Cộng
Sản Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO!”
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất ( GHPGNVTN ) hoạt
động nằm vùng đánh phá các chính quyền quốc
gia để tiếp tay hỗ trợ cho Cộng sản.
Thích Minh Châu cầm đầu Phật Học Viện
Vạn Hạnh, chuyên môn đào tạo cán bộ công an
sư quốc doanh để làm “giám tự” cai quản các chùa chiền quốc doanh.
Cần phải tiêu diệt đảng viên cán bộ
Cộng sản trá h́nh làm sư quốc doanh cùng lúc với
sự tiêu diệt chế độ và đảng Cộng
sản.
Sau
ngày 30/4/1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất (GHPGVNTN) đă
“hiện nguyên h́nh” là đảng
Cộng sản trá h́nh, hay là một công cụ gián
điệp, nằm vùng, đặc công Cộng sản,
cực kỳ nguy hiểm cho Tổ Quốc Việt Nam.
Năm 1990, Cộng
sản Đông Âu rồi Liên Xô sụp đổ. GHPGVNTN
quưnh quáng, cuống cuồng âm mưu trở lại thành “Đạo
Phật” và xóa bỏ vết tích Đảng Cộng
sản. Nhưng hỡi ơi! Các thành
tích hoạt động Cộng sản thắng lợi
vẻ vang của GHPGVNTN đă đi vào lịch sử.
Nhân dân Việt
Để
mở đầu bài này xin trích một đoạn trong
tập: “Cơ Bút của Linh Mẫu Chúa Liễu”.
Nực cười cho lũ bàng quan
Cờ tan lại muốn hai
hàng sang xe,
C̣n ra xe
ngựa màu mè khoe khoang.
Thôi thôi mặc lũ
thằng hề!
Gió mây ta lại đi về
gió mây
Cơ Bút
của Linh Mẫu Chúa Liễu
1.
Biến Đảng Cộng
Sản thành Đạo.
Sau cuộc đảo chính và
Tổng Thống Diệm bị giết chết ngày
2/11/1963; Liên Phái Phật Giáo
họp tại chùa Xá Lợi hai ngày 31 tháng 12/1963 và 1 tháng
1/1964 để “thống nhất” thành Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Sau đó tăng ni quốc doanh xúc tiến mọi hoạt
động và kế hoạch tranh đấu chính trị và
bạo lực thật nhanh để đuổi Mỹ và cướp
chính quyền trước khi t́nh h́nh quân sự chuyển
mạnh và Mỹ có thể mang quân vào miền
Năm 1963 đến 1975, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đă đánh phá Quốc Gia và chính quyền miền Nam
bằng đủ kiểu, đủ cách, bằng vũ
trang, nội chiến, đảo chính, nằm vùng cho
đến khi miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng 4
năm 1975. Trong hai tháng 3 và 4 năm 1975 và cho đến sáng
ngày 30/4/1975, tăng ni GHPGVNTN từ Huế, Đà Nẵng,
Khánh Ḥa, Đà Lạt, Cần Thơ; những Miền
Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm và Ấn Quang đă cầm
cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng
sản Bắc Kỳ từ Huế vào đến Sài G̣n,
Cần Thơ, để chiếm miền Nam.
Ngày 14/1/1964, Chủ tịch nước
Dương Văn Minh kư giấy phép hoạt động cho
GHPGVNTN. Hai ngày sau, Dương văn Minh ra
lệnh thả hết tù Cộng sản. Trong số
này có gián điệp nằm vùng Vũ Ngọc Nhạ ở
trong tổ t́nh báo chiến lược bí số A-22,
thiếu tướng Bảy Liếm, chỉ huy Biệt
Động Nội Thành Sài G̣n – Chợ Lớn, Một
đội đặc công chuyên ám sát và phá hoại.
Người Mỹ hoảng hồn v́ thấy Thích Trí Quang các tăng ni của GHPGVNTN ra tay quá nhanh, muốn đảo chính luôn cả Hoa Kỳ! Họ liền mời tướng Nguyễn Khánh từ Quân Đoàn 2 về Sài G̣n làm một cuộc đảo chính, sau gọi là Chỉnh Lư;
Ngày 30/1/1964, để lật đổ
Dương văn Minh và dẹp bỏ các tướng thân
với GHPGVNTN Ấn Quang như Đỗ Mậu, Tôn
Thất Đính và các tướng thân Pháp như Trần
văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim. Chính trong dịp
này, người Mỹ đă biết rơ Dương văn
Minh là Cộng sản nằm vùng là tay
sai, dưới quyền chỉ đạo của Thích Trí
Quang. Nhưng họ tính có thể lợi dụng
được Minh bằng cách giả bộ như không
biết ǵ!
Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN tức tối lồng lộn
như điên cuồng. Chúng thấy lật
đổ Tổng Thống Diệm thành công và sắp
cướp chính quyền chiếm được miền
Ngày 27/3/1964, Thích Trí Quang ra lệnh thành
lập “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” tại
Huế và ra báo Lập Trường Đấu Tranh. Sau
đó lại lập thêm Lực Lượng Tranh Thủ
Cách Mạng (LLTTCM), nhằm đấu tranh vũ trang
bạo động cho đến khi chiếm
được vùng Thừa Thiên-Huế với sự
hỗ trợ của lực lượng quân đội
Bắc Việt từ bên kia vĩ
tuyến 17, chỉ cách Huế khoảng 100 cây số. LLTTCM đă hoạt động bí mật từ
trước, nhưng đến nay mới ra công khai.
Thích Trí Quang cũng xúi
dục được một số sĩ quan và quân
đội, cảnh sát VNCH, kể cà Thị Trưởng
Đà Nẵng, theo về phe nổi loạn của y. Chính
nhờ số quân nhân vũ trang này mà cuộc tranh
đấu đánh phá chính quyền Quốc Gia đă trở
thành nội loạn, nội chiến, như Thích Trí Quang
mong muốn. Y muốn chứng tỏ với
Hoa Kỳ và thế giới rằng miền
Ngày 20/11/1964, các sư GHPGVNTN Thích Trí Quang, Thích Pháp Tri, Thích Thiện Hoa
khởi sự tuyệt thực để kích động
phật tử biểu t́nh kéo đến trước ṭa
Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n với khẩu
hiệu “Hăy để cho dân tộc Việt Nam tự
quyết”.
Đêm 23/11/1964, LLTTCM chỉ huy một đoàn biểu
t́nh gồm thanh niên, sinh viên phật tử kéo đến
Pḥng Thông Tin Mỹ tại Huế và đốt cháy Thư viện
Mỹ với hơn 5,000 cuốn sách. (Hồ Q Nhựt
hien cu ngu taiSan Jose bang California –Nhựt là một trong
những tên đầu xỏ cỉa nhóm LLTTCM nói trên,
hiện chúng và đồng bọn đang t́m cách ẩn núp
vào Đảng Cộng Ḥa và mọi họat động
của chúng từ thập niên 1960 cho đến nay là
năm 2003 đều có người ghi sổ để sau
này hỏi tội chúng) Phó Lănh sự Mỹ tại
Ngày 8/3/1965, trong khi các toán quân Thủy Quân Lục
Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ Đà
Nẵng th́ thượng tọa Thích Quảng Liên “thuyết
pháp” ở chùa Ấn Quang giải thích về chủ
trương của phong trào Bảo Vệ Ḥa B́nh và hạnh
phúc dân tộc: các lực lượng Bắc Việt
phải rút về Bắc, các lực lượng Mặt
Trận Giải Phóng miền Nam giải giới và chấm
dứt chiến tranh, quân đội Mỹ phải rời
khỏi Việt Nam, vấn đề thống nhất
Việt Nam sẽ do dân tộc Việt Nam tự giải
quyết.
Ngày 9/4/1965, hội thảo tại Dinh Gia Long
Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Chủ Tịch
Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp về cuộc
khủng hoảng chính trị do GHPGVNTN Ấn Quang gây ra.
Hơn 3 tháng sau khi quân đội
Mỹ đổ bộ th́ người Mỹ mạnh tay thành lập chính quyền quân sự. Ngày
14/6/1965, Hội Đồng Quân Lực thành lập một
chính quyền quân sự do Trung Tướng Nguyễn văn
Thiệu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lănh
Đạo Quốc Gia "tổng thống". Thiếu tướng quân sự Nguyễn cao
Kỳ giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung
Ương “thủ tướng”. Thích
Trí Quang và GHPGVNTN tức tối, giận dữ như
điên cuồng. Nhưng cũng phải sang
đầu năm 1966 GHPGVNTN mới được...
Mỹ (?) bật đèn xanh, cho phép tranh đấu mạnh
mẽ để đuổi Mỹ và gọi đó là h́nh
thức tranh đấu dân chủ!
Thích Trí Quang không biết cái bẫy chính
trị đa diện, nhiều mặt của người
Mỹ. Thích Trí Quang cũng không hiểu ẩn ư chiến
lược của người Mỹ. Người Mỹ
bật đèn xanh cho Trí Quang tha hồ đánh phá chính
quyền Quốc Gia
và người Mỹ. Nhưng đồng
thời họ cũng quan sát thái độ và hoạt
động Cộng sản và chống Mỹ, chống
người Quốc Gia của GHPGVNTN Ấn Quang.
Từ ngày 21/3/1966, các sinh viên, học
sinh và phật tử của GHPGVNTN ở Huế, Đà
Nẵng biểu t́nh xuống đường liên miên
để chống “quân phiệt” Nguyễn Cao Kỳ,
chống Mỹ “can thiệp” vào nội bộ Việt
Nam (đánh Cộng sản), và đ̣i thành lập chính
phủ dân sự (theo ư kiến của GHPGVNTN).
Ngày 13/3/1966, Viện Hóa
Đạo GHPGVNTN họp báo xác định lập
trường và ra lệnh cho chính phủ Việt Nam
Cộng Ḥa: “các tướng nào có công với cách
mạng (lật đổ Đệ Nhất Cộng Ḥa và
giết Tổng Thống Diệm) dù ở trong nước,
ngụ ư các tướng Tôn Thất Đính, Trần văn
Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim hay ngoại quốc,
ngụ ư Dương văn Minh, phải được
trả lại quân đội để lập chính phủ
đoàn kết!”
Ngày 23/3/1966, tại Huế,
Đà Nẵng và nhiều tỉnh miền Trung xảy ra liên
tiếp những vụ đ́nh công băi thị và bài Mỹ.
Nhiều trụ sở Mỹ tại Huế đóng cửa
đề pḥng sự phá phách. Hàng vạn sinh
viên và thanh niên biểu t́nh ở Huế dưới sự
tổ chức và động viên của LLTTCM.
Ngày 28/3/1966, thủ tướng Nguyễn Cao
Kỳ hội đàm với các thượng tọa Thích Tâm
Châu, Thích Thiện Minh và Thích Hộ Giác về việc thành
lập cơ cấu dân chủ.
Ngày
Cùng ngày này
31/3/1966,
tại Đà Nẵng, Huế, vẫn có biểu t́nh
tuần hành, với những biểu ngữ: Nước
Việt
Ngày 2/4/1966, sau buổi “thuyết pháp” của Đại đức Thích Hộ Giác tại Viện Hóa Đạo, vài trăm người biểu t́nh kéo đến Phủ Chủ Tịch đường Thống Nhất Sài G̣n và đài phát thanh đường Phan Đ́nh Phùng (để cướp phá) nhưng bị binh sĩ ở đây ngăn cản. Nhóm biểu t́nh hô “Hoan Hô Hồ Chí Minh”. Nhóm biểu t́nh ném đá vào cảnh sát và bị giải tán bằng lựu đạn cay.
Ngày nay, 2002, Đại Đức Thích
Hộ Giác đă thành Ḥa Thượng Thích Hộ Giác,
hiện làm chủ chùa tại Houston, Texas, là Tăng
Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Hải
Ngoại, kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng
Điều hành Văn Pḥng II, Viện Hóa Đạo, Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.
Ngày 3/4/1966, thủ tướng
Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Thị trưởng Đà
Nẳng (Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn) đă dùng
tiền công quỹ thuê người biểu t́nh (cho LLTTCM),
lại dọa nạt dân chúng bắt họ phải đ́nh
công, băi thị, sẽ bị bắt và xử tử.” Thủ tướng
Kỳ c̣n giải thích sự có mặt của Hoa Kỳ và
trả lời những người bị tuyên truyền
bài Mỹ: Cộng sản (GHPGVNTN và LLTTCM) muốn ly gián
để cô lập Việt Nam Cộng Ḥa và làm nản ḷng
Đồng Minh.
Từ
ngày 3 đến ngày 7/4/1966, LLTTCM tổ chức sinh viên và
thanh niên phật tử biểu t́nh tại Sài G̣n, Đà
Nẵng và Huế hô to khẩu hiệu “Đuổi Mỹ
về nước – Phản đối Mỹ can thiệp
vào Việt Nam.”
Ngày 4/4/1966, LLTTCM biểu t́nh
đốt cháy đài phát thanh Đà Lạt. Buổi tối
chừng 500 người từ đường Trần
Quốc Toản (Viện Hóa Đạo kéo đến
Bộ Thông Tin nhưng bị giải tán bằng lựu
đạn cay mắt. Sau đó họ kéo
đến nhà Văn Hóa đường Tự Do nhưng
cũng bị giải tán. Họ đốt một xe jeep quân đội tại đường
Cao Thắng.
Ngày
Cùng ngày
5/4/1966,
bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng
Đà Nẵng, bị cách chức và thay thế bằng trung
tá Mă Sanh Nhơn, tỉnh trưởng B́nh Long.
Ngày
Ngày
Ngày
Ngày
(Nhà chùa quốc doanh
GHPGVNTN chắc bị tướng Thiệu hứa cuội
cho qua nên mới cay cú thế. Không biết tướng
Thiệu lúc đó có hứa cho tiền không, nhưng các
tướng Nguyễn Khánh đă cho Thích Trí Quang (10 triệu
đồng), tướng Kỳ đă cho Thích Trí Quang (50
triệu), và Ngô Đ́nh Cẩn, em út ông Diệm, đă giúp
đỡ Thích Trí Quang rất nhiều, kể cả
việc cứu y cho ở lại Huế, thay v́ bị
giải ra Bắc cùng với nhóm Phong Trào Ḥa B́nh. Là một
cán bộ cao cấp và cực kỳ trung kiên của Cục
Phản Gián Hà Nội nên Thích Trí Quang đă nhận tiền
nhưng vẫn phản bội tất cả những
người đă giúp y và lấy ḷng y. Cá tính của cán
bộ Cộng sản là gian ngoan, phản bội, lật
lọng, nuốt lời hứa và tàn bạo giết luôn
cả những người cho chúng ăn, cho chúng tiền
và tử tế với chúng. Ngạn ngữ Mỹ có câu: “Con
chó cắn cái bàn tay cho nó ăn”! Câu này
biểu lộ cá tính của Thích Trí Quang và tập thể
sư quốc doanh GHPGVNTN.)
Ngày 9/4/1966, trung tướng Tôn
Thất Đính được cử ra Huế thay
thiếu tướng Nguyễn văn Chuân làm tư lệnh
vùng I và đại biểu chính phủ tại Huế.
Ngày
17/4/1966, Thích Trí Quang bay từ
Sài G̣n ra Huế để trực tiếp chỉ
đạo cuộc tranh đấu của LLTTCM hoạt
động mạnh mẽ tại Huế và Đà Nẵng.
Cùng
ngày 17/4/1966, để lập thành tích dâng lên Thượng
tọa chính ủy Thích Trí Quang, Lực Lượng Tranh
Thủ Cách Mạng ở Huế và Đà Nẵng đă
bắt giữ tỉnh trưởng Quảng Nam Nguyễn
Hữu Chí cùng quận trưởng Ḥa Vang và một số
người được coi là thân chính quyền Quốc
Gia .
Ngày 16/5/1966, tướng Đính
vắng mặt không có lư do – bỏ nhiệm sở cũng
có nghĩa là đào ngũ trong thời
chiến. Thủ tướng Nguyễn Cao
Kỳ phải điều tướng Huỳnh văn Cao
ra thay tướng Đính. Ngày
Hai ngày sau,
ngày 18/5/1966,
Thích Trí Quang ra lệnh cho mấy ngàn sinh viên, phật tử
khiêng xác thiếu úy Thức đi khắp thành phố
Huế để biểu t́nh tuần hành đả
đảo người Mỹ là đă giết thiếu úy
Thức, để gây căm thù với Hoa Kỳ. Một
máy bay quan sát L-19 bị quân đội ly khai theo GHPGVNTN
bắn trúng tại Đà Nẵng và bắt buộc phải
hạ cánh xuống băi cát.
Ngày 20/5/1966, Chính phủ ra
lệnh hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất
Đính phải ra tŕnh diện. Tướng Phan Xuân
Nhuận, tư lệnh sư đoàn I Bộ Binh, phải
dứt khoát tư tưởng (theo hay
không theo LLTTCM?).
Ngày
Ngày
Thượng tọa Thích Trí Quang
lại kêu gọi TT Johnson can thiệp. Lực Lượng
Tranh Thủ đ̣i Thủy Quân Lục Chiến Mỹ can
thiệp bênh vực họ, nếu
không sẽ phá phi trường Đà Nẵng.
Thượng tọa Thích Trí Quang
đ̣i: Chính phủ phải rút quân khỏi Đà Nẵng (cho
chúng chiếm); thiếu tướng (Thủ Tướng)
Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay.
Ngày
Theo Thiếu
tướng Nguyễn Ngọc Loan, có bắt
được 4 Việt cộng với súng lục trong
đám biểu t́nh trước Viện Hóa Đạo.
Số thanh niên, thiếu nhi biểu t́nh
3 lần quanh Viện Hóa Đạo, ném đá vào cảnh
sát, bị giải tán bằng lựu đạn cay. Đám
biểu t́nh đốt lốp xe cũ
để ngăn chận cảnh sát và đốt cả 2
xe của Mỹ ở đường Trần Quốc
Toản.
Ngày
Tại
Đà Nẵng, hai bên vẫn nổ súng. Một
số chết v́ bị thương tại khu chùa Phổ
Đà. 30 nhà
báo ngoại quốc bị nhóm nổi dậy (LLTTCM) bắt
làm con tin, song một số chạy thoát.
Phi trường Đà Nẵng bị
phe nổi dậy bắn phá: một phi cơ bị hư
hại, vài lính Mỹ bị thương. Nhiều phi cơ
Mỹ tạm dời đi căn cứ
khác. Giới quân sự Mỹ tuyên bố sẽ dùng vũ
lực tự vệ nếu bị tấn công ở căn
cứ Đà Nẵng.
Ngày
Ngày
Ngày
Tội nghiệp cho Thích Trí Quang! Lạy Mỹ đến 3 lần mà Mỹ vẫn
không thèm nghe “lệnh” của ngài thượng tọa.
“Ngài” Trí Quang tức ḿnh liền ra lệnh cho
phật tử làm dữ, tự thiêu và đánh phá ṭa Lănh
sự Mỹ.
Vài ngàn người cả công chức
và quân nhân biểu t́nh tại Quảng Ngăi đ̣i rút quân
quốc gia khỏi Đà Nẵng, chống Cộng và tri ân
Hoa Kỳ. Tướng Nguyễn Hữu Có nói đại tá
Đàm Quang Yên và thiếu tá Tôn Thất Tường là hai
người nhận lệnh Thích Trí Quang cầm đầu
vụ nổi loạn Phật giáo Đà Nẵng bị
bắt và bị đưa về Sài G̣n.
Ngày
Ngày
Ngày
Trung tá Phan văn Khoa,
Thị trưởng Huế đem 1 ngàn quân “trung thành”
(với chính phủ) ra đóng tại quận Hương
Thủy và bị các đoàn thanh niên LLTTCM phản đối. 75 thường dân Mỹ tản cư khỏi
Huế v́ bị LLTTCM đe dọa.
Ngày
Ngày
Một
xe jeep của quân nhân Mỹ chạy qua
Viện Hóa Đạo đă bị đốt cháy
trước Viện.
Tại Viện Hóa Đạo, Sài G̣n,
mặt dù có lời “can gián” của Đại Đức Thích
Hộ Giác, trên ngàn người vẫn kéo đi biểu t́nh
tối nay và bị cảnh sát giải tán. Thượng
tọa Thích Pháp Siêu, Phó Vụ Trưởng Vụ Thanh Niên,
phản đối giải pháp “ôn ḥa” của Thượng
tọa Thích Tâm Châu và toan tự thiêu “ngay” nhưng
“được” phật tử ngăn chận.
(Sau khi mang
cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng
sản vào chiếm miền Nam ngày 30/4/1975, cho đến
ngày nay 1975-2002, Thượng tọa Thích Pháp Siêu GHPGVNTN
đă hoàn toàn “ôn ḥa”. Ta không bao giờ thấy các
"ngài" Pháp Siêu, Huyền Quang, Quảng Độ, Trí
Quang, Minh Châu, và các "ngài" sư quốc doanh GHPGVNTN
khác mang bàn thờ Phật xuống đường hoặc
tự thiêu tranh đấu "chống" Cộng!
Phải chăng v́ Cộng sản là “phe ta” chăng?)
Ngày
Ngày
Ta thấy ngay sự hỗn láo và tham
lam lố bịch của Thích Nhất Hạnh. Vừa ra
điều kiện Mỹ rút, lại đ̣i Mỹ phải
giúp sư quốc doanh lập chính thể dân chủ
kiểu Cộng sản, rồi lại
đ̣i Mỹ phải chi tiền viện trợ tái
thiết “không điều kiện”!
Ngày
Ngày
Mục đích của Thích Trí Quang chỉ là gây xáo
trộn bạo động. Do đó y
phải chống đối bất cứ điều ǵ
chính phủ quốc gia thi hành. V́ nếu đồng ư,
thỏa thuận th́ không c̣n lư do để đánh phá tranh
đấu nữa.
Thích Tâm Châu phải từ chức v́ nhà
sư này “không phải cán
bộ Cộng sản trung kiên”, không hiểu âm mưu
Cộng sản của phe Thích Trí Quang, nên đă thật thà
ngay t́nh muốn thỏa hiệp với chính phủ quốc
gia. Do đó Thích Tâm Châu bị loại. Thích
Hộ Giác vẫn trung thành với Thích Trí Quang và GHPGVNTN
từ ngày đó cho đến nay là năm 2003.
Ngày
Ngày
Tăng ni quốc
doanh GHPGVNTN đă thành công phần nào khi khích động
phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ và khiến cho
dư luận Mỹ đ̣i Mỹ phải rút quân. Nhưng
biết đâu người Mỹ đă lợi dụng
chúng để đưa Cộng sản lao
đầu vào cái bẫy sập miền
Ngày
Ngày
Theo Chuẩn tướng Phan Xuân
Nhuận Tư lệnh Sư đoàn 1 tại Huế, 8 lănh
tụ LLTTCM c̣n lẩn trốn, 72 người bị
bắt trong đó có 52 quân nhân.
Ngày
Thấy GHPGVNTN làm cho t́nh h́nh quá loạn
dẫn tới nội chiến và ly khai trong khi quân
đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công vào
thành phố, một thiếu tá (sau này lên đại ta)ù An Ninh Quân Đội đă có sáng kiến
phải bắt Thích Trí Quang giải về Sài G̣n th́ mới
có thể ổn định t́nh h́nh. Lúc này
chỉ có người Mỹ biết rơ ư đồ của
Thích Trí Quang là chiếm Vùng I để làm Thủ Đô và lănh địa của
“nước” Cộng sản Việt
Ngày 21/6/1966, vị sĩ quan này
đến bệnh viện Huế bắt Thích Trí Quang và nói
có lệnh bắt y và giải về Sài G̣n. Thích Trí Quang
ngơ ngác v́ y không ngờ có người dám bắt y. Y
hỏi lại: “Ai dám ra lệnh bắt tôi?” Sự
bất ngờ khiến y lúng túng không biết đối phó
ra sao. Vị sĩ quan nói nếu y
bướng bỉnh th́ buộc ông phải dùng vơ lực.
Sự sợ hăi v́ tưởng rằng sẽ
mang đi bắn, đă khiến Thích Trí Quang “văi” ra
đầy quần. Thích Trí Quang
được “tôn” là đang “tuyệt thực” tại
bệnh viện Huế. Xét ra th́ y
chẳng có tuyệt thực ǵ hết. Y
vội xin phép viên sĩ quan này vào nhà tắm. Phải
hơn nửa giờ sau y mới sạch sẽ và diu díu theo viên sĩ quan này lên máy bay vào Sài G̣n.
Về đến Sài G̣n, vị sĩ
quan này giải Trí Quang đến bệnh viện bác sĩ
Tài ở đường Duy Tân để tạm giam
với tư cách chữa bệnh, trong khi cảnh sát
vẫn canh gát ở bên ngoài. Nhờ giam
lỏng được Thích Trí Quang ở Sài G̣n nên t́nh h́nh
náo loạn và nổi loạn ở Huế và Đà Nẵng
đă bị dập tắt. Một
điểm đáng chú ư là khi Trí Quang bị bắt giải
về Sài G̣n th́ báo chí ngoại quốc biết ngay và họ
đă đến phỏng vấn TT Thiệu. Ông Thiệu trả lời là ông không biết ǵ
xảy ra và ông không hề ra lệnh bắt Thích Trí Quang.
Ông Thiệu có vẻ sợ sư quốc doanh
hơn là giận dữ v́ bị qua mặt. Nhưng chuyện đă rồi và t́nh h́nh tại
Huế, Đà Nẵng đă yên ổn trở lại. Vị sĩ quan này nói lại rằng sau chuyện
đó, có một lần ông gặp một vài người
Mỹ không quen biết, nhưng họ nháy mắt và nói
với ông rằng “này, các ông sư thích ông lắm
đấy nhé!”
Nhưng rồi các
sư GHPGVNTN Ấn Quang cũng t́m ra vị sĩ quan này. Chúng thuê một
người lính ám sát. Nhưng không may cho một thiếu tá
cảnh sát, đúng ngày hôm đó (tháng 10/1968) lại
mượn xe jeep của ông này và đă
bị bắn chết trên xe. Vị sĩ quan
bắt Thích Trí Quang sau này bị bắt giam tù học
tập cải tạo hơn 10 năm. Năm 1993, ông
sang Mỹ theo diện HO. Ông từ
trần v́ bệnh tháng 12/1999. Tên thật
của ông là Đại Tá Chu văn Sáng.
Ngày 2/2/1968, trận Tổng
Tấn Công Tết Mậu Thân mới khởi đầu
được 3 ngày, th́ chùa Ấn Quang bị trúng
đạn B-40 do Việt cộng bắn lầm và phát
hỏa. Một tướng và 1 Thượng
tá Việt cộng bị tử thương. Chùa Ấn Quang ở
đường Sư Vạn Hạnh Sài G̣n là trụ
sở chính của GHPGVNTN và là nơi Thích Trí Quang cư
ngụ cho đến ngày nay. Chùa Ấn Quang đă được dùng làm Hành Dinh
của Bộ Chỉ Huy Việt cộng để tấn
công Sài G̣n, dưới quyền tư lệnh của các
tướng Trần Độ, Cao Đăng Chiếm, Mai
Chí Thọ...
Ngày 2/3/1968, cảnh sát Quốc
Gia khám phá 6 hầm bí mật đă chứa chấp
đặc công Cộng sản trong pḥng ngũ của sư
tăng tại tịnh xá Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ,
đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định.
Tập thể tăng ni
GHPGVNTN quả là khôn khéo. Không tỏ vẻ ra
mặt thân Cộng hay hoạt động Cộng sản.
Nhưng chỉ đ̣i Mỹ rút quân là đương nhiên
Cộng sản thắng! Hoạt động Cộng
sản của chúng khá rơ rệt là trong thời gian từ
1963 đến 1975, chúng đánh phá các chính quyền Quốc
Gia , nhưng không bao giờ đưa ra một nhân vật
Quốc Gia nào để thay
thế và lănh đạo miền Nam chống Cộng.
Trong hai
tháng 3 và 4/1975, tăng ni GHPGVNTN đă mang cờ Phật giáo
ra đón quân đội Cộng sản tại Huế,
Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt. Ngày 30/4/1975,
tập thể sư tăng và cư sĩ, giáo sư, sinh
viên, thanh niên phật tử
GHPGVNTN, đại học Vạn Hạnh, Miền
Vĩnh Nghiêm và các giáo hội phụ thuộc khác đă
phấn khởi hồ hỡi mang cờ Phật giáo ra
đón bộ đội Cộng sản vào chiếm Sài G̣n
và miền Nam.
Ngày 15/5/1975, khoảng 2,000
tăng ni GHPGVNTN đi diễn hành
chiến thắng trước dinh Độc Lập cùng
với bộ đội Cộng sản Bắc Việt.
Đến tối ngày 15/5, trong tiệc liên hoan vĩ đại mừng chiến
thắng tại khách sạn Majestic, Thích Trí Quang và Phật giáo Việt Nam Thống
Nhất đă được thưởng huân chương
Sao Vàng.
Thích Trí Quang và một số cán bộ
cao cấp khác, trọc đầu và không trọc
đầu, chánh phó Viện trưởng Hóa Đạo
Ấn Quang, Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm... cũng được
thăng lên các cấp tướng công an
gián điệp và phản gián.
Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Viện
trưởng Vạn Hạnh Thích Minh Châu được
đặc cách thăng chức tướng công an phản gián. Vũ Ngọc
Nhạ được phong thưởng quân hàm đại
tướng phản gián 4 sao. Huỳnh văn Trọng
th́ trở thành Bí Thư Đảng phường I, quận
I, thuộc khu vực đường Tự Do Sài G̣n.
Ngày 19/5/1975, để
dương cao tinh thần Cộng sản, biểu
dương lực lượng và ăn mừng đại
thắng, Thích Trí Quang ra lệnh cho Thích Măn Giác tổ
chức mừng sinh nhật Hồ Chí Minh thật long
trọng ngay tại khuôn viên chùa Ấn Quang. Khoảng 40,000
tăng ni Ấn Quang và phật tử
đă tụ tập đông đảo và tràn ra ngoài chùa,
đông nghẹt đường Sư Vạn Hạnh và
tràn sang đường Minh Mạng, Lư Thái Tổ... (ngày nay Thích Măn Giác đă “vượt biên” sang
lập chùa tại
2. Biến
Đạo thành Đảng Cộng Sản
Sau ngày
Lần đầu, đại hội
kỳ I họp tại chùa Quán Sứ Hà Nội trong hai ngày 4
và 5 tháng 11/1981 với 165 đại biểu của 22 giáo
hội Phật giáo. Tại đại hội kỳ I,
GHPGVNTN đă “cải tạo” và tiêu diệt 21 giáo hội
Phật giáo khác, và chiếm đoạt toàn bộ chùa
chiền, hơn 10,000 tự viện, trên toàn quốc cho
đến ngày nay. Các vị chân tu bị
đuổi ra khỏi chùa và về nhà tu tại gia.
Chùa chiền do cán bộ sư công an
quản lư, gọi là “giám tự” (Pagoda Managers). Đại hội kỳ I đă bầu Thích
Đức Nhuận làm Tăng thống, Thích Trí Thủ làm
Chủ tịch.
Năm 1984, Thích Trí Thủ
chết, Thích Trí Tịnh thay thế.
Trong
vấn đề thay thế các vị chân tu và chiếm
giữ chùa chiền bằng sư công an, ta phải nhắc
đến Đại lăo Ḥa Thượng Thích Minh Châu và
tập thể đảng bộ Vạn Hạnh. Minh Châu là
đảng viên Cộng sản cốt cán từ năm 1943.
Ngay từ lúc này, Cộng sản đă không
bỏ qua Phật giáo. Minh Châu được cử
đi Ấn Độ học về Phật giáo trong
kế hoạch uyển chuyển “Biến Đảng thành
Đạo Phật và Biến Đạo Phật thành
Đảng”. Cán bộ công an phản gián
của đảng sẽ tùy tiện cạo đầu làm
sư. Các chùa chiền sẽ trở thành trụ sở
hoạt động bí mật và ngoại vi
của đảng Cộng sản.
Khi đảng Cộng sản nắm
chính quyền th́ GHPGVNTN Ấn Quang sẽ trở thành
một thứ “quốc giáo” và là một tổ chức
ngoại vi Cộng sản, nằm trong
Mặt Trận Tổ Quốc. Khi
đảng không nắm chính quyền hoặc có thể
bị lật đổ như trong thập niên 1990, sau khi
đế quốc Cộng sản Liên Xô sụp đổ,
th́ GHPGVNTN Ấn Quang liền chuẩn bị biến
Đảng thành Đạo. Đảng viên
cao cấp ṇng cốt sẽ cạo đầu giả
sư trốn trong chùa. Chùa chiền
sẽ trở thành trụ sở hoạt động từ
bí mật đến công khai để đánh phá các chính
quyền Quốc Gia cho đến khi cướp
được chính quyền.
