HOME

 

“Siêu Cường”Trung Cộng Sẽ Về Đâu?

ChuSa

          1. Luân Khí Công Đại Pháp Một Bài Toán Nan Giải.

          Theo tài liệu của một số báo chí xuất bản tại Đài Loan th́ môn Pháp Luân Khí Công Đại Pháp gọi tắt là Pháp Luân Công được thành lập từ năm 1992, do ông Lư Hồng Chí đứng ra sáng lập và được truyền bá khắp nơi tại Trung Quốc và hải ngoại. The Lư Hồng Chí sinh ngày 13 tháng 5 năm 1951 tại tỉnh Cát Lâm,làm công chức b́nh thường tại quê nhà và đến năm 1998, v́ phổ biến môn Pháp Luân Công trong quần chúng - nên đă bị chính quyền Trung Cộng làm áp lực phải di cư cùng vợ và một con qua Hoa Kỳ?. Hiện nay Lư Hồng Chí cư ngụ tại tiểu bang New York. Môn Pháp Luân Công được phối hợp giữa khí công với tư tưởng Phật giáo và Lăo giáo là hai tôn giáo có ảnh hưởng rất sâu đậm vào đời sống của nhân dân Trung Quốc, trải qua hằng bao nhiêu thế kỷ về trước. Trong khi đó th́ chính quyền Trung Cộng đem ra áp dụng chính sách "đổi mới" chỉ làm giàu cho một thiểu số người dân thành thị và đa số cán bộ cao cấp cùng bà con thân thuộc của họ. Từ đó người dân, nhất là nông dân chiếm 90% dân số, đâm ra bất măn, mất định hướng, mất lập trường, thiếu hẳn một ư thức hệ để làm kim chỉ nam trong cuộc sống hằng ngày và khi họ thấy xuất hiện môn Pháp Luân Công khả dĩ lấp được cái khoảng trống về tư tưởng và tâm linh đó th́ họ vồ ngay lấy và chấp nhận một cách dễ dàng, nhanh chóng mặc dầu Phong Trào không có trụ sở, không có nghi thức hành môn và cũng không có người lănh đạo ở tại mỗi địa phương. Phương pháp tập luyện Pháp Luân Công rất dễ dàng như hít vào thở ra một cách đều đặn giống như dân Trung Quốc thường hay tập hằng ngày tại các công viên hay ở nhà; ban đầu th́ được gọi là "Thái Cực Quyền" như của phái Vơ Đang,( Chưởng Môn Trương Tam Phong ) nhưng về sau th́ gọi là Pháp Luân Công. Pháp môn này không những có ảnh hưởng tốt vào sức khỏe của thể xác con người mà c̣n đặc biệt chú trọng đến phần tâm linh với phương pháp "thiền" có thể đạt đến cảnh giới cao và trị bệnh rất có hiệu quả. Chính quyền Trung Cộng đă ước tính Pháp Môn này có khoảng 80 triệu môn sinh trên toàn lănh thổ Trung Hoa,trong khi đó th́ số đảng viên của Trung Cộng chỉ có 60 triệu mà thôi. Tại các đô thị hay ở thôn quê, số đảng viên của đảng cộng sản theo Pháp Luân Công tính đến hàng vạn người trong khắp mọi ngành như trong quân đội, công an, hành chánh v...v.... . Theo luận cứ của nhà cầm quyền Trung Cộng, Phong Trào Pháp Luân Công là một lực lượng chính trị trá h́nh, đang gây bất ổn cho xă hội cộng sản bằng những cuộc biểu t́nh tuy bất bạo động nhưng rất nguy hiểm. Môn phái này không có trụ sở, không có nội qui chặt chẽ, nhưng lại có phương tiện truyền thông rất hiệu nghiệm, nhanh chóng như điện thư, v́ vậy mà tổ chức được những cuộc tập họp rất nhanh chóng mà nhà cầm quyền không kiểm soát được. Hiện nay nhà cầm quyền đă đặt môn phái này ra ngoài ṿng luật pháp, đă cấm đoán những cuộc tập thể dục ngoài các công viên những sách vở, tài liệu, video đều bị tịch thu và bị tiêu hủy. Chính quyền Bắc Kinh đă chỉ thị cho các địa phương, tỉnh, đô thị phải mở cuộc học tập ngay để đối phó với môn phái này mà họ cho là nguy hiểm, có thể lật đổ chính quyền cộng sản v́ có sự yểm trợ của chính phủ Đài Loan. Hiện nay chính quyền Trung Cộng đang mở chiến dịch bôi nhọ Pháp Luân Công bằng cách tuyên truyền với quần chúng là có người đă bị điên loạn khi tập luyện pháp môn này. Báo chí, cơ quan truyền thanh, truyền h́nh hằng ngày đều có bài xă luận lên tiếng chỉ trích môn phái này. Mặc dầu bị cấm đoán gắt gao như vậy nhưng không biết chính quyền Trung Cộng rồi đây có tiêu diệt được Phong Trào Pháp Luân Công hay không. Có một điều mà mọi người thấy được rơ ràng là sự đàn áp Phong Trào đă gây ra sự bất măn của quần chúng ngày càng mạnh khiến cho chưởng môn Lư Hồng Chí đă tuyên bố với báo chí ở New York là chính quyền Trung Cộng không thể nào dẹp tan được Phong Trào Pháp Luân Công, mà chỉ có thể đàn áp trong một thời gian thôi. Không biết rồi đây một khi bị đàn áp dữ dội khiến cho một số môn sinh bị thiệt mạng, liệu Phong Trào Pháp Luân Công có thể biến thành một cuộc nổi dậy của nhân dân Trung Hoa chống lại bạo quyền Trung Cộng như Hồng Tú Toàn đă dựng cờ khởi nghĩa chống lại Nhà Măn Thanh cách đây 140 năm hay không ?.

          Chính v́ khi cấp lănh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Trung Hoa nhận thức được nguy cơ xâm nhập sâu rộng của môn phái Pháp Luân Công vào trong hàng ngũ của hai cơ quan đầu năo của Đảng là Hồng quân và Bộ An Ninh Nội Chính th́ khi đó họ mới ra lệnh đàn áp mạnh. Vấn đề mà cơ quan đầu năo của Đảng Cộng Sản Trung Hoa lo ngại nhất không phải số lượng hàng triệu đoàn viên của Pháp Luân Công mà là số luợng rất to lớn mà họ không thể xác nhận một cách chính xác trong hàng ngũ nhân viên ngành công an nội chính của họ đang họat động âm thầm cho Phong Trào này. Sau đây là lịch tŕnh diễn tiến của Phong Trào Pháp Luân Công trong mấy năm gần đây tại Trung Quốc:

          Ngày 25 tháng 4, 1999 : Khoảng mười ngàn môn sinh Pháp Luân Công lặng lẽ tập họp chung quanh khu dinh thự Trung Nam Hải, nơi cư ngụ và hội họp của giới lănh đạo cao cấp nhất của chính quyền Trung Ương Trung Cộng tại thủ đô Bắc Kinh. Họ yêu cầu nhà cầm quyền chấp nhận cho họ được quyền tự do hoạt động trong ṿng luật pháp hiện hành. Chính Thủ tướng Chu Dung Cơ đă phải thân hành ra tiếp xúc với các đại diện của đoàn biểu t́nh để tạm thời dàn xếp và hứa hẹn với họ để cho họ giải tán êm thắm.

          Ngày 5 tháng 6, 1999: Chính quyền Trung Cộng yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ phải dẫn độ chưởng môn Phong Trào Pháp Luân Công là Lư Hồng Chí về lại Trung Quốc để luận tội, nhưng chính quyền Mỹ đă từ chối. Sau vụ yêu cầu không mấy "thông minh" này của Trung Cộng, các môn sinh Pháp Luân Công ở khắp nơi trên thế giới đă đến biểu t́nh trước các sứ quán của Trung Cộng tại các nơi này để phản đối yêu sách bất hợp pháp do chính quyền Trung Cộng tạo nên.

          Ngày 25 tháng 6, 1999: Tại Bắc Kinh và 6 thành phố lớn ở Trung Quốc đă có hơn mười bốn ngàn môn sinh lên tiếng yêu cầu chủ tịch Giang Trạch Dân ra lệnh cho chính quyền địa phương chấm dứt việc đàn áp và bắt bớ họ.

          Ngày 19 đến 20 tháng 7, 1999 Chính quyền Trung Cộng ban hành lệnh liệt Phong Trào Pháp Luân Công vào loại tổ chức bất hợp pháp có nguy hại đến nền an ninh quốc gia; tại các tỉnh có khoảng 70 cấp lănh đạo Pháp Luân Công bị bắt giam.

          Ngày 21 tháng 7, 1999: Tại Trung Quốc xảy ra nhiều vụ biểu t́nh tại 15 tỉnh và thành thị của các môn sinh Pháp Luân Công dưới h́nh thức kháng nghị bất bạo động và tham thiền để phản đối nhà cầm quyền Trung Cộng đă đàn áp và bắt bớ họ.

          Ngày 22 tháng 7, 1999: Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Giang Trạch Dân tuyên bố lên án Phong Trào Pháp Luân Công đă phá hoại nền an ninh quốc gia, đồng thời ra lệnh giải tán và bắt bớ môn sinh của tổ chức này; nếu môn sinh Pháp Luân Công là đảng viên của đảng Cộng Sản th́ người đảng viên bị bắt buộc phải ra khỏi Phong Trào này bằng không sẽ bị trừng trị và bị loại ra khỏi Đảng. Sau đây là bản thông cáo của Trung Ương ban hành lệnh cấm chỉ Pháp Luân Công tại các địa phương trên toàn quốc, kể cả các đảng viên cộng sản. Điều lệnh giới 13 của Trung Ương như sau:

          1. Không chấp nhận đảng viên luyện Pháp Luân Công. Đảng viên vi phạm sẽ bị khai trừ khỏi Đảng.

          2. Không chấp nhận đảng viên tham gia hoạt động cho Pháp Luân Công. Đảng viên vi phạm sẽ bị khai trừ khỏi Đảng và bị trừng trị nặng.

          3. Không chấp nhận bất cứ mọi đơn vị của chính quyền cung cấp nơi để luyện Pháp Luân Công. Đưa ra ṭa án h́nh sự.

          4. Không chấp nhận nhân dân xuất bản sách báo,và tuyên truyền . Đưa ra ṭa án h́nh sự.

          5. Không cho môn sinh Pháp Luân Công tập họp,biểu t́nh, đưa kháng nghị phản đối chính phủ. Bất tuân lệnh sẽ bị đàn áp thẳng tay và đưa ra ṭa án h́nh sự trị tội.

          6. Thành lập tiểu tổ để kiểm soát sự hoạt động của Pháp Luân Công tại các địa phương trên toàn quốc, cấm chỉ luyện tập thể dục theo Pháp Luân Công tại các công viên hay tại nhà. Cấm chỉ mọi phê b́nh, tuyên truyền phản đối chính phủ là phản động phản loạn. Cán bộ đảng viên vi phạm điều này sẽ bị cách chức, khai trừ khỏi Đảng,và bị đưa ra ṭa án h́nh sự trị tội.

          2. Trung Cộng mở chiến dịch tiêu diệt Pháp Luân Công.

          Sau khi hơn mười ngàn môn sinh Pháp Luân Công âm thầm bao vây trụ sở Trung Nam Hải tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 4, 1999, làm cho Trung Ương Đảng của Trung Cộng lo sợ đến nền an ninh quốc gia bị xáo trộn, nên Bộ Chính Trị đă hạ “Mật Lệnh” khẩn cấp triệu tập toàn bộ Ủy Viên Trung Ương về họp để t́m cách đối phó với tổ chức Pháp Luân Công. Dưới sự chỉ huy của Hồ Cẩm Đào được Cục Chính Trị ủy thác làm trưởng ban và có nhiệm vụ thành lập các tiểu ban, các tổ điều tra tại các tỉnh, thị, huyện, trấn trên toàn lănh thổ Trung Hoa. Phụ tá cho Hồ Cẩm Đào gồm có các ủy viên như La Cán, Giá Xuân Vượng, Hứa Vĩnh Diệu, Hồ Quang Bảo (Phó Chủ Nhiệm Văn Pḥng Trung Ương Đảng), Thôi Phúc (Phó Bí Thư Trưởng văn pḥng Quốc Vụ Khanh).

          Hồ Cẩm Đào hạ lệnh toàn bộ cán bộ hải ngoại thâu thập tất cả tài liệu liên quan đến môn phái Pháp Luân Công như phương hướng về chính trị và hoạt động của Lư Hồng Chí và các môn sinh tại Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ngoài ra dưới sự điều động của Phó Bộ Trưởng Bộ Công An Triệu Vĩnh Cát, Chúc Xuân Lâm chỉ huy 25 tiểu tổ,phối hợp với công an tại các khu, tỉnh, thị; mỗi tổ gồm 4 công an chuyên điều tra và theo dơi cấp thời những sinh hoạt của Pháp Luân Công để xem thử chúng có cấu kết ǵ với ngoại quốc hay không ? Ủy Ban Điều Tra đă phải điều động trên toàn quốc hơn 30 000 đảng viên, cán bộ công an để làm nhiệm vụ điều tra và sau đó đệ tŕnh toàn bộ tài liệu về Pháp Luân Công lên Cục Chính Trị Trung Ương. Đây là sự kiện quan trọng thứ hai làm cho Cục Chính Trị mất ăn mất ngủ sau vụ Thiên An Môn xảy ra cách đây hơn 10 năm. Ủy Viên Thường Vụ của Cục Chính Trị, sau khi đúc kết tài liệu vào thượng tuần tháng 7, đă đưa ra  3  ư kiến:

          1. Ư kiến của La Cán và Hồ Quang Bảo (trong Tổ chuyên lo về tài liệu): Nếu nhân nhượng Pháp Luân Công và cho hợp thức hóa th́ sau này sẽ rất nguy hiểm cho chế độ v́ môn phái này thu hút rất nhiều quần chúng và đảng viên của chúng ta; để rồi một ngày nào đó sẽ nổi loạn và có thể lật đổ chính quyền. Vậy xin đề nghị tức khắc giải tán môn phái này và dùng biện pháp mạnh để đàn áp hoặc thủ tiêu tại khắp nơi trên lănh thổ Trung Hoa. và  hải ngoại

          2. Ư kiến của Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ và Lư Bằng: Phải ra tay tấn công trước khi quá chậm. Chuẩn bị kế hoạch dùng mọi biện pháp để giải tán Pháp Luân Công dựa trên 3 phương diện: Bộ Dân Chánh (Pháp luật), Bộ Công An (Chuyên chánh) và Trung Ương Đảng (Đảng kỷ); ra tay tận diệt địch thủ từ trong trứng nước, không thể giải quyết ôn ḥa được, kéo dài thời gian không có lợi mà c̣n trở nên nguy hiểm đến nền an ninh quốc gia. Trong buổi họp Giang Trạch Dân đă phát biểu rằng Pháp Luân Công đă xuất đầu lộ diện từ lâu và đă bắt rễ hoạt động tại khắp nơi trên toàn quốc, kể cả thu hút các cán bộ trung cấp và hạ tầng cơ sở Đảng; trong khi đó th́ các quốc gia Tây Phương cứ tưởng rằng sẽ có một Thiên An Môn thứ hai tại Trung Hoa và t́m mọi cơ hội để hưởng lợi bằng cách cấu kết với Pháp Luân Công để trước là phá hoại và sau là lật đổ Đảng Cộng Sản của chúng ta.

          3. Ư kiến của Lư Đoan Hoàn và Lư Phong Thanh: Pháp Luân Công đă âm mưu dùng tà thuật làm mê hoặc dân chúng và cán bộ; nếu gặp cơ hội, Lư Hồng Chí sẽ xúi dục dân chúng chống lại chính quyền và cấu kết với mọi thế lực thù địch để thôn tính Trung Quốc. Do đó, ngay từ bây giờ ta phải tận lực tiêu diệt chúng; nếu để cho họ mọc rễ th́ sau này chúng ta sẽ hối hận không kịp. Đây cũng là một bài học để chúng ta giáo dục học tập đấu tranh cho đảng viên và cán bộ cao cấp Đảng, phải cảnh giác trong mỗi t́nh thế có nguy hại đến chế độ của chúng ta.

          Sáng ngày 18 tháng 7, 1999, Trung Ương Tổng Hợp Trị An Xă Hội của Trung Cộng mở đại hội toàn quốc gồm có các cán bộ thuộc Công An, An Toàn, Chánh Pháp (Tư Pháp), Bí Thư, Cục Trưởng, Viện Trưởng, khắp nơi về tham dự. Trong hội nghị này có Tư Lệnh Vơ Cảnh Dương Quốc B́nh và dưới sự chủ tọa của Bộ Trưởng Bộ Công An kiêm Bộ Đội Vơ Cảnh Đệ Nhất Chánh Ủy Giá Xuân Vượng. Chánh Trị Ủy Viên Trung Ương Đảng Thư Kư Chủ Nhiệm La Cán phát biểu trước đại hội rằng chủ đề của hội nghị là "tăng cường công tác an ninh bảo vệ Quốc Khánh kỷ niệm 50 năm thành lập Cộng Sản Trung Cộng Trung Quốc, kiên quyết dẹp tan tổ chức Pháp Luân Công đem tà thuyết mê tín dị đoan tuyên truyền phá hoại xă hội chủ nghĩa Trung Cộng sau đây là chương tŕnh bố trí và hành động đàn áp:

          1. Cấm tập họp luyện khí công từ 3 người trở lên của Pháp Luân Công.

          2. Tập trung lại một chỗ, đem trả họ về nguyên quán, nguyên đơn vị họ trú ngụ, kiểm soát họ tại mỗi địa phương.

          3. Sau khi đưa họ về địa phương, đơn vị Đảng tại đây có trách nhiệm giáo dục họ từ bỏ và kiểm soát, cấm đoán luyện Pháp Luân Công.

          4. Đơn vị công an, cơ quan sở tại có nhiệm vụ lưu trữ hồ sơ và quản chế họ dưới mọi h́nh thức.

          5. Đối với những cán bộ chỉ huy cao cấp của Pháp Luân Công, phải đem ra xét xử thật nặng, c̣n đối với quần chúng biểu t́nh tại các cơ quan chính phủ hay cơ quan Đảng đều phải dẹp tan và trừng phạt xử lư đích đáng.

          6. Những phần tử phiến động dùng bạo lực với cơ quan chính phủ hay Trung Ương cao tầng lănh đạo, phải đàn áp giải tán, nếu cần có thể nổ súng.

          7. Những hành động phá hoại các cơ quan sở tại đều bị đem ra xét xử.

          8. Những cán bộ đảng viên hay công chức tham gia Pháp Luân Công đều bị khai trừ khỏi Đảng và cách chức, đem ra pháp lư xử tội.

          Trung Ương Đảng đưa ra 5 điều nên cảnh giác và toàn quốc thống nhứt hành động:

          1. Hoa Kỳ giúp đỡ và can thiệp cho những phần tử phản động chống lại Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

          2. Những quốc gia Tây Phương đă dựa vào những tổ chức quốc tế nhân quyền hay cơ quan từ thiện, nhằm mục đích giúp đỡ và can thiệp cho những phần tử chống lại Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

          3. Những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại cấu kết với thế lực ngoại bang hầu muốn lật đổ chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc.

          4. Khu vực Đài Loan có Lư Đăng Huy dùng kinh tế làm lợi điểm như hợp tác kinh tế giao thương và t́m cách gài gián điệp xâm nhập vào hạ tầng cơ sở của chúng ta, hoặc mua chuộc các cán bộ cao cấp, với mục đích chờ cơ hội tổng nổi dậy lật đổ chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc.

