽ trong các cơ quan đặc trách về t́nh báo có nhiệm vụ theo dơi hoạt động của bọn khủng bố trên khắp thế giới, nhất là trên lănh thổ Hoa Kỳ, dưới  8 năm lănh đạo của chính quyền thiên tả Clinton.

      Vào mùa hè năm 2001, John O' Neill đă bỏ quên - v́ vô t́nh hay hữu ư th́ không biết - trong pḥng họp tại Tampa một va li nhỏ đựng tài liệu mật. Chiếc va li này đă biến mất trong một thời gian ngắn, nhưng rồi lại được một bàn tay bí mật đặt trở lại chỗ cũ như trước; và O' Neill đă báo cáo với thượng cấp của y về vụ "quên" này, nhưng biết đâu đó là một mánh khóe để che đậy sự phản bội của y. Nhưng dầu sao th́ sự bỏ quên chiếc va li đựng tài liệu mật của y trong pḥng họp là một hành động không thể tha thứ được nhất là đối với một chuyên viên t́nh báo cao cấp th́ lại càng khó tin. Riêng bà Barbara Bodine, đại sứ Hoa Kỳ tại Yemen đă kết tội ông này lúc bà đứng ra điều tra việc quân khủng bố cho bom nổ gây thiệt hại nặng nề cho chiếc diệt ngư lôi hạm Cole của Hoa Kỳ tại hải cảng Aden, thuộc Yemen. Và đó chỉ là một "vụ" trong nhiều vụ khủng bố khác có liên quan đến tên trùm khủng bố Osama Bin Laden, trong 18 tháng cuối cùng sau này.

       15. Khủng Bố và Vai Tṛ của Trung Cộng  

       Giám đốc của Huawei Technologies là một sĩ quan cao cấp của Hồng Quân Trung Cộng và chuyên thiết kế những hệ thống viễn liên cho Quân Đội Giải Phóng Trung Hoa. Khi nhà chức trách Hoa Kỳ cật vấn Zhu Bangzao, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng th́ được cho biết sự liên lạc giữa Trung Cộng với phe Taliban của A Phú Hăn rất là hạn hẹp và tin đồn Trung Cộng giúp cho Taliban thiết kế một số hệ thống điện thoại, và giúp cho nhóm này xây cất một đập nước là hoàn toàn vô căn cứ. Ông Zhu cũng chối bén tin đồn Trung Cộng có cử một phái đoàn qua Kabul để thương thuyết và kư kết một văn kiện nhằm viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho chính quyền Taliban đúng vào ngày nhóm khủng bố Bin Laden gây chết chóc tại Hoa Kỳ là hoàn toàn vô căn cứ. V́ Trung Cộng bao giờ cũng chối những ǵ họ đă từng làm tại Iraq cũng như tại Kabul nên nhân viên t́nh báo của Hoa Kỳ bao giờ cũng theo dơi sát nút hành động của Trung Cộng ngoài mặt th́ tuyên bố ủng hộ Hoa Kỳ chống khủng bố quốc tế, nhưng vẫn ngấm ngầm ủng hộ phe dân quân Taliban, phe ngấm ngầm bảo vệ Osama Bin Laden, tên sát nhân chủ trương các vụ phá hoại làm chết hơn 7000 người ở  Hoa kỳ, ngày 11 tháng 9, năm 2001. V́ Trung Cộng không bao giờ chủ trương giúp Hoa Kỳ chống khủng bố của Bin Laden, nhưng v́ không dám chường mặt ra làm chuyện đó, nên đành phải giả vờ chạy theo Hoa Kỳ để dễ bề phá thối từ bên trong như đưa điều kiện nên giao cuộc chiến tranh khủng bố lại cho Liên Hiệp Quốc điều khiển, giống hệt như Iran đề nghị, nghĩa là hạn chế quyền lực của Hoa Kỳ trong chiến dịch chống khủng bố quốc tế, hay nói một cách khác là vô hiệu hóa cuộc chiến tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ đề xướng để cho bọn khủng bố c̣n có cơ hội tấn công Hoa Kỳ nhiều lần nữa mà vẫn không bị trừng phạt, c̣n phía lănh đủ th́ chỉ có Hoa Kỳ mà thôi.

       Trong tháng 8 vừa qua, chính Bin Laden đă đích thân kêu gọi nên phát triển  mối "giao hảo tốt" giữa A Phú Hăn và Trung Hoa, v́ mối giao hảo này có lợi cho Trung Hoa, đồng thời sẽ giảm thiểu ảnh hưởng của Hoa Kỳ về quân sự cũng như về kinh tế ở Á Châu, theo tiết lộ của báo Islamabad Ausaf xuất bản tại Pakistan. Cơ quan truyền thông chính thức của chính quyền Iran tiết lộ vào tháng 12, 1998, Taliban và chính quyền Trung Cộng có kư kết một thỏa ước về hợp tác quân sự, trong đó có một điều khoản đề cập đến việc Taliban cung cấp cho Trung Cộng những hỏa tiễn của Hoa Kỳ bắn vào các trung tâm huấn luyện khủng bố của Taliban mà không nổ, vào tháng 8 cùng năm. 

Một bằng chứng cụ thể nhất vạch trần âm mưu lén lút đi đêm - nếu tránh không nói là giựt dây - với tay chân bộ hạ của bọn khủng bố Bin Laden của Trung Cộng là " việc chính trị bộ của Trung Cộng ra lệnh cho Cục Chính Trị của Hồng Quân dịch ra tiếng Ả Rập quyển sách "Chiến Tranh Không Hạn Chế" (Unrestrictde Warfare ) của đại tá Kiều Lương (Col. Qiao Liang )và đại tá Vương Tương Toại ( Col. Wang Xiangsui ) , đại tá trong hàng ngũ quân đội giải phóng của Trung Cộng. ( "Unrestricde Warfare " China's Master Plan To Destroy America By Col. Qiao Liang and Col. Wang Xiangsui People's Liberation Army, Introduction by Al Santoli - Pan America Publishing Company ) Quyển sách này được dịch ra bằng tiếng Ả Rập và được Trung Cộng gởi qua A Phú Hăn cho Bin Laden dùng làm tài liệu học tập trong các trung tâm đào tạo cán bộ khủng bố rải rác khắp miền Nam A Phú Hăn" , nhất là chung quanh thị trấn Kandahar và ở những thị trấn dọc theo biên giới của Pakistan. Đặc điểm của quyển sách này là cổ xúy việc xử dụng thành phần cảm tử sẵn sàng hy sinh tánh mạng trong các công tác khủng bố như vừa xảy ra ở Hoa Kỳ, hôm 11 tháng 9, 2001.

Sau khi xảy ra vụ khủng bố giết hại gần 7000 người, Kiều Lương và Vương Tương Toại đă được Thông Tấn Xă Trung Cộng phỏng vấn và họ đă tuyên bố một cách mập mờ rằng 7000 người chết đó là nạn nhân của đường lối ngoại giao Hoa Kỳ, đồng thời họ cũng cho biết Bin Laden là một chiến sĩ anh hùng mà dân Trung Hoa nên noi gương và bắt chước.

Có hai điểm đáng ghi trong hành động của nhóm khủng bố Bin Laden: trong khi thực hiện một công tác có tầm vóc rộng lớn như vậy, bọn chúng chỉ dùng rất ít người, khoảng hơn mười chuyên viên về kỹ thuật hàng không và vài chục tên quá khích được huấn luyện về công tác đặc công và sẵn sàng hy sinh tánh mạng để được về với thượng đế Allah sau khi chết; hành động của chúng hoàn toàn khác hẳn với nhóm trí thức theo chủ nghĩa tích cực của Tây Phương.

