HOME

 

 

Suy Nghĩ Về Chiến Lược Quân Sự của Hoa Kỳ

 

          ChuSa

            November 11, 2002

 

          Trong một số tài liệu được công bố đáng chú ư nhất là tài liệu "Joint Vision 2020" đă được Ngũ Giác Đài cho công bố vào đầu tháng 6, 2000. Đó là bản nhận định của Ủy Hội các tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ. Bản nhận định đă chỉ đích danh Trung Cộng là kẻ thù trong tương lai của Hoa Kỳ. Tuy nhiên trong bản văn công khai th́ nói trớ ra Trung Cộng sẽ là nước cạnh tranh với Hoa Kỳ trong tương lai. Bối cảnh của những cuộc xung đột được các ban tham mưu nghiên cứu chiến lược tại Ngũ Giác Đài đều cho rằng sẽ xảy ra trong vùng thuộc Châu Á, có thể tại những nước như Iran, Ấn Độ, hay Pakistan. Những câu hỏi được đặt ra là liệu Iran có thể trở thành một quốc gia chuyên gây hấn một khi họ có được tiềm năng nguyên tử và một kho vũ khí hạch tâm không? Có thể nào sẽ có một cuộc chiến tranh nguyên tử giữa 2 nước Ấn Độ và Pakistan không? Với nội bộ không ổn định và sống lây lất với một nền kinh tế yếu kém, liệu Pakistan và kho vũ khí nguyên tử của họ có thể bị rơi vào tay của nhóm Hồi Giáo quá khích Taliban ở Afghanistan không ? Nhưng điểm được chú ư nhất là ưu tiên cho lập trường thiên về những nguy cơ  có thể xảy đến cho Châu Á trong tương lai gần đây của tướng Anthony Zinni, người được xem như là một trong những tướng lănh có uy tín nhất của quân đội Hoa Kỳ. Kế hoạch "Hàng Rào Hỏa Tiễn Chống Hỏa Tiễn Địch" nhắm một mục tiêu rộng lớn hơn là để ngăn ngừa sự đột kích của những quốc gia "gian manh, không đáng tin cậy" như Libya, Iran, Bắc Hàn ....; nhưng trên thực tế th́ thật ra Hoa Kỳ muốn ám chỉ hai nước Nga và Trung Cộng mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở đoạn sau của bài này.

 

1.     Chiến Lược Thầm Lặng

 

          Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đang âm thầm bước sang một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng, có thể nói đó là một cuộc cách mạng tuy thầm lặng, nhưng có thể thay đổi cục diện thế giới một cách bất th́nh ĺnh, khó mà biết trước được. Sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, các chiến lược gia của Ngũ Giác Đài - trước kia chỉ để ư đến những nước ủng hộ quân "khủng bố" trong thế giới thứ ba - th́ nay lại nhất trí cho rằng cần phải để ư đến một nguy cơ mới xuất hiện có tiềm lực quân sự coi như gần ngang hàng với Hoa Kỳ và có khả năng đương đầu ngang ngửa với nước nầy trong một tương lai không xa lắm. Tuy hiện nay Hoa Kỳ chưa thấy xuất hiện một nước nào có tiềm lực quân sự như vậy, nhưng họ vẫn lo đề pḥng trước là hơn; v́ các chiến lược gia Hoa Kỳ đă thấy được viễn ảnh không sớm th́ muộn thế nào cũng sẽ có sự tranh chấp về quyền lợi khai thác dầu hỏa trong vùng biển Lư Hải (Caspian Sea) giữa Hoa Kỳ và nước Nga; và sẽ có đụng độ với Trung Cộng trong việc đứng ra bảo đảm tự do lưu thông cho các tàu bè qua lại trên vùng biển Nam Hải. Đó là những ưu tư của các chiến lược gia làm việc trong Ngũ Giác Đài. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, các nhà cầm quyền Hoa Kỳ luôn luôn cố gắng phát hiện một kẻ thù mới có thể xuất hiện trong tương lai để họ có thể chuyển hướng việc sản xuất những hệ thống vũ khí mới của họ sao cho phù hợp với chiến thuật thích nghi mới. Trước kia - khi c̣n Liên Xô - th́ công việc rất là đơn giản: quân đội Hoa Kỳ và đồng minh chỉ cần chuẩn bị đương đầu với sự xuất phát của các đoàn quân xâm lăng thuộc Minh Ước Warsaw, qua các đồng bằng của Âu Châu. Giờ đây Minh Ước Warsaw đă tự giải tán, và một số thành viên trong minh ước này đă xin gia nhập vào Minh Ước Bắc Đại Tây Dương, ( NATO) nên bắt buộc Hoa Kỳ phải nghiên cứu những bối cảnh mới có thể xảy ra trên chiến trường trong tương lai. Tuy nhiên những chiến thuật được giảng dạy trong các trường quân sự rất khó mà tách rời khỏi những định tắc của đại thể chiến lược, nhất là khi chưa phát hiện đích thực được một kẻ thù nào trong tương lai lại càng làm cho khó khăn thêm công việc hoạch định một kế hoạch quân sự thích nghi, đồng thời gây trở ngại không ít cho Ngũ Giác Đài trong việc xin Quốc Hội cấp ngân sách. V́ ngân sách quốc pḥng được Quốc Hội bỏ phiếu chuẩn chi từng năm một, và chỉ được tăng thêm lúc nào Ngũ Giác Đài chứng minh rằng là đă phát hiện được có nguy cơ cho đất nước. Trong gần suốt thập niên 90, chính quyền Clinton với sự phụ họa của bộ trưởng Quốc Pḥng vẫn luôn luôn cho rằng nguy cơ rất gần đây vẫn là các nước bảo trợ khủng bố; nhưng đối với một số lớn chiến lược gia ở Bộ Quốc Pḥng th́ lư luận này không c̣n thuyết phục được Quốc Hội v́ nguy cơ đến từ các nước "bảo trợ khủng bố" đă giảm xuống rất nhiều: Bắc Hàn th́ bị nạn đói hoành hành và tiềm lực khuếch trương khả năng nguyên tử không c̣n đáng được chú ư cho lắm. Iran - từ khi Khatami được bầu lên làm tổng thống - cũng đă dịu giọng xuống nhiều và không c̣n khiêu khích Hoa Kỳ như trước nữa. Iraq đă mất quyền kiểm soát các tỉnh miền bắc đông dân Kurd, và tiềm lực quân sự của nước này suy sụp đến mức độ không c̣n là một nguy cơ cho các nước lân cận nữa, chứ đừng nói chi nguy cơ cho Hoa Kỳ!  Theo những chiến lược gia này th́ nguy cơ sắp tới đối với Hoa Kỳ là Trung Cộng và Nga, và chính quyền phải báo động nguy cơ nầy cho Quốc Hội biết, th́ khi đó mới có hy vọng xin Quốc Hội chuẩn chi cho những ngân sách quốc pḥng dồi dào hơn.

 

          C̣n về phía Quốc Hội Hoa Kỳ th́ họ cũng có những suy tư riêng của họ và họ cũng đă có những cuộc tranh luận sôi nổi để phân tích về những lực lượng quân sự có thể vươn lên trong những thập niên tới đây. Đối với những thành phần trong Quốc Hội cho rằng ngân sách yểm trợ chiến lược chống các nước chủ trương "khủng bố" do Ngũ Giác Đài hoạch định quá đủ để đáp ứng những kinh phí cần thiết cho các công tác quân sự trong tương lai; trong khi đó - đối với phe chủ trương rằng nguy cơ trong tương lai sẽ phát xuất từ hai nước Nga và Trung Cộng - th́ ngân sách hiện nay về quốc pḥng cần phải được tăng thêm nhiều hơn nữa. Theo Viện Nghiên Cứu về Nền An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ  (INSS) th́ mặc dầu không c̣n hiểm họa của một cuộc thế chiến nữa, nhưng Hoa Kỳ vẫn phải luôn luôn đề cao cảnh giác về sự đụng độ có thể xảy ra với một quốc gia khác có tiềm lực quân sự - tuy không tương đương với Hoa Kỳ - nhưng cũng có thể làm cho Hoa Kỳ suy nghĩ lại về vai tṛ siêu cường của ḿnh. Theo Viện Nghiên Cứu INSS th́ quốc gia này khác với các quốc gia "bảo trợ khủng bố" là họ có vơ khí nguyên tử khá hiện đại có thể phóng đi bằng vệ tinh, có một quân đội khá hùng mạnh luôn luôn sẵn sàng ứng chiến. Thành thử trong giai đoạn hiện tại, chỉ có Nga và Trung Cộng là đáp ứng được những điều kiện ghi trên mà thôi.

 

Viện này cũng ghi thêm rằng - trong thập niên tới đây - Ấn Độ cũng sẽ trở thành một quốc gia có tiềm lực quân sự không kém ǵ Nga và Trung Cộng. Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ trong hiện tại vẫn khẳng định rằng các nước "bảo trợ khủng bố" vẫn c̣n là một nguy cơ cho nền an ninh của Hoa Kỳ, nhưng giờ đây chính quyền Hoa Kỳ cũng đă ư thức được phần nào về những triển khai hiện nay trong lănh vực quân sự của Nga và Trung Cộng. Dưới sự lănh đạo của tổng thống Vladimir Putin, nước Nga bắt đầu thoát ra khỏi cơn lốc trầm trệ của thập niên 90 và đang cố gắng xây dựng lại và canh tân bộ máy quân sự của họ. C̣n Trung Cộng th́ tận dụng tiềm năng kinh tế của họ để đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ sở quân sự có địa vị khả quan trên địa bàn thế giới. Từ trước đến nay, dầu hỏa là nguyên liệu được nhập cảng quan trọng nhất đối với Hoa Kỳ v́ nước này nhập cảng một nửa số lượng dầu hỏa tiêu thụ trong nước,và sự lệ thuộc có tính cách chiến lược này càng ngày càng tăng khi những mỏ dầu hỏa trong nội địa của họ càng ngày càng vơi dần theo đà phát triển của nền kỹ nghệ. V́ vậy chính quyền Hoa Kỳ luôn luôn mong muốn có sự bảo đảm về việc vận chuyển số lượng dầu hỏa nhập cảng trong vùng Vịnh. Đồng thời Hoa Kỳ cũng rất chú ư đến những vùng giàu về dầu hỏa và hơi đốt tọa lạc trong vùng biển Lư Hải (Caspian Sea) ở Trung Đông và vùng biển Nam Hải ở Đông Nam Á Châu. Sự kiện nầy đă làm cho Hoa Kỳ lo ngại khi thấy nước Nga tuyên bố biển Lư Hải thuộc về vùng ảnh hưởng lịch sử của họ; c̣n Trung Cộng th́ khẳng định với thế giới rằng một phần lớn biển Nam Hải thuộc về lănh thổ quốc gia ở ngoài khơi của Trung Quốc.

 

          Ngày 6 tháng 2, 1997, Ủy Ban Quân Sự của Thượng Viện Hoa Kỳ đă họp để nghe điều trần của tướng Patrick Hughes, giám đốc Cơ Quan T́nh Báo Quân Đội Hoa Kỳ (DIA). Theo tướng Hughes th́ Trung Cộng là một trong số rất ít quốc gia có khả năng xử dụng tiềm năng cần thiết về chính trị, kinh tế và quân sự từ đây đến 10 hay chậm lắm là 20 năm, để trở thành một đe dọa đáng lo ngại cho những quyền lợi của Hoa Kỳ và viễn ảnh có sự đụng độ trực diện với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á càng ngày càng thêm rơ rệt. Và rất có thể lúc đó Trung Cộng sẽ coi Hoa Kỳ là một nguy cơ quân sự trực diện đối với họ.Và tướng Hughes cho biết tiếp là trường hợp nước Nga cũng tương tợ như Trung Cộng v́ Nga cũng có đủ tiềm năng cần thiết để khả dĩ trở thành đối thủ trong ṿng 20 năm nữa - một hiểm họa lớn đối với quyền lợi của Hoa Kỳ. C̣n từ đây cho đến 10 năm nữa th́ Nga phải lo chấn chỉnh lại nền kinh tế đang c̣n yếu kém của họ; nhưng sau đó th́ họ sẽ vươn lên dần và sẽ trở thành một thế lực mạnh trong vùng để rồi dám đương đầu công khai với Hoa Kỳ trên bàn cờ quốc tế. Trong tháng 5, 1997, ông Caspar Weinberger, cựu bộ trưởng Quốc Pḥng dưới trào TT Reagan cũng có lên tiếng báo động và ông ta đă tuyên bố như sau: "Trong khi khối các nước miền Tây hân hoan đón nhận sự bành trướng của Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương đă lan rộng vào Trung Âu, th́ Nga đang trên đà chuẩn bị chiếm lấy các nguồn năng lượng trong vùng biển Lư Hải (Caspian Sea). Nếu Nga thành công trong chiến dịch này th́ lợi thế của họ bỏ xa lợi thế bành trướng của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương."

 

Mặc dầu có sự xung đột giữa hai quan niệm về hiểm họa Nga và hiểm họa Trung Cộng, nhưng các chiến lược gia của hai phe nầy đều đồng ư là Hoa Kỳ phải đề cao cảnh giác về sự hợp tác quân sự giữa Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, nhất là khi Nga đang có dự tính bán hỏa tiễn SS-N-22 cho Trung Cộng. Tuy nhiên cho đến bây giờ th́ TT Clinton vẫn cho hiểm họa các nước "bảo trợ khủng bố" mới đáng lo ngại, chứ nguy cơ tới từ các nước Nga, Trung Cộng th́ c̣n xa vời lắm.

 

          Ngày 29 tháng 3, 2000, Đại tướng Tŕ Hạo Điền (Chi HaoTian), Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng của Trung Cộng - sau khi tham khảo ư kiến với Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng Nga - đă lên tiếng xỉ vả phe "phân ly" đang làm nguy hại đến nền an ninh của hai nước Nga và Trung Quốc. Và khẳng định rằng từ nay quân đội và cảnh sát cả nổi lẫn ch́m của hai nước Nga - Hoa sẽ cùng nhau hợp tác chặt chẽ để cùng đối phó quyết liệt với những nước nào trong vùng Trung Á muốn tách ra khỏi ảnh hưởng của họ, để ngả theo nhóm "phân ly" hay bám vào nhóm "khủng bố quốc tế". Trong những phiên họp mật giữa hai vị Bộ Trưởng nói trên, người ta rất chú ư đến sự hiện của các trưởng nhiệm sở cùng nhiều phụ tá của đôi bên, trong các ngành quân báo (GRU), an ninh quốc nội và an ninh hải ngoại. Cũng nên ghi nhận là những nhà kinh doanh Hoa Kỳ và Tây Âu đi lại trong vùng Trung Á  cũng luôn luôn bị mật vụ Nga và Tàu theo dơi sát nút, nhất là họ rất "kỵ" những đại diện của các tổ hợp hoặc các công ty dầu hỏa lớn của Hoa Kỳ và của Anh quốc. Ngoài ra hai nước Nga và Trung Cộng cũng muốn dành độc quyền buôn ma túy trong vùng này, nên nếu có kẻ nào manh nha làm ăn riêng ngoài đường dây được họ bảo trợ, đều bị coi như là bất hợp pháp.

 

Ngày 23 tháng 5, 2000, xe của đại sứ Tadjikistan ở Kazakhstan cũng bị lục soát và nhà chức trách đă phát hiện 62 kư lô bạch phiến và một số quan trọng ngoại tệ; tất cả những đồ bất hợp pháp này đều bị lập biên bản và tịch thâu. Tất cả sự việc xảy ra và ghi nhận trên đây đều là những đ̣n phép tạo ra hỏa mù hầu che dấu mục tiêu thực sự của những thỏa hiệp quân sự bí mật được kư kết giữa Trung Cộng và Nga trong năm 1994: đó là những thỏa hiệp liên quan đến một chiến lược chung để đối phó với các nước Tây Âu, nhưng đặc biệt là để đương đầu với Hoa Kỳ. Sự liên hợp Nga - Hoa này làm cho ta nhớ đến sự liên hợp giữa Đức Quốc Xă của Hitler với Liên Bang Xô Viết của Stalin vào năm 1939, trước khi hai nước trở nên thù địch, không đội trời chung! Nhưng khi mà Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Hoa và Boris Yeltsin, tổng thống nước Nga - hậu cộng sản - đă cùng nhau kư kết một hiệp ước hữu nghị tại thủ đô Mạc Tư Khoa vào ngày 23-4-1997, th́ khi ấy chính quyền Clinton mới thấy được nhận định của các chiến lược gia Ngũ Giác Đài rất là xác đáng. V́ từ 1992, một năm sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, th́ Nga và Trung Cộng đă bắt tay nhau chặt chẻ để cùng bảo vệ quyền lợi cho nhau, trong toàn miền Trung Á, bao gồm 5 nước vừa mới được "độc lập" sau khi Liên Bang Xô Viết tan ră. Đó là những nước Kazakhstan, Turkmenistan, Ousbekistan, Tadjikistan, và Kirghizistan.

 

Sự hợp tác này lại càng chặt chẽ hơn nữa khi Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nga và Trung Cộng kư kết với nhau một số thỏa hiệp bí mật về quân sự vào năm 1994, nhưng không được báo chí Âu Châu và Hoa Kỳ đăng tải, mặc dầu đó là lần đầu tiên mà Nga và Trung Quốc đă cùng nhau hoạch định một chiến lược chung cho cả hai quốc gia trong toàn vùng Trung Á. Năm nước nói trên  - mặc dầu độc lập - nhưng về phương diện chiến lược quân sự th́ vẫn theo đuôi Nga v́ những người cầm đầu những nuớc đó trước kia đều là đảng viên cộng sản kỳ cựu và đa số đều có chân trong Bộ Chính Trị của Liên Bang Xô Viết. Những người nầy ngồi trên đầu trên cổ dân, bóc lột dân để làm giàu cho gia đ́nh họ, nên bị dân chúng thù hận và nổi lên vơ trang chống lại họ, cho nên những nhà cầm quyền độc tài này chụp cho họ cái nón "khủng bố" hoặc là "kẻ cướp" để thẳng tay đàn áp họ mà không bị quốc tế lên án.

