“Siêu Cường” …Trung Cộng Sẽ
Về Đâu?
ChuSa
1.
Luân Khí Công Đại Pháp Một Bài Toán
Theo tài liệu của một số báo chí
xuất bản tại Đài Loan th́ môn Pháp Luân Khí Công
Đại Pháp gọi tắt là Pháp Luân Công được
thành lập từ năm 1992, do ông Lư Hồng Chí
đứng ra sáng lập và được truyền bá
khắp nơi tại Trung Quốc và hải ngoại. The Lư
Hồng Chí sinh ngày 13 tháng 5 năm 1951 tại tỉnh Cát
Lâm,làm công chức b́nh thường tại quê nhà và
đến năm 1998, v́ phổ biến môn Pháp Luân Công
trong quần chúng - nên đă bị chính quyền Trung
Cộng làm áp lực phải di cư cùng vợ và một
con qua Hoa Kỳ?. Hiện nay Lư Hồng Chí cư
ngụ tại tiểu bang
Chính v́ khi cấp lănh
đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản
Trung Hoa nhận thức được nguy cơ xâm
nhập sâu rộng của môn phái Pháp Luân Công vào trong hàng ngũ
của hai cơ quan đầu năo của Đảng là
Hồng quân và Bộ An Ninh Nội Chính th́ khi đó họ
mới ra lệnh đàn áp mạnh. Vấn đề mà
cơ quan đầu năo của Đảng Cộng Sản
Trung Hoa lo ngại nhất không phải số lượng
hàng triệu đoàn viên của Pháp Luân Công mà là số
luợng rất to lớn mà họ không thể xác nhận
một cách chính xác trong hàng ngũ nhân viên ngành công an nội
chính của họ đang họat động âm thầm cho
Phong Trào này. Sau đây là lịch tŕnh diễn tiến
của Phong Trào Pháp Luân Công trong mấy năm gần đây
tại Trung Quốc:
Ngày 25 tháng 4, 1999 : Khoảng
mười ngàn môn sinh Pháp Luân Công lặng lẽ tập
họp chung quanh khu dinh thự Trung Nam Hải, nơi cư
ngụ và hội họp của giới lănh đạo cao
cấp nhất của chính quyền Trung Ương Trung
Cộng tại thủ đô Bắc Kinh. Họ yêu cầu
nhà cầm quyền chấp nhận cho họ
được quyền tự do hoạt động trong
ṿng luật pháp hiện hành. Chính Thủ tướng Chu Dung
Cơ đă phải thân hành ra tiếp xúc với các đại
diện của đoàn biểu t́nh để tạm
thời dàn xếp và hứa hẹn với họ
để cho họ giải tán êm thắm.
Ngày 5 tháng 6, 1999: Chính
quyền Trung Cộng yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ
phải dẫn độ chưởng môn Phong Trào Pháp Luân
Công là Lư Hồng Chí về lại Trung Quốc để
luận tội, nhưng chính quyền Mỹ đă từ
chối. Sau vụ yêu cầu không mấy "thông minh"
này của Trung Cộng, các môn sinh Pháp Luân Công ở khắp
nơi trên thế giới đă đến biểu t́nh
trước các sứ quán của Trung Cộng tại các
nơi này để phản đối yêu sách bất
hợp pháp do chính quyền Trung Cộng tạo nên.
Ngày 25 tháng 6, 1999: Tại
Bắc Kinh và 6 thành phố lớn ở Trung Quốc đă
có hơn mười bốn ngàn môn sinh lên tiếng yêu
cầu chủ tịch Giang Trạch Dân ra lệnh cho chính
quyền địa phương chấm dứt việc
đàn áp và bắt bớ họ.
Ngày 19 đến 20 tháng 7,
1999 Chính quyền Trung Cộng ban hành lệnh liệt Phong
Trào Pháp Luân Công vào loại tổ chức bất hợp pháp
có nguy hại đến nền an ninh quốc gia; tại
các tỉnh có khoảng 70 cấp lănh đạo Pháp Luân Công
bị bắt giam.
Ngày 21 tháng 7, 1999: Tại Trung
Quốc xảy ra nhiều vụ biểu t́nh tại 15
tỉnh và thành thị của các môn sinh Pháp Luân Công
dưới h́nh thức kháng nghị bất bạo
động và tham thiền để phản đối nhà
cầm quyền Trung Cộng đă đàn áp và bắt
bớ họ.
Ngày 22 tháng 7, 1999: Chủ
tịch Nhà nước Trung Cộng Giang Trạch Dân tuyên
bố lên án Phong Trào Pháp Luân Công đă phá hoại nền an
ninh quốc gia, đồng thời ra lệnh giải tán và
bắt bớ môn sinh của tổ chức này; nếu môn
sinh Pháp Luân Công là đảng viên của đảng
Cộng Sản th́ người đảng viên bị
bắt buộc phải ra khỏi Phong Trào này bằng không
sẽ bị trừng trị và bị loại ra khỏi
Đảng. Sau đây là bản thông cáo của Trung
Ương ban hành lệnh cấm chỉ Pháp Luân Công tại
các địa phương trên toàn quốc, kể cả các
đảng viên cộng sản. Điều lệnh
giới 13 của Trung Ương như sau:
1. Không chấp nhận
đảng viên luyện Pháp Luân Công. Đảng viên vi
phạm sẽ bị khai trừ khỏi Đảng.
2. Không chấp nhận
đảng viên tham gia hoạt động cho Pháp Luân Công.
Đảng viên vi phạm sẽ bị khai trừ khỏi
Đảng và bị trừng trị nặng.
3. Không chấp nhận
bất cứ mọi đơn vị của chính quyền
cung cấp nơi để luyện Pháp Luân Công. Đưa
ra ṭa án h́nh sự.
4. Không chấp nhận nhân
dân xuất bản sách báo,và tuyên truyền . Đưa ra ṭa
án h́nh sự.
5. Không cho môn sinh Pháp Luân Công
tập họp,biểu t́nh, đưa kháng nghị phản
đối chính phủ. Bất tuân lệnh sẽ bị
đàn áp thẳng tay và đưa ra ṭa án h́nh sự trị
tội.
6. Thành lập tiểu tổ
để kiểm soát sự hoạt động của
Pháp Luân Công tại các địa phương trên toàn
quốc, cấm chỉ luyện tập thể dục theo
Pháp Luân Công tại các công viên hay tại nhà. Cấm chỉ
mọi phê b́nh, tuyên truyền phản đối chính
phủ là phản động phản loạn. Cán bộ
đảng viên vi phạm điều này sẽ bị cách
chức, khai trừ khỏi Đảng,và bị đưa
ra ṭa án h́nh sự trị tội.
2. Trung Cộng
mở chiến dịch tiêu diệt Pháp Luân Công.
Sau khi hơn mười ngàn môn
sinh Pháp Luân Công âm thầm bao vây trụ sở Trung Nam
Hải tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 4, 1999, làm cho Trung
Ương Đảng của Trung Cộng lo sợ
đến nền an ninh quốc gia bị xáo trộn, nên
Bộ Chính Trị đă hạ “Mật Lệnh” khẩn
cấp triệu tập toàn bộ Ủy Viên Trung
Ương về họp để t́m cách đối phó
với tổ chức Pháp Luân Công. Dưới sự
chỉ huy của Hồ Cẩm Đào được
Cục Chính Trị ủy thác làm trưởng ban và có
nhiệm vụ thành lập các tiểu ban, các tổ
điều tra tại các tỉnh, thị, huyện,
trấn trên toàn lănh thổ Trung Hoa. Phụ tá cho Hồ
Cẩm Đào gồm có các ủy viên như La Cán, Giá Xuân
Vượng, Hứa Vĩnh Diệu, Hồ Quang Bảo (Phó
Chủ Nhiệm Văn Pḥng Trung Ương Đảng),
Thôi Phúc (Phó Bí Thư Trưởng văn pḥng Quốc Vụ
Khanh).
Hồ Cẩm Đào hạ
lệnh toàn bộ cán bộ hải ngoại thâu thập
tất cả tài liệu liên quan đến môn phái Pháp Luân
Công như phương hướng về chính trị và
hoạt động của Lư Hồng Chí và các môn sinh
tại Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ngoài ra dưới sự
điều động của Phó Bộ Trưởng
Bộ Công An Triệu Vĩnh Cát, Chúc Xuân Lâm chỉ huy 25
tiểu tổ,phối hợp với công an tại các khu,
tỉnh, thị; mỗi tổ gồm 4 công an chuyên
điều tra và theo dơi cấp thời những sinh hoạt
của Pháp Luân Công để xem thử chúng có cấu
kết ǵ với ngoại quốc hay không ? Ủy Ban
Điều Tra đă phải điều động trên
toàn quốc hơn 30 000 đảng viên, cán bộ công an
để làm nhiệm vụ điều tra và sau đó
đệ tŕnh toàn bộ tài liệu về Pháp Luân Công lên
Cục Chính Trị Trung Ương. Đây là sự kiện
quan trọng thứ hai làm cho Cục Chính Trị mất
ăn mất ngủ sau vụ Thiên An Môn xảy ra cách
đây hơn 10 năm. Ủy Viên Thường Vụ
của Cục Chính Trị, sau khi đúc kết tài liệu
vào thượng tuần tháng 7, đă đưa ra 3 ư
kiến:
1. Ư kiến của La Cán và Hồ Quang Bảo (trong
Tổ chuyên lo về tài liệu): Nếu nhân nhượng
Pháp Luân Công và cho hợp thức hóa th́ sau này sẽ rất
nguy hiểm cho chế độ v́ môn phái này thu hút rất
nhiều quần chúng và đảng viên của chúng ta;
để rồi một ngày nào đó sẽ nổi loạn
và có thể lật đổ chính quyền. Vậy xin
đề nghị tức khắc giải tán môn phái này và
dùng biện pháp mạnh để đàn áp hoặc thủ
tiêu tại khắp nơi trên lănh thổ Trung Hoa. và hải ngoại
2. Ư kiến của Giang Trạch Dân,
3. Ư kiến của Lư Đoan Hoàn và Lư Phong Thanh: Pháp Luân
Công đă âm mưu dùng tà thuật làm mê hoặc dân chúng và cán
bộ; nếu gặp cơ hội, Lư Hồng Chí sẽ xúi
dục dân chúng chống lại chính quyền và cấu
kết với mọi thế lực thù địch
để thôn tính Trung Quốc. Do đó, ngay từ bây
giờ ta phải tận lực tiêu diệt chúng; nếu
để cho họ mọc rễ th́ sau này chúng ta sẽ
hối hận không kịp. Đây cũng là một bài
học để chúng ta giáo dục học tập
đấu tranh cho đảng viên và cán bộ cao cấp
Đảng, phải cảnh giác trong mỗi t́nh thế có
nguy hại đến chế độ của chúng ta.
Sáng ngày 18 tháng 7, 1999, Trung
Ương Tổng Hợp Trị An Xă Hội của Trung
Cộng mở đại hội toàn quốc gồm có các
cán bộ thuộc Công An, An Toàn, Chánh Pháp (Tư Pháp), Bí
Thư, Cục Trưởng, Viện Trưởng, khắp
nơi về tham dự. Trong hội nghị này có Tư
Lệnh Vơ Cảnh Dương Quốc B́nh và dưới
sự chủ tọa của Bộ Trưởng Bộ Công
An kiêm Bộ Đội Vơ Cảnh Đệ Nhất Chánh
Ủy Giá Xuân Vượng. Chánh Trị Ủy Viên Trung
Ương Đảng Thư Kư Chủ Nhiệm La Cán phát
biểu trước đại hội rằng chủ
đề của hội nghị là "tăng
cường công tác an ninh bảo vệ Quốc Khánh kỷ
niệm 50 năm thành lập Cộng Sản Trung Cộng
Trung Quốc, kiên quyết dẹp tan tổ chức Pháp Luân
Công đem tà thuyết mê tín dị đoan tuyên truyền phá
hoại xă hội chủ nghĩa Trung Cộng sau đây là
chương tŕnh bố trí và hành động đàn áp:
1. Cấm tập họp
luyện khí công từ 3 người trở lên của Pháp
Luân Công.
2. Tập trung lại một
chỗ, đem trả họ về nguyên quán, nguyên
đơn vị họ trú ngụ, kiểm soát họ
tại mỗi địa phương.
3. Sau khi đưa họ
về địa phương, đơn vị
Đảng tại đây có trách nhiệm giáo dục họ
từ bỏ và kiểm soát, cấm đoán luyện Pháp Luân
Công.
4. Đơn vị công an,
cơ quan sở tại có nhiệm vụ lưu trữ
hồ sơ và quản chế họ dưới mọi
h́nh thức.
5. Đối với
những cán bộ chỉ huy cao cấp của Pháp Luân Công,
phải đem ra xét xử thật nặng, c̣n đối
với quần chúng biểu t́nh tại các cơ quan chính
phủ hay cơ quan Đảng đều phải dẹp
tan và trừng phạt xử lư đích đáng.
6. Những phần tử
phiến động dùng bạo lực với cơ quan
chính phủ hay Trung Ương cao tầng lănh đạo,
phải đàn áp giải tán, nếu cần có thể
nổ súng.
7. Những hành động
phá hoại các cơ quan sở tại đều bị
đem ra xét xử.
8. Những cán bộ
đảng viên hay công chức tham gia Pháp Luân Công đều
bị khai trừ khỏi Đảng và cách chức, đem
ra pháp lư xử tội.
Trung Ương Đảng đưa
ra 5 điều nên cảnh giác và toàn quốc thống
nhứt hành động:
1. Hoa Kỳ giúp đỡ và
can thiệp cho những phần tử phản động
chống lại Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
2. Những quốc gia Tây
Phương đă dựa vào những tổ chức
quốc tế nhân quyền hay cơ quan từ thiện, nhằm
mục đích giúp đỡ và can thiệp cho những
phần tử chống lại Đảng Cộng Sản
Trung Quốc.
3. Những phần tử
phản động lưu vong ở hải ngoại
cấu kết với thế lực ngoại bang hầu
muốn lật đổ chế độ Cộng Sản
ở Trung Quốc.
4. Khu vực Đài Loan có Lư
Đăng Huy dùng kinh tế làm lợi điểm như
hợp tác kinh tế giao thương và t́m cách gài gián
điệp xâm nhập vào hạ tầng cơ sở
của chúng ta, hoặc mua chuộc các cán bộ cao cấp,
với mục đích chờ cơ hội tổng nổi
dậy lật đổ chế độ Cộng Sản
ở Trung Quốc.
5. Tại Hồng Kông, các
phần tử chống đối lợi dụng qui
chế tự do của chánh quyền Hồng Kông, t́m cách hô
hào đồng bào tại đây phản đối lại
chánh quyền Trung Cộng bằng mọi h́nh thức,
để phá hoại nền an ninh của Trung Cộng .
Sau hội nghị, từ
ngày 19 đến 21 tháng 7, 1999, tại 22 thành thị, các
địa khu, kể cả Bắc Kinh, Thiên Tân, Thạch
Gia Trang, Đại Liên, Phiên Dương, Duy Phương,
Yên Đài, Vũ Hán, Quảng Châu, Thẩm Xuyên, Liên Vân
Cảng, Thái Nguyên, Đại Đồng, Trường
Trị, Trương Gia Khẩu, Bổn Khê, Dương
Tuyền, Cẩm Châu v..v..., đưa ra chiến dịch
càn quét, bắt giữ 150 cán bộ nồng cốt của
Pháp Luân Công sau đây là danh sách cán bộ cao cấp
Đảng Cộng Sản Trung Quốc tham gia Phong Trào Pháp
Luân Công được liệt kê như sau:
Cựu Cố Vấn Ủy
Viên Trung Ương họ Trương; Cựu Phó Chánh
Ủy Quân Khu Côn Minh họ Hồ; Cựu Phó Chủ
Tịch Tổng Công Đoàn tỉnh Hà Nam họ Trầm;
Cựu Ủy Viên Hành Chánh Phó Chủ Nhiệm Thành Phố
Thiên Tân họ Lư; Chánh Ủy Thiên Tân Cảnh Bị Khu
Hậu Cần họ Khương; Cựu Phó Chủ
Nhiệm Ủy Viên Hành Chánh tỉnh Hắc Long Giang họ
Hàn; Cựu Chủ Nhiệm Ủy Viên Ngoại Sự
Vụ tỉnh Liêu Ninh họ Tống; Cựu Chủ
Nhiệm Đảng Hiệu tỉnh Hà Bắc kiêm Phó
Hiệu Trưởng Mác Lê Chủ Nghĩa Nghiên Cứu
Sở họ Viên; Cựu Cố Vấn Đảng Trung
Cộng Nghiên Cứu Trung Ương họ Tiêu; Phó Thị
Trưởng Bắc Kinh Ủy Viên Thường Vụ
họ Trương; Cựu Thị Trưởng Bắc Kinh
họ Lư; Cựu Thư Kư Thành Phố Thượng Hải
họ Hồ; Cựu Thư Kư Tỉnh Ủy tỉnh
Hắc Long Giang họ Thiệu; Cựu Thư Kư Ủy Viên
Thành Phố Quảng Châu họ Tiêu.. Theo văn kiện
số 13 của Trung Ương Đảng Cộng Sản
Trung Cộng đưa ra th́ khoảng 1/10 số môn sinh
của Pháp Luân Công là đảng viên của họ. Nhưng
họ lại giảm thiểu số môn sinh Pháp Luân Công
xuống chỉ c̣n khoảng hơn 2 triệu người
chứ theo tài liệu báo chí quốc tế th́ số môn sinh
của pháp môn này lên tới 80 triệu, trong khi đó số
đảng viên đảng Cộng Sản Trung Cộng
chỉ có 60 triệu thôi.
3. Hồng Tú Toàn là
ai ?
Vào năm 1840, nhất là sau khi
thua liệt cường Anh, Pháp, Mỹ và Nga trong cuộc
chiến tranh nha phiến, triều đ́nh Măn Thanh đă
yếu sẵn lại c̣n gặp nhiều thiên tai làm cho dân
gian bị đói kém khắp nơi, từ đó sinh ra
trộm cướp lộng hành v́ chính quyền quá ư
bất lực nên không giữ được an ninh cho dân
chúng. Trong hai năm liên tiếp, từ 1847 đến 1849,
v́ thiên tai trời giáng xuống khắp nơi trên lục
địa, không có tỉnh nào là không bị nạn đói
hoành hành, nặng nhất là ở hai tỉnh Quảng
Đông và Quảng Tây ở miền Nam. V́ quan quân triều
đ́nh Măn Thanh không ǵn giữ được trật
tự nên đất nước Trung Hoa đă rơi vào t́nh
trạng hỗn loạn, không có luật pháp, tạo nên
một môi trường quá ư thuận tiện cho một
cuộc nổi loạn vơ trang qui mô và chỉ thiếu
một điều kiện duy nhất là người lănh
đạo để hướng dẫn quần chúng. Trong
thế bí đó th́ Hồng Tú Toàn xuất hiện giữa
đám nông dân bất măn này và được họ chấp
nhận làm thủ lănh của họ ngay.
Hồng Tú Toàn sinh năm 1812
tại Quảng Châu, trong một gia đ́nh nông dân khá
giả vào bậc trung và được coi là thông minh
hơn hai anh của y nên được cha mẹ cho đi
học để rồi sẽ thi vào làm thư kư trong chính
quyền cấp huyện của triều đ́nh Măn Thanh.
Nhưng v́ y có số làm “vua” nước Trung Hoa thay v́ làm
viên thư kư quèn ở huyện sở tại cho nên y bị
đánh rớt liên tiếp trong ba kỳ thi. Sau khi bị
rớt lần thứ ba, Hồng Tú Toàn buồn quá nên
bị ốm nặng với hôn mê luôn trong 40 ngày. Khi y
tỉnh lại th́ y bảo với người trong gia
đ́nh là trong khi hôn mê y có gặp Đức Chúa Cha và
Đức Chúa Giê Su và được nghe truyền rằng
Chúa Giê Su là con trưởng và y là con thứ của
Đức Chúa Cha. Đọc
giả nên nhớ Hồng Tú Toàn là một con chiên thuần
thành của Thiên Chúa giáo. Y cho biết Đức Chúa Cha
ra lệnh cho y phải tiêu diệt bọn quỷ sứ, và
khi y tỉnh dậy th́ y bảo lũ quỷ đó chính là
người Măn Thanh. Tuy nhiên Hồng Tú Toàn không đứng
ra lănh đạo ngay cuộc nổi dậy của quần
chúng v́ măi đến 1843, y c̣n đi thi vào ngạch thư kư
huyện một lần thứ tư nữa, nhưng
vẫn bị đánh rớt như ba lần trước
nên y trở nên bất măn chính quyền vô cùng và quyết tâm
dựng cờ khởi nghĩa nhằm lật đổ
chính quyền Măn Thanh cho kỳ được. Trong 6 vị
tướng đầu tiên theo Hồng Tú Toàn, chỉ có 3
vị có đôi chút học thức, c̣n 3 người kia th́
hai người là nông dân, người tướng c̣n
lại giỏi nhất trong sáu người là Dương
Tú Thanh, một người thợ làm than quả bàng khi y
bỏ nghề này để đi theo “cách mạng”. Ban
đầu cuộc nổi loạn chỉ ở trong
phạm vi miền Đông
Sau khi chiếm
được Nam Kinh, Hồng Tú Toàn tự xưng ḿnh là
Thiên Vương, đặt tên nước là Thái B́nh Thiên
Quốc. Trong cuộc bắc
tiến của quân “cách mạng”, có hai hạng người
bị họ Hồng ra lệnh tiêu diệt: đó là quan
lại triều đ́nh Măn Thanh, tăng ni Phật giáo và
chức sắc của Lăo giáo (Taoism). Hồng Tú Toàn chỉ
chấp nhận Thiên Chúa Giáo mà thôi. Đó là chế
độ Cộng Sản không hơn không kém. Tất cả
đất đai đều thuộc về quốc gia, tài
sản tư nhân bị hủy bỏ. Mỗi một gia
đ́nh được nhà nước cấp cho một
khoảnh đất lớn hay nhỏ tùy theo gia đ́nh
đông con hay ít con. Quyền lợi của phụ nữ
ngang với nam giới. Sau mỗi vụ mùa,mỗi gia đ́nh
chỉ có quyền giữ một số lượng thóc lúa
vừa đủ chi dụng trong gia đ́nh cho đến
vụ mùa tới, số lượng thặng dư phải
nạp cho nhà nước. Vùng nào mất mùa đói kém sẽ
được sự trợ giúp của những vùng
được mùa. Phụ nữ được trọng
dụng trong các cơ quan chính quyền, được
khuyến khích đi học và điều đặc
biệt là có quyền sung vào quân đội cho nên có
nhiều phụ nữ lập được nhiều chiến
công hiển hách trong quân đội cách mạng. Hồng Tú
Toàn cấm tuyệt đối chế độ đa thê.
Cũng cấm chuyên chở và hút nha phiến, kẻ nào vi
phạm sẽ bị tử h́nh. Một sắc lệnh khác
phán rằng chúng ta sẽ chia xẻ cùng nhau thành quả thu
hoạch được trong khi chung lưng góp sức gánh
vác công việc. Chúng ta chia xẻ cùng nhau tiền bạc, áo
quần, thực phẩm. Phải chấm dứt t́nh
trạng cơ hàn của dân chúng.
Chế độ cộng sản của Hồng Tú Toàn ra
đời 4 năm sau khi bản Tuyên Ngôn của
Đảng Cộng Sản được công bố ở
Âu Châu và trong thời kỳ đó, mọi người
ở Trung Hoa đều hoàn toàn không hay biết ǵ về
bản tuyên ngôn này. Thành thử một trăm năm
trước Mao Trạch Đông, trên lục địa Trung
Quốc, Hồng Tú Toàn đă
thiết lập một chế độ cộng sản
dựa trên t́nh thương của Thiên Chúa Giáo, chứ
không coi tôn giáo là một loại á phiện như cộng
sản ở thế kỷ 20. Thế tại sao Thiên
Vương Hồng Tú Toàn lại thất bại mặc
dầu đă chiếm được hơn nửa lănh
thổ Trung Hoa, lập ra Thái B́nh Thiên Quốc và cai trị
nước này được 16 năm trời kể
từ ngày phát động cuộc “cách mạng” chống
lại triều đ́nh Măn Thanh? Lư do thứ nhất là chia
rẽ nội bộ đưa đến thanh toán lẫn
nhau. Lư do thứ hai là thiếu nhân tài để gánh vác việc
nước v́ những người giỏi trong hai tôn giáo
lớn như Phật giáo và Lăo giáo đều lánh mặt
sau khi tôn giáo của họ bị chính quyền khủng
bố. Lư do thứ ba - lư do quyết định - là sự
can thiệp của liệt cường Anh, Pháp vào cuộc
nội chiến giữa triều đ́nh Măn Thanh và chính
quyền Thái B́nh Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn. Sở
dĩ hai nước Anh và Pháp phải tận lực giúp tài
chánh, vũ khí, huấn luyện viên quân sự cho Nhà Măn Thanh
là v́ Hồng Tú Toàn chủ trương chính sách bài ngoại,
nếu ông ta thắng th́ liệt cường sẽ mất
tất cả những ǵ triều đ́nh Măn Thanh đă
nhường cho họ sau khi bị thua trận chiến
tranh Nha Phiến: mở một số hải cảng
để cho tàu bè của liệt cường vào buôn bán
như Quảng Châu, Áo Môn, Thượng Hải;
nhượng đảo Hồng Kông cho Anh quốc; đóng
cho liệt cường gần 50 triệu mỹ kim về
bồi thường chiến tranh. Và cũng nhờ có
sự tiếp tay đắc lực và hữu hiệu
của hai nước Anh và Pháp nên quân đội của
triều đ́nh Măn Thanh mới chiếm lại
được những lănh thổ đă bị mất
từ trước và đến mùa hè 1864 th́ quân đội
chính quyền Măn Thanh dưới sự điều
động của tướng Tăng Quốc Phiên mới
vây hăm thủ đô Nam Kinh trong 55 ngày trước khi
đột nhập vào thành. Một trăm ngàn quân của
Hồng Tú Toàn nhất định không chịu đầu
hàng quân Thanh và đều tự thiêu để t́m cái
chết theo chúa v́ Hồng Tú Toàn - thấy t́nh h́nh không
ổn - nên đă tự sát cách đó một tháng
trước khi Nam Kinh thất thủ. Sau khi Nam Kinh thất
thủ, con trai của Hồng Tú Toàn chạy thoát
được ra khỏi thành nhưng rồi sau đó
cũng bị quân Măn Thanh bắt lại và giết chết.
Tuy Hồng Tú Toàn làm vua chỉ được có 16 năm
thôi nhưng vẫn lưu được nhiều cảm
t́nh trong giới nông dân v́ mọi người đều
được no ấm chứ không bị nạn đói
thường trực đe dọa như dưới
chế độ triều đ́nh Măn Thanh. Giờ đây,
dưới chế độ cộng sản của Mao
Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh Giang Trạch Dân,
rồi đến Hồ Cầm Đào người nông dân Trung Hoa bị
cấp cán bộ cộng sản bóc lột tận
xương tủy nên vẫn bị đói kém triền miên
như cách đây 140 năm, dưới triều đại
Nhà Măn Thanh vậy. Mà hễ nông dân bị đói kém, không
trước th́ sau họ cũng sẽ nổi dậy chống
lại chính quyền cộng sản của họ Giang hay
họ Hồ.
4.
Kinh Tế Quốc Doanh Trung Cộng
Từ đầu năm 1999 cho
đến nay, các quan sát viên quốc tế thường
theo dơi t́nh h́nh chính trị Trung Cộng, đều có
một nhận xét chung giống nhau là Giang Trạch Dân - càng
muốn được vinh danh trong nước và kính
nể ở ngoài nước chừng nào - th́ bước
chân độc tài đảng trị của y lại
dẫm lên vô số vỏ chuối do chính đảng
Cộng Sản Trung Cộng của y đă rải ra trên con
đường của y đi. Trung Cộng đă thành công
trong việc bần cùng hóa nhân dân Trung Hoa, nhưng lại
hữu sản hóa lũ cán bộ cộng sản cầm
quyền, biến chúng thành triệu phú và tỷ phú đô la.
Nhưng nếu có một cái nh́n bao quát - nhất là về
mặt kinh tế - th́ quả thật nền kinh tế
Trung Cộng đang trên đà xuống dốc. Mặc
dầu trong năm 1999 chính quyền cho tăng vọt
thị trường chứng khoán để câu dân chúng
nhưng họ vẫn thờ ơ nên 719 tỷ mỹ kim kư
thác trong các ngân hàng để đề pḥng những ngày
thất nghiệp đen tối có thể xảy ra bất
cứ lúc nào không hay, vẫn nằm nguyên trong các ngân hàng.