Năm 1964, sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm
bị Trung tướng Dương văn Minh cầm
đầu phe đảo chánh ra lệnh cho sĩ quan tùy viên
của y là đại úy Nhung hạ sát, th́ GHPGVNTN Ấn
Quang công khai ra mặt đánh chiếm miền Nam. Đúng
lúc này Thích Minh Châu trở về nước và thành lập
Viện đại học Vạn Hạnh. Viện
đại học Vạn Hạnh cũng là đảng
bộ Cộng sản Vạn Hạnh với Nguyễn
Trực làm “chính ủy” (Political Commissar). Đến
năm 1970, Đoàn Viết Hoạt và vợ là Trần
Thị Thức đi Mỹ về mới làm Phó Viện
trưởng Vạn Hạnh cho Thích Minh Châu. Viện
Đại học Vạn Hạnh đă mau chóng trở thành
cơ sở huấn luyện cán bộ Cộng sản
từ các sinh viên. Cuối năm 1974, Thích Minh Châu và
Nguyễn Trực đă có thể báo cáo ra Trung Ương
Cục Miền Nam rằng chúng đă chuẩn bị xong 1
sư đoàn đặc công Vạn Hạnh với hơn
6,000 khẩu súng các loại và đạn dược
với hơn 7,000 sinh viên và thanh niên phật tử. Sư đoàn
đặc công này chuẩn bị chiến đấu trong
thành phố, bắn vào sau lưng quân đội Việt
Sáng ngày 30/4, Thích Minh Châu, Nguyễn
Trực, Đoàn Viết Hoạt và toàn bộ ban giảng
huấn Đại Học Vạn Hạnh đă cầm
đầu sư đoàn đặc công và cán bộ sư
Cộng sản, đeo băng đỏ nơi cánh tay, và cầm cờ Phật giáo lên tận ngă
tư Bảy Hiền đón quân đội Cộng sản.
Không khí đại học Vạn Hạnh, Miền Vĩnh
Nghiêm và chùa Ấn Quang lúc này vui như tết, với các
sư công an Cộng sản đeo súng kè kè, mặt mũi
nghiêm trọng, canh gác, giữ an ninh trật tự khắp
nơi, và mở đường, dẫn đường
cho bộ đội Cộng sản vào chiếm đóng các
cơ sở, các trọng điểm hành chính, quân sự,
ngân hàng quan trọng trong thành phố. Tổ chức sư
công an để làm giám tự coi chùa. Chùa
chiền trở thành cơ sở bí mật của
đảng Cộng sản để theo
dơi nhân dân, phật tử.
Sau
đại hội kỳ I ngày 4 và 5/11/1981, của GHPGVNTN
Ấn Quang, 21 giáo hội Phật giáo khác bị “cải
tạo” để thống nhất làm một. Thích Minh Châu,
Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu và
toàn “băng Vạn Hạnh” đă đào tạo và cung
cấp cho GHPGVNTN Ấn Quang khoảng 20 ngàn sư công an
để làm “giám tự” (pagoda managers), chiếm giữ
hơn 10,000 chùa chiền toàn quốc. Các
vị chân tu của 21 giáo hội đều bị
đuổi về nhà tu tại gia.
Trong chiến dịch xóa tên quốc
doanh Cộng sản với người hải ngoại,
bọn sư Cộng sản Ấn Quang tung ra những tên
mới lạ như Thích Trí Tựu, Thích Hải Tạng,
Thích Hải Chánh, Thích Trí Lực. Thích Hạnh Đức,
Thích Huệ Đăng, Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban... đều
là sư “công an giám tự” do Thích Minh Châu, Thích Quảng
Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu thuộc
đảng bộ Vạn Hạnh đào tạo. Năm 1984
chúng c̣n cho thêm 14,000 ( 14 ngàn ) cán bộ
T́nh Báo gián điệp sang Tây Tạng và` Ấn Độ
học về” Phật học “ để giờ này tung ra
hải ngoại nhất là tại
Hoa Kỳ và
Năm 1998, Thích Minh Châu và GHPGVNTN Ấn
Quang hải ngoại tại Hoa Kỳ hân hoan loan báo khánh
thành Phật Học Viện Vạn Hạnh thật vĩ
đại với 5 tầng lầu, tọa lạc tại
Phú Nhuận. Chúng tưởng rằng người hải
ngoại không biết cơ sở “Phật học” này chính
là để đào tạo “cán bộ sư quốc doanh
Cộng sản” trong kế hoạch “Biến Đảng thành Đạo”, một khi đảng Cộng
sản không thể tồn tại hoặc bị tiêu
diệt. Các chùa chiền sẽ trở thành trụ sở
Cộng sản núp dưới chiêu bài tôn giáo Phật.
Bọn sư Cộng sản “tại Hoa Kỳ” và bọn Vơ
văn Ái sẽ nỏ mồm hỗ trợ cho chúng. Chúng sẽ tiếp tục xuống đường
đánh phá các chính quyền Quốc Gia trong tương lai
cho đến khi chúng cướp được chính
quyền trở lại. Lúc
đó “Đạo” sẽ lại biến thành “Đảng”
hay đảng núp dưới bóng tôn giáo hay là chính thể
Phật giáo công an trị. Chủ thuyết Phật giáo được
viết lại để thay thế chủ thuyết
Cộng sản. ( Gần đây như đây chúng đă làm bộ
viết bộ sách Phật Quang Đại Tự
Điển dày 18,000 trang và Bộ Đại Tạng Kinh 190
bộ mỗi bộ dày 1000 trang??? ) Mọi hoạt
động chính trị, tranh đấu, tuyên truyền
bịp bợm, gian ngoa, giảo quyệt, khủng bố
công an trị, thủ tiêu người Quốc Gia, vẫn
“nguyên chất” Cộng sản.
Trong giai đoạn
“tranh đấu cướp chính quyền”, các chùa chiền
đương nhiên trở thành ổ gián điệp,
những trụ sở đặc công, phá hoại, tuyên truyền. Từ đó sẽ
phát xuất ra những cuộc xách động quần
chúng, phật tử để xuống đường,
biểu t́nh, bạo động, đánh phá các chính quyền
Quốc Gia cho
đến cùng.
Trong tất cả những bản
văn do Cục Phản Gián gởi ra hải ngoại kư tên
Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ
Sỹ, và những bài viết của Trần Chung Ngọc,
Lư Khôi Việt, Phan Quang Độ, Lư Đại Nguyên trên các
báo chùa, chúng đều viết “lại”, bẻ cong lịch
sử là chính GHPGVNTN Ấn Quang đă có công mở
nước và dựng nước từ Luy Lâu đến
Sài G̣n. Ḥa Thượng kiêm Tướng công an phản gián
Thích Trí Quang, tên thật là Phạm văn Quang, hay Phạm
văn Bồng tên cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang hiện nay, và
cũng là “quốc sư Cộng sản”, đă công khai tuyên
bố là ư muốn của y là thành lập một triều
đại Phật giáo (công an trị) như đời nhà
Lư xưa kia.
Bất cứ chính quyền Quốc Gia
nào trong tương lai nếu muốn tồn tại th́
phải tiêu diệt mọi mầm mống Cộng sản
trong các tổ chức tôn giáo ngoại vi
trong Mặt Trận Tổ Quốc. Bọn Cán Bộ Sư
Công An phải ra đầu thú hoặc
phải bị tiêu diệt. Các chùa chiền
phải sạch sẽ không c̣n sư quốc doanh. Các chính quyền địa phương sẽ
phải quản lư các chùa chiền.
Nhân dân miền Nam thấy tăng ni
GHPGVNTN Ấn Quang ḷi bộ mặt thật Cộng sản,
họ đă chửi “mấy thằng trọc sư công an,
sư quốc doanh, đeo súng lục kè kè, nhậu
rượu đế, thịt chó như điên!” danh
từ “quốc doanh” (state-owned) ngụ ư GHPGVNTN là của
đảng Cộng sản tổ chức như một
công ty quốc doanh Cộng sản. Danh từ “quốc doanh”
đă bám chặt vào tăng ni GHPGVNTN cho
đến ngày nay. từ năm 1992 đến 2002, Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mở chiến dịch tranh
đấu ra hải ngoại bằng điện thư,
bằng báo chí, t́m đủ cách để xóa tên “quốc
doanh”, thành tích Cộng sản và cái mặt Cộng sản,
nhưng không có kết quả.
Năm 1998 và 1999, GHPGVNTN tính đưa
gia đ́nh phật tử Việt
Ngày
12/5/1999, tại Santa Ana, Thích Măn Giác, nguyên Tổng Vụ
Trưởng GHPGVNTN, hiện nay tự xưng là “Hội
Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa
Kỳ” đă nói thẳng rằng y “thương” HT Thích
Huyền Quang, Thích Quảng Độ bao nhiêu th́ cũng
thương HT Thích Thiện Siêu, Thích Trí Tịnh (2 tên này là
sư Cộng sản cấp tướng của Tổng
Cục Phản Gián và là đại biểu quốc hội
Cộng sản) như vậy... (Việt Báo Kinh Tế ngày
15/5/1999)
Cùng một ḷ GHPGVNTN Ấn Quang, th́ Thích
Măn Giác “thương” mấy tên sư quốc doanh Cộng
sản cấp cao là phải. Thích Đôn Hậu (đă
chết năm 1992), Thích Huyền Quang, Thích Quảng
Độ, Thích Minh Châu, Thích Trí Dũng, Thích Trí Tịnh,
Thích Thiện Siêu Thích Trí Quang, Thích Trí Quảng, Thích Minh
Nghị, Thích Quảng Liên... đều là cấp
tướng công an phản gián Cộng sản. Chúng cũng là ủy viên chủ tịch đoàn
trung ương Mặt Trận Tổ Quốc, ủy viên
Trung Ương Đảng, kiêm Đại biểu Quốc
Hội Cộng sản. Thích Măn Giác
cũng nên cho biết rơ cấp bậc thật sự
của y hiện nay trong GHPGVNTN?
Thích Măn Giác cũng
“thương” cả Hồ Chí Minh nữa chứ. Ngày
Thích Măn Giác
cũng khoe rằng y không kỳ thị Trung Nam Bắc: Trong hội
trường, HT Măn Giác kể chuyện khi HT ra phi
trường đón đại lăo Ḥa Thượng “đại dâm tặc Cộng
sản” Thích Trí Dũng từ Việt Nam sang thăm Hoa
Kỳ (5/1998), và sau đó đă bị một số
người kết án là “sư quốc doanh”. HT Măn Giác cho
biết HT nhận xét thấy những người ra
đón, chỉ riêng HT Măn Giác là Phật giáo miền Trung,
trong khi tất cả c̣n lại là Phật giáo miền
Bắc. (Thích Măn Giác quả nịnh Phật giáo quốc
doanh Cộng sản Bắc Kỳ hết ḿnh khi khoe
rằng y là người miền Trung duy nhất đă ra
đón và tỏ t́nh đoàn kết với dâm tặc
Cộng sản Bắc Kỳ Thích Trí Dũng).
HT Măn Giác chỉ nói rằng “tất cả
mọi chia rẽ đều là giả tạo, dù đó là
Bắc, Trung, Nam hay mọi chế độ chính trị
tạm thời”! Thích Măn Giác nói rất
đúng. Bọn tăng ni hải
ngoại chỉ giả bộ chia rẽ với bọn
sư quốc doanh trong nước. Nhưng
tất cả chỉ là giả tạo giai đoạn.
Đến khi cần, chúng sẽ nhập
lại với nhau làm một để cho được
mạnh mẽ và tiếp tục sự nghiệp đánh phá
Quốc Gia Việt
Ngày Chủ
nhật 20/6/1999, Thích Măn Giác làm lễ kỹ niệm 36 năm sư
Thích Quảng Đức “tự”
thiêu, nhân dịp này y lại ra sức đánh phá chính
quyền Quốc Gia. Thích Măn Giác nói: “Đó là ngọn lửa đă khiến cho thế
giới cùng nh́n về Việt
Ôi! Thật quư hóa thay
những lời lẽ “từ bi” nhưng rất “hổ
mang” của HT.Thích Măn Giác, Hội Chủ Tổng Hội
Phật giáo Việt
Nhưng chắc chắn Thích Măn Giác không
quên ngày
Trong bài “Đạo từ” của y, Măn
Giác không bao giờ dám nhắc đến “Cộng sản”
đang bạo tàn dày xéo quê hương! Có
lẽ Măn Giác sợ phạm húy chăng? Hay là Măn Giác
không bao giờ chống Cộng nên không dám gọi thẳng
tên Cộng sản ra mà chửi? Phải chăng Măn Giác
sợ nhắc đến từ “Cộng sản” th́ sẽ phải nói lên lập
trường “không” chống Cộng của y? Măn Giác
quả khôn khéo không nhắc đến “từ” Cộng
sản trong suốt bài “Đạo từ” của y. Thích Măn Giác chỉ chú trọng
đến chửi các chính quyền Quốc Gia mà thôi trong bất cứ dịp
nào y có thể lên tiếng!
Măn Giác không chống Cộng đă
đành. Măn Giác cũng không muốn bất cứ
người Quốc Gia chống Cộng nào tiêu diệt
Cộng sản. Ta hăy coi Măn Giác chơi chữ rất khéo
léo trong sự “hành văn”
của y: “v́ vậy mà ngọn
lửa được thắp lên để, nếu có thiêu
đốt hận thù bạo ác, thiêu đốt cuồng
vọng si mê, chứ không phải thiêu đốt sự
sống của bất cứ
ai, kể cả của những kẻ bạo tàn!” Măn
Giác quả là khéo nói khi y giải thích rằng tại sao
trong 10 năm qua, trong chiến dịch xóa tên “sư quốc
doanh Cộng sản”, không một tên sư quốc doanh
GHPGVNTN Ấn Quang nào dám đứng ra tự thiêu chống
Cộng và để chứng tỏ rằng ḿnh không
phải là sư quốc doanh!
Măn Giác gọi bâng quơ là “kẻ bạo tàn” khiến cho
người nghe thấy Măn Giác ngụ ư người
Quốc Gia đă đàn áp Phật giáo quốc doanh Cộng
sản. Tiện đây, xin nhắc cho Măn Giác biết là
những người Quốc Gia sẽ tiêu diệt bọn
Cộng sản bạo tàn, sẽ chiếu cố kỹ càng
đến cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Ấn Quang do các "tổ sư" Thích
Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Minh Châu, Thích Quảng Độ,
Thích Trí Quảng, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích
Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu... cầm đầu với
mấy chục ngàn sư quốc doanh công an giám tự khác.
Ngày
12/12/1999,
nữ dân biểu Loretta Sanchez cùng với 29 dân biểu
Mỹ khác, đă đề nghị Thích Quảng Độ
cho giải Ḥa B́nh Nobel năm 2000 (đến nay là cuối
name đến nay không thấy ai cho Thích Quảng Độ
giải Ḥa B́nh Nobel) . Nhân dịp này, Thích Nguyên
Trí tuyên bố rằng đây là một vinh dự lớn
mặc dù mới chỉ là đề cử, bởi v́
Việt
Mặc dù bị
bắt bớ tù đầy, quản chế, HT Thích Quảng Độ vẫn kêu gọi từ
bi và khoan dung trước bạo quyền. HT Thích Quảng
Độ đă chọn con đường đấu tranh
bất bạo động trước chính sách đàn áp.
Phần cuối lá thư (giới thiệu giải
Nobel) nhắc lại lời nói của HT Thích Quảng
Độ: “cái ác sẽ không tồn tại. Lịch
sử đă luôn luôn chứng minh chân lư ấy”. Ta hiểu ngay
Quảng Độ không bao giờ muốn có đấu
tranh vũ trang tiêu diệt Cộng sản. Quảng
Độ không bao giờ nhận y là người Quốc
Gia, không bao giờ y nói lên một câu chống Cộng!
Bọn
sư Cộng sản quốc doanh Ấn Quang, Vạn
Hạnh phải bị tiêu diệt cùng với đảng
Cộng sản th́ “cái ác” mới thật là hết ở
Việt Nam. Đây mới thật là chân lư
của dân tộc Việt
Nếu
muốn phục hồi 21 giáo hội Phật giáo của
những vị chân tu đă bị GHPGVNTN cải tạo và
giải tán ngày 5/11/1981, để cướp chùa, th́
đương nhiên tập thể sư quốc doanh
Ấn Quang, Vạn Hạnh và Thừa Thiên Huế, các gia
đ́nh phật tử, tăng đoàn bảo vệ chánh
pháp, phải được đưa ra trước ṭa án
dân tộc để trả lời về các tội
phản dân hại nước, hoạt động Cộng
sản nằm vùng để đánh phá tổ quốc
Việt Nam. Biện pháp nhanh chóng nhất là
phải đặt chúng ra ngoài ṿng pháp luật.
Ta c̣n nhớ những năm 1969-1970-1971
khi đi qua Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, ta thấy
những bản vẽ đuổi Mỹ, chửi Mỹ,
đả đảo Mỹ thật là rùng rợn, kinh
tởm mà người Mỹ vẫn tỉnh bơ! Họ thản nhiên chụp ảnh và tuyệt
đối cấm chính quyền Cộng Ḥa đàn áp
biểu t́nh.
Thủ đoạn thông thường
của bọn cán bộ tăng ni quốc doanh của
GHPGVNTN và các giáo hội tổ chức phụ thuộc, là
xách động phật tử, hoặc thuê người
biểu t́nh, xuống đường, ḥ hét đánh phá,
tự thiêu tuyệt thực... để đàn áp chính
quyền, đ̣i hỏi, yêu sách đủ thứ. Chúng buộc chính quyền phải điều
đ́nh và nhượng bộ chúng, chấp thuận mọi
điều chúng yêu cầu nếu muốn được
yên ổn, ổn định. Chúng sử
dụng báo chí, thông tin để làm lợi khí tuyên
truyền. Chúng đốt phá ṭa báo,
đánh phá báo chí hay người viết bài chống lại
chúng.
Về phần của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chúng gọi đó
là “tranh đấu” v́ bị chính quyền đàn áp, bất
công. Trong khi sự thật th́ chúng đàn áp, đánh phá chính
quyền nhưng mồm loa mép giải theo
kiểu vừa đánh trống, vừa ăn cướp.
Trong khi bị Cộng sản bao vây bên ngoài, lại có
sự đồng lơa, hỗ trợ ủng hộ của
báo chí, truyền thông quốc tế và người Mỹ,
nên các chính quyền miền Nam đều bất lực
không thể bịt mồm bịt miệng chúng, và phải
chịu thua.
V́ bọn
tăng ni GHPGVNTN quá gian ngoan và tàn
độc như vậy, các chính quyền Quốc Gia sau này
phải cảnh giác đề pḥng. Cộng
sản có thể bị tiêu diệt. Nhưng một
đầu năo Cộng sản khác trá h́nh là GHPGVNTN Ấn
Quang sẽ tiếp tục đánh phá quốc gia dân tộc
Việt
3. Các dâm
tăng quốc doanh Cộng sản của GHPGVNTN Ấn
Quang.
Những câu chuyện điển h́nh
về cán bộ Cộng sản giả sư nằm vùng
để hoạt động chính trị và giao liên
tiếp ứng cho Cộng sản ngay trong thành phố Sài
G̣n. Các dâm tăng quốc doanh Cộng sản của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang.
Một đoạn trích từ báo
(Cộng sản) Thế Giới Mới, số 220, xuất
bản tại Sài G̣n ngày
Phóng viên báo
Thế Giới Mới hỏi: “Thực chất chùa Một Cột
(Thủ Đức) có phải là một điểm liên
lạc của cách mạng (Cộng sản)?”
Đại
Lăo Ḥa Thượng (ĐLHT) Thích Trí Dũng: "Năm 1964, tại chùa Một Cột Thủ
Đức, qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn
văn Lộc (chính trị viên đội Biệt
Động Thủ Đức), tôi gặp anh Nguyễn
văn Bá, ông Nguyễn văn Tăng, hiện đều là
anh hùng quân đội Nhân Dân (Cộng sản), và đều
ở đội Biệt Động Sài G̣n-Gia Định
ngày ấy. Họ đă nhờ tôi tạo điều
kiện cho lực lượng Biệt Động Sài G̣n
(thuộc lữ đoàn 316) xây dựng cơ sở bí
mật tại chùa Một Cột và chùa Phổ Quang (ở
gần sân bay Tân Sơn Nhất) – một ngôi chùa do tôi
kiến tạo và trụ tŕ. Tôi đồng ư,
thế là hai ngôi chùa trở thành hai cơ sở hoạt
động bí mật của Biệt Động Sài G̣n cho
đến ngày
Hỏi: “Trong Tết Mậu
Thân 1968, chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân
bay Tân Sơn Nhất. Ở đây, bằng cách nào Ḥa
thượng đă qua được mắt địch,
để che dấu một số lượng vũ khí và
lực lượng Biệt Động?”
ĐLHT
Thích Trí Dũng: “Chùa Phổ Quang
cũng là nơi ở của thiếu tướng Trần
Hải Phụng và anh hùng các lực lượng vũ trang
Nguyễn văn Bá. Chùa thường xuyên
bị địch lùng sục. Để
che mắt địch (VNCH), chúng tôi đă cậy nắp
mồ Ngô Đ́nh Cẩn (em ruột TT Ngô Đ́nh Diệm
chôn trong chùa Phổ Quang) để dấu vũ khí.
Chính v́ vậy, địch không ngờ tới. C̣n sự di
chuyển của các chiến sĩ Biệt Động th́
đích thân tôi đă lái xe hơi chở
họ nên địch cũng không thể ngờ
được. V́ thế, vũ khí và con người
được giữ ǵn (an toàn) cho
đến giờ chót.”
Chúng tôi (báo Thế
Giới Mới) rời chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Một
Cột) cũng là lúc có đoàn khách nước ngoài
đến thăm. Nh́n họ đang
trầm trồ trước lối kiến trúc độc
đáo của chùa, tôi chợt nghĩ ngôi chùa thật
đẹp nhưng tấm ḷng (Cộng sản) của
người kiến tạo ra nó c̣n đẹp hơn.
HT Thích Trí Dũng quả là một nhà sư
biết kết hợp giữa đạo (GHPGVNTN) và
đời (Cộng sản).
(Thế Giới
Mới, số 220, ngày 20-1-1997.)
Chú thích: Thích Trí Dũng hiện nay (2002)
97 tuổi, là Đại Lăo Ḥa thượng của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
. Từ tháng 4/1998 Thích Trí Dũng từ trong
nước đi ra và đă đến các chùa của
GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ để thu
“hụi” chết cho Hà Nội (Cục Phản Gián?),
khoảng 2 triệu đôla. Đây không
phải là lần đầu. Mỗi năm Cục
Phản Gián cử một “sư tăng” loại trung kiên
tín nhiệm nhất ra hải ngoại để thu
“hụi chết” tại các chùa quốc doanh, từ 1
triệu đôla trở lên. Bọn sư này, kể cả Thích
Trí Dũng thường ở rất lâu, một tuần hay
nhiều tuần, trong mỗi chùa cho đến khi thu
đủ số phần tiền của chùa đó rồi
mới đi sang chùa khác. Năm 1996, Chánh Văn Pḥng
Viện Hóa Đạo GHPGVNTN (trong nước) là Thích Minh
Nghị đă ra hải ngoại thu
tiền như vậy. Khi Thích Minh Nghị đến chùa
Việt Nam, quận Cam, California, do lời “mời” của
Thích Pháp Châu, cũng bị đồng bào đến tận
chùa chất vấn. Người ta nhận
diện Thích Minh Nghị đeo quân hàm Thượng tá
Cộng sản năm 1975. Thích Minh
Nghị phải bỏ chạy.
Khi đến thăm chùa sư nữ
Đức Viên tại San José, California, tháng 5/1998, sư nam
Thích Trí Dũng đă nghỉ ngơi ngay trong chùa sư
nữ cho tiện. Các ni sư Đàm Lựu (đă chết
) , Đàm Nhật và Như Nguyện đă hạ lá cờ
quốc gia xuống cho Đại Lăo Ḥa thượng Thích
Trí Dũng đỡ ngứa mắt và để chứng tỏ
tăng ni trong chùa không phải là người quốc gia, và
chưa bao giờ đứng về phe quốc gia. Việc
này làm phật tử
Nhưng Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
vẫn bênh vực dâm tăng Thích Trí Dũng đến cùng,
và tôn vinh tên sư hổ mang Cộng sản nằm vùng này
là “Trưởng thượng
cao tăng”!
Sau đây là Thông Bạch của hàng Giáo Phẩm
Phật giáo? Việt
Chúng tôi kư tên dưới đây là hàng
Giáo Phẩm đứng đầu các tổ chức
Phật giáo Việt
Đại lăo Ḥa thượng Thích Trí
Dũng, 93 tuổi, là một bậc đạo hạnh chân
tu, ấu niên xuất gia, đă di cư hành đạo
tại miền Nam Việt Nam từ năm 1954. Đại lăo Ḥa thượng luôn luôn hướng
về Phật sự, từ thiện, xă hội, lập
chùa mở cảnh. Ngài đă tạo
một ngôi chùa “Nam Thiên Nhất Trụ” tại làng
Đại Học Thủ Đức từ năm 1972.
Hiện nay ngôi chùa này là một danh lam mang sắc diện
Văn Hóa Lịch Sử Phật giáo hưng thịnh từ
đời nhà Lư. Đại Lăo Ḥa thượng Thích Trí
Dũng trong chuyến viếng thăm Phật giáo các
nước Á Châu do Cộng đồng Phật giáo Á Châu
thỉnh mời. Ngài có ghé thăm các Pháp hữu Sơn Môn
tại các tu viện, Phật cảnh Già Lam tại Hoa
Kỳ. Ngài không hề tham gia bất cứ tổ chức
chính trị nào từ năm 1954. Chúng tôi luôn
luôn tôn kính Ngài là một bậc Trưởng Thượng
Cao Tăng.
Ngày 27 tháng 5 năm
1998.
Đồng kư tên:
HT Thích Thanh
Cát
Tăng thống Giáo hội Liên tông
Phật giáo Việt
HT Thích Măn
Giác
Hội chủ
Tổng Hội Phật giáo Việt
HT Thích
Hộ Giác
Tăng thống, giáo hội Tăng Già
Nguyên Thủy VN hải ngoại. Chủ
tịch Hội đồng Điều hành Văn pḥng II
Viện hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt
HT Thích Giác
Nhiên
Pháp chủ Giáo
Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới.
TT Thích Minh
Thông
Tổng Thư kư
Hội đồng Phật giáo Á Châu tại Hoa Kỳ.
Thích Thanh Cát từ trước
đến nay vẫn không bao giờ chịu treo cờ
quốc gia và cương quyết không tham gia bất cứ
hoạt động hay biểu t́nh chống Cộng nào
của người Việt hải ngoại. Năm 1979,
Thích Thanh Cát đă bảo đảm Đàm Lựu sang
Mỹ. Đầu tháng 4/1999, Đàm Lựu đă chết
tại
Trích một đoạn khác trong báo
Saigon Nhỏ số ra ngày
... Chưa hết,
hồ sơ Saigon Nhỏ nhận được, khiếu
nại về sự bao che hạnh kiểm xấu của
hàng tăng ni Phật giáo (GHPGVNTN) từ
quần chúng phật tử nhiều vô kể. Khi các vị
tự nhận, tự xưng là lănh đạo Phật giáo
VNHN (Việt
Bên cạnh
đường lối chính trị không phân minh c̣n là
những hoạt động dâm ô được các vị
lănh đạo Phật giáo dùng hành động cả vú
lấp miệng em để bao che. Hiện nay cảnh sát
Gia đ́nh trẻ
bị cưỡng hiếp uất ức v́ các thầy
vẫn tiếp tục bao che th́ được vị
thầy trụ tŕ trả lời rằng: “Có con mà không biết giữ, cho đi lung tung như thế th́ trách ai?”
Được biết chú điệu
này đi theo một vị sư
để thụ đại giới đàn (nhập tu, thí
phát, quy y tập thể với đông người). Khi đến nơi, vị sư này ốm nên giao
hai chú điệu cho một vị sư khác trông coi.
Sau khi tai nạn xảy ra, một vị
sư c̣n đi đến bót cảnh sát làm chứng về
sự kiện xảy ra. Tuy nhiên các vị lănh đạo
khuyên gia đ́nh nạn nhân v́ danh dự của... Phật giáo, của chùa mà bỏ qua. Sau đó
tên sư hổ mang dâm dục này từ miền Bắc
Một tín nữ khác
tố cáo cô bị một vị “sư” có hàng giáo phẩm
cao trong GHPGVNTN xâm phạm tiết hạnh của cô
nhiều lần. Vị “sư” này lại c̣n công khai bảo: “Nếu thầy không rờ th́
người khác rờ cũng vậy!” Hiện
nay tên sư này cũng rắp tâm đem những tên sư
Việt Cộng ra thuyết pháp tại hải ngoại.
Ngoài ra, sau 4 tháng nín thở kể
từ khi báo Saigon Nhỏ lột mặt nạ sư Trí
Dũng là sư Việt Cộng, ông Vũ B́nh Nghi của
Thời Báo-San José mới nghĩ ra được cách
để trả lời. Ông Nghi cho rằng báo chí hải
ngoại đánh sư Thích Trí Dũng, đăng bài của
báo Việt Cộng ca ngợi thành tích nằm vùng của
sư Trí Dũng là làm nhục QLVNCH (Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa) v́ chùa Bắc Việt Nghĩa Trang (Phổ Quang)
của sư Trí Dũng nằm sát cạnh Bộ Tổng
Tham Mưu QLVNCH mà chúng ta không hay, vẫn để cho sư
Trí Dũng hoạt động, không phải làm nhục quân
đội là ǵ?... (Saigon Nhỏ ngày 16/10/1998).
Trong thời gian 1960 đến 1975, ni sư Huỳnh Liên của GHPGVNTN đă dùng
chiếc xe hơi nhỏ (2CV) để chuyên chở các cán
bộ cao cấp Cộng sản ra vào thành phố Sài G̣n.
Huỳnh Liên đă tổ chức Làng Cô Nhi
Long Thành để lợi dụng các cô nhi cho các mục
đích Cộng sản, chống chính quyền quốc gia.
Huỳnh Liên đă được mọi người
đặt cho một cái hỗn danh (nicknamed) là “con quỷ cái nặc nô Cộng
sản”. Huỳnh Liên có miệng
lưỡi nặc nô rắn độc đến mức
Thích Trí Quang cũng không chịu nổi. Năm 1978,
Huỳnh Liên và Thích Thiện Minh đều bị Thích Trí
Quang ra lệnh thủ tiêu v́ hai tên này tỏ vẻ bất
măn, lăm le tổ chức tự thiêu để chống
Cộng sản Bắc Kỳ.
Tháng 6/1999, một tên
dâm tăng quốc doanh khác đă trên 70 tuổi mà c̣n dâm
dục cực kỳ khả ố với các thiếu
nữ phật tử và Gia đ́nh phật tử. Thích Hành Lạc,
đă bị cảnh sát Mỹ bắt không cho
được đóng tiền “beo” (bail) để
được tại ngoại.
Sau khi tiêu
diệt xong Cộng sản, cần phải điều tra
tường tận các tội ác, làm tiền, dâm dục,
hủ hóa, nằm vùng và hoạt động Cộng sản
của tập thể tăng ni Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất
Ấn Quang và các tổ chức ngoại vi như Gia
Đ́nh Phật Tử, Tăng Đoàn Bảo vệ Chánh Pháp,
Pḥng Thông Tin Phật Giáo...
Các tăng ni của
GHPGVNTN Ấn Quang không phải là “tu thật”, lại có nhiều tiền bạc do
thập phương cúng dường, nên rất dễ
bị lôi cuốn vào con đường tà dâm, dâm dục. Có
lẽ cửa Phật thánh thiện thiêng liêng nên khi ma
quỷ tu giả vờ, đă mau chóng hiện nguyên h́nh
với các tính nết ma quỷ, dâm ô, ham tiền bạc, ham
dâm dục và tham lam vô kể, hơn cả bất cứ
người phàm tục nào. Tăng ni
quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang chuyển tiền ở
Mỹ rồi về Việt
Quư vị có con em, trẻ nhỏ gia
nhập các tổ chức và giáo hội phụ thuộc
của GHPGVNTN Ấn Quang hay tổ chức phụ thuộc
gọi là Gia Đ́nh Phật Tử, thanh niên phật tử,
tăng đoàn nầy nọ, hoặc sinh hoạt tại
các chùa chiền, hăy coi chừng. Nếu chúng bị tai nạn dâm tăng th́ kể như chúng
bị ảnh hưởng và ám ảnh tinh thần
đến mức khủng hoảng suốt cuộc
đời.
Kiện cáo th́ vô cùng lôi thôi, tốn
tiền và mọi người thường không có mồm
miệng gian ngoa, đểu cán như tăng ni
quốc doanh! Muốn đưa ra đủ
bằng chứng buộc tội cũng rất khó khăn
và rất tốn tiền, và tốn rất nhiều th́
giờ. Những vụ kiện loại
này có khi kéo dài hàng chục năm. Tiền
luật sư có khi gần hết tiền bồi
thường.
Trong hơn
10 năm qua, Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ đă giàn xếp
đền tiền bên ngoài ṭa án
khoảng nửa tỷ đôla cho các nạn nhân trẻ
nhỏ bị sờ mó (Child molestation). Mỗi
vụ thường kéo dài hàng chục năm trở lên.