       Thế rồi sau khi thôn tính xong Tây Tạng (Tibet) vào năm 1959, Mao liền ra lệnh cho công binh của Hồng Quân phải cấp tốc mở một xa lộ ở vùng cực Tây của Tây Tạng, giáp ranh với Ấn Độ, đồng thời xúi Hồi Quốc (Pakistan) đặt lại vấn đề Kashmir với nước này. Hành động đổ thêm dầu vào lửa, lợi dụng sự xích mích trầm trọng về tôn giáo giữa Ấn Độ có đa số dân theo Ấn Độ Giáo (Hinduism) và Hồi Quốc theo Hồi Giáo - của Trung Cộng - thật là vô cùng thâm độc. Chưa vừa ư, Mao Trạch Đông - vào đầu thập niên 1960 bèn xua quân xâm chiếm vùng đất thuộc miền Đông Bắc Ấn Độ, viện cớ vùng này thuộc về lănh thổ của Trung Hoa trước khi thực dân Anh qua xâm lăng Ấn Độ vào giữa thế kỷ thứ 19. Thời bấy giờ, thủ tướng Ấn Độ là ông Nehru - người chủ trương thành lập một lực lượng thứ Ba, trung lập, không thiên về Liên Bang Xô Viết mà cũng chả thân thiện ǵ cho lắm đối với các nước trong khối Thế Giới Tự Do do Hoa Kỳ làm đầu tàu. Khối này được mệnh danh là "Khối Các Quốc Gia Không Liên Kết", và ông Nehru thường hay huênh hoang tuyên bố rằng các nước ở trong khối của ông ta được cái lợi khỏe re là chả ai dám đụng tới ḿnh cả. Thế rồi đùng một cái, khi nghe tin miền Bắc Ấn Độ bị quân Trung Cộng tràn qua xâm chiếm, tất cả thành viên trong khối lực lượng thứ ba đều đồng loạt nín khe, chả có nước nào dám lên tiếng phản kháng dùm cho Ấn Độ. Cuối cùng trước t́nh trạng quốc gia lâm nguy, thủ tướng Nehru đành phải gạt nước mắt kêu cứu với hai nước Anh và Hoa Kỳ là những nước mà ông - đă bao phen tỏ thái độ miệt thị - v́ họ nặng đầu óc thực dân. Khi nghe được lời cầu viện khẩn cấp của thủ tướng Nehru rằng nước ông đang bị Trung Cộng xâm lăng, th́ Anh quốc và Hoa Kỳ bèn điều động ngay quân đội cùng phi cơ và đại bác lên vùng tranh chấp ở biên giới miền Bắc của Ấn Độ. Trước sự phản ứng mau lẹ của Anh quốc và Hoa Kỳ, Mao Trạch Đông bèn ra lệnh triệt thoái quân đội, nhưng vẫn c̣n giữ lại một vùng đất nhỏ nằm trong rặng núi Ladakh, tọa lạc dọc theo  miền Bắc biên giới Hoa Ấn. Hậu quả đến sau vụ Trung Cộng xâm lăng miền Bắc Ấn Độ là sự tan ră ngay tức th́ của "Khối Các Quốc Gia Không Liên Kết", tức là khối lực lượng thứ ba mà các nhà báo quốc tế đặt cho cái biệt hiệu không mấy tốt đẹp là "Hội Đồng Chuột". C̣n về phía Mao Trạch Đông, không biết khi y chết v́ bị bệnh giang mai thời kỳ thứ ba - theo y sĩ riêng của y là bác sĩ Lư Chí Tuy - có để lại chúc thư cho đàn em phải t́m cách tận diệt Ấn Độ hay không v́ mối thù không đội trời chung về sự cầu viện Hoa Kỳ và Anh Quốc, làm cho Mao mất mặt với thế giới về hành động hấp tấp chạy dài của y khi nghe tin liên quân Anh Mỹ sẽ kéo lên miền Bắc Ấn Độ, nhưng kỳ thật các chú Ba Tàu, v́ sợ đụng độ với liên quân nên đă vội vă vắt gị lên cổ mà chạy chứ đâu đă thấy bóng dáng của các ông "bạch quải" (quỷ da trắng). Thế rồi từ 1976 (năm Mao Trạch Động và Chu Ân Lai cùng chết) cho đến nay - một phần tư thế kỷ  đă qua - nhưng các cấp lănh đạo kế tiếp của Trung Cộng vẫn nuôi mối thù truyền kiếp đó và không ngớt công khai ủng hộ Pakistan để chống lại Ấn Độ.

       Mao Trạch Đông - một tín đồ trung thành của Lê Nin - sau khi chiếm xong Trung Hoa Lục Địa vào năm 1949, cũng đă nghĩ ngay đến cách mở mang bờ cơi về phía Tây. Cho nên năm 1950, Mao đă gởi cho Ấn Độ một thông điệp nói rằng đường ranh giới Mac Mahon giữa Ấn Độ và Trung Quốc rất thiệt tḥi cho nước của y và đ̣i xét lại vấn đề. Nhưng Ấn Độ làm lơ không chịu trả lời. Lúc sinh tiền, Lê Nin thường hay bảo với tay chân bộ hạ, một quốc gia muốn có thế đứng vững chắc trên hoàn cầu th́ phải luôn luôn t́m mọi cách để bành trướng lănh thổ, nếu không th́ sẽ bị teo lại hay là bị tan ră. Cũng theo y "bạo lực là bà mụ của lịch sử"; nhưng lịch sử cũng đă chứng minh chính bạo lực là động lực đưa đến sự tan ră của Liên Bang Xô Viết và chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới.

       Sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, một số nước trước kia là thuộc địa của Anh Quốc trong vùng Á Châu như Ấn Độ và Miến Điện đều đứng lên đ̣i độc lập. Chính quyền Anh quốc thấy khó mà cưỡng lại phong trào đ̣i độc lập của các nước thuộc địa của họ, nên đă đồng ư ngay, v́ thà người Anh ra đi mà nước Anh vẫn c̣n ở lại trong ḷng người dân Ấn Độ và Miến Điện, c̣n hơn là chính sách của nước Pháp vẫn cố níu kéo không chịu trả độc lập cho các nước thuộc địa ở Phi Châu và Á Châu như trong trường hợp của nước Việt Nam. Tuy Anh quốc có chứng tỏ thiện chí của họ trong vấn đề trả độc lập cho Ấn Độ, nhưng vẫn khôn khéo để lại một "củ trối" cho nước này bằng cách cắt đất Ấn Độ để lập thành một nước Pakistan mà đa số dân chúng đều theo Hồi Giáo. Nhưng v́ dân Ấn Độ theo Hồi Giáo lại tập trung đông đảo vào hai miền Tây và Đông Ấn Độ, nên nước Pakistan - trên phương diện quốc tế - th́ vẫn mang một tên chung, nhưng trên phương diện hành chánh th́ vẫn chia ra hai miền: Tây Pakistan và Đông Pakistan. Miền Đông  chiếm trọn vùng đất Pundjab ở Đông Bắc Ấn Độ lúc trước. V́ ở giữa hai miền Tây Hồi và Đông Hồi lại c̣n có giải đất Kashmir được Anh quốc giao cho Ấn Độ quyền quản trị, nên chính phủ Pakistan th́ đóng ở thủ đô Islamabad bên Tây Hồi, c̣n miền Đông Pakistan th́ đặt dưới quyền cai trị của một vị toàn quyền do chính quyền ở Tây Hồi chỉ định, chứ không phải do dân địa phương Pundjab bầu ra. Việc chính quyền Tây Hồi coi dân địa phương Pundjab như hạng dân loại 2 - hay nói nôm na là dân thuộc địa - nên dân Đông Hồi mới nổi loạn, đ̣i tách hẳn ra khỏi Tây Hồi để trở thành một nước riêng biệt Bangladesh. Chủ trương này của các chính trị gia Đông Hồi lại được chính phủ Ấn Độ nhiệt liệt ủng hộ, và khi xảy ra chiến tranh giữa hai vùng Đông và Tây Hồi th́ Ấn Độ giúp vơ khí và binh sĩ cho Đông Hồi đánh thắng Tây Hồi và lập ra nước Bangladesh, rất thân thiện với Ấn Độ, nhưng lại rất giống Pakistan (Tây Hồi) hiện nay về phương diện tham nhũng. Theo tài liệu mới nhất của báo chí quốc tế trong giữa năm 2001, th́ hai nước Hồi Giáo Pakistan và Bangladesh đứng đầu danh sách 10 quốc gia tham nhũng nhất trên thế giới hiện nay trước Nigeria, Indonesia, Uganda, Azerbaijan, Bolivia, Cameroon, Kenya, Ukraine và Tanzania.

       Từ khi phe Taliban thành lập chính phủ ở A Phú Hăn cho đến nay, nhất là sau khi tên trùm khủng bố quốc tế Osama Bin Laden bị Hoa Kỳ đặt ra ngoài ṿng pháp luật nên hắn phải chạy qua tị nạn tại A Phú Hăn và bỏ tiền của ra cho nông dân nước này vay dài hạn để trồng cây thẩu làm ra thuốc phiện dùng đầu độc các dân tộc trên thế giới mà nhất là Hoa Kỳ, th́ sắc dân Pushtun sống ở miền Tây Pakistan và miền Nam A Phú Hăn chịu ảnh hưởng rất nặng của tên trùm khủng bố này và nghiêng theo nhóm Hồi Giáo quá khích rất nặng. Giáo lănh của chúng đi đến đâu là chủ trương lật đổ chính quyền của nước đó để chúng phổ biến cho chóng thuyết khủng bố nhằm lật đổ chính quyền Hoa Kỳ. V́ vậy, sau khi dân Pushtun ở miền Nam A Phú Hăn chạy qua tị nạn ở Pakistan và dần dà truyền bá thuyết khủng bố của Bin Laden trong hàng ngũ quân đội Pakistan và ảnh hưởng rất mạnh vào cơ quan Liên Cục T́nh Báo ISI của quân đội Pakistan chủ trương đ̣i Ấn Độ phải giao vùng đất Kashmir lại cho Pakistan, th́ Trung Cộng - nhân cơ hội đó -  bèn nhảy vào đứng sau lưng nhóm Hồi Giáo quá khích để xúi bẩy chúng nổ súng đánh nhau với quân đội Ấn Độ trên miền Bắc Kashmir, khiến cựu TT Clinton phải đích thân can thiệp với thủ tướng Nawaz Sharif, yêu cầu ông này ra  lệnh rút quân về rồi mới yên. Tuy nhiên từ đó về sau, Trung Cộng bắt đầu ủng hộ mạnh phe Hồi Giáo quá khích Pushtun ở A Phú Hăn cũng như ở Pakistan v́ họ nhận thấy chỉ có nhóm này - v́ cuồng tín đến độ dám hy sinh tánh mạng một cách dễ dàng - mới có thể thi hành những công tác khủng bố trong nội địa Hoa Kỳ, một quốc gia trên thế giới "dám" làm mất mặt Trung Cộng bằng cách hạ phi cơ chiến đấu của Hồng Quân trong phi vụ do thám đảo Hải Nam của không quân Hoa Kỳ, mặc dầu Hoa Kỳ cho phi cơ bay trong vùng không phận  quốc tế.