 

Riêng về phần Trung Cộng th́ rất lo ngại về sự có mặt của hơn 600,000 dân Uighur tỵ nạn, ở dọc theo biên giới Tân Cương (Sinkiang) với các nước Kazakhstan, Kirghizistan và Tadjikistan. Trong ṿng 25 năm qua, chính quyền Trung Cộng đă bắt bớ, tù đày những thành phần dân chúng Uighur chống lại chính sách đô hộ tàn bạo của họ, mặc dầu những người Uighur rất có công trong việc khai phá các khu vực bao quanh các thị trấn lớn như Karamai, Yining, Wusu, Urumtsi thủ đô của Tân Cương, và nhất là lưu vực sông Tarim, nơi có mỏ dầu hỏa hiện đang được Trung Cộng khai thác để cung cấp nhiên liệu cho toàn vùng Tây Bắc nước Trung Hoa. Ngày 29 tháng 3, 2000, Nigmatulla Bazakov, lănh tụ rất có uy tín của dân Uighur tỵ nạn tại biên giới Kirghizistan, đă bị ám sát tại nhà ông ta ở thị trấn Bishek và dân tỵ nạn Uighur đều biết kẻ sát nhân thuộc bộ đội cảnh sát mật của chính quyền địa phương, được lực lượng hỗn hợp Nga và Trung Cộng huấn luyện.  

 

          2. Nga - Hoa Kỳ "chiến tranh ngấm ngầm"

 

          Trước ngày bầu cử tổng thống Nga vào tháng 3, 2000, bà Albright, đương kim ngoại trưởng Hoa Kỳ đă bay qua Mạc Tư Khoa để gặp thủ tướng Nga Vladimir Putin. Khi ra về, bà ta tuyên bố với báo chí là bà ta rất hoan hỷ và cảm kích về sự trung thực của ông nầy và ông ta đă tiếp bà ngoại trưởng Hoa Kỳ trong hai tiếng đồng hồ liền thay v́ một tiếng như đă tiên liệu. Phải chăng đó là một thành công vượt bực trong ngành ngoại giao của Hoa Kỳ, siêu cường độc nhất trên quả đất này!

 

Từ hơn nửa thế kỷ qua, cứ mỗi khi có một biến chuyển hay một sự căng thẳng nào đó xảy ra trong mối bang giao giữa Liên Xô và nay là Nga với Hoa Kỳ, th́ chúng ta lại được nghe những lời tuyên bố tương tợ như trên của một số tai to mặt lớn trong chính phủ Hoa Kỳ và đôi khi cũng có trong chính quyền Nga nữa, như lời tuyên bố sau đây của bà Irina Kobrinskaia, giám đốc văn pḥng ở Mạc Tư Khoa của Viện Đông-Tây: "Lẽ tự nhiên là giữa Mạc Tư Khoa và Hoa Thịnh Đốn có nhiều dị biệt, nhưng không phải v́ thế mà không có lắm đồng qui như vấn đề Trung Đông, vấn đề chống khủng bố, vấn đề ǵn giữ ḥa b́nh thế giới.

 

Nói tóm lại một sự hợp tác trường kỳ về chiến lược v́ nước Nga không muốn bị cô lập và cũng không muốn tự ḿnh cô lập ḿnh". Hiển nhiên là nếu Nga tự ḿnh cô lập ḿnh trên chính trường quốc tế  - không sớm th́ muộn họ sẽ bị đào thải ngay - v́ chính lúc này là lúc mà Nga không những rất cần sự viện trợ tài chánh của Hoa Kỳ và của Âu Châu mà cũng cần luôn cả sự bảo chứng tinh thần về những hành vi của họ.

 

Cũng xin lưu ư bạn đọc Bà Kobrinskaia làm việc dưới quyền ông chủ tịch Viện Đông-Tây, tọa lạc trên nước Đức và đặt dưới sự điều khiển của D.H. Genscher, từng làm Bộ Trưởng Ngoại Giao trong nhiều chính phủ của nước Đức và chịu ảnh hưởng rất nặng của phe thiên Tả của hai nước Đức và Hoa Kỳ, và đang có trách nhiệm hướng dẫn mối quan hệ với Liên Xô trước đây và nay th́ với nước Nga theo chiều hướng ước mong của điện Cẩm Linh. Hội Đồng Âu Châu cũng đă chiều theo những lời khuyến cáo của phe Tả khuynh Đức -Mỹ khi ngày 27 tháng giêng vừa qua  họ từ chối không chịu lên án hành động của thủ tướng Nga Vladimir Putin ra lệnh cho quân đội tàn sát dân chúng Chechnya, trong vùng Georgia. Có một điều làm cho chúng ta ngạc nhiên nhất là trước đó - vào ngày 23 tháng giêng, 2000, báo chí Hoa Kỳ đă chạy tít lớn: "Vladimir Putin là ai?" mặc dầu ông này - vào thời gian đó đă được tổng thống Nga Boris Yeltsin phong cho làm thủ tướng chính phủ rồi. Cũng v́ thế, tiện đây xin nói qua về tiểu sử của Putin, về những nhân vật chính chung quanh ông nầy và những hành động mới nhất của ông ta trong những tháng gần đây.

 

          Vladimir Putin sinh ngày 7 tháng 10, 1952 tại Saint Petersburg. Thân sinh ông ta làm đốc công trong một nhà máy địa phương vào lúc Stalin phát động phong trào bài xích người Do Thái liên tục trong 3 năm liền trong các cơ quan đầu năo của đảng Cộng Sản tại các nước chư hầu Đông Âu. Cũng như Gorbatchev, Putin gia nhập đoàn Thanh Niên Cộng Sản, được chọn vào ban Luật của đại học Saint Petersburg và tốt nghiệp vào năm 1975, lúc được 23 tuổi.

 

Theo nguồn tin đáng tin cậy của t́nh báo Hoa Kỳ, Putin - dưới bí danh Adamov - được biệt phái qua hoạt động tại nước Cộng Ḥa Liên Bang Tây Đức từ 1978 đến 1983 như là phóng viên của hăng thông tấn Tass. Cuối năm 1983, ông ta bị cơ quan mật vụ của chính quyền Liên Bang Tây Đức chụp h́nh đang nhận tài liệu của một điệp viên trước một cửa hàng lớn ở Tây Đức và bị trục xuất sau đó. Năm 1984, được biệt phái qua làm việc tại Dresde ở Đông Đức và dưới quyền chỉ huy của tướng V. Shirokov, người điều khiển việc tuyển mộ những điệp viên "ngủ" trong giới kinh doanh Tây Đức thường hay qua tham quan hội chợ thường niên được tổ chức tại thành phố nầy. Trong giới t́nh báo, điệp viên "ngủ" là những điệp viên nằm yên và chỉ bắt đầu hoạt động trở lại lúc nhận được chỉ thị của Mạc Tư Khoa.

 

Tại Đông Đức, Putin làm việc mật thiết với Erick Mielke, Bộ Trưởng Bộ An Ninh Đông Đức, và sự cộng tác đắc lực của Putin với ngành mật vụ Đông Đức đă được tướng Horst Boehm của chính quyền Đông Đức gắn huy chương vào năm 1987, và đến năm 1988 th́ chính Mielke đích thân gắn huy chương cho Putin. Ngoài công tác tuyển chọn điệp viên "nằm yên", Putin c̣n được giao một nhiệm vụ thứ hai là hoàn bị đường giây liên lạc với các trung tâm kiểm thính quốc tế mà Đông Bá Linh đă thiết kế vào giữa thập niên 1970 và được tân trang hoàn toàn kể từ năm 1981. Lúc Putin đến nhậm chức tại Dresde, chính lúc đó nước Cộng Ḥa Đông Đức đă trở thành "lỗ tai" lớn nhất của Liên Bang Xô Viết trên quả địa cầu với 4400 chuyên viên làm việc suốt ngày đêm không lúc nào gián đoạn, và được phân công như sau: 2300 ở Berlin-Wuhlheide, 700 ở Berlin-Gossen, số c̣n lại ở Stettin và 300 máy tự kư thường trực trong đó 150 máy đặt ở Leipzig, những máy nầy tự động chạy khi nhận được ám hiệu đă qui định từ trước. Ngoài ra Liên Xô - lúc bấy giờ - c̣n cho đặt thêm nhiều đường giây chuyển vận trên một số phi cơ, tàu thủy, và xe vận tải hàng hóa chạy khắp Âu Châu để chuyển về lại các trung tâm kiểm thính những tin tức đi qua điện thoại, máy Fax và máy điện báo đánh chữ. Tổng cục c̣n đặt thêm nhiều trung tâm kiểm thính ở Tiệp Khắc, trong vùng Bratislava để nghe lén toàn bộ nước Áo: từ 1985 đến 1989, hai bộ Nội Vụ và Quốc Pḥng của nước Áo (Austria) cũng như tư gia của các nhân viên cao cấp thuộc hai bộ nầy đều bị nghe lén suốt cả ngày lẫn đêm, cũng như những công ty ngoại quốc đặt trụ sở tại Áo như Dow Chemical, Hewlett-Packard, Alcatel, Varimpex, la Société générale, Siemens, v..v..

 

Cũng nhờ những tin tức thâu lượm được trong khi "nghe lén", nên - từ 1984 đến 1990 - Liên Xô mới tuyển mộ được 850 mật báo viên "ngủ" trong toàn vùng Bắc Âu. Với một tiểu sử sơ lược và tóm tắt như vậy, chúng ta cũng đủ thấy Vladimir Putin thuộc môn phái của trùm cộng sản Mikoyan, lúc ông ta tuyên bố với một nhóm kư giả vào ngày 12 tháng 4, năm 1955 như sau: "Khẩu hiệu của chúng tôi là gom vào trong cuộc cách mạng vô sản sự công hiệu của Hoa Kỳ và sự chính xác của Đức". Nhưng nếu ông Mikoyan biết chua thêm một câu tḥng nữa th́ hay biết mấy v́ khi ấy toàn thế giới sẽ đôn ông ta lên ngang hàng với ông Trạng Tŕnh của nước Việt Nam và khi ấy lời tuyên bố của ông này với một số phóng viên báo chí sẽ như sau: "Khẩu hiệu của chúng tôi là gom vào trong cuộc cách mạng Bôn Sơ Vích sự công hiệu của Hoa Kỳ và sự chính xác của Đức, và có như vậy th́ cán bộ cộng sản của chúng tôi mới có thể phát huy tột bực được khả năng tham nhũng, bóc lột quần chúng của họ và của các nuớc chư hầu trong đó có Việt Nam".

 

           Sau khi đắc cử tổng thống nước Nga, Vladimir Putin đă củng cố lại văn pḥng tư của ông ta và bổ sung thêm nhân sự vào văn pḥng chính thức có nhiệm vụ lèo lái chính phủ và bảy vị siêu thống đốc - được chỉ định - và có quyền kiểm soát các vị thống đốc vùng - được bầu - trên 89 thực thể lănh thổ. Điều đặc biệt nhất là Putin cho thiết lập trở lại trong quân đội hệ thống chính trị viên, viện lư do là để tăng cường ngành phản gián quân đội. Đồng thời tăng số nhân viên cảnh sát thu thuế lên tới con số 32,000 nhân viên. Người tin cậy hiện nay của Putin là Alexander Volochine, trước kia là chánh văn pḥng của Yeltsin, nay có dưới tay y 2000 công chức. Những bộ chủ chốt như bộ Quốc Pḥng, bộ An Ninh, bộ Năng Lượng đều được giao cho những người tin cậy.

 

Ư kiến chung chung của giới chính trị Tây Phương trong đó có Hoa Thịnh Đốn và Khối Cộng Đồng Âu Châu là giờ đây không phải lúc gây khó dễ Putin, cần phải để cho y có th́ giờ ổn định lại t́nh h́nh nội bộ của Nga và nếu y có một vài hành động quá trớn  th́ cũng nên châm chước cho y nếu chúng ta không ủng hộ. Những cảm nghĩ này chúng ta đă từng được nghe đi nghe lại quá nhiều lần, thốt ra từ miệng các chính khách trong khối Thế Giới Tự Do đối với Mạc Tư Khoa mỗi khi có sự thay đổi người cầm đầu ở Liên Xô như Krouchtchev, hay Andropov và cuối cùng là Gorbatchev.

 

 Năm 1994, Georges Bortoli đă từng viết: "Bây giờ cũng như hôm qua, Tây Phương đă tỏ ra rất dễ dăi để chấp nhận cho Mạc Tư Khoa - kể từ 1954 - muốn làm ǵ th́ làm và bất cứ làm ở đâu. Người ta nhắm mắt làm ngơ một vài hành động "quá lố" như xâm lăng A Phú Hăn, hỗ trợ hành động khủng bố v..v... Đối thoại thường được chuộng hơn là đối chất. Và sở dĩ không có đối chất - không phải là v́ người Tây Phương thông minh và khéo léo - mà chính là nhờ ḷng quả cảm và sự bền chí của một số người sống trong khối Liên Xô cũ, nhất định không chịu chấp nhận nền độc tài và tranh đấu không ngừng với những phương tiện hạn hẹp mà họ có trong tầm tay, không có sự giúp đỡ của ngoại quốc, để làm hao ṃn dần quyền lực của đảng Cộng Sản nếu không đánh gục được nó liền. Vladimir Putin thuộc nhóm mệnh danh là "Cộng Sản Quốc Gia " được thành lập giữa 1972 và 1985, với dụng ư là để thay thế cho đảng Cộng Sản một khi đảng nầy bị quần chúng chán ghét; và cũng để gạt những kẻ ngây thơ thêm một lần nữa. V́ đă là cộng sản th́ làm sao lại có thể là quốc gia, thử hỏi nước với lửa làm sao đi đôi với nhau cho được? Thành thử Putin và tay chân bộ hạ của y - được nhồi nắn trong ḷ mật vụ KGB của Nga - cũng chỉ là những tên đồ tể không hơn không kém như dưới thời Stalin ở Liên Xô hay dưới thời Đức Quốc Xă của Hitler. Và không sớm th́ muộn, Putin cũng sẽ đi đến việc lập lại chế độ độc tài ở Nga. Nhóm cận thần thường trực chung quanh Putin kể từ ông ta trở thành tổng thống nước Nga cũng có thay đổi đôi chút. Ngoài văn pḥng hành chánh, ông ta c̣n có một văn pḥng riêng - giống hệt như văn pḥng riêng của Stalin lúc y vừa lên kế vị Lê Nin khi ông này qua đời năm 1924.

 

Hai cộng sự viên thân tín nhất của Putin là Viktor Ivanov (xin dừng lầm với Igor Ivanov, bộ trưởng Ngoại Giao, cũng xuất thân từ ḷ mật vụ KGB ra) hiện đang điều khiển Cục An Ninh Kinh Tế của cơ quan mật vụ nội địa FSB và Viktor Cherkassov, Phó Giám Đốc cơ quan FSB. Đứng sau hai người vừa kể trên đây là Alexander Grigoriev và Igor Antonov. Putin đă đi ngược lại lề lối hoạt động lúc nước Nga c̣n dưới thời kỳ Liên Bang Xô Viết. Lúc đó th́ mật vụ KGB được đặt dưới sự chỉ huy của một nhóm thu hẹp ủy viên cao cấp trong Bộ Chính Trị và Văn Pḥng thường trực của đảng Cộng Sản. C̣n dưới trào Putin th́ chính mật vụ KGB điều hành nước Nga mà không có sự giám thị của bất cứ một cơ quan chính trị nào cả. Dưới thời Stalin th́ y dùng "văn pḥng riêng" để mật theo rơi hoạt động của các cộng sự viên hoặc để gây chia rẽ trong nội bộ, xúi người nọ chống  người kia như đă tiết lộ trong sách của Sergio Beria: "Beria, Phụ Thân Tôi". Hiện giờ th́ chưa biết được Putin sẽ xử dụng "văn pḥng riêng" vào những việc ǵ, nhưng có một điều mà được đa số các kư giả ghi nhận là Putin rất ngán bộ máy quân đội nên đă tái lập lại hệ thống "chính trị viên " để kiểm soát hành vi của các sĩ quan, nhất là các sĩ quan cao cấp.

 

          Một số lănh tụ ở Âu Châu cho rằng - muốn chống lại bá quyền của Hoa Kỳ đang muốn biến các nước ở Âu Châu thành những chư hầu của Mỹ - biết đâu Putin lại chẳng là một đồng minh tốt để chống lại ư đồ này của Hoa Kỳ. Nhưng nh́n lại cho kỹ th́ Putin chả bao giờ là đồng minh của bất cứ ai. Ngay đối với Trung Cộng - mặc dầu Nga đă kư kết với nước nầy hiệp ước hỗ tương - nhưng Trung Cộng cũng dư biết Nga đă hành động như vậy là để tránh việc phải đương đầu cả hai mặt trận. C̣n Hoa Kỳ - th́ cũng như những thập niên đă qua - vẫn luôn luôn o bế Nga v́ tưởng rằng Nga vẫn theo đuổi chủ trương thỏa hiệp Đông - Tây mà vật hy sinh vẫn là dân tộc các nước nhược tiểu. Kỳ thật th́ Putin và bộ hạ của y chỉ nhắm vào lợi lộc thu được qua những nhượng bộ kèm thêm viện trợ của các nước Tây Phương để có phương tiện ổn định nền kinh tế Nga, và có đủ thời giờ để t́m cách đưa vào lại quỹ đạo của Nga các nước cộng ḥa Trung Á mà từ 1991 đă có những manh nha chủ trương độc lập thực sự; và đồng thời khuếch trương thêm các đường giây điệp báo - nhất là về lănh vực kỹ nghệ - tại các nước trong khối Tự Do và nhất là tại các nước cựu chư hầu ở Đông Âu, như dưới thời kỳ Brejnev - Andropov lúc c̣n mồ ma Liên Bang Xô Viết.

