Trung Cộng có thể tạo bất ổn không ?

 

Tin Á Châu -Bắc Kinh -  Phiên họp khoáng đại của quốc hội Trung Cộng năm 2005, được gọi bằng danh từ to lớn là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, đă được báo chí quốc tế nói đến rất nhiều. Có hai vấn đề rất đáng quan tâm qua đại hội này: Thứ nhất, đại hội thông qua dự luật chống ly khai nhắm vào Đài Loan. Thứ hai, tăng chi quốc pḥng 12.6% so với năm 2004, lên con số 247.7 tỷ nhân dân tệ, tức 29.9 tỷ mỹ kim. Hai điều này đă làm thế giới, nhất là Hoa Kỳ, quan tâm tới sự bất ổn trong eo biển Đài Loan. Khi ngân sách quốc pḥng chính thức mà Trung Cộng công bố cho năm 2005 là 29.9 tỷ mỹ kim, th́ số tiền thực sự họ sẽ xử dụng có thể lên hàng trăm tỷ. Theo cơ quan Tài Giảm và Kiểm Soát Vũ Khí của Hoa Kỳ (ACDA, Arms Control and Disarmament Agency), con số chi tiêu thực sự về quốc pḥng của Trung Cộng thường gấp 7 hay 8 lần con số được công bố. Theo nhiều nhà nghiên cứu quân sự th́ khoảng 3 hay 4 lần.

Thúc đẩy bởi quan niệm xây dựng quốc pḥng vững mạnh là chiến lược trong sự nghiệp hiện đại hóa, bảo đảm sự thống nhất đất nước Trung Cộng, bảo đảm “xă hội chủ nghĩa”, bắt kịp quân đội các quốc gia tiên tiến, Trung Cộng đă mỗi năm mỗi tăng ngân sách quốc pḥng. Năm 1999 tăng 15.2% so với 1998, 2000 tăng 12.6% so với 1999, năm 2001 tăng 17.7% so với năm 2000, năm 2002 tăng 17.6% so với năm 2001, 2003 tăng 10% so với 2002, năm 2004 tăng 11.6% so với 2003, và năm nay tăng 12.6% so với năm 2004.

Nhưng theo một tài liệu nghiên cứu của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, Trung Cộng dùng khoảng 50% ngân sách quốc pḥng để mua sắm vũ khí, dụng cụ trang bị và xây dựng cơ sở. 35% chi cho công tác điều hành, 15% dùng cho nghiên cứu và thí nghiệm. Ngân sách cũng được chia cho các quân binh chủng như sau: 25% cho bộ binh, 15% cho hải quân, 15% cho pḥng không chiến lược, 5% cho lực lượng hỏa tiễn, 5% cho không quân chiến thuật.. Từ năm 1967 đến năm 1983, 45% ngân sách quốc pḥng dùng mua vũ khí và thiết bị. 25% trong số này dùng mua hay tân trang phi cơ, 15% mua vũ khí cho bộ binh, 10% canh tân hải quân và 10% chi cho lực lượng hỏa tiễn. Bắt đầu từ năm 1985, Trung Cộng đă đặc biệt chú ư đến các loại vũ khí và trang bị các kỹ thuật ( cao ), điện tử, tinh khôn. Năm 1991, sau khi nh́n thấy kỹ thuật quân sự của Hoa Kỳ qua chiến dịch Băo Sa Mạc, Trung Cộng càng nỗ lực hơn để canh tân quân đội, một quân đội về số lượng th́ đông như kiến, nhưng rất yếu kém về khả năng tác chiến.

Lực lượng quân sự Trung Cộng có con số rất khổng lồ, tháng 9 năm 2003, Giang Trạch Dân tuyên bố đến năm 2005, sẽ cắt giảm 200 ngàn quân. Như vậy, có lẽ con số vừa Quân đội chính qui cộng với trên 1 triệu cảnh sát vũ trang, lực lượng quân đội Trung Cộng hiện đang ở khoảng từ 2.3 hay 2.4 triệu người. Ngoài quân chính qui và cảnh sát vũ trang, Trung Cộng c̣n có lực lượng dân quân, bán vũ trang ở khoảng trên 1 triệu.