       Từ khi lập quốc đến nay, thành tích của Pakistan (Tây Hồi cũ) về phương diện quân sự là thua hai trận giặc khi đụng độ với Ấn Độ, thua trận chiến tranh trừng phạt Đông Hồi và đành phải chấp nhận để cho Đông Hồi trở thành một nước Bangladesh độc lập. C̣n một điểm đặc biệt nữa là hầu hết tất cả các thủ tướng dân sự  - nam cũng như nữ - của Pakistan  đều bị lật đổ v́ tham nhũng, riêng ông Ali Bhutto c̣n bị xử tử bằng cách treo cổ. Bà Bhutto, con gái của ông này, lần đầu ra làm thủ tướng, bị quân đội đưa ra ṭa v́ tham nhũng và bị bỏ tù. Măn hạn tù, bà ta được dân bầu lên làm thủ tướng lần thứ hai, và lần này bà bị quân đội hạ bệ v́ hối mại quyền thế về tội dung túng đức lang quân ăn hối lộ thay bà ta để rồi ông này cũng bị ṭa án bỏ tù. Vị thủ tướng dân sự cuối cùng là ông Nawaz Sharif - trước khi bị đảo chánh - cũng chỉ lo buôn quan bán tước và ăn hối lộ hầu như công khai. Vừa mới lên nhận chức thủ tướng, ông này đă xúc tiến ngay việc xây cất một biệt thự nguy nga tọa lạc tại một khu đất riêng biệt trị giá hàng triệu mỹ kim. Thế rồi cũng v́ tham nhũng, ông ta lại bị tướng Pervez Musharraf, tham mưu trưởng quân đội đảo chánh, rồi chẳng bao lâu, ông tướng này lại giở tṛ "chủ dân" tự phong cho ḿnh làm tổng thống một nước "dân chủ", chả cần bầu bán ǵ cả. Cũng v́ vậy mà Pakistan đă bị các nước Tây Phương - tuy không tẩy chay ra mặt - nhưng rất lơ là về phương diện viện trợ kinh tế. Nhưng nguy cơ mà tướng Musharraf lo sợ nhất là sự có mặt thường trực trên lănh thổ Pakistan của hàng vạn tín đồ Hồi Giáo A Phú Hăn qua tỵ nạn hàng bao nhiêu năm nay tại Pakistan, trong đó một số đông làm tay sai cho phe Taliban đang nắm quyền tại thủ đô Kabul.

       Lúc bà Benazir Bhutto c̣n làm thủ tướng chính phủ Pakistan, chính bà  đă ủy thác cho bộ trưởng Nội Vụ là tướng Nasr Babar phải kiếm một giải pháp khác để thay thế giáo lănh Hekmatyar - một con cờ do Pakistan đưa ra để chiếm lại thủ đô Kabul - nhưng bị phe của tướng Massoud (theo Ấn Độ) đánh bại. Hơn thế nữa, giáo lănh Hekmatyar lại c̣n bị Hoa Kỳ tố cáo là ngoài sự giúp đỡ tài chánh cho các nhóm khủng bố quốc tế, viên giáo lănh này lại c̣n thiết lập nhiều trung tâm huấn luyện cán bộ khủng bố tại miền Nam A Phú Hăn, trong những vùng gồm toàn cư dân Pushtun.

Không ngờ tránh vỏ dưa lại đạp phải vỏ chuối; v́ giải quyết vấn đề bế tắc do giáo lănh Hekmatyar gây ra chưa xong lại ḷi ra vấn đề Taliban c̣n cục bộ và sắt máu hơn nữa. Taliban là một nhóm dân Hồi Giáo quá khích thuộc sắc dân Pushtun ở miền Nam A Phú Hăn. Theo thổ ngữ Pushtun, Taliban có nghĩa là "sinh viên", nhưng thực ra họ là những chủng sinh trong các chủng viện Hồi Giáo thuộc hệ phái Sunni, và hoạt động tại miền Đông Pakistan sau khi họ rời miền Nam A Phú Hăn, chạy qua tỵ nạn chính trị trên lănh thổ xứ này. Đa số chủng sinh Hồi Giáo Taliban có tŕnh độ học vấn thấp, rất là cuồng tín và chủ trương áp dụng triệt để giới luật ghi trong thánh kinh Koran là giết người ngoại đạo không có mang tội đối với thượng đế Allah. Cuối năm 1995, họ đông vào khoảng 2000 người và bầu lên một vị thủ lănh chột mắt tên Muhammad Oumar, có đầu óc rất là cục bộ, có 4 vợ - người vợ thứ tư là con gái của tên trùm khủng bố Osama Bin Laden. Hệ phái Taliban buộc phụ nữ phải che mặt khi đi ra đường, chỉ để lộ hai con mắt mà thôi; họ cấm dân chúng dùng máy truyền h́nh và video, cấm xử dụng máy chụp h́nh và h́nh phạt đối với các tội phạm có thể đưa đến việc ném đá cho đến chết hay chặt tay chân. Từ con số 2000 người lúc ban đầu, bộ đội Taliban đă có một số quân 6000 người một năm sau đó.Và mọi h́nh thức viện trợ đều qua trung gian của Pakistan. Ả Rập Saudi th́ viện trợ vũ khí, chiến xa và đại bác; Hoa Kỳ th́ cung cấp nhiên liệu và Pakistan th́ lo về quân trang, quân dụng, đồng thời tăng cường ngầm cho bộ đội này một trung đoàn lính Pakistan gốc Pushtun, nhưng nghi trang làm người của giáo phái Taliban. Ngoài trung đoàn này ra, Pakistan c̣n tăng cường thêm cho đội quân chủng sinh này một trung đoàn quân chiến đấu gồm toàn cán bộ t́nh nguyện của các tổ chức Hồi Giáo quá khích sống lưu vong trên lănh thổ Pakistan và đă được quân đội Pakistan huấn luyện kỹ càng về tác chiến. Mấy năm trước đây, trong các cuộc hành quân chống lại liên quân miền Bắc của tướng Massoud (nay vừa từ trần v́ bị nhóm khủng bố Bin Laden cho thành viên giả làm kư giả mang bom trong người đến xin phỏng vấn rồi cho bom nổ luôn) th́ trung đoàn binh sĩ gốc Pushtun của Pakistan và trung đoàn chí nguyện quân gốc Ả Rập của các tổ chức Hồi Giáo quá khích giữ vai tṛ chủ lực xung kích, c̣n đạo quân của giáo phái Taliban chỉ được xử dụng để chiếm đóng các nơi đă được b́nh định xong. Báo chí quốc tế rất đỗi ngạc nhiên khi thấy binh sĩ của giáo phái Taliban rất là thiện chiến mà lại c̣n biết xử dụng chiến xa, trọng pháo rất là thuần thục, không khác ǵ quân đội chính quy của các nước Tây Phương. Họ có biết đâu là binh sĩ Pakistan đang bị cấp lănh đạo của cơ quan t́nh báo ISI của quân đội Pakistan hy sinh một cách oan uổng, để rồi sau này giáo phái Taliban - sau khi chiếm được 2/3 lănh thổ A Phú Hăn - đă 2 lần ngầm tổ chức ám sát thủ tướng Muhammad Nawaz Sharif của Pakistan mà thất bại. Và cứ mỗi lần tổ chức ám sát thất bại, th́ những tên cầm đầu tổ chức ám sát lại trốn qua xin tị nạn ở thủ đô Kabul và được viên giáo chủ  Muhammad Oumar của giáo phái Taliban che chở.

       Trong cuộc viếng thăm chớp nhoáng 6 tiếng đồng hồ tại Islamabad, hai tháng trước khi măn nhiệm kỳ tổng thống, ông Clinton đă cho tướng Pervez Musharraf hay là sự liên minh giữa Hoa Kỳ và Pakistan trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" nay đă qua rồi, không c̣n hiệu lực ǵ nữa, và TT Clinton đă khuyến cáo ông tướng này từ nay về sau, Pakistan phải cố gắng khôi phục lại chế độ dân chủ, nhất là phải kiểm soát chặt chẽ phong trào khủng bố quốc tế đang lan rộng trên lănh thổ Kashmir, bằng không th́ Pakistan phải tự lo liệu lấy một ḿnh cuộc tranh chấp với Ấn Độ trong tương lai, và Hoa Kỳ sẽ không c̣n giúp được ǵ  cho Pakistan nữa. Trong cuộc hội đàm này, TT Clinton tránh không đề cập đến vai tṛ của Trung Cộng đứng sau lưng Pakistan, nhưng trên thực tế ông đă được ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại Islsmabad cho hay chính Trung Cộng thật sự đang giựt dây nhóm Hồi giáo quá khích nằm vùng trong hàng ngũ quân đội Pakistan, và chính nhóm này đang đánh nhau với quân đội Ấn Độ tại Kashmir. Lời cảnh cáo của TT Clinton đă gây phản ứng ngược lại đối với tướng Pervez Musharraf, v́ nếu làm theo lời khuyến cáo của TT Clinton th́ ông ta sẽ gặp sự chống đối mănh liệt của lực lượng Hồi Giáo quá khích ngay trên lănh thổ Pakistan, trong đó có một số thuộc thành phần quân đội, nhưng để bù vào đó th́ Pakistan sẽ nhận được sự viện trợ của các nước Tây Phương trong đó có Hoa Kỳ. Đối với ông tướng này, việc sẽ nhận được viện trợ của khối thế giới Tự Do để đưa mức sống của dân chúng dễ thở hơn trước th́ c̣n xa vời lắm, chứ nếu dùng biện pháp mạnh để đối phó với lực lượng Hồi Giáo quá khích đang hướng về tên trùm khủng bố quốc tế Osama Bin Laden, th́ sẽ có nội loạn ngay tức khắc, và đó là nguy cơ kề cận nhất có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ quân phiệt Pakistan, đồng thời cấp lănh đạo đất nước cũng có thể mất toi mạng nữa là khác. Thành thử buộc ḷng tướng Musharraf phải khước từ những lời khuyến cáo chói tai của TT Clinton. Thế rồi từ đó Pakistan ngă về Trung Cộng mạnh hơn trước nhiều, v́ kể từ nay, Pakistan chỉ c̣n một chỗ dựa duy nhất mà thôi, đó là Trung Cộng.

