Tác giả Khuyết Danh và thơ Vô Đề!

Hay là

Trả lại cho Caesar cái ǵ của Caesar”

 

Nếu nhân loại mọi người đều biết

Cộng sản là ǵ tự nó sẽ tan

Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si

Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt.

                                                                                  (Thế lực Đỏ - Vô Đề)

 

&

 

Bài viết này t́m hiểu về con người “thật nhưng Vô Danh làm tập thơ Vô Đề sau này được đặt tên là “Bản Chúc Thư của một Người Việt Nam” tác giả Khuyết Danh, “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”, “Hoa Địa Ngục I”. Vậy tác giả Vô Danh là ai? Nghi vấn về tác giả Vô Danh và tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I). Ai tạo dựng lên chuyện ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề từ năm 1980? Phân tích và so sánh sự khác biệt giữa 2 tập thơ để t́m “thi sĩ thật và thi sĩ giả!

 

V́ có nhiều độc giả nêu ra nhiều nghi vấn, nên bài khảo luận này dựa trên các câu hỏi đó để giải đáp phần nào những bí mật trên tập thơ Vô Đề trường thiên và bất hủ. Tác giả chỉ muốn tuyên dương tác giả Vô Danh v́ ông đă dâng hiến tất cả cuộc đời ông cho công cuộc chống Cộng và kể lể tội ác Cộng sản. Thơ Vô Danh đă trở thành bia miệng lịch sử cho nhiều thế kỷ nữa để cho ngàn đời sau hiểu rằng đă có một giai đoạn trong thế kỷ 20, dân tộc Việt đă bị chính những kẻ Nội Xâm, Nội Thù Cộng sản du nhập một chủ nghĩa và chính sách cai trị bóc lột nô lệ ngoại lai kinh tởm nhất gọi là Cộng sản Mác Xít, Lê Nin Nít, Xít Ta Lin nít, Mao Ít... để tàn phá đất nước dân tộc Việt Nam tới mức kiệt quệ, diệt chủng.

 

Trong đống bùn đen, đồng lầy Cộng sản, một đóa Hoa Sen nẩy sinh! Một người, tạm gọi là Vô Danh v́ chưa ai biết tên thật và lư lịch gốc gác, đă sinh ra và lớn lên giữa chế độ Cộng sản. Bị Cộng sản đọa đày, ông vẫn có một ư chí mănh liệt là phải làm sao phanh phui, tố cáo, tố giác tội ác của bọn “quỷ sứ lưu manh, tàn bạo tàn ác, tự nhận là “Cộng sản”, đă làm cho cả nước Việt đă trở thành một trại tù cung cấp lao động nô lệ . Toàn dân Việt đă trở thành tù nô lệ của chế độ Cộng sản. Mọi người, từ trẻ con trong bụng cho đến người già đều bị chúng bắt ở tù trong, tù ngoài, tù đủ cách, đủ kiểu, bị một bọn quỷ sứ cộng sản hành hạ cũng đủ cách đủ kiểu, làm cho toàn thể dân tộc sống dở, chết dở, có thể đi đến suy tàn, diệt chủng.

 

Thi Sĩ Vô Danh đă kín đáo làm nhiều bài thơ “ngục tù trong cảnh ngộ khủng khiếp, kinh hoàng của những người tù. Thi Sĩ Vô Danh đă ôm hoài băo là có một ngày nào đó ông có dịp vượt thoát để phổ biến những bài thơ kể tội ác cộng sản với thê giới bên ngoài. Nhưng năm tháng tù đày, với bệnh ho lao ra máu kinh niên, thể xác của ông đă tàn lụi dần. Trong sự tuyệt vọng, với cái chết chắc chắn sẽ đến, ông đem chút hơi tàn c̣n lại để liều mạng chạy vào ṭa Đại Sứ Anh Quốc để trao tập thơ và nhờ người Anh phổ biến ra ngoại quốc dùm, cho cả thế giới biết đến tội ác Cộng sản. Nhiệm vụ cuối cùng của ông đă thành công. Khi ông trở ra, bọn công an cộng sản khát máu dữ dằn xúm vào đánh đ̣n “tập thể” khiến cho cơ thể của ông đă kiệt quệ, nhưng trí óc ông măn nguyện, sẵn sàng chấp nhận cái chết không thể tránh.

 

Tập thơ Vô Đề đă trở thành bất hủ và bất tử. Nhưng tiếc thay, cũng như tác giả một tập thơ t́nh cảm bất hủ khác “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” đă vĩnh viễn không cho ai biết tên thật, tác giả Vô Danh đă, do ư muốn của ông là “phổ biến tập Thơ” cho thế giới, cho nhân loại và cho hậu thế, mà không bao giờ nghĩ đến được vinh danh hay nổi danh. Ngoại trừ bài thơ trường thiên “Đồng Lầy”, những bài khác đều không có đặt tên.

Nhận xét về t́nh huống của thi sĩ Vô Danh, người viết nghĩ rằng ông đă không c̣n ở thế gian này nữa ngay từ ngày ông đưa tập thơ vào ṭa Đại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội. Bài viết này cần phải có để “minh oan” cho ông? Để trả lại tác quyền cho ông, để vinh danh cho ông cho đến khi nào t́m ra tên thật hay là tông tích của ông.

 

Có thể sau khi tiêu diệt Cộng sản, sẽ có người cùng ở tù với ông c̣n sống sót, những người hàng xóm của ông ở Hà Nội. Những người từng quen biết với gia đ́nh nhỏ bé của song thân ông... để đứng ra làm nhân chứng và nói lên sự thật chăng? Có lẽ phải đặt ra một Ủy Ban truy tầm tung tích nhà thơ Vô Danh hay để vinh danh ông trước lịch sử, trước dân tộc, trước Văn Học Quốc Gia và Thế Giới.

 

Cán bộ Cộng sản lừa lọc bất cứ ai, lừa lọc toàn thể dân tộc để bảo vệ đảng tồn tại lâu dài. Chúng có đủ phương tiện báo chí, tiền bạc, và mưu kế lường gạt, bịp bợm, lưu manh nhất để đánh lừa người Việt, nhất là người Việt hải ngoại. Tiếp tay cho bọn cán bộ cộng sản trung kiên này, có các tổ chức chính trị, liên minh kháng chiến ma mănh, và lũ chính trị gia theo thời, chó săn, xanh vỏ đỏ ḷng, hợp tác với cán bộ Cộng sản thứ thiệt và một nhóm văn nô bồi bút nằm vùng quốc doanh hải ngoại.

 

Bài viết này không có ư đă kích cá nhân ông Nguyễn Chí Thiện này. Những dữ kiện quá khứ và cá nhân của ông Nguyễn Chí Thiện quá rơ ràng mà lại “không rơ ràng” về chức vụ quyền hành của ông với chế độ Cộng sản và tập thơ Vô Danh. Có thể ông Nguyễn Chí Thiện và các bạn hữu của ông và hai người giới thiệu ông Thiện với hải ngoại là ông Trần Nhu và ông Minh Thi đă “đúng và thật” khi nói rằng ông Nguyễn Chí Thiện là “thật” không phải giả. Phải chăng v́ đây là một màn kịch quốc gia và quốc tế nên cần phải “tạo ra nhân chứng” để có một câu chuyện giả có vẻ thật?

 

Ông Nguyễn Chí Thiện có anh ruột, cựu sĩ quan VNCH ở Hoa Kỳ và chị em ruột. Chúng tôi đặt vấn đề ông Nguyễn Chí Thiện này, người đă đến Hoa Kỳ ngày 1/11/1995, là thật hay giả. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề ai là thi sĩ “thật” của tập thơ Vô Đề, một tập thơ mà chính ông Nguyễn Chí Thiện cũng “không thể” đặt tên mà phải dùng tên (Hoa Địa Ngục) do người khác đặt...

 

Hăy trả lại cho Xê Da cái ǵ của Xê Da...! Người viết bài này kính cẩn mong rằng hương hồn ông đă khuất được hả dạ v́ những lư luận, lư đoán viết trong bài này, và không bị mang tiếng v́ kế hoạch mạo danh, bất xứng nhằm xóa “tên Vô Danh” của tác giả “thật” của tập thơ. Nếu ta hiểu Cộng sản th́ chúng ta cũng hiểu rằng chúng lợi dụng bất cứ một t́nh huống nào để đạt mục tiêu tuyên vận chính trị hải ngoại.

Người Việt cũng sẵn sàng đón nhận mọi sự đóng góp thêm, kể cả sự phê phán của quí độc giả để giúp cho vấn đề lịch sử, một nghi án thơ văn, được sáng tỏ, rơ ràng. Biết đâu khi viết bài này về đến Việt Nam. Cục Phản Gián hiểu rằng kế hoạch bịp bợm, dối trá của họ đă bị đổ vỡ. Những người quen biết tác giả Vô Danh hiểu rằng họ sẽ có dịp để nói lên sự thật và tên tuổi của một nhà thơ vĩ đại trong thế kỷ 20 của dân tộc Việt Nam.

Bài viết này theo chiều hướng khẳng định có hai nhân vật! Một người lớn tuổi là Vô Danh tác giả của tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I), con một, chỉ có cha mẹ già khoảng trên dưới 70 tuổi, song thân đă chết khoảng từ năm 1970 đến 1974 khi ông c̣n ở tù, cỡ tŕnh độ Pháp văn thật giỏi, không biết tiếng Anh, đă làm thơ, bị tù từ khoảng 1957-1958 đến 1978 hay là khoảng 20 năm, có được thả rồi bị bắt lại một vài lần, đă bị ho lao ra máu trong nhiều năm v́ t́nh trạng giam giữ quá cực khổ đói rách, đă đột nhập vào ṭa Đại Sứ Anh khoảng tháng 6 năm 1979 để đưa tập thơ nhờ phổ biến ra ngoại quốc, và đă chết ngay sau đó trong sự đánh đập tàn bạo, dă man của công an Cộng sản.

 

Người thứ hai là Nguyễn Chí Thiện, trẻ tuổi hơn rất nhiều. Biết tiếng Anh, Pháp nhưng không biết tŕnh độ cao thấp ra sao, có trí nhớ rất mạnh, chưa bao giờ bị bệnh lao và rất khỏe mạnh, có tài diễn thiết, hùng biện nhiều giờ không mệt mỏi, được các ông Trần Nhu, Minh Thi làm “chứng nhân” rằng đă biết ông Nguyễn Chí Thiện “trong tù” từ năm 1980 (lúc này Thi Sĩ Vô Danh đă chết rồi, bị đánh ngay trước ṭa Đại sứ Anh quốc). Và xác nhận rằng ông Thiện “chính là” tác giả tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. Tất cả những ǵ ông Thiện khai về lư lịch th́ rất sơ sài, ít chi tiết và có thể nói là không rơ ràng, khá “một chiều” v́ không ai có thể kiểm chứng. May ra sau này, sau khi tiêu diệt cộng sản, người ta mới có thể biết tung tích thật sự của ông Nguyễn Chí Thiện và nhà thơ Vô Danh chăng?

 

Ông Thiện đă nhận được giải thưởng quốc tế, đă nhận được khoảng 8 lạng vàng “khoảng 4,000 đôla của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh giao cho tại Hải Pḥng và có nhiều quà cáp giải thưởng khác nữa. Sau này, ông Thiện được nhà nước cộng sản cho đi Mỹ và đến Mỹ ngày 1/11/1995, trường hợp hiếm có và duy nhất trong 51 năm cai trị miền Bắc.

 

Bài khảo luận này khá dài v́ phải nhắc nhở lại những bài thơ của cả hai người Vô Danh và Nguyễn Chí Thiện, cho vấn đề luận bàn về thơ Vô Đề v́ có nhiều độc giả chưa có dịp đọc những bài thơ bất hủ! Phần viết về thơ Vô Đề có kư tên Vô Danh, và phần viết về thơ của ông Nguyễn Chí Thiện là những bài trong cuốn Hoa Địa Ngục tập 2 hay là "Hạt Máu Thơ" xuất bản khoảng tháng 3 hay tháng 4, 1996.

 

Trong một ngày tháng 6/1979. Một người lớn tuổi, khoảng trên 50 tuổi nhưng già xộm trông như ông già 70 tuổi, gầy g̣ ốm yếu, quần áo rách rưới, đă liều mạng chạy vào trong ṭa Đại sứ Anh và trao một tập giấy. Bằng một giọng mệt nhọc và yếu đuối trong tiếng thở mạnh hổn hển, xen lẫn với những tiếng ho, ông nói bằng tiếng Pháp thật lưu loát với người Anh. Đại ư ông chỉ muốn trao bản thảo tập thư của ông và mong người Anh sẽ phổ biến ra hải ngoại dùm, làm tiếng nói cho hàng triệu nạn nhân cộng sản. Người này không ngỏ ư xin tị nạn chính trị hay bất cứ một ân huệ nào nơi người Anh. Dĩ nhiên người Vô Danh này không yêu cầu người Anh “xin Cộng sản ban nhân quyền cho người Việt Nam” ông cũng không đ̣i ḥa hợp ḥa giải bất bạo động với cộng sản. Ông cũng hiểu rằng khi ra khỏi ṭa đại sứ, ông sẽ bị công an cộng sản “bạo động” với ông mạnh mẽ nặng nề, cho đến khi ông hết thở chúng vẫn chưa thôi!

 

Trong t́nh huống đó, nhà thơ Vô Danh không dám để tên thật của ḿnh vào tập thơ. Ông chỉ biết viết một bức thư “tuyệt mệnh” bằng tiếng Pháp “loại cao cấp, rất rơ ràng lưu loát” và không kư tên. Ông Vô Danh cũng không để cái ảnh đại gia đ́nh của cha mẹ vào tập thơ như ông Thiện khoe trong cuốn Hạt Máu Thơ. Có lẽ ông Vô Danh sợ rằng không đưa lọt, hoặc bị công an chận bắt th́ ông có thể quăng tập thơ đi, hoặc dấu vào đâu đó, để không bị bắt “v́ tên của ḿnh”, và có thể viết lại tập thơ và t́m cơ hội khác chuyển ra ngoại quốc. Trong mạng lưới công an dày đặc ở Hà Nội và Bắc Việt thời đó, những bài thơ của ông Vô Danh đă được tuyệt đối giữ bí mật, v́ thố lộ với bất cứ ai, hay nổi hứng phổ biến ngâm thơ, th́ có nghĩa là bị giết ngay và tập thơ cũng bị thủ tiêu. Ông Thiện khoe rằng có bàn với Phùng Cung về bài thơ “Anh Gặp Em” (sáng tác năm 1965) và Phùng Cung đề nghị thêm chữ “thôi” để bớt “tội” cho tên y sĩ công an.

 

Tŕnh độ Thi Sĩ Vô Danh khiến ta hiểu ông không phải bàn với ông Phùng Cung hay với bất cứ ai “thôi” trong thơ. Hoàn cảnh tù tội của ông Vô Danh khiến ông không thể gặp bất cứ ai để bàn về thơ. Nếu Phùng Cung có thấy ông Vô Danh th́ cũng phải tảng lờ v́ công an có thể bắt v́ “tội” dám nói chuyện với thành phần tù tội. Sau này ông Thiện c̣n khoe đă gặp và mạn đàm với Hoàng Minh Chính tức Thượng tướng công an phản gián Trần Ngọc Nghiêm. Ông Thiện cũng tiếc rằng ông quen biết nhưng không được gặp Trung Tướng Trần Độ mà chỉ được nói chuyện qua điện thoại. Ông Thiện nói vậy thôi chứ ai biết ông và Tướng Trần Độ “phê đảng để xây dựng đảng” đă cùng nằm trong một chiến dịch dân vận hải ngoại?

 

(V́ bài thơ viết quá dài nên tác giả không tiện phân tích về tính cách "phê đảng giả vờ""phê đảng để xây dựng" của Trung  Tướng Trần Độ thượng tướng công an Phản Gián, chủ nhiệm Hội Nghiên Cứu Mác Lê hậu thân của Đệ Tam Quốc Tế kiêm lư thuyết gia hàng đầu của đảng Cộng sản Việt Nam Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, và các hoạt động c̣ mồi "chống đảng giả vờ" của đại tá công an Phản Gián Nguyễn Xuân Tụ lấy tên là Hà Sĩ Phu "sĩ phu Bắc Hà" với người hải ngoại, đại tá "văn nghệ phản kháng" kiêm gián điệp loại nhà thổ Dương Thu Hương của Tổng Cục Phản Gián... Nguyễn Huy Thiệp được đảng cho đi Mỹ năm 1966 để gây tiếng tăm. Sau đó Thiệp được công an phản gián tổ chức cho điều hành một quán ăn loại “hắc điếm” sang trọng để tiếp đăi khách du lịch và ngoại kiều, nhất là người Mỹ).

 

Tác giả Vô Danh có lẽ cũng không muốn đưa ra tên tuổi để được nổi danh, nổi tiếng, nguyện vọng duy nhất của ông là tập thơ làm bằng máu và nước mắt của ông làm trong khoảng 20 năm trong ngục tù được phổ biến với thế giời bên ngoài. Tập thơ đă thể hiện sự đau khổ thầm lặng và ghê rợn của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới bạo quyền Cộng sản công an trị! Tác giả Vô Danh là người duy nhất có đủ tài năng thực hiện những án văn thơ bất hủ để thể hiện sự đọa đày trong ngục tù Cộng sản. Làm thơ và đưa thơ vào ṭa Đại sứ Anh, th́ ông đă măn nguyện và chờ đợi cái chết không thể tránh trong tay bọn công an chó sói Cộng sản.

 

Trước khi chạy vào ṭa Đại sứ Anh để đưa tập thư, Thi Sĩ Vô Danh đă hiểu rằng ông sẽ bị công an giết ngay tại chỗ. Vậy ông chỉ mong đưa được tập thơ và mục đích tối hậu dù hiểu rằng ông phải trả giá bằng chính mạng sống của ông. Có lẽ, lúc đó cái chết đă trở thành cần thiết cho ông để chấm dứt cuộc sống trong một thể xác đă tàn tạ v́ bệnh ho lao, và tuyệt vọng v́ không c̣n tương lai! Dù sao Thi Sĩ Vô Danh đă chết trong sự măn nguyện v́ ông đă hoàn thành xong sứ mạng duy nhất trong cuộc đời ông. Ngoài những bài thơ hùng hồn đă trở thành bản án kể tội Cộng sản, Thi Sĩ Vô Danh “hi sinh” chính mạng sống để đưa tập thơ này ra hải ngoại. Đưa được ra hải ngoại th́ tập thơ “tồn tại” với lịch sử văn học  trong dân gian, và được phổ biến thành tài liệu chống Cộng, trở thành “nhân chứng bia miệng” về tội ác Cộng sản, và đó là điều quan trọng và cần thiết không kém sự sáng tác.

 

Thơ của tôi không có ǵ là đẹp

như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao!

Thơ của tôi không có gi` cao

như chết chóc, mồ hôi, báng súng!

Thơ của tôi là những ǵ kinh khủng

.......................................................

                                    Thơ Vô Danh ( 1975 )

 

Thi Sĩ Vô Danh đă chuẩn bị đón nhận cái chết không thể tránh trong tay bọn Công an Cộng sản mà ông đă biết là vô cùng dă man, tàn ác. Chúng đă coi sự tra tấn, giết người như giết ngóe. Hồ Chí Minh đă dạy công an, cán bộ và quân đội cộng sản: "tất cả mọi người ngoài đảng đều là kẻ thù của đảng và của chế độ mắt chúng nh́n ai cũng thấy kẻ thù!" Lũ quỷ cộng sản đă nh́n người “không cộng sản” hay là toàn thể dân tộc Việt là kẻ thù của chúng. Ông Vô Danh hiểu rằng thể xác của ông tàn tạ sau nhiều năm tháng đọa đày, đói khổ cùng cực và ho lao ra máu. Ông không hi vọng ǵ sống thêm lâu dài nữa v́ thể xác kiệt quệ của ông không cho phép như vậy.

 

Thi Sĩ Vô Danh cũng biết rằng với cái tội “xâm nhập” ṭa Đại Sứ Anh, công an cộng sản không bao giờ cho ông sống thêm một giờ hay một ngày nào nữa. Năm tháng tù đày đă dạy ông biết rằng cộng sản không bao giờ khoan hồng, tử tế, thành thật, hay ḥa giải ḥa hợp, nhân quyền bất cứ ai. Hể lọt vào tay chúng công an chết chính là một giải thoát ân huệ của... thượng đế!

 

Đó là “thực tế cộng sản” không ai có thể phủ nhận!

Thi Sĩ Vô Danh chờ đợi cái chết mau chóng bằng đ̣n thù hơn là cực h́nh bị tra tấn và giam cầm đọa đày không thời hạn trong các trại tù cải tạo. Đă 20 năm bị tù đày, Thi Sĩ Vô Danh chẳng có thích thú ǵ trở lại các trại tù “sau khi” ước vọng của ông đưa tập thơ vào tay người ngoại quốc được toại nguyện. Ông đă góp chút hơi tàn để chạy vào ṭa Đại sứ Anh như một ngọn đèn bùng lên một lần cuối trước khi tắt! Thi Sĩ Vô Danh đă chuẩn bị một lá thư “tuyệt mệnh” đi theo cùng tập bản thảo đă chứng tỏ ông sẵn sàng chờ đợi một cái chết không thể tránh!

 

Tôi không tiếc khi bị đời sa thải “ngụ ư của cái chết”

Thân thể vùi, tàn rữa, hóa bùn đen

Những vần thơ trong đêm tối đê hèn

Cùng rệp muỗi, viết ra mà bị mất

Tôi sẽ tiếc khóc âm thầm trong đất!

                                     (Vô Danh - 1974)

 

Quá nhiều kinh nghiệm về sự tàn ác của Cộng sản, Thi Sĩ Vô Danh hiểu rằng, biết trước rất rơ ràng, nội một việc “chạy vào” ṭa Đại sứ Anh cũng đủ cho bọn cộng sản ác ôn, dữ dằn ngoài cửa ṭa Đại sứ đánh ông bằng “đ̣n thù” và ông phải bị chúng đánh chết ngay tại chỗ th́ chúng mới hả dạ.

 

Ví dụ công an cộng sản “không đánh chết” Thi Sĩ Vô Danh tại chỗ th́ với sức khỏe kiệt quệ, tàn tạ của ông, ông cũng chẳng sống thêm được bao lâu nữa. Nói ǵ đến (Nguyễn Chí Thiện) sống phây phây, huy hoàng, khỏe mạnh, “không có bệnh lao” thêm 16 năm nữa để được nhậu nhẹt với trùm cộng sản Xít Ta Lin Nít Hoàng Minh Chính, được mạn đàm với Chánh Sở Công an Hà Nội và  quản giáo trại cải tạo, được Mặt Trận Kháng Chiến tiếp tế tại Hải Pḥng 8 lạng vàng giá trị 4,000 đôla và lo lắng giúp cho đi Mỹ, được học ăn học nói, học chính sách chính trị, học đóng kịch cho thật giỏi, học diễn thuyết trước khi đi Mỹ...

 

Để rồi được nhà nước ta ưu ái cho đi Mỹ để được hải ngoại đón rước rầm rộ như một vĩ nhân, như một cứu tinh của dân tộc, như một chính trị gia đại tài, đi đến đâu cũng được hoan hô với những tràng pháo tay rộn ră, được quay phim chụp h́nh ảnh với báo chợ... đăng tải tiếp ứng, được Mặt Trận Kháng Chiến “không ma” tổ chức đi khắp nơi kể cả Liên Hiệp Quốc để “lạy van xin” cộng sản ban cho chút nhân quyền!

 

Có thể nhiều độc giả! Nhất là những người trẻ tuổi không thể hiểu cộng sản tàn ác đến mức nào, những người “thân cộng” binh vực cộng sản và nói rằng lập luận trên đây về tác giả Vô Danh bị công an đánh chết ngay sau khi ra khỏi ṭa Đại sứ Anh không đúng. Tác giả dẫn chứng một câu chuyện dưới đây được đăng trên báo chí "Nhà nước cộng sản" vào năm 1997, là một năm tương đối được cởi mở khá hơn nhiều, chứ không sắt máu như năm 1979, hay là 18 năm về trước: Hà Nội ngày 26/4/1997. Báo trong nước loan tin mới đây tại Sài G̣n xảy ra liên tiếp 3 thanh niên bị gán ghép là đối tượng là tệ nạn xă hội đă bị đánh chết trong cơ quan gọi là “trại tiếp nhận” mà thực chất là một nhà tù kinh khủng.

 

Trạm Tiếp Nhận là một cơ quan trực thuộc sở Lao Động và Thương Binh  Xă Hội được thành lập từ tháng 10/1992 để giam giữ, phân loại các đối tượng bị coi là tệ nạn xă hội, những người vô gia cư, những kẻ lang thang ở hè phố để sau đó  bị đưa đi cưỡng bách lao động tại các nông trường quốc doanh “không được xử án và không có án”.

Trại này ở số 463 đường Nở Trang Long, Quận B́nh Thạnh. Những người bị “thu gom” và nhập trại, sau đó được Phó Giám Đốc Sở là Nguyễn Minh Chánh kư lệnh đưa đi các nông trường cưỡng bách lao động. Có những người bị đánh chết tại trại Tiếp Nhận, và cũng có những người bị đánh chết tại các nông trường, bởi v́ nhà nước xử dụng những tên đầu trộm đuôi cướp để cai quản những đối tượng bị thu gom.

Theo các báo “trong nước” th́ đă quá nhiều người bị chết trong các trại Tiếp Nhận này một cách âm thầm. Thi hài của họ được coi như là vô thừa nhận để giao cho trường Đại Học Y Khoa cho sinh viên thực tập.

 

Một vài trường hợp mà các báo có hồ sơ là thanh niên tên là Lê Văn Dũng học tập ngày 20/10/95 bị đánh chết một cách dă man ngày 24/10/95. Anh Nguyễn Minh Châu quê ở Mỹ Tho bị đưa vào trại,  ngày 13/2/1996, Châu bị 6 tên côn đồ cai quản trong trại đánh chết. Điều đáng chú ư là cái vụ giết người này chỉ được ban quản lư biết sau khi các hung thủ báo cáo. Ngoài ra c̣n có 9 trường hợp bị chết do đang hấp hối nhưng không được đưa đi điều trị bệnh viện.

 

Tuy nhiên những vụ bùng nổ gần đây khiến công luận mới được “đánh động” về những tội ác mà nhà cầm quyền cộng sản đă dung dưỡng.

Trường hợp Lê Minh Tuấn: Tuấn sinh năm 1967, ngụ tại 193/1 Điện Biên Phủ, quận 3, Sài G̣n. Ngày 13/12/1996, Tuấn ra khỏi nhà rồi biệt tăm. Ngày 12/3/1997, gia đ́nh nhận được “Giấy chứng tử” của tỉnh Daklak, cho biết Tuấn đă bị “thu gom” và bị đưa đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Dakru.

 

Quyết định đưa Tuấn đi cưỡng bức lao động do Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh kư ngày 21/12/1996. Bà Nguyễn thị Kim Dung, mẹ của Tuấn, than oán: “V́ sao cháu Tuấn chết ngày 17/2/1997 mà họ không báo ngay cho gia đ́nh tôi biết để lo chôn cất cháu?”

Trường hợp Nguyễn văn Năng: Năng có vợ và 2 con, ngụ tại Trung Chánh, Hóc Môn, mắc bệnh tâm thần, được gia đ́nh gửi đi chữa bệnh ngày 26/3/1997. Ngày 1/4/1997, Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh kư lệnh đưa anh Năng đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Phú Văn, một khu kinh tế mới. Gia đ́nh hoảng sợ, làm mọi thủ tục để cứu anh Năng. Nhưng đến ngày 7/4/1997, vợ anh Năng được báo tin “Chồng chị đă bị đánh chết ở Trung Tâm Phú Văn ngày 5/4/1997. Chúng tôi báo lên để gia đ́nh lên nhận xác về.”

Trường hợp Ngô Quốc B́nh: B́nh sinh năm 1975 ở tỉnh Phú Thọ, vào Sài G̣n đăng kư tạm trú tại nhà chị Vơ thị Đông ở Phường 11, quận 3, tức là có cư trú hợp pháp. Ban ngày bán báo ở ga Sài G̣n, ban đêm theo học lớp 11 tại Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên quận 3. Ngày 5/3/1997, B́nh đang bán báo tại ga Sài G̣n th́ bị “thu gom”. Chị Đông chạy xin bảo lănh cho B́nh được tha, song măi đến chiều 18/3, th́ chị mới nhận được tờ quyết định “cho về với gia đ́nh” th́ cũng đúng là ngày B́nh chết. Giấy báo tử của bệnh viện Chợ Rẫy ghi: “Ngô Quốc B́nh, can phạm, vào viện 16/3/1997. Nguyên nhân tử vong: dập năo thái dương phải, năo phù”. Vậy là sau khi bị bắt, bị đưa vào Trại Tiếp Nhận, rồi sau đó B́nh bị đưa đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Phú Văn. Tại đây B́nh bị đánh đập đến dập năo, rồi được đưa đi bệnh viện Gia Định rồi được chuyển về bệnh viện Chợ Rẫy trong cùng ngày.”

 

Sau khi báo chí trong nước lên án, Viện Kiểm Soát Nhân Dân ở Sài G̣n mới mở cuộc điều tra. Và cũng theo báo chí trong nước cho biết qua một cuộc phỏng vấn Nguyễn Minh Chánh, Phó Giám Đốc Sở Lao Động, th́ ông này nói rằng một năm kư đến 9,000 quyết định đưa đi cưỡng bức lao động, nên không có th́ giờ để cứu xét từng hồ sơ.

Một năm có tới 9,000 người bị bắt v́ tội đi...  tản bộ ngoài đường và bị công an cộng sản đánh chết kiểu “vô tội vạ” như vậy, th́ ta có thể phỏng đoán là 9,000 người này không mấy người được sống hay được tha mà trở về nhà. Thí dụ không bị đánh chết ngay th́ cũng bị giam cầm không án xử, không thời hạn để bị bóc lột lao động cho đến chết.

Một lư do có... lư về cái chết của Thi Sĩ Vô Danh ngay sau khi đưa tập Thơ cho người Anh, là v́ ông đă chết, xác đă “bị” đem chôn theo tính cách vô danh, vô thừa nhận, nên không để lại dấu tích ǵ cả. Nơi ông bị chôn cất cũng không ai biết. Vào thời điểm cuối năm 1979, đầu năm 1980, Việt Cộng mới chỉ “nghe” những bài thơ Vô Đề trên đài BBC nên đă cuống cuồng t́m người để thay thế cho tác giả Vô Danh. V́ tính chuyện kiếm người thay thế, nên Việt Cộng “không cần” phải t́m ra tung tích, lư lịch tác giả Vô Danh. Nhưng Cục Phản Gián lại không được đọc toàn bộ tập thơ nên không rơ những chi tiết quan trọng bên trong tập Thơ như “chôn dấu” những bài thơ đợi dịp tung ra hải ngoại, hoặc ho lao ra máu trong nhiều năm, hoặc con một, độc thân, chỉ có cha mẹ già, tŕnh độ Pháp văn thật cao theo lá thư tuyệt mệnh, và tuổi tác đă nhiều...

 

Thí dụ có thể t́m được người tương đương về tuổi tác với ông Vô Danh, nhưng kiếm một người có tŕnh độ Pháp văn khá như vậy ở miền Bắc vào năm 1980 có lẽ không thể có! Dù sao th́ ta cũng chỉ biết đến Nguyễn Chí Thiện “sau” 1979, hay là sau khi Thi Sĩ Vô Danh đă làm thơ, đưa thơ vào ṭa Đại sứ và “đă chết” năm 1979!

Sau khi “tạo” được Nguyễn Chí Thiện thành tác giả tập thơ Vô Đề, Cộng sản đă gây ấn tượng với tên tuổi Nguyễn Chí Thiện “chính là” tác giả tập thơ Vô Đề, đến nỗi mỗi người hải ngoại đều “yên chí” tác giả Vô Danh chính là Nguyễn Chí Thiện! Những người  được Cộng sản cho xuất ngoại như các ông Trần Nhu và Minh Thi cũng được Cộng sản gài khéo cho ở cùng trong “tù” với ông Nguyễn Chí Thiện, để ông Thiện ngâm “thơ” cho họ nghe và gây ấn tượng là đă gặp thi sĩ thứ “thiệt”!