Với nhiệm vụ căn bản “bảo vệ đảng” là nhiệm vụ đầu tiên, quân đội Trung Cộng được đặt dưới sự chỉ huy tối cao của Quân ủy trung ương do ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản chỉ định. Chủ tịch quân ủy luôn luôn là tổng bí thư đảng. Việc Giang Trạch Dân không c̣n giữ chức Tổng Bí Thư qua đại hội đảng thứ 16 trong tháng 11 năm 2002, nhưng vẫn giữ chức chủ tịch quân ủy cho đến tháng 9/2004, qua đại hội trung ương đảng lần thứ tư của khóa 16 mới giao lại cho Hồ Cẩm Đào, đây có thể coi là một việc bất thường như thời gian Đặng Tiểu B́nh trước đây.

Quân Ủy Trung Ương của Trung Cộng thời gian Giang Trạch Dân làm chủ tịch gồm có 8 người. Ngoài Giang Trạch Dân (chủ tịch), Hồ Cẩm Đào (phó chủ tịch), có 6 tướng lănh là Quách Bá Hùng (Guo Boxiong), Tào Cương Xuyên (Cao Gangchuan), Từ Tài Hậu (Xu Caihou), Lương Quang Liệt (Liang Guanglie), Liêu Tích Long (Liao Xilong), và Lư Kế Nại (Li Jinai). Quách và Tào đều là phó chủ tịch quân ủy. Khi được Giang Trạch Dân nhường lại chức chủ tịch, Hồ đă đề nghị Từ Tài Hậu, nguyên bí thư quân ủy lên phó chủ tịch và đưa thêm 4 tướng lănh vào Quân Ủy là: Chương Bỉnh Đức (Cheng Bingde) chủ nhiệm cục quân khí, Trương Định Phát (Zhang Dingfa) chỉ huy trưởng hải quân, Kiều Thanh Thần (Qiao Qingchen) chỉ huy trưởng không quân, Tịnh Chí Viễn (Jing Zhiyuan) chỉ huy trưởng đệ nhị quân đoàn pháo binh ( lực lượng hỏa tiễn chiến lược ).

Về mặt tổ chức căn bản, quân đội Trung Cộng, dưới tên chung là Quân đội Giải phóng Nhân dân (People’s Liberation Army) cũng có ba binh chủng: không, hải, lục. Không quân và hải quân Trung Cộng có tên rất dài: Không quân quân đội giải phóng nhân dân, Hải quân quân đội giải phóng nhân dân. V́ thế với báo chí và giới nghiên cứu về quân đội Trung Cộng, để cho tiện việc, người ta thường coi PLA là lục quân Trung Cộng, PLAAF (People’s Liberation Army Air Forces) là không quân Trung Cộng và PLAN (People’s Liberation Army Navy) là hải quân. PLA, chia theo vùng, có 7 quân khu là Bắc Kinh, Thẩm Dương, Thành Đô, Quảng Châu, Tế Nam, Lan Châu, và Nam Kinh. Quân số ở mỗi quân khu không nhất định. Theo đơn vị, quân đội nhân dân có 21 tập hợp quân (group army). Mỗi Tập hợp quân, hay Quân có khoảng 60 ngàn người. Trong 21 tập hợp quân, có tất cả 44 sư đoàn và 13 lữ đoàn bộ binh, 10 sư đoàn và 12 lữ đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn và 20 lữ đoàn pháo binh, 7 trung đoàn trực thăng. Ngoài quân số trực thuộc 7 quân khu, Quân đội Trung Cộng c̣n có một số đơn vị độc lập gồm 5 sư và 2 lữ đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 sư và 2 lữ đoàn pháo binh, 3 lữ đoàn pḥng không.