Nhưng giáo hội Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ có
nhiều tiền và có thiện chí hối hận và
đền bù thiệt hại. Họ
muốn chứng tỏ là chỉ có một vài cá nhân làm
bậy và không muốn cả giáo hội phải mang
tiếng xấu. Tăng ni quốc
doanh hải ngoại tại Hoa Kỳ sẽ chối là không
tiền để quỵt luôn cả án ṭa.
4. Cuộc thảm sát
Mậu Thân 1968 tại Huế. Các cuộc tắm máu của Cộng sản trong
giai đoạn đầu năm 1975.
Trong trận đánh Tết Mậu Thân,
Việt Cộng đă chiếm Thừa Thiên-Huế trong
nhiều ngày, khoảng 20 ngày đầu tháng 2/1968. Trước khi tấn công, Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất vùng Thừa Thiên-Huế đă
có mật hiệu cho các gia đ́nh phật tử phải
treo cờ Phật giáo ăn tết. Bộ
đội Cộng sản sẽ xâm nhập những nhà
“không” treo cờ Phật giáo để bắt những
người trong chính quyền quốc gia. Trong kế
hoạch, Việt Cộng muốn chiếm giữ Thừa
Thiên-Huế lâu dài để làm “thủ
đô” và để chứng tỏ rằng Hoa Kỳ
đă thua v́ không giữ nổi Huế. Lập tức chúng
khởi sự bắt bớ và “tắm
máu” những quân nhân, công chức, các dân biểu nghị
sĩ, giáo sư thuộc thành phần quốc gia mà không có
“chân” trong tổ chức GHPGVNTN. Chúng bắt
khoảng 10,000 người, công chức, quân nhân, dân
biểu, nghị sĩ người quốc gia giam giữ
họ trong các chùa và trường học.
Khi quân đội Hoa Kỳ và VNCH
phản công đánh chiếm lại Huế vào trung tuần
tháng 2/1968, th́ bọn tăng ni GHPGVNTN tính
rằng không giữ được Huế th́ phải giết
sạch đám tù nhân, nạn nhân này để bảo
vệ bí mật Cộng sản nằm vùng của chúng.
Giả thử quân đội quốc gia có chiếm Huế
trở lại th́ cũng không c̣n người nào sống sót
để tố giác lực lượng tăng ni Cộng sản nằm vùng là GHPGVNTN.
Chính bọn tăng ni Cộng sản trong
GHPGVNTN vùng Thừa Thiên-Huế đă dẫn
đường cho Việt Cộng giết nhiều sĩ
quan, công chức và dân biểu, nghị sĩ, giáo sư
người quốc gia. Chúng bắt nhiều
ngàn người và bốn vị giáo sư người
Đức giam trong chùa. Một số
bị giam và bị thủ tiêu tại trường học
Gia Hội. Hàng trăm xác chết đă bị chôn
tập thể ngay trong khu vực trường Gia Hội.
Bọn tăng ni GHPGVNTN đă lập “ṭa án quân sự” với
những tên Cộng sản nằm vùng như: Lê Văn Hảo, anh em Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Tôn
Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân, Tiêu
Dao Bảo Cự, các ḥa thượng Thích Đôn Hậu,
Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu..vv..
làm chánh án. Ṭa án
của chúng ở trong các chùa và chỉ xử tử h́nh. Các nạn nhân đều bị buộc tội
“Việt gian phản quốc”. Các nạn nhân “tử
tội” bị mang ra sau chùa bắn theo
kiểu hành quyết KGB với một viên đạn vào
đầu. Thiếu tá Từ Tôn Khoáng bị chúng ra lệnh
bắn nát thây với hơn 200 viên đạn!
Hoàng Phủ Ngọc Tường ngày nay
năm 2003 đổi tên là Nguyễn Khoa Điềm,
giữ chức vụ Bộ Trưởng Văn Hóa trong
chính quyền Cộng sản Hà Nội. Tiêu Dao
Bảo Cự chính là đệ tử ruột của Hoàng
Phủ Ngọc Tường và cùng nằm vùng đánh phá
chính quyền quốc gia vào những năm 1964-65 trở
về sau tại vùng Thừa Thiên-Huế. Chính Hoàng
Phủ Ngọc Tường đă chế tạo những
bản văn, bài viết,, thông bạch
rồi kư tên Thích Huyền Quang. Cục Phản Gián đă
gởi ra hải ngoại bằng điện thư (fax)
những văn bản cho các báo chợ, báo đảng, báo
chùa đăng tải, và đài phát thanh của đảng
phỏng vấn phát thanh. Vơ văn Ái và Pḥng Thông Tin Phật
Giáo Quốc Tế của y cũng tung ra những bản
tin bịa đặt rằng Thích Huyền Quang, Thích
Quảng Độ và GHPGVNTN “tranh đấu” và nói rằng
từ trong nước gởi ra.
Khi quân đội Việt-Mỹ
phản công mạnh mẽ vào trung tuần tháng 2/1968,
để tái chiếm Huế th́ bọn tăng ni quốc doanh và thanh niên phật tử
đă áp giải hơn 4,000 nạn nhân của chúng từ
các chùa ra khe Đá Mài ở phía Tây thành phố Huế. Chúng
vận động hơn 300 thanh niên và thanh nữ phật
tử đi theo áp giải tù. Chúng dùng
lưỡi lê đâm thủng bàn tay các nạn nhân rồi
dùng kẽm gai xuyên qua, từng xâu từ 5 đến 10 người
một, rồi kéo đi. Chúng tính sẽ
giết các nạn nhân nên coi họ như những tử
tội, không cần phải đối xử nhân
đạo.
Bốn vị giáo sư người
Đức bị bọn sư Cộng sản xử
tử bằng lối hành quyết của KGB với
một viên đạn súng AK bắn vào đầu! Rồi chúng vùi xác 4 người Đức sau chùa
Tường Vân. Bọn sư Cộng sản GHPGVNTN
hiểu rằng chúng phải tiêu diệt các nạn nhân do
chúng bắt và giam giữ trong chùa để diệt
khẩu và để bảo toàn bí mật nằm vùng
của chúng.
Tại khe Đá Mài ngày 22/2/1968, Thích Đôn Hậu và thiếu
tướng Lê Chưởng, chính ủy mặt trận
Thừa Thiên-Huế (Trần văn Quang là Tư lệnh),
đă ra lệnh cho khoảng 150 tên sư áp giải
mượn súng bộ đội Cộng sản, bắn
giết, thủ tiêu hơn 4,000 nạn nhân. Hơn 300 thanh
niên, thanh nữ phật tử đi theo
áp giải các nạn nhân cũng bị Thích Đôn Hậu ra lệnh giết luôn
để diệt khẩu. Bộ đội
Cộng sản người Bắc đă từ chối
bắn các nạn nhân. Chúng nói chúng chỉ biết
đánh nhau, không biết giết người theo
kiểu xử tử những nạn nhân c̣n đang bị
trói.
Sau cuộc thảm sát, bọn tăng ni Cộng sản trở về các chùa ở
Huế và làm bộ không biết chuyện ǵ đă xảy ra
cho đến ngày nay. V́ những người biết
mặt chúng đă bị giết hết nên không c̣n ai tố
giác bọn tăng ni Cộng sản
nằm vùng này. Bọn tăng ni Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất giữ bí mật tội ác
giết người của chúng đến mức từ
năm 1968 đến nay, các chùa ở Huế không nhận
thêm người ở ngoài vào tu (giới đàn). Chúng
chỉ nhận đảng viên và công an
Cộng sản. Có lẽ chúng sợ rằng
nếu nhận người ngoài vào tu th́ bí mật giết
người năm Mậu Thân sẽ bị lộ.
Thích Đôn Hậu và Lê Chưởng
đi thẳng ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chí Minh và
Bộ Chính Trị về thành tích chiến thắng oanh
liệt vùng Thừa Thiên-Huế và con số địch quân
bị tiêu diệt, và được hoan hô nồng
nhiệt. Thích Đôn Hậu được
ở lại Hà Nội. Năm sau 1969,
Hồ Chí Minh chết. Thích Đôn Hậu
được vinh dự đứng canh quan tài Hồ cùng
với những tên đầu sỏ Cộng sản khác
như Phạm văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Đặng
Xuân Khu (Trường Chinh) , Lê Đức
Thọ...
Phải đến
sau 1975, Thích Đôn Hậu mới trở lại chùa Linh
Mụ, Huế, và ở đó cho đến khi chết
cuối tháng 4/1992. Chính quyền Cộng sản ra lệnh
làm lễ Quốc táng 7 ngày cho Thích Đôn Hậu. 2 Phó Thủ tướng Cộng sản Nguyễn
Quyết và Nguyễn Hữu Thọ về tận chùa Linh
Mụ làm chủ lễ tang. Thích Huyền Quang thay
thế Thích Đôn Hậu làm Tăng Thống Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và gởi các
bản tranh đấu bịp bợm bằng điện thư ra hải ngoại, đó là chuyện
sau.
Lê Chưởng được Lê
Duẫn phong chức Bộ Trưởng Giáo Dục
để thưởng công cho vụ tàn sát và chiếm
được thành phố Huế. Khi Chưởng quay
lại B́nh Trị Thiên để bàn giao chức vụ th́
bị tai nạn xe, với một
chiếc xe tăng tại Quảng B́nh. Cây chống kính xe tăng đă đâm thủng sọ Lê
Chưởng khiến y chết ngay tại chỗ.
Sở
dĩ t́m được các xác chết tại khe Đá Mài
là do oan hồn một thanh nữ phật tử bị
thủ tiêu để diệt khẩu, đă chết oan
uổng, tức tưỡi, nên đă báo mộng cho mẹ
đi t́m xác và đưa đẩy bà mẹ này đến
khe Đá Mài.
Thích Đôn Hậu
nắm rất nhiều chức vụ cao cấp Cộng
sản.
Y nắm những chức vụ như Phó Chủ tịch
Liên Minh Dân tộc Dân Chủ Ḥa B́nh, Ủy viên chủ
tịch, chủ tịch đoàn Mặt trận Dân Tộc
Giải Phóng (Cộng sản) Miền Nam, Ủy viên Hội
Đồng Cố Vấn Chính Trị chính phủ Cộng
sản miền Nam, mang quân hàm Tướng Tổng Cục
Phản Gián, Ủy viên chủ tịch đoàn Trung
Ương Mặt Trận Tổ Quốc (sau 1975) kiêm
Đại Biểu Quốc Hội Cộng sản
đơn vị B́nh Trị Thiên, Tăng Thống kiêm
Viện Trưởng lưỡng viện Tăng Thống
và Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất.
Sau khi Thích Đôn
Hậu chết ngày
Bản văn đầu tiên của
chiến dịch Hoa Sen Đỏ do Hoàng Phủ Ngọc
Tường soạn thảo, kư tên Thích Huyền Quang,
gọi là "Kiến Nghị
9 điểm" và được Cục Phản Gián
gửi bằng điện thư (fax)
cho báo Người Việt và các báo chùa đăng tải
nguyên văn. Kiến Nghị 9 điểm
đề ngày
Trên b́nh diện
kế hoạch tiêu diệt Cộng sản Hà Nội, ta
không thể không tính đến yếu tố Bắc Kinh. Làm thế nào
để vô hiệu hóa ảnh hưởng và cán bộ
Bắc Kinh tại Việt Nam và đồng thời
đương cự Bắc Kinh “sau khi” tiêu diệt Cộng sản Hà Nội, là
một bài toán khó giải cho bất cứ ai tính đến
tiêu diệt Cộng Sản Hà Nội, hóa giải chiến
lược domino Trung Cộng, để lấy lại
độc lập tự do cho Việt Nam. Ngoài ra c̣n vấn đề tiêu diệt bọn
Cộng sản nằm vùng trở lại, núp dưới
chiêu bài giáo hội ma giáo quốc doanh gọi là “Giáo Hội
Phật Giáo Việt
Hiện nay mới chỉ có Thích
Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ,
Thích Không Tánh, Đoàn viết Hoạt và bọn Mạng
Lưới Nhân Quyền, Mặt trận Kháng chiến Ma, và
bọn GHPGVNTN nằm vùng hải ngoại tại Hoa Kỳ
ra mặt. Hiện nay, Cộng sản không dám
công khai hoạt động hải ngoại tại Hoa
Kỳ v́ vấn đề đang “bang giao tốt đẹp với Hoa Kỳ”.
Mọi hoạt động Cộng sản tại Hoa
Kỳ đều do Mặt Trận Kháng Chiến Ma ra
mặt, giật dây với GHPGVNTN, Hội đồng Liên
Tôn và các tổ chức chính trị ngoại vi,
và bè lũ báo chí đài phát thanh, bồi bút c̣ mồi
quốc doanh. Chúng tung hứng lẫn nhau
với nhiệm vụ xóa hẳn hận thù Cộng sản
và lái hướng chống Cộng sang hướng sống
chung ḥa b́nh với Cộng sản, chỉ “xin” tí ti nhân
quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo.
Chúng không bao giờ nghĩ rằng chúng đang ở
trong cái thế chết. Sớm hay
muộn th́ Bắc Kinh cũng giết chết. Nếu không
th́ khi tiêu diệt Cộng sản, người quốc gia Việt
Nam sẽ phải tiêu diệt bọn chó săn nằm vùng
quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và tập thể sư công
an.
Toàn
bộ GHPGVNTN với hơn 30,000 sư công an đảng
viên Cộng sản loại ṇng cốt, trung kiên nhất,
chiếm ngụ hơn 10,000 chùa chiền trên toàn quốc, và
hơn 200 ngôi chùa tại hải ngoại ( Hoa Kỳ và Canada) . Những chùa này và tăng
ni quốc doanh Cộng sản GHPGVNTN đă trở thành
ổ hoạt động Cộng sản nằm vùng,
với đầy đủ tiền bạc phương
tiện, kể cả các phương tiện tuyên
truyền dối trá, bịp bợm, gian ngoan, và sẵn sàng
đánh phá bất cứ chính quyền quốc gia nào sau này,
để cướp lại chính quyền.
Chủ nhiệm Tổng Cục
Phản Gián, tướng Dương Thông, một
người “biết quá nhiều” và có thể tiêu diệt
các cán bộ thân Bắc Kinh, đă bị hạ sát ngày 27
tháng 4, 1995. Dương Thông được coi là tai mắt của chế độ. Mất
Dương Thông, Cộng sản Hà Nội đă trở
thành điếc, mù, mặc t́nh cho cán bộ Bắc Kinh thao
túng. Đến đầu năm 1996 th́ người
quốc gia tung ra Đại Sát Lệänh
tiêu diệt Cộng sản trước khi đại
hội Đảng kỳ 8 nhóm họp ngày 28 tháng 6, 1996. Đại Sát Lệnh này đă
được cán bộ Bắc Kinh tích cực thi hành
để tiêu diệt và loại bỏ gần như toàn
bộ lănh đạo Cộng sản phe người
Việt. Đầu
tiên là Trần văn Trà, đă từng đi Mỹ tham quan
với Nguyễn thị Định, ngày 20 tháng 4, 1996.
Vài ngay sau đến lượt Đào Duy Tùng và hàng
chục cán bộ ít tên tuổi hơn. Trà và Tùng đều
được đưa gấp đi Tân Gia Ba chữa
bệnh. Trà chết hẳn, c̣n Tùng th́
sống sót nhưng ngớ ngẩn, năo bộ hỏng v́
thuốc độc làm cho tê liệt và mất trí, và không dám
trở về Việt
Phải đến cuối năm 1997,
để khỏi mang tiếng giết đồng chí,
thượng tướng Lê Khả Phiêu, chủ nhiệm
Tổng Cục Chính Trị, đă buộc Tùng phải
trở về Việt Nam cho y mang ra tŕnh diện rằng c̣n
sống. Tùng đă ra sân khấu với vẻ
ngơ ngẩn, mất hồn. Tùng
chết mấy tháng sau đó, đầu năm 1998. Người miền Bắc
đều hiểu rằng tổng bí thư
Lê Khả Phiêu là một thứ đao phủ của
Bắc Kinh để tiêu diệt những người
Cộng sản Việt
Sau Tùng đến
lượt thứ trưởng Ngoại Giao Lê Mai bị
giết ngày 12 tháng 6, 1996. Mai là “kiến trúc sư” thực
hiện hiệp ước Thương Mại với Hoa
Kỳ. Mai có triển vọng lên chức bộ
trưởng Ngoại Giao sau
khi kư kết hiệp ước Thương Mại
xong. Sau Lê Mai đến Nguyễn đ́nh Tứ, tân ủy
viên bộ Chính Trị, một người thân Nga và
chống Tầu, bị giết ngay buổi tối ngày
Tháng 6 năm 1995, Vơ
văn Kiệt và phe thân Mỹ đă soạn thảo xong
“Cương Lĩnh thân Mỹ” (pro-American
political platform) cho Đại Hội Đảng, với
nhiều hy vọng sẽ đưa Đảng Cộng
sản Hà Nội vào con đường “thân Mỹ chống
Tầu”. Bắc Kinh phản ứng,
gửi Bí thư tỉnh ủy Giang Tây (Jiang Xi) đến
Hà Nội trong mấy tuần lễ vào tháng 11, 1995,
để viết Cương
Lĩnh Mao Ít, theo Trung Quốc.
Cương lĩnh này đă
được áp dụng cho Đại Hội Đảng
kỳ 8 và có hiệu lực cho đến Đại
Hội Đảng kỳ 9 năm 2001 (nếu đảng
Cộng sản c̣n sống).
Cũng trong thời kỳ đại hội
đảng kỳ 8 năm 1996, một màn thanh trừng, tiêu
diệt các đảng viên thân Mỹ đă xẩy ra và hoàn
toàn bí mật. Hàng trăm đảng viên đă bị loại.
Người Mỹ sững sờ và
trở nên dè dặt khi họ thấy Cộng sản Hà
Nội không hoàn toàn tự do đi với Mỹ. “Đi với Mỹ” đă
trở thành bản án tử h́nh cho
bất cứ đảng viên nào. Cán bộ Bắc Kinh thâm
độc ở điểm họ “mặc kệ” cho cán
bộ người Việt hoạt động với Mỹ.
Nếu “được” cái ǵ th́ càng hay. Nhưng dù “được”
hay “không được” th́ cái “tội” đi với
Mỹ, hứa hẹn với Mỹ, đều là tội
tử h́nh hay loại bỏ.
Người Mỹ th́ ngẩn ngơ
khi thấy cán bộ người Việt ra mặt, nói
chuyện, thương thảo, hứa hẹn cam kết
đủ thứ. Để rồi những kẻ hứa
hẹn đó biến đâu mất, chỉ c̣n những
bộ mặt ngu ngốc, ngớ ngẩn, “đám ma” để nói
láo, nói lếu cho qua. Chính các giới chức
Mỹ cũng trở thành “nói láo” khi báo cáo tốt
đẹp về những chuyện thương
lượng cam kết của phía Hà Nội. Các doanh
gia Mỹ và quốc tế thừa hiểu rằng
những kẻ ăn tiền và hứa hẹn ngày hôm nay th́
ngày mai đă biến mất tiêu, để đưa các
bộ mặt khác ra, để rồi lại có yêu cầu
mới, ṿi vĩnh mới,
luật lệ mới và ăn tiền cũng mới
nốt!
Ngày 22 tháng 3, 2000, thủ tướng CS
Phan văn Khải phải kư sắc lệnh hủy bỏ
khoảng 600 loại “giấy phép con” trước ngày 1 tháng
7, 2000. Loại giấy phép lẻ loi này không căn cứ
vào luật, mà do các địa phương “chế tạo”
ra để làm tiền các doanh gia, doanh nghiệp để
có cơ hội sách nhiễu, làm tiền, đ̣i điều
kiện th́ dụ như cung cấp xe hơi, “bao” du
lịch tu nghiệp, tham quan....
Tuy nhiên, một
số nhân viên ngoại giao Mỹ không có tầm vóc hiểu
nổi t́nh huống chính trị và chiến lược vô
cùng phức tạp tại Việt Nam, đă cố
gắng làm hết sức để tiến tới kư
kết hiệp ước Thương Mại với Hà
Nội. Họ giúp đỡ Cộng sản nhiều ưu
tiên, quyền lợi, và dẹp tan mọi mưu toan và hành
động chống Cộng của người Việt
quốc gia. Những
giới chức ngoại giao này quá kiêu căng. Họ coi là họ
đi đúng đường. Họ tin tưởng
là Trung Cộng không dám trực diện đối
đầu với Mỹ tại Việt Nam. Họ tin tưởng là Cộng
sản sẽ phải theo Mỹ, thay đổi từ
đỏ sang xanh,
và trung thành với Mỹ để t́m
đường sống. Họ tin tưởng Cộng
sản Hà Nội sẽ dám chống Bắc Kinh và có khả
năng động viên toàn thể nhân dân Việt
đứng lên chống xâm lăng
phương Bắc. Những
nhà ngoại giao ngây thơ người Mỹ không thể
hiểu rằng các
nước Việt Nam, Thái Lan, Mă Lai, Cao Miên, Phi Luật Tân,
Nam Dương, Brunei, Tân Gia Ba, Miến Điện .... đều do những người gốc Hoa
(ethnic Chinese groups) nắm toàn bộ chính trị, kinh tế
và quyền lực.
Những nhà ngoại giao Mỹ phải hiểu
rằng nhân dân Việt
Vào năm 2003, Trung
Cộng đă thành công chiếm lĩnh Việt
Trên phương
diện nhiều kẻ thù, th́ dân tộc Việt
Trước ngày
Ngày
Sau khi mất Ban Mê Thuột ngày 9/3/1975,
ngày 15/3/1975, theo lệnh của Tổng thống Nguyễn
văn Thiệu, tướng Phạm văn Phú, tư
lệnh quân đoàn II, đă ra lệnh triệt thoái
khỏi Cao Nguyên theo liên tỉnh lộ số 7B, một con
đường nhỏ dài 260 cây số xuyên rừng núi
để xuống Tuy Ḥa. Khoảng 40 vạn dân các tỉnh
Pleiku, Kontum, Phú Bổn và khoảng 60,000 quân vùng II đă
đi trong 13 ngày về tới tỉnh Phú Yên. Dọc
đường, nhiều sư đoàn Cộng sản
chận đường, tấn công tàn sát hơn 300,000 dân, phần lớn là đàn bà và trẻ
nhỏ gia đ́nh binh sĩ, và khoảng 40,000 quân sĩ.
Đây có thể là cuộc thảm sát kinh hoàng và dă man
với nhiều nạn nhân nhất của Cộng sản
tại miền
Vùng I cũng bị
chết rất nhiều, có
thể đến 100,000 quân quốc gia và khoảng 50,000 dân
và gia đ́nh binh sĩ. Tổng cộng riêng trong hai tháng 3 và
4/1975, miền
Ngày
Lê Duẫn vội họp tham mưu và
quyết định ra lệnh cho tỉnh ủy Tuy Ḥa
phải ngưng vụ thảm sát. V́ nếu tin thảm sát
lộ ra ngoài th́ quân dân miền
5. Người Mỹ
dung túng cho sinh viên Cộng sản nằm vùng
được xuất ngoại đi học tại Hoa
Kỳ.
Trong thời gian
từ 1960 đến 1975, sinh viên các đại học Sài
G̣n cũng chia làm nhiều phe tranh đấu. Người th́ theo chính phủ, người th́ theo GHPGVNTN.
Nổi nhất là Tổng Hội Sinh Viên, nhưng hội
này đă bị cán bộ Cộng sản nằm vùng cầm
đầu để trờ thành một công cụ hỗ
trợ cho GHPGVNTN Ấn Quang.
Những sinh viên lư lịch Cộng
sản và không quốc gia như Nguyễn Thái B́nh và sinh viên
đại học Vạn Hạnh và các đại học
khác tại Sài G̣n... thường được
người Mỹ cho đi Hoa Kỳ du học và tha hồ
hoạt động chính trị chống quốc gia và
phản chiến tại Hoa Kỳ. Nguyễn Thái B́nh sau này
bị giết v́ tội không tặc trên một chuyến
máy bay về Việt Nam, lúc đó đă gần ngày 30/4/1975.
Có lẽ Nguyễn Thái B́nh quá cuồng tín, không chịu “theo”
Mỹ, và có thể sẽ phanh phui câu chuyện bị
Mỹ dụ dỗ, nên phải bị giết để
diệt khẩu!
Nhiều sinh viên Cộng sản nằm
vùng khác, cũng từ Mỹ về, th́ được yên
ổn tiếp tục hoạt động Cộng sản
ngay trong các trường đại học với tư
cách giáo sư. Chúng giữ bí mật
đảng tịch và chức vụ gián điệp,
phản gián trong đảng Cộng sản.
Đảng bộ đại học Vạn Hạnh, Ḥa
thượng Thích Minh Châu là một cán bộ Cộng
sản vào hàng thâm niên, trên 60 tuổi đảng. Thích Minh Châu cũng làm viện trưởng
Học viện Phật học. Đại Học
Vạn Hạnh và Học Viện Phật Học
được tổ chức tinh vi
để đào tạo cán bộ Cộng sản loại
“có học” để đưa vào hàng cán bộ lănh
đạo Giáo hội PGVNTN quốc doanh trong âm mưu thay
thế đảng Cộng sản.
Cộng sản Hà
Nội rất sợ CIA (Cơ quan T́nh báo Trung ương
Hoa Kỳ). Ta có thể nói rằng Cộng sản Hà Nội
bị "hội chứng CIA" (the CIA syndrome). Cộng sản Hà Nội nh́n ai cũng thấy là
kẻ thù của chúng. Và chúng nh́n bất
cứ ai cũng nghi là nhân viên CIA nhất là những
người làm cho Mỹ, có quốc tịch Mỹ, sinh viên
học bên Mỹ hoặc từ Mỹ về. Thành
thử cán bộ sinh viên đi du học và trở về
hoạt động Cộng sản, đều phải là
thứ đảng viên trung kiên nhất, sắt máu nhất.
Đoàn Viết
Hoạt rất thận trọng trong điểm này. Khoảng năm 1970,
khi đang đi học cùng với Trần Thị Thức.
Hoạt làm đám cưới với Thị Thức. Khi
vợ y có bầu, Hoạt cương quyết buộc
vợ phải về Việt Nam sinh con rồi sang Mỹ
trở lại. Hoạt không muốn con ḿnh sinh ở Mỹ
và lấy khai sinh người Mỹ.
Tuy nhiên vấn đề và mức
độ hoạt động của CIA tại Việt
Từ sau khi công bố bang giao tháng
7/1995, một số sinh viên du học trong đó có cán
bộ, gián điệp, con cán bộ giàu được
đi Mỹ dưới danh nghĩa du học sinh. Các “tổ đảng” (party cells) được
tổ chức trong các đại học Mỹ có sinh viên
từ Việt Nam Cộng sản. Các “pḥng liên lạc”
thay cho Lănh sự quán cũng được đặt
tại
Các “tổ đảng”
có dụng ư và mục đích “đường
dài” (long-term purposes). Chúng
sẽ lan rộng và hầu hết sinh viên gốc Việt
Nam tại Mỹ. Trong vài thế hệ, các sinh viên này
sẽ trở thành bị bắt buộc phải làm
việc như gián điệp kỹ thuật cho Cộng
sản Hà Nội trong các ngành điện tử và quốc
pḥng Hoa Kỳ. Làm chó săn loại “trí thức” cho cộng sản thật là nguy
hiểm. Chúng phải cố gắng hết
sức để tỏ ḷng trung thành với đảng
Cộng sản. Nhưng Cộng sản
không bao giờ hoàn toàn tin cậy bọn này. Chúng
chỉ dùng những tên tốt nghiệp đi học
Mỹ về cho nhu cầu kỹ thuật nào đó,
nhưng không bao giờ giao cho các chức vụ quan
trọng. Trước sau ǵ th́ bọn này cũng bị
Cộng sản loại bỏ hay giết chết. Giả thử
người quốc gia tiêu diệt Cộng sản th́
bọn sinh viên, sư tăng quốc doanh làm chó săn
Cộng sản cũng bị giết trước tiên.
Một vài giới chức Hoa Kỳ
cũng giả bộ thân mật với bọn cán bộ
Cộng sản “học Mỹ”
này. Nhưng họ có nhiều dụng ư khác nhau, và uyển
chuyển thay đổi theo thời
thế. Điểm rơ ràng là người Mỹ biết rơ
mọi hoạt động của Cộng sản Hà
Nội tại Hoa Kỳ. Họ để yên cho cán bộ
Cộng sản hoạt động để tiện ḍ
xét. Họ hiểu rằng những hoạt
động này chỉ gây được tiếng vang nho
nhỏ kéo dài được vài ba ngày và không có chiều sâu,
trong dư luận báo chợ Việt
Trong những năm từ 1972
đến 1978... các cán bộ sư
quốc doanh như Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu,
Thích Tuệ Sỹ... của đảng bộ Vạn
Hạnh được đề cao với hải
ngoại là những người có học, có bằng
cấp Hoa Kỳ , để gây uy tín “trí thức” cho GHPGVNTN Ấn Quang. Cán bộ
Cộng sản hải ngoại tạo ra cảnh
tượng bịp bợm rằng Trí Siêu và Tuệ Sỹ
bị Cộng sản “xử tử h́nh” nhưng không có lư
do và cũng không chết. Chúng hô hoán rằng
bị “tù” mấy chục năm nhưng không tù thật.
Tóm lại chúng không hề hoạt động ǵ gọi là
chống Cộng để đến nỗi bị tử
h́nh hay bị tù.
Cộng sản gian ngoan ở
điểm vẫn sống nhăn, vẫn làm việc bóp
méo lịch sử, vẫn b́nh an vô sự nhưng miệng
vẫn hô rằng bị tử h́nh “oan” bị xử án “oan”
và bị xử tù “oan” mà thật ra không có ǵ xảy ra! Khôi
hài hơn nữa là bọn c̣ mồi, báo và đài của
bọn cán bộ Cộng sản hải ngoại vẫn
trơ tráo trắng trợn tung hô, tâng bốc và đề
cao rằng đó là những nhà “tranh
đấu” nhân quyền, những người “dám” dấn thân tranh đấu
với Cộng sản! Chúng tưởng
như vậy là đă đánh lừa được
người hải ngoại phải tôn vinh bọn nhà quê
này, và người Mỹ phải đổi hướng
chính sách, chính trị.
Bộ máy tuyên
truyền báo chí thân Cộng và tuyên vận Cộng sản
ở hải ngoại loan truyền những chuyện
bịa đặt này. Nhưng ở trong nước hoàn toàn
yên lặng , không ai nghe thấy những tên Quảng
Độ, Tuệ Sỹ, Trí Siêu và Đoàn Viết
Hoạt, Nguyễn Chí Thiện
, Vũ Thư Hiên là ai? Chúng nhằm gây uy tín và
tiếng tăm với quốc tế và hải ngoại
để tạo một cái “vốn chính trị”. Cái vốn chính trị này sẽ giúp GHPGVNTN an toàn,
xóa tên “quốc doanh” không sợ người quốc gia
sẽ giết chúng v́ tội làm Cộng sản.
Một mặt khác là chúng thấy Cộng sản sớm muộn
ǵ cũng sụp đổ như Cộng sản Liên Xô. Chúng làm ra vẻ không dính líu ǵ đến Cộng
sản. Nhưng không ai thấy chúng nói
năng một chút xíu ǵ đến tội ác Cộng
sản. Chúng không hề đả động
đến vấn đề Cộng sản cai
trị bạo tàn trong hơn 50 năm qua. Chúng
đánh lừa, muốn làm cho mọi người Việt
hải ngoại quên hẳn các hoạt động và thành
tích Cộng sản của chúng.
Giả thử Cộng sản sẽ
bị tiêu diệt nay mai th́ bọn sư “trí thức
quốc doanh Cộng sản Vạn Hạnh” này có thể
thoát nạn để tiếp tục hoạt động
gây uy tín và lănh đạo GHPGVNTN. Chúng tin với thành tích
bịp bợm “đă” bị Cộng sản “xử tử h́nh”, có thành tích
bị Cộng sản “bỏ tù” lại có tiếng tăm
với hải ngoại quốc tế, th́
chính quyền mới sẽ không dám giết chúng. Nhân dân trong
nước đă biết rơ ràng mặt thật của chúng,
và sẽ thẳng tay xử bọn này,
không phải người hải ngoại. Vả
lại khi thời thế thay đổi, th́ chính sách Hoa
Kỳ sẽ thay đổi. Ḷng
người Việt
Thật là tiện
lợi khi chính các giáo sư thân Cộng lại khéo léo
dụ dỗ các sinh viên nhẹ dạ hoạt động
trong các tổ chức và phong trào tranh đấu Cộng
sản.
Nói đến Đại Học Vạn Hạnh,
người ta hiểu ngay là tập thể giáo sư
tại đó, từ Viện trưởng Thích Minh Châu
trở xuống và các Khoa trưởng, và hầu hết Ban
Giảng Huấn và một số sinh viên đều là cán
bộ quốc doanh hoạt động cho Cộng sản
hoặc đă bị tuyên truyền nhồi sọ
để theo Cộng sản.
