Tuesday, August 26, 2003
Một
giải pháp cho thế kỷ 21 theo quan điểm
đạo Phật
Ḥa
Thượng P.A. Payutto - Lư Nam Trực chuyển ngữ
Ḥa Thượng P.A. Payutto
được coi như là một trong những tu sĩ
Phật giáo uyên bác nhất ở Thái Lan. Ông thuyết
giảng về nhiều đề tài, từ xă hội,
chính trị, kinh tế đến khoa học... Tuy nhiên,
tất cả đều được đặt nền
trên giáo lư đạo Phật. Tác phẩm "Buddhadhamma"
(Phật pháp) dầy hơn 1.000 trang của ông là một tác
phẩm nổi tiếng. Hiện nay, Ông được
biết đến dưới tên Dhammapitaka, một danh
hiệu được Vua Thái Lan ban cho. Bài viết
dưới đây là bài phát biểu của Ông trong Hội
Nghị Tôn Giáo Thế Giới lần thứ hai
được tổ chức tại thành phố Chicago, USA
vào năm 1993, đúng 100 năm sau Hội Nghị lần
thứ nhất, cũng được tổ chức
tại thành phố nầy năm 1893.
Đây là lần đầu
tiên trong thế kỷ 20, chúng ta đă tổ chức
một hội nghị tôn giáo quốc tế có tầm
mức quan trọng như thế này. Trong khoảng thời
gian một trăm năm từ hội nghị lần
trước, thế giới đă trải qua nhiều thay
đổi lớn lao. Chúng ta hiện đang ở vào
thời đại được gọi là "xă hội
thông tin hậu kỹ nghệ" hay "hậu chiến
tranh lạnh". Với sự cáo chung của cuộc
chiến tranh lạnh, sự căng thẳng và nỗi
sợ hăi - kết quả do sự đe dọa của
một cuộc đụng độ giữa hai siêu
cường và một thế giới chia cắt thành
những phe phái ư thức hệ - đă h́nh như biến
mất. Nhiều người cảm thấy rằng
thế kỷ 21 sắp tới nhân loại sẽ
được may mắn sống trong ḥa b́nh hơn.
Thế nhưng, sự việc đă nhanh chóng cho thấy rơ
rằng không phải như thế. Trong khi h́nh như chúng
ta đă tránh được một sự tiêu hủy toàn
diện với cuộc chiến tranh nguyên tử, th́
nhiều cuộc chiến tranh với tầm cỡ nhỏ
hơn đă nổ ra nhiều nơi trên thế giới.
Những cuộc chiến tranh này c̣n khó kiểm soát hơn
cả cuộc chiến tranh lạnh, v́,mặc dù có sự
đe dọa hiển nhiên, cuộc chiến tranh lạnh
vẫn khó có thể phát triển tới mức độ
tấn công toàn diện. Do vậy, sự đe dọa
của cuộc chiến tranh nguyên tử vẫn c̣n.
Thực tế là, với vũ khí nguyên tử rải rác ra
nhiều quốc gia sự đe dọa c̣n lớn lao
hơn.
Mặc dù những cuộc
chiến tranh ư thức hệ h́nh như đă qua đi,
giờ đây, nhiều cuộc chiến tranh đă bùng
nổ dữ dội và tàn bạo hơn v́ những xung
đột tôn giáo và chủng tộc. Những cuộc đấu
tranh dân quyền và xung đột chủng tộc đă
trở thành phổ biến trên khắp thế giới. Thêm
vào đó, sự khủng bố đă càng lúc càng phổ
biến và hung bạo hơn. Sự kiện là, thế
giới đă trở thành nhỏ hơn qua sự phát
triển của Kỹ thuật thông tin không những
chỉ trong lănh vực du lịch và truyền thông mà c̣n
cả việc bành trướng chủ nghĩa khủng
bố nữa. Bọn khủng bố đă lợi dụng
phương tiện Kỹ thuật truyền thông
để tạo sự bất an cho con người trong
khi di chuyển, du lịch, đồng thời cũng gia
tăng sự nguy hiểm trong mọi quốc gia.
Ḷng thù hận và sự
bất tín lẫn nhau đă gia tăng mạnh mẽ
bởi sự tranh chấp tài nguyên thiên nhiên. Cuộc
chạy đua của ḷng tham nhằm chiếm giữ tài
nguyên thiên nhiên đă làm cho vấn đề trở nên khó
khăn gấp bội v́ không những chỉ gây ra xung
đột trong xă hội loài người mà c̣n ngay cả
trong môi trường thiên nhiên. Một mặt, có nhiều
vấn đề về môi sinh, và mặt khác, có sự gia
tăng phá hoại giữa con người với nhau.
Sự khủng hoảng môi
sinh và sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên bắt
đầu trở nên rơ ràng chỉ vào cuối thế
kỷ này, và chúng sẽ tạo một ảnh hưởng
lớn lao cho nhân loại vào thế kỷ 21. Con
người thế kỷ 21 sẽ nhận lấy hậu quả
của sự phá hoại do con người thế kỷ 20
gây ra. Số lượng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ
của quả địa cầu đă tích lũy qua hàng
trăm triệu năm hầu như đă bị con
người tiêu phí đi chỉ trong ṿng một, hai trăm
năm.
Tất cả những
vấn đề nầy đều bắt nguồn từ
thái độ gây hấn, thiếu thân thiện, mà chúng
đă được nuôi dưỡng bởi quyền
lực mù quáng mà đạo Phật gọi là Sân (dosa) và Tham
(lobha). Tham và Sân là hai lực mạnh mẽ của tâm
thức. Nhờ sự phát triển của kỹ thuật,
đặc biệt là nền Kỹ Thuật cao (high
technology) chuyên về thông tin và truyền thông, tham lam và sân
hận đă lợi dụng nhiều phương tiện,
dụng cụ hơn. Kỹ thuật đă trở thành
một tên tay sai của ḷng tham và sân hận, và sự
tiến bộ kỹ thuật, trong dạng thức phát
triển kỹ nghệ đă hầu như chỉ phục
vụ cho mục đích của chúng. Khoa học, kỹ
thuật, và sự phát triển của kỹ thuật thông
tin và truyền thông đă được dùng đến
nhằm mê dẫn con người đến việc tiêu xài
hoang phí cẩu thả, sự ngu dốt và say sưa, hơn
là hướng về sự phát triển cá nhân hay là nâng cao
phẩm chất của đời sống. Người ta
đă sử dụng khoa học, kỹ thuật để
t́m kiếm những điều mà họ thèm khát, và như
thế đă tạo ra những sự bất ḥa, tranh
chấp. Ḷng thù hận đă tràn đầy trong những
cuộc xung đột tôn giáo và chủng tộc.
Điều này lại càng được đẩy mạnh
hơn bởi ảnh hưởng của ḷng tham và sự
giành giật tài nguyên thiên nhiên.
Tham và Sân đă từng là
nguyên nhân của nhiều vấn đề của nhân
loại, cả trong lănh vực cá nhân cũng như xă
hội, và ngay đến vấn đề môi sinh nữa.
