Tác
giả Khuyết Danh và thơ Vô Đề!
Hay là
“Trả lại cho Caesar cái ǵ của Caesar”
Nếu nhân loại
mọi người đều biết
Cộng sản là ǵ tự nó sẽ tan
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu
biết sẽ là mồ hủy diệt.
(Thế lực
Đỏ - Vô Đề)
&
Bài
viết này t́m hiểu về con người “thật”
nhưng Vô Danh làm tập thơ Vô Đề sau này
được đặt tên là “Bản
Chúc Thư của một Người Việt Nam” tác
giả Khuyết Danh, “Tiếng Vọng Từ Đáy
Vực”, “Hoa Địa Ngục I”. Vậy tác giả Vô Danh
là ai? Nghi vấn về tác giả Vô Danh và tập thơ Vô
Đề (Hoa Địa Ngục I). Ai tạo
dựng lên chuyện ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả
tập thơ Vô Đề từ năm 1980? Phân tích và so
sánh sự khác biệt giữa 2 tập thơ để t́m
“thi sĩ thật” và thi sĩ giả!
V́
có nhiều độc giả nêu ra nhiều nghi vấn, nên
bài khảo luận này dựa trên các câu hỏi đó
để giải đáp phần nào những bí mật trên
tập thơ Vô Đề trường thiên và bất
hủ. Tác giả chỉ muốn tuyên dương tác
giả Vô Danh v́ ông đă dâng hiến tất cả cuộc
đời ông cho công cuộc chống Cộng và kể
lể tội ác Cộng sản. Thơ Vô Danh đă trở
thành bia miệng lịch sử cho nhiều thế kỷ
nữa để cho ngàn đời sau hiểu rằng
đă có một giai đoạn trong thế kỷ 20, dân
tộc Việt đă bị chính những kẻ Nội Xâm,
Nội Thù Cộng sản du nhập một chủ nghĩa
và chính sách cai trị bóc lột nô lệ ngoại lai kinh
tởm nhất gọi là Cộng sản Mác Xít, Lê Nin Nít, Xít
Ta Lin nít, Mao Ít... để tàn phá đất nước dân
tộc Việt Nam tới mức kiệt quệ, diệt
chủng.
Trong
đống bùn đen, đồng lầy Cộng sản,
một đóa Hoa Sen nẩy sinh! Một người,
tạm gọi là Vô Danh v́ chưa ai biết tên thật và lư
lịch gốc gác, đă sinh ra và lớn lên giữa chế
độ Cộng sản. Bị Cộng sản
đọa đày, ông vẫn có một ư chí mănh liệt là
phải làm sao phanh phui, tố cáo, tố giác tội ác
của bọn “quỷ sứ” lưu manh,
tàn bạo tàn ác, tự nhận là “Cộng sản”, đă
làm cho cả nước Việt đă trở thành một
trại tù cung cấp lao động nô lệ . Toàn dân
Việt đă trở thành tù nô lệ của chế
độ Cộng sản. Mọi người, từ
trẻ con trong bụng cho đến người già
đều bị chúng bắt ở tù trong, tù ngoài, tù
đủ cách, đủ kiểu, bị một bọn quỷ
sứ cộng sản hành hạ cũng đủ cách
đủ kiểu, làm cho toàn thể dân tộc sống
dở, chết dở, có thể đi đến suy tàn,
diệt chủng.
Thi
Sĩ Vô Danh đă kín đáo làm nhiều bài thơ “ngục
tù” trong cảnh ngộ khủng khiếp, kinh hoàng
của những người tù. Thi Sĩ Vô Danh đă ôm hoài
băo là có một ngày nào đó ông có dịp vượt thoát
để phổ biến những bài thơ kể tội
ác cộng sản với thê giới bên ngoài. Nhưng năm
tháng tù đày, với bệnh ho lao ra máu kinh niên, thể xác
của ông đă tàn lụi dần. Trong sự tuyệt
vọng, với cái chết chắc chắn sẽ
đến, ông đem chút hơi tàn c̣n lại để
liều mạng chạy vào ṭa Đại Sứ Anh Quốc
để trao tập thơ và nhờ người Anh
phổ biến ra ngoại quốc dùm, cho cả thế
giới biết đến tội ác Cộng sản.
Nhiệm vụ cuối cùng của ông đă thành công. Khi ông
trở ra, bọn công an cộng sản khát máu dữ
dằn xúm vào đánh đ̣n “tập thể”
khiến cho cơ thể của ông đă kiệt quệ,
nhưng trí óc ông măn nguyện, sẵn sàng chấp nhận
cái chết không thể tránh.
Tập
thơ Vô Đề đă trở thành bất hủ và
bất tử. Nhưng tiếc thay, cũng như tác
giả một tập thơ t́nh cảm bất hủ khác “Hai
Sắc Hoa Ti Gôn” đă vĩnh viễn không cho ai
biết tên thật, tác giả Vô Danh đă, do ư muốn
của ông là “phổ biến tập Thơ” cho thế
giới, cho nhân loại và cho hậu thế, mà không bao
giờ nghĩ đến được vinh danh hay nổi
danh. Ngoại trừ bài thơ trường thiên “Đồng Lầy”, những bài
khác đều không có đặt tên.
Nhận
xét về t́nh huống của thi sĩ Vô Danh, người
viết nghĩ rằng ông đă không c̣n ở thế gian
này nữa ngay từ ngày ông đưa tập thơ vào ṭa
Đại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội. Bài viết này cần phải có để “minh
oan” cho ông? Để trả lại tác quyền cho ông,
để vinh danh cho ông cho đến khi nào t́m ra tên
thật hay là tông tích của ông.
Có
thể sau khi tiêu diệt Cộng sản, sẽ có
người cùng ở tù với ông c̣n sống sót, những
người hàng xóm của ông ở Hà Nội. Những
người từng quen biết với gia đ́nh nhỏ
bé của song thân ông... để đứng ra làm nhân
chứng và nói lên sự thật chăng? Có lẽ phải
đặt ra một Ủy Ban truy tầm tung tích nhà thơ
Vô Danh hay để vinh danh ông trước lịch sử,
trước dân tộc, trước Văn Học Quốc
Gia và Thế Giới.
Cán
bộ Cộng sản lừa lọc bất cứ ai,
lừa lọc toàn thể dân tộc để bảo
vệ đảng tồn tại lâu dài. Chúng có đủ
phương tiện báo chí, tiền bạc, và mưu kế
lường gạt, bịp bợm, lưu manh nhất
để đánh lừa người Việt, nhất là
người Việt hải ngoại. Tiếp tay cho bọn
cán bộ cộng sản trung kiên này, có các tổ chức
chính trị, liên minh kháng chiến ma mănh, và lũ chính
trị gia theo thời, chó săn, xanh vỏ đỏ ḷng,
hợp tác với cán bộ Cộng sản thứ thiệt
và một nhóm văn nô bồi bút nằm vùng quốc doanh
hải ngoại.
Bài
viết này không có ư đă kích cá nhân ông Nguyễn Chí Thiện
này. Những dữ kiện quá khứ và cá nhân của ông
Nguyễn Chí Thiện quá rơ ràng mà lại “không rơ ràng”
về chức vụ quyền hành của ông với chế
độ Cộng sản và tập thơ Vô Danh. Có thể
ông Nguyễn Chí Thiện và các bạn hữu của ông và
hai người giới thiệu ông Thiện với hải
ngoại là ông Trần Nhu và ông Minh Thi đă “đúng và
thật” khi nói rằng ông Nguyễn Chí Thiện là “thật”
không phải giả. Phải chăng v́ đây là một màn
kịch quốc gia và quốc tế nên cần phải
“tạo ra nhân chứng” để có một câu chuyện
giả có vẻ thật?
Ông
Nguyễn Chí Thiện có anh ruột, cựu sĩ quan VNCH
ở Hoa Kỳ và chị em ruột. Chúng tôi đặt
vấn đề ông Nguyễn Chí Thiện này, người
đă đến Hoa Kỳ ngày
Hăy trả lại cho Xê Da cái ǵ của Xê Da...! Người viết
bài này kính cẩn mong rằng hương hồn ông đă
khuất được hả dạ v́ những lư
luận, lư đoán viết trong bài này, và không bị mang
tiếng v́ kế hoạch mạo danh, bất xứng
nhằm xóa “tên Vô Danh” của tác
giả “thật” của tập thơ. Nếu ta hiểu
Cộng sản th́ chúng ta cũng hiểu rằng chúng
lợi dụng bất cứ một t́nh huống nào
để đạt mục tiêu tuyên vận chính trị
hải ngoại.
Người
Việt cũng sẵn sàng đón nhận mọi sự
đóng góp thêm, kể cả sự phê phán của quí
độc giả để giúp cho vấn đề
lịch sử, một nghi án thơ văn, được
sáng tỏ, rơ ràng. Biết đâu khi viết bài này về
đến Việt
Bài
viết này theo chiều hướng khẳng định có
hai nhân vật! Một người
lớn tuổi là Vô Danh tác giả của tập thơ Vô
Đề (Hoa Địa Ngục I), con một, chỉ có
cha mẹ già khoảng trên dưới 70 tuổi, song thân
đă chết khoảng từ năm 1970 đến 1974 khi
ông c̣n ở tù, cỡ tŕnh độ Pháp văn thật
giỏi, không biết tiếng Anh, đă làm thơ, bị tù
từ khoảng 1957-1958 đến 1978 hay là khoảng 20
năm, có được thả rồi bị bắt
lại một vài lần, đă bị ho lao ra máu trong
nhiều năm v́ t́nh trạng giam giữ quá cực khổ
đói rách, đă đột nhập vào ṭa Đại
Sứ Anh khoảng tháng 6 năm 1979 để đưa
tập thơ nhờ phổ biến
ra ngoại quốc, và đă chết ngay sau đó trong
sự đánh đập tàn bạo, dă man của công an
Cộng sản.
Người
thứ hai là Nguyễn Chí Thiện, trẻ tuổi hơn
rất nhiều. Biết tiếng Anh, Pháp nhưng không
biết tŕnh độ cao thấp ra sao, có trí nhớ
rất mạnh, chưa bao giờ bị bệnh lao và
rất khỏe mạnh, có tài diễn thiết, hùng biện
nhiều giờ không mệt mỏi, được các ông
Trần Nhu, Minh Thi làm “chứng nhân” rằng
đă biết ông Nguyễn Chí Thiện “trong tù” từ
năm 1980 (lúc này Thi Sĩ Vô Danh đă chết rồi,
bị đánh ngay trước ṭa Đại sứ Anh
quốc). Và xác nhận rằng ông Thiện “chính là”
tác giả tập thơ Vô Đề của tác giả Vô
Danh. Tất cả những ǵ ông Thiện khai về lư
lịch th́ rất sơ sài, ít chi tiết và có thể nói là
không rơ ràng, khá “một chiều” v́ không ai có
thể kiểm chứng. May ra sau này, sau khi tiêu diệt
cộng sản, người ta mới có thể biết
tung tích thật sự của ông Nguyễn Chí Thiện và nhà
thơ Vô Danh chăng?
Ông
Thiện đă nhận được giải
thưởng quốc tế, đă nhận được
khoảng 8 lạng vàng “khoảng 4,000 đôla”
của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh giao cho
tại Hải Pḥng và có nhiều quà cáp giải
thưởng khác nữa. Sau này, ông Thiện được
nhà nước cộng sản cho đi Mỹ và đến
Mỹ ngày
Bài
khảo luận này khá dài v́ phải nhắc nhở lại
những bài thơ của cả hai người Vô Danh và
Nguyễn Chí Thiện, cho vấn đề luận bàn
về thơ Vô Đề v́ có nhiều độc giả
chưa có dịp đọc những bài thơ bất
hủ! Phần viết về thơ Vô Đề có kư tên Vô
Danh, và phần viết về thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện là những bài trong cuốn Hoa Địa Ngục
tập 2 hay là "Hạt Máu Thơ" xuất bản
khoảng tháng 3 hay tháng 4, 1996.
Trong một ngày tháng 6/1979. Một người
lớn tuổi, khoảng trên 50 tuổi nhưng già xộm
trông như ông già 70 tuổi, gầy g̣ ốm yếu,
quần áo rách rưới, đă liều mạng chạy
vào trong ṭa Đại sứ Anh và trao một tập
giấy. Bằng một giọng mệt nhọc và yếu
đuối trong tiếng thở mạnh hổn hển, xen
lẫn với những tiếng ho, ông nói bằng tiếng
Pháp thật lưu loát với người Anh. Đại ư ông
chỉ muốn trao bản thảo
tập thư của ông và mong người Anh sẽ
phổ biến ra hải ngoại dùm, làm tiếng nói cho hàng
triệu nạn nhân cộng sản. Người
này không ngỏ ư xin tị nạn chính trị hay bất
cứ một ân huệ nào nơi người Anh. Dĩ nhiên
người Vô Danh này không yêu cầu người Anh “xin
Cộng sản ban nhân quyền cho người Việt Nam”
ông cũng không đ̣i ḥa hợp ḥa giải bất bạo
động với cộng sản. Ông cũng hiểu
rằng khi ra khỏi ṭa đại sứ, ông sẽ bị
công an cộng sản “bạo động” với ông
mạnh mẽ nặng nề, cho đến khi ông hết
thở chúng vẫn chưa thôi!
Trong t́nh huống đó, nhà thơ Vô Danh không dám
để tên thật của ḿnh vào tập thơ. Ông
chỉ biết viết một bức thư “tuyệt mệnh” bằng tiếng Pháp “loại cao cấp,
rất rơ ràng lưu loát” và không kư tên. Ông Vô Danh cũng
không để cái ảnh đại gia đ́nh của cha
mẹ vào tập thơ như ông Thiện khoe trong cuốn
Hạt Máu Thơ. Có lẽ ông Vô Danh sợ rằng không
đưa lọt, hoặc bị công an chận bắt th́
ông có thể quăng tập thơ đi, hoặc dấu
vào đâu đó, để không bị bắt “v́ tên của
ḿnh”, và có thể viết lại tập thơ và t́m cơ
hội khác chuyển ra ngoại quốc. Trong mạng
lưới công an dày đặc ở Hà Nội và Bắc
Việt thời đó, những bài thơ của ông Vô Danh
đă được tuyệt đối giữ bí mật,
v́ thố lộ với bất cứ ai, hay nổi hứng
phổ biến ngâm thơ, th́ có nghĩa là bị giết
ngay và tập thơ cũng bị thủ tiêu. Ông
Thiện khoe rằng có bàn với Phùng Cung về bài thơ
“Anh Gặp Em” (sáng tác năm 1965) và Phùng Cung đề
nghị thêm chữ “thôi” để bớt “tội”
cho tên y sĩ công an.
Tŕnh
độ Thi Sĩ Vô Danh khiến ta hiểu ông không
phải bàn với ông Phùng Cung hay với bất cứ ai “thôi”
trong thơ. Hoàn cảnh tù tội của ông Vô Danh khiến
ông không thể gặp bất cứ ai để bàn về
thơ. Nếu Phùng Cung có thấy ông Vô Danh th́ cũng
phải tảng lờ v́ công an có thể bắt v́ “tội”
dám nói chuyện với thành phần tù tội. Sau này ông
Thiện c̣n khoe đă gặp và mạn đàm với Hoàng
Minh Chính tức Thượng tướng công an phản gián
Trần Ngọc Nghiêm. Ông Thiện cũng tiếc
rằng ông quen biết nhưng không được
gặp Trung Tướng Trần Độ mà chỉ
được nói chuyện qua điện thoại. Ông
Thiện nói vậy thôi chứ ai biết ông và Tướng
Trần Độ “phê đảng để xây dựng
đảng” đă cùng nằm trong một chiến
dịch dân vận hải ngoại?
(V́
bài thơ viết quá dài nên tác giả không tiện phân tích
về tính cách "phê đảng giả vờ" và
"phê đảng để xây dựng" của
Trung Tướng Trần
Độ thượng tướng công an Phản Gián,
chủ nhiệm Hội Nghiên Cứu Mác Lê hậu thân
của Đệ Tam Quốc Tế kiêm lư thuyết gia hàng
đầu của đảng Cộng sản Việt Nam
Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, và các hoạt
động c̣ mồi "chống đảng giả
vờ" của đại tá công an Phản Gián Nguyễn
Xuân Tụ lấy tên là Hà Sĩ Phu "sĩ phu Bắc
Hà" với người hải ngoại, đại tá
"văn nghệ phản kháng" kiêm gián điệp
loại nhà thổ Dương Thu Hương của
Tổng Cục Phản Gián... Nguyễn Huy Thiệp
được đảng cho đi Mỹ năm 1966
để gây tiếng tăm. Sau đó Thiệp
được công an phản gián tổ chức cho
điều hành một quán ăn loại “hắc
điếm” sang trọng để tiếp đăi khách
du lịch và ngoại kiều, nhất là người
Mỹ).
Tác giả Vô Danh có lẽ cũng không muốn
đưa ra tên tuổi để được nổi
danh, nổi tiếng, nguyện vọng duy nhất của
ông là tập thơ làm bằng máu và nước mắt
của ông làm trong khoảng 20 năm trong ngục tù
được phổ biến với thế giời bên
ngoài. Tập thơ đă thể hiện sự đau
khổ thầm lặng và ghê rợn của toàn thể dân
tộc Việt
Trước khi chạy vào ṭa Đại sứ Anh
để đưa tập thư, Thi Sĩ Vô Danh đă
hiểu rằng ông sẽ bị công an giết ngay tại
chỗ. Vậy ông
chỉ mong đưa được
tập thơ và mục đích tối hậu dù hiểu
rằng ông phải trả giá bằng chính mạng sống
của ông. Có lẽ, lúc đó cái chết đă trở thành
cần thiết cho ông để chấm dứt cuộc
sống trong một thể xác đă tàn tạ v́ bệnh ho
lao, và tuyệt vọng v́ không c̣n tương lai! Dù sao Thi
Sĩ Vô Danh đă chết trong sự măn nguyện v́ ông
đă hoàn thành xong sứ mạng duy nhất trong cuộc
đời ông. Ngoài những bài thơ hùng hồn đă
trở thành bản án kể tội Cộng sản, Thi
Sĩ Vô Danh “hi sinh” chính mạng sống để
đưa tập thơ này ra hải ngoại. Đưa
được ra hải ngoại th́ tập thơ “tồn
tại” với lịch sử văn học trong dân gian, và được
phổ biến thành tài liệu chống Cộng, trở
thành “nhân chứng bia miệng” về tội ác
Cộng sản, và đó là điều quan trọng và
cần thiết không kém sự sáng tác.
Thơ
của tôi không có ǵ là đẹp
như
cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao!
Thơ
của tôi không có gi` cao
như
chết chóc, mồ hôi, báng súng!
Thơ
của tôi là những ǵ kinh khủng
.......................................................
Thơ Vô
Danh ( 1975 )
Thi Sĩ Vô Danh đă chuẩn bị đón
nhận cái chết không thể tránh trong tay bọn Công an
Cộng sản mà ông đă biết là vô cùng dă man, tàn ác. Chúng
đă coi sự tra tấn, giết người như
giết ngóe. Hồ Chí Minh đă dạy công an, cán bộ và
quân đội cộng sản: "tất cả mọi
người ngoài đảng đều là kẻ thù của
đảng và của chế độ mắt chúng nh́n ai
cũng thấy kẻ thù!" Lũ quỷ cộng sản
đă nh́n người “không cộng sản” hay là toàn
thể dân tộc Việt là kẻ thù của chúng. Ông Vô Danh
hiểu rằng thể xác của ông tàn tạ sau nhiều
năm tháng đọa đày, đói khổ cùng cực và ho
lao ra máu. Ông không hi vọng ǵ sống thêm lâu dài nữa v́
thể xác kiệt quệ của ông không cho phép như
vậy.
Thi Sĩ Vô Danh cũng biết rằng với cái
tội “xâm nhập” ṭa Đại Sứ Anh, công an
cộng sản không bao giờ cho ông sống thêm một
giờ hay một ngày nào nữa. Năm tháng tù đày đă
dạy ông biết rằng cộng sản không bao giờ
khoan hồng, tử tế, thành thật, hay ḥa giải ḥa
hợp, nhân quyền bất cứ ai. Hể lọt vào tay
chúng công an chết chính là một giải thoát ân huệ
của... thượng đế!
Đó là “thực tế cộng sản” không ai có
thể phủ nhận!
Thi Sĩ Vô Danh chờ đợi cái chết mau
chóng bằng đ̣n thù hơn là cực h́nh bị tra tấn
và giam cầm đọa đày không thời hạn trong các
trại tù cải tạo. Đă 20 năm bị tù đày,
Thi Sĩ Vô Danh chẳng có thích thú ǵ trở lại các
trại tù “sau khi” ước vọng của ông đưa
tập thơ vào tay người ngoại quốc
được toại nguyện. Ông đă góp chút hơi tàn
để chạy vào ṭa Đại sứ Anh như một
ngọn đèn bùng lên một lần cuối trước
khi tắt! Thi Sĩ Vô Danh đă chuẩn bị một lá
thư “tuyệt mệnh” đi theo cùng tập bản
thảo đă chứng tỏ ông sẵn sàng chờ đợi
một cái chết không thể tránh!
Tôi
không tiếc khi bị đời sa thải “ngụ ư của
cái chết”
Thân
thể vùi, tàn rữa, hóa bùn đen
Những
vần thơ trong đêm tối đê hèn
Cùng rệp
muỗi, viết ra mà bị mất
Tôi sẽ
tiếc khóc âm thầm trong đất!
(Vô Danh -
1974)
Quá nhiều kinh nghiệm về sự tàn ác
của Cộng sản, Thi Sĩ Vô Danh hiểu rằng,
biết trước rất rơ ràng, nội một việc “chạy
vào” ṭa Đại sứ Anh cũng đủ cho bọn
cộng sản ác ôn, dữ dằn ngoài cửa ṭa
Đại sứ đánh ông bằng “đ̣n thù” và ông
phải bị chúng đánh chết ngay tại chỗ th́
chúng mới hả dạ.
Ví
dụ công an cộng sản “không đánh chết” Thi
Sĩ Vô Danh tại chỗ th́ với sức khỏe
kiệt quệ, tàn tạ của ông, ông cũng chẳng
sống thêm được bao lâu nữa. Nói ǵ đến
(Nguyễn Chí Thiện) sống phây phây, huy hoàng, khỏe
mạnh, “không có bệnh lao” thêm 16 năm nữa
để được nhậu nhẹt với trùm
cộng sản Xít Ta Lin Nít Hoàng Minh Chính, được
mạn đàm với Chánh Sở Công an Hà Nội và quản giáo trại cải
tạo, được Mặt Trận Kháng Chiến
tiếp tế tại Hải Pḥng 8 lạng vàng giá trị
4,000 đôla và lo lắng giúp cho đi Mỹ,
được học ăn học nói, học chính sách
chính trị, học đóng kịch cho thật giỏi,
học diễn thuyết trước khi đi Mỹ...
Để
rồi được nhà nước ta ưu ái cho đi
Mỹ để được hải ngoại đón
rước rầm rộ như một vĩ nhân, như
một cứu tinh của dân tộc, như một chính
trị gia đại tài, đi đến đâu cũng
được hoan hô với những tràng pháo tay rộn ră,
được quay phim chụp h́nh ảnh với báo
chợ... đăng tải tiếp ứng,
được Mặt Trận Kháng Chiến “không ma”
tổ chức đi khắp nơi kể cả Liên
Hiệp Quốc để “lạy van xin” cộng
sản ban cho chút nhân quyền!
Có
thể nhiều độc giả! Nhất là những
người trẻ tuổi không thể hiểu cộng
sản tàn ác đến mức nào, những người “thân
cộng” binh vực cộng sản và nói rằng lập
luận trên đây về tác giả Vô Danh bị công an
đánh chết ngay sau khi ra khỏi ṭa Đại sứ Anh
không đúng. Tác giả dẫn chứng một câu chuyện
dưới đây được đăng trên báo chí "Nhà
nước cộng sản" vào năm 1997, là một
năm tương đối được cởi mở
khá hơn nhiều, chứ không sắt máu như năm 1979,
hay là 18 năm về trước: Hà Nội ngày 26/4/1997. Báo
trong nước loan tin mới đây tại Sài G̣n xảy
ra liên tiếp 3 thanh niên bị gán ghép là đối
tượng là tệ nạn xă hội đă bị đánh
chết trong cơ quan gọi là “trại tiếp
nhận” mà thực chất là một nhà tù kinh
khủng.
Trạm
Tiếp Nhận là một cơ quan trực thuộc sở
Lao Động và Thương Binh
Xă Hội được thành lập từ tháng 10/1992
để giam giữ, phân loại các đối
tượng bị coi là tệ nạn xă hội, những
người vô gia cư, những kẻ lang thang ở hè
phố để sau đó
bị đưa đi cưỡng bách lao động
tại các nông trường quốc doanh “không
được xử án và không có án”.
Trại
này ở số 463 đường Nở Trang Long, Quận
B́nh Thạnh. Những người bị “thu gom” và nhập
trại, sau đó được Phó Giám Đốc
Sở là Nguyễn Minh Chánh kư lệnh đưa đi các
nông trường cưỡng bách lao động. Có
những người bị đánh chết tại trại
Tiếp Nhận, và cũng có những người bị
đánh chết tại các nông trường, bởi v́ nhà
nước xử dụng những tên đầu trộm
đuôi cướp để cai quản những
đối tượng bị thu gom.
Theo
các báo “trong nước” th́ đă quá nhiều người
bị chết trong các trại Tiếp Nhận này một
cách âm thầm. Thi hài của họ được coi
như là vô thừa nhận để giao cho trường
Đại Học Y Khoa cho sinh viên thực tập.
Một
vài trường hợp mà các báo có hồ sơ là thanh niên
tên là Lê Văn Dũng học tập ngày
Tuy
nhiên những vụ bùng nổ gần đây khiến công
luận mới được “đánh động” về những
tội ác mà nhà cầm quyền cộng sản đă dung
dưỡng.
Trường
hợp Lê Minh Tuấn: Tuấn sinh năm 1967, ngụ
tại 193/1 Điện Biên Phủ, quận 3, Sài G̣n. Ngày
13/12/1996, Tuấn ra khỏi nhà rồi biệt tăm. Ngày
12/3/1997, gia đ́nh nhận được “Giấy
chứng tử” của tỉnh Daklak, cho biết Tuấn
đă bị “thu gom” và bị đưa đi
cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Dakru.
Quyết
định đưa Tuấn đi cưỡng bức lao
động do Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh kư ngày
21/12/1996. Bà Nguyễn thị Kim Dung, mẹ của Tuấn,
than oán: “V́ sao cháu Tuấn chết ngày 17/2/1997 mà họ không
báo ngay cho gia đ́nh tôi biết để lo chôn cất
cháu?”
Trường
hợp Nguyễn văn Năng: Năng có vợ và 2 con,
ngụ tại Trung Chánh, Hóc Môn, mắc bệnh tâm thần,
được gia đ́nh gửi đi chữa bệnh ngày
26/3/1997. Ngày 1/4/1997, Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh kư
lệnh đưa anh Năng đi cưỡng bức lao
động tại Trung Tâm Phú Văn, một khu kinh tế
mới. Gia đ́nh hoảng sợ, làm mọi thủ tục
để cứu anh Năng. Nhưng đến ngày 7/4/1997,
vợ anh Năng được báo tin “Chồng chị
đă bị đánh chết ở Trung Tâm Phú Văn ngày 5/4/1997.
Chúng tôi báo lên để gia đ́nh lên nhận xác về.”
Trường
hợp Ngô Quốc B́nh: B́nh sinh năm 1975 ở tỉnh Phú
Thọ, vào Sài G̣n đăng kư tạm trú tại nhà chị
Vơ thị Đông ở Phường 11, quận 3, tức là
có cư trú hợp pháp. Ban ngày bán báo ở ga Sài G̣n, ban
đêm theo học lớp 11 tại Trung Tâm Giáo Dục
Thường Xuyên quận 3. Ngày 5/3/1997, B́nh đang bán báo
tại ga Sài G̣n th́ bị “thu gom”. Chị Đông
chạy xin bảo lănh cho B́nh được tha, song măi
đến chiều 18/3, th́ chị mới nhận
được tờ quyết định “cho về
với gia đ́nh” th́ cũng đúng là ngày B́nh chết. Giấy
báo tử của bệnh viện Chợ Rẫy ghi: “Ngô
Quốc B́nh, can phạm, vào viện 16/3/1997. Nguyên nhân tử
vong: dập năo thái dương phải, năo phù”. Vậy là sau
khi bị bắt, bị đưa vào Trại Tiếp
Nhận, rồi sau đó B́nh bị đưa đi
cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Phú
Văn. Tại đây B́nh bị đánh đập
đến dập năo, rồi được đưa
đi bệnh viện Gia Định rồi
được chuyển về bệnh viện Chợ
Rẫy trong cùng ngày.”
Sau
khi báo chí trong nước lên án, Viện Kiểm Soát Nhân Dân
ở Sài G̣n mới mở cuộc điều tra. Và cũng
theo báo chí trong nước cho biết qua một cuộc
phỏng vấn Nguyễn Minh Chánh, Phó Giám Đốc Sở
Lao Động, th́ ông này nói rằng một năm kư
đến 9,000 quyết định đưa đi
cưỡng bức lao động, nên không có th́ giờ
để cứu xét từng hồ sơ.
Một
năm có tới 9,000 người bị bắt v́ tội
đi... tản bộ ngoài
đường và bị công an cộng sản đánh
chết kiểu “vô tội vạ” như vậy, th́ ta có
thể phỏng đoán là 9,000 người này không mấy
người được sống hay được tha
mà trở về nhà. Thí dụ không bị đánh chết ngay
th́ cũng bị giam cầm không án xử, không thời
hạn để bị bóc lột lao động cho
đến chết.
Một
lư do có... lư về cái chết của Thi Sĩ Vô Danh ngay sau
khi đưa tập Thơ cho người Anh, là v́ ông
đă chết, xác đă “bị” đem chôn theo tính cách vô
danh, vô thừa nhận, nên không để lại dấu
tích ǵ cả. Nơi ông bị chôn cất cũng không ai
biết. Vào thời điểm cuối năm 1979,
đầu năm 1980, Việt Cộng mới chỉ “nghe”
những bài thơ Vô Đề trên đài BBC nên đă
cuống cuồng t́m người để thay thế cho
tác giả Vô Danh. V́ tính chuyện kiếm người thay
thế, nên Việt Cộng “không cần” phải t́m ra
tung tích, lư lịch tác giả Vô Danh. Nhưng Cục Phản
Gián lại không được đọc toàn bộ
tập thơ nên không rơ những chi tiết quan trọng bên
trong tập Thơ như “chôn dấu” những bài thơ
đợi dịp tung ra hải ngoại, hoặc ho lao ra
máu trong nhiều năm, hoặc con một, độc thân,
chỉ có cha mẹ già, tŕnh độ Pháp văn thật cao
theo lá thư tuyệt mệnh, và tuổi tác đă
nhiều...
Thí
dụ có thể t́m được người tương
đương về tuổi tác với ông Vô Danh, nhưng
kiếm một người có tŕnh độ Pháp văn khá
như vậy ở miền Bắc vào năm 1980 có lẽ
không thể có! Dù sao th́ ta cũng chỉ biết đến
Nguyễn Chí Thiện “sau” 1979, hay là sau khi Thi Sĩ Vô
Danh đă làm thơ, đưa thơ vào ṭa Đại
sứ và “đă chết” năm 1979!
Sau
khi “tạo” được Nguyễn Chí Thiện thành
tác giả tập thơ Vô Đề, Cộng sản đă
gây ấn tượng với tên tuổi Nguyễn Chí
Thiện “chính là” tác giả tập thơ Vô
Đề, đến nỗi mỗi người hải
ngoại đều “yên chí” tác giả Vô Danh chính là
Nguyễn Chí Thiện! Những người được Cộng sản cho
xuất ngoại như các ông Trần Nhu và Minh Thi cũng được
Cộng sản gài khéo cho ở cùng trong “tù” với ông
Nguyễn Chí Thiện, để ông Thiện ngâm “thơ” cho
họ nghe và gây ấn tượng là đă gặp thi sĩ
thứ “thiệt”!
Tiện
đây cũng xin nhắc cho công an Phản Gián Hà Nội
biết rằng muốn bịp người Việt
hải ngoại cũng khó lắm. Chuyện đời
đâu c̣n đó. Văn sỡi công an Nguyễn Huy Thiệp
đi Mỹ hồi tháng 9/1996, rồi lại về êm ru v́
chỉ có thời gian ngắn và Thiệp cũng không dám “gáy”
khi đứng trước mặt sự văn minh tân
tiến của người Việt và người Mỹ
hải ngoại. Cái ǵ dù che đậy khéo léo th́ cũng
chỉ trong thời gian ngắn là ḷi ra hết. Như cái...
kim trong bọc th́ cũng ḷi ra như thường. Chúng tôi
cũng cho Cục Phản Gián biết rằng kế hoạch
nhà quê của Vẹm và cán bộ nhà quê th́ không bao giờ
bịp nổi chúng tôi.