Có lẽ v́ vậy mà trong năm 1974 sang
đầu 1975, Viện trưởng Thích Minh Châu, Chính
ủy Nguyễn Trực, Viện Phó Đoàn Viết
Hoạt và Ban Giáo sư Giảng Huấn Vạn Hạnh
đă thành lập được 1 sư đoàn Đặc
Công với hơn 7,000 sinh viên và thanh niên Phật tử hăng
hái, cuồng tín, chống chính quyền quốc gia và căm
thù Mỹ Ngụy với hơn 6,000 khẩu súng, để
chuẩn bị tiếp ứng cho bộ đội
Cộng sản và bắn sau lưng quân đội Việt
Nam Cộng Ḥa, khi Cộng sản tiến quân vào thành
phố Sài G̣n.
Một số cán bộ nằm vùng và
tăng ni quốc doanh được Cộng sản cài cho
đi Mỹ trước và sau 30/4/1975, trong dịp di
tản, theo các diện vượt biên, đoàn tụ gia
đ́nh, ODP, HO,... và vẫn được hoạt
động Cộng sản công khai tại Mỹ cho
đến ngày nay 2003. Các cán bộ quốc doanh và tuyên
vận Cộng sản đă có đủ hậu thuẩn
tiền bạc, thế lực để ra báo, ra đài,
lập hàng ngàn chùa chiền trong mấy chục năm qua
tại Hoa Kỳ. Họ vẫn có vẻ b́nh yên, b́nh chân như vại. Nhưng
thật khó mà biết rằng ai là Cộng sản giả,
ai là Cộng sản thật, ai là quốc doanh và ai là gián
điệp nhị trùng? Cũng không ai có thể
đoán rằng sự nghiệp của bọn cán bộ
nằm vùng sẽ kết thúc thê thảm tới mức nào?
6. Tại sao GHPGVNTN Ấn Quang
lại nguy hiểm hơn đảng Cộng Sản?
Đến ngày nay, Cộng sản Hà
Nội vẫn không dám nhắc đến vụ thảm sát
Tết Mậu Thân. Chúng không dám nhắc đến vụ
thảm sát trên đường 7B và Tuy Ḥa. Chúng
ra vẻ không trực tiếp ra lệnh đó.
Thật ra đó là “tiêu lệnh”
(Standing order) quen thuộc của Cộng sản: mỗi khi
cướp chính quyền hay chiếm được
địa phương nào, hay trong bất cứ
trường hợp nào có thể, th́ phải tàn sát tất
cả thành phần công chức, thương gia, tôn giáo, quân
đội, cảnh sát... để làm sạch guồng máy
chính trị địa phương, để cướp
đoạt tài sản, và để tiêu diệt mọi
mầm mống có thể lănh đạo dân chúng nổi
loạn hay chống đối.
Bọn sư quốc doanh GHPGVNTN Ấn
Quang chính là bọn cán bộ Cộng sản nằm vùng nguy
hiểm nhất cho toàn dân Việt
Bọn tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang
rất sợ dân tộc Việt Nam “không thể quyên”
nguồn gốc, ṇi giống Lạc Việt, và nh́n thấy
rơ bộ mặt ma quỷ quốc doanh của chúng. Tinh thần Lạc Việt chắc chắn sẽ
trở lại và phục hoạt mạnh mẽ trong
mỗi người Việt ngay sau khi Cộng sản
bị tiêu diệt. Mỗi người
Việt đều nhớ công ơn tổ tiên Âu Lạc,
các vua Hùng Vương đời Hồng Bàng.
Truyền thống Lạc Việt đă giúp cho dân tộc
Việt Nam, ṇi giống Việt Nam, tồn tại hơn 5
ngàn năm qua cho đến ngày nay. Do truyền thống
Lạc Việt mà mọi người Việt nh́n thấy
ngay sự vong bản của tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang khi chúng
muốn bóp méo lịch sử, Khoe
rằng chính Giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh đă có
công “mở nước,
dựng nước trong hơn 2 ngàn năm qua”
(Kiến Nghị 9 điểm của Tăng Thống
quốc doanh Thích Huyền Quang ngày 25/61992).
Muốn thay thế Cộng sản th́
bọn tăng ni GHPGVNTN phải xóa
bỏ truyền thống Lạc Việt để thay
thế bằng lư thuyết Phật giáo. Chúng
không đợi đến khi dân tộc Việt
Nếu ta nghiên cứu hoạt
động của Thích Quảng Độ, Thích Trí
Siệu, Thích Tuệ Sỹ và báo chí, sách vở của
tăng ni GHPGVNTN trong
nước và hải ngoại, ta thấy chúng có giọng
lưỡi viết lại, bóp méo lịch sử Việt Nam
để “tẩy năo”
người Việt. Chúng hy vọng các thế hệ
người Việt sau này sẽ tin tưởng “lịch sử” Việt
Bọn tăng ni
quốc doanh và cán bộ tuyên vận c̣ mồi nhân quyền
ở hải ngoại vô cùng thận trọng. Ta thấy chúng không bao giờ
dám nói đến tội ác Cộng sản. Chúng
chỉ “đ̣i” nhân quyền một cách bịp bợm v́
cộng sản làm ǵ có “nhân quyền” mà cho ai? Thành
thử mà ta có thách thức, chúng cũng không dám chửi
Cộng sản hay nói đụng đến lănh tụ
Cộng sản đương quyền. Với tư cách
cán bộ Cộng sản, chúng chỉ sai lầm một câu
nói, một câu viết là có thể bị trừng trị và
giết chết. Chúng làm bộ làm đơn, thỉnh
nguyện, kiến nghị (nhưng không bao giờ gởi
cho chính quyền Cộng sản) để khoe với
người hải ngoại rằng chúng khiếu nại,
ăn mày ăn xin này nọ để có dịp khéo léo
đề cao và công nhận chế độ, tên tuổi,
chức vị các lănh tụ Cộng sản của chúng.
Cộng sản cũng không dám nói
rằng tăng ni, cư sĩ và một
số thanh niên phật tử của GHPGVNTN vùng Thừa
Thiên Huế đă giết người với tính cách
địa phương. GHPGVNTN vùng Thừa Thiên Huế, Liên
Khu 5 và toàn thể Việt Nam với toàn bộ hơn 10,000
chùa chiền trên toàn quốc, và hơn 200 ngôi chùa tại
hải ngoại ( Hoa Kỳ và
Canada) vẫn là một công cụ được
việc, một ổ công an gián điệp ch́m của chế độ
Cộng sản, và Cộng sản cần phải duy tŕ
để có dịp xử dụng sau này.
Khi tiêu diệt
Cộng sản th́ hăy quét sạch sẽ các chùa chiền. Phải thu hồi toàn bộ chùa chiền trả
lại cho chính quyền nhân dân quản lư. Phải
đặt các tăng ni quốc doanh của GHPGVNTN và Giáo
Hội Quốc Doanh, v́ tuy 2 nhưng vẫn là 1, và các “nhân
sự”, cán bộ trong các tổ chức ngoại vi Cộng
sản trong Mặt Trận Tổ Quốc ra ngoài ṿng pháp
luật.
7. Biến Đảng thành
Đạo và Biến Đạo thành Đảng
Cộng Sản Hà Nội và GHPGVNTN liên tay t́m cách tồn tại dưới h́nh
thức GHPGVNTN công an trị để thành thế Cộng
sản công an trị. Cộng sản và tăng ni quốc doanh âm mưu xử dụng
nhiều phương án khác nhau để tồn tại.
Khi tính trước thấy t́nh h́nh sẽ nguy hiểm,
Đảng Cộng sản sẽ thoát xác đội
lốt thành “đạo” hay
là GHPGVNTN, để bảo toàn nguyên vẹn chủ lực,
ta gọi đó là “Biến Đảng thành
Đạo” . Đảng Cộng sản sẽ
“bị” GHPGVNTN “tiêu diệt”, “tha hóa”, và cán bộ cao cấp
của đảng sẽ thành tăng ni tuốt luốt. Nhưng chúng chưa ngưng ở đó.
Bọn cán bộ cộng sản giả tăng ni sẽ mau
chóng “Biến Đạo thành Đảng”
để tiếp tục hoạt
động khủng bố công an trị, cướp chính
quyền và khống chế cả nước, dưới
chiêu bài “tôn giáo Phật”.
Ngay từ năm 1990-1991, Cộng
sản Hà Nội và Phật giáo VNTN đă phối hợp t́m
phương án ẩn nấp và tồn
tại trong trường hợp chế độ Cộng
sản bị lật đổ như ở Rumani. Nhân dân và
cả công an đă phẫn nộ đi
t́m vợ chồng tên Tổng Bí Thư Ceaucescu và nhiều
cán bộ cao cấp khác để giết tại chỗ. V́ bất ngờ, bọn này không có
đường chạy trốn và không biết chạy
đi đâu nên đă bị đám đông cuồng nộ
giết chết hết. Một số lớn công an,
cán bộ Cộng sản cũng hùa theo
nhân dân để t́m giết lănh đạo Cộng sản.
Lănh đạo
Cộng sản Hà Nội đă bàn tính với Thích Trí Quang và
đầu năo GHPGVNTN chuẩn bị chạy trốn trong
các chùa.
Từ tháng 11/1981, GHPGVNTN đă họp đại hội
kỳ 1 để “cải
tạo tiêu diệt” 21 Giáo hội Phật giáo khác và
chiếm đoạt hơn 10,000 chùa chiền (tự
viện) trên toàn quốc, và đă trở thành giáo hội
quốc doanh chính thức của Hà Nội. Để
chuẩn bị đối phó với nhân dân nổi
loạn, các chùa cần phải dự trử lương
thực, vàng bạc, đôla và kể cả máy vi tính, máy in, truyền tin, điện
thoại. Khi có biến loạn các cán bộ cao cấp
sẽ chạy trốn trong các chùa. Chúng sẽ
cạo đầu xuống tóc giả làm sư. Chúng
sẽ đứng nhởn nhơ ngay trước chùa
để xem đám đông cuồng nộ đang đi t́m
giết những tên Cộng sản và công an
cấp nhỏ địa phương.
Với tư cách “tăng ni” Phật giáo, bọn sư giả
hiệu này sẽ mau chóng ra “lănh
đạo” nhân dân nổi dậy để làm một
cuộc “cách mạng”
chống Cộng ! Lúc này không có lănh đạo nào khác
nắm các đám đông ngoài các tăng ni
GHPGVNTN! Không ai, trừ người Mỹ có thể ngờ
rằng chính cán bộ Cộng sản làm cách mạng tiêu
diệt Cộng sản để xóa tên Cộng sản!
Cuộc cách mạng “Phật giáo” này thành công th́ GHPGVNTN cũng xóa luôn
được tên “quốc doanh” và được đi vào
lịch sử là đă tiêu diệt được Cộng
sản v́ vậy mà tội ác cuộc thảm sát Tết
Mậu Thân vẫn được che đậy để
duy tŕ hệ thống chùa chiền quốc doanh do sư công
an GHPGVNTN quản lư. Mọi người
đều ngậm miệng và không ai nói ra thủ phạm.
Sau khi thỏa thuận dùng PGVNTN và chùa
chiền làm một thứ cách mạng kiểu mới hay là
đảo chánh giả, Cộng sản Hà Nội và tăng ni quốc doanh và GHPGVNTN ra nhiều
phương án khác nhau để tùy cơ, tùy thời hành
động.
Một phương án là cho Thích Huệ
Đăng (Nguyễn Ngọc Đạt) chuẩn bị
biểu t́nh với khoảng 200,000 người để
làm cách mạng, đảo chánh giả bất cứ lúc nào,
khi ḷng dân phẩn nộ lên cao và xuống đường,
biểu t́nh, bạo động, nổi loạn. Vào năm 1990-1991, Cộng sản Hà Nội
tưởng rằng sẽ có ṭa Đại Sứ Mỹ
tại Hà Nội rất sớm. Thích
Huệ Đăng sẽ cho biểu t́nh ngay trước ṭa
Đại sứ Mỹ để biểu diễn làm
"cách mạng" như ở Đông Âu. Nhưng v́
Hoa Kỳ chậm trễ gởi đại sứ Mỹ
đến Hà Nội nên phương án
này không được xử dụng. V́ tin đồn
lộ liễu ra đến ngoài nên Thích Huệ Đăng
phải bị bắt “giả” và bỏ tù giả
để làm ăng ten ḍ tin những tù nhân chống
Cộng khác và được tiếng là sư tăng
GHPGVNTN chống chính phủ.
Một phương án
khác là cho cán bộ cầm đầu Đại Học
Vạn Hạnh, ta gọi “băng
Vạn Hạnh”, ra mở màn diễn đàn tự do, tù
nhân lương tâm nhân quyền Cộng sản với các
sư Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí
Siêu, Phó viện trưởng Đoàn Viết Hoạt.
Phương án này có nhiều mục
đích gây tiếng vang với hải ngoại là có
“chống đối” ngay trong nước. Che
khuất cuộc tranh đấu "một ḿnh"
của bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Tiếng Anh
gọi thủ đoạn này là “ăn cắp ánh đèn sân khấu” (to steal the limelight)
của bác sĩ Quế.
Cũng cùng
“ăn cắp” luôn cả sự tranh đấu chống
Cộng thầm lặng của toàn dân Việt Nam bằng
cách làm cho quốc tế và mọi người hải
ngoại chỉ chú ư tới chúng, mà quên hẳn dân tộc
Việt Nam, quên hẳn sự cai trị tàn ác của
Cộng sản tại Việt Nam.
Bộ máy tuyên vận Cộng sản
cố gắng tạo tên tuổi và nổi danh tại
hải ngoại cho các cán bộ tăng ni,
giáo sư Vạn Hạnh mà từ trước tới nay
chưa ai biết tên tuổi. Chúng tính thu hút quần chúng
hải ngoại và đưa những tên tuổi này lên thành
“lănh tụ” người hải ngoại cho mục đích
ḥa giải ḥa hợp với Cộng sản, đ̣i
Cộng sản phải dân chủ hóa, phải giải
thể nhằm mục đích
xóa bỏ mọi mưu toan dùng vũ lực tiêu diệt
Cộng sản Hà Nội. Luận điêu tuyên truyền tung ra hải ngoại là vấn đề
dùng vũ lực chiến tranh chống Cộng đă
lỗi thời, không được Hoa Kỳ và quốc
tế hưởng ứng. Vậy chỉ c̣n cách duy
nhất là tranh đấu ḥa b́nh và t́m cách sống chung với Cộng sản trong tinh thần
dân chủ đa nguyên, với diễn tiến ḥa b́nh và hy
vọng Cộng sản sẽ thay đổi, đổi
mới.
Bộ máy tuyên vận
Cộng sản và quốc doanh hải ngoại hoạt
động rất uyển chuyển. Chúng
đe dọa rằng chúng mạnh và được
người Mỹ ủng hộ, trước sau ǵ th́
cũng nắm chính quyền. Chúng gây “uy tín” với khủng bố đe dọa ngầm
làm cho các trí thức hay chính trị gia hải ngoại, và
các tôn giáo khác, kể cả
Công giáo, phải hùa theo chúng và liên minh, liên hiệp
với chúng.
V́ không thể đoán trước
được thời thế sẽ biến chuyển ra
sao, và v́ không hề có sự ủng hộ của
người Mỹ, nên bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN
và bộ máy tuyên vận Cộng sản hải ngoại
rất lo âu ví chúng không có bước đi rơ rệt. Chúng không biết ai
sẽ làm lănh tụ quốc gia tiêu diệt Cộng sản? Chúng không biết những
ẩn số chính trị của người Mỹ. Chúng
không bao giờ được tiếp xúc với quyền
lực Hoa Kỳ. Chúng quá ngu dốt
thấp kém nên không thể hiểu nổi các tính toán siêu
chiến lược và hoạt động, hành động
hay nước cờ mà người Mỹ sẽ đi
trong tương lai. Chúng không dám hoạt
động Cộng sản công khai hay lộ liễu v́ tuy
người Mỹ công bố bang giao với Cộng
sản Hà Nội nhưng họ vẫn giữ thái độ
lạnh lùng dửng dưng.
Bọn tăng ni
quốc doanh và tuyên vận Cộng sản vẫn gây ấn
tượng với người Mỹ và người
Việt hải ngoại rằng trong nước vẫn có
tự do phát biểu, chống đối và đối
lập với các “tù
lương tâm nhân quyền Cộng sản”. Có chống đối mà nhà nước Cộng
sản vẫn khoan hồng độ lượng. Gây
chú ư quốc tế vào những cán bộ trá h́nh thành tù nhân
nhân quyền và lương tâm Cộng sản mà không nh́n
thấy hàng ngàn trại tù và hàng triệu tù nhân khác.
Chúng gây ấn tượng Việt Nam
không c̣n là một cái nhà tù khổng lồ, và những
người chống đối vẫn được
đối xử tử tế... gây ấn tượng là
Cộng sản đă thay đổi v́ “sợ” bị
lật đổ như ở Đông Âu. Gây
ấn tượng rằng chính Cộng sản cũng
muốn xóa bỏ Cộng sản để thành dân chủ
và có nhân quyền. Tạo bộ mặt cải tổ
và thay đổi thành dân chủ để được
Mỹ công nhận và bang giao. Tạo phương tiện điển
h́nh và lư do cho cán bộ tuyên vận hải ngoại hoạt
động với mục đích lái các hoạt
động chống Cộng sắt máu sang hướng ḥa
giải ḥa hợp, bất bạo động...
Nhưng chúng không
ngờ rằng người Mỹ và quốc tế vô cùng
khôn ngoan.
Họ đóng kịch rất khéo. Họ làm ra vẻ tin tưởng màn kịch
bịp bợm của chúng. Họ ra
vẻ tin tưởng chúng, thân mật với chúng, và lơ
là người quốc gia, lơ là vấn đề
chống Cộng hay tiêu diệt Cộng sản. Nếu nh́n kỹ, ta thấy chính quyền Mỹ
rất ít nói và rất dè dặt. Trái lại, những
“dư luận” mà ta thấy
trên các báo lá cải, báo chùa, báo chợ và đài phát thanh
rẻ tiền th́ chỉ là muối bỏ biển, hay là
tiếng chó tru trong đêm vắng, không có ảnh
hưởng ǵ đến chính trị và chiến
lược của Hoa Kỳ. Chuyện chính trị hay nhân
quyền th́ phải có sức mạnh hay lực
lượng hùng mạnh hậu thuẫn đứng
đàng sau, th́ mới nói. Chính khách Cộng sản
được Hà Nội cho đi chính thức công khai ra
hải ngoại, chỉ có
người không với Mác Cộng Sản to tổ bố,
mà nỏ mồm “đ̣i” nhân quyền nhưng không làm ǵ
cả, th́ đúng là một lũ bịp nhà quê, chỉ
biết bịp bợm theo kiểu ngu dốt, bần
cố nông, chứ ai có thể tin? Sư quốc doanh
Cộng sản Thích Quảng Độ quả xứng
đáng được đề nghị giải Nobel “ḥa
b́nh Cộng sản” v́ nếu có “ḥa b́nh” th́ Cộng sản
Hà Nội mới sống lâu và giáo hội quốc doanh
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mới tồn
tại làm “quốc giáo Cộng sản”! Tội nghiệp cho giáo hội
Công Giáo trong Hội Đồng Liên Tôn, đóng vai chầu
ŕa mà chẳng ăn thua ǵ! Cộng sản sống th́ chỉ
có GHPGVNTN quốc doanh được “ăn
có”. Khi Cộng sản bị tiêu diệt th́ giáo hội Công
Giáo lại mang tội cấu kết, bang giao, hợp tác
với Cộng sản!
Phải chăng Giáo hội Công Giáo
đă hết thời nên mới làm chính trị lối ngu xuẩn như vậy? Phải chăng
giáo hội Công giáo c̣n thích thú cái thời kỳ “đoàn
kết” với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Quốc Doanh những năm 1964, 1965, 1966 để
đánh phá các chính quyền quốc gia và để báo thù cho
Tổng Thống Công giáo Ngô đ́nh Diệm? Phải
chăng Giáo Hội Công Giáo lúc nào cũng phải cấu
kết với bạo quyền, bất cứ bạo
quyền nào, từ thực dân đến Cộng sản,
để dựa thế lực và tiếp tục bành
trướng giáo hội?
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
đă hăng hái về
Chúng tôi xin nhắc lại cho linh
mục Lễ rằng tinh thần chống Cộng của
dân tộc Việt đă trở thành một thứ
truyền thống chung của toàn thể dân tộc
Việt Nam, không phải nhờ đến giáo hội
của ông “dậy bảo”.
Mấy triệu người vượt biên,
vượt biển đi hải ngoại là do động
lực tinh thần chống Cộng thúc đẩy họ,
không phải do giáo hội Công Giáo hay Phật giáo quốc
doanh. Chúng tôi cũng xin nhắc cho linh mục Lễ nên
biết phân biệt tôn giáo
thiêng liêng cao cả với các vị Chân Sư siêu phàm, hoàn
toàn khác với các giáo hội ma mănh, tham lam, ngu dốt, do
những người lănh đạo phàm tục tổ
chức, và chỉ thích cấu kết với các bạo
quyền.
Chúng tôi xin
nhắc cho linh mục Lễ biết rằng chính giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Công Giáo
quốc doanh đang cấu kết với Cộng sản,
đă trở thành các tổ chức ngoại vi Cộng
sản trong Mặt Trận Tổ Quốc. Linh mục Lễ và giáo hội
Công Giáo không nên bắt cá ba bốn tay, vừa “tự do tôn
giáo” làm giáo hội quốc doanh Cộng sản, vừa
muốn bang giao bắt tay với chế độ Cộng
sản lại vừa muốn khoe rằng nhân dân nổi
dậy là do “sự hỗ trợ của tôn giáo”! Cuộc
nổi dậy ở Thái B́nh và khu Tư từ năm 1997
đến nay hoàn toàn do nhân dân
tự phát, không có bất cứ giáo hội nào nhúng tay vào!
Chúng tôi
không quên năm 1975, chính Ṭa Tổng Giám Mục Saigon, do
mệnh lệnh từ Vatican, đă niêm yết cấm giáo
dân di tản, giáo dân ở đâu ở đó, để làm
sức mạnh hậu thuẫn chính trị cho Giáo hội
Công Giáo.
Linh mục Lễ không thông minh chút nào
khi “ngài” chỉ lo ngồi ở bên Mỹ, thúc đẩy
đấu tranh “ma” ở trong nước, trong khi mặc
nhiên công nhận sự tồn tại hiện hữu
của chế độ Cộng sản và sự bang giao
vui vẻ với giáo hội Công giáo Vatican, giáo hội
Mẹ của “ngài”.
Chúng tôi khẳng
định với linh mục Lễ rằng chúng tôi có
sẵn động lực căm thù Cộng sản và tinh
thần chống Cộng cao độ của cả
nước, cả dân tộc Việt
Chúng tôi nghĩ rằng linh mục
Lễ nên trở về nghề nghiệp linh mục th́
hơn là nhảy ra làm chính trị, tranh đấu cuội,
để dọa dẫm áp lực Cộng sản phải
bang giao với Vatican và cho phép Giáo Hoàng đến thăm
Việt Nam. Cộng sản đă hi vọng và vẫn c̣n hi
vọng rằng Hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ, có
lệnh từ Vatican, đang vận động ráo riết
với chính quyền Hoa Kỳ để kư kết hiệp
ước này nọ với Hà Nội.
Tháng 7 năm 1999, tổng giám
mục Phạm Minh Mẫn đă được Cộng
sản cho phép “tự do” đi Hoa Kỳ để nói
với Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ vận động chính
quyền Mỹ kư kết hiệp ước Thương
Mại và do đó cứu sống Cộng sản Hà Nội.
May cho dân tộc Việt
Linh mục Lễ nên
hiểu rằng giáo hội
Tổng Cục
Phản Gián và bọn c̣ mồi quốc doanh không ngờ
rằng “đề nghị giải Nobel Ḥa B́nh” chỉ là
đề nghị bánh vẽ. Thích Quảng Độ và Đoàn viết Hoạt
“chưa bao giờ” được coi là chính khách chính
trị gia có tầm vóc quốc tế và đại diện
chính trị của dân tộc Việt
Không ai coi
Thích Quảng Độ là Mandela của Việt Nam. Quảng Độ
và bọn c̣ mồi quốc doanh đă nhầm khi chỉ chú
trọng “đ̣i” tự do tôn giáo, đ̣i nhân quyền, nhưng không bao giờ đ̣i dẹp bỏ
chế độ và nhân sự Cộng sản. Ông Nelson Mandela th́ khác. Ông Mandela không đ̣i
tự do, nhân quyền hay đ̣i
người Da Trắng phải bỏ kỳ thị. Ông
Mandela thẳng thừng đ̣i người Da Trắng
phải trao trả chủ
quyền “hoàn toàn” cho người bản xứ da đen
để tránh sự tàn sát.
Ông Mandela đang ở “tù thật” và
được chính quyền Mỹ vận động
mạnh mẽ “buộc”
chính quyền da trắng Nam Phi phải cho ông ra khỏi tù.
Sau đó hăng Coca Cola chi 16 triệu đôla cho cựu tù
Mandela sang Mỹ “bán chính thức”. Tại Mỹ, ông Mandela
được đón tiếp như quốc khách,
được ra trước Lưỡng Viện Quốc
Hội Mỹ trong sự hoan nghênh nồng nhiệt. Khi trở về Nam Phi, chính quyền Da Trắng
sửa soạn tổng tuyển cử và ông Mandela
đương nhiên đắc cử Tổng Thống và
tổ chức chính quyền Da Đen thay thế.
Người da trắng mừng v́ tránh được
chiến tranh đổ máu và cuộc tàn sát khủng
khiếp. Tài sản và sinh mạng của
người da trắng được bảo vệ
với quyền lợi đầy đủ.
Ở Việt
Chính quyền Mỹ chưa bao giờ
tỏ thái độ hay cử chỉ công nhận Thích
Quảng Độ hay Đoàn viết Hoạt là những
chính khách, lănh tụ chân chính của dân tộc Việt
Tổng Cục
Phản Gián và Hà Nội đă bị những bài báo chợ
ḷe bịp và tưởng rằng hai tên cán bộ c̣ mồi
quốc doanh này đă thành công chính trị hải
ngoại. Nếu Thích Quảng
Độ, Đoàn Viết Hoạt,
Thích Tuệ Sỹ và toàn
băng Mafia GHPGVNTN Vạn Hạnh c̣n chút liêm sỉ,
biết thân biết nhục, th́ nên câm họng, chui
đầu vào đâu mà trốn, không nên chường
mặt bịp ra nữa.
Có bao giờ ta thấy Thích Quảng
Độ, Đoàn viết Hoạt, báo Người
Việt, Việt Báo Kinh Tế, Mạng Lưới Nhân
Quyền, Hội Đồng Liên Tôn, Kháng Chiến Hoàng
Cơ Minh, Liên Minh Việt Nam Tự Do, và bọn Phong Trào
Tuổi Trẻ “quàng khăn đỏ” Dấn Thân, Hội
Chuyên Gia quốc doanh, Thanh niên quốc doanh Phan Bội Châu...
nói năng ǵ đến “độc lập tự do cho
quốc gia, dân tộc” và
vấn đề cần phải tiêu diệt Cộng
sản? Chúng chỉ đ̣i
tự do... tôn giáo và ḥa b́nh sống chung, để cứu
sống chế độ Cộng sản.
Người Việt
quốc gia không có báo, không có đài phát thanh, và đứng
trong bóng tối. Như vậy rất dễ nh́n rơ ràng mặt mũi
bọn tăng ni, giáo hội quốc
doanh và chó săn c̣ mồi, tay sai Cộng sản. Cộng
sản nuôi bọn ăn hại này th́ làm
nên tṛ trống ǵ? Cộng sản tin tưởng những tṛ bịp
bợm của bọn này th́ sẽ chết không có chỗ
chôn. Cộng sản hi vọng sẽ trốn vào trong
chùa th́ chính các chùa sẽ là tử địa, sẽ là
nơi chúng bị tàn sát để được tắm
trong máu của chúng.
Cần
phải dùng chiến tranh vũ trang lật ngược
thế cờ ở Việt Nam hiện nay và tiêu diệt
Cộng sản và đồng bọn chó săn c̣ mồi
quốc doanh, để mang lại độc lập,
tự do và sự trường tồn cho tổ quốc dân
tộc Việt
Nói thật với các
đồng chí tăng ni quốc doanh GHPGVNTN và các
đồng chí c̣ mồi nhân quyền, c̣ mồi chê
Đảng, c̣ mồi phê Đảng để xây dựng
Đảng, và bọn văn nô bồi bút báo chùa, báo chợ
quốc doanh rằng chúng tôi đă treo sẵn án tử h́nh
trên đầu các đồng chí! Đảng
viên Cộng sản cầm thẻ đảng th́ có thể
tha. Nhưng các đồng chí quá nguy hiểm, quá gian
ngoan, tráo trở, giảo quyệt và vô cùng thâm độc,
tàn ác, th́ bắt buộc chúng tôi phải hạ sát lệnh
tiêu diệt các đồng chí. Các đồng
chí có thể hi sinh v́ đảng Cộng sản và sẽ
thành liệt sĩ Cộng sản. Lệnh truy nă
sẽ theo đuổi truy diệt các
đồng chí đến cùng, cho đến khi nào các
đồng chí chết mới thôi.
Dân tộc Việt Nam cần phải tiêu diệt các
đồng chí, và đó là một cái giá quá rẻ để
được sống trong ḥa b́nh, ổn định.
Sự đời “Cùng tất biến, biến
tất thông!” Việt
Người Mỹ có bổn phận phải giúp
Việt
8. Sư quốc doanh Thích Quảng
Độ và những thủ đoạn dùng c̣ mồi
của Cộng sản.
Vào năm 1999, song song với chiều
hướng chính trị có vẻ thuận lợi cho
Cộng sản Hà Nội – kư hiệp ước
thương mại với Hoa Kỳ – bọn c̣ mồi nhân
quyền, các tổ chức và nhân sự chính trị, kháng
chiến ma mănh, các tổ chức “liên tôn ma giáo”, tăng ni
quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang đều nín khe, không dám lên
tiếng chống đối cuộc kư kết hiệp
ước thương mại được ấn
định vào đầu tháng 9/1999. Bọn
này công khai ra mặt “không” chống Cộng.
Tin ngày
Trong cuộc nói
chuyện qua điện thoại, Ḥa thượng cho
biết là vừa phải vào bệnh viện rửa
ruột, trong khi bệnh tiểu đường vẫn
hành hạ và gây nhiều biến chứng trong
đường tiêu hóa. Ḥa thượng cho
biết bây giờ đi lại rất khó khăn v́ chân
yếu đi.
Đặc biệt, Ḥa thượng
kể rằng vào đêm 13/8, lúc
Ḥa thượng
Quảng Độ cho rằng “người
ta bắt tôi trong đêm để không ai biết. Không biết rồi họ sẽ làm ǵ
đây? Tôi chờ đợi.” Trong cuộc nói chuyện này, Ḥa thượng tỏ
ra vui vẻ, nói đùa rất nhiều trong cuộc nói
chuyện.
Ta thấy ngay cái tṛ hề bịp
bợm của Thích Quảng Độ. Công an
Cộng sản nào dám bắt sư quốc doanh nhà
nước? Để đến khi nhân dân Việt
Đảng Cộng sản
thường xử dụng cán bộ c̣ mồi ra vẻ
chống đảng và phê b́nh đảng Cộng sản,
để lôi cuốn những đảng viên khác nói theo và chống theo. Những đảng viên
mắc mưu c̣ mồi lên tiếng hùa theo
chửi đảng hay phê đảng đều bị
bắt giết, thủ tiêu v́ tội phản đảng. Cộng sản gọi đó là
thanh lọc đội ngũ cán bộ
đảng viên. Thanh trừng nội bộ là
truyền thống đặc biệt của Cộng
sản. Khi Cộng
sản ngả theo Liên Xô th́ cán bộ
loại thân Trung Cộng bị gạt sang một bên,
hoặc giết hoặc cho về hưu. Khi đảng
Cộng sản manh nha theo Mỹ th́ chính đảng
Cộng sản tung c̣ mồi để bắt giết
những cán bộ đảng viên tỏ vẻ thân Mỹ
và nh́n đâu cũng thấy CIA, nên sự thanh trừng
đảng viên manh nha khen Mỹ hay thích Mỹ đă
trở thành sự cần thiết phải có.
Biết đảng viên miền Nam
bất măn với đảng và quen lối làm giàu, thích
Mỹ, nên đảng Cộng sản đă ra lệnh cho
Nguyễn Hộ và Trần văn Trà lập ra “Câu Lạc
Bộ những người Kháng Chiến Cũ” ở
miền Nam vào những năm 1985, 1986. Kết quả có khoảng 15,000 đảng viên miền
Nam loại ṇng cốt, công lao nhiều, nhưng dám lên
tiếng chống đối Cộng sản Bắc Kỳ,
đều đă bị giết hoặc thủ tiêu.
Sau đó năm 1988, Bùi Minh Quốc,
Đỗ Trung Hiếu, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn
Hữu Loan đă làm một chuyến đi dài từ Nam ra
Bắc để làm c̣ mồi chống đảng. Kết
quả, con đường máu của bọn c̣ mồi này đă đầy xác chết
của khoảng 10,000 đảng viên! Từ 1977
đến 1984, tại miền Nam đă có nhiều cuộc
đảo chánh “c̣ mồi” và đă có nhiều đảng
viên loại cao cấp bị mang ra Bắc để
hỏi tội, kể tội rồi thủ tiêu luôn.