Vậy th́, để thực sự giải quyết
những vấn đề nầy, chúng ta phải kiểm
soát được tham và sân. Những điều kiện
tự nhiên của tham và sân có thể dễ kiểm soát
hơn, và dễ dập tắt hơn, nếu chúng không
bị ảnh hưởng bởi điều kiện
thứ ba, mà đạo Phật gọi là kiến (ditthi),
như quan điểm và tín ngưỡng. Ư thức hệ,
tín ngưỡng tôn giáo và những giá trị xă hội là
những khía cạnh của kiến. Khi nào ḷng tham, sự
giận dữ và ḷng thù hận được tăng
cường bằng đức tin và những giá trị xă
hội, chúng sẽ có một hướng tiến rơ ràng,
một thúc đẩy dẫn chúng tới những hành vi phá
hoại hơn. Tham và sân, nếu được nuôi
dưỡng và tiếp trợ bởi ảnh hưởng
của tà kiến và đức tin mù quáng sẽ làm cho chúng
khó giải quyết hơn. Chấp vào những ư thức
hệ và những giá trị xă hội khác nhau, cho dù có ư
thức hay không, sẽ trở thành cộng nghiệp
(nghiệp ở tầm mức xă hội), một hệ
quả có ảnh hưởng rộng răi. Nghiệp (kamma)
thường có nghĩa là hành động, nhưng trong giáo
lư đạo Phật, nó có ư nghĩa đặc biệt,
chỉ những hành động có ư hướng, hay tác ư.
Khi hành động được dựa trên một ư
hướng xấu - như tham, sân, sợ hăi, và lừa
dối - chúng sẽ được gọi là nghiệp
bất thiện, sẽ dẫn tới những kết
quả khó chịu, bất như ư. Khi hành động được
dựa trên những ư hướng tốt - như san
sẽ, giúp đỡ, kiên nhẫn và trí tuệ - chúng sẽ
được gọi là nghiệp thiện, sẽ dẫn
tới những kết quả dễ chịu, như ư.
Nghiệp không những vận hành ở b́nh diện cá nhân,
mà c̣n ở b́nh diện tập thể nữa. Cả
một đám đông có thể bị giục đẩy
vào t́nh trạng giận dữ, kích động hay sợ
hăi, và hành động của họ sẽ tùy thuộc vào
trạng thái tinh thần đă ảnh hưởng họ. Những
hành động tạo ra những kết quả tập
thể sẽ ảnh hưởng đến cả
cộng đồng. Thí dụ như, khi một quốc gia
chọn theo một giá trị xă hội xấu như
Chủ Nghĩa Duy Vật chẳng hạn, th́ cả
quốc gia phải nhận chịu hậu quả của
giá trị xă hội đó, cho dù có chấp nhận nó một
cách ư thức hay không. Những kết quả này ảnh
hưởng tới từng cá nhân đến mức
độ nào sẽ tùy thuộc vào mức độ mà
mỗi cá nhân đă cam kết, liên hệ với giá trị
xă hội đó, và cũng tùy thuộc vào phản ứng
của mỗi người. Thế nên, cả xă hội có
thể bị thúc đẩy theo một chiều
hướng nào đó qua những tín ngưỡng và giá
trị xă hội tập thể. Đó là lư do tại sao
đạo Phật đă coi tín ngưỡng có một
ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hành
động nghiệp báo. Tham và sân sẽ trầm trọng
hơn và khó kiểm soát hơn nếu chúng dựa trên tà
kiến, mê tín, và những giá trị xă hội xấu.
Ngược lại, tham và sân sẽ ở mức
độ nhẹ hơn, dễ kiểm soát hơn, và có
thể dập tắt hẳn nếu chúng dựa trên chánh
kiến, chánh tín, và những giá trị xă hội tốt.
Ngày nay, ḷng tham và sân hận
đang phát triển một cách xuôi chèo mát mái. Chúng
được ủng hộ và dựa trên một nền
tảng mạnh mẽ của tà kiến. Trong những
thập niên trước, chúng ta đă chứng kiến
nhiều vấn đề về ư thức hệ và thế
giới đă chia thành hai phe. Giờ đây, sự tranh
chấp giữa những ư thức hệ này đă suy
cạn, thế nhưng, chúng ta vẫn chưa giải
quyết được những vấn đề về
chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc, và
chủ nghĩa biệt phái. Ư thức hệ là một
loại kiến chấp, và v́ thế chúng ta hăy quay lại
b́nh diện kiến chấp và đức tin để t́m
một giải pháp.
Một cách tổng quát, niềm
tin đang khống chế nền văn minh nhân loại
đă dựa trên ba nhận thức chính:
* Nhận thức rằng
nhân loại được tách biệt khỏi thiên nhiên, và
phải kiểm soát, khống chế hoặc sử
dụng thiên nhiên theo ước vọng của họ.
* Nhận thức rằng
đồng loại không phải là "những con
người như nhau". Nhận thức nầy
nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa con
người với nhau thay v́ t́m những điểm
tương đồng.
* Nhận thức rằng
hạnh phúc chỉ có thể có được bằng
sự dư thừa sở hữu vật chất.
Nhận thức đầu
tiên là một thái độ hướng về thiên nhiên;
nhận thức thứ hai là một thái độ
hướng đến đồng loại; và nhận
thức thứ ba là một nhận thức về mục
đích của đời sống. Ba niềm tin hay nhận
thức trên đă qui định hướng phát triển
của nhân loại. Rất dễ dàng nh́n rơ vai tṛ của
chúng trong thời hiện đại, trong đó nhân loại
hầu như hoàn toàn bị chúng khống chế. Bị
giữ chặt dưới quyền lực của chúng,
hành động của chúng ta trở thành cộng nghiệp
ở tầm mức xă hội. Thế nên sự phát
triển của xă hội loài người đă
được hướng dẫn bởi nghiệp -
hoặc hành động - của những con người mê
muội v́ ba nhận thức sai lệch trên.
Khi ḷng tham và sân hận
được đặt nền trên hoặc ủng
hộ bởi kiến chấp - cho dù là tôn giáo, chính trị
hay điều ǵ khác - chúng sẽ được đẩy
mạnh và củng cố, với những hệ quả
tản rộng rất khó điều chỉnh. Bao lâu mà
kiến chấp chưa được định vị
đúng đắn th́ ḷng tham và sân hận khó có thể
dập tắt.
Các khoa học và các môn
học khác - đă dẫn đến sự tiến bộ
vật chất trong thời hiện đại và cũng
đă đặt nền cho nền văn minh hiện
đại - đă phát triển một cách vô ư thức
dưới ảnh hưởng của ba nhận thức
nầy. Thí dụ như, khoa học thiên nhiên đă phát
triển dưới ảnh hưởng của ước
vọng muốn chinh phục thiên nhiên, là đă dựa trên
nhận thức thứ nhứt - nhận thức rằng
nhân loại tách rời khỏi thiên nhiên; khoa học xă
hội đă nh́n con người trong khía cạnh phe phái và
đấu tranh quyền lực thay v́ nh́n họ như là
những người bà con hay là những người
bạn đồng cư trên quả địa cầu thân
yêu; khoa học nhân văn được phát triển
dưới ảnh hưởng của ư niệm tự do
và hạnh phúc là những điều kiện ngoại
tại - kết quả của sự kiểm soát thiên nhiên
hoặc những đồng loại khác.