       Thế rồi bỗng nhiên xảy ra vụ quân khủng bố của Ossama Bin Laden cướp máy bay của 2 hăng hàng không dân sự Hoa Kỳ American Airlines và United Airlines rồi dùng máy bay này đâm bổ vào 2 cao ốc của Trung Tâm Thương Măi Thế Giới ở New York và vào Ngũ Giác Đài, đầu năo của quân đội Hoa Kỳ ở Virginia, vào ngày 11 tháng 9, 2001, khiến tổng thống G. W. Bush đă phải ra trước Quốc Hội và tuyên bố với thế giới là kể từ nay trở đi  Hoa Kỳ sẽ tận diệt cho kỳ được Osama Bin Laden và tất cả mọi quốc gia cũng như tổ chức chủ trương khủng bố đang lén lút hoạt động trên thế giới hiện nay để phá hoại nền ḥa b́nh của nhân loại. Sau đó tổng thống G. W. Bush kêu gọi các nước trên hoàn cầu tham gia vào mặt trận chống khủng bố do Hoa Kỳ thành lập; và quốc gia đầu tiên mà ông ta mời tham gia mặt trận này là nước Pakistan tức Hồi Quốc. Sau khi được lưỡng viện quốc hội chấp nhận cho ông có quyền huy động quân đi chinh phạt lũ Hồi Giáo quá khích Taliban ở A Phú Hăn đang chứa chấp tên trùm khủng bố quốc tế Osama Bin Laden, th́ chưa đầy một tháng, T.T. W. Bush đă huy động và bố trí một lực lượng quân sự khá hùng hậu, với sự góp mặt của nước bạn thân Anh Quốc. Việc làm đầu tiên của ông ta đối với quốc tế cũng như với toàn dân Hoa Kỳ là chỉ đích danh 27 tổ chức và nhân sự, trong đó có Osama Bin Laden bị t́nh nghi đă đứng chủ mưu tổ chức vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, và Hoa Kỳ đă có những biện pháp về tài chánh cấp thời đối với bọn này. Ngoài ra c̣n có thêm 12 cá nhân và 11 tổ chức bị liệt vào hàng ngũ khủng bố cộng thêm với 4 tổ chức đội lốt hội từ thiện cũng bị nhà chức trách Hoa Kỳ theo dơi rất chặt chẽ. Tiền của những tổ chức đó trong các ngân hàng bị giữ lại, những nhà băng ngoại quốc nào từ chối không chịu cho tin tức về những nhóm này cũng phải chịu những biện pháp chế tài tương tợ.

Trong khi đó th́ lực lượng quân sự Hoa Kỳ với sự hợp tác của quân đội Anh quốc âm thầm bố trí bao vây A Phú Hăn. Máy bay Hoa Kỳ tập trung vào các căn cứ không quân ở Ả Rập Saudi, Oman, Kuweit, Thổ Nhĩ Kỳ, Chypre, Bahrein, Qatar và các tiểu quốc Ả Rập rải rác từ Trung Đông đến tận đảo Diego Garcia ở trên Ấn Độ Dương. Đồng thời một số phương tiện dồi dào về t́nh báo đă được thiết kế để đáp ứng cho hữu hiệu với việc dàn quân. Nồng cốt trong việc bố pḥng hạm đội Mỹ-Anh dựa trên 5 chiếc hàng không mẫu hạm, 4 của Mỹ và 1 của Anh; đồng thời  có thêm 4 chiếc trực thăng mẫu hạm, một số khu trục hạm và tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn Tomahawk. Những phi cơ hạng nặng loại B52 hay B-1 đóng tại căn cứ Diego Garcia trong Ấn Độ Dương có thể thực hiện những cuộc dội bom xuống mục tiêu của địch, xa trong nội địa cỡ 16,000 cây số. Riêng trong vùng Vịnh Persique ở Trung Đông cũng đă có tới 41 tàu chiến hiện diện, theo tin của thông tấn xă Iran. Đó là chưa kể một số bộ binh và lính biệt kích được chở sẵn trên một số tàu chiến để có thể dùng để đối phó với quân đội Taliban khi cần, hoặc để yểm trợ cho bộ đội Liên Quân Miền Bắc đang sẵn sàng chuẩn bị để mở cuộc tấn công Taliban trên bộ. Theo tin t́nh báo của một số quốc gia lân cận A Phú Hăn, th́ quân đội của Taliban đang lâm vào cảnh lính đào ngũ nhiều v́ sợ bom đạn của Hoa Kỳ, nên nay quân số của nhóm Taliban nhiều lắm cũng chỉ c̣n độ khoảng 20,000 người mà thôi.

       Mười tháng đă trôi qua kể từ ngày cựu tổng thống Clinton viếng thăm chớp nhoáng thủ đô Islamabad của Pakistan và trực diện cho tướng Pervez Musharraf, vị tướng cầm quyền nước này hay là - v́ chủ trương đường lối khác nhau - nên Hoa Kỳ từ nay sẽ không c̣n ủng hộ Pakistan như trước nữa. Thế là từ bấy đến nay, tướng Musharraf  lâm vào t́nh trạng của một bộ hành quá khát nước, đang đi lạc hướng trong băi sa mạc dưới ánh nắng thiêu người, trông về phương xa lại thấy hiện ra một "ảo cảnh" có hồ nước bao quanh toàn là cây đầy trái chín, nhưng dưới chân cây được phủ bởi từng đống xương và sọ người chết, bên trên ngọn cây lại thấy căng một cái  bảng to tướng trên có mấy ḍng chữ:

"Nơi đây là Thiên Đường trên mảnh đất Trung Hoa".

Rồi bên dưới có chua thêm một hàng chữ nhỏ:

"Có bom nguyên tử cho không, nhưng muốn ăn cà ri dê th́ phải trả bằng vàng hay hột xoàn cũng được".

Tướng Musharraf - nghe đến ba tiếng cà ri dê th́ sáng mắt lên và cố lê thêm mươi bước rồi kiệt sức và mê luôn. Bỗng ông ta có cảm giác đang được một bàn tay nâng cho khỏi ngă, rồi có tiếng th́ thầm nói bên tai:

"Ông tướng hăy lai tỉnh đi và tôi sẽ cho nước của ông khất lại món nợ sáu trăm triệu Mỹ Kim mà đă đến hạn ông sắp phải trả đây. Tôi sẽ viện trợ cứu đói 320 triệu Mỹ Kim cho dân của ông, nhưng tôi chỉ xin ông một điều là nếu ông và tay chân bộ hạ của ông trong chính quyền có ăn bớt tiền viện trợ th́ xin quư ông chỉ ăn bớt nhiều lắm là 300 triệu c̣n nhớ chừa lại 20 triệu mỹ kim cũng được để dùng mua bánh ḿ phát không cho dân của ông mỗi người một ổ bánh ḿ để cho chúng khỏi chết đói, thế là được rồi".

Trong cơn mê sảng, tướng Musharraf nói thều thào:

"Hai mươi triệu nhiều quá, chỉ 5 triệu cũng dư sức để cứu đói dân của tôi rồi. Cách đây hơn một phần tư thế kỷ, quư ông cũng đă từng viện trợ cho một nước trong vùng Đông Nam Á gọi là Nam Việt Nam, nhà cầm quyền của nước ấy từng ăn bớt 99% tiền viện trợ, thế mà rốt cục dân của nước ấy vẫn c̣n dư sức để vượt bể đi t́m Tự Do khắp nơi trên thế giới, ông có thấy không! Tôi nói  cho ông nghe, 5 triệu mỹ kim là quá đủ rồi".

Nói đến đây tướng Musharraf hồi sinh trở lại, th́ thấy ḿnh đang nằm trong ṿng tay của ông W. Bush. Tướng Musharraf vội vă đứng nghiêm và đưa tay chào T.T. W. Bush, đồng thời xin tham gia ngay tổ chức chống và diệt trừ bọn khủng bố  quốc tế, một lũ giết người không gớm tay đang nhắm đảo chánh ông với sự phụ họa của một số binh sĩ thuộc phe Hồi Giáo quá khích. Nay th́ đă có hơn sáu mươi nước trên thế giới sẵn sàng tham gia tổ chức chống khủng bố quốc tế do ông W. Bush đề xướng.