Lực lượng cảnh sát vũ trang Trung Cộng gồm lực lượng biên pḥng và an ninh nội địa biên chế thành 45 sư đoàn. Lực lượng cảnh sát trực thuộc bộ quốc pḥng.
Không quân Trung Cộng có khoảng 370 ngàn người, tổ chức thành 45 không đoàn. Trong số này có 5 không đoàn thả bom, 32 không đoàn chiến đấu, 6 không đoàn tấn công, 2 không đoàn vận tải. Ngoài 45 không đoàn nói trên, không quân Trung Cộng c̣n có 17 sư đoàn pḥng không, một quân đoàn nhảy dù gồm 3 sư đoàn. Hải quân Trung Cộng trong năm 1987 được đánh giá là lực lượng hải quân đứng hàng thứ ba trên thế giới, có quân số khoảng 350 ngàn người, chia là ba hạm đội: Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải.

Đông đảo về nhân số, nhưng trang bị và vũ khí, quân đội Trung Cộng nói chung c̣n phải cần nhiều năm, có thể hàng nhiều thập niên mới bắt kịp quân đội Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Hải quân Trung Cộng có 69 tiềm thủy đỉnh, nhưng đa số là loại Whiskey và Romeo, đă lỗi thời, chạy bằng dầu cặn, gây nhiều tiếng động và chậm chạp. Trung Cộng có tất cả 73 chiếc Romeos, chỉ c̣n sử dụng được một nửa là 38 chiếc. Tuy nhiên, trong một năm chúng cũng chỉ rời cảng năm ba ngày. Trong thập niên 70, xưởng đóng tàu Đại Liên đă đóng được loại Ming và Song, tốt hơn Romeo. Đến năm 2004, Trung Cộng chỉ có 19 chiếc Ming (type 35) và 4 chiếc Song (type 39). Bốn chiếc Kilo, một chiếc Xia (type-092), một chiếc Golf (Type-031). Chiếc Xia chạy bằng nguyên tử và có thể phóng hỏa tiễn liên lục địa. Hiện với sự giúp đỡ của chuyên viên Nga, Trung Cộng đang đóng và sẽ hạ thủy trong năm 2005 chiếc SSN NEWCON (Type 093), và sẽ là tàu ngầm tối tân nhất của Trung Cộng, nhưng loại này cũng tương tự như loại Victor III của Nga, đă từng được Nga phối trí từ năm 1978. Tức 27 năm về trước. Về tàu chiến, Trung Cộng có 21 khu trục hạm (destroyer), 16 chiếc loại Luda, được trang bị 6 hỏa tiễn diệt hạm C-201, hệ thống phóng thủy lôi, trọng pháo nặng. Hai chiếc Luhus được trang bị 8 hỏa tiễn C-802, có giàn phóng SAM và có 2 phi cơ trực thăng Harbin Zhi-9A. Về chiến trục hạm (Frigate), Trung Cộng có 45 chiếc, đa số là loại Jianghu (type 053). Chiến đỉnh (boats) có 85 chiếc hướng dẫn hỏa tiễn (guided missile), 15 chiếc phóng thủy lôi, 234 tuần đỉnh (patrol boats), 100 chiếc vớt ḿm ( mine warfare), 33 tàu đổ bộ. Phi cơ thuộc hải quân có khoảng 68 chiếc thả bom gồm các loại Tu-22M, Tu-16, IL-28; trên 300 phi cơ chiến đấu đa số là Mig-19; 66 chiếc vận tải, đa số là loại Y-5.

Trang bị không quân Trung Cộng, theo ước tính có khoảng 150 chiếc thả bom, đa số là H-6, có tầm hoạt động 1.800km. Phi cơ chiến đấu và tấn công có khoảng 1.800 chiếc, đa số là phi cơ MiG của Nga. MiG-19 có khoảng 600, MiG-21 khoảng 200. Tối tân có 76 chiếc Su-30MKK, 80 chiếc Su-27, 30 chiếc Chengdu J-10. Su-30MKK là loại phi cơ tối tân nhất của Trung Cộng trang bị hỏa tiễn hướng dẫn (guided missile), có khả năng tương đương với F-16. Phi cơ Chengdu J-10 do Trung Cộng chế tạo tại Thành Đô là loại tối tân hàng thứ hai trong lực lượng không quân Trung Cộng.