Trong những năm sắp
tới, nhân số trên thế giới sẽ tiếp
tục gia tăng, tài nguyên thế giới sẽ tiếp
tục suy giảm, và môi sinh sẽ tiếp tục băng
hoại. Ba nhận thức sai lệch trên sẽ
đẩy cao các vấn đề nầy tới mức
độ nguy kịch hơn. Trong khi nhân số gia tăng
và tài nguyên suy giảm, chúng ta tiếp tục cảm
nhận rằng sự hạnh phúc tùy thuộc vào những
thú vui cảm tính và sự sở hữu vật chất,
rằng tự do như là quyền lực kiểm soát các
điều kiện bên ngoài, và rằng đồng loại
như là những kẻ ḱnh địch và xa lạ. Chúng ta
đang chịu áp lực càng lúc càng tăng nhằm cạnh
tranh với nhau để chiếm hữu tài nguyên thiên
nhiên. Dưới sự hướng dẫn lệch lạc
của ba kiến chấp sai lầm nầy, chúng ta cũng
đă h́nh thành nếp sống dẫn tới sự nảy
sinh những căn bệnh xă hội như nghiện
ngập, bạo động, thần kinh căng thẳng,
bệnh tâm thần, tự tử, và AIDS - và nhiều di
sản của thế kỷ 20 mà công dân thế kỷ 21
phải đối phó.
Để giải quyết
những vấn đề của ḷng tham, sân hận, ích
kỷ và tương hoại, chúng ta phải đối phó
với vấn đề kiến chấp (thành kiến) và
thái độ. Khi chúng ta nói về kiến chấp là chúng ta
đă bước vào lănh vực của tôn giáo. Tôn giáo
đối phó với vấn đề kiến chấp và
tự nó là một loại kiến chấp. Để tôn
giáo có thể giải trừ những vấn nạn
của thế giới một cách hiệu quả, nó
phải được dựa trên chánh kiến (right view =
sammaditthi), và chánh kiến đó phải được
truyền bá trên thế giới, hơn là chỉ khuyến
khích và dạy dỗ theo ba nhận thức sai lệch trên.
Các nước phát triển
đă đồng ư rằng nhận thức thứ nhất
- nhân loại tách biệt khỏi thiên nhiên, và tham vọng
chinh phục thiên nhiên - là một sai lầm. Các nhà môi sinh
học nhấn mạnh rằng chúng ta phải bắt
đầu nh́n con người như một phần
của thiên nhiên và con người phải học cách
sống ḥa b́nh với thiên nhiên. Đó là một dấu
hiệu rất tốt. Nó cho thấy rằng chúng ta đang
bắt đầu để ư tới nhận thức
đầu tiên trong ba nhận thức độc hại
trên. Mặc dù đó là một khởi đầu tốt,
nhưng nó chưa đầy đủ. Ba nhận thức
trên đều tương liên với nhau, và chúng phải
được chú ư tới đầy đủ để
thực sự có thể giải quyết vấn
đề.
Một yếu tố khác
liên quan đến những vấn đề hiện
đại là cách mà chúng ta nh́n nhau. Đây là thái độ
thứ hai mà chúng ta phải sửa đổi. Các tôn giáo
chúng ta gặp nhau hôm nay là nhằm t́m kiếm một
đường hướng để giúp con người
sống hoà b́nh với nhau và làm thuyên giảm những
nỗi khổ trên thế giới. Đây là một mục
tiêu cao cả, một nỗ lực đúng lúc - có lẽ
hơi trễ một chút - nhưng trong chính các hàng giáo
phẩm, chúng ta phải thừa nhận rằng, tôn giáo
đă giữ một vai tṛ quan trọng trong việc làm
nảy sinh ra những vấn đề mà tôi đă nói. Cho
đến nay, trên khắp thế giới, tôn giáo là một
trong những nguyên nhân chính tạo ra sự chia rẽ và
bất ḥa, ngay cả đến chiến tranh và bạo hành
nữa. Để thực sự có thể giải trừ
những vấn nạn nầy, chúng ta phải đủ
dũng cảm nói ra và thành thật nh́n vào chính chúng ta
trước khi có thể dạy dỗ hay kêu gọi,
thuyết phục người khác. Chúng ta phải can
đảm nh́n lại và truy t́m trong chính tôn giáo của ḿnh
để t́m ra những nguyên nhân, những lư do, mà trong quá
khứ, con người đă giết nhau và gây ra những
cuộc chiến tranh v́ tôn giáo. Nếu chúng ta có thể t́m
thấy điều đó, th́ chúng ta có thể giải
quyết được vấn đề.
Tôn giáo của chúng ta đă
dạy chúng ta nh́n những người theo các tôn giáo khác
như thế nào? Họ có dạy chúng ta nh́n người
khác đạo với ḷng tương kính, t́nh huynh
đệ và ḥa thuận, hay họ dạy chúng ta nh́n
những người khác đạo như những kẻ
thấp kém hơn, những kẻ tội lỗi, thiếu
văn minh, lầm đường lạc lối, là
những kẻ cần phải tiêu diệt đi? Nhiều
tôn giáo đă có khuynh hướng giúp đỡ chỉ
một nhóm người chọn lọc, khuyến khích
sự ḥa ái và thân thiện chỉ trong nhóm của họ,
c̣n tiếp xúc với người khác th́ lạnh nhạt,
thiếu thân thiện. Đây chính là lư do mà tôn giáo đă là
một sức mạnh chia rẽ trong lịch sử nhân
loại, một chất xúc tác dẫn tới chiến tranh
và tàn phá. Nhiều giáo huấn thích hợp cho một nhóm
nhỏ th́ giờ đây không c̣n thích hợp cho "ngôi làng
địa cầu" (Global Village) nữa. Chúng không c̣n
thích ứng trong hoàn cảnh hiện tại. Sự phát
triển vật chất đă nối liền hành tinh này
bằng những phương tiện truyền thông nhanh
chóng, nhưng nhiều giáo huấn vẫn c̣n tính cách
"bộ phái" (sectarian) và không chuẩn bị cho chúng
ta sẵn sàng sống chung với nhau ở tŕnh độ
toàn cầu. H́nh như là sự phát triển nhân cách con
người không tương xứng với t́nh trạng
thế giới vật lư. Tôn giáo chưa ḥa điệu
với việc giải quyết những nhu yếu của
con người ở tŕnh độ toàn cầu. Chúng ta
thấy rằng, tôn giáo, thay v́ là những yếu tố
đưa tới sự tương thuận và ḥa ái trên
thế giới, lại là nguyên nhân cho nhiều tranh chấp
và xung đột, chiến tranh và tàn sát đẫm máu.
Chúng ta phải thẩm
định lại vai tṛ của các tôn giáo, và xét lại thái
độ và kiến chấp của chúng ta. Nếu tôn giáo
giữ một vai tṛ xây dựng trong việc phát triển
nhân cách, th́ nền tảng của những kiến quan
nầy phải được đặt nền một
cách đúng đắn và vững chắc. Con người
phải được khuyến khích nh́n nhau một cách
b́nh đẳng, tương kính và chấp nhận nhau, nh́n
nhau với thái độ hài ḥa, tương thuận.
Trong khi chưa thể nh́n
nhau một cách tích cực như thế, th́ ít ra, chúng ta có
thể giải trừ t́nh huống tiêu cực bằng cách
dạy rằng: giết người là một tội ác, là
một hành động xấu. Giết người, cho dù
người đó làm nghề ǵ, thuộc tôn giáo nào,
chủng tộc nào, phe phái nào, th́ luôn luôn là một tội
ác. Chúng ta hăy bắt đầu bằng nền tảng
căn bản nầy.
