Suy Nghĩ Về Chiến Lược Quân Sự
của Hoa Kỳ
ChuSa
Trong một số tài liệu
được công bố đáng chú ư nhất là tài liệu
"Joint Vision 2020" đă được Ngũ Giác
Đài cho công bố vào đầu tháng 6, 2000. Đó là
bản nhận định của Ủy Hội các tham
mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ. Bản nhận
định đă chỉ đích danh Trung Cộng là kẻ thù
trong tương lai của Hoa Kỳ. Tuy nhiên trong bản
văn công khai th́ nói trớ ra Trung Cộng sẽ là
nước cạnh tranh với Hoa Kỳ trong tương
lai. Bối cảnh của những cuộc xung đột
được các ban tham mưu nghiên cứu chiến
lược tại Ngũ Giác Đài đều cho rằng
sẽ xảy ra trong vùng thuộc Châu Á, có thể tại
những nước như Iran, Ấn Độ, hay
Pakistan. Những câu hỏi được đặt ra là
liệu
1.
Chiến
Lược Thầm Lặng
Chiến lược quân sự
của Hoa Kỳ đang âm thầm bước sang một
giai đoạn mới cực kỳ quan trọng, có
thể nói đó là một cuộc cách mạng tuy thầm
lặng, nhưng có thể thay đổi cục diện
thế giới một cách bất th́nh ĺnh, khó mà biết
trước được. Sau cuộc chiến tranh Vùng
Vịnh năm 1991, các chiến lược gia của
Ngũ Giác Đài - trước kia chỉ để ư
đến những nước ủng hộ quân
"khủng bố" trong thế giới thứ ba - th́
nay lại nhất trí cho rằng cần phải để
ư đến một nguy cơ mới xuất hiện có
tiềm lực quân sự coi như gần ngang hàng với
Hoa Kỳ và có khả năng đương đầu
ngang ngửa với nước nầy trong một
tương lai không xa lắm. Tuy hiện nay Hoa Kỳ
chưa thấy xuất hiện một nước nào có
tiềm lực quân sự như vậy, nhưng họ
vẫn lo đề pḥng trước là hơn; v́ các
chiến lược gia Hoa Kỳ đă thấy
được viễn ảnh không sớm th́ muộn
thế nào cũng sẽ có sự tranh chấp về
quyền lợi khai thác dầu hỏa trong vùng biển Lư
Hải (Caspian Sea) giữa Hoa Kỳ và nước Nga; và
sẽ có đụng độ với Trung Cộng trong việc
đứng ra bảo đảm tự do lưu thông cho các
tàu bè qua lại trên vùng biển Nam Hải. Đó là những
ưu tư của các chiến lược gia làm việc
trong Ngũ Giác Đài. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp
đổ, các nhà cầm quyền Hoa Kỳ luôn luôn cố
gắng phát hiện một kẻ thù mới có thể
xuất hiện trong tương lai để họ có
thể chuyển hướng việc sản xuất
những hệ thống vũ khí mới của họ sao
cho phù hợp với chiến thuật thích nghi mới.
Trước kia - khi c̣n Liên Xô - th́ công việc rất là
đơn giản: quân đội Hoa Kỳ và đồng
minh chỉ cần chuẩn bị đương
đầu với sự xuất phát của các đoàn quân
xâm lăng thuộc Minh Ước
C̣n về phía Quốc Hội Hoa Kỳ th́
họ cũng có những suy tư riêng của họ và
họ cũng đă có những cuộc tranh luận sôi
nổi để phân tích về những lực
lượng quân sự có thể vươn lên trong
những thập niên tới đây. Đối với
những thành phần trong Quốc Hội cho rằng ngân
sách yểm trợ chiến lược chống các
nước chủ trương "khủng bố" do
Ngũ Giác Đài hoạch định quá đủ
để đáp ứng những kinh phí cần thiết cho
các công tác quân sự trong tương lai; trong khi đó -
đối với phe chủ trương rằng nguy cơ
trong tương lai sẽ phát xuất từ hai nước
Nga và Trung Cộng - th́ ngân sách hiện nay về quốc
pḥng cần phải được tăng thêm nhiều
hơn nữa. Theo Viện
Nghiên Cứu về Nền An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (INSS) th́ mặc dầu không c̣n
hiểm họa của một cuộc thế chiến
nữa, nhưng Hoa Kỳ vẫn phải luôn luôn đề
cao cảnh giác về sự đụng độ có
thể xảy ra với một quốc gia khác có tiềm
lực quân sự - tuy không tương đương
với Hoa Kỳ - nhưng cũng có thể làm cho Hoa Kỳ
suy nghĩ lại về vai tṛ siêu cường của ḿnh.
Theo Viện Nghiên Cứu INSS th́ quốc gia này khác với các
quốc gia "bảo trợ khủng bố" là họ
có vơ khí nguyên tử khá hiện đại có thể phóng
đi bằng vệ tinh, có một quân đội khá hùng
mạnh luôn luôn sẵn sàng ứng chiến. Thành thử
trong giai đoạn hiện tại, chỉ có Nga và Trung
Cộng là đáp ứng được những
điều kiện ghi trên mà thôi.
Viện này
cũng ghi thêm rằng - trong thập niên tới đây -
Ấn Độ cũng sẽ trở thành một quốc
gia có tiềm lực quân sự không kém ǵ Nga và Trung Cộng.
Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ trong hiện tại
vẫn khẳng định rằng các nước
"bảo trợ khủng bố" vẫn c̣n là một
nguy cơ cho nền an ninh của Hoa Kỳ, nhưng giờ
đây chính quyền Hoa Kỳ cũng đă ư thức được
phần nào về những triển khai hiện nay trong lănh
vực quân sự của Nga và Trung Cộng. Dưới
sự lănh đạo của tổng thống Vladimir Putin,
nước Nga bắt đầu thoát ra khỏi cơn
lốc trầm trệ của thập niên 90 và đang
cố gắng xây dựng lại và canh tân bộ máy quân
sự của họ. C̣n Trung Cộng th́ tận dụng
tiềm năng kinh tế của họ để
đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ
sở quân sự có địa vị khả quan trên
địa bàn thế giới. Từ trước
đến nay, dầu hỏa là nguyên liệu
được nhập cảng quan trọng nhất
đối với Hoa Kỳ v́ nước này nhập
cảng một nửa số lượng dầu hỏa
tiêu thụ trong nước,và sự lệ thuộc có tính
cách chiến lược này càng ngày càng tăng khi những
mỏ dầu hỏa trong nội địa của họ
càng ngày càng vơi dần theo đà phát triển của
nền kỹ nghệ. V́ vậy chính quyền Hoa Kỳ luôn
luôn mong muốn có sự bảo đảm về việc
vận chuyển số lượng dầu hỏa nhập
cảng trong vùng Vịnh. Đồng thời Hoa Kỳ
cũng rất chú ư đến những vùng giàu về
dầu hỏa và hơi
đốt tọa lạc trong vùng biển Lư Hải (Caspian
Sea) ở Trung Đông và vùng biển Nam Hải ở Đông
Nam Á Châu. Sự kiện nầy đă làm cho Hoa Kỳ lo
ngại khi thấy nước Nga tuyên bố biển Lư
Hải thuộc về vùng ảnh hưởng lịch
sử của họ; c̣n Trung Cộng th́ khẳng
định với thế giới rằng một phần
lớn biển Nam Hải thuộc về lănh thổ
quốc gia ở ngoài khơi của Trung Quốc.
Ngày 6 tháng 2, 1997, Ủy Ban Quân Sự của
Thượng Viện Hoa Kỳ đă họp để nghe
điều trần của tướng Patrick Hughes, giám
đốc Cơ Quan T́nh Báo Quân Đội Hoa Kỳ (DIA).
Theo tướng Hughes th́ Trung Cộng là một trong số
rất ít quốc gia có khả năng xử dụng
tiềm năng cần thiết về chính trị, kinh
tế và quân sự từ đây đến 10 hay chậm
lắm là 20 năm, để trở thành một đe
dọa đáng lo ngại cho những quyền lợi
của Hoa Kỳ và viễn ảnh có sự đụng
độ trực diện với các quốc gia trong vùng
Đông Nam Á càng ngày càng thêm rơ rệt. Và rất có thể lúc
đó Trung Cộng sẽ coi Hoa Kỳ là một nguy cơ
quân sự trực diện đối với họ.Và
tướng Hughes cho biết tiếp là trường
hợp nước Nga cũng tương tợ như Trung
Cộng v́ Nga cũng có đủ tiềm năng cần
thiết để khả dĩ trở thành đối
thủ trong ṿng 20 năm nữa - một hiểm họa
lớn đối với quyền lợi của Hoa
Kỳ. C̣n từ đây cho đến 10 năm nữa th́
Nga phải lo chấn chỉnh lại nền kinh tế
đang c̣n yếu kém của họ; nhưng sau đó th́
họ sẽ vươn lên dần và sẽ trở thành
một thế lực mạnh trong vùng để rồi dám
đương đầu công khai với Hoa Kỳ trên bàn
cờ quốc tế. Trong tháng 5, 1997, ông Caspar Weinberger,
cựu bộ trưởng Quốc Pḥng dưới trào TT
Reagan cũng có lên tiếng báo động và ông ta đă tuyên
bố như sau: "Trong khi khối các nước
miền Tây hân hoan đón nhận sự bành trướng
của Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây
Dương đă lan rộng vào Trung Âu, th́ Nga đang trên
đà chuẩn bị chiếm lấy các nguồn năng
lượng trong vùng biển Lư Hải (Caspian Sea). Nếu Nga thành công trong
chiến dịch này th́ lợi thế của họ bỏ
xa lợi thế bành trướng của Minh Ước
Bắc Đại Tây Dương."
Mặc dầu có
sự xung đột giữa hai quan niệm về hiểm
họa Nga và hiểm họa Trung Cộng, nhưng các
chiến lược gia của hai phe nầy đều
đồng ư là Hoa Kỳ phải đề cao cảnh giác
về sự hợp tác quân sự giữa Mạc Tư Khoa
và Bắc Kinh, nhất là khi Nga đang có dự tính bán
hỏa tiễn SS-N-22 cho Trung Cộng. Tuy nhiên cho đến
bây giờ th́ TT Clinton vẫn cho hiểm họa các
nước "bảo trợ khủng bố" mới
đáng lo ngại, chứ nguy cơ tới từ các
nước Nga, Trung Cộng th́ c̣n xa vời lắm.
Ngày 29 tháng 3, 2000, Đại tướng Tŕ
Hạo Điền (Chi HaoTian), Bộ Trưởng Bộ
Quốc Pḥng của Trung Cộng - sau khi tham khảo ư
kiến với Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng Nga -
đă lên tiếng xỉ vả phe "phân ly" đang làm
nguy hại đến nền an ninh của hai nước
Nga và Trung Quốc. Và khẳng định rằng từ nay
quân đội và cảnh sát cả nổi lẫn ch́m
của hai nước Nga - Hoa sẽ cùng nhau hợp tác
chặt chẽ để cùng đối phó quyết
liệt với những nước nào trong vùng Trung Á
muốn tách ra khỏi ảnh hưởng của họ,
để ngả theo nhóm "phân ly" hay bám vào nhóm "khủng bố quốc
tế". Trong những phiên họp mật giữa hai
vị Bộ Trưởng nói trên, người ta rất
chú ư đến sự hiện của các trưởng
nhiệm sở cùng nhiều phụ tá của đôi bên, trong
các ngành quân báo (GRU), an ninh quốc nội và an ninh hải
ngoại. Cũng nên ghi nhận là những nhà kinh doanh Hoa
Kỳ và Tây Âu đi lại trong vùng Trung Á cũng luôn luôn bị mật
vụ Nga và Tàu theo dơi sát nút, nhất là họ rất
"kỵ" những đại diện của các
tổ hợp hoặc các công ty dầu hỏa lớn
của Hoa Kỳ và của Anh quốc. Ngoài ra hai nước Nga và Trung Cộng cũng
muốn dành độc quyền buôn ma túy trong vùng này, nên
nếu có kẻ nào manh nha làm ăn riêng ngoài
đường dây được họ bảo trợ,
đều bị coi như là bất hợp pháp.
Ngày 23 tháng 5, 2000,
xe của đại sứ Tadjikistan ở Kazakhstan cũng
bị lục soát và nhà chức trách đă phát hiện 62 kư
lô bạch phiến và một số quan trọng ngoại tệ;
tất cả những đồ bất hợp pháp này
đều bị lập biên bản và tịch thâu. Tất
cả sự việc xảy ra và ghi nhận trên đây
đều là những đ̣n phép tạo ra hỏa mù hầu
che dấu mục tiêu thực sự của những
thỏa hiệp quân sự bí mật được kư kết
giữa Trung Cộng và Nga trong năm 1994: đó là những
thỏa hiệp liên quan đến một chiến
lược chung để đối phó với các
nước Tây Âu, nhưng đặc biệt là để
đương đầu với Hoa Kỳ. Sự liên
hợp Nga - Hoa này làm cho ta nhớ đến sự liên
hợp giữa Đức Quốc Xă của Hitler với
Liên Bang Xô Viết của Stalin vào năm 1939, trước
khi hai nước trở nên thù địch, không đội
trời chung! Nhưng khi mà Giang Trạch Dân, tổng bí
thư đảng Cộng Sản Trung Hoa và Boris Yeltsin,
tổng thống nước Nga - hậu cộng sản -
đă cùng nhau kư kết một hiệp ước hữu
nghị tại thủ đô Mạc Tư Khoa vào ngày
23-4-1997, th́ khi ấy chính quyền Clinton mới thấy
được nhận định của các chiến
lược gia Ngũ Giác Đài rất là xác đáng. V́
từ 1992, một năm sau cuộc chiến tranh Vùng
Vịnh, th́ Nga và Trung Cộng đă bắt tay nhau chặt
chẻ để cùng bảo vệ quyền lợi cho nhau,
trong toàn miền Trung Á, bao gồm 5 nước vừa
mới được "độc lập" sau khi
Liên Bang Xô Viết tan ră. Đó là những nước
Sự hợp tác
này lại càng chặt chẽ hơn nữa khi Bộ
Trưởng Quốc Pḥng Nga và Trung Cộng kư kết
với nhau một số thỏa hiệp bí mật về
quân sự vào năm 1994, nhưng không được báo chí
Âu Châu và Hoa Kỳ đăng tải, mặc dầu đó
là lần đầu tiên mà Nga và Trung Quốc đă cùng nhau
hoạch định một chiến lược chung cho cả
hai quốc gia trong toàn vùng Trung Á. Năm nước nói
trên - mặc dầu
độc lập - nhưng về phương diện
chiến lược quân sự th́ vẫn theo đuôi Nga v́
những người cầm đầu những nuớc
đó trước kia đều là đảng viên cộng
sản kỳ cựu và đa số đều có chân trong
Bộ Chính Trị của Liên Bang Xô Viết. Những
người nầy ngồi trên đầu trên cổ dân,
bóc lột dân để làm giàu cho gia đ́nh họ, nên
bị dân chúng thù hận và nổi lên vơ trang chống
lại họ, cho nên những nhà cầm quyền
độc tài này chụp cho họ cái nón "khủng
bố" hoặc là "kẻ cướp" để
thẳng tay đàn áp họ mà không bị quốc tế lên
án.