Ban đầu, có hai nước chống là Trung Cộng và Việt Cộng. Hai nước này không những chống suông mà c̣n cho phép dân chúng biểu t́nh ăn mừng sự chết chóc của - không những quần chúng Hoa Kỳ - mà c̣n của một số dân thuộc các nước khác đến New York để làm việc trong hai cao ốc của Trung Tâm Thương Măi Quốc Tế; hành động này đă cho quốc tế thấy rơ như ban ngày là Trung Cộng và Việt Cộng ủng hộ và tán thành việc làm của bọn khủng bố trong tổ chức của Osama Bin Laden. Vài ngày sau đó, khi thấy phong trào ủng hộ sự tham gia vào tổ chức chống khủng bố quốc tế của tổng thống W. Bush lên như diều, th́ Trung Cộng biết ḿnh đă bị hố to, nên cũng đành muối mặt xin tham gia vào tổ chức chống khủng bố do ông Bush đề ra, với dụng ư là vào để ḍ tin để rồi sẽ ngầm tin lại cho Osama bin Laden và phe Taliban biết mà đề pḥng.

 

      16.  Lịch Sử Là Sự Tái Diển 

       Trong thời kỳ toàn thịnh của phe Khơ Me Đỏ - đệ tử ruột của Trung Cộng - ở Cao Miên, ông Sihanouk cùng gia thê đái tử đều bị quân đội của Khờ Me Đỏ bắt giam ở thủ đô Nam Vang, và sau một thời gian ba tháng th́ Pol Pot ra lệnh cho Hor Nam Hong, quản đốc lao xá trung ương tại thủ đô, đem đi thủ tiêu một số con trai, con gái, cháu nội cùng cháu ngoại của Sihanouk để "dằn mặt". Bà Monique, vợ của ông hoàng Sihanouk cũng bị biệt giam, chứ không được giam chung một pḥng với ông ta. Về ẩm thực, ông hoàng thích ăn ǵ th́ cứ biên lên giấy, rồi giao cho cai ngục ra đặt mua tại các tiệm ăn có tiếng nhất ở thủ đô Nam Vang. Ăn ngon lâu ngày, ông hoàng đâm ra rững mỡ. Chờ đúng lúc đó, viên quản đốc lao xá trung ương Hor Nam Hong bèn chọn một nữ cán bộ rất mực sexy cho vào "hầu hạ" ông thâu đêm liên tiếp một tuần, và trong thời gian đó th́ chúng quay ông hoàng đóng "phim con heo", để rồi sau đó chúng chiếu lại phim này cho ông xem, và từ đó trở đi, ông đành răm rắp nghe theo những ǵ chúng sai bảo. Từ đó về sau, mỗi lần ông hoàng đi tham dự các hội nghị quốc tế, có nhiều khi ông không kịp liên lạc với trung ương Khờ Me Đỏ nên ông tuyên bố theo cảm nghĩ của ông ta đôi khi đi ngược lại chủ trương của chúng th́ chúng buộc ông phải cải chính với báo chí qua ngày hôm sau; từ đó trở đi, lúc nào ông hoàng Sihanouk triệu tập báo chí quốc tế để cải chính lời tuyên bố của ông hôm trước, th́ các nhà báo đều che miệng cười; riết rồi thành một tiền lệ là lời tuyên bố ngày hôm trước mới thật đúng ư của ông ta, c̣n lời ông cải chính với báo chí qua ngày hôm sau là chủ trương của phe Khờ Me Đỏ.

       Trở về lại chuyện Trung Cộng cho dân chúng đi biểu t́nh hoan hô việc nhóm khủng bố cho nổ sập hai cao ốc của WTC ở New York và làm sập một phần Ngũ Giác Đài ở Virginia, là thể hiện đúng chủ trương ủng hộ hành động giết dân Hoa Kỳ của nhóm khủng bố quốc tế do Osama Bin Laden cầm đầu, c̣n qua ba ngày sau Trung Cộng mới lên tiếng ủng hộ và xin tham gia tổ chức quốc tế chống và tiêu diệt tất cả mọi nước chủ trương khủng bố cũng như tất cả mọi phe nhóm khủng bố để giết hại thường dân, th́ hành động đó chỉ là hành động giả dối, muốn đi vào tổ chức của TT W. Bush để ḍ tin tức rồi báo tin lại cho Bin Laden mà thôi; và biết đâu Trung Cộng cũng mong rằng sẽ được chia lợi nhuận sau này nếu mục tiêu do T.T. W. Bush đề ra thành công.

       Năm 1989 tai Paris, nước Pháp tưng bừng tổ chức 200 năm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách độc tài quân chủ. Để mừng ngày trọng đại đó, tổng thống Mitterrand của Pháp đă đạt thiệp mời một số lớn thủ lănh các quốc gia trên hoàn cầu về thủ đô Paris tham dự. Kẻ viết bài này - do một sự ngẫu nhiên - cũng có mặt hôm đó tại nhà một người bạn thân ở Paris, nên cũng có xem cuộc diễn hành của quân đội Pháp trên đại lộ Champs Élysées.  Khi quan khách tới - trước khi diễn hành - th́ thấy ông Léopold Senghor, tổng thống nước Sénégal bên Phi Châu đến và được ban nghi lễ mời vào ngồi ở ghế bên tay phải của tổng thống Mitterrand. Và một lúc sau th́ tổng thống Hoa Kỳ: George Bush thân sinh của T. T. W. Bush đến và được mời ngồi vào ghế bên tay trái của tổng thống Mitterrand. Bà Thatcher, thủ tướng chính phủ Anh Quốc, được xếp vào ngồi ở hàng ghế áp chót. Tôi bèn nói với ông bạn tôi, một công dân Pháp :

-sau cuộc diễn binh này rồi th́ ông tổng thống thuộc đảng Xă Hội, sẽ gặp rắc rối với chính quyền Hoa Kỳ cho mà xem. Muốn biết tại sao th́ anh cứ hỏi thẳng ông tổng thống Mitterrand của anh tại sao ông ta lại công khai hạ nhục Hoa Kỳ như vậy?

-Hạ nhục ở đâu, anh làm ơn chỉ cho tôi xem nào!

Tôi giải thích với ông bạn:

"Tổng thống của anh là một người rất tỉ mỉ, tôi nghe người ta bảo chính ông ta ra lệnh cho người cộng sự sắp đặt chỗ ngồi của quan khách khi có tiệc tùng trong dinh tổng thống. Theo tôi, giờ đây trên khán đài, người khách quan trọng nhất là ông Léopold Senghor, tổng thống của nước Sénégal, v́ chỗ ngồi của ông ta ở bên tay phải của ông Mitterrand; tổng thống Hoa Kỳ George Bush  là người quan trọng vào hàng thứ hai v́ ban nghi lễ đă xếp ông ta ngồi bên tay trái của tổng thống nước Pháp. Chắc anh c̣n nhớ Sénégal trước 1945 là một thuộc địa trong vùng Phi Châu Xích Đạo của Pháp và được Pháp cho độc lập sau đệ nhị thế chiến, c̣n ông Senghor đă từng làm bộ trưởng trong chính phủ Félix Faure của Pháp rồi. Rồi đây ông Mitterrand sẽ trông thấy tận mắt hậu quả tai hại sẽ đến với ông ta v́ đă coi Hoa Kỳ c̣n thua một nước cựu thuộc địa của Pháp ở Phi Châu". 

Thế rồi việc ǵ phải đến đă đến. Sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh, khi tiểu quốc Kuweit cần phải tái thiết lại, th́ họ giao cho Hoa Kỳ trách nhiệm lập danh sách những nước có thể giúp họ trong công việc đó. Cuối  cùng 73% công tác được giao cho các công ty Hoa Kỳ, 23% c̣n lại Hoa Kỳ giao cả cho Anh quốc. C̣n Pháp, nước có công đóng góp một trung đoàn và bị trực thăng xung kích của Hoa Kỳ xạ kích lầm, chết mười mấy anh lính Lê Dương, th́ được cái ǵ? Xin thưa:

-Nước Pháp được Hoa Kỳ chia cho một cái "hột vịt" to tướng, hay nói một cách trắng trợn khác là chả được chút xơ múi nào cả! Nguyên do sâu xa cũng chỉ v́ ông tổng thống Mitterrand đặt sai chiếc ghế cho Tổng Thống Hoa Kỳ, thay v́ bên phải của ông ta lại đặt lầm qua bên trái.