Đời sống chúng ta
đầy những tranh chấp và xung đột. Nếu
chúng ta nh́n sâu vào t́nh trạng xă hội, chúng ta sẽ
thấy rơ rằng, lư do mà những giá trị như nhân
quyền và sự khoan dung tôn giáo đă trở thành rất
quan trọng trong thời đại nầy là v́ chúng ta
đang sống trong một thời đại của
sự tranh chấp, và nếp suy tư của chúng ta th́ quá
chia rẽ và bè phái, cục bộ. Trong khi sự quan
trọng của những quan niệm như nhân quyền và
sự khoan dung tôn giáo phải được đề cao,
chúng ta cũng phải nhận rằng, sự quan trọng
nầy dựa trên một thế giới vẫn c̣n
chịu ảnh hưởng của nề nếp suy tư
chia rẽ. Phần lớn tư tưởng của nhân
loại vẫn bắt nguồn từ nhị nguyên
luận. Nhân quyền là sự bảo đảm của
chúng ta để không tàn phá lẫn nhau, trong khi chúng ta
vẫn c̣n chịu ảnh hưởng của nề
nếp suy tư chia rẽ như thế.
Quan niệm về nhân
quyền khởi phát từ một bối cảnh lịch
sử của sự chia rẽ, kỳ thị và tranh
chấp. Chúng rất cần thiết để bảo vệ
tránh sự tấn công của kẻ khác, là một trả
lời trong một t́nh huống tiêu cực: Khi nền
văn minh bị đe dọa bởi sự khiêu khích,
tấn công và tranh chấp, th́ rất cần thiết
phải có một vài phương thức bảo vệ nào
đó. Nguyên nhân của nhân quyền đă dẫn
đến việc thiết lập luật pháp và những
qui định trong cố gắng giữ vững sự hài
ḥa trong xă hội chúng ta. Trong các nước phát triển,
những phẩm tính nầy có hiệu quả và cũng
rất hữu ích cho cả thế giới. Trong khi nhân
quyền rất hữu ích trong khuôn khổ nhằm giải
ḥa những mối bất đồng, chúng không phải là
điều lư tưởng. Chúng chỉ là sự
đồng thuận. Đồng thuận không có khả
năng hướng dẫn nhân loại tới sự ḥa
hợp và thống nhất chân chính. Đồng thuận
chỉ là t́nh trạng mà mỗi bên đồng ư tự
giới hạn ḿnh và cho phép người khác làm một
số việc ǵ đó để cùng đạt tới ích
lợi chung. Nó đ̣i hỏi phải có một phẩm
chất cao của năng lực hành động và sự
kham nhẫn đầy trí tuệ.
Tự yếu tính, quan
niệm về nhân quyền có ba thiếu sót lớn:
* Trước hết, quan
niệm đó tự nó là kết quả của sự chia
rẽ, xung đột và tranh chấp. Ư tưởng về
nhân quyền được h́nh thành nhằm bảo
đảm sự tự bảo tồn và bảo vệ
quyền lợi chung. Nhân quyền chỉ đạt được
bởi đ̣i hỏi.
* Thứ hai, nhân quyền là
một qui ước (convention), là một sản phẩm
hoàn toàn nhân tạo chứ không hiện hữu trong
điều kiện tự nhiên. Chúng không phải là
những "quyền tự nhiên" (natural rights). Là
một sản phẩm nhân tạo, chúng không được
đặt nền vững chắc trên sự thực.
Để có hiệu lực, chúng phải đuợc
bảo vệ bởi luật pháp và phải được
chấp thuận từ mọi phía. Để cho nhân
quyền được tồn tại lâu dài và vững
chắc, chúng phải được liên hệ tới
thực tế tự nhiên, và để được
như thế, tâm thức con người phải
được phát triển đến mức độ
con người sẵn sàng ca ngợi nhân quyền. Chỉ
có cách nầy nhân quyền mới được dựa
trên một chân lư tự nhiên và được chấp
nhận.
* Điều nầy
dẫn chúng ta đến sự thiếu sót thứ ba
của quan niệm nhân quyền, đó là, chúng chỉ là qui
ước cho hành vi xă hội. Chúng không đào sâu đến
vấn đề động cơ tinh thần (mental
motivation). Hành vi xă hội luôn liên hệ đến
động cơ tinh thần. Động cơ tinh
thần h́nh thành và hướng dẫn hành vi xă hội.
Nếu nền tảng tinh thần sai lầm, ngay
đến những hành động có vẻ có ư hướng
tốt cũng dẫn đến sự tranh chấp.
Trong khi chúng ta phải
tiếp nhận những yêu cầu của các nhà hoạt
động cho nhân quyền, chúng ta cũng phải phân tích
phẩm chất tinh thần của họ trước khi
chúng ta có thể hiểu rơ t́nh huống. Khi chúng ta nh́n sâu vào
những động cơ tinh thần đàng sau các yêu
cầu của nhân quyền, chúng ta thấy rằng chúng
thường được dựa trên hoặc ảnh
hưởng bởi ḷng sân hận, phẫn uất hay
sợ hăi. Khi mà có những cảm tính như thế, th́
sẽ rất khó khăn để đạt đến
một kết quả thật sự tốt đẹp
từ những hoạt động cho nhân quyền, bởi
v́ cảm tính căn bản đàng sau chúng không có hài ḥa
thật sự. Khi mà những hoạt động nhân quyền
được thúc đẩy bởi những động
cơ xấu, th́ hành vi hệ quả sẽ rất khó
khăn để đạt được kết quả
đ̣i hỏi.
Lạm dụng nhân
quyền phải được nhận rơ trong tận
đáy sâu tâm thức của từng cá nhân, và đây là
điều quan ngại cho sự phát triển nhân cách. Chúng
ta cũng cần phải tiến tới một
phương thức suy tư hoặc một nhận
thức về sự tương quan nhân loại tích
cực hơn. Nghĩa là, chúng ta phải nh́n nhân loại
như bà con láng giềng. Chúng ta đều b́nh đẳng
trước cặp mắt của qui luật tự nhiên,
chúng ta là những chủ thể b́nh đẳng
trước những qui luật tự nhiên.
Tuy nhiên, điều nầy
tự nó chưa phải là một suy tư tích cực. Chúng
ta phải nh́n con người vừa b́nh đẳng
vừa hợp nhất. Thời nay, người ta đă nói
quá nhiều về b́nh đẳng, nhưng thường
hướng tới loại b́nh đẳng đầy
sự chia rẽ và tranh chấp. Một nhận thức
về b́nh đẳng như thế dẫn tới thái
độ tranh chấp về các quyền b́nh đẳng.
Đó là sự b́nh đẳng dựa trên ḷng tham, hoài nghi và
sợ hăi. Sự hợp nhất rất cần để
ngăn chận động cơ thúc đẩy sự b́nh
đẳng khỏi bị chia rẽ. Hợp nhất là
một ước vọng và sở thích được
sống với nhau, một thái độ dẫn tới
sự kết hợp và liên minh. Nó không đơn giản là
sự đồng thuận trước sự cạnh
tranh, mà nó là sự phát triển của sự hợp tác vào
tính hài ḥa.