 

Dưới thời mồ ma Liên Bang Xô Viết, đảng Cộng Sản mạnh hơn bao giờ hết mà c̣n không làm khó dễ được Hoa Kỳ huống hồ giờ đây nước Nga chỉ c̣n là một cái bóng mờ của Liên Xô cách đây một phần tư thế kỷ, thử hỏi dù Putin có tài thánh đi nữa, th́ giỏi lắm cũng chỉ đánh vơ mồm mà thôi, trong lúc đó th́ y vẫn chấp hai tay vái Hoa Kỳ để xin chút cơm thừa canh cặn. V́ người ta thường so sánh triều đại của y với triều đại của Yeltsin, nên tưởng rằng y thành công mọi mặt; nhưng nh́n lại cho kỹ th́ y cũng đă nếm mùi thất bại chua cay trên chính trường hải ngoại ở hai nước thuộc Trung Á: UzbekistanTurkmenistan. Trước đây, dân chúng ở Uzbekistan luôn luôn sống trong sự lo sợ hầu như thường trực - không biết tử thần sẽ đến với họ lúc nào - nếu xảy ra những vụ đột kích bất ngờ của bộ đội Taliban của A Phú Hăn và bọn lính đánh thuê gốc người Ả Rập. Họ luôn luôn nhắc lại những vụ tràn qua biên giới của hơn một ngàn du kích quân Taliban để cướp của, giết người, trong vùng thung lũng Fergana từ tháng 2 cho đến cuối mùa thu năm 1999. V́ vậy, ngày 22 tháng 5, 2000, Tổng Thống Karimov đă phải lên tiếng cầu cứu Liên Hiệp Quốc v́ ông ta nghi rằng trong vụ tàn sát này có thể có bàn tay của Nga giựt dây v́ Nga không mấy thích ông ta. 

 

          Kể từ khi Vladimir Putin lên làm tổng thống nước Nga th́ không phải riêng ngành t́nh báo gia tăng hoạt động khắp mọi nơi trên thế giới mà các đảng cộng sản trên khắp thế giới - trước kia âm thầm rút lui vào bóng tối, th́ nay chường mặt trở lại trên chính trường quốc tế. Trong 3 ngày 23, 24 và 25 tháng 6, 2000 - được sự cổ vơ của Putin - một buổi họp các cấp lănh đạo đảng cộng sản của 49 nước trên thế giới đă được tổ chức tại thủ đô Athens của Hy Lạp, và đă có 80 đại biểu của 42 phái đoàn về tham dự. Riêng về Á Châu th́ có đại biểu của Bắc Hàn, Phi Luật Tân và Việt Cộng cũng có gởi qua 2 đại diện. Nhưng Trung Cộng, Ấn Độ và đảng cộng sản Pháp th́ không có đại diện nào cả.  Xin lưu ư bạn đọc là trong thời gian từ 1992 đến 1997 cũng có những buổi họp như vậy của các đại diện các đảng cộng sản nắm "chéo áo" Liên Xô trước đây, nhưng con số không quá 20. Năm nay con số đại diện về họp đă tăng quá gấp đôi; và mọi rạn nứt trong nội bộ của một số đảng cộng sản trong nhiều nước đă được hàn gắn, và đó là dấu hiệu đồng tâm nhất trí để cũng nhau chống lại đế quốc Hoa Kỳ, đang đóng vai tṛ siêu cường độc nhất trên thế giới hiện nay. Tại nước Cộng Ḥa Tiệp Khắc, sự xâm nhập này rất là lộ liễu: những nhân viên mật vụ của KGB và quân báo của GRU đă đột nhập vào nước này dưới dạng nhân viên của một số công ty thương măi và ngay cả trong ngành điện ảnh.

 

Đặc biệt ṭa đại sứ Nga tại thủ đô Prague của Tiệp Khắc có đến 400 nhân viên ngoại giao đoàn, một điều chưa từng thấy trong lịch sử ngoại giao đoàn. Hoạt động của mật vụ KGB tại thủ đô Bucarest của Lỗ Ma Ni cũng được tăng cường và ngấm ngầm ảnh hưởng đến việc tŕ hoăn áp dụng quyết định của tổng thống Constantinescu trong tháng 12, 1999, cho phép quần chúng nước này được đọc những hồ sơ của cơ quan an ninh Securitate của Lỗ Ma Ni. Hai mươi đường "giây điện thoại đỏ" đă được mắc riêng tại các tư dinh của một số bộ trưởng và thứ trưởng trong chính quyền hiện tại mà trước kia là đảng viên cộng sản, để họ có thể liên lạc trực tiếp với Mạc Tư Khoa, đó là chưa kể một số đại sứ quán của Lỗ Ma Ni ở ngoại quốc - muốn liên lạc với thủ đô Bucarest đều phải đi qua ngă Mạc Tư Khoa. Hoạt động của mật vụ KGB Nga tại nước Ba Lan lại càng trắng trợn hơn nữa, đến mức độ là ngày 20 tháng giêng, 2000, bộ trưởng ngoại giao Ba Lan đă yêu cầu đại sứ Nga phải gọi về nước 9 nhân viên ngoại giao của nước này có dính líu đến những vụ hoạt động điệp báo trên lănh thổ Ba Lan. Hiện giờ tại Ba Lan đang xảy ra một cuộc "chiến tranh ngấm ngầm" giữa tổng thống Kwaniewski và tay chân bộ hạ cộng sản của y và bộ trưởng ngoại giao Bronislav Geremek không phải là gốc cộng sản. Một nhân viên cao cấp trong bộ Ngoại Giao có tiết lộ với báo chí là "chúng tôi lúc nào cũng muốn giữ cho t́nh giao hảo giữa nước chúng tôi với nước Nga luôn luôn tốt đẹp, nhưng v́ nước Nga  tăng cường hoạt động t́nh báo một cách quá lộ liễu trong nước tôi, nên bắt buộc chúng tôi phải có thái độ cứng rắn đối với họ". Rồi ông ta nói tiếp: "Giờ đây đường lối chính trị của Mạc Tư Khoa là muốn cho chúng tôi có những giao hảo xấu với họ để cho họ dễ chứng minh với thế giới rằng dân tộc Ba Lan  - theo truyền thống - vốn là vô trách nhiệm, thành thử chấp nhận cho Ba Lan vào làm hội viên của tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) chỉ làm cho t́nh h́nh Âu Châu ngày càng trở nên bất ổn!"

 

           Turkmenistan th́ không phải là loạn mà là có sự tranh chấp quyền lợi kinh tế về dầu hỏa. Nước Turkmenistan rất giàu về hơi đốt và muốn xuất cảng hơi nầy ra ngoại quốc qua một ống dẫn hơi chạy từ trong nước lên tới miền bắc của Baku, để rồi băng ngang qua Lư Hải, đoạn xuyên qua lănh thổ nước Georgia trên bờ bể Hắc Hải, rồi chạy vào lănh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 19-5-2000, khi qua thăm viếng nước này, Putin đă chống lại kế hoạch thiết kế này bằng cách đề nghị là ông ta chịu mua tất cả số lượng hơi đốt mà Thổ Nhĩ Kỳ sẽ nhận được ở đầu ống dẫn hơi. Tổng thống Niazov của Turkmenistan - đă trấn an Putin là ông ta sẽ xuất cảng sang Nga 10 tỷ thước khối hơi đốt hằng năm; nhưng cũng cho Putin biết là ông ta không thể chấp nhận giá đề nghị quá thấp của Putin. Và chắc Putin cũng thừa biết là những công ty dầu hỏa quốc tế như Royal/Dutch Shell, Hechtel v..v...đang đứng hờm ở ngoài hành lang, và nhu cầu cấp thiết của tổng thống Niazov hiện nay là phải có cho ông ta những bảo đảm về chính trị trước đă, điều mà chỉ có Hoa Kỳ là có thể làm được mà thôi. Và cũng v́ thế mà Putin đă rời nước này sớm hơn dự tính. Việc Tổng thống Putin hưng binh dẹp quân "khủng bố" Chechnya không phải được thông suốt như ông ta dự tính và nay đă trở thành một cục xương mắc nơi cổ họng của ông ta. Từ khi ông ta xua quân xâm chiếm Chechnya, đến nay đă được hơn 9 tháng. Công việc b́nh định chưa xong th́ nay dư luận báo chí quốc tế vừa phát hiện ra là tổng thống Putin đă ngầm ra lệnh cho khối cảnh sát ch́m của ông lén lút đặt chất nổ phá sập ba cao ốc ở tại thủ đô Mạc Tư Khoa, làm thiệt mạng mấy trăm đồng bào. Vụ nổ nầy giúp TT Putin tạo bằng chứng đổ thừa cho quân "khủng bố" Chechen chủ mưu cuộc phá hoại nầy; để rồi ông ta có cớ xua quân vào chiếm đất Chechnya, c̣n dân chúng Nga đă không phản đối việc hành quân này th́ chớ, lại c̣n hoan hô ông ta nữa là khác! Nhưng bây giờ sự thật đă được phơi bày ra ánh sáng, v́ người ta phát giác ra là chất nổ dùng để phá sập các cao ốc ở tại thủ đô Mạc Tư Khoa là chất "Hexagene", một loại chất nổ mới được Nga chế tạo, và chỉ cung cấp cho ngành "cảnh sát đặc biệt" mà thôi. Chất nổ này c̣n mới quá nên không có bán ra ngoài thị trường dù là thị trường "chợ đen" cũng mua không được.

 

Riêng hai cơ quan an ninh quốc nội FSB và hải ngoại MVD cũng không thấy đề cập đến sự mất cắp của chất nổ nầy trong kho chứa đồ của họ. Giờ đây dân chúng Mạc Tư Khoa cứ đi rỉ tai cho nhau nghe là chính quyền Putin đă giết dân Mạc Tư Khoa để đổ thừa cho người Chechen, rồi mượn cớ đó đem quân chiếm lấy Chechnya. Giờ đây th́ quân chính phủ đă chiếm được Chechnya trên giấy tờ; nhưng hằng tuần vẫn bị du kích quân Chechen bắn sẻ, hoặc đặt ḿn, hoặc cho cảm tử quân lái xe chở chất nổ đâm vào các nơi đóng quân của lính Nga, gây chết chóc cho hàng trăm binh sĩ. Và viễn ảnh cuộc thất bại năo nề vào năm 1996, dưới trào Tổng Thống Yeltsin, đă bắt đầu ló dạng ở chân trời Grosny, thủ đô của Chechnya.

 

Sự sa lầy của quân đội Nga ở Chechnya đă ảnh hưởng rất tai hại đến những dự tính lớn lao của TT Putin khi đến dự hội nghị thượng đỉnh của 8 đại cường tại Okinawa trong 3 ngày 21 đến 23-7-2000. Trước khi đi phó hội này, TT Putin dự tính sẽ thuyết phục các lănh tụ tham dự hội nghị lên án hành động của quân "khủng bố" Chechen và ủng hộ cuộc hành quân của Nga nhằm tiêu diệt cả quân "khủng bố" Chechen lẫn quân Hồi Giáo quá khích hiện đang có mặt tại Chechnya. Nhưng sau khi nghe TT Putin tŕnh bày mọi sự việc xảy ra ở Chechnya trong những tháng qua, th́ phản ứng của các thành viên tham dự hội nghị thượng đỉnh Okinawa rất là hững hờ v́ ai cũng cho là dân Chechen đă chiến đấu để dành độc lập cho quốc gia của họ, chứ họ không phải là quân "khủng bố thuộc phe Hồi giáo quá khích" như TT Putin đă từng tŕnh bày trước hội nghị.

 

Riêng thái độ của Tổng Thống Pháp Jacques Chirac là rất lạnh nhạt đối với vấn đề này nếu không muốn dùng danh từ "chống đối". Và cũng v́ TT Chirac chống việc Nga dùng vơ lực và gây biết bao nhiêu chết chóc ở Chechnya nên trong chuyến công du ở các nước Âu Châu - trước ngày hội nghị thượng đỉnh -  ông Putin mới trả đũa lại bằng cách không thèm thăm viếng nước Pháp. Và TT Pháp Chirac đă ăn miếng trả miếng lại bằng cách cho phái đoàn Nga hay là ông ta không có thời giờ để gặp riêng TT Putin trong lúc c̣n lưu lại trên đất Nhật Bản. Hành động của Tổng Thống Chirac đă cho tổng thống Nga thấy rơ là ông ta đă hoàn toàn thất bại trong dự tính cô lập hóa nước Pháp trên chính trường Âu Châu để buộc ông này phải dịu giọng trong việc chỉ trích chính sách của Nga đối với Chechnya. Hành động của TT Putin trong vụ này rất là vụng về, nếu không nói là rất bất lịch sự v́ từ năm 1999, ông ta không thèm trả lời chính thức lời mời qua thăm nước Pháp của TT Chirac, để rồi sau dó qua năm 2000, khi ông ta qua thăm các nước lớn ở Âu Châu th́ ông ta đă cố t́nh bỏ băng không ghé lại nước Pháp; hành động này đă phản thùng lại ông ta và trong hội nghị thượng đỉnh Okinawa, ông ta mới nhận thấy được chính ông ta mới là người bị cô lập.

 

Riêng TT Clinton th́ vẫn có gặp riêng TT Putin, nhưng chả có giải quyết được ǵ cả. Ông Clinton không quên được việc đón tiếp ông - lạnh như băng giá - tại quốc hội Nga cũng như tại quốc hội Ukraine, khi ông thao thao bất tuyệt lên tiếng dạy các ông dân biểu địa phương về cách làm chính trị, trong cuộc viếng thăm thất bại hai nước Nga và Ukraine vào thượng bán niên năm 2000. Trong cuộc gặp riêng đó, TT Clinton đă khuyến cáo TT Putin rằng nếu ông dẹp được cuộc nổi loạn của dân Chechen đ̣i độc lập bằng biện pháp quân sự và sau đó chả có kèm theo những giải pháp mới về chính trị và kinh tế, th́ ông lại sẽ thất bại thêm một lần nữa v́ ông không thắng được nhân tâm của quần chúng Chechen. Nhưng Tổng Thống Putin vẫn khăng khăng một mực cho TT Clinton hay là dân Nga hoàn toàn ủng hộ ông ta trong việc dùng quân đội để giải quyết vấn đề Chechnya. Có lẽ trong khi diện đàm với TT Clinton, TT Putin chưa biết là dân chúng Mạc Tư Khoa đă biết chính quyền Nga dùng chất nổ Hexagene vừa mới chế tạo ra, để giựt sập ba cao ốc ở Mạc Tư Khoa gây tử thương cho mấy trăm người và đổ thừa cho quân "khủng bố" Chechen đă chủ mưu vụ phá hoại đó. Chủ trương của TT Clinton khi đến phó hội ở Okinawa là từ chối không viện trợ kinh tế thực sự cho TT Putin, nhưng cho ông ta biết là sẽ có viện trợ nếu ông ta chấm dứt chiến tranh ở Chechnya và thực thi dân chủ thực sự  trên toàn lănh thổ nước Nga. C̣n ư đồ của TT Putin đến phó hội thượng đỉnh Okinawa là có 3 mục tiêu: <<<<<<<<

 

A). Thứ nhất là xin Hoa Kỳ từ bỏ món nợ của Liên Bang Xô Viết để lại khi nhận viện trợ quân sự và kinh tế của Đồng Minh trong thời đệ nhị thế chiến;

B).  thứ hai xin khất lại hạn trả những nợ vừa mới mượn được gần đây,

C.). và thứ ba là điều đ́nh với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế để xin vay thêm một khoản nợ mới.

 Nhưng khi hội nghị bế mạc th́ những điều mà Putin đề nghị đều bị bác hoặc hoăn lại; như xin vay thêm tiền th́ Ngân Hàng Quốc Tế cho biết là Nga phải chứng minh họ là con nợ tốt bằng cách phải trả góp đều đặn chứ không phải khất nợ nhiều hơn trả nợ như họ đă làm từ trước đến nay. Và có như vậy th́ mới mong xin vay thêm được; nhất là Putin không trả lời được khi bị chất vấn là thiếu tiền nên mới đi vay, nhưng sao lại có tiền để cho Milosevic của Nam Tư vay 150 triệu Mỹ kim trong đầu năm nay? Rốt cục hội nghị bát cường ở Okinawa đă nhẹ nhàng gián tiếp cho Putin biết là con đường thoát khỏi vũng lầy Chechnya nhất định là không qua ngă Okinawa. 

 

          3. " Điệp Viên Ngủ"Trong Nhà Trắng ?.

 

           Ông G.W.Bush đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2000-2004. Ông Bush th́ rất xa lạ đối với Nga, c̣n ông Putin th́ lại rất gần với ông Gore và nếu ông Gore đắc cử tổng thống vào tháng 11 ,2002, th́ Nga chắc chắn sẽ được ông Gore tận t́nh giúp đỡ. V́ Tổng Thống Nga Putin có nhiều hành động đàn áp dân hoặc dọa dẫm dân để buộc dân phải làm điểm chỉ viên cho cơ quan mật vụ của chính quyền như dưới chế độ của Liên Xô ngày trước, nên người dân cho rằng chế độ của ông ta không sớm th́ muộn cũng sẽ trở thành chế độ độc tài hoặc cộng sản. Và cũng v́ vậy cho nên  bạn đọc cũng cần nên biết qua tiểu sử của ông Gore. Phó Tổng Thống Albert Gore có vợ, 3 con và có một đời sống gia đ́nh không có bị tai tiếng như ông "xếp" của ông ta. Nhưng đời sống chính trị của ông Gore cũng như của thân sinh ông ta là Albert Gore Sr. th́ có những điểm cần được soi sáng.

 

          Cựu Nghị sĩ Albert Gore Sr. qua đời vào đầu tháng 12, 1998, hưởng thọ 90 tuổi. Khi tỷ phú Armand Hammer c̣n sống th́ cựu Nghị Sĩ Albert Gore Sr. là cánh tay mặt của ông này, và cuộc đời chính trị của cả 2 cha con ông Gore đều được Armand Hammer tài trợ hết. Muốn t́m hiểu lư lịch của Phó Tổng Thống Gore và thân sinh của ông ta, chỉ cần biêt quá tŕnh hoạt động của tỷ phú Armand Hammer th́ mọi việc đều sáng tỏ như ban ngày. Vậy Armand Hammer là ai?

 

          Trong văn khố của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, xấp hồ sơ "Mật" mang số 1378 ngày 14-4-1932 của ṭa đại sứ Hoa Kỳ tại Luân Đôn có ghi rơ báo cáo của cơ quan FBI về Armand Hammer như sau:

 

          Tên thật của Armand Hammer là Armand Julievitch Hammer và anh của y là Victor Julievitch Hammer là 2 điệp viên của cơ quan quân báo GRU của Liên Xô. Armand Hammer có mở một công ty buôn bán - làm b́nh phong -  tại Hoa Kỳ, lấy tên là Armand Hammer & Company, đặt trụ sở tại  3 East, 52nd St., New York.