Riêng về
phần Trung Cộng th́ rất lo ngại về sự có
mặt của hơn 600,000 dân Uighur tỵ nạn, ở
dọc theo biên giới Tân Cương (Sinkiang) với các
nước
2.
Nga - Hoa Kỳ "chiến tranh ngấm ngầm"
Trước
ngày bầu cử tổng thống Nga vào tháng 3, 2000, bà
Albright, đương kim ngoại trưởng Hoa Kỳ
đă bay qua Mạc Tư Khoa để gặp thủ
tướng Nga Vladimir Putin. Khi ra về, bà ta tuyên bố
với báo chí là bà ta rất hoan hỷ và cảm kích về
sự trung thực của ông nầy và ông ta đă tiếp
bà ngoại trưởng Hoa Kỳ trong hai tiếng
đồng hồ liền thay v́ một tiếng như
đă tiên liệu. Phải chăng đó là một thành công
vượt bực trong ngành ngoại giao của Hoa Kỳ,
siêu cường độc nhất trên quả đất
này!
Từ hơn nửa thế kỷ qua, cứ
mỗi khi có một biến chuyển hay một sự
căng thẳng nào đó xảy ra trong mối bang giao
giữa Liên Xô và nay là Nga với Hoa Kỳ, th́ chúng ta lại
được nghe những lời tuyên bố tương
tợ như trên của một số tai to mặt lớn
trong chính phủ Hoa Kỳ và đôi khi cũng có trong chính
quyền Nga nữa, như lời tuyên bố sau đây
của bà Irina Kobrinskaia, giám đốc văn pḥng ở
Mạc Tư Khoa của Viện Đông-Tây: "Lẽ
tự nhiên là giữa Mạc Tư Khoa và Hoa Thịnh
Đốn có nhiều dị biệt, nhưng không phải
v́ thế mà không có lắm đồng qui như vấn
đề Trung Đông, vấn đề chống khủng
bố, vấn đề ǵn giữ ḥa b́nh thế giới.
Nói tóm lại
một sự hợp tác trường kỳ về chiến
lược v́ nước Nga không muốn bị cô lập
và cũng không muốn tự ḿnh cô lập ḿnh". Hiển
nhiên là nếu Nga tự ḿnh cô lập ḿnh trên chính
trường quốc tế -
không sớm th́ muộn họ sẽ bị đào thải
ngay - v́ chính lúc này là lúc mà Nga không những rất cần
sự viện trợ tài chánh của Hoa Kỳ và của Âu
Châu mà cũng cần luôn cả sự bảo chứng tinh
thần về những hành vi của họ.
Cũng xin lưu
ư bạn đọc Bà Kobrinskaia làm việc dưới
quyền ông chủ tịch Viện Đông-Tây, tọa
lạc trên nước Đức và đặt dưới
sự điều khiển của D.H. Genscher, từng làm
Bộ Trưởng Ngoại Giao trong nhiều chính phủ
của nước Đức và chịu ảnh
hưởng rất nặng của phe thiên Tả của
hai nước Đức và Hoa Kỳ, và đang có trách
nhiệm hướng dẫn mối quan hệ với Liên
Xô trước đây và nay th́ với nước Nga theo
chiều hướng ước mong của điện
Cẩm Linh. Hội Đồng Âu Châu cũng đă chiều
theo những lời khuyến cáo của phe Tả khuynh
Đức -Mỹ khi ngày 27 tháng giêng vừa qua họ từ chối không
chịu lên án hành động của thủ tướng Nga
Vladimir Putin ra lệnh cho quân đội tàn sát dân chúng Chechnya,
trong vùng Georgia. Có một điều làm cho chúng ta ngạc
nhiên nhất là trước đó - vào ngày 23 tháng giêng, 2000,
báo chí Hoa Kỳ đă chạy tít lớn: "Vladimir Putin là
ai?" mặc dầu ông này - vào thời gian đó đă
được tổng thống Nga Boris Yeltsin phong cho làm thủ
tướng chính phủ rồi. Cũng v́ thế, tiện
đây xin nói qua về tiểu sử của Putin, về
những nhân vật chính chung quanh ông nầy và những hành
động mới nhất của ông ta trong những tháng
gần đây.
Vladimir
Putin sinh ngày 7 tháng 10, 1952 tại
Theo nguồn tin đáng tin cậy của t́nh báo
Hoa Kỳ, Putin - dưới bí danh Adamov - được
biệt phái qua hoạt động tại nước
Cộng Ḥa Liên Bang Tây Đức từ 1978 đến 1983
như là phóng viên của hăng thông tấn Tass. Cuối năm
1983, ông ta bị cơ quan mật vụ của chính
quyền Liên Bang Tây Đức chụp h́nh đang nhận
tài liệu của một điệp viên trước
một cửa hàng lớn ở Tây Đức và bị
trục xuất sau đó. Năm 1984, được
biệt phái qua làm việc tại Dresde ở Đông
Đức và dưới quyền chỉ huy của
tướng V. Shirokov, người điều khiển
việc tuyển mộ những điệp viên
"ngủ" trong giới kinh doanh Tây Đức
thường hay qua tham quan hội chợ thường niên
được tổ chức tại thành phố nầy. Trong giới t́nh báo, điệp
viên "ngủ" là những điệp viên nằm yên và
chỉ bắt đầu hoạt động trở
lại lúc nhận được chỉ thị của
Mạc Tư Khoa.
Tại Đông Đức, Putin làm việc
mật thiết với Erick Mielke, Bộ Trưởng
Bộ An Ninh Đông Đức, và sự cộng tác
đắc lực của Putin với ngành mật vụ
Đông Đức đă được tướng Horst
Boehm của chính quyền Đông Đức gắn huy
chương vào năm 1987, và đến năm 1988 th́ chính
Mielke đích thân gắn huy chương cho Putin. Ngoài công tác
tuyển chọn điệp viên "nằm yên", Putin
c̣n được giao một nhiệm vụ thứ hai là
hoàn bị đường giây liên lạc với các trung tâm
kiểm thính quốc tế mà Đông Bá Linh đă thiết
kế vào giữa thập niên 1970 và được tân trang
hoàn toàn kể từ năm 1981. Lúc
Putin đến nhậm chức tại Dresde, chính lúc đó
nước Cộng Ḥa Đông Đức đă trở thành
"lỗ tai" lớn nhất của Liên Bang Xô Viết
trên quả địa cầu với 4400 chuyên viên làm
việc suốt ngày đêm không lúc nào gián đoạn, và
được phân công như sau: 2300 ở Berlin-Wuhlheide, 700
ở Berlin-Gossen, số c̣n lại ở Stettin và 300 máy
tự kư thường trực trong đó 150 máy đặt
ở Leipzig, những máy nầy tự động chạy
khi nhận được ám hiệu đă qui định
từ trước. Ngoài ra Liên Xô - lúc bấy giờ - c̣n cho
đặt thêm nhiều đường giây chuyển
vận trên một số phi cơ, tàu thủy, và xe vận
tải hàng hóa chạy khắp Âu Châu để chuyển
về lại các trung tâm kiểm thính những tin tức
đi qua điện thoại, máy Fax và máy điện báo
đánh chữ. Tổng cục c̣n đặt thêm nhiều
trung tâm kiểm thính ở Tiệp Khắc, trong vùng Bratislava
để nghe lén toàn bộ nước Áo: từ 1985
đến 1989, hai bộ Nội Vụ và Quốc Pḥng
của nước Áo (Austria) cũng như tư gia của
các nhân viên cao cấp thuộc hai bộ nầy đều
bị nghe lén suốt cả ngày lẫn đêm, cũng
như những công ty ngoại quốc đặt trụ
sở tại Áo như Dow Chemical, Hewlett-Packard, Alcatel,
Varimpex, la Société générale, Siemens, v..v..
Cũng nhờ
những tin tức thâu lượm được trong khi
"nghe lén", nên - từ 1984 đến 1990 - Liên Xô
mới tuyển mộ được 850 mật báo viên
"ngủ" trong toàn vùng Bắc Âu. Với một
tiểu sử sơ lược và tóm tắt như
vậy, chúng ta cũng đủ thấy Vladimir Putin thuộc môn phái của trùm cộng
sản Mikoyan, lúc ông ta tuyên bố với một nhóm kư
giả vào ngày 12 tháng 4, năm 1955 như sau: "Khẩu
hiệu của chúng tôi là gom vào trong cuộc cách mạng vô
sản sự công hiệu của Hoa Kỳ và sự chính xác
của Đức". Nhưng nếu ông Mikoyan biết chua
thêm một câu tḥng nữa th́ hay biết mấy v́ khi ấy
toàn thế giới sẽ đôn ông ta lên ngang hàng với ông
Trạng Tŕnh của nước Việt Nam và khi ấy
lời tuyên bố của ông này với một số phóng
viên báo chí sẽ như sau:
"Khẩu hiệu của chúng tôi là gom vào trong cuộc
cách mạng Bôn Sơ Vích sự công hiệu của Hoa
Kỳ và sự chính xác của Đức, và có như
vậy th́ cán bộ cộng sản của chúng tôi mới
có thể phát huy tột bực được khả
năng tham nhũng, bóc lột quần chúng của họ và
của các nuớc chư hầu trong đó có Việt
Nam".
Sau khi
đắc cử tổng thống nước Nga, Vladimir
Putin đă củng cố lại văn pḥng tư của
ông ta và bổ sung thêm nhân sự vào văn pḥng chính thức
có nhiệm vụ lèo lái chính phủ và bảy vị siêu
thống đốc - được chỉ định -
và có quyền kiểm soát các vị thống đốc vùng
- được bầu - trên 89 thực thể lănh thổ.
Điều đặc biệt nhất là Putin cho thiết
lập trở lại trong quân đội hệ thống
chính trị viên, viện lư do là để tăng
cường ngành phản gián quân đội. Đồng
thời tăng số nhân viên cảnh sát thu thuế lên
tới con số 32,000 nhân viên. Người tin cậy
hiện nay của Putin là Alexander Volochine, trước kia là
chánh văn pḥng của Yeltsin, nay có dưới tay y 2000 công
chức. Những bộ chủ chốt như bộ
Quốc Pḥng, bộ An Ninh, bộ Năng Lượng
đều được giao cho những người tin
cậy.
Ư kiến chung
chung của giới chính trị Tây Phương trong đó
có Hoa Thịnh Đốn và Khối Cộng Đồng Âu
Châu là giờ đây không phải lúc gây khó dễ Putin, cần
phải để cho y có th́ giờ ổn định
lại t́nh h́nh nội bộ của Nga và nếu y có
một vài hành động quá trớn th́ cũng nên châm chước cho y nếu chúng ta
không ủng hộ. Những cảm nghĩ này chúng ta đă
từng được nghe đi nghe lại quá nhiều
lần, thốt ra từ miệng các chính khách trong khối
Thế Giới Tự Do đối với Mạc Tư
Khoa mỗi khi có sự thay đổi người cầm
đầu ở Liên Xô như Krouchtchev, hay Andropov và cuối
cùng là Gorbatchev.
Năm 1994, Georges Bortoli đă
từng viết: "Bây giờ cũng như hôm qua, Tây
Phương đă tỏ ra rất dễ dăi để
chấp nhận cho Mạc Tư Khoa - kể từ 1954 -
muốn làm ǵ th́ làm và bất cứ làm ở đâu.
Người ta nhắm mắt làm ngơ một vài hành
động "quá lố" như xâm lăng A Phú Hăn,
hỗ trợ hành động khủng bố v..v...
Đối thoại thường được chuộng
hơn là đối chất. Và sở dĩ không có
đối chất - không phải là v́ người Tây
Phương thông minh và khéo léo - mà chính là nhờ ḷng quả
cảm và sự bền chí của một số
người sống trong khối Liên Xô cũ, nhất
định không chịu chấp nhận nền độc
tài và tranh đấu không ngừng với những
phương tiện hạn hẹp mà họ có trong tầm
tay, không có sự giúp đỡ của ngoại quốc,
để làm hao ṃn dần quyền lực của
đảng Cộng Sản nếu không đánh gục
được nó liền. Vladimir Putin thuộc nhóm mệnh
danh là "Cộng Sản Quốc Gia " được
thành lập giữa 1972 và 1985, với dụng ư là
để thay thế cho đảng Cộng Sản một
khi đảng nầy bị quần chúng chán ghét; và cũng
để gạt những kẻ ngây thơ thêm một
lần nữa. V́ đă là cộng sản th́ làm sao lại
có thể là quốc gia, thử hỏi nước với
lửa làm sao đi đôi với nhau cho được?
Thành thử Putin và tay chân bộ hạ của y -
được nhồi nắn trong ḷ mật vụ KGB
của Nga - cũng chỉ là những tên đồ tể
không hơn không kém như dưới thời Stalin ở
Liên Xô hay dưới thời Đức Quốc Xă của
Hitler. Và không sớm th́ muộn, Putin cũng sẽ đi
đến việc lập lại chế độ
độc tài ở Nga. Nhóm cận thần thường
trực chung quanh Putin kể từ ông ta trở thành
tổng thống nước Nga cũng có thay đổi
đôi chút. Ngoài văn pḥng hành chánh, ông ta c̣n có một
văn pḥng riêng - giống hệt như văn pḥng riêng
của Stalin lúc y vừa lên kế vị Lê Nin khi ông này qua
đời năm 1924.
Hai cộng sự
viên thân tín nhất của Putin là Viktor Ivanov (xin dừng
lầm với Igor Ivanov, bộ trưởng Ngoại Giao,
cũng xuất thân từ ḷ mật vụ KGB ra) hiện
đang điều khiển Cục An Ninh Kinh Tế của
cơ quan mật vụ nội địa FSB và Viktor
Cherkassov, Phó Giám Đốc cơ quan FSB. Đứng sau hai
người vừa kể trên đây là Alexander Grigoriev và Igor
Antonov. Putin đă đi ngược lại lề lối
hoạt động lúc nước Nga c̣n dưới
thời kỳ Liên Bang Xô Viết. Lúc đó th́ mật vụ
KGB được đặt dưới sự chỉ huy
của một nhóm thu hẹp ủy viên cao cấp trong
Bộ Chính Trị và Văn Pḥng thường trực
của đảng Cộng Sản. C̣n dưới trào Putin
th́ chính mật vụ KGB điều hành nước Nga mà
không có sự giám thị của bất cứ một cơ
quan chính trị nào cả. Dưới thời Stalin th́ y dùng
"văn pḥng riêng" để mật theo rơi hoạt
động của các cộng sự viên hoặc để
gây chia rẽ trong nội bộ, xúi người nọ
chống người kia
như đă tiết lộ trong sách của Sergio Beria:
"Beria, Phụ Thân Tôi". Hiện giờ th́ chưa
biết được Putin sẽ xử dụng
"văn pḥng riêng" vào những việc ǵ, nhưng có
một điều mà được đa số các kư
giả ghi nhận là Putin rất ngán bộ máy quân đội
nên đă tái lập lại hệ thống "chính trị
viên " để kiểm soát hành vi của các sĩ quan,
nhất là các sĩ quan cao cấp.