          5. Tại Hồng Kông, các phần tử chống đối lợi dụng qui chế tự do của chánh quyền Hồng Kông, t́m cách hô hào đồng bào tại đây phản đối lại chánh quyền Trung Cộng bằng mọi h́nh thức, để phá hoại nền an ninh của Trung Cộng .

          Sau hội nghị, từ ngày 19 đến 21 tháng 7, 1999, tại 22 thành thị, các địa khu, kể cả Bắc Kinh, Thiên Tân, Thạch Gia Trang, Đại Liên, Phiên Dương, Duy Phương, Yên Đài, Vũ Hán, Quảng Châu, Thẩm Xuyên, Liên Vân Cảng, Thái Nguyên, Đại Đồng, Trường Trị, Trương Gia Khẩu, Bổn Khê, Dương Tuyền, Cẩm Châu v..v..., đưa ra chiến dịch càn quét, bắt giữ 150 cán bộ nồng cốt của Pháp Luân Công sau đây là danh sách cán bộ cao cấp Đảng Cộng Sản Trung Quốc tham gia Phong Trào Pháp Luân Công được liệt kê như sau:

          Cựu Cố Vấn Ủy Viên Trung Ương họ Trương; Cựu Phó Chánh Ủy Quân Khu Côn Minh họ Hồ; Cựu Phó Chủ Tịch Tổng Công Đoàn tỉnh Hà Nam họ Trầm; Cựu Ủy Viên Hành Chánh Phó Chủ Nhiệm Thành Phố Thiên Tân họ Lư; Chánh Ủy Thiên Tân Cảnh Bị Khu Hậu Cần họ Khương; Cựu Phó Chủ Nhiệm Ủy Viên Hành Chánh tỉnh Hắc Long Giang họ Hàn; Cựu Chủ Nhiệm Ủy Viên Ngoại Sự Vụ tỉnh Liêu Ninh họ Tống; Cựu Chủ Nhiệm Đảng Hiệu tỉnh Hà Bắc kiêm Phó Hiệu Trưởng Mác Lê Chủ Nghĩa Nghiên Cứu Sở họ Viên; Cựu Cố Vấn Đảng Trung Cộng Nghiên Cứu Trung Ương họ Tiêu; Phó Thị Trưởng Bắc Kinh Ủy Viên Thường Vụ họ Trương; Cựu Thị Trưởng Bắc Kinh họ Lư; Cựu Thư Kư Thành Phố Thượng Hải họ Hồ; Cựu Thư Kư Tỉnh Ủy tỉnh Hắc Long Giang họ Thiệu; Cựu Thư Kư Ủy Viên Thành Phố Quảng Châu họ Tiêu.. Theo văn kiện số 13 của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Cộng đưa ra th́ khoảng 1/10 số môn sinh của Pháp Luân Công là đảng viên của họ. Nhưng họ lại giảm thiểu số môn sinh Pháp Luân Công xuống chỉ c̣n khoảng hơn 2 triệu người chứ theo tài liệu báo chí quốc tế th́ số môn sinh của pháp môn này lên tới 80 triệu, trong khi đó số đảng viên đảng Cộng Sản Trung Cộng chỉ có 60 triệu thôi.

          3. Hồng Tú Toàn là ai ?

          Vào năm 1840, nhất là sau khi thua liệt cường Anh, Pháp, Mỹ và Nga trong cuộc chiến tranh nha phiến, triều đ́nh Măn Thanh đă yếu sẵn lại c̣n gặp nhiều thiên tai làm cho dân gian bị đói kém khắp nơi, từ đó sinh ra trộm cướp lộng hành v́ chính quyền quá ư bất lực nên không giữ được an ninh cho dân chúng. Trong hai năm liên tiếp, từ 1847 đến 1849, v́ thiên tai trời giáng xuống khắp nơi trên lục địa, không có tỉnh nào là không bị nạn đói hoành hành, nặng nhất là ở hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ở miền Nam. V́ quan quân triều đ́nh Măn Thanh không ǵn giữ được trật tự nên đất nước Trung Hoa đă rơi vào t́nh trạng hỗn loạn, không có luật pháp, tạo nên một môi trường quá ư thuận tiện cho một cuộc nổi loạn vơ trang qui mô và chỉ thiếu một điều kiện duy nhất là người lănh đạo để hướng dẫn quần chúng. Trong thế bí đó th́ Hồng Tú Toàn xuất hiện giữa đám nông dân bất măn này và được họ chấp nhận làm thủ lănh của họ ngay.

          Hồng Tú Toàn sinh năm 1812 tại Quảng Châu, trong một gia đ́nh nông dân khá giả vào bậc trung và được coi là thông minh hơn hai anh của y nên được cha mẹ cho đi học để rồi sẽ thi vào làm thư kư trong chính quyền cấp huyện của triều đ́nh Măn Thanh. Nhưng v́ y có số làm “vua” nước Trung Hoa thay v́ làm viên thư kư quèn ở huyện sở tại cho nên y bị đánh rớt liên tiếp trong ba kỳ thi. Sau khi bị rớt lần thứ ba, Hồng Tú Toàn buồn quá nên bị ốm nặng với hôn mê luôn trong 40 ngày. Khi y tỉnh lại th́ y bảo với người trong gia đ́nh là trong khi hôn mê y có gặp Đức Chúa Cha và Đức Chúa Giê Su và được nghe truyền rằng Chúa Giê Su là con trưởng và y là con thứ của Đức Chúa Cha. Đọc giả nên nhớ Hồng Tú Toàn là một con chiên thuần thành của Thiên Chúa giáo. Y cho biết Đức Chúa Cha ra lệnh cho y phải tiêu diệt bọn quỷ sứ, và khi y tỉnh dậy th́ y bảo lũ quỷ đó chính là người Măn Thanh. Tuy nhiên Hồng Tú Toàn không đứng ra lănh đạo ngay cuộc nổi dậy của quần chúng v́ măi đến 1843, y c̣n đi thi vào ngạch thư kư huyện một lần thứ tư nữa, nhưng vẫn bị đánh rớt như ba lần trước nên y trở nên bất măn chính quyền vô cùng và quyết tâm dựng cờ khởi nghĩa nhằm lật đổ chính quyền Măn Thanh cho kỳ được. Trong 6 vị tướng đầu tiên theo Hồng Tú Toàn, chỉ có 3 vị có đôi chút học thức, c̣n 3 người kia th́ hai người là nông dân, người tướng c̣n lại giỏi nhất trong sáu người là Dương Tú Thanh, một người thợ làm than quả bàng khi y bỏ nghề này để đi theo “cách mạng”. Ban đầu cuộc nổi loạn chỉ ở trong phạm vi miền Đông Nam tỉnh Quảng Tây, nhưng dần dần lan rộng qua những tỉnh khác nhờ lôi cuốn được thành phần nông dân bất măn, một phần v́ sưu cao thuế nặng và một phần v́ đói kém. Đến mùa đông năm 1850, Hồng Tú Toàn dựng cờ khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân Trung Hoa cùng đứng lên quyết lật đổ triều đ́nh Măn Thanh. Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến với liệt cường Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Ḥa Lan và bị thất trận nặng nề để rồi phải cắt đất ở Thượng Hải nhường cho liệt cường, Nhà Thanh trở nên quá yếu kém, suy nhược đến mức không đương đầu nổi với quân cách mạng của Hồng Tú Toàn, rồi mất đất dần dần và đến năm 1853 th́ mất Nam Kinh.

          Sau khi chiếm được Nam Kinh, Hồng Tú Toàn tự xưng ḿnh là Thiên Vương, đặt tên nước là Thái B́nh Thiên Quốc. Trong cuộc bắc tiến của quân “cách mạng”, có hai hạng người bị họ Hồng ra lệnh tiêu diệt: đó là quan lại triều đ́nh Măn Thanh, tăng ni Phật giáo và chức sắc của Lăo giáo (Taoism). Hồng Tú Toàn chỉ chấp nhận Thiên Chúa Giáo mà thôi. Đó là chế độ Cộng Sản không hơn không kém. Tất cả đất đai đều thuộc về quốc gia, tài sản tư nhân bị hủy bỏ. Mỗi một gia đ́nh được nhà nước cấp cho một khoảnh đất lớn hay nhỏ tùy theo gia đ́nh đông con hay ít con. Quyền lợi của phụ nữ ngang với nam giới. Sau mỗi vụ mùa,mỗi gia đ́nh chỉ có quyền giữ một số lượng thóc lúa vừa đủ chi dụng trong gia đ́nh cho đến vụ mùa tới, số lượng thặng dư phải nạp cho nhà nước. Vùng nào mất mùa đói kém sẽ được sự trợ giúp của những vùng được mùa. Phụ nữ được trọng dụng trong các cơ quan chính quyền, được khuyến khích đi học và điều đặc biệt là có quyền sung vào quân đội cho nên có nhiều phụ nữ lập được nhiều chiến công hiển hách trong quân đội cách mạng. Hồng Tú Toàn cấm tuyệt đối chế độ đa thê. Cũng cấm chuyên chở và hút nha phiến, kẻ nào vi phạm sẽ bị tử h́nh. Một sắc lệnh khác phán rằng chúng ta sẽ chia xẻ cùng nhau thành quả thu hoạch được trong khi chung lưng góp sức gánh vác công việc. Chúng ta chia xẻ cùng nhau tiền bạc, áo quần, thực phẩm. Phải chấm dứt t́nh trạng cơ hàn của dân chúng. Chế độ cộng sản của Hồng Tú Toàn ra đời 4 năm sau khi bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản được công bố ở Âu Châu và trong thời kỳ đó, mọi người ở Trung Hoa đều hoàn toàn không hay biết ǵ về bản tuyên ngôn này. Thành thử một trăm năm trước Mao Trạch Đông, trên lục địa Trung Quốc, Hồng Tú Toàn đă thiết lập một chế độ cộng sản dựa trên t́nh thương của Thiên Chúa Giáo, chứ không coi tôn giáo là một loại á phiện như cộng sản ở thế kỷ 20. Thế tại sao Thiên Vương Hồng Tú Toàn lại thất bại mặc dầu đă chiếm được hơn nửa lănh thổ Trung Hoa, lập ra Thái B́nh Thiên Quốc và cai trị nước này được 16 năm trời kể từ ngày phát động cuộc “cách mạng” chống lại triều đ́nh Măn Thanh? Lư do thứ nhất là chia rẽ nội bộ đưa đến thanh toán lẫn nhau. Lư do thứ hai là thiếu nhân tài để gánh vác việc nước v́ những người giỏi trong hai tôn giáo lớn như Phật giáo và Lăo giáo đều lánh mặt sau khi tôn giáo của họ bị chính quyền khủng bố. Lư do thứ ba - lư do quyết định - là sự can thiệp của liệt cường Anh, Pháp vào cuộc nội chiến giữa triều đ́nh Măn Thanh và chính quyền Thái B́nh Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn. Sở dĩ hai nước Anh và Pháp phải tận lực giúp tài chánh, vũ khí, huấn luyện viên quân sự cho Nhà Măn Thanh là v́ Hồng Tú Toàn chủ trương chính sách bài ngoại, nếu ông ta thắng th́ liệt cường sẽ mất tất cả những ǵ triều đ́nh Măn Thanh đă nhường cho họ sau khi bị thua trận chiến tranh Nha Phiến: mở một số hải cảng để cho tàu bè của liệt cường vào buôn bán như Quảng Châu, Áo Môn, Thượng Hải; nhượng đảo Hồng Kông cho Anh quốc; đóng cho liệt cường gần 50 triệu mỹ kim về bồi thường chiến tranh. Và cũng nhờ có sự tiếp tay đắc lực và hữu hiệu của hai nước Anh và Pháp nên quân đội của triều đ́nh Măn Thanh mới chiếm lại được những lănh thổ đă bị mất từ trước và đến mùa hè 1864 th́ quân đội chính quyền Măn Thanh dưới sự điều động của tướng Tăng Quốc Phiên mới vây hăm thủ đô Nam Kinh trong 55 ngày trước khi đột nhập vào thành. Một trăm ngàn quân của Hồng Tú Toàn nhất định không chịu đầu hàng quân Thanh và đều tự thiêu để t́m cái chết theo chúa v́ Hồng Tú Toàn - thấy t́nh h́nh không ổn - nên đă tự sát cách đó một tháng trước khi Nam Kinh thất thủ. Sau khi Nam Kinh thất thủ, con trai của Hồng Tú Toàn chạy thoát được ra khỏi thành nhưng rồi sau đó cũng bị quân Măn Thanh bắt lại và giết chết. Tuy Hồng Tú Toàn làm vua chỉ được có 16 năm thôi nhưng vẫn lưu được nhiều cảm t́nh trong giới nông dân v́ mọi người đều được no ấm chứ không bị nạn đói thường trực đe dọa như dưới chế độ triều đ́nh Măn Thanh. Giờ đây, dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh Giang Trạch Dân, rồi đến Hồ Cầm Đào  người nông dân Trung Hoa bị cấp cán bộ cộng sản bóc lột tận xương tủy nên vẫn bị đói kém triền miên như cách đây 140 năm, dưới triều đại Nhà Măn Thanh vậy. Mà hễ nông dân bị đói kém, không trước th́ sau họ cũng sẽ nổi dậy chống lại chính quyền cộng sản của họ Giang hay họ Hồ.

          4. Kinh Tế Quốc Doanh Trung Cộng  

          Từ đầu năm 1999 cho đến nay, các quan sát viên quốc tế thường theo dơi t́nh h́nh chính trị Trung Cộng, đều có một nhận xét chung giống nhau là Giang Trạch Dân - càng muốn được vinh danh trong nước và kính nể ở ngoài nước chừng nào - th́ bước chân độc tài đảng trị của y lại dẫm lên vô số vỏ chuối do chính đảng Cộng Sản Trung Cộng của y đă rải ra trên con đường của y đi. Trung Cộng đă thành công trong việc bần cùng hóa nhân dân Trung Hoa, nhưng lại hữu sản hóa lũ cán bộ cộng sản cầm quyền, biến chúng thành triệu phú và tỷ phú đô la. Nhưng nếu có một cái nh́n bao quát - nhất là về mặt kinh tế - th́ quả thật nền kinh tế Trung Cộng đang trên đà xuống dốc. Mặc dầu trong năm 1999 chính quyền cho tăng vọt thị trường chứng khoán để câu dân chúng nhưng họ vẫn thờ ơ nên 719 tỷ mỹ kim kư thác trong các ngân hàng để đề pḥng những ngày thất nghiệp đen tối có thể xảy ra bất cứ lúc nào không hay, vẫn nằm nguyên trong các ngân hàng. Theo các nhà kinh tế gia và các chuyên viên tài chánh th́ việc thị trường chứng khoán bỗng nhiên tăng vọt chả dính líu ǵ đến nền kinh tế lung lay của nhà nước hiện nay. Sự phát triển ngày càng sút kém, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, đầu tư ngoại quốc xuống dốc lôi theo cán cân thặng dư về thương măi. Theo Hứa Tiểu Niệm, tổng giám đốc cục nghiên cứu của China International Capital Corp., một liên doanh ngân hàng chuyên về đầu tư của Bank of China và Morgan Stanley, th́ dân chúng nghĩ rằng sở dĩ Nhà Nước tưởng rằng một khi đưa thị trường chứng khoán lên cao rồi, nó sẽ không tuột xuống được nữa. Nhưng cấp lănh đạo Nhà Nước có biết đâu là họ không có quyền làm như vậy được và khi quả bong bóng nổ tung th́ mọi người sẽ bị tổn thương. Hứa Tiểu Niệm và một số kinh tế gia khác đều nói là những nhà lănh đạo Trung Cộng, giờ đây vẫn c̣n tin tưởng là họ có thể ra lệnh cho đất nước này có một nền kinh tế khả quan hơn giống như những vị tiền nhiệm của họ trong những thập niên 50, 60 và 70. Họ có biết đâu là sự tăng trưởng do họ ra lệnh chỉ có trên giấy cho có lệ mà thôi, chứ làm ǵ có chuyện tăng trưởng đó trên thực tế. Chính quyền Trung Cộng cứ tưởng rằng - khi nền kinh tế xuống dốc - th́ chính phủ cứ việc tung tiền ra chi tiêu cho thật nhiều và thế là xong, mọi việc khó khăn sẽ qua đi. Nhưng họ đă chi ra gần 15 tỷ mỹ kim - trong năm 1998 - để xây thêm cầu cống và làm thêm đường sá, nhưng rốt cục chả có ảnh hưởng ǵ vào sự tuột dốc của nền kinh tế. Ngoài ra chính phủ c̣n phát hành thêm 30 tỷ mỹ kim công khố phiếu và khuyến khích dân chúng nên tiêu xài về nhà cửa, xe cộ v..v.. Nhưng chính sách này cũng có ba giới hạn của nó.

          A. Vấn đề đầu tiên là người tiêu thụ Trung Hoa hạn chế việc tiêu pha và để dành khoảng 40% tiền lợi tức của họ. V́ vậy mà chương mục để dành tiền trong ngân hàng của họ nay lên tới 719 tỷ mỹ kim.

          B. Vấn đề thứ hai là chính phủ, trong năm 1999, cũng đă có dự tính tung thêm mươi tỷ mỹ kim nữa để tiếp tục xây thêm xa lộ đồng thời giảm thiểu nạn lạm phát, nhưng việc tung tiền này cũng có giới hạn chứ đâu có thể làm hoài măi được, v́ ngân sách thâm thủng được dự trù cho năm 1999 là 30 tỷ mỹ kim nhưng nay đă vượt quá con số này rồi v́ vậy chính quyền hiện đang rất cần tiền nhưng không biết đào đâu ra.

          C. Vấn đề cuối cùng không kém phần trầm trọng như hai vấn đề trên là các ngân hàng nhà nước không thu hồi được tiền cho các công ty quốc doanh vay nợ là một cú đấm tai hại vào nền kinh tế quốc gia. C̣n nhà nước tung khoảng 100 tỷ mỹ kim ra ngoài thị trường để làm tăng vọt giá các cổ phần như ở Thẩm Chấn hay ở Thượng Hải tạo nên một t́nh trạng tăng trưởng tự sát rất nguy hiểm. Cũng theo Hứa Tiểu Niệm th́ cấp lănh đạo chính quyền Trung Cộng cũng như Cộng Sản Việt Nam không hiểu được chức năng thực sự của thị trường tư bản,và cứ tưởng rằng đó chỉ là một nguồn tài chánh để tài trợ cho các xí nghiệp quốc doanh thiếu khả năng;nhưng các vị lănh đạo này có biết đâu hay biết rơ mà giả vờ không biết là hầu hết các xí nghiệp quốc doanh đều toàn là những chiếc thùng không đáy, bỏ vốn vào bao nhiêu là mất bấy nhiêu,và không bao giờ có hy vọng mang về cho người chung bạc lấy một đồng xu nhỏ thôi ! V́ lư do tư tưởng Mác Xít gắn liền với quyền lợi của cán bộ và lo ngại về sự ổn định trong xă hội, nên cấp lănh đạo tối cao của nhà nước Trung Cộng luôn luôn cố gắng bảo vệ cho kỳ được nền kỹ nghệ quốc doanh của họ. Hiện nay Trung Cộng có 16,000 (mười sáu ngàn) xí nghiệp quốc doanh và số công nhân trong ngành này lên đến vài chục triệu người. Sự sụp đổ của ngành xí nghiệp quốc doanh sẽ tạo bất ổn tại nhiều thị trấn và báo hiệu cho sự sụp đổ nay mai của Đảng Cộng Sản Trung Hoa.