Theo các nhà kinh tế gia và các chuyên viên tài chánh th́ việc
thị trường chứng khoán bỗng nhiên tăng
vọt chả dính líu ǵ đến nền kinh tế lung lay
của nhà nước hiện nay. Sự phát triển ngày
càng sút kém, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng,
đầu tư ngoại quốc xuống dốc lôi theo
cán cân thặng dư về thương măi. Theo Hứa
Tiểu Niệm, tổng giám đốc cục nghiên
cứu của China International Capital Corp., một liên doanh
ngân hàng chuyên về đầu tư của Bank of China và
Morgan Stanley, th́ dân chúng nghĩ rằng sở dĩ Nhà
Nước tưởng rằng một khi đưa
thị trường chứng khoán lên cao rồi, nó sẽ
không tuột xuống được nữa. Nhưng
cấp lănh đạo Nhà Nước có biết đâu là
họ không có quyền làm như vậy được và
khi quả bong bóng nổ tung th́ mọi người sẽ
bị tổn thương. Hứa Tiểu Niệm và
một số kinh tế gia khác đều nói là những nhà
lănh đạo Trung Cộng, giờ đây vẫn c̣n tin
tưởng là họ có thể ra lệnh cho đất nước
này có một nền kinh tế khả quan hơn giống
như những vị tiền nhiệm của họ trong
những thập niên 50, 60 và 70. Họ có biết đâu là sự
tăng trưởng do họ ra lệnh chỉ có trên
giấy cho có lệ mà thôi, chứ làm ǵ có chuyện tăng
trưởng đó trên thực tế. Chính quyền Trung
Cộng cứ tưởng rằng - khi nền kinh tế
xuống dốc - th́ chính phủ cứ việc tung tiền
ra chi tiêu cho thật nhiều và thế là xong, mọi
việc khó khăn sẽ qua đi. Nhưng họ đă chi
ra gần 15 tỷ mỹ kim - trong năm 1998 - để xây
thêm cầu cống và làm thêm đường sá, nhưng
rốt cục chả có ảnh hưởng ǵ vào sự
tuột dốc của nền kinh tế. Ngoài ra chính
phủ c̣n phát hành thêm 30 tỷ mỹ kim công khố
phiếu và khuyến khích dân chúng nên tiêu xài về nhà
cửa, xe cộ v..v.. Nhưng chính sách này cũng có ba
giới hạn của nó.
A. Vấn đề
đầu tiên là người tiêu thụ Trung Hoa hạn
chế việc tiêu pha và để dành khoảng 40% tiền
lợi tức của họ. V́ vậy mà chương
mục để dành tiền trong ngân hàng của họ nay
lên tới 719 tỷ mỹ kim.
B. Vấn đề thứ
hai là chính phủ, trong năm 1999, cũng đă có dự tính
tung thêm mươi tỷ mỹ kim nữa để
tiếp tục xây thêm xa lộ đồng thời giảm
thiểu nạn lạm phát, nhưng việc tung tiền này
cũng có giới hạn chứ đâu có thể làm hoài măi
được, v́ ngân sách thâm thủng được
dự trù cho năm 1999 là 30 tỷ mỹ kim nhưng nay
đă vượt quá con số này rồi v́ vậy chính
quyền hiện đang rất cần tiền nhưng
không biết đào đâu ra.
C. Vấn đề cuối
cùng không kém phần trầm trọng như hai vấn
đề trên là các ngân hàng nhà nước không thu hồi
được tiền cho các công ty quốc doanh vay nợ
là một cú đấm tai hại vào nền kinh tế
quốc gia. C̣n nhà nước tung khoảng 100 tỷ mỹ
kim ra ngoài thị trường để làm tăng vọt
giá các cổ phần như ở Thẩm Chấn hay ở
Thượng Hải tạo nên một t́nh trạng tăng
trưởng tự sát rất nguy hiểm. Cũng theo Hứa Tiểu Niệm th́ cấp lănh
đạo chính quyền Trung Cộng cũng như Cộng
Sản Việt Nam không hiểu được chức
năng thực sự của thị trường tư
bản,và cứ tưởng rằng đó chỉ là
một nguồn tài chánh để tài trợ cho các xí
nghiệp quốc doanh thiếu khả năng;nhưng các
vị lănh đạo này có biết đâu hay biết rơ mà
giả vờ không biết là hầu hết các xí nghiệp
quốc doanh đều toàn là những chiếc thùng không
đáy, bỏ vốn vào bao nhiêu là mất bấy nhiêu,và
không bao giờ có hy vọng mang về cho người chung
bạc lấy một đồng xu nhỏ thôi ! V́ lư do
tư tưởng Mác Xít gắn liền với quyền
lợi của cán bộ và lo ngại về sự ổn
định trong xă hội, nên cấp lănh đạo tối
cao của nhà nước Trung Cộng luôn luôn cố
gắng bảo vệ cho kỳ được nền
kỹ nghệ quốc doanh của họ. Hiện nay Trung
Cộng có 16,000 (mười sáu ngàn) xí nghiệp quốc
doanh và số công nhân trong ngành này lên đến vài chục
triệu người. Sự sụp đổ của ngành
xí nghiệp quốc doanh sẽ tạo bất ổn
tại nhiều thị trấn và báo hiệu cho sự
sụp đổ nay mai của Đảng Cộng Sản
Trung Hoa.
Vào thập niên 1970, chính
quyền xuất tiền của ngân khố ra để
cứu nguy cho một số xí nghiệp quốc doanh bị
lâm nguy về tài chánh. Nhưng kể từ 1978 khi chính
quyền áp dụng những cải cách mới th́ việc
tài trợ này được chuyển qua cho các ngân hàng
quốc gia. Giờ đây, theo ông Hứa Tiểu Niệm,
các lănh tụ Trung Cộng
muốn thị trường chứng khoán của họ
trở thành dây hồi sinh của các xí nghiệp quốc
doanh; và rất có thể đây là "buổi cơm
tối cuối cùng" để rồi sau đó không
có thể t́m đâu cho ra tiền được nữa !
Viễn ảnh nội bộ của Trung Cộng quả
thật vô cùng bi đát, trong khi đó th́ những khó khăn
về đối ngoại cũng không mấy sáng sủa
cho lắm !. Ngày 11 tháng 9, 1999 tại Auckland ở Tân Tây Lan,
trong cuộc hội nghị về kinh tế trong vùng, tổng thống Clinton đă
cảnh cáo thẳng Giang Trạch Dân về những hậu
quả trầm trọng có thể xảy ra nếu Trung
Cộng dùng biện pháp vơ lực đối với Đài
Loan. Và Giang Trạch Dân đă trả lời đốp chát
lại rằng Trung Cộng chưa bao giờ loại
trừ biện pháp dùng vơ lực để đối phó
với Đài Loan, đồng thời quay trở
lại trách cứ Mỹ về việc tiếp tục bán
thêm vơ khí cho nước này, và như vậy chỉ làm cho
t́nh h́nh càng thêm căng thẳng. Tuy t́nh trạng ngoại
giao đối với Hoa Kỳ không được tốt
đẹp cho lắm nhưng không đến mức lâm vào
t́nh trang gay cấn; trái lại những khủng hoảng
nội bộ của Trung Cộng mới là nan giải.
Vấn đề nhức đầu số một của
Trung Cộng là phải đương đầu với
đoàn viên của môn phái Pháp Luân Công. Ngày 7 tháng 5, 1999, không quân Mỹ ném 5 quả bom
xuống sứ quán Trung Cộng ở thủ đô Belgrade
của Nam Tư, tiêu hủy đài truyền h́nh của
Milosevic đặt lén tại nơi đây, đồng
thời phá tan trung tâm t́nh báo chiến lược của
Trung Cộng tại Âu Châu và giết chết viên đại
tá trung tâm trưởng cùng một lúc với viên phụ tá
và 29 điệp viên chiến lược cao cấp khác
của y,đă đưa đến sự việc như
sau là vấn đề ngoại giao giữa Mỹ và Trung
Cộng ngày càng trở nên căng thẳng. Tổng
Thống Clinton trước kia hay nhượng bộ Giang
Trạch Dân lănh tụ Trung Cộng, th́ nay trước
sự chỉ trích ngày càng nhiều của báo chí. Hoa Kỳ đă thay đổi
thái độ và trở nên cứng rắn.
5.
Trung Cộng Diệt chủng Dân Tây Tạng.
Cách đây năm mươi hai năm địa
danh Tây Tạng rất là mơ hồ đối với
mọi người, nhưng từ đầu thập
niên1950, khi Trung Cộng xua quân đội qua xâm chiếm
nước này th́ lúc đó người ta mới bắt
đầu chú ư đến Tây Tạng và vị lănh
đạo tinh thần nước này là Đức Đạt
Lai Lạt Ma, hiện đang lưu vong cho đến ngày
nay tại miền Bắc Ấn Độ,thị trấn
Dharamsala. Báo chí Tây Phương khi thu được h́nh
của Giang Trạch Dân vào ống kính lúc y bị cật
vấn về Tây Tạng là một cơ hội luôn luôn làm
cho họ vô cùng thích thú: trong lúc viếng thăm thủ
đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ năm 1997
cũng như trong lúc Trung Cộng tiếp TT Clinton tại
Bắc Kinh, báo chí nhận xét là Giang Trạch Dân có thái
độ lạnh nhạt lúc thảo luận về
mức tăng nhanh của vũ khí nguyên tử hay khi bàn
đến nhân quyền. Nhưng lúc đề cập đến
vấn đề Tây Tạng th́ mắt của ông ta trở
nên đăm chiêu, tay nắm chặt, rồi ông ta lập
lại câu sáo ngữ khoe khoang thường lệ là Trung
Quốc đă biến Tây Tạng từ một nước
tối tăm lạc hậu thành một nước
giải phóng văn minh, và sau đó ông ta nói lăng sang vấn
đề khác. Sau khi Trung Cộng chiếm Tây Tạng th́
diện tích của Trung Hoa tăng thêm được
một phần tư, và chính quyền ngay sau đó mở
một chiến dịch vĩ đại di dân Hán vào vùng này
như họ đă làm trước đây ở Nội Mông
Cổ. Ư đồ của Trung Cộng là biến miền
cao nguyên Tây Tạng làm nơi triển khai và sản xuất
vũ khí lư tưởng v́ tránh được sự chú ư
của người ngoại quốc. Đệ Cửu
Học Viện một nơi chuyên nghiên cứu về quân
sự của Trung Cộng giống như Los Alamos của
Hoa Kỳ, được xây cất từ nhiều năm
nay tại vùng Đông Bắc Tây Tạng, gần nơi chôn
nhau cắt rốn của Đức Đạt Lai Lạt
Ma. Tây Tạng đối với Trung Cộng là một vùng
đất mới có nhiều sông, suối, gỗ, khoáng
sản, đặc biệt là có mỏ Uranium lớn vào
bậc nhất trên thế giới. Và có thể đó là
một trong những lư do thầm kín khiến chính quyền
"Cờ Hoa" luôn luôn bênh vực nhân dân Tây Tạng trong
lănh vực "nhân quyền", nhưng đằng sau
b́nh phong nhân quyền người ta lại thấy thấp
thoáng cái bóng của "Hoa Kỳ Quyền" càng ngày càng
thêm rơ rệt. Chiếm được Tây Tạng, Trung
Cộng có biên giới chung với Ấn Độ,
Miến Điện, Bhutan, Nepal, Kashmir, và có một vị
trí chiến lược ưu thế trong mọi tranh
chấp chính trị trong vùng này. Cũng v́ vậy mà Ấn
Độ mới giang tay tiếp đón và giúp đỡ
tận t́nh cho chính phủ lưu vong của Đức
Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng khi nước này bị
Trung Cộng xâm lăng.
Ngày 3 tháng 5, 1999, bộ
trưởng Quốc Pḥng Ấn, George Fernandes, lúc tuyên
bố trên đài truyền h́nh sở dĩ có quyết
định của chính phủ Ấn Độ cho thử
một loạt vũ khí hạch tâm là v́ "Trung Cộng là
kẻ thù số 1 của Ấn Độ". Những
người thường theo dơi vấn đề Tây
Tạng không hiểu tại sao Trung Cộng luôn luôn tránh né
thảo luận chi tiết mọi vấn đề có dính
líu đến nhân quyền nước này và lật
đật t́m cách chấm dứt ngay mỗi khi nhắc
đến, h́nh như có vẻ sợ người
đối thoại chuyển câu chuyện qua vấn
đề khác như vị trí chiến lược hay tài
nguyên c̣n nằm dưới đất mà chưa
được khai thác của Tây Tạng chẳng hạn.
Đă có lần TT Clinton gợi ư cho Giang Trạch Dân nên có
một cuộc gặp gỡ giữa ông ta với
Đức Đạt Lai Lạt Ma để cho Tây Tạng
được hưởng chế độ tự trị
rộng răi th́ nét mặt họ Giang bộc lộ vẻ
băn khoăn rơ rệt. Mặc dầu hiến pháp và
luật pháp Trung Cộng công nhận quyền tự trị
của Tây Tạng, nhưng Đảng Cộng Sản Trung
Hoa cũng như Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân bao
giờ cũng đứng trên hiến pháp và luật pháp của
chính họ làm ra. Giờ đây quân đội Trung Cộng
là cơ quan đầu năo kiểm soát việc khai thác các tài
nguyên của Tây Tạng như lâm sản, khoáng sản
như: than đá, uranium, sắt, đồng, chromium,
muối, thiết, lithium, vàng và dầu hỏa; và chính
những tài nguyên này đang làm giàu cho Trung Cộng. Nếu
họ lơi tay th́ lấy đâu ra tiền để
mở mang và kỹ nghệ hóa miền cao nguyên Tây Tạng
trong tương lai gần đây, nhất là khi viễn
ảnh kiếm không ra 25 tỷ đô la để có thể
tiếp tục công tŕnh xây cất đập Tam Cổ trên
sông Dương Tử đang ló dạng ở chân trời
phương đông. V́ những lư do nêu trên mà các nhà lănh
đạo Trung Cộng luôn luôn tránh né thảo luận
bất cứ vấn đề ǵ liên quan tới Tây
Tạng. Nhưng họ có thể kéo dài vấn đề
này đến bao lâu nữa th́ không ai có thể trả
lời được, may ra ngoại trừ Hoa Kỳ,
nhất là sau khi hăng thông tấn Tân Hoa Xă của Nhà
Nước Trung Cộng vừa loan tin cách đây không lâu là
chuyên viên địa chất vừa mới t́m được
mỏ dầu hỏa dưới lưu vực Luanpola
của Tây Tạng và mỏ này sẽ được khai
thác sau khi hoàn tất xong các công tác thiết kế
đầu tiên. Nói th́ dễ mà đến khi bắt tay vào
làm mới thấy khó nhất là đối với một
nước như Trung Cộng mà kỹ nghệ dầu
hỏa không mấy phát triển có thể khai thác mỏ
dầu Luanpola. Trong khi chờ đợi th́ lại xảy
ra vụ kiều dân Hoa Kỳ gốc Tây Tạng Daja Meston
bị công an Trung Cộng dùng cực h́nh tra tấn,
đến nỗi chịu không được phải
nhảy lầu để tự tử, khiến phe chủ
trương "Hoa Kỳ phải tránh xa khỏi Trung
Cộng" càng ngày càng làm áp lực mạnh với chính
quyền Hoa Kỳ. Nói cho ngay, chính Giang Trạch Dân cũng
chả hay biết ǵ về vụ tra tấn dă man Daja Meston,
một nhà ngôn ngữ học gốc Tây Tạng, ở
Newton,tiểu bang Massachusetts (Hoa Kỳ) bị công an Trung
Cộng bắt ngày 15 tháng 8, 1999, tại tỉnh Thanh
Hải thuộc miền Tây Bắc xa xôi của nước
Tàu; rất có thể chính họ Giang cũng không muốn
sự việc này xảy ra, nhất là trong khi Giang Trạch
Dân đang rất mong muốn xáp lại gần Hoa Kỳ.
Tuy nhiên sự việc đó đă chứng minh rơ ràng bộ
mặt thực của một chế độ mà Giang
Trạch Dân chỉ thống trị chứ không kiểm soát
được. Và cho đến bây giờ nước Trung Hoa hơn nửa thế kỷ
sống dưới chế độ cộng sản
hầu như cô lập giữa cộng đồng thế
giới, vẫn không hề thay đổi chút nào về
những biện pháp tra tấn, kềm kẹp dă man của
họ đối với người dân vô tội.
Kể từ khi Đảng Cộng Sản Trung Hoa nắm
chính quyền.Người đảng viên cộng sản
trong nửa thế kỷ nắm quyền sinh sát dân chúng
trong tay họ về công an cảnh sát và quân đội, nói
chung là bộ máy đàn áp nhân dân, nay - nếu có bị
hạn chế phần nào đi nữa - th́ sự phản
xạ của chế độ chuyên chế thời xưa
có thể xuất hiện trở lại bất cứ lúc
nào và bất cứ đối với ai. V́ vậy khi nghe Cộng Sản Hà Nội mồm nói
đỗi mới hô hào tự do chống Đảng ta
đừng vội tin , v́ hơn ai hết chúng ta hiểu Cộng Sản chỉ
là một lủ lường gạt không hơn không kém ,
phải nhận diện chúng cho dù chúng nấp dưới
h́nh thức nào.
Câu chuyện xảy ra
tại tỉnh Thanh Hải thuộc miền Tây Bắc xa
xôi giáp ranh với Tây Tạng, lúc Daja Meston 29 tuổi, dân Hoa
Kỳ gốc Tây Tạng, cùng với một người
bạn đồng nghiệp Úc và người thông dịch
viên Tây Tạng đang làm phóng sự về một
chương tŕnh định cư một số tá
điền gốc người Hán vào một vùng
đất trước kia thuộc lănh thổ Tây Tạng.
Ba người này bị bắt và bị tống giam về
tội mở cuộc "điều tra bất hợp
pháp" và khi bị tra tấn quá khắc nghiệt th́ Meston
đă nhảy qua cửa sổ lầu 3 để tự
tử, nhưng không chết và bị găy xương
sống. Người bạn đồng nghiệp
người Úc th́ bị chính quyền Trung Cộng trục
xuất, viên thông ngôn Tsering Dorje và khoảng 12 người
dân địa phương được họ phỏng
vấn cũng bị công an bắt luôn và cho đến nay
không ai biết số phận họ ra sao v́ biệt vô âm
tín. Câu chuyện này bổng nhiên trở thành quan trọng v́
nó xảy ra đúng vào lúc Ngân Hàng Thế Giới đang xét
đơn vay 40 triệu mỹ kim của chính phủ
Bắc Kinh về vụ định cư dân Hán vào vùng
đất nói trên - một vùng đất hiện nay
đang được một số cán bộ đông
đảo thuộc "tích cực chủ nghĩa"
(activism) và cán bộ bảo vệ môi sinh lên tiếng bênh
vực và họ đă đứng lên phản đối
chính quyền Bắc Kinh. Nếu
Bắc Kinh được Ngân Hàng Thế Giới cho vay 40
triệu mỹ kim - số tiền tuy không to lớn cho
lắm - nhưng giúp Bắc Kinh chứng minh với thế
giới là hành động của họ trên lănh thổ Tây
Tạng đă được thế giới chấp
nhận. Trước khi xảy ra vụ tra tấn Meston
một người dân Hoa Kỳ chính quyền Bắc Kinh
đă hứa với Ngân Hàng Thế Giới là họ
sẵn sàng để cho phóng viên báo chí quốc tế
tự do vô ra vùng đất nói trên để làm phóng
sự. Thế nhưng đến khi phái đoàn Meston vào
điều tra và làm phóng sự vùng đất này, th́ chính
quyền Bắc Kinh liền nuốt lời hứa và
trở mặt ngay, để rồi đi đến
chỗ bắt bớ, câu lưu và tra tấn dă man họ.
Theo điều lệ của Ngân Hàng Thế Giới,
trước khi cho nước nào vay tiền th́ họ
phải điều tra xem những người dân sở
tại có được tham khảo ư kiến đầy
đủ về dự án mà họ tài trợ hay không đă,
rồi mới chi tiền sau.
Nhưng họ quên mất
rằng họ phải nói chuyện với một quốc
gia đang ở dưới một chế độ chính
trị mà mọi quyền phát biểu tự do của
người dân đều bị cấm đoán. Sau khi
xảy ra vụ Meston, chính quyền Clinton đă can thiệp
ngay với cấp lănh đạo Ngân Hàng Thế Giới và
cho ngân hàng này hay rằng Hoa Kỳ chống lại việc
cho Trung Cộng vay 40 triệu mỹ kim, cho nên vụ vay
mượn này đă bị đ́nh lại cho đến khi
có lệnh mới của ngân hàng. Càng ngày càng thấy chính quyền Clinton không bỏ
lỡ cơ hội nào để làm khó dễ Giang Trạch
Dân trước khi y ăn mừng ngày khai sinh của
Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại thủ đô
Bắc Kinh. Hiện nay vùng cao nguyên rộng bao la của
Tây Tạng được đặt dưới quyền
kiểm soát trực tiếp của quân đội Trung
Cộng, kể cả một số ít xí nghiệp tư. V́
khí hậu của Tây Tạng quá khắc nghiệt ở cao
độ nên không tạo được môi trường
thuận tiện cho việc đầu tư của ngành
kỹ nghệ tư nhân. Những ai đă từng viếng
thăm Tây Tạng cũng đều có những nhận xét
như vậy và dưới cơ quan du lịch độc
nhất có thể cấp giấy phép đi tham quan Tây
Tạng và cho mướn xe hơi để di chuyển,
được đặt dưới quyền sở
hữu của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung
Cộng. Khi du khách được cấp giấy cho đi
vào những vùng bị hạn chế th́ họ bị
bắt buộc phải trọ tại những nhà trọ
của quân đội mà bồi pḥng làm giường hay làm
vệ sinh cũng đều do binh sĩ mặc sắc phục
quân đội phụ trách. Quân Đội Giải Phóng Nhân
Dân của Trung Cộng đă để lại trong ḷng
người dân Tây Tạng một mối thù truyền
kiếp, không bao giờ quên được. Trái với
lời tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh,
những di sản về văn hóa và đạo giáo của
Tây Tạng đă bị hủy diệt từ 1956
đến 1961, chứ không phải trong cuộc cách
mạng văn hóa từ 1966 đến 1976 như nhiều
người tửơng. Trong tổng số 6259 tăng
viện và ni viện, chỉ c̣n lại 8 tu viện vào
năm 1976. Trên tổng số
592 558 tăng ni, hơn 110 000 bị giết và bị tra
tấn dă man, hơn 250 000 c̣n lại bị bắt buộc
phải hoàn tục. Đó là thống kê của Chính Phủ
Tây Tạng Lưu Vong ở Dharamsala (Bắc Ấn
Độ) cung cấp. Ngoài ra Trung Cộng c̣n mở
chiến dịch qui mô về "tuyệt tử
chủng" (sterilization) dân chúng và bắt buộc đàn bà
Tây Tạng phá thai. Cho đến ngày nay, quân đội
giải phóng nhân dân của Trung Cộng với cơ quan
phụ tá Công An Nhân Dân vẫn tiếp tục khủng
bố, tra tấn và giết chóc những thành phần nhân
dân Tây Tạng trung thành với Phật giáo Mật Tông,
với Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhất
định không theo Đảng Cộng Sản Trung
Cộng của Mao Trạch Đông. Nhân dân Tây Tạng
thường nhắc lại những câu nhắn gởi
của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong những khi
Ngài đi nói chuyện ở các nơi như: "Dù cho gió có thổi oan khiên
đến đi nữa th́ rồi công lư và sự thật
cũng vẫn thắng" hay là "Lư của kẻ mạnh khi nào cũng hơn trong
nhất thời thôi, nhưng ngọn lửa của sự
thật th́ không bao giờ tắt cả". Thành
thử Trung Cộng ngày đêm hằng lo âu về sự
xuất hiện của một phong trào Tây Tạng ly khai
khỏi chính quyền Bắc Kinh và có thể lan rộng qua
các vùng tự trị của các sắc dân thiểu số
khác, giống như đă xảy ra tại Liên Bang Xô
Viết trước khi tan ră.
6. Hai Chiến
Lược Da ( Gia) Của Giang Xếnh Xáng .
Năm 1996, Hai viên đại
tá trong quân đội Trung Cộng là Kiều Lương và
Vương Tương Toại đều có mặt
tại bờ biển tỉnh Phúc Kiến để tham
dự những cuộc tập trận có mục đích
đe dọa chính quyền Đài Loan. Khi có 2 hỏa
tiễn thuộc loại M9 có tầm đạn đạo
hạng trung rơi ngoài khơi hai hải cảng lớn
ở phía Nam đảo Đài Loan, th́ lập tức TT
Clinton ra lệnh cho 2 hàng không mẫu hạm cùng một
số tuần dương và khu trục hạm đến
ngay eo bể Đài Loan để gián tiếp cảnh cáo
Trung Cộng là Hoa Kỳ sẽ không ngồi yên nếu Trung
Cộng tấn công Đài Loan. Đa số sĩ quan
của Hồng quân trong đó có Kiều Lương và
Vương Tương Toại đều rất phẫn
nộ trước thái độ khiêu khích của Hoa
Kỳ, và cũng là một bài học đối với
họ. Theo Vương Tương Toại, một
đại tá Không Quân trong Cục Chính Trị thuộc quân
khu Quảng Châu th́ nếu Hồng quân cần phải
đương đầu với Hoa Kỳ th́ phải có
một chiến lược hoàn toàn mới để làm
thăng bằng cán cân quyền lực của đôi bên. Và
sau đó th́ Toại và Lương cộng tác với nhau
để viết một quyển sách nhan đề: "Cuộc Chiến Tranh Không
Hạn Chế".( bài trước
ChuSa đă có nói qua về quyển
sách này ). Quyển sách này mô
tả sự yếu kém về lănh vực vũ khí của
Hồng quân đối với Hoa Kỳ để rồi
cuối cùng đề nghị - v́ yếu kém như vậy
- thành thử Hồng quân sẽ dùng tất cả mọi
phương tiện mà họ có trong tay để
đối phó lại Hoa Kỳ như dùng khủng bố,
bạch phiến, đưa vi khuẩn vào máy tính điện
tử v..v.. Nhưng nếu hai viên đại tá này biết
đưa ra yếu tố quyết định sự
thắng trận của Hồng quân bằng cách cho ra
mặt trận vài chục sư đoàn "xẩm
điếm Hồng Kông" để chặn đoàn quân
đổ bộ, th́ quân đội Hoa Kỳ lúc đó
chưa đánh cũng đă đầu hàng các "xếnh
xáng con Trời" rồi. Đó là chưa kể việc
Kiều Lương khi nhắc lại cuộc chiến
tại Kosovo, đă tiếc là nếu gợi ư sớm cho
Milosevic nên gởi lén một nhóm khủng bố qua Ư
để làm nổ tung các căn cứ không quân
Đồng Minh chuyên qua ném bom Nam Tư, th́ đă có thể
chấm dứt cuộc chiến tranh ngay từ lúc ban
đầu. Lư luận rẻ
tiền như vậy mà cũng đua đ̣i viết sách
về chiến lược, để rồi
được Cục Chính Trị của Hồng quân
khuyến khích xuất bản mới thật là kỳ. Đối
với Kiều Lương và Vương Tương
Toại và một số lớn sĩ quan cao cấp trong Quân
Đội Giải Phóng Nhân Dân th́ có sự liên quan trực
tiếp giữa vấn đề Kosovo và Đài Loan cùng Tây
Tạng. Theo họ, một khi Hoa Kỳ buộc một
nước ở Âu Châu phải chấp nhận theo hệ
thống định giá của họ; th́ mai đây họ
có thể làm y như vậy đối với Đài Loan
hay Tây Tạng. Nhưng Vương Tương Toại
đă quên hay cố ư quên rằng Kosovo bị tên trùm cộng
sản Tito của Nam Tư xâm chiếm sau đệ
nhị thế chiến và Tây Tạng bị Mao Trạch
Đông xua quân xâm chiếm từ năm 1951. C̣n Đài Loan
th́ - về phương diện địa lư chính trị -
chả có dính dáng ǵ đến Trung Cộng ở lục
địa Trung Hoa cả, thế mà Trung Cộng vẫn
cứ cường điệu bảo rằng Đài Loan là
một tỉnh của Trung Hoa; nói vậy cũng như bây
giờ Hoa Kỳ tuyên bố trước dư luận
thế giới rằng nhiều triệu năm về
trước đây lục địa Trung Hoa dính liền
với Bắc Mỹ Châu nhưng sau quả đất
bị chấn động, nứt ra, vùng đất trôi
về phía Tây biến thành lục địa Trung Hoa bây
giờ và giữa Trung Hoa lục địa và Bắc
Mỹ Châu là vùng biển Thái B́nh Dương. Nếu Hoa
Kỳ đ̣i chiếm Trung Hoa như Trung Cộng khăng
khăng đ̣i chiếm Đài Loan th́ Trung Cộng nghĩ
sao?