Cạnh tranh phải
được quân b́nh bởi sự hợp tác và
được nâng đỡ bởi điều mà
đạo Phật gọi là tâm từ (metta), một t́nh
thương yêu phổ quát, không giới hạn, không
điều kiện. Rất ít người thực sự
hiểu về thiện ư hay t́nh yêu. Họ có thể yêu,
nhưng đó là t́nh yêu hạn hẹp, kỳ thị, chia
rẽ và điều kiện hóa - họ thương những
người cùng nhóm, nhưng không thương những
người khác nhóm. T́nh yêu thương và thiện ư
phải được chan rải khắp nơi,
vượt mọi biên giới, hướng đến
mọi đời sống hiện hữu trong vũ
trụ.
Điều nầy không có
nghĩa là chúng ta không bảo tồn được
những truyền thống văn hóa độc đáo
của chúng ta. Rơ ràng là chúng ta được sinh ra từ
nhiều nơi khác nhau, và sống trong những bối
cảnh văn hóa khác nhau, thế nên bảo vệ
truyền thống và những nền văn hóa dân tộc
cần được tiếp tục. Thuận theo và thích
ứng với hoàn cảnh tự nhiên dẫn tới sự
ḥa hợp và hạnh phúc trong hoàn cảnh đặc
biệt đó. Những nền văn hóa dân tộc có
thể và nên được bảo vệ, và sẽ trở
thành giai đoạn hợp nhất trung gian để
hướng tới sự hợp nhất toàn cầu
tuyệt hảo. Thế nên, chúng ta có sự đa dạng
trong hợp nhất. Bảo tồn truyền thống
phải được thực hiện với trí tuệ
và sự hiểu biết, chứ không phải với
ảo tưởng và kiến chấp mù quáng.
Nếu
chúng ta thực hành đúng đắn đối với
vấn đề phát triển nhân cách, nhân số sẽ
tăng từ nhiều nhóm cô lập thành những cộng
đồng toàn cầu, một cộng đồng dung ḥa
cả tính khu vực và tính toàn cầu.
Con người
được phát triển tốt đẹp sẽ tránh
được phẩm tính xấu mà đạo Phật
gọi là chấp thủ (macchariya) trên năm phương diện.
Năm loại chấp thủ như sau:
*
Chấp thủ tính địa phương và tính quốc
gia.
*
Chấp thủ về gia đ́nh, dân tộc và tôn giáo.
*
Chấp thủ về sự giàu có vật chất.
*
Chấp thủ về giai cấp, bao gồm địa
vị xă hội, màu da và nhiều vấn đề khác.
*
Chấp thủ về kiến thức và sự học
hỏi, bao gồm những thành tựu trí thức và
giải trí.
Sự phát triển nhân cách
đúng đắn được biểu lộ qua sự
vắng mặt của năm loại chấp thủ
kể trên và đề cao tính xả chấp hoàn toàn. Khi
cần định mức phát triển nhân cách, chúng ta
phải để ư đến sự có mặt hay vắng
mặt của năm loại chấp thủ nầy.
Đă đến lúc chúng ta
phải dứt bỏ năm loại chấp thủ
nầy để cứu thế giới khỏi sự
đe dọa của chiến tranh và tàn phá. Tuy nhiên, trong
hiện tại, h́nh như ở trạng huống
ngược lại. Không giống như sự phát
triển kỹ thuật giúp đẩy mạnh truyền
thông và sự tương duyên, thái độ tâm thức
căn bản của con người hiện tại
lại là thái độ cạnh tranh dữ dội, tự
bảo tồn và bảo vệ quyền lợi của ḿnh
bằng sự thiệt tḥi của kẻ khác. Nhân quyền
trở thành dụng cụ để bảo vệ
quyền lợi cá nhân. Chúng giúp cho thế giới tụ
lại với nhau trong khi thế giới vẫn bị
khống chế bởi nếp suy tư chia rẽ.
Tôi đă nói về hai thái
độ hay kiến chấp quan trọng đă ảnh
hưởng đến hành động của con
người trong thời hiện đại: nhận thức
đối kháng xem cuộc đời, một mặt,
như một cuộc chiến đấu chống lại
đồng loại, mặt khác, cũng chống lại
thiên nhiên. Thái độ căn bản của con
người là thái độ t́m kiếm sự chiến
thắng. Loại thái độ nầy không c̣n đứng
vững nữa. Chúng ta phải học sống hài ḥa,
với người khác và với môi trường thiên nhiên.
Chúng ta có hai người "bạn", người
bạn nhân loại và người bạn môi trường
thiên nhiên. Họ không phải là đối thủ hay kẻ
thù mà ta phải chiến thắng, nhưng là những
người bạn mà ta cần học để hợp
tác.
Để thực sự
giải quyết hai kiến chấp sai lệch nầy,
chúng ta phải đào sâu tới thái độ căn
bản thứ ba từng tô điểm nhận thức con
người, nhằm đối phó với sự hiểu
biết của chúng ta về ư nghĩa căn bản hay
mục đích của đời người. Con
người đă từng khao khát tự do, nhưng
định nghĩa của họ về tự do th́ không rơ
ràng và bất nhất. Nhận thức về tự do
thường thấy trong nền văn minh hiện
đại là sự vắng mặt của biện pháp
hạn chế từ bên ngoài, khả năng kiểm soát
người khác và thế giới thiên nhiên. Một nhận
thức về tự do như thế đă điều
kiện hóa cách thức chúng ta nh́n những phẩm tính khác
của đời sống, thí dụ như sự hạnh
phúc. Nếu chúng ta nh́n tự do như là khả năng
kiểm soát và sử dụng sự vật khác, như cách
chúng ta tích lũy sở hữu vật chất và kiểm
soát thiên nhiên, th́ khi ấy, chúng ta cảm thấy rằng
chúng ta càng sở hữu nhiều th́ chúng ta càng hạnh phúc.
Hiện nay, nhận thức
nầy đă sa lầy với sự xói ṃn của môi sinh,
và chúng ta thấy rằng, tài nguyên thiên nhiên không c̣n
đủ để minh chứng nhận thức đó
nữa. Điều nầy dẫn đến t́nh huống
là chúng ta buộc phải nhân nhượng, thỏa
hiệp. Bằng một cách thức tương tự
như khi chúng ta nhân nhượng với nhau, chúng ta cũng
buộc phải nhân nhượng với thiên nhiên. Nếu
chúng ta t́m kiếm hạnh phúc theo mức độ mà
sự ham muốn đ̣i hỏi th́ sẽ không bao giờ
chấm dứt sự sử dụng thiên nhiên. Làm như
thế là chúng ta tự đưa ḿnh đến t́nh
trạng nguy hiểm - v́ tài nguyên thiên nhiên bị tiêu ṃn và
môi trường sinh sống bị tổn hại, và sự
an toàn của chúng ta bị đe dọa. Và v́ thế chúng ta
phải tương nhượng. Để giữ cho thiên
nhiên và con người cùng tồn tại, chúng ta
đồng ư từ bỏ một vài thú vui cá nhân. Sự
tương nhượng này được thực
hiện v́ nó cần thiết, và chúng ta không cảm thấy
hạnh phúc v́ nó. Đó là một sự hy sinh mà chúng ta
buộc phải làm để c̣n tồn tại. Lư do đă
dẫn chúng ta đến t́nh huống nầy là v́ thái
độ sai lầm của chúng ta.
Nói vắn tắt,
để con người được sống hạnh
phúc phải có tự do ở ba tŕnh độ.