          Vào thập niên 1970, chính quyền xuất tiền của ngân khố ra để cứu nguy cho một số xí nghiệp quốc doanh bị lâm nguy về tài chánh. Nhưng kể từ 1978 khi chính quyền áp dụng những cải cách mới th́ việc tài trợ này được chuyển qua cho các ngân hàng quốc gia. Giờ đây, theo ông Hứa Tiểu Niệm, các lănh tụ Trung Cộng muốn thị trường chứng khoán của họ trở thành dây hồi sinh của các xí nghiệp quốc doanh; và rất có thể đây là "buổi cơm tối cuối cùng" để rồi sau đó không có thể t́m đâu cho ra tiền được nữa ! Viễn ảnh nội bộ của Trung Cộng quả thật vô cùng bi đát, trong khi đó th́ những khó khăn về đối ngoại cũng không mấy sáng sủa cho lắm !. Ngày 11 tháng 9, 1999 tại Auckland ở Tân Tây Lan, trong cuộc hội nghị về kinh tế trong vùng, tổng thống Clinton đă cảnh cáo thẳng Giang Trạch Dân về những hậu quả trầm trọng có thể xảy ra nếu Trung Cộng dùng biện pháp vơ lực đối với Đài Loan. Và Giang Trạch Dân đă trả lời đốp chát lại rằng Trung Cộng chưa bao giờ loại trừ biện pháp dùng vơ lực để đối phó với Đài Loan, đồng thời quay trở lại trách cứ Mỹ về việc tiếp tục bán thêm vơ khí cho nước này, và như vậy chỉ làm cho t́nh h́nh càng thêm căng thẳng. Tuy t́nh trạng ngoại giao đối với Hoa Kỳ không được tốt đẹp cho lắm nhưng không đến mức lâm vào t́nh trang gay cấn; trái lại những khủng hoảng nội bộ của Trung Cộng mới là nan giải. Vấn đề nhức đầu số một của Trung Cộng là phải đương đầu với đoàn viên của môn phái Pháp Luân Công. Ngày 7 tháng 5, 1999, không quân Mỹ ném 5 quả bom xuống sứ quán Trung Cộng ở thủ đô Belgrade của Nam Tư, tiêu hủy đài truyền h́nh của Milosevic đặt lén tại nơi đây, đồng thời phá tan trung tâm t́nh báo chiến lược của Trung Cộng tại Âu Châu và giết chết viên đại tá trung tâm trưởng cùng một lúc với viên phụ tá và 29 điệp viên chiến lược cao cấp khác của y,đă đưa đến sự việc như sau là vấn đề ngoại giao giữa Mỹ và Trung Cộng ngày càng trở nên căng thẳng. Tổng Thống Clinton trước kia hay nhượng bộ Giang Trạch Dân lănh tụ Trung Cộng, th́ nay trước sự chỉ trích ngày càng nhiều của báo chí. Hoa Kỳ đă thay đổi thái độ và trở nên cứng rắn.  

          5. Trung Cộng Diệt chủng Dân Tây Tạng.

           Cách đây năm mươi hai năm địa danh Tây Tạng rất là mơ hồ đối với mọi người, nhưng từ đầu thập niên1950, khi Trung Cộng xua quân đội qua xâm chiếm nước này th́ lúc đó người ta mới bắt đầu chú ư đến Tây Tạng và vị lănh đạo tinh thần nước này là Đức Đạt Lai Lạt Ma, hiện đang lưu vong cho đến ngày nay tại miền Bắc Ấn Độ,thị trấn Dharamsala. Báo chí Tây Phương khi thu được h́nh của Giang Trạch Dân vào ống kính lúc y bị cật vấn về Tây Tạng là một cơ hội luôn luôn làm cho họ vô cùng thích thú: trong lúc viếng thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ năm 1997 cũng như trong lúc Trung Cộng tiếp TT Clinton tại Bắc Kinh, báo chí nhận xét là Giang Trạch Dân có thái độ lạnh nhạt lúc thảo luận về mức tăng nhanh của vũ khí nguyên tử hay khi bàn đến nhân quyền. Nhưng lúc đề cập đến vấn đề Tây Tạng th́ mắt của ông ta trở nên đăm chiêu, tay nắm chặt, rồi ông ta lập lại câu sáo ngữ khoe khoang thường lệ là Trung Quốc đă biến Tây Tạng từ một nước tối tăm lạc hậu thành một nước giải phóng văn minh, và sau đó ông ta nói lăng sang vấn đề khác. Sau khi Trung Cộng chiếm Tây Tạng th́ diện tích của Trung Hoa tăng thêm được một phần tư, và chính quyền ngay sau đó mở một chiến dịch vĩ đại di dân Hán vào vùng này như họ đă làm trước đây ở Nội Mông Cổ. Ư đồ của Trung Cộng là biến miền cao nguyên Tây Tạng làm nơi triển khai và sản xuất vũ khí lư tưởng v́ tránh được sự chú ư của người ngoại quốc. Đệ Cửu Học Viện một nơi chuyên nghiên cứu về quân sự của Trung Cộng giống như Los Alamos của Hoa Kỳ, được xây cất từ nhiều năm nay tại vùng Đông Bắc Tây Tạng, gần nơi chôn nhau cắt rốn của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tây Tạng đối với Trung Cộng là một vùng đất mới có nhiều sông, suối, gỗ, khoáng sản, đặc biệt là có mỏ Uranium lớn vào bậc nhất trên thế giới. Và có thể đó là một trong những lư do thầm kín khiến chính quyền "Cờ Hoa" luôn luôn bênh vực nhân dân Tây Tạng trong lănh vực "nhân quyền", nhưng đằng sau b́nh phong nhân quyền người ta lại thấy thấp thoáng cái bóng của "Hoa Kỳ Quyền" càng ngày càng thêm rơ rệt. Chiếm được Tây Tạng, Trung Cộng có biên giới chung với Ấn Độ, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Kashmir, và có một vị trí chiến lược ưu thế trong mọi tranh chấp chính trị trong vùng này. Cũng v́ vậy mà Ấn Độ mới giang tay tiếp đón và giúp đỡ tận t́nh cho chính phủ lưu vong của Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng khi nước này bị Trung Cộng xâm lăng.

          Ngày 3 tháng 5, 1999, bộ trưởng Quốc Pḥng Ấn, George Fernandes, lúc tuyên bố trên đài truyền h́nh sở dĩ có quyết định của chính phủ Ấn Độ cho thử một loạt vũ khí hạch tâm là v́ "Trung Cộng là kẻ thù số 1 của Ấn Độ". Những người thường theo dơi vấn đề Tây Tạng không hiểu tại sao Trung Cộng luôn luôn tránh né thảo luận chi tiết mọi vấn đề có dính líu đến nhân quyền nước này và lật đật t́m cách chấm dứt ngay mỗi khi nhắc đến, h́nh như có vẻ sợ người đối thoại chuyển câu chuyện qua vấn đề khác như vị trí chiến lược hay tài nguyên c̣n nằm dưới đất mà chưa được khai thác của Tây Tạng chẳng hạn. Đă có lần TT Clinton gợi ư cho Giang Trạch Dân nên có một cuộc gặp gỡ giữa ông ta với Đức Đạt Lai Lạt Ma để cho Tây Tạng được hưởng chế độ tự trị rộng răi th́ nét mặt họ Giang bộc lộ vẻ băn khoăn rơ rệt. Mặc dầu hiến pháp và luật pháp Trung Cộng công nhận quyền tự trị của Tây Tạng, nhưng Đảng Cộng Sản Trung Hoa cũng như Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân bao giờ cũng đứng trên hiến pháp và luật pháp của chính họ làm ra. Giờ đây quân đội Trung Cộng là cơ quan đầu năo kiểm soát việc khai thác các tài nguyên của Tây Tạng như lâm sản, khoáng sản như: than đá, uranium, sắt, đồng, chromium, muối, thiết, lithium, vàng và dầu hỏa; và chính những tài nguyên này đang làm giàu cho Trung Cộng. Nếu họ lơi tay th́ lấy đâu ra tiền để mở mang và kỹ nghệ hóa miền cao nguyên Tây Tạng trong tương lai gần đây, nhất là khi viễn ảnh kiếm không ra 25 tỷ đô la để có thể tiếp tục công tŕnh xây cất đập Tam Cổ trên sông Dương Tử đang ló dạng ở chân trời phương đông. V́ những lư do nêu trên mà các nhà lănh đạo Trung Cộng luôn luôn tránh né thảo luận bất cứ vấn đề ǵ liên quan tới Tây Tạng. Nhưng họ có thể kéo dài vấn đề này đến bao lâu nữa th́ không ai có thể trả lời được, may ra ngoại trừ Hoa Kỳ, nhất là sau khi hăng thông tấn Tân Hoa Xă của Nhà Nước Trung Cộng vừa loan tin cách đây không lâu là chuyên viên địa chất vừa mới t́m được mỏ dầu hỏa dưới lưu vực Luanpola của Tây Tạng và mỏ này sẽ được khai thác sau khi hoàn tất xong các công tác thiết kế đầu tiên. Nói th́ dễ mà đến khi bắt tay vào làm mới thấy khó nhất là đối với một nước như Trung Cộng mà kỹ nghệ dầu hỏa không mấy phát triển có thể khai thác mỏ dầu Luanpola. Trong khi chờ đợi th́ lại xảy ra vụ kiều dân Hoa Kỳ gốc Tây Tạng Daja Meston bị công an Trung Cộng dùng cực h́nh tra tấn, đến nỗi chịu không được phải nhảy lầu để tự tử, khiến phe chủ trương "Hoa Kỳ phải tránh xa khỏi Trung Cộng" càng ngày càng làm áp lực mạnh với chính quyền Hoa Kỳ. Nói cho ngay, chính Giang Trạch Dân cũng chả hay biết ǵ về vụ tra tấn dă man Daja Meston, một nhà ngôn ngữ học gốc Tây Tạng, ở Newton,tiểu bang Massachusetts (Hoa Kỳ) bị công an Trung Cộng bắt ngày 15 tháng 8, 1999, tại tỉnh Thanh Hải thuộc miền Tây Bắc xa xôi của nước Tàu; rất có thể chính họ Giang cũng không muốn sự việc này xảy ra, nhất là trong khi Giang Trạch Dân đang rất mong muốn xáp lại gần Hoa Kỳ. Tuy nhiên sự việc đó đă chứng minh rơ ràng bộ mặt thực của một chế độ mà Giang Trạch Dân chỉ thống trị chứ không kiểm soát được. Và cho đến bây giờ nước Trung Hoa hơn nửa thế kỷ sống dưới chế độ cộng sản hầu như cô lập giữa cộng đồng thế giới, vẫn không hề thay đổi chút nào về những biện pháp tra tấn, kềm kẹp dă man của họ đối với người dân vô tội. Kể từ khi Đảng Cộng Sản Trung Hoa nắm chính quyền.Người đảng viên cộng sản trong nửa thế kỷ nắm quyền sinh sát dân chúng trong tay họ về công an cảnh sát và quân đội, nói chung là bộ máy đàn áp nhân dân, nay - nếu có bị hạn chế phần nào đi nữa - th́ sự phản xạ của chế độ chuyên chế thời xưa có thể xuất hiện trở lại bất cứ lúc nào và bất cứ đối với ai. V́ vậy khi nghe Cộng Sản Hà Nội mồm nói đỗi mới hô hào tự do chống Đảng ta đừng vội tin , v́ hơn ai hết chúng  ta hiểu Cộng Sản chỉ là một lủ lường gạt không hơn không kém , phải nhận diện chúng cho dù chúng nấp dưới h́nh thức nào.

          Câu chuyện xảy ra tại tỉnh Thanh Hải thuộc miền Tây Bắc xa xôi giáp ranh với Tây Tạng, lúc Daja Meston 29 tuổi, dân Hoa Kỳ gốc Tây Tạng, cùng với một người bạn đồng nghiệp Úc và người thông dịch viên Tây Tạng đang làm phóng sự về một chương tŕnh định cư một số tá điền gốc người Hán vào một vùng đất trước kia thuộc lănh thổ Tây Tạng. Ba người này bị bắt và bị tống giam về tội mở cuộc "điều tra bất hợp pháp" và khi bị tra tấn quá khắc nghiệt th́ Meston đă nhảy qua cửa sổ lầu 3 để tự tử, nhưng không chết và bị găy xương sống. Người bạn đồng nghiệp người Úc th́ bị chính quyền Trung Cộng trục xuất, viên thông ngôn Tsering Dorje và khoảng 12 người dân địa phương được họ phỏng vấn cũng bị công an bắt luôn và cho đến nay không ai biết số phận họ ra sao v́ biệt vô âm tín. Câu chuyện này bổng nhiên trở thành quan trọng v́ nó xảy ra đúng vào lúc Ngân Hàng Thế Giới đang xét đơn vay 40 triệu mỹ kim của chính phủ Bắc Kinh về vụ định cư dân Hán vào vùng đất nói trên - một vùng đất hiện nay đang được một số cán bộ đông đảo thuộc "tích cực chủ nghĩa" (activism) và cán bộ bảo vệ môi sinh lên tiếng bênh vực và họ đă đứng lên phản đối chính quyền Bắc Kinh. Nếu Bắc Kinh được Ngân Hàng Thế Giới cho vay 40 triệu mỹ kim - số tiền tuy không to lớn cho lắm - nhưng giúp Bắc Kinh chứng minh với thế giới là hành động của họ trên lănh thổ Tây Tạng đă được thế giới chấp nhận. Trước khi xảy ra vụ tra tấn Meston một người dân Hoa Kỳ chính quyền Bắc Kinh đă hứa với Ngân Hàng Thế Giới là họ sẵn sàng để cho phóng viên báo chí quốc tế tự do vô ra vùng đất nói trên để làm phóng sự. Thế nhưng đến khi phái đoàn Meston vào điều tra và làm phóng sự vùng đất này, th́ chính quyền Bắc Kinh liền nuốt lời hứa và trở mặt ngay, để rồi đi đến chỗ bắt bớ, câu lưu và tra tấn dă man họ. Theo điều lệ của Ngân Hàng Thế Giới, trước khi cho nước nào vay tiền th́ họ phải điều tra xem những người dân sở tại có được tham khảo ư kiến đầy đủ về dự án mà họ tài trợ hay không đă, rồi mới chi tiền sau.

          Nhưng họ quên mất rằng họ phải nói chuyện với một quốc gia đang ở dưới một chế độ chính trị mà mọi quyền phát biểu tự do của người dân đều bị cấm đoán. Sau khi xảy ra vụ Meston, chính quyền Clinton đă can thiệp ngay với cấp lănh đạo Ngân Hàng Thế Giới và cho ngân hàng này hay rằng Hoa Kỳ chống lại việc cho Trung Cộng vay 40 triệu mỹ kim, cho nên vụ vay mượn này đă bị đ́nh lại cho đến khi có lệnh mới của ngân hàng. Càng ngày càng thấy chính quyền Clinton không bỏ lỡ cơ hội nào để làm khó dễ Giang Trạch Dân trước khi y ăn mừng ngày khai sinh của Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại thủ đô Bắc Kinh. Hiện nay vùng cao nguyên rộng bao la của Tây Tạng được đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của quân đội Trung Cộng, kể cả một số ít xí nghiệp tư. V́ khí hậu của Tây Tạng quá khắc nghiệt ở cao độ nên không tạo được môi trường thuận tiện cho việc đầu tư của ngành kỹ nghệ tư nhân. Những ai đă từng viếng thăm Tây Tạng cũng đều có những nhận xét như vậy và dưới cơ quan du lịch độc nhất có thể cấp giấy phép đi tham quan Tây Tạng và cho mướn xe hơi để di chuyển, được đặt dưới quyền sở hữu của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Cộng. Khi du khách được cấp giấy cho đi vào những vùng bị hạn chế th́ họ bị bắt buộc phải trọ tại những nhà trọ của quân đội mà bồi pḥng làm giường hay làm vệ sinh cũng đều do binh sĩ mặc sắc phục quân đội phụ trách. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân của Trung Cộng đă để lại trong ḷng người dân Tây Tạng một mối thù truyền kiếp, không bao giờ quên được. Trái với lời tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh, những di sản về văn hóa và đạo giáo của Tây Tạng đă bị hủy diệt từ 1956 đến 1961, chứ không phải trong cuộc cách mạng văn hóa từ 1966 đến 1976 như nhiều người tửơng. Trong tổng số 6259 tăng viện và ni viện, chỉ c̣n lại 8 tu viện vào năm 1976. Trên tổng số 592 558 tăng ni, hơn 110 000 bị giết và bị tra tấn dă man, hơn 250 000 c̣n lại bị bắt buộc phải hoàn tục. Đó là thống kê của Chính Phủ Tây Tạng Lưu Vong ở Dharamsala (Bắc Ấn Độ) cung cấp. Ngoài ra Trung Cộng c̣n mở chiến dịch qui mô về "tuyệt tử chủng" (sterilization) dân chúng và bắt buộc đàn bà Tây Tạng phá thai. Cho đến ngày nay, quân đội giải phóng nhân dân của Trung Cộng với cơ quan phụ tá Công An Nhân Dân vẫn tiếp tục khủng bố, tra tấn và giết chóc những thành phần nhân dân Tây Tạng trung thành với Phật giáo Mật Tông, với Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhất định không theo Đảng Cộng Sản Trung Cộng của Mao Trạch Đông. Nhân dân Tây Tạng thường nhắc lại những câu nhắn gởi của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong những khi Ngài đi nói chuyện ở các nơi như: "Dù cho gió có thổi oan khiên đến đi nữa th́ rồi công lư và sự thật cũng vẫn thắng" hay là "Lư của kẻ mạnh khi nào cũng hơn trong nhất thời thôi, nhưng ngọn lửa của sự thật th́ không bao giờ tắt cả". Thành thử Trung Cộng ngày đêm hằng lo âu về sự xuất hiện của một phong trào Tây Tạng ly khai khỏi chính quyền Bắc Kinh và có thể lan rộng qua các vùng tự trị của các sắc dân thiểu số khác, giống như đă xảy ra tại Liên Bang Xô Viết trước khi tan ră. 