Cuối tháng 7, 1999, khi nghe tin
Hoa Kỳ tuyên bố bán một số vũ khí cho Đài
Loan trị giá 550 triệu mỹ kim, th́ Trung Cộng tỏ
ngay thái độ hằn học với Hoa Kỳ, nhất
là về phía quân đội. Vấn đề mà Trung
Cộng đang băn khoăn và lo ngại là vấn
đề NATO chấp nhận để cho KOSOVO
độc lập. Trong khi NATO đang c̣n ném bom xuống Nam
Tư th́ TT Clinton tuyên bố là không bao giờ chấp nhận
để cho KOSOVO độc lập. Nay th́ t́nh h́nh chính
trị ở vùng Ba Nhĩ Cán đă thay đổi khá
nhiều, mười ngàn giải phóng quân KLA của KOSOVO
đă được NATO giải giới nhưng dùng
lại 5000 để làm cảnh sát giữ trật tự
trong vùng này và được trang bị vũ khí nhẹ.
Như vậy là NATO đă có ư định tiềm tàng
chấp nhận cho KOSOVO thành lập một đạo quân
rồi đó;mà khi đă có một đạo quân rồi th́
phải chấp nhận cho họ có một quốc gia
độc lập là chuyên đương nhiên. Và việc ǵ
phải đến đă đến. Tháng 9, 1999, nhân viên Ṭa
Bạch Ốc của Hoa Kỳ đă cho báo chí hay chuyện
Hoa Kỳ chấp nhận cho KOSOVO trở nên độc
lập chỉ c̣n là vấn đề thời gian mà thôi. Mà
một khi Hoa Kỳ đă công nhận KOSOVO là một
quốc gia độc lập trong vùng Ba Nhĩ Cán ở
Trung Âu; th́ nay mai họ cũng sẽ ủng hộ giải
pháp để cho Tây Tạng được độc
lập đối với Trung Cộng. Hiện tại Trung Cộng về phương
diện chính trị và kinh tế đang ở vào thế
của một người ăn mà mắc nghẹn,
khạc chẳng ra mà nuốt cũng chẳng vào, chưa
biết sẽ tắt thở lúc nào, thế mà lúc nào cũng
lăm le gây hấn với các lân quốc, nhất là vẫn
c̣n nuôi mộng trở thành siêu cường thứ 2 trên
thế giới. Họ có biết đâu dân họ -
một khi đă kư thác tiền vào ngân hàng để dành
dụm pḥng thân trong những ngày thất nghiệp đang
ló dạng ở chân trời, th́ ngày chế độ ră
đám như Liên Bang Xô Viết cách đây mươi năm
cũng không c̣n xa mấy! Nhưng
Trung Cộng sẽ không như Liên Xô đành im lặng ră
ngũ đâu. Đối với họ c̣n nước c̣n
tát; họ sẽ cố khơi động lại ḷng yêu
nước của người dân Trung Hoa để hy
vọng những người này sẽ hy sinh tính mạng
thay họ để bảo vệ một chế
độ tham tàn, khắc nghiệt chưa từng thấy
trên thế gian này.
Vào
thế kỷ thứ 3, Trung
Nguyên ( ChuSa không xài chữ Trung Hoa vào thời đó ) chia
ra làm 3 nước: Hán ở miền Tây, Ngô ở miền
Nam và Ngụy ở miền Bắc. Nước Hán (Hậu
Hán) dưới triều vua Hán Vơ Đế có vị
thừa tướng Gia Cát Lượng tự là Khổng
Minh rất thông binh thư và dịch lư.Trước khi ông ta
qua đời, ông có xây một cái nhà thờ tại Hán Trung,
trong tỉnh Thành Đô, để dành thờ ông ta sau khi ông
qua đời. Sử kể lại rằng mấy trăm
năm sau, khi Lưu Bá Ôn dẹp xong các sứ quân tóm thâu
thiên hạ về một mối, lúc trên đường
về ghé lại Hán Trung để dâng lễ đền
thờ ông Khổng Minh mà ông hằng ngưỡng mộ tài
thao lược. Lúc ông phủ phục trước bàn
thờ để làm lễ th́ không xảy ra chuyện ǵ
lạ cả, nhưng lúc ông ta muốn đứng lên th́
bị một sức mạnh vô h́nh níu chặc ông lại,
quưnh quá ông bèn ngước mặt nh́n lên nóc bàn thờ th́
thấy có mấy chữ "giải y tắc thoát". Ông
bèn theo lời dạy, lât đật cởi áo giáp ra và sau
đó đứng dậy được. Ông bèn chạy
đến phía sau tấm bảng này th́ thấy có hai hàng
chữ nữa như sau:
"Vạn
Đại Quân Sư: Gia Cát Lượng""Nhất
Thống Sơn Hà: Lưu Bá Ôn".
Một điều rất
kỳ lạ đối với thời bấy giờ là
ngọn đèn trên bàn thờ bài vị của Khổng Minh,
không cần có dầu mà cứ cháy sáng năm này qua năm
khác. Th́ ra cách đây hơn 1500 năm mà Vũ Hương
Hầu Gia Cát Lượng đă biết xử dụng
mỏ hơi đốt dưới ḷng đất ngay
nơi nhà thờ của ông. C̣n sức hút chiếc áo giáp
bằng thép của Lưu Bá Ôn có thể là do ông cho thiết
kế một cái sàn bằng thép có từ trường
cực mạnh hay bằng đá có nam châm cực mạnh
trước bàn thờ ông. Điều mà người ta
không ngờ được là ông đă dùng “kỳ môn độn giáp” ǵ để biết
được có ông Lưu Bá Ôn, người vừa
thống nhất nước Tàu sẽ đến viếng
nơi thờ phượng ông. Nhờ thông “nhâm độn”, Vũ Hương Hầu Gia Cát
Lượng đă biết được quá khứ vị
lai; biết được vận mệnh nước Trung
Hoa khi hưng thịnh cũng như lúc suy vong; nếu
giờ đây Chủ Tịch Nhà Nước Giang Trạch
Dân bay một chuyến về Hán Trung, đến lễ
trước bàn thờ Đức Vũ Hương Hầu
Gia Cát Lượng, biết đâu lại chẳng
được Khổng Minh ban cho hai câu thơ như
với Lưu Bá Ôn khi vừa mới thống nhất
sơn hà. Có điều chắc chắn là câu trên vẫn y
như cũ, nhưng câu dưới có lẽ sẽ như
sau đây:
"Vạn Đại Quân
Sư: Gia Cát Lượng"
"Phân Liệt Sơn Hà:
Giang Trạch Dân"
Nghĩa là vạn đời
Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng vẫn là quân
sư; ,,, c̣n làm cho đất nước Trung Hoa chia ra làm
nhiều mảnh nhỏ, chính là do Giang Trạch Dân gây nên.
Sau đại hội 16 Đảng Cộng Sản Trung
Cộng vừa rồi mặc dù Hồ Cẩm Đào
được ghế nhưng ta phải hiểu rằng
Giang Trạch Dân vẫn là người nắm quyền bên
trong.
7. “Nhất Khống Sơn Hà: Bộ Tam Sên” ( Mao-
Đặng -Giang.).
Giang Trạch Dân là vị lănh
tụ đầu tiên của Trung Cộng không xuất thân
từ quân đội, tuy nhiên từ năm 1993 cho
đến ngày nay, ông ta đă thành công trong việc thay thế
những viên tướng già hay chống đối lại
công việc canh tân Hồng quân của ông ta, và đưa
toàn những tướng trẻ trung thành với ông ta vào
trong bộ tham mưu cao cấp của Hồng quân. Tuy nhiên
chưa chắc Giang Trạch Dân đă thành công trong việc
phát động bài trừ tham nhũng trong quân đội,
v́ đây là một tệ trạng được coi như
dính liền với chế độ cộng sản.
Những người lănh tụ đi trước ông ta
như Đặng Tiểu B́nh, Lư Bằng cũng chiếm
đất ở vùng đảo Hải Nam, cũng buôn quan
bán tước qua trung gian các con cái được phong làm
giám đốc các xí nghiệp to lớn nhất ở Trung
Quốc nhất là các công ty sản xuất vũ khí.
Điều khó khăn cho họ Giang khi y đề ra
việc đóng cửa các xí nghiệp do quân đội
quản trị là việc t́m đâu cho ra tài chánh để
bù đắp vào chỗ thiếu hụt trong ngân sách
quốc pḥng gây ra khi một số xí nghiệp do quân
đội quản trị bị đóng cửa? V́ vậy
phản đề nghị của quân đội là họ
sẽ đóng cửa các xí nghiệp này khi nào chính phủ
bảo đảm với họ là sẽ có những ngân
khoản khác để bù đắp vào những lỗ
hổng gây nên do sự đóng cửa các xí nghiệp này. Một câu hỏi khác là khi nào th́
sẽ có sự thay đổi nêu ra trên đây? Theo
thủ tướng Chu Dung Cơ th́ thời hạn đó
được dự tính sẽ xảy ra từ ba
đến bốn năm để cho các bộ dân sự
có đủ thời giờ để chuẩn bị
việc tiếp thu.Tuy nhiên theo một số quan sát viên
ngoại quốc th́ lệnh đóng cửa các xí nghiệp
của quân đội do Giang Trạch Dân dưa ra,rồi
đây cũng sẽ trôi vào quên lăng v́ dịch vụ làm
ăn rất phát đạt, nhất là đối với
cấp sĩ quan cao cấp của Hồng quân v́ nhờ
đó mà họ trở nên triệu phú. Sau khi lên kế
vị Đặng Tiểu B́nh được ít lâu, th́ Giang
Trạch Dân phát động chiến dịch bài trừ
tệ nạn tham nhũng và ra lệnh đóng cửa
hoặc bán phát măi khoảng mười lăm ngàn công ty do
quân đội quản trị và như vậy cắt
một mối lợi khoảng mười tỷ mỹ
kim hằng năm của Hồng quân. Dưới thời
Mao Trạch Đông cũng như Đặng Tiểu B́nh,
Hồng quân là một cơ quan được dùng
để bảo vệ Đảng Cộng Sản Trung
Hoa, v́ vậy cho nên Hồng quân là cơ quan mạnh
nhất, có quyền lực lớn nhất ở lục
địa Trung Hoa, nhưng bao giờ cũng được
Đảng ngăn cách không cho dính líu ǵ đến những
thăng trầm thuộc các lănh vực chính trị và kinh
tế. Nhưng đến năm 1979, khi Đặng
Tiểu B́nh phát động phong trào canh tân nền kinh
tế lạc hậu và sống dở, chết dở
của Trung Cộng, th́ ông đă thương thuyết
với quân đội để cho ông cắt xén bớt 20%
ngân sách quốc pḥng. Và để bù lại thiệt hại
đó, ông chấp nhận cho quân đội được
quyền tham gia vào mọi sinh hoạt của nền kinh
tế thị trường sắp được mở
rộng trên lục địa Trung Hoa. Rồi từ đó
nhiệm vụ của Hồng quân thay v́ hoặc để
bảo vệ đất nước, hoặc để
đi chiếm đất dành dân của các nước láng
giềng như Việt Nam, Tây Tạng, Tân Cương, Mông
Cổ v...v... th́ nay chỉ chuyên lo làm tiền để cung
phụng cho các tướng tá trong quân đội và các cán
bộ cao cấp trong chính quyền Trung Ương.
Theo báo cáo của hăng thông
tấn Trung Hoa Xă th́ trong năm 1997, các hăng xưởng
của quân đội Trung Cộng đă xuất cảng ra
ngoại quốc 7 tỷ mỹ kim ( bảy ngàn triệu
mỹ kim ) trong đó hết một nửa là nhu yếu
phẩm trong đời sống hằng ngày. Cũng xin
nhắc lại cho bạn đọc rơ là Trung Cộng có 3
công ty chế tạo vũ khí lớn nhất là Noringo, China
Jingan và Poly Technologies. Công ty Poly Technologies do đại tá
Hạ B́nh - con rễ của Đặng Tiểu B́nh làm giám
đốc. Có một điều chua chát nhất ở Trung
Hoa hiện nay là chính quyền Cộng Sản đang
đưa đất nước họ vào đường lối kinh tế thị
trường theo đường hướng Xă Hội
Chủ Nghiă ( đám tay sai Lê Khả Phiêu và đồng
bọn đă rập khuôn y như vậy ) , từ
trước đến nay chưa có quốc gia nào làm
như vậy - đó là một loại tư bản man
rợ, theo luật rừng, đặt nền móng trên
cường quyền, bạo lực; v́ vậy chỉ có
cấp lănh đạo đất nước - cấp cán
bộ Đảng - có quyền chà đạp luật pháp
của họ đặt ra - để thực hiện ư
đồ đen tối làm giàu trên xương máu của
dân đen nằm trong gọng kềm ác nghiệt của
họ mà thôi. Nhưng nhân dân Trung Quốc - nhất là
giới nông dân đâu phải tay vừa - v́ họ đang
ngấm ngầm chuẩn bị phát động rộng răi
nỗi bất b́nh của họ từ đầu thập
niên 90 cho đến nay, và càng ngày càng có thêm nhiều dấu
hiệu cho thấy đất nước Trung Hoa sắp
sửa bước vào một giai đoạn bất ổn
xă hội vô cùng trầm trọng, có thể làm sụp
đổ chế độ Cộng Sản trong một
tương lai không xa lắm, chỉ vài năm thôi; với
sự nổi dậy của giới nông dân ở khắp
nơi trên lănh thổ Trung Hoa, như họ đă từng
làm khi lật đổ nhà Nguyên để đưa Chu
Nguyên Chương - thủy tổ của đương
kim thủ tướng Chu Dung Cơ của Trung Cộng
hiện nay - lên lập ra nhà Minh; rồi họ cũng
đă nổi dậy để lật đổ nhà Thanh, và
bầu Tôn Dật Tiên lên làm tổng thống đầu tiên
của chế độ Cộng Ḥa Trung Quốc. Và
cuối cùng, vào giữa thế kỷ thứ 20, th́ cũng
chính họ - những người nông dân Trung Hoa - v́ quá tin
Mao Trạch Đông - nên đă lầm ủng hộ
đảng Cộng Sản Trung Hoa để lật
đổ chế độ Cộng Ḥa của Tưởng
Giới Thạch. Từ giữa thế kỷ thứ 14 cho
đến nay - trừ nhà Minh bị Măn Châu miền Bắc
xâm lăng rồi lập ra nhà Thanh - các triều đại
nhà Nguyên, nhà Thanh và Cộng Ḥa Trung Quốc đều
bị lật đổ khi nông dân Trung Hoa nổi lên
chống đối chế độ v́ miếng cơm manh
áo. Giờ đây hiện tượng này bắt đầu
xảy ra ở Trung Quốc: năm 1992 có hơn 200 vụ
nổi loạn của nông dân ở khắp lục
địa Trung Hoa và đến cuối năm 1998 th́
những vụ nổi loạn của nông dân đă lên
đến quá con số ngàn, và giống hệt như
một cuốn phim quay ngược trở lại từ
thời nhà Nguyên cho đến ngày nay, lư do mạnh nhất
của giới nông dân trong tất cả các vụ nổi
dậy đều là v́ sưu cao, thuế nặng, nạn
cường hào ác bá trong thời kỳ xa xưa và nay th́
nạn cán bộ Đảng ức hiếp bạo hành dân,
coi dân như cỏ rác. Vụ nổi loạn điển
h́nh nhất của nông dân Trung Quốc thường
được báo chí của Trung Ương Đảng
nhắc đến để cảnh cáo cán bộ
địa phương là vụ nổi loạn tại
quận Nhân Tô trong tỉnh Tứ Xuyên ở trung tâm
điểm của Trung Quốc. Cuộc nổi loạn
bắt đầu từ một anh nông dân già tên là
Trương Đề An trước kia đă từng
đi lính, nhưng nay là người đầu tiên đứng
ra hô hào dân chúng trong địa phương của y
đừng đóng thuế lợi tức cho nhà
nước khi nào mức tiền thu thuế cao hơn 5%
của tiền lợi tức. V́ anh ta được dân
chúng tại địa phương nhiệt liệt
ủng hộ nên chính quyền của quận đă ra
lệnh bắt anh ta để đem đi câu lưu. Dân
chúng địa phương đông cả ngàn người
đă phản ứng ngay và hành hung nhân viên chính quyền
địa phương khiến cho một số những
người này may mà chạy thoát nếu không th́ đă
bị bỏ mạng rồi. Thừa thắng xông lên, nông
dân kéo lên vây quận lỵ Nhân Tô và đ̣i chính quyền
quận phải trả số tiền thuế bội thu
lại cho họ, và phải trả tự do lại cho
Trương Đề An ngay. Chính quyền Quận đành
phải thỏa măn ngay những đ̣i hỏi của
đám nông dân này. Trước sự nhượng bộ
của chính quyền, khách bàng quan đâm ra thắc mắc
và tự hỏi tại sao lũ nông dân khố rách áo ôm này
lại dám "lên chân" với lũ cán bộ cộng
sản của quận như vậy? Chúng dựa vào
quyền lực nào mà dám đương đầu với
giới chức cầm quyền quận?
Dưới các triều
đại phong kiến xa xưa ở Trung Hoa, người
dân ở thôn quê hay sợ những phú ông, địa chủ
trong làng hơn là các ông xă trưởng đại diện
cho chính quyền v́ phú ông, địa chủ là những
người có đất cho dân mướn để canh
tác. Nhưng dưới các chế độ cộng
sản hiện nay th́ người nông dân là nạn nhân
đầu tiên của thế lực vạn năng do lũ
cán bộ Đảng và nhà nước áp đặt lên
đầu lên cổ người dân. V́ vậy trong dân gian
ở thôn quê Trung Quốc, có câu hát mà mọi người
đều thuộc ḷng là "tôi không sợ Trời mà
cũng không sợ Đất, nhưng chỉ sợ ông xă
trưởng kiêm bí thư Đảng khi ông xuất
hiện để thi hành luật pháp". Dưới con
mắt của bất cứ người cán bộ
Đảng nào được thượng cấp ưu ái
chụp cho cái "mũ cánh chuồn" tức là cái mũ
của các quan lại thuộc thời vua chúa xa xưa
ở bên Tàu, th́ người nông dân là con ḅ sữa. Từ
trên xuống dưới cái thang hành chánh, mọi
người ở mọi nấc thang này đều phóng
đại lợi tức của người nông dân,
để rồi từ đó đặt ra vô số
thuế đánh vào họ, mặc dầu theo thống kê cho
biết là trong thập niên 1990, hơn 30% dân chúng ở thôn
quê có lợi tức hằng năm vào khoảng trên
dưới 60 mỹ kim, chỉ có 10% dân quê có
được lợi tức hằng năm lên quá 100
mỹ kim. Trong thời gian giữa 1978 và 1985 th́ lợi
tức của nông dân có tăng cao đôi chút nhưng
rồi trở lại như trước cho đến
năm 1989. Và giờ đây th́ lợi tức của
người nông dân chỉ bằng 1/3 lợi tức
của người dân ở các thành thị, sở dĩ có
sự chênh lệch như vậy là do vấn đề giá
cả mà ra. Nhà Nước cộng sản lại tiếp
tục d́m giá các nông phẩm như trước v́ sợ
nâng giá lên cao sẽ làm cho dân chúng ở thành thị bất
măn và có thể xảy ra một vụ Thiên An Môn thứ hai
nữa; về phía nông dân th́ v́ họ sống rải rác, và
vô tổ chức, nên nhà nước không sợ họ làm
loạn như ở thành thị. Từ khi chính quyền
Trung Ương trao quyền thu thuế nông dân cho các cán
bộ địa phương th́ người nông dân Trung
Hoa bị những người này bóc lột một cách tàn
nhẫn, không chút nương tay, để rồi v́
tức nước th́ vỡ bờ, người nông dân
hăm dọa nổi loạn và chính quyền Trung
Ương bắt buộc phải có biện pháp xoa dịu
ḷng căm thù của họ đối với cấp cán
bộ địa phương của Đảng, qua
cuộc nổi loạn tại quận Nhân Tô, thuộc
tỉnh Tứ Xuyên, nơi chôn nhau cắt rốn của
Đặng Tiểu B́nh. Cuối cùng chính quyền Bắc
Kinh đành phải ra lệnh hủy bỏ 27 sắc thuế,
tu chính và giảm thiểu 17 sắc thuế khác và chỉ
c̣n giữ lại 29 sắc thuế mà thôi. Có lẽ trên toàn
thế giới không có một quốc gia nào đánh thuế
người nông dân của họ nặng như chính
quyền Cộng Sản ở Trung Hoa.
Kể từ 1989 cho
đến nay, cấp lănh đạo về kinh tế
của chính quyền Trung Cộng không bao giờ có kinh
nghiệm về ngành canh nông. Họ là những kỹ sư
chuyên về ngành kỹ nghệ nên khi họ thảo ra tài
liệu nói về chính sách " thắt lưng buộc
bụng " của chính phủ, họ chỉ dành có
một điểm để nói về nông dân: đó là việc
cấm phát hành những "tấm giấy màu lục "
- một loại giấy khất nợ vô giá trị - do
Cục Bưu Điện dùng để thay những
tấm ngân phiếu của người nông dân nhận
được của thân nhân ở các vùng kỹ nghệ
gởi về giúp đỡ gia đ́nh. Lại thêm chính
quyền Trung Ương vẫn theo đuổi chủ
trương để cho nông dân phải tự lực cánh
sinh; có giúp đỡ chăng nữa th́ chỉ vào những
lúc bị hạn hán hay bị lụt băo mà thôi. Trong khi
đó đất đai để canh tác càng ngày càng thu
hẹp, nông dân không có đất để trồng
trọt đành phải tha phương cầu thực, lao
ḿnh vào những vùng kỹ nghệ dọc theo duyên hải
để kiếm việc làm. Số
nông dân đi lang thang này bây giờ đă lên đến con
số 200 triệu người và đang gây ra một
vấn đề nan giải cho chính phủ Trung
Ương. (dân số Hoa Kỳ hiện nay là 270
triệu người ) Nói tóm lại, người nông dân
Trung Hoa chỉ hưởng được đôi chút
quyền lợi trong những năm đầu của
cuộc cải cách do họ Đặng đề ra vào
giữa thập niên 80, nhưng sau đó th́ coi như họ
bị chính quyền bỏ rơi và c̣n bị cán bộ
đảng ở tại địa phương t́m cách bóc
lột đến tận xương tủy v́ giới
cầm quyền cho rằng nông thôn chỉ là nguồn
tiếp tế nguyên liệu, thực phẩm và nhân công
rẻ tiền, nhưng đối với dân thành thị
th́ nông dân là một gánh nặng về phương diện
xă hội và kinh tế, và đôi khi có thể trở thành
một cản trở về phương diện chính
trị nữa. Hiện giờ chính quyền Trung Cộng
đang lâm vào t́nh trạng khủng hoảng nan giải
giống hệt như dưới thời kỳ thập
niên 1960, đó là nạn thất nghiệp trầm trọng
mà họ không sao giải quyết được; và khi mà
hàng triệu nông dân lang thang đi khắp đó đây trên
đất nước để t́m việc làm liên kết
với công nhân thành thị và sinh viên cấp tiến
để nói lên sự bất măn của họ nhưng nguy
hiểm hơn nữa là nếu có một bàn tay lông lá
cầm cây gậy tung ra chiêu “ Dollars Cước Pháp” tức
th́ một cuộc xuống đường vĩ đại
để trở thành một Thiên An Môn thứ 2, th́ chính
quyền sẽ tính sao đây ?. C̣n một vấn đề
nan giải khác mà thủ tướng Chu Dung Cơ e rồi
cũng đành bó tay là vấn đề xây cất
đập thủy điện Tam Cổ trên sông
Dương Tử.
Cuối tháng 5, 1999, chính
nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng
Cộng Sản Trung Hoa đă lên tiếng công khai tố cáo
là hai vấn đề tham nhũng và kỹ thuật kém
đang cản trở công việc xây cất đập
thủy điện Tam Cổ có hồ chứa nước
dài 400 dặm trên sông Dương Tử. Công việc xây
cất đập khó khăn đă đành, nhưng việc
tái định cư 1 triệu tám trăm ngàn dân đi
nơi khác là một việc làm điên đầu chính
quyền Trung Ương hiện nay. Nhật báo Nhân Dân
đă nêu lên lời cảnh cáo của thủ tướng
Chu Dung Cơ trong một hội nghị dài 2 ngày vào cuối
tháng 5, 1999, là bất cứ ai dính vào tham nhũng quỹ
định cư này sẽ bị trừng trị nặng
nề: đảng viên, cán bộ th́ sẽ bị
đuổi ra khỏi Đảng, c̣n nếu là công chức
th́ sẽ bị cách chức. Cho đến nay, chính
quyền chỉ mới định cư được
khoảng một trăm ngàn dân mà thôi, mà theo dự tính
của chính quyền là đến năm 2003, phải
định cư cho được 550,000 người dân
bị đuổi cả nhà lẫn đất. Một
số chuyên gia về ngành xây đập thủy
điện tiên đoán rằng mặc dầu thị
trấn Nghi Chương - cách phía Nam Bắc Kinh 700 dặm -
là nơi được xây giếng kín từ năm 1997 để
làm móng cho đập, có thể bị hủy bỏ v́
gặp quá nhiều vấn đề rắc rối mà không
giải quyết được; nhà báo có chất vấn
chính quyền nhưng không được giải thích.
Từ đầu năm 1999 cho đến nay, báo chí của
chính quyền đă mở một chiến dịch
đả phá dự án 25 tỷ mỹ kim xây đập Tam
Cổ v́ chính quyền không đào đâu ra tiền
để theo đuổi một dự án vĩ đại
như vậy. Riêng dự án bảo vệ các danh lam
thắng cảnh ở dọc theo sông Dương Tử
được dự trù 238 triệu Mỹ Kim, nhưng cho
đến ngày nay ủy ban phụ trách việc này chỉ
mới nhận được có 2 triệu mỹ kim mà
thôi. Ở Trung Hoa dân chúng thường nói cho nhau nghe câu cách
ngôn sau đây :" Kẻ nào chế ngự
được sông ng̣i, kẻ ấy lănh đạo
được nước Trung Hoa ". Không biết
có phải v́ câu cách ngôn này mà những ai lên cầm quyền
Trung Hoa từ đầu thế kỷ 20 cho đến ngày
nay đều có mộng chế ngự hai con sông lớn
nhất và dài nhất của nước này là Hoàng Hà và
Dương Tử Giang. Năm 1918,Tôn Dật Tiên trong quyển
sách của ông nhan đề " Trung Quốc dưới
sự phát triển quốc tế " đă có gợi ư xây
một số đập thủy điện trên một
đoạn dài khoảng 600 cây số của sông
Dương Tử từ Trùng Khánh đến Nghi
Chương. Sau khi Tôn Dật Tiên qua đời và
Tưởng Giới Thạch lên kế vị ông ta cho
đến 1945, th́ họ Tưởng đă từng hai
lần mời phái đoàn chuyên viên Hoa Kỳ qua Nam Kinh
thảo luận với phái đoàn chuyên gia Trung Hoa
để t́m cách xây đập thủy điện Tam
Cổ.
Sông Dương Tử
chảy từ Phong Tiếp ở về phía Tây nước
Tàu đến Nghi Chương ở phía Đông
thường len lỏi qua giữa nhiều hẻm núi
như hẻm núi Khu Đường Hạ giữa Phong
Tiếp và Vũ Sơn, dài 8 cây số,hẽm Vũ Hạ
nằm giữa Vũ Sơn và Bá Đông, dài 44 cây số và
hẽm dài nhất là hẻm Tây Lăng Hạ, 76 cây số,
giữa Tư Qui và Nghi Chương. Sau khi nghiên cứu xong,
phái đoàn Hoa Mỹ có đệ tŕnh lên cho Tưởng
Giới Thạch hai bản phúc tŕnh thuận lợi về
việc xây đập thủy điện Tam Cổ, và
một cuộc triển lăm về dự án này đă
được tổ chức tại Trùng Khánh. Công việc
chưa đi đến đâu th́ Họ Tưởng
bị thua trận trong cuộc chiến quốc cộng và
phải lưu vong qua Đài Loan vào năm 1949, và Mao
Trạch Đông lên thay ông ta để lănh đạo
nước Tàu. Không hiểu Mao có bị ám ảnh bởi
câu cách ngôn "Kẻ nào chế ngự được sông
ng̣i, kẻ ấy lănh đạo được
nước Trung Hoa", nhưng chỉ 5 năm sau, vào
năm 1954, một trận lụt lớn trên sông
Dương Tử đă tàn phá một số lớn
những miền ở dọc theo hạ lưu con sông này
gây chết chóc cho 40,000 dân và 2 triệu người lâm vào
cảnh màn trời chiếu đất. Kể từ đó
Mao Trạch Đông mới nuôi quyết tâm xúc tiến
dự án xây đập thủy điện Tam Cổ.