Thấy thân h́nh tiều tụy rách rưới
nghèo khổ của Thi Sĩ Vô Danh, thái độ khiêm
nhượng chịu đựng nhưng khẳng khái và
cương quyết rơ rệt, và tŕnh độ trí thức
khá cao qua tiếng Pháp rất lưu loát và lễ độ
của ông, người Anh đă vô cùng xúc động.
Họ hiểu ngay là có cái ǵ “sống” trong tập giấy
có vẻ cũ kỹ và nhầu nát của ông. Họ mau
mắn cầm lấy tập thơ và bảo đảm
với ông là họ sẽ làm những ǵ ông muốn. Người
Anh hỏi ông có muốn ǵ không, có cần tiền không, th́
Thi Sĩ Vô Danh trả lời rằng không cần ǵ cả.
Ông cũng không muốn làm phiền người Anh hơn
nữa. Ông quay trở ra và nh́n thẳng vào mặt bọn
công an đang chờ đợi ông ngoài cửa với
vẻ hung dữ đằng đằng sát khí. Chúng nhất
định phải giết ông ngay tại chỗ.
Thi Sĩ Vô Danh hiểu rằng bọn quỷ
dữ công an hầm hè phải đánh chết ông mới
hả giận chúng. Chỉ riêng một “tội”
vượt qua hàng rào canh gác của công an cũng đủ
là tội chết ngay tại chỗ. Ông Vô Danh có lẽ mong
cho công an đánh chết ông nhanh chóng cho sự đau
đớn của ông không kéo dài, và chúng không tra hỏi ông là
đă vào ṭa đại sứ Anh để làm ǵ? Tập
thơ đă được giữ bí mật cho đến
khi người Anh đưa ra ngoại quốc mà không
bị rắc rối ngoại giao với chính quyền
Cộng sản.
Như
ư muốn của Thi Sĩ Vô Danh, bọn công an không cần
hỏi han ông vào ṭa đại sứ Anh “làm ǵ?” Chúng không
cần biết khi ông chạy lọt qua hàng rào công an ch́m
lảng vảng quanh ṭa đại sứ , đă đủ
là tội “chết” rồi! Chúng vồ lấy ông và
như đă ước hẹn với nhau từ
trước, chúng nhào đến đánh “tập thể”,
đánh đập ông nhừ tử ngay trước
cửa ṭa đại sứ Anh quốc! Với sức
khỏe tàn tạ, và tinh thần kiệt quệ, với
cuộc đời đă tan nát (như ông nói trong thư
tuyệt mệnh) và tâm lư sẵn sàng đón nhận cái
chết không thể tránh, ông Vô Danh đă trở thành một
mớ giẻ rách, xụi lơ, không c̣n sức đề
kháng. Có lẽ ông đă chết rồi mà bọn công an
cũng không cần biết. Trong cơn say máu và thích thú
giết người, bọn công an đánh túi bụi,
đánh kiểu “hội đồng chết bỏ”, cho
đến khi chúng mệt nhoài, buông tay.
Ta
có thể chắc chắn rằng Thi Sĩ Vô Danh đă
chết ngay trước cửa ṭa đại sứ Anh!
Giả thử bọn công an sắt máu mà biết Thi Sĩ
Vô Danh đưa thư hay giấy tờ “ǵ” vào tào
đại sứ Anh th́ Thi Sĩ Vô Danh c̣n bị đánh
chết mau hơn nữa v́ chúng coi ông là gián điệp,
liên lạc với t́nh báo Anh! công an căn cứ vào lối
làm việc của công an cộng sản, ta có thể tin
rằng bọn công an báo cáo về Phường là có một
tên lưu manh bất hảo “định” xâm nhập ṭa
đại sứ Anh, nhưng công an đă “kịp thời
gian chận”. V́ nếu nói là “đă xâm nhập” rồi,
lại “chạy trở ra” th́ sự việc sẽ trở
thành một vấn đề, một biến cố
ngoại giao rất phiền phức, mất công t́m
hiểu điều tra
rằng xâm nhập ṭa đại sứ để làm ǵ v́
nếu báo cáo như vậy th́ lại phải nêu rơ tên
tuổi lư do... Công an cộng sản quá ít chữ nghĩa,
giấy bút cũng ít, nên càng không thích điều tra và làm
báo cáo.
(Có
thể người Anh đă quay phim và chụp ảnh trận
đánh chết người này từ bên trong hàng rào ṭa
đại sứ nhưng cho đến nay người Anh
không thể tiết lộ v́ vấn đề ngoại giao
với Hà Nội.)
Trong
chế độ Cộng sản, công an có toàn quyền
bắt người bỏ tù không thời hạn, không
xử án mà không cần biết có tội hay không. Chúng
giết người vô tội vạ, hay là quyền “tiền
trảm hậu tấu”. Nhưng công an cộng sản
giết người, và người đă chết rồi,
không cần phải báo cáo lên cấp trên. Vả lại ai
cần để ư đến một xác chết? Năm
1947, Hồ Chí Minh ra tiêu lệnh (standing order) giết
“hết Việt Gian” th́ có mấy chục vạn
người bị bắt và bị thủ tiêu ngay trong
đêm tối, xác cho trôi sông, mà không bao giờ có giấy
tờ sổ sách hay báo cáo. Đầu năm 1961, Phạm
văn Đồng (do lệnh của Hồ) kư tiêu lệnh
bắt giam “học tập cải tạo” tất
cả những thành phần bất măn, bất hảo,
chống đối, phản động, phản cách
mệnh, chửi cộng sản, cán bộ mắc bệnh
công thần... th́ công an cứ việc theo đúng “tiêu
chuẩn” đưa ra rồi bắt hàng triệu
nạn nhân trong mọi thành phần xă hội đi học
tập cải tạo trong hàng ngàn trại tập trung...
Hồ Chí Minh chúc mừng “năm mới” nghe như
tiếng yêu tinh v́ y “chúc Tết” xong là bắt bỏ tù
cả nước! Thi Sĩ Vô Danh viết về việc
này như sau:
Chuyên
chính (vô sản) vội may nhiều áo sọc (áo tù có
sọc)...
đem
khoác bừa lên tổ quốc ḿnh!
Rừng
rú trại tù san sát mọc!
Tiếng
mừng năm mới, tiếng yêu tinh!
(Ghi chú: Mường, Mèo, Thái,
Thổ là người sơn cước vùng thượng
du Bắc Việt. Người Kinh là người Việt.
Những người sơn cước bị công an
cộng sản bắt đi tù khá nhiều v́ họ quen
sống lối tự do, không thê chấp nhận cộng
sản ngu dốt và trái với tự nhiên, thiên nhiên.
Cộng sản thù ghét nhất người Mường
tức Hmong. Từ năm 1975 tới nay khoảng 150,000
người Hmong đă bị Cộng sản tàn sát.)
Công
an không biết Thi Sĩ Vô Danh là ai, tên ǵ, và vào ṭa
đại sứ Anh làm ǵ? Người Anh cũng không nói
ǵ! Lănh đạo Cộng sản Hà Nội cũng không
biết, và không cần biết người chết là ai và
cái ǵ đă xảy ra. Báo cáo công an chỉ nói giản dị
là một tên điên, có vẻ ăn trộm hay ăn mày
ăn xin, đă liều mạng chạy vào ṭa đại
sứ Anh, vào ngày, tháng, giờ... với “ư đồ” ǵ
đó, nhưng công an “bảo vệ” ṭa đại sứ
đă phát giác, kịp thời ngăn chận, và bắt tên
này. Theo báo cáo công an, tên “trộm Vô Danh” này đă... chết v́ đau tim, trước
khi bị hỏi khẩu cung, và đă được mang
đi chôn! “Chôn” xác chết vô danh có nghĩa là vùi
lấp đâu đó, một nấm đất để
gọi là cái mả cũng không có.
Mấy
tháng sau, người Anh cho phổ biến nhiều bài
thơ Hoa Địa Ngục trên đài BBC nhưng không cho
biết tên tác giả. Trong một dịp khác, người Anh
đưa tập thơ này cho một cựu chính khách
Việt Nam Cộng Ḥa (ông Châu Kim Ngân) và tập thơ này
đă đến tay ông chủ nhiệm tạp chí Văn
Nghệ Tiền Phong. Ông chủ nhiệm VNTP đă cho in
tập thơ này ngay để phổ biến theo sự
mong ước của tác giả, với tên tác giả là “Khuyết Danh”, dưới tên
đề “Bản Chúc Thư Của
Một Người Việt Nam”, theo tinh thần
của lá thư tuyệt mệnh, cũng có nghĩa là “chúc
thư” của một người sắp chết và đă
chết. Sau đó, có tin một người khác đă lẹ
tay in photocopie “đánh cắp” và in sang một ấn
bản khác để... kiếm lời vào cuối tháng
9/1980. Bản in của VNTP chỉ bán với giá
tượng trưng lá $1.50 một cuốn và ông chủ
nhiệm đă lỗ một số tiền khá lớn.
* *
*
Thi Sĩ Vô Danh này sinh khoảng 1924 hay 1925 và có
thể đỗ Tú Tài Pháp (Baccalauréat) năm 1943 hay 1944,
trước khi người Pháp bị Nhật đảo
chính ngày 9/3/1945 với hầu hết các giới chức cai
trị thuộc địa Pháp bị Nhật cầm tù.
Một vài sĩ quan cao cấp Pháp khác (tướng Alessandri)
đă cố gắng mang một ít tàn quân Pháp từ (Tông)
Sơn Tây chạy bộ sang Vân Nam (Yunnan) và trú ngụ
tại Côn Minh (Kunming).
Thời xa xưa, trước năm 1945, rất
ít người học và đậu Tú Tài Pháp. Học trong
các trường phần nhiều phải theo chương
tŕnh Pháp. Tiếng Pháp đă khó, nhưng thi đậu hai
phần Tú Tài Pháp có thể nói
là thiên nan vạn nan. Mục đích “ngu dân” của Pháp là
cản trở không cho mấy người được
đỗ đạt, tốt nghiệp trung học, rồi
từ đó có thể nhập đại học. Chính sách
thực dân quả thâm độc. Người Pháp không
cần mở trường Đại Học tại Sài
G̣n. Các gia đ́nh khá giả miền Nam thường có
quốc tịch Pháp, có tên "Tây", và gửi con đi
Pháp học.
Thời đó, nhiều người miền Nam
loại dân tỉnh, giới giàu có “trí thức”, nói sơi
tiếng Pháp hơn tiếng Việt và thường hănh
diện với quốc tịch Pháp của ḿnh. Nhưng
thực dân Pháp lại mở trường Đại
Học ở Hà Nội với mục đích không cho
người Trung và Bắc đi Pháp học. Nếu học
đại học ngay tại Hà Nội th́ người Pháp
có thể theo dơi quan sát. Nếu “thân” Pháp th́ sẽ học
đại học suông sẻ, rồi ra làm “quan” hay công
chức cao cấp. Nếu manh nha hội họp chống
Pháp thuộc địa, chống thực dân, gia nhập các
tổ chức đảng phái cách mệnh... th́ sẽ
được Sở Mật Thám Đông Dương (Sureté
Fédérale) chiếu cố ngay.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, từ 1940
đến 1945, số sinh viên đại học ở Hà
Nội chỉ có khoảng chưa đến 100
người. Nghiên cứu kỹ thơ của Thi Sĩ Vô
Danh, ta thấy ông là con trai “một”, con nhà khá giả, nên
đă được song thân cố gắng cho đi
học trường trung học Pháp, có lẽ là Lycée Albert
Sarraut. Ngoài trường Lycée Albert Sarraut, c̣n có
trường “thầy ḍng” do
các sư huynh Thiên Chúa Giáo Puginier cũng dạy nhiều
tiếng Pháp. Trường Lycée Albert Sarraut lấy tên viên
toàn quyền thực dân Pháp nổi tiếng... thực dân
ngày trước. Albert Sarraut đă có nhă ư "không xây
dựng" bệnh viện, trường học tại
các vùng đông dân cư xứ Bắc Kỳ, để cho
"chúng chết bớt" để khỏi gây ra
hậu quả xấu về chính trị và xă hội!
Trường Bưởi dành riêng cho người Việt
Nam cũng đă nổi danh một thời và cũng có
dạy tiếng Pháp. Sau này, khi tái lập sự học
tại Hà Nội năm 1948, 1949, trường Bưởi
được đổi tên thành trường Chu Văn An
và dạy nhiều tiếng Việt hơn tiếng Pháp.
Trước
năm 1945, một trường tư thục trung học
khác có tên là Thăng Long, Vơ Nguyên Giáp đă từng là giáo
sư trường này.
Tiếng
Pháp không “dễ” như tiếng Anh v́ mẹo mực (grammar)
rất phúc tạp. Nội một việc “chia véc bờ”
(verb) và phân tích mẹo mực, phân đoạn câu cú, (analyse
grammaticale và analyse logique) và ghi nhớ đến thuộc
ḷng đă làm nhiều trẻ nhỏ Việt Nam nhức
đầu trong nhiều ngày đêm. Nói tiếng Pháp có
vẻ... dễ nói, dù đó là tiếng Tây... bồi,
nhưng viết được tiếng Pháp trôi chảy, có
đủ lư lẽ, văn hoa, đúng mẹo mực câu cú,
cần phải có tŕnh độ thật cao và kinh nghiệm
thực tập hay làm việc, viết lách, có khi cao hơn
tŕnh độ Tú Tài Pháp rất nhiều. Ngày xưa,
những học giả như Nguyễn Mạnh
Tường, Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo,
Nguyễn Thế Truyền... kể cả ông Đàm Quang
Thiện “vạn quốc đốc tờ hàm”, đă
từng nổi danh trên văn đàn qua tiếng Pháp
thật giỏi và lưu loát, hơn cà nhiều
người Pháp trí thức! Thi Sĩ Vô Danh đă
chứng tỏ một học lực uyên thâm với
kiến thức quảng bác già dặn “trước” khi tù,
hay là trước khi Cộng sản cướp chính
quyền tháng 8, năm 1945 - năm này ông Thiện mới 6
tuổi.
Những
độc giả nào rành tiếng Pháp, nhất là các vị
sống bên Pháp, đọc bản thư “tuyệt mệnh”
hay là di bút của Thi Sĩ Vô Danh với bút kư, th́ có thể đánh
giá tŕnh độ và kinh nghiệm tiếng Pháp của ông:
Monsieur!
C'est
au nom des millions de victimes innocentes de la dictature, déjà succombés ou
subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnes communistes, que
je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C'est le fruit
de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été créés dans mes années de
détention. Je pense qu'à nous, les victimcs, il appartient plus qu'à personne
d'autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé
et torturé à merci...
De
ma vie brisée, il ne reste qu'un seul rêve, c'est de voir le plus grand nombre
possible d'hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau
de I'humanité.
Veuillez
agréer, monsieur, 1'expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de
mes compatriotes infortunés!
Dịch: Thưa ông!
Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của
chính thể độc tài đă ngă gục hay c̣n đang
phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau
đớn trong ngục tù cộng sản. Tôi xin ông vui ḷng
cho xuất bản tập thơ này tại phần
đất tự do của quư quốc. Đây là kết
quả của hai mươi năm làm việc của tôi.
Phần lớn được sáng tác trong những năm
dài bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng không phải ai khác
mà chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phải
phơi bày cho thế giới thấy sự khổ nhục
không thể tưởng tượng nổi của dân
tộc tôi c̣n đang bị áp bức và hành hạ thẳng
tay...
Cuộc đời tan nát của tôi chỉ c̣n
một ước mơ, đó là được thấy
nhiều người hơn nữa trên thế giới ư
thức rằng Cộng sản là một đại
họa khủng khiếp cho nhân loại.
Xin ông nhận nơi đây ḷng biết ơn xâu xa
của tôi cũng như của đồng bào bất
hạnh của tôi.
(Bức thơ không kư tên.)
* *
*
Sau
20 năm bị tù đày, đầy đọa, đói
khổ, ho lao ra máu mà tác giả Vô Danh c̣n viết được một lá
thư tuyệt mệnh bằng tiếng Pháp gọn ghẽ
ngắn ngủi nhưng đầy đủ ư nghĩa
với tư tưởng cao cả như thơ của
ông... người viết bài này có hiểu tiếng Pháp chút
đỉnh, chỉ biết cúi đầu bái phục.
(Người
viết được biết là ông Nguyễn Chí Thiện
được bà chị tên là Hảo biết tiếng Pháp
dạy tiếng Pháp cho ông trong khoảng 6 tháng...
trước khi đi Mỹ. Nếu quả thật như
vậy, th́ cái tiếng Pháp 6 tháng này may ra chỉ đủ
để đi... chợ! Điều rơ rệt là ông
Thiện không bao giờ đả động đến
cái thơ tiếng Pháp này.)
Tác giả Vô Danh đă quyết tâm, bằng bất
cứ giá nào, dù phải hi sinh luôn mạng sống,
để đưa được tập thơ của
ông vào tay người Anh để được phổ
biến ra ngoại quốc. Tội ác CS đó sẽ
được phanh phui. Như một con thú cùng
đường, ông hiểu rằng dù lọt hay không
lọt được vào ṭa đại sứ th́ ông cũng
phải chết trong tay bọn công an hung dữ. Ông không
nghĩ đến đề tên cho tập thơ v́ không
biết chắc có được lọt ra ngoại
quốc hay không. Vả lại đây cũng không phải là
“một tác phẩm” văn học theo ư nghĩa sáng tác thông
thường. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ, mỗi
chữ là một tiếng nói căm hờn, một ngọn
roi quất vào mặt chế độ Cộng sản, th́
cần ǵ phải đặt tên! Ư muốn của ông Vô Danh
là tập thơ đến được tay người
đọc ở hải ngoại là đủ!
Nếu
đọc tập thơ Vô Đề (Hoa Địa
Ngục I) của Thi sĩ Vô Danh, ta sẽ thấy ông không
bao giờ chủ trương “ḥa hợp” hay “đ̣i nhân
quyền” với cộng sản. Thi Sĩ Vô Danh cũng
hiểu cộng sản cỡ nhỏ từ quản giáo
trại giam trở lên đến cỡ gộc cấp cao
như phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, cán
bộ giáo vận cấp thành ủy Đỗ Trung
Hiếu, viện trưởng viện nghiên cứu Mác Lê
Hoàng Minh Chính, đại tướng công an Nguyễn
Hộ, Thượng tướng công an Bảy Liếm và
trung tướng công an bảo vệ, cựu thứ
trưởng công an Lê Văn Quư tức Lê Hồng Hà... toàn là
một thứ sắt máu, bịp bợm, đểu cán
như nhau, và ông không cần phải gặp họ, nói
chuyện, mạn đàm. Thi Sĩ Vô Danh cũng hiểu
rằng phải là cộng sản cỡ trung kiên nhất,
phải tiêu diệt rất nhiều “kẻ thù của
đảng, kẻ thù giai cấp, và bọn phản
động, phản cách mệnh”, nên mới leo lên
được tới những cấp bực cao cấp
như vậy. Bọn này có thể lừa bịp, gạt
gẫm và “giết” bất cứ ai để bảo
vệ đảng, bảo vệ chế độ cộng
sản.
Đại
lư tối cao ở xứ đồng lầy (cộng
sản)
là
lừa thầy, phản bạn
và
tuyệt đối trung thành vô hạn
với
Đảng, với Đoàn, với Lănh tụ (Hồ) thiêng
liêng!
(Vô Danh - Bài
thơ Đồng Lầy)
Cộng
sản thích thú khi đánh lừa được
người khác cho lọt vào bẫy để cho chúng
lột sạch sẽ, bỏ tù, tra khảo để
bắt thêm người khác nữa, rồi giam cầm bóc
lột lao động cho tới chết. Thi sĩ Vô Danh
cũng hiểu rằng chống Đảng, chống
Cộng, là phải bị giết ngay, nói ǵ đến
được nhà nước khoan hồng và cho đi
Mỹ dễ dàng! Nếu nhà nước cho đi Mỹ th́
phải có kế hoạch phản gián và dụng ư chiến
lược bên trong, không thể khơi khơi
“được” đi Mỹ để tiếp tục
chửi nhà nước cộng sản!
Cộng
sản Hà Nội cũng vui mừng đánh lừa
người Việt hải ngoại: “cho chúng bay hoan hô
vỗ tay, tôn vinh, đề cao, trọng vọng, kính
cẩn một cán bộ cộng sản loại gộc
nhất, sắt máu nhất, nguy hiểm nhất, trung kiên nhất...
cho vui!”
Như vậy ta có thể thấy Thi Sĩ Vô Danh
bắt đầu làm thơ tố giác tội ác cộng
sản và những thủ đoạn gian manh, ác bá của
tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh ngay từ
những năm 1956,1957. Chính v́ những bài thơ này mà ông
bị cộng sản bắt bỏ tù từ khoảng
năm 1957 cho đến năm 1978, trong đó có vài lần
ông được thả để rồi bị bắt
lại. Thi Sĩ Vô Danh sống trong t́nh trạng bị
quản chế và có tên trong sổ đen của công an
địa phương. Chúng muốn bắt ông lúc nào th́
bắt, muốn cho đi tù lúc nào th́ cho đi tù.
Bằng chứng ông Vô Danh 20 tuổi hoặc có
thể 21, 22... (tuổi 20...) vào năm 1945, khi Hồ Chí Minh và
Việt Minh cộng sản cướp chính quyền
19/8/1945, ngay ở đầu bài thơ trường thiên
Đồng Lầy (lúc này ông Nguyễn Chí Thiện mới
có 6 tuổi - 1945):
Ngày
ấy, tuy xa mà c̣n đấy
tuổi
hai mươi tuổi bước vào đời
Hồn
lộng cao, gió thổi chơi vơi...
bốn
phía bao la chỉ thấy
chân
mây, rộng mới tuyệt vời!
Năm 1945, Nhật đă đảo chính Pháp
từ tháng 3, và đến mùa Thu tháng 8 tin Nhật
đầu hàng loan khắp nơi. Thanh niên tuổi hai
mươi là Thi Sĩ Vô Danh đang tràn đầy nhựa
sống và, với một tâm hồn nghệ sĩ, ông có
nhiều ước mơ. Thi Sĩ Vô Danh không mơ
mộng hăo huyền viển vông. cũng như tất
cả lớp thanh niên thời đó, Thi Sĩ Vô Danh mơ đến
một nước Việt Nam hùng mạnh trong một chính
thể dân tộc dân chủ...
Lúc
này Bùi Bằng Đoàn, bố Bùi Tín, làm Tổng Đốc
Hà Đông đă được Việt Minh móc nối
để yểm trợ cho chúng cướp chính quyền
mà “không cho” lính dẹp. Ông Quản Dưỡng, Quản
cơ tỉnh Hà Đông, không biết sự thỏa
thuận bí mật này nên đă ra lệnh cho lính nổ súng
làm cho Việt Minh cuống cuồng. Sau đó Việt Minh
điều đ́nh ngưng bắn, “ḥa giải ḥa hợp”,
rồi bắt ông và trả thù ngay. Ông Quản Dưỡng
có thể là vị anh hùng quốc gia chống Cộng
đầu tiên và cũng là người quốc gia
đầu tiên bị cộng sản thủ tiêu
dưới chiêu bài “ḥa giải ḥa hợp”. Nhờ công lao
này mà Tổng Đốc Bùi Bằng Đoàn được
Hồ Chí Minh cho làm chủ tịch quốc hội, khi
chết, cho làm lễ quốc táng, cả nước
để tang 3 ngày.
Bùi
Tín, lúc đó độ 19 tuổi, được “cụ
Hồ” ưu ái cho tập ấm làm quan cộng sản, làm
công an bảo vệ và cần vụ hầu hạ
điếu đóm bưng ông nhổ cho “cụ” Hồ.
Năm 1947, Tín được “cụ” Hồ cho đi
học trường vơ bị Trần Quốc Tuấn.
Nhờ giỏi ngoại ngữ (tiếng Pháp) với
học lực tú tài Pháp, lại được gia nhập
làm đảng viên thực thụ, lại được
“cụ” Hồ giới thiệu gởi gấm, Tín
được điều động làm việc cho
Cục Phản Gián. Năm 1947,1948 Bùi Tín làm đại
đội trưởng đại đội đặc
công quyết tử chuyên tàn sát những người sáng giá
tại nông thôn vùng Quảng Trị, Quảng B́nh.
Mang
cấp bậc đại tá kiêm phó Tổng Biên Tập
tờ báo “Chính Thống” của nhà nước Cộng
sản, báo Nhân Dân, th́ Tín chỉ có thể là đại tá
phản gián, không phải đại tá chiến trận. Hiện nay, 1996, ta
chỉ cần đọc những bài viết của Tín
trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, ta sẽ thấy
Tín vẫn viết lách, bịa đặt, lếu láo, bịp
bợm, “như” một phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân,
không có vẻ ǵ là thay đổi, đổi mới hay
bỏ đảng.
Ngất
ngây làm sao ngờ tới
Bùn
đọng hồ ao mạn dưới phục chờ!
Tuổi
hai mươi, tuổi của không ngờ..., không sợ!
Viển
vông đẹp tựa bài thơ...
Mơ
ước... đợi chờ... vĩ đại... !
Nhưng
rồi một sớm đầu mùa Thu trở lại
Con mắt trẻ dại tuổi hai mươi
(năm 1945) của ông Vô Danh khi nh́n những lá cờ
đỏ sao vàng rực rỡ dưới ánh nắng mùa
Thu, mùa Thu trở lại mỗi năm đă không ngờ
rằng bọn giáo giở (tráo trở) hung bạo Việt
Minh đă “lên đường” với “cách mệnh tháng 8”,
thẳng tay phá bỏ truyền thống, nền tảng và
giềng mối quốc gia dân tộc...
Ông
Nguyễn Chí Thiện lúc đó mới có 6 tuổi và mới
đi học lớp 1, nhưng khi khói lửa chiến tranh chống
Pháp nổi lên cuối năm 1946, th́ ông Thiện, cũng
như hầu hết thanh thiếu niên Hà Nội và Hải
Pḥng và tất cả thị xă lớn miền Bắc vào
đến Thanh Hóa, lúc đó phải tản cư v́
chiến tranh và tiêu thổ kháng chiến, và coi như
mất một năm học. Với cái tuổi 16 năm
1955, dù có “tốt nghiệp trung học” đi chăng
nữa, làm sao ông Thiện có thể hiểu nổi sự
đau xót bị Cộng sản lừa gạt, sự tàn
bạo của đấu tố cải cách ruộng
đất giết nửa triệu người (1955-1956)
như Thi sĩ Vô Danh?
Ta
hăy coi Thi sĩ Vô Danh “tả chân tướng” Hồ Chí Minh
và cải cách ruộng đất trong bài “Không có ǵ quư
hơn độc lập tự do”:
Không
có ǵ quư hơn độc lập tự do!
Tôi
biết nó, thằng (Hồ) nói câu nói đó!
Tôi
biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!
Việc
nó làm, tội nó phạm ra sao?
Nó
đầu tiên đem râu nó bện vào
h́nh
xác lăo Mao lông lá
Bàn
tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng
nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không
phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa.
Nó
đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc
rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó
gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và
t́nh nguyện làm con chó nhỏ
Xông
xáo giữ nhà gác ngơ cho cha anh
(Cộng
sản đưa thanh niên vào xâm lăng miền Nam đă
bị Mỹ giết khoảng 3.2 triệu người.
Cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Rober
McNamara nói như vậy ở Hà Nội ngày 8/11/1995.)
Đường
nó đi trùng điệp bất nhân
Hầm
hập trời đêm nguyên thủy
Đói
khổ dựng cờ đại súy
Con
cá lá rau nát nhầu quản lư
Tiếng
thớt, tiếng dao vọng từ hồi kư
Mắt
nó nh́n ai cũng hóa kẻ thù
V́
ai cũng đói ṃn nhục nhằn cắn răng tạm
nuốt
Hiếm
có gia đ́nh không có người bị nó cho đi suốt
Đất
nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất
cả phải thành loa
Sa
sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó
Cái
quái gở và đểu giả của Hồ Chí Minh là
bắt bỏ tù cả nước, biến cả
nước thành cái nhà tù khổng lồ, rồi nói
đểu: “Không có ǵ quư hơn độc lập tự
do!” Hồ bắt cả nước vào tù, phá tan nát gia
đ́nh, phá nát truyền thống ông cha Lạc Việt
để áp dụng chuyên chính cộng sản, lạy Mác Xít,
lạy Mao là cha, là tổ tiên, là ông nội, hành hạ nhân
dân cho đói khổ và bóc lột lao động cho
đến chết, rồi lại bắt cả
nước phải thành loa để “ca ngợi nó và
đảng nó”... Thơ của Thi sĩ Vô Danh tả cái
đểu và cái ác của cộng sản đến
thế, thật là tuyệt!
Để
so sánh ta hăy đọc bài “thơ”, nếu ta có thể
gọi là thơ, dưới đây của ông Nguyễn
Chí Thiện đọc vào buổi trưa thứ Bảy
11/11/1995, tại Trung Tâm Eden, thành phố Fall church và có in
trong tập Hạt Máu Thơ:
Mấy
chục năm xa nước,
Bác
không viết một phong nào về thăm gia đ́nh trong
nước
Cách
mạng thành công, Bác vin cớ bận, bất cần!
Bác
Hồ ơi! Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được
nước?
Không
yêu người thân, Bác làm sao yêu được nhân dân?
Chỉ
những kẻ ngu đần
bị
mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá
mới
tin Bác là đạo cao đức cả
Yêu
nước thương ṇi, có nghĩa có nhân
Đến
chị ruột Bác kia khi sống ở dương trần
Đọc
lên ta thấy ngay ông Nguyễn Chí Thiện không hề bị
cộng sản bỏ tù bao giờ. Trái lại ông
Thiện chỉ kể “tội” Hồ Chí Minh “xấu
đến nỗi” không viết thư về thăm bà
chị, đến nỗi bị bà chị (Thanh) từ
bỏ, không nhận làm em bà... ông Thiện vẫn quen
mồm, quen miệng kính cẩn gọi “Bác Hồ”
một cách thân mến. Ông Thiện gián tiếp xác nhận “Bác”
Hồ quá lo việc nước đến nỗi không c̣n
nghĩ đến người thân, không nghĩ đến
lập gia đ́nh. cái chuyện Hồ Chí Minh có bà chị tên
là Thanh, không viết thư cho chị, và bị chị
từ bỏ rồi vu cho bà Thanh là bị điên (tâm
thần)... có lẽ là chuyện do Cục Phản Gián..
phịa ra để nói “xấu” “bác” Hồ với
người hải ngoại. V́ nếu chỉ có vậy,
th́ “bác” Hồ hiền
khô, chẳng bỏ tù ai, chẳng đấu tố và
chẳng giết ai bao giờ! Ông Thiện cũng khen “bác
Hồ” của ông ranh ma, tinh quái, và tài giỏi
đến nỗi Tây chưa bao giờ bắt nổi! “bác
Hồ” của ông Thiện “giỏi” thế là “nhất”
rồi c̣n ǵ? Thi sĩ Vô Danh gọi
Hồ “là Hồ ly tinh, là quỷ, là ma, là thú dữ”, và hầu như không bao giờ
gọi Hồ là “bác”.
Thi
sĩ Vô Danh làm bài thơ dưới đây sau khi miền
Nam thất thủ năm 1975:
Cuộc
chiến đấu này chưa phân thắng phụ!
Ta
vẫn c̣n đây, và sắt thép c̣n kia!
Chết
chóc thầm câm, cốt nhục chia ĺa!
Ta vẫn
sống và không hề lẫn lú
Ta
muốn nói với loài dă thú (cộng sản):
Khúc
hát khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!
(Vô Danh -
1975)
Ông
Nguyễn Chí Thiện
đọc bài “thơ” dưới đây có vẻ
muốn “nhái” theo, cũng tại Fall Church đêm 19/11/1995:
Cuộc
chiến đấu trong mấy chục năm qua và trong
hiện tại
mang
đầy tính chất bi ai
Mấy
chục năm chỉ là thảm bại
Nhưng
anh dũng vô song cực kỳ vĩ đại
Lũ
vô lại, vô thần thẳng tay đày ải
Danh
dự lương tâm đ̣i chúng ta chống lại
Dân tộc
cơ hàn xiết rên quằn quại
Rất
mong chờ được thấy ngày mai
Chế
độ này quái vật một không hai
Gieo rắc
bao là đau đớn họa tai
Nếu
ta chỉ thay đổi những “từ” “vô lại vô
thần” thành “thực dân đế quốc”, đổi
danh từ “chế độ” (ḍng 9) thành “đế
quốc”, đổi “cộng sản” (ḍng 11) thành “đế
quốc”... th́ ta thấy bài "thơ" này là bài
văn tuyên truyền vận động kêu gọi và
động viên thanh niên nhập ngũ chống đế
quốc, thực dân xâm lăng, dù phải
"mười người th́ hy sinh chết chín chỉ
c̣n một", thế nào cũng không quản ngại.
Như vậy non nước này mới có ngày mai (cộng
sản), nhờ những “tài trai”... phải chăng
Cục Phản Gián đă “biến” nó ra thành “thơ”
của ông Thiện ?