          6. Hai Chiến Lược Da ( Gia) Của Giang Xếnh Xáng .

          Năm 1996, Hai viên đại tá trong quân đội Trung Cộng là Kiều Lương và Vương Tương Toại đều có mặt tại bờ biển tỉnh Phúc Kiến để tham dự những cuộc tập trận có mục đích đe dọa chính quyền Đài Loan. Khi có 2 hỏa tiễn thuộc loại M9 có tầm đạn đạo hạng trung rơi ngoài khơi hai hải cảng lớn ở phía Nam đảo Đài Loan, th́ lập tức TT Clinton ra lệnh cho 2 hàng không mẫu hạm cùng một số tuần dương và khu trục hạm đến ngay eo bể Đài Loan để gián tiếp cảnh cáo Trung Cộng là Hoa Kỳ sẽ không ngồi yên nếu Trung Cộng tấn công Đài Loan. Đa số sĩ quan của Hồng quân trong đó có Kiều Lương và Vương Tương Toại đều rất phẫn nộ trước thái độ khiêu khích của Hoa Kỳ, và cũng là một bài học đối với họ. Theo Vương Tương Toại, một đại tá Không Quân trong Cục Chính Trị thuộc quân khu Quảng Châu th́ nếu Hồng quân cần phải đương đầu với Hoa Kỳ th́ phải có một chiến lược hoàn toàn mới để làm thăng bằng cán cân quyền lực của đôi bên. Và sau đó th́ Toại và Lương cộng tác với nhau để viết một quyển sách nhan đề: "Cuộc Chiến Tranh Không Hạn Chế".( bài trước ChuSa đă có nói qua về quyển sách này ). Quyển sách này mô tả sự yếu kém về lănh vực vũ khí của Hồng quân đối với Hoa Kỳ để rồi cuối cùng đề nghị - v́ yếu kém như vậy - thành thử Hồng quân sẽ dùng tất cả mọi phương tiện mà họ có trong tay để đối phó lại Hoa Kỳ như dùng khủng bố, bạch phiến, đưa vi khuẩn vào máy tính điện tử v..v.. Nhưng nếu hai viên đại tá này biết đưa ra yếu tố quyết định sự thắng trận của Hồng quân bằng cách cho ra mặt trận vài chục sư đoàn "xẩm điếm Hồng Kông" để chặn đoàn quân đổ bộ, th́ quân đội Hoa Kỳ lúc đó chưa đánh cũng đă đầu hàng các "xếnh xáng con Trời" rồi. Đó là chưa kể việc Kiều Lương khi nhắc lại cuộc chiến tại Kosovo, đă tiếc là nếu gợi ư sớm cho Milosevic nên gởi lén một nhóm khủng bố qua Ư để làm nổ tung các căn cứ không quân Đồng Minh chuyên qua ném bom Nam Tư, th́ đă có thể chấm dứt cuộc chiến tranh ngay từ lúc ban đầu. Lư luận rẻ tiền như vậy mà cũng đua đ̣i viết sách về chiến lược, để rồi được Cục Chính Trị của Hồng quân khuyến khích xuất bản mới thật là kỳ. Đối với Kiều Lương và Vương Tương Toại và một số lớn sĩ quan cao cấp trong Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân th́ có sự liên quan trực tiếp giữa vấn đề Kosovo và Đài Loan cùng Tây Tạng. Theo họ, một khi Hoa Kỳ buộc một nước ở Âu Châu phải chấp nhận theo hệ thống định giá của họ; th́ mai đây họ có thể làm y như vậy đối với Đài Loan hay Tây Tạng. Nhưng Vương Tương Toại đă quên hay cố ư quên rằng Kosovo bị tên trùm cộng sản Tito của Nam Tư xâm chiếm sau đệ nhị thế chiến và Tây Tạng bị Mao Trạch Đông xua quân xâm chiếm từ năm 1951. C̣n Đài Loan th́ - về phương diện địa lư chính trị - chả có dính dáng ǵ đến Trung Cộng ở lục địa Trung Hoa cả, thế mà Trung Cộng vẫn cứ cường điệu bảo rằng Đài Loan là một tỉnh của Trung Hoa; nói vậy cũng như bây giờ Hoa Kỳ tuyên bố trước dư luận thế giới rằng nhiều triệu năm về trước đây lục địa Trung Hoa dính liền với Bắc Mỹ Châu nhưng sau quả đất bị chấn động, nứt ra, vùng đất trôi về phía Tây biến thành lục địa Trung Hoa bây giờ và giữa Trung Hoa lục địa và Bắc Mỹ Châu là vùng biển Thái B́nh Dương. Nếu Hoa Kỳ đ̣i chiếm Trung Hoa như Trung Cộng khăng khăng đ̣i chiếm Đài Loan th́ Trung Cộng nghĩ sao?

          Cuối tháng 7, 1999, khi nghe tin Hoa Kỳ tuyên bố bán một số vũ khí cho Đài Loan trị giá 550 triệu mỹ kim, th́ Trung Cộng tỏ ngay thái độ hằn học với Hoa Kỳ, nhất là về phía quân đội. Vấn đề mà Trung Cộng đang băn khoăn và lo ngại là vấn đề NATO chấp nhận để cho KOSOVO độc lập. Trong khi NATO đang c̣n ném bom xuống Nam Tư th́ TT Clinton tuyên bố là không bao giờ chấp nhận để cho KOSOVO độc lập. Nay th́ t́nh h́nh chính trị ở vùng Ba Nhĩ Cán đă thay đổi khá nhiều, mười ngàn giải phóng quân KLA của KOSOVO đă được NATO giải giới nhưng dùng lại 5000 để làm cảnh sát giữ trật tự trong vùng này và được trang bị vũ khí nhẹ. Như vậy là NATO đă có ư định tiềm tàng chấp nhận cho KOSOVO thành lập một đạo quân rồi đó;mà khi đă có một đạo quân rồi th́ phải chấp nhận cho họ có một quốc gia độc lập là chuyên đương nhiên. Và việc ǵ phải đến đă đến. Tháng 9, 1999, nhân viên Ṭa Bạch Ốc của Hoa Kỳ đă cho báo chí hay chuyện Hoa Kỳ chấp nhận cho KOSOVO trở nên độc lập chỉ c̣n là vấn đề thời gian mà thôi. Mà một khi Hoa Kỳ đă công nhận KOSOVO là một quốc gia độc lập trong vùng Ba Nhĩ Cán ở Trung Âu; th́ nay mai họ cũng sẽ ủng hộ giải pháp để cho Tây Tạng được độc lập đối với Trung Cộng. Hiện tại Trung Cộng về phương diện chính trị và kinh tế đang ở vào thế của một người ăn mà mắc nghẹn, khạc chẳng ra mà nuốt cũng chẳng vào, chưa biết sẽ tắt thở lúc nào, thế mà lúc nào cũng lăm le gây hấn với các lân quốc, nhất là vẫn c̣n nuôi mộng trở thành siêu cường thứ 2 trên thế giới. Họ có biết đâu dân họ - một khi đă kư thác tiền vào ngân hàng để dành dụm pḥng thân trong những ngày thất nghiệp đang ló dạng ở chân trời, th́ ngày chế độ ră đám như Liên Bang Xô Viết cách đây mươi năm cũng không c̣n xa mấy! Nhưng Trung Cộng sẽ không như Liên Xô đành im lặng ră ngũ đâu. Đối với họ c̣n nước c̣n tát; họ sẽ cố khơi động lại ḷng yêu nước của người dân Trung Hoa để hy vọng những người này sẽ hy sinh tính mạng thay họ để bảo vệ một chế độ tham tàn, khắc nghiệt chưa từng thấy trên thế gian này.

          Vào thế kỷ thứ 3, Trung Nguyên ( ChuSa không xài chữ Trung Hoa vào thời đó ) chia ra làm 3 nước: Hán ở miền Tây, Ngô ở miền Nam và Ngụy ở miền Bắc. Nước Hán (Hậu Hán) dưới triều vua Hán Vơ Đế có vị thừa tướng Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh rất thông binh thư và dịch lư.Trước khi ông ta qua đời, ông có xây một cái nhà thờ tại Hán Trung, trong tỉnh Thành Đô, để dành thờ ông ta sau khi ông qua đời. Sử kể lại rằng mấy trăm năm sau, khi Lưu Bá Ôn dẹp xong các sứ quân tóm thâu thiên hạ về một mối, lúc trên đường về ghé lại Hán Trung để dâng lễ đền thờ ông Khổng Minh mà ông hằng ngưỡng mộ tài thao lược. Lúc ông phủ phục trước bàn thờ để làm lễ th́ không xảy ra chuyện ǵ lạ cả, nhưng lúc ông ta muốn đứng lên th́ bị một sức mạnh vô h́nh níu chặc ông lại, quưnh quá ông bèn ngước mặt nh́n lên nóc bàn thờ th́ thấy có mấy chữ "giải y tắc thoát". Ông bèn theo lời dạy, lât đật cởi áo giáp ra và sau đó đứng dậy được. Ông bèn chạy đến phía sau tấm bảng này th́ thấy có hai hàng chữ nữa như sau:

          "Vạn Đại Quân Sư: Gia Cát Lượng""Nhất Thống Sơn Hà: Lưu Bá Ôn".

          Một điều rất kỳ lạ đối với thời bấy giờ là ngọn đèn trên bàn thờ bài vị của Khổng Minh, không cần có dầu mà cứ cháy sáng năm này qua năm khác. Th́ ra cách đây hơn 1500 năm mà Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng đă biết xử dụng mỏ hơi đốt dưới ḷng đất ngay nơi nhà thờ của ông. C̣n sức hút chiếc áo giáp bằng thép của Lưu Bá Ôn có thể là do ông cho thiết kế một cái sàn bằng thép có từ trường cực mạnh hay bằng đá có nam châm cực mạnh trước bàn thờ ông. Điều mà người ta không ngờ được là ông đă dùng “kỳ môn độn giáp” ǵ để biết được có ông Lưu Bá Ôn, người vừa thống nhất nước Tàu sẽ đến viếng nơi thờ phượng ông. Nhờ thông “nhâm độn”, Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng đă biết được quá khứ vị lai; biết được vận mệnh nước Trung Hoa khi hưng thịnh cũng như lúc suy vong; nếu giờ đây Chủ Tịch Nhà Nước Giang Trạch Dân bay một chuyến về Hán Trung, đến lễ trước bàn thờ Đức Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng, biết đâu lại chẳng được Khổng Minh ban cho hai câu thơ như với Lưu Bá Ôn khi vừa mới thống nhất sơn hà. Có điều chắc chắn là câu trên vẫn y như cũ, nhưng câu dưới có lẽ sẽ như sau đây:

          "Vạn Đại Quân Sư: Gia Cát Lượng"

          "Phân Liệt Sơn Hà: Giang Trạch Dân"

          Nghĩa là vạn đời Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng vẫn là quân sư; ,,, c̣n làm cho đất nước Trung Hoa chia ra làm nhiều mảnh nhỏ, chính là do Giang Trạch Dân gây nên. Sau đại hội 16 Đảng Cộng Sản Trung Cộng vừa rồi mặc dù Hồ Cẩm Đào được ghế nhưng ta phải hiểu rằng Giang Trạch Dân vẫn là người nắm quyền bên trong.

          7. “Nhất Khống Sơn Hà: Bộ Tam Sên” ( Mao- Đặng -Giang.).

          Giang Trạch Dân là vị lănh tụ đầu tiên của Trung Cộng không xuất thân từ quân đội, tuy nhiên từ năm 1993 cho đến ngày nay, ông ta đă thành công trong việc thay thế những viên tướng già hay chống đối lại công việc canh tân Hồng quân của ông ta, và đưa toàn những tướng trẻ trung thành với ông ta vào trong bộ tham mưu cao cấp của Hồng quân. Tuy nhiên chưa chắc Giang Trạch Dân đă thành công trong việc phát động bài trừ tham nhũng trong quân đội, v́ đây là một tệ trạng được coi như dính liền với chế độ cộng sản. Những người lănh tụ đi trước ông ta như Đặng Tiểu B́nh, Lư Bằng cũng chiếm đất ở vùng đảo Hải Nam, cũng buôn quan bán tước qua trung gian các con cái được phong làm giám đốc các xí nghiệp to lớn nhất ở Trung Quốc nhất là các công ty sản xuất vũ khí. Điều khó khăn cho họ Giang khi y đề ra việc đóng cửa các xí nghiệp do quân đội quản trị là việc t́m đâu cho ra tài chánh để bù đắp vào chỗ thiếu hụt trong ngân sách quốc pḥng gây ra khi một số xí nghiệp do quân đội quản trị bị đóng cửa? V́ vậy phản đề nghị của quân đội là họ sẽ đóng cửa các xí nghiệp này khi nào chính phủ bảo đảm với họ là sẽ có những ngân khoản khác để bù đắp vào những lỗ hổng gây nên do sự đóng cửa các xí nghiệp này. Một câu hỏi khác là khi nào th́ sẽ có sự thay đổi nêu ra trên đây? Theo thủ tướng Chu Dung Cơ th́ thời hạn đó được dự tính sẽ xảy ra từ ba đến bốn năm để cho các bộ dân sự có đủ thời giờ để chuẩn bị việc tiếp thu.Tuy nhiên theo một số quan sát viên ngoại quốc th́ lệnh đóng cửa các xí nghiệp của quân đội do Giang Trạch Dân dưa ra,rồi đây cũng sẽ trôi vào quên lăng v́ dịch vụ làm ăn rất phát đạt, nhất là đối với cấp sĩ quan cao cấp của Hồng quân v́ nhờ đó mà họ trở nên triệu phú. Sau khi lên kế vị Đặng Tiểu B́nh được ít lâu, th́ Giang Trạch Dân phát động chiến dịch bài trừ tệ nạn tham nhũng và ra lệnh đóng cửa hoặc bán phát măi khoảng mười lăm ngàn công ty do quân đội quản trị và như vậy cắt một mối lợi khoảng mười tỷ mỹ kim hằng năm của Hồng quân. Dưới thời Mao Trạch Đông cũng như Đặng Tiểu B́nh, Hồng quân là một cơ quan được dùng để bảo vệ Đảng Cộng Sản Trung Hoa, v́ vậy cho nên Hồng quân là cơ quan mạnh nhất, có quyền lực lớn nhất ở lục địa Trung Hoa, nhưng bao giờ cũng được Đảng ngăn cách không cho dính líu ǵ đến những thăng trầm thuộc các lănh vực chính trị và kinh tế. Nhưng đến năm 1979, khi Đặng Tiểu B́nh phát động phong trào canh tân nền kinh tế lạc hậu và sống dở, chết dở của Trung Cộng, th́ ông đă thương thuyết với quân đội để cho ông cắt xén bớt 20% ngân sách quốc pḥng. Và để bù lại thiệt hại đó, ông chấp nhận cho quân đội được quyền tham gia vào mọi sinh hoạt của nền kinh tế thị trường sắp được mở rộng trên lục địa Trung Hoa. Rồi từ đó nhiệm vụ của Hồng quân thay v́ hoặc để bảo vệ đất nước, hoặc để đi chiếm đất dành dân của các nước láng giềng như Việt Nam, Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ v...v... th́ nay chỉ chuyên lo làm tiền để cung phụng cho các tướng tá trong quân đội và các cán bộ cao cấp trong chính quyền Trung Ương.

          Theo báo cáo của hăng thông tấn Trung Hoa Xă th́ trong năm 1997, các hăng xưởng của quân đội Trung Cộng đă xuất cảng ra ngoại quốc 7 tỷ mỹ kim ( bảy ngàn triệu mỹ kim ) trong đó hết một nửa là nhu yếu phẩm trong đời sống hằng ngày. Cũng xin nhắc lại cho bạn đọc rơ là Trung Cộng có 3 công ty chế tạo vũ khí lớn nhất là Noringo, China Jingan và Poly Technologies. Công ty Poly Technologies do đại tá Hạ B́nh - con rễ của Đặng Tiểu B́nh làm giám đốc. Có một điều chua chát nhất ở Trung Hoa hiện nay là chính quyền Cộng Sản đang đưa đất nước họ vào đường lối kinh tế thị trường theo đường hướng Xă Hội Chủ Nghiă ( đám tay sai  Lê Khả Phiêu và đồng bọn đă rập khuôn y như vậy ) , từ trước đến nay chưa có quốc gia nào làm như vậy - đó là một loại tư bản man rợ, theo luật rừng, đặt nền móng trên cường quyền, bạo lực; v́ vậy chỉ có cấp lănh đạo đất nước - cấp cán bộ Đảng - có quyền chà đạp luật pháp của họ đặt ra - để thực hiện ư đồ đen tối làm giàu trên xương máu của dân đen nằm trong gọng kềm ác nghiệt của họ mà thôi. Nhưng nhân dân Trung Quốc - nhất là giới nông dân đâu phải tay vừa - v́ họ đang ngấm ngầm chuẩn bị phát động rộng răi nỗi bất b́nh của họ từ đầu thập niên 90 cho đến nay, và càng ngày càng có thêm nhiều dấu hiệu cho thấy đất nước Trung Hoa sắp sửa bước vào một giai đoạn bất ổn xă hội vô cùng trầm trọng, có thể làm sụp đổ chế độ Cộng Sản trong một tương lai không xa lắm, chỉ vài năm thôi; với sự nổi dậy của giới nông dân ở khắp nơi trên lănh thổ Trung Hoa, như họ đă từng làm khi lật đổ nhà Nguyên để đưa Chu Nguyên Chương - thủy tổ của đương kim thủ tướng Chu Dung Cơ của Trung Cộng hiện nay - lên lập ra nhà Minh; rồi họ cũng đă nổi dậy để lật đổ nhà Thanh, và bầu Tôn Dật Tiên lên làm tổng thống đầu tiên của chế độ Cộng Ḥa Trung Quốc. Và cuối cùng, vào giữa thế kỷ thứ 20, th́ cũng chính họ - những người nông dân Trung Hoa - v́ quá tin Mao Trạch Đông - nên đă lầm ủng hộ đảng Cộng Sản Trung Hoa để lật đổ chế độ Cộng Ḥa của Tưởng Giới Thạch. Từ giữa thế kỷ thứ 14 cho đến nay - trừ nhà Minh bị Măn Châu miền Bắc xâm lăng rồi lập ra nhà Thanh - các triều đại nhà Nguyên, nhà Thanh và Cộng Ḥa Trung Quốc đều bị lật đổ khi nông dân Trung Hoa nổi lên chống đối chế độ v́ miếng cơm manh áo. Giờ đây hiện tượng này bắt đầu xảy ra ở Trung Quốc: năm 1992 có hơn 200 vụ nổi loạn của nông dân ở khắp lục địa Trung Hoa và đến cuối năm 1998 th́ những vụ nổi loạn của nông dân đă lên đến quá con số ngàn, và giống hệt như một cuốn phim quay ngược trở lại từ thời nhà Nguyên cho đến ngày nay, lư do mạnh nhất của giới nông dân trong tất cả các vụ nổi dậy đều là v́ sưu cao, thuế nặng, nạn cường hào ác bá trong thời kỳ xa xưa và nay th́ nạn cán bộ Đảng ức hiếp bạo hành dân, coi dân như cỏ rác. Vụ nổi loạn điển h́nh nhất của nông dân Trung Quốc thường được báo chí của Trung Ương Đảng nhắc đến để cảnh cáo cán bộ địa phương là vụ nổi loạn tại quận Nhân Tô trong tỉnh Tứ Xuyên ở trung tâm điểm của Trung Quốc. Cuộc nổi loạn bắt đầu từ một anh nông dân già tên là Trương Đề An trước kia đă từng đi lính, nhưng nay là người đầu tiên đứng ra hô hào dân chúng trong địa phương của y đừng đóng thuế lợi tức cho nhà nước khi nào mức tiền thu thuế cao hơn 5% của tiền lợi tức. V́ anh ta được dân chúng tại địa phương nhiệt liệt ủng hộ nên chính quyền của quận đă ra lệnh bắt anh ta để đem đi câu lưu. Dân chúng địa phương đông cả ngàn người đă phản ứng ngay và hành hung nhân viên chính quyền địa phương khiến cho một số những người này may mà chạy thoát nếu không th́ đă bị bỏ mạng rồi. Thừa thắng xông lên, nông dân kéo lên vây quận lỵ Nhân Tô và đ̣i chính quyền quận phải trả số tiền thuế bội thu lại cho họ, và phải trả tự do lại cho Trương Đề An ngay. Chính quyền Quận đành phải thỏa măn ngay những đ̣i hỏi của đám nông dân này. Trước sự nhượng bộ của chính quyền, khách bàng quan đâm ra thắc mắc và tự hỏi tại sao lũ nông dân khố rách áo ôm này lại dám "lên chân" với lũ cán bộ cộng sản của quận như vậy? Chúng dựa vào quyền lực nào mà dám đương đầu với giới chức cầm quyền quận?