Nhưng phải chờ cho đến khi Đặng
Tiểu B́nh lên cầm quyền vào năm 1978, dự án này
mới bắt đầu xúc tiến mạnh. Cũng
như dưới trào Mao Trạch Đông, chính quyền
họ Đặng cũng mời một số chuyên gia Hoa
Kỳ qua khảo sát vùng định xây cất đập
và sau khi đi quan sát và nghiên cứu về th́ họ cho
biết là không mấy thuận lợi v́ đất
dưới ḷng bồn chứa nước không phải là
đá cứng mà là từng lớp “đá thủy thanh nham xen lẫn đất lắng”,
( đất lắng là một loại bùn loăng ) giống
như miếng bánh da lợn bên Việt Nam ta, nên sẽ
chịu không nổi sức nặng của hàng tỷ
tấn nước trong bồn chứa. Nếu bồn
chứa bị vỡ trong mùa lụt th́ sẽ cuốn trôi
hàng trăm triệu dân ở trong vùng hạ lưu của
sông Dương Tử, và thiệt hại vật chất
lúc đó sẽ không thể ước lượng
được. Qua năm 1986, một phái đoàn chuyên viên
về địa chất của Ngân Hàng Thế Giới
phái qua Trung Hoa cũng tuyên bố na ná như nhóm chuyên viên qua
vào năm 1985. Cũng trong lúc đó ,có hai công ty đầu
tư của Canada là CIPM và CYJV cũng xúc tiến việc
nghiên cứu và bản phúc tŕnh của họ nói rằng
nơi mà chính quyền Trung Hoa chọn để xây
đập Tam Cổ là nơi lư tưởng nhất
để xây đập thủy điện trên đời
này và quả thật đó là một món quà do thượng
đế tặng cho nhân dân Trung Quốc. Không biết
đó là một món quà do thượng đế tặng cho
dân Trung Hoa, hay là một tai ách mà thượng đế
sắp đặt để giáng xuống đầu hàng
triệu dân Tàu, v́ khi mà đập thủy điện này
vỡ th́ sẽ có hàng trăm triệu dân Tàu bị sóng
nước cuốn tuốt ra Thái B́nh Dương.
Một số người
cho rằng với kinh nghiệm xây hai cái đập
thủy điện trong mấy chục năm về
trước, th́ thế nào chính quyền cũng sẽ thành
công trong việc xây đập thủy điện Tam
Cổ. Muốn biết rồi đây chính quyền Trung
Cộng có thành công hay không trong việc xây đập Tam
Cổ xin xem đoạn dưới đây th́ rơ.
Dưới triều đại Xă Hội Chủ Nghĩa
Trung Hoa, đập thủy điện được xây
đầu tiên là đập Tam Môn Hạ trên sông Hoàng Hà,
với sự giúp đỡ của Liên Xô, và hoàn tất vào
năm 1960. Khi xây đập này, chính quyền Trung Cộng
đă phải đưa vào khoảng 800,000 dân đi chỗ
khác. Và kết quả mà dự án này mang lại một sự
thất bại hoàn toàn. Việc rắc rối đầu
tiên là các tua-bin thủy điện không quay được
nhanh như dự tính v́ nước sông Hoàng Hà mang quá
nhiều đất lắng. Và sau đó đành phải cho
đập ngưng hoạt động để cho ban giám
đốc tái thiết kế lại và công tŕnh này kéo dài
đến gần 10 năm và sau đó th́ năng suất
của đập này chỉ được 1/5 năng
suất dự trù. Sở dĩ chính quyền cho xây đập
Tam Môn Hạ là dùng đập này để vô hiệu hóa tác
dụng tai hại của những trận lụt lớn
làm ch́m ngập những vùng rộng lớn ở bên dưới
hạ lưu sông Hoàng Hà; nhưng chỉ 4 năm sau khi khánh
thành đập th́ hồ chứa nước bị
đầy đất lắng và bùn khiến cho
lượng nước trong hồ chứa chỉ c̣n
chứa được 62% khối nước dự trù
thôi. Đập thủy điện thứ hai là đập
Cách Tô Pha nhưng lại là
đập thứ nhất trên sông Dương Tử. Chính
quyền phải mất 20 năm mới hoàn tất xong
đập này. Khởi công xây đập vào đầu năm
1971, nhưng ít lâu sau th́ người ta mới phát giác ra là
đập nằm trên hơn 70 lớp đất lắng
chồng lên nhau như chiếc bánh xăng uưch ( sandwich )
vậy. Và cuối cùng v́ uy tín
của Trung Hoa nên đành phải đ́nh chỉ việc xây
cất trong ṿng 22 tháng để có thời giờ đóng
cọc bê tông cốt sắt vào trong ḷng đất,
dưới đáy hồ chứa nước. Có ai có
thể tưởng tượng nỗi một đập
thủy điện to nhất nh́ trên thế giới lại
được cất trên những cọc bê tông không?.
Và đập thủy điện Tam Cổ là đập
thứ ba được xây cất dưới chế
độ Xă Hội Chủ Nghĩa Trung Hoa. Cứ cho là công
việc xây cất đập diễn ra rất tốt
đẹp, không bị ảnh hưởng những vụ
tham nhũng vĩ đại do dàn cán bộ
"gộc" của Đảng Cộng Sản tạo
ra làm đục ruỗng nền móng của đập này
th́ hậu quả đầu tiên sẽ xảy ra là toàn
bộ miền đồng bằng rất ph́ nhiêu và đông
dân cư ở hạ lưu sông Dương Tử gồm
các thị trấn lớn như Thượng Hải, Giang
Châu,Vũ Tây... sẽ trở thành ruộng muối, không cày
cấy ǵ được v́ đập Tam Cổ sẽ làm
cho lưu lượng trung b́nh tại cửa sông
Dương Tử yếu đi, nước thủy
triều của bể Nam Hải sẽ lan sâu vào lưu vực
sông này, muối bể sẽ thấm dần vào đất
canh tác và sẽ giết chết hết tất cả hoa
mầu trồng trong vùng đồng bằng lân cận,
biến vùng phi nhiêu này thành hoang địa. C̣n về lâu
về dài th́ hồ chứa nước của đập
sẽ cạn dần v́ bùn và đất lắng từ các
sông con đổ vào - hậu quả tai hại của
nạn khai quang phá rừng không có kế hoạch của cán
bộ Đảng cấp địa phương - làm cho
nước mưa xói những núi trọc và mang theo
đất ra sông, ḷng hồ chứa nước bị nâng
lên cao th́ và nước sẽ tràn ra ngoài sông lớn và gây nên
lụt lội y như trường hợp của
đập Tam Môn Hạ trên sông Hoàng Hà.
8. Hoa Kỳ Cảnh
Cáo Chính Quyền Trung Cộng.
Trong bản phúc tŕnh hằng
năm trước quốc hội vào tháng 3, 1999, thủ
tướng Chu Dung Cơ có nêu ra vấn đề tham
nhũng trong lănh vực hạ tầng cơ sở và xây
cất nhà cửa, và ông hứa là sẽ có biện pháp
mạnh đối với những "dự án
đậu phụ" vừa hoàn tất xong th́ đă
sụp đổ. Ông tŕnh với quốc hội là ông ta
đă ra lệnh cho Bộ An Ninh Công Cộng phải lập
tức mở cuộc điều tra về những dự
án công tác bê bối như vụ chiếc cầu dài hơn
150 thước trên sông Hy Kiến cách Trùng Khánh 50 dặm
bị gảy, làm cho hơn 40 bộ hành thiệt mạng.
Nội trong tỉnh này thôi, đă có khoảng 1600
người chết do nhà cửa của chính quyền
bị sụp đổ v́ xây cất quá cẩu thả. Ông
cho quốc hội biết thêm là từ hai năm nay t́nh h́nh
kinh tế nước nhà không được khả quan cho
lắm như :xuất cảng kém, đầu tư
ngoại quốc yếu, nên ông đă ra lệnh cho các ngân
hàng nhà nước phải xuất ra hàng tỷ mỹ kim
để làm cho nền kinh tế nước nhà
vươn lên, nhất là trong ngành xây xa lộ tăng lên 50%
vào năm 1998, và năm nay ngành này lại vượt lên 62%,
chiếm con số kỷ lục 35 tỷ mỹ kim.
Nhưng theo các quan sát viên ngoại quốc - th́ với
hệ thống ngân hàng nhà nước của Trung Cộng
cho vay mà không lưu ư mấy đến vấn đề
hoàn lại vốn chứ chưa đề cập
đến vấn đề tiền lăi cho vay - th́ đó là
một cơ hội để quẳng tiền qua cửa
sổ mà không sợ ai chỉ trích và chỉ tổ gây thêm
tham nhũng thôi chứ chả có bổ ích ǵ cho nền kinh
tế đang trên đà xuống dốc. Đứng
trước những khó khăn nội bộ nêu ra trên
đây,thủ tướng Chu Dung Cơ đă cảm
thấy điên đầu không biết làm sao giải
quyết cho thỏa đáng v́ ông sẽ gặp sự
chống đối mănh liệt của đa số cán bộ
cùng đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa
bị ông cất miếng ăn.
Vụ dân biểu
đảng Cộng Ḥa Christopher Cox đệ tŕnh lên
quốc hội Hoa Kỳ bản phúc tŕnh kết quả
cuộc điều tra về vụ gián điệp Trung
Cộng xâm nhập các pḥng thí nghiệm Hoa Kỳ và thâu
lượm được khá nhiều tài liệu tối
bí mật về bom nguyên tử và bom trung ḥa tử. Đây
là một vụ đánh cắp tài liệu về nguyên
tử của Hoa Kỳ vô cùng quan trọng v́ nó kéo dài
gần 20 năm nay. Cuộc bang giao giữa Hoa Kỳ và
Trung Cộng trở nên lạnh nhạt nhưng chưa
đến độ tan vỡ như người ta tưởng.
Nhưng đùng một cái lại xảy ra vụ máy bay Hoa
Kỳ oanh tạc sứ quán Trung Cộng ở Belgrade,
thủ đô Nam Tư, gây cho một số người
bị thiệt mạng. Chính phủ Hoa Kỳ vội vàng
xin lỗi chính phủ Bắc Kinh viện lư do là phi công
của họ v́ xử dụng bản đồ quá cũ,
được ấn hành trước khi có ṭa đại
sứ Trung Cộng nên mới xảy ra vụ ném bom lầm
đáng tiếc. Phản ứng của chính quyền
Bắc Kinh là huy động cả trăm ngàn dân xuống
đường biểu t́nh phản đối hành
động của Hoa Kỳ và hô hoán với thế
giới là dân chúng Trung Hoa tự động xuống
đường để chống đối Hoa Kỳ
cả Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng đều biết rơ
sự thật của vụ ném bom này, nhưng bên nào cũng
đều "thủ khẩu như b́nh" v́ sợ nói
ra th́ cả hai bên đều "kẹt" hết!.
Chuyện xảy ra khi cô Marja, con gái cưng của tổng
thống độc tài Milosevic của Nam Tư, đă
nhờ thân mẫu của cô và cũng là bạn thân của
người tùy viên quân sự của ṭa đại sứ
Trung Cộng tại thủ đô Belgrade vận động
với đại sứ Trung Cộng cho cô ta đặt
nhờ trên tầng lầu cao của ṭa đại sứ
này một giàn máy phát tuyến truyền h́nh và truyền thanh
của chính phủ Nam Tư. Và nếu làm được
như vậy th́ chắc chắn là phi cơ của Hoa
Kỳ không dám ném bom vào ṭa đại sứ Trung Cộng.
Nhưng Nam Tư đă tính sai nước cờ, v́ "cha
lú th́ có chú khôn", Hoa Kỳ dùng bom "thông minh"
để oanh tạc vị trí đặt đài truyền
thanh, truyền h́nh này và kết quả là đài này bị
tiêu hủy, viên đại tá tùy viên quân sự của Trung
Cộng bị thiệt mạng; riêng cô Marja vẫn an nhiên
tự tại, không bị thương tích ǵ ráo.
Người thiệt tḥi nhất trong vụ "ném bom
lầm" này là ông Chu Dung Cơ, thủ tướng chính
phủ Trung Cộng v́ không những ông ta mất toi đám
mật vụ đội lốt nhà báo và một viên
đại tá tùy viên quân sự đă đành mà c̣n phải
tổ chức dân chúng biểu t́nh đả đảo
Mỹ để lấp liếm vụ ṭa đại
sứ Trung Cộng "đi đêm" với Milosevic
chống lại đồng minh NATO. Nói trắng ra là vụ phi cơ Mỹ ném bom ngay vào
ṭa đại sứ của Trung Cộng là vụ trả
đũa đầu tiên của Hoa Kỳ sau khi phát
hiện những vụ đánh cắp tài liệu quốc
pḥng của Hoa Kỳ do Trung Cộng chủ xướng, và
luôn thể để cảnh cáo chính quyền Trung Cộng
là Hoa Kỳ không bao giờ tránh né những vụ
đụng độ trực diện với Trung Cộng
khi Trung Cộng chạm vào quyền lợi của Hoa
Kỳ. Như đă nói, Trung Cộng hiện đang
ở trong t́nh trạng rối loạn nội bộ. Kinh
tế xuống dốc, xuất cảng yếu kém, các nhà
kho đầy nhóc hàng ứ đọng nằm ụ. Hai
trăm triệu dân quê giờ đây đang lang thang
khắp các nẻo đường đất nước
để kiếm việc làm mà không t́m đâu cho ra
việc. Sinh viên, trí thức càng ngày càng bất măn thái
độ cố chấp, ngoan cố, độc đoán
của Giang Trạch Dân và bè lũ; nạn tham nhũng
của chế độ lan tràn một cách kinh khủng
từ hạ tầng lên đến thượng tầng
cơ sở của Đảng và Nhà Nước biến
Trung Cộng thành một nước tư bản mà tất
cả những thành viên tai to mặt lớn đều là
con cái, thân nhân ruột thịt của những đảng
viên gộc của Đảng Cộng Sản Trung Hoa;
khiến trong dân gian nảy sinh ra vô số lời châm
biếm về sự biến h́nh của Đảng
Cộng Sản và những cây đại thụ của
Đảng nghĩ rằng muốn cứu nguy Đảng
trong lúc này chỉ có một con đường duy nhất
là phải đánh động vào ḷng yêu nước, đức
hy sinh của toàn dân th́ may ra mới cứu được
Đảng mà thôi. Thế rồi xảy ra vụ chính
quyền Mỹ tố cáo Trung Cộng - qua trung gian một
số chuyên gia Hoa Kỳ gốc Trung Hoa - đánh cắp tài
liệu quan trọng về bom nguyên tử và bom Trung Ḥa
Tử tại các pḥng thí nghiệm của Hoa Kỳ
khiến cho bang giao giữa hai nước trở nên
lạnh nhạt.
Vụ phi cơ Mỹ ném bom
"lầm" ṭa đại sứ Trung Cộng ở
thủ đô Belgrade của Nam Tư đă giúp cho chính
quyền Trung Cộng trắc nghiệm xem tinh thần yêu
nước của dân Trung Hoa lên cao độ đến
mức nào để Đảng có thể động viên
khi cần. V́ cứ mỗi lần chính quyền Trung
Cộng gặp khó khăn nội bộ là họ
thường t́m cớ để gây chiến tranh với
các nước láng giềng để cho dân chúng quên đi
những khó khăn trong nước mà họ phải
chịu thay cho lũ cán bộ cộng sản như
chiến tranh ở dọc biên giới với Liên Xô về
tranh chấp biên giới vào cuối thập niên 1950.
Nhưng kỳ này nhân dân Trung Hoa tụ tập hơn
trăm ngàn người để biểu t́nh đả
đảo đế quốc Hoa Kỳ không phải là ai
cũng đều chống Hoa Kỳ cả, mà có rất
nhiều phần tử chống đối đảng
cộng sản Trung Hoa nhân cơ hội này hùa theo đám
biểu t́nh ném đá vào ṭa đại sứ Hoa Kỳ
với ư đồ làm cho quần chúng Hoa Kỳ mất
cảm t́nh với chính quyền Trung Cộng thêm nữa.
Thành thử khi t́nh h́nh trong nước trở nên rối
loạn th́ Trung Cộng chỉ c̣n một giải pháp duy nhất
là kiếm cớ tấn công vào Đài Loan mượn lư do
là thống nhất đất nước, qui về
một mối. Và lúc đó người quốc gia nào
chống đối lại cuộc chiến xâm lăng
Đài Loan sẽ bị trừng trị không chút
nương tay và khi ấy không c̣n ai dám oán than ǵ nữa.
Một tháng trước khi qua viếng thăm Hoa Kỳ vào
trung tuần tháng 4, 1999, thủ tướng Trung Cộng Chu
Dung Cơ đă nói đùa trong một cuộc họp báo là
có một tạp chí thương măi nọ đăng h́nh
của ông ta giống hệt như một cái xác chết và
tiếp theo đó th́ thủ tướng Chu thú nhận
năm vừa qua t́nh h́nh kinh tế đất nước
đă gặp rất nhiều khó khăn hơn là ông đă
dự tính. Rồi ông ta thú nhận là v́ ông ta làm việc
không được giỏi cho lắm. Vậy th́ những
khó khăn do ông ta vừa đề cập đến là
những khó khăn ǵ mà ông ta lại tránh không chịu nói rơ
ra cho báo chí biết?Thưa đó là những căn bệnh
cố hữu của tất cả các nước cộng
sản đă tan ră rồi hay chưa tan ră, những
chứng bệnh giống như bệnh cùi, không có
thuốc nào chữa trị được và đó là:
nạn cán bộ đảng viên ăn hối lộ, làm
giàu trên xương máu nhân dân để trở thành giai
cấp đại "tư bản Đỏ", nạn
nuốt lời và làm ngược lại những ǵ họ
đă từng hứa với nhân dân là sẽ thực thi dân
chủ khi nắm được chính quyền, và nâng cao
đời sống của nhân dân, nhất là đời
sống của 2 giới nông dân và thợ thuyền. Trong cái
mê hồn trận đầy mọi thứ ḿn bẩy to có,
nhỏ có do cán bộ cộng sản tự gài cho họ và
cho chế độ, thử hỏi thủ tướng Chu
Dung Cơ có đủ khả năng lèo lái con thuyền nan
Trung Cộng ra khỏi cơn băo tố do chính cán bộ và
đảng viên của Đảng Cộng Sản gây ra
không?. Thủ tướng
Chu Dung Cơ, 71 tuổi, sinh năm Mậu Th́n (âm lịch),
thuộc ḍng giơi con cháu Minh Đế Chu Nguyên Chương,
vị vua sáng lập ra triều đại nhà Minh và trị
v́ nước Trung Hoa từ 1368 đến 1398 Tây lịch.
Dưới chế độ Trung Hoa Dân Quốc của
thống chế Tưởng Giới Thạch, gia đ́nh
họ Chu là một trong những gia đ́nh địa
chủ giàu nhất trong thị trấn Trường Sa
thuộc tỉnh Hồ Nam. Mồ côi cha mẹ từ
thuở bé, Chu Dung Cơ được ông chú nuôi nấng,
lớn lên cho vào học ban Điện tại đại
học Thanh Hoa ở Bắc Kinh. Gia nhập đảng
Cộng Sản Trung Quốc vào năm 1949 và được
bổ nhiệm vào làm việc trong Ủy Ban Kế Hoạch
Nhà Nước; bị theo dơi v́ dám lên tiếng chỉ trích
chính sách kinh tế của Đảng vào năm 1957, và qua
năm sau bị khai trừ khỏi Đảng và đày
đi chăn ḅ trên miền Đông Bắc Trung Hoa. Sau khi Mao
chết vào năm 1976 và Đặng Tiểu B́nh lên kế
vị y, th́ măi đến 1978, họ Đặng mới
phục hồi chức vị lại cho Chu Dung Cơ và
phong cho ông ta làm thị trưởng thành phố
Thượng Hải. Trong 3 năm làm thị trưởng,
chính họ Chu đă đón nhận đầu tư ngoại
quốc vào thành phố này cho đến ngày nay. Qua năm
1991, Đặng Tiểu B́nh phong cho họ Chu làm Phó Thủ
Tướng Chính Phủ với nhiệm vụ chận
đứng nạn lạm phát đang lan tràn và phải
chật vật lắm ông ta mới thành công được
một phần nào mà thôi. Sau khi họ Đặng qua
đời và Giang Trạch Dân lên kế vị, th́ phải
đợi đến khi họ Giang bứng
được Lư Bằng khỏi chức vụ thủ
tướng, Chu Dung Cơ mới có cơ hội để
trở thành thủ tướng chính phủ vào năm 1998,
năm đánh dấu sự sụp đổ về kinh
tế và tài chánh của một số con "rồng
giấy" á Châu, và cũng từ đó, đưa nền
kinh tế của Trung Cộng đến trên bờ vực
thẳm.
9. Trung Cộng con
"rồng giấy" Á Châu
Trong lịch sử của Trung
Cộng, năm 1992 là năm thịnh vượng tột
đỉnh về kinh tế của họ, xuất
cảng và tăng trưởng kỷ lục khiến cho
một số báo chí quốc tế đă dám tiên đoán Trung
Cộng có thể trở thành một siêu cường
của ngày mai. Tuy nhiên một số báo khác đă dè dặt
báo động là nền kinh tế của Trung Cộng
đang đi vào con đường không thể kiểm soát
được, như con ngựa long cương v́
quyền hành của các cấp bộ địa
phương - như những vùng duyên hải - ngày càng
lộng hành, nhất là sau lời tuyên bố của
Đặng Tiểu B́nh trong chuyến kinh lư ở miền
Nam Trung Hoa vào đầu năm 1992 là đề cao hơi
quá lố tư bản. Lại thêm tập đoàn cán bộ
trong quốc hội bù nh́n ăn của đút của
tập đoàn đầu năo lănh đạo các khu vực
phát triển dọc theo duyên hải đă vận
động ngấm ngầm các dân biểu để họ
ủy quyền thêm cho những nhóm cán bộ này, biến
chúng thành những sứ quân độc lập, coi nhẹ
những chỉ thị của Trung Ương. Và từ
đó phát sinh ra nạn đầu tư bừa băi, mạnh
ai nấy làm, chả đếm xỉa ǵ đến
những kế hoạch và qui luật đầu tư
về kinh tế. Các giám đốc ngân hàng - nhất là ngân
hàng nhà nước - v́ quyền lợi riêng tư cũng
tham gia tích cực vào phong trào đầu tư điên
loạn này và họ tiếp tục tài trợ những xí nghiệp
làm ăn thua lỗ mà theo thống kê của chính quyền là
khoảng 35% và những xí nghiệp này không bao giờ hoàn
lại tiền vốn họ đă vay của ngân hàng nhà
nước chứ đừng nói ǵ đến tiền lăi,
v́ có gan to bằng trời cũng không ai dám tuyên bố khánh
tận và đóng cửa xí nghiệp quốc doanh thiếu
tiền vay của ngân hàng mà không trả nỗi. Để
bù lấp lỗ hổng thiếu hụt đó th́ ngân hàng
lại tăng lăi xuất lên cao vọt, tuy không hợp pháp
nhưng những nhà thầu mới vào nghề hay những
tư nhân đang cần tiền đành phải cắn
răng chấp nhận nếu không th́ không biết t́m
đâu cho ra tiền. T́nh trạng cần vốn để
đầu tư vào các dịch vụ xây cất cao ốc
dễ sinh ra lợi đă làm cho trữ kim của các ngân
hàng đâm ra khan hiếm và làm thiệt tḥi nặng hai ngành
năng lượng và mở mang đường sá và
cầu cống. Đó là chưa đề cập
đến vấn đề phải thanh toán cho nông dân
những bưu phiếu do thân nhân của họ đi làm
từ các đô thị gởi về cho gia đ́nh mà sở
bưu điện v́ thiếu tiền mặt đă phải
phát cho họ một loại giấy khất nợ gọi
là "hối phiếu" màu lục ghi rơ số tiền
mà bưu điện nợ của người dân. Buồn
cười nhất là chính quyền Trung Ương lại
phủ nhận việc làm này của sở Bưu Điện,
v́ họ biết cán bộ của sở này đă xử
dụng bất hợp pháp số tiền của dân gởi
về cho thân nhân bằng cách đem đi đầu tư
vào những dịch vụ khác để kiếm thêm
lợi nhuận riêng. Nhưng dù sao th́ chậm cũng c̣n
hơn không và Trung Ương đă chấm dứt tệ
nạn phát hành " hối phiếu màu lục " này khi
nó đă lan tràn qua 11 tỉnh. Dưới thời thủ
tướng Lư Bằng hệ thống ngân hàng nhà
nước làm việc rất là bê bối và hầu như
có hai hệ thống: một công khai mà ta có thể gọi
là cửa tiền và một ẩn tàng hoạt động
trong bóng tối giữa khách hàng và nhân viên cấp
điều khiển của ngân hàng lẽ tất nhiên là
phải thuộc giới cán bộ cao cấp Đảng,
hoặc là con cháu của giới lănh đạo cao cấp
của chính quyền Trung Ương hay của quân
đội. Với hệ thống cửa hậu này th́
phải trả lăi suất rất cao từ 20% đến
25% và có khi lên đến 40% mà không có ai dám kiểm soát v́
sợ đụng phải những "cây cổ thụ
của Đảng" đứng ở đằng sau.
Từ khi ông Chu Dung Cơ lên
thay Lư Bằng th́ t́nh trạng bê bối này tuy có giảm
thiểu nhưng không thể chấm dứt hoàn toàn
được v́ chính quyền Bắc Kinh (tức chính
quyền trung ương) vẫn c̣n bất lực,không
điều khiển nỗi chính quyền các tỉnh và các
thị trấn có những "vùng kinh tế đặc
biệt". Năm 1979, lúc Trung Cộng - dưới
sự lănh đạo của Đặng Tiểu B́nh -
bắt đầu chuyển hướng chạy theo kinh
tế thị trường, th́ chỉ có 4 vùng kinh tế
đặc biệt mà thôi; đến năm 1984,quy chế
ưu đắ về thuế má của các vùng kinh tế
đặc biệt được đem ra áp dụng cho 14
đô thị dọc theo miền duyên hải, để
rồi qua năm 1992 th́ sự ưu đăi này
được áp dụng cho thêm hơn ba mươi vùng
phát triển kinh tế và kỹ thuật nằm trong 7
tỉnh dọc theo duyên hải; và nay con số các vùng này
đă lên đến hơn ngàn mặc dầu không
được chính quyền Trung Ương Bắc Kinh cho
phép. Từ khi ông Chu Dung Cơ lên nắm quyền thủ
tướng th́ ông ta đă ra lệnh đóng 1000 vùng
được ưu đăi về thuế má trong số
1200 vùng,và theo ông ta trong số 200 vùng c̣n lại th́ chỉ có
khoảng 20 vùng là có thể xem như hữu ích trong
việc khuếch trương nền kinh tế địa
phương. Chuyện buồn cười nhất là
một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc,
với ngành xuất cảng có năm chiếm kỷ
lục trên thế giới, thế mà ngân sách chính phủ
Trung Ương chỉ thâu được vào khoảng 15%
của lợi tức quốc gia mà thôi. Công việc
đầu tiên của thủ tướng Chu Dung Cơ khi
vừa lên thay thế Lư Bằng là phải làm sao để
thâu cho được thuế, nhất là thuế lợi
tức của các xí nghiệp tư; đồng thời
chấm dứt tệ trạng cho miễn thuế hoặc
giảm bớt thuế đánh vào các xí nghiệp thuộc
phạm vi thẩm quyền của các nhà chức trách
địa phương. Trước t́nh trạng lộng
quyền này, đă có lần báo chí đă phải lên tiếng
báo động và đ̣i hỏi tất cả mọi xí
nghiệp dù lớn dù nhỏ đều bắt buộc
phải đóng thuế như chính phủ đă qui
định. Đặc biệt riêng hai ngành về năng
lượng và truyền thông ít có người đầu
tư,nhưng vốn vay của ngân hàng nhà nước
cũng không được hoàn lại th́ nói chi đến
tiền lăi. Những cán bộ
cao cấp của Đảng hoặc con cái họ
thường hùn vốn với các nhà đầu tư
ngoại quốc, nhất là những người Tàu ở
hải ngoại vào những ngành có liên quan đến
xuất cảng, để không những dễ kiếm
lời mà c̣n có lư do hợp pháp để chuyển ngân ra
ngoại quốc qua trung gian các ngân hàng Tây phương. ((Lippo Bank qua trung gian Tiến
Sỹ Nguyễn Văn Hảo cũng đă “chuyển ngân hợp pháp” chỉ riêng cho thủ tướng tham nhũng
Vơ Văn Kiệt trên dưới 6 tỷ mỹ kim ( 6
ngàn triệu Dollars), xin xem h́nh của Nguyễn Văn
Hảo trong Webpage này. )) Đầu
thập niên 1990, con số vốn được chuyển
bất hợp pháp ra ngoại quốc vào khoảng 30 tỷ
mỹ kim nhưng vào cuối thập niên 90 th́ đă lên
đến trên dưới 100 tỷ mỹ kim, với
sự tiếp tay đắc lực của nhân viên hành chánh
mà đa số đều là cán bộ cao cấp của
Đảng.