Một số lănh tụ ở Âu Châu cho
rằng - muốn chống lại bá quyền của Hoa
Kỳ đang muốn biến các nước ở Âu Châu
thành những chư hầu của Mỹ - biết đâu
Putin lại chẳng là một đồng minh tốt
để chống lại ư đồ này của Hoa Kỳ.
Nhưng nh́n lại cho kỹ th́ Putin chả bao giờ là
đồng minh của bất cứ ai. Ngay đối
với Trung Cộng - mặc dầu Nga đă kư kết
với nước nầy hiệp ước hỗ
tương - nhưng Trung Cộng cũng dư biết Nga
đă hành động như vậy là để tránh
việc phải đương đầu cả hai
mặt trận. C̣n Hoa Kỳ - th́ cũng như những
thập niên đă qua - vẫn luôn luôn o bế Nga v́
tưởng rằng Nga vẫn theo đuổi chủ
trương thỏa hiệp Đông - Tây mà vật hy sinh
vẫn là dân tộc các nước nhược tiểu.
Kỳ thật th́ Putin và bộ hạ của y chỉ
nhắm vào lợi lộc thu được qua những
nhượng bộ kèm thêm viện trợ của các
nước Tây Phương để có phương
tiện ổn định nền kinh tế Nga, và có
đủ thời giờ để t́m cách đưa vào
lại quỹ đạo của Nga các nước cộng
ḥa Trung Á mà từ 1991 đă có những manh nha chủ
trương độc lập thực sự; và
đồng thời khuếch trương thêm các
đường giây điệp báo - nhất là về lănh
vực kỹ nghệ - tại các nước trong khối
Tự Do và nhất là tại các nước cựu chư
hầu ở Đông Âu, như dưới thời kỳ Brejnev
- Andropov lúc c̣n mồ ma Liên Bang Xô Viết.
Dưới
thời mồ ma Liên Bang Xô Viết, đảng Cộng
Sản mạnh hơn bao giờ hết mà c̣n không làm khó
dễ được Hoa Kỳ huống hồ giờ
đây nước Nga chỉ c̣n là một cái bóng mờ
của Liên Xô cách đây một phần tư thế
kỷ, thử hỏi dù Putin có tài thánh đi nữa, th́
giỏi lắm cũng chỉ đánh vơ mồm mà thôi, trong
lúc đó th́ y vẫn chấp hai tay vái Hoa Kỳ để
xin chút cơm thừa canh cặn. V́ người ta
thường so sánh triều đại của y với
triều đại của Yeltsin, nên tưởng rằng y
thành công mọi mặt; nhưng nh́n lại cho kỹ th́ y
cũng đă nếm mùi thất bại chua cay trên chính
trường hải ngoại ở hai nước thuộc
Trung Á:
Kể từ khi Vladimir Putin lên làm tổng
thống nước Nga th́ không phải riêng ngành t́nh báo gia
tăng hoạt động khắp mọi nơi trên
thế giới mà các đảng cộng sản trên
khắp thế giới - trước kia âm thầm rút lui
vào bóng tối, th́ nay chường mặt trở lại
trên chính trường quốc tế. Trong 3 ngày 23, 24 và 25
tháng 6, 2000 - được sự cổ vơ của Putin -
một buổi họp các cấp lănh đạo
đảng cộng sản của 49 nước trên
thế giới đă được tổ chức tại
thủ đô Athens của Hy Lạp, và đă có 80
đại biểu của 42 phái đoàn về tham dự.
Riêng về Á Châu th́ có đại biểu của Bắc Hàn,
Phi Luật Tân và Việt Cộng cũng có gởi qua 2
đại diện. Nhưng Trung Cộng, Ấn Độ
và đảng cộng sản Pháp th́ không có đại
diện nào cả. Xin lưu ư
bạn đọc là trong thời gian từ 1992 đến
1997 cũng có những buổi họp như vậy của
các đại diện các đảng cộng sản
nắm "chéo áo" Liên Xô trước đây, nhưng con
số không quá 20. Năm nay con số đại diện
về họp đă tăng quá gấp đôi; và mọi
rạn nứt trong nội bộ của một số
đảng cộng sản trong nhiều nước đă
được hàn gắn, và đó là dấu hiệu
đồng tâm nhất trí để cũng nhau chống
lại đế quốc Hoa Kỳ, đang đóng vai tṛ
siêu cường độc nhất trên thế giới
hiện nay. Tại nước Cộng Ḥa Tiệp Khắc,
sự xâm nhập này rất là lộ liễu: những nhân
viên mật vụ của KGB và quân báo của GRU đă
đột nhập vào nước này dưới dạng
nhân viên của một số công ty thương măi và ngay
cả trong ngành điện ảnh.
Đặc
biệt ṭa đại sứ Nga tại thủ đô Prague
của Tiệp Khắc có đến 400 nhân viên ngoại
giao đoàn, một điều chưa từng thấy trong
lịch sử ngoại giao đoàn. Hoạt động
của mật vụ KGB tại thủ đô Bucarest của
Lỗ Ma Ni cũng được tăng cường và
ngấm ngầm ảnh hưởng đến việc tŕ
hoăn áp dụng quyết định của tổng thống
Constantinescu trong tháng 12, 1999, cho phép quần chúng nước
này được đọc những hồ sơ của
cơ quan an ninh Securitate của Lỗ Ma Ni. Hai mươi
đường "giây điện thoại
đỏ" đă được mắc riêng tại các
tư dinh của một số bộ trưởng và
thứ trưởng trong chính quyền hiện tại mà
trước kia là đảng viên cộng sản,
để họ có thể liên lạc trực tiếp
với Mạc Tư Khoa, đó là chưa kể một
số đại sứ quán của Lỗ Ma Ni ở
ngoại quốc - muốn liên lạc với thủ đô
Bucarest đều phải đi qua ngă Mạc Tư Khoa.
Hoạt động của mật vụ KGB Nga tại
nước Ba Lan lại càng trắng trợn hơn
nữa, đến mức độ là ngày 20 tháng giêng, 2000,
bộ trưởng ngoại giao Ba Lan đă yêu cầu
đại sứ Nga phải gọi về nước 9
nhân viên ngoại giao của nước này có dính líu
đến những vụ hoạt động điệp
báo trên lănh thổ Ba Lan. Hiện giờ tại Ba Lan đang
xảy ra một cuộc "chiến
tranh ngấm ngầm" giữa tổng thống
Kwaniewski và tay chân bộ hạ cộng sản của y và
bộ trưởng ngoại giao Bronislav Geremek không phải
là gốc cộng sản. Một nhân viên cao cấp trong
bộ Ngoại Giao có tiết lộ với báo chí là
"chúng tôi lúc nào cũng muốn giữ cho t́nh giao hảo
giữa nước chúng tôi với nước Nga luôn luôn
tốt đẹp, nhưng v́ nước Nga tăng cường hoạt
động t́nh báo một cách quá lộ liễu trong
nước tôi, nên bắt buộc chúng tôi phải có thái
độ cứng rắn đối với họ".
Rồi ông ta nói tiếp: "Giờ đây đường
lối chính trị của Mạc Tư Khoa là muốn cho
chúng tôi có những giao hảo xấu với họ
để cho họ dễ chứng minh với thế
giới rằng dân tộc Ba Lan
- theo truyền thống - vốn là vô trách nhiệm,
thành thử chấp nhận cho Ba Lan vào làm hội viên
của tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây
Dương (NATO) chỉ làm cho t́nh h́nh Âu Châu ngày càng trở
nên bất ổn!"
Ở
Riêng hai cơ quan
an ninh quốc nội FSB và hải ngoại MVD cũng không
thấy đề cập đến sự mất cắp
của chất nổ nầy trong kho chứa đồ
của họ. Giờ đây dân chúng Mạc Tư Khoa
cứ đi rỉ tai cho nhau nghe là chính quyền Putin đă
giết dân Mạc Tư Khoa để đổ thừa
cho người Chechen, rồi mượn cớ đó
đem quân chiếm lấy
Sự sa lầy
của quân đội Nga ở Chechnya đă ảnh
hưởng rất tai hại đến những dự
tính lớn lao của TT Putin khi đến dự hội
nghị thượng đỉnh của 8 đại
cường tại Okinawa trong 3 ngày 21 đến 23-7-2000.
Trước khi đi phó hội này, TT Putin dự tính sẽ
thuyết phục các lănh tụ tham dự hội nghị
lên án hành động của quân "khủng bố"
Chechen và ủng hộ cuộc hành quân của Nga nhằm
tiêu diệt cả quân "khủng bố" Chechen
lẫn quân Hồi Giáo quá khích hiện đang có mặt
tại Chechnya. Nhưng sau khi nghe TT Putin tŕnh bày mọi
sự việc xảy ra ở Chechnya trong những tháng qua,
th́ phản ứng của các thành viên tham dự hội
nghị thượng đỉnh Okinawa rất là hững
hờ v́ ai cũng cho là dân Chechen đă chiến đấu
để dành độc lập cho quốc gia của
họ, chứ họ không phải là quân "khủng
bố thuộc phe Hồi giáo quá khích" như TT Putin
đă từng tŕnh bày trước hội nghị.
Riêng thái
độ của Tổng Thống Pháp Jacques Chirac là rất
lạnh nhạt đối với vấn đề này
nếu không muốn dùng danh từ "chống đối".
Và cũng v́ TT Chirac chống việc Nga dùng vơ lực và gây
biết bao nhiêu chết chóc ở Chechnya nên trong chuyến
công du ở các nước Âu Châu - trước ngày hội
nghị thượng đỉnh -
ông Putin mới trả đũa lại bằng cách
không thèm thăm viếng nước Pháp. Và TT Pháp Chirac
đă ăn miếng trả miếng lại bằng cách cho
phái đoàn Nga hay là ông ta không có thời giờ để
gặp riêng TT Putin trong lúc c̣n lưu lại trên đất
Nhật Bản. Hành động của Tổng Thống
Chirac đă cho tổng thống Nga thấy rơ là ông ta đă
hoàn toàn thất bại trong dự tính cô lập hóa
nước Pháp trên chính trường Âu Châu để
buộc ông này phải dịu giọng trong việc chỉ
trích chính sách của Nga đối với Chechnya. Hành động
của TT Putin trong vụ này rất là vụng về,
nếu không nói là rất bất lịch sự v́ từ
năm 1999, ông ta không thèm trả lời chính thức lời
mời qua thăm nước Pháp của TT Chirac, để
rồi sau dó qua năm 2000, khi ông ta qua thăm các
nước lớn ở Âu Châu th́ ông ta đă cố t́nh
bỏ băng không ghé lại nước Pháp; hành
động này đă phản thùng lại ông ta và trong
hội nghị thượng đỉnh Okinawa, ông ta
mới nhận thấy được chính ông ta mới là
người bị cô lập.
Riêng TT Clinton th́
vẫn có gặp riêng TT Putin, nhưng chả có giải
quyết được ǵ cả. Ông Clinton không quên
được việc đón tiếp ông - lạnh như
băng giá - tại quốc hội Nga cũng như tại
quốc hội Ukraine, khi ông thao thao bất tuyệt lên
tiếng dạy các ông dân biểu địa phương
về cách làm chính trị, trong cuộc viếng thăm
thất bại hai nước Nga và Ukraine vào thượng
bán niên năm 2000. Trong cuộc gặp riêng đó, TT Clinton
đă khuyến cáo TT Putin rằng nếu ông dẹp
được cuộc nổi loạn của dân Chechen
đ̣i độc lập bằng biện pháp quân sự và
sau đó chả có kèm theo những giải pháp mới
về chính trị và kinh tế, th́ ông lại sẽ
thất bại thêm một lần nữa v́ ông không
thắng được nhân tâm của quần chúng Chechen.
Nhưng Tổng Thống Putin vẫn khăng khăng
một mực cho TT Clinton hay là dân Nga hoàn toàn ủng hộ
ông ta trong việc dùng quân đội để giải
quyết vấn đề
A). Thứ
nhất là xin Hoa Kỳ từ bỏ món nợ của Liên
Bang Xô Viết để lại khi nhận viện trợ
quân sự và kinh tế của Đồng Minh trong thời đệ
nhị thế chiến;
B). thứ hai xin khất lại
hạn trả những nợ vừa mới mượn
được gần đây,
C.). và thứ ba là
điều đ́nh với Quỹ Tiền Tệ Quốc
Tế để xin vay thêm một khoản nợ mới.
Nhưng khi hội nghị bế
mạc th́ những điều mà Putin đề nghị
đều bị bác hoặc hoăn lại; như xin vay thêm
tiền th́ Ngân Hàng Quốc Tế cho biết là Nga phải
chứng minh họ là con nợ tốt bằng cách phải
trả góp đều đặn chứ không phải
khất nợ nhiều hơn trả nợ như họ
đă làm từ trước đến nay. Và có như
vậy th́ mới mong xin vay thêm được; nhất là
Putin không trả lời được khi bị chất
vấn là thiếu tiền nên mới đi vay, nhưng sao
lại có tiền để cho Milosevic của Nam Tư vay
150 triệu Mỹ kim trong đầu năm nay? Rốt
cục hội nghị bát cường ở
3.
" Điệp Viên Ngủ"Trong Nhà Trắng ?.
Ông G.W.Bush
đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm
kỳ 2000-2004. Ông Bush th́ rất xa lạ đối với
Nga, c̣n ông Putin th́ lại rất gần với ông Gore và
nếu ông Gore đắc cử tổng thống vào tháng 11
,2002, th́ Nga chắc chắn sẽ được ông Gore
tận t́nh giúp đỡ. V́ Tổng Thống Nga Putin có
nhiều hành động đàn áp dân hoặc dọa dẫm
dân để buộc dân phải làm điểm chỉ viên
cho cơ quan mật vụ của chính quyền như
dưới chế độ của Liên Xô ngày
trước, nên người dân cho rằng chế
độ của ông ta không sớm th́ muộn cũng
sẽ trở thành chế độ độc tài hoặc cộng
sản. Và cũng v́ vậy cho nên
bạn đọc cũng cần nên biết qua
tiểu sử của ông Gore. Phó Tổng Thống Albert Gore
có vợ, 3 con và có một đời sống gia đ́nh
không có bị tai tiếng như ông "xếp" của
ông ta. Nhưng đời sống chính trị của ông Gore
cũng như của thân sinh ông ta là Albert Gore Sr. th́ có
những điểm cần được soi sáng.