Thi sĩ Vô Danh là người Bắc và hầu
hết người Bắc đều truyền miệng
nhau về những bài vè bài thơ, những câu chuyện
thật là tiếu lâm, khôi hài đen, chửi rủa
cộng sản thật sâu cay khiến Hồ và Việt
Cộng tức “dân Bắc Kỳ” đến điên
người. Do đó Hồ và Việt Cộng luôn luôn xua
dân Bắc vào chỗ chết. Thi sĩ Vô Danh do đó không
thể có “cơ may” nào sống sót sau khi vào ṭa
đại sứ Anh trao tập thơ.
Thủ
đoạn dùng “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện
đưa ra hải ngoại “thành công” đă khiến
cho Cục Phản Gián và đầu năo cộng sản rung
đùi cười nhe răng khỉ khoái chí, rung đùi,
vẫy tai, ngoáy đuôi khỉ, chửi sỏ rằng: cho bọn
hải ngoại “chúng mày hoan hô một tay “Mỹ kư” (false,
impostor) cho... vui!”
Thi sĩ Vô Danh đă lầm khi theo cộng sản
từ năm 1945. Năm 1963, hay là 18 năm sau, khoảng 38,
39 tuổi Thi sĩ Vô Danh làm một bài thơ dưới
đây:
Mỗi
lầm lở, một mảnh ḷng rạn vỡ
Song
thời gian hàn gắn được đôi phần
Riêng
cái lầm nơi đất đỏ (cộng sản) dung
thân
Thời
gian khoét to và sâu, bất tận!
Phải đến tuổi gần 40, Thi sĩ Vô
Danh mới nh́n ra là đă lầm lỡ theo cộng sản
để đến nỗi tàn cuộc đời. Hai câu
sau cùng có lẽ được áp dụng vào bất cứ
lúc nào c̣n cộng sản, kể cả trong giai đoạn
hiện nay... Ta lưu ư những bài thơ trong thời gian
1958-1963, Thi sĩ Vô Danh c̣n nói xa, nói gần, có lẽ v́ c̣n
sợ cộng sản bắt bỏ tù lại nếu nói quá
mạnh.
Cái
“sợ” cộng sản kể là vô cùng. Hiện nay ở
hải ngoại có nhiều vị “sợ” cộng sản
và hèn nhát đến mức chê Bách Linh tôi là dùng lời
lẽ thiếu lịch sự và lễ độ với...
cộng sản! Bọn chó săn bồi bút cộng sản
c̣n cố gắng “chụp mũ” Bách Linh tôi là cộng
sản! Nhưng một người đă biết ḿnh
dại dột, lầm lẫn, đă ngốc, nghe và tin cộng
sản đến tiêu tùng cuộc đời như Thi
sĩ Vô Danh ngay từ năm 1963, th́ làm sao có thể
được cộng sản để cho “sống” và cho
đi Mỹ năm 1995 và đến Liên Hiệp Quốc,
như ông Nguyễn Chí Thiện đă làm trong tháng 11 va
12/1996, vận động “xin” Cộng sản “ban
cho” nhân quyền, dân chủ?
Khác
với hàng triệu thanh niên khác, tác giả Bách Linh đă
sớm nh́n thấy mặt thật của Cộng sản
ngay từ tháng 8/1945, nên đă căm thù Cộng sản tàn
phá đất nước và đưa cả nước
vào chiến tranh, chết chóc và gông cùm Cộng sản. Tác
giả Bách Linh đă lập tâm, lập chí cương
quyết diệt trừ Cộng sản ngay từ năm
1945, không phải mới đây. Tác giả Bách Linh đă
thoát nạn tù tội chết chóc với Cộng sản và
chiến tranh, từ Đệ Nhị Thế Chiến,
không biết bao nhiêu lần trong suốt cuộc
đời. Muốn chiến đấu và chiến
thắng tiêu diệt Cộng sản, ta cần phải
sống trước đă.
Tuy nhiên mỗi người có một nhiệm
vụ trước lịch sử. Thi sĩ Vô Danh đă làm
tṛn nhiệm vụ lịch sử với ng̣i bút và vần
thơ của ông. Bằng ng̣i bút với suy nghĩ chiến
lược và siêu chiến lược, tác giả Bách Linh
đă làm cho Cộng sản bị thảm bại ê chề,
không thể đánh lừa Mỹ cũng không thể
tiến tới hiệp ước Thương Mại
để duy tŕ chế độ Cộng sản, từ
năm 1990 đến nay, 1999...
Hoài băo của Thi sĩ Vô Danh khi làm thơ “tả
chân” sự tàn ác Cộng sản phổ biến tập
thơ của ông ra thế giới bên ngoài đă thể
hiện trong bài thơ ấy năm 1960:
Nếu
trời c̣n để có một ngày mai,
tôi
sẽ kể chuyện đêm dài khủng khiếp
cho
thế hệ hiện nay cùng đàn sau kế tiếp...
giật
ḿnh, thức tỉnh thương đau...
Ông
Nguyễn Chí Thiện lúc đó (1960) mới 21 tuổi và
chưa đi “tù”, vẫn “vô tội” với Cộng sản
v́ ông không biết làm thơ, và sống b́nh yên với cha mẹ, dĩ
nhiên không thể làm được một bài thơ vừa
ư nghĩa “chống Cộng” sâu sắc như trên.
Thi sĩ Vô Danh
khi làm bài thơ trên, khoảng 35 tuổi, đă hoạt
động với Việt Minh Cộng sản và đă
ở “tù” trong nhiều năm, đă nhận thấy
mặt thật tráo trở đểu giả của Hồ
Chí Minh và Cộng sản, và đă thất vọng năo nề
với Cộng sản.
Ta
thấy rất nhiều báo chợ, văn nghệ sĩ,
khoa bảng "cung kính" gọi là bọn chó
săn Cộng sản là "ông" Vơ Văn Kiệt,
"bà" Dương Thu Hương,
"người" Cộng sản, "ông" Hoàng Minh
Chính, "ông" Nguyễn Hộ, "nhà trí tuệ" Hà
Sĩ Phu, "nhà văn hóa" Lữ Phương, "nhà
trí thức kiêm tù nhân lương tâm" Đoàn Viết
Hoạt... Nếu Bùi Tín trịnh trọng kính cẩn
lạy “nhà văn hóa” Lữ Phương, “nhà trí
thức” Hà Sĩ Phu và các “ông” và các “cụ”
trong Bộ Chính Trị th́ ta phải hiểu là Tín vẫn
trung thành với đảng, không thay đổi. Tín vẫn
miệt thị bọn phản đảng như “hồ
sơ Nguyễn Hà Phan phản bội”... chứng
tỏ Tín không phản bội và vẫn trung thành với
đảng Cộng sản. Tín chỉ tạm thời
rời bỏ chức vụ Tổng Biên Tập báo Nhân Dân
để ra hải ngoại làm biên tập cho báo Phụ
Nữ Diễn Đàn và nhiều báo khác!
(Xưng
hô trong những bài viết rất tế nhị. Tư mă
Thiên khi xưa viết sử! Khi gọi đến “gian
thần” ông chỉ nói trống tên không. Khi nhắc đến “trung
thần” này hay những người có giá trị thanh cao,
ông trịnh trọng viết... “quan đại phu”, “quan
tể tướng”... Chỉ khi nào trực tiếp
đối thoại, đặt câu hỏi, hoặc
đưa “Vơ Nguyên Giáp, Nguyễn văn Thiệu,
Dương văn Minh, Phạm văn Đồng”... ra
ṭa án quân sự th́ người ta phải dùng danh xưng “ông”
hay cấp bực, chức vụ trước khi...
những tên phạm gian cộng sản loại Thích Trí
Quang, Thích Minh Nghị, Thích Minh Châu, Sư tăng, văn
nghệ, thi sĩ, báo sĩ, đài sĩ, bồi bút, kháng
chiến quốc doanh th́ phải bị xử tử theo
lối... KGB!)
Nếu
tiến sĩ Bửu Sao viết bài đăng “Bách Linh”
và binh vực Nguyễn Chí Thiện hay Tú Nuy, Thuốc Sát
Trùng, Phan Thiết, và những tên khác nữa như
Nguyễn Việt Nữ và Thành Vũ “đánh” Bách Linh
để binh vực “ông” Nguyễn Hộ, sư
quốc doanh Cộng sản Thích Huyền Quang, Thích Trí Quang,
“ông” Hoàng Minh Chính, “ông” Đỗ Trung Hiếu...
với hy vọng “thủ tướng” Vơ văn
Kiệt sẽ thành Gorbachev Việt Cộng, với hy
vọng người Việt hải ngoại sẽ
“về” Việt Nam cúng thêm tiền cho Việt Cộng... th́
ta phải hiểu bọn chó săn bồi bút, nâng bi
Cộng sản nằm vùng ở đâu và là những tên nào?
Cán
bộ Cộng sản có một khuyết điểm
nặng nề là thích nổi danh, nổi tiếng,
được tiếp rước long trọng như...
chính khứa, như anh hùng kíu quốc, trong khi giá trị
bản thân chẳng đáng một xu và khi c̣n ở Hà
Nội, Hải Pḥng th́ Cộng sản coi như đầy
tớ bồi bếp... có lẽ v́ mặc cảm tự ti
(inferiority Complex) chăng nên những người dốt
nát, hèn hạ, hạ tiện lại cứ thích nổi danh,
nổi tiếng theo kiểu “đội lốt” theo
kiểu “mượn”!
Sự
thê thảm là cái kim trong bọc sẽ có ngày ḷi ra. Chính cái
tự do ngôn luận, tự do suy nghĩ và tự do dân
chủ đă làm cho người hải ngoại cực
kỳ thông minh và bén nhạy khi họ “chửi”
thấy cái ǵ “Cộng sản bần cố nông”, cái ǵ
có vẻ không ổn, không b́nh thường, và nhất là cái
ǵ có vẻ “trí thức mượn”, có vẻ “kịch”,
có vẻ “bịp bợm”, có vẻ “chồn cáo
đội lớp Lư Bạch” và có thể “Mỹ kư”
mà vẫn ra cái điệu “ta đây” thứ thiệt!
Thi sĩ Vô Danh, với máu hăng say của
tuổi thanh niên, đă gia nhập từ Hà Nội, gọi
là Tự Vệ Chiến Đấu, ngay từ cuối
năm 1945. Lúc này hầu như mọi lứa tuổi là
một cách “hàng ngũ hóa” (regimentation) đầu tiên
của Việt Minh Cộng sản. Tất cả mọi
thành phần xă hội, các lứa tuổi, nam nữ, già
trẻ, tôn giáo... đều phải gia nhập tổ
chức do cán bộ Việt Minh Cộng sản kết
nạp, điều hành, tổ chức, và chỉ huy.
Những người từ chối gia nhập, nhất là
thanh niên, đều bị coi như phản động,
chống đối, và bị bắt đi trong đêm và
bị thủ tiêu mất tích. Người ta gọi là
đi “ṃ tôm” nạn nhân bị đưa ra bờ sông
rồi bị đập cho một búa vào đầu
rồi ném xuống sông. Vùng Hà Nội th́ bờ sông Hồng
hoặc băi Phúc Xá, vùng Hải Pḥng cầu Nệm và sông
Nệm là nơi “pháp trường” của Việt
Minh. Người nhà không dám kêu ca v́ chẳng biết kêu ca
với ai? Sự khủng bố của Cộng sản và sự
kinh hoàng Cộng sản trong nhân dân lan tràn khắp nơi
ngay từ cuối năm 1945.
Tài
liệu theo báo Người Việt ra ngày 19/12/1996 trong bài
quan điểm: Ngày 2/9/1945 tuyên bố độc lập th́
ngày 5/9/1945, Hồ Chí Minh cho Vơ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng
Bộ Nội Vụ, kư sắc lệnh giải tán và
cấm hoạt động các đảng quốc gia
mạnh nhất lúc đó là Đại Việt Quốc Dân
Đảng và Đại Việt Quốc Xă. Một sắc
lệnh khác cho phép công an toàn quyền bắt những
người mà chế độ thấy là nguy hiểm cho
họ. Ngày 12/9/1945, Vơ Nguyên Giáp đă lập cơ quan
mật vụ có quyền giam giữ những người
bất đồng chính kiến. Ngày 22/9/1945, Trần Huy
Liệu ra lệnh kiểm duyệt các báo để
kiểm soát những tiếng nói độc lập như
báo Ngày Nay của Quốc Dân Đảng. Chưa đủ,
ngày 1/11 năm đó, Liệu đặt các nhà in
dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên Truyền,
với mục đích ngăn chận việc phổ
biến tất cả các ư kiến độc lập... “Người
viết xin cảm tạ báo Người Việt đă cho
mọi người biết tài liệu tối mật
nội bộ hiếm có này v́ những người
chống Cộng “ở bên ngoài” không bao giờ có thể
biết.”
Khi quân đội Pháp nổ súng tại Hà Nội
đêm 19/12/1946, th́ Thi sĩ Vô Danh đă chiến đấu
trong thành phố cùng với khoảng 2 ngàn tự vệ
chiến đấu và rất nhiều thiếu nhi, thanh
niên, tiếp tục chiến đấu trong sự
tuyệt vọng. Súng ống đạn dược hoàn toàn
thiếu thốn và hạn chế. Họ cũng chưa
được huấn luyện quân sự nhất là
về đánh nhau trong thành phố. Tất cả
đều chiến đấu theo “sáng kiến” và can
đảm cá nhân.
Tất cả gần như chiến đấu
bằng “tay không” chọi lại với sư đoàn
thiết giáp thiện chiến 2ème Division Blindée, do
đại tướng Leclerc chỉ huy, một đơn
vị dă chiến thắng Đức quốc xă và là
đơn vị đầu tiên được vinh dự
giải phóng thủ đô Paris... trung đoàn 11 thuộc
địa (11ème RIC -Regiment d'Infanterie Coloniale)..., trung đoàn
Lê Dương (Legion Étrangère)...
Họ chiến đấu vô cùng anh dũng với
hùng tâm của mấy ngàn năm chống xâm lăng. Họ
đục tường xuyên qua các nhà, các phố, chiến
đấu với một tinh thần cảm tử,
quyết tử, một tinh thần mà sau này đại tá
Némo, tư lệnh vùng duyên hải Bắc Việt (commandant,
zone maritime du Tonkin), đă phải nói: “Họ chiến
đấu dũng cảm và liều mạng như
những con sư tử non...”
Vơ Nguyên Giáp và Việt Minh “không hề” trợ giúp
đoàn Tự Vệ Chiến Đấu dũng cảm này,
gồm toàn thanh niên Hà Nội, sau này được gọi
là “Trung Đoàn Thủ Đô”... Nhưng Giáp vẫn cho
viết bài phần nhiều là bịa đặt
tưởng tượng về Trung Đoàn Thủ Đô
để đề cao Việt Minh và làm đề tài tuyên
truyền đẩy mạnh công cuộc động viên
toàn miền Bắc kháng chiến chống Pháp. Việt
Cộng cũng bịa đặt là tướng
Vương Thừa Vũ chỉ huy cuộc chiến đấu
trong thành phố Hà Nội. Phải đến ngày 17/2/1947
hay sau gần 2 tháng, những người sống sót đă
phải rút ra ngoài thành phố v́ đă kiệt quệ
về lương thực và súng đạn. Số phận
những người c̣n sống này không thể kiểm
chứng. Một số gia nhập các đơn vị
Việt Minh khác và tiếp tục chiến đấu cho
đến chết hoặc cho đến khi chiến
thắng năm 1954 và trở về Hà Nội. Những xác
người chết được Pháp gom lại và chôn
trong một nấm mồ tập thể rất lớn,
gồm hẳn một khúc đường phố cạnh
Ṭa Án Hà Nội.
Sau khi thoát được ra ngoài hậu
phương, Thi sĩ Vô Danh đă gia nhập Vệ
Quốc Đoàn, quân đội chính qui của Việt Minh
thời đó. Trung Đoàn Thủ Đô có được
thành h́nh nhưng có rất ít người “thủ đô Hà
Nội”. Hầu hết đều là người Thanh
Nghệ Tĩnh. Khi về Hà Nội cuối năm 1954, trung
đoàn Thủ Đô toàn người nói tiếng trọ
trẹ. Đây cũng là một thứ “kiêu binh” mà
người Bắc sau này gọi là “lính Tam Phủ” như
kiêu binh của chúa Trịnh ngày xưa. Trung đoàn
trưởng lúc đó là Nguyễn Quốc Trị,
người Thanh Hóa.
Sau này, có lẽ nhờ tài thơ phú, Thi sĩ Vô
Danh đă gia nhập Hội Văn Nghệ Sĩ. Nhạc
sĩ Phạm Duy khoảng năm 1950 đă từ chối
thẳng vào mặt “cụ” Hồ, không thèm gia nhập
Hội Văn Nghệ, và đă trốn vào thành phố. Đây
cũng là cái tát vào mặt Hồ Chí Minh và Việt Minh
Cộng sản. Kể từ khi ông Phạm Duy bỏ
đi, Hồ và Việt Minh ghét cay ghét đắng dân
“Bắc Kỳ” nhất là những người có tài
như ông... Vô Danh, cụ Phan
Khôi, và hầu hết các văn nghệ sĩ miền
Bắc. Lúc đó Văn Nghệ miền Bắc do Tố
Hữu và Nguyễn Đ́nh Thi, Xuân Thủy nắm giữ
chặt chẽ. Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hữu Loan,
Trần Hoàn, Lưu Hữu Phước (người Nam)...
chỉ là những kẻ theo đuôi voi, cầu sống.
Những người khác như Nguyễn Tuân, Nguyễn
Bính, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao... đều phải chịu
ép một bề...
Giết,
giết hết, bàn tay không phút nghỉ!
Cho
ruộng đất lúa tốt, thuế mau xong!
Anh
em ơi! Cùng dệt bước tơ ḷng
Thờ
Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Xuân Diệu)
Năm
1955-1956, Hồ Chí Minh ra lệnh cải cách ruộng
đất để “đấu tố” tiêu diệt
hầu hết những thành phần khá giả sáng sủa
mà Hồ gọi là “địa chủ, phú nông, trí thức và
giai cấp chỉ huy trong nông thôn như các chánh tổng, lư
trưởng, bá hộ...” gọi là “trí, phú, địa,
hào”... Bất cứ ai nằm trong thành phần này, hoặc
chỉ người b́nh thường, đều có thể
bị viện “đội trưởng” đội cải
cách chiếu cố “lên liste” lên danh sách đấu tố,
phải ra đấu trường, và bị đấu
tố theo kiểu “Mao Ít” rùng rợn, tàn ác và khủng
khiếp nhất.
Được
nghe “bà” kể khổ!
“Con”
thấy đời con thực là đáng chết!
“Con”
đă đi bóc lột để nuôi “bà“
“Con”
bây giờ không dám nhận là cha
Dù
“bà” là do “con” đẻ ra
Thi sĩ Vô Danh quả tài t́nh. Chỉ bằng
mấy câu ngắn ngủi mà hàm xúc đầy đủ
sự ghê rợn của đấu tố Cộng sản.
Cha phải gọi con gái bằng “bà” và xưng “con”. Nuôi con
cũng là "tội" v́ phải bóc lột người
khác để nuôi con. Trong khi đó, Hồ và Cộng
sản giết người, bỏ tù, cướp bóc
đủ thứ... th́ lại bắt cả nước
phải “đời đời nhớ ơn Hồ chủ
tịch”!
Cộng
sản Hà Nội áp dụng Mao Ít nhiều hơn Mác Xít Lê Nin
Nít, có lẽ v́ không thích hợp với hoàn cảnh
địa phương (Việt Nam và Trung Quốc). Mác Xít
chỉ là lư thuyết suông, chẳng ai thèm học hay áp
dụng. Khi đại tá Phản Gián Hà Sĩ Phu Nguyễn
Xuân Tụ và Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính luôn miệng chê
bai Mác Xít th́ những tên chó săn cộng sản này đă
lờ tịt vấn đề Lê Nin Nít và hiện nay là Mao
Ít đang thật sự “được” áp dụng
tại Việt Nam. Ngục sĩ kiêm chính trị gia
Nguyễn Chí Thiện nên cho biết ư kiến về
cuộc thanh trừng cộng sản Hà Nội do
thượng tướng người gốc Tàu là Lê
Khả Phiêu cầm đầu đă giết các đồng
chí Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đ́nh Tứ, Dương
văn Đầy...?
Đầu
tháng 12/1966, báo Người Việt đă đăng (2
kỳ) bài của “nhà văn” Hoàng Tiến ở Hà Nội mà
không ai biết tên này là ai, có thể là cán bộ phản
gián, viết về Hà Sĩ Phu. Đài VNCR và Little Saigon
cũng phụ họa tiếp vận phổ biến lá
thư này. Đài VNCR phỏng vấn điện thoại
viễn liên với Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự và các
cán bộ Cộng sản khác mỗi ngày rồi truyền
thanh lại cho đồng bào quận Cam nghe. Báo
Người Việt cũng đăng những bài
phỏng vấn rơ ràng và kỹ càng. Chiều ngày Chủ
Nhật 8/12/1996, có một cuộc biểu t́nh nhỏ ở
Little Saigon, quận Cam, California, để kỷ niệm
nhân quyền. Nhân dịp này, Đoàn Thế Cường,
người của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ
Minh cũng hô hào lấy chữ kư vào kiến nghị “đ̣i
Hoa Kỳ” phải “mời” Hà Sĩ Phu và Đoàn
Viết Hoạt sang Mỹ “diễn thuyết”... (cho chó
săn Vẹm nghe chăng?).
Cộng
sản vào cuối năm 1996 đă bị thâm thủng
tới 4 tỷ đôla. Chúng cuống cuồng mở
chiến dịch Dân Vận hải ngoại để kêu
gọi người Việt đóng tiền cứu nguy...
tổ quốc!
Nhóm
Giao Điểm do Hồng Quang cầm đầu (trong
khối Ấn Quang) đă tổ chức một bữa
cơm chay tại chùa Việt Nam Orange chiều ngày 7/12/96
với thượng tọa Thích Pháp Châu để gây
quỹ... trùng tu chùa Đậu ở tỉnh Hà Tây! Kết
quả thu được hơn 7,000 đôla! Nhóm Giao
Điểm Hồng Quang coi như lập thành tích thi đua
đầu tiên. Chiến dịch hàng đầu vĩ
đại này có thể sẽ được tuyên
dương trước Ban Chấp Hành Trung Ương
Quốc Hội và Mặt Trận Tổ Quốc v́ giáo
hội Ấn Quang là tổ chức đứng hàng
đầu trong Mặt Trận Tổ Quốc Xă Hội
Chủ Nghĩa. Số tiền này đương nhiên
phải được gửi về Hà Nội. C̣n vấn
đề có trùng tu chùa Đậu hay không th́... chỉ có
Vẹm biết chăng?
Tội
ác của bọn chó săn cộng sản này là chúng cố
t́nh lấp liếm sự kiện lănh đạo Cộng
sản Hà Nội đang làm bù nh́n chó săn cho Trung Cộng
để đầy ải dân tộc Việt Nam hơn nữa
vào hố thẳm của nô lệ và diệt chủng. Vào
năm 1996-1997..., dân tộc Việt bị hai kẻ Nội
thù Việt Cộng và Ngoại xâm Trung Cộng đe dọa
tiêu diệt. Sau này, sau khi Cộng sản bị tiêu
diệt, bọn Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh
Quốc, Đỗ Trung Hiếu, Hoàng Minh Chính, Nguyễn
Hộ và bọn tay sai bồi bút nằm vùng hải
ngoại đáng bị xử vào tội “Thập Ác”.
* *
*
Bài thơ dưới đây đă nói rằng
đến năm 1960 Thi sĩ Vô Danh đă bị tù
nhiều lần rồi, và sẵn sàng đợi bị
bắt lại bất cứ lúc nào! (Ông Nguyễn Chí Thiện nói rằng bị tù
từ năm 1961 khi ông 22 tuổi do lệnh “Tập Trung
Cải Tạo” ban hành trong thời gian này.)
Đời
tôi sẽ...
Đời
tôi rồi sẽ tới đâu?
Ḷng
tôi cũng chẳng t́m câu trả lời!
Nhà
lao nay bước chân rời
Ngày
mai có thể như chơi lại vào
Đất
này là thế, biết sao
Tội
hay vô tội luật nào xét cho
Người
dân chẳng khác con ḅ
Nay
cày è cổ, mai ḷ sát sinh
Những
gương bắt bớ quanh ḿnh
Toàn
dân lương thiện tội t́nh ǵ đâu!
Đói
ăn ta thán một câu
Phản
tuyên truyền tội ở đâu buộc vào
Một
bài khác tả cảnh tù tội dưới chế độ
Cộng sản:
Từ
vượn lên người mất mấy triệu năm?
Từ
người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
Xin mời
thế giới tới thăm
Những
trại tập trung núi rừng sâu thẳm!
Bài
thơ này tả cảnh “sống” trong chế
độ Cộng sản:
Không
phải chết, sống mỏi ṃn mới khiếp!
Sống
niêu cơm, manh áo cũng đọa đày
Sống
yên lành, song cũng khó yên thay
Sống
lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay
Sống
đau nhức cả thần kinh bắp thịt
Sống
giương mắt đỏ ngầu trong xám xịt
Nói
về chế độ Cộng sản kềm kẹp công
an trị:
Người
dân đă chán chê với cái tṛ hề chiến tranh cách
mạng!
Cái
họ được là khăn tang và nạng!
Cái
mất đi: ánh sáng cuộc đời!
Đảng
bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
bắt
đói, bắt làm...
hé
răng oán thán là tù mục xương độc đoán...!
Nó
lùa, nó thả (Nó đây là Hồ Chí Minh)
lũ
mặt người dạ thú xông ra
khiến
đồng xa, nơi mấp mô mồ mả
Bức tranh “tù tội” hay là tranh “sống” dưới
chế độ Cộng sản do ô Thi sĩ Vô Danh vẽ
rất “thật” v́ ông Vô Danh đă bị tù “thật”,
đă sống trong địa ngục Cộng sản
thật sự. Chỉ có công an, cán bộ, đảng viên,
bộ đội hay là giai cấp ưu đăi, mới không
biết thế nào là tù đày. Đọc những bài
thơ này lên, ta thấy ông Vô Danh quả có tài làm thơ
tả cảnh Cộng sản tàn bạo, tù đày dân chúng
bất kể luật pháp hay nhân quyền, dân quyền, coi
nhân dân như kẻ thù, khiến người đọc phải
thấy rùng ḿnh khiếp sợ.
Chúng
tôi sống giữa ḷng thung lũng
Bốn
bên là rừng núi bọc vây quanh!
Ở
rúc chui trong mấy dẫy nhà tranh
đầy
rệp muỗi, đầy mồ hôi, bóng tối!
Bệnh
tật cho nhau, đời ôi hết lối!
Tuyệt
vọng ngấm dần, hồn xác tả tơi...
Thi
sĩ Vô Danh nh́n thấy tất cả những thành phần
xă hội bị Cộng sản cho đi tù tuốt
luốt, đi tù từng xâu, bất cứ lúc nào, và không
cần lư do, không có pháp luật xét xử. Những
người tù này và kể cả Thi sĩ Vô Danh, “không
bao giờ” được nói chuyện với giám
đốc công an Hà Nội, mạn đàm và chụp ảnh
mầu với quản giáo trại cải tạo, và
dứt khoát không bao giờ mơ ước được
đi nhậu nhẹt, tâm sự anh anh, tôi tôi, với ông
Viện Trưởng Mác Lê Hoàng Minh Chính tức trung
tướng phản gián Trần Ngọc Nghiêm, một lư
thuyết gia Xít Ta Lin Nít sắt máu nhất, trung kiên
nhất, cao cấp ngang hàng với Lê Duẩn, Lê Đức
Thọ... như ông Nguyễn Chí Thiện đă từng khoe
tại Hoa Kỳ.
Thi
sĩ Vô Danh dĩ nhiên chỉ nh́n thấy tù tội, đói
rét, khổ sở, hành hạ, và cái chết chờ
đợi mọi người tù. Ông Nguyễn Chí
Thiện, có lẽ không hiểu thế nào là tù đày
“thật sự”, nên chỉ phàn nàn rằng Cộng sản
không cho tù nhân giấy... vệ sinh (toilet paper) và băng
vệ sinh (maxipads) cho nữ tù nhân khiến cho họ hôi hám
bẩn thỉu không vừa cái lỗ mũi của ông khi
họ đi ngang qua mặt ông...
(Với
những thành tích nói chuyện “anh anh tôi tôi” với Cộng
sản cỡ gộc, ngang với Lê Duẫn và có thể
thay thế Lê Duẫn làm Tổng Bí Thư. Xít Ta Lin Nít
thượng tướng Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng
Minh Chính, “giả thử” ông Thiện là cán bộ th́ ít
lắm cũng phải cấp thiếu tướng.) Ta hăy
coi ông Thiện làm... thơ (?) tả cảnh tù Cộng
sản “chỉ khổ” v́ không có giấy vệ sinh (tại
Ở
Hỏa Ḷ, giấy vệ sinh khó có
Nhiều
người không dùng như trâu như chó
Phải
có quà, có ngoại giao mới có thể mong xoay
Xoay nó
c̣n khó hơn xoay vé máy bay...!
(Nguyễn Chí Thiện)
Người viết bài này nghi ngờ rằng
ông Thiện chưa ở “tù thật” bao giờ, tuy rằng
ông có dịp “quan sát” các trại tù để có “kinh
nghiệm tù” mang ra hải ngoại nói chuyện... tù! Đọc “thơ tù” của Thi sĩ Vô
Danh, ta thấy người tù thật “không bao giờ”
lo vấn đề giấy vệ sinh hay băng vệ
sinh. Người tù Cộng sản
“sống dở chết dở” trong sự đọa
đày, cực khổ, đói rét, bệnh tật tối
đa..., “lo” đủ thứ trong hy vọng hăo huyền,
v́ “không có ǵ cả”! Chỉ thấy đen tối và
tương lai mù mịt đầy cực khổ hơn nữa,
hoặc chết chóc, làm ǵ dám nghĩ tới vé máy bay mà ví với
von?
Người tù không thể
kêu ai v́ chính Nhà Nước là quân nội xâm cai trị bạo
tàn. Người tù biết không bao giờ được “thả”?
Không biết gia đ́nh con cái trẻ nhỏ ở nhà ra sao?
Không biết chiều nay, hay ngày mai, có được ăn
không? Mà được ăn cái ǵ? Nếu có khoai hà, sắn
mốc hay ngô cứng như đá là may, mong ǵ đến
cơm? Có lẽ trong bụng người tù nào cũng quá đói,
đói mờ con mắt trong cái đói thường xuyên, nên
không ai lo “vệ sinh” mà chỉ lo ăn! Có cái ǵ trong bụng
đâu mà lo tống ra? Người tù Cộng sản đói
đến vàng mắt, đói mờ người, đói bải
hoải chân tay mà vẫn bị đốc thúc lê lết
đi lao động. Chậm chạp lao động là báng
súng đánh vào người ngay để làm cho đau đớn
ê chề hơn nữa.
Bài thơ này, Thi sĩ Vô
Danh kể chuyện một người tù già lắm
nhưng vẫm cố “học tập tốt, lao động
tốt” cho vừa ḷng quản giáo coi tù và cho hả dạ
vợ con ông, v́ họ vẫn tưởng như lời Cộng
sản nói: tù nhân vẫn được đối đăi tử
tế v́ chỉ được đi học tập, lao
động để cải tạo thành người “tốt”.
tôi sẽ nói cùng
vợ con ông rằng ông đói quanh năm!
Tuổi ông già, răng ông móm, nhưng ông
chăm
Đi lao động kiếm phần ngô c̣m
cơi!
Tả cảnh xă hội Việt
Bà kia tuổi sáu mươi rồi!
Mà sao không được phép ngồi bán
khoai?
Cụ kia tuổi bảy mươi hai
mà sao hội họp mệt nhoài không tha?
Tự do tôi quư thiết tha
mà sao tù ngục hết ra lại vào?
Tội chi cảnh sát cũng vào bắt
đi?
Người tù Cộng sản chỉ mong có
cái ǵ nhét vào mồm, dù chỉ là khoai sắn, hơn là “lo”
tống xuất ra ngoài, v́ bụng rỗng, lép xẹp, có
cái ǵ đâu mà phải tống xuất? Nếu không có
ăn, bụng trống rỗng, th́ cần ǵ đến vệ
sinh mà phải “chạy chọt” với công an coi nhà
khách th́ cũng điều phải lẽ, nên ông Thiện “không
quên” trong thơ “tù” của ông. Tháng 8/1996, hai ông bà
ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher đến Hà Nội
mà không ngờ rằng pḥng tắm dành cho thượng khách
nước ngoài không có giấy vệ sinh!