Khi một người bị Cộng
sản bắt t́nh nghi tội chống đảng hay
phản đảng, th́ không phải chỉ có một
người bị giết. Nhà cửa họ bị
tịch thu và vợ con bị
đuổi ra ngoài đường. Họ sẽ bị tra
tấn đến mức phải khai những người
khác, người thân, bạn bè, họ hàng. Và
những người này cũng bị bắt, gia đ́nh
họ phải tan nát. Và cứ tiếp
tục như thế. Thành thử khi một
người bị bắt th́ có thể xảy ra bị
bắt dây chuyền với hàng ngàn người bị
bắt theo và hàng ngàn gia đ́nh, con cái,
trẻ nhỏ đều bị giam tù hay giết chết
trong sự âm thầm, vô danh. Không bao giờ có
tin tức nào lọt ra ngoài.
Nếu hiểu thế nào là Cộng
sản công an trị với hàng ngàn trại tù và hàng
triệu tù nhân, không bao giờ được xử án, hay
thời hạn bị giam tù, th́ ta hiểu ngay những tên
sư quốc doanh và cán bộ được nhà
nước Cộng sản tung ra hải ngoại, với
tiếng tăm bị xử án, bị tù mà không ở tù, bị xử
tử h́nh mà không chết, gia đ́nh vợ con
được Nhà Nước Cộng sản cho đi
Mỹ để tiếp tục viết lách, hoạt
động, tuyên truyền khéo cho chế độ Cộng
sản... đều chỉ là những nhân vật trong
một màn kịch nhân
quyền bịp bợm do chính Cộng sản dựng lên.
Cộng sản tung c̣ mồi ra hải
ngoại với mục đích xóa sự căm thù Cộng
sản, ḍ t́m và vô hiệu hóa các âm mưu kế hoạch
hoặc cá nhân chống Cộng được người
Mỹ ủng hộ, lái hướng chống Cộng và ư
chí tiêu diệt Cộng sản sang hướng ḥa giải
ḥa hợp bất bạo động, hô hào “xin” Cộng sản ban cho nhân quyền, dân
chủ... Chúng bắt tay với bọn
chó săn hải ngoại do kháng
chiến mafia làm hậu thuẫn với sự công khai hóa
bắt tay với Cộng sản dưới chiêu bài liên
kết, nối kết “trong
ngoài”. Gần đây nhất, bọn c̣ mồi luôn luôn hô
hào rằng “Cộng sản phải giải thể” và “tranh đấu nhân quyền, dân
chủ cho Việt Nam”.
Bọn c̣ mồi đă lộ mặt
bịp bợm một cách ngu dốt, nhà
quê khi mọi người Việt hải ngoại
đều nh́n thấy rơ ràng rằng không ai có thể
bắt đảng Cộng sản phải giải thể.
Và nếu có nhân quyền dân chủ th́ cũng chỉ là nhân
quyền dân chủ theo kiểu Cộng
sản công an trị. Mọi người đều hiểu rằng
nếu Cộng sản “cho” nhân quyền, dân chủ thật
sự th́ Cộng sản đă tự hủy diệt.
Từ năm 1992 cho đến 1998...,
ta thấy những tên tù nhân lương tâm và nhân quyền
Cộng sản được báo đảng, đài
đảng, báo chùa, báo chợ hải ngoại đánh bóng, đề
cao... Hầu hết các báo chùa, báo chợ, báo đảng,
đài đảng, kể cả đài Á Châu Tự Do với các nhân vật “không quốc gia” như
Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại, Nguyễn
Khanh, Đinh Quang Anh Thái..., đều không có một
tiếng nói chống Cộng. Tất cả chỉ xoay quanh
vấn đề phỏng vấn và đăng bài những
tên có mồi nhân quyền dân chủ, và đồng thời
mặc nhiên công nhận sự hiện hữu của
chế độ và đảng Cộng sản. Ta cũng
thấy rằng năm 1998, cán bộ Cộng sản
hải ngoại được chỉ thị cố
gắng công khai với người hải ngoại. Vũ B́nh Nghi ở
Người Việt hải ngoại
đă lạnh lùng thờ ơ v́ tự nhiên trong thâm tâm
họ, chẳng ai có cảm t́nh và tin được một
lũ cán bộ Cộng sản và những tên đón gió
trở cờ rất ngu ngốc, nhà quê, mà lại cứ lên
mặt ta đây trí thức, khoe bằng cấp và muốn
làm lănh tụ! Những tên Cộng sản ra
hải ngoại đóng kịch đ̣i nhân quyền dân
chủ vào giờ thứ 25 th́ làm sao cứu được
chế độ Cộng sản?
Người Mỹ
tỏ vẻ ủng hộ, hỗ trợ cho bọn c̣
mồi Cộng sản này. Chắc chắn
người Mỹ phải biết chúng là Cộng sản
và hoạt động cho Cộng sản. Nhưng tại sao người Mỹ lại
để yên cho chúng hoạt động? Tại sao người Mỹ tỏ vẻ lơ
là với công cuộc chống Cộng? Tại sao
lại chỉ có những tố chức chống Cộng
“ma”, kháng chiến “ma”, chính phủ “ma” để cho Cộng
sản yên tâm rằng hải ngoại không có bất cứ
hoạt động chống Cộng sản hữu
hiệu nào? Nếu t́m hiểu sâu xa, ta thấy rằng
một vài cá nhân hay tổ chức, thân cộng hay chống
Cộng, dù có vỗ ngực xưng danh cũng chẳng
làm nên tṛ trống ǵ. Chống
Cộng và tiêu diệt Cộng sản là một vấn
đề chiến lược quốc gia và siêu quốc
gia, quân sự và siêu quân sự. Hầu hết các chiến lược gia trên thế
giới đều không nghĩ ra hay đoán ra cái thế
chiến lược bí hiểm này!
Một phương án
khác là sửa soạn cho GHPGVNTN thay thế đảng
Cộng sản và dùng lư thuyết Phật giáo thay thế lư
thuyết Cộng sản. Kế hoạch này
sẽ cứu sống nhân sự Cộng sản. Nếu tồn tại, những nhân sự Cộng
sản này sẽ hoạt động đánh phá các chính
quyền quốc gia cho đến khi cướp lại
được chính quyền. Trong trường
hợp người Mỹ ủng hộ GHPGVNTN làm
đối lập chính trị với Cộng sản theo kiểu dân chủ đa nguyên trong
diễn biến ḥa b́nh, th́ GHPGVNTN và nhân sự lănh
đạo Cộng sản vẫn nắm chính quyền,
chỉ thay thế cái tên Cộng sản.
GHPGVNTN vẫn gắn
bó với Cộng sản như một tổ chức
ngoại vi hàng đầu từ mấy
chục năm qua, th́ làm sao mà người Mỹ hay
người ngoài có thể tin? Lại c̣n cái tên “quốc
doanh” do nhân dân Việt đặt tên từ năm 1975, th́
làm sao xóa bỏ?
Từ năm 1992, Tăng Thống
quốc doanh Thích Huyền Quang và tổng bí thư GHPGVNTN Thích Quảng
Độ kư tên và Cục Phản Gián gửi nhiều
bản điện thư tranh đấu ra hải
ngoại. Tiền gởi hàng chục ngàn trang giấy
điện thư đi khắp báo chí,
đài phát thanh trên thế giới từ năm 1990, có
thể đă tốn hàng triệu đôla. Ta có thể
hiểu ngay là chỉ có Tổng Cục Phản Gián mới
có thể đài thọ chiến dịch “điện thư” tranh đấu cuội này.
Trong khi đó th́ Huyền Quang vẫn
nói rằng bị “quản chế” tại chùa, với công an vây bọc 3 ṿng trong ngoài! Hỏi ra th́ “ngài”
Tăng thống quốc doanh Thích Huyền Quang của
GHPGVNTN làm Ủy viên Chủ tịch, Chủ tịch đoàn
Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc kiêm
đại biểu Quốc Hội Cộng sản, kiêm
Ủy viên Trung Ương Đảng... vẫn
ở trong chùa Hội Phước lộng lẫy nguy nga
nhất tỉnh Quảng Ngăi. “Ngài” Tăng Thống quốc
doanh Thích Huyền Quang được cả một
đại đội công an bảo vệ rất kỹ
càng, ṿng trong ṿng ngoài, đi đâu có xe ô
tô đưa đón, chứ không có bao vây ǵ ráo!
Sau loạt bài Hoa Sen
Đỏ lột trần mặt nạ sư quốc doanh,
Thích Huyền Quang từ bỏ Tăng Thống mà dùng
chữ xử lư thường vụ Viện Tăng
Thống (ma). Danh từ Tăng thống cũng khó dịch
sang tiếng Anh trong các bản văn phát ra hải
ngoại. Nếu dịch là Monk President th́ nghe nó kệch
cỡm, đầy vẻ cao ngạo, ngu
xuẩn. Làm sư th́ làm sư, chứ sao lại là “Tổng
Thống Sư”? Người nghe có thể mỉa mai là
“Monkey President”! Huyền Quang cũng đóng
kịch bị quản chế ở chùa khác. Thật
ra th́ mỗi khi có khách nước ngoài đến thăm,
như trường hợp trước đây Phó Tham
Vụ ṭa đại sứ Mỹ David Young đến
phỏng vấn đầu tháng 12/1999, th́ Huyền Quang
tạm ra ngoài ở một cái chùa nhỏ hơn với công
an bảo vệ, để tiện tiếp khách.
Trong bản kiến nghị 9
điểm đề ngày 25/6/1992, Thích Huyền Quang đă
vong bản phản bội tổ tiên Hồng Lạc
tới mức khoe rằng 80% dân chúng cả nước hay
là 56 triệu người (1992) kể cả đàn bà và
trẻ con mới đẻ đều là phật tử,
con Phật, ngụ ư gần hết cả nước
Việt Nam là “con dân” của GHPGVNTN. Thích Huyền Quang
cũng vong bản khi khoe rằng GHPGVNTN của y có công “mở nước, dựng
nước” trong hai ngàn năm qua! Năm 1997, Đinh Văn Thanh tức Thích Giác Lượng c̣n khoe
rằng 90% dân chúng Việt Nam (72 triệu người) là
Phật tử!
Phải chăng Thích Huyền Quang và
tập thể tăng ni GHPGVNTN đă vong bản tới
mức quên rằng dân tộc Việt Nam là con Hồng, cháu
Lạc và tổ tiên người Việt từ đời
Hồng Bàng đă mở nước, dựng nước
từ 5 ngàn năm trước? GHPGVNTN mới thành lập
tại chùa Xá Lợi ngày
Huyền Quang và
Quảng Độ cùng rêu rao là Nhà Nước đă
giải tán GHPGVNTN và bắt buộc phải cải tạo
thành Giáo hội Nhà nước tức là giáo hội quốc
doanh.
Thật ra th́ GHPGVNTN vẫn nguyên vẹn là một công
cụ ngoại vi của Cộng sản, với quy chế
họp đại hội 5 năm 1 lần ngang bằng
với đảng Cộng sản và Mặt Trận Tố
Quốc, không bao giờ thay đổi.
Năm 1995, khi Hoa Kỳ công bố
thiết lập bang giao với Hà Nội, bọn sư
quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và hải ngoại thấy
Cộng sản có vẻ tồn tại vĩnh viễn,
chắc chắn hơn thời điểm năm 1991 và
1992. GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ
thấy không cần phải chia đôi, cách ly với
nửa bên trong nước và chúng gọi là “giáo hội quốc doanh”. Chúng liền tính làm
một màn “thống nhất” hai giáo hội trong và ngoài
nước làm một như cũ. GHPGVNTN hải ngoại
tại Hoa Kỳ đă họp trong 2 ngày 16 và 17/9/1995 tại
chùa Việt Nam do Thích Măn Giác làm chủ chùa, Los Angeles,
California để thống nhất 5 giáo hội Phật
giáo để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất Hải Ngoại.
Trong Tuyên Ngôn Chung có
câu: 3. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải
Ngoại tuyệt đối không kỳ thị đối
với tăng ni, phật tử nào. Giáo
hội luôn luôn thân ái, đoàn kết với tất cả
tăng ni, phật tử như nước với sữa,
như ánh sáng với không gian, cùng nhau chung góp tài lực xây
dựng và phát triển Phật giáo khắp nơi tại
hải ngoại cũng như tại quê nhà.
Và thư
gởi
Chúng tôi “nguyên” là các thành viên trong Hội
Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam, đă cùng
nhau họp mặt thân mật vào các ngày 16 và 17 tháng 9, 1995, tại
Los Angeles, California, Hoa Kỳ, xin kính lời về chấn
an chư tôn đức.
Kính thưa Chư Tôn Đức,
Chúng tôi họp mặt nơi đây
để cùng nhau nghiêm túc trao đổi các tin tức và suy
nghĩ về hiện t́nh con đường đi tới
của Phật Giáo Việt
Kính thưa Chư Tôn Đức,
Để có được một
nền Phật Giáo Việt
Nay
kính
Ḥa Thượng Thích Tâm Châu, Ḥa
Thượng Thích Huyền Vi, Ḥa Thượng Thích Măn Giác,
Ḥa Thượng Thích Thuyền Ấn, Ḥa Thượng Thích
Hộ Giác...
Thế là sau 3 năm phân biệt
rằng giáo hội PGVNTN trong nước là quốc doanh, c̣n
GHPGVNTN hải ngoại không phải là quốc doanh, đă
được chấm dứt bằng sự hợp
nhất, liên kết trong ngoài trở lại như cũ.
Các Ḥa thượng cũng tự xác nhận rằng ḿnh
“nguyên” cựu thành viên trong hội đồng Viện Hóa
Đạo trước 1975, hay là trước khi sang Mỹ
để trà trộn với người tị nạn
Cộng sản và tiếp tục hoạt động
quốc doanh.
Trong tất cả mọi tuyên ngôn, tuyên
cáo, thông bạch, kiến nghị, tâm thư
của tăng ni GHPGVNTN từ năm 1992 đến 1999...,
“không bao giờ” có lập trường chống Cộng
hoặc kể lể tội ác Cộng sản.
Vào năm 1998, th́
GHPGVNTN rơ rệt có thêm hai đầu (three-headed monster)
để hoạt động. Đầu chính là GHPGVNTN đă
bị nhân dân Việt tặng cho cái tên “quốc doanh” (state-owned) ngay từ năm 1975,
ngụ ư giáo hội của nhà nước Cộng sản
tạo dựng lên để hoạt động nằm
vùng cho Cộng sản tại miền Nam. Đầu chính do
Thích Trí Quang cầm đầu với tư cách chính ủy
đảng bộ Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Thích Quảng Độ làm Tổng bí thư
rồi Viện trưởng Viện Hóa Đạo
(1998-1999). Đến cuối năm 1999, Quảng Độ
nhường cho Thích Tuệ Sỹ chức vụ Tổng
bí thư kiêm Viện trưởng
Viện Hóa Đạo.
Đầu phụ thứ nhất là
đảng bộ Vạn Hạnh do Thích Minh Châu cầm
đầu. Đầu này gồm một số nhỏ cán
bộ có học tốt nghiệp ở Mỹ. Bọn này
hănh diện tự nhận là “trí
thức” và tự coi là giỏi hơn các cán bộ
Cộng sản dốt nát bần cố nông. Đảng
bộ Vạn Hạnh và Thích Minh Châu đào tạo cán
bộ “trí thức”
để sau này dễ cầm quyền và đủ chữ
nghĩa đối ngoại. Đảng
bộ Vạn Hạnh chủ trương viết lại
lịch sử, biến lịch sử Việt
Đầu phụ thứ hai là tổ
chức Gia Đ́nh Phật Tử. Tổ chức này có
mục đích đoàn ngũ hóa, tẩy
năo và điều khiển tư tưởng các thế
hệ trẻ sau này (xin coi
đoạn sau về Gia Đ́nh Phật Tử).
9. Thành lập Phong Trào, Mặt
Trận, Mạng Lưới c̣ mồi. Thích Huyền Quang,
Thích Thiện Minh, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Tâm và
những tên cư sĩ quốc doanh đi Kyoto năm 1970
để tranh đấu đuổi Mỹ và đón
Cộng sản vào chiếm miền Nam.
Một phương án khác nữa là
thành lập rất nhiều loại Mặt Trận, Liên
Minh, Phong Trào, Mạng lưới Nhân Quyền, Kháng
Chiến Phục Quốc ma, chính phủ (Việt Nam Tự
Do) ma, Liên Quân Kháng Chiến Đông Dương ma, hoàn toàn hữu
danh vô thực, không có lực lượng cụ thể.
Nhưng loại tổ chức ma này có dụng ư “c̣ mồi” để gom những
người có thực tâm kháng chiến, chống Cộng,
những người có tâm huyết v́ nước v́ dân,
kể cả những người ham danh lợi, vào trong
ṿng kiềm tỏa, kiểm soát và chi phối của chúng.
Về phương
diện này, Cộng sản đă thành công một phần
nào trong thời gian đầu. Sau này, những danh từ “kháng chiến chống Cộng”,
“phục quốc”, “chính
phủ ma quốc gia lưu vong” đă trở thành
đồng nghĩa với kháng chiến phở ḅ, phở
tái, Mafia, giết người, ăn cướp, bịp
bợm, lừa gạt, buôn lậu, buôn bán súng lậu, buôn
bán ma túy và băng đảng, ám sát, khủng bố...
Những tên cầm đầu, giật dây các tổ
chức chính trị, kháng chiến, quốc doanh này
đều là cán bộ quốc doanh hoạt động c̣ mồi
cho Cộng sản!
Với chiêu bài kháng chiến và lợi
dụng tinh thần hăng say chống Cộng của
đồng bào hải ngoại vào những năm
đầu thập niên 1980s, bọn kháng chiến ma đă thu được mấy chục triệu
đôla của đồng bào hải ngoại. Với số “vốn” này, bọn kháng chiến ma
đă mau chóng trở thành tổ chức Mafia khổng
lồ như đă nêu trên.
Những phương án khác do Cục
Phản Gián thi hành là tung ra hải ngoại bằng
điện thư những bản văn gọi là phê
đảng sai lầm, đ̣i Đảng phải thay
đổi, phải cởi mở, phải đổi
mới, dân chủ... và kư tên các cán bộ Cộng sản
cấp cao, trung kiên và hưu trí như Nguyễn Hộ,
Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự,
Bảy Liếm, Lữ Phương, Hoàng Tiến, Hoàng
Hữu Nhân, Nguyễn Thanh Giang, Phan Đ́nh Diệu... Lư
lịch bọn cán bộ này và ban lănh đạo GHPGVNTN
Ấn Quang đều là cấp cao trong ngành công an, phản
gián.
Một điều rơ rệt là các
bản văn dài đặc đă được gởi
bằng điện thư (fax) ra hải
ngoại rất tốn tiền, có thể đă đến
hàng triệu đôla trong thời gian từ 1990 đến
1998. Người tù hay
đảng viên Cộng sản nào mà được phép và
có tiền gởi bằng điện thư
nhiều như vậy? Cũng phải ghi nhận là báo
Người Việt ở quận Cam, California, do Đỗ ngọc Yến làm
chủ, đă luôn luôn đăng tải đầu tiên
những bản văn c̣ mồi bịp bợm của
Cộng sản từ trong nước gởi ra bằng
điện thư, không thiếu một chữ hay một
dấu chấm, phẩy. Các báo Thế Kỷ
21 và Văn Hóa cũng cùng một luận điệu
với báo Người Việt.
Việt Báo Kinh Tế
của Trần Dạ Từ và Nhă Ca th́ đặc biệt
đăng tải những bản văn của tăng ni
quốc doanh Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích
Tuệ Sỹ và những bài viết bịa đặt do
Pḥng Thông Tin Phật Giáo của Vơ văn Ái ở Paris tung ra.
Đài phát thanh VNCR do Lê Đ́nh
Điểu làm chủ ở quận Cam và đài Á Châu
Tự Do do Nguyễn Ngọc Bích làm giám đốc phần
Việt ngữ với những phóng viên “quen thuộc”
như Ngô Vương Toại, Nguyễn Khanh, Đinh Quang
Anh Thái, pḥng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế của Vơ
văn Ái tại Ba Lê đă tích cực đến mức
trung thành là luôn luôn phỏng vấn và phát thanh những bài
viết, bài nói do các cán bộ Cộng sản và tăng ni
quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang từ trong nước
đưa ra. (Lê Đ́nh Điểu đă
chết năm 1999.)
Trong khi tưởng tranh đấu
bằng điện thư từ năm 1992 êm xuôi và hầu
như không mấy người biết quá khứ thành tích
Cộng sản của Thích Huyền Quang, th́ như một
cái tát vào mặt sư quốc doanh, báo Văn Nghệ
Tiền Phong số 456 Tất Niên cuối tháng 1/1995 đă
đăng lại bài viết của cố kư giả Lê
Triết có bằng chứng với h́nh ảnh rơ ràng là Thích
Huyền Quang, Tổng bí thư
(1970) GHPGVNTN Ấn Quang, đă cùng với Thích Thiện
Minh , Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Tâm, các cư sĩ
quốc doanh Vĩnh Bữu, Ngô văn Giao đến dự
Hội nghị Tôn giáo và Ḥa b́nh Kyoto ngày 17/10/1970 để
hoạt động cho Cộng sản.
Khi dự Hội nghị Tôn giáo và Ḥa
b́nh
Ngày 17/10/1970, tại Kyoto, Thích Nhất
Hạnh, Thích Huyền Quang, Thích Thiện Minh, Thích Minh Tâm,
Vĩnh Bữu và Ngô văn Giao cũng đưa ra 6
điều kiện và có tính cách “ra lệnh”.
Hai bên ngưng bắn
vào ngày tết Ất Hợi (đầu năm 1971). Mỹ ngưng
mọi cuộc hành quân lùng diệt Việt Cộng,
ngưng ném bom B-52, ngưng thả thuốc khai quang. Phía Viết Cộng mà Thích Nhất Hạnh cung kính
gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời th́ ngưng pháo
kích vào khu đông cư dân.
Liên Hiệp Quốc
cấp thời chỉ định thành lập Ủy
Hội Quốc Tế kiểm soát cuộc đ́nh chiến
gồm có đại diện các nước trung lập và
VNCH và Việt Cộng.
Chính phủ quốc gia VNCH phải phóng
thích tất cả tù nhân chính trị như sinh viên, trí
thức, tu sĩ và tất cả những người
đang bị giam giữ và tranh đấu cho ḥa b́nh tự
chủ cho quốc gia.
Ta không thấy Thích Huyền Quang và
Nhất Hạnh đ̣i Việt Cộng phải thả tù
người quốc gia! Trong thời gian từ 1975
đến 1990 và cho đến ngày nay, có hàng triệu
người quốc gia bị Cộng sản “tù đày học tập cải
tạo” tại miền Nam, ta không bao giờ thấy
bọn tăng ni Cộng sản của GHPGVNTN tranh
đấu đ̣i Cộng sản thả họ!
Từ sau năm 1992, chúng giả bộ
tranh đấu nhưng chỉ đ̣i thả những tên
“tù” giả hiệu vẫn là sư công an GHPGVNTN hoặc “chính trị gia” của băng
Vạn Hạnh như Đoàn Viết Hoạt, Thích
Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu, và
băng Ấn Quang như Thích Huyền Quang. “tù” loại này chỉ
là “tù nói” hay là chỉ
thấy GHPGVNTN “nói rằng”
bị tù, v́ không thể kiểm chứng và không có bằng
chứng ǵ là “tù thật”!
Trái lại có nhiều bằng chứng
cho thấy những người được bộ máy
tuyên truyền Việt Cộng nói là ở “tù”, đă không ở tù thật sự! Hành
động đ̣i thả “tù
giả”, được gọi là “tù nhân lương tâm và nhân quyền Cộng sản”,
thâm độc ở điểm làm cho thế giới, các
hội Nhân quyền người Mỹ chỉ chú ư và
đ̣i tha đám tù giả này mà không chú ư đến hàng
triệu “tù thật” nạn nhân khác đang bị đày
đọa trong hàng ngàn trại tù trên khắp nước
Việt Nam. Khi Cộng sản thả “tù
giả” và cho vài tên đi Mỹ th́ chúng vẫn
được tiếng nhân quyền. Bọn tù
giả này sang Mỹ th́ lại tiếp tục hoạt
động tuyên vận và gián điệp Cộng sản
đánh phá các cộng đồng người Việt
tị nạn Cộng sản tại hải ngoại. Chúng
cố gắng làm tiêu tan mọi nỗ lực và tinh
thần chống Cộng.
Chính Phủ Hoa Kỳ phải ngưng
ủng hộ chính phủ quốc gia (mà bọn sư
hổ mang gọi là) “thối nát, độc tài và bất
lực” tại miền Nam để cho người
Việt tự do chọn lấy một chính quyền có
thể đại diện cho đa số quần chúng, có
căn bản ḥa giải ḥa hợp dân tộc, không liên
kết và đầy đủ khả năng...
a/. Thương thuyết
với Hoa Kỳ rút quân Mỹ.
b/. Thương
thuyết với chính phủ cách mạng lâm thời
(Cộng sản) để tổng tuyển cử tự
do.
Các chính phủ Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung
Cộng và các quốc gia liên hệ khác nên chấm dứt
sự đau khổ của người Việt bằng
cách ủng hộ đề nghị này do chính người
Việt đưa ra.
Các phía lâm chiến tại Việt Nam và
nhân dân yêu chuộng ḥa b́nh trên thế giới, các giáo
hội tôn giáo, các nhà nhân bản kịp thời thúc
đẩy các quốc gia có trách nhiệm về chiến
tranh Việt Nam chấm dứt cuộc chiến tranh
tại Việt Nam, Campuchia và Lào.)
Đă 28
năm qua (1975 –2003) Thích Huyền Quang, Thích Nhất Hạnh
và băng tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang và Vạn Hạnh,
đă hoàn toàn toại nguyện với chính thể “dân chủ Cộng sản”
tại Việt Nam nên không thấy y nói năng tranh
đấu ǵ nữa. Thích Nhất Hạnh đă chuyển
sang “thiền ôm”, “thiền the” để dụ
dỗ một số nhỏ thanh niên tại Pháp và Hoa
Kỳ. Khi Cộng sản lên cao th́ Thích Nhất Hạnh
đặt tên cho cái “làng” của y ở Pháp là “làng Hồng” hơn Chuyên. Khi Cộng sản xuống giá sau năm 1991, th́
Nhất Hạnh đổi tên cái làng của y thành “làng Mai”.
Thật đúng là tḥ ḷ 6 mặt, kỳ nhông đổi màu!
Cuộc tranh
đấu của Thích Huyền Quang và Thích Nhất
Hạnh, Thích Thiện Minh và đồng bọn sư
quốc doanh GHPGVNTN đă hoàn toàn thắng lợi ngày
Bài này viết ra để nhắc cho
Thích Nhất Hạnh, Thích Huyền Quang, Thích Quảng
Độ và đồng bọn GHPGVNTN biết rằng dân
tộc Việt Nam không quên. Những bài viết tố cáo âm
mưu thâm độc của tăng ni GHPGVNTN và Thích Trí
Quang, và những bản điện thư do bọn cán bộ
c̣ mồi tung ra, đă được đăng trên
tạp chí VNTP trong nhiều năm, và đă làm cho chiến
dịch Hoa Sen Đỏ và c̣ mồi, bánh vẽ, quốc
doanh bị thất bại tại hải ngoại. Những danh từ “quốc
doanh, c̣ mồi, bánh vẽ, bịp bợm chính trị”
đă bám chặt vào mọi hoạt động chính trị
và tuyên vận của Cộng sản tại hải
ngoại.
Nhưng Cộng
sản Hà Nội không có sự lựa chọn nào khác. Trong 3
đầu rắn độc, hiện nay Cộng sản
vẫn hi vọng có thể dùng được một
đầu rắn là GHPGVNTN Ấn Quang. Những sơ
hở, ấu trĩ chính trị và tâm lư hải ngoại, và
lỗi lầm trong chiến dịch Hoa Sen Đỏ và tuyên
vận quốc doanh, c̣ mồi bánh vẽ của cán bộ
Cục Phản Gián đă làm cho Cộng sản thất
bại thê thảm và mất nhiều năm tháng công toi, vô
ích. Người hải ngoại vẫn thờ ơ v́
chẳng ai biết mặt những tên sư quốc doanh và
cán bộ tù nhân lương tâm và nhân quyền Cộng
sản, th́ làm sao hưởng ứng? Có muốn
hưởng ứng cũng khó v́ người hải
ngoại không có mặt trong bất cứ đoàn thể
chính trị c̣ mồi nào do cán bộ Cộng sản tổ
chức, cầm đầu hay giật dây!
10. GHPGVNTN Âm mưu viết lại và
bóp méo lịch sử Việt
Thích Trí Quang,Thích
Quảng Độ và tăng ni Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất
Ấn Quang tưởng rằng sẽ thành công (1975) và
Cộng sản sẽ vĩnh viễn. Tháng 11/1981,
GHPGVNTN tổ chức đại hội kỳ I để
cải tạo hay là tiêu diệt 21 giáo hội khác để
cướp gọn hơn 10 ngàn chùa chiền toàn quốc.
Nhưng bọn tăng ni GHPGVNTN không
ngờ rằng Cộng sản Liên Xô có ngày sụp
đổ và bản thân Cộng sản Hà Nội có ngày
phải chạy theo Mỹ để ăn mày ăn xin
đôla.
Từ năm 1992, Thích Trí Quang, GHPGVNTN
Ấn Quang và Cục Phản Gián Hà Nội tổ chức
cho Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ và mấy tên
sư Cộng sản cấp nhỏ khác tổ chức “tranh đấu bịp”
bằng điện thư (fax) gởi ra hải ngoại...
Tuy cán bộ tuyên vận
Cộng sản nắm gần hết các phương
tiện truyền thông, báo chí và đài phát thanh hải
ngoại, những lời lẽ bịp bợm, dối trá
và không có sự thật, đă không mang lại sự
ủng hộ của người hải ngoại. Chúng không thể tạo nên một làn sóng chính
trị nào như ư chúng muốn. Chúng không
thể dập tắt được lửa căm thù
Cộng sản trong ḷng mọi người hải
ngoại. Chúng không thể xóa tên “quốc
doanh” cho GHPGVNTN. Vả lại, không ai biết rơ
mặt mũi của những tên tăng ni
quốc doanh và cán bộ Cộng sản loại kỳ
cựu mấy chục năm tuổi đảng này.
Trong thập niên 1990s, t́nh h́nh chính
trị và chiến lược quốc tế diễn
biến quá nhanh khiến cho các hoạt động tuyên
vận, quốc doanh, c̣ mồi, bịp bợm của
Cộng sản Hà Nội tại hải ngoại trở
thành lỗi thời, trật đường rầy, ngay
khi vừa khởi sự.
Tuy nhiên, Thích Trí Quang và tổng bí thư
GHPGVNTN Ấn Quang hiện nay là Thích Quảng Độ, cùng
với Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ, đều có tham
vọng chuyển đổi lư thuyết Mác Lê Nin sang lư
thuyết Phật giáo Cộng sản. Chúng muốn
đưa cả nước Việt
Tổng bí thư GHPGVNTN
Thích Quảng Độ đă
học tiếng Nga nhiều năm và chuyên nghiên cứu
phương pháp sát nhập lư thuyết Cộng sản Nga
(Lê Nin Nít) ḥa chung với lư thuyết Phật giáo để
trở thành một thứ lư thuyết mà ta có thể
gọi là Phật giáo Cộng sản. Các Phật tử
sẽ thấy lư thuyết này rất êm dịu, xuôi tai,
hấp dẫn, nhưng họ không ngờ là chủ
nghĩa Cộng sản thay h́nh đổi dạng thành
một thứ gọi là “Phật
giáo đổi mới” hay là Phật giáo có tinh thần
Cộng sản. Thích Trí Siêu và Thích Tuệ Sỹ cũng ráo
riết làm việc này với Quảng Độ trong
vấn đề “đổi mới” lư thuyết Phật
giáo và viết lại lịch sử Phật giáo và lịch
sử Việt Nam theo kiểu bóp méo, để kịp
thời thay thế chủ nghĩa Cộng sản.
Ta hăy đọc một đoạn
ngắn trong bài “Đến Sài G̣n từ Thuận
Hóa, Thăng Long và Luy Lâu” (Giao Điểm số 30, Hè 1998)
do Lê Hiếu Liêm viết: “...
Trong suốt 2,000 năm qua, dù Phật giáo lúc nào cũng là
tín ngưỡng của đại đa số nhân dân, lúc
nào cũng là tôn giáo lớn nhất của đất
nước, nhưng chỉ trong những thời thịnh
đạt huy hoàng nhất, Phật giáo mới trở thành
quốc đạo của Việt Nam, đó là trong các
thời Sĩ Nhiếp – với thủ đô Phật giáo
Luy Lâu (Hà Bắc) – đây cũng là thủ đô chính
trị – văn hóa toàn cơi Lĩnh Nam vẫn c̣n là một cơi
chạy dài từ hồ Động Đ́nh, đến
Hoành Sơn – thời Lư Nam Đế, với tên nước
là Vạn Xuân và với chùa Khai Quốc, thời Lư Trần –
thời kinh thành Thăng Long được khai sinh –
bởi một quân vương Phật tử Lư Công Uẩn
và bóng dáng kỳ vĩ của đại sư Vạn
Hạnh, và thời các chúa Nguyễn trong buổi đầu
lập quốc thời thành phố Sài G̣n được
chính thức chào đời...”