Cựu Nghị sĩ Albert Gore Sr. qua
đời vào đầu tháng 12, 1998, hưởng thọ 90
tuổi. Khi tỷ phú Armand Hammer c̣n sống th́ cựu
Nghị Sĩ Albert Gore Sr. là cánh tay mặt của ông này, và
cuộc đời chính trị của cả 2 cha con ông Gore
đều được Armand Hammer tài trợ hết.
Muốn t́m hiểu lư lịch của Phó Tổng Thống
Gore và thân sinh của ông ta, chỉ cần biêt quá tŕnh
hoạt động của tỷ phú Armand Hammer th́ mọi
việc đều sáng tỏ như ban ngày. Vậy Armand Hammer
là ai?
Trong văn khố của Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ, xấp hồ sơ "Mật" mang
số 1378 ngày 14-4-1932 của ṭa đại sứ Hoa Kỳ
tại Luân Đôn có ghi rơ báo cáo của cơ quan FBI về
Armand Hammer như sau:
Tên thật của Armand Hammer là Armand Julievitch
Hammer và anh của y là Victor Julievitch Hammer là 2 điệp viên
của cơ quan quân báo GRU của Liên Xô. Armand Hammer có
mở một công ty buôn bán - làm b́nh phong - tại Hoa Kỳ, lấy tên là
Armand Hammer & Company, đặt trụ sở tại 3 East,
Armand Hammer rất được Lênin tin
cậy sau khi y giúp Lênin vượt qua được
nạn khủng hoảng về kinh tế ở đầu
thập niên 1920, bằng cách quyên góp tài chánh lẫn thực
phẩm chở từ Hoa Kỳ sang Nga Xô. Trong những
chuyến từ Mạc Tư Khoa trở về lại Hoa
Kỳ, y đă vơ vét những bức tranh vô giá của
Nga mua với giá rẻ mạt như là cho không, rồi mang
về Hoa Kỳ để bán lại cho các triệu phú
nước nầy. Nhờ cách làm ăn này mà không mấy chốc
y đă trở thành triệu phú, để rồi từ
đó chuyển hướng kinh doanh vào ngành khai thác dầu
hỏa, lập ra công ty Continental Petroleum Company mà dịch
vụ lớn nhất của công ty là chuyên chở dầu
hỏa cho các nước thuộc Nam Mỹ Châu.
Một kỳ công của Armand Hammer là suưt
thành công trong việc bố trí đưa một tên
đảng viên cộng sản vô danh có tên Tyminski - do
mật vụ KGB của Liên Xô giới thiệu - ra tranh
cử tổng thống đầu tiên ở Ba Lan, sau khi
chế độ cộng sản sụp đổ. Vụ
ứng cử này, có một dạo, đă làm chấn
động dư luận thế giới và nếu Walesa,
chủ tịch Công Đoàn Đoàn Kết, không có sự
hỗ trợ ngấm ngầm của Giáo Hoàng John Paul
Đệ Nhị và của quần chúng công giáo Ba Lan, th́
đă bị Tyminski đánh bại rồi. Và qua vụ
bầu cử tổng thống đầu tiên này ở Ba
Lan, người ta mới nhận thức được
mật vụ KGB của Liên Xô quả thật vô cùng nguy
hiểm. Khi nước Ba Lan đang c̣n ở dưới
chế độ cộng sản, th́ mật vụ KGB
của Liên Xô - không biết v́ lư do ǵ - lại chủ
trương ngầm đưa một nhân viên lúc đó
chưa được hai mươi tuổi là Tyminski ra
khỏi nước. Anh nầy được KGB bố trí
cho qua Na Uy, vào quốc tịch nước nầy sau khi
cưới vợ là dân Na Uy, đoạn di cư qua Canada và
mở một công ty điện tử tại nơi
đây. Vài năm sau, v́ làm
ăn thua lỗ, Tyminski ly dị vợ rồi di dân
lần nữa qua Peru ở Nam Mỹ. Rồi từ đó,
do sự bố trí kín đáo của mật vụ KGB qua
sự dàn xếp khéo léo của Armand Hammer, Tyminski
được giao cho nhiệm vụ điều khiển
một chiếc tàu chở dầu hỏa chạy trên sông
Amazon của hăng Continental của tỷ phú Armand Hammer.
Tưởng rằng cuộc đời lang thang của
Tyminski sẽ chấm dứt tại nơi đây, nào
ngờ xảy ra vụ biến động chính trị
ở Ba Lan, cộng sản Ba Lan sụp đổ và
tiếp sau đó có tổ chức bầu cử tổng
thống đầu tiên tại nước này, sau gần
nửa thế kỷ sống dưới ách thống
trị của Liên Xô. Chính giới quốc tế lúc bấy
giờ đều cho rằng Walesa, chủ tịch của
Công Đoàn Đoàn Kết chắc chắn sẽ
đắc cử tổng thống một cách rất
dễ dàng v́ thiếu đối tượng ngang vai vế
với ông ta, nhưng rồi người ta đă đi
từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Chuyện
ngạc nhiên đầu tiên là người ta tưởng
chỉ có hai ứng cử viên tổng thống mà thôi:
đó là hai ông Walesa và Mazowiecki, Thủ Tướng chính
phủ; nhưng đùng một cái lại phát hiện có
một nhân vật thứ ba là Tyminski cũng nạp
đơn xin ứng cử và cũng đă hội
đủ điều kiện khó khăn là đă xuất
tŕnh được chữ kư của một trăm ngàn
ủng hộ viên trong một thời gian ngắn là 10 ngày.
Mọi người dân Ba Lan đều nhao nhao lên hỏi
nhau Tyminski là ai, sao mà bí mật thế? Rồi đến
ngày vận động bầu cử th́ người dân
thấy anh này cũng có đầy đủ ban vận
động khắp mọi nơi như hai ứng cử
viên kia, cũng có đài phát thanh kêu gọi dân chúng v..v... và
v..v...
Trong câu chuyện
Tấm và Cám của nước ta , th́ Bụt chỉ có giúp
cho cô Tấm một cái áo mới, đẹp, để
mặc đi gặp hoàng tử; về sau, trong
trường hợp Tyminski, người ta mới phát giác
ra Bụt giúp anh nầy là Armand Hammer và phụ tá
"Bụt Hammer" đứng ra điều khiển
chiến dịch bầu cử của KGB nầy là thân sinh
của Phó Tổng Thống Gore. Ngay ông đạo Moon
cũng cho Tyminski toàn quyền xử dụng đài phát thanh
truyền đạo của ông ta ở thủ đô Varsaw
để truyền hộ "đạo Cộng Sản
của KGB" cho Tyminski. Người
Việt chúng ta thường hay nói đó là hạng
"mặt người ta mà da ăn trộm", và
đây là trường hợp của ông đạo Moon. Sau
khi bầu cử tổng thống xong, người ta
mới biết một trăm ngàn chữ kư ủng hộ
"kẻ vô danh" Tyminski đều được
đại diện của tỷ phú Armand Hammer trả 20
mỹ kim cho mỗi chữ kư, một gia tài lúc đó
đối với người dân Ba Lan đang sống
dưới chế độ đói rách, kềm kẹp
của Cộng Sản Ba Lan. Bàn tay phù thủy của
mật vụ KGB của Liên Xô quả thật ghê gớm,
thế nhưng đồng đô la của tỷ phú Armand
Hammer lại c̣n ghê gớm và nguy hiểm hơn nữa v́
nếu không có sự ủng hộ ngấm ngầm của
Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị th́ Walesa có thể bị
Tyminski đánh bại trong ṿng đầu v́ bị Mazowiecki
chia bớt phiếu.
Qua cuộc bầu cử tổng thống
đầu tiên ở Ba Lan sau Đệ Nhị Thế
Chiến, các quan sát viên chính trị mới thấy rơ sự
liên hệ mật thiết giữa tỷ phú Armand Hammer
với bố con ông Gore. Và người ta cũng biết,
nhưng không nói ra, là hai anh em Armand Hammer đều là
điệp viên của cơ quan Quân Báo GRU của Liên Xô và
nay là của nước Nga - tuy trên giấy tờ không c̣n
Cộng Sản nữa - nhưng trên thực tế vẫn
c̣n y nguyên th́ đă sao! Nay th́ tỷ phú Armand Hammer và cựu
Thượng Nghị Sĩ Albert Gore Sr. đều đă qua
đời cả rồi, nhưng Phó Tổng Thống Gore
vẫn c̣n một người khác đỡ đầu
mạnh hơn tỷ phú Armand Hammer nữa về
phương diện chính trị, đó là Tổng Thống
Clinton. Rồi người ta lại tự hỏi thế
th́ ai là người đứng trung gian giới thiệu
ông Albert Gore với TT
Năm 1966, khi c̣n theo học tại
đại học
Năm 1968, ông ta tham gia những cuộc
biểu t́nh của những người chủ
trương thiêu hủy những giấy tờ của
họ có liên quan đến vấn đề động
viên quân dịch; ngày 4 tháng 4, Clinton đă cùng với cô
bạn gái là Carolyn Staleyil tham gia cuộc biểu t́nh
tưởng nhớ Martin Luther King tại thủ đô Hoa
Thịnh Đốn. Cũng trong thời gian đó, ông ta
nhận được
học bổng Rhodes, một loại học bổng
chỉ cấp cho những sinh viên - không phải v́ học
xuất sắc - mà v́ có đầu óc thiên tả.
Năm
1969,
Sau khi rời
Mạc Tư Khoa,
Trong một chuyến viếng thăm
nước Nga - lúc trở về lại Hoa Kỳ -
Tổng Thống Clinton có ghé lại thủ đô Prague
của Tiệp Khắc để thăm viếng gia đ́nh
Kopold ngày 11-1-1994. Những tin tức trên đây cũng
đủ cho ta thấy ông
Có 2 yếu tố
nổi bật quyết định sự đắc
cử của Tổng Thống Yeltsin, đó là vai tṛ quan
trọng sau hậu trường của cô con gái Yeltsin là
Tatiana Ditchenko, 37 tuổi, rất thông minh, giao thiệp
rộng và rất am tường chính trị, nhất là
loại chính trị tṛng tréo ở Nga hiện nay. Yếu
tố thứ hai không kém phần quan trọng là sự có
mặt tại Mạc Tư Khoa vào đầu tháng 3, 1996,
của một phái đoàn cố vấn Hoa Kỳ gồm 5
chuyên viên về vận động tuyển cử. Trong
một bài tham luận về cuộc bầu cử tổng
thống ở Nga, tạp chí TIME Magazine có đề cập
đến vụ này, nhưng tránh đi sâu vào chi tiết.
Nếu không có sự hỗ trợ của đoàn cố
vấn Hoa Kỳ và của Tatiana, th́ Yeltsin có thể
thất cử. Vào đầu tháng 3, 1996, Tatiana Ditchenko
dọn về gian pḥng 1119 trong tư dinh tổng thống
để tiện bề điều khiển cuộc
vận động tranh cử của thân phụ cô. Trong
gian pḥng 1120 kế đó là bản doanh của đoàn
cố vấn Hoa Kỳ gồm 5 chuyên viên bầu cử
trong đó 4 vị thuộc đảng Cộng Ḥa, một
vị thuộc đảng Dân Chủ và đă từng tham
gia cuộc vận động tranh cử thống
đốc tiểu bang Arkansas của tổng thống
Clinton trước đây. Dưới con mắt của nhân
viên trong tư dinh tổng thống, th́ những
người Hoa Kỳ này là những chuyên viên tư vấn
làm việc trong một công ty ở
Tướng Pavel
Grachev đều lừa dối ông ta từ bấy lâu nay
hoặc v́ thiếu khả năng và bất chấp dư
luận quần chúng, hoặc có nhiều liên hệ với
một số phe nhóm hoạt động cho đảng
cộng sản. Người từng gây thiệt hại
nhiều nhất cho Tổng Thống Yeltsin là Soskovets,
Đệ Nhất Phó Thủ Tướng chính phủ. Vào
cuối tháng 4, 1996, th́ Tatiana và thân phụ - sau khi âm thầm
mở cuộc điều tra về 4 nhân vật
được nêu trên - đă t́m ra bằng chứng là
Soskovets đang ngấm ngầm phá cuộc vận
động tranh cử của ông ta, v́ vậy cần
phải hành động gấp. Phái đoàn Hoa Kỳ bèn
đưa ra một kế hoạch vận động
dựa trên việc công bố cho quần chúng biết
những tai họa mà đảng Cộng Sản đă giáng
xuống đầu nhân dân Nga trong suốt 7 thập niên qua.
Ban đầu gia đ́nh Yeltsin c̣n do dự, v́ thấy ở
Nga cũng như ở các nước cựu chư hầu
Đông Âu thế lực của đảng Cộng Sản
đang lên mạnh, trong khi đó chính phủ các nước
trong khối Thế Giới Tự Do ở Âu Châu cũng
như ở Mỹ Châu vẫn giữ thái độ
thản nhiên trước sự vươn lên của
đảng Cộng Sản Quốc Tế. Báo Time đă
tránh không đề cập đến vấn đề này.
Nhưng cuối cùng Tatiana đă lấy một quyết
định rất khôn ngoan và sáng suốt là phải làm theo
lời khuyến cáo của phái đoàn Hoa Kỳ. Cô lại
thuyết phục thân phụ cô, và tổng thống Yeltsin
đích thân ra lệnh cho cấp thừa hành phải mở
ngay chiến dịch đả phá và phản tuyên truyền
đảng Cộng Sản. Thế là trong nhiều tuần
liên tiếp trước ngày bầu cử 16-6-1996, những
tài liệu "Mật" trong văn khố của các
sở mật vụ Nga nói về tội ác của
đảng Cộng Sản đối với nhân dân Nga
từ triều đại Lê Nin cho đến triều
đại Brejnev đă được công bố trên các
đài truyền h́nh, truyền thanh và báo chí. Lần
đầu tiên trong lịch sử - dân Nga mới thấy rơ
bộ mặt thật của bọn quỷ đỏ
Cộng Sản. Đảng Cộng Sản Nga đành
phải im hơi lặng tiếng v́ họ không thể nào
phủ nhận được những hành vi tắm máu
nhân dân của chính cha ông họ chủ trương.
Nhưng cũng phải làm một cái ǵ chứ chả
lẽ lại nín khe hay sao? Rốt cục chúng chỉ
biết phản đối phe Yeltsin đă chiếm quá
nhiều giờ trên các đài truyền thanh và truyền
h́nh. Chỉ có thế thôi v́ chúng cũng không thể làm ǵ
khác hơn. Trong khi đó th́ uy tín của Yeltsin trong quần
chúng lên đều đều hàng tuần. Rơ ràng là chỉ có cách trưng bày bằng chứng
cụ thể về tội ác và lỗi lầm của
Cộng Sản đối với nhân dân th́ khi đó
mới có thể đánh tan được những
huyền thoại bịa đặt về các lănh tụ
Cộng Sản trong đầu óc quần chúng qua bao nhiêu
năm họ bị bộ máy tuyên truyền láo toét của
Đảng đêm ngày nhồi, nhét.