Ngoài cái đói, c̣n có cái rét. Khi đói, thiếu
ăn, thiếu mặc, quần áo, chăn mền không có,
th́ không mấy người chịu nổi cái rét lạnh
ghê người ở miền Bắc. Bị ho lao, lao ra máu
là do thiếu ăn và rét lạnh. Mỗi người tù
đều bị hành hạ bằng đủ thứ bệnh
và sự thiếu thốn đủ thứ. Bệnh tật
không bao giờ có thuốc. Tù nhân phải được gọi
là “tù bệnh, tù đói” mới đúng. Họ quằn quại,
ṃn mỏi trong nhiều tháng nhiều năm. Cái chết
thường đến chậm chạp, lay lắt, để
kéo dài sự đau khổ lâu hơn nữa. Những
người tù bệnh thường không thể chết
nhanh chóng dễ dàng v́ họ c̣n nhiều sự lo lắng
cho gia đ́nh, nhiều kỷ niệm, nhiều vấn
đề chưa giải quyết, sự thương nhớ
gia đ́nh con cái, sự mong mỏi đoàn tụ, nhất
là niềm hy vọng và cố gắng “sống” để
có thể một ngày nào đó trở về... đă kéo dài sự
ham sống của họ.
* * *
Thi sĩ Vô Danh
đă viết nhiều lần sợ hăi cái nóng bức kinh
hồn trong hầm đá và cái rét lạnh mỗi khi mùa
đông đến.
Từng cơn nóng dội, từng cơn
rét
Thịt bắp tiêu dần, xương với
da.
Chân vỡ sưng, cùm nhay lở loét!
Rệp muỗi quây quần hút máu ta.
Không khí như là hơi nước sôi!
Ta khắp thân mồ hôi ướt vă
Cơm muối nhai cùng phân chuột hôi!
Thi sĩ Vô Danh kể chuyện
một người lớn tuổi chết trong tù:
Ốm đau không thuốc, không ǵ!
Chuyện thông thường đó nói chi thêm
nhiều!
Mùi phân nước giải sớm chiều
nồng hôi
Bác ơi, bác sắp chết rồi
Bác không c̣n sức để ngồi
được lên
Phụ nữ trong tù quá đói, mất hết
máu, mất hết hồng huyết cầu, người
xanh như tàu lá, th́ làm ǵ c̣n đường kinh mà phải
lo đến băng vệ sinh? Người phụ nữ
đă bị tù th́ lo đến lũ trẻ nhỏ ở
nhà không có ăn, không người săn sóc, sẽ phải
chết dần ṃn v́ bệnh tật thiếu ăn. Đứa
nào đi bụi đời sẽ thân tàn ma dại, chẳng
c̣n nhớ, biết ǵ đến cha mẹ, anh em, gia
đ́nh! Nhiều phụ nữ vào tù với con nhỏ
đang bú, v́ đói nên kiệt sữa, đă phải nh́n
đứa con đói lả chết trên tay, c̣n bụng dạ
nào lo đến băng vệ sinh hay sự hôi hám bẩn thỉu?
Nói tóm lại, người bị cộng sản
cầm tù không án tù, không thời hạn, không tội lỗi,
chỉ thấy căm hờn chất chứa, hận thù
thiên thu... nghĩ cách ra khỏi tù, nghĩ cách chạy trốn
hay tiêu diệt Cộng sản... chứ ai hơi đâu mà lạy
van chạy chọt công an để có giấy vệ sinh hay
băng vệ sinh? Miền Bắc trước kia và bây giờ,
hầu hết đều không có giấy hay băng vệ
sinh... th́ làm sao công an có để bán hay cho? Có lẽ nhiều
cô gái miền Bắc chẳng bao giờ được “thấy”
cái băng vệ sinh văn minh nó ra sao? Mà trong tù th́ “tiền
đâu” mà chạy chọt công an để kiếm giấy
vệ sinh? Nếu có tiền cụ Hồ th́ để mua
cái ǵ ăn. Nếu dư tiền cụ Hồ th́ nên dùng
thay giấy vệ sinh có lẽ tiện hơn?
Công an biết tù có tiền th́ nó hành cho đến
mức phải “cúng” hết cho nó, chứ làm ǵ c̣n xài
sang mà nhờ công an mua dùm giấy vệ sinh?
Giả thử họ có hôi hám bẩn thỉu
v́ không được tắm, không có xà pḥng hay băng vệ
sinh th́ họ cũng thích thú cho công an, quản giáo “ngửi”
cho sướng cái lỗ mũi của chúng, chứ việc
ǵ họ phải sợ bị ai cười chê là dơ bẩn
hôi hám? Có lẽ khi những phụ nữ tù nhân đi qua mặt
ông Thiện, lúc đó có lẽ đứng xem với tư
cách công an thanh tra, mặc complet trắng tinh, nên ông Thiện
đă không quên cái mùi xú uế của họ dù mũi ông
được ông dùng mù xoa bịt lại. Ông Thiện
nghĩ rằng v́ họ không có băng vệ sinh nên mới
hôi hám như vậy.
Quư độc giả nên ngâm những bài
thơ trên để so sánh với bài thơ “giấy vệ
sinh” để xem bài nào là thơ, và bài nào chỉ là ghép
chữ vớ vẩn kiểu nhà quê bần cố nông?
Tối ngày 15/11/1996, cộng đồng
người Việt Tự Do bang NSW lại được
hân hạnh tiếp đón nhà thơ
Nguyễn Chí Thiện và giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở
lại thành phố Sidney từ thành phố Brisbane. Khoảng
600 người đă đến tham dự đêm tâm t́nh với
ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện... Phần nói chuyện
của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn được
những tràng vỗ tay nồng nhiệt của quan khách
đến tham dự. Một lần nữa, ông (Thiện)
đă vạch trần bản chất đại gian đại
ác của lănh đạo Cộng sản Việt Nam “với
những xảo thuật lừa bịp vô cùng tinh vi và dă
man, chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là chiếm đoạt
quyền lực và bảo vệ quyền lực bất kể
đạo lư tối thiểu của con người.”
Ông (Thiện) kể những cảnh cơ khổ
trong tù, nhất là người phụ nữ, “chúng không
màng ǵ đến vệ sinh tối thiểu của người
phụ nữ đến nỗi những “nàng Kiều thời
đại” bị tù đi ngang qua là sặc mùi hôi thối.”
C̣n thân phận các em thiếu nhi sinh ra và lớn lên trong các
gia đ́nh thiếu ăn đă phải đi vào con
đường trộm cắp th́ bị chúng đánh đập
và hành hạ một cách tàn nhẫn thô bạo, đến nỗi
ngày nào ở trong tù ông cũng thấy mang xác đi chôn với
vẻ mặt thản nhiên của cán bộ trại. Ông nói:
“Bởi v́ lớp tù này chết đi th́ đă có lớp
khác đến thế”.
(Có lẽ v́ chủ quan hay là quen thói “độc
tôn” của cán bộ công an cấp cao nên trong một dịp
diễn thuyết tại San José giữa tháng 12/1995, ông Thiện
đă phát biểu về miền Trung một câu mà những
người Huế, người Trung cho đến nay có lẽ
chưa quên. Khi nói về miền Trung, xứ Huế, ông Thiện
“phang” một câu rất “chữ nghĩa, điển
tích”... “sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa
trá, nữ đa dâm!” Tác giả xin cáo lỗi với quí vị
người Trung v́ bài khảo luận cần phải nêu ra
những chi tiết về con người mang danh “ngục
sĩ” Nguyễn Chí Thiện)
Ông Thiện cũng
làm thơ mỉa mai những người nữ tù nhân là
dơ dáy, hôi hám, cũng hút thuốc lào như lưu manh:
Những nàng Kiều
Cộng sản kết tội phong kiến và
xót thương
Nàng Kiều ngày xưa trong văn
chương
C̣n những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa Ḷ,
ai thương?
Ghẻ lở đầy, gầy giơ
xương
Vét ăn từ hạt cơm dưới rănh
Cũng cùm kẹp, đ̣n đánh
Cũng lén hút thuốc lào như những ông
mănh lưu manh
Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!
(Nguyễn Chí Thiện -1983 -trg.36, HMT)
Đọc lên ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện
không phải đồng cảnh ngộ “tù” như những
người nữ tù mà ông gọi một cách rất
ư công an là những “nàng
Kiều thời đại”. Ông Thiện khinh bỉ họ
vét ăn từng hạt cơm dưới rănh, lén lút hút thuốc
lào như lũ lưu manh bạn tù của các cô này, và mỗi
lần họ đi qua mặt ông “quản giáo hay thanh
tra” Thiện là sặc mùi tanh tưởi v́ không biết
dùng và không có băng vệ sinh. Dưới mắt ông Thiện
(công an?) th́ người tù nào cũng chỉ là lưu manh, phản
động, bất măn “dám” chống, dám chửi chế
độ! Cái mùi hôi hám này ám ảnh (đồng chí công an phản
gián đi tham quan để hiểu biết về nhà tù cho
dễ nói chuyện sau này) Nguyễn Chí Thiện đến
mức 13 năm sau, khi tới Sidney, ông vẫn chưa quên
và phải nói lên cho cử tọa (nam nữ Việt kiều
Sidney) cùng thưởng thức!
Nếu so sánh ta thấy Thi
sĩ Vô Danh không hề gọi người nữ tù khác,
đồng cảnh ngộ, một cách khá... “công an” là
những “nàng Kiều thời đại”! Ta có thể
đọc dưới đây bài thơ Thi sĩ Vô Danh tả
cảnh người con gái “đĩ” ở trong cảnh
đói khổ cùng cực ở Hà Nội, người con
gái chỉ có thể làm đĩ để kiếm sống,
mà ông Vô Danh vẫn coi là bạn chí thân đáng quư trọng:
Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở
vườn hoa
Ngoài t́nh cảm chan ḥa và không khinh bỉ
Xó chợ đầu đường,
ăn cắp vặt nuôi thân
Bé tí hon mà tù tội bao lần
Miệng tục tĩu, hồn như trang
giấy trắng!
Thi sĩ Vô Danh cũng làm
thơ “ai điếu” người con gái “tập kết”
từ miền Nam ra Bắc năm 1955, đă, có lẽ v́ chửi
Cộng sản, bị chúng tù đầy, giam cầm và bị
ho ra máu, cũng như ông, cho đến chết. Đọc
lên ta thấy ông Vô Danh sót thương cho người con gái
đó hơn cả chính bản thân, và dĩ nhiên không hề
có giọng điệu diễu cợt đùa giai một
cách đểu giả, ác độc của công an coi tù, gọi
những người phụ nữ tội nghiệp,
đáng thương, nạn nhân cộng sản, là “nàng Kiều
thời đại”!
Bài thơ cũng tả cực h́nh rùng rợn
mà người con gái miền Nam tập kết khốn khổ
phải chịu cho đến chết, dĩ nhiên không phải
v́ hôi hám thiếu băng vệ sinh... Thi sĩ Vô Danh “không
ngửi” thấy mùi hôi hám của người con gái
đang sắp chết này, có lẽ v́ ông cũng là tù hôi hám
như vậy, và không phải là công an quản giáo kiêm
thanh tra “sạch sẽ” như ông Nguyễn Chí Thiện
chỉ khoe mặc complet toàn trắng đi chơi Hồ
Tây bơi thuyền (périssoire) ăn bánh tôm với “người
bạn đẹp như tiên” chăng?
Anh gặp em trong bốn bức rào dầy...
Má gầy, mắt trũng
Phổi em lao, chân em phù thũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng
Y sĩ công an nh́n em, thôi (th́) nạt nộ
om ṣm
Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co
ro
Những tiếng ho
Những cục đờm máu!
Mớ tóc rối đầu em rủ xuống
ḿnh em, teo nhỏ, lơa lồ...
(v́ quần áo đă rách nát hết, không
đủ che thân gầy.)
Em có ǵ đâu mà em xấu hổ!
Em là đau khổ hiện thân
Ngấn lệ đêm qua c̣n dấu hoen nḥa
Trên g̣ má tái
(Người
chết nghèo khổ, tù tội miền Bắc khi chết
thường được bó trong chiếu rách mang đi
chôn. Người sống cũng không khá hơn. Trong mùa
đông giá lạnh, có cái chiếu lành lặn mà đắp
là may lắm rồi!)
Anh biết ḷng em kinh hăi hơn ai
Khi gió bấc ào qua vách ải
Những manh áo vải... tả tơi, vật
vă...
vào thịt da...
Em có lạnh lắm không?
Mưa gió mênh mông
Thung lũng sũng nước bùn
Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc
Những khuôn mặt xanh vàng gầy rộc
Nh́n nhau, đờ đẫn không lời
Nhát nhát em ho
Đọc lên ta
thấy cả một câu chuyện năo nùng, thê thảm
của một người con gái miền Nam thơ ngây,
năm 1945-1955 đă mang nhiều mộng đẹp
muốn ra Bắc để góp phần xây dựng...
độc lập, tự do và thiên đường Cộng
sản tại Việt Nam. Để rồi vỡ mộng
thiên đường, thấy rơ bộ mặt lưu manh
xảo trá của bọn lănh đạo Bắc Bộ
Phủ và Hồ Chí Minh. Người Nam trực tính, nóng
nảy, hể thấy trái tai gai mắt là nói thẳng,
hỏi thẳng và có khi chửi thẳng vào mặt. Họ
không nghĩ rằng đă lọt vào trong tay Cộng
sản, lơ mơ là chúng bắt bỏ tù cho đến
chết đói, chết bệnh.
Bài thơ này được
Thi sĩ Vô Danh viết “trong tù” năm 1965. Khi đó
ông Nguyễn Chí Thiện đă ra khỏi tù (1964-1966) và
đang dịch sách báo ngoại ngữ Anh Pháp, có lẽ là
cho... Cục Phản Gián, v́ trong những năm 1955 đến
1965, 1966 cho đến 1975, 1985...
Trong cao điểm chống Mỹ năm
1964-1965 đến 1975, không một người miền Bắc
nào “dám” dùng đến ngoại ngữ, nhất là tiếng
Anh. Khi Thi sĩ Vô Danh viết lá thư tuyệt mệnh ông
viết bằng tiếng Pháp và có lẽ ông chưa bao giờ
học và dịch tiếng Anh như ông Nguyễn Chí Thiện.
Nhiều bài thơ chứng minh Thi sĩ Vô Danh vẫn ở
trong tù 1965.
Tạm trú ở
một nhà người quen trong ba ngày ông gợi từ trí
nhớ viết “là” được 377 bài thơ sau đó ông
cất dấu rồi xuống Hải Pḥng trở lại.
Rồi đến dịp sau ông mới lên Hà Nội mang
tập thơ đến ṭa đại sứ Anh.
Thi sĩ Vô Danh, trái lại, đă “chôn dấu”
(chôn rấp) tập thơ đâu đó ở trong nhà ông ở
Hà Nội và ôm mộng ước từ năm 1970, “là
không biết đến bao giờ “ ông sẽ được
đi khắp nơi để phổ biến những bài
thơ “lồng lộng bay, lay thức nhân tâm!”. Thi
sĩ Vô Danh bị quản chế tại gia ở “Hà Nội”,
cô đơn, sau khi cha mẹ chết, chứ không phải ở
Hải Pḥng cùng với chị và em như ông Nguyễn Chí
Thiện. Có lẽ sau này v́ cơ thể mỗi ngày mỗi
tàn lụi v́ tù đày hành hạ và ho lao ra máu, nên Thi sĩ Vô
Danh đă phải đi đến quyết định
đột nhập ṭa đại sứ để
đưa tập thơ của ông trước khi chết
v́ ho lao và tù đày thêm nữa.
Ông Thiện cũng quên không tả cảnh ông bị Cộng
sản bắt được sau khi ra khỏi ṭa đại
sứ Anh ra sao?
Xin quư bạn đọc bài thơ dưới
đây:
Biết đến bao giờ tôi được
gặp
Người trong huyễn tưởng bao
năm!
Chân trời ước mộng xa xăm?
Thi sĩ Vô Danh đă coi bệnh
lao trong hai lá phổi của ông là hai lưỡi dao găm của
Thần Tự Do, hay là bản án tử h́nh của thần
Tự Do, không cho ông sống và được tự do...
Thơ phải nhiều ư nghĩa gói ghép bên trong như vậy
mới có thể gọi là thơ...
Bài thơ này tả sự
cô đơn, không có anh chị em, bạn bè, của ông Vô
Danh, tuy không đề ngày, nhưng có lẽ khoảng
năm 1974 hay 1975, sau khi cha ông chết. Ông Nguyễn
Chí Thiện, trái lại, có đủ cả anh ruột ở
miền Nam rồi đi Mỹ và bà chị và có cả các em
nữa.
Tôi, một kẻ không gia đ́nh, bè bạn
Sống một ḿnh, bệnh hoạn xanh xao
Đồ đạc tôi thế là tạm
đủ
Cuộc sống nghèo hèn, không ước
không mơ
Ngoài thời gian dạy học vài giờ
Tôi t́m kiếm niềm khuây trong sách vở
Thi sĩ Vô Danh đă cho biết
khi ra tù, tạm thời v́ có thể bị bắt lại bất
cứ lúc nào, ông phải đi dạy học mỗi ngày vài
giờ kiếm ăn. Khẩu phần miền Bắc lúc
đó dùng tem phiếu (phiếu sổ - food stamp) để
cho khẩu phần tiêu chuẩn giới hạn mỗi
người 100 gram đường và 100 gram thịt mỗi
tháng. Cha mẹ ông lúc này đă chết. Ông sống cô
đơn trong một căn gác nhỏ ở Hà Nội và bị
quản chế tại gia, lúc nào cũng có thể bị buộc
bất cứ tội ǵ và bị bắt giam tù trở lại.
Hai câu chót, tuy nhẹ nhàng, nhưng đủ tả sự
rùng rợn của chế độ Cộng sản: chỉ
cần tỏ vẻ không vui, bất măn là đủ bị
công an ghép tội “bất măn” và bắt đi tù!
Đảng bắt vui, bắt nói,
bắt khóc, bắt cười,
bắt đói, bắt làm..
hé răng oán thán
là tù ngục mục xương độc
đoán...!
(Vô Danh - Đồng Lầy)
Ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không bao giớ
nói rơ chi tiết lư do, ngày giờ, năm tháng bị bắt,
nơi bị giam lần đầu tiên trong thời gian
trước năm 1961. Ông Nguyễn Chí Thiện chỉ khai
thời gian bị bắt giam với ngày tháng rơ rệt
như một tài liệu học tập đă được
(do ai?) sửa soạn sẵn. Lần thứ nhất từ
tháng 5/1961 cho đến tháng 11/1964. Lần thứ hai: Từ
tháng 2/1966 đến tháng 7/1977. Lần thứ ba: Từ
tháng 7/1979 đến tháng 10/1991. Tổng cộng tù hơn 27
năm, không xét xử.
Những điểm lư lịch đáng lưu
ư khác là ông Nguyễn Chí Thiện khai là sinh ngày 27/2/1939 (Hà Nội).
Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo Phật giáo. Tŕnh độ
học lực: Tốt nghiệp Trung Học (Tú Tài) năm
1955. Đi tù về tội “làm thơ chống Cộng”.
Nghề nghiệp: dạy Pháp, Anh văn, Dịch sách
(1964-1966 tại Hải Pḥng Việt Nam.
Lư lịch quá sơ sài và thiếu nhiều chi
tiết. Thí dụ: tên tuổi cha mẹ và anh chị em ruột.
Nếu ở Hà Nội th́ thường phải có địa
chỉ nơi sinh với số nhà, đường phố
hoặc nhà hộ sinh, hoặc địa chỉ, nghề
nghiệp cha mẹ ghi rơ ràng trong giấy khai sinh. Ông Thiện
không hề cho biết địa chỉ sinh sống trước
năm 1954, sau 1954, và nơi chốn chi tiết khi bị bắt
năm 1961. Kể từ năm 1991, sau khi được thả,
ông Thiện ở Hải Pḥng cho đến khi đi Mỹ.
Tại Orlando, tối 14/12/1966, ông Thiện “lỡ miệng”
nói ông bị quản chế tại gia ở... Hà Nội! Thế
th́ tại sao khi đến Mỹ ông Thiện nói rằng
ông ở Hải Pḥng?
Nếu nguyên quán như vậy th́ ông Thiện
đă ở Hải Pḥng trong khi Thi sĩ Vô Danh sinh sống ở
Hà Nội, bị bắt cũng ở Hà Nội và bị
đưa đi cải tạo trên rừng núi. Sau khi
được “thả”, Thi sĩ Vô Danh phải trở
về nguyên quán ở Hà Nội để công an phường
và quận “quản chế”, để rồi bị bắt
trở lại bất cứ lúc nào. Thường th́ tù nhân
được thả về đều buộc phải về
nguyên quán để công an địa phương quản chế
ít lắm là một năm trước khi trả quyền
công dân. Ông Thiện nói đi tù về tội “làm thơ chống
Cộng”.
Thi sĩ Vô Danh không nói như vậy. Tŕnh
độ có học thức và là người Bắc thời
đó, khiến Thi sĩ Vô Danh phải nói rằng bị tù
v́ “chửi Cộng sản”, hoặc làm thơ “chửi
Cộng sản”. Công an cũng chỉ khép tội bất
măn “chửi bậy” hay nói bậy, v́ nếu nói tội
“chống” Cộng, chống Đảng, chống chính
quyền... th́ đều bị coi là phản động,
phản cách mạng và có thể bị tử h́nh hay bị
tra tấn cho đến chết để cung khai đồng
lơa.
Giả thử ông Thiện nói rơ cha mẹ anh
em ông và địa chỉ ở Hải Pḥng th́ người
ta rất dễ dàng truy ra manh mối rằng trong 27 năm
gọi là “tù”, th́ ông Thiện có ở “tù thật”
không? Nếu nói dịch sách báo Anh Pháp ngữ năm
1964-1965-1966 th́, xin lỗi ông Thiện, chỉ có Cục Phản
Gián mới cần “tay nghề” loại này. Công an thường
th́ dốt như vịt, chữ nghĩa đâu mà Anh văn
với Pháp văn? Những năm 1964 đến 1975, miền
Bắc căng thẳng tột độ v́ cao điểm
đánh Mỹ ở miền Nam và Mỹ oanh tạc miền
Bắc, dân thường làm ǵ có sách vở báo chí ngoại ngữ
để cho ông Thiện dịch? Tù được thả
về nhà, bị quản chế, th́ ai cho dịch đồ
quốc cấm tức là sách báo ngoại ngữ? Cái vụ
dịch Anh Pháp văn chỉ là thủ đoạn mập mờ
“ra cái điều” ông Thiện chính là thi sĩ Vô Danh biết
Anh Pháp ngữ rành rơi.
Tất cả miền Bắc không ai chống
Cộng v́ chống không nổi với mạng lưới
công an dày đặc. Chống không nổi th́ họ chửi.
Về môn “chửi” nhất là “chửi Cộng
sản” th́ người Bắc thâm thúy, tinh ranh số một.
Họ chửi bằng vè, bằng thơ, bằng chuyện
tiếu lâm, bằng chuyện khôi hài “đen”... làm cho Cộng
sản tức điên người. Có lẽ người miền
Bắc và cả người miền Nam sau này, đều “giải
trí” bằng những chuyện khôi hài tiếu lâm để
chửi Cộng sản một cách sâu xa, cay độc. Hồ
Chí Minh khi c̣n sống đă ghét cay ghét đắng dân Bắc
Kỳ. Hồ và Giáp xua lính người Bắc đi trước
xung phong biển người cho chết hết. Người
khu Tư hay lính Tam Phủ Thanh Nghệ Tĩnh, phần nhiều
là đảng viên ṇng cốt của chế độ, th́
được đi sau để nhận công lao chiến
thắng.
Tất cả những lư lịch mà ông Nguyễn
Chí Thiện tự khai về ḿnh vẫn chỉ là một
chiều, và rất sơ sài, không thể kiểm chứng.
Ông Thiện nói vậy th́ chúng ta biết vậy. Nhưng
chúng ta có thể nhận định qua những lời khai
lư lịch của ông Thiện để phối kiểm, so
sánh với tŕnh độ và thời gian làm thơ của
Thi sĩ Vô Danh. Ta cũng có thể đọc “thơ” của
ông Nguyễn Chí Thiện, tập thơ Hoa Địa Ngục
tập số 2 hay là Giọt Máu Thơ th́ ta thấy quá tŕnh
quá khứ của ông Thiện rơ như ban ngày! Tập thơ này hoàn toàn đối nghịch
và khác hẳn với tập thơ Vô Đề của Thi
sĩ Vô Danh, thường được gọi là Hoa Địa
Ngục I, về lối làm thơ, về nội dung
thơ, về ư thơ, và về thủ đoạn xảo
trá bịp bợm trong thơ của cán bộ cộng sản.
Nếu ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm
1939 mà lại đậu Tú Tài (không nói rơ là toàn phần
nhưng nói “tốt nghiệp trung học và Tú Tài”) năm
1955 khi ông có 16 tuổi! Đây là một chuyện khá phi
lư v́ những ai có đi học trong giai đoạn này đều
hiểu rằng riêng năm 1946-1947 với chiến tranh chống
Pháp phát động, hầu như tất cả mọi
người đều mất ít nhất là một năm học.
Rồi đến năm 1954-1955. Việt Minh tiếp thu Hà
Nội và Hải Pḥng, mọi người lo di cư, lo
đủ thứ, các trường phần lớn giáo
sư, giáo viên di cư, học hành loạc choạc... làm sao
thi? Ông Nguyễn Chí Thiện có thể là thần đồng
nhưng thời đó không ai nghe thấy tên "thần
đồng Nguyễn Chí Thiện" mới 16 tuổi
đă "tốt nghiệp Trung học. Ông Thiện
cũng nói ông đậu “Tú Tài” nhưng ông Thiện
không biết rằng thời đó có những 2 bằng Tú
Tài, phần I và II, phải thi trong 2 năm đậu liền
mới đủ, mới có tên lên đại học. Nhiều
người đă phải thi nhiều lần trong nhiều
năm và vẫn “trượt vỏ chuối” đều
đều. Ông Thiện cũng không nói rơ thời gian từ
1945 đến 1955 ông ở đâu? Ông Thiện chỉ nói rằng
năm 1956, ông và gia đ́nh xuống Hải Pḥng cư ngụ.
Vậy th́ ông Thiện nên cho biết địa chỉ
cư ngụ ở Hà Nội và Hải Pḥng.
Có lẽ Cục Phản Gián toàn những
tay ít học, chẳng hiểu rằng có “hai phần” Tú Tài, phần I
và II, với tuổi tương xứng để thi đậu
(ít hất là 18, 19 hay 20, nên khi dàn dựng chuyện này đă
không tính đến vấn đề tuổi tác và cả Bắc
Kỳ hồi đó (1955) không có thí sinh Tú Tài nào, mới có 16
tuổi, lại đậu cả 2 phần Tú Tài vào năm
1955! Nếu tính mất đi một niên học năm
1946-1947 th́ ông Thiện quả là
“thần đồng” học và thi đậu Tú Tài Toàn
Phần năm 16 tuổi, bằng... tưởng tượng
của cán bộ phản gián dốt nát, vô học!
Một lư đoán khác về tác giả thơ
Vô Đề là vào năm 1980, khi cần phải có một
tác giả tập thơ Vô Đề “c̣n sống”, v́
nói chết rồi th́ thật khó ăn khó nói, nên Cục Phản
Gián đă chọn một cán bộ có tŕnh độ kha khá,
biết chút ít ngoại ngữ, đứng ra nhận ḿnh là
tác giả tập thơ. Sự “nhận vơ” như
vậy để tiện nhận quà, nhận giải
thưởng, thư từ cảm t́nh từ khắp thế
giới gửi về Hà Nội, mà không bị mang tiếng
“đă giết chết nhà thơ Vô Danh”, một nạn
nhân Cộng sản, đă được cả thế giới
ngưỡng mộ.
Một vài người và cán bộ đă
được phép “tiết lộ khéo” với hải
ngoại là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục
tên là như vậy và hiện đang sống và đang ở
“tù cùng với chúng tôi”. Bằng chứng là... ông này có
ngâm thơ Hoa Địa Ngục trong nhà tù Thanh Liệt!
Cũng do sự “t́nh cờ” ông “tác giả thơ Hoa Địa
Ngục” Nguyễn Chí Thiện cũng được
giam ở Thanh Liệt và “gần” pḥng giam ông Vơ Đại
Tôn, với các ông Trần Nhu, Minh Thi... Rồi cũng lại
“t́nh cờ” ông Trần Nhu và ông Minh Thi được
đi Mỹ và làm “chứng” rằng ông Nguyễn Chí
Thiện là tác giả tập thơ, c̣n sống, và đă ở
tù chung...
Nhờ ngâm thơ Vô Đề chống Cộng
“trong tù” mà nhận ra nhau là những “anh hùng, chiến
sĩ” văn nghệ, và nhận ra luôn cả Nguyễn
Chí Thiện là “tác giả” tập thơ Vô Đề,
trong khi chưa ai “khảo” về cái tài làm “thơ”
của ông Nguyễn Chí Thiện. Người Việt hải
ngoại vội đặt cho ông Thiện cái tên “ngục
sĩ” cũng khá đúng v́ ông tự nhận có những
27 năm trong tù (chưa kiểm chứng). Nhưng chưa
ai biết ông Thiện có tài làm thơ “thật” hay
không? Ông Thiện cũng kỹ càng chu đáo khi cố gắng
chụp ảnh chung với các tù nhân thứ thiệt, các tù
nhân biệt kích hoặc sĩ quan quốc gia trước
năm 1955, những cái tiểu xảo này làm sao che
được “sự thật” của một tập
bài viết quê mùa, ngớ ngẩn đầy khoe khoang của
một cán bộ công an cấp cao!
Nếu chỉ có vậy và “thi sĩ giả”
của tập thơ cứ ở yên miền Bắc cho
đến ngày nay th́ không sao, không ai cần để ư.
Nhưng Cục Phản Gián không ngờ sẽ có ngày người
Mỹ lại yêu cầu phải thả “tác giả tập
thơ” và cho đi Mỹ...
Mọi toan tính do đó phải chuyển sang
hướng khác: nên cho đi Mỹ hay không cho đi Mỹ?
Nếu “không” cho đi Mỹ th́ phiền v́ Mỹ có thể
lấy lư do đó mà cứng rắn vấn đề nhân
quyền, bang giao và tối huệ quốc. Vậy nên cho
đi Mỹ th́ có lợi hơn. Có thể dùng cái “uy tín”
tác giả tập thơ vào nhiều mục đích tuyên vận,
chính trị, thu hút người Việt hải ngoại,
được tiếng khen là tôn trọng nhân quyền, và
điều cần nhất có thể được người
Mỹ ban cho qui chế tối huệ quốc đáng giá
hàng trăm tỷ đôla và đó là sự sống c̣n của
toàn Đảng, toàn chế độ! Một vốn, một
ngh́n lời như vậy th́ ai mà không ham? Vả lại giữ
vị “thi sĩ rổm” này ở lại trong nước
cũng chẳng có lợi ǵ hơn. Đàng nào th́ “thi
sĩ thật” đă đi khai hội với giun và ngâm
thơ cho dế nghe từ lâu...!
Cục Phản Gián nghĩ rằng có thể
qua mặt người Mỹ dễ dàng! Cục Phản
Gián nghĩ rằng cứ gửi “thi sĩ thơ Hoa
Địa Ngục” ra hải ngoại là sẽ
được đủ thứ lợi lộc đáng giá
hàng trăm tỷ đôla mang về... Ngoài ra thi sĩ Hoa
Địa Ngục c̣n có thể hoạt động trong mục
đích tuyên vận, dân vận, lối kéo người hải
ngoại vào một khối “đ̣i nhân quyền”, “đ̣i
ḥa giải ḥa hợp với Vẹm”, đ̣i Cộng sản
“phải cho” dân chủ và nhân quyền... Như thế
mọi h́nh thức tranh đấu hay chiến đấu bạo
động nhằm tiêu diệt Cộng sản sẽ phải
nḥa, nhạt dần và hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Ư chí
cương quyết chiến đấu chống Cộng
cũng phai nhạt luôn. Người Mỹ tự nhiên sẽ
thấy “không c̣n ai” tích cực chiến đấu tiêu diệt
Cộng sản ở hải ngoại!
Nhưng Cục Phản Gián không ngờ đến
ván bài tháu cáy của người Mỹ đă “không” sửa
soạn gửi đại sứ hay cho qui chế tối huệ
quốc! Người Mỹ không cần biết ông Nguyễn
Chí Thiện là ai? Gốc gác ra sao? Và có phải là thi sĩ
“thật” của tập thơ Vô Đề (Hoa Địa
Ngục I) hay không? Chính khách Mỹ và KIA, FBI ở Hoa Thịnh
Đốn chẳng ai cần phải đọc hay ngâm thơ
Hoa Địa Ngục. Người Mỹ sửa soạn “trước”
để đưa ông Thiện ra trước Hạ Viện
điều trần về “tội không có nhân quyền”
của Cộng sản Hà Nội.