 

          Armand Hammer rất được Lênin tin cậy sau khi y giúp Lênin vượt qua được nạn khủng hoảng về kinh tế ở đầu thập niên 1920, bằng cách quyên góp tài chánh lẫn thực phẩm chở từ Hoa Kỳ sang Nga Xô. Trong những chuyến từ Mạc Tư Khoa trở về lại Hoa Kỳ, y đă vơ vét những bức tranh vô giá của Nga mua với giá rẻ mạt như là cho không, rồi mang về Hoa Kỳ để bán lại cho các triệu phú nước nầy. Nhờ cách làm ăn này mà không mấy chốc y đă trở thành triệu phú, để rồi từ đó chuyển hướng kinh doanh vào ngành khai thác dầu hỏa, lập ra công ty Continental Petroleum Company mà dịch vụ lớn nhất của công ty là chuyên chở dầu hỏa cho các nước thuộc Nam Mỹ Châu.

 

          Một kỳ công của Armand Hammer là suưt thành công trong việc bố trí đưa một tên đảng viên cộng sản vô danh có tên Tyminski - do mật vụ KGB của Liên Xô giới thiệu - ra tranh cử tổng thống đầu tiên ở Ba Lan, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. Vụ ứng cử này, có một dạo, đă làm chấn động dư luận thế giới và nếu Walesa, chủ tịch Công Đoàn Đoàn Kết, không có sự hỗ trợ ngấm ngầm của Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị và của quần chúng công giáo Ba Lan, th́ đă bị Tyminski đánh bại rồi. Và qua vụ bầu cử tổng thống đầu tiên này ở Ba Lan, người ta mới nhận thức được mật vụ KGB của Liên Xô quả thật vô cùng nguy hiểm. Khi nước Ba Lan đang c̣n ở dưới chế độ cộng sản, th́ mật vụ KGB của Liên Xô - không biết v́ lư do ǵ - lại chủ trương ngầm đưa một nhân viên lúc đó chưa được hai mươi tuổi là Tyminski ra khỏi nước. Anh nầy được KGB bố trí cho qua Na Uy, vào quốc tịch nước nầy sau khi cưới vợ là dân Na Uy, đoạn di cư qua Canada và mở một công ty điện tử tại nơi đây. Vài năm sau, v́ làm ăn thua lỗ, Tyminski ly dị vợ rồi di dân lần nữa qua Peru ở Nam Mỹ. Rồi từ đó, do sự bố trí kín đáo của mật vụ KGB qua sự dàn xếp khéo léo của Armand Hammer, Tyminski được giao cho nhiệm vụ điều khiển một chiếc tàu chở dầu hỏa chạy trên sông Amazon của hăng Continental của tỷ phú Armand Hammer. Tưởng rằng cuộc đời lang thang của Tyminski sẽ chấm dứt tại nơi đây, nào ngờ xảy ra vụ biến động chính trị ở Ba Lan, cộng sản Ba Lan sụp đổ và tiếp sau đó có tổ chức bầu cử tổng thống đầu tiên tại nước này, sau gần nửa thế kỷ sống dưới ách thống trị của Liên Xô. Chính giới quốc tế lúc bấy giờ đều cho rằng Walesa, chủ tịch của Công Đoàn Đoàn Kết chắc chắn sẽ đắc cử tổng thống một cách rất dễ dàng v́ thiếu đối tượng ngang vai vế với ông ta, nhưng rồi người ta đă đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Chuyện ngạc nhiên đầu tiên là người ta tưởng chỉ có hai ứng cử viên tổng thống mà thôi: đó là hai ông Walesa và Mazowiecki, Thủ Tướng chính phủ; nhưng đùng một cái lại phát hiện có một nhân vật thứ ba là Tyminski cũng nạp đơn xin ứng cử và cũng đă hội đủ điều kiện khó khăn là đă xuất tŕnh được chữ kư của một trăm ngàn ủng hộ viên trong một thời gian ngắn là 10 ngày. Mọi người dân Ba Lan đều nhao nhao lên hỏi nhau Tyminski là ai, sao mà bí mật thế? Rồi đến ngày vận động bầu cử th́ người dân thấy anh này cũng có đầy đủ ban vận động khắp mọi nơi như hai ứng cử viên kia, cũng có đài phát thanh kêu gọi dân chúng v..v... và v..v...

 

Trong câu chuyện Tấm và Cám của nước ta , th́ Bụt chỉ có giúp cho cô Tấm một cái áo mới, đẹp, để mặc đi gặp hoàng tử; về sau, trong trường hợp Tyminski, người ta mới phát giác ra Bụt giúp anh nầy là Armand Hammer và phụ tá "Bụt Hammer" đứng ra điều khiển chiến dịch bầu cử của KGB nầy là thân sinh của Phó Tổng Thống Gore. Ngay ông đạo Moon cũng cho Tyminski toàn quyền xử dụng đài phát thanh truyền đạo của ông ta ở thủ đô Varsaw để truyền hộ "đạo Cộng Sản của KGB" cho Tyminski. Người Việt chúng ta thường hay nói đó là hạng "mặt người ta mà da ăn trộm", và đây là trường hợp của ông đạo Moon. Sau khi bầu cử tổng thống xong, người ta mới biết một trăm ngàn chữ kư ủng hộ "kẻ vô danh" Tyminski đều được đại diện của tỷ phú Armand Hammer trả 20 mỹ kim cho mỗi chữ kư, một gia tài lúc đó đối với người dân Ba Lan đang sống dưới chế độ đói rách, kềm kẹp của Cộng Sản Ba Lan. Bàn tay phù thủy của mật vụ KGB của Liên Xô quả thật ghê gớm, thế nhưng đồng đô la của tỷ phú Armand Hammer lại c̣n ghê gớm và nguy hiểm hơn nữa v́ nếu không có sự ủng hộ ngấm ngầm của Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị th́ Walesa có thể bị Tyminski đánh bại trong ṿng đầu v́ bị Mazowiecki chia bớt phiếu.

 

          Qua cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên ở Ba Lan sau Đệ Nhị Thế Chiến, các quan sát viên chính trị mới thấy rơ sự liên hệ mật thiết giữa tỷ phú Armand Hammer với bố con ông Gore. Và người ta cũng biết, nhưng không nói ra, là hai anh em Armand Hammer đều là điệp viên của cơ quan Quân Báo GRU của Liên Xô và nay là của nước Nga - tuy trên giấy tờ không c̣n Cộng Sản nữa - nhưng trên thực tế vẫn c̣n y nguyên th́ đă sao! Nay th́ tỷ phú Armand Hammer và cựu Thượng Nghị Sĩ Albert Gore Sr. đều đă qua đời cả rồi, nhưng Phó Tổng Thống Gore vẫn c̣n một người khác đỡ đầu mạnh hơn tỷ phú Armand Hammer nữa về phương diện chính trị, đó là Tổng Thống Clinton. Rồi người ta lại tự hỏi thế th́ ai là người đứng trung gian giới thiệu ông Albert Gore với TT Clinton? Muốn biết câu trả lời th́ phải đi sâu vào lư lịch của ông Clinton.

 

          Năm 1966, khi c̣n theo học tại đại học Georgetown, ông Clinton đă công khai cho biết ông ta thuộc tổ chức chống phong trào bảo vệ miền Nam Việt Nam, trước sự tấn công của Cộng Sản Hà Nội. Qua lời khai đó, đương nhiên ông được nhà cầm quyền loại ra khỏi những toán quân được đưa qua Việt Nam. Ngay sau đó, ông Clinton gia nhập Ủy Ban Quốc Gia  chống cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ngày 21-10-1967, ông tham gia những cuộc biểu t́nh ngoài đường phố do Ủy Ban này tổ chức, và sau đó được nhận vào làm việc trong một văn pḥng của tổ chức này.

 

          Năm 1968, ông ta tham gia những cuộc biểu t́nh của những người chủ trương thiêu hủy những giấy tờ của họ có liên quan đến vấn đề động viên quân dịch; ngày 4 tháng 4, Clinton đă cùng với cô bạn gái là Carolyn Staleyil tham gia cuộc biểu t́nh tưởng nhớ Martin Luther King tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Cũng trong thời gian đó, ông ta nhận được học bổng Rhodes, một loại học bổng chỉ cấp cho những sinh viên - không phải v́ học xuất sắc - mà v́ có đầu óc thiên tả.

 

          Năm 1969, Clinton qua Anh quốc để hoàn tất học bổng Rhodes tại đại học Oxford, và tại đây làm quen thân mật với nữ sinh viên thiên tả Tamara Eckles Williams. Cũng trong thời gian nầy, tại Luân Đôn, ông xin ghi tên vào Hội Đồng Anh Quốc của Phong Trào Ḥa B́nh do Liên Xô giựt giây trong bóng tối. Ngày 15 tháng 10 và 16 tháng 11, Clinton tham gia hai cuộc biểu t́nh tại thủ đô Luân Đôn do Phong Trào Ḥa B́nh tổ chức và ông ta cũng đă cùng đoàn biểu t́nh hô to vang dậy khẩu hiệu "Hồ Chí Minh sẽ thắng -- Hồ Chí Minh sẽ Thắng". Với tiền học bổng hàng tháng là 276 mỹ kim, Clinton bắt đầu đi đó đi đây mặc dầu không có tiền túi riêng. Khi qua thăm viếng Na Uy (Norway), ông ta đă từng hỏi nhà chức trách nước này xem ông có thể xin vào quốc tịch Na Uy được không v́ ông ta không muốn trở lại Hoa Kỳ nữa. Rồi bỗng có một người bạn Tiệp Khắc gốc Do Thái Ian Kopold, đưa ông ta qua tham quan Mạc Tư Khoa (Moscow) thủ đô của Liên Xô, để rồi cả hai đều cùng nhau tham gia cuộc biểu t́nh chống chiến tranh Việt Nam được tổ chức tại nơi đây vào ngày 2-1-1970. Một điểm cần nên ghi nhận là mặc dù t́nh trạng tài chánh eo hẹp, ông Clinton vẫn lưu lại thủ đô Mạc Tư Khoa gần mười ngày, tại khách sạn National, một khách sạn đắt nhất của thủ đô Liên Xô với giá biểu 1000 (một ngàn) Mỹ kim một ngày. Lẽ dĩ nhiên là mọi phí tổn ăn ở tại Mạc Tư Khoa và tiền vé máy bay đều do chính quyền Liên Xô đài thọ hết. Và qua trung gian cơ quan nào? Đặt câu hỏi tức là đă có câu trả lời rồi đó!

 

           Sau khi rời Mạc Tư Khoa, Clinton được ông bạn Ian Kopold đưa về thủ đô Prague của Tiệp Khắc để thăm thân mẫu của Ian là Bà Maria Svermova. Bà này là một trong những sáng lập viên của đảng Cộng Sản Tiệp Khắc vào thập niên 1930 và cũng là chủ nhiệm của tờ báo Rude Pravo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Tiệp Khắc. Anh của bà Maria là Karel Svab, một nhân viên cao cấp trong ngành Mật Vụ của Tiệp Khắc và cũng là một cộng sự viên đắc lực  của trùm Tiệp Cộng Rudolf Slansky, trước khi y bị Novotny - tay sai đắc lực của Stalin hạ bệ. tháng10, 1970, Ian Kopold chết một cách rất bí mật tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ông Clinton có biên thư chia buồn với gia đ́nh của anh này; trong bức thư, Clinton tỏ ư khâm phục ông bạn Kopold đă biết chọn đúng con đường mà đi (con đường vô sản chủ nghĩa).

 

          Trong một chuyến viếng thăm nước Nga - lúc trở về lại Hoa Kỳ - Tổng Thống Clinton có ghé lại thủ đô Prague của Tiệp Khắc để thăm viếng gia đ́nh Kopold ngày 11-1-1994. Những tin tức trên đây cũng đủ cho ta thấy ông Clinton đứng ở vị thế nào trên chính trường quốc tế rồi; và có lẽ cùng chung một "thủy tổ" nên ông Clinton đưa ông Gore vào làm phó cho ông ta là chuyện quá thường! Rồi cũng từ đó chính giới quốc tế suy diễn ra thảo nào ông Clinton triệt để yểm trợ ông Yeltsin cho đến khi đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Nga, đợt 2 vào ngày 3-7-1996.

 

Có 2 yếu tố nổi bật quyết định sự đắc cử của Tổng Thống Yeltsin, đó là vai tṛ quan trọng sau hậu trường của cô con gái Yeltsin là Tatiana Ditchenko, 37 tuổi, rất thông minh, giao thiệp rộng và rất am tường chính trị, nhất là loại chính trị tṛng tréo ở Nga hiện nay. Yếu tố thứ hai không kém phần quan trọng là sự có mặt tại Mạc Tư Khoa vào đầu tháng 3, 1996, của một phái đoàn cố vấn Hoa Kỳ gồm 5 chuyên viên về vận động tuyển cử. Trong một bài tham luận về cuộc bầu cử tổng thống ở Nga, tạp chí TIME Magazine có đề cập đến vụ này, nhưng tránh đi sâu vào chi tiết. Nếu không có sự hỗ trợ của đoàn cố vấn Hoa Kỳ và của Tatiana, th́ Yeltsin có thể thất cử. Vào đầu tháng 3, 1996, Tatiana Ditchenko dọn về gian pḥng 1119 trong tư dinh tổng thống để tiện bề điều khiển cuộc vận động tranh cử của thân phụ cô. Trong gian pḥng 1120 kế đó là bản doanh của đoàn cố vấn Hoa Kỳ gồm 5 chuyên viên bầu cử trong đó 4 vị thuộc đảng Cộng Ḥa, một vị thuộc đảng Dân Chủ và đă từng tham gia cuộc vận động tranh cử thống đốc tiểu bang Arkansas của tổng thống Clinton trước đây. Dưới con mắt của nhân viên trong tư dinh tổng thống, th́ những người Hoa Kỳ này là những chuyên viên tư vấn làm việc trong một công ty ở San Francisco,bang California  chuyên giúp ư kiến cho những hăng, xưởng có ư định qua đầu tư vốn ở Nga. Đầu tháng 3, 1996, phái đoàn ngụy trang tư vấn này đă cho Tatiana hay là hầu hết các cố vấn chung quanh ông tổng thống như Korjakov, Barsoukov, Soskovets và Tổng Trưởng Bộ Quốc Pḥng,

 

Tướng Pavel Grachev đều lừa dối ông ta từ bấy lâu nay hoặc v́ thiếu khả năng và bất chấp dư luận quần chúng, hoặc có nhiều liên hệ với một số phe nhóm hoạt động cho đảng cộng sản. Người từng gây thiệt hại nhiều nhất cho Tổng Thống Yeltsin là Soskovets, Đệ Nhất Phó Thủ Tướng chính phủ. Vào cuối tháng 4, 1996, th́ Tatiana và thân phụ - sau khi âm thầm mở cuộc điều tra về 4 nhân vật được nêu trên - đă t́m ra bằng chứng là Soskovets đang ngấm ngầm phá cuộc vận động tranh cử của ông ta, v́ vậy cần phải hành động gấp. Phái đoàn Hoa Kỳ bèn đưa ra một kế hoạch vận động dựa trên việc công bố cho quần chúng biết những tai họa mà đảng Cộng Sản đă giáng xuống đầu nhân dân Nga trong suốt 7 thập niên qua. Ban đầu gia đ́nh Yeltsin c̣n do dự, v́ thấy ở Nga cũng như ở các nước cựu chư hầu Đông Âu thế lực của đảng Cộng Sản đang lên mạnh, trong khi đó chính phủ các nước trong khối Thế Giới Tự Do ở Âu Châu cũng như ở Mỹ Châu vẫn giữ thái độ thản nhiên trước sự vươn lên của đảng Cộng Sản Quốc Tế. Báo Time đă tránh không đề cập đến vấn đề này. Nhưng cuối cùng Tatiana đă lấy một quyết định rất khôn ngoan và sáng suốt là phải làm theo lời khuyến cáo của phái đoàn Hoa Kỳ. Cô lại thuyết phục thân phụ cô, và tổng thống Yeltsin đích thân ra lệnh cho cấp thừa hành phải mở ngay chiến dịch đả phá và phản tuyên truyền đảng Cộng Sản. Thế là trong nhiều tuần liên tiếp trước ngày bầu cử 16-6-1996, những tài liệu "Mật" trong văn khố của các sở mật vụ Nga nói về tội ác của đảng Cộng Sản đối với nhân dân Nga từ triều đại Lê Nin cho đến triều đại Brejnev đă được công bố trên các đài truyền h́nh, truyền thanh và báo chí. Lần đầu tiên trong lịch sử - dân Nga mới thấy rơ bộ mặt thật của bọn quỷ đỏ Cộng Sản. Đảng Cộng Sản Nga đành phải im hơi lặng tiếng v́ họ không thể nào phủ nhận được những hành vi tắm máu nhân dân của chính cha ông họ chủ trương. Nhưng cũng phải làm một cái ǵ chứ chả lẽ lại nín khe hay sao? Rốt cục chúng chỉ biết phản đối phe Yeltsin đă chiếm quá nhiều giờ trên các đài truyền thanh và truyền h́nh. Chỉ có thế thôi v́ chúng cũng không thể làm ǵ khác hơn. Trong khi đó th́ uy tín của Yeltsin trong quần chúng lên đều đều hàng tuần. Rơ ràng là chỉ có cách trưng bày bằng chứng cụ thể về tội ác và lỗi lầm của Cộng Sản đối với nhân dân th́ khi đó mới có thể đánh tan được những huyền thoại bịa đặt về các lănh tụ Cộng Sản trong đầu óc quần chúng qua bao nhiêu năm họ bị bộ máy tuyên truyền láo toét của Đảng đêm ngày nhồi, nhét.