* Tự do đầu tiên là
tự do được sống với thiên nhiên và môi
trường sinh sống. Chúng ta có thể gọi đây là
tự do vật lư. Đây là tự do khỏi sự ràng
buộc của ước muốn và sự tước
đọat, chỉ cần cung cấp vừa đủ cho
bốn loại nhu yếu cần thiết cho đời
sống - thực phẩm, quần áo, nhà cửa và thuốc
men (danh từ đạo Phật gọi là tứ sự).
Điều nầy cũng bao gồm tự do khỏi
những thiên tai, và khả năng có thể đối phó
với chúng khi chúng xảy ra.
* Thứ hai, chúng ta phải
có tự do trong quan hệ với đồng loại.
Nghĩa là, sống an toàn với nhau mà không bị bóc
lột bởi kẻ khác. Chúng ta có thể gọi đây là
tự do xă hội.
Tuy nhiên, hai h́nh thức
tự do kể trên sẽ không thực sự có hiệu
quả nếu chúng không liên hệ đến h́nh thức
tự do thứ ba, một tự do nội tâm, tự do cá
nhân. Phát triển nhân cách ở tŕnh độ cá nhân, sẽ
dẫn tới sự tự do nội tâm, là nhiệm vụ
quan trọng nhất của con người hiện
tại. Có tự do vật lư và tự do xă hội, chúng ta
phải học cách sống độc lập như
thế nào, để được hạnh phúc và hài ḷng
với chính ḿnh. Đây là tự do nội tâm. Đây là
niềm hạnh phúc hoàn toàn độc lập với bên
ngoài, không c̣n tùy thuộc vào sự bóc lột thiên nhiên hay
đồng loại. Chúng ta trở nên càng lúc càng có khả
năng t́m thấy sự an lạc trong chính tâm hồn chúng
ta, bằng chính trí tuệ của chúng ta. Khả năng an
lạc mà không có sự bóc lột thiên nhiên và đồng
loại là một dạng thức độc lập
khỏi những điều kiện thiên nhiên và xă hội.
Niềm hạnh phúc càng độc lập th́ sự tự
do vật lư và tự do xă hội càng được bảo
đảm. Lúc đó, chúng ta sẽ có một quan hệ
tốt đẹp nhất với thiên nhiên và xă hội và
sẽ không c̣n nhu yếu bóc lột chúng.
Tự do nội tâm là
một bảo đảm vững chắc nhất mà tự
do vật lư và tự do xă hội có thể đặt
nền. Không có nó, hạnh phúc phải tùy thuộc vào sự
bóc lột môi trường bên ngoài. Bao lâu mà c̣n sự bóc
lột như thế th́ tự do vật lư và tự do xă
hội không phải là những hiện thực khả
hữu. Tốt nhất, phải là sự tương
nhượng, một t́nh trạng mà con người
buộc phải làm - hoặc tránh đừng làm -
điều ǵ đó để bảo tồn môi sinh. Tuy
nhiên, nếu có sự tự do nội tâm th́ có thể có
một thái độ hài ḥa với môi sinh bên ngoài, và nhân
loại có thể đạt tới một niềm
hạnh phúc vừa hài ḥa vừa quân b́nh.
Con người có tiềm
năng rất lớn để đạt đến
tự do ở tŕnh độ cao, nhưng v́ ảo vọng về
hạnh phúc dựa trên sự sở hữu vật chất
và sự hưởng thụ đầy kinh nghiệm
cảm tính nên hạnh phúc của chúng ta bị buộc
chặt vào những đối tượng vật
chất. Con người hôm nay thấy rằng họ không
thể có được kinh nghiệm an lạc trong chính
họ, và họ buộc phải bóc lột thiên nhiên và
đồng loại. Thiếu khả năng có
được hạnh phúc tự chính ḿnh, họ phải
t́m kiếm những điều kiện bên ngoài. Càng
nhiều người làm như thế, vấn đề
càng rắc rối. Không những chúng ta thiếu tự do và
hạnh phúc trong đời sống chúng ta, chúng ta c̣n
đánh mất cả tự do vật lư và tự do xă
hội nữa. Thế nên, h́nh như là càng tiến bộ
về vật chất, th́ chúng ta càng dễ đánh mất
khả năng có được niềm hạnh phúc tự
tại.
Với sự hiểu
biết đúng đắn về ư nghĩa và mục
đích của đời sống và bản chất của
tự do và hạnh phúc, chúng ta sẽ tiếp xúc với môi
trường vật lư trong một cách thức hài ḥa.
Bất cứ một sở hữu vật chất nào mà
chúng ta có được cũng chỉ là phụ trội,
chứ không phải là yếu tố quyết định
cho sự hạnh phúc của chúng ta.
Rốt cùng, sự phát
triển nhân cách sẽ dẫn tới sự tự do
khỏi những "kẻ thù" nội tại, dẫn
tới tâm thức hoàn toàn tự do vượt khỏi
ảnh hưởng nặng nề của tham, sân, và si. Khi
tâm thức của chúng ta hoàn toàn tự do khỏi những
sa đọa tinh thần, chúng ta cũng sẽ
được tự do khỏi những đau khổ tinh
thần, là nguyên nhân chính tạo ra những vấn
đề của môi trường xă hội và vật lư.
Với sự tự do nội tâm, không c̣n cần thiết
phải bóc lột môi sinh bên ngoài, thay vào đó, chúng ta có
thể sống một cách thật sự ích lợi.
Sự tương quan
của chúng ta với môi trường thiên nhiên phải là
một sự tương quan cân bằng, tránh
được những cực đoan. Một cực
đoan là chỉ tập trung vào việc sử dụng môi
sinh bên ngoài. C̣n cực đoan kia là hoàn toàn không để ư
ǵ đến chúng.
Cũng cần lưu ư là
những người có khát vọng muốn chinh phục thiên
nhiên và sử dụng nó cho nhu cầu của họ
thường nh́n thiên nhiên như là một đối
tượng hoàn toàn ngoại tại. Khi phải
đương đầu với những vấn
đề nhân tính nội tại, thí dụ như khi
được hỏi tại sao họ không làm ǵ về
tính ích kỷ và thù hận, họ thường cho rằng
những điều đó là những điều kiện
tự nhiên của con người. Họ cảm thấy
rằng nhân tính nội tại nầy nên để cho nó
tự do vận hành. Vậy là, nhận thức của
họ về thiên nhiên có tính bất nhất. Chỉ
muốn chiến thắng thiên nhiên bên ngoài, họ lại
không coi nhân tính bên trong cũng là một điều kiện
tự nhiên phải được chinh phục.
Mặt khác, nếu chỉ
đơn giản để cho thiên nhiên tự phát th́
cũng là một lỗi lầm. Công tác tŕnh bày những
vấn đề về môi sinh, nhận thức những
nhu yếu cần thiết của con người như
thực phẩm, quần áo, nhà ở và thuốc men, là
những công tác cần thiết. Để có một quan
hệ đúng đắn với thiên nhiên, chúng ta phải
thấy rơ hoàn cảnh của chúng ta bằng những
phương thức căn bản hơn. Chúng ta phải
thấy rằng chính chúng ta là một phần của
thế giới thiên nhiên tương thuộc, chứ không
phải là một thực thể tách biệt, hay là chủ
nhân ông, hay là người kiểm soát thiên nhiên. Nếu chúng
ta quán chiếu rằng, chúng ta là một phần của
thiên nhiên, và chúng ta thấy rằng những thay đổi
trong thiên nhiên cũng có ảnh hưởng đến chúng
ta, th́ hành động của chúng ta sẽ được
kiềm thúc, xác định rơ ràng và quân b́nh. Trong hoạt
động của chúng ta liên quan đến môi
trường thiên nhiên, chúng ta sẽ chú ư đến mọi
yếu tố có thể được, để sao cho
hoạt động của chúng ta được ích
lợi nhất về mọi mặt, bao gồm cả môi
trường thiên nhiên nữa. Một sự quân b́nh sẽ
được thiết lập. Bao lâu mà chúng ta nhận rơ
vị trí của chúng ta trong suốt tiến tŕnh thiên nhiên,
chúng ta sẽ có thể hoạt động một cách thành
công như là một yếu tố trong toàn thể tiến tŕnh.