Người Mỹ chỉ cần biết ông
Nguyễn Chí Thiện đă “thể hiện” hay là bằng
chứng “sống” của một nạn nhân cộng sản,
đại diện cho toàn thể nạn nhân Cộng sản
tại Việt Nam, với 27 năm tù không xử án, không tội
t́nh ǵ rơ rệt. Ông Nguyễn Chí Thiện đă trở thành
bằng chứng hùng hồn nhất để “tố cáo
tội ác Cộng sản”. Ngày 8/11/1995, hay là chỉ 8 ngày
sau khi đến Hoa Kỳ, ông Thiện đă được
đưa ngay ra Hạ Viện Mỹ điều trần về
nhân quyền tại Việt Nam dưới chế độ
Cộng sản cùng với vợ Đoàn Viết Hoạt là
Trần Thị Thức, ông Trần Tử Thanh. Vơ văn Ái
và Lại Thế Hùng “tưởng bở” cũng bay từ
Pháp sang tham dự.
Nhưng Cộng sản Hà Nội và bọn
cán bộ tay sai không ngờ là cuộc điều trần
đă được xử dụng để mang lại
phản ứng ngược: không đại sứ và không
có qui chế tối huệ quốc. Gần một tháng sau,
ngày 6/12/1995, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ thông
qua dự luật HR4076 ngăn chận mọi ngân khoản
đài thọ lương ông đại sứ và tiền bạc
chi tiêu tại ṭa Đại Sứ
cao hơn mức hiện hữu.
Ta có thể phỏng định người
Mỹ đă biết tác giả Hoa Địa Ngục không
phải là người "thật", cũng
như mặt trái những tên cán bộ rêu rao nhân quyền ḥa giải ḥa hợp
bất bạo động, nhưng họ cứ xử dụng
theo đúng nhu cầu của họ. Xử dụng xong cho
đạt mục đích của họ rồi thôi... Họ
chẳng tốn tiền tốn công “xây dựng” c̣ mồi.
Họ mượn luôn c̣ mồi. Họ mượn luôn c̣ mồi
của Vẹm để đánh lại Vẹm cũng bằng...
nhân quyền! Dù sao th́ ông Nguyễn Chí Thiện và bản
điều trần của ông đă có “hại” cho Cộng
sản. Cộng sản tưởng cho ông Thiện đi Mỹ
là “được” qui chế tối huệ quốc.
Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Người
viết bài này đă từng viết bài “khen” ông Thiện về
cái điểm nhân quyền bất lợi cho Cộng sản.
Rồi một năm đă qua đi, đến cuối
năm 1996, vẫn chưa thấy tăm hơi ông đại
sứ Mỹ (Peterson) đến Hà Nội. Có lẽ phải
sang năm 1997 chăng? Mà giả thử có ông đại sứ
Mỹ th́ cũng không mấy hi vọng được quan
hệ kinh tế b́nh thường (danh từ mới của
qui chế tối huệ quốc) v́ từ cuối năm
1996 sang 1997... kinh tế của Việt Cộng đă thâm thủng
mậu dịch hơn 4 tỷ đôla và áp lực lạm
phát trở nên nặng nề...
* * *
Cuối năm 1956, khi Hồ Chí Minh phải “sửa
sai” về vụ đấu tố cải cách ruộng
đất đă giết khoảng nửa triệu người,
Bộ Chính Trị hội với Tố Hữu và Nguyễn
Đ́nh Thi bàn bạc nên mở cuộc thanh trừng văn
nghệ sĩ “bất măn” đă bắt đầu nhen
nhúm trong thơ văn của họ. Bắt chước
Trung Cộng trong chiến dịch “Trăm Hoa Đua Nở”,
Hồ và Việt Minh cũng đưa văn nghệ thi
sĩ vào trong cuộc “đấu tố” Văn Hóa bằng
cái bẫy “trăm hoa đua nở”. Các văn nghệ
sĩ “tha hồ” muốn viết ǵ th́ viết, muốn
phê b́nh cái ǵ th́ phê b́nh... Để rồi Cộng sản
dùng ngay những bài viết làm bằng chứng để
cho đi “cải tạo”.
Sau này người ta gọi vụ “đấu
tố văn hóa” thanh lọc văn nghệ sĩ do bọn
văn nô phản gián Tố Hữu, Nguyễn Đ́nh Thi,
Xuân Thủy, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... chủ
trương là vụ “Nhân Văn Giai Phẩm”...
V́ Thi sĩ Vô Danh làm
thơ chế diễu, lôi bộ mặt thật đểu
cáng và tàn bạo của tập đoàn Hồ Chí Minh nên chúng
tức điên người. Chúng không giết ông, nhưng
cho giam để hành hạ ông cho bơ ghét, cho đến khi
ông Vô Danh “phải mềm nhũn cả tư
tưởng lẫn thể xác” và phải cúi đầu
van lạy, cam chịu với sự hối hận, tự
phê, phản tỉnh! Bài thơ này tả Cộng sản:
Gian manh, tàn ác, đê hèn...
Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân
đen,
để gọi chúng người ta không
đủ chữ!
Ta thấy Thi sĩ Vô Danh
hiểu rằng trong t́nh cảnh tuyệt vọng của
ông, chỉ có cái chết là lối thoát duy nhất. Dù
được ra khỏi tù, ông vẫn bị quản chế
như tù giam lỏng, tên tuổi vào sổ đen, có thể
bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thật không có
cái chế độ nào trên thế giới tàn ác như Việt
Cộng. Chúng giam tù đày đọa người Việt
không cần phải có tội, cũng không cần luật
pháp xét xử. Nạn nhân sau khi được “thả”,
thả chứ không “tha”, vẫn bị “quản lư và
quản thúc tại gia”, vẫn bị ly cách và phân biệt
đối xử với xă hội quanh ḿnh, sống trong hồi
hộp lo sợ thường xuyên v́ có thể bị bắt
lại bất cứ lúc nào. Sự hồi hộp, lo sợ,
phập phồng cùng với sự xa lánh của người
trong xóm, người thân, v́ không ai dám tṛ chuyện thăm hỏi
ḿnh, làm cho nạn nhân bị căng thẳng thần kinh,
tâm năo, đến mức chỉ có cái chết mới ra khỏi
các cực h́nh về mọi mặt, cả vật chất
lẫn tinh thần.
Thi sĩ Vô Danh nói rất
đúng v́ không có chữ ǵ có thể diễn đạt rơ
ràng đầy đủ về sự tàn ác “không tên”
và “vô h́nh” của Cộng sản. Ta có thể nói rằng
Thi sĩ Vô Danh cũng như hàng triệu nạn nhân Cộng
sản khác đă bị cả một guồng máy công quyền
khổng lồ, guồng máy công an và chính phủ, (thay v́ phục
vụ nhân dân), đă đè nặng trên mỗi người
dân và nghiến nát họ tới mức họ phải t́m
cái chết mới có sự giải thoát!
Tác giả có một người quen, v́ “dễ
tính” nên đă ở lại Hà Nội năm 1955, không
đi di cư vào Nam. Anh này th́ Tú Tài I bảy lần, đến
lần thứ 7, năm 1954 mới đậu. Anh ta cho rằng
“nhờ” cụ Hồ và Việt Minh “thắng” nên anh
ta mới có vận may, nên quyết định không di
cư. Sau này anh ta kể lại, v́ cái bằng Tú Tài nên bị
coi là thành phần “trí thức”, bị đưa về
một làng nghèo khổ để bị quản chế tại
đó trong 8 năm trời, để lao động, nuôi lợn,
nuôi gà, chăn ḅ, sống chung với ḅ, lợn qua ngày. Cộng
sản gọi đó là “tam cùng”, cùng ăn cùng làm, cùng ở
với bần cố nông để giáo dục “cải tạo”
anh ta. Dù anh ta có thiện chí theo Việt Minh, quá tŕnh học
lực Tú Tài đă khiến cho anh ta bị liệt vào thành
phần “trí, phú, địa, hào” và cần phải
được quản lư, lao động cải tạo.
Nguyễn Tuân trước khi chết đă phải
nói: “Tôi được sống đến ngày nay là do tôi
biết sợ..., biết sợ cả cái bóng của tôi!”
Chỉ một câu này đủ nói lên sự kinh hoàng của
tất cả mọi người dân đối với chế
độ khủng bố công an trị cộng sản!
Thi sĩ Vô Danh có thể bị
tù vào năm 1957 hay 1958 trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm,
cùng với những người khác như Phan Khôi, Trần
Dần và hàng trăm người ít tên tuổi hơn... Rồi
ông được ra tù, không biết vào năm nào. Ra tù, Thi
sĩ Vô Danh bị quản chế tại nhà, một căn
gác nhỏ vùng Hà Nội, có một cha già đă ở tuổi
hưu trí và mẹ ông, hai mắt đă ḷa, v́ cao tuổi, v́
khóc lóc ngày đêm thương nhớ, lo lắng cho đứa
con độc nhất. Thi sĩ Vô Danh ra tù rồi bị bắt
lại, tù lại, cứ như vậy trong 20 năm...
Bài thơ Thư Nhà tả
cảnh cha mẹ ông trông ngóng đứa con độc nhất
đang bị tù:
Mẹ, thầy mong tin con quá
Thầy kể qua cho con rơ cảnh nhà
Mẹ bây giờ hai mắt như ḷa
Hôm sớm trong nhà quanh quẩn!
Thầy gần như lẩn thẩn
Bước đi đờ đẫn run
chân
Viết phong thư phải nghĩ tới
dăm (năm) lần
Mong con về đỡ đần chăm
sóc!
Nghĩ tới con, mẹ thầy lại
khóc
Không biết con c̣n ở nơi trại
cũ
Mẹ vẫn nguyện cầu
Nhận được thư này con liệu
Ôi, xưa cũng v́ con c̣n trẻ dại
Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải
Như vậy, ta có thể
ước lượng vào năm 1967, cha Thi sĩ Vô Danh
đă khoảng tuổi hưu trí, trên hay dưới 65, và
Thi sĩ Vô Danh ở khoảng tuổi trên 40. (Ông Thiện
lúc này mới có 28 tuổi). Mẹ Thi
sĩ Vô Danh đă bắt đầu ḷa và bà cụ mất
khoảng 3 năm sau (1970) khi viết lá thư này. Nếu
ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ lâu th́ đến năm
1979, khi ông đưa tập thơ vào ṭa đại sứ
Anh, th́ ông đă mỏi ṃn, kiệt sức, kiệt quệ
tới mức tận cùng.
Coi bài thơ, ta
thấy gia đ́nh song thân Thi sĩ Vô Danh chỉ có một
đứa con duy nhất và đă bị tù, không có
người hầu hạ săn sóc. Song thân ông đă
chỉ mong Thi sĩ Vô Danh “phấn đấu học
tập tốt, thi đua lao động tốt” để
mau được về với gia đ́nh, hi vọng
được gặp con trước khi chết. Cái lo
của Thi sĩ Vô Danh và song thân ông là làm sao có thuốc
chữa lao Rimifon và được thả về với cha
mẹ sớm, không phải lo rằng không có giấy
vệ sinh!
Một bài thơ khác, Thi
sĩ Vô Danh ở trong tù thương nhớ cha mẹ và ân
hận thân ḿnh bị tù không được sống gần
cha mẹ. Bài thơ này cũng chứng tỏ ông là “con một”.
Gia đ́nh bé nhỏ của Thi sĩ Vô Danh là một gia
đ́nh đạo đức, phúc đức. Có lẽ nhờ
phúc đức lớn này mà Thi sĩ Vô Danh được
sinh ra để chịu đọa đày chung với toàn
dân tộc, để có thể, từ cảnh đọa
đày này, làm nên những vần thơ kỳ diệu tố
cáo tội ác Cộng sản cho nhân thế, cho nhân loại
và cho lịch sử ngàn đời sau. Nhiệm vụ xong,
sứ mệnh cuối cùng của ông là đưa tập
thơ vào ṭa đại sứ Anh, xong rồi ông chờ cái
chết đến càng nhanh càng tốt, để chấm dứt
cuộc đời cô đơn, v́ song thân của ông đă
mất, trầm luân bệnh hoạn và tuyệt vọng,
trong và ngoài ngục tù Cộng sản.
Bài thơ nhiều đoạn
dưới đây tả nỗi ḷng ông mong nhớ song thân.
Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp
Chiếc áo hoa hiên cũ đă bạc màu
Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái!
Đời của tôi nhiều khổ
đau oan trái
Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện
cho tôi,
Hàng nước mắt chảy gịng trên má mẹ!
Ngồi bên mẹ, tôi thấy ḿnh nhỏ bé
T́nh thương yêu của mẹ lớn
bao nhiêu?
Mẹ ơi, con ḷng chỉ nguyện một
điều:
Một bài thơ
khác năm 1968 Thi sĩ Vô Danh tả về song thân ông, mà ông
không biết ra sao, c̣n hay mất?:
Có người cha quá già, quá yếu!
Có người con bất hiếu là tôi,
hết tù lại tội!
Bệnh ốm không nuôi nổi thân ḿnh...
Ôi người mẹ nặng t́nh yêu dấu!
C̣n hay mất?
Ngày con đầy bụi đất trở
về căn gác!
Lá rụng xào xạc canh khuya...
Bóng cha già gầy guộc đứng kia...
Phất trần nhẹ đưa, lặng
lẽ...
Trên b́a sách bụi bàn con
Bóng mẹ già sầu muộn héo hon
Quờ tay rờ mó nạm tóc củ gừng
đánh gió lưng con!
Chiều âm thầm lạnh tắt trên
non...
Không c̣n được nữa,
Những t́nh xưa thương mến vô
vàn!
Gió núi mưa ngàn, lạnh buốt
Rau rừng ngoạm nuốt thân trâu,
Kiếp sống về đâu?
Bốn phía sậy lau một màu hoang xám
Đi về những đám tang câm
Chết chóc âm thầm...
Xoay vần thuở trước xa xăm!
Mịt mù trời đất tối tăm
Mẹ thầy sống được bao
năm trên đời?
Đến năm 1970, Thi sĩ Vô Danh ở
trong tù, nghe tin mẹ ông đă chết:
Mẹ ơi! Mẹ đă mất rồi!
Trái đất không c̣n có mẹ !
Mẹ chẳng bao giờ c̣n thấy mặt
con...
Con chẳng cần ra tù nữa
Mẹ già của Thi sĩ
Vô Danh, hai mắt đă ḷa, vẫn c̣n hi vọng được
thấy người con trở về để “nh́n” mặt.
Nhưng bà đă không được thấy mặt con khi
ĺa đời. Thi sĩ Vô Danh nghĩ rằng nếu cha ông
cũng chết th́ đời ông sẽ hết cả lẽ
sống và có lẽ ông không cần ra tù nữa. Sự kiện
thấy hay không thấy mặt nhau trước khi một
người thân chết đă trở thành bi thảm, đă
trở thành thể hiện của tội ác bạo tàn cộng
sản. Thi sĩ Vô Danh cũng hiểu là cho đến khi
ông chết, sự kiện không được thấy mặt
Mẹ ông lần chót, và Bà không được thấy mặt
con khi bà ĺa đời, đă trở thành một mối hận
ngàn thu!
Năm 1976, Thi sĩ Vô Danh
lại khăn gói vào tù lần nữa, nhưng lần này
song thân ông đă mất, chẳng c̣n ai trông mong ông trở về.
Bài thơ dưới đây tóm tắt cảnh đi tù ngày
trước khi cha mẹ ông c̣n sống, cho đến khi
hai người đă khuất, và ông cứ vẫn tiếp
tục vào tù...
Ḷng vẫn nhớ làm sao cái ngày lạnh
đói!
Hành trang một gói lên đường,
Giữa quăng đêm trường rời bỏ
quê hương,
Rời bỏ gia đ́nh, t́nh thương
đứt ruột!
Thôi rồi, đời đi suốt từ
đây!
Vĩnh biệt từ đây!
Thi sĩ Vô Danh chua sót v́
trong cảnh tù tội, lẽ sống của ông là cha mẹ
già, và hi vọng một ngày nào đó được ra khỏi
tù trở về thăm cha mẹ. Trong cuộc sống
đen tối và tuyệt vọng trong ngục tù, ông khóc và cầu
xin Trời Đất cho ông một niềm vui cuối cùng
là một mùa Xuân nào đó ông được ra khỏi tù,
không phải v́ mừng được tự do, mà vui v́
được gặp lại cha mẹ đă quá già yếu,
có thể ĺa đời trước khi ông được
thả! Nhưng cha mẹ ông đă chết trước khi
ông được thả. Để rồi lần sau bị
bắt tù lại, ông không c̣n cha mẹ để trông ngóng
ngày đúa con tù tội trở về!
Ông Nguyễn Chí Thiện oai hơn nhiều.
Ông Thiện “nói rằng” trước khi đi Mỹ,
ông có đến thăm mộ cha mẹ và “thề” rằng
sẽ “chiến đấu” chống Cộng sản
đến cùng. Nhưng khi mới đến Hoa Kỳ ngày
1/1/1995, tại sân bay San Francisco, ông Thiện tuyên bố với
cô phóng viên Đỗ Mùi khi được hỏi: “Ông sẽ
làm ǵ khi ông đến Hoa Kỳ? Dự định của
ông là ǵ?”
Đáp: “Việc đầu tiên của tôi là
chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh rồi, công việc
phải thực hiện ngay là tiếp tục chống
lại cái ác. Tôi không hận thù ai, nhưng tôi cho là
công lư chống lại tội ác là nhiệm vụ con người
phải làm.”
(Trong những dịp ra mắt khác tại San
José và quận Cam, ông Thiện luôn luôn nhắc lại rằng
ông chỉ chống cái ác, mà không đả động ǵ
đến “chống Cộng” hay “chiến đấu
chống Cộng”. Ông Thiện cũng không chống
Cộng dù Cộng sản đă bỏ “tù” ông những
27 năm. Ông Thiện Không căm thù Cộng sản, Không
chống Cộng, th́ có lẽ ông Thiện chưa bao giờ
ở tù Cộng sản! Ông Thiện chơi chữ với
ngụ ư hễ Cộng sản “hết ác” th́ chúng là người
“thiện”, thành người quốc gia và người Việt
hải ngoại nên ḥa hợp đoàn kết hợp tác với
chúng. Một ngụ ư khác, nếu ông Thiện là công an th́ nghề
của ông là “chống tội ác”. Trong chế độ Cộng
sản, hễ chống Cộng hay chửi Cộng, cũng
đủ là “tội ác” rồi!)
“Tôi làm với khả năng của tôi.
Người ta cứ bảo chúng ta đừng nên dùng bạo
lực. Nhưng lấy đâu ra bạo lực mà dùng?
Cứ bảo là chúng ta nên ḥa hợp trong lúc họ cưỡi
lên đầu tôi, mà tôi là kẻ nằm dưới. Họ
nằm trên vỗ xuống mà cứ nói chuyện ḥa hợp.
Muốn ḥa hợp th́ hai người phải ngồi ngang
nói chuyện... Họ đang cưỡi trên cổ tôi, bịt
mồm tôi, nhét tai tôi, th́ làm sao nói chuyện ḥa hợp
được?”
Cô Đỗ Mùi hỏi: “Hiện nay ông bị
bệnh lao phải không?”
Đáp: “Không, tôi không bị ho lao. Tôi chỉ
bị thần kinh suy yếu, yếu thần kinh và không
ăn không ngủ được. V́ vậy tôi rất yếu.”
Ngày 19/11/1995, tại trung tâm Eden, thành phố
Falls Church, Virginia, ông Thiện họp mặt với hơn
150 văn thi hữu kư giả và chủ tịch các hội
đoàn để chào mừng nhà thơ “bất khuất”!
Ông Thiện đă
được đón tiếp bằng những tràng pháo tay
khi vừa xuất hiện nơi cửa vào. Ông Chử Bá
Anh, chủ tịch Hội Báo Chí đă đưa ông đến
từng bàn để chào và cảm tạ từng
người. Sau bài nói chuyện và trả lời các câu
hỏi, kư giả Thái Phong nhận định rằng
Nguyễn Chí Thiện không những là một thi sĩ mà c̣n
là một nhà hùng biện.
Cụ Phạm Ngọc Lũy nói rằng Nguyễn
Chí Thiện là một con người đầy can đảm.
Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng: Đây là một người
có thực tài. Nhà báo Nguyễn Việt Quang: Nay người
Việt Hải Ngoại đă có được biểu
tượng. Hội Y Sĩ Việt Nam xin cử bác sĩ
săn sóc sức khỏe cho cựu tù nhân Nguyễn Chí Thiện.
Cựu đề đốc Đinh Mạnh Hùng: Chúng ta có
trách nhiệm giúp Nguyễn Chí Thiện tiếp tục con
đường anh đă đi. Nhà văn Sơn Tùng, chủ
tịch Văn Bút Miền Đông: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện
góp sinh khí mới vào giới cầm bút hải ngoại. Nhà
phê b́nh Trương Vũ: Nguyễn Chí Thiện (là) con
người chân t́nh. Nhà văn Cao Thế Dung: Trước
đây tôi hoài nghi, nhưng hôm nay đúng là thật. Đại
tá Nguyễn Cao Quyền, chủ tịch Hội Tù Nhân Chính
Trị: Chúng tôi sẽ lo cho anh Thiện...” Đài VOA: Thi
sĩ Nguyễn Chí Thiện là thiên tài c̣n sống của Việt
Nam...
Các vị trên đây phát biểu quá sớm. Có
lẽ không mấy người sinh sống đă lâu ở
Hoa Kỳ hiểu mưu mô thâm độc của Cộng sản.
Có lẽ họ chưa có dịp so sánh hai loại thơ
khác nhau của hai tập, tập thơ Vô Đề và tập
Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Nhưng từ
lúc xuất bản tập thơ số 2, Hạt Máu Thơ,
tháng 4.1996, đến nay, h́nh như chưa có vị nào “dám
khen” “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện. Cũng không
ai có th́ giờ “so sánh” tính chất và loại thơ của
hai tập thơ. Có lẽ không mấy người có th́ giờ
đọc thơ chăng? Cũng có thể nhiều người
đă đọc tập “Hạt Máu Thơ” và đă thấy
cái ǵ thum thủm, đă biết, nhưng né tránh v́ chính họ
đă nặn lên thần tượng th́ làm sao nói ngược
lại, dù là nói lên sự thật?
Cũng trong ngày 19/11/1995, ông Thiện phát biểu
một câu rất hay, có thể nói là tự đáy ḷng ông thốt
ra. Chính câu này (đoạn đầu) đă làm cho nhiều
người kể cả người viết bài này, có cảm
t́nh với “cá nhân” ông Thiện. Tuy ông Thiện vẫn trân trọng
gọi Hồ Chí Minh là "ông Hồ, bác Hồ", có lẽ
do thói quen chăng, nhưng thi sĩ Vô Danh thẳng tay gọi
Hồ là "nó", là "quỷ, ma, thú dữ, đồ
chó đẻ, gian manh, tàn ác, đê hèn...".
Ông Thiện nói:
“... Tôi có một điều day dứt mà bấy
lâu không bộc lộ được là có một số
người nói chuyện ḥa hợp, ḥa giải với Cộng
sản, tức là ḥa hợp, ḥa giải dân tộc. Tṛ này
th́ Cộng sản đă nói từ năm 1945. Từ năm
1945, Hồ Chí Minh đă hô hào ḥa hợp, ḥa giải. Ông Hồ
kêu gọi các nhà tư sản có tiền th́ giúp tiền, có
vàng th́ góp vàng. Các điền chủ phú nông có lúa, có ruộng
th́ giúp vào để kháng chiến. Tất cả cùng đứng
lên đánh Pháp, nhưng sau đó tư sản và địa
chủ đều bị thanh toán, họ chết dần ṃn
trong ngục tù, tài sản ruộng đất th́ bị
tước đoạt. Trong suốt quá tŕnh 50 năm qua
lúc nào người Cộng sản cũng kêu gọi ḥa hợp
ḥa giải, nhưng trên thực tế th́ họ chẳng có
ḥa hợp ḥa giải với ai cả! Điều này th́ chắc
các bạn đă đều biết rất rơ. Nhưng tôi
phân vân, không hiểu tại sao có một số người
Việt ở hải ngoại lại đi hô hào cho việc
ḥa hợp ḥa giải?”
Đó là đoạn đầu. Đoạn
tiếp theo th́ khác hẳn:
“Về bản chất th́ Cộng sản
không bao giờ có thể ḥa hợp với chúng ta được.
V́ điều kiện đầu tiên để ḥa hợp
là phải b́nh đẳng. B́nh đẳng có nghĩa là phải
đa nguyên đa đảng, cùng nhau bàn luận chuyện
xây dựng đất nước. Chỉ khi nào Cộng
sản chấp thuận dân chủ đa nguyên th́ chúng ta mới
có thể bỏ qua những tội ác của họ và mới
có thể nói đến chuyện ḥa hợp, chung lưng
chung sức xây dựng lại đất nước Việt
Nam chúng ta.”
(Ông Thiện ở trên th́ nói không thể ḥa hợp
với Cộng sản. Đoạn tiếp theo th́ ông Thiện
đă quay sang hướng khác, là nếu Cộng sản chấp
nhận b́nh đẳng, dân chủ, đa nguyên đa đảng
th́ “chúng ta mới có thể bỏ qua tội ác của họ
(Cộng sản)” và mới có thể nói đến chuyện
ḥa hợp, chung lưng chung sức (với Cộng sản)
xây dựng lại đất nước Việt Nam).
Vào cuối tháng 11/1995, người viết
bài này nghe tin mặt trận
(KC) ma tổ chức cho ông Thiện đi qua California,
Texas để ra mắt th́ vấn đề nghi ngờ ông
Thiện “không phải” là Thi Sĩ
Vô Danh tác giả tập thơ Vô Đề được
đặt ra. Sự nghi ngờ bắt đầu ngay khi
ông Thiện trả lời rằng “không có bệnh lao”
nhưng phải đến khi mặt trận kháng chiến
quốc doanh tổ chức và “bao vây lối độc quyền”
ông Thiện th́ được đặt thành vấn đề.
V́ có nhiều kinh nghiệm với các thủ đoạn bịp
bợm của Cộng sản, nên người viết hiểu
rằng Cộng sản lại bịp nữa.
Giả thuyết Cộng sản cho cán bộ
phản gián cấp tướng làm thi sĩ “giả” đi
Mỹ sau khi đă được huấn luyện kỹ
càng về cách thức nói chuyện, diễn thuyết, kể
cả học năm ba câu tiếng Anh, tiếng Pháp, với
một tập “thơ quốc doanh” do cán bộ nhà nước
làm sẵn để làm “vốn”... là chuyện vẫn có thể
xảy ra. Có điều cán bộ phản gián làm việc cẩu
thả dốt nát, và sơ hở hớ hênh rất nhiều.
Người ta chỉ cần nhẩn nha chờ đợi
khoảng một năm sau là ḷi đuôi Vịt Vẹm ra cả
lũ.
Cộng sản “đương nhiên” phải
tạo dựng một người khác thay thế để
khỏi mang tiếng ác và nếu có dịp, làm món quà trao
đổi. Dịp may đă đến khi đại tá
Matsuoka bảo lănh cho ông Thiện với sự trợ giúp của
mặt trận ma ở phía bên kia. Ta nên lưu ư, mặt
trận ma đă gửi cho ông Thiện khoảng 4 ngàn
đôla (8 lạng vàng) ngay khi ông Thiện c̣n ở Hải
Pḥng, chưa đi Mỹ.
Lư do ông Thiện bị bao vây, canh gác và “bảo
vệ” kỹ lưỡng v́ lư do kinh nghiệm trong quá khứ,
nhiều văn nghệ sĩ hay thành phần thứ ba, cựu
công chức, quân nhân VNCH, đă bị “cài” hoặc bắt
phải kư giấy cam kết, trước khi cho đi Hoa Kỳ,
hoạt động tuyên vận, địch vận, dân vận,
phản gián..., phần lớn đă đến thẳng
cơ quan FBI hoặc các cơ
quan Mỹ khác để khai báo rơ rệt mọi âm mưu của
Cộng sản. Một số lớn đă thoát hẵn ra
ngoài ṿng kiềm tỏa của Cộng sản. Một số
nhỏ trở thành mật báo viên cho FBI về các chỉ thị,
tin tức hoạt động Cộng sản tại Bắc
Mỹ Châu. Do đó ông Thiện bị bao vây kỹ càng để
không có dịp tiết lộ bí mật chăng? Có người
“lo lắng” nơi ăn, chốn ở, lịch tŕnh
đi các nơi và tổ chức hoạt động nói chuyện,
diễn thuyết theo đúng kiểu... rèn cán chỉnh quân,
xách động quần chúng của Cộng sản!
Ngay sau khi đài BBC đọc
những bài thơ Vô Đề th́ ở vùng Hà Nội
người dân biết ngay là thi sĩ Vô Danh đă chết.
Rồi sau đó, năm 1980 hay 1981, tự nhiên "mọc
ra" câu chuyện Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập
thơ nổi tiếng và bất hủ đó. Người
“bạn tù” của ông Nguyễn Chí Thiện là ông Trần
Nhu được ra khỏi tù và “đi lọt” qua Mỹ
xác nhận như vậy. Rồi sau này đến ông
Minh Thi cũng cùng một luận điệu. Dĩ nhiên
chẳng ai có thể kiểm chứng sự “thành thật”
và quá khứ của các ông Trần Nhu và Minh Thi. Rồi câu
chuyện xoay quanh vấn đề ông Thiện là “thật
hay giả?”, không phải vấn đề ông Thiện
là “thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề hay
mạo nhận?”
Ông Nguyễn Chí Thiện bằng xương
bằng thịt th́ chắc chắn là người “thật”
rồi, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939, nhưng tại Hải
Pḥng hay Hà Nội th́ cũng khó kiểm chứng. Nhưng
“có thiệt” ông Thiện là tác giả tập thơ Vô
Đề hay không th́ lại là chuyện khác. Mọi người
bị “lái” ra ngoài vấn đề: Ai là “tác giả
thật” của tập thơ Vô Đề?
Người viết bài này hiểu rằng nếu
ông Thiện “không làm thơ” nữa th́ có lẽ khó t́m
hiểu. Nhưng ông Thiện, hay là Cục Phản Gián Hà Nội?,
làm... “thơ” th́ thật là dễ kiểm chứng. Kết
quả là sau khi đọc vài bài trong tập thơ Hoa Địa
Ngục tập 2 hay là “Hạt Máu Thơ” của ông Nguyễn
Chí Thiện th́ mọi người thất vọng hoàn toàn.
Thơ kiểu con cóc, kiểu Thạch Sanh Lư Thông, Tam Quốc
Chí, kiểu ngắt câu xuống gịng, kiểu thơ 3 chữ,
kiểu sớ Táo Quân, sặc mùi cán ngố tam đại bần
cố nông th́ làm sao có thể là tác giả tập thơ Vô
Đề nổi danh thế giới? Làm sao qua mặt
được người hải ngoại với tŕnh
độ hiểu biết cao hơn ông Thiện rất nhiều?
So sánh hai tập thơ ta thấy ngay là có hai con người,
hai thi sĩ, khác nhau hoàn toàn.
Nếu thật ông Thiện đă được
mặt trận KC ma nuôi dưỡng bao bọc ngay từ hồi
c̣n ở Hải Pḥng và lo lắng (cùng với đại tá
Matsuoka) giấy tờ cho đi Mỹ th́ ông Thiện phải
được mặt trận KC ma xử dụng làm “ṇng
cốt chính trị” cho riêng họ trong những mục
đích khá tối tăm, xanh vỏ đỏ ḷng, của họ.
Tự nhiên ông Thiện bị họ bao vây thật kỹ,
không có tự do, đi đứng. Các vụ tổ chức
nói chuyện, và đường lối chính trị của
ông Thiện đều có người bố trí, tổ chức,
điều hành, điều khiển chu đáo.
Tuy nhiên mề đay nào cũng có mặt trái.
Nhiều người trong tổ chức kháng chiến có lẽ
hiểu biết mặt trái của mề đay, hay là sự
thật, đă không ưa một cán bộ từ trong nước
nhảy ra làm ṇng cốt chính trị hay là lănh tụ chính trị
của họ. Dĩ nhiên đó la chuyện nội bộ của
mặt trận, không cần bàn ở đây. Một điểm
khác khá quan trọng là người Mỹ đă biết rơ
tung tích, lư lịch, của ông Thiện (do nhân viên phản
gián cung cấp?) ngay từ trước khi ông Thiện
đi Mỹ. Nhưng họ mặc kệ để xử
dụng trong chiến lược “đánh lạc hướng”
Cộng sản Hà Nội. Cộng sản tưởng rằng
“thành công” trong kế hoạch bịp bợm của
chúng. Nhưng sau này mới tiết lộ rơ rệt ai là kẻ
thắng sau cùng!
Để so sánh với Thi
sĩ Vô Danh không có anh em, chỉ có một cha và một mẹ
già, ông Nguyễn Chí Thiện có những “bốn chị
em ḿnh”. Ông Nguyễn Chí Thiện không nói rơ một người
chị và một người em là những ai, để có
thể phối kiểm. Ông Thiện đă “không” đọc kỹ thơ Vô Đề của
Thi sĩ Vô Danh nên “không biết” là Thi sĩ Vô Danh độc
thân, đă nhiều tuổi, và là con một của hai
người mà nếu họ c̣n sống cho đến nam
nay th́ phải trên dưới 90 tuổi! Ông Thiện
cũng có một người anh ở Hoa Kỳ là cựu
sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa. Dĩ nhiên ông anh này, nếu
di cư năm 1954, th́ có thể tính rơ tŕnh độ học
vấn của ông Thiện vào năm 1954, 1955 ra sao?