 

          Hai tuần trước cuộc bầu cử đợt 2 (3 tháng 7, 1996) giữa 2 ứng cử viên dẫn đầu trong cuộc đầu phiếu đợt 1 là Tổng Thống Yeltsin và lănh tụ Cộng Sản Ziouganov, Tổng Thống Yeltsin đă lấy một quyết định rất táo bạo và ngoạn mục là cất chức 4 người từng cộng sự với ông từ bấy lâu nay, rất được ông tín nhiệm, nhưng lại chống công cuộc cải cách đất nước. Đó là quư ông: Alexander Korzhakov, 46 tuổi, Trưởng Ban An Ninh phủ tổng thống, Michail Barsukov, 48 tuổi, Giám Đốc Cơ Quan An Ninh Liên Bang, Oleg Soskovets, 47 tuổi, Đệ Nhất Phó Thủ Tướng và tướng Pavel Grachev, Tổng Trưởng Bộ Quốc Pḥng. Phe cải cách trong chính phủ đă đưa ra bằng chứng cho Tổng Thống Yeltsin thấy là những người này đang âm mưu hủy bỏ cuộc bầu cử đợt 2 giữa ông ta và Ziouganov, và ban hành thể chế độc tài đồng thời đ́nh chỉ mọi cải cách hướng về kinh tế thị trường. Hai mươi bốn giờ trước đó, Tổng Thống Yeltsin phong cho tướng Alexander Lebed làm Tổng Thư Kư Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và kiểm soát những bộ quan trọng như An Ninh Quốc Nội, Quốc Pḥng, Mật Vụ FSB và Phản Gián, Lực Lượng Biên Pḥng. Về phía Ziouganov lănh tụ đảng Cộng Sản Nga, th́ y đă phạm hai lỗi lầm lớn trong khi đi vận động tranh cử. Lỗi thứ nhất là y tuyên bố nếu đắc cử th́ y sẽ lập lại chế độ kiểm duyệt báo chí cũng như truyền thanh, truyền h́nh. Lời tuyên bố này đă làm cho một số lớn báo chí đổ xô vào ủng hộ Yeltsin, và Ziouganov - sau khi thấy ḿnh bị hố - đă xin rút lời tuyên bố về kiểm duyệt thông tin, nhưng đă chậm mất rồi v́ nhà báo đâu có tin Cộng Sản! Lỗi thứ hai là khi báo chí hỏi y sẽ lấy tiền đâu để thực hiện những chương tŕnh vĩ đại về xă hội do y đưa ra khi đi vận động, th́ Ziouganov trả lời là hằng năm chính quyền đă để cho tài phiệt và thương gia tẩu tán "lậu" tiền ra ngoại quốc, khoảng hai trăm tỷ Mỹ kim. Nếu y cầm quyền th́ y sẽ chận đứng tệ đoan đó và số tiền kếch xù này bắt buộc phải được kư thác vào các ngân hàng trong nước. Và với tiền lăi 6% đến 8% mỗi năm, th́ Nhà Nước sẽ có hằng năm khoảng 12 tỷ Mỹ kim để chi tiêu  mà khỏi phải vay mượn ngoại quốc. Các nhà báo nghe y trả lời như vậy ai nấy đều bụm miệng mà cười v́ họ biết - trong những năm gần đây - chính Đảng Cộng Sản Nga đứng đầu sổ về tội tẩu tán tiền bất hợp pháp ra ngoại quốc. Các nhà báo thường kể cho nhau nghe một năm sau khi Cộng Sản ở Liên Xô sụp đổ, chính Yeltsin đă yêu cầu Quốc Vương Juan Carlos của Tây Ban Nha giữ lại số tiền gần 500 triệu Mỹ kim của Gorbatchev chuyển qua gởi ở một số ngân hàng tại thủ đô Madrid. Chính Quốc Vương Carlos đă tiết lộ tin nầy cho một vị đại sứ của một cường quốc ở Âu Châu trong một buổi tiếp tân tại tư dinh của quốc vương.

 

          4. "Cố Vấn Phù Thủy" Hoa Kỳ.

 

          Trước cuộc bầu cử đợt 1 (16-6-1996), Tatiana, ái nữ của Tổng Thống Yeltsin đă hội kiến nhiều lần với phái đoàn Cố Vấn Hoa Kỳ vào thượng tuần tháng 3-1996, để vạch ra một chương tŕnh vận động tranh cử sao cho khoa học và hữu hiệu. Có một điểm mà phái đoàn lưu ư Tatiana là ngoài việc đạp đổ uy tín của Đảng Cộng Sản Nga, c̣n phải nghĩ cách rút bớt phiếu của những cử tri - v́ không ưa Yeltsin - mà bỏ phiếu cho Ziouganov của đảng Cộng Sản. Phái đoàn cho Tatiana hay là theo sự điều tra của họ hiện giờ - trong số các ứng cử viên ra tranh cử tổng thống - chỉ có tướng Lebed là người có những tư tưởng phản ảnh đúng đắn suy tư của đa số dân Nga hiện nay. V́ vậy cần phải ngấm ngầm ủng hộ Lebed để cho ông này rút bớt phiếu của những người không phải đảng viên Cộng Sản mà lại muốn bỏ phiếu cho Ziouganov. Việc tung tiền mua chuộc báo chí, viết bài đề cao tướng Lebed chỉ nên thực hiện vào trung tuần tháng 5 - một tháng trước ngày bầu cử thôi - để cho phe Cộng Sản nếu muốn phản pháo ông này cũng không đủ thời giờ để xoay xở. Leonid Radzikhovsky, trưởng ban vận động tranh cử tổng thống của Lebed đă tiết lộ với báo chí như sau:

-

 "Ông ta như người vào casino đánh bạc bị thua hết chỉ c̣n vỏn vẹn 10 đồng Rúp trong túi. Thay v́ dùng tiền này để mua bánh ḿ ăn lót dạ, ông ta đă bỏ hết vào máy tự động và không ngờ đă kéo ra số độc đắc".

 

Ư ông trưởng ban này muốn ám chỉ  việc ông Lebed vừa được tổng thống Yeltsin đưa lên địa vị thứ 2 trong nước, đứng sau ông ta. Trong trường hợp Lebed, nhờ 11 triệu phiếu của cử tri đă từng bỏ phiếu cho y mà qua cuộc bầu cử đợt 2, Tổng Thống Yeltsin mới thắng lănh tụ đảng Cộng Sản một cách vẻ vang như vậy. Kết quả cuộc bầu cử này đă mang lại cho mọi phe nhóm một niềm vui rất lớn, ngoại trừ lănh tụ Đảng Cộng Sản là Ziouganov và đảng của y. Nhưng niềm vui mỗi phe mỗi khác: người vui nhất lẽ dĩ nhiên là Yeltsin - v́ cách đây không đầy một năm, mọi cuộc thăm ḍ dư luận đều cho thấy uy tín của ông chỉ c̣n 8%, nhưng sau cuộc bầu cử đợt 2 th́ ông lại được 53% số phiếu; t́nh trạng ngựa về ngược này khiến ông không vui sao được. Ái nữ Tatiana của ông, người có công lớn trong cuộc bầu cử này, vui thầm trong thâm tâm v́ từ nay trở đi cô sẽ điều khiển việc nước trong bóng tối, giúp ư kiến cho một ông bố bị bệnh tim nặng và ghiền rượu không kém ǵ Brejnev. Với tướng Alexander Lebed và bộ tham mưu - mới qui tụ được trong kỳ tranh cử tổng thống - tuy ít kinh nghiệm nhưng khá sâu sắc về nhận định, th́ quả thật sự vui mừng đă đến với họ một cách quá bất ngờ. Tất cả nỗi mừng kể ra trên đây đều là những nỗi mừng của riêng từng cá nhân, c̣n nỗi mừng sắp được kể dưới đây là nỗi mừng của nhóm đại diện cho cấp lănh đạo của một nước, tôi muốn đề cập đến sự hân hoan thầm kín của phái đoàn "cố vấn phù thủy" Hoa Kỳ. Nếu không có phái đoàn nầy vạch ra kế hoạch vận động tranh cử th́ tổng thống Yeltsin đă thất cử từ lâu và kéo theo luôn uy tín của TT Clinton, người ủng hộ lá bài Yeltsin từ đầu cho đến cuối. V́ vậy mà Hoa Kỳ đă giúp đỡ ông Yeltsin về đủ mọi mặt, kể cả việc tặng cho ông ta nguyên một b́nh rượu thuốc.

 

          Ngày xưa bên Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, các vơ sư chưởng môn các môn phái đều có truyền lại cho một số ít đệ tử trưởng tràng - ngoài vơ nghệ ra - một toa thuốc bắc để ngâm trong rượu đế và để xoa bóp ngoài da khi bị thương tích trong lúc giao đấu. Rượu thuốc này gọi là rượu gia truyền và chỉ được truyền từ cha đến con thôi. C̣n loại rượu thuốc do Hoa Kỳ tặng cho tổng thống Yeltsin không thuộc loại rượu thuốc gia truyền, mà lại là loại "rượu thuốc Tổng Thống truyền", nghĩa là được truyền từ tổng thống nhiệm kỳ trước đến tổng thống nhiệm kỳ sau. Loại rượu này chỉ độc có một vị, chứ không rườm rà như trong toa thuốc rượu gia truyền của các vơ sư nói trên đây, và vị thuốc độc nhất đó là Mỹ Kim ngâm trong rượu Huưt Ky làm tại Hoa Kỳ. Người không biết vơ, khi xoa rượu này vào tay chân cũng biết xuất chưởng "cách không đả ngưu" hạ đối phương đứng ngoài xa dễ như trở bàn tay. Không biết phái đoàn cố vấn Hoa Kỳ khi qua Mạc Tư Khoa trong tháng 3, 1996 có mang theo b́nh rượu thuốc "tổng thống truyền" không th́ không biết, nhưng khi thấy Tổng Thống Yeltsin - vốn say sưa liên miên - mà biết ra chiêu "cách không đả ngưu" rất là thần sầu, hạ luôn một hơi 3 ông tướng và một ông Phó Thủ Tướng vốn được liệt vào loại "bài Mỹ" hạng nặng, th́ ai cũng phải đặt nghi vấn chắc tay ông cũng đă xoa "rượu thuốc tổng thống truyền" rồi. Phái đoàn cố vấn chỉ dùng có một "mũi tên Tatiana" mà bắn được 5 con chim; con chim thứ 5 ít ai biết đến nhưng là mục tiêu số 1 của Hoa Kỳ: đó là con chim Primakov, người Nga gốc Do Thái. Ông ngoại trưởng này tuy không bị mất chức, nhưng 4 người trong nhóm của ông  đă bị đá văng để nhường chỗ cho kẻ thù số 1 của ông là tướng Alexander Lebed. Primakov là người nuôi mộng đưa nước Nga  trở lại địa vị siêu cường, điều mà bất cứ một ông tổng thống Hoa Kỳ nào - dù có yếu như ông Clinton - cũng đều không muốn. Nhưng dù sao đi nữa, ông Clinton cũng đă làm tṛn "nhiệm vụ" và ông đă làm vui ḷng một số bạn bè của ông trong hàng ngũ của sở Mật Vụ KGB mà đa số chủ trương không ủng hộ việc làm cho đảng Cộng Sản Nga tái sinh trở lại, nhưng lại chủ trương nước Nga phải trở thành một nước độc tài trá h́nh dân chủ nhưng phải do sĩ quan cao cấp của Mật Vụ KGB lănh đạo, với điều kiện tuyệt đối là họ không có gốc Do Thái. Việc Yeltsin trao quyền lại cho Putin trong tháng 12-1999, đă cho ta thấy nước Nga đang đi dần vào con đường độc tài sắt máu đó!

 

          Trước khi đi dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ở Okinawa, tổng thống Nga Vladimir Putin - chắc cũng đă tiên đoán được sự thất bại năo nề của ông ta tại hội nghị nầy, nên đă bố trí cho một phái đoàn ngoại giao do Igor Ivanov Bộ Trưởng Ngoại Giao cầm đầu qua thăm viếng Tân Delhi (New Delhi, Ấn Độ) với mục đích nối lại t́nh giao hảo giữa hai nước bị gián đoạn sau thời gian hợp tác chặt chẽ từ 1965 đến 1990. Tuy là một phái đoàn ngoại giao, nhưng đa số nhân viên tháp tùng ông bộ trưởng đều là những chuyên cao cấp trong ngành mật vụ hải ngoại SVR và ngành quân báo GRU của quân lực Nga. Và một số thỏa hiệp đă được kư kết giữa hai nước. Nga sẽ giúp Ấn Độ canh tân lại quân đội và sẽ bán cho Ấn - trong ṿng 20 tháng - 20 phi cơ vận tải IL-76 ,chuyên chở quân đội và quân nhu, quân cụ và có tầm bay xa 4000 cây số. Ngoài ra Nga c̣n gởi một số chuyên viên đến làm việc tại một số nhà máy sản xuất vũ khí của Ấn. Nga lại c̣n hứa sẽ giúp Ấn Độ trong việc chống lại bọn tranh đấu cho nền độc lập của Kashmir. Sau đó phái đoàn Ivanov bay qua B́nh Nhưỡng, thủ đô Bắc Hàn, và kư với nhà cầm quyền Hàn Cộng một hiệp ước hữu nghị và hợp tác rập theo khuôn khổ của những hiệp ước đă từng được kư trong giai đoạn từ 1949 đến 1989 giữa Liên Xô và các nước chư hầu. Hiệp ước nầy nhấn mạnh về mặt hỗ trợ nhau về quân sự khi một nước bị ngoại xâm. Và trong khi đó th́ Trung Cộng cố gắn lôi kéo Pakistan vào trong một liên minh quân sự gồm những nước Kazakhstan, Tadjikistan, Uzbekistan, Kirjikistan ở Trung Á và âm thầm - không kèn không trống - kéo thêm Việt Nam và Ai Lao vào liên minh đó nữa. Coi bộ liên minh quân sự này rất là xôm tṛ, nhưng đến khi cần phải đem chuông đi buộc cổ " Mèo Hoa Kỳ " th́ nước nào sẽ vỗ ngực xung phong đây! Có một điều chắc chắn là không phải nước Nga hay Trung Cộng v́ họ dư biết quân đội của họ sẽ là những tấm bia đỡ đạn của quân đội Mỹ mà thôi!

 

          Chính quyền Putin của Nga hiện nay đang đặt nặng vấn đề canh tân quân đội để mong đối phó lại với Hoa Kỳ, nhưng liệu họ có thực hiện được không?

 

          a).Chuyện khó khăn nhất của Nga là đang sa lầy trầm trọng tại Chechnya; v́ trước sự bất lực của quân đội, Tổng Thống Putin đă kư quyết định ngày 22 tháng 1, 2001, giao việc b́nh định Chechnya lại cho cơ quam mật vụ FSB ( tức KGB cũ) phụ trách. Hành động này chứng tỏ rằng TT Putin không tín nhiệm quân đội bằng cơ quan Mật Vụ FSB, và cơ quan này đă chứng rỏ sự bất lực của họ trong trận chiến b́nh định Chechnya lần đầu tiên. Và một số b́nh luận gia về vấn đề quân sự đă bày tỏ sự nghi ngờ của họ về sự thành công của cơ quan mật vụ FSB trong việc dẹp loạn của họ tại Chechnya mà họ nói trại ra là dẹp khủng bố. Để kết luận, chúng tôi xin nhắc lại lời tuyên bố với hăng thông tấn AFP của vị chuyên gia về quân sự có uy tín, ông Pavel Felguengauer: "Tổng Thống Putin đặt niềm tin vào cơ quan Mật Vụ FSB hơn là vào quân đội, nhưng cuối cùng FSB cũng như quân đội đều sẽ bất lực trong công cuộc dẹp loạn ở Chechnya". Tại sao? Tại cơ quan Mật Vụ FSB đối xử rất dă man với dân chúng Chechen, bắt bớ người vô tội vạ cốt để khảo của, giống như Đức Quốc Xă tra tấn dân Do Thái trong Đệ Nhị Thế Chiến vậy, hay như Việt Cộng tra tấn dân Việt Nam và không bao giờ chúng biết tôn trọng nhân quyền.

 

          b). Khó khăn thứ hai là sự xung đột nội bộ rất là trầm trọng giữa ông Igor Sergueiev, Bộ Trưởng Quốc Pḥng và Tướng Anatoly Kvashnin Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Quân đội tố cáo ông Bộ Trưởng Quốc Pḥng đă chi quá nhiều tiền vào việc sản xuất Tên Lửa Theo Đường Đạn Topol-M (Ballistic Missile). Để xoa dịu quân đội, TT Putin đă hứa hẹn với họ sẽ tăng ngân sách quốc pḥng, đồng thời cách chức luôn 6 viên tướng trong bộ Quốc Pḥng. Nhưng sự thất bại của quân đội ở Chechnya lại vô hiệu hóa mộng cải cách qui mô quân đội; giờ đây họ chỉ có thể trông chờ vào những cải cách nho nhỏ trong lực lượng qui ước để có thể đóng vai tṛ tích cực hơn trong vùng Ba Nhĩ Cán (Balkans) và trong vùng Cận Đông hay Bắc Phi Châu. C̣n đặt vấn đề cải cách qui mô quân đội để có thể đương đầu hữu hiệu với quân đội Hoa Kỳ th́ quả thật đừng có ḥng... vô phương như lời tuyên bố của ông Evgueni Kozhokin, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Nga. 

 

 

          5. Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)

 

          Mùa hè tháng 6, 1999, 200 binh sĩ Dù trong quân đội Nga đóng tại căn cứ ở Bosnia được lệnh rời căn cứ và tiến vào phi trường Pristina trong phạm vi lănh thổ Kosovo, thuộc Nam Tư.  Hành động này đă làm ngạc nhiên không ít bộ chỉ huy quân đội Đồng Minh của Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang trong t́nh trạng chiến tranh với Nam Tư; đồng thời cũng làm cho bộ Ngoại Giao và bộ Quốc Pḥng Nga vô cùng ngạc nhiên, rồi người ta tự hỏi không biết bộ tham mưu quân đội Nga có báo cho Tổng Thống Yeltsin biết việc điều động quân đội Dù này không? V́ trong cuộc chiến dẹp quân Chechen mà họ liệt vào hàng phản loạn, rất nhiều lần sĩ quan Nga đă phản đối việc phe dân sự dành quyền chỉ huy cuộc chiến, khiến cho đại tướng Vladimir Chavanov đă có lần tuyên bố là quân đội sẽ không tuân theo - nếu có một lệnh bất thần - buộc họ phải ngưng tấn công vào quân đội của Chechnya. Viên tướng này đă tuyên bố với đài truyền h́nh Nga là ông ta sẽ vất bỏ ngôi vai đại tướng để trở về đi làm việc khác trong đời sống dân sự, v́ "tôi không thể nào tiếp tục hoạt động trong một quân đội như thế này". Chưa bao giờ cấp chỉ huy quân đội Nga lại có những phản ứng mạnh như thế đối với phe dân sự đang điều hành guồng máy chính phủ, khiến cho ông Vyacheslov Nikonov, một nhà nghiên cứu về chính trị và cũng là một cựu dân biểu quốc hội Nga đă lên tiếng rằng ảnh hưởng của quân đội trong đời sống chính trị ở Nga đang có chiều thay đổi kể từ cuộc nổi loạn  14 tháng 12, năm 1825 của một nhóm sĩ quan, kêu gọi quân lính ở Saint Petersburg nổi loạn, đ̣i tân Sa Hoàng Nicholas Đệ Nhất phải canh tân quân đội. Nhưng cuộc nổi loạn đă thất bại, và một số sĩ quan cầm đầu đă bị treo cổ, một số khác bị đày đi Tây Bá Lợi Á (Siberia). Việc cựu Tổng Thống Boris Yeltsin chọn 3 thủ tướng đầu tiên trong nội các của ông: Evgueni Primakov, Serguei Stepachine và Vladimir Putin - 3 viên tướng của cơ quan mật vụ KGB - có thể chứng minh cho giới chính trị Nga và đa số quần chúng thấy ông Yeltsin là một ông tổng thống dám làm, dám đương đầu những thách đố do giới chính trị quốc tế nêu ra để bắt mạch ông ta. Vừa mới lên nhậm chức quyền tổng thống được vài ngày, ông Yeltsin đă vội bay xuống Chechnya để gắn huy chương cho một số binh sĩ đang chiến đấu ở ngoài mặt trận; và sau đó một tháng th́ ông ta đă kư quyết định tăng 50% tiền chi phí về quân nhu cho quân đội Nga.