          Dưới các triều đại phong kiến xa xưa ở Trung Hoa, người dân ở thôn quê hay sợ những phú ông, địa chủ trong làng hơn là các ông xă trưởng đại diện cho chính quyền v́ phú ông, địa chủ là những người có đất cho dân mướn để canh tác. Nhưng dưới các chế độ cộng sản hiện nay th́ người nông dân là nạn nhân đầu tiên của thế lực vạn năng do lũ cán bộ Đảng và nhà nước áp đặt lên đầu lên cổ người dân. V́ vậy trong dân gian ở thôn quê Trung Quốc, có câu hát mà mọi người đều thuộc ḷng là "tôi không sợ Trời mà cũng không sợ Đất, nhưng chỉ sợ ông xă trưởng kiêm bí thư Đảng khi ông xuất hiện để thi hành luật pháp". Dưới con mắt của bất cứ người cán bộ Đảng nào được thượng cấp ưu ái chụp cho cái "mũ cánh chuồn" tức là cái mũ của các quan lại thuộc thời vua chúa xa xưa ở bên Tàu, th́ người nông dân là con ḅ sữa. Từ trên xuống dưới cái thang hành chánh, mọi người ở mọi nấc thang này đều phóng đại lợi tức của người nông dân, để rồi từ đó đặt ra vô số thuế đánh vào họ, mặc dầu theo thống kê cho biết là trong thập niên 1990, hơn 30% dân chúng ở thôn quê có lợi tức hằng năm vào khoảng trên dưới 60 mỹ kim, chỉ có 10% dân quê có được lợi tức hằng năm lên quá 100 mỹ kim. Trong thời gian giữa 1978 và 1985 th́ lợi tức của nông dân có tăng cao đôi chút nhưng rồi trở lại như trước cho đến năm 1989. Và giờ đây th́ lợi tức của người nông dân chỉ bằng 1/3 lợi tức của người dân ở các thành thị, sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là do vấn đề giá cả mà ra. Nhà Nước cộng sản lại tiếp tục d́m giá các nông phẩm như trước v́ sợ nâng giá lên cao sẽ làm cho dân chúng ở thành thị bất măn và có thể xảy ra một vụ Thiên An Môn thứ hai nữa; về phía nông dân th́ v́ họ sống rải rác, và vô tổ chức, nên nhà nước không sợ họ làm loạn như ở thành thị. Từ khi chính quyền Trung Ương trao quyền thu thuế nông dân cho các cán bộ địa phương th́ người nông dân Trung Hoa bị những người này bóc lột một cách tàn nhẫn, không chút nương tay, để rồi v́ tức nước th́ vỡ bờ, người nông dân hăm dọa nổi loạn và chính quyền Trung Ương bắt buộc phải có biện pháp xoa dịu ḷng căm thù của họ đối với cấp cán bộ địa phương của Đảng, qua cuộc nổi loạn tại quận Nhân Tô, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, nơi chôn nhau cắt rốn của Đặng Tiểu B́nh. Cuối cùng chính quyền Bắc Kinh đành phải ra lệnh hủy bỏ 27 sắc thuế, tu chính và giảm thiểu 17 sắc thuế khác và chỉ c̣n giữ lại 29 sắc thuế mà thôi. Có lẽ trên toàn thế giới không có một quốc gia nào đánh thuế người nông dân của họ nặng như chính quyền Cộng Sản ở Trung Hoa.

          Kể từ 1989 cho đến nay, cấp lănh đạo về kinh tế của chính quyền Trung Cộng không bao giờ có kinh nghiệm về ngành canh nông. Họ là những kỹ sư chuyên về ngành kỹ nghệ nên khi họ thảo ra tài liệu nói về chính sách " thắt lưng buộc bụng " của chính phủ, họ chỉ dành có một điểm để nói về nông dân: đó là việc cấm phát hành những "tấm giấy màu lục " - một loại giấy khất nợ vô giá trị - do Cục Bưu Điện dùng để thay những tấm ngân phiếu của người nông dân nhận được của thân nhân ở các vùng kỹ nghệ gởi về giúp đỡ gia đ́nh. Lại thêm chính quyền Trung Ương vẫn theo đuổi chủ trương để cho nông dân phải tự lực cánh sinh; có giúp đỡ chăng nữa th́ chỉ vào những lúc bị hạn hán hay bị lụt băo mà thôi. Trong khi đó đất đai để canh tác càng ngày càng thu hẹp, nông dân không có đất để trồng trọt đành phải tha phương cầu thực, lao ḿnh vào những vùng kỹ nghệ dọc theo duyên hải để kiếm việc làm. Số nông dân đi lang thang này bây giờ đă lên đến con số 200 triệu người và đang gây ra một vấn đề nan giải cho chính phủ Trung Ương. (dân số Hoa Kỳ hiện nay là 270 triệu người ) Nói tóm lại, người nông dân Trung Hoa chỉ hưởng được đôi chút quyền lợi trong những năm đầu của cuộc cải cách do họ Đặng đề ra vào giữa thập niên 80, nhưng sau đó th́ coi như họ bị chính quyền bỏ rơi và c̣n bị cán bộ đảng ở tại địa phương t́m cách bóc lột đến tận xương tủy v́ giới cầm quyền cho rằng nông thôn chỉ là nguồn tiếp tế nguyên liệu, thực phẩm và nhân công rẻ tiền, nhưng đối với dân thành thị th́ nông dân là một gánh nặng về phương diện xă hội và kinh tế, và đôi khi có thể trở thành một cản trở về phương diện chính trị nữa. Hiện giờ chính quyền Trung Cộng đang lâm vào t́nh trạng khủng hoảng nan giải giống hệt như dưới thời kỳ thập niên 1960, đó là nạn thất nghiệp trầm trọng mà họ không sao giải quyết được; và khi mà hàng triệu nông dân lang thang đi khắp đó đây trên đất nước để t́m việc làm liên kết với công nhân thành thị và sinh viên cấp tiến để nói lên sự bất măn của họ nhưng nguy hiểm hơn nữa là nếu có một bàn tay lông lá cầm cây gậy tung ra chiêu “ Dollars Cước Pháp” tức th́ một cuộc xuống đường vĩ đại để trở thành một Thiên An Môn thứ 2, th́ chính quyền sẽ tính sao đây ?. C̣n một vấn đề nan giải khác mà thủ tướng Chu Dung Cơ e rồi cũng đành bó tay là vấn đề xây cất đập thủy điện Tam Cổ trên sông Dương Tử.

          Cuối tháng 5, 1999, chính nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Hoa đă lên tiếng công khai tố cáo là hai vấn đề tham nhũng và kỹ thuật kém đang cản trở công việc xây cất đập thủy điện Tam Cổ có hồ chứa nước dài 400 dặm trên sông Dương Tử. Công việc xây cất đập khó khăn đă đành, nhưng việc tái định cư 1 triệu tám trăm ngàn dân đi nơi khác là một việc làm điên đầu chính quyền Trung Ương hiện nay. Nhật báo Nhân Dân đă nêu lên lời cảnh cáo của thủ tướng Chu Dung Cơ trong một hội nghị dài 2 ngày vào cuối tháng 5, 1999, là bất cứ ai dính vào tham nhũng quỹ định cư này sẽ bị trừng trị nặng nề: đảng viên, cán bộ th́ sẽ bị đuổi ra khỏi Đảng, c̣n nếu là công chức th́ sẽ bị cách chức. Cho đến nay, chính quyền chỉ mới định cư được khoảng một trăm ngàn dân mà thôi, mà theo dự tính của chính quyền là đến năm 2003, phải định cư cho được 550,000 người dân bị đuổi cả nhà lẫn đất. Một số chuyên gia về ngành xây đập thủy điện tiên đoán rằng mặc dầu thị trấn Nghi Chương - cách phía Nam Bắc Kinh 700 dặm - là nơi được xây giếng kín từ năm 1997 để làm móng cho đập, có thể bị hủy bỏ v́ gặp quá nhiều vấn đề rắc rối mà không giải quyết được; nhà báo có chất vấn chính quyền nhưng không được giải thích. Từ đầu năm 1999 cho đến nay, báo chí của chính quyền đă mở một chiến dịch đả phá dự án 25 tỷ mỹ kim xây đập Tam Cổ v́ chính quyền không đào đâu ra tiền để theo đuổi một dự án vĩ đại như vậy. Riêng dự án bảo vệ các danh lam thắng cảnh ở dọc theo sông Dương Tử được dự trù 238 triệu Mỹ Kim, nhưng cho đến ngày nay ủy ban phụ trách việc này chỉ mới nhận được có 2 triệu mỹ kim mà thôi. Ở Trung Hoa dân chúng thường nói cho nhau nghe câu cách ngôn sau đây :" Kẻ nào chế ngự được sông ng̣i, kẻ ấy lănh đạo được nước Trung Hoa ". Không biết có phải v́ câu cách ngôn này mà những ai lên cầm quyền Trung Hoa từ đầu thế kỷ 20 cho đến ngày nay đều có mộng chế ngự hai con sông lớn nhất và dài nhất của nước này là Hoàng Hà và Dương Tử Giang. Năm 1918,Tôn Dật Tiên trong quyển sách của ông nhan đề " Trung Quốc dưới sự phát triển quốc tế " đă có gợi ư xây một số đập thủy điện trên một đoạn dài khoảng 600 cây số của sông Dương Tử từ Trùng Khánh đến Nghi Chương. Sau khi Tôn Dật Tiên qua đời và Tưởng Giới Thạch lên kế vị ông ta cho đến 1945, th́ họ Tưởng đă từng hai lần mời phái đoàn chuyên viên Hoa Kỳ qua Nam Kinh thảo luận với phái đoàn chuyên gia Trung Hoa để t́m cách xây đập thủy điện Tam Cổ.

          Sông Dương Tử chảy từ Phong Tiếp ở về phía Tây nước Tàu đến Nghi Chương ở phía Đông thường len lỏi qua giữa nhiều hẻm núi như hẻm núi Khu Đường Hạ giữa Phong Tiếp và Vũ Sơn, dài 8 cây số,hẽm Vũ Hạ nằm giữa Vũ Sơn và Bá Đông, dài 44 cây số và hẽm dài nhất là hẻm Tây Lăng Hạ, 76 cây số, giữa Tư Qui và Nghi Chương. Sau khi nghiên cứu xong, phái đoàn Hoa Mỹ có đệ tŕnh lên cho Tưởng Giới Thạch hai bản phúc tŕnh thuận lợi về việc xây đập thủy điện Tam Cổ, và một cuộc triển lăm về dự án này đă được tổ chức tại Trùng Khánh. Công việc chưa đi đến đâu th́ Họ Tưởng bị thua trận trong cuộc chiến quốc cộng và phải lưu vong qua Đài Loan vào năm 1949, và Mao Trạch Đông lên thay ông ta để lănh đạo nước Tàu. Không hiểu Mao có bị ám ảnh bởi câu cách ngôn "Kẻ nào chế ngự được sông ng̣i, kẻ ấy lănh đạo được nước Trung Hoa", nhưng chỉ 5 năm sau, vào năm 1954, một trận lụt lớn trên sông Dương Tử đă tàn phá một số lớn những miền ở dọc theo hạ lưu con sông này gây chết chóc cho 40,000 dân và 2 triệu người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Kể từ đó Mao Trạch Đông mới nuôi quyết tâm xúc tiến dự án xây đập thủy điện Tam Cổ. Nhưng phải chờ cho đến khi Đặng Tiểu B́nh lên cầm quyền vào năm 1978, dự án này mới bắt đầu xúc tiến mạnh. Cũng như dưới trào Mao Trạch Đông, chính quyền họ Đặng cũng mời một số chuyên gia Hoa Kỳ qua khảo sát vùng định xây cất đập và sau khi đi quan sát và nghiên cứu về th́ họ cho biết là không mấy thuận lợi v́ đất dưới ḷng bồn chứa nước không phải là đá cứng mà là từng lớp “đá thủy thanh nham xen lẫn đất lắng”, ( đất lắng là một loại bùn loăng ) giống như miếng bánh da lợn bên Việt Nam ta, nên sẽ chịu không nổi sức nặng của hàng tỷ tấn nước trong bồn chứa. Nếu bồn chứa bị vỡ trong mùa lụt th́ sẽ cuốn trôi hàng trăm triệu dân ở trong vùng hạ lưu của sông Dương Tử, và thiệt hại vật chất lúc đó sẽ không thể ước lượng được. Qua năm 1986, một phái đoàn chuyên viên về địa chất của Ngân Hàng Thế Giới phái qua Trung Hoa cũng tuyên bố na ná như nhóm chuyên viên qua vào năm 1985. Cũng trong lúc đó ,có hai công ty đầu tư của Canada là CIPM và CYJV cũng xúc tiến việc nghiên cứu và bản phúc tŕnh của họ nói rằng nơi mà chính quyền Trung Hoa chọn để xây đập Tam Cổ là nơi lư tưởng nhất để xây đập thủy điện trên đời này và quả thật đó là một món quà do thượng đế tặng cho nhân dân Trung Quốc. Không biết đó là một món quà do thượng đế tặng cho dân Trung Hoa, hay là một tai ách mà thượng đế sắp đặt để giáng xuống đầu hàng triệu dân Tàu, v́ khi mà đập thủy điện này vỡ th́ sẽ có hàng trăm triệu dân Tàu bị sóng nước cuốn tuốt ra Thái B́nh Dương.

          Một số người cho rằng với kinh nghiệm xây hai cái đập thủy điện trong mấy chục năm về trước, th́ thế nào chính quyền cũng sẽ thành công trong việc xây đập thủy điện Tam Cổ. Muốn biết rồi đây chính quyền Trung Cộng có thành công hay không trong việc xây đập Tam Cổ xin xem đoạn dưới đây th́ rơ. Dưới triều đại Xă Hội Chủ Nghĩa Trung Hoa, đập thủy điện được xây đầu tiên là đập Tam Môn Hạ trên sông Hoàng Hà, với sự giúp đỡ của Liên Xô, và hoàn tất vào năm 1960. Khi xây đập này, chính quyền Trung Cộng đă phải đưa vào khoảng 800,000 dân đi chỗ khác. Và kết quả mà dự án này mang lại một sự thất bại hoàn toàn. Việc rắc rối đầu tiên là các tua-bin thủy điện không quay được nhanh như dự tính v́ nước sông Hoàng Hà mang quá nhiều đất lắng. Và sau đó đành phải cho đập ngưng hoạt động để cho ban giám đốc tái thiết kế lại và công tŕnh này kéo dài đến gần 10 năm và sau đó th́ năng suất của đập này chỉ được 1/5 năng suất dự trù. Sở dĩ chính quyền cho xây đập Tam Môn Hạ là dùng đập này để vô hiệu hóa tác dụng tai hại của những trận lụt lớn làm ch́m ngập những vùng rộng lớn ở bên dưới hạ lưu sông Hoàng Hà; nhưng chỉ 4 năm sau khi khánh thành đập th́ hồ chứa nước bị đầy đất lắng và bùn khiến cho lượng nước trong hồ chứa chỉ c̣n chứa được 62% khối nước dự trù thôi. Đập thủy điện thứ hai là đập Cách Tô Pha nhưng lại là đập thứ nhất trên sông Dương Tử. Chính quyền phải mất 20 năm mới hoàn tất xong đập này. Khởi công xây đập vào đầu năm 1971, nhưng ít lâu sau th́ người ta mới phát giác ra là đập nằm trên hơn 70 lớp đất lắng chồng lên nhau như chiếc bánh xăng uưch ( sandwich ) vậy. Và cuối cùng v́ uy tín của Trung Hoa nên đành phải đ́nh chỉ việc xây cất trong ṿng 22 tháng để có thời giờ đóng cọc bê tông cốt sắt vào trong ḷng đất, dưới đáy hồ chứa nước. Có ai có thể tưởng tượng nỗi một đập thủy điện to nhất nh́ trên thế giới lại được cất trên những cọc bê tông không?. Và đập thủy điện Tam Cổ là đập thứ ba được xây cất dưới chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa Trung Hoa. Cứ cho là công việc xây cất đập diễn ra rất tốt đẹp, không bị ảnh hưởng những vụ tham nhũng vĩ đại do dàn cán bộ "gộc" của Đảng Cộng Sản tạo ra làm đục ruỗng nền móng của đập này th́ hậu quả đầu tiên sẽ xảy ra là toàn bộ miền đồng bằng rất ph́ nhiêu và đông dân cư ở hạ lưu sông Dương Tử gồm các thị trấn lớn như Thượng Hải, Giang Châu,Vũ Tây... sẽ trở thành ruộng muối, không cày cấy ǵ được v́ đập Tam Cổ sẽ làm cho lưu lượng trung b́nh tại cửa sông Dương Tử yếu đi, nước thủy triều của bể Nam Hải sẽ lan sâu vào lưu vực sông này, muối bể sẽ thấm dần vào đất canh tác và sẽ giết chết hết tất cả hoa mầu trồng trong vùng đồng bằng lân cận, biến vùng phi nhiêu này thành hoang địa. C̣n về lâu về dài th́ hồ chứa nước của đập sẽ cạn dần v́ bùn và đất lắng từ các sông con đổ vào - hậu quả tai hại của nạn khai quang phá rừng không có kế hoạch của cán bộ Đảng cấp địa phương - làm cho nước mưa xói những núi trọc và mang theo đất ra sông, ḷng hồ chứa nước bị nâng lên cao th́ và nước sẽ tràn ra ngoài sông lớn và gây nên lụt lội y như trường hợp của đập Tam Môn Hạ trên sông Hoàng Hà.

          8. Hoa Kỳ Cảnh Cáo Chính Quyền Trung Cộng.

          Trong bản phúc tŕnh hằng năm trước quốc hội vào tháng 3, 1999, thủ tướng Chu Dung Cơ có nêu ra vấn đề tham nhũng trong lănh vực hạ tầng cơ sở và xây cất nhà cửa, và ông hứa là sẽ có biện pháp mạnh đối với những "dự án đậu phụ" vừa hoàn tất xong th́ đă sụp đổ. Ông tŕnh với quốc hội là ông ta đă ra lệnh cho Bộ An Ninh Công Cộng phải lập tức mở cuộc điều tra về những dự án công tác bê bối như vụ chiếc cầu dài hơn 150 thước trên sông Hy Kiến cách Trùng Khánh 50 dặm bị gảy, làm cho hơn 40 bộ hành thiệt mạng. Nội trong tỉnh này thôi, đă có khoảng 1600 người chết do nhà cửa của chính quyền bị sụp đổ v́ xây cất quá cẩu thả. Ông cho quốc hội biết thêm là từ hai năm nay t́nh h́nh kinh tế nước nhà không được khả quan cho lắm như :xuất cảng kém, đầu tư ngoại quốc yếu, nên ông đă ra lệnh cho các ngân hàng nhà nước phải xuất ra hàng tỷ mỹ kim để làm cho nền kinh tế nước nhà vươn lên, nhất là trong ngành xây xa lộ tăng lên 50% vào năm 1998, và năm nay ngành này lại vượt lên 62%, chiếm con số kỷ lục 35 tỷ mỹ kim. Nhưng theo các quan sát viên ngoại quốc - th́ với hệ thống ngân hàng nhà nước của Trung Cộng cho vay mà không lưu ư mấy đến vấn đề hoàn lại vốn chứ chưa đề cập đến vấn đề tiền lăi cho vay - th́ đó là một cơ hội để quẳng tiền qua cửa sổ mà không sợ ai chỉ trích và chỉ tổ gây thêm tham nhũng thôi chứ chả có bổ ích ǵ cho nền kinh tế đang trên đà xuống dốc. Đứng trước những khó khăn nội bộ nêu ra trên đây,thủ tướng Chu Dung Cơ đă cảm thấy điên đầu không biết làm sao giải quyết cho thỏa đáng v́ ông sẽ gặp sự chống đối mănh liệt của đa số cán bộ cùng đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa bị ông cất miếng ăn.