Câu chuyện đến đó đâu đă chấm dứt, v́ khi các chủ xí nghiệp, công ty của Pháp - thấy nước họ bị Hoa Kỳ cho "ra ŕa" như vậy, bèn tức khí lồng lộn lên và đồng hè nhau lên tiếng đả kích tổng thống Mitterrand thẳng thừng bằng cách trưng bằng chứng ông tổng thống có hai vợ và cả hai bà đều có con và đều c̣n sống sờ sờ "bằng xương bằng thịt", chứ chưa có người nào chết cả. V́ nước Pháp là một nước dân chủ thật sự, khác hẳn với tất cả những nước cộng sản mà cấp lănh đạo đều là một lũ "hố sâu trí tuệ loài người" nên bao giờ cũng tự đặt cho chúng quyền đứng trên luật pháp, nên tổng thống Mitterrand suưt bị đưa ra xử về tội vi phạm luật đa thê, nhưng v́ ông ta mắc bệnh nan y, cũng không c̣n sống được bao nhiêu lâu và cũng sắp măn nhiệm kỳ rồi nên ṭa án cũng bỏ qua cho ông và để cho ông chết cho yên lành. Trong khi đó, Bà Thatccher, thủ tướng Anh Quốc - v́ nghĩ t́nh đồng châu với nhau, máu chảy ruột mềm - nên cũng vui ḷng chịu nhượng bớt một số dịch vụ đấu thầu về công tác kiến thiết lại Kuwait cho một số công ty Pháp. Nghĩ lại cũng buồn cười thật, chỉ v́ một cá nhân có đầu óc cục bộ, đố kỵ và ganh ghét người khác có địa vị tốt hơn ḿnh, nên ra lệnh đặt sai vị trí chiếc ghế, đáng lẽ đặt bên mặt lại đặt nhầm qua bên trái, để rồi sinh ra lắm chuyện nhiều khê như vậy ! Một chiếc ghế được cố ư đặt sai vị trí trong một buổi lễ để hạ nhục ông tổng thống Hoa Kỳ mà c̣n sinh ra lắm chuyện rắc rối cho nước Pháp như thế, huống hồ giờ đây chính quyền Trung Cộng lại ngầm ra lệnh cho dân chúng tổ chức biểu t́nh liên hoan mừng bọn khủng bố của Osama Bin Laden - v́ dưới chế độ độc tài đảng trị của đảng Cộng Sản làm ǵ dân chúng có quyền muốn biểu t́nh lúc nào cũng được -  đă giết được hơn 7000 thường dân Hoa Kỳ và dân của nhiều nước khác nữa trên thế giới. Lẽ tất nhiên là tổng thống W. Bush thế nào cũng ghi xương khắc cốt mối quốc hận này nhưng chưa tiện nói ra v́ chưa đúng lúc, và ông ta vẫn vui vẻ hoan nghinh việc Trung Cộng xin tham gia tổ chức chống và diệt khủng bố quốc tế do ông W. Bush đề ra, sau khi thấy hơn 60 quốc gia trên thế giới hưởng ứng đồng thời xin gia nhập tổ chức chống khủng bố quốc tế này. Chắc thế nào T.T. W. Bush cũng biết sở dĩ Trung Cộng xin gia nhập tổ chức chống khủng bố quốc tế do ông ta đề xướng ra là nhằm mục đích "nằm vùng" để lấy tin tức hoạt động hoạt động của tổ chức này, rồi sẽ ngầm thông báo Osama Bin Laden sau, nhưng khi đă biết ư đồ đen tối của Trung Cộng như vậy th́ ông ta đâu có ngán.  Để đối phó với một lực lượng không đáng kể như vậy th́ cần ǵ Hoa Kỳ phải điều động một lực lượng hải, lục, không quân hùng hậu như vậy? Chả nhẽ Hoa Kỳ đang định dùng dao mổ trâu để chặt đầu một con sâu róm?

       Từ trước tới nay chưa bao giờ Hoa Kỳ có cơ hội để chứng tỏ sự hiện diện của họ tại vùng Trung Á. Chỉ có một lần - dưới trào cựu tổng thống Clinton - với sự đồng ư của tổng thống Kazakhstan, sư đoàn 82 Dù của Hoa Kỳ có biểu diễn một màn nhảy dù khá ngoạn mục xuống lănh thổ Kazakhstan sau một cuộc không vận không hạ cánh từ Hoa Kỳ đến vùng đất thuộc Trung Á vừa mới được Nga cho độc lập nhưng vẫn c̣n chịu sự kiểm soát gián tiếp của một số cố vấn Nga. Mục đích của cuộc biểu dương lực lượng của Hoa Kỳ - với sự đồng ư của tổng thống nước này là để cho Nga thấy Hoa Ky có thể đến với nước này bất cứ lúc nào nếu họ cần đến sự có mặt của Hoa Kỳ. Nhưng dưới trào lănh đạo của phe tả khuynh Dân Chủ, mọi cuộc vận động về ngoại giao ở khắp nơi trên thế giới đều bắt đầu rất là hùng hổ, xôm tṛ; nhưng cuối cùng luôn luôn là yếu x́u, rồi đi đến xẹp lép như quả bóng bị x́ hơi như trường hợp của Kazakhstan đây cũng vậy.

Giờ đây, dưới trào của đảng Cộng Ḥa do tổng thống W. Bush lănh đạo, tất cả các nước ở miền Trung Á - trước kia đều là chư hầu trong Liên Bang Xô Viết - và luôn luôn bị Liên Xô đối xử vào mức một nước hạng hai, nếu không muốn nói là một nước thuộc địa của Liên Xô - nay đều vỗ ngực xin tham gia vào tổ chức quốc tế chống và tiêu diệt khủng bố trên toàn thế giới. Đó là các nước Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Kazakhstan, toàn thể các nước thuộc vùng Trung Á này đều vây kín hông phía Tây của Trung Cộng, và nước nào cũng vỗ ngực sẵn sàng cho Hoa Kỳ đổ quân đội và vũ khí cùng quân trang, quân dụng xuống lănh thổ của họ một cách "sung sướng", v́ trong quá khứ tất cả các ông tổng thống của những tiểu quốc này xuất thân từ tầng lớp cao cấp trong hệ thống chính quyền Liên Xô, nên đối với họ dân chủ có nghĩa là ngồi trên đầu dân và độc đảng giống hệt như chủ trương tôn giáo trị, độc đảng và độc tài của bọn Hồi Giáo quá khích, đang muốn tranh dành quyền bính của họ như phe Taliban ở A Phú Hăn. Bọn này đang bị tổng thống Karimov của Uzbekistan bắt bỏ tù vào khoảng 9000 tên.

       Nhưng kể từ ngày 6 tháng 10, năm 2001 trở đi, chúng ta có thể coi như chiến tranh đă bùng nổ thật sự giữa Hoa Kỳ và hơn sáu mươi nước trên thế giới cùng đồng ư tham gia Mặt Trận chống khủng bố quốc tế của Phe Hồi giáo quá khích Osama Bin Laden. Tên này là một tên hoạt đầu chính trị, nuôi mộng thầm kín nhằm lật đổ chính quyền chuyên chế của phe hoàng tộc Ả Rập Saudi để rồi hắn sẽ đứng lên lập một chính phủ độc tài tôn giáo trị rập khuôn theo kiểu chủ trương ngu dân của nhóm Taliban ở A Phú Hăn, để rồi từ đó hắn sẽ cho cán bộ Hồi Giáo quá khích của hắn xâm nhập vào tất cả các nước Ả Rập trên thế giới, nhằm tiến tới việc thành lập trên hoàn cầu một khối quốc gia Ả Rập thiên về nhóm Hồi Giáo quá khích, có dân số hơn hai tỷ người. Ngay bây giờ, nếu Tổng thống W. Bush không tiêu diệt được bọn này, th́ hậu quả của bọn Ả Rập theo Hồi giáo quá khích sẽ vô cùng tai hại trong tương lai, nhất là khi chúng lại móc nối được với Trung Cộng như hiện nay. Sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại bốn nước Trung Á, chả khác nào như một lưỡi gươm đâm thẳng vào hông phía Tây của Trung Cộng. Trong lịch sử Trung Hoa - đứng trên phương diện quân sự - chưa bao giờ nước này bị bao vây chặt chẽ như vậy: phía Đông th́ có Nhật Bản, Đài Loan và Hạm Đội Thái B́nh Dương của Hoa Kỳ, phía Nam th́ có Ấn Độ, kẻ thù không đội trời chung với Trung Cộng, phía Tây th́ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ với sự có mặt thường trực của một số chiến đấu cơ và phóng pháo cơ tối tân nhất của nước này sẵn sàng uy hiếp hoặc tiêu hủy các trung tâm sản xuất bom nguyên tử của Trung Cộng tại Tân Cương, đồng thời chận đứng sự bành trướng về phương Tây của Trung Cộng với dự tính t́m cách khai thác một số mỏ dầu hỏa của các nước trong vùng này hầu bổ khuyết cho nạn khan hiếm nhiên liệu trên lục địa hiện nay. Và cuối cùng nếu xảy ra chiến tranh giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ ngay bây giờ, th́ chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ chiếm thế thượng phong. Hoa Kỳ đă đến kịp thời để đâu thêm hai cái chân nữa vào chiếc ghế tổng thống bốn chân của ông tổng thống xứ này. Sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ là một bảo đảm chắc chắn cho các ông tổng thống của bốn tiểu quốc này khỏi bị bọn Hồi Giáo quá khích đảo chánh để chúng sẽ lập lên những chính quyền độc tài, tôn giáo trị, và ngu dân như nhóm Hồi Giáo quá khích Taliban đă từng làm ở A Phú Hăn. Nhưng có một điều làm cho chúng ta hơi yên tâm là nội bộ của Trung Cộng hiện nay rối như tơ ṿ, măi lực tuột dài v́ bị ảnh hưởng nặng nề do sự khủng hoảng kinh tế của Hoa Kỳ mà ra, nạn thất nghiệp càng ngày càng lan rộng khắp nơi có thể gây bất ổn nay mai cho chính quyền cộng sản nếu không sớm giải quyết; đó là chưa nói đến vấn đề môi sinh bị băng hoại gây ra hạn hán trầm trọng v́ nạn đốn cây rừng vô tội vạ làm cho rừng núi trở thành núi trọc đưa đến hậu quả vô cùng tai hại là hiện nay dân miền Bắc Trung Hoa đang lâm vào cảnh thiếu nước uống trầm trọng, có thể nói là vô phương cứu chữa.