 

          Dưới trào Gorbachev, việc đổi mới là nhằm mục đích giải quyết sự mâu thuẫn ngày càng tăng giữa những yếu kém của nền kinh tế Liên Xô song song với gánh nặng  của những chi phí quốc pḥng. Thời bấy giờ, về mặt kinh tế, Liên Xô cố gắng hụt hơi cũng vẫn không bắt kịp Hoa Kỳ và Tây Âu về mặt kỹ thuật cận đại cũng như về mặt sản xuất những nhu yếu phẩm cần thiết trong đời sống của người dân; c̣n đề cập đến lănh vực quân sự th́ quân đội của Liên Xô ngang hàng với quân đội của khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương về mặt phẩm nhưng lại hơn hẳn về mặt lượng nhất là về vũ khí hạch tâm. Trong hai thập niên 70 và 80, đại đa số quần chúng Nga đă qui tội cho ngành kỹ nghệ quốc pḥng là vai chính, đă làm cản trở việc phát triển ngành kinh tế của đất nước. Trong cải cách của ông Gorbatchev, mục tiêu đầu tiên là giảm bớt những chi phí về sản xuất vơ khí để làm hồi sinh lại ngành kinh tế lụn bại của đất nước. Nhưng những biện pháp đem ra thi hành lại không phù hợp tư nào trong một hệ thống cứng ngắt, nên đă hoàn toàn thất bại. Sự tan ră của Liên Bang Xô Viết kéo theo sự sụp đổ của Hồng quân. Dưới thời Liên Xô, Hồng quân Nga có khoảng 4 đến 5,3 triệu  binh sĩ vào đầu thập niên 80, so với 2,1 triệu binh sĩ của Hoa Kỳ. Quân đội của Nga, khi bắt đầu cuộc chiến đầu tiên với Chechnya th́ quân số của Nga chỉ c̣n lại 2,1 triệu vào năm 1994. Giờ đây người ta ước lượng quân số Nga vào khoảng 1,2  đến 1,3 triệu; con số này sẽ c̣n bị Hội Đồng An Ninh Nga giảm xuống vào 900,000 thôi trong một tương lai gần đây. Việc giảm bớt quân số không nằm trong phạm vi tái cấu trúc quân đội, mà do một sự sụp đổ bất ngờ, chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử nước Nga.

 

Lư do của sự sụp đổ là v́  Liên Xô đổ tiền quá nhiều vào cho quân đội và khu công nghiệp kỹ nghệ quốc pḥng. Vào đầu thập niên 80, ngân sách quốc pḥng của Liên Xô lên tới từ 250 tỷ đến 300 tỷ mỹ kim, coi như gần một nửa số thuế thu nhập của quốc gia. Trong năm 2000, ngân sách quốc pḥng của Nga chỉ c̣n lại 6 tỷ mỹ kim. Từ 1991 đến 1997 sản xuất về vũ khí của Nga giảm bớt 80%. Năm 1990, khi Liên Xô chưa sụp đổ th́ sản xuất được 1600 chiến xa, nhưng sau khi Liên Xô tan ră, th́ Nga chỉ sản xuất được có 5 chiến xa vào năm 1997. Cũng trong thời gian nói trên, số phi cơ sản xuất tụt từ 430 chiếc đến 70 chiếc. Sở dĩ kỹ nghệ quốc pḥng của Nga c̣n sống vất vưỡng được là nhờ có xuất cảng được 3 tỷ mỹ kim vũ khí vào năm 1999. Cho đến giờ này, lực lượng quân sự của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hơn hẳn Nga về lượng cũng như phẩm kể cả vũ khí hạch tâm, riêng quân số của khối NATO đông gấp 3 lần quân số của Nga. Mặc dầu có sự phân giải, quân đội Nga vẫn tương đối có mặt trong đời sống chính trị của đất nước. Trong một số biến động chính trị vào thập niên cuối cùng của thiên niên kỷ 2000, quân đội ngả về phe nào là phe ấy thắng. Trong cuộc nổi dậy của phe bảo thủ, vào tháng 8, 1991, quân đội đă  từ chối không chịu tham dự, nên cuộc nổi dậy đă thất bại. Trái lại, vào tháng 10, năm 1993, ông Yeltsin đă nhờ quân đội cứu và lật được quốc hội, để rồi tiến tới việc thành lập một chính quyền mạnh. Đáng lư ông tổng thống đầu tiên của nước Nga phải theo đà đó để đưa ra những cải cách về quân đội trước năm 1997, nhưng ông ta cứ lần khân không dám tiến hành, v́ sợ quân đội sẽ lật đổ ông ta để tái lập lại Liên Bang Xô Viết. Cho nên đối với quân đội, ông ta áp dụng hai chính sách: Phân chia quân đội ra thành nhiều đơn vị riêng biệt có bộ chỉ huy biệt lập, đồng thời thành lập song song với những đơn vị này một số đơn vị tuyệt đối trung thành với ông ta.

 

Lư do chính trong sự sụp đổ quân đội của Liên Bang Xô Viết là v́ nền kinh tế nói chung của đất nước không đối chiếu với quyền lợi của nền kỹ nghệ quốc pḥng. Trong gần một thập niên đeo đuổi cải cách về kinh tế, t́nh trạng nêu trên cũng chẳng thay đổi chút nào. Tinh hoa của giới kinh tài mới nhô lên sau khi Liên Xô sụp đổ, vẫn lánh xa Cơ Quan Kỹ Nghệ Quốc Pḥng. Trong khi đó th́ quân đội thấy họ không có chuyện ǵ mà phải bênh vực quyền lợi của những tên "trùm chính trị" này. Cứ nh́n vào cuộc tranh chấp về tài nguyên năng lượng dưới bể Lư Hải th́ rơ: Mặc dù quân đội Nga có một thực lực hùng hậu trong vùng này, họ cũng vẫn không gây áp lực ǵ để cho các công ty dầu hỏa Nga được ưu đăi. Các cấp chỉ huy quân đội tại vùng bể Lư Hải cho rằng quân đội chỉ được dùng để phục vụ quyền lợi quốc gia chứ không phải để phục vụ quyền lợi của tư nhân. Sự phân giải quân đội Nga càng thêm rơ rệt vào năm 1994, khi ông Yeltsin có quyết định áp dụng giải pháp quân sự đối với việc đ̣i tự trị của Chechnya, ở miền Nam nước Nga. Sở dĩ ông ta có quyết định đó là v́ ông muốn có nhiều cơ may đắc cử trong kỳ tranh cử tổng thống vào tháng 7 năm 1996. Nhưng mà xui cho ông ta v́ đa số thành phần trong quân đội từ binh nh́ đến các tướng lănh trong bộ tổng tham mưu đều chống việc xua binh vào đàn áp Chechnya.

 

Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng, Tướng Boris Gromov đă công khai tuyên bố là quân đội chưa sẵn sàng để ứng chiến, và viên tướng Phó Tư Lệnh của quân đội Edward Vorobyev đă từ chối chỉ huy đoàn quân đi chinh phạt Chechnya. Trong khi đó th́ bộ tham mưu phải chật vật lắm mới kiếm được 30,000 quân và 80 chiến xa để thành lập đoàn quân "vấn tội" Chechnya. Trong hai tháng đầu, cơ quan mật vụ FSB (cựu KGB) và một số tướng lănh trong Bộ Nội Vụ phải đứng ra điều khiển việc hành quân, và sự thất bại thiểu năo của cuộc hành quân "dẹp loạn" này đă khiến cho các sĩ quan tham gia cuộc chiến vô cùng mất mặt và họ chỉ trông có một cơ hội khác để phục thù. Ảnh hưởng của cuộc thất bại này đưa đến việc cải tổ guồng máy quân đội vào năm 1997: giảm quân số xuống c̣n 1,2 triệu người và chia ra làm 4 cục: bộ binh, hải quân, không quân và lực lượng chiến lược. Nhưng v́ việc cải tổ đưa ra quá hấp tấp nên đă gặp phải nhiều vấn đề nan giải như vấn đề dân số bị sút giảm, ngân sách thiếu hụt, guồng máy chính quyền vô hiệu, và tệ nạn tham nhũng và hối mại quyền thế lan tràn khắp nơi. V́ thất bại trong vụ chinh phạt Chechnya, Nga đă gián tiếp để cho quốc tế thấy sự yếu kém về lực lượng qui ước của họ. Ông Konstantin Makiyenko Phó Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược của Nga đă từng tuyên bố ngày 14 tháng 1, 2000, với Interfax như sau: "Kể từ hôm nay và có lẽ lần đầu tiên từ thế kỷ thứ XVIII, nước Nga đang bị bao xung quanh bởi một số quốc gia đang phát triển tiềm lực quân sự của họ mạnh hơn Nga. Ngay như Thổ Nhĩ Kỳ cũng có một quân đội mạnh ngang hàng với Nga hay mạnh hơn nữa là khác. Thành thử cuối cùng chúng ta chỉ c̣n trông cậy vào vũ khí nguyên tử mà thôi".

 

          Khi hiệp ước Start II hạn chế số lượng đầu đạn nguyên tử được 2 chính phủ Nga và Hoa Kỳ kư kết, nhưng bị quốc hội Nga ngâm lại v́ có sự lủng củng giữa Yeltsin và quốc hội và phải chờ đến 7 năm sau mới được chấp thuận vào ngày 14 tháng 4, 2000, sau khi Putin lên nhậm chức, được các nhà b́nh luận quốc tế cho đó là dấu hiệu quốc hội Nga muốn chứng tỏ thái độ hợp tác đối với tân Tổng Thống Putin; nhưng sự thật của vấn đề là quốc hội Nga đành phải chấm dứt thái độ trịch thượng coi thường TT Clinton v́ họ nhận được tin là Hoa Kỳ đang có dự tính thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch, nên họ phải phê chuẩn hiêp ước Start II với hy vọng cầm chân Hoa Kỳ không tiến hành dự tính lập hàng rào hỏa tiễn để pḥng thủ lănh thổ của họ nữa. Hiệp ước Start II dự trù giảm bớt số đầu đạn nguyên tử của hai bên Nga - Mỹ xuống c̣n độ 3,500 đầu đạn thôi. Đoạn hai nước lại tiến tới việc điều đ́nh kư hiệp ước Start III giảm số đầu đạn nguyên tử xuống chỉ c̣n 1500 thôi; và Nga c̣n hăm là sẽ có quyền rút khỏi hiệp ước Start II nếu Hoa Thịnh Đốn vi phạm hiệp ước ABM được kư kết vào năm 1972. Theo tiết lộ của ông Alexander Goltz, một nhà b́nh luận về quân sự của tuần báo Itogy th́:

 

"Hơn 70% vũ khí nguyên tử của Nga đă quá cũ kỹ và trong một tương lai rất gần đây số vũ khí đó cần phải được thay thế v́ an ninh của chính nước Nga".

 

Lời tuyên bố của ông Goltz đă cho ta thấy sự đểu cáng của Nga - v́ đầu đạn nguyên tử của họ thiếu bảo tŕ nên trở thành vô dụng - họ mới kéo Mỹ vào Start để buộc Mỹ cũng phải hủy những đầu đạn nguyên tử c̣n xử dụng được để cho ngang hàng với họ. Nhưng Nga lại càng thêm lúng túng khi tàu ngầm nguyên tử Kursk, chiếc tàu ngầm 2 vỏ tối tân nhất của Nga bị nổ rồi đắm luôn trong một cuộc thao diễn hải quân ngoài khơi bể Murmansk, vùng Bắc nước Nga. Chính chiếc tiềm thủy đỉnh này đă đươc chọn để dẫn đầu hạm đội Baltic của Nga đi "biểu diễn" dọc theo bể Địa Trung Hải, để "diệu vơ dương oai" với các nước trong vùng Nam Âu Châu. Sau khi xảy ra vụ nổ này ngay bên trong tàu và buộc Nga phải mướn một chiếc tàu sửa chữa của Na Uy để t́m cách vào bên trong chiếc tàu Kursk, th́ Hoa Kỳ đă thấy rơ sự yếu kém về kỹ thuật của hải quân Nga ra sao rồi. Nhân vụ chiếc tiềm thủy đỉnh Kursk bị nổ trong pḥng máy rồi đắm ngay trong lúc đang tham dự một cuộc thao diễn, chứng tỏ chiếc tàu này được chế tạo rất là cẩu thả và thiếu thời gian để trắc nghiệm sự an toàn của nó, và đó cũng là bệnh trầm kha của các công xưởng chế tạo vũ khí, đóng tàu và phi cơ của Nga. Việc Trung Úy Victor Belenko lái chiếc máy bay đánh chận tối mật MIG-25 của Không Quân Liên Xô bay qua đảo Hadakote (Nhật Bản) t́m tự do vào ngày 6 tháng 9, 1976, đă trưng bày cho giới quốc tế biết bất cứ ǵ cộng sản nói ra đều chỉ đúng có 1/4, c̣n lại 3/4 là sai. Vào giữa thập niên 70, Liên Xô sản xuất ra chiếc MIG-25, và hô hoán với thế giới đó là chiếc phi cơ đánh chận (Interceptor) hữu hiệu nhất thế giới. Hoa Kỳ bèn cho phi cơ quan sát tối tân nhất của họ SR-76 bay lên chụp h́nh - và tuy chụp được h́nh đấy nhưng máy móc bên trong phi cơ này th́ họ vẫn mù tịt. May sao, vào ngày 6 tháng 9, 1976, đài phát thanh Nhật Bản loan tin giật gân khắp thế giới là Trung Úy phi công Nga Victor Belenko đă lái chiếc phi cơ tối mật MIG-25 qua đảo Hadakote của Nhật để xin t́m tự do. Thật là dịp may hiếm có độc nhất vô nhị đối với Hoa Kỳ để t́m hiểu những bí mật của chiếc phi cơ này. Chuyên viên Hoa Kỳ đă được gởi sang Nhật để tháo chiếc phi cơ này ra dưới sự chứng kiến của "cố vấn" Belenko, để rồi sau đó, toàn bộ phi cơ lẫn "cố vấn" Belenko đều được đưa sang Hoa Kỳ. Trước khi rời Nhật Bản, phi công Belenko nhận được công điện của Tổng Thống Ford chấp nhận cho y được vào tỵ nạn chính trị tại Mỹ, v́ lúc ấy đang c̣n t́nh trạng chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.

 

          Sau khi chuyên viên quân sự Hoa Kỳ t́m hiểu tường tận chiếc phi cơ MIG-25, người ta mới thấy được tŕnh độ yếu kém của nền kỹ thuật Liên Xô, và những ǵ họ khoe khoang đều sai sự thật. Đầu tiên, phi cơ được làm bằng loại thép cứng, chứ không phải bằng nhôm; nhôm chỉ được dùng để bọc bên trên thép mà thôi. V́ toàn phi cơ đều bằng thép nên phi cơ rất nặng và v́ thế phải dùng những động cơ thật hết sức mạnh mới có thể nhấc phi cơ lên không trung được. Phi cơ được trang bị hai cánh rất lớn dùng để chứa 14 tấn nhiên liệu và chỉ bay được - kể cả cất cánh và đáp xuống phi đạo - có 70 phút thôi là hết xăng. Một chiếc phi cơ chiến đấu mà chỉ có tầm hoạt động 186 dặm tức là 300 Km th́ quả thật quá yếu; c̣n nếu bay thẳng theo đương chim bay th́ được khoảng 900 cây số theo lư thuyết. Belenko cho biết trong chuyến bay qua phi trường Hakodate ở Nhật Bản để t́m tự do, phi trường này cách căn cứ không quân của y không đầy 500 dặm, khi đáp xuống an toàn rồi th́ nhiên liệu c̣n lại trong b́nh xăng là 52 gallons trong số 14 tấn được chứa trong hai cánh. Trên phi cơ c̣n có một b́nh chứa 500 lít rượu cồn để dùng vào việc điều hành giàn máy Radar và v́ vậy mà MIG-25 đến đóng ở căn cứ nào là đều được binh sĩ - không riêng ǵ trong căn cứ - mà khắp toàn vùng hoan nghênh nhiệt liệt, v́ họ có cơ hội tha hồ uống rượu lấy cắp trong phi cơ ra, với sự biểu đồng t́nh của phi công và thợ máy, v́ đó là nguồn giải trí độc nhất của họ. Theo tiết lộ của Belenko, nếu phi cơ có mang theo 2 hỏa tiễn th́ chỉ có thể bay tới độ cao 24,000 mét, với 4 hỏa tiễn th́ chỉ lên tới 21,000 mét thôi; c̣n nếu phi cơ lên tới độ cao tối đa là 27,000 mét th́ hỏa tiễn sẽ trở thành vô hiệu v́ không xử dụng được. V́ máy bay thám thính SR-71 bay quá cao và quá nhanh, nên MIG-25 không thể nào bay lên tới chiều cao đó v́ quá nặng nề, vả lại hỏa tiễn được đem ra xử dụng là loại hỏa tiễn rất tầm thường, không có ǵ gọi là tối tân hết. Chuyên viên Hoa Kỳ cũng rất ngạc nhiên khi thấy trong Phi cơ MIG-25, các máy điện tử đều dùng bóng đèn thay v́ transistor như bên Tây Phương thường dùng từ nhiều năm nay, như thế chứng tỏ về điện tử, Nga cũng  c̣n lạc hậu lắm. Liên Xô thường hay khoe là MIG-25 có thể bay tới Mach 3.2, nhưng Belenko cho biết là nếu bay với tốc độ đó th́ giàn máy sẽ cháy, nếu khi đáp xuống mà máy không cháy th́ bắt buộc phải thay toàn bộ giàn máy mới. Sở dĩ chúng tôi nhắc lại chuyện Liên Xô khoát lác về chiếc phi cơ MIG-25 cách đây 25 năm là v́ vào năm ngoái, không quân Nga vừa cho tŕnh làng chiếc chiến đấu cơ S-37 tối tân nhất của họ, có thể xem như ngang hàng hay trội hơn chiếc phi cơ F-22 tối tân nhất của Hoa Kỳ và họ đă mời một số phóng viên báo chí quốc tế đến chụp h́nh trong đó có phóng viên báo Popular Mechanics của Hoa Kỳ; phi cơ này đáng lẽ mang tên SU-37, v́ tổ hợp Sukhoi sản xuất, nhưng v́ đang c̣n trong t́nh trạng trắc nghiệm nên mới gọi là S-37. Biết đâu chiếc máy bay này chỉ có cái vỏ không thôi, cốt để gạt quốc tế là Nga cũng đă có phi cơ chiến đấu ngang hàng với phi cơ F-22 của Hoa kỳ rồi đó; chứ nếu Nga đă sản xuất hàng loạt loại phi cơ S-37 rồi, th́ nhất định họ phải dấu kín như họ đă từng dấu chiếc MIG-25 cách đây 25 năm rồi.