 

Tiện đây cũng xin nhắc cho công an Phản Gián Hà Nội biết rằng muốn bịp người Việt hải ngoại cũng khó lắm. Chuyện đời đâu c̣n đó. Văn sỡi công an Nguyễn Huy Thiệp đi Mỹ hồi tháng 9/1996, rồi lại về êm ru v́ chỉ có thời gian ngắn và Thiệp cũng không dám “gáy” khi đứng trước mặt sự văn minh tân tiến của người Việt và người Mỹ hải ngoại. Cái ǵ dù che đậy khéo léo th́ cũng chỉ trong thời gian ngắn là ḷi ra hết. Như cái... kim trong bọc th́ cũng ḷi ra như thường. Chúng tôi cũng cho Cục Phản Gián biết rằng kế hoạch nhà quê của Vẹm và cán bộ nhà quê th́ không bao giờ bịp nổi chúng tôi.

 

Thấy thân h́nh tiều tụy rách rưới nghèo khổ của Thi Sĩ Vô Danh, thái độ khiêm nhượng chịu đựng nhưng khẳng khái và cương quyết rơ rệt, và tŕnh độ trí thức khá cao qua tiếng Pháp rất lưu loát và lễ độ của ông, người Anh đă vô cùng xúc động. Họ hiểu ngay là có cái ǵ “sống” trong tập giấy có vẻ cũ kỹ và nhầu nát của ông. Họ mau mắn cầm lấy tập thơ và bảo đảm với ông là họ sẽ làm những ǵ ông muốn. Người Anh hỏi ông có muốn ǵ không, có cần tiền không, th́ Thi Sĩ Vô Danh trả lời rằng không cần ǵ cả. Ông cũng không muốn làm phiền người Anh hơn nữa. Ông quay trở ra và nh́n thẳng vào mặt bọn công an đang chờ đợi ông ngoài cửa với vẻ hung dữ đằng đằng sát khí. Chúng nhất định phải giết ông ngay tại chỗ.

 

Thi Sĩ Vô Danh hiểu rằng bọn quỷ dữ công an hầm hè phải đánh chết ông mới hả giận chúng. Chỉ riêng một “tội” vượt qua hàng rào canh gác của công an cũng đủ là tội chết ngay tại chỗ. Ông Vô Danh có lẽ mong cho công an đánh chết ông nhanh chóng cho sự đau đớn của ông không kéo dài, và chúng không tra hỏi ông là đă vào ṭa đại sứ Anh để làm ǵ? Tập thơ đă được giữ bí mật cho đến khi người Anh đưa ra ngoại quốc mà không bị rắc rối ngoại giao với chính quyền Cộng sản.

 

Như ư muốn của Thi Sĩ Vô Danh, bọn công an không cần hỏi han ông vào ṭa đại sứ Anh “làm ǵ?” Chúng không cần biết khi ông chạy lọt qua hàng rào công an ch́m lảng vảng quanh ṭa đại sứ , đă đủ là tội “chết” rồi! Chúng vồ lấy ông và như đă ước hẹn với nhau từ trước, chúng nhào đến đánh “tập thể”, đánh đập ông nhừ tử ngay trước cửa ṭa đại sứ Anh quốc! Với sức khỏe tàn tạ, và tinh thần kiệt quệ, với cuộc đời đă tan nát (như ông nói trong thư tuyệt mệnh) và tâm lư sẵn sàng đón nhận cái chết không thể tránh, ông Vô Danh đă trở thành một mớ giẻ rách, xụi lơ, không c̣n sức đề kháng. Có lẽ ông đă chết rồi mà bọn công an cũng không cần biết. Trong cơn say máu và thích thú giết người, bọn công an đánh túi bụi, đánh kiểu “hội đồng chết bỏ”, cho đến khi chúng mệt nhoài, buông tay.

 

Ta có thể chắc chắn rằng Thi Sĩ Vô Danh đă chết ngay trước cửa ṭa đại sứ Anh! Giả thử bọn công an sắt máu mà biết Thi Sĩ Vô Danh đưa thư hay giấy tờ “ǵ” vào tào đại sứ Anh th́ Thi Sĩ Vô Danh c̣n bị đánh chết mau hơn nữa v́ chúng coi ông là gián điệp, liên lạc với t́nh báo Anh! công an căn cứ vào lối làm việc của công an cộng sản, ta có thể tin rằng bọn công an báo cáo về Phường là có một tên lưu manh bất hảo “định” xâm nhập ṭa đại sứ Anh, nhưng công an đă “kịp thời gian chận”. V́ nếu nói là “đă xâm nhập” rồi, lại “chạy trở ra” th́ sự việc sẽ trở thành một vấn đề, một biến cố ngoại giao rất phiền phức, mất công t́m hiểu  điều tra rằng xâm nhập ṭa đại sứ để làm ǵ v́ nếu báo cáo như vậy th́ lại phải nêu rơ tên tuổi lư do... Công an cộng sản quá ít chữ nghĩa, giấy bút cũng ít, nên càng không thích điều tra và làm báo cáo.

 

(Có thể người Anh đă quay phim và chụp ảnh trận đánh chết người này từ bên trong hàng rào ṭa đại sứ nhưng cho đến nay người Anh không thể tiết lộ v́ vấn đề ngoại giao với Hà Nội.)

 

Trong chế độ Cộng sản, công an có toàn quyền bắt người bỏ tù không thời hạn, không xử án mà không cần biết có tội hay không. Chúng giết người vô tội vạ, hay là quyền “tiền trảm hậu tấu”. Nhưng công an cộng sản giết người, và người đă chết rồi, không cần phải báo cáo lên cấp trên. Vả lại ai cần để ư đến một xác chết? Năm 1947, Hồ Chí Minh ra tiêu lệnh (standing order) giết “hết Việt Gian” th́ có mấy chục vạn người bị bắt và bị thủ tiêu ngay trong đêm tối, xác cho trôi sông, mà không bao giờ có giấy tờ sổ sách hay báo cáo. Đầu năm 1961, Phạm văn Đồng (do lệnh của Hồ) kư tiêu lệnh bắt giam “học tập cải tạo” tất cả những thành phần bất măn, bất hảo, chống đối, phản động, phản cách mệnh, chửi cộng sản, cán bộ mắc bệnh công thần... th́ công an cứ việc theo đúng “tiêu chuẩn” đưa ra rồi bắt hàng triệu nạn nhân trong mọi thành phần xă hội đi học tập cải tạo trong hàng ngàn trại tập trung... Hồ Chí Minh chúc mừng “năm mới” nghe như tiếng yêu tinh v́ y “chúc Tết” xong là bắt bỏ tù cả nước! Thi Sĩ Vô Danh viết về việc này như sau:

 

Chuyên chính (vô sản) vội may nhiều áo sọc (áo tù có sọc)...

đem khoác bừa lên tổ quốc ḿnh!

Rừng rú trại tù san sát mọc!

Tiếng mừng năm mới, tiếng yêu tinh!

 

 

 (Ghi chú: Mường, Mèo, Thái, Thổ là người sơn cước vùng thượng du Bắc Việt. Người Kinh là người Việt. Những người sơn cước bị công an cộng sản bắt đi tù khá nhiều v́ họ quen sống lối tự do, không thê chấp nhận cộng sản ngu dốt và trái với tự nhiên, thiên nhiên. Cộng sản thù ghét nhất người Mường tức Hmong. Từ năm 1975 tới nay khoảng 150,000 người Hmong đă bị Cộng sản tàn sát.)

Công an không biết Thi Sĩ Vô Danh là ai, tên ǵ, và vào ṭa đại sứ Anh làm ǵ? Người Anh cũng không nói ǵ! Lănh đạo Cộng sản Hà Nội cũng không biết, và không cần biết người chết là ai và cái ǵ đă xảy ra. Báo cáo công an chỉ nói giản dị là một tên điên, có vẻ ăn trộm hay ăn mày ăn xin, đă liều mạng chạy vào ṭa đại sứ Anh, vào ngày, tháng, giờ... với “ư đồ” ǵ đó, nhưng công an “bảo vệ” ṭa đại sứ đă phát giác, kịp thời ngăn chận, và bắt tên này. Theo báo cáo công an, tên “trộm Vô Danh” này đă...  chết v́ đau tim, trước khi bị hỏi khẩu cung, và đă được mang đi chôn! “Chôn” xác chết vô danh có nghĩa là vùi lấp đâu đó, một nấm đất để gọi là cái mả cũng không có.

 

Mấy tháng sau, người Anh cho phổ biến nhiều bài thơ Hoa Địa Ngục trên đài BBC nhưng không cho biết tên tác giả. Trong một dịp khác, người Anh đưa tập thơ này cho một cựu chính khách Việt Nam Cộng Ḥa (ông Châu Kim Ngân) và tập thơ này đă đến tay ông chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong. Ông chủ nhiệm VNTP đă cho in tập thơ này ngay để phổ biến theo sự mong ước của tác giả, với tên tác giả là “Khuyết Danh”, dưới tên đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”, theo tinh thần của lá thư tuyệt mệnh, cũng có nghĩa là “chúc thư” của một người sắp chết và đă chết. Sau đó, có tin một người khác đă lẹ tay in photocopie “đánh cắp” và in sang một ấn bản khác để... kiếm lời vào cuối tháng 9/1980. Bản in của VNTP chỉ bán với giá tượng trưng lá $1.50 một cuốn và ông chủ nhiệm đă lỗ một số tiền khá lớn.

 

* * *

 

Thi Sĩ Vô Danh này sinh khoảng 1924 hay 1925 và có thể đỗ Tú Tài Pháp (Baccalauréat) năm 1943 hay 1944, trước khi người Pháp bị Nhật đảo chính ngày 9/3/1945 với hầu hết các giới chức cai trị thuộc địa Pháp bị Nhật cầm tù. Một vài sĩ quan cao cấp Pháp khác (tướng Alessandri) đă cố gắng mang một ít tàn quân Pháp từ (Tông) Sơn Tây chạy bộ sang Vân Nam (Yunnan) và trú ngụ tại Côn Minh (Kunming).

Thời xa xưa, trước năm 1945, rất ít người học và đậu Tú Tài Pháp. Học trong các trường phần nhiều phải theo chương tŕnh Pháp. Tiếng Pháp đă khó, nhưng thi đậu hai phần Tú  Tài Pháp có thể nói là thiên nan vạn nan. Mục đích “ngu dân” của Pháp là cản trở không cho mấy người được đỗ đạt, tốt nghiệp trung học, rồi từ đó có thể nhập đại học. Chính sách thực dân quả thâm độc. Người Pháp không cần mở trường Đại Học tại Sài G̣n. Các gia đ́nh khá giả miền Nam thường có quốc tịch Pháp, có tên "Tây", và gửi con đi Pháp học.

 

Thời đó, nhiều người miền Nam loại dân tỉnh, giới giàu có “trí thức”, nói sơi tiếng Pháp hơn tiếng Việt và thường hănh diện với quốc tịch Pháp của ḿnh. Nhưng thực dân Pháp lại mở trường Đại Học ở Hà Nội với mục đích không cho người Trung và Bắc đi Pháp học. Nếu học đại học ngay tại Hà Nội th́ người Pháp có thể theo dơi quan sát. Nếu “thân” Pháp th́ sẽ học đại học suông sẻ, rồi ra làm “quan” hay công chức cao cấp. Nếu manh nha hội họp chống Pháp thuộc địa, chống thực dân, gia nhập các tổ chức đảng phái cách mệnh... th́ sẽ được Sở Mật Thám Đông Dương (Sureté Fédérale) chiếu cố ngay.

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, từ 1940 đến 1945, số sinh viên đại học ở Hà Nội chỉ có khoảng chưa đến 100 người. Nghiên cứu kỹ thơ của Thi Sĩ Vô Danh, ta thấy ông là con trai “một”, con nhà khá giả, nên đă được song thân cố gắng cho đi học trường trung học Pháp, có lẽ là Lycée Albert Sarraut. Ngoài trường Lycée Albert Sarraut, c̣n có trường  “thầy ḍng” do các sư huynh Thiên Chúa Giáo Puginier cũng dạy nhiều tiếng Pháp. Trường Lycée Albert Sarraut lấy tên viên toàn quyền thực dân Pháp nổi tiếng... thực dân ngày trước. Albert Sarraut đă có nhă ư "không xây dựng" bệnh viện, trường học tại các vùng đông dân cư xứ Bắc Kỳ, để cho "chúng chết bớt" để khỏi gây ra hậu quả xấu về chính trị và xă hội! Trường Bưởi dành riêng cho người Việt Nam cũng đă nổi danh một thời và cũng có dạy tiếng Pháp. Sau này, khi tái lập sự học tại Hà Nội năm 1948, 1949, trường Bưởi được đổi tên thành trường Chu Văn An và dạy nhiều tiếng Việt hơn tiếng Pháp.

 

Trước năm 1945, một trường tư thục trung học khác có tên là Thăng Long, Vơ Nguyên Giáp đă từng là giáo sư trường này.

Tiếng Pháp không “dễ” như tiếng Anh v́ mẹo mực (grammar) rất phúc tạp. Nội một việc “chia véc bờ” (verb) và phân tích mẹo mực, phân đoạn câu cú, (analyse grammaticale và analyse logique) và ghi nhớ đến thuộc ḷng đă làm nhiều trẻ nhỏ Việt Nam nhức đầu trong nhiều ngày đêm. Nói tiếng Pháp có vẻ... dễ nói, dù đó là tiếng Tây... bồi, nhưng viết được tiếng Pháp trôi chảy, có đủ lư lẽ, văn hoa, đúng mẹo mực câu cú, cần phải có tŕnh độ thật cao và kinh nghiệm thực tập hay làm việc, viết lách, có khi cao hơn tŕnh độ Tú Tài Pháp rất nhiều. Ngày xưa, những học giả như Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo, Nguyễn Thế Truyền... kể cả ông Đàm Quang Thiện “vạn quốc đốc tờ hàm”, đă từng nổi danh trên văn đàn qua tiếng Pháp thật giỏi và lưu loát, hơn cà nhiều người Pháp trí thức! Thi Sĩ Vô Danh đă chứng tỏ một học lực uyên thâm với kiến thức quảng bác già dặn “trước” khi tù, hay là trước khi Cộng sản cướp chính quyền tháng 8, năm 1945 - năm này ông Thiện mới 6 tuổi.

Những độc giả nào rành tiếng Pháp, nhất là các vị sống bên Pháp, đọc bản thư “tuyệt mệnh” hay là di bút của Thi Sĩ Vô Danh với bút kư, th́ có thể đánh giá tŕnh độ và kinh nghiệm tiếng Pháp của ông:

 

   Monsieur!

C'est au nom des millions de victimes innocentes de la dictature, déjà succombés ou subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnes communistes, que je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C'est le fruit de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été créés dans mes années de détention. Je pense qu'à nous, les victimcs, il appartient plus qu'à personne d'autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé et torturé à merci...

De ma vie brisée, il ne reste qu'un seul rêve, c'est de voir le plus grand nombre possible d'hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau de I'humanité.

Veuillez agréer, monsieur, 1'expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de mes compatriotes infortunés!

 

Dịch: Thưa ông!

Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chính thể độc tài đă ngă gục hay c̣n đang phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau đớn trong ngục tù cộng sản. Tôi xin ông vui ḷng cho xuất bản tập thơ này tại phần đất tự do của quư quốc. Đây là kết quả của hai mươi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm dài bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng không phải ai khác mà chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phải phơi bày cho thế giới thấy sự khổ nhục không thể tưởng tượng nổi của dân tộc tôi c̣n đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay...

Cuộc đời tan nát của tôi chỉ c̣n một ước mơ, đó là được thấy nhiều người hơn nữa trên thế giới ư thức rằng Cộng sản là một đại họa khủng khiếp cho nhân loại.

Xin ông nhận nơi đây ḷng biết ơn xâu xa của tôi cũng như của đồng bào bất hạnh của tôi.

(Bức thơ không kư tên.)

 

* * *

 

Sau 20 năm bị tù đày, đầy đọa, đói khổ, ho lao ra máu mà tác giả Vô Danh c̣n  viết được một lá thư tuyệt mệnh bằng tiếng Pháp gọn ghẽ ngắn ngủi nhưng đầy đủ ư nghĩa với tư tưởng cao cả như thơ của ông... người viết bài này có hiểu tiếng Pháp chút đỉnh, chỉ biết cúi đầu bái phục.

(Người viết được biết là ông Nguyễn Chí Thiện được bà chị tên là Hảo biết tiếng Pháp dạy tiếng Pháp cho ông trong khoảng 6 tháng... trước khi đi Mỹ. Nếu quả thật như vậy, th́ cái tiếng Pháp 6 tháng này may ra chỉ đủ để đi... chợ! Điều rơ rệt là ông Thiện không bao giờ đả động đến cái thơ tiếng Pháp này.)

Tác giả Vô Danh đă quyết tâm, bằng bất cứ giá nào, dù phải hi sinh luôn mạng sống, để đưa được tập thơ của ông vào tay người Anh để được phổ biến ra ngoại quốc. Tội ác CS đó sẽ được phanh phui. Như một con thú cùng đường, ông hiểu rằng dù lọt hay không lọt được vào ṭa đại sứ th́ ông cũng phải chết trong tay bọn công an hung dữ. Ông không nghĩ đến đề tên cho tập thơ v́ không biết chắc có được lọt ra ngoại quốc hay không. Vả lại đây cũng không phải là “một tác phẩm” văn học theo ư nghĩa sáng tác thông thường. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ, mỗi chữ là một tiếng nói căm hờn, một ngọn roi quất vào mặt chế độ Cộng sản, th́ cần ǵ phải đặt tên! Ư muốn của ông Vô Danh là tập thơ đến được tay người đọc ở hải ngoại là đủ!

 

Nếu đọc tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I) của Thi sĩ Vô Danh, ta sẽ thấy ông không bao giờ chủ trương “ḥa hợp” hay “đ̣i nhân quyền” với cộng sản. Thi Sĩ Vô Danh cũng hiểu cộng sản cỡ nhỏ từ quản giáo trại giam trở lên đến cỡ gộc cấp cao như phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, cán bộ giáo vận cấp thành ủy Đỗ Trung Hiếu, viện trưởng viện nghiên cứu Mác Lê Hoàng Minh Chính, đại tướng công an Nguyễn Hộ, Thượng tướng công an Bảy Liếm và trung tướng công an bảo vệ, cựu thứ trưởng công an Lê Văn Quư tức Lê Hồng Hà... toàn là một thứ sắt máu, bịp bợm, đểu cán như nhau, và ông không cần phải gặp họ, nói chuyện, mạn đàm. Thi Sĩ Vô Danh cũng hiểu rằng phải là cộng sản cỡ trung kiên nhất, phải tiêu diệt rất nhiều “kẻ thù của đảng, kẻ thù giai cấp, và bọn phản động, phản cách mệnh”, nên mới leo lên được tới những cấp bực cao cấp như vậy. Bọn này có thể lừa bịp, gạt gẫm và “giết” bất cứ ai để bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ cộng sản.

 

Đại lư tối cao ở xứ đồng lầy (cộng sản)

là lừa thầy, phản bạn

và tuyệt đối trung thành vô hạn

với Đảng, với Đoàn, với Lănh tụ (Hồ) thiêng liêng!

                                (Vô Danh - Bài thơ Đồng Lầy)

 

Cộng sản thích thú khi đánh lừa được người khác cho lọt vào bẫy để cho chúng lột sạch sẽ, bỏ tù, tra khảo để bắt thêm người khác nữa, rồi giam cầm bóc lột lao động cho tới chết. Thi sĩ Vô Danh cũng hiểu rằng chống Đảng, chống Cộng, là phải bị giết ngay, nói ǵ đến được nhà nước khoan hồng và cho đi Mỹ dễ dàng! Nếu nhà nước cho đi Mỹ th́ phải có kế hoạch phản gián và dụng ư chiến lược bên trong, không thể khơi khơi “được” đi Mỹ để tiếp tục chửi nhà nước cộng sản!

 

Cộng sản Hà Nội cũng vui mừng đánh lừa người Việt hải ngoại: “cho chúng bay hoan hô vỗ tay, tôn vinh, đề cao, trọng vọng, kính cẩn một cán bộ cộng sản loại gộc nhất, sắt máu nhất, nguy hiểm nhất, trung kiên nhất... cho vui!”

Như vậy ta có thể thấy Thi Sĩ Vô Danh bắt đầu làm thơ tố giác tội ác cộng sản và những thủ đoạn gian manh, ác bá của tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1956,1957. Chính v́ những bài thơ này mà ông bị cộng sản bắt bỏ tù từ khoảng năm 1957 cho đến năm 1978, trong đó có vài lần ông được thả để rồi bị bắt lại. Thi Sĩ Vô Danh sống trong t́nh trạng bị quản chế và có tên trong sổ đen của công an địa phương. Chúng muốn bắt ông lúc nào th́ bắt, muốn cho đi tù lúc nào th́ cho đi tù.

Bằng chứng ông Vô Danh 20 tuổi hoặc có thể 21, 22... (tuổi 20...) vào năm 1945, khi Hồ Chí Minh và Việt Minh cộng sản cướp chính quyền 19/8/1945, ngay ở đầu bài thơ trường thiên Đồng Lầy (lúc này ông Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi - 1945):

 

Ngày ấy, tuy xa mà c̣n đấy

tuổi hai mươi tuổi bước vào đời

Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi...

bốn phía bao la chỉ thấy

chân mây, rộng mới tuyệt vời!

 

Năm 1945, Nhật đă đảo chính Pháp từ tháng 3, và đến mùa Thu tháng 8 tin Nhật đầu hàng loan khắp nơi. Thanh niên tuổi hai mươi là Thi Sĩ Vô Danh đang tràn đầy nhựa sống và, với một tâm hồn nghệ sĩ, ông có nhiều ước mơ. Thi Sĩ Vô Danh không mơ mộng hăo huyền viển vông. cũng như tất cả lớp thanh niên thời đó, Thi Sĩ Vô Danh mơ đến một nước Việt Nam hùng mạnh trong một chính thể dân tộc dân chủ...

 

Lúc này Bùi Bằng Đoàn, bố Bùi Tín, làm Tổng Đốc Hà Đông đă được Việt Minh móc nối để yểm trợ cho chúng cướp chính quyền mà “không cho” lính dẹp. Ông Quản Dưỡng, Quản cơ tỉnh Hà Đông, không biết sự thỏa thuận bí mật này nên đă ra lệnh cho lính nổ súng làm cho Việt Minh cuống cuồng. Sau đó Việt Minh điều đ́nh ngưng bắn, “ḥa giải ḥa hợp”, rồi bắt ông và trả thù ngay. Ông Quản Dưỡng có thể là vị anh hùng quốc gia chống Cộng đầu tiên và cũng là người quốc gia đầu tiên bị cộng sản thủ tiêu dưới chiêu bài “ḥa giải ḥa hợp”. Nhờ công lao này mà Tổng Đốc Bùi Bằng Đoàn được Hồ Chí Minh cho làm chủ tịch quốc hội, khi chết, cho làm lễ quốc táng, cả nước để tang 3 ngày.

Bùi Tín, lúc đó độ 19 tuổi, được “cụ Hồ” ưu ái cho tập ấm làm quan cộng sản, làm công an bảo vệ và cần vụ hầu hạ điếu đóm bưng ông nhổ cho “cụ” Hồ. Năm 1947, Tín được “cụ” Hồ cho đi học trường vơ bị Trần Quốc Tuấn. Nhờ giỏi ngoại ngữ (tiếng Pháp) với học lực tú tài Pháp, lại được gia nhập làm đảng viên thực thụ, lại được “cụ” Hồ giới thiệu gởi gấm, Tín được điều động làm việc cho Cục Phản Gián. Năm 1947,1948 Bùi Tín làm đại đội trưởng đại đội đặc công quyết tử chuyên tàn sát những người sáng giá tại nông thôn vùng Quảng Trị, Quảng B́nh.

Mang cấp bậc đại tá kiêm phó Tổng Biên Tập tờ báo “Chính Thống” của nhà nước Cộng sản, báo Nhân Dân, th́ Tín chỉ có thể là đại tá phản gián, không phải đại tá chiến trận. Hiện nay, 1996, ta chỉ cần đọc những bài viết của Tín trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, ta sẽ thấy Tín vẫn viết lách, bịa đặt, lếu láo, bịp bợm, “như” một phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, không có vẻ ǵ là thay đổi, đổi mới hay bỏ đảng.

 

Ngất ngây làm sao ngờ tới

Bùn đọng hồ ao mạn dưới phục chờ!

Tuổi hai mươi, tuổi của không ngờ..., không sợ!

Viển vông đẹp tựa bài thơ...

Mơ ước... đợi chờ... vĩ đại... !

Nhưng rồi một sớm đầu mùa Thu trở lại

 

Con mắt trẻ dại tuổi hai mươi (năm 1945) của ông Vô Danh khi nh́n những lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ dưới ánh nắng mùa Thu, mùa Thu trở lại mỗi năm đă không ngờ rằng bọn giáo giở (tráo trở) hung bạo Việt Minh đă “lên đường” với “cách mệnh tháng 8”, thẳng tay phá bỏ truyền thống, nền tảng và giềng mối quốc gia dân tộc...

 

Ông Nguyễn Chí Thiện lúc đó mới có 6 tuổi và mới đi học lớp 1, nhưng khi khói lửa chiến tranh chống Pháp nổi lên cuối năm 1946, th́ ông Thiện, cũng như hầu hết thanh thiếu niên Hà Nội và Hải Pḥng và tất cả thị xă lớn miền Bắc vào đến Thanh Hóa, lúc đó phải tản cư v́ chiến tranh và tiêu thổ kháng chiến, và coi như mất một năm học. Với cái tuổi 16 năm 1955, dù có “tốt nghiệp trung học” đi chăng nữa, làm sao ông Thiện có thể hiểu nổi sự đau xót bị Cộng sản lừa gạt, sự tàn bạo của đấu tố cải cách ruộng đất giết nửa triệu người (1955-1956) như Thi sĩ Vô Danh?

Ta hăy coi Thi sĩ Vô Danh “tả chân tướng” Hồ Chí Minh và cải cách ruộng đất trong bài “Không có ǵ quư hơn độc lập tự do”:

 

Không có ǵ quư hơn độc lập tự do!

Tôi biết nó, thằng (Hồ) nói câu nói đó!

Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!

Việc nó làm, tội nó phạm ra sao?

Nó đầu tiên đem râu nó bện vào

h́nh xác lăo Mao lông lá

Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá

Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa

Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa.

Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu

Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga

Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó

Và t́nh nguyện làm con chó nhỏ

Xông xáo giữ nhà gác ngơ cho cha anh

 

(Cộng sản đưa thanh niên vào xâm lăng miền Nam đă bị Mỹ giết khoảng 3.2 triệu người. Cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Rober McNamara nói như vậy ở Hà Nội ngày 8/11/1995.)

 

Đường nó đi trùng điệp bất nhân

Hầm hập trời đêm nguyên thủy

Đói khổ dựng cờ đại súy

Con cá lá rau nát nhầu quản lư

Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi kư

Mắt nó nh́n ai cũng hóa kẻ thù

V́ ai cũng đói ṃn nhục nhằn cắn răng tạm nuốt

Hiếm có gia đ́nh không có người bị nó cho đi suốt

Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha

Tất cả  phải thành loa

Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó

 

Cái quái gở và đểu giả của Hồ Chí Minh là bắt bỏ tù cả nước, biến cả nước thành cái nhà tù khổng lồ, rồi nói đểu: “Không có ǵ quư hơn độc lập tự do!” Hồ bắt cả nước vào tù, phá tan nát gia đ́nh, phá nát truyền thống ông cha Lạc Việt để áp dụng chuyên chính cộng sản, lạy Mác Xít, lạy Mao là cha, là tổ tiên, là ông nội, hành hạ nhân dân cho đói khổ và bóc lột lao động cho đến chết, rồi lại bắt cả nước phải thành loa để “ca ngợi nó và đảng nó”... Thơ của Thi sĩ Vô Danh tả cái đểu và cái ác của cộng sản đến thế, thật là tuyệt!

Để so sánh ta hăy đọc bài “thơ”, nếu ta có thể gọi là thơ, dưới đây của ông Nguyễn Chí Thiện đọc vào buổi trưa thứ Bảy 11/11/1995, tại Trung Tâm Eden, thành phố Fall church và có in trong tập Hạt Máu Thơ:

 

Mấy chục năm xa nước,

Bác không viết một phong nào về thăm gia đ́nh trong nước

Cách mạng thành công, Bác vin cớ bận, bất cần!

Bác Hồ ơi! Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được nước?

Không yêu người thân, Bác làm sao yêu được nhân dân?

Chỉ những kẻ ngu đần

bị mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá

mới tin Bác là đạo cao đức cả

Yêu nước thương ṇi, có nghĩa có nhân

Đến chị ruột Bác kia khi sống ở dương trần

 

Đọc lên ta thấy ngay ông Nguyễn Chí Thiện không hề bị cộng sản bỏ tù bao giờ. Trái lại ông Thiện chỉ kể “tội” Hồ Chí Minh “xấu đến nỗi” không viết thư về thăm bà chị, đến nỗi bị bà chị (Thanh) từ bỏ, không nhận làm em bà... ông Thiện vẫn quen mồm, quen miệng kính cẩn gọi “Bác Hồ” một cách thân mến. Ông Thiện gián tiếp xác nhận “Bác” Hồ quá lo việc nước đến nỗi không c̣n nghĩ đến người thân, không nghĩ đến lập gia đ́nh. cái chuyện Hồ Chí Minh có bà chị tên là Thanh, không viết thư cho chị, và bị chị từ bỏ rồi vu cho bà Thanh là bị điên (tâm thần)... có lẽ là chuyện do Cục Phản Gián.. phịa ra để nói “xấu” “bác” Hồ với người hải ngoại. V́ nếu chỉ có vậy, th́  “bác” Hồ hiền khô, chẳng bỏ tù ai, chẳng đấu tố và chẳng giết ai bao giờ! Ông Thiện cũng khen “bác Hồ” của ông ranh ma, tinh quái, và tài giỏi đến nỗi Tây chưa bao giờ bắt nổi! “bác Hồ” của ông Thiện “giỏi” thế là “nhất” rồi c̣n ǵ? Thi sĩ Vô Danh gọi Hồ “là Hồ ly tinh, là quỷ, là ma, là thú dữ”,  và hầu như không bao giờ gọi Hồ là “bác”.

Thi sĩ Vô Danh làm bài thơ dưới đây sau khi miền Nam thất thủ năm 1975:

 

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng phụ!

Ta vẫn c̣n đây, và sắt thép c̣n kia!

Chết chóc thầm câm, cốt nhục chia ĺa!

Ta vẫn sống và không hề lẫn lú

Ta muốn nói với loài dă thú (cộng sản):

Khúc hát khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!

                                 (Vô Danh - 1975)

 

Ông Nguyễn Chí Thiện  đọc bài “thơ” dưới đây có vẻ muốn “nhái” theo, cũng tại Fall Church đêm 19/11/1995:

 

Cuộc chiến đấu trong mấy chục năm qua và trong hiện tại

mang đầy tính chất bi ai

Mấy chục năm chỉ là thảm bại

Nhưng anh dũng vô song cực kỳ vĩ đại

Lũ vô lại, vô thần thẳng tay đày ải

Danh dự lương tâm đ̣i chúng ta chống lại

Dân tộc cơ hàn xiết rên quằn quại

Rất mong chờ được thấy ngày mai

Chế độ này quái vật một không hai

Gieo rắc bao là đau đớn họa tai

 

Nếu ta chỉ thay đổi những “từ” “vô lại vô thầnthành “thực dân đế quốc”, đổi danh từ “chế độ” (ḍng 9) thành “đế quốc”, đổi “cộng sản” (ḍng 11) thành “đế quốc”... th́ ta thấy bài "thơ" này là bài văn tuyên truyền vận động kêu gọi và động viên thanh niên nhập ngũ chống đế quốc, thực dân xâm lăng, dù phải "mười người th́ hy sinh chết chín chỉ c̣n một", thế nào cũng không quản ngại. Như vậy non nước này mới có ngày mai (cộng sản), nhờ những “tài trai”... phải chăng Cục Phản Gián đă “biến” nó ra thành “thơ” của ông Thiện ?