      17. Điềm Trời  Báo Hiệu ...Trung Cộng  Lâm Vào Đại Họa Rất Lớn

       Bước vào đầu thế kỷ thứ 21, miền Bắc Trung Cộng đă trải qua một trận hạn hán chưa từng thấy từ xưa đến nay, khiến toàn vùng này đă biến thành sa mạc: hiện tượng đất canh tác bị nứt nẻ toàn diện, mùa màng cháy rụi dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời, các bồn chứa nước cũng như các sông ng̣i đa số đều bị khô cạn ngay từ đầu mùa xuân năm nay. Theo dư luận quần chúng th́ nạn hạn hán năm nay nặng không khác ǵ hạn hán năm 1949, sau khi Trung Cộng chiếm cứ toàn bộ lănh thổ Trung Hoa. Theo Tân Hoa Xă th́ phải trở lui lại năm 1904 tại Liêu Ninh, và năm 1906 tại Sơn Đông mới có một đại họa kinh khủng xảy ra như vậy. Việc thất thu về mùa màng làm cho nền kinh tế suy sụp, sự khan hiếm về nước uống tạo hỗn loạn trong xă hội trong lúc đó những đồng cỏ chạy tít tận chân trời dần dần biến thành sa mạc làm xáo trộn rất nặng môi sinh, đưa nhiệt độ hằng ngày lên từ 2 đến 3 độ Celsius, trong khi đó th́ lượng nước mưa trung b́nh cho đến giữa tháng 6 lại giảm thiểu 20%, đó là chưa kể có một vài nơi sự giảm thiểu xuống đến mức báo động 50%. Những hiện tượng xấu đó lại cùng xảy ra vào một lúc nên đă làm nổi bật vấn đề khủng hoảng về môi sinh: đó là nạn khan hiếm nước.

Theo thông cáo của nhà nước Trung Cộng, ở miền Bắc Trung Hoa hiện nay, có khoảng 50 triệu dân hiện đang lâm vào cảnh t́m không ra nước uống hằng ngày. Chúng ta cũng nên nhớ rằng một khi chính quyền Trung Cộng đưa ra con số 50 triệu th́ bạn đọc cũng nên nhân con số đó với 2 là vừa, nghĩa là ít nhất cũng có khoảng 100 triệu dân tại miền Bắc nước Tàu t́m không ra nước uống hằng ngày, sự khan hiếm nước uống này là đầu mối đưa đến sự hỗn loạn và mất trật tự trong xă hội Trung Hoa trong tương lai gần đây. Cũng theo chính quyền Trung Cộng th́ thể tích nước cho mỗi người dân Trung Hoa là 1760 thước khối, nghĩa là một phần tư khối nước cho mỗi người dân trên hoàn cầu. Những vụ hạn hán liên tiếp cọng với việc xử dụng nước một cách phí phạm vô tội vạ tại các vùng kỹ nghệ và tại các nông trường quá đông dân đă tạo ra t́nh trạng làm cạn các hầm chứa nước ở sâu trong ḷng đất, đồng thời làm ô nhiễm hoặc làm khô cạn các sông ng̣i.

       Cách đây hơn nửa thế kỷ, 50% đất đai miền Bắc Trung Hoa - nhất là miền Đông Bắc c̣n rất nhiều rừng, thế mà sau khi Trung Cộng chiếm toàn lục địa Trung Hoa, th́ dân số tăng vọt lên hơn 700 triệu kéo theo nạn khan hiếm nước trầm trọng, v́ chính quyền cộng sản hoàn toàn không có một kế hoạch nào về việc hạn chế dân chúng xử dụng nước. Hậu quả đưa đến là mức nước trong các hầm chứa nước sâu trong ḷng đất mỗi năm cạn đi một thước dẫn đến hậu  quả tai hại là sông ng̣i và hồ ao cạn dần để rồi biến hẳn trên mặt đất, như trường hợp sông Fen trong tỉnh Sơn Tây, trước đây sông này chảy qua thủ phủ Taiyuan, nay th́ đă bị khô cạn không c̣n lấy một giọt nước; và chính quyền Trung Cộng không có cách nào hơn là dời thủ phủ có 2 triệu dân này đi đến một nơi khác có nước. Nguy cơ cấp thiết nhất sắp xảy đến cho Trung Cộng là chậm lắm trong 15 năm nữa th́ những hầm  nước trong ḷng đất dưới thủ đô Bắc Kinh sẽ khô cạn, và hiện tượng đất bị sụp đổ tại Bắc Kinh là dấu hiệu báo cho nhà chức trách Trung Cộng biết họ sắp lâm vào một đại họa rất lớn nếu họ không biết áp dụng những biện pháp cấp thiết để giải quyết vấn đề, nhất là đến năm 2008 họ c̣n phải tổ chức thế vận hội nữa. Nguy cơ hiện tại đang xảy ra trong vùng thủ đô Bắc Kinh là chính quyền không có một biện pháp nào thích nghi để hạn chế việc bơm nước quá mức tưởng tượng từ các hầm chứa nước ở sâu trong ḷng đất của vùng này, và một khi nước đă khô cạn th́ nạn đất bị sụp đổ sẽ xảy đến chẳng mấy hồi. 

Hoàng Hà, nơi chôn nhau cắt rốn của nền văn minh Trung Hoa từ ngàn xưa đang lâm vào t́nh trạng hấp hối v́ dọc theo 5,500 cây số chiều dài, những  con sông nhỏ chảy vào Hoàng Hà đang lâm vào cảnh cạn và khô dần v́ các rừng phụ cận bị đốn trụi cây để lấy gỗ nên không cản được nước lũ xói đất núi đến độ lấp cạn hầu hết các sông con. Đó là cũng do đường lối chung của xă hội chủ nghĩa: mạnh ai nấy làm tiền bỏ túi cho riêng cá nhân ḿnh, chả đếm xỉa ǵ đến quyền lợi của quốc gia dân tộc... Năm 1972, Hoàng Hà đă có lần trở thành khô cạn trước khi đổ ra Hoàng Hải, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa; rồi đến năm 1997 th́ hạ lưu của Hoàng Hà trở nên khô cạn trong suốt hơn 200 ngày. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn nước Trung Hoa vào năm 1949 và phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất trồng lúa dọc ven sông Hoàng, từ diện tích canh tác khoảng 100,000 mẫu tây vượt lên 400,000 mẫu - vả lại trồng lúa th́ phải dùng một khối nước để tưới bằng hai lần trồng bắp hay trồng lúa miến.

Riêng vùng phụ cận thị trấn Ningxia thuộc tỉnh Yinchuan, tuy đă được chính quyền địa phương cấp cho quyền được xử dụng hằng năm khoảng 5 tỷ thước khối nước, nhưng vẫn xử dụng lén lút hằng năm 10 tỷ thước khối. Đó chỉ là một trường hợp ăn cắp nước mà thôi, chứ thật ra th́ hầu hết những tỉnh ở thượng nguồn Hoàng Hà đều ăn cắp nước của sông này một cách vô tội vạ, đưa đến hậu quả bi đát là những tỉnh ở hạ lưu Hoàng Hà lâm vào cảnh khan hiếm nước trầm trọng như ở tỉnh Sơn Đông chẳng hạn, nên dân chúng trong vùng này đă đứng lên biểu t́nh chống chính quyền rất nhiều lần trong những năm gần đây.

       Theo thông cáo của chính quyền Trung Cộng, tại miền Bắc Trung Hoa hiện nay, sự khan hiếm nước đă lên đến mức 70 tỷ thước khối, với viễn ảnh là c̣n thiếu thêm 25 tỷ thước khối nữa vào năm 2050. Nếu từ đây cho đến năm đó mà chính quyền không có một biện pháp nào thích ứng, th́ ảnh hưởng vô cùng tai hại sẽ đổ xuống đầu của các thế hệ tương lai. Đó là lời khuyến cáo của Ngân Hàng Thế Giới. Cứ mỗi lần Trung Cộng gặp khó khăn nội bộ nan giải như lúc Đặng Tiểu B́nh gần chết và dân Tân Cương nổi loạn đ̣i độc lập, tiếp theo hai vụ nổ bom của 9 triệu dân Uighur sống một cuộc đời lây lất ở ngoại ô Bắc Kinh, th́ chính quyền lại t́m một lối thoát bằng cách gây hấn với các lân bang để cho dân chúng quên đi những khó khăn nội bộ v́ bận chú ư theo dơi những diễn tiến đang xảy ra ở hải ngoại. Chính lúc đó chính quyền Trung Cộng tự động đem máy móc đến khoan dầu trong vùng gần Vịnh Hạ Long của Việt Nam. Khi bị chính quyền Việt Nam chất vấn về vụ vi phạm chủ quyền lănh thổ này, th́ Trung Cộng lại trắng trợn căi bướng vùng họ đặt dàn khoang thuộc về lănh hải Trung Hoa. Cuộc bang giao Hoa Việt trở nên căng thẳng, và măi về sau nhờ có sự can thiệp của đô đốc Prueher, tư lệnh hạm đội Thái B́nh Dương của Hoa Ky và gây áp lực mạnh với Trung Cộng th́ họ mới chịu rút dàn khoan dầu đi.