Hai
tuần trước cuộc bầu cử đợt 2 (3
tháng 7, 1996) giữa 2 ứng cử viên dẫn đầu
trong cuộc đầu phiếu đợt 1 là Tổng
Thống Yeltsin và lănh tụ Cộng Sản Ziouganov, Tổng
Thống Yeltsin đă lấy một quyết định
rất táo bạo và ngoạn mục là cất chức 4
người từng cộng sự với ông từ
bấy lâu nay, rất được ông tín nhiệm,
nhưng lại chống công cuộc cải cách đất
nước. Đó là quư ông: Alexander Korzhakov, 46 tuổi,
Trưởng Ban An Ninh phủ tổng thống, Michail
Barsukov, 48 tuổi, Giám Đốc Cơ Quan An Ninh Liên Bang,
Oleg Soskovets, 47 tuổi, Đệ Nhất Phó Thủ
Tướng và tướng Pavel Grachev, Tổng
Trưởng Bộ Quốc Pḥng. Phe cải cách trong chính
phủ đă đưa ra bằng chứng cho Tổng Thống
Yeltsin thấy là những người này đang âm mưu
hủy bỏ cuộc bầu cử đợt 2 giữa
ông ta và Ziouganov, và ban hành thể chế độc tài
đồng thời đ́nh chỉ mọi cải cách
hướng về kinh tế thị trường. Hai
mươi bốn giờ trước đó, Tổng
Thống Yeltsin phong cho tướng Alexander Lebed làm Tổng
Thư Kư Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và kiểm soát
những bộ quan trọng như An Ninh Quốc Nội,
Quốc Pḥng, Mật Vụ FSB và Phản Gián, Lực
Lượng Biên Pḥng. Về phía Ziouganov lănh tụ
đảng Cộng Sản Nga, th́ y đă phạm hai
lỗi lầm lớn trong khi đi vận động tranh
cử. Lỗi thứ nhất là y tuyên bố nếu
đắc cử th́ y sẽ lập lại chế
độ kiểm duyệt báo chí cũng như truyền
thanh, truyền h́nh. Lời tuyên bố này đă làm cho
một số lớn báo chí đổ xô vào ủng hộ
Yeltsin, và Ziouganov - sau khi thấy ḿnh bị hố - đă xin
rút lời tuyên bố về kiểm duyệt thông tin,
nhưng đă chậm mất rồi v́ nhà báo đâu có tin
Cộng Sản! Lỗi thứ hai là khi báo chí hỏi y
sẽ lấy tiền đâu để thực hiện
những chương tŕnh vĩ đại về xă hội
do y đưa ra khi đi vận động, th́ Ziouganov
trả lời là hằng năm chính quyền đă
để cho tài phiệt và thương gia tẩu tán
"lậu" tiền ra ngoại quốc, khoảng hai
trăm tỷ Mỹ kim. Nếu y cầm quyền th́ y
sẽ chận đứng tệ đoan đó và số
tiền kếch xù này bắt buộc phải
được kư thác vào các ngân hàng trong nước. Và
với tiền lăi 6% đến 8% mỗi năm, th́ Nhà
Nước sẽ có hằng năm khoảng 12 tỷ
Mỹ kim để chi tiêu mà
khỏi phải vay mượn ngoại quốc. Các nhà báo
nghe y trả lời như vậy ai nấy đều
bụm miệng mà cười v́ họ biết - trong
những năm gần đây - chính Đảng Cộng
Sản Nga đứng đầu sổ về tội
tẩu tán tiền bất hợp pháp ra ngoại quốc.
Các nhà báo thường kể cho nhau nghe một năm sau khi
Cộng Sản ở Liên Xô sụp đổ, chính Yeltsin
đă yêu cầu Quốc Vương Juan Carlos của Tây Ban
Nha giữ lại số tiền gần 500 triệu Mỹ
kim của Gorbatchev chuyển qua gởi ở một số
ngân hàng tại thủ đô Madrid. Chính Quốc Vương
Carlos đă tiết lộ tin nầy cho một vị
đại sứ của một cường quốc ở
Âu Châu trong một buổi tiếp tân tại tư dinh
của quốc vương.
4. "Cố Vấn Phù
Thủy" Hoa Kỳ.
Trước
cuộc bầu cử đợt 1 (16-6-1996), Tatiana, ái
nữ của Tổng Thống Yeltsin đă hội kiến
nhiều lần với phái đoàn Cố Vấn Hoa Kỳ
vào thượng tuần tháng 3-1996, để vạch ra
một chương tŕnh vận động tranh cử sao
cho khoa học và hữu hiệu. Có một điểm mà
phái đoàn lưu ư Tatiana là ngoài việc đạp
đổ uy tín của Đảng Cộng Sản Nga, c̣n
phải nghĩ cách rút bớt phiếu của những
cử tri - v́ không ưa Yeltsin - mà bỏ phiếu cho Ziouganov
của đảng Cộng Sản. Phái đoàn cho Tatiana hay
là theo sự điều tra của họ hiện giờ -
trong số các ứng cử viên ra tranh cử tổng
thống - chỉ có tướng Lebed là người có
những tư tưởng phản ảnh đúng
đắn suy tư của đa số dân Nga hiện nay.
V́ vậy cần phải ngấm ngầm ủng hộ
Lebed để cho ông này rút bớt phiếu của những
người không phải đảng viên Cộng Sản mà
lại muốn bỏ phiếu cho Ziouganov. Việc tung
tiền mua chuộc báo chí, viết bài đề cao
tướng Lebed chỉ nên thực hiện vào trung tuần
tháng 5 - một tháng trước ngày bầu cử thôi -
để cho phe Cộng Sản nếu muốn phản pháo
ông này cũng không đủ thời giờ để xoay
xở. Leonid Radzikhovsky, trưởng ban vận động
tranh cử tổng thống của Lebed đă tiết
lộ với báo chí như sau:
-
"Ông ta như người vào
casino đánh bạc bị thua hết chỉ c̣n vỏn
vẹn 10 đồng Rúp trong túi. Thay v́ dùng tiền này
để mua bánh ḿ ăn lót dạ, ông ta đă bỏ
hết vào máy tự động và không ngờ đă kéo ra
số độc đắc".
Ư ông trưởng
ban này muốn ám chỉ
việc ông Lebed vừa được tổng
thống Yeltsin đưa lên địa vị thứ 2 trong
nước, đứng sau ông ta. Trong trường hợp
Lebed, nhờ 11 triệu phiếu của cử tri đă
từng bỏ phiếu cho y mà qua cuộc bầu cử
đợt 2, Tổng Thống Yeltsin mới thắng lănh
tụ đảng Cộng Sản một cách vẻ vang
như vậy. Kết
quả cuộc bầu cử này đă mang lại cho
mọi phe nhóm một niềm vui rất lớn, ngoại
trừ lănh tụ Đảng Cộng Sản là Ziouganov và
đảng của y. Nhưng niềm vui mỗi phe mỗi
khác: người vui nhất lẽ dĩ nhiên là Yeltsin - v́
cách đây không đầy một năm, mọi cuộc
thăm ḍ dư luận đều cho thấy uy tín của
ông chỉ c̣n 8%, nhưng sau cuộc bầu cử
đợt 2 th́ ông lại được 53% số
phiếu; t́nh trạng ngựa về ngược này
khiến ông không vui sao được. Ái nữ Tatiana
của ông, người có công lớn trong cuộc bầu
cử này, vui thầm trong thâm tâm v́ từ nay trở đi
cô sẽ điều khiển việc nước trong bóng
tối, giúp ư kiến cho một ông bố bị bệnh tim
nặng và ghiền rượu không kém ǵ Brejnev. Với
tướng Alexander Lebed và bộ tham mưu - mới qui
tụ được trong kỳ tranh cử tổng
thống - tuy ít kinh nghiệm nhưng khá sâu sắc về
nhận định, th́ quả thật sự vui mừng
đă đến với họ một cách quá bất
ngờ. Tất cả nỗi mừng kể ra trên đây
đều là những nỗi mừng của riêng từng
cá nhân, c̣n nỗi mừng sắp được kể dưới
đây là nỗi mừng của nhóm đại diện cho
cấp lănh đạo của một nước, tôi
muốn đề cập đến sự hân hoan thầm
kín của phái đoàn "cố vấn phù thủy" Hoa
Kỳ. Nếu không có phái đoàn nầy vạch ra kế
hoạch vận động tranh cử th́ tổng thống
Yeltsin đă thất cử từ lâu và kéo theo luôn uy tín của
TT Clinton, người ủng hộ lá bài Yeltsin từ
đầu cho đến cuối. V́ vậy mà Hoa Kỳ
đă giúp đỡ ông Yeltsin về đủ mọi
mặt, kể cả việc tặng cho ông ta nguyên một
b́nh rượu thuốc.
Ngày
xưa bên Trung Hoa cũng như ở Việt
Trước
khi đi dự Hội Nghị Thượng Đỉnh
ở Okinawa, tổng thống Nga Vladimir Putin - chắc
cũng đă tiên đoán được sự thất
bại năo nề của ông ta tại hội nghị
nầy, nên đă bố trí cho một phái đoàn ngoại
giao do Igor Ivanov Bộ Trưởng Ngoại Giao cầm
đầu qua thăm viếng Tân Delhi (New Delhi, Ấn
Độ) với mục đích nối lại t́nh giao
hảo giữa hai nước bị gián đoạn sau
thời gian hợp tác chặt chẽ từ 1965 đến
1990. Tuy là một phái đoàn ngoại giao, nhưng đa
số nhân viên tháp tùng ông bộ trưởng đều là
những chuyên cao cấp trong ngành mật vụ hải
ngoại SVR và ngành quân báo GRU của quân lực Nga. Và
một số thỏa hiệp đă được kư
kết giữa hai nước. Nga sẽ giúp Ấn
Độ canh tân lại quân đội và sẽ bán cho
Ấn - trong ṿng 20 tháng - 20 phi cơ vận tải IL-76
,chuyên chở quân đội và quân nhu, quân cụ và có
tầm bay xa 4000 cây số. Ngoài ra Nga c̣n gởi một
số chuyên viên đến làm việc tại một số
nhà máy sản xuất vũ khí của Ấn. Nga lại c̣n
hứa sẽ giúp Ấn Độ trong việc chống
lại bọn tranh đấu cho nền độc lập
của
Chính quyền Putin của Nga hiện nay
đang đặt nặng vấn đề canh tân quân
đội để mong đối phó lại với Hoa
Kỳ, nhưng liệu họ có thực hiện
được không?
a).Chuyện khó khăn nhất của Nga là
đang sa lầy trầm trọng tại Chechnya; v́
trước sự bất lực của quân đội,
Tổng Thống Putin đă kư quyết định ngày 22 tháng
1, 2001, giao việc b́nh định Chechnya lại cho cơ
quam mật vụ FSB ( tức KGB cũ) phụ trách. Hành
động này chứng tỏ rằng TT Putin không tín
nhiệm quân đội bằng cơ quan Mật Vụ FSB,
và cơ quan này đă chứng rỏ sự bất lực
của họ trong trận chiến b́nh định
b). Khó khăn thứ hai là
sự xung đột nội bộ rất là trầm
trọng giữa ông Igor Sergueiev, Bộ Trưởng
Quốc Pḥng và Tướng Anatoly Kvashnin Tham Mưu Trưởng
Quân Đội. Quân đội tố cáo ông Bộ
Trưởng Quốc Pḥng đă chi quá nhiều tiền vào
việc sản xuất Tên Lửa Theo Đường
Đạn Topol-M (Ballistic Missile). Để xoa dịu quân
đội, TT Putin đă hứa hẹn với họ
sẽ tăng ngân sách quốc pḥng, đồng thời cách
chức luôn 6 viên tướng trong bộ Quốc Pḥng.
Nhưng sự thất bại của quân đội ở
Chechnya lại vô hiệu hóa mộng cải cách qui mô quân
đội; giờ đây họ chỉ có thể trông
chờ vào những cải cách nho nhỏ trong lực
lượng qui ước để có thể đóng vai
tṛ tích cực hơn trong vùng Ba Nhĩ Cán (Balkans) và trong vùng
Cận Đông hay Bắc Phi Châu. C̣n đặt vấn
đề cải cách qui mô quân đội để có
thể đương đầu hữu hiệu với
quân đội Hoa Kỳ th́ quả thật đừng có
ḥng... vô phương như lời tuyên bố của ông
Evgueni Kozhokin, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến
Lược Nga.
5.
Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO)
Mùa
hè tháng 6, 1999, 200 binh sĩ Dù trong quân đội Nga đóng
tại căn cứ ở Bosnia được lệnh
rời căn cứ và tiến vào phi trường Pristina
trong phạm vi lănh thổ Kosovo, thuộc Nam Tư. Hành động này đă làm
ngạc nhiên không ít bộ chỉ huy quân đội
Đồng Minh của Khối Minh Ước Bắc
Đại Tây Dương (NATO) đang trong t́nh trạng
chiến tranh với Nam Tư; đồng thời cũng
làm cho bộ Ngoại Giao và bộ Quốc Pḥng Nga vô cùng
ngạc nhiên, rồi người ta tự hỏi không
biết bộ tham mưu quân đội Nga có báo cho Tổng
Thống Yeltsin biết việc điều động quân
đội Dù này không? V́ trong cuộc chiến dẹp quân
Chechen mà họ liệt vào hàng phản loạn, rất
nhiều lần sĩ quan Nga đă phản đối
việc phe dân sự dành quyền chỉ huy cuộc
chiến, khiến cho đại tướng Vladimir Chavanov
đă có lần tuyên bố là quân đội sẽ không tuân
theo - nếu có một lệnh bất thần - buộc
họ phải ngưng tấn công vào quân đội của
Chechnya. Viên tướng này đă tuyên bố với đài
truyền h́nh Nga là ông ta sẽ vất bỏ ngôi vai
đại tướng để trở về đi làm
việc khác trong đời sống dân sự, v́ "tôi không thể nào tiếp
tục hoạt động trong một quân đội
như thế này". Chưa bao giờ cấp chỉ
huy quân đội Nga lại có những phản ứng
mạnh như thế đối với phe dân sự
đang điều hành guồng máy chính phủ, khiến cho
ông Vyacheslov Nikonov, một nhà nghiên cứu về chính trị
và cũng là một cựu dân biểu quốc hội Nga
đă lên tiếng rằng ảnh hưởng của quân
đội trong đời sống chính trị ở Nga
đang có chiều thay đổi kể từ cuộc
nổi loạn 14 tháng 12,
năm 1825 của một nhóm sĩ quan, kêu gọi quân lính
ở Saint Petersburg nổi loạn, đ̣i tân Sa Hoàng Nicholas
Đệ Nhất phải canh tân quân đội. Nhưng
cuộc nổi loạn đă thất bại, và một
số sĩ quan cầm đầu đă bị treo cổ,
một số khác bị đày đi Tây Bá Lợi Á (
Dưới
trào Gorbachev, việc đổi mới là nhằm mục
đích giải quyết sự mâu thuẫn ngày càng tăng
giữa những yếu kém của nền kinh tế Liên Xô
song song với gánh nặng
của những chi phí quốc pḥng. Thời bấy
giờ, về mặt kinh tế, Liên Xô cố gắng
hụt hơi cũng vẫn không bắt kịp Hoa Kỳ
và Tây Âu về mặt kỹ thuật cận đại
cũng như về mặt sản xuất những nhu
yếu phẩm cần thiết trong đời sống
của người dân; c̣n đề cập đến lănh
vực quân sự th́ quân đội của Liên Xô ngang hàng
với quân đội của khối Minh Ước
Bắc Đại Tây Dương về mặt phẩm
nhưng lại hơn hẳn về mặt lượng
nhất là về vũ khí hạch tâm. Trong hai thập niên 70
và 80, đại đa số quần chúng Nga đă qui
tội cho ngành kỹ nghệ quốc pḥng là vai chính, đă
làm cản trở việc phát triển ngành kinh tế
của đất nước. Trong cải cách của ông
Gorbatchev, mục tiêu đầu tiên là giảm bớt
những chi phí về sản xuất vơ khí để làm
hồi sinh lại ngành kinh tế lụn bại của
đất nước. Nhưng những biện pháp đem
ra thi hành lại không phù hợp tư nào trong một hệ
thống cứng ngắt, nên đă hoàn toàn thất bại.