Kho vũ khí nguyên tử của Trung Cộng, DIA theo ước tính của DIA Hoa Kỳ (t́nh báo quốc pḥng) có khoảng 818 đầu đạn vào năm 1994. Nhưng theo Bulletin of the Atomic Scientists th́ Trung Cộng chỉ có thể xử dụng khoảng 400 đầu đạn. Hỏa tiễn phóng đầu đạn liên lục địa Trung Cộng có độ 120, gồm các loại: DF-3A, DF-4, DF-5/5A, DF-21. Hỏa tiễn DF-3A có tầm xa 2800 km, thời gian chuẩn bị để phóng từ 3 đến 4 giờ. DF-4 có tầm xa 5000 km, thời gian chuẩn bị từ 1 đến 2 giờ. DF-21 có tầm 1800 km, thời gian chuẩn bị từ 10 đến 15 phút. DF-5/5A mang một đầu đạn có tầm 13000 km, thời gian chuẩn bị nửa giờ. Hỏa tiễn DF-31, di động, có tầm 8000 km, Trung Cộng bắn thí nghiệm trong năm 1999, nhưng chưa thể phối trí. DF-41 mang nhiều đầu đạn, tầm xa 12000 km (đang chế tạo), chưa bắn thử nghiệm. Hỏa tiễn trang bị trên tàu ngầm loại Julang-I (JL-I) của Trung Cộng có tầm xa 1700 km. Tiềm thủy đỉnh Xia của Hạm đội Bắc Hải là chiếc trang bị được 12 hỏa tiễn JL-I. Trung Cộng đang chế tạo và thí nghiệm loại hỏa tiễn JL-II, có tầm 8000km. Loại này đă được bắn thí nghiệm trong năm 2002 và 2003, nhưng không thành công.

Tóm lại, Trung Cộng hiện là nước có khả năng quốc pḥng: Mạnh về quân số lượng, nhưng c̣n kém về khả năng tác chiến. Theo nhiều nhà nghiên cứu chiến lược, sức mạnh không quân và hải quân Đài Loan hiện nay đủ để chiến đấu ngang ngửa trong trường hợp bị Trung Cộng tấn công.

Không quân Đài Loan hiện chỉ có khoảng trên 500 phi cơ chiến đấu, nhưng có tới 180 chiếc F-5E, 130 chiếc IDFs, 150 chiếc F-16, 60 chiếc Mirage-2000-5s. IDF là loại phi cơ cánh xếp, có thể bay ở độ thấp, tiện lợi tấn công mục tiêu dưới mặt đất. F-16 có khả năng tương đương với Su-30, loại tối tân nhất của Trung Cộng. Mirage-2000-5 là loại phi cơ chiến đấu tối tân nhất do hăng Dassault Aviation của Pháp chế tạo có trang bị hệ thống radar, hệ thống phóng hỏa tiễn hướng dẫn bằng tia laser. Chỉ trường hợp được EU băi bỏ cấm vận, may ra Trung Cộng mới có loại phi cơ này.