Hoạt động của chúng ta sẽ được
hướng dẫn bằng trí tuệ và chánh kiến.
Thời nay, người ta
đă bàn nhiều về một sự phát triển có
thể chấp nhận được và đặt
nền kinh tế liên hệ tới sinh thái học (ecology).
Để cho nền kinh tế được lành mạnh
th́ thiên nhiên cũng phải được lành mạnh.
Đây là một nhận thức cần thiết cho sự
tương nhượng, như tôi đă nói ở trên.
Sự thành công thực sự của chúng ta về vấn
đề nầy tùy vào khả năng thay đổi quan
điểm căn bản của chúng ta về mục
đích của đời sống và quan niệm của
chúng ta về hạnh phúc và tự do.
Ở đây, chúng ta không
thể không lưu tâm đến vai tṛ quan trọng của
truyền thông trong việc giới thiệu và ảnh
hưởng đến những giá trị xă hội và quan
điểm của công chúng. Nếu tiềm năng của
truyền thông và kỹ thuật thông tin được
hướng tới việc cổ vơ cho ba chánh kiến
căn bản và những giá trị xă hội tương
xứng của chúng - thay v́ nhằm giới thiệu và
phổ biến tham, sân, si và những giá trị xă hội
tương xứng của chúng (đáng ghét, nhưng
đang được thịnh hành phổ biến) - th́
chúng có thể giúp rất nhiều trong việc giải
quyết những vấn nạn toàn cầu và sự phát
triển của nhân loại.
Một cách căn bản
hơn, hệ thống giáo dục - mặc dù ít có ảnh
hưởng bằng hệ thống truyền thông -
phải có nhiều ư nghĩa hơn chứ không phải
chỉ nhằm vào việc chuẩn bị cho có việc làm
và chỉ phục vụ cho guồng máy cạnh tranh xưa
cũ. Giáo dục phải giữ một vai tṛ quan trọng
trong việc phát triển nhân cách, trong đó phải hướng
tới mục đích là khuyến khích, cổ vũ cho ba
chánh kiến nêu trên. Chánh kiến có thể được
thiết lập trong xă hội qua hệ thống giáo
dục như thế.
Trong
lănh vực chính trị, giờ đây, chế độ dân
chủ đang trên đường chiến thắng. Tuy
nhiên, trong thực tế, công trạng của nó vẫn c̣n
phải đặt câu hỏi và khả năng cứu giúp
của nó vẫn c̣n phải hoài nghi. Bao lâu mà nền dân
chủ c̣n bị chi phối bởi ba tà kiến trên, th́ nó
không thể đưa chúng ta đến nền ḥa b́nh và an
toàn thật sự.
Ngày nay, h́nh như có một
cố gắng gán ghép và ngay cả đồng nhất hóa
chế độ dân chủ và chủ nghĩa tư
bản, như trong cụm từ "dân chủ và nền
kinh tế thị trường tự do" hay "nền
dân chủ thị trường tự do". Thật
đáng nghi ngờ việc chế độ dân chủ
được ghép hay đồng nhất hóa với
chủ nghĩa tư bản, hoặc là trên thực tế,
nếu ghép chế độ dân chủ với chủ
nghĩa tư bản, th́ đó có phải là điều
thực sự mong muốn hay không? Chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa xă hội, bề ngoài có vẻ
như là hai hệ thống đối nghịch và khác
biệt, nhưng trong thực tế, cả hai cùng qui
tụ dưới chủ nghĩa duy vật và cả hai
được đặt nền trên ba tà kiến đă nói
- đầy tư tưởng chia rẽ và xung đột.
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xă hội
cộng sản không chứng minh tính đúng đắn
của chủ nghĩa tư bản. Ngược lại,
nó ngầm cho thấy rằng, trong hai hệ thống ưu
việt của chủ nghĩa duy vật, sự sụp
đổ của một hệ thống đă xảy ra,
th́ sự sụp đổ của hệ thống kia có
thể xảy ra. Bây giờ, rơ ràng là, người ta tố
cáo và phàn nàn về những hậu quả bất lợi
của sự phát triển kinh tế dưới nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Để chế
độ dân chủ có tính đúng đắn, tự nó
phải gạt bỏ những yếu tố tai hại
như thế và phải tự thiết lập một
nền tảng ư thức hệ đúng đắn. Kinh
tế không phải chỉ cần cải cách hoặc thay
đổi, mà c̣n cần phải chuyển đảo trong
chính nền tảng lư thuyết của nó.
Trong căn bản, cần
phải mưu cầu sự phát triển kinh tế
nhịp nhàng và quân b́nh với phát triển nhân cách.
Ngược lại, phát triển kinh tế chỉ là hăo
huyền. Đôi khi, phát triển kinh tế do ở sự
phá hoại môi trường thiên nhiên, đôi khi do ở
sự bóc lột người hay dân láng giềng, và đôi
khi cũng hy sinh cả thân phận con người. Một
thí dụ đơn giản của điều nầy là
việc hành nghề măi dâm chuyên nghiệp, một
người có thể đồng ư, hoặc bị bắt
buộc, hoặc hy sinh nhân cách chỉ để có tiền
thôi. Kinh tế phát triển cũng chỉ là hăo huyền
trong một vài quốc gia với sự phát triển kinh
tế cao nhưng an sinh kinh tế rất thấp, trong
trường hợp nầy, không phát triển kinh tế
nhưng có an sinh kinh tế cao có thể là một giải
pháp tốt hơn.
T́nh huống hiện
tại là, để xây dựng hạnh phúc cho một nhóm
nhỏ th́ nhóm người đông hơn và môi trường
thiên nhiên nói chung phải chịu thiệt hại. Cho dù
cả thiên nhiên bị tàn phá trong tiến tŕnh kiếm t́m
hạnh phúc, chúng ta cũng không t́m thấy được
hạnh phúc đâu. Đức Phật đă từng nói là
cho dù có cả một núi vàng cũng không làm cho con
người hài ḷng. Cho dù con người tranh giành với
nhau cho đến khi toàn xă hội tan ră, họ cũng không
t́m thấy hạnh phúc. Mọi người đều t́m
kiếm và tranh đấu cho hạnh phúc, nhưng có mấy
ai t́m được.
Trong cộng đồng
thế giới, nề nếp suy tư cũ kỹ
đầy óc bè phái và chia rẽ, không c̣n đứng
vững được. Nó sẽ không cho phép thế
giới sống trong ḥa b́nh. Những hệ thống
đạo đức trong thế giới hiện
đại, như hạn chế tiêu phá thiên nhiên, sự
khoan dung tôn giáo và nhân quyền, chỉ là một cố gắng
tương nhượng để bảo vệ và duy tŕ
thế giới. Chúng phải được ủng hộ
bởi những tiêu chuẩn đạo đức tích
cực hơn và một nề nếp suy tư mới.