 

          6. Hoa Kỳ Pḥng Vệ Và Kiểm Soát Chiến Lược.

 

          Vừa mới vào năm đầu của thế kỷ 21, th́ trên chính trường quốc tế đă xảy ra hai sự việc rất đáng chú ư có thể ảnh hưởng đến nền ḥa b́nh thế giới về lâu về dài sau nầy: đó là việc dự trù thiết lập hàng rào hỏa tiễn bảo vệ toàn lănh thổ của Hoa Kỳ, và tiếp theo đó là việc Nga và Trung Cộng đang xúc tiến mạnh mẽ việc kư kết một hiệp ước tương trợ lẫn nhau vào tháng 6, 2001, nhân chuyến viếng thăm thiện chí thủ đô Mạc Tư Khoa của Tổng Bí Thư Trung Cộng Giang Trạch Dân. Cuộc tranh luận về chiến lược tại Hoa Kỳ bắt đầu sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt và hướng chủ đề dính líu đến cuộc cách mạng về những vấn đề quân sự, đặc biệt  những chủ trương của Hoa Kỳ liên quan đến những cuộc xung đột trong tương lai trên thế giới. Sự tiến triển này bắt nguồn từ những tiến bộ về kỹ thuật, đặc biệt về sự chính xác ở những khoảng cách thật xa, sự cung cấp tin tức thường xuyên về những lực lượng đối đầu, những mục tiêu bất thần. Và khái niệm chính được chấp nhận là khái niệm về kiểm soát chiến lược. Kiểm soát chiến lược, theo nguyên tắc, được áp dụng cho tất cả các loại xung đột và phải chú trọng đến những t́nh thế địa phương và khu vực, về trạng thái tự nhiên của đối phương như diện tích của đất nước, dân số, tài nguyên, nhất là chế độ chính trị và những phương tiện cần thiết để lật đổ chế độ đó hoặc vô hiệu hóa hay cô lập nó. Và chính trong khung cảnh đó, Hoa Kỳ đă áp dụng trong các trận chiến Vùng Vịnh, các vùng Bosnia và Kosovo ở Nam Tư và rất có hiệu quả. Theo ông Ivo Daadler một cố vấn về chương tŕnh hỏa tiễn chống hỏa tiễn của ṭa Bạch Ốc cho đến năm 1996, và hiện nay là một chuyên gia nghiên cứu của viện Brookings Institute of Washington, th́ mặc dầu đă có 3 lần thất bại trong việc phóng thử một hỏa tiễn để chống lại hỏa tiễn tấn công - lần thứ ba xảy ra vào ngày 7 tháng 7, 2000; nhưng v́ sự thất bại là do những trục trặc nhỏ không đáng kể, nên theo ông Daadler, th́ vấn đề thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn không c̣n nằm trong phạm vi nghiên cứu nữa, mà chắc chắn sẽ được thực hiện và quyết định sẽ do tân TT George W. Bush quyết định v́ chương tŕnh này nằm trong phạm vi chiến lược quân sự của Hoa Kỳ.

 

          Một số chuyên gia quân sự cũng đă chấp nhận là trong trận chiến tranh Vùng Vịnh đă có một số sai lầm hoặc thiếu chính xác trong khi pháo kích vào Iraq hoặc ném bom xuống Kosovo trong cuộc đánh phá quân đội Nam Tư trung thành với Milosevic. Nhưng từ đó so với bây giờ đă có rất nhiều tiến bộ đáng kể trong lănh vực lấy tọa độ để pháo kích vào mục tiêu cho chính xác hơn, nếu đem so sánh kết quả thu lượm được trong hai cuộc chiến Vùng Vịnh và Kosovo. Và theo các chuyên gia đó th́ thế giới đang bước vào một giai đoạn mới trong lịch sử của các cuộc chiến tranh. Qua "kiểm soát chiến lược", các chuyên gia quân sự đă thấy rơ là qua kinh nghiệm, Hoa Kỳ đă đạt được những điểm chính trong các mục tiêu chính trị của họ với những thiệt hại không đáng kể.Phương tiện chính của sự "kiểm soát chiến lược" là sức mạnh về tiềm lực không gian của Hoa Kỳ. Nhờ làm chủ không gian hiện nay, Hoa Kỳ có thể thường trực thấy được hoàn cảnh của đối phương, những phương tiện kinh tế cũng như quân sự của họ, đồng thời cũng kiểm soát được những động tác và hoạt động của họ để rồi từ đó có thể phân tích thường xuyên những tin tức thâu thập được, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên những mục tiêu cần phải hủy diệt, đồng thời vạch kế hoạch cho những sứ mạng mới cần phải được thi hành. Trong cuộc chiến Vùng Vịnh, Hoa Kỳ đă thực hiện một cuộc không tập vào lực lượng quân sự của Iraq liên tiếp trong 43 ngày và tiếp theo sau đó là tấn công bằng bộ binh và cơ giới trong 4 ngày liền th́ Saddam Hussein xin đầu hàng. Trong cuộc chiến tranh ở Bosnia, không quân Hoa Kỳ oanh tạc chính xác 300 mục tiêu và chỉ mất có 2 phi cơ và 2 người lính; c̣n bộ binh của Đồng Minh th́ được giao cho những cuộc hành quân ở dưới đất. Ở Kosovo thuộc Nam Tư, cuộc oanh tạc kéo dài 78 ngày, rất chính xác và nhắm vào các mục tiêu dân sự rải rác trong các vùng Serbia, Montenegro và Kosovo. Không có một người lính Hoa Kỳ nào chết cả, và không quân Hoa Kỳ chỉ mất một phi cơ F-117 và khoảng 15 phi cơ không người lái, theo thông cáo của Ngũ Giác Đài.

 

          Trước kế hoạch thiết lập hàng rào hỏa tiễn để chống lại hỏa tiễn lạ từ bên ngoài bắn vào nội địa Hoa Kỳ, đă có một loạt kế hoạch như Bambi, Sentinel, Safegard và Thế Chủ Động Trong Việc Pḥng Vệ Chiến Lược của TT Reagan chủ trương phóng lên không gian một hệ thống chống hỏa tiễn hữu hiệu để chống lại những hỏa tiễn địch trong tầm đạn đạo cao của chúng, và đồng thời cũng có khả năng bắn hàng loạt hỏa tiễn tấn công của Hoa Kỳ vào toàn cơi nội địa của địch. Kế hoạch này có thể giúp cho Hoa Kỳ chiếm được ưu thế tối thượng về quân sự, và tránh được sự đứng ngang hàng với Nga về vũ khí nguyên tử, một thế đứng tuy bấp bênh đối với Hoa Kỳ nhưng giữ được ḥa b́nh giữa hai siêu cường trong suốt thời kỳ "chiến tranh lạnh". Khi các hăng truyền h́nh và báo chí loan tin là Hoa Kỳ đang có dự tính thiết lập một hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch để bảo vệ toàn lănh thổ Hoa Kỳ, th́ các nước chế tạo và tồn trữ bom nguyên tử đều lên tiếng phản đối, viện lư do là dự tính của Hoa Kỳ có thể tạo nên một cuộc chạy đua sản xuất hàng loạt hỏa tiễn thêm nữa, làm cho những kho hỏa tiễn chiến lược nguyên tử mất hết cả sự tín nhiệm trước uy lực của hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch của Hoa Kỳ. Nga là nước cầm đầu việc chống đối và cuối cùng đă hăm dọa Hoa Kỳ là sẽ dùng biện pháp phóng thật nhiều hỏa tiễn đến mức độ như mưa, th́ hàng rào pḥng vệ của Hoa Kỳ sẽ trở thành vô dụng. Nhưng giới chuyên gia của khối thế giới tự do quá quen thuộc với những lời diệu vơ dương oai vô căn cứ của Nga, nên họ cũng chả cần tranh luận làm ǵ.

 

          Sau Nga, thiết tưởng chúng ta cũng nên đề cập đến tiềm lực nguyên tử của Trung Cộng. Vũ khí chiến lược về nguyên tử hiện nay của Trung Cộng được ước lượng tối thiểu là 60 hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử có tầm hoạt động xa. Theo ḥa ước Start II th́ Nga c̣n giữ lại 3000 đầu đạn nguyên tử chiến lược, dư sức để làm "mưa hỏa tiễn" qua hàng rào hỏa tiễn pḥng vệ của Hoa Kỳ. Nhưng đó là con số trên giấy tờ. Trên thực tế - v́ thiếu bảo tŕ và quá cũ kỹ - nên những đầu đạn nguyên tử đó, có phóng đi được nhiều lắm cũng là chỉ một ngàn thôi, đó là theo dự tính của Ngũ Giác Đài. C̣n Trung Cộng - muốn được quốc tế nể v́, cần phải tiếp tục sản xuất thêm đầu đạn nguyên tử để kho đạn nguyên tử của họ không bị Nga và Hoa Kỳ bỏ quá xa và như vậy là đă tạo ra một cuộc chạy đua mới trong lănh vực sản xuất đầu đạn nguyên tử cả về lượng lẫn về phẩm nữa, mà hễ Trung Cộng ráng sức sản xuất thêm đầu đạn nguyên tử th́ Ấn Độ và Pakistan cũng đâu có chịu lép vế và sẽ cố gắng tăng cường kho đầu đạn nguyên tử của họ, để rồi sẽ kéo theo tất cả các quốc gia có tiềm năng nguyên tử khác trên thế giới. Nhưng khoa học và kỹ thuật về không gian càng ngày càng tiến bộ, nên khuynh hướng “chỉ đạo “ trong cố gắng tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ cũng v́ vậy mà cần phải xét lại và họ đă dành ưu tiên cho hiệu năng về không gian của họ để dùng làm lợi khí chính trong chương tŕnh  "kiểm soát chiến lược". Những nhà lănh đạo cùng chuyên gia Hoa Kỳ đă biết khai thác tiềm năng này và đem áp dụng nó trong việc thiết lập hàng rào hỏa tiễn nguyên tử chống hỏa tiễn để bảo vệ lănh thổ của họ mà không có hỏa tiễn nào của địch có thể vượt qua. Hỏa tiễn pḥng vệ này sẽ được đặt ngoài biển, trên các tàu chạy trên mặt nước hay lặn sâu dưới đáy biển, hoặc tại các căn cứ không quân rải rác khắp hoàn cầu, nhưng đó chỉ là những trạm tiếp vận mà thôi, c̣n chiều sâu chiến lược cần thiết cho lực không gian - theo các chuyên gia - th́ chỉ nằm trong nội địa Hoa Kỳ mà thôi. Từ đó nẩy sinh ra kế hoạch hiện nay là đặt khoảng một trăm hỏa tiễn chống hỏa tiễn tại các căn cứ để phóng tại hai nơi là AlaskaNorth Dakota. Đồng thời một hệ thống chống hỏa tiễn khác mệnh danh "hỏa tiễn sân khấu" có nghĩa là những hỏa tiễn được xử dụng ngay tại trận địa sẽ được dùng để bảo vệ những vùng quan yếu của các đồng minh Hoa Kỳ, các vùng nhược điểm khi xảy ra chiến tranh và đương nhiên là những căn cứ không quân và hải quân ở ngoài nội địa Hoa Kỳ. Quan niệm này dựa trên cái nh́n hoàn toàn mới trong khung cảnh chiến lược quốc tế hợp theo cái nh́n của Mỹ cho rằng Á Châu hiện nay là trung tâm điểm của những ưu tư chiến lược của họ. Có nhiều lư do để biện minh cho quan niệm đó như việc Trung Cộng đang có nhiều cố gắng để vươn lên địa vị siêu cường, quyết tâm của Ấn Độ để trở thành một đại cường quốc trên thế giới, sự ḱnh địch vô phương chấm dứt giữa Ấn Độ và Pakistan, tính khẩn thiết của Nhật Bản muốn tự lo liệu lấy vấn đề an ninh đất nước họ hiện nằm trong một vùng mà tương quan lực lượng giữa một số quốc gia đang trên đà thay đổi, sự bất ổn  trong vùng Á Châu thuộc ảnh hưởng Nga, t́nh trạng bấp bênh của một số chế độ trong vùng Đông Nam Á...

 

Và cũng chính tại những nơi đó, Hoa Kỳ cần phải thiết lập những hệ thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn để bảo vệ những vùng quan yếu mà họ cho đó là những nơi đang trực diện với những kẻ thù hiện nay chưa xuất đầu lộ diện. Đối với những người ủng hộ việc lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn để bảo vệ lănh thổ Hoa Kỳ, việc do dự của chính quyền Clinton không được họ chú ư v́ họ chỉ đặt hy vọng vào chính phủ sắp tới, nhất là vào ông George W. Bush khi ông xuất hiện trước câu lạc bộ báo chí quốc gia tại Hoa Thịnh Đốn, và đứng bên cạnh ông ta là đại tướng hồi hưu Colin Powell, cựu chủ tịch hội đồng các tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh và cũng là người ủng hộ việc thiết lập hàng rào hỏa tiễn pḥng vệ này. Giờ đây ông George W. Bush đă trở thành vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ và chương tŕnh lập HÀNG RÀO HỎA TIỄN CHỐNG HỎA TIỄN có rất nhiều hy vọng để được chấp nhận, v́ trong chính phủ của Tổng Thống Bush hiện nay có nhiều bộ trưởng ủng hộ chương tŕnh này, nhất là những bộ có liên quan đến vấn đề an ninh của đất nước như ông Donald Rumsfeld, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, ông Colin Powell, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, và bà Condoleeza Rice, Cố Vấn  Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ.

 

          Ngày 26 tháng 1, năm 2001, ngày mà tân Tổng Thống Bush làm lễ tuyên thệ nhậm chức Bộ Trưởng Quốc Pḥng cho ông Rumsfeld và gặp 17 ông thống đốc tiểu bang của cả hai đảng Cộng Ḥa và Dân Chủ tại ṭa Bạch Ốc. Trong dịp này, TT Bush tuyên bố ông vẫn giữ nguyên lời hứa của ông khi ra vận động tranh cử là sẽ đơn phương giảm bớt số đầu đạn nguyên tử tồn trữ trong kho hiện nay mà không cần đ̣i hỏi Nga phải giảm bớt số lương đầu đạn nguyên tử của họ. Lời tuyên bố thứ 2 là Thiết Lập Hàng Rào Hỏa Tiễn Chống Hỏa Tiễn để bảo vệ ḥa b́nh. Cũng trong ngày đó, Tổng Thống Putin của Nga lên tiếng khẳng định rằng Nga vẫn chủ trương duy tŕ hiệp ước chống hỏa tiễn ABM. Trong khi đó, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Rumsfeld, sau khi tuyên thệ, đă cho báo chí hay hiệp ước ABM kư từ năm 1972 dưới thời Liên Bang Xô Viết nay không c̣n có giá trị nữa. Theo ông Rumsfeld "giờ đây chúng ta đang ở trong một thế giới khác trước và Liên Bang Xô Viết đă đi vào quá khứ rồi". Quyết định của Hoa Kỳ theo đuổi chương tŕnh thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch đă đặt Nga vào một thế rất bối rối v́ khi hiệp ước ABM bị Hoa Kỳ cho là vô giá trị, th́ Nga đă mất tất cả khả năng để cầm chân Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua về vũ khí nguyên tử sắp tới đây, nhất là trong giai đoạn này, giai đoạn mà Nga chỉ c̣n dựa vào lực lượng nguyên tử độc nhất của họ để c̣n có chút thế đứng với các cường quốc trên thế giới. Quyết định của Tổng Thống Bush nhằm triệt tiêu mọi đe dọa đến từ phía hỏa tiễn nguyên tử là một thách đố khá nghiêm trọng đối với nhà cầm quyền Nga hiện nay. "Về mặt quân sự, chúng ta không thể đua tranh với Hoa Kỳ được, v́ khó khăn lắm, quả thật là vô phương. Tất cả  những ǵ chúng ta có thể làm là t́m một cách trả đũa không đối xứng" đó là lời tuyên bố của ông Evgueni Kozhokin, giám đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược của Nga. Và Tổng Thống Putin đă hành động theo chiều hướng đó để đối phó với Hoa Kỳ trong những ngày sắp tới. Hành động thứ nhất của Nga dùng chiến tranh khủng bố để khuynh đảo Hoa Kỳ và hành động thứ hai là liên kết với Trung Cộng để cùng mở một mặt trận chính trị và quân sự đại qui mô để hạ uy tín của siêu cường độc nhất trên thế giới mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau của bài tham luận này.