Hải quân Đài Loan cũng chỉ với số lượng rất khiêm nhường so với Trung Cộng, chỉ có 7 chiếc khu trục hạm, 21 chiếc chiến đỉnh, 4 chiếc tiềm thủy đỉnh, nhưng tất cả đều tối tân hơn Trung Cộng. Dù không có tàu ngầm (?), sức mạnh không quân và hải quân Đài Loan đă được Federation of American Scientists đánh giá là ngang ngửa để đương đấu với hải và không quân Trung Cộng. Mặc dầu việc quốc hội Trung Cộng thông qua dự luật chống ly khai đă làm cho eo biển Đài Loan trở thành điểm nóng của thế giới, giới lănh đạo Trung Cộng vẫn nhấn mạnh đến chủ trương thống nhất với bằng phương thức ḥa b́nh. Diễn văn của Hồ Cẩm Đào đă đưa ra bốn điểm căn bản cho việc thống nhất:

1- Chính quyền Đài Loan phải tôn trọng sự đồng thuận năm 1992, tôn trọng nguyên tắc một quốc gia hai hệ thống chính trị. Khi nào nguyên tắc này c̣n tôn trọng, ḥa b́nh trong eo biển sẽ được duy tŕ.

2- Kêu gọi Đài Loan đừng bao giờ từ bỏ con đường thống nhất bằng biện pháp ḥa b́nh. Hồ Cẩm Đào nhấn nhấn mạnh thống nhất không có nghĩa là bên nào nuốt bên nào. Mà hai bên đều b́nh đẳng.

3- Sẵn sàng hợp tác với đối lập Đài Loan để chống và cô lập phong trào độc lập.

4- Kêu gọi Đài Loan tôn trọng “5 không” đă được Tổng Thống Trần Thủy Biển hứa hẹn. ( 5 không: không tuyên bố Đài Loan độc lập, không thay đổi tên quốc gia, không thay đổi hiến pháp, không trưng cầu dân ư về sự độc lập, không hủy bỏ Ủy Ban Liên Lạc Thống Nhất)

Qua điều 5 của luật chống ly khai mà quốc hội Trung Cộng thông qua ngày 14 tháng 3 năm 2005 vừa qua cũng xác định: “Thống nhất đất nước bằng mọi biện pháp ḥa b́nh là quyền lợi căn bản của hai phía. Nhà nước sẽ tận hết sức và chân thành tối đa để đạt được sự thống nhất ḥa b́nh.”

Vấn đề Đài Loan là vấn đề vô cùng tế nhị với Trung Cộng. Trong trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập, Trung Cộng không có biện pháp mạnh, th́ đảng CS và quân đội Trung Cộng khó thuyết phục được dư luận trong nước về sứ mạng bảo vệ lănh thổ của ḿnh. Đài Loan từ lâu đă thuộc lănh thổ Trung Cộng, đa số dân gốc Hán. Nếu Đài Loan ly khai, điều này sẽ ảnh hưởng mạnh đến tinh thần quật cường của các giống dân Hồi, Tạng và Trung Cộng sẽ khó có thể bảo vệ sự toàn vẹn của lănh thổ hiện nay. Tuy nhiên, tấn công Đài Loan, Trung Cộng sẽ phải trả một giá rất đắt, có thể đụng độ với sức mạnh siêu việt của Hoa Kỳ, bị cô lập và sẽ sụp đổ nền kinh tế đang trên đà phát triển. Khủng hoảng eo biển trong đầu năm 1996, khi Hoa Kỳ gởi hàng không mẫu hạm Independence tới Đông hải, Trung Cộng đă phải chấm dứt ngay thái độ đe dọa của họ. Chỉ với mục đích áp lực trong cuộc bầu cử Tổng Thống Đài Loan, Trung Cộng có thể rút lui để tránh đụng độ với Hoa Kỳ. Nhưng với việc Đài Loan tuyên bố độc lập, có lẽ Trung Cộng không thể dễ dàng nhượng bộ như vậy được.