Trong chiều hướng
đó, đạo Phật dạy rằng: Con người
là một yếu tố trong toàn hệ thống thiên nhiên
vận hành theo nguyên lư nhân quả và duyên sinh, trong đó
mọi yếu tố đều giữ một vai tṛ
của ḿnh. V́ thế, mọi hoạt động cần
phải hài ḥa và tạo ích lợi cho hệ thống đó.
Mọi hiện hữu, bao gồm con người và thú
vật, đồng trú trong hệ thống qui luật thiên
nhiên nầy. Mọi sinh vật đều muốn
được hạnh phúc và tránh đau khổ, và
đều sợ chết. Tất cả đều
giống nhau về điều nầy, b́nh đẳng và
đồng đều. Không có sự phân biệt hay
biệt đăi nào trước qui luật thiên nhiên. Giết
hại sinh vật cho dù dưới bất cứ h́nh
thức nào cũng là tội ác; chúng ta nên đề cao ḷng
từ bi và hài ḥa, tương trợ và hợp nhất.
Một đời sống tốt đẹp và cao
thượng nhất là được tự do, đây là
niềm chân hạnh phúc. Vượt qua và bên trên hai loại
tự do ngoại tại - gồm tự do vật lư, liên
quan đến môi trường thiên nhiên và bốn nhu
yếu cần thiết cho đời sống, và tự do
xă hội, không bị những phiền nhiễu xă hội -
là sự tự do ở tŕnh độ cao hơn - tŕnh
độ nội tâm, là kết quả của sự phát
triển nội tâm. Đó là sự trưởng thành
của trí thức và tâm thức. Nó dẫn tới một
loại hạnh phúc càng lúc càng độc lập, và giờ
đây, nó giúp chúng ta có thể tiếp xúc với môi
trường bên ngoài và hoàn cảnh xă hội một cách xây
dựng và tích cực hơn.
Phải nhận rằng
chúng ta tùy thuộc vào hoàn cảnh thiên nhiên và xă hội, v́
thế, hai loại tự do đầu tiên là điều
kiện cần thiết để chúng ta phát triển
tự do nội tâm. Ngược lại, tự do nội
tâm là nền tảng để tự do vật lư và tự
do xă hội dựa vào, và cũng là một bảo
đảm cho chúng. Nếu con người tự phát
triển và đạt được tự do nội tâm,
th́ chúng ta không cần phải đ̣i hỏi tự do
khỏi hoàn cảnh bên ngoài. Thay vào đó, những giá
trị đạo đức tích cực sẽ
được phát triển. Và sẽ có sự hài ḥa mà không
cần phải tương nhượng.
Trong hoàn cảnh như
vậy, phát triển kinh tế sẽ được quân
b́nh bởi sự phát triển nhân cách, phù hợp với
mục đích của Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới
nầy, nhằm ủng hộ "sự cộng tác trong
tương lai và cùng hoạt động cho ḥa b́nh, cho
sự thuyên giảm nỗi đau khổ, và cho sự
bảo vệ hành tinh nầy".
Nếu chúng ta c̣n dính
mắc vào ba kiến chấp và nhận thức xưa, th́
nỗ lực t́m kiếm hạnh phúc của chúng ta sẽ
phá hủy ba mục tiêu cao thượng nầy. Mặt
khác, nếu chúng ta thực hiện theo những quan
điểm hài ḥa và thiện lành, và khuyến khích sự
phát triển hạnh phúc nội tâm, chúng ta sẽ có thể
đạt được những mục tiêu nầy.
Trong đạo Phật,
chúng tôi cho rằng một người chứng đạt
được tŕnh độ phát triển tâm linh cao
nhất là người đă hoàn toàn diệt được
tham, sân, si trong tâm họ. Tuy nhiên, sự tu tập phải
từ từ, đ̣i hỏi thời gian. Đối với
con người b́nh thường, sự đo lường
chắc chắn nhất của việc phát triển
nội tâm là sự chấm dứt tà kiến. Nếu ta
từ bỏ được tà kiến và phát triển chánh
kiến, th́ cho dù tham và sân vẫn c̣n, ngay đến có
thể vẫn c̣n ngă chấp, th́ chúng đă ở một
mức độ nhẹ hơn nhiều. V́ chúng không
được nâng đỡ và xây dựng trên tà kiến,
chúng sẽ không tồn tại dai dẳng và không ở
mức độ phổ biến. Ngược lại,
nếu ḷng tham và sân hận được củng cố
bởi tà kiến, chúng sẽ dữ dội hơn và
tạo hậu quả rộng hơn. Đó là lư do tại
sao trong đạo Phật việc phát triển nhân cách
đă nhấn mạnh đến việc diệt trừ tà
kiến.
Khoa học và giáo dục
sẽ có một nền tảng tốt nếu
được phối hợp với chánh kiến. Các khoa
học ứng dụng và vật lư cũng như kỹ
thuật sẽ được thúc đẩy bởi ḷng
ham muốn kiến thức thuần túy và bởi phẩm
chất của đời sống chứ không phải
bởi tham vọng muốn bóc lột thiên nhiên cho sự
chiếm hữu ích kỷ. Các khoa học xă hội sẽ
không nh́n nhân loại bằng một nhăn quan thấp kém què
quặt về một xă hội con người tách rời
khỏi thiên nhiên, như là một tập họp của
những bè nhóm rời rạc đầy những tranh
chấp quyền lực, mà thay vào đó, nh́n con
người như những bạn đồng hành trong
thế giới thiên nhiên nầy. Các khoa học nhân văn
nên quan tâm đến nỗ lực nhằm nhận thức
được phẩm chất cao quí nhất của con
người, đó là sự tự do nội tâm. Từ
đó, điều nầy sẽ trở thành một nền
tảng cho sự phát triển thích hợp của các khoa
học thiên nhiên và xă hội.
Con
người trong thế kỷ 20 đă tạo nhiều
nghiệp bất thiện, và sẽ ảnh hưởng
đến nhân loại trong thế kỷ 21. Đó là di
sản gồm nhiều vấn đề mà công dân trong
thế kỷ 21 phải đối phó. Để giúp
giải quyết những vấn đề nầy và
bảo đảm rằng thế kỷ 21 là một
thế kỷ an ḥa, ngay bây giờ, chúng ta phải thảo luận
những phương thức để giải quyết
vấn đề đó. Nếu chúng ta có thể tu chỉnh
quan điểm của chúng ta như tôi đă tŕnh bày ở
đây, th́ hy vọng là, chúng ta có thể giải quyết
những vấn đề đó một cách thành công.
Ba kiến quan mà tôi đă
diễn tả ở đây rất thích hợp cho thời
đại của chúng ta, khi mà môi trường thiên nhiên
đang ở t́nh trạng hao ṃn và bị tiêu hủy.
Thế giới sinh hoạt của con người như
thu hẹp lại. Đă đến lúc chúng ta phải
học cách sống với nhau, và điều nầy
chỉ có thể có được khi chúng ta phát triển
sự tự do không lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài,
và chúng ta nên học cách giúp đỡ và ủng hộ
điều nầy. Bằng cách nầy, chúng ta sẽ có
thể đạt được sự tự do chân chính
và niềm hạnh phúc chân chính.
Ḥa Thượng P.A. Payutto