Trong một buổi họp kín của các
đảng viên cao cấp Đảng, tổng bí thư
Giang Trạch Dân đă phải thốt lên rằng: "tham
nhũng đă trở thành nguy cơ lớn nhất của
Đảng" rồi ông ta tiếp: "và các đảng
viên kỳ cựu cần phải nêu gương liêm khiết
cho đàn em noi theo lúc về già". Tuy họ Giang nêu ra
như vậy nhưng mọi người đều
biết tham nhũng bắt nguồn từ các cán bộ cao
cấp già và lũ con cái của họ mà ra; và nếu
muốn thật sự trong sạch hóa guồng máy nhơ
nhớp của Đảng th́ đầu tiên là phải
thanh trừng ngay các "cây đại thụ" trong
Đảng trước đă, th́ khi đó quần chúng
mới tin những ǵ Đảng nói về bài trừ tham
nhũng... .V́ vậy mà Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân
bắt buộc phải ra tay thanh trừng tham nhũng trong
mọi lănh vực và ở mọi cấp bực. Kết
quả sơ khởi cho biết là đă phát giác và
điều tra được 95.000 vụ tham nhũng.
65.000 đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Hoa lănh
biện pháp chế tài của Trung Ương Đảng,
và 37.000 trường hợp bị truy tố ra
trước ṭa án. Khi lấy quyết định táo
bạo "phân quyền địa phương" trong
một chế độ sắt máu như chế
độ Cộng Sản ở Trung Hoa, ông Đặng
Tiểu B́nh vẫn tưởng là ông ta hành động
như vậy sẽ giảm thiểu được
phần nào quyền hành vạn năng của tập
đoàn cán bộ vạch kế hoạch cho toàn quốc
ở Bắc Kinh và chấm dứt sự tê liệt và
thờ ơ của nhân dân trên toàn quốc, nhưng trái
lại cuộc cải cách này đă mang lại những tác
dụng vô cùng tai hại là làm cho hai khối Đảng và
Nhà Nước càng xáp gần lại với nhau hơn, ngay
tại những khu vực nhỏ bé nhất, khiến cho
vai tṛ của viên bí thư Đảng tại địa
phương trở thành một ông vua con, oàn quyền sinh
sát đối với dân chúng v́ mọi công vụ như
ngành cảnh sát, thu thuế, kiểm soát vệ sinh công
cọng, cấp phát môn bài v..v.. đều đặt
dưới quyền của viên bí thư Đảng,
đồng thời y cũng được hưởng
quyền tự trị rất lớn đối với
Trung Ương Đảng ở Bắc Kinh, và đời
sống của các viên chức nhỏ bé trong vùng như
lương phạn, thăng thưởng, nghỉ phép,
được cấp nhà ở, con cái đi học v..v..
đều lệ thuộc vào sự vui hay buồn của
ông vua con ở mỗi địa phương tức là viên
bí thư Đảng. Thành thử Đặng Tiểu B́nh
thay v́ làm giảm bớt áp lực của Đảng đè
nặng lên trên các hoạt động kinh tế, th́
ngược lại những cải cách của ông ta cho phép
Đảng được toàn quyền ức chế
những hoạt động kinh tế. Và như vậy
những cải cách của ông chỉ là một loại phân
bón đặc biệt dùng để làm sinh sôi nẩy
nở một loại cây dại rất độc mà nhân
dân Trung Hoa gán cho cái tên không có trong từ điển
Thực Vật Học: đó là "cây tham nhũng".
Ngay tại thủ đô Bắc Kinh, trong hang cùng ngơ hẻm
dân chúng x́ xầm với nhau: công chức hành chánh là
những con chó sói, nhân viên thu thuế là những con cọp
đói và cảnh sát viên là những tên ăn cướp, v́
từ trên xuống dưới, chúng đều tham nhũng
cả. Những lời kêu than này đến tai Giang
Trạch Dân và ông ta bắt buộc phải hành động
để cứu chế độ. Nhát búa đầu tiên
của ông ta nhắm vào Trần Hy Đồng, Bí thư
Thành Bộ Đảng của Bắc Kinh khi ông ra lệnh
mở cuộc điều tra về hành vi tham nhũng của
toàn bộ cấp lănh đạo cơ quan hành chánh
đầu năo thủ đô Bắc Kinh, vào tháng 4, 1995.
Cuộc điều tra cho thấy là viên Phó Thị
Trưởng Vương Bảo Sâm đă bỏ túi 37
triệu mỹ kim trong một vụ cấp giấy phép xây
cất cho một nhà thầu. Rồi người ta
thấy Vương Bảo Sâm tự tử;nhưng đâu
phải chết là hết chuyện. V́ qua Vương
Bảo Sâm, ban điều tra c̣n nhắm viên thị
trưởng Trần Hy Đồng là người cầm
mọi giềng mối tham nhũng.Y người gốc
Tứ Xuyên, trước kia làm nhân viên cảnh sát, sau
lần ṃ lên làm đại diện cho Đảng trong một
nhà máy công cụ ở ngoại ô Bắc Kinh. Năm 1979,
đươc Đặng Tiểu B́nh đưa vào làm
việc trong thị xă Bắc Kinh, và 8 năm sau được
đề bạt lên chức vụ thị trưởng
Bắc Kinh để rồi ít lâu sau trở thành đệ
nhất bí thư Đảng của thủ đô Trung Quốc.
Địa vị của y coi như lên tới tột
đỉnh khi y vận động được sự
cặp đôi với thủ đô Paris vào năm 1987.
Trần Hy Đồng cũng biết rơ là người
cầm đầu ủy ban điều tra về nạn
tham nhũng tại Thủ Đô Bắc Kinh là Vĩ Kiên Tính
được tiếng thanh liêm từ trước tới
nay;nhưng y luôn luôn tỏ vẻ tự tin và không hề
tỏ ư lo sợ. Y huênh hoan nói với mọi người
là năm 1992 tôi được Đảng chọn vào
Bộ Chính Trị là v́ tôi có công trong vụ dẹp tan
cuộc biểu t́nh ở Thiên An Môn. Quí vị nên nhớ tôi
là người thứ 15 trong Bộ Chính Trị và tôi
phải được mọi người kính nể.
Nhưng chỉ hai tuần sau đó là Trần Hy
Đồng bị buộc phải đệ đơn xin
từ chức và chính Vĩ Kiên Tính là người thay thế
y trong chức vụ Thị Trưởng thủ đô
Bắc Kinh.
Qua tháng 9,1995,Trần Hy
Đồng bị đuổi ra khỏi Bộ Chính Trị
v́ y đă toa rập với Vương Bảo Sâm -
trước khi tên này tự tử - lập một quỹ
đen lên đến 1500 triệu Mỹ kim. Một vụ
tham nhũng thứ hai tại thủ đô Bắc Kinh
cũng đă gây xôn xao rất lớn trong dư luận
quần chúng tại nơi đây là ủy ban điều
tra tham nhũng đă phát hiện ra ba nhân viên của Ngân Hàng
Trung Quốc đă chuyển ngân ra ngoại quốc 75
triệu Mỹ Kim vào chương mục riêng của
họ, trong khi đó tiền lương hằng năm
của họ tại ngân hàng này chỉ vào khoảng 300
Mỹ Kim mà thôi. Đối với Đặng Tiểu B́nh
mọi quyết định đều tốt nếu
quyết định đó giúp cho Trung Quốc thoát ra
khỏi cảnh nghèo đói và lạc hậu hiện nay.Ông
ta đă từng nói làm giàu là vinh quang, cứ có một
số người làm giàu đi đă rồi tự nhiên có
người khác noi theo. Và chính các người con của ông
ta là những người đi tiên phong trong việc làm giàu
này; theo sau họ là con ông cháu cha của những gia đ́nh
tai to mặt lớn của Đảng Cộng Sản Trung
Hoa. Ông Đặng Tiểu B́nh có hai trai và ba gái,
thường theo sát phụ thân họ trong những ngày
bị bố ráp và bị hành hạ ê chề nhất trong
cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Đặng Bất Phương,
người con trai đầu của ông Đặng
Tiểu B́nh nay phải đi xe lăn v́ bị tê liệt
lúc y bị vệ binh Đỏ ném xuống lầu,
(lầu 4 ) qua ngă cửa sổ. Lúc ông ta trở lại
nắm chính quyền thay cho Mao Trạch Đông th́ ông ta làm
hai chuyện cùng song song một lúc: đưa nền kinh
tế ngất ngư của xă hội chủ nghĩa qua
nền kinh tế thị trường của khối
tư bản, đồng thời trải thảm
đỏ cho con cái của ông lợi dụng vị thế
chính trị và quyền uy của ông để chóng trở
thành triệu phú (mỹ kim) đó là một lối nói khiêm
nhường, chứ thực ra là tỷ phú mỹ kim
mới là đúng chữ. Buồn cười nhất là
Đặng Lâm, cô con gái đầu của ông ta tuyên bố
với báo chí rằng cô ta có khiếu về hội họa,
thế là một số tỷ phú Hong Kong đua nhau
đặt mua tranh của cô ta, tuy tranh chưa có nhưng
vẫn cứ trả tiền trước cũng không
hề chi. Đặng Nam, cô gái thứ nh́, mặc dầu
chức vụ trong hội đồng nội các chỉ là
thứ trưởng trong ủy Hội Quốc Gia về
Khoa Học và Kỹ Thuật, thế nhưng cũng
được viên Tổng Giám Đốc đại Công Ty
Samsung của Đại Hàn xin được yết
kiến để nhờ "nói hộ cho một
tiếng" trong việc vận động mở một
công ty hàng không dân sự Trung - Hàn. Cuối cùng là cô con gái út
Đặng Dung cũng vỗ ngực cho thiên hạ
biết rằng ḿnh thích viết sách, thế là ông tỷ phú
về ngành truyền thông truyền h́nh của Hoa Kỳ là
Rupert Murdoch đặt cọc ngay một triệu mỹ kim
để nhờ cô ta viết hộ quyển sách về
cuộc đời của thân sinh cô ta, một người
mà suốt cuộc đời đă từng hy sinh tánh
mạng của chính ḿnh để phát huy chủ nghĩa
"Vô Sản", nhưng v́ hoàn cảnh, ông phải hy sinh
cho đất nước (giống như chú Tám Thiệu
bên Việt Nam); nên ông đành tự bắt buộc ḿnh.....
phải trở thành tỷ phú mỹ kim ( !!! ) như tất
cả các con của ông ta !!! Cũng nên ghi nhận là tỷ
phú Robert Murdoch làm chủ hệ thống truyền h́nh Star-TV
được một vệ tinh Trung Cộng truyền h́nh
đi khắp Viễn Đông, cho nên y cần điếu
đóm với con gái của Đặng Tiểu B́nh
để c̣n "làm ăn" sau này ở Trung Hoa. C̣n hai người
con trai của Đặng Tiểu B́nh th́ cũng theo chân
phụ thân họ để làm giàu gấp rút hầu
đuổi cho kịp mấy cô con gái nói trên. Trưởng
nam của ông Đặng Tiểu B́nh là Đặng Bất
Phương có thành lập một hội mang tên
"Hội người thương phế Trung Hoa" mà
y là chủ tịch.
Nhưng vào cuối thập
niên 1980 th́ hội này bị tố gian lận thuế má và
biển thủ quỹ dành cho người tàn phế
khiến cho giới trẻ bất măn, đưa đến
vụ xuống đường ở Thiên An Môn vào năm
1989, để rồi từ đó Đặng Bất
Phương không c̣n dám xuất hiện công khai trong giới
kinh doanh nữa. C̣n cô con gái thứ hai là Đặng Nam,
mặc dầu làm thứ trưởng trong một bộ
của chính phủ Trung Hoa nhưng tên của y thị
vẫn luôn luôn nằm trong danh sách ban chấp hành của
một đại công ty đầu tư có trụ sở
tại Hồng Kông. Chồng của Đặng Nam là Vũ
Kiên Chương là giám đốc của một công ty
quốc doanh về ngành luyện thép lớn nhất nh́
ở Trung Hoa. Chồng của Đặng Dung, cô con gái út
của Đặng Tiểu B́nh là tướng Hạ B́nh làm
giám đốc Cục Vũ Khí của Hồng Quân Trung
Cộng kiêm chủ tịch công ty Polytechnologies, một công
ty xuất cảng vũ khí lớn nhất của Trung Hoa.
Con trai thứ hai của họ Đặng là Đặng
Chi Phương làm chủ một công ty xây cất cao ốc
đặt trụ sở tại Hồng Kông và là chủ
nhân của 6 trung tâm thương mại trên lục
địa Trung Hoa, dọc theo bờ bể Thái B́nh
Dương. Sau cuộc can thiệp của NATO vào Kosovo
ở Nam Tư, Trung Cộng cũng đă bắt mạch
được Hoa Kỳ đến mức nào rồi!
.Trong trường hợp Trung Cộng v́ sự sống c̣n
của chế độ mà quyết thực hiện cho
kỳ được việc sáp nhập 21 triệu dân
Đài Loan vào lục địa Trung Hoa, th́ liệu Hoa
Kỳ có can thiệp vào cuộc chiến chống xâm
lăng của Đài Loan hay không? Nếu không th́ hậu
quả ǵ sẽ xảy ra cho Hoa Kỳ? Liệu Hoa Kỳ có
dám đóng vai tṛ trung lập khi Trung Cộng xâm lăng
Đài Loan hay không?. Tất cả các nước trong vùng
Đông Á Châu như Nhật Bản, Phi Luật Tân, Thái Lan,
Mă Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương và Úc Châu sẽ nhận
thấy kết bạn với Hoa Kỳ là một nguy cơ
đối với họ hơn là một bảo
đảm để chống lại xâm lăng đến
từ phiá Trung Cộng; để rồi từ đó
mọi quyền lợi về kinh tế mà trước kia
họ dành cho Hoa Kỳ th́ nay họ sẽ cúi đầu
dâng hiến cho Trung Cộng bằng hai tay. Sau đó, sẽ
không một nước nào trong vùng Đông á dám cho tàu
chiến của Hoa Kỳ ghé vào hải cảng của
họ để sửa chữa, hoặc để tham quan
v́ họ sợ Trung Cộng trả đũa. Một khi
niềm tin ở ông cảnh sát trưởng quốc tế
đă mất th́ c̣n lâu lắm họa chăng mới văn
hồi lại được niềm tin này.
10.Lịch Sử Lại Tái Diễn
Đọc truyện "Tam Quốc" chắc
không thể nào quên được vụ Khổng Minh dụ
địch cha con Tư Mă Ư vào trong Hồ Lô Cốc, đoạn
phóng hỏa đốt cháy cha con ông này khi đă vào sâu trong
hang. Nhưng may thay khi ấy trời giáng xuống một
trận mưa rào rất lớn như thác đổ, làm
cho lửa tắt ngóm. Giờ đây lời giải thích của
một chiến lược gia Hồng Quân Trung Cộng tin
rằng bộ trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Donald
Rumsfeld không có ư định đồn trú quân lâu tại các
nước trong vùng Trung Á, và biết đâu sự có mặt
của quân đội Hoa Kỳ tại nơi đây lại
là một sự bảo đảm về an ninh cho Trung Quốc
cũng nên, th́ lời biện hộ nầy giống như
lời của ông Tư Mă Ư - nếu có - nói tốt cho ông Khổng
Minh sau khi thoát khỏi Hồ Lô Cốc, là ông Khổng Minh ngại
Tư Mă Ư đi vào sâu trong hang Hồ Lô sẽ bị nhiễm
lạnh nên cho nổi lửa để sưởi ấm
ông nầy, và khi lửa cháy to quá th́ ông Khổng Minh có tài hô
phong hoán vũ nên đă làm cho mưa đổ xuống
để làm cho khô giáp trụ của cha con Tư Mă Ư là vậy
đó, chứ thực ra Khổng Minh không bao giờ có ác ư
muốn giết chết Tư Mă Ư như người ta
tưởng! Đó là luận điệu khi thương
th́ trái ấu cũng tṛn, nhưng khi ghét th́ bồ ḥn
cũng méo. Thời đó Tư Mă Ư thương mến Khổng
Minh, hay Khổng Minh thương mến Chu Du khi Chu Du chết
th́ chả khác nào bây giờ Giang Trạch Dân "ái mộ"
tổng thống Bush vậy. Sự xoay chiều trong
đường lối chính sách ngoại giao của Trung Cộng
bắt đầu ló dạng vài tháng sau khi ông George W. Bush
được bầu vào ṭa Bạch Ốc, và Trung Cộng
ngày càng gặp rất nhiều khó khăn nội bộ về
chính trị và kinh tế cần phải đương
đầu. Khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng 9 buộc
tổng thống Bush phải điều động quân
đội Đồng Minh qua A Phú Hăn trừng phạt bọn
Hồi giáo khủng bố Taliban, người ta mới thấy
được một cách rơ rệt đường lối
chiến lược chỉ đạo của Hoa Kỳ, có
thể tóm tắt lại thành 3 trụ chiến lược
chủ trương dùng quân đội để phục vụ
tối đa quyền lợi của đất nước
kể cả việc hợp tác hành động chung với
các nước đồng minh; tận dụng khả
năng điều động lực lượng quân sự
đến bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và bất
cứ trong trường hợp nào; và cuối cùng là trông cậy
vào khoa học, vào kỹ thuật và vào các nguồn lợi
kinh tế để bảo đảm vị trí lănh đạo
thường trực của quân đội Hoa Kỳ. Chủ
thuyết quân sự Hoa Kỳ lúc nào cũng được
bố trí để việc xử dụng quân đội ở
quốc ngoại luôn luôn nhắm mục tiêu phục vụ
quyền lợi về an ninh căn bản của đất
nước.
Như
chúng ta thấy sau khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng
9, việc đề binh sang chinh phạt bọn khủng bố
Hồi giáo khát máu dân lành rơ ràng đă đáp ứng một mục
tiêu chiến lược cao cả là bảo vệ nền
dân chủ trong nước, tận diệt bọn độc
tài sắt máu và ǵn giữ ḥa b́nh cho nhân loại. Ngay trong những
ngày đi vận động tranh cử tổng thống -
từ năm 1999 - ông Bush cũng đă khẳng định
rằng "mặc dầu Hoa Kỳ phải có mặt trên
khắp thế giới, nhưng không phải v́ chủ
trương như vậy mà bắt buộc quân đội
của chúng ta phải đáp ứng tất cả mọi
trường hợp khó khăn xảy ra trong việc đối
ngoại, và chúng ta chỉ có thể dùng quân đội để
phục vụ những quyền lợi thường trực
của quốc gia mà thôi". Chẳng hạn như bảo
đảm việc lưu thông dầu hỏa ở Trung
Đông, ǵn giữ nền an ninh của 2 nước Do Thái
và Đài Loan, ngăn chận làn sóng ma túy phát xuất từ
Nam Mỹ v...v... Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt
th́ Hoa Kỳ bắt buộc phải đặt lại vấn
đề nhu cầu chiến lược quân sự của
họ trên khắp hoàn cầu, nhất là từ nay cần
phải chú trọng nhiều về những cuộc đụng
độ tuy ngắn nhưng có thể khốc liệt
hơn tại nhiều nơi trên quả địa cầu.
Đồng thời trong lúc đó con số các quốc gia chịu
chấp nhận cho họ đóng quân và tồn trữ
vũ khí cũng sẽ ít lại, nên các nhà quân sự Hoa Kỳ
đă thay đổi nhiều về chiều hướng
suy tư trong lănh vực quân sự bằng cách phát triển
các phương tiện can thiệp và chuyển vận nhanh
quân nhu và quân cụ ngay từ các căn cứ đồn
trú trên nội địa Hoa Kỳ.
Trong
cuộc chiến tranh ở Kosovo thuộc vùng Ba Nhĩ Cán
(Balkans), Hoa Kỳ đă gặp rất nhiều khó khăn
trong việc vận chuyển các loại vũ khí nặng
như chiến xa và trọng pháo, nên v́ vậy mà sau cuộc
chiến Kosovo, Hoa Kỳ đă bắt đầu chuyển
hướng mạnh trong lănh vực vận chuyển quân cụ
sao cho hữu hiệu đến ngay chiến trường.
V́ vậy tổng thống Bush đă dành ưu tiên cho những
lực lượng quân sự nhẹ, dễ lưu động,
nhưng được trang bị bằng loại đạn
dược có sức công phá rất mạnh và được
hướng dẫn bằng điện tử (Precision Guided Munitions, PGM). Về hải quân,
Ngũ Giác Đài không c̣n thiết tha lắm đối với
những loại tàu lớn như hàng không mẫu hạm mà
dành ưu tiên cho những loại tàu nhỏ chở vũ
khí và đạn dược, thấp lè tè trên mặt nước,
rất khó phát hiện từ
xa và có trang bị đủ loại hỏa tiễn
được điều khiển tự động. Về
Không Quân th́ ưu tiên dành cho việc sản xuất phóng pháo
cơ không người lái và kiện toàn các phi cơ tiếp
tế nhiên liệu cho phi cơ bạn ngay trên trời.
Trong
một buổi nói chuyện ngày 13 tháng 2, 2001, tổng thống
Bush đă khẳng định mục tiêu của ông trong những
ngày sắp tới là biến Bộ Binh thành một lực
lượng "khinh binh" rất nguy hiểm đối
với kẻ địch, hữu hiệu hóa khả
năng oanh tạc chính xác tối đa của Không Quân trên
khắp hoàn cầu và cung cấp cho Hải Quân những
phương tiện thích ứng để có thể yểm
trợ tối đa và hữu hiệu các cuộc hành quân
trên bộ. Khi Nam Việt Nam mất nước, đồng
bào ta chạy sang tỵ nạn tại Houston khá nhiều,
trong đó có một tên từng điếu đóm, thân cận
của "chú Tám" nay đă ra người thiên cổ.
Khi Phó tổng thống Herbert Bush ra tranh cử tổng thống
lần đầu năm 1988, t́nh
cờ bà Bush có vào mua mấy chai rượu tại tiệm rượu của tên nầy.
Tên lưu manh nầy chộp ngay lấy cơ hội bằng
vàng để được làm quen với bà Herbert Bush, rồi
hắn mời bà nầy về nhà hắn, mở tiệc
khoản đăi khách khứa, vận động tuyển cử
cho ông Bush (cha), v́ hắn khoe với bà nầy hắn có rất
nhiều đảng viên tại Houston, thôi th́ để cho
ông Bush tha hồ "hốt phiếu của người Việt
tại nơi đây". Trong suốt thời gian ông Bush
(cha) vận động tranh cử tổng thống nhiệm
kỳ đầu, tên "đón gió thời cơ" nầy
không ngớt đi rêu rao trong giới đồng bào Việt
Nam hải ngoại rằng chuyến này - nếu ông Bush
(cha) đắc cử, th́ ít nhất hắn cũng kiếm
được một ghế nếu không phải Bộ
trưởng th́ cũng là Thứ trưởng. Trong khi kiểm
phiếu, đảng Cộng Ḥa mới phát giác - qua máy
điện toán - là trong toàn tiểu bang Texas, chỉ có vơn vẹn
129 người Việt đi bỏ phiếu cho ông Bush
(cha). Thế là từ đó đảng
Cộng Ḥa rạch hắn, bộ trưởng, thứ
trưởng không có đă đành, đến một cái
"giốp" xin làm vệ sinh hắn cũng không dính. Thế
rồi "phước bất trùng lai, họa vô
đơn chí", con trai của hắn vốn có chân trong một
băng đảng "x́ ke ma túy" xách súng đi ăn
cướp, bị cảnh sát phát giác bắt trọn ổ,
đem về bỏ tù. Câu chuyện của tên lưu manh
đến đây chấm dứt, nhưng chuyện về
gia đ́nh của ông Bush th́ chỉ mới bắt đầu
thôi. Một điểm son dành cho tổng thống W. Bush là
chính sách tận diệt bọn khủng bố Osama Bin Laden
của ông - ngay từ lúc ban đầu - đă được
sự ủng hộ của sáu mươi nhà trí thức có
tiếng tăm, phần lớn là giáo sư tại các đại
học danh tiếng của Hoa Kỳ, và họ đă cùng kư
tên vào một bức thư chung, trong đó họ cho rằng:
"Có nhiều lúc chiến tranh được chấp nhận
không phải v́ lư do đạo đức mà c̣n v́ nhu cầu
đạo đức nữa, để đối phó với
những sự thị uy khủng khiếp dựa trên bạo
lực, oán hờn và đó là trường hợp được
nêu trong bức thư nầy".
Trong
số 60 nhà trí thức đó, có thể nêu tên quư ông Francis
Fukuyama, Samuel Huntington, Daniel Patrick Moynihan, David Blakenhorn, Michel
Walzer, Robert Putnam, Michael Novak, Amitai Etzioni. V́ nhắc đến
tên của 60 vị trí thức đă từng kư tên trong một
bức thư chung, ủng hộ hành động của tổng
thống Bush, làm cho chúng tôi sực nhớ đến nhóm trí
thức "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản"
ở miền Nam Việt Nam trong những thập niên 50 và
60. Họ là những sinh viên đỗ tú tài ở Việt
Nam trong khoảng thập niên 1930 - 1940, được học
bổng qua du học tại Pháp quốc và đa số
đă chịu ảnh hưởng khá nặng của khối
sinh viên thiên tả trong đảng cộng sản Pháp.
Đến khi về nước, họ trở thành những
cái loa tuyên truyền cho Việt cộng, để lũng
đoạn hàng ngũ quốc gia ở miền Nam , mặc
dầu đa số - miệng th́ đề cao cộng sản
mà kỳ thật chả hiểu biết ǵ về chủ
trương đường lối của đảng cộng
sản cả. Trong hạng người nầy, tôi có hai
người quen, một người là vợ của một
bác sĩ y khoa, có pḥng mạch tư ở Chợ Lớn, và
người thứ hai là vợ của một tiến
sĩ dược khoa, giáo sư đại học Sài G̣n, có
hiệu thuốc Tây gần chợ Tân Định, Sàig̣n. Có
một hôm, tôi đến chơi nhà ông bác sĩ y khoa trên và
được mời vào pḥng khách gần pḥng mạch của
ông ta. Thoạt mới vào nhà, tôi đâm ra chóa mắt khi nh́n
thấy trên các kệ dọc theo bờ tường
chưng đầy sách để gáy ch́a ra ngoài. Một
điều lạ nữa là ông bác sĩ nầy chỉ mua
toàn loại sách b́a mỏng thôi và toàn sách xuất bản ở
Pháp. Ngày xưa, kỹ nghệ ấn
loát sách ở Pháp c̣n thô sơ, không như ở Hoa Kỳ, v́
chỉ có sách đóng b́a cứng là có cắt xén hẳn hoi,
c̣n sách b́a mỏng th́ họ in trên giấy rộng, xong xếp
và đóng lại mà không cắt xén ǵ ráo, nên khi mua sách th́ tuy
giá tiền rẻ chỉ bằng nửa sách b́a cứng,
nhưng người mua lại phải tốn công ngồi
rọc cả quyển sách rồi mới bắt đầu
đọc được. Tôi bèn ṭ ṃ rút một quyển
sách ra xem, th́ ra quyển sách c̣n mới toanh, chưa
được gia chủ đọc v́ quyển sách chưa
được rọc. Thế rồi tôi lại lấy một
quyển sách khác và quyển sách nầy cũng chưa
được rọc như quyển trước, và cứ
thế, quyển sách nào tôi rút ra cũng đều không
được rọc như quyển đầu tiên. Th́ ra
ông bác sĩ chủ nhà mua sách để "chưng"
thôi, có thể nói để làm oai với thiên hạ chứ
không phải để đọc như tôi tưởng, và
cũng v́ vậy mà ông ta mua loại sách b́a mỏng để
mua cho được nhiều, càng nhiều càng tốt. Khi
ra về, tôi cứ tưởng chỉ có ông bác sĩ nầy
là một kỳ quan trong vũ trụ, nhưng sau đó tôi
đến nhà ông dược sĩ ở Tân Định th́
té ra suy tư của ông nầy giống đúc như ông bác
sĩ kia, cả hai ông đều mắc chứng bệnh
nhắm mắt "bốc thơm" Việt Cộng v́
đă có một số trí thức "vái" Việt Cộng
rồi mà họ không “lạy” theo th́ lại sợ "nhỡ
tàu"!!