Từ nhiều năm qua, Thích Quảng
Độ, Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ được
Cộng sản “nói” là ở tù, và mới
được “thả” ngày 31/8/1998. Khi
được phỏng vấn, những tên sư quốc
doanh này khoe rằng chúng đă “làm việc nghiên cứu”
nhiều năm trong “tù”. Quảng Độ khoe đă hoàn thành bộ Phật
Quang đại tự điển 18,000 trang ở trong “tù”,
và đang tính dịch mấy bộ sách về Phật giáo
(Cộng sản) do mấy tên Cộng sản người
Nga biên soạn. Thích Quảng Độ đă in xong
bộ Phật Quang đại tự điển 18,000 trang
ơ ûTaipei (Đài Bắc ).
Trong kỳ họp thường niên
thứ 53 của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc
tại Geneva ngày 21/3/1997, Vơ văn Ái chủ tịch Pḥng
Thông Tin Phật giáo Quốc Tế (Ấn Quang), kiêm phó
chủ tịch Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế,
cũng là chủ tịch “Hội Bảo Vệ Quyền Làm
Người Việt Nam” ở Paris, nói rằng gần 200
phật tử ở Việt Nam đang “dọa” tự thiêu
v́ Giáo Hội Phật giáo (cũng là GHPGVNTN Ấn Quang) do Nhà
Nước CSVN thành lập, đầu năm nay ngày
13/1/1997, đă giải tán Gia Đ́nh Phật Tử gồm
trên 300,000 thành viên thuộc giới thiếu nhi và nhi
đồng từ 6 tới 18 tuổi, được
tổ chức giống như hướng đạo sinh.
Ông Ái nói rằng biện pháp của CSVN
ban hành ngày 13 tháng Giêng (1997) là một hành động nghiêm
trọng cho chiến dịch hủy diệt Phong Trào Gia
Đ́nh Phật Tử đă hiện hữu ở Việt
Nam trong 50 năm qua, một chiến dịch
được thi hành kể từ năm 1955 bởi cơ
quan đặc trách những vấn đề tôn giáo
của chính phủ Hà Nội.
Ông Ái nói:
“Sự căng thẳng lên tới độ những
người lănh đạo của Gia Đ́nh Phật
Tử cho biết rằng gần 200 phật tử ngỏ
ư muốn tự thiêu để phản đối đàn áp
tôn giáo và việc giải thể tổ chức của
họ.” Ông kêu gọi ủy ban nhân quyền gồm 53
quốc gia hăy khẩn cấp can thiệp để tránh cho
những vụ tự thiêu khỏi xảy ra. (nguyên văn – báo Người Việt ngày
Ta thấy Vơ văn Ái “ăn cướp” diễn đàn nhân quyền ở Liên
Hiệp Quốc của dân tộc Việt
Rồi ta cũng thấy Liên Hiệp
Quốc chẳng cần phải can thiệp. Chẳng có
phật tử nào tự thiêu, Gia Đ́nh Phật Tử
vẫn nguyên vẹn hoạt động Cộng sản
quốc doanh để kềm giữ 300,000 trẻ nhỏ,
thiếu niên, không hề bị giải tán. Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn có
thêm một tên nữa là giáo hội Phật giáo Việt
Ta thấy Vơ văn Ái “không thuộc bài” khi nói tiền hậu bất
nhất. Ái nói rằng Hà Nội có lệnh giải tán Gia
Đ́nh Phật Tử ngày 13/1/1997, nhưng rồi lại
nói rằng chiến dịch (hủy diệt)
được thi hành từ năm 1955, 42 năm qua, mà nó
vẫn lớn mạnh, lại có những 300,000 thành viên và
vẫn c̣n nguyên vẹn, mạnh mẽ đến ngày nay mà
không hề bị giải tán ǵ ráo!
Rút lại không có phật tử nào
tự thiêu! Cũng không hề có chuyện hủy diệt,
đàn áp hay giải tán Gia Đ́nh Phật Tử. GĐPT
vẫn tiếp tục hoạt động công khai là
một tổ chức ngoại vi Cộng sản trong
Mặt Trận Tổ Quốc và trong GHPGVNTN để
nắm giữ thành phần nhi đồng, thiếu nhi tù 6
tuổi trở lên, con cháu các phật tử.
Đây cũng là
một thủ đoạn cho Gia Đ́nh Phật Tử ra
thay thế GHPGVNTN để tránh cái tên “quốc doanh”. Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất
đă bị danh từ “quốc doanh Cộng sản”
bám chặt vào trong mấy chục năm qua, nên đă không
thể hoạt động “chống
Cộng sản giả vờ”. Vơ văn Ái làm “thông tin”
cho GHPGVNTN tại Liên Hiếp Quốc, quốc tế và
hải ngoại để cố gắng đưa Gia
Đ́nh Phật Tử (GĐPT) ra thay thế GHPGVNTN để
hoạt động chính trị hải ngoại trong những
năm 1997 trở đi. Ta thấy năm 1998 đă có
nhiều hoạt động chứng tỏ GĐPT đă
được xử dụng thay thế GHPGVNTN hải
ngoại tại Hoa Kỳ.
“Gia
Đ́nh Phật Tử”, một tổ chức
ngoại vi của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất trong nước và hải ngoại,
được in và bán thật đắt tiền với
giá $50 đôla, phát hành trong năm 1998 để kỷ
niệm 50 năm “tuổi”
của Gia Đ́nh Phật Tử. Trong cuốn sách
người ta không thấy ǵ là đạo lư tôn giáo hay “ích quốc lợi dân”. Chỉ
khoe khoang h́nh ảnh những tên sư hổ mang Cộng
sản như Thích Trí Quang, Thích Minh Châu, Thích Trí Tịnh,
Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu và những tên sư
quốc doanh có thành tích hoạt động đuổi
Mỹ, đánh phá chính quyền quốc gia như Thích
Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ...
Cuốn sách kỷ niệm 50 năm Gia
Đ́nh Phật Tử chẳng nói ǵ đến “gia đ́nh” hay giáo lư Nhà
Phật. Chúng chỉ đề cao gương tự thiêu và
các “thánh” tử đạo,
nhưng không dám nói rơ rằng GHPGVNTN và Gia Đ́nh Phật
Tử đă “đốt người” và khích động
những người trẻ tuổi hăng hái, cuồng
tín tự thiêu, tự tử, nhằm mục đích đánh
phá quốc gia, dân tộc và chính quyền để
rước Cộng sản vào chiếm miền Nam.
Khi phát hành cuốn sách Gia Đ́nh
Phật Tử Việt Nam, lănh đạo Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất “không” giấu
giếm ư đồ muốn tiến tới “đoàn ngũ
hóa” các tầng lớp dân chúng cả nước
dưới chiêu bài “Phật giáo”, thay v́ với chủ
thuyết Cộng sản đă lỗi thời và không
hợp với người Việt Nam.
Vậy ta cần t́m hiểu tại sao
cuốn sách “Gia Đ́nh Phật Tử Việt Nam” nhấn
mạnh đến vấn đề “đoàn ngũ hóa” (regimentation) với các con em, thanh
thiếu nhi phật tử trở thành “đoàn sinh, đoàn viên”? Ta cần t́m hiểu cái ǵ
là “đoàn ngũ hóa”? Tại sao một tổ chức
“Phật tử” lại cần phải đoàn ngũ hóa con
người và thanh thiếu niên?.
Thế giới tư bản ngày trước không bao
giờ nghĩ đến một cách thực tế và
cụ thể những vấn đề như “kiểm soát và điều
khiển tư tưởng” (mind control), “tẩy năo” (brainwash), “đoàn
ngũ hóa, đội ngũ hóa” (regimentation). Những xứ văn minh đều có chủ
trương tôn trọng
tự do tư tưởng, tự do cá nhân và tự do phát
triển tư tưởng, tâm linh và Đức Tin của
mọi người, nhất là thanh thiếu niên.
Do đó không mấy
người hiểu những dụng tâm sâu độc
của những tổ chức, hội đoàn, có vẻ
hiền lành, b́nh thường nhưng có những ẩn ư thâm
độc để xử dụng con người, hay là
các đoàn sinh, đoàn viên, hội viên thành những công
cụ chính trị, bạo động mà chúng gọi là làm
“cách mạng” với tranh đấu, chống đàn áp,
bất công, bạo động, tự thiêu, khuynh đảo,
gây hỗn loạn... cho đến khi các chính quyền các
cấp từ xă ấp, lên đến quận, tỉnh,
quốc gia, đều phải lệ thuộc chúng, vâng
lệnh chúng, hoặc bị chúng đánh đổ. Các
hội đoàn, tổ chức khác và báo chí, truyền thông,
và toàn xă hội... đều bị chúng khủng bố,
dọa dẫm, áp lực, dụ dỗ, bịp bợm...
đều phải hùa theo chúng mà không ai
dám lên tiếng phản đối.
Một thí dụ rơ
rệt nhất là ở hải ngoại, nhất là Hoa
Kỳ, với tự do báo chí, mà hầu như không một
đoàn thể, chính khách, chính trị gia và báo chí, phát thanh
nào “dám” lên tiếng tố giác các tội ác hoạt
động Cộng sản của tăng ni GHPGVNTN từ
1963 đến nay, và các tội ác dâm dục, tham lam,
độc ác của chúng. Ngược lại, nhiều
tờ báo và đài phát thanh chỉ làm những phóng sự có
lợi và đề cao tăng ni Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất, coi chúng như những “lănh
tụ” tôn giáo, những “phật sống”, đạo
đức, đạo mạo, từ bi, với lực
lượng phật tử mạnh mẽ lắm, với
các chùa to lớn, có thể thay thế Cộng sản và
nắm chính quyền trong tương lai. Các báo và đài phát
thanh “thân” và “sợ” GHPGVNTN đă cố t́nh che đậy,
khỏa lấp các tội ác của bọn tăng ni quốc doanh, với mục đích đánh
lừa các thế hệ trẻ, thanh niên hải ngoại.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến,
Hồng quân Liên Xô được Đồng Minh thỏa
thuận cho chiếm đóng Đông Âu để giải
giới quân Đức. Nhưng lợi dụng sức
mạnh, Liên Xô đă ép buộc các quốc gia như Đông
Đức (East Germany) Ba Lan (Poland), Hung Gia Lợi (Hungary), Ru
Ma Ni (Roumania), Albany, Tiệp Khắc (Czechoslovakia)...
đều phải thành lập đảng và chế
độ, chính quyền Cộng sản với công an
trị. Tất cả dân chúng Đông Âu
đều phẫn uất nhưng không thể chống
lại Liên Xô.
Tại Hung Gia Lợi
có một vị Hồng Y (Cardinal) Thiên Chúa Giáo tên là Joseph
Mindszenty đă lên tiếng mạnh mẽ tố giác Cộng
sản.
Ông được sự hậu thuẫn và
ủng hộ nồng nhiệt của toàn thể nhân dân
Hung Gia Lợi và dư luận báo chí quốc tế. Tự nhiên, mọi người thấy ngay sự
tranh chấp một giáo chức tôn giáo cao cấp trực
diện đối đầu với Cộng sản.
Trùm Cộng sản Liên Xô lúc đó là Stalin
hiểu ngay vấn đề. Stalin
thấy cần phải bẻ gẫy Hồng Y Mindszenty xong
th́ tất cả dư luận chống đối sẽ
xẹp xuống ngay.
Khoảng cuối năm 1948, công an
Cộng sản Hung nhào vào nhà thờ và bắt Hồng Y Mindszenty
trước sự ngơ ngác của giáo dân. Không
ai đề pḥng. Không ai nghĩ rằng
Cộng sản có thể làm bất cứ điều ǵ,
thủ đoạn ǵ, mà không phải sợ dư luận,
chửi rủa hay pháp luật. Cộng
sản chỉ có lư lẽ của kẻ mạnh, của
công an, của bạo lực khủng bố, của súng
đạn, tù đày trong các trại tập trung, để
làm khiếp đảm tinh thần, mọi người
phải sợ hăi và im tiếng.
Khi được hỏi vấn
đề chống Cộng ở miền Bắc th́ một
cán bộ đă già, nhiều kinh nghiệm, nói: “Ngay chúng tôi là cán bộ của
nhà nước mà c̣n chịu không nổi, huống hồ là
dân! Nhưng trong một chế độ mà
hai người không dám nói thật với nhau th́ làm sao
chống đối? Mỗi cá nhân chúng tôi đều
hiểu rằng chỉ cần bị nghi ngờ thôi,
cũng đủ bị bắt đi tù cải tạo. Cái
thân ḿnh bị
tù đă đành, nhưng vợ con, gia đ́nh ai lo? Tất
cả mọi người đều sợ v́ bất
cứ lúc nào cũng có thể bị bắt giam tù không
giới hạn, không xử án và hoàn toàn
vô tội. Người ta (Cộng sản) tha
hồ buộc tội ḿnh và bịt miệng không cho căi.
Họ lấy đa số tập thể và sức mạnh
để đè bẹp ḿnh là cá nhân, cô đơn, thiểu
số. Thành thử cái sợ không phải là sợ bị
tù, sợ chết, hay sợ chính quyền hay công an nhà
nước (Cộng sản), mà là sợ gia đ́nh tan nát,
con cái trẻ nhỏ bị đói rét, không nhà, phải
sống đầu đường xó chợ cho đến
khi chết dập vùi đâu đó... !
Thành thử nếu
sơ ư, lỡ mồm miệng, bị nghi ngờ phản
động mà bị tù, bị giết, th́ các nạn nhân có
“tội” với gia đ́nh con cái trước tiên!
Trong chế độ công an trị th́ cả nước là một cái
nhà tù khổng lồ. Nhưng người b́nh thường
hay phật tử th́ bị “tù” trong các tổ chức
“đoàn ngũ hóa” thuộc Mặt Trận Tổ Quốc,
hay là tổ chức ngoại vi Cộng sản. Như Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất , Gia Đ́nh
Phật Tử Việt Nam, Tăng Đoàn Bảo Vệ
Chánh Pháp, Liên Hiệp Phụ Nữ, Việt Kiều Yêu
Nước, Công Giáo Yêu Nước. Các tổ chức
"đoàn ngũ hóa" khác trực thuộc đảng
Cộng sản như Thiếu Nhi Khăn Quàng Đỏ,
Thanh Niên Xung Phong, Hội Văn Nghệ, Hội Nhà Văn,
Tổng Công Đoàn Lao Động, Hiệp Hội Báo Chí, và
rất nhiều các tổ chức phụ thuộc hay
ngoại vi nhỏ hơn đều có ư đồ khép
chặt người dân Việt Nam trong mọi thành
phần, lứa tuổi đều phải nằm trong các
loại "khuôn đoàn ngũ"
do cán bộ Cộng sản cầm đầu, chỉ huy.
Sau một thời gian ngắn bị
giam cầm, đầu năm 1949, Cộng sản Hung Gia
Lợi (Hungary) đưa Hồng Y Mindszenty ra ṭa xử công
khai và mời báo chí quốc tế tham dự. Tại ṭa,
Hồng Y Mindszenty khai rơ ràng ông làm gián điệp cho Hoa
Kỳ! Kết quả, Hồng Y bị ṭa xử 7 năm
tù.
Cả thế giới tự do và Giáo
Hội La Mă bàng hoàng! Không ai hiểu tại sao một
người có tŕnh độ tôn giáo thâm sâu, đă
trưởng thành và nhiều tuổi, với giáo phẩm
cao bậc nhất trong giáo hội, lại có thể bị
Cộng sản “bẻ gẫy”
tinh thần và ư chí nhanh đến như vậy? Nói cách khác, Cộng sản đă “giết” con người tinh thần công giáo và
tư tưởng bất khuất chống Cộng sản
của Hồng Y Mindszenty chỉ trong một thời gian
thật ngắn. Giáo Hoàng vội triệu tập
cuộc họp mật với tất cả Hồng Y
để bàn kế hoạch đối phó với thủ
đoạn tàn bạo “tẩy
năo” và “điều khiển
tư tưởng” của Cộng sản.
Phải đến 7
năm sau, năm 1956, Hồng Y Mindszenty mới măn hạn tù
và được thả. Khi cuộc nổi dậy ở Hung Gia
Lợi năm 1956 với thủ tướng Imre Nagy
bất thành th́ Hồng Y Mindszenty chạy vào ṭa đại
sứ Mỹ và xin tị nạn. Ông hiểu
rằng ông sẽ bị bắt lại và có thể bị
buộc tội đă chủ mưu hoặc kích động
cuộc nổi dậy. Ông Imre Nagy sau
đó bị mật vụ Liên Xô bắt đi và thủ tiêu
mất tích. Hồng Y mindszenty kể
lại rằng Cộng sản tra tấn, hỏi cung
suốt ngày đêm cho đến khi ông kiệt quệ và tê
liệt tinh thần. Sau đó, chúng bỏ đói,
bỏ lạnh cho đến khi thể xác ông hết tự
chủ và cũng tê liệt, chỉ tuân theo
mệnh lệnh nhu cầu của ăn uống, quần
áo. Mỗi ngày, trước khi cho ăn uống, th́ cán
bộ Cộng sản buộc Hồng Y phải trả
lời sao cho chúng vừa ư. Nếu không biết trả
lời th́ chúng đọc cho ông nghe câu trả lời và
bắt ông phải học thuộc và nói như một con
vẹt... đến khi ra ṭa, th́ Hồng Y Mindszenty không
cần nhớ những ǵ là của ḿnh. Đầu
óc gần như rỗng không v́ tê liệt, ông chỉ
nhắc lại một câu nói “tôi làm gián điệp cho
Mỹ!” Như một băng cassette hay một con
vẹt!
Có lẽ v́
vậy mà sau này Giáo hội La Mă không đặt vấn
đề chống Cộng cho các lănh tụ, giáo phẩm tôn
giáo tại các xứ Cộng sản. Tất cả phải
cố gắng ḥa ḿnh và sống chung
với Cộng sản để bảo vệ sinh lực
và thực lực. Trên thực tế th́ giáo hội không
thể nào chống lại chính quyền, Cộng sản hay
tư bản, bằng vũ lực hay bạo lực.
Nếu giáo hội có thể sống chung
với các chính quyền thế giới tự do mà không xen
vào chính trị, th́ tại sao lại không thể sống
chung với Cộng sản và đứng ngoài chính trị?
Cộng
sản sớm hay muộn cũng phải cáo chung.
Cộng sản thường tiêu diệt hết tinh hoa dân
tộc và những người quốc gia, chống
đối. Lúc đó giáo hội vẫn c̣n đủ
chủ lực và thực lực với cán bộ giáo
chức, chức phẩm. Giáo hội gần như một
ḿnh một chợ, lại bung ra và bành trướng, có khi
c̣n mạnh mẽ hơn trước Giáo Hội La Mă không
cần phải lo đến chủ quyền hay sự
tự do ấm no của quốc gia dân tộc, hay sự
đe dọa tù đày, đói khổ, cùm kẹp công an
trị Cộng sản. Đó không phải là việc
của Giáo hội La Mă, và giáo hội không cần phải
quan tâm.
Khoảng năm 1972, cô Patricia Hearst, ái
nữ của nhà tỷ phú báo chí Hearst, đă bị mất
tích từ căn nhà sang trọng của cô ở
Khi sửa soạn đi cướp nhà
băng th́ cô gái này đă gần thành như người máy,
hay là “chiến sĩ cách mạng” sẵn sàng đứng ra
thay đổi hẳn quốc gia, xă hội! Bọn
cướp đă dạy cô Hearst rằng chúng đă nắm
hết cảnh sát, quan ṭa, và đă làm chủ t́nh h́nh. Cô
Patricia cứ việc hiên ngang cầm súng vào nhà băng, hô to
cho mọi người biết ḿnh là ai, và đàng hoàng
lấy tiền, đi ra, mà không cần phải sợ ai! Sau khi điều tra xong, cảnh sát hiểu
rằng cô Patricia Hearst chỉ là nạn nhân của “tẩy năo” và “điều khiển tư tưởng, suy nghĩ”.
Nhưng luật là luật. Cô Hearst
vẫn bị án tù. Phải sau này, cô
mới được Tổng Thống Ronald Reagan
đặc cách ân xá.
Trên đây chỉ là
trường hợp cá nhân và có vẻ bị dồn ép. Nhưng đến
năm 1982, vụ giáo phái Temple xảy ra tại Guyana
thuộc Anh, Nam Mỹ, với hơn 1,000 người
uống thuốc độc chết cùng với ông “đạo” Jones th́ cả
thế giới sửng sốt. Rồi đến các
vụ Waco ở Texas năm 1994 chết hơn 80
người, giáo phái AUM ở Nhật với chủ
trương đầu độc tập thể làm cho
cả nước Nhật và thế giới kinh hoàng.
Năm 1997, giáo phái “Cổng
Trời” đă khiến cho 39 người “tự nguyện” chết
để được lên phi thuyền không gian về...
thiên đàng!
Người ta c̣n nhớ ông “đạo” Bagwan người
Ấn Độ đă tụ tập khoảng 7,000
người vào năm 1983, 1984 và đă thành lập một
tỉnh nhỏ được gọi là “đạo viện” ở bang Oregon. Mỗi
người đều làm việc sản xuất nhưng
mỗi tháng chỉ được ăn và được
10 đôla bỏ túi, c̣n bao nhiêu lợi tức “thầy”
Bagwan lấy hết. “Thầy “ Bagwan
giữ hết để tiêu xài và không thèm nộp thuế.
“Thầy” Bagwan cho các đệ tử tự do làm t́nh
thả giàn bất cứ ai, tha hồ đẻ con rồi
cho tập thể nuôi. “Thầy” Bagwan tuổi
mới ngoài 50 nhưng v́ hành lạc, trác táng quá độ
nên đau lưng thường xuyên và trông hom hem như
một ông già 80 tuổi. Thầy “phải” mua xe Rolls Royce để đi ḷng ṿng quanh
đạo viện cho êm cái lưng. Khi cảnh sát giải
tán cái đạo viện lư thú này họ đă ngạc nhiên
thấy “thầy” Bagwan có
những 105 cái xe Rolls Royce, mỗi cái theo thời giá năm
1984 khoảng 200 ngàn đôla! Trong khi đó th́ các đệ
tử đi... bộ, v́ không ai cần phải có xe!
Người ta coi phim ảnh thấy
cảnh “thầy” Bagwan
ngồi xe Rolls Royce bỏ mui đi
chầm chậm quanh đạo viện cho đệ
tử chiêm ngưỡng. Các đệ tử
nam nữ mặc áo tu màu nâu đứng nghẹt hai bên
đường để đợi “thầy”. Khi xe
của “thầy” Bagwan đi tới th́ mọi người
tươi vui hoan hỉ như được nh́n thấy
Phật sống hay Thượng Đế, cúi đầu
chắp tay xá một cách vô cùng cung kính... Sau này “thầy” Bagwan bị một cô
đệ tử kiêm thư kư riêng và vệ sĩ, đă làm
phản và tố giác “thầy” với cảnh sát
địa phương. Tại tỉnh
nhỏ này, người ta bắt đầu sợ
“thầy” Bagwan v́ nếu có bầu cử th́ đệ
tử của “thầy” sẽ nắm đa số
phiếu. Nếu “thầy” kiêm luôn cả
chức thị trưởng th́ cả tỉnh c̣n có
nước dọn nhà đi tỉnh khác, nếu muốn con
cái được nên người.
Bị cảnh sát bố ráp đạo
viện v́ tội trốn thuế, “thầy” dông lên máy bay
chạy trốn, nhưng chính viên phi công lại báo cho
cảnh sát và hạ cánh xuống cho cảnh sát bắt.
Người ta tịch thu toàn bộ tài
sản, bán đấu giá dàn xe Rolls Royce nhưng cũng
chưa đủ để trừ số thuế c̣n
thiếu khoảng hơn 100 triệu đôla. “Thầy” Bagwan bị tống
xuất về xứ v́ Hoa Kỳ chẳng muốn mất
ḷng Ấn Độ và mang tiếng “đàn áp” một giáo
phái (?) từ Ấn Độ qua.
Một ông đạo khác tên là Sun Young
Moon, người Nam Hàn, cũng giỏi về đoàn
ngũ hóa, tập thể hóa và điều khiển tư
tưởng đám đông đệ tử không kém bất
cứ ông đạo nào. Ông này tụ tập
hàng ngàn đệ tử từ khắp các nước trên
thế giới. Ông chỉ người
nam này lấy người nữ nọ, bất chấp
sự kiện họ chưa bao giờ quen biết nhau, khác
chủng tộc và ngôn ngữ bất đồng.
Nhưng các đệ tử kính sợ và tin tưởng
“thầy” một cách thật cuồng tín, vẫn răm
rắp tuân theo. Từ năm 1984 đến nay, thầy Moon
đă làm nhiều lần đám cưới tập thể
cho các đệ tử, mỗi lần vài ngàn cặp vợ
chồng, có lần đến hơn 4,000 cặp! Đầu tháng 2/1999, ông Moon làm đám cưới
cho 40,000 cặp vợ chồng tại Hán Thành (
11. Cuộc biểu t́nh chống
Cộng rầm rộ tại phố Bolsa, quận Cam,
California đă làm thay đổi thái độ chính quyền
Hoa Kỳ đối với dân tộc Việt Nam. Hoạt động chính trị Cộng sản
của Gia Đ́nh Phật Tử trong tương lai.
Việt Nam có những ông “đạo”
nổi danh như thầy nhân điện Lương Minh
Đáng mới bị bắt tại Bỉ đầu
năm 1999 v́ tội lường gạt, chữa bệnh
không bằng cấp, ông Tám Lương Sĩ Hằng, Thanh Hải
Vô Thượng Sư... Đặc biệt là những “thầy” này công khai tự
xưng là thượng đế sống, là phật
sống, với “khai ngộ,
truyền tâm ấn, thành Phật tức th́” (Instantly reach
anh Buddhahood) mà vẫn có nhiều người tin theo. Nhiều người đă tan nát gia
đ́nh, tán gia bại sản, tiêu tùng sự nghiệp, mà
vẫn u mê không tỉnh.
Nhưng các cá nhân này không nguy hiểm
bằng tập thể tăng ni quốc
doanh. Bọn này rất gian ngoan. Chúng làm
việc có hệ thống, có phương pháp, có sách vở,
đường lối chính sách giống Cộng sản
để đoàn ngũ hóa các thành viên,
đoàn viên. Chúng khéo léo tẩy năo, nhồi sọ cho họ
trở thành cuồng tín, sẵn sàng “tử v́ đạo”!
Cuối năm 1998, Trần văn Trường
về Hà Nội và nhận cờ Cộng sản và ảnh
Hồ chí Minh. Từ tháng 12/1998, Trường
treo cờ và ảnh trong tiệm Hi-Tek của y, tại
phố Bolsa, quận
Cộng sản Hà Nội lập
tức lên tiếng bênh vực Trường, nói rằng
Trường có quyền tự do phát biểu theo Hiến
Pháp Hoa Kỳ. Ngày 10/2/1999, khoảng 400 cảnh sát dă
chiến Mỹ, vũ trang dẹp biểu t́nh đến
tận răng, đă hộ tống Trường tới
tiệm của y để treo cờ, ảnh trở
lại. Cảnh sát Mỹ đánh đập những
người biểu t́nh đả đảo Trường
và Cộng sản. H́nh ảnh này
được TV Mỹ chiếu. Lập
tức cả mấy chục ngàn người Việt
từ khắp nơi kéo đến tràn ngập
đường Bolsa. Đến 9 giờ 30 tối,
th́ cảnh sát Mỹ chịu rút lui. Đám đông tự
động giữ trật tự và biểu dương
tinh thần chống Cộng với cờ quốc gia và
những khẩu hiệu, ca hát cho đến sáng.
Một sự t́nh
cờ của lịch sử là ngày 20/2/1999 cũng là ngày 5
tháng Giêng năm Kỷ Măo, kỷ niệm trận
Đống Đa tiêu diệt quân Thanh 210 năm
trước, năm Kỷ Dậu, 1789.
Tối ngày 22/2/1999, một nhạc
hội với 2 khán đài và khoảng 150 nghệ sĩ
đă thu hút khoảng 50 ngàn người Việt chống
Cộng. Họ tỏ rơ thái độ chống Cộng,
không phải chống Mỹ. Họ chứng tỏ tŕnh
độ văn minh bằng cách tự động giữ
trật tự và vệ sinh, không xả rác, không cần có
mặt cảnh sát, khiến cho toàn thể dư luận
Mỹ phải khen ngợi.
Chính quyền Mỹ
thay đổi ngay thái độ chính trị đối
với Cộng sản Hà Nội. Họ hiểu
rằng từ Thái B́nh và toàn Việt
Tuy
bọn chó săn, c̣ mồi Cộng sản và ma giáo quốc
doanh đă mau chóng “lái” dư luận và tinh thần chống
Cộng sang “tranh đấu và cầu nguyện cho dân chủ và
nhân quyền”, nhưng đă trễ. Một
cao trào truy lùng, tố giác Cộng sản và những tên thân
Cộng ở hải ngoại đă bắt đầu.
Các “lănh đạo tinh thần” của các giáo hội
tưởng rằng ḿnh nắm được tín
đồ, phật tử, đă trơ mắt ếch v́
chẳng lănh đạo được ai!
Sang đầu tháng 3/1999, cảnh sát
lục soát tiệm của Trường và bắt
được khoảng 160 đầu máy sang băng và
15,000 cuốn băng lậu. Trường phải ra ṭa
về tội ăn cắp tác quyền
và bản quyền. Cộng
sản Hà Nội nín khe khi lộ chuyện là cán bộ
của chúng toàn đồ ăn cắp.
Các luật sư của tổ chức ACLU đứng ra
biện hộ, tranh căi cho Trường, cũng tự
động rút lui trong sự sượng sùng.
Hậu quả
của vụ treo cờ ảnh Cộng sản đă
khiến cho nẩy ra 2 cuộc biểu t́nh biểu
dương khí thế và tinh thần chống Cộng mănh
liệt của toàn dân Việt. Bọn ma giáo
quốc doanh, c̣ mồi nhân quyền, dân chủ, và Cộng
sản Hà Nội hiểu rằng thời thế của
chúng đă hết. Chúng đă thất bại v́ không
thể lay chuyển nổi ư chí căm
thù Cộng sản. Giấc mơ Cộng
sản Hà Nội đặt lănh sự quán khắp nơi
để nắm người Việt bằng khủng
bố công an trị, đă tan thành mây khói.
Sự xử dụng đức Tin và
tôn giáo để đoàn ngũ hóa, “kiểm soát và điều
khiển tư tưởng” (mind control) đă trở
thành một khoa học tinh vi. Các cán bộ “thầy” chỉ huy điều hành mặc áo cà sa, “tận tâm”
hướng dẫn, d́u dắt, nhồi sọ các đoàn
viên, đoàn sinh, đệ tử, miệng luôn luôn nói
những lời đạo đức giả. Chúng mê
hoặc mọi người "đồng
đạo" và đệ tử, đoàn sinh, đoàn
viên tới mức chúng nói ǵ, ra lệnh ǵ, họ
đều răm rắp nghe, không ai dám cưỡng
lại, và cũng không thể bỏ trốn hay bỏ
chạy.
Thủ đoạn thông thường
của bọn ma giáo, ma quỷ là chúng dùng c̣ mồi
để khéo léo, tâng bốc, vỗ tay.
Các “thầy” thường dùng vài ba chục đệ
tử để vỗ tay mỗi khi “thầy thuyết pháp”. Khi “thầy” vừa dứt câu là
bọn đệ tử c̣ mồi vỗ tay
vang dội, nồng nhiệt, khiến cho cả hội
trường vỗ tay theo. Những người mới
đến để nghe ngóng xem sao, thấy chấn
động và dễ bị lôi cuốn theo.
Chắc “thầy” phải
nói hay lắm, hấp dẫn lắm nên mới có nhiều
người vỗ tay hoan nghênh như
vậy!
Tại Việt Nam th́ ta thấy
hiện tượng “tranh đấu” xuống
đường, biểu t́nh, tự thiêu... do Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức
để đánh phá chính quyền quốc gia từ 1963
đến 1975, cũng là một h́nh thức đoàn ngũ
hóa và điều khiển tư tưởng đám đông.
Những bài báo viết lách cũng nhằm
mục đích nhồi sọ đám đông và thanh thiếu
niên, thế hệ trẻ, một cách từ từ và
đồng thời bóp méo lịch sử.