Sự tan ră của Liên Bang Xô Viết kéo theo sự sụp
đổ của Hồng quân. Dưới thời Liên Xô,
Hồng quân Nga có khoảng 4 đến 5,3 triệu binh sĩ vào đầu thập
niên 80, so với 2,1 triệu binh sĩ của Hoa Kỳ. Quân
đội của Nga, khi bắt đầu cuộc
chiến đầu tiên với Chechnya th́ quân số của
Nga chỉ c̣n lại 2,1 triệu vào năm 1994. Giờ
đây người ta ước lượng quân số Nga
vào khoảng 1,2 đến 1,3
triệu; con số này sẽ c̣n bị Hội Đồng
An Ninh Nga giảm xuống vào 900,000 thôi trong một
tương lai gần đây. Việc giảm bớt quân
số không nằm trong phạm vi tái cấu trúc quân
đội, mà do một sự sụp đổ bất
ngờ, chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử
nước Nga.
Lư do của
sự sụp đổ là v́
Liên Xô đổ tiền quá nhiều vào cho quân
đội và khu công nghiệp kỹ nghệ quốc pḥng.
Vào đầu thập niên 80, ngân sách quốc pḥng của
Liên Xô lên tới từ 250 tỷ đến 300 tỷ
mỹ kim, coi như gần một nửa số thuế
thu nhập của quốc gia. Trong năm 2000, ngân sách quốc
pḥng của Nga chỉ c̣n lại 6 tỷ mỹ kim. Từ
1991 đến 1997 sản xuất về vũ khí của
Nga giảm bớt 80%. Năm 1990, khi Liên Xô chưa sụp
đổ th́ sản xuất được 1600 chiến
xa, nhưng sau khi Liên Xô tan ră, th́ Nga chỉ sản xuất
được có 5 chiến xa vào năm 1997. Cũng trong
thời gian nói trên, số phi cơ sản xuất tụt
từ 430 chiếc đến 70 chiếc. Sở dĩ
kỹ nghệ quốc pḥng của Nga c̣n sống vất
vưỡng được là nhờ có xuất cảng
được 3 tỷ mỹ kim vũ khí vào năm 1999. Cho
đến giờ này, lực lượng quân sự
của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO) hơn hẳn Nga về lượng cũng như
phẩm kể cả vũ khí hạch tâm, riêng quân số
của khối NATO đông gấp 3 lần quân số của
Nga. Mặc dầu có sự
phân giải, quân đội Nga vẫn tương
đối có mặt trong đời sống chính trị
của đất nước. Trong một số biến động
chính trị vào thập niên cuối cùng của thiên niên
kỷ 2000, quân đội ngả về phe nào là phe ấy
thắng. Trong cuộc nổi dậy của phe bảo
thủ, vào tháng 8, 1991, quân đội đă từ chối không chịu tham
dự, nên cuộc nổi dậy đă thất bại. Trái
lại, vào tháng 10, năm 1993, ông Yeltsin đă nhờ quân
đội cứu và lật được quốc
hội, để rồi tiến tới việc thành
lập một chính quyền mạnh. Đáng lư ông tổng thống
đầu tiên của nước Nga phải theo đà
đó để đưa ra những cải cách về quân
đội trước năm 1997, nhưng ông ta cứ
lần khân không dám tiến hành, v́ sợ quân đội
sẽ lật đổ ông ta để tái lập lại
Liên Bang Xô Viết. Cho nên đối với quân đội,
ông ta áp dụng hai chính sách: Phân chia quân đội ra thành
nhiều đơn vị riêng biệt có bộ chỉ huy
biệt lập, đồng thời thành lập song song
với những đơn vị này một số
đơn vị tuyệt đối trung thành với ông ta.
Lư do chính trong
sự sụp đổ quân đội của Liên Bang Xô
Viết là v́ nền kinh tế nói chung của đất
nước không đối chiếu với quyền
lợi của nền kỹ nghệ quốc pḥng. Trong
gần một thập niên đeo đuổi cải cách
về kinh tế, t́nh trạng nêu trên cũng chẳng thay
đổi chút nào. Tinh hoa của giới kinh tài mới nhô
lên sau khi Liên Xô sụp đổ, vẫn lánh xa Cơ Quan
Kỹ Nghệ Quốc Pḥng. Trong khi đó th́ quân đội
thấy họ không có chuyện ǵ mà phải bênh vực
quyền lợi của những tên "trùm chính trị"
này. Cứ nh́n vào cuộc tranh chấp về tài nguyên
năng lượng dưới bể Lư Hải th́ rơ:
Mặc dù quân đội Nga có một thực lực hùng
hậu trong vùng này, họ cũng vẫn không gây áp lực
ǵ để cho các công ty dầu hỏa Nga được
ưu đăi. Các cấp chỉ huy quân đội tại
vùng bể Lư Hải cho rằng quân đội chỉ
được dùng để phục vụ quyền
lợi quốc gia chứ không phải để phục
vụ quyền lợi của tư nhân. Sự phân giải
quân đội Nga càng thêm rơ rệt vào năm 1994, khi ông
Yeltsin có quyết định áp dụng giải pháp quân
sự đối với việc đ̣i tự trị
của
Thứ
Trưởng Bộ Quốc Pḥng, Tướng Boris Gromov
đă công khai tuyên bố là quân đội chưa sẵn
sàng để ứng chiến, và viên tướng Phó Tư
Lệnh của quân đội Edward Vorobyev đă từ
chối chỉ huy đoàn quân đi chinh phạt Chechnya.
Trong khi đó th́ bộ tham mưu phải chật vật
lắm mới kiếm được 30,000 quân và 80
chiến xa để thành lập đoàn quân "vấn
tội" Chechnya. Trong hai tháng đầu, cơ quan
mật vụ FSB (cựu KGB) và một số tướng
lănh trong Bộ Nội Vụ phải đứng ra
điều khiển việc hành quân, và sự thất
bại thiểu năo của cuộc hành quân "dẹp
loạn" này đă khiến cho các sĩ quan tham gia
cuộc chiến vô cùng mất mặt và họ chỉ trông
có một cơ hội khác để phục thù. Ảnh
hưởng của cuộc thất bại này đưa
đến việc cải tổ guồng máy quân
đội vào năm 1997: giảm quân số xuống c̣n 1,2
triệu người và chia ra làm 4 cục: bộ binh,
hải quân, không quân và lực lượng chiến
lược. Nhưng v́ việc cải tổ đưa ra
quá hấp tấp nên đă gặp phải nhiều vấn
đề nan giải như vấn đề dân số
bị sút giảm, ngân sách thiếu hụt, guồng máy chính
quyền vô hiệu, và tệ nạn tham nhũng và hối
mại quyền thế lan tràn khắp nơi. V́ thất
bại trong vụ chinh phạt
Khi
hiệp ước Start II hạn chế số
lượng đầu đạn nguyên tử
được 2 chính phủ Nga và Hoa Kỳ kư kết,
nhưng bị quốc hội Nga ngâm lại v́ có sự
lủng củng giữa Yeltsin và quốc hội và phải
chờ đến 7 năm sau mới được
chấp thuận vào ngày 14 tháng 4, 2000, sau khi Putin lên nhậm
chức, được các nhà b́nh luận quốc tế
cho đó là dấu hiệu quốc hội Nga muốn
chứng tỏ thái độ hợp tác đối với
tân Tổng Thống Putin; nhưng sự thật của
vấn đề là quốc hội Nga đành phải
chấm dứt thái độ trịch thượng coi
thường TT Clinton v́ họ nhận được tin là
Hoa Kỳ đang có dự tính thiết lập hàng rào
hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch, nên
họ phải phê chuẩn hiêp ước Start II với hy
vọng cầm chân Hoa Kỳ không tiến hành dự tính
lập hàng rào hỏa tiễn để pḥng thủ lănh
thổ của họ nữa. Hiệp ước Start II
dự trù giảm bớt số đầu đạn nguyên
tử của hai bên Nga - Mỹ xuống c̣n độ 3,500
đầu đạn thôi. Đoạn hai nước
lại tiến tới việc điều đ́nh kư
hiệp ước Start III giảm số đầu đạn
nguyên tử xuống chỉ c̣n 1500 thôi; và Nga c̣n hăm là
sẽ có quyền rút khỏi hiệp ước Start II
nếu Hoa Thịnh Đốn vi phạm hiệp
ước ABM được kư kết vào năm 1972. Theo tiết
lộ của ông Alexander Goltz, một nhà b́nh luận về
quân sự của tuần báo Itogy th́:
"Hơn 70% vũ khí nguyên tử của Nga
đă quá cũ kỹ và trong một tương lai rất
gần đây số vũ khí đó cần phải
được thay thế v́ an ninh của chính nước
Nga".
Lời tuyên
bố của ông Goltz đă cho ta thấy sự đểu
cáng của Nga - v́ đầu đạn nguyên tử của
họ thiếu bảo tŕ nên trở thành vô dụng - họ
mới kéo Mỹ vào Start để buộc Mỹ cũng
phải hủy những đầu đạn nguyên tử
c̣n xử dụng được để cho ngang hàng
với họ. Nhưng Nga lại càng thêm lúng túng khi tàu
ngầm nguyên tử Kursk, chiếc tàu ngầm 2 vỏ
tối tân nhất của Nga bị nổ rồi
đắm luôn trong một cuộc thao diễn hải quân
ngoài khơi bể Murmansk, vùng Bắc nước Nga. Chính
chiếc tiềm thủy đỉnh này đă
đươc chọn để dẫn đầu hạm
đội Baltic của Nga đi "biểu diễn"
dọc theo bể Địa Trung Hải, để
"diệu vơ dương oai" với các nước
trong vùng Nam Âu Châu. Sau khi xảy ra vụ nổ này ngay bên
trong tàu và buộc Nga phải mướn một chiếc
tàu sửa chữa của Na Uy để t́m cách vào bên trong
chiếc tàu Kursk, th́ Hoa Kỳ đă thấy rơ sự
yếu kém về kỹ thuật của hải quân Nga ra sao
rồi. Nhân vụ chiếc tiềm thủy đỉnh
Kursk bị nổ trong pḥng máy rồi đắm ngay trong lúc
đang tham dự một cuộc thao diễn, chứng
tỏ chiếc tàu này được chế tạo rất
là cẩu thả và thiếu thời gian để trắc
nghiệm sự an toàn của nó, và đó cũng là bệnh
trầm kha của các công xưởng chế tạo vũ
khí, đóng tàu và phi cơ của Nga. Việc Trung Úy Victor
Belenko lái chiếc máy bay đánh chận tối mật MIG-25
của Không Quân Liên Xô bay qua đảo Hadakote (Nhật
Bản) t́m tự do vào ngày 6 tháng 9, 1976, đă trưng bày cho
giới quốc tế biết bất cứ ǵ cộng
sản nói ra đều chỉ đúng có 1/4, c̣n lại 3/4
là sai. Vào giữa thập niên 70, Liên Xô sản xuất ra
chiếc MIG-25, và hô hoán với thế giới đó là
chiếc phi cơ đánh chận (Interceptor) hữu hiệu
nhất thế giới. Hoa Kỳ bèn cho phi cơ quan sát
tối tân nhất của họ SR-76 bay lên chụp h́nh - và
tuy chụp được h́nh đấy nhưng máy móc bên
trong phi cơ này th́ họ vẫn mù tịt. May sao, vào ngày 6
tháng 9, 1976, đài phát thanh Nhật Bản loan tin giật gân
khắp thế giới là Trung Úy phi công Nga Victor Belenko đă
lái chiếc phi cơ tối mật MIG-25 qua đảo
Hadakote của Nhật để xin t́m tự do. Thật là
dịp may hiếm có độc nhất vô nhị
đối với Hoa Kỳ để t́m hiểu những
bí mật của chiếc phi cơ này. Chuyên viên Hoa Kỳ
đă được gởi sang Nhật để tháo
chiếc phi cơ này ra dưới sự chứng kiến
của "cố vấn" Belenko, để rồi sau
đó, toàn bộ phi cơ lẫn "cố vấn"
Belenko đều được đưa sang Hoa Kỳ.
Trước khi rời Nhật Bản, phi công Belenko
nhận được công điện của Tổng
Thống Ford chấp nhận cho y được vào tỵ
nạn chính trị tại Mỹ, v́ lúc ấy đang c̣n
t́nh trạng chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Hoa
Kỳ.
Sau
khi chuyên viên quân sự Hoa Kỳ t́m hiểu tường
tận chiếc phi cơ MIG-25, người ta mới
thấy được tŕnh độ yếu kém của
nền kỹ thuật Liên Xô, và những ǵ họ khoe khoang
đều sai sự thật. Đầu tiên, phi cơ
được làm bằng loại thép cứng, chứ không
phải bằng nhôm; nhôm chỉ được dùng
để bọc bên trên thép mà thôi. V́ toàn phi cơ
đều bằng thép nên phi cơ rất nặng và v́
thế phải dùng những động cơ thật
hết sức mạnh mới có thể nhấc phi cơ
lên không trung được. Phi cơ được trang
bị hai cánh rất lớn dùng để chứa 14
tấn nhiên liệu và chỉ bay được - kể
cả cất cánh và đáp xuống phi đạo - có 70 phút
thôi là hết xăng. Một chiếc phi cơ chiến
đấu mà chỉ có tầm hoạt động 186
dặm tức là 300 Km th́ quả thật quá yếu; c̣n
nếu bay thẳng theo đương chim bay th́
được khoảng 900 cây số theo lư thuyết.