 

          7. Tam Quốc Chí Diễn Nghiả.

 

          Đầu tháng 12, năm 2000, Tổng Thống Nga Putin đă triệu tập tại Minsk một số đại diện của 10 quốc gia trong cộng đồng các tiểu quốc trước kia ở ngoài ŕa bao quanh Liên Bang Xô Viết, mà hiện nay Mạc Tư Khoa là thành phần điều hành liên minh. Từ đầu năm 2000, đă có những cuộc thảo luận nhằm đi đến việc thành lập một Trung Tâm Chống Khủng Bố nhằm triệt tiêu những hành động quá khích của phe Hồi Giáo Cực Đoan. Nhưng khi gần đi đến việc kư kết bản thỏa ước th́ có 5 trong 10 nước là Georgia, Ukraine, Moldavia, Azerbeidjan và Uzbekistan đă từ chối không chịu kư tên vào bản thỏa ước, viện lư do là trước khi đặt bút kư, họ cần phải sửa đổi lại hiến pháp của họ đă được thảo ra và chấp thuận vào những năm 1990, 1991 hay 1992 tùy theo quốc gia. Sở dĩ có chuyện từ khước vào phút cuối cùng như thế là v́ cấp chỉ huy của các nước thật sự quốc gia này thấy rơ ư đồ mờ ám của Tổng Thống Nga Putin. Điểm thắc mắc thứ nhất của các vị đại diện là dưới chiêu bài chống nạn khủng bố, Nga muốn đặt lại trong nước của họ những căn cứ quân sự kèm theo đó những "ăng-ten" của các cơ quan mật vụ của FSB (cựu KGB) và của GRU (Quân Báo). Điểm thắc mắc thứ hai là từ mười tháng nay những nước tham gia hội nghị có đặt một số câu hỏi với nước Nga, nhưng Nga đă tránh né không chịu trả lời, hay nói cho đúng là tránh trả lời v́ sợ lộ bàn tay lông lá của họ giựt dây bên trong. Và dưới đây là những câu hỏi được đặt ra cho Nga mà không được trả lời: Nếu muốn chống khủng bố thật sự, tại sao chúng tôi không được Nga chuyển cho những tài liệu về Shamil Bassaiev và 500 thành viên trong tổ chức của y, đă đứng ra chống lại Maskhadov, đương kim thủ lănh chính phủ lâm thời Chechnya. (người viết cũng xin báo cho bạn đọc hay Bassaiev là một tên đánh giặc mướn, và được quân báo GRU của Nga dùng để đánh phá quân cách mạng Chechen của Maskhadov)

 

Tại sao có sự im lặng về tên Vladimir Antiufeiev từng bị chính quyền Latvia lùng bắt từ 1991 về tội ám sát và khủng bố ở Moldavia và đă từng bị tướng Lebed của Nga lên án ?

Tại sao từ hơn hai năm nay, phong trào Hồi Giáo Herb-e-Tahrir ở Uzbekistan có thể tự do xâm nhập vơ trang vào lănh thổ của Turkmenistan và Kirghisie để cướp bóc rồi trở về lại Tadjikistan an toàn trong khu vực của lănh tụ Massoud ?

V́ nước Nga có nhiều giao hảo tốt với Iran (bán vũ khí nặng, nhẹ và tối tân cho Iran ) vậy yêu cầu Nga khẳng định dùm là Iran có đỡ đầu hay giúp đỡ một số tổ chức khủng bố  quốc tế hay không ?

Tiểu quốc Tadjikistan là trung tâm điểm dùng để chuyển vận hàng tháng 70% số lượng ma túy sản xuất tại Afghanistan. Nga có hơn 4000 binh sĩ đồn trú tại nơi đây mà sao không bao giờ có xảy ra chuyện chận bắt các xe vận tải chở ma túy đi từng đoàn chạy về hướng Nga hoặc Thổ Nhĩ Kỳ ?

Qua những câu hỏi không được Nga trả lời nêu trên, người ta mới biết tại sao "Hội Nghị Minsk" không được báo chí của Nga và quốc tế đề cập đến. Tuy nhiên hội nghị này sẽ được Nga triệu tập trở lại vào tháng 3, năm 2001, tại Kiev. Và chúng ta có thể tạm kết luận là nước Nga hiện đang chủ trương chống khủng bố thật đấy, nhưng chỉ chống bọn khủng bố không nằm trong sự kiểm soát của họ mà thôi, trái lại chính Nga là nước bảo trợ cho những nhóm khủng bố quốc tế chịu cộng tác với họ... để cùng đánh phá siêu cường độc nhất Hoa Kỳ. Trong Hội Nghị Minsk, Putin không trả lời cho đại diện của các nước cựu chư hầu của Liên Xô về sự liên hệ giữa Nga và Iran, vậy chúng tôi xin mạn phép làm sáng tỏ vấn đề này để bạn đọc có một cái nh́n tổng quát về những biến cố chính trị sắp xảy ra trong vùng Cận Đông này.

 

          Sự liên hệ giữa Nga và Iran có từ lâu, sau khi quần chúng Iran lật đổ quốc vương Reza Pahlevi, và đưa giáo chủ Khomeini - lưu vong từ Pháp về - để thành lập một chính quyền giáo trị quá khích Hồi giáo Shia. Cũng xin lưu ư bạn đọc chính quyền giáo trị Hồi giáo Shia bề ngoài th́ dựa vào Hồi Giáo nhưng bên trong bị Cộng Sản Liên Xô nội tuyến rất nặng. Khameini, đương kim giáo chủ Iran, là người tùy tùng thân cận nhất của giáo chủ Khomeini, và cũng là đảng viên đảng Cộng Sản Tudeh của Iran, được cơ quan mật vụ KGB đưa qua huấn luyện lần thứ nhất tại MạcTư Khoa và lần thứ hai tại Nam Yemen. Con trai của giáo chủ Khomeini từng theo cha qua lưu vong tại Pháp qua sự vận động của đảng Cộng Sản PCF Pháp cũng là đảng viên đảng Cộng Sản Tudeh của Iran. Khi giáo chủ Khomeini trở về nước lập chính phủ vào năm 1978, th́ dàn cán bộ cao cấp bao quanh ông ta - trừ thủ tướng Rafsanjani - hầu hết đều là đảng viên Cộng Sản thân Nga Xô và được Nga Xô huấn luyện rất cẩn thận. Giờ đây t́nh trạng chính trị ở Iran là t́nh trạng của một ung nhọt sắp đến hồi vỡ mủ đến nơi, v́ thủ tướng Khatemi - từng được gọi là ôn ḥa đang bị phe giáo sĩ bảo thủ của giáo chủ Khameini tước dần quyền hành và truất phế đến nơi. Nhưng trong mấy năm ông này cầm quyền, luồng gió dân chủ đă lọt được vào hang cùng ngơ hẻm của nước Iran trước kia từng bị bọn cán bộ cộng sản đội lốt giáo sĩ thẳng tay bưng bít.

 

Tuy giờ đây ngọn lửa đấu tranh đ̣i tự do dân chủ đang âm ỉ cháy trong ḷng quần chúng, nhưng thế nào ngọn lửa cách mạng nhằm lật đổ bạo quyền cộng sản đội lốt giáo sĩ cũng sẽ bùng nổ trong một tương lai gần đây. Trong khi chờ đợi Khatemi ra đi, có 3 người đang lăm le nhảy ra thay thế ông ta. Đó là Ali Akbar Veleyati, trước kia từng làm Bộ Trưởng Ngoại Giao có khả năng nhất và cũng ít bị tai tiếng nhất; người thứ hai, Mir Hossein Moussavi, trước kia từng làm Thủ Tướng, một nhân vật nguy hiểm nhất đối với Tây Phương v́ thân Libya và có nhiều liên hệ mật thiết với các trung tâm Hồi Giáo Quá Khích trên thế giới. Người thứ ba, Nategh Nouri, một tên giáo sĩ ngu đần, chỉ biết tuân lệnh mà thôi. Hossein Moussavi rất thân cận với Ahmed Khomeini, con của cố giáo chủ Khomeini và cũng là bạn thân của Mohsen al Araki, một giáo sĩ được bổ nhiệm qua Luân Đôn từ 1997 để phụ trách việc kết hợp các Phong Trào Hồi Giáo tại Âu Châu. Al Araki, 52 tuổi, là một giáo sĩ chống tuyệt đối việc Iran bắt tay với Hoa Kỳ. Và đây là lần đầu tiên kể từ năm 1979, Nga đă gởi qua thủ đô Teheran - từ 26 đến 30 tháng 12, 2000, viên Bộ Trưởng Quốc Pḥng Igor Sergueiev.

 

Trong các cuộc thảo luận với nhà cầm quyền Iran, Sergueiev đă nhiều lần nhấn mạnh đến những điểm tương đồng bền bĩ và lâu dài giữa Iran và Nga. Shamhani, phó đô đốc hải quân Iran, đă đáp lời lại như sau:

 

" Những trường hợp xảy ra tại Trung Á, tại Caucasus và Afghanistan, việc bành trướng về hướng Đông của khối NATO và Đồng Minh, đặc biệt nhất là Do Thái, đă thúc đẩy 2 nước chúng ta phải t́m cho được những điểm quán thông để cùng nhau chống lại bất cứ lực lượng nào muốn xâm nhập vào những vùng của chúng ta ".

 

Rất có thể hai nước Nga và Iran đang chuẩn bị kư kết một hiệp ước hỗ tương cũng nên. Tuy nhiên có tin chắc chắn là một số sĩ quan trong quân đội Iran sẽ được gởi qua thụ huấn tại Nga và nước này cũng đă chấp nhận bán một số vũ khí cho quân đội Iran. Khi Tổng Thống "Bush cha" xua quân đội Đồng Minh qua đánh Iraq và giải phóng tiểu quốc Kuwait và hăm đánh vào thủ đô Baghbad của Iraq, th́ chính Ngoại Trưởng Primakov của Gorbatchev đă bay qua thủ đô Teheran của Iran để điều đ́nh với giáo chủ Khomeini đưa một số cố vấn Nga từ Iraq qua Iran. Cũng chính Primakov đă vận động với các nước Đồng Minh của Hoa Kỳ cứu nguy nền kinh tế kiệt quệ của Liên Xô - theo lời của Primakov - nhưng sau khi nhận được của Đồng Minh 15 tỷ mỹ kim th́ y lại bay qua Iran và trao số tiền đó cho Khomeini để lấy ḷng ông này và biến Iran thành tiền đồn chống Hoa Kỳ ở phiá Nam Liên Xô. Cũng nên nhắc lại là vào tháng 10, 2000, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nga, Igor Sergueiev, một nhân viên cao cấp trong bộ Ngoại Giao Iran là Kamal Khazrai và Massoud, người anh hùng kháng chiến Afghanistan, đă bí mật gặp nhau tại biên giới Iran và Afghanistan.

 

Rất có thể Nga và Iran đang thảo luận về những biện pháp cần phải đối phó với nhóm Taliban, phe Hồi Giáo Quá Khích đang cầm quyền tại Kabul. Mặc dầu Putin xác nhận không giúp Iran nhiều về mặt nguyên tử, nhưng mọi người đều biết là cách đây mấy năm, Nga đă giúp cho Iran xây một nhà máy nguyên tử rất lớn để phục vụ nhu cầu dân sự cũng như quân sự. Tổng Thống Nga Putin đă từng tuyên bố trên đài truyền h́nh Nga: "Nước Đức đă cho Iran vay tiền, tại sao chúng ta lại không cho họ vay ?" Trong những ngày sắp tới đây, Nga sẽ giao cho Iran một số phi cơ chiến đấu SU-25, một số trực thăng chiến đấu MI-17 vừa được tân trang lại cho hữu hiệu hơn, một số dàn súng cao xạ S-300... Sở dĩ Iran có dư tiền để tậu thêm vũ khí là nhờ dầu hỏa tăng giá nên Iran có một số tiền thặng dư là 10 tỷ Mỹ kim. Dưới trào Tổng Thống Clinton, Nga và Hoa Kỳ có cùng nhau kư một mật ước không bán vũ khí cho Iran; hiệp ước này được kư kết giữa Phó Tổng Thống Gore và Thủ Tướng Nga Tchernomyrdine. Nhưng vừa rồi Igor Ivanov, một bộ trưởng trong nội các của Putin đă cho hay là hiệp ước đó "không c̣n có giá trị ǵ nữa". Lẽ tất nhiên ai cũng biết rằng Iran ủng hộ ngấm ngầm bọn khủng bố Hồi Giáo Quá Khích, trong khi đó th́ Putin lên tiếng rêu rao với thế giới là nước Nga nhất định chống bọn khủng bố đến cùng... nhưng oái oăm thay, họ chỉ chống lại bọn khủng bố không chấp nhận sự lănh đạo của họ và Trung Cộng mà thôi !

 

          Vào đầu thập niên 1990, khi phúc tŕnh Wolfowitz nhấn mạnh ở điểm Hoa Kỳ phải chuẩn bị để sẵn sàng ứng chiến trên hai mặt trận cùng một lúc, TT Yeltsin của Nga liền vội vă bay ngay qua Bắc Kinh để gặp Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân của Trung Cộng, để rồi ngay sau đó một hiệp ước tương trợ ra đời, với lời lẽ mạt sát bâng quơ một thế lực nào đó muốn dùng vũ lực để làm bá chủ hoàn cầu, và chuyện buồn cười nhất là không dám nêu đích danh thế lực đó, nhưng mọi người đều biết là thông cáo Nga-Hoa muốn ám chỉ Hoa Kỳ. Chỉ có một chuyện nêu đích danh Hoa Kỳ ra mà c̣n chưa dám làm, thử hỏi khi hội đồng chuột Nga-Hoa muốn đem chuông đi buộc cổ mèo Hoa Kỳ, thử hỏi chuột nào dám đứng ra vỗ ngực để cáng đáng việc đó, chuột Nga hay chuột Trung Cộng ? Và cứ mỗi lần Hoa Kỳ lấy một quyết định mới, có liên quan đến việc pḥng thủ đất nước của họ, là y như rằng hai nước Nga và Trung Cộng đều nhảy nhổm lên như bị phỏng lửa, để rồi lại tuyên bố vung vít, để rồi hai vị lănh tụ của hai nước lại gặp nhau cấp tốc, rồi lại cùng nhau kư kết hiệp ước tương trợ để rồi chẳng làm ǵ cả v́ có muốn làm cũng không làm ǵ được chú mèo Hoa Kỳ, v́ móng chân của chú quá ư sắc bén lại toàn là móng nguyên tử . Lần này th́ Tổng Thống Putin của Nga bay sang Bắc Kinh để gặp Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân vào tháng 7, năm 2000, để hai bên cùng nhau thảo luận vấn đề trọng đại liên quan đến Hàng Rào Hỏa Tiễn Chống Hỏa Tiễn của Hoa Kỳ; và sau đó th́ cuộc thảo luận lại tiếp tục tại Mạc Tư Khoa để đi vào chi tiết luôn trong hai ngày 27 và 28 tháng 12, 2000, giữa hai Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao của hai nước là Alexander Losyukov và Liu Guchang. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nga cho biết là hiệp ước tương trợ giữa hai nước Trung Hoa và Nga đánh dấu sự thành công về ngoại giao của Nga, v́ trước đó Nga đă có kư một hiệp ước tương tợ như vậy với Bắc Hàn, đánh dấu chấm dứt sự cô lập của Nga trên chính trường Đông Á Châu; đồng thời Nga cũng cho biết là Nga và Iran đă thỏa thuận tiến tới việc hợp tác chặt chẽ về quân sự cũng như về lănh vực an ninh giữa hai nước trong khu vực phía Nam biên giới của Nga.

 

Theo ông Jonathan Pollack, Chủ Tịch Viện Nghiên Cứu Chiến Lược tại Viện Hải Chiến (The Naval War College), th́ hiệp ước tương trợ giữa Trung Hoa và Nga phản ảnh sự liên kết khắng khít giữa hai nước và biểu lộ sự lo âu của họ đối với chính quyền Tổng Thống Bush ở Hoa Thịnh Đốn. Theo ông Pollack, vật xúc tác làm cho hai nước Nga, Hoa xáp lại gần nhau, là việc cùng nhau chống lại đường lối ngoại giao của tân chính phủ Hoa Kỳ, nhất là khi Hoa Kỳ bày tỏ quyết tâm xúc tiến mạnh việc thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch. Năm 1998, Nga và Trung Cộng đă cùng nhau thỏa thuận là đến năm 2000, việc giao thương giữa hai nước sẽ lên đến 20 tỷ mỹ kim. Nhưng cho đến năm ngoái th́ con số giao thương chỉ tới mức 8 tỷ mỹ kim mà thôi. Tuy nhiên t́nh trạng tŕ trệ này đă có phần thay đổi từ khi Mỹ ra lệnh cấm vận, cấm bán vũ khí cho Trung Cộng sau vụ đàn áp sinh viên, thanh niên tại Thiên An Môn. Nhờ đó mà Nga đă bán vũ khí cho Trung Cộng hàng năm vào khoảng 1 tỷ mỹ kim gồm đủ loại như phi cơ chiến đấu, tiềm thủy đỉnh, 4 khu trục hạm và 48 hỏa tiễn chống tàu chiến. Loại khu trục hạm mà Nga bán cho Trung Cộng là loại khu trục hạm Sovremenny có mang loại hỏa tiễn Sunburn chống tàu chiến và như thế có thể làm phương hại đến cả hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ nữa. Sau vụ Thiên An Môn, Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ đă có những hành động độc tài trong vụ Kosovo ở Nam Tư, và có thái độ bất măn đối với Hoa Kỳ khi nước này đứng về phía Đài Loan để chống lại mưu toan thôn tính đảo này của Trung Cộng. Sau khi Hoa Kỳ có quyết định thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch, th́ Nga liền chụp ngay lấy cơ hội này để kéo Trung Cộng vào trong một thế liên minh nhằm chống lại Hoa Kỳ; mặc dầu Hoa Kỳ đă giải thích với họ là hàng rào hỏa tiễn được thiết lập ra để chống lại những tấn công bất thần của một số nước "du côn, không đáng tin cậy" như Bắc Hàn, Iraq và Iran... Mặc dầu được Hoa Kỳ giải thích như vậy, nhưng Nga và Trung Cộng vẫn đề quyết là ư đồ của Hoa Kỳ chỉ nhằm chống hai nước họ mà thôi.

 

                                                                             ChuSa

NewYork Nov 11, 2002

 

 

HOME