Ba chục năm trời không thấy mặt
nhau
Non nước chia đôi, rồi tù lao
thăm thẳm
Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm
Gặp nhau anh chị em ḿnh sẽ khóc
Ông Thiện quả có nhiều phúc đức,
có anh chị em đông đúc, bạn bè cũng đông, có
người làm chứng cho là “thật” với đồng
bào hải ngoại, lại có bà chị quư hóa thăm nuôi
đều đều, nên dù đă ở “tù” 27
năm mà ông vẫn mạnh hù, diễn thuyết hùng biện
thao thao bất tuyệt trong nhiều giờ đồng hồ
mà không mệt mỏi, vẫn đầy vẻ
cương quyết, sắt đá, và tới mức sắt
máu, chứng tỏ tinh thần bất khuất và vô cùng
trung kiên của ông. Ta nhất định thắng, địch
nhất định thua, là vậy! Trách nhiệm khó khăn
nào cũng phải hoàn tất, nhiệm vụ khó khăn nào
cũng phải xong, cản trở khó khăn nào cũng phải
vượt qua, và phải lập thành tích dâng lên... bố mẹ!
Ông Nguyễn Chí Thiện ở... “tù” 27
năm mà cũng có t́nh tứ kiểu “trăng sáng vườn
chè”, một cách ướt át ra phết:
Ta gặp lại nhau, t́nh xưa lai láng
Dù màn sương xưa, ngây ngất tuyệt
vời
(Nguyễn
Chí Thiện - Hạt Máu Thơ)
Ông Nguyễn Chí Thiện ở “tù” quả
sướng hơn Thi sĩ Vô Danh. V́ chẳng thấy ông
Thiện tả cái khổ, cái ác, cái hành hạ, cái đói
rét, cực h́nh trong tù. Ông Thiện được người
chị hiền thăm nuôi đều đều và chỉ
mong sẽ có ngày được ăn cơm đoàn tụ
với nhau...
Một giả thuyết cho rằng ông Nguyễn
Chí Thiện cũng ở... tù, nhưng với trách nhiệm
“coi tù” th́ đúng hơn. V́ là “coi tù” nên ông
đă “đánh hơi” thấy tù nhân quá hôi hám v́ dơ bẩn,
v́ “không có” giấy vệ sinh nên sống như trâu chó, chứ
không phải tại công an Cộng sản đầy đọa
nên mới dơ dáy, hôi hám, bẩn thỉu như vậy.
Tiện
đây xin nhắc ông Nguyễn Chí Thiện biết rằng
ngoại trừ giai cấp lănh đạo Cộng sản
và cả ông Nguyễn Chí Thiện nữa, gần như “tất
cả” miền Bắc, từ năm 1940... đến 1996
cũng chưa ai nh́n thấy mặt mũi cuộn giấy
vệ sinh nó ra làm sao! Hầu hết dân miền Bắc
và toàn thể bộ đội công an Cộng sản, mỗi
người chỉ dùng cái... que. Cao hơn nữa hay thuận
tiện th́ dùng lá. V́ vậy mỗi khi họ phải dùng que
hay lá, th́ họ thích chửi “bác Hồ” của ông Thiện
là đồ lănh tụ “ba que sỏ lá”. Năm 1975, sau
khi giam giữ sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa, bộ đội
hỏi họ cần mua ǵ th́ chúng mua dùm. Một vài người
nhờ chúng mua “giấy cuộn mỏng” v́ nếu nói là giấy
vệ sinh chùi đ. th́ chúng không hiểu.
Nhưng sau này có người bảo chúng biết
rằng giấy cuộn để làm ǵ. Chúng tức quá chửi:
“Chúng tao thắng mà lại phải đi mua giấy chùi
đ. cho chúng mày à?”
Một bằng chứng về tài nghệ “bắt
tù, c̣ng tù, coi tù” của ông Thiện đă được
ông biểu diễn hào hứng và xúc động!
Sau khi hai nghệ sĩ Hoàng Kim và Quỳnh
Như ngâm nhiều bài thơ Vô Đề mà người ta
đặt tên là thơ... Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa
Ngục I, th́ thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đă “bất
ngờ đứng lên”, không phải để nổi hứng
ngâm thơ hay làm thơ, xuất khẩu thành thơ. Thi
sĩ Nguyễn Chí Thiện bất ngờ đứng lên biểu
diễn cho cử tọa cảnh “Khóa Cánh Tiên” tức là cách
công an giám thị c̣ng tù nhân để buộc tù nhân phải
khuất phục. Đó là kiểu “c̣ng ác độc”, c̣ng
ngược hai tay ra sau, và treo ngược lên, làm người
tù đau đớn, trung b́nh chỉ chịu đựng nổi
hai phút. Ông Thiện nói đă một lần ông chịu
được nửa giờ, sau đó mồ hôi đầu
và mặt ông chảy xuống hàm râu ông, rơi xuống
đất từng hạt! Ông nói có hai lư do mà ông chịu nổi
lâu hơn người khác, một là sức mạnh tinh thần,
và hai là thân thể ông “mỏng” nên c̣ng không xiết vào da thịt
ông “gay” như anh em khác.
Không một người tù nào “biết
được” cách thức c̣ng kiểu “khóa Cánh Tiên”
của công an Cộng sản. Lẽ giản dị là họ
không được học khóa huấn luyện bắt
người và c̣ng người, c̣ng “kiểu nào” để
cho họ bị đau khổ nhiều nhất. Có lẽ
không người tù cộng sản nào, kể cả thi
sĩ Vô Danh, c̣n bụng dạ nào muốn t́m hiểu xem Cộng
sản c̣ng theo kiểu cách nào mà đau đớn đến
thế, để làm kiến nghị phản kháng kiểu
Đoàn Viết Hoạt hay Hà Sĩ Phu... Cái này th́ chính là
người Mỹ chế tạo ra c̣ng cũng phải thua
các đồng chí Cộng sản. Ông Thiện trước
cử tọa muốn trổ tài để cho họ phục
lăn, phục lác mắt. “Tay nghề” của ông chẳng
có ǵ đặc biệt đáng chú ư hơn cái vụ thơ
“con cóc”, thơ kiểu “sớ táo quân”, th́ ông
đành biểu diễn, bột phát và đột xuất,
cái vụ c̣ng “kiểu cánh tiên”! Kinh nghiệm “chảy mồ
hôi” mà ông Thiện nói th́ có vẻ là những người
tù, nạn nhân của ông Thiện, đă bị ông Thiện
c̣ng tay th́ đúng hơn.
Thi sĩ Vô Danh th́ khác hẳn
ông Thiện. Thi sĩ Vô Danh ở trong tù, tuyệt vọng,
nhưng vẫn cố gắng làm thơ để ghi chép tội
ác Cộng sản, để thức tỉnh thế giới
nhân loại, và thấy cần tiêu diệt Cộng sản bằng
bất cứ giá nào! Thi sĩ Vô Danh không cần phải chú
ư đến cái c̣ng v́ đó là chuyện nhỏ, và chỉ bị
đeo c̣ng lúc bị bắt trong một thời gian ngắn.
Ông Thiện, trái lại, cũng như tất
cả các công an cộng sản khác, đă vô cùng tự hào về
cái “nghề c̣ng”, chuyên gia c̣ng, với “kiểu c̣ng
cánh tiên” nên rất hănh diện, đi đến đâu
cũng thích trổ tài, khoe tài nghệ!
Sau khi vào tù, người tù thường hay
bị cùm, kẹp đến thối thịt, thối
xương. Ngoài ra c̣n những vấn đề đói khổ,
bệnh tật, hành hạ, chửi rủa, những vấn
đề “không tên” và cái chết đe dọa thường
xuyên khiến mọi người tù đều mau quên cái
c̣ng! Chẳng có người tù nào “cần” hiểu rằng
kiểu c̣ng mà họ đang chịu đựng là c̣ng “kiểu
cánh tiên” hay “kiểu Vẹm bịp”! Họ cũng
chẳng cần phải “thương nhớ hay thích thú”
cái kiểu c̣ng ma quỷ ấy!
Ta lưu ư quỷ
cộng sản rất thích thú khi làm được
người khác đau khổ v́ họ càng đau khổ
chúng càng vui cười hơn nữa coi đó là tṛ chơi
thú vị. Thành thử khi tù đàn ông hay đàn bà đi qua
mặt chúng với mùi hôi hám, v́ chúng có cho tắm rửa bao
giờ đâu, chúng bịt mũi, cấp cao th́ dùng mù xoa
bịt mũi, chê rằng không có giấy vệ sinh, không
băng vệ sinh, như trâu như chó, và hôi thối không
vừa lỗ mũi chúng...!
Công an Cộng sản coi tù nam là “lũ
lưu manh” và tù nữ là “những nàng Kiều thời
đại”! Khi các hội nhân quyền hỏi đến
tù chính trị th́ Cộng sản thường trả lời
chúng không có giam cầm tù chính trị. Chúng chỉ giam những
tên “lưu manh”!
Công an có thể qua những khóa huấn
luyện về cách c̣ng kiểu cánh tiên. Huấn luyện
viên công an cao cấp có thể trổ tài biểu diễn
c̣ng kiểu “cánh tiên” để dạy công an cấp dưới
về “kỹ thuật cao” này. Nhưng tù nhân không bao giờ
được huấn luyện như vậy. Không có
người tù miền Bắc nào thời đó nghĩ là có
giấy vệ sinh, giấy cuộn sạch sẽ thơm
tho, made in USA, để mà “chạy chọt” công an
cho có. Họ chẳng có khăn “mù xoa” trắng tinh
và sực mùi nước hoa như thiếu tướng công
an phản gián để chùi mồ hôi... Lúc ông Thiện
làm “thơ”... dùng mù xoa chùi mồ hôi th́ ông đă quên
là ông đang bị c̣ng khóa cánh tiên th́ làm sao rút mù xoa ra mà chùi
mồ hôi mặt?
Thi sĩ Vô
Danh không có anh em để mong đoàn tụ cùng ăn
bữa cơm với nhau hay là mong đoàn tụ với
người anh ở ngoại quốc 30 năm mới
gặp!
Càng không muốn thấy những điệu
cười!
Tôi muốn sao tất cả mọi người
chỉ có hàm răng nghiến chặt!
Bàn tay không đụng vào đâu!
Ông Thiện gọi tù không có giấy vệ
sinh là “sống như trâu như chó”. Thi sĩ Vô Danh trái lại gọi công an Cộng sản
là trâu là chó và chỉ muốn bắt tù nhân trở thành trâu
hay chó. Trong bài dưới đây, ông Thiện nói “cho
nên Đảng mới làm mưa làm gió. Ông Thiện không
nói Cộng sản ác độc, dùng công an trị kèm kẹp.
Trái lại, ông Thiện chửi dân Việt là “ngu như
đàn ḅ” hoặc “Rồng Tiên hóa khỉ”.
Thi sĩ Vô Danh đă khẳng
định rằng dù trong tù đày cũng không chịu khuất
phục. Với hàm răng nghiến chặt, mọi người
không khóc lóc van xin, cũng không cười ḥa điệu lấy
ḷng cán bộ công an cộng sản. Dù bị tù nhưng không
chịu uốn ḿnh thành trâu chó cộng sản! Nếu mỗi
người tù hiểu rằng ḿnh có thể vươn lên,
không chịu làm đất thó hèn mạt, van lạy cộng
sản, không sợ chết, th́ sẽ xứng đáng là
Người và cao hơn trâu chó cộng sản ở giá trị
“Con Người”!
Trong Hoa Địa Ngục tập 2 hay là “Hạt
Máu Thơ”, tác giả Nguyễn Chí Thiện chứng tỏ
ḿnh rất giỏi... Tam Quốc và truyện Kiều, không
phải giỏi ở tù hay giỏi tiếng Pháp! Mấy “bài
thơ” này trong tập Hoa Địa Ngục 2, trang 144,
145, tuy rằng không có vẻ “ăn nhậu” ǵ với
ngục hay tù!
Ba lần t́m tới thảo lư
Ḱnh ngư đă t́m được nước
Tùy mệnh trời không xoay đảo
được
Cả nước t́nh xưa c̣n dào dạt
muôn thuở trong thi thư...
Việc Lưu Bị đáng Đông Ngô trả
thù cho Quan Vũ
Là thất sách vô chừng, lại thảm bại
mới chua cay!
Song với ta hành động đó đẹp
thay
Nét kết thúc tuyệt vời của bức
tranh đào viên ngàn đời bất hủ!
Phê b́nh Từ Hải:
Ngay trước mặt Từ, Kiều nỉ
non t́nh tự với Thúc Lang
Từ (Hải) ngồi đực, cái anh
chàng Từ này rất lạ!
Vợ xử án lung tung, giết linh tinh, cứ
ĺ như phổng đá
Mưu bá đồ vương mà đần
thế, chết không oan!
(Nguyễn Chí Thiện)
Xin để quư độc giả phẩm
b́nh hai đoạn... “thơ” trên đây. Người viết
nghĩ rằng có nhiều nét “quê đặc, đặc sệt,
kiểu tam đại bần cố”. Những danh từ
“gay”, “đần thế”, “là thật đấy” là ngôn ngữ
khá phổ thông trong hàng ngũ công an, cán bộ.
Ông Nguyễn Chí Thiện cũng ngâm vịnh
Thạch Sanh, Lư Thông:
V́ cuộc đời nhan nhản Lư Thông
Mà Thạch Sanh thời không thấy bóng!
Nên Ác Điểu, Măng Sà mới tha hồ bành
mang giương móng
Rời khỏi động hang, hùng cứ cả
non sông!i!
(Nguyễn
Chí Thiện -1995?)
Trong bài Quan Vũ, ông Thiện chứng tỏ
sự “trung nghĩa của ông như mặt trời đỏ!”
Trái tim trung nghĩa như mặt trời
đỏ
Khí phách ngàn thu sông núi sáng tỏ!i!
(1988 -
trg.128. HMT)
Cái màu đo đỏ quả là biểu
tượng cho sức mạnh chuyên chính vô sản, nó ăn
sâu vào tiềm thức, tim năo, xương tủy của các
cán bộ trung kiên, cho nên họ cứ xuất khẩu là
thành “thơ” màu đỏ, đỏ ḷe, đỏ loẹt!
Và đây là bài “thơ” theo kiểu “sớ
Táo Quân”:
Đa phần dân
Đa phần dân cán bộ
Bị bưng bít nhồi sọ
Về nhân quyền tự do
Khái niệm cũng chưa có
Đảng làm mưa làm gió
Chính là nhờ ở đó!
Ôi, dân c̣n thế đó
Có khác chi đàn ḅ!
Đất với nước tối ṃ
Bao giờ trời sáng cho!
(Nguyễn Chí
Thiện -1980 Trg.105-HMT)
Ông Thiện không chửi cộng sản bóc lột
làm cho dân đói. Ông Thiện cũng không gọi người
Việt Nam là “dân Việt Nam”. Ông Thiện gọi dân
Việt là “dân bác Hồ” và đói ăn, chạy
ăn, gầy ốm giơ xương, c̣n thua con chó Tây.
Ông Thiện ví dân Việt với chó Tây! Lưu ư ông Thiện
là lúc ông làm “thơ” này th́ không c̣n thằng Tây nào nuôi chó
Tây ở Hà Nội như cái thời thực dân xa xưa.
Lúc đó, chỉ có chó của ông... Thiện mượt mà,
béo tốt như thế. Ông Thiện thấy chó Tây béo tốt
nây nây, lại lông nhông tồng ngồng chạy nhảy v́
nó không mặc quần, nên nổi hứng làm “thơ”,
khen chó Tây béo tốt hơn cả “dân bác Hồ”! Thật
đúng là thơ “lông lá”, thơ chó Tây, lại có tí màu
đỏ nữa, mới là thơ hay!
Cộng sản tàn bạo
Đồng bào ta cực lắm!
Đất nước ta vực thẳm
Bao tài trí mất tăm
Bao cuộc đời nát băm
Bao đớn đau ch́m đắm
Hận thù bốc cao lắm
Cao măi cùng tháng năm!
V́ trăm ngàn quật quăng
Câu này có lẽ phản ảnh tâm sự ông
Nguyễn Chí Thiện, như ông tuyên bố khi mới sang Mỹ
là ông mất ngủ nhiều quá nên bị bệnh... thần
kinh, không phải bệnh thiếu ngủ. Phương trời
xa xăm, phải chăng là Hoa Kỳ? Ngọt ngào mà cay
đắng, phải chăng cũng là Hoa Kỳ? Phải
chăng ông Thiện đă... thề phải cố gắng
từng giây từng phút, phải quyết sống và quyết
thắng tại Hoa Kỳ?
Đọc hết mấy bài “thơ” của
ông Nguyễn Chí Thiện (?), người viết chẳng
hiểu nổi “ư thơ” hay ư
ông Thiện muốn nói cái ǵ? Người viết nghĩ rằng
với kiểu thơ trên đây của ông Nguyễn Chí
Thiện, nếu được ném vào ṭa đại sứ
Anh th́ cũng đi thẳng vào sọc rác, chẳng ai buồn
mang lên đài BBC hoặc in ra để phổ biến khắp
thế giới và được giải thưởng quốc
tế! Dù có xuất hiện năm 1995, 1996 với “hào quang
mượn” của tập thơ Vô Đề th́ cũng vậy
thôi, chẳng ai thèm chú ư! Hữu xạ tự nhiên
hương, là vậy!
Đây là một bài thơ khá dài của ông
Nguyễn Chí Thiện tả nỗi nhớ nhung của ông:
Ta Nhớ
Ta nhớ những năm, những ngày, những
tháng
Mặt Trời, mặt trăng như thần
thoại huy hoàng
T́nh cảm trên đời lai láng làm sao
Chút ít đắng cay c̣n toàn thơm thảo
Ta nhớ thuở ăn cắp tiền nhà,
ăn thịt ḅ khô, đánh nhau khó bảo
Đi xem thường vượt trường,
hay trốn học, mê chơi
Ta nuốt bao cay đắng trong đời
Riêng thuở đó đẹp như là mộng
ảo!
Ta nhớ Tết, Ti toe khoe quần áo
Khách tới mừng Xuân, ai cũng mở
hàng
Lời chúc tết cũng là lời dạy bảo
Ta nhớ những buổi tối mùa đông,
đi xi nê về, ăn phở ấp chảo
Phở nóng, rượu cay, tỏi ớt càng cay!
Bè bạn ngà say bàn luận cuốn phim hay
Khinh ghét gian ma, xót xa tàn hoa mà đời bất
hạnh!
Ta nhớ những buổi sáng chủ nhật,
chuyển mùa trời hơi se lạnh
Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh
Nh́n ḍng người, ḍng xe khoe tươi lộng
lẫy
Thấy người quen nào ta cũng xiết
chặt tay!
Ta nhớ những ngày không uống rượu
mà say
Đời đă như cốc rượu
dâng bầy
T́nh bạn, t́nh thầy, t́nh văn
chương kim cổ
Nào học, nào chơi, nào thi, nào đỗ!
Ta nhớ những hàng quà rong, linh hồn
đường phố
Cuộc sống b́nh dân no ấm muôn mầu
Sáng, tối, trưa, chiều, ăn ǵ
cũng có!
Ta nhớ những đền chùa linh thiêng, những
ṭa miếu cổ
Những bà già chắp tay cầu khấn thành
tâm
Những pho tượng ngồi trong
hương khói trầm ngâm
Lũ trẻ vây quanh, đứa nghịch
hư, cũng thành ngoan im lặng
Ta nhớ những đêm êm đềm thấm
vào hồn ta bao la trong trắng
Những trang chuyện trang thơ thơ mộng
tràn đầy
Thiết tha t́nh kim cổ, Đông Tây
Ta thường xuyên xúc động phải
bỏ sách, đi một ṿng quanh phố vắng
Ta nhớ những buổi mai mượt mà,
đẹp nắng
Quanh hồ gươm ta mặc toàn đồ
trắng dạo chơi
Đeo kính mầu xanh, ta ngắm cuộc
đời
Hồ hởi, nói cười, đẹp
tươi trong gió...
Như có linh hồn, ấm áp xóm quê
Trong những mái gianh là t́nh cảm tràn trề
Mưa lụt cùng xách đèn đón ta đi
ăn cỗ
Ta nhớ những ngày cúng giỗ
Cha, mẹ, cô, d́, chú, bác chị em ta
Mời gắp cho nhau thân mến xum ḥa
Ta nhớ những ngày lội bơi vùng vẫy
Đánh bốc, chơi thuyền, cường
tráng nở nang
Mơ gặp khó nguy bắt nó quy hàng
Ta nhớ những buổi chiều thứ bẩy
Mùa hè, ăn bánh tôm bên Hồ Tây
Vạn vật
tưng bừng ngất ngây!
Đọc bài thơ trên đây, chúng tôi đố
đọc giả t́m thấy “tù tội” và Cộng sản
ác ở chỗ nào? Tội thằng “búa liềm” băm bổ
mà thôi. Người ta thấy tác giả bài thơ có vẻ
là cấp tướng công an phản gián quyền uy và tiền
bạc đầy ḿnh. Làm việc đọc sách nhiều
quá nên “xúc động” phải bỏ đi chơi một
ṿng quanh phố Yết Kiêu vắng vẻ. (Trụ sở Cục
Phản Gián số 6 đường Yết Kiêu đă làm cho
đường này rất vắng vẻ, v́ không ai dám héo
lánh qua lại.) Mưa lụt cũng có người xách
đèn mời đi ăn cỗ v́ là cấp tướng
công an? Mặc complet toàn trắng đi dạo mát quanh Hồ
Gươm. Rảnh rỗi học đánh “bốc” (quyền
Anh), bơi thuyền, tập luyện cho thân thể cường
tráng để khi nào “gặp địch gặp ngụy” (gặp
khó khăn) là bắt nó phải quy hàng!
Nhưng nếu ông Nguyễn Chí Thiện nhận
là “thơ” của ông th́ cũng phải thôi, chứ làm
sao căi? Điều này cũng chứng tỏ ông Thiện
không phải là tác giả thật của tập thơ do
đài BBC phổ biến, đă được viết bằng
máu, nước mắt, tù ngục, đọa đày và cái
chết. Ông Nguyễn Chí Thiện chưa bao giờ đi
tù. Do đó ông Thiện không “nhớ” tù đày và
cũng chẳng biết ho lao ra máu ra sao? Ông Thiện chỉ
“nhớ” hay là bị ám ảnh bởi cuộc đời
khá giầu sang sung sướng có đánh bốc, bơi thuyền,
tập luyện cho thân thể được cường
tráng nở nang, được học được
chơi được thi được đỗ (đậu),
đi xi nê về ăn phở áp chảo, uống cà phê pha
rượu mạnh (có lẽ là pha rượu rum) có gia
đ́nh đông đảo ăn Tết, ăn tiệc lớn,
lại mặc complet toàn trắng đeo kính mầu xanh
đi dạo chơi Hồ Gươm, đi chơi Hồ
Tây ăn bánh tôm chiên với đào đẹp như tiên...
Để rồi 10 năm sau lại được Đảng
và Nhà Nước cho đi Mỹ... Đời thế là
khoái tỉ rồi, than cái nỗi ǵ?
Cái anh chàng Vô Danh làm thơ
Vô Đề suốt đời bất măn, suốt đời
bị c̣ng cánh tiên, bị tù là đáng. Đă không biết
thân phận giai cấp lại c̣n quai mồm ra làm thơ
láo, chửi “bác Hồ” là quỷ sứ yêu tinh, chửi
đảng là ngu dốt như chó, cho rũ tù mới
đáng kiếp.
Cái thứ phản
động, phản cách mệnh đó là phải đánh “tập
thể” cho chết, phải không, thưa ông Nguyễn Chí
Thiện? Hỏi thăm ông Nguyễn Chí Thiện tí nhá: Sao
thơ của ông nó kỳ kỳ như xếp chữ, ghép
chữ, ghép câu, ngắt câu xuống gịng vậy?
Tiếng của nhà giam ng̣m đen khép mở
Tiếng kḥ khè hai lá phổi hang sơ!
(vi trùng lao ăn ruỗng phổi gần mất
sự sống)
Tiếng đất vùi (mộ) đổ xuống
lấp niềm mơ!
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi
nhớ!
Thi sĩ Vô Danh ví cái
khổ tù của ḿnh với cái khổ tù của Tề Thiên
Đại Thánh:
Tôi khổ gấp trăm lần hơn
Đại Thánh
Mang trên đầu đủ thứ mũ
kim cô
Thần chú đau thương: "Tất
cả tan tành!".
Khoan vào óc đêm ngày muôn vạn lỗ!
Đời tôi giữa Ngũ Hành Sơn cấm
cố
Thi sĩ Vô Danh ví
ḿnh với Lư Bạch:
Nay tôi ngẩng đầu nh́n nhện
giăng bụi bám,
Cúi đầu giết rệp nhặt
cơm vương!
Lư Bạch rượu say gác lên bụng vua
Đường
Tôi đói lả gác lên cùm rỉ xám
Lư Bạch sống thời độc tôn u
ám,
Cái tài t́nh của Thi
sĩ Vô Danh là dù ông nói thời “Cộng sản ấm no,
hạnh phúc tự do, thiên đường...” mà
người ta vẫn thấy sự mỉa mai... và đầy
khổ nhục, tàn ác!
* * *
Một câu chuyện nhỏ về chữ “Thôi”
trong bài thơ “Anh gặp em trong bốn bức rào dầy” Kể
chuyện người con gái tập kết miền Nam bị
Cộng sản bỏ tù đến chết v́ ho lao ra máu.
Ông Vô Danh ở câu thứ 6 viết: “Y sĩ công an nh́n em,
thôi nạt nộ om ṣm...”. Ông Thiện không hiểu ư
nghĩa chữ “thôi” trong câu này. Ông nghĩ chữ “thôi” này
có nghĩa là “ngừng” và ông viết trong tập “Hạt
Máu Thơ hay là Hoa Địa Ngục tập 2, trang x và xi”:
... Thực ra cũng có lúc phải viết
khác sự thực một chút, v́ trong thơ không thể giải
thích dài ḍng. Thí dụ trong bài “Anh gặp em”, lúc đầu
tôi làm:
Y sĩ Công an
Nạt nộ om x̣m!
Đó là sự thực, nhưng chưa phải
là sự thực hoàn toàn, người đọc có thể
hiểu lầm cho là có lư. Tại sao khi tên Y sĩ Công an
nh́n cô gái trẻ miền Nam ho ra máu, sắp chết lại
nạt nộ? Cái tên Y sĩ này lúc nào cũng nạt nộ,
túm tóc, tát, đá bệnh nhân. Đó là thói quen của hắn,
chứ không phải v́ nh́n thấy cô gái đó mới nạt
nộ. Tôi đọc cho anh Phùng Cung nghe để bàn xem. Anh
Cung suy nghĩ, rồi nói: thôi, nên đổi lại là:
Y sĩ Công an
Nh́n em
và chúng tôi đồng ư với nhau là cho tên Y
sĩ vô lại đó được làm người một
phút! Tóm lại, chất liệu thơ của tôi là muôn ngàn
cuộc đời tan nát, chôn vùi trong đó có cuộc đời
tôi, tôi không hư cấu chi cả...
Trên đây là bằng chứng
nói láo và bịp bợm của ông Nguyễn Chí Thiện. Thi
sĩ Vô Danh làm bài thơ “Anh gặp em” này năm 1965, và sau
đó đă chôn dấu một nơi cho đến khi ông
gom tất cả lại và mang vào ṭa đại sứ Anh
năm 1979. Thi sĩ Vô Danh làm “thơ Vẹm cấm”
như vậy, mà dám khoe để hỏi về một câu
thơ với một văn nghệ sĩ “nhà nước”
trong Hội Nhà Văn (Cộng sản) Hà Nội? Thi sĩ
Vô Danh bị tù trong 20 năm, từ 1958 đến 1978, bị
thả ra rồi lại bị bắt vào như cơm bữa,
th́ gặp Phùng Cung ở dịp nào? Một người
tù, thân tàn ma dại, ho lao ra máu, cơm không có mà ăn, bị
công an quản chế tại gia thật gắt gao, tiêu sầu
bằng chai nước lă đun sôi, th́ làm sao lại “cần”
và “dám” gặp ông Phùng Cung trong Hội Nhà Văn Hà Nội
để hỏi cách đặt một chữ “thôi”
trong mấy trăm bài thơ, trong 20 năm làm thơ? Ông Thiện
nói là ở Hải Pḥng và bị “quản chế tại gia”
cũng ở Hải Pḥng th́ làm sao lên Hà Nội mà gặp
Phùng Cung để bàn về một chữ “thôi”?
Tôi nghĩ ông Nguyễn Chí Thiện tŕnh độ
quá thấp kém về văn hóa, quá bần cố nông, có thể
nói rằng quá dốt, nên không thể “nắm vững”
được chữ “thôi” và ư nghĩa của nó, hay
cách xử dụng nó... như Thi sĩ Vô Danh! Giá ông Thiện
cứ ngậm miệng, lờ đi th́ có ai hỏi?
Nhưng chính ông Thiện quá dốt, không hiểu chữ
“thôi”, lại ra cái điều ta đây cẩn thận, dùng
chữ rất sát, rất đúng, và có Phùng Cung “gà” thêm chữ
“thôi” cho đẹp!
Bài thơ “Anh gặp em”
(đă viết ở đoạn trên) tả người con
gái miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955, v́ chửi
Cộng sản nên bị chúng bỏ tù đến nỗi
tàn tạ, ho lao ra máu và sắp chết đến nơi...
Anh gặp em trong bốn bức rào dầy
Má gầy, mắt trũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng
Em ngồi run, ôm ngực c̣m nhom
Y sĩ công an nh́n em, thôi nạt nộ om ṣm
Em ngồi lọt thỏm
Tiếng “thôi” ở
đây không phải “động từ” thôi là ngừng
là... stop. “Thôi” ở đây là một tĩnh từ “nhấn
mạnh” thêm vào sự “nạt nộ om x̣m” của
tên y sĩ công an. Câu này đáng lẽ Thi sĩ Vô Danh muốn
dùng là "thôi th́ nạt nộ om x̣m", nghĩa là tên y
sĩ công an thấy mặt cô gái ho lao miền Nam là "bắt
đầu" nạt nộ om x̣m mạnh, không phải
y đang nạt nộ rồi thấy cô gái ho lao th́ "thôi"
không nạt nộ nữa! Theo lối người Bắc
có văn hóa, đáng lẽ phải viết là “Thôi th́ nạt
nộ om x̣m”. Thơ thứ thiệt nên Thi sĩ Vô Danh bớt
chữ “th́”, nhưng
người đọc hiểu ngay là tên y sĩ công an thấy
mặt cô gái là nạt nộ, có lẽ v́ y có thù ghét cô gái sẵn,
không ngưng nghĩ chút nào, và rất mạnh, rất om x̣m!
Nếu là thôi “nạt nộ”, hay là “không nạt nộ
nữa” th́ cần ǵ đến chữ (từ) “om x̣m”?
Câu “Gió lạnh
từng cơn rú qua thung lũng!” th́ ta có thể hiểu
ngay là những cơn gió lạnh kinh người này đang
quất mạnh vào đám người tù ho lao, rách rưới,
ngồi co ro, rét run v́ đói rét, bệnh tật, c̣m cơi (teo
nhỏ) và không đủ quần áo che thân. Họ kinh hoàng
khủng khiếp nh́n tên y sĩ công an cộng sản
như nh́n thấy ác quỷ hay tử thần hiện lên
để chửi bới nạt nộ om ṣm. Ngày hôm sau cô
bé ho lao này chết. Đoạn cuối bài thơ:
Sớm qua ngồi, tay em anh nắm
Mặc bao ngăn cấm đê hèn
(Vô
Danh -1965)
Vào thời điểm 1965, ông Nguyễn Chí
Thiện c̣n đang mặc complet trắng tinh đi dạo
mát Hồ Gươm, hoặc đi bơi thuyền ở
Hồ Tây, ăn bánh tôm với người bạn “đẹp
như tiên”. Ông Thiện làm sao hiểu được
t́nh yêu tương thân, trong thân phận tù đày, gần chết,
của hai người tù cùng ho lao ra máu như nhau?
Lời tác giả: Tù nhân nam nữ bị giam
riêng biệt.
Thi sĩ Vô Danh t́nh cờ gặp cô
gái miền Nam trong bệnh xá đầy những bệnh
nhân hầu hết là ho lao. Tên “y sĩ” công an đă ghét cô gái
sẵn, có lẽ v́ cô gái này trí thức đă nhiều lần
vặn hỏi, sửa lưng y mà y không trả lời
được nên đâm ra thù hận cô gái này. Tên y sĩ
này vừa thấy mặt cô gái là lớn tiếng quát tháo nạt
nộ, chửi bới om x̣m. “Y sĩ” cũng
như “chánh án” cộng sản đều là cán bộ
bần cố nông vô học hoàn toàn. Bọn này lúc nào cũng
có mặc cảm dốt nát và rất thù ghét giai cấp “trí,
phú, địa hào”. Nếu bệnh nhân hay tù nhân gặp cái
thứ “y sĩ hay chánh án” cộng sản kiểu này
th́ c̣n chết mau hơn nữa.