 

Thi sĩ Vô Danh là người Bắc và hầu hết người Bắc đều truyền miệng nhau về những bài vè bài thơ, những câu chuyện thật là tiếu lâm, khôi hài đen, chửi rủa cộng sản thật sâu cay khiến Hồ và Việt Cộng tức “dân Bắc Kỳ” đến điên người. Do đó Hồ và Việt Cộng luôn luôn xua dân Bắc vào chỗ chết. Thi sĩ Vô Danh do đó không thể có “cơ may” nào sống sót sau khi vào ṭa đại sứ Anh trao tập thơ.

 

Thủ đoạn dùng “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện đưa ra hải ngoại “thành công” đă khiến cho Cục Phản Gián và đầu năo cộng sản rung đùi cười nhe răng khỉ khoái chí, rung đùi, vẫy tai, ngoáy đuôi khỉ, chửi sỏ rằng: cho bọn hải ngoại “chúng mày hoan hô một tay “Mỹ kư” (false, impostor) cho... vui!”

 

Thi sĩ Vô Danh đă lầm khi theo cộng sản từ năm 1945. Năm 1963, hay là 18 năm sau, khoảng 38, 39 tuổi Thi sĩ Vô Danh làm một bài thơ dưới đây:

 

Mỗi lầm lở, một mảnh ḷng rạn vỡ

Song thời gian hàn gắn được đôi phần

Riêng cái lầm nơi đất đỏ (cộng sản) dung thân

Thời gian khoét to và sâu, bất tận!

 

Phải đến tuổi gần 40, Thi sĩ Vô Danh mới nh́n ra là đă lầm lỡ theo cộng sản để đến nỗi tàn cuộc đời. Hai câu sau cùng có lẽ được áp dụng vào bất cứ lúc nào c̣n cộng sản, kể cả trong giai đoạn hiện nay... Ta lưu ư những bài thơ trong thời gian 1958-1963, Thi sĩ Vô Danh c̣n nói xa, nói gần, có lẽ v́ c̣n sợ cộng sản bắt bỏ tù lại nếu nói quá mạnh.

 

Cái “sợ” cộng sản kể là vô cùng. Hiện nay ở hải ngoại có nhiều vị “sợ” cộng sản và hèn nhát đến mức chê Bách Linh tôi là dùng lời lẽ thiếu lịch sự và lễ độ với... cộng sản! Bọn chó săn bồi bút cộng sản c̣n cố gắng “chụp mũ” Bách Linh tôi là cộng sản! Nhưng một người đă biết ḿnh dại dột, lầm lẫn, đă ngốc, nghe và tin cộng sản đến tiêu tùng cuộc đời như Thi sĩ Vô Danh ngay từ năm 1963, th́ làm sao có thể được cộng sản để cho “sống” và cho đi Mỹ năm 1995 và đến Liên Hiệp Quốc, như ông Nguyễn Chí Thiện đă làm trong tháng 11 va 12/1996, vận động “xin” Cộng sản “ban cho” nhân quyền, dân chủ?

 

Khác với hàng triệu thanh niên khác, tác giả Bách Linh đă sớm nh́n thấy mặt thật của Cộng sản ngay từ tháng 8/1945, nên đă căm thù Cộng sản tàn phá đất nước và đưa cả nước vào chiến tranh, chết chóc và gông cùm Cộng sản. Tác giả Bách Linh đă lập tâm, lập chí cương quyết diệt trừ Cộng sản ngay từ năm 1945, không phải mới đây. Tác giả Bách Linh đă thoát nạn tù tội chết chóc với Cộng sản và chiến tranh, từ Đệ Nhị Thế Chiến, không biết bao nhiêu lần trong suốt cuộc đời. Muốn chiến đấu và chiến thắng tiêu diệt Cộng sản, ta cần phải sống trước đă.

Tuy nhiên mỗi người có một nhiệm vụ trước lịch sử. Thi sĩ Vô Danh đă làm tṛn nhiệm vụ lịch sử với ng̣i bút và vần thơ của ông. Bằng ng̣i bút với suy nghĩ chiến lược và siêu chiến lược, tác giả Bách Linh đă làm cho Cộng sản bị thảm bại ê chề, không thể đánh lừa Mỹ cũng không thể tiến tới hiệp ước Thương Mại để duy tŕ chế độ Cộng sản, từ năm 1990 đến nay, 1999...

Hoài băo của Thi sĩ Vô Danh khi làm thơ “tả chân” sự tàn ác Cộng sản phổ biến tập thơ của ông ra thế giới bên ngoài đă thể hiện trong bài thơ ấy năm 1960:

 

Nếu trời c̣n để có một ngày mai,

tôi sẽ kể chuyện đêm dài khủng khiếp

cho thế hệ hiện nay cùng đàn sau kế tiếp...

giật ḿnh, thức tỉnh thương đau...

 

Ông Nguyễn Chí Thiện lúc đó (1960) mới 21 tuổi và chưa đi “tù”, vẫn “vô tội” với Cộng sản v́ ông không biết làm thơ, và sống b́nh yên với cha mẹ, dĩ nhiên không thể làm được một bài thơ vừa ư nghĩa “chống Cộng” sâu sắc như trên.

 

 Thi sĩ Vô Danh khi làm bài thơ trên, khoảng 35 tuổi, đă hoạt động với Việt Minh Cộng sản và đă ở “tù” trong nhiều năm, đă nhận thấy mặt thật tráo trở đểu giả của Hồ Chí Minh và Cộng sản, và đă thất vọng năo nề với Cộng sản.

 

Ta thấy rất nhiều báo chợ, văn nghệ sĩ, khoa bảng "cung kính" gọi là bọn chó săn Cộng sản là "ông" Vơ Văn Kiệt, "bà" Dương Thu Hương, "người" Cộng sản, "ông" Hoàng Minh Chính, "ông" Nguyễn Hộ, "nhà trí tuệ" Hà Sĩ Phu, "nhà văn hóa" Lữ Phương, "nhà trí thức kiêm tù nhân lương tâm" Đoàn Viết Hoạt... Nếu Bùi Tín trịnh trọng kính cẩn lạy “nhà văn hóa” Lữ Phương, “nhà trí thức” Hà Sĩ Phu và các “ông” và các “cụ” trong Bộ Chính Trị th́ ta phải hiểu là Tín vẫn trung thành với đảng, không thay đổi. Tín vẫn miệt thị bọn phản đảng như “hồ sơ Nguyễn Hà Phan phản bội”... chứng tỏ Tín không phản bội và vẫn trung thành với đảng Cộng sản. Tín chỉ tạm thời rời bỏ chức vụ Tổng Biên Tập báo Nhân Dân để ra hải ngoại làm biên tập cho báo Phụ Nữ Diễn Đàn và nhiều báo khác!

 

(Xưng hô trong những bài viết rất tế nhị. Tư mă Thiên khi xưa viết sử! Khi gọi đến “gian thần” ông chỉ nói trống tên không.  Khi nhắc đến “trung thần” này hay những người có giá trị thanh cao, ông trịnh trọng viết... “quan đại phu”,quan tể tướng”... Chỉ khi nào trực tiếp đối thoại, đặt câu hỏi, hoặc đưa “Vơ Nguyên Giáp, Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh, Phạm văn Đồng”... ra ṭa án quân sự th́ người ta phải dùng danh xưng “ông” hay cấp bực, chức vụ trước khi... những tên phạm gian cộng sản loại Thích Trí Quang, Thích Minh Nghị, Thích Minh Châu, Sư tăng, văn nghệ, thi sĩ, báo sĩ, đài sĩ, bồi bút, kháng chiến quốc doanh th́ phải bị xử tử theo lối... KGB!)

 

Nếu tiến sĩ Bửu Sao viết bài đăng “Bách Linh” và binh vực Nguyễn Chí Thiện hay Tú Nuy, Thuốc Sát Trùng, Phan Thiết, và những tên khác nữa như Nguyễn Việt Nữ và Thành Vũ “đánh” Bách Linh để binh vực “ông” Nguyễn Hộ, sư quốc doanh Cộng sản Thích Huyền Quang, Thích Trí Quang, “ông” Hoàng Minh Chính, “ông” Đỗ Trung Hiếu... với hy vọng “thủ tướng” Vơ văn Kiệt sẽ thành Gorbachev Việt Cộng, với hy vọng người Việt hải ngoại sẽ “về” Việt Nam cúng thêm tiền cho Việt Cộng... th́ ta phải hiểu bọn chó săn bồi bút, nâng bi Cộng sản nằm vùng ở đâu và là những tên nào?

Cán bộ Cộng sản có một khuyết điểm nặng nề là thích nổi danh, nổi tiếng, được tiếp rước long trọng như... chính khứa, như anh hùng kíu quốc, trong khi giá trị bản thân chẳng đáng một xu và khi c̣n ở Hà Nội, Hải Pḥng th́ Cộng sản coi như đầy tớ bồi bếp... có lẽ v́ mặc cảm tự ti (inferiority Complex) chăng nên những người dốt nát, hèn hạ, hạ tiện lại cứ thích nổi danh, nổi tiếng theo kiểu “đội lốt” theo kiểu “mượn”!

Sự thê thảm là cái kim trong bọc sẽ có ngày ḷi ra. Chính cái tự do ngôn luận, tự do suy nghĩ và tự do dân chủ đă làm cho người hải ngoại cực kỳ thông minh và bén nhạy khi họ “chửi” thấy cái ǵ “Cộng sản bần cố nông”, cái ǵ có vẻ không ổn, không b́nh thường, và nhất là cái ǵ có vẻ “trí thức mượn”, có vẻ “kịch”, có vẻ “bịp bợm”, có vẻ “chồn cáo đội lớp Lư Bạch” và có thể “Mỹ kư” mà vẫn ra cái điệu “ta đây” thứ thiệt!

 

Thi sĩ Vô Danh, với máu hăng say của tuổi thanh niên, đă gia nhập từ Hà Nội, gọi là Tự Vệ Chiến Đấu, ngay từ cuối năm 1945. Lúc này hầu như mọi lứa tuổi là một cách “hàng ngũ hóa” (regimentation) đầu tiên của Việt Minh Cộng sản. Tất cả mọi thành phần xă hội, các lứa tuổi, nam nữ, già trẻ, tôn giáo... đều phải gia nhập tổ chức do cán bộ Việt Minh Cộng sản kết nạp, điều hành, tổ chức, và chỉ huy. Những người từ chối gia nhập, nhất là thanh niên, đều bị coi như phản động, chống đối, và bị bắt đi trong đêm và bị thủ tiêu mất tích. Người ta gọi là đi “ṃ tôm” nạn nhân bị đưa ra bờ sông rồi bị đập cho một búa vào đầu rồi ném xuống sông. Vùng Hà Nội th́ bờ sông Hồng hoặc băi Phúc Xá, vùng Hải Pḥng cầu Nệm và sông Nệm là nơi “pháp trường” của Việt Minh. Người nhà không dám kêu ca v́ chẳng biết kêu ca với ai? Sự khủng bố của Cộng sản và sự kinh hoàng Cộng sản trong nhân dân lan tràn khắp nơi ngay từ cuối năm 1945.

 

Tài liệu theo báo Người Việt ra ngày 19/12/1996 trong bài quan điểm: Ngày 2/9/1945 tuyên bố độc lập th́ ngày 5/9/1945, Hồ Chí Minh cho Vơ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, kư sắc lệnh giải tán và cấm hoạt động các đảng quốc gia mạnh nhất lúc đó là Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xă. Một sắc lệnh khác cho phép công an toàn quyền bắt những người mà chế độ thấy là nguy hiểm cho họ. Ngày 12/9/1945, Vơ Nguyên Giáp đă lập cơ quan mật vụ có quyền giam giữ những người bất đồng chính kiến. Ngày 22/9/1945, Trần Huy Liệu ra lệnh kiểm duyệt các báo để kiểm soát những tiếng nói độc lập như báo Ngày Nay của Quốc Dân Đảng. Chưa đủ, ngày 1/11 năm đó, Liệu đặt các nhà in dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên Truyền, với mục đích ngăn chận việc phổ biến tất cả các ư kiến độc lập... “Người viết xin cảm tạ báo Người Việt đă cho mọi người biết tài liệu tối mật nội bộ hiếm có này v́ những người chống Cộng “ở bên ngoài” không bao giờ có thể biết.”

 

Khi quân đội Pháp nổ súng tại Hà Nội đêm 19/12/1946, th́ Thi sĩ Vô Danh đă chiến đấu trong thành phố cùng với khoảng 2 ngàn tự vệ chiến đấu và rất nhiều thiếu nhi, thanh niên, tiếp tục chiến đấu trong sự tuyệt vọng. Súng ống đạn dược hoàn toàn thiếu thốn và hạn chế. Họ cũng chưa được huấn luyện quân sự nhất là về đánh nhau trong thành phố. Tất cả đều chiến đấu theo “sáng kiến” và can đảm cá nhân.

Tất cả gần như chiến đấu bằng “tay không” chọi lại với sư đoàn thiết giáp thiện chiến 2ème Division Blindée, do đại tướng Leclerc chỉ huy, một đơn vị dă chiến thắng Đức quốc xă và là đơn vị đầu tiên được vinh dự giải phóng thủ đô Paris... trung đoàn 11 thuộc địa (11ème RIC -Regiment d'Infanterie Coloniale)..., trung đoàn Lê Dương (Legion Étrangère)...

Họ chiến đấu vô cùng anh dũng với hùng tâm của mấy ngàn năm chống xâm lăng. Họ đục tường xuyên qua các nhà, các phố, chiến đấu với một tinh thần cảm tử, quyết tử, một tinh thần mà sau này đại tá Némo, tư lệnh vùng duyên hải Bắc Việt (commandant, zone maritime du Tonkin), đă phải nói: “Họ chiến đấu dũng cảm và liều mạng như những con sư tử non...”

Vơ Nguyên Giáp và Việt Minh “không hề” trợ giúp đoàn Tự Vệ Chiến Đấu dũng cảm này, gồm toàn thanh niên Hà Nội, sau này được gọi là “Trung Đoàn Thủ Đô”... Nhưng Giáp vẫn cho viết bài phần nhiều là bịa đặt tưởng tượng về Trung Đoàn Thủ Đô để đề cao Việt Minh và làm đề tài tuyên truyền đẩy mạnh công cuộc động viên toàn miền Bắc kháng chiến chống Pháp. Việt Cộng cũng bịa đặt là tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy cuộc chiến đấu trong thành phố Hà Nội. Phải đến ngày 17/2/1947 hay sau gần 2 tháng, những người sống sót đă phải rút ra ngoài thành phố v́ đă kiệt quệ về lương thực và súng đạn. Số phận những người c̣n sống này không thể kiểm chứng. Một số gia nhập các đơn vị Việt Minh khác và tiếp tục chiến đấu cho đến chết hoặc cho đến khi chiến thắng năm 1954 và trở về Hà Nội. Những xác người chết được Pháp gom lại và chôn trong một nấm mồ tập thể rất lớn, gồm hẳn một khúc đường phố cạnh Ṭa Án Hà Nội.

Sau khi thoát được ra ngoài hậu phương, Thi sĩ Vô Danh đă gia nhập Vệ Quốc Đoàn, quân đội chính qui của Việt Minh thời đó. Trung Đoàn Thủ Đô có được thành h́nh nhưng có rất ít người “thủ đô Hà Nội”. Hầu hết đều là người Thanh Nghệ Tĩnh. Khi về Hà Nội cuối năm 1954, trung đoàn Thủ Đô toàn người nói tiếng trọ trẹ. Đây cũng là một thứ “kiêu binh” mà người Bắc sau này gọi là “lính Tam Phủ” như kiêu binh của chúa Trịnh ngày xưa. Trung đoàn trưởng lúc đó là Nguyễn Quốc Trị, người Thanh Hóa.

Sau này, có lẽ nhờ tài thơ phú, Thi sĩ Vô Danh đă gia nhập Hội Văn Nghệ Sĩ. Nhạc sĩ Phạm Duy khoảng năm 1950 đă từ chối thẳng vào mặt “cụ” Hồ, không thèm gia nhập Hội Văn Nghệ, và đă trốn vào thành phố. Đây cũng là cái tát vào mặt Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản. Kể từ khi ông Phạm Duy bỏ đi, Hồ và Việt Minh ghét cay ghét đắng dân “Bắc Kỳ” nhất là những người có tài như  ông... Vô Danh, cụ Phan Khôi, và hầu hết các văn nghệ sĩ miền Bắc. Lúc đó Văn Nghệ miền Bắc do Tố Hữu và Nguyễn Đ́nh Thi, Xuân Thủy nắm giữ chặt chẽ. Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hữu Loan, Trần Hoàn, Lưu Hữu Phước (người Nam)... chỉ là những kẻ theo đuôi voi, cầu sống. Những người khác như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn  Cao... đều phải chịu ép một bề...

 

Giết, giết hết, bàn tay không phút nghỉ!

Cho ruộng đất lúa tốt, thuế mau xong!

Anh em ơi! Cùng dệt bước tơ ḷng

Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!

                                               (Xuân Diệu)

Năm 1955-1956, Hồ Chí Minh ra lệnh cải cách ruộng đất để “đấu tố” tiêu diệt hầu hết những thành phần khá giả sáng sủa mà Hồ gọi là “địa chủ, phú nông, trí thức và giai cấp chỉ huy trong nông thôn như các chánh tổng, lư trưởng, bá hộ...” gọi là “trí, phú, địa, hào”... Bất cứ ai nằm trong thành phần này, hoặc chỉ người b́nh thường, đều có thể bị viện “đội trưởng” đội cải cách chiếu cố “lên liste” lên danh sách đấu tố, phải ra đấu trường, và bị đấu tố theo kiểu “Mao Ít” rùng rợn, tàn ác và khủng khiếp nhất.

 

Được nghe “bà” kể khổ!

“Con” thấy đời con thực là đáng chết!

“Con” đă đi bóc lột để nuôi “bà“

“Con” bây giờ không dám nhận là cha

Dù “bà” là do “con” đẻ ra

 

Thi sĩ Vô Danh quả tài t́nh. Chỉ bằng mấy câu ngắn ngủi mà hàm xúc đầy đủ sự ghê rợn của đấu tố Cộng sản. Cha phải gọi con gái bằng “bà” và xưng “con”. Nuôi con cũng là "tội" v́ phải bóc lột người khác để nuôi con. Trong khi đó, Hồ và Cộng sản giết người, bỏ tù, cướp bóc đủ thứ... th́ lại bắt cả nước phải “đời đời nhớ ơn Hồ chủ tịch”!

Cộng sản Hà Nội áp dụng Mao Ít nhiều hơn Mác Xít Lê Nin Nít, có lẽ v́ không thích hợp với hoàn cảnh địa phương (Việt Nam và Trung Quốc). Mác Xít chỉ là lư thuyết suông, chẳng ai thèm học hay áp dụng. Khi đại tá Phản Gián Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ và Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính luôn miệng chê bai Mác Xít th́ những tên chó săn cộng sản này đă lờ tịt vấn đề Lê Nin Nít và hiện nay là Mao Ít đang thật sự “được” áp dụng tại Việt Nam. Ngục sĩ kiêm chính trị gia Nguyễn Chí Thiện nên cho biết ư kiến về cuộc thanh trừng cộng sản Hà Nội do thượng tướng người gốc Tàu là Lê Khả Phiêu cầm đầu đă giết các đồng chí Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đ́nh Tứ, Dương văn Đầy...?

Đầu tháng 12/1966, báo Người Việt đă đăng (2 kỳ) bài của “nhà văn” Hoàng Tiến ở Hà Nội mà không ai biết tên này là ai, có thể là cán bộ phản gián, viết về Hà Sĩ Phu. Đài VNCR và Little Saigon cũng phụ họa tiếp vận phổ biến lá thư này. Đài VNCR phỏng vấn điện thoại viễn liên với Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự và các cán bộ Cộng sản khác mỗi ngày rồi truyền thanh lại cho đồng bào quận Cam nghe. Báo Người Việt cũng đăng những bài phỏng vấn rơ ràng và kỹ càng. Chiều ngày Chủ Nhật 8/12/1996, có một cuộc biểu t́nh nhỏ ở Little Saigon, quận Cam, California, để kỷ niệm nhân quyền. Nhân dịp này, Đoàn Thế Cường, người của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh cũng hô hào lấy chữ kư vào kiến nghị “đ̣i Hoa Kỳ” phải “mời” Hà Sĩ Phu và Đoàn Viết Hoạt sang Mỹ “diễn thuyết”... (cho chó săn Vẹm nghe chăng?).

Cộng sản vào cuối năm 1996 đă bị thâm thủng tới 4 tỷ đôla. Chúng cuống cuồng mở chiến dịch Dân Vận hải ngoại để kêu gọi người Việt đóng tiền cứu nguy... tổ quốc!

Nhóm Giao Điểm do Hồng Quang cầm đầu (trong khối Ấn Quang) đă tổ chức một bữa cơm chay tại chùa Việt Nam Orange chiều ngày 7/12/96 với thượng tọa Thích Pháp Châu để gây quỹ... trùng tu chùa Đậu ở tỉnh Hà Tây! Kết quả thu được hơn 7,000 đôla! Nhóm Giao Điểm Hồng Quang coi như lập thành tích thi đua đầu tiên. Chiến dịch hàng đầu vĩ đại này có thể sẽ được tuyên dương trước Ban Chấp Hành Trung Ương Quốc Hội và Mặt Trận Tổ Quốc v́ giáo hội Ấn Quang là tổ chức đứng hàng đầu trong Mặt Trận Tổ Quốc Xă Hội Chủ Nghĩa. Số tiền này đương nhiên phải được gửi về Hà Nội. C̣n vấn đề có trùng tu chùa Đậu hay không th́... chỉ có Vẹm biết chăng?

Tội ác của bọn chó săn cộng sản này là chúng cố t́nh lấp liếm sự kiện lănh đạo Cộng sản Hà Nội đang làm bù nh́n chó săn cho Trung Cộng để đầy ải dân tộc Việt Nam hơn nữa vào hố thẳm của nô lệ và diệt chủng. Vào năm 1996-1997..., dân tộc Việt bị hai kẻ Nội thù Việt Cộng và Ngoại xâm Trung Cộng đe dọa tiêu diệt. Sau này, sau khi Cộng sản bị tiêu diệt, bọn Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, Đỗ Trung Hiếu, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ và bọn tay sai bồi bút nằm vùng hải ngoại đáng bị xử vào tội “Thập Ác”.

 

* * *

 

Bài thơ dưới đây đă nói rằng đến năm 1960 Thi sĩ Vô Danh đă bị tù nhiều lần rồi, và sẵn sàng đợi bị bắt lại bất cứ lúc nào! (Ông Nguyễn Chí Thiện nói rằng bị tù từ năm 1961 khi ông 22 tuổi do lệnh “Tập Trung Cải Tạo” ban hành trong thời gian này.)

 

Đời tôi sẽ...

Đời tôi rồi sẽ tới đâu?

Ḷng tôi cũng chẳng t́m câu trả lời!

Nhà lao nay bước chân rời

Ngày mai có thể như chơi lại vào

Đất này là thế, biết sao

Tội hay vô tội luật nào xét cho

Người dân chẳng khác con ḅ

Nay cày è cổ, mai ḷ sát sinh

Những gương bắt bớ quanh ḿnh

Toàn dân lương thiện tội t́nh ǵ đâu!

Đói ăn ta thán một câu

Phản tuyên truyền tội ở đâu buộc vào

 

Một bài khác tả cảnh tù tội dưới chế độ Cộng sản:

 

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm?

Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?

Xin mời thế giới tới thăm

Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!

 

Bài thơ này tả cảnh “sống” trong chế độ Cộng sản:

 

Không phải chết, sống mỏi ṃn mới khiếp!

Sống niêu cơm, manh áo cũng đọa đày

Sống yên lành, song cũng khó yên thay

Sống lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay

Sống đau nhức cả thần kinh bắp thịt

Sống giương mắt đỏ ngầu trong xám xịt

 

Nói về chế độ Cộng sản kềm kẹp công an trị:

 

Người dân đă chán chê với cái tṛ hề chiến tranh cách mạng!

Cái họ được là khăn tang và nạng!

Cái mất đi: ánh sáng cuộc đời!

Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười

bắt đói, bắt làm...

hé răng oán thán là tù mục xương độc đoán...!

Nó lùa, nó thả (Nó đây là Hồ Chí Minh)

lũ mặt người dạ thú xông ra

khiến đồng xa, nơi mấp mô mồ mả

 

Bức tranh “tù tội” hay là tranh “sống” dưới chế độ Cộng sản do ô Thi sĩ Vô Danh vẽ rất “thật” v́ ông Vô Danh đă bị tù “thật”, đă sống trong địa ngục Cộng sản thật sự. Chỉ có công an, cán bộ, đảng viên, bộ đội hay là giai cấp ưu đăi, mới không biết thế nào là tù đày. Đọc những bài thơ này lên, ta thấy ông Vô Danh quả có tài làm thơ tả cảnh Cộng sản tàn bạo, tù đày dân chúng bất kể luật pháp hay nhân quyền, dân quyền, coi nhân dân như kẻ thù, khiến người đọc phải thấy rùng ḿnh khiếp sợ.

 

Chúng tôi sống giữa ḷng thung lũng

Bốn bên là rừng núi bọc vây quanh!

Ở rúc chui trong mấy dẫy nhà tranh

đầy rệp muỗi, đầy mồ hôi, bóng tối!

Bệnh tật cho nhau, đời ôi hết lối!

Tuyệt vọng ngấm dần, hồn xác tả tơi...

 

Thi sĩ Vô Danh nh́n thấy tất cả những thành phần xă hội bị Cộng sản cho đi tù tuốt luốt, đi tù từng xâu, bất cứ lúc nào, và không cần lư do, không có pháp luật xét xử. Những người tù này và kể cả Thi sĩ Vô Danh, “không bao giờ” được nói chuyện với giám đốc công an Hà Nội, mạn đàm và chụp ảnh mầu với quản giáo trại cải tạo, và dứt khoát không bao giờ mơ ước được đi nhậu nhẹt, tâm sự anh anh, tôi tôi, với ông Viện Trưởng Mác Lê Hoàng Minh Chính tức trung tướng phản gián Trần Ngọc Nghiêm, một lư thuyết gia Xít Ta Lin Nít sắt máu nhất, trung kiên nhất, cao cấp ngang hàng với Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... như ông Nguyễn Chí Thiện đă từng khoe tại Hoa Kỳ.

Thi sĩ Vô Danh dĩ nhiên chỉ nh́n thấy tù tội, đói rét, khổ sở, hành hạ, và cái chết chờ đợi mọi người tù. Ông Nguyễn Chí Thiện, có lẽ không hiểu thế nào là tù đày “thật sự”, nên chỉ phàn nàn rằng Cộng sản không cho tù nhân giấy... vệ sinh (toilet paper) và băng vệ sinh (maxipads) cho nữ tù nhân khiến cho họ hôi hám bẩn thỉu không vừa cái lỗ mũi của ông khi họ đi ngang qua mặt ông...

 

(Với những thành tích nói chuyện “anh anh tôi tôi” với Cộng sản cỡ gộc, ngang với Lê Duẫn và có thể thay thế Lê Duẫn làm Tổng Bí Thư. Xít Ta Lin Nít thượng tướng Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, “giả thử” ông Thiện là cán bộ th́ ít lắm cũng phải cấp thiếu tướng.) Ta hăy coi ông Thiện làm... thơ (?) tả cảnh tù Cộng sản “chỉ khổ” v́ không có giấy vệ sinh (tại Washington D.C. đầu tháng 11/1995):

Ở Hỏa Ḷ, giấy vệ sinh khó có

Nhiều người không dùng như trâu như chó

Phải có quà, có ngoại giao mới có thể mong xoay

Xoay nó c̣n khó hơn xoay vé máy bay...!

                                               (Nguyễn Chí Thiện)

Người viết bài này nghi ngờ rằng ông Thiện chưa ở “tù thật” bao giờ, tuy rằng ông có dịp “quan sát” các trại tù để có “kinh nghiệm tù” mang ra hải ngoại nói chuyện... tù! Đọc “thơ tù” của Thi sĩ Vô Danh, ta thấy người tù thật “không bao giờ” lo vấn đề giấy vệ sinh hay băng vệ sinh. Người tù Cộng sản “sống dở chết dở” trong sự đọa đày, cực khổ, đói rét, bệnh tật tối đa..., “lo” đủ thứ trong hy vọng hăo huyền, v́ “không có ǵ cả”! Chỉ thấy đen tối và tương lai mù mịt đầy cực khổ hơn nữa, hoặc chết chóc, làm ǵ dám nghĩ tới vé máy bay mà ví với von?

 

Người tù không thể kêu ai v́ chính Nhà Nước là quân nội xâm cai trị bạo tàn. Người tù biết không bao giờ được “thả”? Không biết gia đ́nh con cái trẻ nhỏ ở nhà ra sao? Không biết chiều nay, hay ngày mai, có được ăn không? Mà được ăn cái ǵ? Nếu có khoai hà, sắn mốc hay ngô cứng như đá là may, mong ǵ đến cơm? Có lẽ trong bụng người tù nào cũng quá đói, đói mờ con mắt trong cái đói thường xuyên, nên không ai lo “vệ sinh” mà chỉ lo ăn! Có cái ǵ trong bụng đâu mà lo tống ra? Người tù Cộng sản đói đến vàng mắt, đói mờ người, đói bải hoải chân tay mà vẫn bị đốc thúc lê lết đi lao động. Chậm chạp lao động là báng súng đánh vào người ngay để làm cho đau đớn ê chề hơn nữa.

Bài thơ này, Thi sĩ Vô Danh kể chuyện một người tù già lắm nhưng vẫm cố “học tập tốt, lao động tốt” cho vừa ḷng quản giáo coi tù và cho hả dạ vợ con ông, v́ họ vẫn tưởng như lời Cộng sản nói: tù nhân vẫn được đối đăi tử tế v́ chỉ được đi học tập, lao động để cải tạo thành người “tốt”.

 

Khi tới nhà ông

tôi sẽ nói cùng vợ con ông rằng ông đói quanh năm!

Tuổi ông già, răng ông móm, nhưng ông chăm

Đi lao động kiếm phần ngô c̣m cơi!

Miệng bát sành cơm gần như đá sỏi!!

 

Tả cảnh xă hội Việt Nam dưới chế độ Cộng sản:

 

Bà kia tuổi sáu mươi rồi!

Mà sao không được phép ngồi bán khoai?

Cụ kia tuổi bảy mươi hai

mà sao hội họp mệt nhoài không tha?

Tự do tôi quư thiết tha

mà sao tù ngục hết ra lại vào?

Anh kia đi lính thuở nào?

Tội chi cảnh sát cũng vào bắt đi?

Em kia học chửa biết chi

 

Người tù Cộng sản chỉ mong có cái ǵ nhét vào mồm, dù chỉ là khoai sắn, hơn là “lo” tống xuất ra ngoài, v́ bụng rỗng, lép xẹp, có cái ǵ đâu mà phải tống xuất? Nếu không có ăn, bụng trống rỗng, th́ cần ǵ đến vệ sinh mà phải “chạy chọt” với công an coi nhà khách th́ cũng điều phải lẽ, nên ông Thiện “không quên” trong thơ “tù” của ông. Tháng 8/1996, hai ông bà ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher đến Hà Nội mà không ngờ rằng pḥng tắm dành cho thượng khách nước ngoài không có giấy vệ sinh!

Ngoài cái đói, c̣n có cái rét. Khi đói, thiếu ăn, thiếu mặc, quần áo, chăn mền không có, th́ không mấy người chịu nổi cái rét lạnh ghê người ở miền Bắc. Bị ho lao, lao ra máu là do thiếu ăn và rét lạnh. Mỗi người tù đều bị hành hạ bằng đủ thứ bệnh và sự thiếu thốn đủ thứ. Bệnh tật không bao giờ có thuốc. Tù nhân phải được gọi là “tù bệnh, tù đói” mới đúng. Họ quằn quại, ṃn mỏi trong nhiều tháng nhiều năm. Cái chết thường đến chậm chạp, lay lắt, để kéo dài sự đau khổ lâu hơn nữa. Những người tù bệnh thường không thể chết nhanh chóng dễ dàng v́ họ c̣n nhiều sự lo lắng cho gia đ́nh, nhiều kỷ niệm, nhiều vấn đề chưa giải quyết, sự thương nhớ gia đ́nh con cái, sự mong mỏi đoàn tụ, nhất là niềm hy vọng và cố gắng “sống” để có thể một ngày nào đó trở về... đă kéo dài sự ham sống của họ.