          Vụ dân biểu đảng Cộng Ḥa Christopher Cox đệ tŕnh lên quốc hội Hoa Kỳ bản phúc tŕnh kết quả cuộc điều tra về vụ gián điệp Trung Cộng xâm nhập các pḥng thí nghiệm Hoa Kỳ và thâu lượm được khá nhiều tài liệu tối bí mật về bom nguyên tử và bom trung ḥa tử. Đây là một vụ đánh cắp tài liệu về nguyên tử của Hoa Kỳ vô cùng quan trọng v́ nó kéo dài gần 20 năm nay. Cuộc bang giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng trở nên lạnh nhạt nhưng chưa đến độ tan vỡ như người ta tưởng. Nhưng đùng một cái lại xảy ra vụ máy bay Hoa Kỳ oanh tạc sứ quán Trung Cộng ở Belgrade, thủ đô Nam Tư, gây cho một số người bị thiệt mạng. Chính phủ Hoa Kỳ vội vàng xin lỗi chính phủ Bắc Kinh viện lư do là phi công của họ v́ xử dụng bản đồ quá cũ, được ấn hành trước khi có ṭa đại sứ Trung Cộng nên mới xảy ra vụ ném bom lầm đáng tiếc. Phản ứng của chính quyền Bắc Kinh là huy động cả trăm ngàn dân xuống đường biểu t́nh phản đối hành động của Hoa Kỳ và hô hoán với thế giới là dân chúng Trung Hoa tự động xuống đường để chống đối Hoa Kỳ cả Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng đều biết rơ sự thật của vụ ném bom này, nhưng bên nào cũng đều "thủ khẩu như b́nh" v́ sợ nói ra th́ cả hai bên đều "kẹt" hết!. Chuyện xảy ra khi cô Marja, con gái cưng của tổng thống độc tài Milosevic của Nam Tư, đă nhờ thân mẫu của cô và cũng là bạn thân của người tùy viên quân sự của ṭa đại sứ Trung Cộng tại thủ đô Belgrade vận động với đại sứ Trung Cộng cho cô ta đặt nhờ trên tầng lầu cao của ṭa đại sứ này một giàn máy phát tuyến truyền h́nh và truyền thanh của chính phủ Nam Tư. Và nếu làm được như vậy th́ chắc chắn là phi cơ của Hoa Kỳ không dám ném bom vào ṭa đại sứ Trung Cộng. Nhưng Nam Tư đă tính sai nước cờ, v́ "cha lú th́ có chú khôn", Hoa Kỳ dùng bom "thông minh" để oanh tạc vị trí đặt đài truyền thanh, truyền h́nh này và kết quả là đài này bị tiêu hủy, viên đại tá tùy viên quân sự của Trung Cộng bị thiệt mạng; riêng cô Marja vẫn an nhiên tự tại, không bị thương tích ǵ ráo. Người thiệt tḥi nhất trong vụ "ném bom lầm" này là ông Chu Dung Cơ, thủ tướng chính phủ Trung Cộng v́ không những ông ta mất toi đám mật vụ đội lốt nhà báo và một viên đại tá tùy viên quân sự đă đành mà c̣n phải tổ chức dân chúng biểu t́nh đả đảo Mỹ để lấp liếm vụ ṭa đại sứ Trung Cộng "đi đêm" với Milosevic chống lại đồng minh NATO. Nói trắng ra là vụ phi cơ Mỹ ném bom ngay vào ṭa đại sứ của Trung Cộng là vụ trả đũa đầu tiên của Hoa Kỳ sau khi phát hiện những vụ đánh cắp tài liệu quốc pḥng của Hoa Kỳ do Trung Cộng chủ xướng, và luôn thể để cảnh cáo chính quyền Trung Cộng là Hoa Kỳ không bao giờ tránh né những vụ đụng độ trực diện với Trung Cộng khi Trung Cộng chạm vào quyền lợi của Hoa Kỳ. Như đă nói, Trung Cộng hiện đang ở trong t́nh trạng rối loạn nội bộ. Kinh tế xuống dốc, xuất cảng yếu kém, các nhà kho đầy nhóc hàng ứ đọng nằm ụ. Hai trăm triệu dân quê giờ đây đang lang thang khắp các nẻo đường đất nước để kiếm việc làm mà không t́m đâu cho ra việc. Sinh viên, trí thức càng ngày càng bất măn thái độ cố chấp, ngoan cố, độc đoán của Giang Trạch Dân và bè lũ; nạn tham nhũng của chế độ lan tràn một cách kinh khủng từ hạ tầng lên đến thượng tầng cơ sở của Đảng và Nhà Nước biến Trung Cộng thành một nước tư bản mà tất cả những thành viên tai to mặt lớn đều là con cái, thân nhân ruột thịt của những đảng viên gộc của Đảng Cộng Sản Trung Hoa; khiến trong dân gian nảy sinh ra vô số lời châm biếm về sự biến h́nh của Đảng Cộng Sản và những cây đại thụ của Đảng nghĩ rằng muốn cứu nguy Đảng trong lúc này chỉ có một con đường duy nhất là phải đánh động vào ḷng yêu nước, đức hy sinh của toàn dân th́ may ra mới cứu được Đảng mà thôi. Thế rồi xảy ra vụ chính quyền Mỹ tố cáo Trung Cộng - qua trung gian một số chuyên gia Hoa Kỳ gốc Trung Hoa - đánh cắp tài liệu quan trọng về bom nguyên tử và bom Trung Ḥa Tử tại các pḥng thí nghiệm của Hoa Kỳ khiến cho bang giao giữa hai nước trở nên lạnh nhạt.

          Vụ phi cơ Mỹ ném bom "lầm" ṭa đại sứ Trung Cộng ở thủ đô Belgrade của Nam Tư đă giúp cho chính quyền Trung Cộng trắc nghiệm xem tinh thần yêu nước của dân Trung Hoa lên cao độ đến mức nào để Đảng có thể động viên khi cần. V́ cứ mỗi lần chính quyền Trung Cộng gặp khó khăn nội bộ là họ thường t́m cớ để gây chiến tranh với các nước láng giềng để cho dân chúng quên đi những khó khăn trong nước mà họ phải chịu thay cho lũ cán bộ cộng sản như chiến tranh ở dọc biên giới với Liên Xô về tranh chấp biên giới vào cuối thập niên 1950. Nhưng kỳ này nhân dân Trung Hoa tụ tập hơn trăm ngàn người để biểu t́nh đả đảo đế quốc Hoa Kỳ không phải là ai cũng đều chống Hoa Kỳ cả, mà có rất nhiều phần tử chống đối đảng cộng sản Trung Hoa nhân cơ hội này hùa theo đám biểu t́nh ném đá vào ṭa đại sứ Hoa Kỳ với ư đồ làm cho quần chúng Hoa Kỳ mất cảm t́nh với chính quyền Trung Cộng thêm nữa. Thành thử khi t́nh h́nh trong nước trở nên rối loạn th́ Trung Cộng chỉ c̣n một giải pháp duy nhất là kiếm cớ tấn công vào Đài Loan mượn lư do là thống nhất đất nước, qui về một mối. Và lúc đó người quốc gia nào chống đối lại cuộc chiến xâm lăng Đài Loan sẽ bị trừng trị không chút nương tay và khi ấy không c̣n ai dám oán than ǵ nữa. Một tháng trước khi qua viếng thăm Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 4, 1999, thủ tướng Trung Cộng Chu Dung Cơ đă nói đùa trong một cuộc họp báo là có một tạp chí thương măi nọ đăng h́nh của ông ta giống hệt như một cái xác chết và tiếp theo đó th́ thủ tướng Chu thú nhận năm vừa qua t́nh h́nh kinh tế đất nước đă gặp rất nhiều khó khăn hơn là ông đă dự tính. Rồi ông ta thú nhận là v́ ông ta làm việc không được giỏi cho lắm. Vậy th́ những khó khăn do ông ta vừa đề cập đến là những khó khăn ǵ mà ông ta lại tránh không chịu nói rơ ra cho báo chí biết?Thưa đó là những căn bệnh cố hữu của tất cả các nước cộng sản đă tan ră rồi hay chưa tan ră, những chứng bệnh giống như bệnh cùi, không có thuốc nào chữa trị được và đó là: nạn cán bộ đảng viên ăn hối lộ, làm giàu trên xương máu nhân dân để trở thành giai cấp đại "tư bản Đỏ", nạn nuốt lời và làm ngược lại những ǵ họ đă từng hứa với nhân dân là sẽ thực thi dân chủ khi nắm được chính quyền, và nâng cao đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của 2 giới nông dân và thợ thuyền. Trong cái mê hồn trận đầy mọi thứ ḿn bẩy to có, nhỏ có do cán bộ cộng sản tự gài cho họ và cho chế độ, thử hỏi thủ tướng Chu Dung Cơ có đủ khả năng lèo lái con thuyền nan Trung Cộng ra khỏi cơn băo tố do chính cán bộ và đảng viên của Đảng Cộng Sản gây ra không?. Thủ tướng Chu Dung Cơ, 71 tuổi, sinh năm Mậu Th́n (âm lịch), thuộc ḍng giơi con cháu Minh Đế Chu Nguyên Chương, vị vua sáng lập ra triều đại nhà Minh và trị v́ nước Trung Hoa từ 1368 đến 1398 Tây lịch. Dưới chế độ Trung Hoa Dân Quốc của thống chế Tưởng Giới Thạch, gia đ́nh họ Chu là một trong những gia đ́nh địa chủ giàu nhất trong thị trấn Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam. Mồ côi cha mẹ từ thuở bé, Chu Dung Cơ được ông chú nuôi nấng, lớn lên cho vào học ban Điện tại đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh. Gia nhập đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 1949 và được bổ nhiệm vào làm việc trong Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước; bị theo dơi v́ dám lên tiếng chỉ trích chính sách kinh tế của Đảng vào năm 1957, và qua năm sau bị khai trừ khỏi Đảng và đày đi chăn ḅ trên miền Đông Bắc Trung Hoa. Sau khi Mao chết vào năm 1976 và Đặng Tiểu B́nh lên kế vị y, th́ măi đến 1978, họ Đặng mới phục hồi chức vị lại cho Chu Dung Cơ và phong cho ông ta làm thị trưởng thành phố Thượng Hải. Trong 3 năm làm thị trưởng, chính họ Chu đă đón nhận đầu tư ngoại quốc vào thành phố này cho đến ngày nay. Qua năm 1991, Đặng Tiểu B́nh phong cho họ Chu làm Phó Thủ Tướng Chính Phủ với nhiệm vụ chận đứng nạn lạm phát đang lan tràn và phải chật vật lắm ông ta mới thành công được một phần nào mà thôi. Sau khi họ Đặng qua đời và Giang Trạch Dân lên kế vị, th́ phải đợi đến khi họ Giang bứng được Lư Bằng khỏi chức vụ thủ tướng, Chu Dung Cơ mới có cơ hội để trở thành thủ tướng chính phủ vào năm 1998, năm đánh dấu sự sụp đổ về kinh tế và tài chánh của một số con "rồng giấy" á Châu, và cũng từ đó, đưa nền kinh tế của Trung Cộng đến trên bờ vực thẳm.

          9. Trung Cộng con "rồng giấy" Á Châu

          Trong lịch sử của Trung Cộng, năm 1992 là năm thịnh vượng tột đỉnh về kinh tế của họ, xuất cảng và tăng trưởng kỷ lục khiến cho một số báo chí quốc tế đă dám tiên đoán Trung Cộng có thể trở thành một siêu cường của ngày mai. Tuy nhiên một số báo khác đă dè dặt báo động là nền kinh tế của Trung Cộng đang đi vào con đường không thể kiểm soát được, như con ngựa long cương v́ quyền hành của các cấp bộ địa phương - như những vùng duyên hải - ngày càng lộng hành, nhất là sau lời tuyên bố của Đặng Tiểu B́nh trong chuyến kinh lư ở miền Nam Trung Hoa vào đầu năm 1992 là đề cao hơi quá lố tư bản. Lại thêm tập đoàn cán bộ trong quốc hội bù nh́n ăn của đút của tập đoàn đầu năo lănh đạo các khu vực phát triển dọc theo duyên hải đă vận động ngấm ngầm các dân biểu để họ ủy quyền thêm cho những nhóm cán bộ này, biến chúng thành những sứ quân độc lập, coi nhẹ những chỉ thị của Trung Ương. Và từ đó phát sinh ra nạn đầu tư bừa băi, mạnh ai nấy làm, chả đếm xỉa ǵ đến những kế hoạch và qui luật đầu tư về kinh tế. Các giám đốc ngân hàng - nhất là ngân hàng nhà nước - v́ quyền lợi riêng tư cũng tham gia tích cực vào phong trào đầu tư điên loạn này và họ tiếp tục tài trợ những xí nghiệp làm ăn thua lỗ mà theo thống kê của chính quyền là khoảng 35% và những xí nghiệp này không bao giờ hoàn lại tiền vốn họ đă vay của ngân hàng nhà nước chứ đừng nói ǵ đến tiền lăi, v́ có gan to bằng trời cũng không ai dám tuyên bố khánh tận và đóng cửa xí nghiệp quốc doanh thiếu tiền vay của ngân hàng mà không trả nỗi. Để bù lấp lỗ hổng thiếu hụt đó th́ ngân hàng lại tăng lăi xuất lên cao vọt, tuy không hợp pháp nhưng những nhà thầu mới vào nghề hay những tư nhân đang cần tiền đành phải cắn răng chấp nhận nếu không th́ không biết t́m đâu cho ra tiền. T́nh trạng cần vốn để đầu tư vào các dịch vụ xây cất cao ốc dễ sinh ra lợi đă làm cho trữ kim của các ngân hàng đâm ra khan hiếm và làm thiệt tḥi nặng hai ngành năng lượng và mở mang đường sá và cầu cống. Đó là chưa đề cập đến vấn đề phải thanh toán cho nông dân những bưu phiếu do thân nhân của họ đi làm từ các đô thị gởi về cho gia đ́nh mà sở bưu điện v́ thiếu tiền mặt đă phải phát cho họ một loại giấy khất nợ gọi là "hối phiếu" màu lục ghi rơ số tiền mà bưu điện nợ của người dân. Buồn cười nhất là chính quyền Trung Ương lại phủ nhận việc làm này của sở Bưu Điện, v́ họ biết cán bộ của sở này đă xử dụng bất hợp pháp số tiền của dân gởi về cho thân nhân bằng cách đem đi đầu tư vào những dịch vụ khác để kiếm thêm lợi nhuận riêng. Nhưng dù sao th́ chậm cũng c̣n hơn không và Trung Ương đă chấm dứt tệ nạn phát hành " hối phiếu màu lục " này khi nó đă lan tràn qua 11 tỉnh. Dưới thời thủ tướng Lư Bằng hệ thống ngân hàng nhà nước làm việc rất là bê bối và hầu như có hai hệ thống: một công khai mà ta có thể gọi là cửa tiền và một ẩn tàng hoạt động trong bóng tối giữa khách hàng và nhân viên cấp điều khiển của ngân hàng lẽ tất nhiên là phải thuộc giới cán bộ cao cấp Đảng, hoặc là con cháu của giới lănh đạo cao cấp của chính quyền Trung Ương hay của quân đội. Với hệ thống cửa hậu này th́ phải trả lăi suất rất cao từ 20% đến 25% và có khi lên đến 40% mà không có ai dám kiểm soát v́ sợ đụng phải những "cây cổ thụ của Đảng" đứng ở đằng sau.

          Từ khi ông Chu Dung Cơ lên thay Lư Bằng th́ t́nh trạng bê bối này tuy có giảm thiểu nhưng không thể chấm dứt hoàn toàn được v́ chính quyền Bắc Kinh (tức chính quyền trung ương) vẫn c̣n bất lực,không điều khiển nỗi chính quyền các tỉnh và các thị trấn có những "vùng kinh tế đặc biệt". Năm 1979, lúc Trung Cộng - dưới sự lănh đạo của Đặng Tiểu B́nh - bắt đầu chuyển hướng chạy theo kinh tế thị trường, th́ chỉ có 4 vùng kinh tế đặc biệt mà thôi; đến năm 1984,quy chế ưu đắ về thuế má của các vùng kinh tế đặc biệt được đem ra áp dụng cho 14 đô thị dọc theo miền duyên hải, để rồi qua năm 1992 th́ sự ưu đăi này được áp dụng cho thêm hơn ba mươi vùng phát triển kinh tế và kỹ thuật nằm trong 7 tỉnh dọc theo duyên hải; và nay con số các vùng này đă lên đến hơn ngàn mặc dầu không được chính quyền Trung Ương Bắc Kinh cho phép. Từ khi ông Chu Dung Cơ lên nắm quyền thủ tướng th́ ông ta đă ra lệnh đóng 1000 vùng được ưu đăi về thuế má trong số 1200 vùng,và theo ông ta trong số 200 vùng c̣n lại th́ chỉ có khoảng 20 vùng là có thể xem như hữu ích trong việc khuếch trương nền kinh tế địa phương. Chuyện buồn cười nhất là một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc, với ngành xuất cảng có năm chiếm kỷ lục trên thế giới, thế mà ngân sách chính phủ Trung Ương chỉ thâu được vào khoảng 15% của lợi tức quốc gia mà thôi. Công việc đầu tiên của thủ tướng Chu Dung Cơ khi vừa lên thay thế Lư Bằng là phải làm sao để thâu cho được thuế, nhất là thuế lợi tức của các xí nghiệp tư; đồng thời chấm dứt tệ trạng cho miễn thuế hoặc giảm bớt thuế đánh vào các xí nghiệp thuộc phạm vi thẩm quyền của các nhà chức trách địa phương. Trước t́nh trạng lộng quyền này, đă có lần báo chí đă phải lên tiếng báo động và đ̣i hỏi tất cả mọi xí nghiệp dù lớn dù nhỏ đều bắt buộc phải đóng thuế như chính phủ đă qui định. Đặc biệt riêng hai ngành về năng lượng và truyền thông ít có người đầu tư,nhưng vốn vay của ngân hàng nhà nước cũng không được hoàn lại th́ nói chi đến tiền lăi. Những cán bộ cao cấp của Đảng hoặc con cái họ thường hùn vốn với các nhà đầu tư ngoại quốc, nhất là những người Tàu ở hải ngoại vào những ngành có liên quan đến xuất cảng, để không những dễ kiếm lời mà c̣n có lư do hợp pháp để chuyển ngân ra ngoại quốc qua trung gian các ngân hàng Tây phương. ((Lippo Bank qua trung gian Tiến Sỹ Nguyễn Văn Hảo cũng đă “chuyển ngân hợp pháp” chỉ riêng cho thủ tướng tham nhũng Vơ Văn Kiệt trên dưới 6 tỷ mỹ kim ( 6 ngàn triệu Dollars), xin xem h́nh của Nguyễn Văn Hảo trong Webpage này. )) Đầu thập niên 1990, con số vốn được chuyển bất hợp pháp ra ngoại quốc vào khoảng 30 tỷ mỹ kim nhưng vào cuối thập niên 90 th́ đă lên đến trên dưới 100 tỷ mỹ kim, với sự tiếp tay đắc lực của nhân viên hành chánh mà đa số đều là cán bộ cao cấp của Đảng.