Thi sĩ Vô Danh đă động
ḷng thương v́ cô gái này đă quá tàn tạ, kiệt quệ
mà c̣n bị tên y sĩ công an khốn nạn nạt nộ
chửi bới om x̣m, nên ông làm thân hỏi chuyện cô gái. Cô
gái kể chuyện ḿnh người miền Nam, v́ nghe lời
đường mật ngon ngọt bịp bợm của
chó sói, nên đă bỏ mẹ và các em để “tập kết”
ra Bắc năm 1955. Năm 1954 - 1955, số cán binh cộng
sản miền Nam và những người miền Nam có cảm
t́nh với Cộng sản phải đưa tầu Ba Lan
(lúc đó c̣n là Cộng sản) đến chở ra Bắc.
Phần lớn trong số gần một triệu người
di cư vào Nam đi bằng tầu hải quân Hoa Kỳ.
Nhiều người di cư c̣n nhớ đến chiếc
tầu khổng lồ Marine Serpent chuyên chở khoảng
7,000 người mỗi chuyến, đă chở họ vào
Nam, với ḷng biết ơn.
Khi thất vọng, cô gái, và nhiều người
Nam khác nữa, chửi bới Cộng sản th́ bị
chúng trở mặt, lộ nguyên h́nh chó sói lông lá béo mập
húp híp, cho công an bắt họ bằng c̣ng cánh tiên và bỏ
tù ngay. Đi tù cộng sản thường có nghĩa là sẽ
phải chết sớm hay muộn v́ bệnh, v́ đói mà vẫn
bị đốc thúc đánh đập để lao động
sản xuất nuôi công an, cai tù, giám ngục, quản giáo.
Năm 1989 - 1990, người Mỹ đă cố gắng buộc
Việt Cộng phải thả các sĩ quan VNCH và cho họ
đi Mỹ. Người Mỹ và các cựu sĩ quan này
hiểu rằng Việt Cộng muốn giam giữ họ
cho đến chết.
Thi sĩ Vô Danh nghe
câu chuyện quá xúc động đă nắm tay cô gái
để tỏ sự thông cảm và cảm t́nh. Cô gái vui
mừng v́ đă có dịp tâm sự nỗi ḷng trước
khi ĺa đời. Ngay đêm hôm đó, cái lạnh kinh
hồn miền Bắc với gió rét căm căm đă
đưa linh hồn cô gái ra khỏi cái địa ngục
cộng sản. Thi sĩ Vô Danh ghi nhớ câu chuyện đau
thương thê thảm của cô gái miền Nam "tập
kết", và đă sáng tác một bài thơ bất hủ.
V́ tù nhân nam nữ giam riêng biệt, nên khi ông (đại
tá công an đi thanh tra) Nguyễn Chí Thiện phải
dùng khăn mù xoa trắng tinh bịt mũi khi tù nhân phụ
nữ đi ngang qua và phàn nàn rằng “những nàng Kiều
thời đại” không biết dùng băng vệ sinh
nên hôi hám khiến ông ngửi không nổi, ta thấy ngay ông
Thiện “không phải” là tù nhân “nữ”
như họ và bị giam chung với họ. Phải
chăng ông Thiện là công an bắt người, giam người
thứ dữ, thứ cao cấp? Ông Thiện đến “thăm”
trại giam nữ tù có lẽ chỉ để ngắm xem
có người nào vừa mắt “đẹp như tiên”
và ít hôi hám, th́ “mời” họ đi ăn bánh tôm Hồ
Tây và “hộ lư” cho ông. Ông sẽ “ban” cho họ
nhiều quà cáp, miễn lao động, miễn bị c̣ng
cánh tiên, và đặc ân cho tắm rửa kể cả
băng vệ sinh cho họ được sạch sẽ
thơm tho hơn nữ tù nhân khác trước khi hộ lư
cho ông?
Thi sĩ Vô Danh tả cảnh
một người tù, bị cán bộ cướp vợ
và đày đọa đứa con phải hầu hạ làm
nô lệ. Một người tù được “thả”
về trước nên đến nhà người bạn tù
để nhắn tin xin ít thuốc kư ninh (trị sốt
rét) và ít đường đen để bồi dưỡng,
không phải xin giấy vệ sinh!
Có phải em là em bé?
Bố dượng em là bác da ngăm
ngăm,
Là đồng chí bí thư nơi mẹ em
công tác?
- Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh
khác
Về t́m em để nhắn hộ tin...
Bố em giờ đau ốm cần xin
Ít kư ninh, ít đường đen bồi
dưỡng!
Thi sĩ Vô Danh
tả cảnh tội lỗi do Cộng sản gây ra:
Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm
tội lỗi!
Trong lành cũng phải tanh hôi!
Trẻ con chưa nứt mắt đă tù
rồi!
Bạo lực đi về rất vội!
Chết trận, chết tù, hỡi ơi
xă hội!
Biết bao là vợ góa, con côi,
Bán trôn rồi lại bán cả mồ
hôi,
Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!
Thức giả tiêu sầu chai nước
lă đun sôi!
(Vô Danh
-1964)
Một tay em trổ: Đời xua đuổi!
Một tay em trổ: Hận vô bờ!
Thế giới ơi! người có thể
ngờ?
Đó là một tù nhân tám tuổi!
Trên bước đường tù, tôi rong
ruổi
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!
(Vô Danh - 1971)
(Trổ: Xâm. tattoo).
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ
c̣!
(Vô Danh -1970)
(Hồ Chí Minh chết 1969, Tôn Đức Thắng
thay thế)
Đoạn viết này là “giả thuyết”
theo sự nhận xét của tác giả. Đúng hay sai
cũng c̣n tùy theo bạn đọc.
Chỉ nh́n sơ qua tập thơ Hoa Địa
Ngục tập 2 hay là “Hạt Máu Thơ” của ông Nguyễn
Chí Thiện để so sánh với tập thơ Vô Đề,
ta thấy Cục Phản Gián khá vụng về khi cố gắng
dàn dựng để ông Nguyễn Chí Thiện thành “thi
sĩ thật”.
Điểm đầu tiên là cuốn Hạt
Máu Thơ nhái theo thơ Vô Đề về nội dung tŕnh
bày. Khoảng hai phần ba đầu tập là những bài
thơ riêng lẻ, đề năm sáng tác từ 1979 trở
đi, nhiều bài không đề năm hay tháng, và phần
cuối toàn một thể thơ “4 câu”, gọi là những
ghi chép vụn vặt.
Cán bộ dốt nát được tập
thơ Vô Đề thấy cần phải tạo ra một
thi sĩ “tương đương” với Thi sĩ
Vô Danh. Muốn như vậy th́ phải “đẻ ra” một
tập thơ “nhái” tương tự như thế mới
“giống”, mới có vẻ “din” (origin), cùng “một ḷ
thơ” như nhau. Chính v́ có hai tập thơ giống nhau về
“h́nh thức” nên người ta mới dễ so sánh và thấy
đúng là đă do hai người “khác nhau” hoàn toàn sáng tác!
Nhưng tiếc thay đạo diễn phản
gián có tŕnh độ quá kém cỏi, nhất là về thơ.
Mỗi thi sĩ, thi bá, hay thi hào... đều có những điệu
thơ riêng biệt, giống như căn cước hay cá
tính của chính họ... Những người sành thơ
đều thuộc làu những bài thơ hay. Chỉ cần
đọc một câu là người ta biết ngay đó là
thơ Nguyễn Bính, Quang Dũng, Đinh Hùng, Xuân Diệu,
Lưu Trọng Lư... Ngay cả thơ “đấu tố
giết người” của Xuân Diệu, hay thơ “nịnh
bợ liếm đít” của Tố Hữu cũng có “kiểu”,
có “thể” và sắc thái riêng biệt của mỗi người.
Chỉ cần nghe...
Cho tôi ép nốt gịng dư lệ
nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên!
(T.T.KH.)
Người phụ nữ lỡ một cuộc
t́nh, khóc đă cạn gịng lệ. Nhân đọc bài viết
nói về hoa Ty Gôn giống như tim vỡ, nhắc nhở
nàng chuyện t́nh dang dở ngày xưa. Nàng cố gắng ép
nốt gịng lệ c̣n lại để viết thành bài
thơ, khóc cho duyên t́nh lỡ dở. Thơ hàm xúc đầy
ư nghĩa và làm cho người đọc thơ có cảm
tưởng như “sống trong sự đau khổ” của
thi nhân!
Em không nghe mùa Thu
dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
h́nh ảnh kẻ chinh phu
trong ḷng người cô phụ?
hoặc:
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
cho vương vấn nợ thi nhân?
là người ta biết ngay thơ Lưu Trọng
Lư, khỏi cần phải giới thiệu tác giả.
hoặc Tôi mơ Hà Nội giáng Kiều
thơm...! là người ta biết ngay của Quang Dũng.
Hoa nở cô đơn bóng động thềm...
Vườn xưa c̣n thoáng chút hương
em...
Xót xa lá cỏ vương mùi tóc!
Tà áo bay về, nhớ suốt đêm...!
(Đinh Hùng)
là ta thấy ngay Đinh Hùng đang sống
trong mơ và làm thơ cũng trong mộng mơ, không phải
nhớ suốt đêm mà là nhớ suốt đời...
Giả thử cán bộ phản gián có “nhờ”
Tố Hữu, Phùng Cung, Hữu Loan hay bất cứ ai c̣n sống
ở Hà Nội “nhái” thơ Thi sĩ Vô Danh th́ cũng lộ
tẩy ngay. V́ người quen thơ, sành thơ, đọc
lên là thấy cái “chất thơ” hay mùi vị thơ độc
đáo của mỗi tác giả, mỗi thi nhân thứ... thiệt!
Có lẽ v́ khó kiếm thi sĩ thứ thiệt
để làm thơ... nhái, cán bộ phản gián phải “nhái
thơ Vô Đề” bằng cách... viết “đại”
theo tam đại bần cố. Cán bộ dốt nát đâu
có hiểu thơ với thẩn là cái quái ǵ. Thơ thẩn
là của của phong kiến, chứ Cộng sản Mác Lê
làm ǵ có thơ! Vả lại nhái thơ của “một thằng
tù” th́ có ǵ là... khó? Do đó ta mới được đọc
“thơ” Hạt Máu Thơ của Nguyễn Chí Thiện hay là
một loại “ngắt câu nửa chừng rồi xuống
gịng”, hay kiểu “sớ Táo Quân”, hay thơ Thạch Sanh,
Lư Thông, và phê b́nh... Từ Hải một cách rất... du
kích! Cán bộ cũng cẩn thận làm thành một tập
thơ “khá giống” tập thơ Vô Đề đă
được in tại hải ngoại.
Nếu so sánh hai tập thơ cùng giống
cách tŕnh bày, ta thấy ngay tập Hạt Máu Thơ là
Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh do các thi sĩ công an quốc
doanh sáng chế, cố bắt chước cho giống tập
thơ Vô Đề! Một giả thuyết khác là toàn bộ
tập Hạt Máu Thơ do nhiều tác giả cán bộ sáng
tác rồi đóng tập, rồi ông Nguyễn Chí Thiện
học thuộc ḷng, cho nên nhiều bài ông Thiện “ngâm lại”
cũng không đúng, không đủ chữ...
Tài làm thơ của ông Thiện đă chứng
tỏ trong vấn đề từ ngày sang Mỹ ông Thiện
không hề trổ tài “sáng tác” một bài nào, kể cả
thơ ngâm vịnh chó Mỹ hay hamburger. Trái lại người
ta chỉ thấy ông Thiện trổ tài biểu diễn kiểu
“c̣ng khóa Cánh Tiên” độc đáo của ông và tài diễn
thuyết hùng biện để khuyên người viết
đừng căm thù “người” Cộng sản nữa,
mà chỉ nên căm thù “lư thuyết” Mác xít!
Một điểm khôi hài nữa là khi mang
ra hải ngoại và cho in tập Hạt Máu Thơ, mặt
trận kháng chiến và ông Nguyễn Chí Thiện đều
không đọc lại cả hai tập thơ để so
sánh trước khi in. Họ cứ in “đại” để
bán lấy 12 đồng một cuốn, v́ nếu chậm
th́ chỉ có... ma nó mới bỏ ra 12 đồng mua một
tập thơ... quốc doanh! Khi bán sách Hạt Máu Thơ th́
đ̣i tiền trước đủ số, không thiếu
chịu và không cho mang trả lại. Nhiều tiệm
sách đă ”sợ” cái lối bán hàng lấy tiền ngay và
đủ, kiểu “kháng chiến” này nên không dám lấy cuốn
Hạt Máu Thơ, v́ họ sợ lỗ vốn, và sợ
khách coi sơ qua rồi trả lại, đ̣i lại tiền.
Điểm khôi hài khác là Mặt Trận
Kháng Chiến và Hội “Văng Bút” với các “nhà thơ nhớn”
Viên Linh, Sơn Tùng lại hăng hái, tích cực một cách
“chắc ăn” đưa cả hai tập thơ đến
Thụy Điển để đề nghị giải
thưởng Nobel văn chương cho Thiện! Xin quư
vị độc giả thưởng thức mấy bài
thơ quốc doanh độc đáo đă từng tham dự
giải thưởng Nobel 1996! Khi Hàn Lâm Viện Thụy
Điển đọc đến tập Hạt Máu Thơ
chắc phải cười đến văi đái và phải
gửi ngay về Hà Nội để lấy giải Nô
Văn, Văn Hóa Vẹm với huân chương Sao Vàng!
Thể thơ dưới đây có thể gọi
là thể “quốc doanh 3 chữ” và quốc doanh “sớ
Táo Quân”:
Cái dạ dầy...
Cái dạ dầy
Đảng đày đọa
Đảng nhục mạ
Thủ phạm gây
Bao xấu xa
Bao xót xa
Bao quái lạ
Bao tai họa
Để cứu nó
Khỏi đói rạc
Khỏi tội ác
Thời Đảng Bác
Thời Mác Lê
Đều phải kê
Vào sọt rác!
Không thể khác!
(Nguyễn Chí Thiện - 1982 trg. 71 HMT)
Đảng bất nhân
Đảng bất nhân
Dân đành phận
Đức tán tận
Tài trầm luân
T́nh ai cần
Tiền khốn quẩn
Đẹp bôi bẩn
Tốt hóa đần
Ăn lẩn quẩn
Dưới đây là thể thơ “sớ Táo
Quân quốc doanh”
Tù ngục
Tù ngục đen ś
Sừng sững trơ ĺ
Tử biệt sinh ly
Âm thầm rên rỉ
Bất lực rầu rĩ
Ch́m đắm tắc tị
Độc tài quái dị
Mọi thứ cấm kị
Dối gian vô sỉ
Bạo tàn vô lư
Phát xít nào ví!
Thở than chút tí
Dĩ nhiên là Cục Phản Gián, à quên ông Nguyễn
Chí Thiện, và Mặt Trận Kháng Chiến (?), Hội
Văn Bút với các “thi sĩ nhớn” Viên Linh, Sơn Tùng
tin tưởng rằng đó là “thơ” nên mới dám cho in
thành “tập thơ” và dám mang đi ngâm vịnh lung tung khắp
nơi. Giá bán 12 đôla một cuốn, và thu được
mấy chục ngàn đôla cũng chưa đủ cho giá
trị siêu đẳng của tập “thơ” bất hủ
này. Đồng bọn chí hữu của ông Thiện đă
thẳng tay gửi đến thủ đô Stockholm của
Thụy Điển để đ̣i phải cấp giải
thưởng Nobel văn chương cho thi bá “dỏm” hạng
nhất của thế kỷ, trị giá vài triệu
đôla xài chơi.
(Tháng 2/1990, Hàn Lâm Viện Thụy Điển
đă yêu cầu Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
để cử thi sĩ Vô Danh, lúc này được hiểu
là Nguyễn Chí Thiện, với tác phẩm Vô Đề “Tiếng
Vọng Từ Đáy Vực, Hoa Địa Ngục” dự
thi giải Nobel văn chương 1990. Nhưng sau đó, có
lẽ v́ biết được sự giả dối về
“nhân sự tác giả”, do người Anh thông báo chăng?,
nên Hàn Lâm Viện Thụy Điển đă lờ đi cho
đến ngày nay.)
Cuối năm 1991, song song với sự “thả”
Nguyễn Chí Thiện, Cục Phản Gián cho biết khá nhiều
chi tiết về ông Nguyễn Chí Thiện để báo chợ
hải ngoại phổ biến. Ông Thiện sinh tại phố
Hàng Bột Hà Nội năm 1937. Dọn xuống Hải
Pḥng năm 1950. Năm 1957, 1958 hợp tác với nhóm Nhân
Văn Giai Phẩm (ở... Hà Nội (?), làm báo, rồi bị
bắt tù cải tạo 2 năm. Năm 1960 ra khỏi tù.
Sau đó, ông Thiện bị bắt lại năm 1961.
Năm 1964, ông Thiện được thả đến
năm 1966. Trong 3 năm từ 1964 đến 1966, ông Thiện
dạy học và dịch sách báo Anh Pháp ngữ ở Hải
Pḥng. Ông Thiện bị giam tại Hỏa Ḷ Hà Nội rồi
chuyển đi các trại Yên Phụ, Yên Ḥa, Tân Lập, Hồng
Ca, Trại Mo và trại Phong Quang, Lào Cay. Tổng cộng
ông Thiện đă ở “tù” 30 năm. (người viết
nghĩ rằng đây chỉ là sự “bịa đặt”
của Cục Phản Gián v́ các trại tù không có sổ
sách, các tù nhân không có án, không có hồ sơ “vào sổ” th́ làm
sao t́m ra tung tích?) Cục Phản Gián cho biết ông Thiện
được thả ngày 29/10/1991.
Được phóng thích năm 1978, ông Thiện
về quê ở Hải Pḥng sống âm thầm “một
ḿnh” kèm trẻ tại tư gia để sống qua
ngày. Ông rất giữ ǵn để khỏi bị bắt lại
và dùng th́ giờ thu thập các bài thơ ông đă làm trong thời
gian tù đày để t́m cách gởi ra nước ngoài. Thầy
mẹ ông đă qua đời. Mẹ ông mất năm 1970
và thầy ông mất “vào một năm nào đó trước
năm 1976”.
Đọc bản tin của Cục Phản
Gián trên đây thông tin cho “phe ta” ở hải ngoại
phổ biến năm 1991, 1992, ta thấy Cục Phản
Gián đă biết ngày sinh, tŕnh độ học vấn,
văn hóa và tiếng Pháp của ông Thiện với tuổi
quá trẻ, “không ăn khớp” với ông Vô Danh, nên
đă cố gắng “cho sinh” vào năm 1937.
Không mấy người để ư đến
những chi tiết này. Cục Phản Gián cũng không chú ư
v́ năm 1990, 1991, Cục Phản Gián chỉ chú ư đến
nêu vấn đề ông Thiện c̣n “sống” và đă “tha”
để khỏi mang tiếng vi phạm nhân quyền. Cục
Phản Gián cũng cho biết ngày ông Thiện chạy vào
ṭa đại sứ Anh theo sau một xe ô tô đang chạy
vào, là ngày 2/4/1979. Đến khi ông Thiện ra mặt tại
Hoa Kỳ cuối năm 1995, th́ ông Thiện phải nói thật
về tuổi tác cũng như chỗ ở Hải Pḥng và
các anh chị em. Ta thấy ngay có nhiều sai lệch về
tuổi tác, bệnh tật, kể cả ngày tháng chạy
vào ṭa đại sứ Anh, so với bản tin của Cục
Phản Gián và nội dung thơ Vô Đề.
V́ ra ngoại quốc, ông Thiện phải
khai tuổi thật là sinh ngày 27/2/1939. Xuống Hải
Pḥng 1956. Ở “tù” có 27 năm, không phải 30 năm. Có 4 anh
chị em, không phải sống một ḿnh! Ông Thiện nói
chạy vào ṭa đại sứ Anh ngày 17/6/1979, không phải
ngày 2/4/1979, như Cục Phản Gián đă loan. Ông Thiện
chắc chưa từng đọc qua báo cáo của Cục
Phản Gián nói về lư lịch của ḿnh. Nếu ông Thiện
“khai” ra những trại “tù” mà ông đă trải qua, có lẽ
c̣n trật đường rầy hơn nữa. Mấy
tên bồi bút hải ngoại sau này không dám khoe lư lịch
“cũ” năm 1991 của ông Thiện nữa v́ nếu khoe
th́ càng lộ tẩy mau hơn nữa.
Thi sĩ Vô Danh
được thả vào cuối năm 1978 v́ sức
khỏe đă quá kiệt quệ, không thể lao
động được nữa. Quản giáo cho ông
về v́ không muốn ông chết trong tù. Về đến
nhà ở Hà Nội, song thân đă mất, cô đơn, cô
quạnh, không có lợi tức v́ thể xác kiệt quệ
không thể đi làm lao động kiếm ăn, Thi sĩ
Vô Danh suy nghĩ chỉ c̣n cách duy nhất là liều
mạng đưa tập thơ vào ṭa đại sứ
ngoại quốc th́ mới có hi vọng được
phổ biến tại hải ngoại. Thi sĩ Vô Danh
thấy cần phải làm gấp v́ ông không thể bị
bắt tù lại. Thi sĩ Vô Danh tự biết cơ
thể suy nhược tàn tạ v́ ho lao ra máu, và không
cơm, không thuốc, không tiền, và có thể chết
rất nhanh. Ngày Thi sĩ Vô Danh chạy vào ṭa đại
sứ Anh có thể là cuối năm 1978, hoặc trong tháng 4
hay tháng 6 năm 1979. Cái ngày “thật” có lẽ chỉ có
người Anh biết rơ nhất.
Ông Thiện nói rằng thi đậu Tú Tài
năm 1955 và bị bắt tù từ năm 1961. Ông Thiện
chỉ bị “tù” 27 năm, không phải 30 năm. Ông
Thiện chưa bao giờ bị ho lao. Ông Thiện khai chỉ
bị bệnh “thần kinh” v́ mất ngủ. Nhưng
ông Thiện vẫn chứng tỏ là một nhà diễn thuyết,
hùng biện với sức khỏe dồi dào, có thể nói
mạnh mẽ trong nhiều tiếng đồng hồ mà
không mệt. Ông Thiện khoe đă từng làm thơ...
Đường năm 1955 và 1956 nhưng đă bỏ hết
mấy bài thơ này! Vấn đề ông Thiện làm...
thơ th́ ta phải đặt ra nhiều nghi vấn. Ông
Thiện đă chỉ ngâm lại những bài của ông Vô
Danh hoặc những bài “thơ” (do ai?) sáng tác từ năm
1981, 1983... và có “sẵn” trong tập Hạt Máu Thơ. Không
thấy ông Thiện “chế tạo” được bài nào
trước và sau khi sang Mỹ cuối năm 1995!
* * *
Tại Orlando, Florida, ngày ông Thiện diễn
thuyết một cách gay gắt rằng người Việt
hải ngoại “không nên” căm thù “người” cộng sản
mà chỉ nên căm thù chế độ Cộng sản và
chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít. Ông Thiện cũng đồng
ư với Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự,
v.v... và đài VNCR của ông Lê Đ́nh Điểu đă có “công”
phỏng vấn mấy tên Cộng sản này “khiến
cho” Cộng sản phải thả chúng ra, cũng như
đă phải cho ông đi Mỹ... Ông Thiện nói đó là Cộng
sản “sợ” dư luận của 2 triệu người
Việt hải ngoại nên mới không bỏ tù suốt
đời hay giết những “người chống
Đảng” nói trên.
Ông Nguyễn Chí Thiện ngụ ư nếu Cộng
sản từ bỏ Mác Xít th́ chúng sẽ là người Việt
thuần túy như mọi người và như vậy sẽ
dễ ḥa hợp ḥa giải và ḥa cả làng! Ông Thiện
khuyên như vậy th́ ta phải
hiểu là “không nên căm thù” người Cộng sản nữa.
Cứ để yên cho cộng sản Mafia tư bản
đỏ vẫn nguyên vẹn với công an trị và với
chuyên chính... hữu sản! Người Cộng sản
Mafia tư bản đỏ sẽ xóa tên “cộng sản”
và chỉ c̣n giữ lại tên “Mafia tư bản đỏ”.
Thế là “hết Cộng sản”, dân ta tha hồ
sướng nhé!
Chúng tôi nghĩ rằng Cộng sản không cần
phải “sợ” người Việt hải ngoại
mà phải thả cán bộ Cộng sản “giả tù”.
Chúng thả tù giả để đổi lấy qui chế
tối huệ quốc trị giá hàng trăm tỷ đôla
và sự bền vững của chế độ Cộng sản.
Ông Thiện, Đoàn Viết Hoạt và đồng bọn
chí hữu nhân quyền, các cán bộ phê Đảng giả
vờ Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Hữu
Nhân, Hoàng Tiến... đều cùng nằm trong kế hoạch
chung của Hà Nội, đánh lừa người Việt hải
ngoại rằng Cộng sản đă cởi mở, cởi
trói rồi đấy để chạy theo Mỹ. Vậy
cứ yên chí nhớn, đừng chống Cộng, đừng
chống đối hiệp ước thương mại
làm ǵ cho mệt.
Vào thời điểm viết đoạn
này, tháng 12 năm 1999, th́ tất cả kế hoạch c̣ mồi
nhân quyền, phê đảng giả vờ, kể cả kế
hoạch của những người Mỹ thân Hà Nội,
đă trở thành thất bại hoàn toàn. Hiệp Ước
Thương Mại đă được ném vào sọt rác.
Cộng sản Hà Nội và Mỹ thân Hà Nội trơ mắt
ếch. Ngay cả đến du lịch để chạy
trốn sang Mỹ với hàng chục tỷ đôla cũng
thất bại hoàn toàn. Tất cả chỉ là nước
lă ra sông.
Theo người nghe kể lại th́ buổi
nói chuyện của ông Thiện tại Orlando được
đạo diễn như một buổi... học tập
cải tạo mà ông Thiện là cán bộ tuyên huấn, cử
tọa là những con cừu non. Tuy nói rằng cử tọa
có quyền đặt câu hỏi nhưng rút lại chỉ
có hai câu hỏi đă gài sẵn để cho dễ trả
lời. Những câu hỏi từ phía cử tọa th́ ban tổ
chức ỉm đi. Điểm này chính là sự thất bại
sau này cho ông Nguyễn Chí Thiện. Người hải ngoại
quả không thích bị coi như những con cừu non và họ
khinh tởm cái lối hùng biện bịp bợm lếu láo
với luận điệu bênh “người” Cộng
sản một cách nhà quê, ngu đần.
Dưới đây là hai bài thơ khác cùng chung
một đề tài:
Nh́n suất cơm
Nh́n suất cơm - cực h́nh tra tấn
Vừa khổ đau, vừa căm giận
bừng bừng
Hút của ta từng giọt máu bi
thương
Chúng cho ta ăn thua một con mèo
Và khoái trá khi ta xương da lủng củng
Vẫn ngấm ngầm sáng tác
Chúng hứa bắt ta phải quỵ gối
, cúi đầu
Ngậm đắng nuốt sầu tới
ngày lấp lỗ
Mang theo thơ phú xuống mồ
Nhờ Diêm Vương xuất bản
Cho loài giun đất đọc ngâm
Ta không trả lờI
Lấy mùi xoa lau qua vầng trán
……..
1987 NCT
(1)Mù xoa: mouchoir / handkerchief - khăn tay của
người sang trọng hay là cán bộ cấp tướng,không
phải người b́nh dân hoặc tù nhân ngoài Bắc.
Giả thuyết: Ông Nguyễn Chí Thiện phải
là cấp cao, cao lắm mới quen dùng mù xoa, nên tiện
đưa vào trong “thơ”. Đứng trước công an mà
ông Thiện không phải đeo c̣ng cánh tiên mà có thể lấy
mù xoa lau trán th́ đúng ông Thiện là “xếp sang trọng”
của công an rồi! Hai câu cuối cùng chắc cán bộ “làm
thơ” ngủ gật, nên chẳng ra câu cú, cũng chẳng
có nghĩa, chẳng ăn nhập vào đâu! Cán bộ sửa
thơ có lẽ c̣n dốt hơn nữa, nên cứ để
nguyên vẹn. Nhưng cũng có thể là thiếu tướng
công an thích khoe “mù xoa” ra cái điều ta đây là giai cấp
lănh đạo, chỉ huy, không cho “mù xoa” vào thơ th́
cũng uổng!
Thi sĩ Vô Danh viết về
“suất cơm tối” năm 1966, khi vẫn c̣n ở
trong tù, khác hẳn vần, điệu và ư nghĩa:
Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi c̣n đương đau khổ nh́n theo
Th́ nhanh như một đàn heo,
Bốn, năm đầu bạc dẫm
trèo lên nhau,
Bốc ăn một lúc sạch làu,
(Vô Danh -
1966)
Khi nào được gặp lại anh
Sẽ kể anh nghe nhiều về chuyện
sắn (khoai ḿ)!
Có chuyện thương tâm, chuyện cùm,
chuyện bắn,
Có chuyện nhục nhắn, phản phúc,
gian manh...
Tất cả tuy làm đau xót ḷng anh
Niềm đau ấy, quân thù khiếp hăi!
Tôi có thể viết dài viết măi
những chuyện mủi ḷng về sắn,
về khoai
Chế độ ta khoai sắn, một
đề tài
cũng bất diệt như đề tài
trai gái!
(Vô Danh -1967)
Đọc thơ
của Thi sĩ Vô Danh, ta thấy nổi bật lên
nhiều ư nghĩa, thâm thúy, sâu sắc. Đảng dùng
lương thực để kiểm soát dạ dầy,
kềm kẹp người dân trong tay sắt của
Đảng. Đảng Cộng sản “xiềng xích” con
người bằng lương thực. Nghe lệnh
Đảng, tuân theo Đảng, làm đảng viên, công an, đi
bộ đội th́ có ăn. Không có lương thực và
đói quanh năm, đói kinh niên, con người lúc nào
cũng hau háu đi t́m thức ăn như một con
vật đói, th́ làm sao có thể nổi loạn chống
Cộng?
“Thơ” của ông Thiện không có “thể
thơ” riêng biệt của một người. Cán bộ dốt
nát đâu biết thơ thẩn là cái quái ǵ, nên chỉ viết
đại ra rồi ngắt câu, xuống ḍng, cho có vẻ “câu
thơ”! Nếu độc giả chịu khó mất 12
đôla mua tập Hạt Máu Thơ, cộng thêm tiền gửi,
của chính tác giả Nguyễn Chí Thiện th́ chỉ cần
đọc một ít bài “vè” 3 chữ, sớ Táo Quân trên
đây là đủ điên người, thần kinh nát bét!
Bỏ ra 15 đôla làm chi cho uổng?
Đề tài “diễn thuyết” của ông
Nguyễn Chí Thiện có thể tóm tắt là ông chửi Cộng
sản là tàn ác, bất nhân, lừa lọc, bịp bợm...
th́ cái đó mọi người tị nạn cộng sản
ở hải ngoại đều biết từ khuya.
Nhưng ông Thiện khôn khéo “lái” mọi người
vào con đường “riêng của ông” là “Cộng sản
sắp chết đến nơi rồi, có thể là sang
năm 1997, có thể là năm 2000, hay hơn nữa th́ đồng
bào “không cần” lo chống Cộng làm ǵ cho mất công!”
Ông Thiện cũng đề cao Hà Sĩ Phu,
Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương,
Đoàn Viết Hoạt... là họ “chống đối thật
đấy”. Ông Thiện cũng kể các đài VNCR, Little
Saigon, báo Người Việt của các ông Đỗ Ngọc
Yến, Lê Đ́nh Điểu, Vũ quang Ninh, Phạm Long,
Nguyễn văn Nghĩa... là “dư luận” của
đồng bào hải ngoại hỗ trợ mạnh mẽ
cho đám cán bộ Cộng sản ṇng cốt, trung kiên và “không
bao giờ” chống Đảng đó, khiến cho chúng
không bị đảng giết, mà trái lại Đảng phải
tha, cũng như Đảng đă “phải” cho ông Thiện
ra khỏi tù và đi Mỹ! Ông Thiện tuy không ở quận
Cam, không đọc báo Người Việt và nghe các đài
phát thanh, nhưng vẫn có “mạng lưới” thông
tin cho ông. Ông Thiện đúng là một chính trị gia thứ
thiệt, có cả tập đoàn, tổ chức và đảng
làm hậu thuẫn đằng sau.
Dưới đây là những điểm
chúng tôi nhận xét về ông Nguyễn Chí Thiện và những
t́nh tiết chung quanh một nhân vật “công cộng”
(public figure) nổi bật nhất trong Cộng đồng
người Việt hải ngoại từ cuối năm
1995 đến 1996... Những nhận xét của chúng tôi “cụ
thể” theo đúng tập thơ Vô Đề của tác giả
Vô Danh và những điểm mâu thuẫn với con người
và “thơ” của ông Nguyễn
Chí Thiện.