Belenko cho biết trong chuyến bay qua phi trường
6. Hoa Kỳ Pḥng Vệ Và Kiểm Soát Chiến
Lược.
Vừa
mới vào năm đầu của thế kỷ 21, th́ trên
chính trường quốc tế đă xảy ra hai sự
việc rất đáng chú ư có thể ảnh hưởng
đến nền ḥa b́nh thế giới về lâu về
dài sau nầy: đó là việc dự trù thiết lập
hàng rào hỏa tiễn bảo vệ toàn lănh thổ của
Hoa Kỳ, và tiếp theo đó là việc Nga và Trung Cộng
đang xúc tiến mạnh mẽ việc kư kết một
hiệp ước tương trợ lẫn nhau vào tháng 6,
2001, nhân chuyến viếng thăm thiện chí thủ đô
Mạc Tư Khoa của Tổng Bí Thư Trung Cộng Giang
Trạch Dân. Cuộc tranh luận về chiến
lược tại Hoa Kỳ bắt đầu sau khi chiến
tranh lạnh chấm dứt và hướng chủ
đề dính líu đến cuộc cách mạng về
những vấn đề quân sự, đặc biệt những chủ trương
của Hoa Kỳ liên quan đến những cuộc xung
đột trong tương lai trên thế giới. Sự
tiến triển này bắt nguồn từ những
tiến bộ về kỹ thuật, đặc biệt
về sự chính xác ở những khoảng cách thật
xa, sự cung cấp tin tức thường xuyên về
những lực lượng đối đầu,
những mục tiêu bất thần. Và khái niệm chính
được chấp nhận là khái niệm về
kiểm soát chiến lược. Kiểm soát chiến lược, theo nguyên
tắc, được áp dụng cho tất cả các
loại xung đột và phải chú trọng đến
những t́nh thế địa phương và khu vực,
về trạng thái tự nhiên của đối
phương như diện tích của đất
nước, dân số, tài nguyên, nhất là chế
độ chính trị và những phương tiện
cần thiết để lật đổ chế
độ đó hoặc vô hiệu hóa hay cô lập nó. Và
chính trong khung cảnh đó, Hoa Kỳ đă áp dụng trong
các trận chiến Vùng Vịnh, các vùng Bosnia và Kosovo ở
Nam Tư và rất có hiệu quả. Theo ông Ivo Daadler một cố vấn về
chương tŕnh hỏa tiễn chống hỏa tiễn
của ṭa Bạch Ốc cho đến năm 1996, và
hiện nay là một chuyên gia nghiên cứu của viện
Brookings Institute of Washington, th́ mặc dầu đă có 3
lần thất bại trong việc phóng thử một
hỏa tiễn để chống lại hỏa tiễn
tấn công - lần thứ ba xảy ra vào ngày 7 tháng 7, 2000;
nhưng v́ sự thất bại là do những trục
trặc nhỏ không đáng kể, nên theo ông Daadler, th́
vấn đề thiết lập hàng rào hỏa tiễn
chống hỏa tiễn không c̣n nằm trong phạm vi nghiên
cứu nữa, mà chắc chắn sẽ được
thực hiện và quyết định sẽ do tân TT George
W. Bush quyết định v́ chương tŕnh này nằm
trong phạm vi chiến lược quân sự của Hoa
Kỳ.
Một
số chuyên gia quân sự cũng đă chấp nhận là
trong trận chiến tranh Vùng Vịnh đă có một
số sai lầm hoặc thiếu chính xác trong khi pháo kích vào
Iraq hoặc ném bom xuống Kosovo trong cuộc đánh phá quân
đội Nam Tư trung thành với Milosevic. Nhưng từ
đó so với bây giờ đă có rất nhiều tiến
bộ đáng kể trong lănh vực lấy tọa
độ để pháo kích vào mục tiêu cho chính xác
hơn, nếu đem so sánh kết quả thu lượm
được trong hai cuộc chiến Vùng Vịnh và Kosovo.
Và theo các chuyên gia đó th́ thế giới đang
bước vào một giai đoạn mới trong lịch
sử của các cuộc chiến tranh. Qua "kiểm soát
chiến lược", các chuyên gia quân sự đă
thấy rơ là qua kinh nghiệm, Hoa Kỳ đă đạt
được những điểm chính trong các mục tiêu
chính trị của họ với những thiệt hại
không đáng kể.Phương tiện chính của sự
"kiểm soát chiến lược" là sức mạnh
về tiềm lực không gian của Hoa Kỳ. Nhờ làm
chủ không gian hiện nay, Hoa Kỳ có thể
thường trực thấy được hoàn cảnh
của đối phương, những phương
tiện kinh tế cũng như quân sự của họ,
đồng thời cũng kiểm soát được
những động tác và hoạt động của
họ để rồi từ đó có thể phân tích
thường xuyên những tin tức thâu thập
được, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên
những mục tiêu cần phải hủy diệt,
đồng thời vạch kế hoạch cho những
sứ mạng mới cần phải được thi
hành. Trong cuộc chiến Vùng Vịnh, Hoa Kỳ đă
thực hiện một cuộc không tập vào lực
lượng quân sự của Iraq liên tiếp trong 43 ngày và
tiếp theo sau đó là tấn công bằng bộ binh và
cơ giới trong 4 ngày liền th́ Saddam Hussein xin
đầu hàng. Trong cuộc chiến tranh ở Bosnia, không
quân Hoa Kỳ oanh tạc chính xác 300 mục tiêu và chỉ
mất có 2 phi cơ và 2 người lính; c̣n bộ binh
của Đồng Minh th́ được giao cho những
cuộc hành quân ở dưới đất. Ở Kosovo
thuộc Nam Tư, cuộc oanh tạc kéo dài 78 ngày, rất
chính xác và nhắm vào các mục tiêu dân sự rải rác trong
các vùng Serbia, Montenegro và Kosovo. Không có một người lính
Hoa Kỳ nào chết cả, và không quân Hoa Kỳ chỉ
mất một phi cơ F-117 và khoảng 15 phi cơ không
người lái, theo thông cáo của Ngũ Giác Đài.
Trước
kế hoạch thiết lập hàng rào hỏa tiễn
để chống lại hỏa tiễn lạ từ bên
ngoài bắn vào nội địa Hoa Kỳ, đă có một
loạt kế hoạch như Bambi, Sentinel, Safegard và Thế
Chủ Động Trong Việc Pḥng Vệ Chiến
Lược của TT Reagan chủ trương phóng
lên không gian một hệ thống chống hỏa tiễn
hữu hiệu để chống lại những hỏa
tiễn địch trong tầm đạn đạo cao
của chúng, và đồng thời cũng có khả năng
bắn hàng loạt hỏa tiễn tấn công của Hoa
Kỳ vào toàn cơi nội địa của địch.
Kế hoạch này có thể giúp cho Hoa Kỳ chiếm
được ưu thế tối thượng về
quân sự, và tránh được sự đứng ngang
hàng với Nga về vũ khí nguyên tử, một thế
đứng tuy bấp bênh đối với Hoa Kỳ
nhưng giữ được ḥa b́nh giữa hai siêu
cường trong suốt thời kỳ "chiến tranh
lạnh". Khi các hăng truyền h́nh và báo chí loan tin là Hoa
Kỳ đang có dự tính thiết lập một hàng rào
hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch
để bảo vệ toàn lănh thổ Hoa Kỳ, th́ các
nước chế tạo và tồn trữ bom nguyên tử
đều lên tiếng phản đối, viện lư do là
dự tính của Hoa Kỳ có thể tạo nên một
cuộc chạy đua sản xuất hàng loạt hỏa
tiễn thêm nữa, làm cho những kho hỏa tiễn
chiến lược nguyên tử mất hết cả
sự tín nhiệm trước uy lực của hàng rào
hỏa tiễn chống hỏa tiễn địch của
Hoa Kỳ. Nga là nước cầm đầu việc
chống đối và cuối cùng đă hăm dọa Hoa
Kỳ là sẽ dùng biện pháp phóng thật nhiều
hỏa tiễn đến mức độ như mưa,
th́ hàng rào pḥng vệ của Hoa Kỳ sẽ trở thành vô
dụng. Nhưng giới chuyên gia của khối thế
giới tự do quá quen thuộc với những lời
diệu vơ dương oai vô căn cứ của Nga, nên
họ cũng chả cần tranh luận làm ǵ.
Sau
Nga, thiết tưởng chúng ta cũng nên đề
cập đến tiềm lực nguyên tử của Trung
Cộng. Vũ khí chiến lược về nguyên tử
hiện nay của Trung Cộng được ước
lượng tối thiểu là 60 hỏa tiễn mang
đầu đạn nguyên tử có tầm hoạt
động xa. Theo ḥa ước Start II th́ Nga c̣n giữ
lại 3000 đầu đạn nguyên tử chiến
lược, dư sức để làm "mưa hỏa
tiễn" qua hàng rào hỏa tiễn pḥng vệ của Hoa
Kỳ. Nhưng đó là con số trên giấy tờ. Trên
thực tế - v́ thiếu bảo tŕ và quá cũ kỹ -
nên những đầu đạn nguyên tử đó, có phóng
đi được nhiều lắm cũng là chỉ
một ngàn thôi, đó là theo dự tính của Ngũ Giác
Đài. C̣n Trung Cộng - muốn được quốc tế
nể v́, cần phải tiếp tục sản xuất
thêm đầu đạn nguyên tử để kho
đạn nguyên tử của họ không bị Nga và Hoa
Kỳ bỏ quá xa và như vậy là đă tạo ra
một cuộc chạy đua mới trong lănh vực
sản xuất đầu đạn nguyên tử cả
về lượng lẫn về phẩm nữa, mà hễ
Trung Cộng ráng sức sản xuất thêm đầu
đạn nguyên tử th́ Ấn Độ và Pakistan cũng
đâu có chịu lép vế và sẽ cố gắng tăng
cường kho đầu đạn nguyên tử của
họ, để rồi sẽ kéo theo tất cả các
quốc gia có tiềm năng nguyên tử khác trên thế
giới. Nhưng khoa học và kỹ thuật về không
gian càng ngày càng tiến bộ, nên khuynh hướng “chỉ đạo “ trong
cố gắng tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ
cũng v́ vậy mà cần phải xét lại và họ
đă dành ưu tiên cho hiệu năng về không gian
của họ để dùng làm lợi khí chính trong
chương tŕnh "kiểm
soát chiến lược". Những nhà lănh đạo
cùng chuyên gia Hoa Kỳ đă biết khai thác tiềm năng
này và đem áp dụng nó trong việc thiết lập hàng
rào hỏa tiễn nguyên tử chống hỏa tiễn
để bảo vệ lănh thổ của họ mà không có
hỏa tiễn nào của địch có thể vượt
qua. Hỏa tiễn pḥng vệ này sẽ được
đặt ngoài biển, trên các tàu chạy trên mặt
nước hay lặn sâu dưới đáy biển,
hoặc tại các căn cứ không quân rải rác khắp
hoàn cầu, nhưng đó chỉ là những trạm
tiếp vận mà thôi, c̣n chiều sâu chiến lược
cần thiết cho lực không gian - theo các chuyên gia - th́
chỉ nằm trong nội địa Hoa Kỳ mà thôi.
Từ đó nẩy sinh ra kế hoạch hiện nay là
đặt khoảng một trăm hỏa tiễn
chống hỏa tiễn tại các căn cứ để
phóng tại hai nơi là
Và cũng chính
tại những nơi đó,
Hoa Kỳ cần phải thiết lập những hệ
thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn để
bảo vệ những vùng quan yếu mà họ cho đó là
những nơi đang trực diện với những
kẻ thù hiện nay chưa xuất đầu lộ
diện. Đối với những người ủng
hộ việc lập hàng rào hỏa tiễn chống
hỏa tiễn để bảo vệ lănh thổ Hoa
Kỳ, việc do dự của chính quyền Clinton không
được họ chú ư v́ họ chỉ đặt hy
vọng vào chính phủ sắp tới, nhất là vào ông
George W. Bush khi ông xuất hiện trước câu lạc
bộ báo chí quốc gia tại Hoa Thịnh Đốn, và
đứng bên cạnh ông ta là đại tướng
hồi hưu Colin Powell, cựu chủ tịch hội
đồng các tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ
trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh và cũng là
người ủng hộ việc thiết lập hàng rào
hỏa tiễn pḥng vệ này. Giờ đây ông George W. Bush
đă trở thành vị tổng thống thứ 43 của
Hoa Kỳ và chương tŕnh lập HÀNG RÀO HỎA TIỄN
CHỐNG HỎA TIỄN có rất nhiều hy vọng
để được chấp nhận, v́ trong chính
phủ của Tổng Thống Bush hiện nay có nhiều
bộ trưởng ủng hộ chương tŕnh này,
nhất là những bộ có liên quan đến vấn
đề an ninh của đất nước như ông
Donald Rumsfeld, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, ông Colin Powell,
Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, và bà Condoleeza Rice,
Cố Vấn Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ.
Ngày
26 tháng 1, năm 2001, ngày mà tân Tổng Thống Bush làm lễ
tuyên thệ nhậm chức Bộ Trưởng Quốc
Pḥng cho ông Rumsfeld và gặp 17 ông thống đốc
tiểu bang của cả hai đảng Cộng Ḥa và Dân
Chủ tại ṭa Bạch Ốc. Trong dịp này, TT Bush tuyên
bố ông vẫn giữ nguyên lời hứa của ông khi
ra vận động tranh cử là sẽ đơn
phương giảm bớt số đầu đạn
nguyên tử tồn trữ trong kho hiện nay mà không cần
đ̣i hỏi Nga phải giảm bớt số lương
đầu đạn nguyên tử của họ. Lời
tuyên bố thứ 2 là Thiết Lập Hàng Rào Hỏa
Tiễn Chống Hỏa Tiễn để bảo vệ
ḥa b́nh. Cũng trong ngày đó, Tổng Thống Putin của
Nga lên tiếng khẳng định rằng Nga vẫn
chủ trương duy tŕ hiệp ước chống
hỏa tiễn ABM. Trong khi đó, Bộ Trưởng
Quốc Pḥng Rumsfeld, sau khi tuyên thệ, đă cho báo chí hay
hiệp ước ABM kư từ năm 1972 dưới
thời Liên Bang Xô Viết nay không c̣n có giá trị nữa.