Từ năm 1992, bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang vẫn
tiếp tục hoạt động Cộng sản, vẫn
chửi các chính quyền quốc gia, vẫn chửi
Tổng Thống Diệm và công giáo, vẫn khéo léo khoe khoang
thành tích Cộng sản. Nh́n kỹ hoạt động
của bọn tăng ni quốc doanh, ta
thấy chúng đang “tẩy năo”
cả nước bằng cách bóp méo lịch sử Việt
Ngoài GHPGVNTN Ấn
Quang, ta thấy các hiện tượng nhân điện và vô
thượng sư sú ma (supreme master) đă làm cho nhiều
người phải khánh tận v́ dâng hiến tài sản
cho chúng, nghe chúng nói láo bịp bợm, và gia đ́nh tan nát. Ta cũng thấy
những văn nghệ sĩ, báo sĩ, đài sĩ, trí
thức, khoa bảng, tai to mặt
lớn cũng khúm núm trước mặt “thiền sư
vén váy”. Có vị chỉ cần thấy tí tiền c̣m
là bán rẻ ngay danh dự và linh hồn sẵn sàng tôn “thiền sư vén váy” lên làm “phật sống”!
Tổ chức Gia Đ́nh Phật
Tử Việt Nam (GĐPTVN) chỉ là một tổ
chức “ngoại vi” (satellite) của
GHPGVNTN. Ngày nay GHPGVNTN bị kẹt cái tên “quốc doanh” do nhân dân đặt cho, nên phải
dùng GĐPTVN làm mũi nhọn chính trị với mưu
đồ “đoàn ngũ hóa” các tầng lớp dân chúng,
phật tử, lấy Phật giáo làm b́nh phong hay là ṇng
cốt lư thuyết. Từ căn bản này, chúng sẽ
điều khiển tư tưởng nhân dân cả nước,
kể cả báo chí truyền thông, bằng các thủ
đoạn “tranh đấu”
để xách động quần chúng.
Khi tổ chức GĐPT đủ
lớn mạnh ở tầm mức quốc gia, bọn ma
đầu quốc doanh sẽ yêu sách, đ̣i hỏi,
xuống đường tranh đấu, khích động
những người trẻ tuổi thanh niên và dân chúng tham
gia thật đông đảo. Miệng chúng hô
to rằng bị đàn áp, “Pháp
nạn” với “Mạt Pháp”.
Chúng khuyến khích các đoàn viên thanh niên trẻ tuổi
hăng hái “tử v́ đạo” bằng tự thiêu,
liều mạng chống cảnh sát, rồi
làm “cách mạng”. Có khi chúng dàn cảnh “đốt”
người rồi hô rằng nạn nhân đă “tự thiêu” và đổ
tội cho chính quyền đàn áp tôn giáo, cấm đoán
tự do tôn giáo.
Chúng có thể cho các thiếu nhi đi đầu các đám biểu t́nh. Lỡ có một trẻ nhỏ bị chết,
hoặc chúng dàn cảnh cho chết, th́ chúng sẽ thổi
phồng lên rằng chính quyền, cảnh sát đàn áp,
giết trẻ nhỏ để gây công phẫn, căm thù
trong dân chúng, phật tử. Thiếu nhi,
thiếu niên nào bị chết th́ chúng sẽ phong làm “thánh tử đạo”
để làm gương cho các thiếu nhi khác bắt
chước. Để rồi lại
tiếp tục tranh đấu, xuống đường
với nhiều “thánh tử đạo” nữa.
Dân chúng dễ bị lung lạc, sẽ
hùa theo chúng thành dư luận chống
đối chính quyền. Bọn ma giáo quốc doanh sẽ
tổ chức đ́nh công, băi thị, xuống
đường biểu t́nh đánh phá, khích động
cảnh sát phải dẹp biểu t́nh. Khi cảnh sát
dẹp biểu t́nh, chúng sẽ bạo loạn, chống
lại và gây thương tích, đổ máu. Rồi chúng
sẽ hô hoán rằng chính quyền đàn áp “dă man” và kêu cứu với quốc tế... cho
đến khi thành một phong trào và dư luận chống
đối bao trùm cả nước, rồi lan rộng sang
đến quân đội, cảnh sát, công chức...Chúng
sẽ liên minh, liên kết với các đoàn thể, hội
đoàn, tổ chức hay đảng phái khác qua h́nh
thức dọa nạt, lôi kéo, khủng bố tinh thần,
hoặc dụ dỗ dối trá rằng sẽ chia ghế,
chia phần... Với các phương tiện và thủ
đoạn tuyên truyền bịp bợm và lưu manh
sẵn có, chúng sẽ làm cho báo chí quốc tế và dư
luận thế giới xúc động, hùa theo
chúng, bênh vực chúng...
Vấn đề bọn ma đầu
đoàn ngũ hóa và kềm kẹp con
người, cá nhân, trong tổ chức hay đảng phái
thường rất tinh vi, thâm độc. Bọn ma
đầu chính trị, ma giáo quốc doanh thường dùng
những danh từ, danh xưng có vẻ hiền lành “vô
tội” như Gia Đ́nh
Phật Tử, Tăng Đoàn Bảo vệ Chánh Pháp,
khiến không ai có đủ lư do hành chính hay chính trị
để cấm cản hay ngăn chặn chúng hoạt
động.
Nếu không tŕnh bày rơ ràng những
cạm bẫy của bọn ma giáo quốc doanh này th́
rất nhiều người trẻ tuổi sẽ bị
mắc vào lưới nhện ma quỷ của chúng. Các
phụ huynh dễ vô t́nh khuyến khích con em gia nhập các
đoàn thể, tổ chức với danh xưng có vẻ
hiền lành, vô hại. Một khi đă
mắc vào mạng lưới nhện “đoàn ngũ hóa” th́ bản tính cá nhân thay
đổi rất nhanh. Đảng viên, đoàn viên,
hội viên, tín đồ, phật tử đều mau
trở thành cuồng tín, quá khích, say mê, bị mê hoặc và
không c̣n suy nghĩ sáng suốt. Các phụ huynh
v́ thờ ơ không chú ư, đă có thể “mất con” cho
bọn ma quỷ lợi dụng.
Từ
năm 1992, thấy không thể xóa bỏ cái tên “quốc doanh” và sự hợp
tác “tuy hai mà là một”
của GHPGVNTN. Từ năm 1998 danh xưng
GĐPTVN là tổ chức gốc.
Tại miền
Tổng số các đơn vị và
đoàn viên GĐPT tại Việt
Các cư sĩ quốc doanh đă
lầm lẫn khi khoe rằng Lê Đ́nh Thám đă tổ
chức Gia Đ́nh Phật Tử từ năm 1935 và
chết năm 1969. Thật ra th́ Lê Đ́nh Thám, một cán
bộ Cộng sản loại trung kiên, từng là Chủ
Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Liên Khu 5 của
Cộng sản Việt Minh, đă tổ chức Gia Đ́nh
Phật Tử rập khuôn theo tổ chức hướng
đạo từ năm 1945, và bao gồm luôn cả gia
đ́nh, anh chị em của các thiếu niên phật tử.
Thám chết năm 1979. Cộng sản
tổ chức giáo hội Phật Giáo Cứu Quốc và Gia
Đ́nh Phật Tử. Người ngoài thấy th́
tưởng rằng Cộng sản cho tự do tín
ngưỡng. Không ai ngờ Cộng sản
chỉ dùng Phật giáo làm chiêu bài, vỏ ngoài, b́nh phong.
Thực chất th́ cán bộ giả làm tăng ni lănh đạo để đoàn ngũ hóa
và điều khiển tinh thần tư tưởng
của phật tử và thanh thiếu niên.
Cuốn sách GĐPT Việt Nam công khai
khoe mục đích chính là “đoàn ngũ hóa” các gia
đ́nh và thanh thiếu niên phật tử để
đưa họ vào những mục tiêu chính trị và
đấu tranh đổ máu cho chúng. Chúng nêu lên những
gương tranh đấu, tự thiêu, thánh tử
đạo với những tên Nhất Chi Mai, Quách thị
Trang, Thích Quảng Đức, Thích Tiêu Diểu, Thích Thanh
Tuệ, Thích Nguyên Hương, ni cô Diệu Quang, Thích Quang
Hương, Thích Thiện Mỹ... của thời tranh
đấu đánh phá các chính quyền quốc gia từ 1963
đến 1975 để cho thanh thiếu niên phật
tử tiêm nhiễm và noi theo làm một thứ “anh hùng
quốc doanh” hay “thánh tử
đạo quốc doanh”!
Chúng bịa đặt ra hai câu “thơ”
khuyến khích tử đạo và nói rằng của sư
Thích Quảng Đức:
Đệ tử hôm
nay nguyện đốt ḿnh
Làm đèn soi sáng
nẻo vô minh!
Trong cuốn sách, bọn tăng ni và
cư sĩ quốc doanh công khai tôn vinh những khuôn mặt
Cộng sản như Tố Liên, Đôn Hậu, Minh Châu,
Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Huyền Quang, Thiện
Hoa, Tâm Giác, Trí Tịnh, Thiện Minh, Thiện Siêu... Chúng
gọi giai đoạn 1963-1975 mà GHPGVNTN nằm vùng đánh
phá các chính quyền quốc gia miền Nam và đón Cộng
sản vào chiếm miền Nam năm 1975, là “Thời Kỳ Dấn
Thân và Tái Ổn Định 1963-1975”.
Lê Đ́nh Thám đă
khoe là “thầy” Thích Trí Quang. Lê Đ́nh Thám có một người con
trai tên là Lê Đ́nh Duyên làm dân biệu Việt Nam Cộng
Ḥa. Một người con trai khác tên là Lê Đ́nh Luân. Trước 1975, ông Luân là đại tá Pḥng Nh́
(Quân Báo) trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Sau khi mất miền
Năm 1975, Lê Đ́nh Thám (bác sĩ)
từ Bắc vào tiếp thu Viện
Pasteur ở Sài G̣n. Năm 1977, Thám đến
trại cải tạo thăm con trai là ông Luân. Khi biết có bố đến thăm th́ ông Luân,
một người căm thù và kinh tởm Cộng sản,
đă ra gặp Lê Đ́nh Thám. Khi thấy mặt
bố, ông Luân quỳ xuống lạy 3 lạy và nói: “Tôi lạy ông 3 lạy để
trả ơn nghĩa cha con và để đoạn
tuyệt từ đây. Từ nay trở đi, mỗi
người một ngả, kể như không c̣n liên hệ
gia đ́nh!” Nói xong, ông Luân quay vào trong
trại. Nếu chịu nhận họ hàng th́ cán
bộ Cộng sản cấp cao Lê Đ́nh Thám có thể
bảo lănh cho ông Luân được về sớm. Nhưng
đại tá Luân đă không hèn, và không thèm cái thứ ân huệ Cộng sản đó. Đại tá
Luân đă bị Cộng sản giam cầm khoảng 15
năm và đă qua Mỹ theo chương
tŕnh H.O. Nghe nói các con ông Luân đều thành nhân và thành danh.
(Chuyện này do một sĩ quan VNCH cùng học tập
cải tạo kể lại).
Từ năm 1998 trở đi, tổ
chức quốc doanh của GHPGVNTN có tên là Gia Đ́nh
Phật Tử Việt Nam đang được đưa
lên sân khấu chính trị hải ngoại. Đảng
Cộng sản Hà Nội và GHPGVNTN sẽ dùng Gia Đ́nh
Phật Tử như một tổ chức chính trị
không có cái tên quốc doanh. Nhưng thời thế vào
năm 1998 đang biến chuyển quá nhanh trong khi chính
đảng Cộng sản đă mất hết quyền
hành, không thể chỉ huy được bất cứ ai,
và không thể thi hành được bất cứ âm
mưu, thủ đoạn chính trị bịp bợm nào.
Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN c̣n có tham vọng đặt một
nền tôn giáo công an trị mà chúng gọi là xây dựng
một triều đại giống như nhà Lư ở
thế kỷ 11. Nhưng bọn sư hổ
mang quốc doanh Cộng sản này có “tu thật” và không có
Đạo Đức đâu mà đ̣i bắt chước
nhà Lư?
Một số phật tử và cư
sĩ trong giai đoạn 1963-1975 và cho đến ngày nay
cũng không hiểu những thủ đoạn độc
ác, nham hiểm, lưu manh của bè lũ cán bộ Cộng
sản núp dưới áo cà sa và tự xưng là tăng ni
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn
Quang và các giáo hội, tổ chức phụ thuộc.
Hi vọng rằng sau 1975 và ngày nay,
mọi người phật tử, cư sĩ đă sáng
suốt và hiểu rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất
Ấn Quang và các tổ chức phụ thuộc
do cán bộ Cộng sản dựng lên và núp dưới
chiêu bài Phật giáo để hoạt động Cộng
sản, đoàn ngũ hóa người Việt trong mục
đích đánh phá tổ quốc và dân tộc Việt Nam và
áp đặt độc tài tôn giáo công an trị. Chúng không bao giờ thay đổi bản chất
Cộng sản. Chúng muốn trá h́nh
dưới h́nh thức “Đạo
Phật” với các danh xưng có vẻ hiền lành,
Phật giáo. Chúng muốn “biến Đạo thành
Đảng” để tiếp tục khống
chế dân tộc Việt
Chúng ta không
nên để bọn tăng ni Cộng sản đoàn
ngũ hóa con em chúng ta dưới một danh hiệu
hiền lành “Gia Đ́nh Phật
Tử” để có ngày sẽ làm vật hy sinh, tranh
đấu xuống đường, biểu t́nh, cuồng
tín đánh phá ngay quốc gia dân tộc ḿnh, làm “thánh tử đạo”, cho
những mục đích chính trị đen tối của
GHPGVNTN Cộng sản. Dân tộc và chính quyền Việt
Nam trong tương lai đương nhiên không thể cho
Cộng sản tồn tại dưới bất cứ
h́nh thức, danh xưng nào. Sang thế kỷ 21, mọi
hoạt động chính trị và tôn giáo trong nước
Việt
Theo Luật Trời,
cũng là luật Nhân Quả, tội ác Cộng sản
phải nhân b́nh phương với khoảng hơn 100
triệu người dân tộc Việt hiện nay và các nạn
nhân Cộng sản đă chết trong hơn 50 năm qua, và
dội lại thành nghiệp báo đánh vào bè lũ Cộng
sản, tăng ni GHPGVNTN và những người hùa theo
chúng, bênh vực chúng. Cộng sản phải bị tiêu
diệt cũng v́ lẽ chúng phải đền trả
những tội ác nhân lên gấp trăm triệu lần.
Cái tài t́nh của
người Mỹ là họ đă xử dụng những
tên Cộng sản nằm vùng tại miền
Cộng sản Hà Nội đă coi Thích
Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Trí Dũng, Thích Nhất
Hạnh, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên, Thích Minh
Châu, Thích Thiện Minh, Ni sư Huỳnh Liên và tập
thể tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang ... là lập
được công đầu khi chiếm xong miền Nam
năm 1975.
12. Chúng ta cần phải chú
trọng đến vấn đề ma đầu lưu
manh toan tính đoàn ngũ hóa các tầng lớp dân chúng,
nhất là thanh thiếu nhi. Một vài suy
nghĩ về tự do, dân chủ trong tương lai.
Thượng tọa Thích Minh Tuyên
của GHPGVNTN đă tổ chức Đại Hội
Thế Giới Cư Sĩ Phật Tử Việt Nam trong 3
ngày 6, 7 và 8/1996 tại Hoa Thịnh Đốn. Đại
Hội phật tử này có đến 4 cương
lĩnh... tổ chức và chính trị! Đáng kể
nhất là trong Cương Lĩnh số 2 Thích Minh Tuyên
khẳng định phải “đoàn
ngũ hóa” các tầng lớp phật tử hải
ngoại. Trong cái gọi là Cương Lĩnh số 4, Thích
Minh Tuyên có tham vọng đoàn ngũ hóa luôn tất cả
các tôn giáo, đoàn thể, và các tổ chức quốc
tế thành một khối do
Tổng Hội Cư Sĩ Phật Tử Thế Giới
của y cầm đầu, điều khiển. Tham vọng của Thích Minh Tuyên đă x́ hơi,
thất bại v́ bị lật tẩy.
Sự kiện trên đây chứng
tỏ thủ đoạn thông thường và cốt lơi
của đảng Cộng sản, GHPGVNTN và bất cứ
tổ chức nào có dă tâm khống chế người
Việt Nam, là đoàn ngũ hóa tất cả mọi người,
mọi giới, cả nam lẫn nữ, từ thiếu nhi
đến lăo nhân, trong nhiều tổ chức có vẻ
tầm thường, b́nh dân, vô hại, để rồi tập
trung vào những cái gọi là mặt trận liên minh,
thống nhất.
Từ đó, những cán bộ
gộc, những tên đầu sỏ sẽ tự phong
những danh xưng oai vệ, hách dịch, để chúng
biến thành những người “khổng lồ”. Chúng sẽ được sự
cung kính, sợ sệt của các cá nhân nhỏ bé trong tổ
chức. Chúng sẽ điều khiển
họ như... lính cảm tử cuồng tín để
liều mạng, liều chết cho các mục tiêu khuynh
đảo chính quyền quốc gia, và các mục tiêu chính
trị và cướp chính quyền. Rồi
chúng gọi những người chết cho chúng là “hy sinh v́ đạo pháp”, là “thánh tử đạo!”
Nước Việt Nam độc
lập tự do trong tương lai sẽ phải chăm
lo đến tự do hạnh phúc của toàn khối dân
tộc, gồm hơn 80 triệu người đang trên
đà gia tăng với nhiều sắc dân. Các chính
quyền quốc gia Việt Nam không thể để cho
một thiểu số lưu manh ma đầu, ma giáo quốc
doanh núp dưới bóng tôn giáo để khuynh đảo
quốc gia dân tộc, xâm phạm đến quyền
tự do và sự an sinh của nhân dân, và đe dọa
sự trường tồn, đoàn kết của dân
tộc và quốc gia.
Tất
cả mọi tội ác gian manh của Cộng sản và các
tổ chức và nhân sự ngoại vi
Cộng sản trong GHPGVNTN và Mặt Trận Tổ Quốc
phải được chép thành sử sách để
truyền lại cho đời sau. Cần phải ngăn
chận bọn lưu manh, ma đầu chính trị núp
dưới bóng tôn giáo và đảng phái. Chúng có thể làm
bất cứ cái ǵ, kể cả mượn thế
lực, tiền bạc ngoại bang để đánh phá
chính quyền quốc gia và nền độc lập,
tự chủ và tự do của Việt
Trong nước Việt
Đoàn ngũ hóa
cũng có nghĩa là nô lệ hóa (subjugation, enslavement), xử
dụng tổ chức, giáo hội, đảng phái như
một phương tiện quyền lực khổng
lồ để đè bẹp các cá nhân nhỏ bé. Các
học sinh, sinh viên phải hiểu rằng không nên nhẹ
dạ gia nhập bất cứ tổ chức chính trị,
tôn giáo, hay giáo hội nào có tính cách bó buộc, đoàn ngũ hóa. V́ vào những tổ
chức này là bị kẹt không thể rút ra. Các
đoàn viên, hội viên hay đảng viên sau khi gia nhập,
sẽ bị mê hoặc đến cuồng tín, sẽ
bị dụ dỗ, ép buộc phải làm những việc
sai trái với ư muốn, trái với lương tâm, nguy
hiểm cho bản thân, làm hại người khác và
phản bội tổ quốc dân tộc.
Mỗi người Việt Nam từ
nhỏ đến lớn đều phải
được hoàn toàn tự do trong một quốc gia
độc lập, không bị trói buộc vào trong một
tổ chức chính trị hay giáo hội nào có tính cách độc
quyền, độc tài, chuyên chế và bịp bợm.
Người Việt Nam không cho phép và không chấp nhận
bất cứ ai “đoàn ngũ
hóa” họ thành những đàn ḅ dễ bảo hay thành
những đám đông cuồng tín, những lợi khí
để phục vụ cho các mục đích chính trị
đen tối của những tên ma đầu, lưu manh,
tham tiền, tham dâm dục, tham quyền lực nhưng
mặc áo thầy tu và núp dưới bóng tôn giáo.
Tất
cả mọi người Việt Nam, nhất là thanh
thiếu nhi, đều phải
được tự do học hỏi, phát triển trong
tinh thần đoàn kết và ḥa hợp dân tộc. Mọi
kỳ thị và phân biệt chủng tộc, tôn giáo, địa
phương đều phải được xóa bỏ.
Từ bậc trung học trở lên các học sinh, sinh viên
đều phải học những bộ môn giáo dục
thiết thực đến đời sống tâm linh, chính
trị, kinh tế, xă hội và nền tảng gia đ́nh.
Thí dụ
trong bậc trung học, mỗi tuần phải có một
giờ về triết học, triết lư tôn giáo,
đường lối tu hành khác nhau của mỗi tôn giáo
lớn, khoa học siêu h́nh, khoa học tâm linh, phát triển
cơ thể và trí tuệ về hướng tâm linh,
phải phân biệt giữa tôn giáo thiêng liêng và sự khác
biệt giữa các giáo hội và giáo điều , giáo
luật do người phàm tục đặt ra, đạo
làm người quân tử, thế nào là tiểu nhân, thế
nào là Cộng sản gian ngoan, giảo quyệt, tàn ác,
bịp bợm, lật lọng...
Các học
sinh, sinh viên sẽ phải học và nghiên cứu tập
quán, tục lệ truyền thống và nền văn minh
cổ xưa của gịng giống Lạc Việt và của
các sắc tộc địa phương. Cần
phải hiểu tại sao Việt
Cần
phải học hỏi về luật lệ, luật
quốc gia và các thứ luật và giáo lư, giáo luật riêng
biệt của các đảng phái và giáo hội. Cần t́m
hiểu tại sao quốc gia phải cần có luật pháp
để bảo vệ công dân và các quyền lợi,
quyền tự do công dân. Cần t́m hiểu tại sao
những luật lệ do con người, không phải
quốc gia, đặt ra lại có thể trói buộc
những công dân Việt Nam trong ṿng nô lệ tinh thần, tâm
linh và bóc lột tiền bạc? Cần phải t́m hiểu
tại sao những người cũng mang gịng máu Việt
Nam lại trở thành những kẻ nội xâm, nội
thù, đánh phá dân tộc, tổ quốc Việt
Một giờ học khác mỗi tuần sẽ
dạy về các loại chính trị khác nhau Cộng
sản Bắc Việt và các hoạt động chính
trị núp dưới bóng tôn giáo. Phải t́m hiểu tổ chức chính trị theo các
kiểu độc tài đảng phái công an trị,
độc tài giáo hội công an trị, độc tài tham
nhũng công an trị, độc tài gia đ́nh gia nô công an
trị. Tại sao các chế độ độc tài
phải áp dụng công an trị dưới nhiều h́nh
thức và danh xưng,danh hiệu khác
nhau?
Tại sao
những tên chính trị gia hoạt đầu (opportunists),
mị dân (dimagoguis), những tên tham lam ngu
dốt phải núp bóng tôn giáo để thành lập các “giáo hội chính trị”? Chúng
chỉ nhằm nô lệ hóa, trói buộc con người
về nhiều mặc xă hội, kinh tế. Chúng bắt tín
đồ, đảng viên, phật tử đóng góp
tiền tài, sức lực, nô lệ tinh thần và tâm linh,
trong khi chúng vẫn vổ ngực hô to dân chủ, b́nh
đẳng tự do với mục đích bịp bợm. Bọn ma đầu, ma giáo quốc doanh chỉ
giỏi bịp bợm những người đang bị
Cộng sản kềm kẹp nên ít học và ít suy nghĩ.
Khi dân trí tiến bộ và văn minh như
những người Việt hải ngoại hiện nay
th́ bọn ma đầu, ma giáo quốc doanh không thể
bịp bợm.
Một
giờ học khác sẽ dạy lịch sử về các
h́nh thức xâm lăng đất đai
thuộc địa, xâm lăng tinh thần và tín
ngưỡng, xâm lăng vào trong tâm năo người dân
hiền lành và các thanh thiếu nhi. Cần phải giáo
dục học sinh và sinh viên hiểu rơ thế nào là
đời sống dân chủ, tự do trong tinh thần yêu
quê hương, tổ quốc, ṇi giống, và sự kính
trọng quyền tự do, dân chủ và tư hữu
của người khác.
Chỉ
cần phân tích và xử dụng một giai đoạn
lịch sử trong 2 thế kỷ 19 và 20 để giáo
dục, cũng đủ cho các học sinh, sinh viên Việt
Nam có sự hiểu biết sâu rộng về chính trị
đa diện và các sự tàn ác, gian ngoan, hiểm độc
của các cuộc xâm lăng tinh thần, xâm lăng
thực dân thuộc địa, xâm lăng và nội xâm
của Cộng sản, bè lũ nội thù quốc doanh
GHPGVNTN và các tổ chức phụ thuộc ngoại vi trong
Mặt Trận Tổ Quốc Cộng sản.
Học
đường và các trường đại học
phải tổ chức các buổi tranh luận, đấu
lư, phân tích giữa các nhóm sinh viên, học sinh (debating groups)
về tự do, dân chủ, tôn giáo và nhiều đề tài
khác. Nên đặt câu hỏi tại sao các đoàn thể,
đảng phái, tổ chức, giáo hội lại có
thể cướp mất quyền tự do dân chủ
của người dân bằng cách đoàn ngũ
hóa? Phải chăng đoàn ngũ hóa
cũng là một h́nh thức nô lệ hóa và cầm tù con
người trong những luật lệ nhỏ hẹp,
không phải luật lệ quốc gia? Cần phải tranh
luận về khả năng của các tổ chức,
đảng phái, cá nhân, nhận tiền bạc và hậu
thuẫn từ bên ngoài để khuynh đảo quốc
gia, dân tộc và để cướp đi quyền
tự do dân chủ của dân Việt qua nhiều h́nh
thức, phương pháp khác nhau.
Khi
được giáo dục đầy đủ như
vậy th́ các thanh thiếu nhi sẽ trở thành những
công dân sống trong tự do dân chủ với thông minh, sáng
suốt, hiểu rơ phải trái, hiểu rơ sự thật
của nhiều vấn đề. Họ sẽ có
đức tin thật trong sáng và thánh thiện nơi các
vị thiêng liêng mà họ thờ lạy tôn kính. Họ
sẽ không bị mắc vào ṿng mê tín, dị đoan và
nhất là không tin theo những tên ma quỷ, ma giáo núp bóng tôn
giáo và các vị Chân Sư thiêng liêng.
Tín ngưỡng và đức tin là đời
sống riêng tư của mỗi người. Mỗi người đều có
quyền lựa chọn bất cứ tôn giáo nào họ
muốn khi đến tuổi trưởng thành. Không
ai, kể cả chính quyền hoặc người hôn
phối có quyền xâm phạm đức tin và tín
ngưỡng riêng tư của mỗi cá nhân. Không ai có
quyền dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc công dân Việt
phải tham gia bất cứ giáo hội hay tổ chức
nào có tính cách “đoàn ngũ hóa”.
Không ai có
quyền dùng xảo ngôn, xảo ngữ để lừa
gạt bịp bợm, lung lạc, lợi dụng thanh
thiếu niên và công dân nước Việt Nam về mặt
tiền bạc, quyền lực và thao túng chính trị.
Mỗi người Việt
Tất
cả tổ chức, hội đoàn nào muốn xin phép
hoạt động phải được đặt thành
vấn đề là có mục đích và dụng ư đoàn ngũ hóa hay không? Phải có quy chế và cam
kết rơ ràng về danh xưng, danh hiệu, điều
lệ, cương lĩnh cho mọi h́nh thức ra báo chí,
phát thanh, truyền thông, lập hội, lập đảng
chính trị và lập giáo hội. Mỗi người không
có quyền tự đặt tên, hoặc xử dụng
những danh xưng to tát, bất xứng và quá lố
để khiến cho người khác tự nhiên phải
xưng hô, xưng tụng ḿnh với các danh hiệu
đầy cao ngạo và lố bịch.
Không lẽ tự đặt tên ḿnh hay
đặt tên cho con ḿnh là “Nguyễn Ông Nội” rồi
bắt các người khác phải kêu ḿnh hay con ḿnh là “ông nội”? Không lẽ vừa
mới cạo đầu, xuống tóc, mặc áo cà sa
nhưng hỉ mũi chưa sạch mà khiến cho
những bậc trưởng thượng lớn tuổi
phải kính cẩn kêu ḿnh là “thượng
tọa”, “đại
đức”, “”ông nội”
và “thưa thầy xưng con”?
nếu không có những biện pháp pḥng
ngừa ngay từ đầu th́ một số người
háo danh sẽ làm cho cả nước bị loạn danh
xưng. Đi đến đâu ta sẽ chỉ thấy “đức nầy, ngài nọ,
chư tôn đức”, cho chí đến Vô thượng
sư sú ma, thượng đế, phật sống, thánh
sống, thánh chết...
Tất cả những người dùng
tên các danh nhân, anh hùng liệt sĩ trong lịch sử
đặt tên cho con cái một cách hỗn láo với
tiền nhân, với tổ tiên với người
trưởng thượng đều không được
làm giấy khai sinh. Tất cả những
người, trong và ngoài giáo hội, đảng phái, tự
đặt tên cho ḿnh những danh hiệu, danh xưng có tính
cách cao ngạo, phạm thượng đều không
được tiếp xúc với chính quyền các cấp.
Những người nào in vào danh thiếp những danh
xưng tự phong, không có ở trong môn bài hay giấy phép
hành nghề, dù để bịp bợm hay để cao
ngạo, hănh diện, đều phải đóng một
khoản tiền phạt đặc biệt nặng
nề.
Tại sao những
người thích tự phong cho ḿnh những danh hiệu to
tát, oai vệ và cao ngạo một cách lố bịch như
vậy, mà không biết ngượng? Có
lẽ họ háo danh tới mức không c̣n liêm sỉ
nữa chăng? Những người mang
danh tu hành mà c̣n ham các danh xưng to tát th́ không phải là tu
hành thật sự. Chỉ có ma quỷ
mới thích được gọi bằng danh xưng, danh
hiệu đầy cao ngạo, hỗn láo tới Trời,
Phật, Thượng Đế.
Đức tính cao quư nhất của
bất cứ người chân tu nào, kể cả các vị
Chân Sư như Thích Ca và Jesus, đều là sự khiêm
tốn, khiêm nhượng, nhă nhặn, từ bi, bác ái,
độ lượng, vị tha. Nếu Đức Thích Ca
hay Đức Jesus có hiện diện th́ sự thánh
thiện sẽ tỏa rộng như hào quang sáng ngời. Mọi người sẽ hiểu ngay các Ngài là
siêu phàm và tự động cúi đầu cung kính các Ngài.
Các Ngài không cần phải tự xưng danh Phật hay
Chúa.
Các Ngài không cần
cả đến sự cung kính của trần gian, th́
cần ǵ phải có danh xưng oai vệ? Các Ngài chỉ
cần độ hóa cho mọi người, bất cứ
người nào, không phân biệt tôn giáo và giáo hội, khi
họ cầu khẩn các Ngài để được
sự cứu giúp, ân độ về đường tu
hành, tiến hóa. Các Ngài không bao giờ có ư định lập
các tôn giáo hay giáo hội riêng biệt, Các Ngài không bao giờ
muốn đoàn ngũ hóa và nắm
giữ tinh thần mọi người. “Tự do Tinh thần,
Tư tưởng và Tin tưởng” và tiến
tới sự Giác Ngộ... là mục
đích chính yếu của sự tu hành và lư tưởng cao
siêu của các vị Chân Sư.
Các vị Chân Sư
không bao giờ và không cần phải hiện thân cho mọi
người thấy. Sở dĩ mọi người không
thể thấy được sự hiện diện
của các Ngài v́ các Ngài chỉ là Ánh Sáng chói ḷa với sức rung (vibrations) cao độ. Đôi khi
những trẻ nhỏ ngây thơ có thể nh́n thấy v́
chúng c̣n trong sạch, vô nghiệp và được ân
độ đặc biệt để gia tăng sức
rung, để có thể thấy hoặc nghe... các Ngài không
cần hiện diện, ra mặt, hiện thân như
một lănh tụ tôn giáo. Mọi người chỉ
cần noi theo gương tinh thần
của các Ngài là đủ.
Chỉ có ma quỷ Cộng sản, ma
quỷ các loại, quỷ ngạo mạn, quỷ vô
thường, quỷ tham và các ngạ quỷ mới
cần đến những danh hiệu tự phong một
cách cao ngạo, hỗn xược và phạm thượng.
Ma quỷ thích hiện diện ra mặt
với mũ cao áo đẹp để gây sự cung kính
cho mọi người. Chúng giấu giếm sự ngu dốt, phàm tục, đầy tham lam,
tội ác và không có quyền năng siêu phàm của chúng. Chúng
thích thú làm cho người đời phải kính sợ
chúng qua những danh xưng oai vệ với sự cung kính
vái lạy, khấu đầu, và đưa tiền cho chúng
tiêu!
Nước Việt Nam sau này muốn
được ổn định, thái b́nh th́ phải có
những luật lệ nghiêm minh, rơ ràng để bảo
vệ quyền công dân, quyền tự do sinh sống,
quyền tư hữu, quyền tự do cá nhân, tự do
ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội họp,
tự do di chuyển, lựa chọn chỗ cư trú... Phải có sự phân biệt và
chia cách rơ ràng giữa các giáo hội và quốc gia (Separation
of church and state). Phải có sự bảo vệ quyền
tự do phát triển và tinh thần, thể xác cá nhân các công
dân.