1.Thi sĩ Vô Danh của tập
thơ Vô Đề hay là Hoa Địa Ngục I là một
người độc thân, con một, chỉ có cha mẹ
già. Hai vị này đă chết trong khoảng năm 1970
đến 1975. Thi sĩ Vô Danh đă ở tuổi 20 (21,
22?) năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền. Lúc
đó ông Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi. Thi sĩ
Vô Danh có học lực Tú Tài Pháp trước năm 1945 và rất
giỏi nói và viết tiếng Pháp, thật lưu loát. Thi
sĩ Vô Danh đă bị tù ra, tù vào, từ năm 1957 hay
1958. Ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ đầu thập
niên 60s chỉ có một tâm nguyện đưa được
tập thơ vào ṭa đại sứ để phổ biến
khắp thế giới, rồi chịu chết cũng cam
ḷng, v́ ông biết không thể thoát khỏi tay bọn công an
cộng sản ác ôn giết người như ngóe. Ông
cũng biết không thể sống lâu hơn nữa v́ bệnh
ho lao ra máu đă quá nặng, cơ thể ông đă kiệt
quệ, có thể chết bất cứ lúc nào.
2. Ông Nguyễn Chí Thiện đă quá sung sướng
khi ở Hà Nội với những kỷ niệm như mặc
complet toàn trắng đi dạo mát ở Hồ Gươm,
đi bơi thuyền ở Hồ Tây, ăn bánh tôm với
người bạn “đẹp như tiên”, mưa lụt
cũng có người thắp đèn đến mời
đi ăn cỗ, học đánh bốc, đánh vơ cho
cường tráng để có thể gặp địch là
bắt “nó quy hàng”... Thế th́ ông Thiện đă ở vào
giai cấp thống trị của Đảng ta. Nhà Nước
ta và chế độ ta “thật” rồi đấy nhé...
Làm ǵ mà có chuyện bị tù 27 năm? Ông Thiện tha “c̣ng”
thằng nào th́ phúc cho thằng đó, chứ ai dám đeo
c̣ng cánh tiên vào tay ông Thiện? Vả lại không được
học qua khóa huấn luyện “c̣ng” th́ làm sao biết c̣ng?
Giả thử chúng tôi gặp ông Thiện trong nước, ở
Hồ Tây, mà dám liếc nh́n “đào đẹp như tiên” của
ông th́ có lẽ được nếm mùi c̣ng cánh tiên của
ông ngay!
3. Ông Nguyễn Chí Thiện khi hô hào người
Việt hải ngoại “không căm thù Người Cộng
sản - mà chỉ căm thù chế độ và chủ
nghĩa Cộng sản”, th́ ông Thiện đă đứng
chung hàng ngũ với Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh
Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Đoàn Viết Hoạt... Như
vậy, ông Thiện đă đứng chung hàng ngũ với
những tên Cộng sản trung kiên, khát máu đă chỉ vẽ
bánh vẽ “tranh đấu”, bánh vẽ để bịp bợm chúng tôi.
Mục đích
của ông Thiện là mong muốn người hải
ngoại “đừng căm thù” người Cộng
sản nữa, và hăng hái gởi tiền về
nước đầu tư, du lịch để nuôi
sống chế độ Cộng sản đang bị
khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng.
Điều này dễ hiểu v́ ông Thiện
từng ăn nhậu với Hoàng Minh Chính, với Giám Đốc
công an Hà Nội, với Nguyễn Huy Thiệp, với “ai
khác” nữa trước khi đi sang Mỹ... th́ chỉ
có một ḿnh ông Thiện biết mà thôi. Tiếc rằng ông
Thiện không muốn và không thể nói sự thật về
quá tŕnh hoạt động của ông ở miền Bắc
cũng như cấp bậc, chức vụ... Nhưng rồi
cũng có ngày chúng tôi sẽ biết. Người Mỹ có
tính rất hay là tuy họ biết rồi nhưng họ vẫn
mặc kệ, dùng c̣ mồi của Vẹm làm c̣ mồi cho
họ, có sao đâu? Gậy ông đập lưng ông là thủ
đoạn thông thường của ngành phản gián. Quả
đất tṛn và thời gian đi cũng nhanh, phải vậy
không, ông Thiện?
Chúng tôi
cũng nghe nói Cục Phản Gián cũng sửa soạn một
tên cán bộ “khác” cấp bậc đại tá làm thi sĩ rổm
để bịp người hải ngoại. Tên này có tên
là Nguyễn Văn Tùng, có hai con gái, một ở California, một
ở Gia Định. Trong vụ sửa soạn này, tên
đại tá phản gián đă được đặc
cách thăng quân hàm thiếu tướng.
4. Coi video h́nh ông Thiện diễn thuyết một
cách rất sắt máu, sắt đá, muốn áp đảo
tinh thần cử tọa, muốn buộc cử tọa phải
tuân theo ư chí cương quyết của ḿnh, không cho cử
tọa đặt câu hỏi, chỉ có câu hỏi c̣ mồi
đă được sửa soạn sẵn, th́ chúng tôi thấy
ông Thiện đă hiện “nguyên h́nh”, không phải là một
người tù 27 năm và ho lao ra máu. Dĩ nhiên ông Thiện
rất khỏe mạnh và không hề ho lao ra máu bao giờ.
Ông Thiện tuy nói rằng bị bệnh thần kinh v́ quá
căng thẳng mệt mỏi và rất yếu. Trái lại
chúng tôi thấy ông Thiện hoàn toàn không có triệu chứng
bệnh tật nhất là bệnh thần kinh hay tâm thần.
Ông Thiện không hề bị co giật cơ bắp trên mặt,
trên miệng và không hề nhầm lẫn ngọng nghịu,
và nhất là không hề vấp váp trong mấy giờ liền.
Ông Thiện có thể nói thao thao bất tuyệt một
cách hùng hồn mạnh mẽ như một cán bộ cấp
cao tuyên huấn trong hơn 3 giờ liền, chỉ uống
nước có một lần (tối 14/12/1996 ở Orlando,
Florida). Nếu ở tù cộng sản 27 năm mà khi ra hải
ngoại vẫn tiếp tục bênh và cứu sống Cộng
sản th́ người Việt hiểu ngay là ông Thiện
chưa bao giờ ở tù thật.
5. Chúng tôi khẳng định là kế hoạch
“thay đào đổi mận” của Cục Phản
Gián đă thất bại hoàn toàn như toàn bộ cán bộ
c̣ mồi bánh vẽ từ Bùi Tín đến Nguyễn Hộ,
Hoàng Minh Chính. Chúng tôi khẳng định là ông Thiện
đă bắt đầu thất bại ở nhiều
nơi. Cuộc họp ở Orlando ngày 14/12/1996 đă
được Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm
Ngọc Cửu sửa soạn và xách động người
Việt trong gần 6 tháng trời mà cuối cùng chỉ loe
ngoe có mấy chục người. Tập đoàn Bửu
Sao lại bắt mọi người phải đứng dậy
vỗ tay hoan hô như đối với lănh tụ, chính
khách “nhớn” khi ông Thiện và đồng bọn Bửu
Sao, Hội và Cửu bước vào pḥng hội.
6. Trong nhiều cuộc họp Cộng đồng
năm 1996, người ta thường thấy mặt
đủ thứ quốc doanh “dính liền” với nhau
như thi sĩ quốc doanh (state-owned poet), sư quốc
doanh, “cha” quốc doanh và đại diện, lư thuyết gia
của mặt trận kháng chiến quốc doanh để
kêu gọi “nhân quyền năm 2000”, đ̣i “liên kết
trong ngoài” với Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu,
tổ chức đại hội Cư Sĩ với mục
đích hàng ngũ hóa nhân dân kiểu Sô Viết, tranh đấu
đ̣i Mỹ phải gửi đại sứ đến
Hà Nội và cho quy chế tối huệ quốc, và nếu
cần th́ xuống đường, tự thiêu... đánh thẳng
vào nền tảng chính trị Hoa Kỳ!
7. Lần sau, nếu có lần sau, ông Thiện
mà trở lại Orlando th́ chỉ có 3 người, Bửu
Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu đến
nghe và vỗ tay bất b́nh thường kiểu xanh vỏ
đỏ ḷng tay mà thôi. Đài phát thanh Khoa Học Kỹ Thuật
và nhiều tờ báo tại quận Cam và các nơi đă từ
chối không cho ông đến dù ông đă điện thoại
năn nỉ xin được đến để nói
chuyện, để có dịp ra mắt, quảng cáo không tốn
tiền. Có lẽ họ đă thấy cái ǵ trong ḿnh ông Thiện
chăng?
Người ta chẳng biết gốc gác “thật”
của ông Thiện ra sao, nên họ ngài ngại. Vả lại,
chẳng ai thích thú ǵ khi ông Thiện trổ tài nghệ siêu
đẳng biểu diễn về Kiểu C̣ng Cánh Tiên bất
hủ của ông và Công an cộng sản. Những buổi
nói chuyện của ông cũng gần như không được
báo chí phát thanh ở Hoa Kỳ loan tin. Người Việt
chúng tôi cũng v́ sợ cái kiểu C̣ng Cánh Tiên nên phải chạy
“loạn cộng sản” ra hải ngoại.
8. Kể từ khi bài này được phổ
biến th́ ông Thiện đi đến đâu cũng phải
trả lời những câu hỏi trong tập thơ “Hạt
Máu Thơ” của ông. Tất nhiên những người tổ
chức cho ông đi đây đi đó để làm chính trị
hải ngoại cũng chẳng thích thú ǵ cho ông đi du lịch
nữa và họ đă nh́n thấy trước sự thất
bại, tốn tiền, tốn công vô ích, với nhiều hậu
quả dội ngược hay là “phản” tuyên truyền.
9. Tŕnh độ người Việt hải
ngoại rất cao và rất văn minh. Một cán bộ dù
có cấp bậc cao, dù có kinh nghiệm hùng biện diễn
thuyết trong các lớp học cải tạo, th́ làm
được cái ǵ để lấy ḷng, thu hút và lôi cuốn
người Việt hải ngoại? Tŕnh độ
"chính trị" quá ấu trĩ, tư cách bần cố
và những lời lẽ "đanh thép" kiểu cán bộ
chuyên chính của ông Thiện có lẽ chỉ thích hợp với
các lớp học tập cải tạo hay là "rèn cán chỉnh
quân" trong nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ
Nghĩa, hơn là tại diễn đàn Cộng đồng
hải ngoại. Làm chính trị đă khó, mà “thu hút”
được sự quư mến và tin tưởng của
người Việt hải ngoại, lại càng khó hơn.
10. Nói thật với ông Thiện rằng dù
ông tuyên bố sẽ ra đài phát thanh hay ra báo theo kiểu
kháng chiến quốc doanh năm 1983, 1984, để “quyên tiền”
đồng bào “ chống Cộng” th́ cũng chẳng
có người Việt hải ngoại bị ông bịp bợm
lần nữa đâu. 15 năm trôi qua, mọi người
nghĩ đến kháng chiến phở tái, áp chảo, kháng
chiến quốc doanh với mấy thằng Vẹm ngồi
lù lù một đống cầm đầu, chỉ huy... th́
ai cũng ớn đến mang tai. Cái vụ ra đài, ra báo
vào năm 1997 để bịp bợm chống Cộng, “xách
động” và moi tiền quần chúng, không moi được
th́ khủng bố đe giết, dọa giết, giết
thật... đă lỗi thời, quá date... từ khuya!
11. Một con vật
dốt như vịt, diễn thuyết như vịt,
bước đi như vịt, nói quang quác không mỏi
mệt như vịt, th́ đúng là con Vịt thật sự.
Một con Vịt nói như Vẹm, cương quyết
sắt máu như Vẹm, bắt cử tọa phải nghe
ḿnh nói tràng giang đại hải kiểu tuyên huấn,
bịp bợm Vẹm, bắt cử tọa phải
đứng dậy vỗ tay chào đón hoan hô như đón
lănh tụ Vẹm, th́ đúng là Vịt Vẹm thứ
thiệt rồi, c̣n ǵ nữa!
12. Lập trường duy nhất và kiên
định của toàn thể 80 triệu người “trong
nước” là phải tiêu diệt tập thể lănh đạo
Cộng sản Mafia tư bản đỏ bằng bất
cứ giá nào để cứu nước Việt Nam. Đến
giờ này mà ông Thiện c̣n nghĩ rằng với tài sức
của ông mà cứu nổi cho lănh đạo Cộng sản
Hà Nội khỏi chết th́ ông Thiện đă nhầm lớn.
Ông Thiện hoàn toàn không có tài, có đức, th́ làm sao thu hút
được hơn hai triệu người Việt hải
ngoại vào một khối do ông làm lănh tụ và điều
khiển? Tại Sata Ana, tháng 12/1995, ông Thiện có nói không
nuôi mộng lập Đảng, làm lănh tụ, làm chính trị
th́ hiện nay ông Thiện đang làm ǵ? Vẽ bánh vẽ
“đừng căm thù người Cộng sản” nữa
và “đừng chống Cộng nữa v́ Cộng sản sắp
chết đến nơi” chăng? Hay là ông Thiện đă
có đảng rồi, có lănh tụ sẵn rồi, và nhiệm
vụ của ông chỉ là bảo vệ mà thôi?
13. Ông Thiện đă “đánh” không
đúng chỗ. Người hải ngoại cũng căm
thù Cộng sản như người trong nước,
nhưng cả trong và ngoài nước đều ở trong
hoàn cảnh không thể dùng bạo lực vũ trang tiêu diệt
Cộng sản. Chỉ có chúng tôi có đủ bạo lực
vũ trang tiêu diệt bọn cầm đầu Mafia tư
bản đỏ Hà Nội, bọn tay sai Trung Cộng, và những
tên chó săn, nằm vùng, gián điệp, quốc doanh,
văn nô bồi bút ở hải ngoại.
14. Chúng tôi có đủ quyền lực và bạo
lực để tiêu diệt Cộng sản th́ chúng tôi
không cần phải ḥa giải hay ḥa hợp với Cộng
sản. Tiêu diệt xong Cộng sản th́ toàn thể dân tộc
Việt Nam sẽ được tự do xây dựng lại
quê hương. Họ sẽ có đủ thứ tự do,
dân chủ, nhân quyền, dân quyền, no ấm, giầu mạnh.
Đất nước sẽ sạch sẽ không c̣n quỷ
ma Cộng sản, không c̣n bọn công an dữ dằn chỉ
biết c̣ng người bằng cánh tiên và bắt người,
giam người. Sẽ có một trại học tập cải
tạo đặc biệt dành riêng cho bọn lănh tụ
Mafia tư bản đỏ ác ôn, các sư tăng và văn
nghệ thi sĩ quốc doanh, các văn nô bồi bút, báo
sĩ, cư sĩ và tiến sĩ năm vùng tay sai cho Cộng
sản. Chúng tôi có bạo lực và quyền lực tiêu diệt
Cộng sản thí cái cỡ ngục sĩ rổm, thi sĩ
quốc doanh là cái thá ǵ mà bịp bợm nổi chúng tôi?
15. Cộng sản Bắc Kinh và cán bộ Tàu,
Việt gốc Tàu đang cầm quyền tại Hà Nội.
Chúng đă giết chết các “đồng chí” của chúng
như Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đ́nh Tứ,
Dương văn Đầy, mấy chục tên khác nữa
và vẫn tiếp tục giết... Tại sao ông Thiện
không đả động đến chuyện chính trị
Bắc Kinh ngay tại Hà Nội mà ra hải ngoại múa mỏ
khua môi một cách lỗi thời, quá date như vậy? Giám
đốc Thông tin Saigon Ca Lê Thuần mới bị thay thế
bằng Lê Hồng Liêm tức Sáu Liêm, một người
Tàu Chợ Lớn chính hiệu con nai. Tên này sẽ ép báo chí
văn nghệ (cộng sản) miền Nam vào khuôn phép sắt
máu của Đảng Cộng sản... Tàu. Cả chục
tướng và tư lệnh mới bị mất chức
và cố vấn Trung Cộng đang ngồi ngay tại các
quân khu và bộ chỉ huy để ra lệnh, điều
quân. Ông Thiện và các “chí hữu” của ông nên lên tiếng
và tỏ thái độ về vấn đề này.
16. Theo t́nh h́nh hiện nay th́ chế độ
Cộng sản Hà Nội chỉ c̣n cái tên. Thực lực
ṇng cốt đă bị Bắc Kinh tiêu diệt. Như vậy
ông Thiện chẳng c̣n “người Cộng sản Hà Nội”
nào để mà cứu. Người Việt chúng tôi không ai
muốn gửi tiền về Việt Nam nữa. Tất cả
toàn dân hiện nay đang dồn nỗ lực vào vấn
đề tiêu diệt bọn cán bộ Tàu Cộng do Lê Khả
Phiêu cầm đầu ở ngay Hà Nội. Ông Thiện có
quyền phục vụ cho chế độ của ông,
đó là quyền tự do của ông. Nhưng người
Việt chúng tôi thẳng thắn tố cáo những tên cộng
sản bịp bợm, quốc doanh, đang lăm le xảo
trá bịp bợm chúng tôi thêm nữa, th́ đó là quyền tự
do của chúng tôi.
17. Chúng tôi hiểu rằng chỉ có tiêu diệt
những tên cộng sản Mao Xít và Xít Ta Lin Nít đang cầm
quyền như Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Hoàng
Minh Chính tức trung tướng công an phản gián Trần
Ngọc Nghiêm, thượng tướng công an Lê văn Quư tức
Lê Hồng Hà, trung tướng công an Lê Minh Hương, trung
tướng công an Nguyễn Tấn Dũng, trung tướng
công an Nguyễn thị Xuân Mỹ, trung tướng bộ
đội Phạm văn Trà, v.v..., và đồng bọn Hà
Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, Đoàn Viết Hoạt, Đỗ
Trung Hiếu, và bè lũ chó săn, bồi bút, c̣ mồi,
văn nghệ thi sĩ quốc doanh hải ngoại, th́ cả
nước Việt sẽ hồi sinh. Toàn dân Việt sẽ
sống trong thanh b́nh tự do, no ấm và “không c̣n Cộng sản.”
18. Để
kết thúc bài viết, bài thơ của Thi sĩ Vô Danh nói
lên đời sống trong chế độ Cộng
sản nô lệ, ngục tù và cái ǵ sẽ phải xảy
ra:
Miêu tả
đảng Cộng sản:
Đảng d́u dắt thiếu nhi thành trộm
cướp!
Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành
trâu
Giúp người già bằng bắt bớ rể
dâu
và cải tiến dân sinh thành xác mướp
Đảng thực chất chỉ là đảng
cướp
Dựng triều đ́nh mông muội giữa
Văn Minh!
Sống tạm thời nhờ thủ
đoạn yêu tinh!
Nhờ súng đạn Tầu, Nga bắt bớ
Đảng c̣n kia, bát phở hóa thành mơ!
(Vô Danh - 1973)
Đời sống
dưới chế độ Cộng sản:
Với tôi, ngày sống là sống giả
Lao động nhục nhằn, đói
ăn rũ lả
Và như tù măi chẳng cần ra!
cả quá khứ, tương lai, cùng hiện
thực.
Tim với óc căng lên v́ động lực
Đẩy vần thơ từ đau khổ
chồi ra!
Những vần thơ có h́nh dạng là hoa
Song sức phá vạn lần hơn trái phá!
(Vô Danh -
1971)
Và đây là giải pháp cần
phải áp dụng tiêu diệt Cộng sản trong
tương lai:
Tên lửa tầm xa chưa đủ!
Mới có thể san bằng khổ nhục.
Mới có thể đào lên khôi phục
giá trị con người, phong tục, thi
ca...
Dù xích tăng nhằm nghiền nát đời
ta
Dù bước tận cùng Cộng sản thủ
tiêu ta
Ôi những binh đoàn trọng pháo chiến
xa
Tiếng gầm rú của người sẽ
làm ta hả dạ!
(Vô
Danh -1972)
Thi sĩ Vô Danh
dứt khoát phải tiêu diệt Cộng sản:
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ
lan nhanh
Nhưng không thể dùng bom A bom H
Phá nát địa cầu v́ một lũ
gian manh
Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ
viết
những tội tầy đ́nh được
bưng bít tinh vi!
Cộng sản là ǵ?, tự nó sẽ tan
đi!
Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy
diệt!
(Vô Danh -
1973)
Đoạn sau cũng là đoạn kết:
Ngày thứ Tư 8/7/1998. Nguyễn Chí Thiện
kể chuyện ma - giới vô h́nh cũng căm thù Cộng
sản. Lời giới thiệu - VNN - Mới đây, Nghị
Viện các Nhà Văn Quốc Tế đă tài trợ cho hai
nhà văn thơ Việt Nam nổi tiếng ở Strasbourg,
Pháp quốc, để có thời gian sáng tác. Đó là nhà
thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả thi phẩm bất hủ
“Hoa Địa Ngục”, và nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả
hồi kư “Đêm Giữa Ban Ngày”. Cả hai ông đều
là tù nhân lương tâm dưới chế độ Cộng
sản nhiều năm. Nhân dịp này, thông tín viên VNN tại
Pháp đă có cuộc phỏng vấn đặc biệt với
nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về đời sống cá
nhân ông và t́nh h́nh Việt Nam hôm nay.
VNN: Thưa ông Nguyễn Chí Thiện,
được biết ông đă rời Hoa Kỳ sang Pháp
trong một năm, theo lời mời của Nghị Viện
các nhà văn Quốc Tế. Khí hậu nước Pháp có tốt
cho ông không? Và sức khỏe của ông hồi này ra sao?
NCT: Hiện nay tôi thỉnh thoảng vẫn
c̣n bị choáng váng, có lẽ do áp huyết thấp, nhưng so
với hồi c̣n ở trong nước th́ khá hơn nhiều.
Khí hậu nước Pháp nổi tiếng là dễ chịu,
nhưng bây giờ cũng đă khác, hay có những thay đổi
bất thường. Nhân loại đang phải trả giá
cao cho sự phá hoại môi sinh quá trớn kể từ
đầu thế kỷ.
VNN: Ông vẫn tiếp tục làm thơ
chứ?
NCT: Tôi đă ngưng làm thơ từ
năm 1988. Thể loại này chỉ tốt khi tôi ở
trong tù, không có giấy bút (sic). Văn xuôi rộng đất
cho sự diễn đạt hơn. Hiện giờ tôi có ư
định dùng văn xuôi để viết lại quảng
đời tôi đă trải qua. Đặc biệt là giai
đoạn 6 năm ở Hỏa Ḷ Hà Nội, từ 1979
đến 1985. Hỏa Ḷ bây giờ đă bị phá để
xây một khách sạn lớn. Cần phải có một chút
kỷ niệm cho nó. Tôi muốn ghi lại những cảnh
sống trong Hỏa Ḷ, trại giam giữa thủ đô, gần
trung ương nhất, mà con người sống ở
đó lại gần với con vật nhất, có nghĩa Hỏa
Ḷ là nơi kinh tởm nhất trong số những nhà tù mà
tôi đă sống qua. Hiện tôi đang ở cùng với nhà
văn Vũ Thư Hiên tại thành phố Strasbourg tại
miền Bắc nước Pháp. Trước đây chúng tôi
đă ở cùng nhau tại trại Phong Quang giáp biên giới
Việt Trung. Nhà văn Kiều Duy Vĩnh mà bạn đọc
có dịp làm quen qua một số chuyện kư “Cuộc tuyệt
thực ở trại Cổng Trời”, “Thánh Tử Đạo
thứ hai mà tôi được gặp”, v.v.., cũng ở
đấy cùng chúng tôi. Có nhiều chuyện để mà nói
với nhau lắm, chuyện cũ, chuyện mới, nhiều
nhất là những dự định sáng tác. Chúng tôi bắt
đầu viết chung một cuốn sách về những
hồn ma oan khuất ở các trại tù trên miền Bắc
Việt Nam.
VNN: Chẳng lẽ lại là một cuốn
chuyện ma?
NCT: Đúng. Nhưng đây là ma tù, một thứ
ma đặc biệt. Có lẽ do họ chết quá oan khuất,
hồn không siêu thoát được, cho nên sự hiển hiện
của họ cũng rất lạ. Nhiều người
tù, và cả cán bộ trại giam, đă được chứng
kiến sự linh thiêng của họ. Tôi nhấn mạnh:
đây không phải là chuyện ma tưởng tượng.
Không giống như Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh.
Tôi và nhà văn Vũ Thư Hiên đều không phải là những
người mê tín dị đoan.
VNN: Ông có gặp ma tù?
NCT: Câu trả lời sẽ nằm trong cuốn
sách sẽ ra đời.
VNN: Ông có thường xuyên theo dơi thời sự
trong nước không?
NCT: Từ ngày rời Việt Nam, tính tới
nay vừa tṛn 30 tháng, tôi luôn gắng liên lạc t́m hiểu
t́nh h́nh nội bộ đảng Cộng sản Việt
Nam, cuộc sống và tâm trạng của nhân dân, v́ đó là
hai yếu tố quan trọng nhất cho ta hiểu sự
diễn tiến của cuộc đấu tranh v́ dân chủ
và tự do. Tôi rất tha thiết mong đất nước
sớm có dân chủ và tự do để tôi có thể trở
về.
VNN: Theo ông, tướng Trần Độ là
người thế nào? Có người gọi ông ta là “c̣ mồi
cộng sản”, là “đối lập cuội”, ông nghĩ
sao?
NCT: Số người gọi ông Trần
Độ bằng từ ngữ hàm hồ như thế rất
hiếm. Thậm chí có người c̣n gọi ông ấy là
con ngựa già của chế độ. Riêng tôi, giả thử
Trần Độ có là con ngựa già của chế độ
mà nay trở thành bất kham, muốn quật đổ chế
độ, th́ đó là điều rất đáng hoan nghênh. Đọc
những bài viết của ông Trần Độ từ
năm 1988 tới nay, nghĩa là từ hồi tôi c̣n nằm
trong tù, tôi thấy ông là người rất đáng tôn trọng.
Năm 1988, khi ông c̣n làm Trưởng ban Văn Hóa-Tư
Tưởng của Trung Ương Đảng Cộng sản,
ông đă viết một bài đăng trên báo Văn Nghệ
yêu cầu đảng Cộng sản đừng có đóng
vai kẻ “chọn món ăn tinh thần cho nhân dân, v́ nhân dân
đủ thông minh để chọn lấy.”
Nghĩa là ngay từ hồi đó ông đă
đ̣i hỏi đảng phải để cho nhân dân
được quyền thông tin đầy đủ, không
thể bị bưng bít, chỉ được đọc
và nghe những ǵ đảng cho phép. Sau đó ông lại bị
loại bỏ. Cái đó không làm ai ngạc nhiên. Ở trong
tù, bọn công an nhiều lần nói với tôi về tướng
Trần Độ một cách rất hỗn xược.
Chúng nó khoe đă đến nhà ông khám xét nhiều lần. Tất
nhiên đứng trên lập trường đảng cộng
sản, chúng nó phải coi ông là tên phản bội. Gần
đây, ông tuổi đă cao, lại bị liệt, nhưng
ông vẫn tiếp tục viết bài đ̣i hỏi dân chủ
hóa, đ̣i hỏi tự do ngôn luận... Tôi nghĩ đ̣i hỏi
hai điều kiện này cũng đồng nghĩa với
đ̣i hỏi giải thể chế độ độc
tài, đảng trị, mà đây là điều tất cả
những người Việt Nam đều mong mỏi.
Trong những bài viết của ông, có đôi
chỗ ông c̣n viện dẫn tư tưởng Hồ Chí
Minh, thậm chí c̣n dễ dăi dành quyền lănh đạo
chính trị cho đảng Cộng sản. Ai sống trong
ḷng chế độ Cộng sản và hiểu chế
độ Cộng sản th́ thấy ngay ông đă phải
viết như thế trong hoàn cảnh nào. Phải vừa
đánh vừa đỡ. Ở địa vị của
ông hành xử như vậy là khôn ngoan, Ông tranh đấu
cho dân chủ ngay trong nội bộ đảng, ngay tại
thủ đô Hà Nội, ông không thể giống như chúng
ta đấu tranh ở Mỹ, ở Pháp hay ở Đức.
Tôi có quen ông, tiếc rằng chỉ trên điện thoại,
tôi hiểu ông là người điềm đạm,
nhưng ông vững vàng trong trận chiến đấu của
ḿnh!
VNN: Thưa ông,
liệu những tiếng nói phản kháng trong nước
có làm nên chuyện ǵ trong việc dân chủ hóa đất
nước không?
NCT: Tôi đă nhiều lần phải nhắc
đi nhắc lại ngôn luận là cái cầu nối liền
giữa tư tưởng và hành động. Nó là bước
đầu không thể thiếu trong cuộc đấu
tranh để dân chủ hóa đất nước.
Những tiếng nói phản kháng ở trong
nước là vô cùng quư báu. Theo tôi, tiếng nói của ông
Trần Độ là tiếng nói gây tác động lớn
nhất. Trong đảng, trong quân đội, có nhiều
cán bộ sĩ quan cao cấp là bạn hoặc đàn em của
Trần Độ. Những lời tâm huyết của
ông đánh thẳng ngay vào tim óc của những lực
lượng mà nhúm lănh tụ đảng coi như trụ cột
để họ dựa vào nhằm giữ vững địa
vị và đặc quyền. Một khi trụ cột lung
lay th́ chế độ cũng phải lung lay và sụp
đổ nhanh chồng chất. Indonesia là một minh chứng.
Tôi coi những chiến sĩ dân chủ như Nguyễn
Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đ́nh
Huy, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc... là những
người chuẩn bị tâm lư cần thiết cho nhân dân
trong cuộc nổi dậy trong tương lai.
Có những người ở hải ngoại
coi họ là “c̣ mồi”, là đối lập cuội” nên tự
đặt cho ḿnh câu hỏi: “Mấy lănh tụ Cộng sản
bày tṛ tự gây rắc rối cho ḿnh như vậy để
làm ǵ?” Những h́nh ảnh tưởng tượng trong
đầu những chính khách sa lông chẳng có ǵ giống với
thực tế. Ở ngoài này, tôi c̣n thấy một hiện
tượng, tuy không phổ biến, nhưng cũng khá tai
hại. Đó là thái độ mong chờ chế độ
hiện tại tự dân chủ hóa. Tôi nghĩ sự mong chờ
này là vô vọng. Muốn dân chủ hóa xă hội nhất thiết
phải dẹp bỏ chế độ độc tài đảng
trị. Đây là tiền đề không thể thiếu.
* * *
Năm tháng trôi qua, cái kim trong bọc
cũng có ngày phải ḷi ra. Ông Nguyễn Chí Thiện không
biết làm thơ và cũng không viết nổi chuyện ma
tù. Nếu Đảng Cộng sản thành công lừa bịp
Mỹ kư kết Hiệp Ước Thương Mại với
quy chế tối huệ quốc, th́ giờ này, người
Việt hải ngoại thấy tất cả bọn c̣ mồi,
nhân quyền, kháng chiến ma, chính phủ dổm, báo đảng,
đài đảng, tăng ni quốc doanh và toàn bộ chó
săn cộng sản hải ngoại... có thể trơ
tráo ra mặt công khai với cờ đỏ sao vàng! Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ đă sẵn sàng cấp 150,000 chiếu
khán du lịch vào Mỹ mỗi năm, để Hà Nội
gửi khoảng vài chục sư đoàn du kích buôn lậu,
ma túy, băng đảng xâm nhập và đánh phá tan nát xă hội
Hoa Kỳ.
Ngày 22 tháng 10 năm 1999, toàn bộ Mạng
Lưới Nhân Quyền Quốc Doanh đă họp Đại
Hội kỳ 3 tại quận Cam với thư chào mừng
đại hội của Thích Tuệ Sỹ, với
Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện, các sư
Thích Minh Tuyên, để cố gắng cổ vũ nhân quyền
cho Đảng ta được kư hiệp ước
thương mại, theo kiểu “c̣n nước c̣n tát”.
Nhưng hỡi ơi! Vào giờ phút chót hiệp
ước Thương Mại không được kư, khiến
tất cả ḷ ra cả ổ nhân quyền dổm, tù giả
vờ, tăng ni quốc doanh, kháng chiến ma, chính phủ
bịp, các đoàn thể chính trị, phong trào khăn quàng
đỏ... đă hố to, v́ đă ḷi mặt chuột, mặt
chó săn Cộng sản ra cả lũ.
Hiệp ước Thương Mại không
kư. Chiếu khán du lịch cũng không! Chính quyền Mỹ
th́ ngậm tăm, yên lặng đến rùng ḿnh. Từ ngày
Tóm lại, toàn chế độ Cộng sản
và bọn chó săn, c̣ mồi, quốc doanh hải ngoại
đang như cá nằm trên thớt. Người viết
bài này khẳng định với các ông Nguyễn Chí Thiện,
Đoàn Viết Hoạt và các cán bộ Cộng sản từ
Bùi Tín đến Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ
Phu rằng chúng tôi vẫn có bạo lực. Chúng tôi sẽ xử
dụng bạo lực để tiêu diệt toàn bộ
đầu năo Cộng sản. Chúng tôi sẽ cho toàn bộ
lănh đạo Cộng sản và bọn quốc doanh, c̣ mồi
tắm trong máu của chúng.
Bách Linh
Ngày