          Trong một buổi họp kín của các đảng viên cao cấp Đảng, tổng bí thư Giang Trạch Dân đă phải thốt lên rằng: "tham nhũng đă trở thành nguy cơ lớn nhất của Đảng" rồi ông ta tiếp: "và các đảng viên kỳ cựu cần phải nêu gương liêm khiết cho đàn em noi theo lúc về già". Tuy họ Giang nêu ra như vậy nhưng mọi người đều biết tham nhũng bắt nguồn từ các cán bộ cao cấp già và lũ con cái của họ mà ra; và nếu muốn thật sự trong sạch hóa guồng máy nhơ nhớp của Đảng th́ đầu tiên là phải thanh trừng ngay các "cây đại thụ" trong Đảng trước đă, th́ khi đó quần chúng mới tin những ǵ Đảng nói về bài trừ tham nhũng... .V́ vậy mà Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân bắt buộc phải ra tay thanh trừng tham nhũng trong mọi lănh vực và ở mọi cấp bực. Kết quả sơ khởi cho biết là đă phát giác và điều tra được 95.000 vụ tham nhũng. 65.000 đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Hoa lănh biện pháp chế tài của Trung Ương Đảng, và 37.000 trường hợp bị truy tố ra trước ṭa án. Khi lấy quyết định táo bạo "phân quyền địa phương" trong một chế độ sắt máu như chế độ Cộng Sản ở Trung Hoa, ông Đặng Tiểu B́nh vẫn tưởng là ông ta hành động như vậy sẽ giảm thiểu được phần nào quyền hành vạn năng của tập đoàn cán bộ vạch kế hoạch cho toàn quốc ở Bắc Kinh và chấm dứt sự tê liệt và thờ ơ của nhân dân trên toàn quốc, nhưng trái lại cuộc cải cách này đă mang lại những tác dụng vô cùng tai hại là làm cho hai khối Đảng và Nhà Nước càng xáp gần lại với nhau hơn, ngay tại những khu vực nhỏ bé nhất, khiến cho vai tṛ của viên bí thư Đảng tại địa phương trở thành một ông vua con, oàn quyền sinh sát đối với dân chúng v́ mọi công vụ như ngành cảnh sát, thu thuế, kiểm soát vệ sinh công cọng, cấp phát môn bài v..v.. đều đặt dưới quyền của viên bí thư Đảng, đồng thời y cũng được hưởng quyền tự trị rất lớn đối với Trung Ương Đảng ở Bắc Kinh, và đời sống của các viên chức nhỏ bé trong vùng như lương phạn, thăng thưởng, nghỉ phép, được cấp nhà ở, con cái đi học v..v.. đều lệ thuộc vào sự vui hay buồn của ông vua con ở mỗi địa phương tức là viên bí thư Đảng. Thành thử Đặng Tiểu B́nh thay v́ làm giảm bớt áp lực của Đảng đè nặng lên trên các hoạt động kinh tế, th́ ngược lại những cải cách của ông ta cho phép Đảng được toàn quyền ức chế những hoạt động kinh tế. Và như vậy những cải cách của ông chỉ là một loại phân bón đặc biệt dùng để làm sinh sôi nẩy nở một loại cây dại rất độc mà nhân dân Trung Hoa gán cho cái tên không có trong từ điển Thực Vật Học: đó là "cây tham nhũng". Ngay tại thủ đô Bắc Kinh, trong hang cùng ngơ hẻm dân chúng x́ xầm với nhau: công chức hành chánh là những con chó sói, nhân viên thu thuế là những con cọp đói và cảnh sát viên là những tên ăn cướp, v́ từ trên xuống dưới, chúng đều tham nhũng cả. Những lời kêu than này đến tai Giang Trạch Dân và ông ta bắt buộc phải hành động để cứu chế độ. Nhát búa đầu tiên của ông ta nhắm vào Trần Hy Đồng, Bí thư Thành Bộ Đảng của Bắc Kinh khi ông ra lệnh mở cuộc điều tra về hành vi tham nhũng của toàn bộ cấp lănh đạo cơ quan hành chánh đầu năo thủ đô Bắc Kinh, vào tháng 4, 1995. Cuộc điều tra cho thấy là viên Phó Thị Trưởng Vương Bảo Sâm đă bỏ túi 37 triệu mỹ kim trong một vụ cấp giấy phép xây cất cho một nhà thầu. Rồi người ta thấy Vương Bảo Sâm tự tử;nhưng đâu phải chết là hết chuyện. V́ qua Vương Bảo Sâm, ban điều tra c̣n nhắm viên thị trưởng Trần Hy Đồng là người cầm mọi giềng mối tham nhũng.Y người gốc Tứ Xuyên, trước kia làm nhân viên cảnh sát, sau lần ṃ lên làm đại diện cho Đảng trong một nhà máy công cụ ở ngoại ô Bắc Kinh. Năm 1979, đươc Đặng Tiểu B́nh đưa vào làm việc trong thị xă Bắc Kinh, và 8 năm sau được đề bạt lên chức vụ thị trưởng Bắc Kinh để rồi ít lâu sau trở thành đệ nhất bí thư Đảng của thủ đô Trung Quốc. Địa vị của y coi như lên tới tột đỉnh khi y vận động được sự cặp đôi với thủ đô Paris vào năm 1987. Trần Hy Đồng cũng biết rơ là người cầm đầu ủy ban điều tra về nạn tham nhũng tại Thủ Đô Bắc Kinh là Vĩ Kiên Tính được tiếng thanh liêm từ trước tới nay;nhưng y luôn luôn tỏ vẻ tự tin và không hề tỏ ư lo sợ. Y huênh hoan nói với mọi người là năm 1992 tôi được Đảng chọn vào Bộ Chính Trị là v́ tôi có công trong vụ dẹp tan cuộc biểu t́nh ở Thiên An Môn. Quí vị nên nhớ tôi là người thứ 15 trong Bộ Chính Trị và tôi phải được mọi người kính nể. Nhưng chỉ hai tuần sau đó là Trần Hy Đồng bị buộc phải đệ đơn xin từ chức và chính Vĩ Kiên Tính là người thay thế y trong chức vụ Thị Trưởng thủ đô Bắc Kinh.

          Qua tháng 9,1995,Trần Hy Đồng bị đuổi ra khỏi Bộ Chính Trị v́ y đă toa rập với Vương Bảo Sâm - trước khi tên này tự tử - lập một quỹ đen lên đến 1500 triệu Mỹ kim. Một vụ tham nhũng thứ hai tại thủ đô Bắc Kinh cũng đă gây xôn xao rất lớn trong dư luận quần chúng tại nơi đây là ủy ban điều tra tham nhũng đă phát hiện ra ba nhân viên của Ngân Hàng Trung Quốc đă chuyển ngân ra ngoại quốc 75 triệu Mỹ Kim vào chương mục riêng của họ, trong khi đó tiền lương hằng năm của họ tại ngân hàng này chỉ vào khoảng 300 Mỹ Kim mà thôi. Đối với Đặng Tiểu B́nh mọi quyết định đều tốt nếu quyết định đó giúp cho Trung Quốc thoát ra khỏi cảnh nghèo đói và lạc hậu hiện nay.Ông ta đă từng nói làm giàu là vinh quang, cứ có một số người làm giàu đi đă rồi tự nhiên có người khác noi theo. Và chính các người con của ông ta là những người đi tiên phong trong việc làm giàu này; theo sau họ là con ông cháu cha của những gia đ́nh tai to mặt lớn của Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Ông Đặng Tiểu B́nh có hai trai và ba gái, thường theo sát phụ thân họ trong những ngày bị bố ráp và bị hành hạ ê chề nhất trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Đặng Bất Phương, người con trai đầu của ông Đặng Tiểu B́nh nay phải đi xe lăn v́ bị tê liệt lúc y bị vệ binh Đỏ ném xuống lầu, (lầu 4 ) qua ngă cửa sổ. Lúc ông ta trở lại nắm chính quyền thay cho Mao Trạch Đông th́ ông ta làm hai chuyện cùng song song một lúc: đưa nền kinh tế ngất ngư của xă hội chủ nghĩa qua nền kinh tế thị trường của khối tư bản, đồng thời trải thảm đỏ cho con cái của ông lợi dụng vị thế chính trị và quyền uy của ông để chóng trở thành triệu phú (mỹ kim) đó là một lối nói khiêm nhường, chứ thực ra là tỷ phú mỹ kim mới là đúng chữ. Buồn cười nhất là Đặng Lâm, cô con gái đầu của ông ta tuyên bố với báo chí rằng cô ta có khiếu về hội họa, thế là một số tỷ phú Hong Kong đua nhau đặt mua tranh của cô ta, tuy tranh chưa có nhưng vẫn cứ trả tiền trước cũng không hề chi. Đặng Nam, cô gái thứ nh́, mặc dầu chức vụ trong hội đồng nội các chỉ là thứ trưởng trong ủy Hội Quốc Gia về Khoa Học và Kỹ Thuật, thế nhưng cũng được viên Tổng Giám Đốc đại Công Ty Samsung của Đại Hàn xin được yết kiến để nhờ "nói hộ cho một tiếng" trong việc vận động mở một công ty hàng không dân sự Trung - Hàn. Cuối cùng là cô con gái út Đặng Dung cũng vỗ ngực cho thiên hạ biết rằng ḿnh thích viết sách, thế là ông tỷ phú về ngành truyền thông truyền h́nh của Hoa Kỳ là Rupert Murdoch đặt cọc ngay một triệu mỹ kim để nhờ cô ta viết hộ quyển sách về cuộc đời của thân sinh cô ta, một người mà suốt cuộc đời đă từng hy sinh tánh mạng của chính ḿnh để phát huy chủ nghĩa "Vô Sản", nhưng v́ hoàn cảnh, ông phải hy sinh cho đất nước (giống như chú Tám Thiệu bên Việt Nam); nên ông đành tự bắt buộc ḿnh..... phải trở thành tỷ phú mỹ kim ( !!! ) như tất cả các con của ông ta !!! Cũng nên ghi nhận là tỷ phú Robert Murdoch làm chủ hệ thống truyền h́nh Star-TV được một vệ tinh Trung Cộng truyền h́nh đi khắp Viễn Đông, cho nên y cần điếu đóm với con gái của Đặng Tiểu B́nh để c̣n "làm ăn" sau này ở Trung Hoa. C̣n hai người con trai của Đặng Tiểu B́nh th́ cũng theo chân phụ thân họ để làm giàu gấp rút hầu đuổi cho kịp mấy cô con gái nói trên. Trưởng nam của ông Đặng Tiểu B́nh là Đặng Bất Phương có thành lập một hội mang tên "Hội người thương phế Trung Hoa" mà y là chủ tịch.

          Nhưng vào cuối thập niên 1980 th́ hội này bị tố gian lận thuế má và biển thủ quỹ dành cho người tàn phế khiến cho giới trẻ bất măn, đưa đến vụ xuống đường ở Thiên An Môn vào năm 1989, để rồi từ đó Đặng Bất Phương không c̣n dám xuất hiện công khai trong giới kinh doanh nữa. C̣n cô con gái thứ hai là Đặng Nam, mặc dầu làm thứ trưởng trong một bộ của chính phủ Trung Hoa nhưng tên của y thị vẫn luôn luôn nằm trong danh sách ban chấp hành của một đại công ty đầu tư có trụ sở tại Hồng Kông. Chồng của Đặng Nam là Vũ Kiên Chương là giám đốc của một công ty quốc doanh về ngành luyện thép lớn nhất nh́ ở Trung Hoa. Chồng của Đặng Dung, cô con gái út của Đặng Tiểu B́nh là tướng Hạ B́nh làm giám đốc Cục Vũ Khí của Hồng Quân Trung Cộng kiêm chủ tịch công ty Polytechnologies, một công ty xuất cảng vũ khí lớn nhất của Trung Hoa. Con trai thứ hai của họ Đặng là Đặng Chi Phương làm chủ một công ty xây cất cao ốc đặt trụ sở tại Hồng Kông và là chủ nhân của 6 trung tâm thương mại trên lục địa Trung Hoa, dọc theo bờ bể Thái B́nh Dương. Sau cuộc can thiệp của NATO vào Kosovo ở Nam Tư, Trung Cộng cũng đă bắt mạch được Hoa Kỳ đến mức nào rồi! .Trong trường hợp Trung Cộng v́ sự sống c̣n của chế độ mà quyết thực hiện cho kỳ được việc sáp nhập 21 triệu dân Đài Loan vào lục địa Trung Hoa, th́ liệu Hoa Kỳ có can thiệp vào cuộc chiến chống xâm lăng của Đài Loan hay không? Nếu không th́ hậu quả ǵ sẽ xảy ra cho Hoa Kỳ? Liệu Hoa Kỳ có dám đóng vai tṛ trung lập khi Trung Cộng xâm lăng Đài Loan hay không?. Tất cả các nước trong vùng Đông Á Châu như Nhật Bản, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mă Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương và Úc Châu sẽ nhận thấy kết bạn với Hoa Kỳ là một nguy cơ đối với họ hơn là một bảo đảm để chống lại xâm lăng đến từ phiá Trung Cộng; để rồi từ đó mọi quyền lợi về kinh tế mà trước kia họ dành cho Hoa Kỳ th́ nay họ sẽ cúi đầu dâng hiến cho Trung Cộng bằng hai tay. Sau đó, sẽ không một nước nào trong vùng Đông á dám cho tàu chiến của Hoa Kỳ ghé vào hải cảng của họ để sửa chữa, hoặc để tham quan v́ họ sợ Trung Cộng trả đũa. Một khi niềm tin ở ông cảnh sát trưởng quốc tế đă mất th́ c̣n lâu lắm họa chăng mới văn hồi lại được niềm tin này.

          10.Lch S Lại Tái Diễn

          Đọc truyện "Tam Quốc" chắc không thể nào quên được vụ Khổng Minh dụ địch cha con Tư Mă Ư vào trong Hồ Lô Cốc, đoạn phóng hỏa đốt cháy cha con ông này khi đă vào sâu trong hang. Nhưng may thay khi ấy trời giáng xuống một trận mưa rào rất lớn như thác đổ, làm cho lửa tắt ngóm. Giờ đây lời giải thích của một chiến lược gia Hồng Quân Trung Cộng tin rằng bộ trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Donald Rumsfeld không có ư định đồn trú quân lâu tại các nước trong vùng Trung Á, và biết đâu sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ tại nơi đây lại là một sự bảo đảm về an ninh cho Trung Quốc cũng nên, th́ lời biện hộ nầy giống như lời của ông Tư Mă Ư - nếu có - nói tốt cho ông Khổng Minh sau khi thoát khỏi Hồ Lô Cốc, là ông Khổng Minh ngại Tư Mă Ư đi vào sâu trong hang Hồ Lô sẽ bị nhiễm lạnh nên cho nổi lửa để sưởi ấm ông nầy, và khi lửa cháy to quá th́ ông Khổng Minh có tài hô phong hoán vũ nên đă làm cho mưa đổ xuống để làm cho khô giáp trụ của cha con Tư Mă Ư là vậy đó, chứ thực ra Khổng Minh không bao giờ có ác ư muốn giết chết Tư Mă Ư như người ta tưởng! Đó là luận điệu khi thương th́ trái ấu cũng tṛn, nhưng khi ghét th́ bồ ḥn cũng méo. Thời đó Tư Mă Ư thương mến Khổng Minh, hay Khổng Minh thương mến Chu Du khi Chu Du chết th́ chả khác nào bây giờ Giang Trạch Dân "ái mộ" tổng thống Bush vậy. Sự xoay chiều trong đường lối chính sách ngoại giao của Trung Cộng bắt đầu ló dạng vài tháng sau khi ông George W. Bush được bầu vào ṭa Bạch Ốc, và Trung Cộng ngày càng gặp rất nhiều khó khăn nội bộ về chính trị và kinh tế cần phải đương đầu. Khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng 9 buộc tổng thống Bush phải điều động quân đội Đồng Minh qua A Phú Hăn trừng phạt bọn Hồi giáo khủng bố Taliban, người ta mới thấy được một cách rơ rệt đường lối chiến lược chỉ đạo của Hoa Kỳ, có thể tóm tắt lại thành 3 trụ chiến lược chủ trương dùng quân đội để phục vụ tối đa quyền lợi của đất nước kể cả việc hợp tác hành động chung với các nước đồng minh; tận dụng khả năng điều động lực lượng quân sự đến bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và bất cứ trong trường hợp nào; và cuối cùng là trông cậy vào khoa học, vào kỹ thuật và vào các nguồn lợi kinh tế để bảo đảm vị trí lănh đạo thường trực của quân đội Hoa Kỳ. Chủ thuyết quân sự Hoa Kỳ lúc nào cũng được bố trí để việc xử dụng quân đội ở quốc ngoại luôn luôn nhắm mục tiêu phục vụ quyền lợi về an ninh căn bản của đất nước.

          Như chúng ta thấy sau khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng 9, việc đề binh sang chinh phạt bọn khủng bố Hồi giáo khát máu dân lành rơ ràng đă đáp ứng một mục tiêu chiến lược cao cả là bảo vệ nền dân chủ trong nước, tận diệt bọn độc tài sắt máu và ǵn giữ ḥa b́nh cho nhân loại. Ngay trong những ngày đi vận động tranh cử tổng thống - từ năm 1999 - ông Bush cũng đă khẳng định rằng "mặc dầu Hoa Kỳ phải có mặt trên khắp thế giới, nhưng không phải v́ chủ trương như vậy mà bắt buộc quân đội của chúng ta phải đáp ứng tất cả mọi trường hợp khó khăn xảy ra trong việc đối ngoại, và chúng ta chỉ có thể dùng quân đội để phục vụ những quyền lợi thường trực của quốc gia mà thôi". Chẳng hạn như bảo đảm việc lưu thông dầu hỏa ở Trung Đông, ǵn giữ nền an ninh của 2 nước Do Thái và Đài Loan, ngăn chận làn sóng ma túy phát xuất từ Nam Mỹ v...v... Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt th́ Hoa Kỳ bắt buộc phải đặt lại vấn đề nhu cầu chiến lược quân sự của họ trên khắp hoàn cầu, nhất là từ nay cần phải chú trọng nhiều về những cuộc đụng độ tuy ngắn nhưng có thể khốc liệt hơn tại nhiều nơi trên quả địa cầu. Đồng thời trong lúc đó con số các quốc gia chịu chấp nhận cho họ đóng quân và tồn trữ vũ khí cũng sẽ ít lại, nên các nhà quân sự Hoa Kỳ đă thay đổi nhiều về chiều hướng suy tư trong lănh vực quân sự bằng cách phát triển các phương tiện can thiệp và chuyển vận nhanh quân nhu và quân cụ ngay từ các căn cứ đồn trú trên nội địa Hoa Kỳ.

          Trong cuộc chiến tranh ở Kosovo thuộc vùng Ba Nhĩ Cán (Balkans), Hoa Kỳ đă gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển các loại vũ khí nặng như chiến xa và trọng pháo, nên v́ vậy mà sau cuộc chiến Kosovo, Hoa Kỳ đă bắt đầu chuyển hướng mạnh trong lănh vực vận chuyển quân cụ sao cho hữu hiệu đến ngay chiến trường. V́ vậy tổng thống Bush đă dành ưu tiên cho những lực lượng quân sự nhẹ, dễ lưu động, nhưng được trang bị bằng loại đạn dược có sức công phá rất mạnh và được hướng dẫn bằng điện tử  (Precision Guided  Munitions, PGM). Về hải quân, Ngũ Giác Đài không c̣n thiết tha lắm đối với những loại tàu lớn như hàng không mẫu hạm mà dành ưu tiên cho những loại tàu nhỏ chở vũ khí và đạn dược, thấp lè tè trên mặt nước, rất khó phát hiện  từ xa và có trang bị đủ loại hỏa tiễn được điều khiển tự động. Về Không Quân th́ ưu tiên dành cho việc sản xuất phóng pháo cơ không người lái và kiện toàn các phi cơ tiếp tế nhiên liệu cho phi cơ bạn ngay trên trời.