 

* * *

 

Thi sĩ Vô Danh đă viết nhiều lần sợ hăi cái nóng bức kinh hồn trong hầm đá và cái rét lạnh mỗi khi mùa đông đến.

 

Từng cơn nóng dội, từng cơn rét

Thịt bắp tiêu dần, xương với da.

Chân vỡ sưng, cùm nhay lở loét!

Rệp muỗi quây quần hút máu ta.

Vụ hè oi bức trong hầm đá

Không khí như là hơi nước sôi!

Ta khắp thân mồ hôi ướt vă

Cơm muối nhai cùng phân chuột hôi!

 

Thi sĩ Vô Danh kể chuyện một người lớn tuổi chết trong tù:

 

Ốm đau không thuốc, không ǵ!

Chuyện thông thường đó nói chi thêm nhiều!

Bác nằm liền sát cầu tiêu

Mùi phân nước giải sớm chiều nồng hôi

Bác ơi, bác sắp chết rồi

Bác không c̣n sức để ngồi được lên

 

Phụ nữ trong tù quá đói, mất hết máu, mất hết hồng huyết cầu, người xanh như tàu lá, th́ làm ǵ c̣n đường kinh mà phải lo đến băng vệ sinh? Người phụ nữ đă bị tù th́ lo đến lũ trẻ nhỏ ở nhà không có ăn, không người săn sóc, sẽ phải chết dần ṃn v́ bệnh tật thiếu ăn. Đứa nào đi bụi đời sẽ thân tàn ma dại, chẳng c̣n nhớ, biết ǵ đến cha mẹ, anh em, gia đ́nh! Nhiều phụ nữ vào tù với con nhỏ đang bú, v́ đói nên kiệt sữa, đă phải nh́n đứa con đói lả chết trên tay, c̣n bụng dạ nào lo đến băng vệ sinh hay sự hôi hám bẩn thỉu?

Nói tóm lại, người bị cộng sản cầm tù không án tù, không thời hạn, không tội lỗi, chỉ thấy căm hờn chất chứa, hận thù thiên thu... nghĩ cách ra khỏi tù, nghĩ cách chạy trốn hay tiêu diệt Cộng sản... chứ ai hơi đâu mà lạy van chạy chọt công an để có giấy vệ sinh hay băng vệ sinh? Miền Bắc trước kia và bây giờ, hầu hết đều không có giấy hay băng vệ sinh... th́ làm sao công an có để bán hay cho? Có lẽ nhiều cô gái miền Bắc chẳng bao giờ được “thấy” cái băng vệ sinh văn minh nó ra sao? Mà trong tù th́ “tiền đâu” mà chạy chọt công an để kiếm giấy vệ sinh? Nếu có tiền cụ Hồ th́ để mua cái ǵ ăn. Nếu dư tiền cụ Hồ th́ nên dùng thay giấy vệ sinh có lẽ tiện hơn?

Công an biết tù có tiền th́ nó hành cho đến mức phải “cúng” hết cho nó, chứ làm ǵ c̣n xài sang mà nhờ công an mua dùm giấy vệ sinh?

Giả thử họ có hôi hám bẩn thỉu v́ không được tắm, không có xà pḥng hay băng vệ sinh th́ họ cũng thích thú cho công an, quản giáo “ngửi” cho sướng cái lỗ mũi của chúng, chứ việc ǵ họ phải sợ bị ai cười chê là dơ bẩn hôi hám? Có lẽ khi những phụ nữ tù nhân đi qua mặt ông Thiện, lúc đó có lẽ đứng xem với tư cách công an thanh tra, mặc complet trắng tinh, nên ông Thiện đă không quên cái mùi xú uế của họ dù mũi ông được ông dùng mù xoa bịt lại. Ông Thiện nghĩ rằng v́ họ không có băng vệ sinh nên mới hôi hám như vậy.

Quư độc giả nên ngâm những bài thơ trên để so sánh với bài thơ “giấy vệ sinh” để xem bài nào là thơ, và bài nào chỉ là ghép chữ vớ vẩn kiểu nhà quê bần cố nông?

Tối ngày 15/11/1996, cộng đồng người Việt Tự Do bang NSW lại được hân hạnh  tiếp đón nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở lại thành phố Sidney từ thành phố Brisbane. Khoảng 600 người đă đến tham dự đêm tâm t́nh với ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện... Phần nói chuyện của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn được những tràng vỗ tay nồng nhiệt của quan khách đến tham dự. Một lần nữa, ông (Thiện) đă vạch trần bản chất đại gian đại ác của lănh đạo Cộng sản Việt Nam “với những xảo thuật lừa bịp vô cùng tinh vi và dă man, chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là chiếm đoạt quyền lực và bảo vệ quyền lực bất kể đạo lư tối thiểu của con người.”

Ông (Thiện) kể những cảnh cơ khổ trong tù, nhất là người phụ nữ, “chúng không màng ǵ đến vệ sinh tối thiểu của người phụ nữ đến nỗi những “nàng Kiều thời đại” bị tù đi ngang qua là sặc mùi hôi thối.” C̣n thân phận các em thiếu nhi sinh ra và lớn lên trong các gia đ́nh thiếu ăn đă phải đi vào con đường trộm cắp th́ bị chúng đánh đập và hành hạ một cách tàn nhẫn thô bạo, đến nỗi ngày nào ở trong tù ông cũng thấy mang xác đi chôn với vẻ mặt thản nhiên của cán bộ trại. Ông nói: “Bởi v́ lớp tù này chết đi th́ đă có lớp khác đến thế”.

(Có lẽ v́ chủ quan hay là quen thói “độc tôn” của cán bộ công an cấp cao nên trong một dịp diễn thuyết tại San José giữa tháng 12/1995, ông Thiện đă phát biểu về miền Trung một câu mà những người Huế, người Trung cho đến nay có lẽ chưa quên. Khi nói về miền Trung, xứ Huế, ông Thiện “phang” một câu rất “chữ nghĩa, điển tích”... “sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm!” Tác giả xin cáo lỗi với quí vị người Trung v́ bài khảo luận cần phải nêu ra những chi tiết về con người mang danh “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện)

Ông Thiện cũng làm thơ mỉa mai những người nữ tù nhân là dơ dáy, hôi hám, cũng hút thuốc lào như lưu manh:

 

Những nàng Kiều

Cộng sản kết tội phong kiến và xót thương

Nàng Kiều ngày xưa trong văn chương

C̣n những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa Ḷ, ai thương?

Ghẻ lở đầy, gầy giơ xương

Vét ăn từ hạt cơm dưới rănh

Cũng cùm kẹp, đ̣n đánh

Cũng lén hút thuốc lào như những ông mănh lưu manh

Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!

(Nguyễn Chí Thiện -1983 -trg.36, HMT)

 

Đọc lên ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không phải đồng cảnh ngộ “tù” như những người nữ tù mà ông gọi một cách rất ư  công an là những “nàng Kiều thời đại”. Ông Thiện khinh bỉ họ vét ăn từng hạt cơm dưới rănh, lén lút hút thuốc lào như lũ lưu manh bạn tù của các cô này, và mỗi lần họ đi qua mặt ông quản giáo hay thanh tra” Thiện là sặc mùi tanh tưởi v́ không biết dùng và không có băng vệ sinh. Dưới mắt ông Thiện (công an?) th́ người tù nào cũng chỉ là lưu manh, phản động, bất măn “dám” chống, dám chửi chế độ! Cái mùi hôi hám này ám ảnh (đồng chí công an phản gián đi tham quan để hiểu biết về nhà tù cho dễ nói chuyện sau này) Nguyễn Chí Thiện đến mức 13 năm sau, khi tới Sidney, ông vẫn chưa quên và phải nói lên cho cử tọa (nam nữ Việt kiều Sidney) cùng thưởng thức!

Nếu so sánh ta thấy Thi sĩ Vô Danh không hề gọi người nữ tù khác, đồng cảnh ngộ, một cách khá... “công an” là những “nàng Kiều thời đại”! Ta có thể đọc dưới đây bài thơ Thi sĩ Vô Danh tả cảnh người con gái “đĩ” ở trong cảnh đói khổ cùng cực ở Hà Nội, người con gái chỉ có thể làm đĩ để kiếm sống, mà ông Vô Danh vẫn coi là bạn chí thân đáng quư trọng:

 

Tôi là bạn của cô gái đĩ

Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa

Tôi chẳng có ǵ an ủi cô ta

Ngoài t́nh cảm chan ḥa và không khinh bỉ

Tôi là anh của những em nhỏ tí

Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân

Bé tí hon mà tù tội bao lần

Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!

 

Thi sĩ Vô Danh cũng làm thơ “ai điếu” người con gái “tập kết” từ miền Nam ra Bắc năm 1955, đă, có lẽ v́ chửi Cộng sản, bị chúng tù đầy, giam cầm và bị ho ra máu, cũng như ông, cho đến chết. Đọc lên ta thấy ông Vô Danh sót thương cho người con gái đó hơn cả chính bản thân, và dĩ nhiên không hề có giọng điệu diễu cợt đùa giai một cách đểu giả, ác độc của công an coi tù, gọi những người phụ nữ tội nghiệp, đáng thương, nạn nhân cộng sản, là “nàng Kiều thời đại”!

Bài thơ cũng tả cực h́nh rùng rợn mà người con gái miền Nam tập kết khốn khổ phải chịu cho đến chết, dĩ nhiên không phải v́ hôi hám thiếu băng vệ sinh... Thi sĩ Vô Danh “không ngửi” thấy mùi hôi hám của người con gái đang sắp chết này, có lẽ v́ ông cũng là tù hôi hám như vậy, và không phải là công an quản giáo kiêm thanh tra “sạch sẽ” như ông Nguyễn Chí Thiện chỉ khoe mặc complet toàn trắng đi chơi Hồ Tây bơi thuyền (périssoire) ăn bánh tôm với “người bạn đẹp như tiên” chăng?

 

Anh gặp em trong bốn bức rào dầy...

Má gầy, mắt trũng

Phổi em lao, chân em phù thũng

Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng

Em ngồi run, ôm ngực c̣m nhom

Y sĩ công an nh́n em, thôi (th́) nạt nộ om ṣm

Em ngồi lọt thỏm

Giữa bọn người vàng bủng co ro

Những tiếng ho

Những cục đờm máu!

Mớ tóc rối đầu em rủ xuống ḿnh em, teo nhỏ, lơa lồ...

(v́ quần áo đă rách nát hết, không đủ che thân gầy.)

Em có ǵ đâu mà em xấu hổ!

Em là đau khổ hiện thân

Ngấn lệ đêm qua c̣n dấu hoen nḥa

Trên g̣ má tái

 

(Người chết nghèo khổ, tù tội miền Bắc khi chết thường được bó trong chiếu rách mang đi chôn. Người sống cũng không khá hơn. Trong mùa đông giá lạnh, có cái chiếu lành lặn mà đắp là may lắm rồi!)

 

Anh biết ḷng em kinh hăi hơn ai

Khi gió bấc ào qua vách ải

Những manh áo vải... tả tơi, vật vă...

vào thịt da...

Em có lạnh lắm không?

Mưa gió mênh mông

Thung lũng sũng nước bùn

Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc

Những khuôn mặt xanh vàng gầy rộc

Nh́n nhau, đờ đẫn không lời

Nhát nhát em ho

 

Đọc lên ta thấy cả một câu chuyện năo nùng, thê thảm của một người con gái miền Nam thơ ngây, năm 1945-1955 đă mang nhiều mộng đẹp muốn ra Bắc để góp phần xây dựng... độc lập, tự do và thiên đường Cộng sản tại Việt Nam. Để rồi vỡ mộng thiên đường, thấy rơ bộ mặt lưu manh xảo trá của bọn lănh đạo Bắc Bộ Phủ và Hồ Chí Minh. Người Nam trực tính, nóng nảy, hể thấy trái tai gai mắt là nói thẳng, hỏi thẳng và có khi chửi thẳng vào mặt. Họ không nghĩ rằng đă lọt vào trong tay Cộng sản, lơ mơ là chúng bắt bỏ tù cho đến chết đói, chết bệnh.

Bài thơ này được Thi sĩ Vô Danh viết “trong tù” năm 1965. Khi đó ông Nguyễn Chí Thiện đă ra khỏi tù (1964-1966) và đang dịch sách báo ngoại ngữ Anh Pháp, có lẽ là cho... Cục Phản Gián, v́ trong những năm 1955 đến 1965, 1966 cho đến 1975, 1985...

Trong cao điểm chống Mỹ năm 1964-1965 đến 1975, không một người miền Bắc nào “dám” dùng đến ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Khi Thi sĩ Vô Danh viết lá thư tuyệt mệnh ông viết bằng tiếng Pháp và có lẽ ông chưa bao giờ học và dịch tiếng Anh như ông Nguyễn Chí Thiện. Nhiều bài thơ chứng minh Thi sĩ Vô Danh vẫn ở trong tù 1965.

Tạm trú ở một nhà người quen trong ba ngày ông gợi từ trí nhớ viết “là” được 377 bài thơ sau đó ông cất dấu rồi xuống Hải Pḥng trở lại. Rồi đến dịp sau ông mới lên Hà Nội mang tập thơ đến ṭa đại sứ Anh.

Thi sĩ Vô Danh, trái lại, đă “chôn dấu” (chôn rấp) tập thơ đâu đó ở trong nhà ông ở Hà Nội và ôm mộng ước từ năm 1970, “là không biết đến bao giờ “ ông sẽ được đi khắp nơi để phổ biến những bài thơ “lồng lộng bay, lay thức nhân tâm!”. Thi sĩ Vô Danh bị quản chế tại gia ở “Hà Nội”, cô đơn, sau khi cha mẹ chết, chứ không phải ở Hải Pḥng cùng với chị và em như ông Nguyễn Chí Thiện. Có lẽ sau này v́ cơ thể mỗi ngày mỗi tàn lụi v́ tù đày hành hạ và ho lao ra máu, nên Thi sĩ Vô Danh đă phải đi đến quyết định đột nhập ṭa đại sứ để đưa tập thơ của ông trước khi chết v́ ho  lao và tù đày thêm nữa. Ông Thiện cũng quên không tả cảnh ông bị Cộng sản bắt được sau khi ra khỏi ṭa đại sứ Anh ra sao?

Xin quư bạn đọc bài thơ dưới đây:

 

Biết đến bao giờ tôi được gặp

Người trong huyễn tưởng bao năm!

Biết đến bao giờ đi được khắp

Chân trời ước mộng xa xăm?

 

 

Thi sĩ Vô Danh đă coi bệnh lao trong hai lá phổi của ông là hai lưỡi dao găm của Thần Tự Do, hay là bản án tử h́nh của thần Tự Do, không cho ông sống và được tự do... Thơ phải nhiều ư nghĩa gói ghép bên trong như vậy mới có thể gọi là thơ...

Bài thơ này tả sự cô đơn, không có anh chị em, bạn bè, của ông Vô Danh, tuy không đề ngày, nhưng có lẽ khoảng năm 1974 hay 1975, sau khi cha ông chết. Ông Nguyễn Chí Thiện, trái lại, có đủ cả anh ruột ở miền Nam rồi đi Mỹ và bà chị và có cả các em nữa.

Tôi, một kẻ không gia đ́nh, bè bạn

 

Sống một ḿnh, bệnh hoạn xanh xao

Chai nước con, chiếc điếu hút thuốc lào

Chiếc giường vải, chiếc bàn bằng gỗ cũ

Đồ đạc tôi thế là tạm đủ

Cuộc sống nghèo hèn, không ước không mơ

Ngoài thời gian dạy học vài giờ

Tôi t́m kiếm niềm khuây trong sách vở

 

Thi sĩ Vô Danh đă cho biết khi ra tù, tạm thời v́ có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào, ông phải đi dạy học mỗi ngày vài giờ kiếm ăn. Khẩu phần miền Bắc lúc đó dùng tem phiếu (phiếu sổ - food stamp) để cho khẩu phần tiêu chuẩn giới hạn mỗi người 100 gram đường và 100 gram thịt mỗi tháng. Cha mẹ ông lúc này đă chết. Ông sống cô đơn trong một căn gác nhỏ ở Hà Nội và bị quản chế tại gia, lúc nào cũng có thể bị buộc bất cứ tội ǵ và bị bắt giam tù trở lại. Hai câu chót, tuy nhẹ nhàng, nhưng đủ tả sự rùng rợn của chế độ Cộng sản: chỉ cần tỏ vẻ không vui, bất măn là đủ bị công an ghép tội “bất măn” và bắt đi tù!

 

Đảng bắt vui, bắt nói,

bắt khóc, bắt cười,

bắt đói, bắt làm..

hé răng oán thán

là tù ngục mục xương độc đoán...!

                 (Vô Danh - Đồng Lầy)

 

Ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không bao giớ nói rơ chi tiết lư do, ngày giờ, năm tháng bị bắt, nơi bị giam lần đầu tiên trong thời gian trước năm 1961. Ông Nguyễn Chí Thiện chỉ khai thời gian bị bắt giam với ngày tháng rơ rệt như một tài liệu học tập đă được (do ai?) sửa soạn sẵn. Lần thứ nhất từ tháng 5/1961 cho đến tháng 11/1964. Lần thứ hai: Từ tháng 2/1966 đến tháng 7/1977. Lần thứ ba: Từ tháng 7/1979 đến tháng 10/1991. Tổng cộng tù hơn 27 năm, không xét xử.

Những điểm lư lịch đáng lưu ư khác là ông Nguyễn Chí Thiện khai là sinh ngày 27/2/1939 (Hà Nội). Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo Phật giáo. Tŕnh độ học lực: Tốt nghiệp Trung Học (Tú Tài) năm 1955. Đi tù về tội “làm thơ chống Cộng”. Nghề nghiệp: dạy Pháp, Anh văn, Dịch sách (1964-1966 tại Hải Pḥng Việt Nam.

Lư lịch quá sơ sài và thiếu nhiều chi tiết. Thí dụ: tên tuổi cha mẹ và anh chị em ruột. Nếu ở Hà Nội th́ thường phải có địa chỉ nơi sinh với số nhà, đường phố hoặc nhà hộ sinh, hoặc địa chỉ, nghề nghiệp cha mẹ ghi rơ ràng trong giấy khai sinh. Ông Thiện không hề cho biết địa chỉ sinh sống trước năm 1954, sau 1954, và nơi chốn chi tiết khi bị bắt năm 1961. Kể từ năm 1991, sau khi được thả, ông Thiện ở Hải Pḥng cho đến khi đi Mỹ. Tại Orlando, tối 14/12/1966, ông Thiện “lỡ miệng” nói ông bị quản chế tại gia ở... Hà Nội! Thế th́ tại sao khi đến Mỹ ông Thiện nói rằng ông ở Hải Pḥng?

Nếu nguyên quán như vậy th́ ông Thiện đă ở Hải Pḥng trong khi Thi sĩ Vô Danh sinh sống ở Hà Nội, bị bắt cũng ở Hà Nội và bị đưa đi cải tạo trên rừng núi. Sau khi được “thả”, Thi sĩ Vô Danh phải trở về nguyên quán ở Hà Nội để công an phường và quận “quản chế”, để rồi bị bắt trở lại bất cứ lúc nào. Thường th́ tù nhân được thả về đều buộc phải về nguyên quán để công an địa phương quản chế ít lắm là một năm trước khi trả quyền công dân. Ông Thiện nói đi tù về tội “làm thơ chống Cộng”.

 

 Thi sĩ Vô Danh không nói như vậy. Tŕnh độ có học thức và là người Bắc thời đó, khiến Thi sĩ Vô Danh phải nói rằng bị tù v́ “chửi Cộng sản”, hoặc làm thơ “chửi Cộng sản”. Công an cũng chỉ khép tội bất măn “chửi bậy” hay nói bậy, v́ nếu nói tội “chống” Cộng, chống Đảng, chống chính quyền... th́ đều bị coi là phản động, phản cách mạng và có thể bị tử h́nh hay bị tra tấn cho đến chết để cung khai đồng lơa.

 

Giả thử ông Thiện nói rơ cha mẹ anh em ông và địa chỉ ở Hải Pḥng th́ người ta rất dễ dàng truy ra manh mối rằng trong 27 năm gọi là “tù”, th́ ông Thiện có ở “tù thật” không? Nếu nói dịch sách báo Anh Pháp ngữ năm 1964-1965-1966 th́, xin lỗi ông Thiện, chỉ có Cục Phản Gián mới cần “tay nghề” loại này. Công an thường th́ dốt như vịt, chữ nghĩa đâu mà Anh văn với Pháp văn? Những năm 1964 đến 1975, miền Bắc căng thẳng tột độ v́ cao điểm đánh Mỹ ở miền Nam và Mỹ oanh tạc miền Bắc, dân thường làm ǵ có sách vở báo chí ngoại ngữ để cho ông Thiện dịch? Tù được thả về nhà, bị quản chế, th́ ai cho dịch đồ quốc cấm tức là sách báo ngoại ngữ? Cái vụ dịch Anh Pháp văn chỉ là thủ đoạn mập mờ “ra cái điều” ông Thiện chính là thi sĩ Vô Danh biết Anh Pháp ngữ rành rơi.

Tất cả miền Bắc không ai chống Cộng v́ chống không nổi với mạng lưới công an dày đặc. Chống không nổi th́ họ chửi. Về môn “chửi” nhất là “chửi Cộng sản” th́ người Bắc thâm thúy, tinh ranh số một. Họ chửi bằng vè, bằng thơ, bằng chuyện tiếu lâm, bằng chuyện khôi hài “đen”... làm cho Cộng sản tức điên người. Có lẽ người miền Bắc và cả người miền Nam sau này, đều “giải trí” bằng những chuyện khôi hài tiếu lâm để chửi Cộng sản một cách sâu xa, cay độc. Hồ Chí Minh khi c̣n sống đă ghét cay ghét đắng dân Bắc Kỳ. Hồ và Giáp xua lính người Bắc đi trước xung phong biển người cho chết hết. Người khu Tư hay lính Tam Phủ Thanh Nghệ Tĩnh, phần nhiều là đảng viên ṇng cốt của chế độ, th́ được đi sau để nhận công lao chiến thắng.

Tất cả những lư lịch mà ông Nguyễn Chí Thiện tự khai về ḿnh vẫn chỉ là một chiều, và rất sơ sài, không thể kiểm chứng. Ông Thiện nói vậy th́ chúng ta biết vậy. Nhưng chúng ta có thể nhận định qua những lời khai lư lịch của ông Thiện để phối kiểm, so sánh với tŕnh độ và thời gian làm thơ của Thi sĩ Vô Danh. Ta cũng có thể đọc “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện, tập thơ Hoa Địa Ngục tập số 2 hay là Giọt Máu Thơ th́ ta thấy quá tŕnh quá khứ của ông Thiện rơ như ban ngày! Tập thơ này hoàn toàn đối nghịch và khác hẳn với tập thơ Vô Đề của Thi sĩ Vô Danh, thường được gọi là Hoa Địa Ngục I, về lối làm thơ, về nội dung thơ, về ư thơ, và về thủ đoạn xảo trá bịp bợm trong thơ của cán bộ cộng sản.

Nếu ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 mà lại đậu Tú Tài (không nói rơ là toàn phần nhưng nói “tốt nghiệp trung học và Tú Tài”) năm 1955 khi ông có 16 tuổi! Đây là một chuyện khá phi lư v́ những ai có đi học trong giai đoạn này đều hiểu rằng riêng năm 1946-1947 với chiến tranh chống Pháp phát động, hầu như tất cả mọi người đều mất ít nhất là một năm học. Rồi đến năm 1954-1955. Việt Minh tiếp thu Hà Nội và Hải Pḥng, mọi người lo di cư, lo đủ thứ, các trường phần lớn giáo sư, giáo viên di cư, học hành loạc choạc... làm sao thi? Ông Nguyễn Chí Thiện có thể là thần đồng nhưng thời đó không ai nghe thấy tên "thần đồng Nguyễn Chí Thiện" mới 16 tuổi đă "tốt nghiệp Trung học. Ông Thiện cũng nói ông đậu “Tú Tài” nhưng ông Thiện không biết rằng thời đó có những 2 bằng Tú Tài, phần I và II, phải thi trong 2 năm đậu liền mới đủ, mới có tên lên đại học. Nhiều người đă phải thi nhiều lần trong nhiều năm và vẫn “trượt vỏ chuối” đều đều. Ông Thiện cũng không nói rơ thời gian từ 1945 đến 1955 ông ở đâu? Ông Thiện chỉ nói rằng năm 1956, ông và gia đ́nh xuống Hải Pḥng cư ngụ. Vậy th́ ông Thiện nên cho biết địa chỉ cư ngụ ở Hà Nội và Hải Pḥng.

Có lẽ Cục Phản Gián toàn những tay ít học, chẳng hiểu rằng có  hai phần” Tú Tài, phần I và II, với tuổi tương xứng để thi đậu (ít hất là 18, 19 hay 20, nên khi dàn dựng chuyện này đă không tính đến vấn đề tuổi tác và cả Bắc Kỳ hồi đó (1955) không có thí sinh Tú Tài nào, mới có 16 tuổi, lại đậu cả 2 phần Tú Tài vào năm 1955! Nếu tính mất đi một niên học năm 1946-1947 th́ ông Thiện quả là  “thần đồng” học và thi đậu Tú Tài Toàn Phần năm 16 tuổi, bằng... tưởng tượng của cán bộ phản gián dốt nát, vô học!

Một lư đoán khác về tác giả thơ Vô Đề là vào năm 1980, khi cần phải có một tác giả tập thơ Vô Đề “c̣n sống”, v́ nói chết rồi th́ thật khó ăn khó nói, nên Cục Phản Gián đă chọn một cán bộ có tŕnh độ kha khá, biết chút ít ngoại ngữ, đứng ra nhận ḿnh là tác giả tập thơ. Sự “nhận vơ” như vậy để tiện nhận quà, nhận giải thưởng, thư từ cảm t́nh từ khắp thế giới gửi về Hà Nội, mà không bị mang tiếng “đă giết chết nhà thơ Vô Danh”, một nạn nhân Cộng sản, đă được cả thế giới ngưỡng mộ.

Một vài người và cán bộ đă được phép “tiết lộ khéo” với hải ngoại là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục tên là như vậy và hiện đang sống và đang ở “tù cùng với chúng tôi”. Bằng chứng là... ông này có ngâm thơ Hoa Địa Ngục trong nhà tù Thanh Liệt! Cũng do sự “t́nh cờ” ông  tác giả thơ Hoa Địa Ngục” Nguyễn Chí Thiện cũng được giam ở Thanh Liệt và “gần” pḥng giam ông Vơ Đại Tôn, với các ông Trần Nhu, Minh Thi... Rồi cũng lại “t́nh cờ” ông Trần Nhu và ông Minh Thi được đi Mỹ và làm “chứng” rằng ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ, c̣n sống, và đă ở tù chung...

Nhờ ngâm thơ Vô Đề chống Cộng “trong tù” mà nhận ra nhau là những “anh hùng, chiến sĩ” văn nghệ, và nhận ra luôn cả Nguyễn Chí Thiện là “tác giả” tập thơ Vô Đề, trong khi chưa ai “khảo” về cái tài làm “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện. Người Việt hải ngoại vội đặt cho ông Thiện cái tên “ngục sĩ” cũng khá đúng v́ ông tự nhận có những 27 năm trong tù (chưa kiểm chứng). Nhưng chưa ai biết ông Thiện có tài làm thơ “thật” hay không? Ông Thiện cũng kỹ càng chu đáo khi cố gắng chụp ảnh chung với các tù nhân thứ thiệt, các tù nhân biệt kích hoặc sĩ quan quốc gia trước năm 1955, những cái tiểu xảo này làm sao che được “sự thật” của một tập bài viết quê mùa, ngớ ngẩn đầy khoe khoang của một cán bộ công an cấp cao!

Nếu chỉ có vậy và “thi sĩ giả” của tập thơ cứ ở yên miền Bắc cho đến ngày nay th́ không sao, không ai cần để ư. Nhưng Cục Phản Gián không ngờ sẽ có ngày người Mỹ lại yêu cầu phải thả “tác giả tập thơ” và cho đi Mỹ...

Mọi toan tính do đó phải chuyển sang hướng khác: nên cho đi Mỹ hay không cho đi Mỹ? Nếu “không” cho đi Mỹ th́ phiền v́ Mỹ có thể lấy lư do đó mà cứng rắn vấn đề nhân quyền, bang giao và tối huệ quốc. Vậy nên cho đi Mỹ th́ có lợi hơn. Có thể dùng cái “uy tín” tác giả tập thơ vào nhiều mục đích tuyên vận, chính trị, thu hút người Việt hải ngoại, được tiếng khen là tôn trọng nhân quyền, và điều cần nhất có thể được người Mỹ ban cho qui chế tối huệ quốc đáng giá hàng trăm tỷ đôla và đó là sự sống c̣n của toàn Đảng, toàn chế độ! Một vốn, một ngh́n lời như vậy th́ ai mà không ham? Vả lại giữ vị “thi sĩ rổm” này ở lại trong nước cũng chẳng có lợi ǵ hơn. Đàng nào th́ “thi sĩ thật” đă đi khai hội với giun và ngâm thơ cho dế nghe từ lâu...!

Cục Phản Gián nghĩ rằng có thể qua mặt người Mỹ dễ dàng! Cục Phản Gián nghĩ rằng cứ gửi “thi sĩ thơ Hoa Địa Ngụcra hải ngoại là sẽ được đủ thứ lợi lộc đáng giá hàng trăm tỷ đôla mang về... Ngoài ra thi sĩ Hoa Địa Ngục c̣n có thể hoạt động trong mục đích tuyên vận, dân vận, lối kéo người hải ngoại vào một khối “đ̣i nhân quyền”, “đ̣i ḥa giải ḥa hợp với Vẹm”, đ̣i Cộng sản “phải cho” dân chủ và nhân quyền... Như thế mọi h́nh thức tranh đấu hay chiến đấu bạo động nhằm tiêu diệt Cộng sản sẽ phải nḥa, nhạt dần và hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Ư chí cương quyết chiến đấu chống Cộng cũng phai nhạt luôn. Người Mỹ tự nhiên sẽ thấy “không c̣n ai” tích cực chiến đấu tiêu diệt Cộng sản ở hải ngoại!

Nhưng Cục Phản Gián không ngờ đến ván bài tháu cáy của người Mỹ đă “không” sửa soạn gửi đại sứ hay cho qui chế tối huệ quốc! Người Mỹ không cần biết ông Nguyễn Chí Thiện là ai? Gốc gác ra sao? Và có phải là thi sĩ “thật” của tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I) hay không? Chính khách Mỹ và KIA, FBI ở Hoa Thịnh Đốn chẳng ai cần phải đọc hay ngâm thơ Hoa Địa Ngục. Người Mỹ sửa soạn “trước” để đưa ông Thiện ra trước Hạ Viện điều trần về “tội không có nhân quyền” của Cộng sản Hà Nội.

Người Mỹ chỉ cần biết ông Nguyễn Chí Thiện đă “thể hiện” hay là bằng chứng “sống” của một nạn nhân cộng sản, đại diện cho toàn thể nạn nhân Cộng sản tại Việt Nam, với 27 năm tù không xử án, không tội t́nh ǵ rơ rệt. Ông Nguyễn Chí Thiện đă trở thành bằng chứng hùng hồn nhất để “tố cáo tội ác Cộng sản”. Ngày 8/11/1995, hay là chỉ 8 ngày sau khi đến Hoa Kỳ, ông Thiện đă được đưa ngay ra Hạ Viện Mỹ điều trần về nhân quyền tại Việt Nam dưới chế độ Cộng sản cùng với vợ Đoàn Viết Hoạt là Trần Thị Thức, ông Trần Tử Thanh. Vơ văn Ái và Lại Thế Hùng “tưởng bở” cũng bay từ Pháp sang tham dự.

Nhưng Cộng sản Hà Nội và bọn cán bộ tay sai không ngờ là cuộc điều trần đă được xử dụng để mang lại phản ứng ngược: không đại sứ và không có qui chế tối huệ quốc. Gần một tháng sau, ngày 6/12/1995, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ thông qua dự luật HR4076 ngăn chận mọi ngân khoản đài thọ lương ông đại sứ và tiền bạc chi tiêu tại ṭa Đại Sứ  cao hơn mức hiện hữu.