Năm 1996, dân chúng Hoa Kỳ nô nức đi
bầu lại một ông tổng thống "râu xanh"
có thành tích "trốn lính" lên làm tổng tư lệnh
một quân đội được coi như mạnh nhất
hoàn cầu. Trong bầu không khí chính trị "chủ bại"
đó, cũng may là lưỡng viện quốc hội Hoa
Kỳ lại do đảng Cọng Ḥa nắm đa số,
nên cũng vớt vát được phần nào. Và cũng
để cảnh cáo dân chúng Hoa Kỳ phải luôn luôn đề
cao cảnh giác, thượng nghị sĩ Jesse Helms đă
lên tiếng trong bài diễn văn "Entering the Pacific
Century" đọc tại Heritage Foundation, Washington, DC,
trong năm đó rằng "Hiện giờ chúng ta đang
đứng ở giữa, và chúng ta phải giữ măi vị
trí đó." Rồi ông ta tiếp: "Hoa Kỳ phải lănh đạo hoàn cầu bằng
cách nêu cao ngọn đuốc đạo đức, chính trị
và quân sự của luật pháp và sức mạnh, để
làm gương mẫu cho cho tất cả các dân tộc trên
thế giới". Vài năm sau đó, một nhà báo bảo
thủ Charles Krauthammer cũng
đă viết trong bài tham luận "The Second American
Century" trong Time Magazine, 27-12-1999 rằng: "Hoa Kỳ
đối với thế giới như một cường
quốc..... Kể từ khi La Mă tiêu diệt Carthage cho đến
nay, chưa có một cường quốc nào đạt tới
đỉnh cao mà chúng ta đang đứng hiện
nay." Rồi ông ta tiên
đoán rằng "vị trí độc cực nầy sẽ
kéo dài ít nhất là một thế hệ nữa". Một kư giả khác, rất
có tên tuổi, ông Mortimer Zuckerman đă viết trong bài tham luận
"A Second American Century" đăng trong tạp chí
Foreign Affairs, tháng 5-6 1998: "Thế kỷ thứ XVIII chịu
ảnh hưởng của Pháp, thế kỷ thứ XIX của
Anh và thế kỷ thứ XX của Hoa Kỳ. Thế kỷ
tới đây (tức là thế kỷ thứ XXI) sẽ là
thế kỷ của Hoa Kỳ và Việt Nam ( không Cộng Sản)."
Trạng thái phớn phở của phe hữu khuynh Hoa Kỳ
đă được bộc lộ rơ ràng một phần
nào trên báo chí, nhất là sau khi "chiến tranh lạnh"
chấm dứt. Kể từ 1991, Hoa Kỳ đă chiếm
một vị trí hết sức đặc biệt, không tiền
khoáng hậu trong lịch sử cận đại của
thế giới. Trái ngược với đế quốc
Anh khi vào cuối thế kỷ thứ 19 đă phải cạnh
tranh với sự vươn lên trên chính trường Âu
Châu của Đức quốc, Hoa Kỳ rất may mắn
là chả có một đối thủ chiến lược
nào khả dĩ có thể cạnh tranh hữu hiệu
được với họ trên chính trường quốc
tế lúc bấy giờ. Vả lại vào thời buổi
đó, những quốc gia chính ở Âu Châu và Nhật Bản
có thể ganh đua với họ về kinh tế th́ lại
là những đồng minh chiến lược của họ
từ lâu rồi.
Trên lănh vực chính trị, họ thấy
khu vực ảnh hưởng của họ mở rộng
thêm giúp cho họ gia tăng mọi cố gắng vận
động. Trên lănh vực kinh tế, họ đặt ra
những quy luật, những tiêu chuẩn và những kiềm
chế trong hệ thống quốc tế. Giữ cho
được nguyên trạng thuận lợi đó kể
từ 1991, đă trở thành mục tiêu chính trong chính sách
ngoại giao của Hoa Kỳ. Tuy nhiên cách áp dụng chính
sách cũng rất tùy thuộc ở thái độ hợp
tác hay bó buộc của các phe đối thoại. Dưới
chính quyền của cựu tổng thống Clinton th́ nặng
về lănh vực ngoại giao kinh tế, c̣n với chính quyền
Bush chủ trương độc cực và dựa trên sức
mạnh, nên v́ vậy mà họ đương nhiên mở rộng
phạm vi tầm hoạt động vai tṛ bá chủ hoàn cầu
của Hoa Kỳ ngay trước khi xảy ra vụ khủng
bố 11 tháng 9, 2001. Sau khi thắng cử chật vật bằng
một phiếu đa số cử tri đoàn, tổng thống
W. Bush cùng toàn thể nội các - ngay trong những tháng đầu
sau khi nhậm chức - đă có thái độ cứng rắn
trong cuộc bang giao song phương với Trung Cộng;
đặt vấn đề duyệt lại thỏa ước
chống hỏa tiễn liên lục địa ABM 1972 qua sự
công bố quyết định việc đơn
phương thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống
hỏa tiễn; công bố ư định quân sự hóa không
gian; bác bỏ Nghị Định Thư Kyoto về môi sinh,
không mấy sốt sắng trong việc hợp tác với Tổ
Chức và Phát Triển Kinh Tế (OCDE), cũng như chống
lại mọi phán quyết của Cơ Quan Giải Quyết
mọi dị biệt xảy ra trong Tổ Chức Thế
Giới về Thương Măi (OMC).
Chính quyền Bush cũng coi thường phán
quyết của ṭa án quốc tế về h́nh sự mà
chính quyền cựu tổng thống Clinton đă từng
đồng ư tham gia. Thế rồi ngày lại ngày, chính quyền
của Tổng thống W. Bush càng để lộ quyết
tâm đề cao hành động đơn phương,
đồng thời khước từ không chấp nhận
mọi hành động của quốc tế nhằm hạn
chế - dù chỉ là tối thiểu - mọi chủ quyền
của Hoa Kỳ, qua các hiệp ước đa
phương dựa trên công pháp quốc tế. Ông phụ tá
của ông Colin Powell, bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ
là ông John Bolton đă từng khẳng định - một dịp
nào đó trong giới ngoại giao - là "công pháp quốc tế
giờ đây không c̣n lư do để tồn tại nữa".
Theo nhận xét của sử gia Ronald Steel, sau 1945, tất cả
các tổng thống Hoa Kỳ từ Harry Truman cho đến
George Herbert Bush (Bush cha), đều là những "tổng
thống của thời chiến". Chỉ có dưới
thời Bill Clinton th́ trung tâm điểm thời bấy giờ
thấy có xê dịch rơ rệt từ bộ máy An Ninh Quốc
Gia ngả về phía bộ Kinh Tế và Cơ quan An Ninh Kinh
Tế về phía ṭa Bạch Ốc. Cũng v́ ông Clinton chủ
trương sự đảo lộn những ưu tiên nêu
trên đây, nên theo ông Steve Clemons, giám đốc của Japan
Policy Research Institute, ông đă đặt lại vấn
đề tồn tại của Ngũ Giác Đài và sự
cấu tạo của nền an ninh quốc gia trong cuộc
chiến tranh lạnh. Cựu tổng thống Clinton lại
c̣n chủ trương nên có một sự giải ngũ rộng
lớn trong ngành quân lực Hoa Kỳ. V́ sự chủ
trương nầy mà ông Clinton đă gặp sự chống
đối dữ dội của các tướng lănh trong
quân đội và của các tổ hợp sản xuất
vũ khí, nhất là họ kỵ nhất về vụ ông
ta trốn đi lính trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Và cuối cùng ông ta đành phải nhượng bộ. Ngân
sách quốc pḥng năm 1994 là
280 tỷ mỹ kim được giữ y nguyên và tăng
thêm 112 tỷ mỹ kim vào năm 1998 dưới áp lực của
lưỡng viện quốc hội có đa số Cộng
Ḥa. Thế rồi từ nhượng bộ nầy đến
nhượng bộ khác, ông Clinton đă lần lượt trao cho Ngũ Giác Đài tất cả
những ǵ họ muốn. Nhưng trước khi
"đầu hàng" ông ta đă có những hành động
để lộ một cách trắng trợn khuynh hướng
thiên tả cũng như đầu hàng bọn khủng bố
khi chúng cho nổ bom làm sụp đổ nơi đóng quân
của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại thủ
đô Beirut của Lebanon; hay bắn chết 18 lính Dù Hoa Kỳ
tại thủ đô Mogadishu của Somalia. Sau khi xảy ra
những vụ giết chóc nầy, th́ ông Clinton có ngay những
quyết định tệ hại nhất, là ra lệnh rút
quân khẩn cấp như có ma đuổi. Với tư
cách tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, cựu
tổng thống Clinton đă lấy một quyết định
chưa từng thấy trong lịch sử Hoa Kỳ là từ
chối để cho Cơ Quan T́nh Báo CIA hằng ngày tŕnh
bày cho ông ta hay t́nh h́nh trong cũng như ngoài nước.
Ông ta cũng đồng ư với Sara Lister phụ tá bộ
Quốc Pḥng, ngành Lục quân, liệt binh sĩ Thủy Quân
Lục Chiến vào loại người quá khích.
Cựu TT Clinton khi ông ta đi công du hải
ngoại, luôn luôn ông ta xin lỗi các nhà lănh đạo các
nước ông ta thăm viếng về những hành động
trong quá khứ của các vị tổng thống tiền
nhiệm mà ông ta đều liệt vào hàng ngũ cực hữu.
Nhưng với tổng thống George W. Bush th́ lại khác hẳn,
khi ông vạch cho ta thấy trong bản tŕnh bày trước
lưỡng viện Quốc Hội vào đầu năm
2002 và ông đă phác họa một thế giới mà mọi
người đều cùng nhau góp phần xây dựng một
xă hội trong đó mọi tầng lớp đều
được tự do và tận hưởng sự thịnh
vượng. Điều làm cho thế giới ngạc nhiên
nhất khi tổng thống Bush nêu đích danh trong bài diễn
văn đọc trước lưỡng viện Quốc
Hội vào trung tuần tháng giêng, 2002, ba nước Iran, Iraq
và Bắc Hàn là ba nước "khủng bố", th́ bỗng
nhiên có một sự thay đổi hết sức đột
ngột trong thái độ của hai đại cường
Nga và Trung Cộng. Đối với Nga, lời tuyên bố
của ngoại trưởng Sergei Ivanov - viên tướng mật
vụ KGB bài Mỹ nhất nước Nga mỗi khi y có
cơ hội để nói lên nỗi căm phẩn của
ḿnh - không làm cho ta ngạc nhiên cho lắm v́ ba quốc gia
"khủng bố nêu trên đều là "bồ ruột"
của Nga được nước nầy nuôi dưỡng
từ khi c̣n mồ ma Liên Bang Xô Viết. Chỉ có việc
Trung Cộng xoay chiều 180 độ trong đường
lối ngoại giao đối với Hoa Kỳ mới là một
hiện tượng "động trời" đáng
ghi trong lịch sử cận đại của nhân loại
trong đầu thiên niên kỷ thứ hai nầy. Câu chuyện
xảy ra coi như "không tưởng" nhưng mà lại
có thật.
Hai ngày sau khi tổng thống Bush khẳng
định ba nước Iran, Iraq và Bắc Hàn là một mối
nguy cho nhân loại, th́ tại Bắc Kinh, thủ đô Trung
Quốc, một học giả có tiếng tăm - nhưng
được nhà nước dấu nhẹm
danh tánh - đă lên tiếng trong một cuộc hội
thảo hạn chế với một số công chức cao
cấp trong chính quyền Trung Cộng, rằng kể từ
nay và rất có thể măi măi về sau nầy- Hoa Kỳ - sẽ
không c̣n là kẻ thù của Trung Quốc nữa. Theo vị học
giả đó, lư do chính phát sinh từ cuộc khủng bố
11 tháng 9, 2001 xảy ra tại New York và tại Ngũ Giác
Đài. Cũng xin nhấn mạnh với quư bạn đọc
là tại những nước " sặc mùi cộng sản
" như ở Trung Cộng, Việt Nam hay Bắc Hàn bất
cứ người thường dân nào bị thấy cầm
trong tay một quyển "thánh kinh Thiên Chúa Giáo" c̣n bị
bắt và bị bỏ tù ngay, thế mà vị học giả
có tên tuổi nầy lại dám đứng lên công khai tuyên bố
"xanh rờn" về Hoa Kỳ như vậy th́ nếu
ông ta không phải là bố của Giang Trạch Dân th́
cũng đă được Đảng ra lệnh bảo
ông ta phải nói như vậy thay cho y. Theo vị học giả
- được đảng Cộng Sản Trung Quốc giả
vờ bày tṛ dấu tên để tăng thêm tầm quan trọng
của vấn đề,
đưa ra - sau vụ khủng bố 11 tháng 9, Trung
Quốc phải chọn lựa hoặc Hoa Kỳ, hoặc
Osama Bin Laden. Rồi ông ta nói tiếp là trong khi một số
trí thức và nhân viên chính quyền có phản ứng hồ
hỡi khi nghe tin về vụ khủng bố nầy th́ tổng
thống Giang Trạch Dân và các nhân viên cao cấp trong chính
quyền Trung Quốc đă nhận thức được
rằng v́ quyền lợi, Trung Cộng bắt buộc phải
ngả về phía Hoa Kỳ. Đoạn ông ta tiếp:
"Chúng ta chọn Hoa Kỳ và Hoa Kỳ rồi đây
cũng sẽ bị bắt buộc gác bỏ mọi lo âu của
họ về "mối nguy cơ Trung Quốc" trong
tương lai, hay ít nhất là trong giai đoạn nầy
để đặt chú tâm vào kẻ thù ở A Phú Hăn".
Ngày 1 tháng 7, 2001 trong bài diễn văn của Tổng Bí
Thư đảng Cộng Sản Trung Cộng để kỷ
niệm 80 năm thành lập đảng, Giang Trạch Dân -
lần đầu tiên trong lịch sử cận đại
Trung Hoa - đă không đả động ǵ đến việc
chống lại họa "bá quyền", tuy không nói rơ bá
quyền
nào, nhưng từ trước tới nay mọi người
trong đảng cộng sản Trung Hoa đều biết
danh từ đó ám chỉ Hoa Kỳ. Để thay vào chỗ
trống đó, Giang Trạch Dân đă nhấn mạnh
"chúng ta cần phải làm việc tích cực hơn nữa
cho Ḥa B́nh và Phát Triển", câu nầy tuy không được
công khai giải thích và khai triển thêm nữa, nhưng mọi
đảng viên đều ngầm hiểu rằng đồng
chí Tổng Bí Thư Đảng muốn đề cập
đến vấn đề cấp thiết là v́ sự sống
c̣n, Đảng cần phải đạt cho kỳ
được sự hợp tác với Hoa Kỳ. Về đối nội, họ Giang
nhấn mạnh chủ trương của ông ta là
đưa những người giàu có vào trong Đảng,
c̣n về đối ngoại th́ phải t́m cho được
những quốc gia tư bản để kết bạn.
Từ nay trở đi sẽ không c̣n việc đề cao
đấu tranh giai cấp nữa, đồng
thời vấn đề liên kết với các nước
trong Thế Giới Thứ Ba cũng cho đi vào quên lăng
luôn.
Không phải quan điểm
mới nầy được sự chấp nhận của
toàn thể đại diện đảng viên trong Đảng
v́ phe bảo thủ vẫn cho rằng sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ tại
các quốc gia trong vùng Trung Á ở sát ngay biên giới phía Tây
của Trung Cộng vẫn luôn luôn là một mối đe dọa
nặng nề đối với họ. Đồng thời
việc quốc hội Nhật Bản vừa chuẩn
y một đạo luật chấp nhận cho chính quyền
được phép gởi một khu trục hạm qua Ấn
Độ Dương để tham gia cuộc chiến
tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ lănh đạo là một
bằng chứng cho thấy Nhật Bản đang có manh
nha muốn vơ trang lại quân đội của Thiên Hoàng.
Trong khi đó th́ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục bán vũ
khí tối tân trong đó có một số tiềm thủy
đỉnh cho Đài Loan. Phe bảo thủ lại c̣n hiềm
tị rằng Hoa Kỳ đă có nhiều hành động chứng
tỏ họ ưu đăi Nga hơn Trung
Cộng. Học giả Ye Zicheng, một giáo sư rất có
uy tín của Đại Học Bắc Kinh hiện nay, đă từng viết
rằng tốt hơn hết, Trung Cộng nên từ bỏ
đường lối ngoại giao đă tốn công theo
dơi gần một trăm năm nay, một đường
lối ngoại giao khiêm nhượng, nhún nhường,
nhưng thời hồ lại có những bộc phát quá mức
do những xúc phạm gây ra, thay v́ biết tự kiểm
soát ḿnh trước dư luận thế giới và hành xử
như bất cứ một cường quốc nào thường
làm. Học giả Ye thẳng thừng chỉ trích
đường lối ngoại giao của Trung Cộng
đi sát cánh với các nước trong Thế Giới Thứ
Ba, trong khi đó lại lơ là với các nước Tây
Phương mà hiện nay chúng ta đang cần để
hiện đại hóa đất nước chúng ta. Ông ta
cũng thẳng thừng chỉ trích đường lối
ngoại giao của Trung Cộng luôn luôn coi Hoa Kỳ là một
bá quyền nuôi mộng làm chủ hoàn cầu đồng thời
ve văn Nga trong mục tiêu lôi kéo họ vào phe với ḿnh để
làm áp lực với Hoa Kỳ. Ông Ye cũng chỉ trích luôn
phản ứng tệ hại của chính quyền đối
với Hoa Kỳ sau cuộc ném bom vào ṭa đại sứ
Trung Quốc ở thủ đô Belgrade, Nam Tư vào năm
1999. Ông ta nói: "Chúng ta cần phải luôn luôn đứng
trên phương diện của một đại cường
biết tự kiềm chế những mối xúc động
vụn vặt khi chúng ta giao thiệp với Hoa Kỳ trong
viễn ảnh t́m kiếm một lối thoát cho chúng ta
để hiện đại hóa đất nước, ổn
định nền an ninh nội bộ và thực hiện kế
hoạch thống nhất của chúng ta trong tương
lai".
Và cuối cùng, ông Ye khuyến cáo các nhà lănh
đạo Trung Hoa nên noi gương các nước Tây Âu và
tuyệt đối tránh đi vào vết xe cũ của
Liên Bang Xô Viết ngày xưa là đi xâm lăng các quốc
gia chunhg quanh. Ngày 24 tháng giêng, 2002 Phó Thủ Tướng
Trung Cộng kiêm ngoại trưởng Qian Qichen đă làm ngạc
nhiên giới ngoại giao quốc tế khi ông ta đưa
ra một lời tuyên bố rất ḥa hoăn đối với
chính quyền Đài Loan, hiện nay đang chủ
trương một đường lối ngoại giao
độc lập không dính dáng ǵ đến chính quyền Bắc
Kinh, chứ không có dùng luận điệu đe dọa dùng
vơ lực đối với Đài Loan như từ trước
đến nay ông ta thường dùng. Và cũng trong ngày nầy,
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă thông báo cho chính quyền
Trung Cộng hay là họ đă có quyết định cấm
không cho buôn bán trong 2 năm với Hoa Kỳ, hai công ty của
Trung Cộng là Liyang Chemical Equipment Co. và China Machinery and
Electric Equipment Import and Export Company và một thương gia
tên Q.C. Chen đă vi phạm luật cấm xuất cảng
sang Iran những vật liệu nằm trong danh sách bị cấm
của chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến việc sản
xuất vơ khí tiêu diệt hàng loạt. Đến 24 tháng 2,
2002 th́ tổng thống W. Bush sẽ viếng thăm Trung Cộng
và sau đó th́ Giang Trạch Dân sẽ đáp lời mời
của TT Bush qua thăm trại hè của ông nầy tại
Crawford, trong tiểu bang Texas. Tuy Trung Cộng có tỏ thiện
chí như vậy, nhưng con đường ngoại giao
giữa hai nước c̣n lắm chông gai, nhiều thử
thách tích lủy gần cả một thế kỷ nay, dễ
ǵ có thể giải quyết trong một sớm một chiều.
Nào vấn đề tự trị - chỉ tự trị
thôi của Tây Tạng và Tân Cương Trung Cộng cũng
đủ điên đầu rồi; đó là chưa đề
cập đến vấn đề tự do tín ngưỡng,
hành đạo của Pháp Luân Công, của Thiên Chúa Giáo, của
Tin Lành; vấn đề đ̣i Dân Chủ hóa của phần
lớn nhân dân Trung Quốc v..v..
Sở dĩ
Giang Trạch Dân cho các "học giả" tung ra những
ư kiến chỉ làm lợi cho Trung Cộng và cũng để
thăm do phản ứng của Hoa Kỳ trước khi
ông ta gặp ông Bush tại Bắc Kinh, nhưng ông Bush đă
làm ngơ, không hề hé môi. Và cuộc gặp gỡ sau
đó chả đem lại kết quả ǵ cụ thể
cả.
11. Chính Quyền George W Bush"Tiền Hung Hậu Kiết "
Năm cuối
nhiệm kỳ của cựu tổng thống Clinton,
đă có lần thấy trên báo chí Hoa Kỳ đăng h́nh của
quư ông Putin, tổng thống Nga, Giang Trạch Dân, Tổng Thống
Trung Cộng đứng chụp chung với 4 ông tổng thống
của các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan
sau khi cùng nhau đồng kư kết vào một hiệp ước
tương trợ lẫn nhau Shanghai Cooperative Organization. Bức
h́nh chụp 6 ông tổng thống - miệng cười toe
toét, với 6 bàn tay nắm chặt lấy nhau. Kẻ hèn nầy nh́n thấy bức
h́nh nầy mới chợt nghĩ thầm trong bụng rằng
dù nắm tay cho chặt, nhưng trong ḷng bàn tay đều
trống rỗng cả, không có lấy một tờ mỹ
kim xanh cầm cho vui th́ cũng chả đi đến
đâu. Quả thật đúng như vậy. Sau khi tổng
thống W. Bush điều động quân lính qua hỏi tội
bọn Hồi giáo khủng bố Taliban ở A Phú Hăn và phái
ông bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld bay qua từng
tiểu quốc một trong vùng Trung Á để
thương lượng việc kư kết những hiệp
ước tương trợ lẫn nhau kèm theo những thỏa
ước viện trợ kinh tế dồi dào lên đến
hằng trăm triệu mỹ kim, nên tiểu quốc nào
cũng hân hoan nhận lời cả. Thế là h́nh 6 vị
tổng thống đề cập
trên đây chụp tại thủ đô Kazahkstan được
phóng đại và treo trên tường dinh tổng thống
nước nầy, tự nhiên bỗng thấy đôi mắt
của hai vị tổng thống Putin Nga và Giang Trạch
Dân Trung Quốc ứa nước mắt, làm các nhà báo ngoại
quốc che miệng cười, bảo thầm với nhau
quả đúng là "Mỹ kim đi trước, hiệp
ước bỏ rơi sau !! Theo những đảng viên bảo
thủ, cuộc chiến ở A Phú Hăn chỉ là một cớ
của Hoa Kỳ để thực hiện cuộc bao vây
chiến lược Trung Quốc, đó là lời giải
thích của phân tích gia chiến lược Chu Shulong thuộc viện đại học
Thanh Hoa, Bắc Kinh. Nhưng sau đó mọi người
đều ngạc nhiên khi thấy đồng chí Tổng
Bí Thư Giang Trạch Dân vội vă lên tiếng ủng hộ
việc tổng thống W. Bush thành lập Măt Trận
Quốc Tế Chống Khủng Bố; một việc làm
mà từ trước tới nay Trung Quốc chưa bao giờ
đứng ra tán thành hành động quân sự của Hoa Kỳ
chống lại một nước trong Thế Giới thứ
Ba.
Thế rồi họ đặt vấn
đề chống như vậy có được lợi
ích
ǵ không ? V́ dành ưu tiên cho những quyền lợi quốc
gia mà chính quyền W. Bush đă đặt lại vấn
đề tham gia của quân đội Hoa Kỳ vào những
cuộc hành quân quốc tế nhằm bảo vệ ḥa b́nh
mà ông cho là thứ yếu; v́ làm như vậy sẽ ảnh
hưởng trầm trọng đến tinh thần của
binh sĩ. Thành thực mà nói, ảnh hưởng vào tinh thần
binh sĩ th́ ít, nhưng v́ chả có lợi ǵ cho lắm
trong lănh vực phạm vi quyền lợi thường trực
của quốc gia th́ nhiều, và đó mới là nỗi lo
âu của tổng thống Bush. Chính Phó tổng thống Dick
Cheney - trong khi đi vận động tranh cử vào tháng 8
năm 2000 - cũng đă nhấn mạnh rằng "vấn
đề là cần phải biết xác định những quyền lợi
chiến lược của chúng ta để xứng
đáng với sự động viên những tài nguyên và nhất
là những sự hy sinh về tánh mạng của binh sĩ
". Để rồi hiển nhiên từ đó những
cuộc hành quân bảo vệ ḥa b́nh dưới thời cựu
tổng thống Clinton không hề được bao gồm
trong định nghĩa kể trên. Và cũng v́ vậy mà rồi
đây rất có thể Hoa Kỳ sẽ xét lại vấn
đề tham gia đồn quân quốc tế tại
Bosnia, trong vùng Nam Tư. Một cái nh́n tương tợ nhấn
mạnh thêm vị trí của chính quyền Cộng Ḥa liên quan đến vũ khí chống
hỏa tiễn. Tổng thống Bush đă nhiều phen nêu
ư kiến rằng việc lập hàng rào hỏa tiễn chống
hỏa tiễn sẽ không chỉ làm lợi riêng cho Hoa Kỳ
mà thôi, mà c̣n làm lợi cho các nước đồng minh của
Hoa Kỳ nữa, nhất là trong thế kỷ sắp tới
đây. Và cũng v́ vậy mà việc thiết lập hàng
rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn cần
được xúc tiến càng sớm càng tốt. Và theo tổng
thống Bush, đây chỉ là một phản ứng pḥng ngự
của Hoa Kỳ mà thôi đứng trước nguy cơ phản
ứng bất ngờ của ba quốc gia Iraq, Iran và Bắc
Hàn, một khi họ có hỏa tiễn liên lục địa
có đầu đạn nguyên tử nằm trong tầm tay
của họ. Để nhấn mạnh thêm lời tuyên bố
của tổng thống Bush, bộ
trưởng Quốc Pḥng Rumsfeld nói thêm: "Nếu chúng ta
không thiết kế hàng rào hỏa tiễn chống hỏa
tiễn th́ sự nguy hiểm vẫn có thể lớn đối
với chúng ta mặc dầu chúng ta có thay đổi lối
cư xử của chúng ta đối với bất cứ
một quốc gia "khủng bố" nào - đă có sẵn
hỏa tiễn liên lục địa mang đầu đạn
nguyên tử - nêu trên. "Chiến lược của các nhà
quân sự Hoa Kỳ trong thời kỳ "chiến tranh lạnh"
là phải sẵn sàng chuẩn bị đưa quân đội
đến bất cứ nơi nào trên thế giới
nếu cần, nhưng ưu tiên vẫn dành cho Âu Châu, một
chiến trường có thể đ̣i hỏi sự có mặt
của rất nhiều chiến xa và trọng pháo nặng.
Và các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trên lục
địa Âu Châu dư sức đáp ứng sự đ̣i hỏi
của những nhu cầu nầy.
Cách
đây 54 năm một tiểu quốc ra đời dưới
ṿm trời Trung Đông. Từ khi ra đời cho đến
nay, tiểu quốc nầy luôn luôn ở trong t́nh trạng
chiến tranh, nếu không đánh nhau với các nước
liên ranh th́ cũng bắn nhau với bọn khủng bố.
Đồng minh th́ cũng có đấy, nhưng lại ở
quá xa, nên cũng chả giúp được ǵ. Có điều
đặc biệt của tiểu quốc nầy là người
dân của họ hay kín đáo nḥm ngó vào nhà của hàng xóm
để rồi mách lại cho nhà đương cuộc
của nước họ. Trong nước th́ gọi hành
động nầy là "làm t́nh báo", c̣n người
ngoài th́ bảo là gián điệp. Dưới
thời Clinton - từng trốn lính - làm tổng thống,
tiểu quốc nầy thấy rơ vanh vách tất cả các
vụ quân khủng bố cho nổ bom giết hại lính
Thủy Quân Lục Chiến và lính Dù của Hoa Kỳ
được tên "râu xanh" gởi đi làm "lính
cảnh sát quốc tế", nhưng họ không chịu
báo cho Hoa Kỳ hay để đề pḥng. Và cứ mỗi
lần bị đặt bom là "tổng tư lệnh trốn
lính" chỉ có một phản ứng độc nhất
là rút quân "chạy dài" như ở Beirut (Lebanon), hay ở
Mogadishu (Somalia) và làm tṛ cười cho quốc tế. Đó
là chưa kể làm cho binh lính Hoa Kỳ xấu hổ quá chừng.