       Sở dĩ có t́nh trạng bi đát xảy ra về nạn khan hiếm nước là v́ chính quyền Trung Cộng bất chấp mọi lời cảnh cáo của các cơ quan quốc tế chuyên về thủy lợi, cương quyết nuôi quyết tâm tạo cho được một số thành tích kinh tế để khoe với quốc tế, nhưng nay chính quyền trung ương của Trung Cộng đă ư thức được nguy cơ thiếu hụt nước sẽ là một quốc nạn đối với sự tồn vong của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nên thủ tướng Chu Dung Cơ đă lên tiếng trong mùa xuân vừa qua rằng "sự khan hiếm nước là một trở ngại quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xă hội của Trung Hoa". Để chứng tỏ rằng họ cũng ư thức được nguy cơ khan hiếm nước đối với sự tồn vong của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nên nhà cầm quyền Trung Cộng đă vội ra lệnh hạn chế việc xử dụng nước trong dân gian, giống như  biện pháp - cách đây mấy trăm năm - tiền nhân của chúng ta cứu hỏa bằng cách dùng gáo dừa múc nước trong lu vại để mong dẹp tắt ngọn lửa, nhưng rốt cục nhà cháy cũng vẫn cứ cháy cho đến khi rụi luôn. Điểm độc đáo nhất là chính quyền  - theo khuyến cáo của Ngân Hàng Thế Giới - sẽ tăng gấp ba tiền bán nước cho dân chúng trong vùng thủ đô Bắc Kinh trước năm 2005,  nhưng dân chúng cũng dư biết là bán nước th́ Trung Cộng đă bán từ lâu rồi, cần ǵ mà phải tăng hay giảm nữa cho mất công ?

       Và những ǵ sẽ xảy ra dưới đây mới là điểm chính của vấn đề. Bệnh trầm kha của tất cả các đảng cộng sản trên thế giới là khi chủ trương một công tác nào đó th́ công tác đó phải là vĩ đại mới được; và v́ khi công tác đă vĩ đại th́ tiền bỏ ra để thực hiện công tác đó cũng phải vĩ đại, để rồi từ đó cán bộ của Đảng mới có cơ hội để ăn bớt một cách "vĩ đại" trong số tiền chi cho công tác được đề ra. Trường hợp gần nhất xảy ra trong những năm sau này là tiền ăn cắp trong việc xây cất - chưa hoàn tất - đập Tam Cổ trên sông Dương Tư ủ lên đến mấy chục triệu mỹ kim do cán bộ Trung Cộng chủ mưu mà thủ tướng Chu Dung Cơ đă từng đề cập nhưng không dám phanh phui v́ có dính líu đến quá nhiều tai to mặt lớn cũng như mặt nhỏ của Đảng Trung Cộng. Giờ đây trước nguy cơ khan hiếm nước đang xảy ra tại miền Bắc Trung Hoa, Trung Ương Đảng Cộng Sản vừa mới đưa ra một dự án - tuy không vĩ đại bằng dự án (nay đang thực hiện) xây đập Tam Cổ, nhưng cũng được liệt vào hàng thứ hai: đó là dự án phóng 3 kinh đào dài 2400 cây số, để cho nước của sông Dương Tử chảy vào ba con sông Hải, sông Hoài và Hoàng Hà. Dự án này sẽ được thực hiện vào năm 2002 và kéo dài 15 năm. Cũng nên lưu ư bạn đọc là việc xây cất đập Tam Cổ trên sông Dương Tử  đang lâm vào cảnh thiếu hụt tiền v́ nạn ăn cắp công quỹ do cán bộ cao cấp của Đảng chủ trương.

Hiện giờ nạn "sa mạc hóa" đất đai tại miền Bắc Trung Hoa đă lan tràn tới 27% toàn lănh thổ miền Bắc; nhưng theo các chuyên viên quốc tế cũng như Trung Cộng th́ con số trung thực phải là 34% mới có thể gọi là chính xác. Môi sinh của Nội Mông (tức là Nội Mông Cổ) đang bị phá sản v́ chính quyền Trung Cộng đă di dân Hán từ miền Nam và Trung Trung Hoa lên khẩn hoang Nội Mông trong những năm 1958 đến năm 1960, rồi lại tiếp tục dưới thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa từ 1966 đến 1976, đă đưa miền Nội Mông vào t́nh trạng nhân măn v́ dân số tăng lên gấp ba. Ảnh hưởng của việc hủy bỏ các nông trường tập thể vào thập niên 1980, đưa đến hậu quả phát triển quá độ việc chăn nuôi để rồi từ đó biến các đồng cỏ thành các đồng hoang, rồi từ các đồng hoang dần dần trở thành các đồi cát. Ảnh hưởng việc: "sa mạc hóa" Nội Mông đưa đến hậu quả là thủ đô Bắc Kinh hiện nay đang bị ảnh hưởng của những trận băo cát từ Nội Mông thổi về, chứ không phải từ sa mạc Gobi ở Tân Cương thổi sang như người ta hằng tưởng. Và ảnh hưởng của những trận băo cát đến từ Nội Mộng không những đi qua thủ đô Bắc Kinh mà c̣n qua tới Đại Hàn, Nhật Bản, để rồi cuối cùng đến tận Colorado của Hoa Kỳ nữa, v́ theo sự phân chất của chính quyền Hoa Kỳ th́ cát bụi bay đến Colorado không phải do cát của sa mạc Gobi ở Tân Cương đến, mà lại chính là cát từ các sa mạc mới thành h́nh tại Nội Mông Cổ. Giờ đây gọng ḱm cát bụi đến từ Nội Mông đang dần dần siết chặt thủ đô Bắc Kinh, trong khi đó th́ chính quyền trung ương Trung Cộng chỉ có phản ứng yếu ớt là thiết lập một "ṿng đai xanh" (trồng cây) chung quanh thủ đô để hạn chế bớt những tổn hại do cát bụi gây nên. Ảnh hưởng của những hạt cát bụi li ti - mới đầu tưởng không đáng lo sợ - nhưng dần dần đă làm xáo trộn môi sinh, tạo ra hạn hán, uy hiếp đời sống hàng ngày của hàng trăm triệu dân miền Bắc Trung Hoa mà hậu quả cuối cùng là người dân sẽ nổi loạn.

        Giờ đây tại miền Bắc thủ đô Bắc Kinh, sông Liêu trong tỉnh Liêu Ninh đă có đoạn bị khô cạn dài đến một trăm cây số, một hiện tượng chưa từng thấy xảy ra từ năm 1949 cho đến nay. Nhưng nguy cơ đối với Trung Cộng không phải đến từ sông Liêu mà lại đến từ Hoàng Hà v́ trước khi đổ ra Thái B́nh Dương, ḷng của sông này đă khô cạn trên một chiều dài 800 cây số về hướng thượng nguồn. Vùng khô cạn này lại nằm trong một vùng có thể coi là vùng chiến lược, được bao quanh bởi các sông Hải, sông Hoài và Hoàng Hà, và cũng là nơi sản xuất ra một nửa số lượng ngũ cốc và một phần ba sản xuất về công nghiệp của vùng Bắc Trung Hoa, trong khi đó th́ trong ḷng đất của vùng này chỉ chứa đựng có 10% khối nước dự trữ của quốc gia.

Hiện tại, Trung Cộng lại đang gặp những khó khăn nội bộ nặng xa chừng sự khó khăn họ gặp phải lúc họ Đặng vừa mới qua đời, lại thêm Giang Trạch Dân cũng sắp hết nhiệm kỳ nhưng vẫn không muốn nhường chỗ cho lũ đàn em trẻ lên thay ḿnh làm Tổng Bí Thư  Đảng Cộng Sản Trung Hoa và đang t́m cách để ngồi lại thêm một nhiệm kỳ nữa, nên rồi đây, biết đâu Trung Cộng lại chẳng t́m cách gây hấn với một quốc gia nào đó ở bên ŕa của nước họ. Đối với Nhật Bản, nước đầu tư vốn nhiều nhất vào lục địa Trung Hoa - có thể nói một con ḅ để vắt sữa của Trung Cộng - th́ họ không dại ǵ gây hấn để cho thiệt thân; Đài Loan th́ bị Thái B́nh Dương ngăn cách và Hoa Kỳ dễ ǵ chịu để cho Trung Cộng làm cỏ đảo này. Miến Điện là nơi mà Trung Cộng đă đặt nhiều căn cứ hải quân để nh́n ra Ấn Độ Dương và cũng là bồ ruột của họ; vậy chỉ c̣n một nước duy nhất cùng biên giới với Trung Cộng và cũng là kẻ thù truyền kiếp từ thời Mao cho đến ngày nay là Ấn Độ mà thôi. Nếu có xảy ra giữa Trung Cộng và Ấn Độ là Hoa Kỳ đă thu lượm được những bằng cớ xác thực chứng minh Trung Cộng trực tiếp nhúng tay vào vụ khủng bố 11 tháng 9 tại Hoa Kỳ hay chưa ? Nhưng liệu khi súng đă nổ rồi th́ Hoa Kỳ có nhúng tay vào giúp Ấn Độ hay không?  Đó là vấn đề chính của sự can thiệp Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh này . 

 

                                                                                                                                  ChuSa

                                                                                                                                   NewYork November 1, 2002

 

 HOME