Ta có thể phỏng định người Mỹ đă biết tác giả Hoa Địa Ngục không phải là người "thật", cũng như mặt trái những tên cán bộ  rêu rao nhân quyền ḥa giải ḥa hợp bất bạo động, nhưng họ cứ xử dụng theo đúng nhu cầu của họ. Xử dụng xong cho đạt mục đích của họ rồi thôi... Họ chẳng tốn tiền tốn công “xây dựng” c̣ mồi. Họ mượn luôn c̣ mồi. Họ mượn luôn c̣ mồi của Vẹm để đánh lại Vẹm cũng bằng... nhân quyền! Dù sao th́ ông Nguyễn Chí Thiện và bản điều trần của ông đă có “hại” cho Cộng sản. Cộng sản tưởng cho ông Thiện đi Mỹ là “được” qui chế tối huệ quốc. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Người viết bài này đă từng viết bài “khen” ông Thiện về cái điểm nhân quyền bất lợi cho Cộng sản. Rồi một năm đă qua đi, đến cuối năm 1996, vẫn chưa thấy tăm hơi ông đại sứ Mỹ (Peterson) đến Hà Nội. Có lẽ phải sang năm 1997 chăng? Mà giả thử có ông đại sứ Mỹ th́ cũng không mấy hi vọng được quan hệ kinh tế b́nh thường (danh từ mới của qui chế tối huệ quốc) v́ từ cuối năm 1996 sang 1997... kinh tế của Việt Cộng đă thâm thủng mậu dịch hơn 4 tỷ đôla và áp lực lạm phát trở nên nặng nề...

 

* * *

 

Cuối năm 1956, khi Hồ Chí Minh phải “sửa sai” về vụ đấu tố cải cách ruộng đất đă giết khoảng nửa triệu người, Bộ Chính Trị hội với Tố Hữu và Nguyễn Đ́nh Thi bàn bạc nên mở cuộc thanh trừng văn nghệ sĩ “bất măn” đă bắt đầu nhen nhúm trong thơ văn của họ. Bắt chước Trung Cộng trong chiến dịch “Trăm Hoa Đua Nở”, Hồ và Việt Minh cũng đưa văn nghệ thi sĩ vào trong cuộc “đấu tố” Văn Hóa bằng cái bẫy “trăm hoa đua nở”. Các văn nghệ sĩ “tha hồ” muốn viết ǵ th́ viết, muốn phê b́nh cái ǵ th́ phê b́nh... Để rồi Cộng sản dùng ngay những bài viết làm bằng chứng để cho đi “cải tạo”.

Sau này người ta gọi vụ “đấu tố văn hóa” thanh lọc văn nghệ sĩ do bọn văn nô phản gián Tố Hữu, Nguyễn Đ́nh Thi, Xuân Thủy, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... chủ trương là vụ “Nhân Văn Giai Phẩm”...

V́ Thi sĩ Vô Danh làm thơ chế diễu, lôi bộ mặt thật đểu cáng và tàn bạo của tập đoàn Hồ Chí Minh nên chúng tức điên người. Chúng không giết ông, nhưng cho giam để hành hạ ông cho bơ ghét, cho đến khi ông Vô Danh “phải mềm nhũn cả tư tưởng lẫn thể xác” và phải cúi đầu van lạy, cam chịu với sự hối hận, tự phê, phản tỉnh! Bài thơ này tả Cộng sản:

 

Là quỷ? Là ma? Là thú dữ?

Gian manh, tàn ác, đê hèn...

Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân đen,

để gọi chúng người ta không đủ chữ!

 

Ta thấy Thi sĩ Vô Danh hiểu rằng trong t́nh cảnh tuyệt vọng của ông, chỉ có cái chết là lối thoát duy nhất. Dù được ra khỏi tù, ông vẫn bị quản chế như tù giam lỏng, tên tuổi vào sổ đen, có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thật không có cái chế độ nào trên thế giới tàn ác như Việt Cộng. Chúng giam tù đày đọa người Việt không cần phải có tội, cũng không cần luật pháp xét xử. Nạn nhân sau khi được “thả”, thả chứ không “tha”, vẫn bị “quản lư và quản thúc tại gia”, vẫn bị ly cách và phân biệt đối xử với xă hội quanh ḿnh, sống trong hồi hộp lo sợ thường xuyên v́ có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Sự hồi hộp, lo sợ, phập phồng cùng với sự xa lánh của người trong xóm, người thân, v́ không ai dám tṛ chuyện thăm hỏi ḿnh, làm cho nạn nhân bị căng thẳng thần kinh, tâm năo, đến mức chỉ có cái chết mới ra khỏi các cực h́nh về mọi mặt, cả vật chất lẫn tinh thần.

Thi sĩ Vô Danh nói rất đúng v́ không có chữ ǵ có thể diễn đạt rơ ràng đầy đủ về sự tàn ác “không tên” và “vô h́nh” của Cộng sản. Ta có thể nói rằng Thi sĩ Vô Danh cũng như hàng triệu nạn nhân Cộng sản khác đă bị cả một guồng máy công quyền khổng lồ, guồng máy công an và chính phủ, (thay v́ phục vụ nhân dân), đă đè nặng trên mỗi người dân và nghiến nát họ tới mức họ phải t́m cái chết mới có sự giải thoát!

Tác giả có một người quen, v́ “dễ tính” nên đă ở lại Hà Nội năm 1955, không đi di cư vào Nam. Anh này th́ Tú Tài I bảy lần, đến lần thứ 7, năm 1954 mới đậu. Anh ta cho rằng “nhờ” cụ Hồ và Việt Minh “thắng” nên anh ta mới có vận may, nên quyết định không di cư. Sau này anh ta kể lại, v́ cái bằng Tú Tài nên bị coi là thành phần “trí thức”, bị đưa về một làng nghèo khổ để bị quản chế tại đó trong 8 năm trời, để lao động, nuôi lợn, nuôi gà, chăn ḅ, sống chung với ḅ, lợn qua ngày. Cộng sản gọi đó là “tam cùng”, cùng ăn cùng làm, cùng ở với bần cố nông để giáo dục “cải tạo” anh ta. Dù anh ta có thiện chí theo Việt Minh, quá tŕnh học lực Tú Tài đă khiến cho anh ta bị liệt vào thành phần “trí, phú, địa, hào” và cần phải được quản lư, lao động cải tạo.

Nguyễn Tuân trước khi chết đă phải nói: “Tôi được sống đến ngày nay là do tôi biết sợ..., biết sợ cả cái bóng của tôi!” Chỉ một câu này đủ nói lên sự kinh hoàng của tất cả mọi người dân đối với chế độ khủng bố công an trị cộng sản!

Thi sĩ Vô Danh có thể bị tù vào năm 1957 hay 1958 trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cùng với những người khác như Phan Khôi, Trần Dần và hàng trăm người ít tên tuổi hơn... Rồi ông được ra tù, không biết vào năm nào. Ra tù, Thi sĩ Vô Danh bị quản chế tại nhà, một căn gác nhỏ vùng Hà Nội, có một cha già đă ở tuổi hưu trí và mẹ ông, hai mắt đă ḷa, v́ cao tuổi, v́ khóc lóc ngày đêm thương nhớ, lo lắng cho đứa con độc nhất. Thi sĩ Vô Danh ra tù rồi bị bắt lại, tù lại, cứ như vậy trong 20 năm...

Bài thơ Thư Nhà tả cảnh cha mẹ ông trông ngóng đứa con độc nhất đang bị tù:

 

Đă lâu rồi, không nhận được thư con

Mẹ, thầy mong tin con quá

Thầy kể qua cho con rơ cảnh nhà

Mẹ bây giờ hai mắt như ḷa

Hôm sớm trong nhà quanh quẩn!

Thầy gần như lẩn thẩn

Bước đi đờ đẫn run chân

Viết phong thư phải nghĩ tới dăm (năm) lần

Mong con về đỡ đần chăm sóc!

Nghĩ tới con, mẹ thầy lại khóc

Không biết con c̣n ở nơi trại cũ

Hay là đă chuyển đi đâu?

Mẹ vẫn nguyện cầu

Cho con được b́nh yên, không ốm yếu

Nhận được thư này con liệu

Viết về, thầy mẹ đợi tin con...!

Ôi, xưa cũng v́ con c̣n trẻ dại

Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải

 

Như vậy, ta có thể ước lượng vào năm 1967, cha Thi sĩ Vô Danh đă khoảng tuổi hưu trí, trên hay dưới 65, và Thi sĩ Vô Danh ở khoảng tuổi trên 40. (Ông Thiện lúc này mới có 28 tuổi). Mẹ Thi sĩ Vô Danh đă bắt đầu ḷa và bà cụ mất khoảng 3 năm sau (1970) khi viết lá thư này. Nếu ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ lâu th́ đến năm 1979, khi ông đưa tập thơ vào ṭa đại sứ Anh, th́ ông đă mỏi ṃn, kiệt sức, kiệt quệ tới mức tận cùng.

Coi bài thơ, ta thấy gia đ́nh song thân Thi sĩ Vô Danh chỉ có một đứa con duy nhất và đă bị tù, không có người hầu hạ săn sóc. Song thân ông đă chỉ mong Thi sĩ Vô Danh “phấn đấu học tập tốt, thi đua lao động tốt” để mau được về với gia đ́nh, hi vọng được gặp con trước khi chết. Cái lo của Thi sĩ Vô Danh và song thân ông là làm sao có thuốc chữa lao Rimifon và được thả về với cha mẹ sớm, không phải lo rằng không có giấy vệ sinh!

Một bài thơ khác, Thi sĩ Vô Danh ở trong tù thương nhớ cha mẹ và ân hận thân ḿnh bị tù không được sống gần cha mẹ. Bài thơ này cũng chứng tỏ ông là “con một”. Gia đ́nh bé nhỏ của Thi sĩ Vô Danh là một gia đ́nh đạo đức, phúc đức. Có lẽ nhờ phúc đức lớn này mà Thi sĩ Vô Danh được sinh ra để chịu đọa đày chung với toàn dân tộc, để có thể, từ cảnh đọa đày này, làm nên những vần thơ kỳ diệu tố cáo tội ác Cộng sản cho nhân thế, cho nhân loại và cho lịch sử ngàn đời sau. Nhiệm vụ xong, sứ mệnh cuối cùng của ông là đưa tập thơ vào ṭa đại sứ Anh, xong rồi ông chờ cái chết đến càng nhanh càng tốt, để chấm dứt cuộc đời cô đơn, v́ song thân của ông đă mất, trầm luân bệnh hoạn và tuyệt vọng, trong và ngoài ngục tù Cộng sản.

Bài thơ nhiều đoạn dưới đây tả nỗi ḷng ông mong nhớ song thân.

 

Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp

Thường ngồi chắp tay cầu khẩn giờ lâu

Chiếc áo hoa hiên cũ đă bạc màu

Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái!

Đời của tôi nhiều khổ đau oan trái

Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi,

Đứa con trai tù tội mấy phen rồi!

Hàng nước mắt chảy gịng trên má mẹ!

Ngồi bên mẹ, tôi thấy ḿnh nhỏ bé

T́nh thương yêu của mẹ lớn bao nhiêu?

Mẹ ơi, con ḷng chỉ nguyện một điều:

 

Một bài thơ khác năm 1968 Thi sĩ Vô Danh tả về song thân ông, mà ông không biết ra sao, c̣n hay mất?:

 

Có người mẹ gầy nhom mắt lóa gần ḷa

Có người cha quá già, quá yếu!

Có người con bất hiếu là tôi,

hết tù lại tội!

Bệnh ốm không nuôi nổi thân ḿnh...

Ôi người mẹ nặng t́nh yêu dấu!

Ôi người cha hiểu thấu ḷng con!

C̣n hay mất?

Ngày con đầy bụi đất trở về căn gác!

Lá rụng xào xạc canh khuya...

Bóng cha già gầy guộc đứng kia...

Phất trần nhẹ đưa, lặng lẽ...

Trên b́a sách bụi bàn con

Bóng mẹ già sầu muộn héo hon

Quờ tay rờ mó nạm tóc củ gừng đánh gió lưng con!

Chiều âm thầm lạnh tắt trên non...

Không c̣n được nữa,

Những t́nh xưa thương mến vô vàn!

Gió núi mưa ngàn, lạnh buốt

Rau rừng ngoạm nuốt thân trâu,

Kiếp sống về đâu?

Bốn phía sậy lau một màu hoang xám

Đi về những đám tang câm

Trong ly tán thương tâm!

Chết chóc âm thầm...

Con vẫn nuôi mầm mơ ước

Xoay vần thuở trước xa xăm!

Mịt mù trời đất tối tăm

Mẹ thầy sống được bao năm trên đời?

 

Đến năm 1970, Thi sĩ Vô Danh ở trong tù, nghe tin mẹ ông đă chết:

 

Mẹ ơi! Mẹ đă mất rồi!

Trái đất không c̣n có mẹ !

Mẹ chẳng bao giờ c̣n thấy mặt con...

C̣n khóc nữa!

Con chẳng cần ra tù nữa

 

Mẹ già của Thi sĩ Vô Danh, hai mắt đă ḷa, vẫn c̣n hi vọng được thấy người con trở về để “nh́n” mặt. Nhưng bà đă không được thấy mặt con khi ĺa đời. Thi sĩ Vô Danh nghĩ rằng nếu cha ông cũng chết th́ đời ông sẽ hết cả lẽ sống và có lẽ ông không cần ra tù nữa. Sự kiện thấy hay không thấy mặt nhau trước khi một người thân chết đă trở thành bi thảm, đă trở thành thể hiện của tội ác bạo tàn cộng sản. Thi sĩ Vô Danh cũng hiểu là cho đến khi ông chết, sự kiện không được thấy mặt Mẹ ông lần chót, và Bà không được thấy mặt con khi bà ĺa đời, đă trở thành một mối hận ngàn thu!

Năm 1976, Thi sĩ Vô Danh lại khăn gói vào tù lần nữa, nhưng lần này song thân ông đă mất, chẳng c̣n ai trông mong ông trở về. Bài thơ dưới đây tóm tắt cảnh đi tù ngày trước khi cha mẹ ông c̣n sống, cho đến khi hai người đă khuất, và ông cứ vẫn tiếp tục vào tù...

 

Ḷng vẫn nhớ làm sao cái ngày lạnh đói!

Hành trang một gói lên đường,

Giữa quăng đêm trường rời bỏ quê hương,

Rời bỏ gia đ́nh, t́nh thương đứt ruột!

Thôi rồi, đời đi suốt từ đây!

Vĩnh biệt từ đây!

Vĩnh biệt!

 

Thi sĩ Vô Danh chua sót v́ trong cảnh tù tội, lẽ sống của ông là cha mẹ già, và hi vọng một ngày nào đó được ra khỏi tù trở về thăm cha mẹ. Trong cuộc sống đen tối và tuyệt vọng trong ngục tù, ông khóc và cầu xin Trời Đất cho ông một niềm vui cuối cùng là một mùa Xuân nào đó ông được ra khỏi tù, không phải v́ mừng được tự do, mà vui v́ được gặp lại cha mẹ đă quá già yếu, có thể ĺa đời trước khi ông được thả! Nhưng cha mẹ ông đă chết trước khi ông được thả. Để rồi lần sau bị bắt tù lại, ông không c̣n cha mẹ để trông ngóng ngày đúa con tù tội trở về!

 

Ông Nguyễn Chí Thiện oai hơn nhiều. Ông Thiện “nói rằng” trước khi đi Mỹ, ông có đến thăm mộ cha mẹ và “thề” rằng sẽ “chiến đấu” chống Cộng sản đến cùng. Nhưng khi mới đến Hoa Kỳ ngày 1/1/1995, tại sân bay San Francisco, ông Thiện tuyên bố với cô phóng viên Đỗ Mùi khi được hỏi: “Ông sẽ làm ǵ khi ông đến Hoa Kỳ? Dự định của ông là ǵ?”

Đáp: “Việc đầu tiên của tôi là chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh rồi, công việc phải thực hiện ngay là tiếp tục chống lại cái ác. Tôi không hận thù ai, nhưng tôi cho là công lư chống lại tội ác là nhiệm vụ con người phải làm.”

(Trong những dịp ra mắt khác tại San José và quận Cam, ông Thiện luôn luôn nhắc lại rằng ông chỉ chống cái ác, mà không đả động ǵ đến “chống Cộng” hay “chiến đấu chống Cộng”. Ông Thiện cũng không chống Cộng dù Cộng sản đă bỏ “” ông những 27 năm. Ông Thiện Không căm thù Cộng sản, Không chống Cộng, th́ có lẽ ông Thiện chưa bao giờ ở tù Cộng sản! Ông Thiện chơi chữ với ngụ ư hễ Cộng sản “hết ác” th́ chúng là người “thiện”, thành người quốc gia và người Việt hải ngoại nên ḥa hợp đoàn kết hợp tác với chúng. Một ngụ ư khác, nếu ông Thiện là công an th́ nghề của ông là “chống tội ác”. Trong chế độ Cộng sản, hễ chống Cộng hay chửi Cộng, cũng đủ là “tội ác” rồi!)

Hỏi: Ông sẽ làm ǵ (tại Hoa Kỳ)?

“Tôi làm với khả năng của tôi. Người ta cứ bảo chúng ta đừng nên dùng bạo lực. Nhưng lấy đâu ra bạo lực mà dùng? Cứ bảo là chúng ta nên ḥa hợp trong lúc họ cưỡi lên đầu tôi, mà tôi là kẻ nằm dưới. Họ nằm trên vỗ xuống mà cứ nói chuyện ḥa hợp. Muốn ḥa hợp th́ hai người phải ngồi ngang nói chuyện... Họ đang cưỡi trên cổ tôi, bịt mồm tôi, nhét tai tôi, th́ làm sao nói chuyện ḥa hợp được?”

 

Cô Đỗ Mùi hỏi: “Hiện nay ông bị bệnh lao phải không?”

Đáp: “Không, tôi không bị ho lao. Tôi chỉ bị thần kinh suy yếu, yếu thần kinh và không ăn không ngủ được. V́ vậy tôi rất yếu.”

Ngày 19/11/1995, tại trung tâm Eden, thành phố Falls Church, Virginia, ông Thiện họp mặt với hơn 150 văn thi hữu kư giả và chủ tịch các hội đoàn để chào mừng nhà thơ “bất khuất”!

Ông Thiện đă được đón tiếp bằng những tràng pháo tay khi vừa xuất hiện nơi cửa vào. Ông Chử Bá Anh, chủ tịch Hội Báo Chí đă đưa ông đến từng bàn để chào và cảm tạ từng người. Sau bài nói chuyện và trả lời các câu hỏi, kư giả Thái Phong nhận định rằng Nguyễn Chí Thiện không những là một thi sĩ mà c̣n là một nhà hùng biện.

Cụ Phạm Ngọc Lũy nói rằng Nguyễn Chí Thiện là một con người đầy can đảm. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng: Đây là một người có thực tài. Nhà báo Nguyễn Việt Quang: Nay người Việt Hải Ngoại đă có được biểu tượng. Hội Y Sĩ Việt Nam xin cử bác sĩ săn sóc sức khỏe cho cựu tù nhân Nguyễn Chí Thiện. Cựu đề đốc Đinh Mạnh Hùng: Chúng ta có trách nhiệm giúp Nguyễn Chí Thiện tiếp tục con đường anh đă đi. Nhà văn Sơn Tùng, chủ tịch Văn Bút Miền Đông: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện góp sinh khí mới vào giới cầm bút hải ngoại. Nhà phê b́nh Trương Vũ: Nguyễn Chí Thiện (là) con người chân t́nh. Nhà văn Cao Thế Dung: Trước đây tôi hoài nghi, nhưng hôm nay đúng là thật. Đại tá Nguyễn Cao Quyền, chủ tịch Hội Tù Nhân Chính Trị: Chúng tôi sẽ lo cho anh Thiện...” Đài VOA: Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là thiên tài c̣n sống của Việt Nam...

Các vị trên đây phát biểu quá sớm. Có lẽ không mấy người sinh sống đă lâu ở Hoa Kỳ hiểu mưu mô thâm độc của Cộng sản. Có lẽ họ chưa có dịp so sánh hai loại thơ khác nhau của hai tập, tập thơ Vô Đề và tập Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Nhưng từ lúc xuất bản tập thơ số 2, Hạt Máu Thơ, tháng 4.1996, đến nay, h́nh như chưa có vị nào “dám khen” “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện. Cũng không ai có th́ giờ “so sánh” tính chất và loại thơ của hai tập thơ. Có lẽ không mấy người có th́ giờ đọc thơ chăng? Cũng có thể nhiều người đă đọc tập “Hạt Máu Thơ” và đă thấy cái ǵ thum thủm, đă biết, nhưng né tránh v́ chính họ đă nặn lên thần tượng th́ làm sao nói ngược lại, dù là nói lên sự thật?

Cũng trong ngày 19/11/1995, ông Thiện phát biểu một câu rất hay, có thể nói là tự đáy ḷng ông thốt ra. Chính câu này (đoạn đầu) đă làm cho nhiều người kể cả người viết bài này, có cảm t́nh với “cá nhân” ông Thiện. Tuy ông Thiện vẫn trân trọng gọi Hồ Chí Minh là "ông Hồ, bác Hồ", có lẽ do thói quen chăng, nhưng thi sĩ Vô Danh thẳng tay gọi Hồ là "nó", là "quỷ, ma, thú dữ, đồ chó đẻ, gian manh, tàn ác, đê hèn...".

Ông Thiện nói:

“... Tôi có một điều day dứt mà bấy lâu không bộc lộ được là có một số người nói chuyện ḥa hợp, ḥa giải với Cộng sản, tức là ḥa hợp, ḥa giải dân tộc. Tṛ này th́ Cộng sản đă nói từ năm 1945. Từ năm 1945, Hồ Chí Minh đă hô hào ḥa hợp, ḥa giải. Ông Hồ kêu gọi các nhà tư sản có tiền th́ giúp tiền, có vàng th́ góp vàng. Các điền chủ phú nông có lúa, có ruộng th́ giúp vào để kháng chiến. Tất cả cùng đứng lên đánh Pháp, nhưng sau đó tư sản và địa chủ đều bị thanh toán, họ chết dần ṃn trong ngục tù, tài sản ruộng đất th́ bị tước đoạt. Trong suốt quá tŕnh 50 năm qua lúc nào người Cộng sản cũng kêu gọi ḥa hợp ḥa giải, nhưng trên thực tế th́ họ chẳng có ḥa hợp ḥa giải với ai cả! Điều này th́ chắc các bạn đă đều biết rất rơ. Nhưng tôi phân vân, không hiểu tại sao có một số người Việt ở hải ngoại lại đi hô hào cho việc ḥa hợp ḥa giải?”

 

Đó là đoạn đầu. Đoạn tiếp theo th́ khác hẳn:

 

“Về bản chất th́ Cộng sản không bao giờ có thể ḥa hợp với chúng ta được. V́ điều kiện đầu tiên để ḥa hợp là phải b́nh đẳng. B́nh đẳng có nghĩa là phải đa nguyên đa đảng, cùng nhau bàn luận chuyện xây dựng đất nước. Chỉ khi nào Cộng sản chấp thuận dân chủ đa nguyên th́ chúng ta mới có thể bỏ qua những tội ác của họ và mới có thể nói đến chuyện ḥa hợp, chung lưng chung sức xây dựng lại đất nước Việt Nam chúng ta.”

(Ông Thiện ở trên th́ nói không thể ḥa hợp với Cộng sản. Đoạn tiếp theo th́ ông Thiện đă quay sang hướng khác, là nếu Cộng sản chấp nhận b́nh đẳng, dân chủ, đa nguyên đa đảng th́ “chúng ta mới có thể bỏ qua tội ác của họ (Cộng sản)” và mới có thể nói đến chuyện ḥa hợp, chung lưng chung sức (với Cộng sản) xây dựng lại đất nước Việt Nam).

Vào cuối tháng 11/1995, người viết bài này nghe tin mặt trận  (KC) ma tổ chức cho ông Thiện đi qua California, Texas để ra mắt th́ vấn đề nghi ngờ ông Thiện “không phải” là Thi Sĩ  Vô Danh tác giả tập thơ Vô Đề được đặt ra. Sự nghi ngờ bắt đầu ngay khi ông Thiện trả lời rằng “không có bệnh lao” nhưng phải đến khi mặt trận kháng chiến quốc doanh tổ chức và “bao vây lối độc quyền” ông Thiện th́ được đặt thành vấn đề. V́ có nhiều kinh nghiệm với các thủ đoạn bịp bợm của Cộng sản, nên người viết hiểu rằng Cộng sản lại bịp nữa.

Giả thuyết Cộng sản cho cán bộ phản gián cấp tướng làm thi sĩ “giả” đi Mỹ sau khi đă được huấn luyện kỹ càng về cách thức nói chuyện, diễn thuyết, kể cả học năm ba câu tiếng Anh, tiếng Pháp, với một tập “thơ quốc doanh” do cán bộ nhà nước làm sẵn để làm “vốn”... là chuyện vẫn có thể xảy ra. Có điều cán bộ phản gián làm việc cẩu thả dốt nát, và sơ hở hớ hênh rất nhiều. Người ta chỉ cần nhẩn nha chờ đợi khoảng một năm sau là ḷi đuôi Vịt Vẹm ra cả lũ.

Cộng sản “đương nhiên” phải tạo dựng một người khác thay thế để khỏi mang tiếng ác và nếu có dịp, làm món quà trao đổi. Dịp may đă đến khi đại tá Matsuoka bảo lănh cho ông Thiện với sự trợ giúp của mặt trận ma ở phía bên kia. Ta nên lưu ư, mặt trận ma đă gửi cho ông Thiện khoảng 4 ngàn đôla (8 lạng vàng) ngay khi ông Thiện c̣n ở Hải Pḥng, chưa đi Mỹ.

Lư do ông Thiện bị bao vây, canh gác và “bảo vệ” kỹ lưỡng v́ lư do kinh nghiệm trong quá khứ, nhiều văn nghệ sĩ hay thành phần thứ ba, cựu công chức, quân nhân VNCH, đă bị “cài” hoặc bắt phải kư giấy cam kết, trước khi cho đi Hoa Kỳ, hoạt động tuyên vận, địch vận, dân vận, phản gián..., phần lớn đă đến thẳng cơ quan FBI  hoặc các cơ quan Mỹ khác để khai báo rơ rệt mọi âm mưu của Cộng sản. Một số lớn đă thoát hẵn ra ngoài ṿng kiềm tỏa của Cộng sản. Một số nhỏ trở thành mật báo viên cho FBI về các chỉ thị, tin tức hoạt động Cộng sản tại Bắc Mỹ Châu. Do đó ông Thiện bị bao vây kỹ càng để không có dịp tiết lộ bí mật chăng? Có người “lo lắng” nơi ăn, chốn ở, lịch tŕnh đi các nơi và tổ chức hoạt động nói chuyện, diễn thuyết theo đúng kiểu... rèn cán chỉnh quân, xách động quần chúng của Cộng sản!

Ngay sau khi đài BBC đọc những bài thơ Vô Đề th́ ở vùng Hà Nội người dân biết ngay là thi sĩ Vô Danh đă chết. Rồi sau đó, năm 1980 hay 1981, tự nhiên "mọc ra" câu chuyện Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ nổi tiếng và bất hủ đó. Người “bạn tù” của ông Nguyễn Chí Thiện là ông Trần Nhu được ra khỏi tù và “đi lọt” qua Mỹ xác nhận như vậy. Rồi sau này đến ông Minh Thi cũng cùng một luận điệu. Dĩ nhiên chẳng ai có thể kiểm chứng sự “thành thật” và quá khứ của các ông Trần Nhu và Minh Thi. Rồi câu chuyện xoay quanh vấn đề ông Thiện là “thật hay giả?”, không phải vấn đề ông Thiện là “thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề hay mạo nhận?”

Ông Nguyễn Chí Thiện bằng xương bằng thịt th́ chắc chắn là người “thật” rồi, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939, nhưng tại Hải Pḥng hay Hà Nội th́ cũng khó kiểm chứng. Nhưng “có thiệt” ông Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề hay không th́ lại là chuyện khác. Mọi người bị “lái” ra ngoài vấn đề: Ai là “tác giả thật” của tập thơ Vô Đề?

Người viết bài này hiểu rằng nếu ông Thiện “không làm thơ” nữa th́ có lẽ khó t́m hiểu. Nhưng ông Thiện, hay là Cục Phản Gián Hà Nội?, làm... “thơ” th́ thật là dễ kiểm chứng. Kết quả là sau khi đọc vài bài trong tập thơ Hoa Địa Ngục tập 2 hay là “Hạt Máu Thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện th́ mọi người thất vọng hoàn toàn. Thơ kiểu con cóc, kiểu Thạch Sanh Lư Thông, Tam Quốc Chí, kiểu ngắt câu xuống gịng, kiểu thơ 3 chữ, kiểu sớ Táo Quân, sặc mùi cán ngố tam đại bần cố nông th́ làm sao có thể là tác giả tập thơ Vô Đề nổi danh thế giới? Làm sao qua mặt được người hải ngoại với tŕnh độ hiểu biết cao hơn ông Thiện rất nhiều? So sánh hai tập thơ ta thấy ngay là có hai con người, hai thi sĩ, khác nhau hoàn toàn.

Nếu thật ông Thiện đă được mặt trận KC ma nuôi dưỡng bao bọc ngay từ hồi c̣n ở Hải Pḥng và lo lắng (cùng với đại tá Matsuoka) giấy tờ cho đi Mỹ th́ ông Thiện phải được mặt trận KC ma xử dụng làm “ṇng cốt chính trị” cho riêng họ trong những mục đích khá tối tăm, xanh vỏ đỏ ḷng, của họ. Tự nhiên ông Thiện bị họ bao vây thật kỹ, không có tự do, đi đứng. Các vụ tổ chức nói chuyện, và đường lối chính trị của ông Thiện đều có người bố trí, tổ chức, điều hành, điều khiển chu đáo.

Tuy nhiên mề đay nào cũng có mặt trái. Nhiều người trong tổ chức kháng chiến có lẽ hiểu biết mặt trái của mề đay, hay là sự thật, đă không ưa một cán bộ từ trong nước nhảy ra làm ṇng cốt chính trị hay là lănh tụ chính trị của họ. Dĩ nhiên đó la chuyện nội bộ của mặt trận, không cần bàn ở đây. Một điểm khác khá quan trọng là người Mỹ đă biết rơ tung tích, lư lịch, của ông Thiện (do nhân viên phản gián cung cấp?) ngay từ trước khi ông Thiện đi Mỹ. Nhưng họ mặc kệ để xử dụng trong chiến lược “đánh lạc hướng” Cộng sản Hà Nội. Cộng sản tưởng rằng “thành công” trong kế hoạch bịp bợm của chúng. Nhưng sau này mới tiết lộ rơ rệt ai là kẻ thắng sau cùng!

Để so sánh với Thi sĩ Vô Danh không có anh em, chỉ có một cha và một mẹ già, ông Nguyễn Chí Thiện có những “bốn chị em ḿnh”. Ông Nguyễn Chí Thiện không nói rơ một người chị và một người em là những ai, để có thể phối kiểm. Ông Thiện đă “khôngđọc kỹ thơ Vô Đề của Thi sĩ Vô Danh nên “không biết” là Thi sĩ Vô Danh độc thân, đă nhiều tuổi, và là con một của hai người mà nếu họ c̣n sống cho đến nam nay th́ phải trên dưới 90 tuổi! Ông Thiện cũng có một người anh ở Hoa Kỳ là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa. Dĩ nhiên ông anh này, nếu di cư năm 1954, th́ có thể tính rơ tŕnh độ học vấn của ông Thiện vào năm 1954, 1955 ra sao?

 

Ba chục năm trời không thấy mặt nhau

Non nước chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm

Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm

Nước mắt sẽ trào ra, sung sướng, thương đau!

Ruột thịt chia ĺa đớn đau

Gặp nhau anh chị em ḿnh sẽ khóc

Ch́m đắm trong lao tù đầy chết chóc

 

Ông Thiện quả có nhiều phúc đức, có anh chị em đông đúc, bạn bè cũng đông, có người làm chứng cho là “thật” với đồng bào hải ngoại, lại có bà chị quư hóa thăm nuôi đều đều, nên dù đă ở “tù” 27 năm mà ông vẫn mạnh hù, diễn thuyết hùng biện thao thao bất tuyệt trong nhiều giờ đồng hồ mà không mệt mỏi, vẫn đầy vẻ cương quyết, sắt đá, và tới mức sắt máu, chứng tỏ tinh thần bất khuất và vô cùng trung kiên của ông. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, là vậy! Trách nhiệm khó khăn nào cũng phải hoàn tất, nhiệm vụ khó khăn nào cũng phải xong, cản trở khó khăn nào cũng phải vượt qua, và phải lập thành tích dâng lên... bố mẹ!