Thế rồi gần một năm sau khi ông G. W. Bush nhậm
chức tổng thống Hoa Kỳ, tiểu quốc nầy
cũng được mật báo viên cho hay là quân khủng bố
Hồi giáo Bin Laden sắp sửa "thừa thắng xông
lên" và sẽ làm một vố thật "ngoạn mục"
ở vùng New York và Ngũ Giác Đài. Bộ tham mưu tối
cao của họ họp khẩn cấp để bàn xem có
nên tin cho đồng minh Hoa Kỳ hay vụ nầy để
biết mà đề pḥng hay là không nên. Rốt cục phe
"không nên" được đa số v́ họ muốn
cho Hoa Kỳ bị một vố nặng như "Trân
Châu Cảng" năm 1941 th́ khi đó Hoa Kỳ mới có
quyết định dứt khoát diệt trừ bọn Hồi
giáo khủng bố Osama Bin Laden. Nhưng không may cho bọn
khủng bố, khi cơ quan an ninh của Liên Bang điều
tra ra th́ từ tên cầm đầu đến gần hết
bọn tham gia khủng bố trong vụ 11 tháng 9 đều
là công dân của Ả Rập Saudi, một quốc gia Hồi
giáo mà gia đ́nh Bush không mấy có cảm t́nh. Sáng ngày 11
tháng 9, 2001 một ngàn năm trăm ( 1,500 ) kiều dân của
tiểu quốc nầy hiện đang làm việc tại
hai ṭa nhà "chọc trời" WTC ở New York, bỗng
nhiên mỗi người đều nhận được
một cú điện thoại bí mật dặn họ hăy ở
nhà, đừng đến sở làm, chỉ có vắn tắt
vậy thôi. Và không ai bảo ai, 1,500 người kiều dân
của tiểu quốc nầy đều "thủ khẩu
như b́nh", tuyệt nhiên không hé môi răng lạnh cho một
đệ tam nhân nào hay cả. Thế rồi việc ǵ phải
đến đă đến. Chính quyền Hoa Kỳ, ban
đầu căn cứ vào số người làm việc hằng
ngày trong hai ṭa nhà chọc trời nầy là hơn sáu ngàn
người nên đă ra thông cáo cho biết số người
chết có thể lên đến sáu ngàn v́ họ đâu có ngờ
sáng hôm đó có gần 1500 người đột nhiên ở
nhà không tới sở làm. Và sau đó người ta phanh dần
dần nên mới biết số người chết trong
hai ṭa nhà chọc trời nầy chỉ vào khoảng trên
dưới ba ngàn người mà thôi. Nếu vụ khủng
bố nầy xảy ra dưới trào một vị tổng
thống thuộc đảng Dân Chủ th́ phản ứng
đối với bọn khủng bố cũng sẽ giống
như mấy lần trước, có nghĩa sẽ rất
là tiêu cực, để rồi lại đi vào quên lăng, chứ
đâu dám đặt vấn đề áp dụng biện
pháp quân sự đối với quân khủng bố, và chỉ ủy lạo các gia đ́nh nạn
nhân bằng hiện kim là đối với đảng Dân
Chủ cũng đă quá đủ rồi. Câu chuyện
ân oán giang hồ nầy bắt nguồn từ khi cuộc
chiến tranh Vùng Vịnh sắp sửa kết thúc và quân
đội Đồng Minh do Hoa Kỳ điều khiển
sắp sửa kéo vào thủ đô Baghdad để bắt
Saddam Hussein. Nhưng quốc vương Fahd của Ả Rập
Saudi đă áp lực tổng thống Bush (cha) phải
đ́nh chỉ ngay cuộc tiến quân vào thủ đô Iraq,
nếu không ông ta sẽ ra lệnh cấm vận dầu hỏa
ngay tức th́.
Đối
với bên ngoài th́ chính quyền Ả Rập Saudi bảo rằng
đó là lệnh của quốc vương, nhưng sự
thật bên trong là đều do hoàng thân Abdullah, em cùng cha khác
mẹ với quốc vương, và cũng là chỉ huy
trưởng quân đội Ả Rập Saudi giựt dây;
v́ theo ông nầy nếu để cho Saddam Hussein bị quân
đội Đồng Minh bắt sống th́ sẽ làm cho
khối Hồi giáo "mất mặt" với thế
giới. Hơn nữa, hoàng thân Abdullah là người bài Mỹ
nhất trên chính trường Trung Đông. Và hiện nay ông
nầy là vị hoàng thân rồi đây sẽ lên ngôi vua Ả
Rập Saudi nếu vua Fahd qua đời. Để che dấu sự thật
trong cuộc bang giao giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Saudi,
người ta mới t́m ra một một nhân vật mà
người Việt chúng ta thường gọi là
"đem ra mà đánh, khen hay chịu đ̣n", đó là
đại tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ
Colin Powell. Thành thử trong vụ đ́nh chỉ tiến
quân vào thủ đô Baghdad, chính tổng thống Bush (cha) là
người "ăn mắm" mà đại tướng
Colin Powell là kẻ bị bắt buộc làm người
"khát nước" thay. Có lẽ v́ sự trung thành
đó mà khi ông George W. Bush lên làm tổng thống đă phong
cho đại tướng Colin Powell làm Ngoại Trưởng
là để thưởng sự trung thành của ông ta đối
với ḍng họ Bush cũng
nên; chứ một ông đại tướng Tham Mưu
Trưởng Liên Quân mà lại ra lệnh đ́nh chỉ việc
truy kích một đạo quân đang trên đà tan ră và
đang t́m cách chạy chỉ để thoát thân th́ quả thật quá ư vô lư. Từ
bấy đến nay, thấm thoát đă hơn mười
năm trời rồi và Saddam Hussein đă hàn gắn lại
được vết thương do cuộc chiến tranh
Vùng Vịnh gây nên, và đă chế tạo thêm bom hóa học
và vi trùng học, khiến tổng thống W. Bush đă liệt
nước nầy vào trong trục ba quốc gia khủng bố
nguy hiểm nhất hiện nay, chứng tỏ là trong ṭa Bạch
Ốc phe chủ trương trừng phạt cấp thời
Iraq do bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld và thứ
trưởng Wolfowitz cầm đầu coi như đă thuyết
phục được tổng thống W. Bush ngả về
phe chủ chiến đánh Iraq của họ, phe nầy
cũng là phe thân Do Thái. Tổng thống Bush đang âm thầm
vận động với một số quốc gia trong
vùng Trung Đông để kéo các nước nầy cùng
động binh một lượt với Hoa Kỳ, trong buổi
họp đại hội của Liên Hiệp Quốc, Iraq vẫn
tiếp tục từ chối không chấp nhận cho Liên
Hiệp Quốc cử nhân viên vào thanh tra vơ khí trên lănh thổ
của họ. Để chuẩn bị
cho cuộc vận động nầy có kết quả mỹ
măn, chính quyền Hoa Kỳ đă cho Phó Tổng Thống Dick
Cheney cầm đầu một phái đoàn qua thăm 10
nước ở Trung Đông vào tháng 3, 2002 vừa qua để thảo luận vấn
đề lật đổ Saddam Hussein càng sớm càng tốt.
Nhưng tại sao lại không thấy đề cập
đến việc thăm viếng ít nhất là 5
nước có quân đội mạnh nhất Âu Châu, như
Anh quốc, Pháp, Đức, Ư và Tây Ban Nha ? V́ lư do sau đây
:Hiện nay sợi giây liên lạc xuyên đại tây
dương giữa Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đang
lâm vào một cuộc khủng hoảng lưỡng diện
không có lối thoát. Cuộc khủng hoảng thứ nhất
là một cuộc khủng hoảng phương tiện.
Ngày
4 tháng 2 vừa qua, tổng thống W. Bush có tŕnh cho quốc
hội một dự án ngân sách tăng chi phí quốc pḥng
lên 15%, một sự gia tăng lớn nhất chưa từng
thấy trong ṿng 20 năm nay, với 379 tỷ mỹ kim (379
ngàn triệu mỹ kim), và đào sâu thêm về tài chánh
cũng như về kỹ thuật hố cách biệt giữa
đôi bên mà Liên Hiệp Âu Châu không có cách ǵ để làm cạn
bớt chứ đừng nói đến việc san bằng.
Khủng hoảng thứ hai thuộc về nhận thức
và chính trị mà người dân Âu Châu cho rằng Hoa Kỳ
v́ quá say men chiến thắng bọn Hồi giáo khủng bố
Osama Bin Laden ở A Phú Hăn nên đă có thái độ bất cần
được sự chấp nhận của quốc tế
để đưa quân đến vấn tội những
nước nào trực tiếp có hành động tham gia khủng
bố hay chứa chấp bọn khủng bố quốc tế.
Cuộc hội thảo quốc tế về An Ninh tại
Munich vào thượng tuần tháng 2, 2002 vừa qua đă
minh thị một cách rơ rệt sự cách biệt về
chiến lược giữa đôi bên về những biện
pháp cần phải áp dụng để chống lại bọn
khủng bố quốc tế. Dưới
con mắt của Hoa Kỳ, th́ các nước trong Liên Hiệp
Âu Châu chi tiêu quá ít về quốc pḥng để có thể
trở thành một hội viên đáng được tin cậy.
T́nh trạng nầy đă khiến cho Huân tước George
Robertson, tổng thư kư của Minh Ước Bắc
Đại Tây Dương đă phải thốt ra câu:
"Về phương diện quân sự, Âu Châu vẫn c̣n
là một tên lùn tịt, không hơn không kém". Và đó
cũng là ư kiến của ông
Paul Wolfowitz, thứ trưởng Bộ Quốc Pḥng
Hoa Kỳ, khi ông ta tỏ ư lo ngại là t́nh trạng nầy
rồi đây sẽ c̣n kéo dài lâu hơn nữa; v́ theo ông ta
th́ ngân sách trung b́nh về chi tiêu quốc pḥng cho mỗi
đầu người ở tại 5 nước lớn
nhất Âu Châu (Đức, Pháp, Anh, Ư và Tây Ban nha) chỉ có 323 Euro (1 mỹ kim đổi
được 1.11 Euro; Euro là một loại tiền mới
vừa được lưu hành trong năm 2002 tại 15
quốc gia trong Liên Hiệp Âu Châu). Trong khi đó th́ tại
Hoa Kỳ, ngân sách chi tiêu quốc pḥng cho mỗi đầu
người là 1029 Euros. Mặc dầu các chính phủ trong
Liên Hiệp Âu Châu có nhiều cố gắng để
tăng thêm ngân sách quốc pḥng, nhưng họ cũng đành
chịu đầu hàng trước sự chống đối
tăng ngân sách quốc pḥng đối với dân chúng trong
Liên Hiệp Âu Châu.
Trước
t́nh thế đó, ông Tổng Thư Kư của Minh Ước
Bắc Đại Tây Dương - trong một buổi họp
của minh ước tại Munich vừa rồi đă chuyền
quả bóng trở về lại bên sân của Hoa Kỳ.
Theo ông Robertson th́ "Hoa Kỳ phải có những cố gắng
nhiều hơn nữa (.....), như đơn giản hóa
việc tiến hành tân trang ngành pḥng thủ của Âu Châu; bằng
cách làm nhẹ bớt sự hạn chế việc chuyển
nhượng kỹ thuật và hợp tác kỹ nghệ." Nói một cách trắng trợn là
ông ta muốn Hoa Kỳ chấm dứt việc thọc gậy
vào bánh xe khi các nước Âu Châu muốn t́m hiểu sâu xa
hơn nữa về một vài kỹ thuật của Hoa Kỳ
hoặc cố gắng cho ra những dự án có thể cạnh
tranh với ngành sản xuất vũ khí của Hoa Kỳ.
Một dẫn chứng cụ thể là các nước trong
Liên Hiệp Âu Châu đang gặp rất nhiều khó khăn
trong dự án thực hiện việc chế tạo vận
tải cơ chuyên chở khổng lồ Airbus A-400M v́ Hoa Kỳ
đang t́m đủ mọi cách để ngăn cản
không cho thực hiện dự án nầy, viện lư do là
không nên mất thời giờ vô ích để chế tạo
những loại máy bay mà minh ước đă có sẵn rồi.
Thành thật mà nói, lời đề nghị của ông
Robertson rất hết sức "trẻ con" v́ từ
xưa tới nay, chưa có nước nào trên thế giới
đă từng làm một việc "động trời"
như vậy là chuyển nhượng một cách dễ
dàng những bí mật chế tạo vũ khí của nước
họ cho một nước bạn v́ nếu họ làm
như thế th́ - chậm lắm là một ngày sau - tất
cả các nước khác trên thế giới đều biết,
kể cả bọn khủng bố.
Vậy
nếu Hoa Kỳ đặt câu hỏi ngược lại
với huân tước Robertson là các nước trong Liên Hiệp
Âu Châu đă có nước nào san sẻ bí mật chế tạo
vũ khí của họ với
Hoa Kỳ chưa, th́ khi đó câu trả lời sẽ chắc
chắn là chưa. Cuối cùng là 8 nước Liên Hiệp
Âu Châu có chân trong chương tŕnh sản xuất vận tải
cơ quân sự Airbus A 400M
đă đồng thuận hoăn ngày kư kết hợp đồng
chế tạo 196 phi cơ nầy vào ngày 31-3-02, thay v́ 31-1-02
như đă định từ trước. Sở dĩ có
sự trục trặc xảy ra trong giai đoạn cuối
cùng là v́ chính phủ Đức muốn
thay đổi việc đầu tư của họ ra làm
2 đợt: đợt đầu đóng tiền cọc
cho 40 chiếc vào năm 2002. Thiết tưởng cũng
nên trở lại vấn đề ngân sách quốc pḥng của
Hoa Kỳ để t́m hiểu
tại sao có sự "trống đánh xuôi, kèn thổi
ngược trong hàng ngũ các nước đồng minh
trong khối Minh Ước Bắc Đại Tây
Dương. Trong dự án ngân sách năm 2003, được
công bố cho báo chí hay ngày 4 tháng 2, 2002, tổng thống W.
Bush muốn tăng ngân sách quốc pḥng của Hoa Kỳ vốn
đă cao hơn ngân sách của 15 quốc gia có quân đội
mạnh nhất trên quả địa cầu này. Trong dự
án nầy, tổng thống W. Bush đă đề nghị
tăng ngân sách quốc pḥng lên 379 tỷ mỹ kim (379 ngàn
triệu mỹ kim), nghĩa là 48 tỷ mỹ kim cao hơn
ngân sách năm 2002. Và phải trở về năm 1981,
dưới trào tổng thống Ronald Reagan, mới có một
sự gia tăng ngân sách tương đương như
vậy. Ngoài chi phí về quốc pḥng, c̣n phải cộng
thêm tiền chi cho việc bảo
vệ lănh thổ là 38 tỷ mỹ kim; thành thử rốt
cục tổng cộng tất cả mọi chi phí, th́ ngân
sách dự trù lên đến 2,130 tỷ mỹ kim. (2,130 ngàn
triệu đô la). Theo Ngũ Giác Đài, phần tiền chi
thêm dùng trong cuộc chiến tranh chống khủng bố
là 9.4 tỷ mỹ kim (9,400 triệu mỹ kim) cũng
được dùng để bao biện cả những
phương tiện đề pḥng các cuộc mưu hại
mới. Đồng thời chính quyền Bush cũng có dự
trù một ngân khoản 1 tỷ mỹ kim (1,000 triệu
Đô la) để chế tạo những phi cơ tự
động (không người lái), những máy móc dùng trong việc
thám báo, trinh sát, và điều khiển xạ thuật. Một
tỷ mỹ kim (1,000 triệu đô la) được dùng
để tân trang lại 4 chiếc tiềm thủy đỉnh
nguyên tử loại Trident dùng để chở quân lính dùng
vào các công tác đặc biệt. Một tỷ mỹ kim nữa
(1,000 triệu mỹ kim) được dùng vào việc sản
xuất những dụng cụ chính xác được
điều khiển bằng tia laser. Tổng cộng là khoản
20 tỷ mỹ kim (20 ngàn triệu đô la) đă được
châm thêm vào ngân sách quân sự mới, có liên quan đến sự
đe dọa về ngành khủng bố.
Theo dự tính của ông Michael O' Hanlon, một
chuyên gia của Viện Brookings Institutiom. Và cũng theo bộ
trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld th́ số tiền vừa
kể trên đây rất có thể lại c̣n thiếu hụt
nữa, v́ đó là chưa kể cần phải có thêm khoảng
10 tỷ mỹ kim dùng trong việc giám sát các biên giới và
gần 6 tỷ mỹ kim phải chi cho việc chống lại
khủng bố bằng sinh vật học (bioterrorism). Trong
thời kỳ "chiến tranh lạnh" quân đội
các nước Âu Châu chỉ lo về mặt bộ binh, c̣n
không quân, thiết giáp và "dù nguyên tử" th́ đă có
quân đội Hoa Kỳ lo cả rồi, đó là chưa kể
Hoa Kỳ c̣n đóng thêm gần hai trăm ngàn quân ở trên
lănh thổ của Tây Đức nữa, để đề
pḥng chiến thuật "biển người" của
Liên Bang Xô Viết. Nhưng sau khi "chiến tranh lạnh"
chấm dứt, các nước Âu Châu không c̣n chú tâm vào vấn
đề quốc pḥng cho lắm, nhất là không chịu
tiêu pha về việc tân trang vơ khí cho quân đội để
có thể sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đ̣i hỏi
của những tiến bộ vượt bực của
khoa học nhất là về lănh vực điện tử;
cho nên sau cuộc chiến tranh chống Hồi giáo khủng
bố ở A Phú Hăn th́ các nước Âu Châu tự thấy
họ đă bị Hoa Kỳ bỏ quá xa trong lănh vực vơ
khí để có thể có quyền đ̣i Hoa Kỳ phải
hỏi ư kiến của họ trước khi lấy một
quyết định ǵ trên lănh vực quốc tế, hay nói một cách khác một khi
quân lực của ḿnh là "một con số không"
đối với Hoa Kỳ th́ sự cộng tác của họ
chỉ đem lại cho Hoa Kỳ sự vướng chân
vướng cẳng mà thôi, chứ kỳ thật chả có
lợi ích ǵ cả. Cộng Sản Hà Nội nên nhớ câu
này , kéo đừng có nghéo mà ham nhé !.
V́ vậy, phái đoàn Dick Cheney qua Âu Châu có gặp
đại diện các nước như Pháp , Đức, Ư
v..v... để mời họ tham gia vào liên minh chống
Iraq th́ cũng sẽ bị họ bác bỏ ngay, để
tránh khỏi tham gia vào một cuộc chiến mà quân đội
của họ chỉ được trang bị với những
loại vơ khí lạc hậu đă hơn nửa thế kỷ
nay rồi, mà không hề được tân trang lại. Đó là chưa kể cả ba
nước Pháp, Đức và Ư đều đă tận lực
giúp Iraq về chuyên viên nguyên tử cũng như về máy
móc để thiết kế một trung tâm nguyên tử với
một ḷ nguyên tử chế tạo tại Pháp để
biến chế chất Plutonium dùng chế tạo bom nguyên tử,
vào cuối thập niên 1970. Đứng trước nguy
cơ Iraq có thể sản xuất được bom nguyên
tử, Do Thái đă lấy quyết định phải dùng
biện pháp mạnh đối với nước nầy,
và ngày 7 tháng 6, 1981 Do Thái đă cho 3 phi đội F16 bay đến
oanh tạc ḷ nguyên tử Osirak gần thủ đô Baghdad của
Iraq. Kết quả là ḷ nguyên tử đă bị phá hủy
và phi cơ Do Thái trở về căn cứ an toàn. Ngoài việc
chuẩn bị dư luận thế giới cho một cuộc
hành binh hỏi tội Iraq, việc đáng để ư nhất
hiện nay trên chính trường Trung Đông là việc tổng
thống G. W. Bush không mấy sốt sắng trong vấn
đề ủng hộ Yasser Arafat thủ lănh của dân
Palestinians như trước đây nữa. Trong khi tại
Trung Đông, tổng thống Bush đang bận tâm lo giải
quyết những vụ đầu tư và những dự
án của những tài phiệt dầu hỏa quốc tế
gốc Hoa Kỳ, đồng thời giữ sao cho tốt
đẹp sự liên lạc với các quốc gia dầu hỏa
trong vùng Trung Đông mà không chạm đến quyền lợi
của quốc gia Do Thái được một số tai to
mặt lớn trong chính quyền
Cộng Ḥa hiện hữu ủng hộ; th́ đùng một
cái xảy ra vụ Yasser Arafat mua lén 10 triệu mỹ kim
vũ khí của Iran với ư đồ đưa lậu
vào đất Palestine để gây khủng bố trong
nước Do Thái, đồng thời
vi phạm trầm trọng thỏa ước Oslo ( Norway)
được kư kết dưới thời cựu tổng
thống Clinton.
12.
Chiến Dịch KupperWasser
Mặc dầu
nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ vẫn khẳng
định là hiện nay Hoa Kỳ chưa có lấy một
quyết định nào dứt khoát về vụ cử binh
"hỏi tội " Iraq, nhưng một nhà lănh đạo
một nước ngoài - sau khi gặp một số nhân
viên cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ - đă tiết lộ
cho một số người thân cận của ông ta - là ông ta tin rằng tổng thống
Bush đă có quyết định sẽ đương
đầu với Saddam Hussein, v́ hiện nay Iraq đang cố
gắng sản xuất vơ khí nguyên tử, vơ khí hóa chất
và vơ khí vi trùng. Một cuộc thăm ḍ dư luận của
CNN/Gallup vào thượng tuần tháng 2, 2002 vừa qua đă
cho biết trong số 1001 người lớn tuổi
được hỏi th́ 82% đồng ư việc tổng
thống Bush liệt Iraq vào loại nước "ma đầu",
và 88% đồng ư loại Saddam Hussein ra khỏi chức vị
của y. Chính quyền Hoa Kỳ vừa loan báo là đă viện
trợ $2.4 triệu cho Iraqi National Congress, một tổ chức
chống Saddam Hussein; đồng thời cũng đang chuẩn
bị sự tập họp một số cựu sĩ quan
đào ngũ trong quân đội Iraq để có thể
dùng làm ṇng cốt trong tương lai cho một đạo
quân Iraq chống lại Saddam Hussein ở tại quốc ngoại.
Việc xuất hiện của tướng Najib al-Salhi, một
cựu tướng lănh của Iraq đă từng giữ chức
vụ chỉ huy trong các sư đoàn tinh nhuệ nhất của
Saddam Hussein và đă đào ngũ ra ngoại quốc, đă
tuyên bố với báo chí là ông ta sẵn sàng trở về
Iraq để tham gia cuộc chiến nhằm lật đổ
chế độ Saddam Hussein nếu được Hoa Kỳ
cam kết ủng hộ phong trào giải phóng đất
nước Iraq khỏi bàn tay khát máu của tên độc
tài Saddam Hussein. Ông ta cũng cho biết là ngoài ông ta ra c̣n có
khoảng hơn 30 sĩ quan cao cấp Iraq cũng đă bỏ
nước ra đi để tránh khỏi bị mật vụ
của Hussein bắt giết. Nếu Hoa Kỳ và đồng
minh mở cuộc tấn công vào Iraq, th́ họ đă có sẵn
một hậu thuẫn quân sự của kháng chiến quân
Kurds tại miền Bắc Iraq, đạo quân nầy c̣n có
nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu chống
độc tài Saddam Hussein hơn là kháng chiến quân Miền
Bắc A Phú Hăn chống lại bọn Hồi giáo khủng
bố Taliban và Al Quaeda của Osama Bin Laden. Vấn đề
ưu tiên đối với dân Kurds, là không lực Hoa Kỳ
phải làm tiêu tan khả năng chiến đấu của
3 sư đoàn cơ giới của Saddam Hussein đang
đóng quanh thủ đô Baghdad hiện nay.
Trong tháng 11, 2001 trước diễn đàn
Liên Hiệp Quốc, ông Bush đă công khai công nhận dân
Palestine ở Trung Đông có quyền có một quốc gia.
Trong khi đó th́ Yasser Arafat đang được Liên Hiệp
Quốc xem như vị đại diện tối
cao của dân Palestine. Nhưng rồi sau đó t́nh h́nh chính
trị ở Trung Đông đă trăi qua nhiều biến thiên
mà nguyên do chính là do những cuộc vận động ngấm
ngầm trong bóng tối của cơ quan Quân Báo AMAN của
quân đội Do Thái. Trong vụ nầy, phe cực đoan
của Iran và Arafat đă bị cơ quan Quân Báo Aman của
quân đội Do Thái gài bẫy qua trung gian của một số
"điệp viên nhị trùng" được cơ quan nầy bố
trí cho xâm nhập vào hàng ngũ t́nh báo Iran cũng như vào
phe khủng bố Palestine từ vài ba năm trước
đây. Để tránh bớt sự dài ḍng, ta hăy gọi chiến
dịch nầy là chiến dịch
Kupperwasser, tên của một nhân viên cao cấp trong ngành t́nh
báo của quân đội Do Thái, người đă thảo
ra bản phúc tŕnh Kupperwasser kể lại từ đầu
đến cuối mọi chi tiết về vụ bắt
chiếc tàu "Karine A" chở 50 tấn vơ khí lậu từ
Iran về lănh thổ Palestine để tiếp tế cho
quân khủng bố của xứ nầy. Khi Arafat hay tin chiếc
tàu "Karine A" đă bị biệt kích Dù của quân
đội Do Thái nhảy xuống ngay trên chiếc tàu nầy và bắt trọn
thủy thủ đoàn để rồi sau đó áp giải
về một hải cảng của Do Thái, th́ Arafat đă
thảo ngay một bức thư gởi cho tổng thống
G.W. Bush, với nội dung chối bỏ mọi sự việc
vừa xảy ra và đổ tội cho t́nh báo của Do
Thái đă ngụy tạo ra vụ buôn vơ khí nầy để
bôi nhọ Arafat và dân Palestine. Khi nhận được bức
thư của Arafat, tổng thống G.W. Bush đă nổi
trận lôi đ́nh v́ ông ta cho Arafat đă khinh thường
ông ta đến độ coi ông ta như trẻ con không bằng,
muốn gạt như thế nào cũng được. Thế là từ đó tổng thống
Bush không c̣n nhắc đến tên của Yasser Arafat nữa
và để mặc cho thủ tướng Ariel Sharon tha hồ
"phong tỏa" hay có những biện pháp chế tài
nào khác th́ ông ta cũng không c̣n để ư đến hắn
ta nữa. Trong khi tổng thống G.W. Bush đang nổi trận
lôi đ́nh đối với Yasser Arafat, th́ tướng Do
Thái Yossif Kupperwasser đă tung ra trên chính trường Âu Châu bản
"phúc tŕnh Kupperwasser", chứng tỏ cánh tay của
cơ quan Quân Báo Aman của quân đội Do Thái cũng khá
dài v́ chỉ một cú một họ đă lôi cả Iran lẫn
tổ chức khủng bố Palestine vào nằm chung trong một
rọ, đồng thời chứng minh với thế giới
là Yasser Arafat đă vi phạm trắng trợn thỏa ước
Oslo được kư kết dưới thời cựu tổng
thống Clinton. Cú đá hậu của Do Thái qua phúc tŕnh
Kupperwasser đă khiến tướng A. Zinni, đặc phái
viên của tổng thống Bush tại Trung Đông phải
thốt lên câu "tên Arafat nầy chỉ là một tên nói dối
không biết ngượng mồm" mặc dầu ông ta
có khá nhiều t́nh cảm đối với dân Palestine.
Tuy
tổng thống G.W. Bush - mặc dầu không ưa ǵ Yasser
Arafat, nhưng ông ta cũng phải nể áp lực của
hoàng thân Abdullah của Ả Rập Saudi và của tổng
thống Mubarak của Ai Cập "nói vào" cho Arafat, nên
ông ta lại ra chỉ thị cho tướng Zinni bay qua lại
Trung Đông để cố gắng t́m cho ra một giải
pháp khả dĩ có thể mang lại ḥa b́nh cho Do Thái và dân
Palestine, mặc dầu biết rằng hy vọng đó rất
mong manh. Thực sự mà nói, Yasser Arafat chỉ là một tên
phiến loạn quốc tế, có tầm nhận định
t́nh h́nh chính trị quốc tế rất là thiển cận,
và đă bỏ lỡ một cơ hội "bằng
vàng" khi tướng Ehud Barak đề nghị với hắn
- cách đây một năm - một chương tŕnh ḥa giải
công nhận việc thành lập một quốc gia Palestine.