Hoa Kỳ đă cam kết bảo vệ Đài Loan, trong trường hợp Đài Loan bị tấn công, không thể không can thiệp. Chiến tranh sẽ trở thành chiến tranh giữa Hoa Kỳ với các đồng minh và Trung Cộng. Một cuộc chiến sẽ rất lớn và nhiều thảm khốc. Hoa Kỳ hiện đang giải quyết xong ở Trung Đông chắc chắn sẽ sẵn sàng để "tiêu hao" với Trung Cộng. Phía Trung Cộng chắc chắn họ cũng biết rơ đụng độ với Hoa Kỳ lúc này chỉ có mang thảm bại chứ không thể thắng. Nhưng có lẽ cả hai phía, không ai muốn phải đụng độ nhau trong giai đoạn hiện nay. Phía Đài Loan, việc Đài Loan độc lập cũng chưa phải là mong muốn của đại đa số người dân. Mặc dầu bị Trung Cộng mạnh mẽ chống đối, cuộc trưng cầu dân ư ở Đài Loan lần đầu tiên cũng đă được tổ chức trong ngày 20 tháng 3 năm 2004. Qua cuộc trưng cầu này, có tới 90% phiếu bầu ủng hộ đề nghị của Tổng Thống Trần Thủy Biển, nhưng chỉ có 45% người dân tham gia nên cuộc trưng cầu coi như thất bại. Cuộc trưng cầu trong tháng 3/2004, chính phủ Trần Thủy Biển cũng đă gặp sự bất măn của Hoa Kỳ và nhiều nước trong vùng Đông Nam Á.

T́nh h́nh chung, mặc dầu có căng thẳng lời qua tiếng lại hiện nay, vần đề Đài Loan có lẽ không phải là đe dọa cấp bách cho ḥa b́nh. Trung Cộng hiểu rơ khả năng quân sự của ḿnh, quân đội Trung Cộng phải cần rất nhiều thời gian để bắt kịp kỹ thuật của thế giới, Trung Cộng cần sống chung ḥa b́nh với quốc tế để bảo đảm sự phát triển. Đài Loan có lẽ cũng chưa sẵn sàng để thông qua một quyết định độc lập được đại đa số dân chúng tán thành. Trung Cộng đang là cái “power house” đe dọa cho sự phát triển ḥa b́nh trong vùng Á Châu Thái B́nh Dương.

Cho dù nhiều sự lạc quan như vậy nhưng eo biển Đài Loan có thể sẽ dậy sóng và máu lửa không biết lúc nào, Trung Cộng là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Đài Loan hiện nay, mậu dịch hai chiều năm 2003 lên 46.32 tỷ mỹ kim. Trong khi ở Đại sảnh đường nhân dân đại biểu Trung Cộng tố cáo Đài Loan, thông qua luật chống ly khai, ở Đài Bắc, Tổng Thống Trần Thủy Biển mạnh mẽ kêu gọi Trung Cộng phải rút lại luật này, ở Cao Hùng người Đài Loan xuống đường phản đối Trung Cộng, nhưng đường hàng không dân dụng trực tiếp giữa eo biển Đài Loan và Trung Cộng sau trên nửa thế kỷ đứt đoạn nay đă được nối liền, các hăng hàng không Trung Cộng và Đài Loan khởi đầu những ngày bận rộn với những chuyến bay “non stop” lần đầu tiên từ các thành phố Đài Loan tới các thành phố trong lục địa. Và ngược lại.

Liên hệ giữa Hoa Kỳ – Trung Cộng, dĩ nhiên những ngày gần đây cũng căng thẳng trong lời qua tiếng lại, nhưng một cái “deal” rất lớn đang được tiến hành, Hoa Kỳ sẽ xây 4 nhà máy điện nguyên tử cho Trung Cộng với số tiền khoảng 5 tỷ mỹ kim. Nhưng một điều mà ít người Tàu nào nghĩ tới là: Chính số tiền Trung Cộng mua bond đă giúp Hoa Kỳ có thêm tiền tài trợ cho chiến tranh Iraq, và chính sách này h́nh như sẽ tiếp tục   đang được Hoa Kỳ triệt để áp dụng một lần nửa cho một vài nước c̣n lại ở Á Châu.

Chiến tranh sẽ diễn ra, nhưng câu hỏi là đến khi nào chiến tranh thật sự có thể xảy ra giữa Hoa Kỳ cùng đồng minh và Trung Cộng ? Chúng ta chờ xem.


Giang Nam