Ông Nguyễn Chí Thiện ở... “tù” 27 năm mà cũng có t́nh tứ kiểu “trăng sáng vườn chè”, một cách ướt át ra phết:

 

Ta gặp lại nhau, t́nh xưa lai láng

Trăng xưa lại vàng, lại sáng, em ơi!

Dù màn sương xưa, ngây ngất tuyệt vời

Có tan loăng đi nhiều trong năm tháng...!

                (Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ)

Ông Nguyễn Chí Thiện ở “tù” quả sướng hơn Thi sĩ Vô Danh. V́ chẳng thấy ông Thiện tả cái khổ, cái ác, cái hành hạ, cái đói rét, cực h́nh trong tù. Ông Thiện được người chị hiền thăm nuôi đều đều và chỉ mong sẽ có ngày được ăn cơm đoàn tụ với nhau...

Một giả thuyết cho rằng ông Nguyễn Chí Thiện cũng ở... tù, nhưng với trách nhiệm “coi tù” th́ đúng hơn. V́ là “coi tù” nên ông đă “đánh hơi” thấy tù nhân quá hôi hám v́ dơ bẩn, v́ “không có” giấy vệ sinh nên sống như trâu chó, chứ không phải tại công an Cộng sản đầy đọa nên mới dơ dáy, hôi hám, bẩn thỉu như vậy.

 Tiện đây xin nhắc ông Nguyễn Chí Thiện biết rằng ngoại trừ giai cấp lănh đạo Cộng sản và cả ông Nguyễn Chí Thiện nữa, gần như “tất cả” miền Bắc, từ năm 1940... đến 1996 cũng chưa ai nh́n thấy mặt mũi cuộn giấy vệ sinh nó ra làm sao! Hầu hết dân miền Bắc và toàn thể bộ đội công an Cộng sản, mỗi người chỉ dùng cái... que. Cao hơn nữa hay thuận tiện th́ dùng lá. V́ vậy mỗi khi họ phải dùng que hay lá, th́ họ thích chửi “bác Hồ” của ông Thiện là đồ lănh tụ “ba que sỏ lá”. Năm 1975, sau khi giam giữ sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa, bộ đội hỏi họ cần mua ǵ th́ chúng mua dùm. Một vài người nhờ chúng mua “giấy cuộn mỏng” v́ nếu nói là giấy vệ sinh chùi đ. th́ chúng không hiểu.

Nhưng sau này có người bảo chúng biết rằng giấy cuộn để làm ǵ. Chúng tức quá chửi: “Chúng tao thắng mà lại phải đi mua giấy chùi đ. cho chúng mày à?”

Một bằng chứng về tài nghệ “bắt tù, c̣ng tù, coi tù” của ông Thiện đă được ông biểu diễn hào hứng và xúc động!

Sau khi hai nghệ sĩ Hoàng Kim và Quỳnh Như ngâm nhiều bài thơ Vô Đề mà người ta đặt tên là thơ... Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa Ngục I, th́ thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đă “bất ngờ đứng lên”, không phải để nổi hứng ngâm thơ hay làm thơ, xuất khẩu thành thơ. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện bất ngờ đứng lên biểu diễn cho cử tọa cảnh “Khóa Cánh Tiên” tức là cách công an giám thị c̣ng tù nhân để buộc tù nhân phải khuất phục. Đó là kiểu “c̣ng ác độc”, c̣ng ngược hai tay ra sau, và treo ngược lên, làm người tù đau đớn, trung b́nh chỉ chịu đựng nổi hai phút. Ông Thiện nói đă một lần ông chịu được nửa giờ, sau đó mồ hôi đầu và mặt ông chảy xuống hàm râu ông, rơi xuống đất từng hạt! Ông nói có hai lư do mà ông chịu nổi lâu hơn người khác, một là sức mạnh tinh thần, và hai là thân thể ông “mỏng” nên c̣ng không xiết vào da thịt ông “gay” như anh em khác.

Không một người tù nào “biết được” cách thức c̣ng kiểu “khóa Cánh Tiên” của công an Cộng sản. Lẽ giản dị là họ không được học khóa huấn luyện bắt người và c̣ng người, c̣ng “kiểu nào” để cho họ bị đau khổ nhiều nhất. Có lẽ không người tù cộng sản nào, kể cả thi sĩ Vô Danh, c̣n bụng dạ nào muốn t́m hiểu xem Cộng sản c̣ng theo kiểu cách nào mà đau đớn đến thế, để làm kiến nghị phản kháng kiểu Đoàn Viết Hoạt hay Hà Sĩ Phu... Cái này th́ chính là người Mỹ chế tạo ra c̣ng cũng phải thua các đồng chí Cộng sản. Ông Thiện trước cử tọa muốn trổ tài để cho họ phục lăn, phục lác mắt. “Tay nghề” của ông chẳng có ǵ đặc biệt đáng chú ư hơn cái vụ thơ “con cóc”, thơ kiểu “sớ táo quân”, th́ ông đành biểu diễn, bột phát và đột xuất, cái vụ c̣ng “kiểu cánh tiên”! Kinh nghiệm “chảy mồ hôi” mà ông Thiện nói th́ có vẻ là những người tù, nạn nhân của ông Thiện, đă bị ông Thiện c̣ng tay th́ đúng hơn.

 

Thi sĩ Vô Danh th́ khác hẳn ông Thiện. Thi sĩ Vô Danh ở trong tù, tuyệt vọng, nhưng vẫn cố gắng làm thơ để ghi chép tội ác Cộng sản, để thức tỉnh thế giới nhân loại, và thấy cần tiêu diệt Cộng sản bằng bất cứ giá nào! Thi sĩ Vô Danh không cần phải chú ư đến cái c̣ng v́ đó là chuyện nhỏ, và chỉ bị đeo c̣ng lúc bị bắt trong một thời gian ngắn.

Ông Thiện, trái lại, cũng như tất cả các công an cộng sản khác, đă vô cùng tự hào về cái “nghề c̣ng”, chuyên gia c̣ng, với “kiểu c̣ng cánh tiên” nên rất hănh diện, đi đến đâu cũng thích trổ tài, khoe tài nghệ!

Sau khi vào tù, người tù thường hay bị cùm, kẹp đến thối thịt, thối xương. Ngoài ra c̣n những vấn đề đói khổ, bệnh tật, hành hạ, chửi rủa, những vấn đề “không tên” và cái chết đe dọa thường xuyên khiến mọi người tù đều mau quên cái c̣ng! Chẳng có người tù nào “cần” hiểu rằng kiểu c̣ng mà họ đang chịu đựng là c̣ng “kiểu cánh tiên” hay “kiểu Vẹm bịp”! Họ cũng chẳng cần phải “thương nhớ hay thích thú” cái kiểu c̣ng ma quỷ ấy!

 

Ta lưu ư quỷ cộng sản rất thích thú khi làm được người khác đau khổ v́ họ càng đau khổ chúng càng vui cười hơn nữa coi đó là tṛ chơi thú vị. Thành thử khi tù đàn ông hay đàn bà đi qua mặt chúng với mùi hôi hám, v́ chúng có cho tắm rửa bao giờ đâu, chúng bịt mũi, cấp cao th́ dùng mù xoa bịt mũi, chê rằng không có giấy vệ sinh, không băng vệ sinh, như trâu như chó, và hôi thối không vừa lỗ mũi chúng...!

Công an Cộng sản coi tù nam là “lũ lưu manh” và tù nữ là “những nàng Kiều thời đại”! Khi các hội nhân quyền hỏi đến tù chính trị th́ Cộng sản thường trả lời chúng không có giam cầm tù chính trị. Chúng chỉ giam những tên “lưu manh”!

Công an có thể qua những khóa huấn luyện về cách c̣ng kiểu cánh tiên. Huấn luyện viên công an cao cấp có thể trổ tài biểu diễn c̣ng kiểu “cánh tiên” để dạy công an cấp dưới về “kỹ thuật cao” này. Nhưng tù nhân không bao giờ được huấn luyện như vậy. Không có người tù miền Bắc nào thời đó nghĩ là có giấy vệ sinh, giấy cuộn sạch sẽ thơm tho, made in USA, để mà “chạy chọt” công an cho có. Họ chẳng có khăn “mù xoa” trắng tinh và sực mùi nước hoa như thiếu tướng công an phản gián để chùi mồ hôi... Lúc ông Thiện làm “thơ”... dùng mù xoa chùi mồ hôi th́ ông đă quên là ông đang bị c̣ng khóa cánh tiên th́ làm sao rút mù xoa ra mà chùi mồ hôi mặt?

 

Thi sĩ Vô Danh không có anh em để mong đoàn tụ cùng ăn bữa cơm với nhau hay là mong đoàn tụ với người anh ở ngoại quốc 30 năm mới gặp!

 

Trong bộ máy tù đày bằng sắt

Tôi không muốn thấy những ḍng nước mắt!

Càng không muốn thấy những điệu cười!

Tôi muốn sao tất cả mọi người chỉ có hàm răng nghiến chặt!

Bàn tay không đụng vào đâu!

 

Ông Thiện gọi tù không có giấy vệ sinh là “sống như trâu như chó”. Thi sĩ Vô Danh trái lại gọi công an Cộng sản là trâu là chó và chỉ muốn bắt tù nhân trở thành trâu hay chó. Trong bài dưới đây, ông Thiện nói “cho nên Đảng mới làm mưa làm gió. Ông Thiện không nói Cộng sản ác độc, dùng công an trị kèm kẹp. Trái lại, ông Thiện chửi dân Việt là “ngu như đàn ḅ” hoặc “Rồng Tiên hóa khỉ”.

Thi sĩ Vô Danh đă khẳng định rằng dù trong tù đày cũng không chịu khuất phục. Với hàm răng nghiến chặt, mọi người không khóc lóc van xin, cũng không cười ḥa điệu lấy ḷng cán bộ công an cộng sản. Dù bị tù nhưng không chịu uốn ḿnh thành trâu chó cộng sản! Nếu mỗi người tù hiểu rằng ḿnh có thể vươn lên, không chịu làm đất thó hèn mạt, van lạy cộng sản, không sợ chết, th́ sẽ xứng đáng là Người và cao hơn trâu chó cộng sản ở giá trị “Con Người”!

Trong Hoa Địa Ngục tập 2 hay là “Hạt Máu Thơ”, tác giả Nguyễn Chí Thiện chứng tỏ ḿnh rất giỏi... Tam Quốc và truyện Kiều, không phải giỏi ở tù hay giỏi tiếng Pháp! Mấy “bài thơ” này trong tập Hoa Địa Ngục 2, trang 144, 145, tuy rằng không có vẻ “ăn nhậu” ǵ với ngục hay tù!

 

Ba lần t́m tới thảo lư

Ḱnh ngư đă t́m được nước

Tùy mệnh trời không xoay đảo được

Cả nước t́nh xưa c̣n dào dạt muôn thuở trong thi thư...

Việc Lưu Bị đáng Đông Ngô trả thù cho Quan Vũ

Là thất sách vô chừng, lại thảm bại mới chua cay!

Song với ta hành động đó đẹp thay

Nét kết thúc tuyệt vời của bức tranh đào viên ngàn đời bất hủ!

 

Phê b́nh Từ Hải:

Ngay trước mặt Từ, Kiều nỉ non t́nh tự với Thúc Lang

Từ (Hải) ngồi đực, cái anh chàng Từ này rất lạ!

Vợ xử án lung tung, giết linh tinh, cứ ĺ như phổng đá

Mưu bá đồ vương mà đần thế, chết không oan! 

                                                (Nguyễn Chí Thiện)

 

Xin để quư độc giả phẩm b́nh hai đoạn... “thơ” trên đây. Người viết nghĩ rằng có nhiều nét “quê đặc, đặc sệt, kiểu tam đại bần cố”. Những danh từ “gay”, “đần thế”, “là thật đấy” là ngôn ngữ khá phổ thông trong hàng ngũ công an, cán bộ.

Ông Nguyễn Chí Thiện cũng ngâm vịnh Thạch Sanh, Lư Thông:

 

V́ cuộc đời nhan nhản Lư Thông

Mà Thạch Sanh thời không thấy bóng!

Nên Ác Điểu, Măng Sà mới tha hồ bành mang giương móng

Rời khỏi động hang, hùng cứ cả non sông!i!

                                   (Nguyễn Chí Thiện -1995?)

Trong bài Quan Vũ, ông Thiện chứng tỏ sự “trung nghĩa của ông như mặt trời đỏ!”

Trái tim trung nghĩa như mặt trời đỏ

Khí phách ngàn thu sông núi sáng tỏ!i!

                                   (1988 - trg.128. HMT)

Cái màu đo đỏ quả là biểu tượng cho sức mạnh chuyên chính vô sản, nó ăn sâu vào tiềm thức, tim năo, xương tủy của các cán bộ trung kiên, cho nên họ cứ xuất khẩu là thành “thơ” màu đỏ, đỏ ḷe, đỏ loẹt!

Và đây là bài “thơ” theo kiểu “sớ Táo Quân”:

 

Đa phần dân

Đa phần dân cán bộ

Bị bưng bít nhồi sọ

Về nhân quyền tự do

Khái niệm cũng chưa có

Đảng làm mưa làm gió

Chính là nhờ ở đó!

Ôi, dân c̣n thế đó

Có khác chi đàn ḅ!

Đất với nước tối ṃ

Bao giờ trời sáng cho!

(Nguyễn Chí Thiện -1980 Trg.105-HMT)

 

Ông Thiện không chửi cộng sản bóc lột làm cho dân đói. Ông Thiện cũng không gọi người Việt Nam là “dân Việt Nam”. Ông Thiện gọi dân Việt là “dân bác Hồ” và đói ăn, chạy ăn, gầy ốm giơ xương, c̣n thua con chó Tây. Ông Thiện ví dân Việt với chó Tây! Lưu ư ông Thiện là lúc ông làm “thơ” này th́ không c̣n thằng Tây nào nuôi chó Tây ở Hà Nội như cái thời thực dân xa xưa. Lúc đó, chỉ có chó của ông... Thiện mượt mà, béo tốt như thế. Ông Thiện thấy chó Tây béo tốt nây nây, lại lông nhông tồng ngồng chạy nhảy v́ nó không mặc quần, nên nổi hứng làm “thơ”, khen chó Tây béo tốt hơn cả “dân bác Hồ”! Thật đúng là thơ “lông lá”, thơ chó Tây, lại có tí màu đỏ nữa, mới là thơ hay!

 

Cộng sản tàn bạo

Cộng sản tàn bạo lắm!

Đồng bào ta cực lắm!

Đất nước ta vực thẳm

Bao tài trí mất tăm

Bao cuộc đời nát băm

Bao đớn đau ch́m đắm

Hận thù bốc cao lắm

Cao măi cùng tháng năm!

V́ trăm ngàn quật quăng

 

Câu này có lẽ phản ảnh tâm sự ông Nguyễn Chí Thiện, như ông tuyên bố khi mới sang Mỹ là ông mất ngủ nhiều quá nên bị bệnh... thần kinh, không phải bệnh thiếu ngủ. Phương trời xa xăm, phải chăng là Hoa Kỳ? Ngọt ngào mà cay đắng, phải chăng cũng là Hoa Kỳ? Phải chăng ông Thiện đă... thề phải cố gắng từng giây từng phút, phải quyết sống và quyết thắng tại Hoa Kỳ?

 

Đọc hết mấy bài “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện (?), người viết chẳng hiểu nổi “ư  thơ” hay ư ông Thiện muốn nói cái ǵ? Người viết nghĩ rằng với kiểu thơ trên đây của ông Nguyễn Chí Thiện, nếu được ném vào ṭa đại sứ Anh th́ cũng đi thẳng vào sọc rác, chẳng ai buồn mang lên đài BBC hoặc in ra để phổ biến khắp thế giới và được giải thưởng quốc tế! Dù có xuất hiện năm 1995, 1996 với “hào quang mượn” của tập thơ Vô Đề th́ cũng vậy thôi, chẳng ai thèm chú ư! Hữu xạ tự nhiên hương, là vậy!

Đây là một bài thơ khá dài của ông Nguyễn Chí Thiện tả nỗi nhớ nhung của ông:

 

Ta Nhớ

Ta nhớ những năm, những ngày, những tháng

Mặt Trời, mặt trăng như thần thoại huy hoàng

T́nh cảm trên đời lai láng làm sao

Chút ít đắng cay c̣n toàn thơm thảo

Ta nhớ thuở ăn cắp tiền nhà, ăn thịt ḅ khô, đánh nhau khó bảo

Đi xem thường vượt trường, hay trốn học, mê chơi

Ta nuốt bao cay đắng trong đời

Riêng thuở đó đẹp như là mộng ảo!

Ta nhớ Tết, Ti toe khoe quần áo

Pháo đốt vang, tiền chưa gấp nếp, mới toanh!

Khách tới mừng Xuân, ai cũng mở hàng

Lời chúc tết cũng là lời dạy bảo

Ta nhớ những buổi tối mùa đông,

đi xi nê về, ăn phở ấp chảo Phở nóng, rượu cay, tỏi ớt càng cay!

Bè bạn ngà say bàn luận cuốn phim hay

Khinh ghét gian ma, xót xa tàn hoa mà đời bất hạnh!

Ta nhớ những buổi sáng chủ nhật,

chuyển mùa trời hơi se lạnh

Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh

Nh́n ḍng người, ḍng xe khoe tươi lộng lẫy

Thấy người quen nào ta cũng xiết chặt tay!

Ta nhớ những ngày không uống rượu mà say

Đời đă như cốc rượu dâng bầy

T́nh bạn, t́nh thầy, t́nh văn chương kim cổ

Nào học, nào chơi, nào thi, nào đỗ!

Ta nhớ những hàng quà rong, linh hồn đường phố

Toàn thứ rao vang, người Việt lại người Tầu

Cuộc sống b́nh dân no ấm muôn mầu

Sáng, tối, trưa, chiều, ăn ǵ cũng có!

Ta nhớ những đền chùa linh thiêng, những ṭa miếu cổ

Những bà già chắp tay cầu khấn thành tâm

Những pho tượng ngồi trong hương khói trầm ngâm

Lũ trẻ vây quanh, đứa nghịch hư, cũng thành ngoan im lặng

Ta nhớ những đêm êm đềm thấm vào hồn ta bao la trong trắng

Những trang chuyện trang thơ thơ mộng tràn đầy

Thiết tha t́nh kim cổ, Đông Tây

Ta thường xuyên xúc động phải bỏ sách, đi một ṿng quanh phố vắng

Ta nhớ những buổi mai mượt mà, đẹp nắng

Quanh hồ gươm ta mặc toàn đồ trắng dạo chơi

Đeo kính mầu xanh, ta ngắm cuộc đời

Hồ hởi, nói cười, đẹp tươi trong gió...

Như có linh hồn, ấm áp xóm quê

Trong những mái gianh là t́nh cảm tràn trề

Mưa lụt cùng xách đèn đón ta đi ăn cỗ

Ta nhớ những ngày cúng giỗ

Cha, mẹ, cô, d́, chú, bác chị em ta

Mời gắp cho nhau thân mến xum ḥa

Hương khói ngạt ngào yêu thương biết mấy!

Ta nhớ những ngày lội bơi vùng vẫy

Đánh bốc, chơi thuyền, cường tráng nở nang

Mơ gặp khó nguy bắt nó quy hàng

Trong cuộc sống dễ dàng êm ấm ấy!

Ta nhớ những buổi chiều thứ bẩy

Mùa hè, ăn bánh tôm bên Hồ Tây

Cô bạn ngồi bên như nàng tiên vậy

Vạn vật  tưng bừng ngất ngây!

 

Đọc bài thơ trên đây, chúng tôi đố đọc giả t́m thấy “tù tội” và Cộng sản ác ở chỗ nào? Tội thằng “búa liềm” băm bổ mà thôi. Người ta thấy tác giả bài thơ có vẻ là cấp tướng công an phản gián quyền uy và tiền bạc đầy ḿnh. Làm việc đọc sách nhiều quá nên “xúc động” phải bỏ đi chơi một ṿng quanh phố Yết Kiêu vắng vẻ. (Trụ sở Cục Phản Gián số 6 đường Yết Kiêu đă làm cho đường này rất vắng vẻ, v́ không ai dám héo lánh qua lại.) Mưa lụt cũng có người xách đèn mời đi ăn cỗ v́ là cấp tướng công an? Mặc complet toàn trắng đi dạo mát quanh Hồ Gươm. Rảnh rỗi học đánh “bốc” (quyền Anh), bơi thuyền, tập luyện cho thân thể cường tráng để khi nào “gặp địch gặp ngụy” (gặp khó khăn) là bắt nó phải quy hàng!

Nhưng nếu ông Nguyễn Chí Thiện nhận là “thơ” của ông th́ cũng phải thôi, chứ làm sao căi? Điều này cũng chứng tỏ ông Thiện không phải là tác giả thật của tập thơ do đài BBC phổ biến, đă được viết bằng máu, nước mắt, tù ngục, đọa đày và cái chết. Ông Nguyễn Chí Thiện chưa bao giờ đi tù. Do đó ông Thiện không “nhớ” tù đày và cũng chẳng biết ho lao ra máu ra sao? Ông Thiện chỉ “nhớ” hay là bị ám ảnh bởi cuộc đời khá giầu sang sung sướng có đánh bốc, bơi thuyền, tập luyện cho thân thể được cường tráng nở nang, được học được chơi được thi được đỗ (đậu), đi xi nê về ăn phở áp chảo, uống cà phê pha rượu mạnh (có lẽ là pha rượu rum) có gia đ́nh đông đảo ăn Tết, ăn tiệc lớn, lại mặc complet toàn trắng đeo kính mầu xanh đi dạo chơi Hồ Gươm, đi chơi Hồ Tây ăn bánh tôm chiên với đào đẹp như tiên... Để rồi 10 năm sau lại được Đảng và Nhà Nước cho đi Mỹ... Đời thế là khoái tỉ rồi, than cái nỗi ǵ?

 

Cái anh chàng Vô Danh làm thơ Vô Đề suốt đời bất măn, suốt đời bị c̣ng cánh tiên, bị tù là đáng. Đă không biết thân phận giai cấp lại c̣n quai mồm ra làm thơ láo, chửi “bác Hồ” là quỷ sứ yêu tinh, chửi đảng là ngu dốt như chó, cho rũ tù mới đáng kiếp.

 

 Cái thứ phản động, phản cách mệnh đó là phải đánh “tập thể” cho chết, phải không, thưa ông Nguyễn Chí Thiện? Hỏi thăm ông Nguyễn Chí Thiện tí nhá: Sao thơ của ông nó kỳ kỳ như xếp chữ, ghép chữ, ghép câu, ngắt câu xuống gịng vậy?

 

Thơ của tôi không phải là thơ

Mà là tiếng cuộc đời nức nở!

Tiếng của nhà giam ng̣m đen khép mở

Tiếng kḥ khè hai lá phổi hang sơ!

(vi trùng lao ăn ruỗng phổi gần mất sự sống)

Tiếng đất vùi (mộ) đổ xuống lấp niềm mơ!

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ!

 

Thi sĩ Vô Danh ví cái khổ tù của ḿnh với cái khổ tù của Tề Thiên Đại Thánh:

 

Tôi khổ gấp trăm lần hơn Đại Thánh

Mang trên đầu đủ thứ mũ kim cô

Thần chú đau thương: "Tất cả tan tành!".

Khoan vào óc đêm ngày muôn vạn lỗ!

Đời tôi giữa Ngũ Hành Sơn cấm cố

Không mong Đường Tam Tạng tới buông tha

 

Thi sĩ Vô Danh ví ḿnh với Lư Bạch:

 

Xưa Lư Bạch ngẩng đầu nh́n trăng sáng

Nay tôi ngẩng đầu nh́n nhện giăng bụi bám,

Cúi đầu giết rệp nhặt cơm vương!

Lư Bạch rượu say gác lên bụng vua Đường

Tôi đói lả gác lên cùm rỉ xám

Lư Bạch sống thời độc tôn u ám,

 

Cái tài t́nh của Thi sĩ Vô Danh là dù ông nói thời “Cộng sản ấm no, hạnh phúc tự do, thiên đường...” mà người ta vẫn thấy sự mỉa mai... và đầy khổ nhục, tàn ác!

 

* * *

 

Một câu chuyện nhỏ về chữ “Thôi” trong bài thơ “Anh gặp em trong bốn bức rào dầy” Kể chuyện người con gái tập kết miền Nam bị Cộng sản bỏ tù đến chết v́ ho lao ra máu. Ông Vô Danh ở câu thứ 6 viết: “Y sĩ công an nh́n em, thôi nạt nộ om ṣm...”. Ông Thiện không hiểu ư nghĩa chữ “thôi” trong câu này. Ông nghĩ chữ “thôi” này có nghĩa là “ngừng” và ông viết trong tập “Hạt Máu Thơ hay là Hoa Địa Ngục tập 2, trang x và xi”:

... Thực ra cũng có lúc phải viết khác sự thực một chút, v́ trong thơ không thể giải thích dài ḍng. Thí dụ trong bài “Anh gặp em”, lúc đầu tôi làm:

Y sĩ Công an

Nh́n em

Nạt nộ om x̣m!

Đó là sự thực, nhưng chưa phải là sự thực hoàn toàn, người đọc có thể hiểu lầm cho là có lư. Tại sao khi tên Y sĩ Công an nh́n cô gái trẻ miền Nam ho ra máu, sắp chết lại nạt nộ? Cái tên Y sĩ này lúc nào cũng nạt nộ, túm tóc, tát, đá bệnh nhân. Đó là thói quen của hắn, chứ không phải v́ nh́n thấy cô gái đó mới nạt nộ. Tôi đọc cho anh Phùng Cung nghe để bàn xem. Anh Cung suy nghĩ, rồi nói: thôi, nên đổi lại là:

Y sĩ Công an

Nh́n em

Thôi nạt nộ om x̣m!

 

và chúng tôi đồng ư với nhau là cho tên Y sĩ vô lại đó được làm người một phút! Tóm lại, chất liệu thơ của tôi là muôn ngàn cuộc đời tan nát, chôn vùi trong đó có cuộc đời tôi, tôi không hư cấu chi cả...

Trên đây là bằng chứng nói láo và bịp bợm của ông Nguyễn Chí Thiện. Thi sĩ Vô Danh làm bài thơ “Anh gặp em” này năm 1965, và sau đó đă chôn dấu một nơi cho đến khi ông gom tất cả lại và mang vào ṭa đại sứ Anh năm 1979. Thi sĩ Vô Danh làm “thơ Vẹm cấm” như vậy, mà dám khoe để hỏi về một câu thơ với một văn nghệ sĩ “nhà nước” trong Hội Nhà Văn (Cộng sản) Hà Nội? Thi sĩ Vô Danh bị tù trong 20 năm, từ 1958 đến 1978, bị thả ra rồi lại bị bắt vào như cơm bữa, th́ gặp Phùng Cung ở dịp nào? Một người tù, thân tàn ma dại, ho lao ra máu, cơm không có mà ăn, bị công an quản chế tại gia thật gắt gao, tiêu sầu bằng chai nước lă đun sôi, th́ làm sao lại “cần” và “dám” gặp ông Phùng Cung trong Hội Nhà Văn Hà Nội để hỏi cách đặt một chữ “thôi” trong mấy trăm bài thơ, trong 20 năm làm thơ? Ông Thiện nói là ở Hải Pḥng và bị “quản chế tại gia” cũng ở Hải Pḥng th́ làm sao lên Hà Nội mà gặp Phùng Cung để bàn về một chữ “thôi”?

 

Tôi nghĩ ông Nguyễn Chí Thiện tŕnh độ quá thấp kém về văn hóa, quá bần cố nông, có thể nói rằng quá dốt, nên không thể “nắm vững” được chữ “thôi” và ư nghĩa của nó, hay cách xử dụng nó... như Thi sĩ Vô Danh! Giá ông Thiện cứ ngậm miệng, lờ đi th́ có ai hỏi? Nhưng chính ông Thiện quá dốt, không hiểu chữ “thôi”, lại ra cái điều ta đây cẩn thận, dùng chữ rất sát, rất đúng, và có Phùng Cung “gà” thêm chữ “thôi” cho đẹp!

Bài thơ “Anh gặp em” (đă viết ở đoạn trên) tả người con gái miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955, v́ chửi Cộng sản nên bị chúng bỏ tù đến nỗi tàn tạ, ho lao ra máu và sắp chết đến nơi...

 

Anh gặp em trong bốn bức rào dầy

Má gầy, mắt trũng

Phổi em lao, chân em phù thũng

Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng

Em ngồi run, ôm ngực c̣m nhom

Y sĩ công an nh́n em, thôi nạt nộ om ṣm

Em ngồi lọt thỏm

Giữa bọn người vàng bủng co ro

Những tiếng ho!

Những cục đờm mầu!

 

Tiếng “thôi” ở đây không phải “động từ” thôi là ngừng là... stop. “Thôi” ở đây là một tĩnh từ “nhấn mạnh” thêm vào sự “nạt nộ om x̣m” của tên y sĩ công an. Câu này đáng lẽ Thi sĩ Vô Danh muốn dùng là "thôi th́ nạt nộ om x̣m", nghĩa là tên y sĩ công an thấy mặt cô gái ho lao miền Nam là "bắt đầu" nạt nộ om x̣m mạnh, không phải y đang nạt nộ rồi thấy cô gái ho lao th́ "thôi" không nạt nộ nữa! Theo lối người Bắc có văn hóa, đáng lẽ phải viết là “Thôi th́ nạt nộ om x̣m”. Thơ thứ thiệt nên Thi sĩ Vô Danh bớt chữ  th́”, nhưng người đọc hiểu ngay là tên y sĩ công an thấy mặt cô gái là nạt nộ, có lẽ v́ y có thù ghét cô gái sẵn, không ngưng nghĩ chút nào, và rất mạnh, rất om x̣m! Nếu là thôi “nạt nộ”, hay là “không nạt nộ nữa” th́ cần ǵ đến chữ (từ) “om x̣m”?

Câu “Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng!” th́ ta có thể hiểu ngay là những cơn gió lạnh kinh người này đang quất mạnh vào đám người tù ho lao, rách rưới, ngồi co ro, rét run v́ đói rét, bệnh tật, c̣m cơi (teo nhỏ) và không đủ quần áo che thân. Họ kinh hoàng khủng khiếp nh́n tên y sĩ công an cộng sản như nh́n thấy ác quỷ hay tử thần hiện lên để chửi bới nạt nộ om ṣm. Ngày hôm sau cô bé ho lao này chết. Đoạn cuối bài thơ:

 

Sớm qua ngồi, tay em anh nắm

Muốn truyền cho nhau chút t́nh lửa ấm

Mặc bao ngăn cấm đê hèn

Sáng nay em không trống không kèn giă từ cuộc sống!

Xác em rấp trên đồi cao gió lộng

Hồn anh trống rỗng, tảu tơi! 

                                        (Vô Danh -1965)

 

Vào thời điểm 1965, ông Nguyễn Chí Thiện c̣n đang mặc complet trắng tinh đi dạo mát Hồ Gươm, hoặc đi bơi thuyền Hồ Tây, ăn bánh tôm với người bạn “đẹp như tiên”. Ông Thiện làm sao hiểu được t́nh yêu tương thân, trong thân phận tù đày, gần chết, của hai người tù cùng ho lao ra máu như nhau?

Lời tác giả: Tù nhân nam nữ bị giam riêng biệt.

 Thi sĩ Vô Danh t́nh cờ gặp cô gái miền Nam trong bệnh xá đầy những bệnh nhân hầu hết là ho lao. Tên “y sĩ” công an đă ghét cô gái sẵn, có lẽ v́ cô gái này trí thức đă nhiều lần vặn hỏi, sửa lưng y mà y không trả lời được nên đâm ra thù hận cô gái này. Tên y sĩ này vừa thấy mặt cô gái là lớn tiếng quát tháo nạt nộ, chửi bới om x̣m.Y sĩ” cũng như “chánh án” cộng sản đều là cán bộ bần cố nông vô học hoàn toàn. Bọn này lúc nào cũng có mặc cảm dốt nát và rất thù ghét giai cấp “trí, phú, địa hào”. Nếu bệnh nhân hay tù nhân gặp cái thứ “y sĩ hay chánh án” cộng sản kiểu này th́ c̣n chết mau hơn nữa.