Nhưng Yasser Arafat nhất định từ chối lời
đề nghị nầy, v́ hắn nghĩ rằng một
khi có ḥa b́nh trên đất Palestine th́ vai tṛ lănh đạo chính
quyền Palestine của hắn sẽ chấm dứt và hắn
vô phương tha hồ làm mưa làm gió trên giải đất
nầy như hiện nay. Một khi ḥa b́nh được
văn hồi trên giải đất Palestine th́ khi đó sẽ
có một chính phủ Palestine lâm thời và vai tṛ người
giựt dây "độc nhất" của hắn
đành phải chấm dứt và chấm dứt luôn những
vụ gian lận tiền viện trợ quốc tế cho
Palestine lên đến 35 triệu mỹ kim được
kư thác tại các ngân hàng ở Thụy Sĩ dưới tên
của hắn mà thôi. Nói một cách khác, nếu Palestine trở
thành một quốc gia độc lập như đă
được Liên Hiệp Quốc qui định kể từ
năm 1948, th́ bắt buộc Yasser Arafat phải chia xẻ
quyền hành với nhiều cộng sự viên khác, và
đó chính là điều mà Arafat đang nỗ lực chống
đối bằng bất cứ giá nào. Cứ nh́n lại
quá khứ của hắn th́ đủ biết. Vào giữa
thập niên 1960, Yasser Arafat cầm đầu một số
tổ chức khủng bố và đă từng chơi tṛ
"ba mang" với mọi người. Dưới thịnh
thời của Liên Bang Xô Viết, Arafat là con cờ đắc
lực của mật vụ KGB của Nga Xô tại Đông
Bá Linh, Sofia, Prague..... Đồng thời, hắn lại c̣n
"đi đêm" với một số chính phủ Ả
Rập để tự dành lấy vai tṛ đối thoại
độc nhất của dân Palestine trong vấn đề
gai góc giữa Do Thái và Palestine. Điểm tệ hại nhất
của Yasser Arafat là giả bộ đóng vai tṛ bảo vệ
quyền lợi và duy tŕ niềm nuôi hy vọng được
độc lập của dân Palestine, nhưng trong khi đó
th́ vẫn ngấm ngầm phá hoại niềm hy vọng nầy
khi động đến quyền lợi thiết thực
của hắn, đó là "tiền". Có thể nói là
trong ṿng 40 năm qua, Yasser Arafat đă tự tạo cho hắn
một vai tṛ mà đến giờ nầy hắn vẫn
không muốn từ bỏ. Hắn tự cho rằng hắn
là nhân vật rất cần thiết trên chính trường
Trung Đông hiện nay, và hắn vẫn nghĩ rằng dầu
cho hắn có hành động sai trái đi nữa th́ mọi
người đều phải bỏ qua, v́ không ai có thể
thay thế hắn được nữa, theo như hắn nghĩ !!!.
13. Uy Tín Của
Hoa Kỳ
Ngày 28 tháng 2, 2002
chính quyền Hoa Kỳ đă bắt đầu gởi 200
chuyên viên quân sự vào tiểu quốc Georgia để huấn
luyện cho 1500 lính của Georgia về phương cách chống
lại bọn Hồi giáo khủng bố.
Sau đợt chuyên viên sẽ đến đợt quân
trang, quân cụ, trọng pháo, cơ giới và không quân nếu
cần. Sau khi bọn Hồi
giáo khủng bố của Oasama Bin Laden bị đánh tan ở
A Phú Hăn, một số tàn quân của chúng chạy về tá
túc tại tỉnh Abkhazia, một tỉnh ở cực Tây,
trên bờ biển Hắc Hải của Georgia và được
Nga âm thầm khuyến khích ly khai khỏi tiểu quốc nầy. Kể từ ngày Nga để cho
Georgia độc lập th́ Nga đă đóng 8000 quân ngay trong
tỉnh Abkhazia để bảo vệ cho tỉnh nầy
khỏi bị quân đội của Georgia tấn công.
Đa số dân tỉnh Abkhazia đều theo Hồi giáo và
che chở cho bọn Hồi giáo khủng bố của Osama
Bin Laden. Tuy Abkhazia chỉ là một tỉnh thôi nhưng
cũng có chính phủ riêng biệt và được Nga công
nhận. Không những bọn tàn quân Hồi giáo khủng bố
tá túc trong tỉnh Abkhazia mà thôi, chúng c̣n sống lẫn quất
trong thung lũng Pankisi Gorge ăn thông với lănh thổ
Chechnya, nơi đang xảy ra cuộc chiến giữa
quân đội Nga với quân đội kháng chiến của
Chechnya. Không phải như
cựu tổng thống Clinton hay "hứa cuội",
tổng thống G.W. Bush là một ông tổng thống biết
giữ lời hứa. Sau vụ 11 tháng 9, khi ông ta tiếp
bà tổng thống Phi Luật Tân, ông có hứa với
bà nầy sẽ giúp chuyên viên Lực Lượng Đặc
Biệt Mũ Xanh qua Phi huấn luyện cho quân đội
Phi chống lại quân khủng bố của
Osama Bin Laden trên quần đảo Phi Luật Tân; và ông
đă giữ đúng lời hứa. Vào năm ngoái, trong một cuộc phỏng vấn
do kư giả lăo thành Jim Hoagland thực hiện tại Tbilissi,
thủ đô của tiểu
quốc Georgia ở ngay dưới miền cực Nam
của nước Nga, tổng thống Shevardnadze có
đưa cho ông kư giả nầy xem một bức thư
tay của tân tống G.W. Bush gởi thăm ông ta và hứa
sẽ giúp ông tài lực lẫn vật lực để ông
có thể vượt qua những thử thách mà ông vừa
trải qua trong hiện tại. Đó là tổng thống W.
Bush muốn ám chỉ đến hai lần tổng thống
Shevardnadze bị mật vụ Nga KGB tổ chức ám sát mà
không thành nhờ có bàn tay bí mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ làm cho thất bại v́ đă
báo kịp thời cho vị tổng thống của Georgia
hay trước để đề pḥng. Mặc dầu ngoài mặt, tổng thống
Nga Putin tuyên bố chuyện Hoa Kỳ đưa chuyên viên
quân sự vào giúp Georgia là chuyện "rất thường"
nhưng đó chỉ là lời tuyên bố bên ngoài để
trấn an quần chúng, chứ dư luận của quốc
hội và của báo chí Nga th́ có vẻ hằn học, chống
đối ra mặt sự hiện diện của quân
đội Hoa Kỳ ngay tại "hậu môn" của
nước họ, v́ họ coi vùng nầy như là "vùng
ảnh hưởng" của họ từ ngàn xưa cho
tới ngày nay, nhất là sau khi Hoa Kỳ đă vào "tọa
lạc" tại 5 nước trong vùng Trung Á, vừa mới
được Nga chấp nhận cho "độc lập"
cách đây hơn mươi năm, sau khi Liên Bang Xô Viết
tan ră.
Hơn
nữa, tổng thống Shevardnadze, một cựu tướng
lănh của Mật Vụ Liên Xô KGB, một thành viên trong Bộ
Chính Trị của Brejnev, một gián điệp nhị
trùng của Cơ Quan CIA nằm vùng trong guồng máy chính quyền
Liên Bang Xô Viết và cũng là người góp công rất lớn
trong việc làm cho băng hoại, tan hàng ră ngũ Liên Xô,
th́ việc quân đội Hoa Kỳ được ông tổng
thống nầy mời vào nước ông để huấn
luyện hộ ông ba tiểu đoàn quân thiện chiện
chống lại bọn Hồi giáo khủng bố của
Osama Bin Laden là một việc
làm mà Nga cảm thấy như bị bôi nhọ v́ quân đội
Nga đóng ngay trong lănh thổ của Georgia mà không được
chính quyền nhờ "tiếp tay" chống bọn Hồi
giáo khủng bố. Lư do rất dễ hiểu là tổng thống
Shevardnadze đâu có tin Nga sau khi ông bị mật vụ KGB của
Nga lập mưu ám sát hai lần, nhưng nhờ có CIA báo
trước cho ông ta biết nên nhờ vậy mà ông ta Tuy tổng
thống Bush mới lên cầm quyền chỉ hơn một
năm thôi - mà nhờ t́nh h́nh thế giới đưa
đẩy, về phương diện chiến lược
quốc tế, - ông đă ngấm ngầm thực hiện
được hai cuộc bao vây hai siêu cường Nga và
Trung Cộng, một hành động đặc biệt về
chiến lược mà từ trước tới nay
chưa một tổng thống Hoa Kỳ nào làm được.
Đó là về mặt quân sự. C̣n về mặt kinh tế,
th́ Hoa Kỳ đă và đang trấn ngự hầu hết
tất cả các vùng đất đai gồm nhiều mỏ
dầu hỏa và hơi đốt lớn nhất hiện
nay trên thế giới trong vùng Trung Á , và đang loại dần
áp lực tai hại của phe Hồi giáo quá khích đối
với các quốc gia dầu hỏa trong vùng Trung Đông hiện
nay. Tám năm dưới chính quyền của đảng
Dân Chủ, cựu tổng thống "trốn lính"
Bill Clinton đă dương cao lá cờ tang và đi khắp
hoàn cầu để xin lỗi tất cả các nước
về hành động “hiếu chiến” của các vị tổng
thống tiền nhiệm của ông ta và chỉ có một
chủ trương độc nhất là rút quân đội
tháo chạy khỏi nơi nào khi quân đội bị đặt
bom và chỉ có vậy thôi ! chính quyền cộng
ḥa của tổng thống G.W. Bush đă đánh tan
được bọn Hồi giáo khủng bố Taliban và
Al Qaeda của Osama Bin Laden và gây lại niềm tin trong ḷng
quân đội và quần chúng Hoa Kỳ, đồng thời
quyết liệt nêu ra chủ trương chống cho đến
cùng những nước manh nha dùng vũ khí nguyên tử, hóa
chất hay vi trùng để mưu hại các nước
lân bang không ngả theo chủ trương đường
lối của chúng. Một số
nước có chính quyền thiên Tả ở Âu Châu - trước
sự vươn lên quyết liệt của Hoa Kỳ -
đă lên tiếng phản đối và chỉ trích chính sách
độc đoán của nước nầy, nhưng đối
với Hoa Kỳ th́ tốt hơn hết là nên "tiên hạ
thủ vi cường" v́ để cho bọn khủng
bố ra tay trước th́ đó là chủ trương theo
đuổi chính sách tự sát không hơn không kém, một
hành động mà Hoa Kỳ quyết liệt chống đối
cho đến cùng v́ khi đó có muốn phản ứng chống
lại th́ cũng đă quá muộn.
14.
Hoa Kỳ - Trung Cộng Và Bomb
….Nguyên Tử.
Từ
đầu thập niên 1980 đến nay, trong chính giới
Hoa Kỳ có nhiều luồng dư luận đồn
đăi là Trung Cộng giờ đây đă có đủ
khả năng để phóng hỏa tiễn có mang
đầu đạn nguyên tử đến nội
địa Hoa Kỳ rồi. Mà
cho dù Trung Cộng có khả năng đó th́ đă sao!
Vấn đề quan trọng là hiện nay Trung Cộng có
bao nhiêu đầu đạn nguyên tử có thể dùng
để phóng sang đất Hoa Kỳ? Theo tài liệu Ngũ Giác Đài, hiện giờ
đây Hoa Kỳ có hơn 10,000 đầu đạn nguyên
tử đủ mọi loại, và có thể mưa Bomb
Nguyên tử bất cứ lúc nào nếu an ninh Hoa Kỳ
bị đe doạ , c̣n Trung Cộng chỉ có
dưới 500 đầu đạn nguyên tử thôi. Đó
là chưa phân tích cho rơ thêm con số mơ hồ "trên
mười ngàn" là có thể bao nhiêu, và "dưới
năm trăm" có thể là bao nhiêu nữa …đấy !.
Từ ngày Hoa Kỳ khám phá ra việc gián điệp Trung
Cộng xâm nhập vào các trung tâm nghiên cứu và thí
nghiệm các loại vũ khí mới của quân đội
Hoa Kỳ, th́ càng ngày phong trào tránh xa ra khỏi Trung Cộng
trong giới chính trị Hoa Kỳ càng
trở nên mạnh và áp lực của khối người
này trên đường lối ngoại giao của chính
quyền Hoa Kỳ đối với Trung Cộng càng ngày
càng thêm cứng rắn. Rồi đến khi dân biểu
đảng Cộng Ḥa Christopher Cox công bố kết
quả cuộc điều tra của Ủy Ban Cox trong
Quốc Hội,th́ cho thấy là Trung Cộng đă mở
một chiến dịch đại qui mô về t́nh báo trên
lănh thổ Hoa Kỳ. Ủy Ban Điều tra Cox kết
luận là những tài liệu mật do gián điệp
Trung Cộng đánh cắp được có thể giúp cho
họ chế tạo được những đầu
đạn nguyên tử nhỏ những vẫn mạnh
để gắn trên các hỏa tiễn liên lục
địa mà họ đang chế tạo.
Những hỏa tiễn này
có thể bay tới Hoa Kỳ rất chính xác nhờ
những tài liệu mật do hai hăng Hughes Space &
Communications Co. và Loral Space & Communications - v́ bất cẩn
- đă cung cấp cho họ. Đối với những
người yếu bóng vía, sau khi đọc bản báo cáo
của Ủy Ban Điều Tra Cox th́ sẽ sợ
cuống cả lên, v́ vậy chúng ta cũng nên đi
thẳng vào vấn đề là t́m hiểu sơ qua
tiềm năng quân sự của Trung Cộng và Hoa Kỳ
một cách khách quan. Theo các chuyên gia về quân sự
quốc tế và ngay cả Hoa Kỳ th́ hiện nay bộ
máy quân sự của Trung Cộng có mạnh hay không ? Câu trả lời là không thật
mạnh cho lắm và khó mà trở thành mạnh trong thời
gian rất ngắn tới đây. Sau những nhận xét
đó họ đi đến kết luận là Trung
Cộng dù họ có muốn đi nữa - th́ khả
năng của họ để gây
thiệt hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ
cũng rất là hạn chế.
Trong suốt thập niên 1990, ( 10 năm ) chi phí về
quốc pḥng của Trung Cộng cao nhất chỉ vào
khoảng 65 tỷ mỹ kim (1 tỷ bằng 1000 triệu),
số tiền này không bằng 1/4 chi phí quốc pḥng của
Hoa Kỳ, mặc dù quân số của Trung Cộng đông
gấp hai quân số của Hoa Kỳ. Về tiền
chi phí trong lănh vực vũ khí th́ Ngũ
Giác Đài đă bỏ ra khoảng 1 trillion mỹ kim (1
trillion = 1000 tỷ = 1.000.000 triệu) để mua những
vũ khí tối tân; trong khi đó Trung Cộng phải
cố gắng hết sức mới chạy
được không tới 100 tỷ mỹ kim
để mua vũ khí. Cũng nên nhớ ở Hoa Kỳ,
chỉ riêng gia tài ông Bill Gates, chủ hăng Microsoft cũng
đă lên tới 90 tỷ mỹ kim rồi. C̣n giá tiền mà
Không Quân Hoa Kỳ dùng để mua hai loại phi cơ B1và
B2 cũng đă tốn hết 50 tỷ mỹ kim. Về
Không lực của Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân
Lục Chiến th́ Hoa Kỳ có tất cả hơn 3000 máy
bay tối tân đủ loại,đủ kiểu; trong khi
đó Không Quân Trung Cộng có hơn 500
chiếc máy bay MIG thuộc hạng cổ lổ
sĩ, nếu đem so sánh với máy bay Hoa Kỳ th́
chỉ như loại máy bay "bà già" bên ta lúc xưa.
C̣n máy bay loại tối tân th́ Trung Cộng có
được không tới 40 chiếc mua của Nga mấy
năm sau này, nhưng về Phóng Pháo Cơ liên lục
địa th́ Trung Cộng chả có chiếc nào cả. Trong ṿng 15 năm nay, đă có nhiều
lần Trung Cộng cố gắng cải thiện hệ
thống kỹ nghệ quốc pḥng của họ, nhưng
không mấy khả quan. Theo ước lượng của
ngành t́nh báo quân đội Hoa Kỳ th́ đến năm
2010, mười phần trăm vũ khí được tân
trang của quân đội Trung Cộng mới bằng
được mức vũ khí của quân đội Hoa
Kỳ trong thời kỳ bắt đầu chiến tranh
lạnh. Hiện nay Trung Cộng có
2 triệu 800.000 quân, một đạo quân lớn nhất
hoàn cầu, nhưng chỉ có 20% số quân này có thể di
chuyển trong nội địa Trung Hoa mà thôi v́ thiếu xe
cộ và đồ thiết bị khác.
C̣n về nhân sự - th́ theo
cuộc điều tra mới đây nhất của Ngũ
Giác Đài - bệnh "bao che, phe phái" là chuyện
thường t́nh trong quân đội Trung Cộng. Những
người thông minh tài giỏi không bao giờ đi vào quân
đội và vấn đề huấn luyện quân
đội về ngành chuyên môn rất là yếu kém. Chúng ta
thường nghe đài truyền h́nh và truyền thanh Trung
Cộng hăm dọa sẽ đổ bộ qua chiếm
đảo Đài Loan, nghe th́ ngon lành như vậy, nhưng
chúng ta nên ghi nhận hiện nay Đài Loan có 250.000 quân
thiện chiến được trang bị đầy
đủ vũ khí tối tân và có thêm 1 triệu 500.000 quân
trừ bị được huấn luyện về du kích
chiến rất thành thục. Như vậy muốn đánh
Đài Loan th́ phải đổ bộ ít ra cũng
khoảng một triệu quân, nhưng khả năng
vận chuyển quân đội của Trung Cộng tối
đa chỉ vào khoảng 20,000 quân thôi; thử hỏi
với ngần ấy người, khi vừa đổ bộ th́ đă bị bắt làm
tù binh hết cả rồi c̣n đánh chác ǵ được
nữa. Nếu Trung Cộng biết thế yếu của
ḿnh không dám mạo hiểm đổ bộ lên Đài Loan -
mà chỉ phong tỏa đảo này để làm cho
nền kinh tế Đài Loan phá sản và chịu
đầu hàng th́ cũng khó mà thực hiện
được; v́ nếu Hoa Kỳ chịu giúp cho Đài
Loan vài chiếc hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ
để tuần tiểu vùng bể ở phía Đông
Đài Loan, th́ chắc chắn khi đó hải quân Trung
Cộng sẽ không dám bén mảng đến khu vực này.
Thêm vào đó, từ mấy năm nay, quân đội Đài
Loan rất tiến bộ về phương diện pḥng
không chống hỏa tiễn và càng ngày - nhờ có kỹ
thuật cao - nên nền kinh tế của Đài Loan ngày càng
thêm phát đạt, giúp cho nhà cầm quyền có dư tài
chánh để mua thêm vũ khí, như đầu tháng 8,
1999, họ vừa mua của Hoa Kỳ 550 triệu vũ khí
tối tân gồm đủ loại,chưa kể là họ
c̣n mua thêm vũ khí ở các nước Âu Châu như Pháp,
Anh, Đức và Thụy Điển nữa.
Sau khi duyệt sơ qua
tiềm năng quân sự hiện tại của Trung
Cộng th́ ít nhất cũng hai thập niên nữa Trung
Cộng mới có thể trở nên một đối
thủ của Hoa Kỳ, với điều kiện là
tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vẫn
đứng nguyên một chỗ như bây giờ, và đó
là một điều không bao giờ có thể xảy ra
được. Tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ
đă không chịu đứng nguyên
một chỗ - mà cách đây hơn 3 năm - đă âm
thầm chuẩn bị những bước tiến
nhảy vọt mà chỉ có họ mới có thể
thực hiện được mà thôi v́ đ̣i hỏi
một tŕnh độ kỹ thuật về điện
tử siêu đẳng mới có thể thành công
được. Đối với giới chuyên gia quân
sự th́ trong thế kỷ 20 này, vai tṛ của chiến
hạm, xe tăng, phi cơ, hàng không mẫu hạm, bom
nguyên tử, hỏa tiễn liên lục địa, có
ảnh hưởng trong việc xếp thứ tự quan
trọng của các cường quốc trên thế
giới. Nhưng những
vũ khí nêu trên đây sẽ trở nên lỗi thời và
sẽ bị vô hiệu hóa nếu Hoa Kỳ sớm thực
hiện được cuộc cách mạng trong ngành kỹ
thuật quân sự mà họ đă bắt đầu từ
mấy năm nay. Vấn đề mấu chốt
hiện nay là hệ thống pḥng thủ phải làm sao thu
thập tin tức ngoài mặt trận cho thật nhanh,
thật đầy đủ về các mục tiêu quân
sự của địch cũng như của bạn, bao
trùm một vùng rộng lớn nhưng phải rất chính
xác, trong một thời gian rất ngắn để viên
chỉ huy mặt trận trong tương lai có thể
thấy ngay lúc đó vị trí của quân đội
bạn và thù, để rồi từ đó tùy nghi dùng
những phương tiện thích
hợp tiêu diệt địch. Mục tiêu chiến
lược của Hoa Kỳ hiện nay là tận dụng
khả năng kỹ thuật siêu đẳng về
điện tử của họ để giúp cho viên
chỉ huy của họ có một cái nh́n bao la, chính xác và
cấp kỳ về bên bạn cũng như về bên
địch, để nắm chắc phần thắng lợi
trong tay. Cũng như trong một ván x́ phé, nếu ḿnh
biết được lá bài tẩy của người
khác th́ ván bài đó coi như là về tay ḿnh rồi.
Muốn đạt tới những mục tiêu nêu trên,
việc đầu tiên là phải thu thập tin tức
từ mặt trận qua những “hệ thống cảm
từ (sensor) và vệ tinh, phi cơ tự động và
không tự động để có thể ghi nhận
tất cả mọi diễn tiến xảy ra ngoài mặt
trận. Những ǵ vị chỉ huy mặt trận
thấy được mà bên địch không thấy
được là một điều lợi về quân
sự vô cùng to lớn. Thứ đến, những dữ
kiện do các “hệ thống cảm từ thu thập
được đều được chuyển qua các
hệ thống điện tử truyền tin để
rồi gởi tới ngay cấp chỉ huy các hệ
thống tấn công. Và điều lợi chót là các vị
chỉ huy trưởng bên phía bạn sẽ có
đủ khả năng để tiêu hủy những
mục tiêu địch bằng cách xử dụng những
vũ khí "tinh khôn" gắn trên đầu các hỏa
tiễn có tầm xa, do vệ tinh điều khiển và có
thể oanh tạc rất chính xác những mục tiêu cách xa
chiến trường hàng trăm dặm. Đó là trường hợp Hoa Kỳ dùng loại bom
này để phá hủy Trung Tâm T́nh Báo Chiến Lược
của Trung Cộng tại Âu Châu và đài truyền h́nh
truyền thanh của Milosevic đặt lén trong ṭa
đại sứ Trung Cộng tại thủ đô Belgrade
ở Nam Tư.
Thành thử từ nay -
đối với Hoa Kỳ - những vật ǵ thấy
được trên màn ảnh là có thể bị bắn
trúng; mà hễ đă bị bắn trúng là có thể bị
tiêu diệt. Thành thử đối với bên địch,
người bộ binh ở tiền tuyến hay kho vũ
khí ở hậu phương, bất cứ chỗ nào
cũng đều là những mục tiêu nguy hiểm
cả. Và từ nay trong những cuộc chiến sẽ
không c̣n những loại hành quân" lục soát và tiêu
diệt " rất nguy hiểm như
trong trận chiến ở Việt Nam trước đây.
Để tiết kiệm nhân mạng trong tương lai,
người ta sẽ dùng nhiều hơn những hỏa
tiễn tuần tra (cruise missile) và những máy bay không
tự động để thay thế máy bay khu trục và
xe tăng; đồng thời hàng không mẫu hạm
sẽ giảm bớt vai tṛ của chiến hạm.
Kỹ thuật tân tiến đề cao vai tṛ tấn công
hơn là pḥng vệ, đúng như người đời
xưa hay nói "Tiên hạ
thủ vi cường" v́ khi ta tấn công
trước th́ địch bị ta chặn đứng và
sẽ không phản ứng ǵ được nữa. V́ ta
biết rơ t́nh h́nh địch mà địch th́ mù tịt
về t́nh h́nh của ta, nên dù ở đồng bằng hay
núi đồi, hay ngay trong sa mạc, ta vẫn luôn luôn
nắm phần chủ động và tấn công
địch trước khi họ chưa kịp trở tay. Nhờ có kỹ thuật hiện
đại quá cao đối với tất cả các
nước khác trên thế giới, nên vào thế kỷ
thứ 21 này, Hoa Kỳ sẽ là nước dẫn
đầu trong cuộc cách mạng quân sự nói trên. Để cho xứng đáng
với danh xưng siêu cường độc nhất trên
thế giới,. Hoa Kỳ
sẽ giúp cho một số nước nhỏ bị vài
nước lớn xâm lăng và chinh phục trước
đây trở nên độc lập. Hành động này -
bề ngoài đối với quốc tế - rất là danh
chính ngôn thuận, nhưng bên trong là “phục vụ
quyền lợi của chính Hoa Kỳ”. Đó là
trường hợp của Kosovo, Tây Tạng và Đài Loan.
Một khi Hoa Kỳ giúp cho Kosovo
được độc lập và kiến thiết
lại xứ sở, thế là Hoa Kỳ đem lại
được thanh b́nh cho vùng Ba Nhĩ Cán đồng
thời loại được ảnh hưởng c̣n
lại của cộng sản Nam Tư và của Nga tại
nơi này. Áp lực của Hoa
Kỳ đối với Trung Cộng về vấn
đề tự trị rộng răi của Tây Tạng
sẽ mạnh hơn trước và có thể trở thành
đề tài bất ổn giữa hai nước trong
tương lai. Một khi Hoa Kỳ hoàn tất xong cuộc
cách mạng quân sự trong đầu thập niên của
thế kỷ thứ 21, việc đầu tiên mà họ
sẽ làm để củng cố địa vị siêu
cường độc nhất của họ trên thế
giới là làm cho Trung Cộng không c̣n là một khối
người vĩ đại trên một lục địa
khổng lồ nữa. Vả lại nền kinh tế
của Trung Cộng đă trở nên quá bi đát th́ Hoa
Kỳ cũng chẳng thu được lợi ǵ cho
lắm trong khi buôn bán với họ, nhất là khi họ
vẫn duy tŕ chế độ độc tài cộng
sản, tham nhũng từ trên xuống dưới, một
chế độ không thể đi đôi với sự
phồn thịnh về kinh tế. Một nước
hùng mạnh về quân sự luôn luôn cố gắng phát
triển song song nền kinh tế của họ. Hoa Kỳ
cũng không tránh được quy luật đó, và buộc
họ phải đi t́m thị trường mới,
nhưng t́m đâu bây giờ? Thị trường Âu Châu th́
Hoa Kỳ gặp phải sự cạnh tranh khốc
liệt của các nước trong cộng đồng các
quốc gia Âu Châu; thị trường Nam Mỹ Châu th́ dân
chúng đang c̣n nghèo nàn lắm; chỉ c̣n thị
trường Á Châu với lục địa Trung Hoa khổng lồ khả dĩ có
thể trở thành nơi dụng vơ của Hoa Kỳ
với điều kiện Trung Cộng từ bỏ
chủ thuyết Mác - Lênin, và đó là chuyện khó có thể
xảy ra. Nếu Trung Cộng vẫn khư khư giữ
chặt chế độ cộng sản và quyết tâm
trở thành siêu cường thứ 2 trên thế giới,
th́ vấn đề lúc đó lại trở thành phức
tạp hơn nữa, buộc Hoa Kỳ phải có biện
pháp đối phó càng sớm càng hay; và lúc đó mọi
việc sẽ được giải quyết bằng
giải pháp quân sự, để rồi tiếp đó sau
khi Trung Cộng thua trận nước Trung Hoa sẽ
bị phân chia thành nhiều nước nhỏ. Cùng lúc các “chế độ Ma
Quĩ Cộng Sản Á Châu” các “chế độ Ma
Đầu Tôn Giáo” lừa bịp khống chế tinh
thần kẻ khác phải bị tiêu diệt th́ ánh sáng
“Tự Do Dân Chủ , cùng với
một Chủ Thuyết Mới ra đời ở
Phương Đông. Th́ đây là một cơ hội
cuối cùng để những Đảng Viên Cộng
Sản nào sớm biết “Tự Tĩnh để trở
về với Đại Nghiă Dân Tộc” , nhưng phải
biết làm một cái ǵ đó để không tự hổ
thẹn với Lương Tâm của chính ḿnh , khi ấy nhân loại mới
có thanh b́nh , và mọi người được ăn
ngon, ngủ yên./.
Trong vườn sống ước mơ là trái
cấm .
Rắn SaTan hối cải
hóa Thiên Thần
L.Đ.A
ChuSa