Báo chí, truyền thông, học
đường, các cơ quan hành chính và các tổ chức
hội đoàn cần phải thường xuyên lố
bịch hóa, khôi hài hóa những danh xưng hỗn
xược, ngạo mạn quá lố để răn
đe và ngăn ngừa những kẻ kiêu căng, tự
đắc, cao ngạo và thích tự tôn.
Cũng cần phải có luật nghiêm
cấm mọi sự xâm phạm các quyền tự do, tài sản và sinh mạng của mỗi
công dân. Mỗi tờ báo hay đài phát thanh, mỗi hội
đoàn hay tổ chức, mỗi đảng phái chính
trị hay giáo hội đều phải có những
điều lệ về tổ chức, danh xưng, danh
hiệu, điều hành, sổ sách, kế toán, thu nhập,
thuế má, và các đ̣i hỏi quy định về
luật pháp, hành chánh... trước khi được
cấp giấy phép. Các tổ chức, giáo
hội nào nhận tiền của người ngoại
quốc hoặc vận động thế lực ngoại
quốc để khuynh đảo chính trị quốc gia
đều phải chịu tội phản quốc,
phản bội dân tộc.
Không thể có chuyện treo đầu
dê, bán thịt chó! Không thể vổ ngực tự xưng tu hành, rồi lập giáo
hội làm chính trị, đoàn ngũ hóa, xách động tín
đồ phật tử vào con đường tranh
đấu chính trị, đánh phá dân tộc, tổ
quốc và chính quyền quốc gia. Các giáo hội phải
có điều luật trừng trị giáo chức, tu
sĩ, tăng ni phạm giới, tham dâm,
tà dâm, tham tiền và phải đóng tiền phạt
thật nặng cũng như bồi thường thật
nặng cho các nạn nhân. Phải có biện pháp trừng
phạt đối phó với những tu sĩ đưa ra
những bài giảng hay thuyết pháp có tính cách chính trị,
xách động quần chúng, để gây rối loạn.
Những tên ma
đầu, ma giáo quốc doanh, lưu manh chính trị luôn
miệng đ̣i tự do cho hội đoàn của chúng. Chúng không bao giờ
nghĩ đến tự do của dân tộc, của
tổ quốc và của những người khác trong
nước. Chúng không bao giờ tôn trọng quyền tự
do cá nhân và quyền công dân của mỗi người.
Miệng chúng hô hào tự do dân chủ, tự do tôn giáo nhưng
chúng vẫn thích đoàn ngũ hóa mọi
người dân để đưa họ vào ṿng nô lệ
chính trị, nô lệ tôn giáo, và để chúng lợi
dụng trong các mục đích gian manh.
Bọn tăng ni Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang
xúi dại những người trẻ tuổi chết cho
các mục đích chính trị lưu manh của chúng. Chúng gọi đó là “tranh đấu”. Chúng
đẩy những người chết cho mục đích
đánh phá chính quyền, rồi chúng gọi họ là “hi sinh v́ đạo pháp”, là “cúng dường Tam Bảo”, là
“Thánh tử đạo”, là “bồ tát”, “bồ tát tại gia”... Bản thân chúng th́ chỉ
nói láo, nói bịa đặt, và thu
tiền của Phật tử cho đầy túi tham, chứ
chẳng thấy tên nào “hi sinh
v́ đạo pháp”!
Khi Thích Trí Quang nhận tiền của
tướng Khánh, tướng Kỳ, y có chia chác cho tăng
ni hay phật tử nào không? Hay y gởi
ra chiến khu tiếp tế cho đặc công Cộng
sản để giết người Việt? Tăng
Thống quốc doanh Thích Huyền Quang đă hô rằng
sẽ liều ḿnh v́ đạo pháp! Sư quốc doanh Thích
Không Tánh, Thích Nhật Liên, Thích Hạnh Đức, Thích
Nhật Ban... đă hô tuyệt thực cho đến
chết biết bao nhiêu lần... để rồi vẫn
sống nhăn!
Toàn thể nhân dân Việt
Đứng trước sự đe
dọa xâm lăng thường xuyên
từ phương Bắc, dân tộc Việt
Tập
Hiển Thơ Mầu Nhiệm . ghi rằng:
Quỷ truyền, ma dạy... dạ
vâng!
Tu hành kiểu đó! khỏi
cần quy y!
Gặp đảng quỷ, ḷng th́ run
sợ!
Gặp Chúa Ma, ú ớ không lời!
Nghe lời quỷ dạy... ngu ngơ,
Sửa Kinh lời Phật! Ai ơi...
coi chừng!
Nghe lời lũ
quỷ rừng, đấu tố!
Tố Thầy sư, tố khổ các
Cha!
Giả vờ... mặc áo cà sa,
Cạo đầu trọc lóc, trong là
dao găm!
Đảng lũ
Quỷ cố tầm Kinh sách
Cho công an... học
cách tu hiền,
Giả làm.. sư săi chùa chiền,
Giỏi mồm, giỏi mép huyên thuyên
Đạo mầu,
Mấy sư quỷ! Trọc
đầu Cách Mạng!
Trà trộn vô thôn bản từ bi,
Chúng làm bất cứ những ǵ...
Có lệnh công tác, chúng thi hành liền!
Sư lựu đạn! Chùa chiền
khá bộn,
Sư dao găm! Trà trộn thế gian,
Điển Thầy phân nghĩa rơ ràng,
Coi chừng... lũ
quỷ lan tràn Đạo ta!
Ghé tai ghé mắt chép
ghi,
Phật Giáo yêu nước! Danh từ
đúng y
“Nhắn Nhủ” Hiển Thơ Mầu
Nhiệm
“Vất Dao
Thành Phật”: Người Đồ Tể giết gà, chó, trâu, ḅ,
một khi vất dao đi th́ có thể tu hành đắc
đạo. C̣n Chính Trị Bộ Hà Nội, chính xác là
giặc nội thù tới đâu bàn tay
nhúng máu hôi tanh, giết hại đồng bào, phá nát quê
huơng. Lột xác kiểu
Tư Bản Đỏ chính là khoác áo cà sa giáp thép thật rộng
để giấu gươm sắt, dao găm, lựu
đạn: Dù người không thông minh cũng thấy rơ.
Thật là bịp bợm! Chính trị là thuần thủ đoạn nhưng
phải là Hoa Nhân Ái. Ái Hoa mới đạt tới hạnh phúc hài ḥa.
Để kết thúc bài này Xin
trích một đoạn trong Tập
thơ Vô Đề & Khuyết Danh
Con rắn Đỏ vô cùng hung hiểm
Nhả nộc hận thù phờ
phĩnh công phu
Khéo léo đầu cơ ḷng yêu
nước đui mù
Lạy lục Tầu Nga không nề
điếm nhục
……………………………………………………………………………….
Có những con người giả
đui, điếc thầm câm
Song rất thính và nh́n
xa rất tốt.
…………………………………………………………………………..
Con rắn Hồng dù lột xác cũng
không
Thoát khỏi
lưới trời lồng lộng mênh mông.
Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng
Giờ phút lâm chung
quỷ yêu làm sao ngờ nỗi
Rồi đây
Khi đất trời gió nỗi
Tàn hung ơi! Băo lữa,
trốn vào đâu? Bám vào đâu ?
.........................................................
Tập thơ Vô Đề & Khuyết Danh
ChuSa. Jan
1st, 2003
Đây là tài
liệu thu nhặt từ giới
Phật Tử.
Những người tu hành chân chính muốn nơi cửa chùa là nơi yên tịnh cho kẻ thành tâm tu hành và dọn sạch mọi ô uế của các Đại Ma Đầu Sư Tăng được bao bọc, bảo vệ bởi các đệ tử c̣ mồI và sẳn sàng xả thân chết cho “thầy quốc doanh”.
2- HT
Thanh Cát: HT ngườI
gốc Bắc kỳ không tu hành theo đường lối
Phật Giáo Việt Nam, Thanh Cát tu theo đường
lối của Nhật, hiện nay có vợ và 3 con đang
làm chù một dăy apartment tai El Palo Alto, HT Thanh Cát không tha
một cháu bé tên Hằng, sau đó đă nhờ luật
sư điều đ́nh với gia đ́nh nạn nhân và
phải trả $30,000 đô la để ra khỏi bị truy
tố ra ṭa. Dữ kiện này đươc
đăng tải trên báo Mc Cury tại
3- HT
Thích Măn Giác : Cả thế giới đều
biết HT Thích Mẫn Giác là người vô cùng độc
ác đă hạ độc HT
Thích Tâm Châu ờ Viện Đại Học Vạn Hạnh
Việt
4-HT
Thích Giác Nhiên : Lúc 26 tuổi , Thích Giác Nhiên đă
bị Giáo HộI Khất Sĩ
trục xuất khỏi Phật Giáo v́ đă phạm
giới với hành dâm với
cô Hạnh Ngọc ở Vĩnh Long. Nhờ được
quen biết vớI Thiếu
Tướng Bùi Đ́nh Đạm , Thích Giác Nhiên cấu
kết với thành phần
bất hảo và thành phần trốn quân dịch
để cưởng hiếp dân làng Nạn nhân của
Thích Giác Nhiên là Huỳnh
Ngọc Thanh. (tin tức của tờ
báo Viễn Đông, báo Từ Bi Âm có đăng tải) .
Thích Giác Nhiên bị bắt quả tang làm chuyện tồi
bại với bà Năm Diệu Túc tại Tịnh Xá. Thích
Giác Nhiên đến chùa Quang Minh ở
5- HT
Thích Đức Niêm : Chùa Bát Nhă có HT Tâm Ngạn ăn
nằm với cô Quăng Tâm ( Ni Đàm Hương) và đă phá
thai 4 lần . Sau đó th́ đưa cô Đàm Hưong
về trụ tŕ và hứa kư tặng cho cô ta ngôi chùa Quang
Minh ở Chicago, chờ măi không thấy Thích Đức
Niệm làm theo lời hứa, cô Đàm Hương tức
giận và khai rơ
sự việc vụng trộm trước
đám đông của gia đ́nh Phật Tử trong ngày
lễ Phật Đản. và có quay phim để làm tang
chứng . Ngoài ra, Thích
Đức Niệm cũng tặng luôn cô Diệu Tánh cái bầu và đưa cô Diệu
Tánh về Orange County lấy cớ là mua nhà -lập chùa ,
nhưng đó chỉ là diệu kế để đi
lại ân ái công khai. Khi cô Diêu Tâm khám phá là cô
không có trong chủ quyền nhà đất th́ cô tố cáo là
cô đă bị Thích Đức Niệm đánh lừa.
Đề đánh lạc hướng dư luận Thích
Đức Niệm kéo thêm bè cánh HT Thích Trí Chơn (
người đă có tiền án là đă xâm phạm t́nh
dục với 6 cô gái tại
chùa Vạn Hạnh ( San Diego trong năm 1982). Thích
Đức Nịêm c̣ mồi thêm Thích Huyền Dung vào phe
đảng. Thích Huyền Dung chỉ vào chùa tu trong 3
năm chưa thọ tỳ kheo giới mà đă nhảy
vọt lên chức Ḥa Thượng. Thích Huyền Dung
lại kêu rêu là -Ông Đức
Niệm tội lỗi quá nên kéo tôi về làm b́nh phong cho
PHVQT.
6- HT
Thích Chánh Lạc : Người gốc Bắc,
nổi tiếng là độc tài và nhiều thủ
đọan hăm hại , và triệt tiêu những sư
tăng không theo đường hướng của ông ta. Ngoài bàn tánh thích sân si, thích độc đoán, thích
gian ngoa, thích hành lạc, thích đàn bà. Hội Phật
Giáo Miami vach trần sự thật tố cáo về
chuyện dan díu với bà Chành Lê có 5 đứa con. Sau đó Thích Chánh Lạc khăn gói quả
mướp ra đi. Khi ở
7- HT
Thích Chơn Thành : theo tài
liệu của sở cảnh
sát
Trong năm 2000, Thích Chơn Thành và Thích
Quăng Thanh, Ni Sư Diệu Từ mưu kế lập ra
Hội Từ Thiện Phật Giáo quyên tiền cứu
trợ băo lụt. Họ thu
được gần 1 triệu đồng, và gữi cho
hai người thân nhân của họ tại Việt
Ni
sư Diệu Từ không được chia chát đồng
đều đâm ra uất ức thưa kiện,
để trám lấp chuyện trên , hai
sư Chơn Thành và Quăng Thanh phanh phui câu chuyện t́nh éo le
của Ni sư Diệu Từ
- Ông đệ tử- Cô Ni Diệu Hương hai bà một
ông , trong cuộc t́nh tay ba này chỉ có cô Diệu
Hương được tặng cái bầu tâm sự. Chuyện đă lỡ dỉ nên Ni Sư Diệu
Từ ngậm bồ ḥn cay đắng cầm $50,000.
Sau
khi số tiền lũ lụt cạn
theo những nàng kiều th́ bổng nhiên cuộc khủng
bố kinh hoàng ngày 11 tháng 9 lại xảy ra ở
8- HT
Thích Nguyên Đạt :
tự hào là một minh sư nên Thích Nguyên Đạt tự
tấn phong cho ḿnh thành HT. Sau
khi TT Pháp Chân khám phá Thính Nguyên Đạt có vợ Mỹ là
bà Lisa Robison ở
Thích
Nguyên Đạt tố cáo TT Thích Pháp Châu là người cùng
quê quán có vợ 3 con (có thâu băng tư liệu này).
9- HT
Thích Hạnh Đạo : Trong công đồng ai
cũng biết HT Thích Hạnh Đạo gốc Tuyên Úy có
vợ và 6 con, di dân qua Hoa Kỳ theo hồ sơ diện HO.
Với danh nghĩa là thành lập chùa Phổ Đà ,Thích
Hạnh Đạo hùn hạp làm ăn vớI Thầy Chí
Thọ rồi cuỗm luôn số tiền $150,000 của
Thầy Chí Thọ để mua nhà cho vợ con, khi vỡ
lẻ ra th́ Thầy Chí Thọ
không có tên ông ta mọi giấy tờ hành chánh , hay chủ
quyền của cơ sở Chùa Phổ Đà. Ông bà Nguyễn Đoàn Khuê là Liên Đoàn Trưởng
của Giáo Hội Phật Giáo Phổ Đà đă phơi
bày sự thật và chứng minh sự gian lận
lường gạt này. Thừa lúc
lộn xộn, ông Nguyễn Phước Trí (Nguyên
Lượng) làm chủ chốt giật dây, đổ
dầu thêm lửa tam muội để điều
khiển HT và Gia đ́nh Phật Tử.
Thích
Hạnh Đạo không có tâm nguyện tu hành, lem nhem
tiền bạc của người khác, lăng nhăn
vợ con và luyện thêm bùa chú, bùa ếm, bùa thư, bùa yêu
cho kẻ phá hại gia cang người khác, bùa “sát tử”
(bùa giết kẻ nào chống lại người bỏ
bùa), bùa sờ bụng đàn bà mang thai (gọi là phép
Kiến Tường để sanh con trai) .
Khách thập phương không cần phải lặn
lội đến Thái Lan kiếm ngăi
Thiên Linh Cái, họ chỉ cần đến chùa thỉnh
sư Đạo Hạnh vài lá bùa hộ mạng cầu tài,
kèm theo nghề tay trái coi bói tướng coi chỉ tay. C̣ những
phật tử sau khi thăm Thích Hạnh Đạo
về bị nhức
đầu, ói mửa vô nguyên cớ không chửa trị
được th́ hàng tháng phải ghé chùa cúng cho Thích
Hạnh Đạo $100.00 th́ không cần thuốc men
chửa hết nhức đầu. Ngoài ra Thích Hạnh
Đạo “ dâm “ này c̣n hợp tác với sư Nhật Minh
để bán thuốc “ kích dục gia truyền “ Thật là
hiếm có một tăng sư tài ba luyện bùa chú trong tổ chức Phật Giáo Việt
Nam. TT Nhật Minh sau khi
uống thuốc kích dục gia truyền lấy bà Lê
Thị Xuân (vợ của ông Chấn tại Texas) c̣n lôi kéo
Ni cô Tịnh Nguyện vào chuyện hành lạc khiến cô ta
bỏ Chùa về nhà.
10-
TT Thích Phước Thuận :
Thiếu học, dổt nát hay lên giọng thầy
đời lấy vợ của ông Lê Văn Phước (
cháu của bà Chơn Đạt). Hội Phật Giáo Chùa
Vạn Hạnh đuổi đi, th́ Thích Phước
đưa bà ta về Việt
11-
TT Thích Giác Chân: Giác Chân theo lời của nhà
sư Giác Minh Chùa Quán Âm , (Sư Giác Minh giết bà chủ tiệm vàng
Saigon tại San Diego năm
1981). Năm 1975, Giáo Hội Khất Sĩ dùng phép Yết Ma
trụt xuất Sư Giác Chân khỏi giáo hôi tại Tịnh Xá Ngọc Quang Sa
Đéc vi Thích Giác Chân lấy cô Nguyễn T. Phúc , và sanh ra
đứa con gái giống bố Thích Giác Nhân như khuôn
đúc.Thích Giác Chân bèn xuôi chèo đẩy mái đến
Bạc Liêu nương náu nhà cô
Phương Lâm ( chủ nhân Chợ Viễn Đông 3)
và ăn ở với cô này trong 4 năm cho đến khi
vượt biên sang trại tị nạn. Sư Giác Nhiên
khuyên răn bỏ cơn mê đời trở lại
đường tu, tuy chưa
thọ giới Sa Di đă nhảy vọt lên chức TT.
Sư Giác Chân về
12-
TT Thích Tín Nghĩa :
người thiếu học , với chức vụ trong
ban nghi lễ. Năm 1981 lấy luôn 2 mẹ con bà Cao Thị
Lành ở Santa Ana nên bị Ṭa Án ra lệnh tồng giam. Sau đó lên chùa VN
lấy cháu gái ông Tôn Thành Kiên. HT Thiên Ân phải thương
luợng và bồi hoàn hiện kim cho gia đ́nh nạn nhân .
Sau sự việc trên sư Tín Nghĩa có thêm
biệt danh là Đại Ma Đầu Bất Tín Nghĩa.
13-
TT Thích Minh Mẫn. Thích Minh Mẫn là người
giàu có nhất trong hàng ngũ tăng sư hải ngoại,
biệt tài của ông là chuyên cần ăn thịt ḅ, thích
uống bia, thích nhảy đầm, áo cà sa này không làm cho giăm
cường độ dâm hoang của ông nên ông hành lạc
với cô Diệu Ngộ trong
Chùa Huệ Quang mà không ngại ngùng cặp mắt của
chú Phuơng, chú Nghĩa, thầy Đồng Trung. Chuyện
t́nh này không tránh khỏi tai mắt của Đệ
Nhất Phu Nhân là cô Diệu Ninh, nên cô nổi cơn tam bành
Chung Vô Diệm lôi cổ Thích Minh Mẫn đập
đầu vào cửa kiếng để xem cái sọ không
tóc đó có chung thủy sơn keo như ông thường
hẹn thề. Bà đệ nhầt phu nhân khàm phá ra
cuộc t́nh ướt át hẹn ḥ này c̣n có cô Diệu
Hạnh, Diệu Cảnh, Diệu Hằng, Chí Hạnh
Chơn v..v… Cô nào cũng mắn
đẻ với thầy nên Thích Minh Mẫn tặng cho
mỗi cô một nhà hàng hay một tiệm rượu. Cô Diệu Ninh là Đệ Nhất
Phu Nhân nên được đăc quyền làm chủ nhà
hàng Tàu đuờng Compton/Lawndale gần Chùa Bảo Tịnh.
T́nh trong chưa đă, ra chùa c̣n tham Thích Minh Mẫn theo ông
Nhật Thanh qua Đại Hàn thử những món hàng
mới toanh của các nàng Kiều ăn nhiếu Kim-Chi
cuối cùng ông mắc bệnh giang mai và mù hết một
mắt. Người chửa bệnh cho Thích
Minh Mẫn là Bác Sĩ Bùi Đồng và ông ta phanh phui sự
việc tại
Trong
chuyến đi hành hương đất Phật ở
Ấn Độ , phái đoàn gồm có HT Tường
Vân, Sư Bà Lựu Đàm,
Thầy Minh Đức . Thích Minh Mẫn
mướn pḥng riêng với cô Diệu Ngộ nửa
đêm chăn ấm t́nh nồng. Phái
đoàn Sư Bà Lựu Đàm và các Thầy bắt quả
tang. Trên đường về đôi uyên ương
tách khỏi phái đoàn tẻ qua Hong Kong du hí thêm 1 tuần
lễ trước khi trở về Hoa Kỳ. Khi nghe
chuyện Thầy Pháp Châu bị làng báo chí phanh phui chuyện
dan díu với Bà Chân th́ Thích Minh Mẫn vội lên đài tuyên
bố là muốn tự vận v́ quá xấu hổ.
14-
TT Thích Nguyên Siêu : trước đây mang pháp hiệu Chơn Trí trụ
tŕ Chùa Bồ Đề ở Pénnylviania dụ dố cô Diana
Trịnh ( con gái của ông Nguyễn Đạt Thắng)
Thích Nguyên Siêu ở tù 8 tháng và tiến beo(bail) thế chân do
ṭa án chỉ định là
$150,000.00 . Ngoài ra ṭa c̣n
tuyên án phảI cấp dưởng con
hàng tháng.
15-
TT Thích Minh Tuyên :
16-
TT Quăng Thanh : Theo
thư của Ṭa Àn do ông Ḥa làm chứng là Thích Quăng Thanh có dan díu với cô
Hương ( con gái ông Tony Ḥa
ở Thousand Oak có 2 mặt con th́ phải bồi
thường cho cô Hương
một căn nhà trị giá $300,000.00 và hàng tháng
phải cấp dưỡng tiền nuôi 2 đứa con theo
như luật pháp của Hoa Kỳ . Theo như lời
chư tôn đức th́ sư Quăng Thanh c̣n ṃ mẫm cả 2
mẹ con Bà Hằng Nga và cô con gái . Mỹ Lai mang cái bầu tâm sự với Quăng Thanh
và nhờ luật sư thưa kiện. Khi chư tôn đưc can thiệp th́ Quăng Thanh
mướn du đảng diệt khẩu chư tăng.
17-
TT Viên Lư : Viên Lư tự phong cho ḿnh là TT cùng
lúc với TT Minh Mẫn, TT Vân
Đàm. 10 năm về trước Khi ở Chùa Viet Nam
tại thành phố Los
Angeles ( Chùa của HT Mẫn
Giác) Viên Lư có 2 đứa con với cô Liêu
Cẩm Hồng. Viên Lư bị
HT Mẫn Giác đuổi ra khỏi chùa. Cô Liêu Cẩm
Hồng vận động nhóm người Hoa để
thành lập Chùa Diệu Pháp . Gia đ́nh
Phật Tử Chánh Đạo có đăng tin tức này
trên tờ Việt Báo sau khi Viên Lư không cho Gia Đ́nh Phật
Tử sinh hoạt theo đường hướng của
Ban Hội Đổng Trung Ương. Tiền quyên góp cho
việc cất Chùa Diệu Pháp được đầu
tư vào khu Apartment
ở đường Monterey Park do cô Liêu Cẩm
Hồng đứng tên, ( tin tức của cô Liêu Cẩm
Hồng) .
Viên Lư đến đường
V́ sự cản trở của TT
Minh Dung và v́ TT Minh Dung có 10
tấm h́nh bỉ ổi được chụp tạI
hiện trường nên từ đó Viên Lư t́m cách giết
TT Minh Dung để diệt khẩu. Thích Viên Lư đă cúng
dường $10,000.00 cho các
HT,TT trong nước và nhờ HT
Kế Châu vận động mạnh mẻ ôm cái
ghế của TT Hạnh
Tuấn v́ TT Hạnh Tuấn từ chối không chịu
nhậm chức. Ông Nguyễn Đức Can ,
sau khi trở về từ VN cho biết với báo chí là
mọi tin tức của HT Huyền Quang và Quảng
Độ được ngụy tạo bởi Viên Lư
với con dấu giả, chử kư giả.
Cáo
già Viên Lư biết HT Chánh Lạc điêu ngoa không
được nhiêu người ưa chuộng nên xúi HT
Chánh Lạc chống phá HT Hộ Giác đang làm chức Phó
Viện Trưởng. Khi HT Hộ Giác rút lui, bỏ
trống ghế th́ Viên Giác kiêm luôn 2 chức vụ Phó
Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Tổng
Thư Kư Viện Hóa Đạo. Âm mưu này
được bàn thảo với Thầy Minh Dung. Khi
Thầy Minh Dung từ chối và vạch trần sự
thật th́ Viên Lư nhiều lần thuê du đảng và
xả hội đen ŕnh rập hạ sát. Những dữ
kiện này có thu âm để làm bằng
chứng. TạI buổi họp ở Orange County là nơi
tụ hội nhiều phật tử trên Hoa Kỳ, có nhiều phật tử yêu
cầu đề cử Vị đại diện cho vùng. Viên Lư từ chối v́ không có người xứng
đáng. Khi Viên Lư bị chư tăng ni và phật
tử cùng nhau phản đối bèn lập mưu
đưa một nhân vật có hồ sơ tội lỗi
đen tối không khác ḿnh là TT Chơn Trí lên giử chức
Chánh Đại Diện miền Quăng Đức. TT Chơn
Trí đă có 1 con với Bà Hoài Thanh Mỹ (vợ của ông
Vơ B́nh Thủy) Đây là một kế sách vô tiền khoán
hậu vừa đẹp ḷng HT Hộ Giác vừa giữ
được sự đồng lơa của TT Chơn Trí.
Tuy vậy, Viên Lư c̣n e dè ngưới dưới
trướng của HT Hộ Giác, c̣n sư Giác Đẳng
là kẻ thù nguy hiểm nhất nên cho người theo
dỏi điều tra và săn t́m lư lịch đời
tư của HT Giác Đẳng để dùng đó là vũ
khí lợi hại hạ uy tín địch thủ. Viên lư
đánh hơi được chổ yếu của TT Giác
Đẳng là đă có tiền án 8 tháng tù v́ tội xâm
phạm tiết hạnh của cháu bé Ngọc Thanh ( con gái của Cụ Kỷ) và sự
việc này do TT Tịnh Đức giải quyết và
thương lượng và
bồi hoàn cho gia đ́nh của nạn nhân là $17,000.00
để băi nại và sau đó TT Giác Đẳng
được tức tốc đưa về Houston.
Nắm được dữ kiện này trong tay
Viên Lư sai các đệ tử trung thành gữi đi đăng
tải trên báo chí để triệt hạ cái gai
trước mắt. (câu chuyện trên có
đăng tải trên Báo Tiền Phong, Báo Ngày Nay. Ngoài ra các chư tôn sư nào phản đối hành vi
nhơ nhuốc trên đều bị Viên Lư mướn du
đảng hăm dọa hay trịệt tiêu để
khóa miệng.
18-
TT Thích MinhTồn : biệt
danh là Nộ Đại Sư
v́ tánh t́nh hung hăng hay chửi thề đấm
đá khi có người làm
điều trái ư. Theo như lời ông Vĩnh An Fabric kể lại th́ ông
được biết qua ông Nguyễn Tướng là Thích
Minh Tôn có mượn của ông $125,000.00 để đánh bạc
thua hết không tiền tră , và bị chủ nợ
mướn gái dụ dổ làm tṛ con heo tại pḥng ngủ
của Casino. Cuốn phim con
heo này được thâu vào ống kính nên Thích Minh Tôn
bị bắt buộc phải đi hành nghề ma cô cho
đến khi tră hết món nợ. Đồng
hành với Thích Minh Tôn là TT Giác Sĩ là CS điệp báo CS
nằm vùng trong cộng đồng Phật Giáo. Giác
Sĩ có vợ 5 con và qua Hoa Kỳ theo
diện HO, Khi bị vợ bỏ th́ vào chùa cạo
đầu kiếm cơm với HT Giác Nhiên. Tu
chưa đầy 2 năm th́ tự phong chức cho ḿnh là
TT. kết bè phái vớI TT Minh Tôn , dùng Phật
Đường là nơi buôn bán
Nha Phiến và gái măi dâm.
19-
Pháp Sư Thích Giác Đức : Không ai xa lạ ǵ
với ông pháp sư có vợ
và 4 con trước kia là Chủ Tịch Cộng
Đồng Phật Giáo
Bắc Mỹ. Pháp Sư đă có tiền án là lem nhem
với Bà Lữ Tố Liên tại Pénnsylviania sau đó qua Pháp lấy vợ. Hiện nay có vợ và 3 con. Tuy phạm đại giới và hoàn
tục nhưng c̣n ham danh lợi muốn lập ḍng tu
Đại Chúng dành cho những tân sư tăng phạm
giới được chánh thức vừa tu vừa hành
lạc trong danh nghĩa
đường đi của Giáo Tổ. Sau khi thành lập
xong ḍng tu Đại Chúng và
công khai lấy 4 thành viên làm vợ . Sư Thích
Giác Đức bị 4 thành viên này đ̣i bồi
thường thiệt hại là $60,000.00.
Và sau đó ông ta t́m cách lập phe phái để chia
rẽ, lôi cuốn các sư tăng khác đi vào con
đường tội lỗi của ông.
20-
TT Thích Trí Lăng: 15 năm trước ở VN có
hoàn tục, cưới vợ và 3 con sống ở Long
Thành. Khi vượt biên th́ đem cả vợ con đi Thái
Lan. Được HT Giác Lượng bảo lănh
đem cả vợ con theo. Sau
khi định cư tại Chùa Pháp Duyên th́ ăn chận
$18,000,00 tiền vé máy bay của Chùa Pháp
Duyên và bị đuổi ra khỏi Tịnh Xá. Thich Trí Lăng
trở về với vợ con. Đến
năm băo lụt 2000 Trí Lăng hô hào quyên góp được
$60,000.00 tiền băo lụt cho đồng bào. Nhưng số tiền này nằm
gọn lỏn trong túi hồ bao của Trí Lăng để mua
Chùa và mua nhà cho vợ con.
21-
TT Thích Vân Đàm : Năm
1982 có tiền án khi lăng nhăng vớI cô Tanya Thảo Lê và có đứa con rơi . Ban
Trị Sự Chùa nhờ ông Châu Văn Thọ đứng
ra điều đ́nh và bồi thường gia đ́nh
nạn nhân và tră tiền băi nại là $16,000.00 Sau đó xuống
trụ tŕ Chùa Từ Hiếu th́ tằng tịu với
cô Julie Trương , xong
chạy qua
22-
TT Thích Minh Hồi :
Đệ tử của HT Giác Nhiên
trước năm 1983, tại Tịnh Xá Ngọc Phước lấy cô Lê
Thị Ngọc ( con của ông bà Lê Tín). Sau khi
dàn xếp nội vụ th́ về Như Lai Thiền Tự
ở
23- TT Thích Thông Niêm :
Trước kia ở Chùa Liên Hoa của HT Chơn Thành ( trích
theo tài liệu của Bà Diệu Chơn) rằng Thích Thông Niêm và ĐạI
Đức Thích Tâm Tường cùng nhau dan díu với cô Cindy
Thủy là con gái của Bà Diệu Chơn. Nên Bà Chủ Chùa
Viên Thông Long Beach báo cáo. ( bà chù Chùa Viên
Thông Long Beach là bạn của Bà Diệu Chơn.) Sau này Thông Niêm dời Chùa xuống thành phố
24- TT Thích Minh Trí :
Công Đồng địa phương và gia đ́nh
Phật Tử Chùa Hương
Tích đều biết Thích Minh Trí lấy 2 chị em cô Phượng và bị
Ban Trị Sự Chùa đuổi ra
Minh Trí thành lập Chùa mới tên là Chùa Huệ Nghiêm, và mua nhà cho cô
Phựong ở sát bên chùa cho tiện lợi việc đi
lại chăm nom.
25-
Ni Sư Nữ Như Ḥa : Khi
ở Chùa Dược
Sư Gia Định VN
th́ cô ta có dan díu với 1 thầy sư , đến khi có
bầu th́ phá thai và vượt biên qua Hoa Kỳ. ( Trong
băng thâu h́nh Video Tape có 1 đoạn TT Thích Thanh Từ khi
viếng thăm Chùa Dược Sư ví von nói : “-Tôi thấy có người bán cá
hơn là Bà Ni “ .
Ni
Sư Nữ Như Ḥa bị Ni Sư Chơn Niệm
vạch mặt chỉ tên là đă ngủ với HT Giác
Mẫn, Thầy Hồng Quang, cháu HT Thiên Ân và cô Như
Ngọc tại Chùa
Di Đà ở
Nữ Như Ḥa nói HT Thích Đạo Quang đă
lấy Ni Hoa Tâm.
26- TT Thích Giác Sơn : Là nguời dẩn mối mời HT Thanh Từ thân cộng về giảng tại Chùa Hoa Nghiêm. Không biết lư do nào đó vài ngày sau Thích Giác Sơn bán chùa đi biệt tích để lại cho Phật Tử nhiều ngỡ ngàng là đă bị đại sư ma đầu lường gạt.