Theo ông Rumsfeld "giờ
đây chúng ta đang ở trong một thế giới khác
trước và Liên Bang Xô Viết đă đi vào quá khứ
rồi". Quyết định của Hoa Kỳ theo
đuổi chương tŕnh thiết lập hàng rào hỏa
tiễn chống hỏa tiễn địch đă
đặt Nga vào một thế rất bối rối v́ khi
hiệp ước ABM bị Hoa Kỳ cho là vô giá trị,
th́ Nga đă mất tất cả khả năng để
cầm chân Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua về
vũ khí nguyên tử sắp tới đây, nhất là trong
giai đoạn này, giai đoạn mà Nga chỉ c̣n dựa
vào lực lượng nguyên tử độc nhất
của họ để c̣n có chút thế đứng
với các cường quốc trên thế giới.
Quyết định của Tổng Thống Bush nhằm
triệt tiêu mọi đe dọa đến từ phía
hỏa tiễn nguyên tử là một thách đố khá
nghiêm trọng đối với nhà cầm quyền Nga hiện
nay. "Về mặt quân
sự, chúng ta không thể đua tranh với Hoa Kỳ
được, v́ khó khăn lắm, quả thật là vô
phương. Tất cả những
ǵ chúng ta có thể làm là t́m
một cách trả đũa không đối xứng"
đó là lời tuyên bố của ông Evgueni Kozhokin, giám
đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược
của Nga. Và Tổng Thống Putin đă hành động
theo chiều hướng đó để đối phó
với Hoa Kỳ trong những ngày sắp tới. Hành
động thứ nhất của Nga dùng chiến tranh
khủng bố để khuynh đảo Hoa Kỳ và hành
động thứ hai là liên kết với Trung Cộng
để cùng mở một mặt trận chính trị và
quân sự đại qui mô để hạ uy tín của
siêu cường độc nhất trên thế giới mà
chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau của bài
tham luận này.
7.
Tam Quốc Chí Diễn Nghiả.
Đầu tháng 12, năm 2000, Tổng
Thống Nga Putin đă triệu tập tại Minsk một
số đại diện của 10 quốc gia trong cộng
đồng các tiểu quốc trước kia ở ngoài
ŕa bao quanh Liên Bang Xô Viết, mà hiện nay Mạc Tư Khoa
là thành phần điều hành liên minh. Từ đầu
năm 2000, đă có những cuộc thảo luận
nhằm đi đến việc thành lập một Trung
Tâm Chống Khủng Bố nhằm triệt tiêu những
hành động quá khích của phe Hồi Giáo Cực
Đoan. Nhưng khi gần đi đến việc kư
kết bản thỏa ước th́ có 5 trong 10 nước
là Georgia, Ukraine, Moldavia, Azerbeidjan và Uzbekistan đă từ
chối không chịu kư tên vào bản thỏa ước,
viện lư do là trước khi đặt bút kư, họ
cần phải sửa đổi lại hiến pháp
của họ đă được thảo ra và chấp
thuận vào những năm 1990, 1991 hay 1992 tùy theo quốc
gia. Sở dĩ có chuyện từ khước vào phút
cuối cùng như thế là v́ cấp chỉ huy của các
nước thật sự quốc gia này thấy rơ ư
đồ mờ ám của Tổng Thống Nga Putin.
Điểm thắc mắc thứ nhất của các
vị đại diện là dưới chiêu bài chống
nạn khủng bố, Nga muốn đặt lại trong
nước của họ những căn cứ quân sự
kèm theo đó những "ăng-ten" của các cơ
quan mật vụ của FSB (cựu KGB) và của GRU (Quân
Báo). Điểm thắc mắc thứ hai là từ
mười tháng nay những nước tham gia hội
nghị có đặt một số câu hỏi với
nước Nga, nhưng Nga đă tránh né không chịu trả
lời, hay nói cho đúng là tránh trả lời v́ sợ
lộ bàn tay lông lá của họ giựt dây bên trong. Và
dưới đây là những câu hỏi được
đặt ra cho Nga mà không được trả lời:
Nếu muốn chống khủng bố thật sự,
tại sao chúng tôi không được Nga chuyển cho
những tài liệu về Shamil Bassaiev và 500 thành viên trong
tổ chức của y, đă đứng ra chống
lại Maskhadov, đương kim thủ lănh chính phủ
lâm thời Chechnya. (người viết cũng xin báo cho
bạn đọc hay Bassaiev là một tên đánh giặc
mướn, và được quân báo GRU của Nga dùng
để đánh phá quân cách mạng Chechen của Maskhadov)
Tại sao có
sự im lặng về tên Vladimir Antiufeiev từng bị
chính quyền Latvia lùng bắt từ 1991 về tội ám sát
và khủng bố ở Moldavia và đă từng bị tướng
Lebed của Nga lên án ?
Tại sao từ
hơn hai năm nay, phong trào Hồi Giáo Herb-e-Tahrir ở
Uzbekistan có thể tự do xâm nhập vơ trang vào lănh thổ
của Turkmenistan và Kirghisie để cướp bóc rồi
trở về lại Tadjikistan an toàn trong khu vực của
lănh tụ Massoud ?
V́ nước Nga
có nhiều giao hảo tốt với
Tiểu quốc
Tadjikistan là trung tâm điểm dùng để chuyển
vận hàng tháng 70% số lượng ma túy sản xuất
tại
Qua những câu
hỏi không được Nga trả lời nêu trên,
người ta mới biết tại sao "Hội
Nghị Minsk" không được báo chí của Nga và
quốc tế đề cập đến. Tuy nhiên hội
nghị này sẽ được Nga triệu tập
trở lại vào tháng 3, năm 2001, tại
Sự liên hệ giữa Nga và Iran có từ
lâu, sau khi quần chúng Iran lật đổ quốc
vương Reza Pahlevi, và đưa giáo chủ Khomeini -
lưu vong từ Pháp về - để thành lập một
chính quyền giáo trị quá khích Hồi giáo Shia. Cũng xin
lưu ư bạn đọc chính quyền giáo trị Hồi
giáo Shia bề ngoài th́ dựa vào Hồi Giáo nhưng bên trong
bị Cộng Sản Liên Xô nội tuyến rất
nặng. Khameini, đương kim giáo chủ Iran, là
người tùy tùng thân cận nhất của giáo chủ
Khomeini, và cũng là đảng viên đảng Cộng
Sản Tudeh của Iran, được cơ quan mật
vụ KGB đưa qua huấn luyện lần thứ
nhất tại MạcTư Khoa và lần thứ hai tại
Nam Yemen. Con trai của giáo chủ Khomeini từng theo cha qua
lưu vong tại Pháp qua sự vận động của
đảng Cộng Sản PCF Pháp cũng là đảng viên
đảng Cộng Sản Tudeh của
Tuy giờ đây
ngọn lửa đấu tranh đ̣i tự do dân chủ
đang âm ỉ cháy trong ḷng quần chúng, nhưng thế nào
ngọn lửa cách mạng nhằm lật đổ bạo
quyền cộng sản đội lốt giáo sĩ
cũng sẽ bùng nổ trong một tương lai gần
đây. Trong khi chờ đợi Khatemi ra đi, có 3
người đang lăm le nhảy ra thay thế ông ta.
Đó là Ali Akbar Veleyati, trước kia từng làm Bộ
Trưởng Ngoại Giao có khả năng nhất và
cũng ít bị tai tiếng nhất; người thứ
hai, Mir Hossein Moussavi, trước kia từng làm Thủ
Tướng, một nhân vật nguy hiểm nhất
đối với Tây Phương v́ thân Libya và có nhiều
liên hệ mật thiết với các trung tâm Hồi Giáo Quá
Khích trên thế giới. Người thứ ba, Nategh Nouri,
một tên giáo sĩ ngu đần, chỉ biết tuân
lệnh mà thôi. Hossein Moussavi rất thân cận với Ahmed
Khomeini, con của cố giáo chủ Khomeini và cũng là
bạn thân của Mohsen al Araki, một giáo sĩ
được bổ nhiệm qua Luân Đôn từ 1997
để phụ trách việc kết hợp các Phong Trào
Hồi Giáo tại Âu Châu. Al Araki, 52 tuổi, là một giáo
sĩ chống tuyệt đối việc Iran bắt tay
với Hoa Kỳ. Và đây là lần đầu tiên kể
từ năm 1979, Nga đă gởi qua thủ đô Teheran -
từ 26 đến 30 tháng 12, 2000, viên Bộ Trưởng
Quốc Pḥng Igor Sergueiev.
Trong các cuộc
thảo luận với nhà cầm quyền
" Những trường hợp xảy ra
tại Trung Á, tại Caucasus và Afghanistan, việc bành
trướng về hướng Đông của khối NATO
và Đồng Minh, đặc biệt nhất là Do Thái,
đă thúc đẩy 2 nước chúng ta phải t́m cho
được những điểm quán thông để cùng
nhau chống lại bất cứ lực lượng nào
muốn xâm nhập vào những vùng của chúng ta ".
Rất có thể
hai nước Nga và
Rất có thể
Nga và
Vào đầu thập niên 1990, khi phúc tŕnh
Wolfowitz nhấn mạnh ở điểm Hoa Kỳ phải
chuẩn bị để sẵn sàng ứng chiến trên
hai mặt trận cùng một lúc, TT Yeltsin của Nga
liền vội vă bay ngay qua Bắc Kinh để gặp
Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân của Trung Cộng,
để rồi ngay sau đó một hiệp ước
tương trợ ra đời, với lời lẽ
mạt sát bâng quơ một thế lực nào đó
muốn dùng vũ lực để làm bá chủ hoàn
cầu, và chuyện buồn cười nhất là không dám
nêu đích danh thế lực đó, nhưng mọi
người đều biết là thông cáo Nga-Hoa muốn ám
chỉ Hoa Kỳ. Chỉ có một chuyện nêu đích danh
Hoa Kỳ ra mà c̣n chưa dám làm, thử hỏi khi hội đồng
chuột Nga-Hoa muốn đem chuông đi buộc cổ mèo
Hoa Kỳ, thử hỏi chuột nào dám đứng ra
vỗ ngực để cáng đáng việc đó,
chuột Nga hay chuột Trung Cộng ? Và cứ mỗi
lần Hoa Kỳ lấy một quyết định
mới, có liên quan đến việc pḥng thủ
đất nước của họ, là y như rằng hai
nước Nga và Trung Cộng đều nhảy nhổm
lên như bị phỏng lửa, để rồi lại
tuyên bố vung vít, để rồi hai vị lănh tụ
của hai nước lại gặp nhau cấp tốc,
rồi lại cùng nhau kư kết hiệp ước
tương trợ để rồi chẳng làm ǵ cả
v́ có muốn làm cũng không làm ǵ được chú mèo Hoa
Kỳ, v́ móng chân của chú quá ư sắc bén lại toàn là
móng nguyên tử . Lần này th́ Tổng Thống Putin của
Nga bay sang Bắc Kinh để gặp Tổng Bí Thư
Giang Trạch Dân vào tháng 7, năm 2000, để hai bên cùng
nhau thảo luận vấn đề trọng đại
liên quan đến Hàng Rào Hỏa Tiễn Chống Hỏa
Tiễn của Hoa Kỳ; và sau đó th́ cuộc thảo
luận lại tiếp tục tại Mạc Tư Khoa
để đi vào chi tiết luôn trong hai ngày 27 và 28 tháng 12,
2000, giữa hai Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao
của hai nước là Alexander Losyukov và Liu Guchang. Phát ngôn
viên Bộ Ngoại Giao Nga cho biết là hiệp ước
tương trợ giữa hai nước Trung Hoa và Nga
đánh dấu sự thành công về ngoại giao của
Nga, v́ trước đó Nga đă có kư một hiệp
ước tương tợ như vậy với Bắc
Hàn, đánh dấu chấm dứt sự cô lập của
Nga trên chính trường Đông Á Châu; đồng thời
Nga cũng cho biết là Nga và Iran đă thỏa thuận
tiến tới việc hợp tác chặt chẽ về
quân sự cũng như về lănh vực an ninh giữa hai
nước trong khu vực phía Nam biên giới của Nga.
Theo ông Jonathan
Pollack, Chủ Tịch Viện Nghiên Cứu Chiến
Lược tại Viện Hải Chiến (The Naval War
College), th́ hiệp ước tương trợ giữa
Trung Hoa và Nga phản ảnh sự liên kết khắng khít
giữa hai nước và biểu lộ sự lo âu của
họ đối với chính quyền Tổng Thống Bush
ở Hoa Thịnh Đốn. Theo ông Pollack, vật xúc tác làm
cho hai nước Nga, Hoa xáp lại gần nhau, là việc
cùng nhau chống lại đường lối ngoại
giao của tân chính phủ Hoa Kỳ, nhất là khi Hoa Kỳ
bày tỏ quyết tâm xúc tiến mạnh việc thiết
lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn
địch. Năm 1998, Nga và Trung Cộng đă cùng nhau
thỏa thuận là đến năm 2000, việc giao
thương giữa hai nước sẽ lên đến 20
tỷ mỹ kim. Nhưng cho đến năm ngoái th́ con
số giao thương chỉ tới mức 8 tỷ
mỹ kim mà thôi. Tuy nhiên t́nh trạng tŕ trệ này đă có
phần thay đổi từ khi Mỹ ra lệnh cấm
vận, cấm bán vũ khí cho Trung Cộng sau vụ đàn
áp sinh viên, thanh niên tại Thiên An Môn. Nhờ đó mà Nga
đă bán vũ khí cho Trung Cộng hàng năm vào khoảng 1
tỷ mỹ kim gồm đủ loại như phi cơ
chiến đấu, tiềm thủy đỉnh, 4 khu
trục hạm và 48 hỏa tiễn chống tàu chiến.
Loại khu trục hạm mà Nga bán cho Trung Cộng là
loại khu trục hạm Sovremenny có mang loại hỏa
tiễn Sunburn chống tàu chiến và như thế có
thể làm phương hại đến cả hàng không
mẫu hạm của Hoa Kỳ nữa. Sau vụ Thiên An
Môn, Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ đă có những hành
động độc tài trong vụ Kosovo ở Nam Tư,
và có thái độ bất măn đối với Hoa Kỳ
khi nước này đứng về phía Đài Loan
để chống lại mưu toan thôn tính đảo này
của Trung Cộng. Sau khi Hoa Kỳ có quyết định
thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa
tiễn địch, th́ Nga liền chụp ngay lấy
cơ hội này để kéo Trung Cộng vào trong một
thế liên minh nhằm chống lại Hoa Kỳ; mặc
dầu Hoa Kỳ đă giải thích với họ là hàng rào
hỏa tiễn được thiết lập ra
để chống lại những tấn công bất
thần của một số nước "du côn, không
đáng tin cậy" như Bắc Hàn, Iraq và Iran... Mặc
dầu được Hoa Kỳ giải thích như
vậy, nhưng Nga và Trung Cộng vẫn đề
quyết là ư đồ của Hoa Kỳ chỉ nhằm chống
hai nước họ mà thôi.
ChuSa
NewYork