Thi sĩ Vô Danh đă động ḷng thương v́ cô gái này đă quá tàn tạ, kiệt quệ mà c̣n bị tên y sĩ công an khốn nạn nạt nộ chửi bới om x̣m, nên ông làm thân hỏi chuyện cô gái. Cô gái kể chuyện ḿnh người miền Nam, v́ nghe lời đường mật ngon ngọt bịp bợm của chó sói, nên đă bỏ mẹ và các em để “tập kết” ra Bắc năm 1955. Năm 1954 - 1955, số cán binh cộng sản miền Nam và những người miền Nam có cảm t́nh với Cộng sản phải đưa tầu Ba Lan (lúc đó c̣n là Cộng sản) đến chở ra Bắc. Phần lớn trong số gần một triệu người di cư vào Nam đi bằng tầu hải quân Hoa Kỳ. Nhiều người di cư c̣n nhớ đến chiếc tầu khổng lồ Marine Serpent chuyên chở khoảng 7,000 người mỗi chuyến, đă chở họ vào Nam, với ḷng biết ơn.

Khi thất vọng, cô gái, và nhiều người Nam khác nữa, chửi bới Cộng sản th́ bị chúng trở mặt, lộ nguyên h́nh chó sói lông lá béo mập húp híp, cho công an bắt họ bằng c̣ng cánh tiên và bỏ tù ngay. Đi tù cộng sản thường có nghĩa là sẽ phải chết sớm hay muộn v́ bệnh, v́ đói mà vẫn bị đốc thúc đánh đập để lao động sản xuất nuôi công an, cai tù, giám ngục, quản giáo. Năm 1989 - 1990, người Mỹ đă cố gắng buộc Việt Cộng phải thả các sĩ quan VNCH và cho họ đi Mỹ. Người Mỹ và các cựu sĩ quan này hiểu rằng Việt Cộng muốn giam giữ họ cho đến chết.

Thi sĩ Vô Danh nghe câu chuyện quá xúc động đă nắm tay cô gái để tỏ sự thông cảm và cảm t́nh. Cô gái vui mừng v́ đă có dịp tâm sự nỗi ḷng trước khi ĺa đời. Ngay đêm hôm đó, cái lạnh kinh hồn miền Bắc với gió rét căm căm đă đưa linh hồn cô gái ra khỏi cái địa ngục cộng sản. Thi sĩ Vô Danh ghi nhớ câu chuyện đau thương thê thảm của cô gái miền Nam "tập kết", và đă sáng tác một bài thơ bất hủ.

V́ tù nhân nam nữ giam riêng biệt, nên khi ông (đại tá công an đi thanh tra) Nguyễn Chí Thiện phải dùng khăn mù xoa trắng tinh bịt mũi khi tù nhân phụ nữ đi ngang qua và phàn nàn rằng “những nàng Kiều thời đại” không biết dùng băng vệ sinh nên hôi hám khiến ông ngửi không nổi, ta thấy ngay ông Thiện “không phải” là tù nhân “nữ” như họ và bị giam chung với họ. Phải chăng ông Thiện là công an bắt người, giam người thứ dữ, thứ cao cấp? Ông Thiện đến “thăm” trại giam nữ tù có lẽ chỉ để ngắm xem có người nào vừa mắt “đẹp như tiên” và ít hôi hám, th́ “mời” họ đi ăn bánh tôm Hồ Tây và “hộ lưcho ông. Ông sẽ “ban” cho họ nhiều quà cáp, miễn lao động, miễn bị c̣ng cánh tiên, và đặc ân cho tắm rửa kể cả băng vệ sinh cho họ được sạch sẽ thơm tho hơn nữ tù nhân khác trước khi hộ lư cho ông?

Thi sĩ Vô Danh tả cảnh một người tù, bị cán bộ cướp vợ và đày đọa đứa con phải hầu hạ làm nô lệ. Một người tù được “thả” về trước nên đến nhà người bạn tù để nhắn tin xin ít thuốc kư ninh (trị sốt rét) và ít đường đen để bồi dưỡng, không phải xin giấy vệ sinh!

 

Có phải em là em bé?

Bố tập trung xa cách đă mười năm?

Bố dượng em là bác da ngăm ngăm,

Là đồng chí bí thư nơi mẹ em công tác?

- Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh khác

Về t́m em để nhắn hộ tin...

Bố em giờ đau ốm cần xin

Ít kư ninh, ít đường đen bồi dưỡng!

 

Thi sĩ Vô Danh tả cảnh tội lỗi do Cộng sản gây ra:

 

Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!

Trong lành cũng phải tanh hôi!

Trẻ con chưa nứt mắt đă tù rồi!

Bạo lực đi về rất vội!

Chết trận, chết tù, hỡi ơi xă hội!

Biết bao là vợ góa, con côi,

Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi,

Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!

Mảnh đất chờ trông và sám hối

Thức giả tiêu sầu chai nước lă đun sôi! 

                                      (Vô Danh -1964)

Một tay em trổ: Đời xua đuổi!

Một tay em trổ: Hận vô bờ!

Thế giới ơi! người có thể ngờ?

Đó là một tù nhân tám tuổi!

Trên bước đường tù, tôi rong ruổi

Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!

                              (Vô Danh - 1971)

(Trổ: Xâm. tattoo).

 

Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!

Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng

Nước da hai bác màu hồng

Nước da các cháu nhi đồng màu xanh

Giữa hai cái mặt bành bành

Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ c̣!

 (Vô Danh -1970)

(Hồ Chí Minh chết 1969, Tôn Đức Thắng thay thế)

 

Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh?

Đoạn viết này là “giả thuyết” theo sự nhận xét của tác giả. Đúng hay sai cũng c̣n tùy theo bạn đọc.

Chỉ nh́n sơ qua tập thơ Hoa Địa Ngục tập 2 hay là “Hạt Máu Thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện để so sánh với tập thơ Vô Đề, ta thấy Cục Phản Gián khá vụng về khi cố gắng dàn dựng để ông Nguyễn Chí Thiện thành “thi sĩ thật”.

Điểm đầu tiên là cuốn Hạt Máu Thơ nhái theo thơ Vô Đề về nội dung tŕnh bày. Khoảng hai phần ba đầu tập là những bài thơ riêng lẻ, đề năm sáng tác từ 1979 trở đi, nhiều bài không đề năm hay tháng, và phần cuối toàn một thể thơ “4 câu”, gọi là những ghi chép vụn vặt.

Cán bộ dốt nát được tập thơ Vô Đề thấy cần phải tạo ra một thi sĩ “tương đương” với Thi sĩ Vô Danh. Muốn như vậy th́ phải “đẻ ra” một tập thơ “nhái” tương tự như thế mới “giống”, mới có vẻ “din” (origin), cùng “một ḷ thơ” như nhau. Chính v́ có hai tập thơ giống nhau về “h́nh thức” nên người ta mới dễ so sánh và thấy đúng là đă do hai người “khác nhau” hoàn toàn sáng tác!

Nhưng tiếc thay đạo diễn phản gián có tŕnh độ quá kém cỏi, nhất là về thơ. Mỗi thi sĩ, thi bá, hay thi hào... đều có những điệu thơ riêng biệt, giống như căn cước hay cá tính của chính họ... Những người sành thơ đều thuộc làu những bài thơ hay. Chỉ cần đọc một câu là người ta biết ngay đó là thơ Nguyễn Bính, Quang Dũng, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư... Ngay cả thơ “đấu tố giết người” của Xuân Diệu, hay thơ “nịnh bợ liếm đít” của Tố Hữu cũng có “kiểu”, có “thể” và sắc thái riêng biệt của mỗi người.

 

Chỉ cần nghe...

Cho tôi ép nốt gịng dư lệ

nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên! (T.T.KH.)

 

Người phụ nữ lỡ một cuộc t́nh, khóc đă cạn gịng lệ. Nhân đọc bài viết nói về hoa Ty Gôn giống như tim vỡ, nhắc nhở nàng chuyện t́nh dang dở ngày xưa. Nàng cố gắng ép nốt gịng lệ c̣n lại để viết thành bài thơ, khóc cho duyên t́nh lỡ dở. Thơ hàm xúc đầy ư nghĩa và làm cho người đọc thơ có cảm tưởng như “sống trong sự đau khổ” của thi nhân!

 

Em không nghe mùa Thu

dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

h́nh ảnh kẻ chinh phu

trong ḷng người cô phụ?

hoặc:

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

cho vương vấn nợ thi nhân?

là người ta biết ngay thơ Lưu Trọng Lư, khỏi cần phải giới thiệu tác giả.

hoặc Tôi mơ Hà Nội giáng Kiều thơm...! là người ta biết ngay của Quang Dũng.

Hoa nở cô đơn bóng động thềm...

Vườn xưa c̣n thoáng chút hương em...

Xót xa lá cỏ vương mùi tóc!

Tà áo bay về, nhớ suốt đêm...! (Đinh Hùng)

 

là ta thấy ngay Đinh Hùng đang sống trong mơ và làm thơ cũng trong mộng mơ, không phải nhớ suốt đêm mà là nhớ suốt đời...

Giả thử cán bộ phản gián có “nhờ” Tố Hữu, Phùng Cung, Hữu Loan hay bất cứ ai c̣n sống ở Hà Nội “nhái” thơ Thi sĩ Vô Danh th́ cũng lộ tẩy ngay. V́ người quen thơ, sành thơ, đọc lên là thấy cái “chất thơ” hay mùi vị thơ độc đáo của mỗi tác giả, mỗi thi nhân thứ... thiệt!

Có lẽ v́ khó kiếm thi sĩ thứ thiệt để làm thơ... nhái, cán bộ phản gián phải “nhái thơ Vô Đề” bằng cách... viết “đại” theo tam đại bần cố. Cán bộ dốt nát đâu có hiểu thơ với thẩn là cái quái ǵ. Thơ thẩn là của của phong kiến, chứ Cộng sản Mác Lê làm ǵ có thơ! Vả lại nhái thơ của “một thằng tù” th́ có ǵ là... khó? Do đó ta mới được đọc “thơ” Hạt Máu Thơ của Nguyễn Chí Thiện hay là một loại “ngắt câu nửa chừng rồi xuống gịng”, hay kiểu “sớ Táo Quân”, hay thơ Thạch Sanh, Lư Thông, và phê b́nh... Từ Hải một cách rất... du kích! Cán bộ cũng cẩn thận làm thành một tập thơ “khá giống” tập thơ Vô Đề đă được in tại hải ngoại.

Nếu so sánh hai tập thơ cùng giống cách tŕnh bày, ta thấy ngay tập Hạt Máu Thơ là Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh do các thi sĩ công an quốc doanh sáng chế, cố bắt chước cho giống tập thơ Vô Đề! Một giả thuyết khác là toàn bộ tập Hạt Máu Thơ do nhiều tác giả cán bộ sáng tác rồi đóng tập, rồi ông Nguyễn Chí Thiện học thuộc ḷng, cho nên nhiều bài ông Thiện “ngâm lại” cũng không đúng, không đủ chữ...

Tài làm thơ của ông Thiện đă chứng tỏ trong vấn đề từ ngày sang Mỹ ông Thiện không hề trổ tài “sáng tác” một bài nào, kể cả thơ ngâm vịnh chó Mỹ hay hamburger. Trái lại người ta chỉ thấy ông Thiện trổ tài biểu diễn kiểu “c̣ng khóa Cánh Tiên” độc đáo của ông và tài diễn thuyết hùng biện để khuyên người viết đừng căm thù “người” Cộng sản nữa, mà chỉ nên căm thù “lư thuyết” Mác xít!

Một điểm khôi hài nữa là khi mang ra hải ngoại và cho in tập Hạt Máu Thơ, mặt trận kháng chiến và ông Nguyễn Chí Thiện đều không đọc lại cả hai tập thơ để so sánh trước khi in. Họ cứ in “đại” để bán lấy 12 đồng một cuốn, v́ nếu chậm th́ chỉ có... ma nó mới bỏ ra 12 đồng mua một tập thơ... quốc doanh! Khi bán sách Hạt Máu Thơ th́ đ̣i tiền trước đủ số, không thiếu chịu và không cho mang trả lại. Nhiều tiệm sách đă ”sợ” cái lối bán hàng lấy tiền ngay và đủ, kiểu “kháng chiến” này nên không dám lấy cuốn Hạt Máu Thơ, v́ họ sợ lỗ vốn, và sợ khách coi sơ qua rồi trả lại, đ̣i lại tiền.

Điểm khôi hài khác là Mặt Trận Kháng Chiến và Hội “Văng Bút” với các “nhà thơ nhớn” Viên Linh, Sơn Tùng lại hăng hái, tích cực một cách “chắc ăn” đưa cả hai tập thơ đến Thụy Điển để đề nghị giải thưởng Nobel văn chương cho Thiện! Xin quư vị độc giả thưởng thức mấy bài thơ quốc doanh độc đáo đă từng tham dự giải thưởng Nobel 1996! Khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển đọc đến tập Hạt Máu Thơ chắc phải cười đến văi đái và phải gửi ngay về Hà Nội để lấy giải Nô Văn, Văn Hóa Vẹm với huân chương Sao Vàng!

Thể thơ dưới đây có thể gọi là thể “quốc doanh 3 chữ” và quốc doanh “sớ Táo Quân”:

 

Cái dạ dầy...

Cái dạ dầy

Đảng đày đọa

Đảng nhục mạ

Thủ phạm gây

Bao xấu xa

Bao xót xa

Bao quái lạ

Bao tai họa

Để cứu nó

Khỏi đói rạc

Khỏi tội ác

Thời Đảng Bác

Thời Mác Lê

Đều phải kê

Vào sọt rác!

Không thể khác!

(Nguyễn Chí Thiện - 1982 trg. 71 HMT)

 

Đảng bất nhân

Đảng bất nhân

Dân đành phận

Đức tán tận

Tài trầm luân

T́nh ai cần

Tiền khốn quẩn

Đẹp bôi bẩn

Tốt hóa đần

Ăn lẩn quẩn

 

 

 

 

Dưới đây là thể thơ “sớ Táo Quân quốc doanh”

 

Tù ngục

Tù ngục đen ś

Sừng sững trơ ĺ

Tử biệt sinh ly

Âm thầm rên rỉ

Bất lực rầu rĩ

Ch́m đắm tắc tị

Độc tài quái dị

Mọi thứ cấm kị

Dối gian vô sỉ

Bạo tàn vô lư

Phát xít nào ví!

Thở than chút tí

 

Dĩ nhiên là Cục Phản Gián, à quên ông Nguyễn Chí Thiện, và Mặt Trận Kháng Chiến (?), Hội Văn Bút với các “thi sĩ nhớn” Viên Linh, Sơn Tùng tin tưởng rằng đó là “thơ” nên mới dám cho in thành “tập thơ” và dám mang đi ngâm vịnh lung tung khắp nơi. Giá bán 12 đôla một cuốn, và thu được mấy chục ngàn đôla cũng chưa đủ cho giá trị siêu đẳng của tập “thơ” bất hủ này. Đồng bọn chí hữu của ông Thiện đă thẳng tay gửi đến thủ đô Stockholm của Thụy Điển để đ̣i phải cấp giải thưởng Nobel văn chương cho thi bá “dỏm” hạng nhất của thế kỷ, trị giá vài triệu đôla xài chơi.

(Tháng 2/1990, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đă yêu cầu Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại để cử thi sĩ Vô Danh, lúc này được hiểu là Nguyễn Chí Thiện, với tác phẩm Vô Đề “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Hoa Địa Ngục” dự thi giải Nobel văn chương 1990. Nhưng sau đó, có lẽ v́ biết được sự giả dối về “nhân sự tác giả”, do người Anh thông báo chăng?, nên Hàn Lâm Viện Thụy Điển đă lờ đi cho đến ngày nay.)

Cuối năm 1991, song song với sự “thả” Nguyễn Chí Thiện, Cục Phản Gián cho biết khá nhiều chi tiết về ông Nguyễn Chí Thiện để báo chợ hải ngoại phổ biến. Ông Thiện sinh tại phố Hàng Bột Hà Nội năm 1937. Dọn xuống Hải Pḥng năm 1950. Năm 1957, 1958 hợp tác với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm (ở... Hà Nội (?), làm báo, rồi bị bắt tù cải tạo 2 năm. Năm 1960 ra khỏi tù. Sau đó, ông Thiện bị bắt lại năm 1961. Năm 1964, ông Thiện được thả đến năm 1966. Trong 3 năm từ 1964 đến 1966, ông Thiện dạy học và dịch sách báo Anh Pháp ngữ ở Hải Pḥng. Ông Thiện bị giam tại Hỏa Ḷ Hà Nội rồi chuyển đi các trại Yên Phụ, Yên Ḥa, Tân Lập, Hồng Ca, Trại Mo và trại Phong Quang, Lào Cay. Tổng cộng ông Thiện đă ở “tù” 30 năm. (người viết nghĩ rằng đây chỉ là sự “bịa đặt” của Cục Phản Gián v́ các trại tù không có sổ sách, các tù nhân không có án, không có hồ sơ “vào sổ” th́ làm sao t́m ra tung tích?) Cục Phản Gián cho biết ông Thiện được thả ngày 29/10/1991.

Được phóng thích năm 1978, ông Thiện về quê ở Hải Pḥng sống âm thầm “một ḿnh” kèm trẻ tại tư gia để sống qua ngày. Ông rất giữ ǵn để khỏi bị bắt lại và dùng th́ giờ thu thập các bài thơ ông đă làm trong thời gian tù đày để t́m cách gởi ra nước ngoài. Thầy mẹ ông đă qua đời. Mẹ ông mất năm 1970 và thầy ông mất “vào một năm nào đó trước năm 1976”.

Đọc bản tin của Cục Phản Gián trên đây thông tin cho “phe ta” ở hải ngoại phổ biến năm 1991, 1992, ta thấy Cục Phản Gián đă biết ngày sinh, tŕnh độ học vấn, văn hóa và tiếng Pháp của ông Thiện với tuổi quá trẻ, “không ăn khớp” với ông Vô Danh, nên đă cố gắng “cho sinh” vào năm 1937.

Không mấy người để ư đến những chi tiết này. Cục Phản Gián cũng không chú ư v́ năm 1990, 1991, Cục Phản Gián chỉ chú ư đến nêu vấn đề ông Thiện c̣n “sống” và đă “tha” để khỏi mang tiếng vi phạm nhân quyền. Cục Phản Gián cũng cho biết ngày ông Thiện chạy vào ṭa đại sứ Anh theo sau một xe ô tô đang chạy vào, là ngày 2/4/1979. Đến khi ông Thiện ra mặt tại Hoa Kỳ cuối năm 1995, th́ ông Thiện phải nói thật về tuổi tác cũng như chỗ ở Hải Pḥng và các anh chị em. Ta thấy ngay có nhiều sai lệch về tuổi tác, bệnh tật, kể cả ngày tháng chạy vào ṭa đại sứ Anh, so với bản tin của Cục Phản Gián và nội dung thơ Vô Đề.

V́ ra ngoại quốc, ông Thiện phải khai tuổi thật là sinh ngày 27/2/1939. Xuống Hải Pḥng 1956. Ở “tù” có 27 năm, không phải 30 năm. Có 4 anh chị em, không phải sống một ḿnh! Ông Thiện nói chạy vào ṭa đại sứ Anh ngày 17/6/1979, không phải ngày 2/4/1979, như Cục Phản Gián đă loan. Ông Thiện chắc chưa từng đọc qua báo cáo của Cục Phản Gián nói về lư lịch của ḿnh. Nếu ông Thiện “khai” ra những trại “tù” mà ông đă trải qua, có lẽ c̣n trật đường rầy hơn nữa. Mấy tên bồi bút hải ngoại sau này không dám khoe lư lịch “cũ” năm 1991 của ông Thiện nữa v́ nếu khoe th́ càng lộ tẩy mau hơn nữa.

Thi sĩ Vô Danh được thả vào cuối năm 1978 v́ sức khỏe đă quá kiệt quệ, không thể lao động được nữa. Quản giáo cho ông về v́ không muốn ông chết trong tù. Về đến nhà ở Hà Nội, song thân đă mất, cô đơn, cô quạnh, không có lợi tức v́ thể xác kiệt quệ không thể đi làm lao động kiếm ăn, Thi sĩ Vô Danh suy nghĩ chỉ c̣n cách duy nhất là liều mạng đưa tập thơ vào ṭa đại sứ ngoại quốc th́ mới có hi vọng được phổ biến tại hải ngoại. Thi sĩ Vô Danh thấy cần phải làm gấp v́ ông không thể bị bắt tù lại. Thi sĩ Vô Danh tự biết cơ thể suy nhược tàn tạ v́ ho lao ra máu, và không cơm, không thuốc, không tiền, và có thể chết rất nhanh. Ngày Thi sĩ Vô Danh chạy vào ṭa đại sứ Anh có thể là cuối năm 1978, hoặc trong tháng 4 hay tháng 6 năm 1979. Cái ngày “thật” có lẽ chỉ có người Anh biết rơ nhất.

Ông Thiện nói rằng thi đậu Tú Tài năm 1955 và bị bắt tù từ năm 1961. Ông Thiện chỉ bị “tù” 27 năm, không phải 30 năm. Ông Thiện chưa bao giờ bị ho lao. Ông Thiện khai chỉ bị bệnh “thần kinh” v́ mất ngủ. Nhưng ông Thiện vẫn chứng tỏ là một nhà diễn thuyết, hùng biện với sức khỏe dồi dào, có thể nói mạnh mẽ trong nhiều tiếng đồng hồ mà không mệt. Ông Thiện khoe đă từng làm thơ... Đường năm 1955 và 1956 nhưng đă bỏ hết mấy bài thơ này! Vấn đề ông Thiện làm... thơ th́ ta phải đặt ra nhiều nghi vấn. Ông Thiện đă chỉ ngâm lại những bài của ông Vô Danh hoặc những bài “thơ” (do ai?) sáng tác từ năm 1981, 1983... và có “sẵn” trong tập Hạt Máu Thơ. Không thấy ông Thiện “chế tạo” được bài nào trước và sau khi sang Mỹ cuối năm 1995!

 

* * *

 

 

Tại Orlando, Florida, ngày ông Thiện diễn thuyết một cách gay gắt rằng người Việt hải ngoại “không nên” căm thù “người” cộng sản mà chỉ nên căm thù chế độ Cộng sản và chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít. Ông Thiện cũng đồng ư với Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, v.v... và đài VNCR của ông Lê Đ́nh Điểu đă có “công” phỏng vấn mấy tên Cộng sản này “khiến cho” Cộng sản phải thả chúng ra, cũng như đă phải cho ông đi Mỹ... Ông Thiện nói đó là Cộng sản “sợ” dư luận của 2 triệu người Việt hải ngoại nên mới không bỏ tù suốt đời hay giết những “người chống Đảng” nói trên.

Ông Nguyễn Chí Thiện ngụ ư nếu Cộng sản từ bỏ Mác Xít th́ chúng sẽ là người Việt thuần túy như mọi người và như vậy sẽ dễ ḥa hợp ḥa giải và ḥa cả làng! Ông Thiện khuyên như vậy th́ ta  phải hiểu là “không nên căm thù” người Cộng sản nữa. Cứ để yên cho cộng sản Mafia tư bản đỏ vẫn nguyên vẹn với công an trị và với chuyên chính... hữu sản! Người Cộng sản Mafia tư bản đỏ sẽ xóa tên “cộng sản” và chỉ c̣n giữ lại tên “Mafia tư bản đỏ”. Thế là “hết Cộng sản”, dân ta tha hồ sướng nhé!

Chúng tôi nghĩ rằng Cộng sản không cần phải “sợ” người Việt hải ngoại mà phải thả cán bộ Cộng sản “giả tù”. Chúng thả tù giả để đổi lấy qui chế tối huệ quốc trị giá hàng trăm tỷ đôla và sự bền vững của chế độ Cộng sản. Ông Thiện, Đoàn Viết Hoạt và đồng bọn chí hữu nhân quyền, các cán bộ phê Đảng giả vờ Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Tiến... đều cùng nằm trong kế hoạch chung của Hà Nội, đánh lừa người Việt hải ngoại rằng Cộng sản đă cởi mở, cởi trói rồi đấy để chạy theo Mỹ. Vậy cứ yên chí nhớn, đừng chống Cộng, đừng chống đối hiệp ước thương mại làm ǵ cho mệt.

Vào thời điểm viết đoạn này, tháng 12 năm 1999, th́ tất cả kế hoạch c̣ mồi nhân quyền, phê đảng giả vờ, kể cả kế hoạch của những người Mỹ thân Hà Nội, đă trở thành thất bại hoàn toàn. Hiệp Ước Thương Mại đă được ném vào sọt rác. Cộng sản Hà Nội và Mỹ thân Hà Nội trơ mắt ếch. Ngay cả đến du lịch để chạy trốn sang Mỹ với hàng chục tỷ đôla cũng thất bại hoàn toàn. Tất cả chỉ là nước lă ra sông.

 

Theo người nghe kể lại th́ buổi nói chuyện của ông Thiện tại Orlando được đạo diễn như một buổi... học tập cải tạo mà ông Thiện là cán bộ tuyên huấn, cử tọa là những con cừu non. Tuy nói rằng cử tọa có quyền đặt câu hỏi nhưng rút lại chỉ có hai câu hỏi đă gài sẵn để cho dễ trả lời. Những câu hỏi từ phía cử tọa th́ ban tổ chức ỉm đi. Điểm này chính là sự thất bại sau này cho ông Nguyễn Chí Thiện. Người hải ngoại quả không thích bị coi như những con cừu non và họ khinh tởm cái lối hùng biện bịp bợm lếu láo với luận điệu bênh “người” Cộng sản một cách nhà quê, ngu đần.

Dưới đây là hai bài thơ khác cùng chung một đề tài:

 

Nh́n suất cơm

Nh́n suất cơm - cực h́nh tra tấn

Vừa khổ đau, vừa căm giận bừng bừng

Chúng đương xẻo của ta từng miếng thịt

Hút của ta từng giọt máu bi thương

Chúng cho ta ăn thua một con mèo

Và khoái trá khi ta xương da lủng củng

Đi đứng lờ đờ, xanh bủng, mắt mờ run

Chúng bảo ta vẫn c̣n nghị lực

Vẫn ngấm ngầm sáng tác

Tiếp tục nuôi ư đồ xấu xa bôi xấu Đảng

Lần thứ hai  trước mắt địa cầu

Chúng hứa bắt ta phải quỵ gối , cúi đầu

Ngậm đắng nuốt sầu tới ngày lấp lỗ

Mang theo thơ phú xuống mồ

Nhờ Diêm Vương xuất bản

Cho  loài giun đất  đọc ngâm

Ta không trả lờI

Lấy mùi xoa lau qua vầng trán

……..

1987 NCT

 

(1)Mù xoa: mouchoir / handkerchief - khăn tay của người sang trọng hay là cán bộ cấp tướng,không phải người b́nh dân hoặc tù nhân ngoài Bắc.

Giả thuyết: Ông Nguyễn Chí Thiện phải là cấp cao, cao lắm mới quen dùng mù xoa, nên tiện đưa vào trong “thơ”. Đứng trước công an mà ông Thiện không phải đeo c̣ng cánh tiên mà có thể lấy mù xoa lau trán th́ đúng ông Thiện là “xếp sang trọng” của công an rồi! Hai câu cuối cùng chắc cán bộ “làm thơ” ngủ gật, nên chẳng ra câu cú, cũng chẳng có nghĩa, chẳng ăn nhập vào đâu! Cán bộ sửa thơ có lẽ c̣n dốt hơn nữa, nên cứ để nguyên vẹn. Nhưng cũng có thể là thiếu tướng công an thích khoe “mù xoa” ra cái điều ta đây là giai cấp lănh đạo, chỉ huy, không cho “mù xoa” vào thơ th́ cũng uổng!

 

Thi sĩ Vô Danh viết về “suất cơm tối” năm 1966, khi vẫn c̣n ở trong tù, khác hẳn vần, điệu và ư nghĩa:

 

Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ

Tôi c̣n đương đau khổ nh́n theo

Th́ nhanh như một đàn heo,

Bốn, năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau,

Bốc ăn một lúc sạch làu,

Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau!

                                    (Vô Danh - 1966)

 

Khi nào được gặp lại anh

Sẽ kể anh nghe nhiều về chuyện sắn (khoai ḿ)!

Có chuyện thương tâm, chuyện cùm, chuyện bắn,

Có chuyện nhục nhắn, phản phúc, gian manh...

Tất cả tuy làm đau xót ḷng anh

Niềm đau ấy, quân thù khiếp hăi!

Tôi có thể viết dài viết măi

những chuyện mủi ḷng về sắn, về khoai

Chế độ ta khoai sắn, một đề tài

cũng bất diệt như đề tài trai gái!

                                             (Vô Danh -1967)

 

Đọc thơ của Thi sĩ Vô Danh, ta thấy nổi bật lên nhiều ư nghĩa, thâm thúy, sâu sắc. Đảng dùng lương thực để kiểm soát dạ dầy, kềm kẹp người dân trong tay sắt của Đảng. Đảng Cộng sản “xiềng xích” con người bằng lương thực. Nghe lệnh Đảng, tuân theo Đảng, làm đảng viên, công an, đi bộ đội th́ có ăn. Không có lương thực và đói quanh năm, đói kinh niên, con người lúc nào cũng hau háu đi t́m thức ăn như một con vật đói, th́ làm sao có thể nổi loạn chống Cộng?

“Thơ” của ông Thiện không có “thể thơ” riêng biệt của một người. Cán bộ dốt nát đâu biết thơ thẩn là cái quái ǵ, nên chỉ viết đại ra rồi ngắt câu, xuống ḍng, cho có vẻ “câu thơ”! Nếu độc giả chịu khó mất 12 đôla mua tập Hạt Máu Thơ, cộng thêm tiền gửi, của chính tác giả Nguyễn Chí Thiện th́ chỉ cần đọc một ít bài “vè” 3 chữ, sớ Táo Quân trên đây là đủ điên người, thần kinh nát bét! Bỏ ra 15 đôla làm chi cho uổng?

Đề tài “diễn thuyết” của ông Nguyễn Chí Thiện có thể tóm tắt là ông chửi Cộng sản là tàn ác, bất nhân, lừa lọc, bịp bợm... th́ cái đó mọi người tị nạn cộng sản ở hải ngoại đều biết từ khuya. Nhưng ông Thiện khôn khéo “lái” mọi người vào con đường “riêng của ông” là “Cộng sản sắp chết đến nơi rồi, có thể là sang năm 1997, có thể là năm 2000, hay hơn nữa th́ đồng bào “không cần” lo chống Cộng làm ǵ cho mất công!”

 

Ông Thiện cũng đề cao Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương, Đoàn Viết Hoạt... là họ “chống đối thật đấy”. Ông Thiện cũng kể các đài VNCR, Little Saigon, báo Người Việt của các ông Đỗ Ngọc Yến, Lê Đ́nh Điểu, Vũ quang Ninh, Phạm Long, Nguyễn văn Nghĩa... là “dư luận” của đồng bào hải ngoại hỗ trợ mạnh mẽ cho đám cán bộ Cộng sản ṇng cốt, trung kiên và “không bao giờ” chống Đảng đó, khiến cho chúng không bị đảng giết, mà trái lại Đảng phải tha, cũng như Đảng đă “phải” cho ông Thiện ra khỏi tù và đi Mỹ! Ông Thiện tuy không ở quận Cam, không đọc báo Người Việt và nghe các đài phát thanh, nhưng vẫn có “mạng lưới” thông tin cho ông. Ông Thiện đúng là một chính trị gia thứ thiệt, có cả tập đoàn, tổ chức và đảng làm hậu thuẫn đằng sau.

Dưới đây là những điểm chúng tôi nhận xét về ông Nguyễn Chí Thiện và những t́nh tiết chung quanh một nhân vật “công cộng” (public figure) nổi bật nhất trong Cộng đồng người Việt hải ngoại từ cuối năm 1995 đến 1996... Những nhận xét của chúng tôi “cụ thể” theo đúng tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh và những điểm mâu thuẫn với con người và  “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện.

 

1.Thi sĩ Vô Danh của tập thơ Vô Đề hay là Hoa Địa Ngục I là một người độc thân, con một, chỉ có cha mẹ già. Hai vị này đă chết trong khoảng năm 1970 đến 1975. Thi sĩ Vô Danh đă ở tuổi 20 (21, 22?) năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền. Lúc đó ông Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi. Thi sĩ Vô Danh có học lực Tú Tài Pháp trước năm 1945 và rất giỏi nói và viết tiếng Pháp, thật lưu loát. Thi sĩ Vô Danh đă bị tù ra, tù vào, từ năm 1957 hay 1958. Ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ đầu thập niên 60s chỉ có một tâm nguyện đưa được tập thơ vào ṭa đại sứ để phổ biến khắp thế giới, rồi chịu chết cũng cam ḷng, v́ ông biết không thể thoát khỏi tay bọn công an cộng sản ác ôn giết người như ngóe. Ông cũng biết không thể sống lâu hơn nữa v́ bệnh ho lao ra máu đă quá nặng, cơ thể ông đă kiệt quệ, có thể chết bất cứ  lúc nào.

 

2. Ông Nguyễn Chí Thiện đă quá sung sướng khi ở Hà Nội với những kỷ niệm như mặc complet toàn trắng đi dạo mát ở Hồ Gươm, đi bơi thuyền ở Hồ Tây, ăn bánh tôm với người bạn “đẹp như tiên”, mưa lụt cũng có người thắp đèn đến mời đi ăn cỗ, học đánh bốc, đánh vơ cho cường tráng để có thể gặp địch là bắt “nó quy hàng”... Thế th́ ông Thiện đă ở vào giai cấp thống trị của Đảng ta. Nhà Nước ta và chế độ ta “thật” rồi đấy nhé... Làm ǵ mà có chuyện bị tù 27 năm? Ông Thiện tha “c̣ng” thằng nào th́ phúc cho thằng đó, chứ ai dám đeo c̣ng cánh tiên vào tay ông Thiện? Vả lại không được học qua khóa huấn luyện “c̣ng” th́ làm sao biết c̣ng? Giả thử chúng tôi gặp ông Thiện trong nước, ở Hồ Tây, mà dám liếc nh́n “đào đẹp như tiên” của ông th́ có lẽ được nếm mùi c̣ng cánh tiên của ông ngay!

 

3. Ông Nguyễn Chí Thiện khi hô hào người Việt hải ngoại “không căm thù Người Cộng sản - mà chỉ căm thù chế độ và chủ nghĩa Cộng sản”, th́ ông Thiện đă đứng chung hàng ngũ với Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Đoàn Viết Hoạt... Như vậy, ông Thiện đă đứng chung hàng ngũ với những tên Cộng sản trung kiên, khát máu đă chỉ vẽ bánh vẽ “tranh đấu”, bánh vẽ  để bịp bợm chúng tôi.

Mục đích của ông Thiện là mong muốn người hải ngoại “đừng căm thù” người Cộng sản nữa, và hăng hái gởi tiền về nước đầu tư, du lịch để nuôi sống chế độ Cộng sản đang bị khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng.

Điều này dễ hiểu v́ ông Thiện từng ăn nhậu với Hoàng Minh Chính, với Giám Đốc công an Hà Nội, với Nguyễn Huy Thiệp, với “ai khác” nữa trước khi đi sang Mỹ... th́ chỉ có một ḿnh ông Thiện biết mà thôi. Tiếc rằng ông Thiện không muốn và không thể nói sự thật về quá tŕnh hoạt động của ông ở miền Bắc cũng như cấp bậc, chức vụ... Nhưng rồi cũng có ngày chúng tôi sẽ biết. Người Mỹ có tính rất hay là tuy họ biết rồi nhưng họ vẫn mặc kệ, dùng c̣ mồi của Vẹm làm c̣ mồi cho họ, có sao đâu? Gậy ông đập lưng ông là thủ đoạn thông thường của ngành phản gián. Quả đất tṛn và thời gian đi cũng nhanh, phải vậy không, ông Thiện?

 Chúng tôi cũng nghe nói Cục Phản Gián cũng sửa soạn một tên cán bộ “khác” cấp bậc đại tá làm thi sĩ rổm để bịp người hải ngoại. Tên này có tên là Nguyễn Văn Tùng, có hai con gái, một ở California, một ở Gia Định. Trong vụ sửa soạn này, tên đại tá phản gián đă được đặc cách thăng quân hàm thiếu tướng.

 

4. Coi video h́nh ông Thiện diễn thuyết một cách rất sắt máu, sắt đá, muốn áp đảo tinh thần cử tọa, muốn buộc cử tọa phải tuân theo ư chí cương quyết của ḿnh, không cho cử tọa đặt câu hỏi, chỉ có câu hỏi c̣ mồi đă được sửa soạn sẵn, th́ chúng tôi thấy ông Thiện đă hiện “nguyên h́nh”, không phải là một người tù 27 năm và ho lao ra máu. Dĩ nhiên ông Thiện rất khỏe mạnh và không hề ho lao ra máu bao giờ. Ông Thiện tuy nói rằng bị bệnh thần kinh v́ quá căng thẳng mệt mỏi và rất yếu. Trái lại chúng tôi thấy ông Thiện hoàn toàn không có triệu chứng bệnh tật nhất là bệnh thần kinh hay tâm thần. Ông Thiện không hề bị co giật cơ bắp trên mặt, trên miệng và không hề nhầm lẫn ngọng nghịu, và nhất là không hề vấp váp trong mấy giờ liền. Ông Thiện có thể nói thao thao bất tuyệt một cách hùng hồn mạnh mẽ như một cán bộ cấp cao tuyên huấn trong hơn 3 giờ liền, chỉ uống nước có một lần (tối 14/12/1996 ở Orlando, Florida). Nếu ở tù cộng sản 27 năm mà khi ra hải ngoại vẫn tiếp tục bênh và cứu sống Cộng sản th́ người Việt hiểu ngay là ông Thiện chưa bao giờ ở tù thật.

 

5. Chúng tôi khẳng định là kế hoạch “thay đào đổi mận” của Cục Phản Gián đă thất bại hoàn toàn như toàn bộ cán bộ c̣ mồi bánh vẽ từ Bùi Tín đến Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính. Chúng tôi khẳng định là ông Thiện đă bắt đầu thất bại ở nhiều nơi. Cuộc họp ở Orlando ngày 14/12/1996 đă được Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu sửa soạn và xách động người Việt trong gần 6 tháng trời mà cuối cùng chỉ loe ngoe có mấy chục người. Tập đoàn Bửu Sao lại bắt mọi người phải đứng dậy vỗ tay hoan hô như đối với lănh tụ, chính khách “nhớn” khi ông Thiện và đồng bọn Bửu Sao, Hội và Cửu bước vào pḥng hội.

 

6. Trong nhiều cuộc họp Cộng đồng năm 1996, người ta thường thấy mặt đủ thứ quốc doanh “dính liền” với nhau như thi sĩ quốc doanh (state-owned poet), sư quốc doanh, “cha” quốc doanh và đại diện, lư thuyết gia của mặt trận kháng chiến quốc doanh để kêu gọi “nhân quyền năm 2000”, đ̣i “liên kết trong ngoài” với Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, tổ chức đại hội Cư Sĩ với mục đích hàng ngũ hóa nhân dân kiểu Sô Viết, tranh đấu đ̣i Mỹ phải gửi đại sứ đến Hà Nội và cho quy chế tối huệ quốc, và nếu cần th́ xuống đường, tự thiêu... đánh thẳng vào nền tảng chính trị Hoa Kỳ!

 

7. Lần sau, nếu có lần sau, ông Thiện mà trở lại Orlando th́ chỉ có 3 người, Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu đến nghe và vỗ tay bất b́nh thường kiểu xanh vỏ đỏ ḷng tay mà thôi. Đài phát thanh Khoa Học Kỹ Thuật và nhiều tờ báo tại quận Cam và các nơi đă từ chối không cho ông đến dù ông đă điện thoại năn nỉ xin được đến để nói chuyện, để có dịp ra mắt, quảng cáo không tốn tiền. Có lẽ họ đă thấy cái ǵ trong ḿnh ông Thiện chăng?

Người ta chẳng biết gốc gác “thật” của ông Thiện ra sao, nên họ ngài ngại. Vả lại, chẳng ai thích thú ǵ khi ông Thiện trổ tài nghệ siêu đẳng biểu diễn về Kiểu C̣ng Cánh Tiên bất hủ của ông và Công an cộng sản. Những buổi nói chuyện của ông cũng gần như không được báo chí phát thanh ở Hoa Kỳ loan tin. Người Việt chúng tôi cũng v́ sợ cái kiểu C̣ng Cánh Tiên nên phải chạy “loạn cộng sản” ra hải ngoại.

 

8. Kể từ khi bài này được phổ biến th́ ông Thiện đi đến đâu cũng phải trả lời những câu hỏi trong tập thơ “Hạt Máu Thơ” của ông. Tất nhiên những người tổ chức cho ông đi đây đi đó để làm chính trị hải ngoại cũng chẳng thích thú ǵ cho ông đi du lịch nữa và họ đă nh́n thấy trước sự thất bại, tốn tiền, tốn công vô ích, với nhiều hậu quả dội ngược hay là “phản” tuyên truyền.

 

9. Tŕnh độ người Việt hải ngoại rất cao và rất văn minh. Một cán bộ dù có cấp bậc cao, dù có kinh nghiệm hùng biện diễn thuyết trong các lớp học cải tạo, th́ làm được cái ǵ để lấy ḷng, thu hút và lôi cuốn người Việt hải ngoại? Tŕnh độ "chính trị" quá ấu trĩ, tư cách bần cố và những lời lẽ "đanh thép" kiểu cán bộ chuyên chính của ông Thiện có lẽ chỉ thích hợp với các lớp học tập cải tạo hay là "rèn cán chỉnh quân" trong nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa, hơn là tại diễn đàn Cộng đồng hải ngoại. Làm chính trị đă khó, mà “thu hút” được sự quư mến và tin tưởng của người Việt hải ngoại, lại càng khó hơn.

 

10. Nói thật với ông Thiện rằng dù ông tuyên bố sẽ ra đài phát thanh hay ra báo theo kiểu kháng chiến quốc doanh năm 1983, 1984, để “quyên tiền” đồng bào “ chống Cộng” th́ cũng chẳng có người Việt hải ngoại bị ông bịp bợm lần nữa đâu. 15 năm trôi qua, mọi người nghĩ đến kháng chiến phở tái, áp chảo, kháng chiến quốc doanh với mấy thằng Vẹm ngồi lù lù một đống cầm đầu, chỉ huy... th́ ai cũng ớn đến mang tai. Cái vụ ra đài, ra báo vào năm 1997 để bịp bợm chống Cộng, “xách động” và moi tiền quần chúng, không moi được th́ khủng bố đe giết, dọa giết, giết thật... đă lỗi thời, quá date... từ khuya!

 

11. Một con vật dốt như vịt, diễn thuyết như vịt, bước đi như vịt, nói quang quác không mỏi mệt như vịt, th́ đúng là con Vịt thật sự. Một con Vịt nói như Vẹm, cương quyết sắt máu như Vẹm, bắt cử tọa phải nghe ḿnh nói tràng giang đại hải kiểu tuyên huấn, bịp bợm Vẹm, bắt cử tọa phải đứng dậy vỗ tay chào đón hoan hô như đón lănh tụ Vẹm, th́ đúng là Vịt Vẹm thứ thiệt rồi, c̣n ǵ nữa!

 

12. Lập trường duy nhất và kiên định của toàn thể 80 triệu người “trong nước” là phải tiêu diệt tập thể lănh đạo Cộng sản Mafia tư bản đỏ bằng bất cứ giá nào để cứu nước Việt Nam. Đến giờ này mà ông Thiện c̣n nghĩ rằng với tài sức của ông mà cứu nổi cho lănh đạo Cộng sản Hà Nội khỏi chết th́ ông Thiện đă nhầm lớn. Ông Thiện hoàn toàn không có tài, có đức, th́ làm sao thu hút được hơn hai triệu người Việt hải ngoại vào một khối do ông làm lănh tụ và điều khiển? Tại Sata Ana, tháng 12/1995, ông Thiện có nói không nuôi mộng lập Đảng, làm lănh tụ, làm chính trị th́ hiện nay ông Thiện đang làm ǵ? Vẽ bánh vẽ “đừng căm thù người Cộng sản” nữa và “đừng chống Cộng nữa v́ Cộng sản sắp chết đến nơi” chăng? Hay là ông Thiện đă có đảng rồi, có lănh tụ sẵn rồi, và nhiệm vụ của ông chỉ là bảo vệ mà thôi?

 

13. Ông Thiện đă “đánh” không đúng chỗ. Người hải ngoại cũng căm thù Cộng sản như người trong nước, nhưng cả trong và ngoài nước đều ở trong hoàn cảnh không thể dùng bạo lực vũ trang tiêu diệt Cộng sản. Chỉ có chúng tôi có đủ bạo lực vũ trang tiêu diệt bọn cầm đầu Mafia tư bản đỏ Hà Nội, bọn tay sai Trung Cộng, và những tên chó săn, nằm vùng, gián điệp, quốc doanh, văn nô bồi bút ở hải ngoại.

 

14. Chúng tôi có đủ quyền lực và bạo lực để tiêu diệt Cộng sản th́ chúng tôi không cần phải ḥa giải hay ḥa hợp với Cộng sản. Tiêu diệt xong Cộng sản th́ toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ được tự do xây dựng lại quê hương. Họ sẽ có đủ thứ tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền, no ấm, giầu mạnh. Đất nước sẽ sạch sẽ không c̣n quỷ ma Cộng sản, không c̣n bọn công an dữ dằn chỉ biết c̣ng người bằng cánh tiên và bắt người, giam người. Sẽ có một trại học tập cải tạo đặc biệt dành riêng cho bọn lănh tụ Mafia tư bản đỏ ác ôn, các sư tăng và văn nghệ thi sĩ quốc doanh, các văn nô bồi bút, báo sĩ, cư sĩ và tiến sĩ năm vùng tay sai cho Cộng sản. Chúng tôi có bạo lực và quyền lực tiêu diệt Cộng sản thí cái cỡ ngục sĩ rổm, thi sĩ quốc doanh là cái thá ǵ mà bịp bợm nổi chúng tôi?

 

15. Cộng sản Bắc Kinh và cán bộ Tàu, Việt gốc Tàu đang cầm quyền tại Hà Nội. Chúng đă giết chết các “đồng chí” của chúng như Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đ́nh Tứ, Dương văn Đầy, mấy chục tên khác nữa và vẫn tiếp tục giết... Tại sao ông Thiện không đả động đến chuyện chính trị Bắc Kinh ngay tại Hà Nội mà ra hải ngoại múa mỏ khua môi một cách lỗi thời, quá date như vậy? Giám đốc Thông tin Saigon Ca Lê Thuần mới bị thay thế bằng Lê Hồng Liêm tức Sáu Liêm, một người Tàu Chợ Lớn chính hiệu con nai. Tên này sẽ ép báo chí văn nghệ (cộng sản) miền Nam vào khuôn phép sắt máu của Đảng Cộng sản... Tàu. Cả chục tướng và tư lệnh mới bị mất chức và cố vấn Trung Cộng đang ngồi ngay tại các quân khu và bộ chỉ huy để ra lệnh, điều quân. Ông Thiện và các “chí hữu” của ông nên lên tiếng và tỏ thái độ về vấn đề này.

 

16. Theo t́nh h́nh hiện nay th́ chế độ Cộng sản Hà Nội chỉ c̣n cái tên. Thực lực ṇng cốt đă bị Bắc Kinh tiêu diệt. Như vậy ông Thiện chẳng c̣n “người Cộng sản Hà Nội” nào để mà cứu. Người Việt chúng tôi không ai muốn gửi tiền về Việt Nam nữa. Tất cả toàn dân hiện nay đang dồn nỗ lực vào vấn đề tiêu diệt bọn cán bộ Tàu Cộng do Lê Khả Phiêu cầm đầu ở ngay Hà Nội. Ông Thiện có quyền phục vụ cho chế độ của ông, đó là quyền tự do của ông. Nhưng người Việt chúng tôi thẳng thắn tố cáo những tên cộng sản bịp bợm, quốc doanh, đang lăm le xảo trá bịp bợm chúng tôi thêm nữa, th́ đó là quyền tự do của chúng tôi.

 

17. Chúng tôi hiểu rằng chỉ có tiêu diệt những tên cộng sản Mao Xít và Xít Ta Lin Nít đang cầm quyền như Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Hoàng Minh Chính tức trung tướng công an phản gián Trần Ngọc Nghiêm, thượng tướng công an Lê văn Quư tức Lê Hồng Hà, trung tướng công an Lê Minh Hương, trung tướng công an Nguyễn Tấn Dũng, trung tướng công an Nguyễn thị Xuân Mỹ, trung tướng bộ đội Phạm văn Trà, v.v..., và đồng bọn Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, Đoàn Viết Hoạt, Đỗ Trung Hiếu, và bè lũ chó săn, bồi bút, c̣ mồi, văn nghệ thi sĩ quốc doanh hải ngoại, th́ cả nước Việt sẽ hồi sinh. Toàn dân Việt sẽ sống trong thanh b́nh tự do, no ấm và “không c̣n Cộng sản.”

 

18. Để kết thúc bài viết, bài thơ của Thi sĩ Vô Danh nói lên đời sống trong chế độ Cộng sản nô lệ, ngục tù và cái ǵ sẽ phải xảy ra:

 

Miêu tả đảng Cộng sản:

 

Đảng d́u dắt thiếu nhi thành trộm cướp!

Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành trâu

Giúp người già bằng bắt bớ rể dâu

và cải tiến dân sinh thành xác mướp

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp

Dựng triều đ́nh mông muội giữa Văn Minh!

Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh!

Nhờ súng đạn Tầu, Nga bắt bớ

Đảng hết thở, cuộc đời mới thở

Đảng c̣n kia, bát phở hóa thành mơ!

                                                 (Vô Danh - 1973)

Đời sống dưới chế độ Cộng sản:

 

Với tôi, ngày sống là sống giả

Lao động nhục nhằn, đói ăn rũ lả

Chuyện phiếm,, bông đùa, như quên tất cả

Và như tù măi chẳng cần ra!

Nhưng đêm về tôi mới sống sót xa

cả quá khứ, tương lai, cùng hiện thực.

Tim với óc căng lên v́ động lực

Đẩy vần thơ từ đau khổ chồi ra!

Những vần thơ có h́nh dạng là hoa

Song sức phá vạn lần hơn trái phá!

                                 (Vô Danh - 1971)

 

Và đây là giải pháp cần phải áp dụng tiêu diệt Cộng sản trong tương lai:

 

Bom đạn tầng cao chưa đủ!

Tên lửa tầm xa chưa đủ!

Đất này cần quần nát bởi xe tăng!

Mới có thể san bằng khổ nhục.

Mới có thể đào lên khôi phục

giá trị con người, phong tục, thi ca...

Dù xích tăng nhằm nghiền nát đời ta

Dù bước tận cùng Cộng sản thủ tiêu ta

Ôi những binh đoàn trọng pháo chiến xa

Tiếng gầm rú của người sẽ làm ta hả dạ!

                                          (Vô Danh -1972)

 

Thi sĩ Vô Danh dứt khoát phải tiêu diệt Cộng sản:

 

Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát

Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh

Nhưng không thể dùng bom A bom H

Phá nát địa cầu v́ một lũ gian manh

Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết

những tội tầy đ́nh được bưng bít tinh vi!

Nếu nhân loại mọi người đều hiểu biết

Cộng sản là ǵ?, tự nó sẽ tan đi!

Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si

Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt!

                                     (Vô Danh - 1973)

 

Đoạn sau cũng là đoạn kết:

 

Ngày thứ Tư 8/7/1998. Nguyễn Chí Thiện kể chuyện ma - giới vô h́nh cũng căm thù Cộng sản. Lời giới thiệu - VNN - Mới đây, Nghị Viện các Nhà Văn Quốc Tế đă tài trợ cho hai nhà văn thơ Việt Nam nổi tiếng ở Strasbourg, Pháp quốc, để có thời gian sáng tác. Đó là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả thi phẩm bất hủ “Hoa Địa Ngục”, và nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả hồi kư “Đêm Giữa Ban Ngày”. Cả hai ông đều là tù nhân lương tâm dưới chế độ Cộng sản nhiều năm. Nhân dịp này, thông tín viên VNN tại Pháp đă có cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về đời sống cá nhân ông và t́nh h́nh Việt Nam hôm nay.

 

VNN: Thưa ông Nguyễn Chí Thiện, được biết ông đă rời Hoa Kỳ sang Pháp trong một năm, theo lời mời của Nghị Viện các nhà văn Quốc Tế. Khí hậu nước Pháp có tốt cho ông không? Và sức khỏe của ông hồi này ra sao?

NCT: Hiện nay tôi thỉnh thoảng vẫn c̣n bị choáng váng, có lẽ do áp huyết thấp, nhưng so với hồi c̣n ở trong nước th́ khá hơn nhiều. Khí hậu nước Pháp nổi tiếng là dễ chịu, nhưng bây giờ cũng đă khác, hay có những thay đổi bất thường. Nhân loại đang phải trả giá cao cho sự phá hoại môi sinh quá trớn kể từ đầu thế kỷ.

 

VNN: Ông vẫn tiếp tục làm thơ chứ?

NCT: Tôi đă ngưng làm thơ từ năm 1988. Thể loại này chỉ tốt khi tôi ở trong tù, không có giấy bút (sic). Văn xuôi rộng đất cho sự diễn đạt hơn. Hiện giờ tôi có ư định dùng văn xuôi để viết lại quảng đời tôi đă trải qua. Đặc biệt là giai đoạn 6 năm ở Hỏa Ḷ Hà Nội, từ 1979 đến 1985. Hỏa Ḷ bây giờ đă bị phá để xây một khách sạn lớn. Cần phải có một chút kỷ niệm cho nó. Tôi muốn ghi lại những cảnh sống trong Hỏa Ḷ, trại giam giữa thủ đô, gần trung ương nhất, mà con người sống ở đó lại gần với con vật nhất, có nghĩa Hỏa Ḷ là nơi kinh tởm nhất trong số những nhà tù mà tôi đă sống qua. Hiện tôi đang ở cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên tại thành phố Strasbourg tại miền Bắc nước Pháp. Trước đây chúng tôi đă ở cùng nhau tại trại Phong Quang giáp biên giới Việt Trung. Nhà văn Kiều Duy Vĩnh mà bạn đọc có dịp làm quen qua một số chuyện kư “Cuộc tuyệt thực ở trại Cổng Trời”, “Thánh Tử Đạo thứ hai mà tôi được gặp”, v.v.., cũng ở đấy cùng chúng tôi. Có nhiều chuyện để mà nói với nhau lắm, chuyện cũ, chuyện mới, nhiều nhất là những dự định sáng tác. Chúng tôi bắt đầu viết chung một cuốn sách về những hồn ma oan khuất ở các trại tù trên miền Bắc Việt Nam.

 

VNN: Chẳng lẽ lại là một cuốn chuyện ma?

NCT: Đúng. Nhưng đây là ma tù, một thứ ma đặc biệt. Có lẽ do họ chết quá oan khuất, hồn không siêu thoát được, cho nên sự hiển hiện của họ cũng rất lạ. Nhiều người tù, và cả cán bộ trại giam, đă được chứng kiến sự linh thiêng của họ. Tôi nhấn mạnh: đây không phải là chuyện ma tưởng tượng. Không giống như Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Tôi và nhà văn Vũ Thư Hiên đều không phải là những người mê tín dị đoan.

 

VNN: Ông có gặp ma tù?

NCT: Câu trả lời sẽ nằm trong cuốn sách sẽ ra đời.

 

VNN: Ông có thường xuyên theo dơi thời sự trong nước không?

NCT: Từ ngày rời Việt Nam, tính tới nay vừa tṛn 30 tháng, tôi luôn gắng liên lạc t́m hiểu t́nh h́nh nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc sống và tâm trạng của nhân dân, v́ đó là hai yếu tố quan trọng nhất cho ta hiểu sự diễn tiến của cuộc đấu tranh v́ dân chủ và tự do. Tôi rất tha thiết mong đất nước sớm có dân chủ và tự do để tôi có thể trở về.

 

VNN: Theo ông, tướng Trần Độ là người thế nào? Có người gọi ông ta là “c̣ mồi cộng sản”, là “đối lập cuội”, ông nghĩ sao?

NCT: Số người gọi ông Trần Độ bằng từ ngữ hàm hồ như thế rất hiếm. Thậm chí có người c̣n gọi ông ấy là con ngựa già của chế độ. Riêng tôi, giả thử Trần Độ có là con ngựa già của chế độ mà nay trở thành bất kham, muốn quật đổ chế độ, th́ đó là điều rất đáng hoan nghênh. Đọc những bài viết của ông Trần Độ từ năm 1988 tới nay, nghĩa là từ hồi tôi c̣n nằm trong tù, tôi thấy ông là người rất đáng tôn trọng. Năm 1988, khi ông c̣n làm Trưởng ban Văn Hóa-Tư Tưởng của Trung Ương Đảng Cộng sản, ông đă viết một bài đăng trên báo Văn Nghệ yêu cầu đảng Cộng sản đừng có đóng vai kẻ “chọn món ăn tinh thần cho nhân dân, v́ nhân dân đủ thông minh để chọn lấy.”

Nghĩa là ngay từ hồi đó ông đă đ̣i hỏi đảng phải để cho nhân dân được quyền thông tin đầy đủ, không thể bị bưng bít, chỉ được đọc và nghe những ǵ đảng cho phép. Sau đó ông lại bị loại bỏ. Cái đó không làm ai ngạc nhiên. Ở trong tù, bọn công an nhiều lần nói với tôi về tướng Trần Độ một cách rất hỗn xược. Chúng nó khoe đă đến nhà ông khám xét nhiều lần. Tất nhiên đứng trên lập trường đảng cộng sản, chúng nó phải coi ông là tên phản bội. Gần đây, ông tuổi đă cao, lại bị liệt, nhưng ông vẫn tiếp tục viết bài đ̣i hỏi dân chủ hóa, đ̣i hỏi tự do ngôn luận... Tôi nghĩ đ̣i hỏi hai điều kiện này cũng đồng nghĩa với đ̣i hỏi giải thể chế độ độc tài, đảng trị, mà đây là điều tất cả những người Việt Nam đều mong mỏi.

Trong những bài viết của ông, có đôi chỗ ông c̣n viện dẫn tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí c̣n dễ dăi dành quyền lănh đạo chính trị cho đảng Cộng sản. Ai sống trong ḷng chế độ Cộng sản và hiểu chế độ Cộng sản th́ thấy ngay ông đă phải viết như thế trong hoàn cảnh nào. Phải vừa đánh vừa đỡ. Ở địa vị của ông hành xử như vậy là khôn ngoan, Ông tranh đấu cho dân chủ ngay trong nội bộ đảng, ngay tại thủ đô Hà Nội, ông không thể giống như chúng ta đấu tranh ở Mỹ, ở Pháp hay ở Đức. Tôi có quen ông, tiếc rằng chỉ trên điện thoại, tôi hiểu ông là người điềm đạm, nhưng ông vững vàng trong trận chiến đấu của ḿnh!

 

VNN: Thưa ông, liệu những tiếng nói phản kháng trong nước có làm nên chuyện ǵ trong việc dân chủ hóa đất nước không?

NCT: Tôi đă nhiều lần phải nhắc đi nhắc lại ngôn luận là cái cầu nối liền giữa tư tưởng và hành động. Nó là bước đầu không thể thiếu trong cuộc đấu tranh để dân chủ hóa đất nước.

Những tiếng nói phản kháng ở trong nước là vô cùng quư báu. Theo tôi, tiếng nói của ông Trần Độ là tiếng nói gây tác động lớn nhất. Trong đảng, trong quân đội, có nhiều cán bộ sĩ quan cao cấp là bạn hoặc đàn em của Trần Độ. Những lời tâm huyết của ông đánh thẳng ngay vào tim óc của những lực lượng mà nhúm lănh tụ đảng coi như trụ cột để họ dựa vào nhằm giữ vững địa vị và đặc quyền. Một khi trụ cột lung lay th́ chế độ cũng phải lung lay và sụp đổ nhanh chồng chất. Indonesia là một minh chứng. Tôi coi những chiến sĩ dân chủ như Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đ́nh Huy, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc... là những người chuẩn bị tâm lư cần thiết cho nhân dân trong cuộc nổi dậy trong tương lai.

Có những người ở hải ngoại coi họ là “c̣ mồi”, là đối lập cuội” nên tự đặt cho ḿnh câu hỏi: “Mấy lănh tụ Cộng sản bày tṛ tự gây rắc rối cho ḿnh như vậy để làm ǵ?” Những h́nh ảnh tưởng tượng trong đầu những chính khách sa lông chẳng có ǵ giống với thực tế. Ở ngoài này, tôi c̣n thấy một hiện tượng, tuy không phổ biến, nhưng cũng khá tai hại. Đó là thái độ mong chờ chế độ hiện tại tự dân chủ hóa. Tôi nghĩ sự mong chờ này là vô vọng. Muốn dân chủ hóa xă hội nhất thiết phải dẹp bỏ chế độ độc tài đảng trị. Đây là tiền đề không thể thiếu.

 

* * *

 

Năm tháng trôi qua, cái kim trong bọc cũng có ngày phải ḷi ra. Ông Nguyễn Chí Thiện không biết làm thơ và cũng không viết nổi chuyện ma tù. Nếu Đảng Cộng sản thành công lừa bịp Mỹ kư kết Hiệp Ước Thương Mại với quy chế tối huệ quốc, th́ giờ này, người Việt hải ngoại thấy tất cả bọn c̣ mồi, nhân quyền, kháng chiến ma, chính phủ dổm, báo đảng, đài đảng, tăng ni quốc doanh và toàn bộ chó săn cộng sản hải ngoại... có thể trơ tráo ra mặt công khai với cờ đỏ sao vàng! Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă sẵn sàng cấp 150,000 chiếu khán du lịch vào Mỹ mỗi năm, để Hà Nội gửi khoảng vài chục sư đoàn du kích buôn lậu, ma túy, băng đảng xâm nhập và đánh phá tan nát xă hội Hoa Kỳ.

Ngày 22 tháng 10 năm 1999, toàn bộ Mạng Lưới Nhân Quyền Quốc Doanh đă họp Đại Hội kỳ 3 tại quận Cam với thư chào mừng đại hội của Thích Tuệ Sỹ, với Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện, các sư Thích Minh Tuyên, để cố gắng cổ vũ nhân quyền cho Đảng ta được kư hiệp ước thương mại, theo kiểu “c̣n nước c̣n tát”.

Nhưng hỡi ơi! Vào giờ phút chót hiệp ước Thương Mại không được kư, khiến tất cả ḷ ra cả ổ nhân quyền dổm, tù giả vờ, tăng ni quốc doanh, kháng chiến ma, chính phủ bịp, các đoàn thể chính trị, phong trào khăn quàng đỏ... đă hố to, v́ đă ḷi mặt chuột, mặt chó săn Cộng sản ra cả lũ.

Hiệp ước Thương Mại không kư. Chiếu khán du lịch cũng không! Chính quyền Mỹ th́ ngậm tăm, yên lặng đến rùng ḿnh. Từ ngày 13/9/1999, tất cả những giới chức Mỹ thân Hà Nội nín khe, ngậm miệng thật chặt, không dám hó hé một tiếng gọi là có. Ngày 7/10/1999, đại sứ Peterson lên lưới nói chuyện tŕnh bày v́ sự lợi ích của hiệp ước Thương Mại cũng chỉ gặp những lỗ tai điếc. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu định đi Pháp nhờ Tây làm trung gian vớt vát nói chuyện với Mỹ th́ bị Trung Cộng cấm không cho đi.

Tóm lại, toàn chế độ Cộng sản và bọn chó săn, c̣ mồi, quốc doanh hải ngoại đang như cá nằm trên thớt. Người viết bài này khẳng định với các ông Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt và các cán bộ Cộng sản từ Bùi Tín đến Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu rằng chúng tôi vẫn có bạo lực. Chúng tôi sẽ xử dụng bạo lực để tiêu diệt toàn bộ đầu năo Cộng sản. Chúng tôi sẽ cho toàn bộ lănh đạo Cộng sản và bọn quốc doanh, c̣ mồi tắm trong máu của chúng.

                                                                                                                                                     Bách Linh

Ngày 4/12/1999