          Trong một buổi nói chuyện ngày 13 tháng 2, 2001, tổng thống Bush đă khẳng định mục tiêu của ông trong những ngày sắp tới là biến Bộ Binh thành một lực lượng "khinh binh" rất nguy hiểm đối với kẻ địch, hữu hiệu hóa khả năng oanh tạc chính xác tối đa của Không Quân trên khắp hoàn cầu và cung cấp cho Hải Quân những phương tiện thích ứng để có thể yểm trợ tối đa và hữu hiệu các cuộc hành quân trên bộ. Khi Nam Việt Nam mất nước, đồng bào ta chạy sang tỵ nạn tại Houston khá nhiều, trong đó có một tên từng điếu đóm, thân cận của "chú Tám" nay đă ra người thiên cổ. Khi Phó tổng thống Herbert Bush ra tranh cử tổng thống lần đầu năm 1988, t́nh  cờ bà Bush có vào mua mấy chai rượu tại  tiệm rượu của tên nầy. Tên lưu manh nầy chộp ngay lấy cơ hội bằng vàng để được làm quen với bà Herbert Bush, rồi hắn mời bà nầy về nhà hắn, mở tiệc khoản đăi khách khứa, vận động tuyển cử cho ông Bush (cha), v́ hắn khoe với bà nầy hắn có rất nhiều đảng viên tại Houston, thôi th́ để cho ông Bush tha hồ "hốt phiếu của người Việt tại nơi đây". Trong suốt thời gian ông Bush (cha) vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ đầu, tên "đón gió thời cơ" nầy không ngớt đi rêu rao trong giới đồng bào Việt Nam hải ngoại rằng chuyến này - nếu ông Bush (cha) đắc cử, th́ ít nhất hắn cũng kiếm được một ghế nếu không phải Bộ trưởng th́ cũng là Thứ trưởng. Trong khi kiểm phiếu, đảng Cộng Ḥa mới phát giác - qua máy điện toán - là trong toàn tiểu bang Texas, chỉ có vơn vẹn 129 người Việt đi bỏ phiếu cho ông Bush (cha). Thế là từ đó đảng Cộng Ḥa rạch hắn, bộ trưởng, thứ trưởng không có đă đành, đến một cái "giốp" xin làm vệ sinh hắn cũng không dính. Thế rồi "phước bất trùng lai, họa vô đơn chí", con trai của hắn vốn có chân trong một băng đảng "x́ ke ma túy" xách súng đi ăn cướp, bị cảnh sát phát giác bắt trọn ổ, đem về bỏ tù. Câu chuyện của tên lưu manh đến đây chấm dứt, nhưng chuyện về gia đ́nh của ông Bush th́ chỉ mới bắt đầu thôi. Một điểm son dành cho tổng thống W. Bush là chính sách tận diệt bọn khủng bố Osama Bin Laden của ông - ngay từ lúc ban đầu - đă được sự ủng hộ của sáu mươi nhà trí thức có tiếng tăm, phần lớn là giáo sư tại các đại học danh tiếng của Hoa Kỳ, và họ đă cùng kư tên vào một bức thư chung, trong đó họ cho rằng: "Có nhiều lúc chiến tranh được chấp nhận không phải v́ lư do đạo đức mà c̣n v́ nhu cầu đạo đức nữa, để đối phó với những sự thị uy khủng khiếp dựa trên bạo lực, oán hờn và đó là trường hợp được nêu trong bức thư nầy".

          Trong số 60 nhà trí thức đó, có thể nêu tên quư ông Francis Fukuyama, Samuel Huntington, Daniel Patrick Moynihan, David Blakenhorn, Michel Walzer, Robert Putnam, Michael Novak, Amitai Etzioni. V́ nhắc đến tên của 60 vị trí thức đă từng kư tên trong một bức thư chung, ủng hộ hành động của tổng thống Bush, làm cho chúng tôi sực nhớ đến nhóm trí thức "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản" ở miền Nam Việt Nam trong những thập niên 50 và 60. Họ là những sinh viên đỗ tú tài ở Việt Nam trong khoảng thập niên 1930 - 1940, được học bổng qua du học tại Pháp quốc và đa số đă chịu ảnh hưởng khá nặng của khối sinh viên thiên tả trong đảng cộng sản Pháp. Đến khi về nước, họ trở thành những cái loa tuyên truyền cho Việt cộng, để lũng đoạn hàng ngũ quốc gia ở miền Nam , mặc dầu đa số - miệng th́ đề cao cộng sản mà kỳ thật chả hiểu biết ǵ về chủ trương đường lối của đảng cộng sản cả. Trong hạng người nầy, tôi có hai người quen, một người là vợ của một bác sĩ y khoa, có pḥng mạch tư ở Chợ Lớn, và người thứ hai là vợ của một tiến sĩ dược khoa, giáo sư đại học Sài G̣n, có hiệu thuốc Tây gần chợ Tân Định, Sàig̣n. Có một hôm, tôi đến chơi nhà ông bác sĩ y khoa trên và được mời vào pḥng khách gần pḥng mạch của ông ta. Thoạt mới vào nhà, tôi đâm ra chóa mắt khi nh́n thấy trên các kệ dọc theo bờ tường chưng đầy sách để gáy ch́a ra ngoài. Một điều lạ nữa là ông bác sĩ nầy chỉ mua toàn loại sách b́a mỏng thôi và toàn sách xuất bản ở Pháp. Ngày xưa, kỹ nghệ ấn loát sách ở Pháp c̣n thô sơ, không như ở Hoa Kỳ, v́ chỉ có sách đóng b́a cứng là có cắt xén hẳn hoi, c̣n sách b́a mỏng th́ họ in trên giấy rộng, xong xếp và đóng lại mà không cắt xén ǵ ráo, nên khi mua sách th́ tuy giá tiền rẻ chỉ bằng nửa sách b́a cứng, nhưng người mua lại phải tốn công ngồi rọc cả quyển sách rồi mới bắt đầu đọc được. Tôi bèn ṭ ṃ rút một quyển sách ra xem, th́ ra quyển sách c̣n mới toanh, chưa được gia chủ đọc v́ quyển sách chưa được rọc. Thế rồi tôi lại lấy một quyển sách khác và quyển sách nầy cũng chưa được rọc như quyển trước, và cứ thế, quyển sách nào tôi rút ra cũng đều không được rọc như quyển đầu tiên. Th́ ra ông bác sĩ chủ nhà mua sách để "chưng" thôi, có thể nói để làm oai với thiên hạ chứ không phải để đọc như tôi tưởng, và cũng v́ vậy mà ông ta mua loại sách b́a mỏng để mua cho được nhiều, càng nhiều càng tốt. Khi ra về, tôi cứ tưởng chỉ có ông bác sĩ nầy là một kỳ quan trong vũ trụ, nhưng sau đó tôi đến nhà ông dược sĩ ở Tân Định th́ té ra suy tư của ông nầy giống đúc như ông bác sĩ kia, cả hai ông đều mắc chứng bệnh nhắm mắt "bốc thơm" Việt Cộng v́ đă có một số trí thức "vái" Việt Cộng rồi mà họ không “lạy” theo th́ lại sợ "nhỡ tàu"!!

          Năm 1996, dân chúng Hoa Kỳ nô nức đi bầu lại một ông tổng thống "râu xanh" có thành tích "trốn lính" lên làm tổng tư lệnh một quân đội được coi như mạnh nhất hoàn cầu. Trong bầu không khí chính trị "chủ bại" đó, cũng may là lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ lại do đảng Cọng Ḥa nắm đa số, nên cũng vớt vát được phần nào. Và cũng để cảnh cáo dân chúng Hoa Kỳ phải luôn luôn đề cao cảnh giác, thượng nghị sĩ Jesse Helms đă lên tiếng trong bài diễn văn "Entering the Pacific Century" đọc tại Heritage Foundation, Washington, DC, trong năm đó rằng "Hiện giờ chúng ta đang đứng ở giữa, và chúng ta phải giữ măi vị trí đó." Rồi ông ta tiếp: "Hoa Kỳ phải lănh đạo hoàn cầu bằng cách nêu cao ngọn đuốc đạo đức, chính trị và quân sự của luật pháp và sức mạnh, để làm gương mẫu cho cho tất cả các dân tộc trên thế giới". Vài năm sau đó, một nhà báo bảo thủ  Charles Krauthammer cũng đă viết trong bài tham luận "The Second American Century" trong Time Magazine, 27-12-1999 rằng: "Hoa Kỳ đối với thế giới như một cường quốc..... Kể từ khi La Mă tiêu diệt Carthage cho đến nay, chưa có một cường quốc nào đạt tới đỉnh cao mà chúng ta đang đứng hiện nay."  Rồi ông ta tiên đoán rằng "vị trí độc cực nầy sẽ kéo dài ít nhất là một thế hệ nữa". Một kư giả khác, rất có tên tuổi, ông Mortimer Zuckerman đă viết trong bài tham luận "A Second American Century" đăng trong tạp chí Foreign Affairs, tháng 5-6 1998: "Thế kỷ thứ XVIII chịu ảnh hưởng của Pháp, thế kỷ thứ XIX của Anh và thế kỷ thứ XX của Hoa Kỳ. Thế kỷ tới đây (tức là thế kỷ thứ XXI) sẽ là thế kỷ của Hoa Kỳ và Việt Nam ( không Cộng Sản)." Trạng thái phớn phở của phe hữu khuynh Hoa Kỳ đă được bộc lộ rơ ràng một phần nào trên báo chí, nhất là sau khi "chiến tranh lạnh" chấm dứt. Kể từ 1991, Hoa Kỳ đă chiếm một vị trí hết sức đặc biệt, không tiền khoáng hậu trong lịch sử cận đại của thế giới. Trái ngược với đế quốc Anh khi vào cuối thế kỷ thứ 19 đă phải cạnh tranh với sự vươn lên trên chính trường Âu Châu của Đức quốc, Hoa Kỳ rất may mắn là chả có một đối thủ chiến lược nào khả dĩ có thể cạnh tranh hữu hiệu được với họ trên chính trường quốc tế lúc bấy giờ. Vả lại vào thời buổi đó, những quốc gia chính ở Âu Châu và Nhật Bản có thể ganh đua với họ về kinh tế th́ lại là những đồng minh chiến lược của họ từ lâu rồi.

          Trên lănh vực chính trị, họ thấy khu vực ảnh hưởng của họ mở rộng thêm giúp cho họ gia tăng mọi cố gắng vận động. Trên lănh vực kinh tế, họ đặt ra những quy luật, những tiêu chuẩn và những kiềm chế trong hệ thống quốc tế. Giữ cho được nguyên trạng thuận lợi đó kể từ 1991, đă trở thành mục tiêu chính trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tuy nhiên cách áp dụng chính sách cũng rất tùy thuộc ở thái độ hợp tác hay bó buộc của các phe đối thoại. Dưới chính quyền của cựu tổng thống Clinton th́ nặng về lănh vực ngoại giao kinh tế, c̣n với chính quyền Bush chủ trương độc cực và dựa trên sức mạnh, nên v́ vậy mà họ đương nhiên mở rộng phạm vi tầm hoạt động vai tṛ bá chủ hoàn cầu của Hoa Kỳ ngay trước khi xảy ra vụ khủng bố 11 tháng 9, 2001. Sau khi thắng cử chật vật bằng một phiếu đa số cử tri đoàn, tổng thống W. Bush cùng toàn thể nội các - ngay trong những tháng đầu sau khi nhậm chức - đă có thái độ cứng rắn trong cuộc bang giao song phương với Trung Cộng; đặt vấn đề duyệt lại thỏa ước chống hỏa tiễn liên lục địa ABM 1972 qua sự công bố quyết định việc đơn phương thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn; công bố ư định quân sự hóa không gian; bác bỏ Nghị Định Thư Kyoto về môi sinh, không mấy sốt sắng trong việc hợp tác với Tổ Chức và Phát Triển Kinh Tế (OCDE), cũng như chống lại mọi phán quyết của Cơ Quan Giải Quyết mọi dị biệt xảy ra trong Tổ Chức Thế Giới về Thương Măi (OMC).

          Chính quyền Bush cũng coi thường phán quyết của ṭa án quốc tế về h́nh sự mà chính quyền cựu tổng thống Clinton đă từng đồng ư tham gia. Thế rồi ngày lại ngày, chính quyền của Tổng thống W. Bush càng để lộ quyết tâm đề cao hành động đơn phương, đồng thời khước từ không chấp nhận mọi hành động của quốc tế nhằm hạn chế - dù chỉ là tối thiểu - mọi chủ quyền của Hoa Kỳ, qua các hiệp ước đa phương dựa trên công pháp quốc tế. Ông phụ tá của ông Colin Powell, bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ là ông John Bolton đă từng khẳng định - một dịp nào đó trong giới ngoại giao - là "công pháp quốc tế giờ đây không c̣n lư do để tồn tại nữa". Theo nhận xét của sử gia Ronald Steel, sau 1945, tất cả các tổng thống Hoa Kỳ từ Harry Truman cho đến George Herbert Bush (Bush cha), đều là những "tổng thống của thời chiến". Chỉ có dưới thời Bill Clinton th́ trung tâm điểm thời bấy giờ thấy có xê dịch rơ rệt từ bộ máy An Ninh Quốc Gia ngả về phía bộ Kinh Tế và Cơ quan An Ninh Kinh Tế về phía ṭa Bạch Ốc. Cũng v́ ông Clinton chủ trương sự đảo lộn những ưu tiên nêu trên đây, nên theo ông Steve Clemons, giám đốc của Japan Policy Research Institute, ông đă đặt lại vấn đề tồn tại của Ngũ Giác Đài và sự cấu tạo của nền an ninh quốc gia trong cuộc chiến tranh lạnh. Cựu tổng thống Clinton lại c̣n chủ trương nên có một sự giải ngũ rộng lớn trong ngành quân lực Hoa Kỳ. V́ sự chủ trương nầy mà ông Clinton đă gặp sự chống đối dữ dội của các tướng lănh trong quân đội và của các tổ hợp sản xuất vũ khí, nhất là họ kỵ nhất về vụ ông ta trốn đi lính trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Và cuối cùng ông ta đành phải nhượng bộ. Ngân sách quốc pḥng  năm 1994 là 280 tỷ mỹ kim được giữ y nguyên và tăng thêm 112 tỷ mỹ kim vào năm 1998 dưới áp lực của lưỡng viện quốc hội có đa số Cộng Ḥa. Thế rồi từ nhượng bộ nầy đến nhượng bộ khác, ông Clinton đă lần lượt  trao cho Ngũ Giác Đài tất cả những ǵ họ muốn. Nhưng trước khi "đầu hàng" ông ta đă có những hành động để lộ một cách trắng trợn khuynh hướng thiên tả cũng như đầu hàng bọn khủng bố khi chúng cho nổ bom làm sụp đổ nơi đóng quân của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại thủ đô Beirut của Lebanon; hay bắn chết 18 lính Dù Hoa Kỳ tại thủ đô Mogadishu của Somalia. Sau khi xảy ra những vụ giết chóc nầy, th́ ông Clinton có ngay những quyết định tệ hại nhất, là ra lệnh rút quân khẩn cấp như có ma đuổi. Với tư cách tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, cựu tổng thống Clinton đă lấy một quyết định chưa từng thấy trong lịch sử Hoa Kỳ là từ chối để cho Cơ Quan T́nh Báo CIA hằng ngày tŕnh bày cho ông ta hay t́nh h́nh trong cũng như ngoài nước. Ông ta cũng đồng ư với Sara Lister phụ tá bộ Quốc Pḥng, ngành Lục quân, liệt binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến vào loại người quá khích.

          Cựu TT Clinton khi ông ta đi công du hải ngoại, luôn luôn ông ta xin lỗi các nhà lănh đạo các nước ông ta thăm viếng về những hành động trong quá khứ của các vị tổng thống tiền nhiệm mà ông ta đều liệt vào hàng ngũ cực hữu. Nhưng với tổng thống George W. Bush th́ lại khác hẳn, khi ông vạch cho ta thấy trong bản tŕnh bày trước lưỡng viện Quốc Hội vào đầu năm 2002 và ông đă phác họa một thế giới mà mọi người đều cùng nhau góp phần xây dựng một xă hội trong đó mọi tầng lớp đều được tự do và tận hưởng sự thịnh vượng. Điều làm cho thế giới ngạc nhiên nhất khi tổng thống Bush nêu đích danh trong bài diễn văn đọc trước lưỡng viện Quốc Hội vào trung tuần tháng giêng, 2002, ba nước Iran, Iraq và Bắc Hàn là ba nước "khủng bố", th́ bỗng nhiên có một sự thay đổi hết sức đột ngột trong thái độ của hai đại cường Nga và Trung Cộng. Đối với Nga, lời tuyên bố của ngoại trưởng Sergei Ivanov - viên tướng mật vụ KGB bài Mỹ nhất nước Nga mỗi khi y có cơ hội để nói lên nỗi căm phẩn của ḿnh - không làm cho ta ngạc nhiên cho lắm v́ ba quốc gia "khủng bố nêu trên đều là "bồ ruột" của Nga được nước nầy nuôi dưỡng từ khi c̣n mồ ma Liên Bang Xô Viết. Chỉ có việc Trung Cộng xoay chiều 180 độ trong đường lối ngoại giao đối với Hoa Kỳ mới là một hiện tượng "động trời" đáng ghi trong lịch sử cận đại của nhân loại trong đầu thiên niên kỷ thứ hai nầy. Câu chuyện xảy ra coi như "không tưởng" nhưng mà lại có thật.

          Hai ngày sau khi tổng thống Bush khẳng định ba nước Iran, Iraq và Bắc Hàn là một mối nguy cho nhân loại, th́ tại Bắc Kinh, thủ đô Trung Quốc, một học giả có tiếng tăm - nhưng được nhà nước dấu  nhẹm  danh tánh - đă lên tiếng trong một cuộc hội thảo hạn chế với một số công chức cao cấp trong chính quyền Trung Cộng, rằng kể từ nay và rất có thể măi măi về sau nầy- Hoa Kỳ - sẽ không c̣n là kẻ thù của Trung Quốc nữa. Theo vị học giả đó, lư do chính phát sinh từ cuộc khủng bố 11 tháng 9, 2001 xảy ra tại New York và tại Ngũ Giác Đài. Cũng xin nhấn mạnh với quư bạn đọc là tại những nước " sặc mùi cộng sản " như ở Trung Cộng, Việt Nam hay Bắc Hàn bất cứ người thường dân nào bị thấy cầm trong tay một quyển "thánh kinh Thiên Chúa Giáo" c̣n bị bắt và bị bỏ tù ngay, thế mà vị học giả có tên tuổi nầy lại dám đứng lên công khai tuyên bố "xanh rờn" về Hoa Kỳ như vậy th́ nếu ông ta không phải là bố của Giang Trạch Dân th́ cũng đă được Đảng ra lệnh bảo ông ta phải nói như vậy thay cho y. Theo vị học giả - được đảng Cộng Sản Trung Quốc giả vờ bày tṛ dấu tên để tăng thêm tầm quan trọng của vấn đề,  đưa ra - sau vụ khủng bố 11 tháng 9, Trung Quốc phải chọn lựa hoặc Hoa Kỳ, hoặc Osama Bin Laden. Rồi ông ta nói tiếp là trong khi một số trí thức và nhân viên chính quyền có phản ứng hồ hỡi khi nghe tin về vụ khủng bố nầy th́ tổng thống Giang Trạch Dân và các nhân viên cao cấp trong chính quyền Trung Quốc đă nhận thức được rằng v́ quyền lợi, Trung Cộng bắt buộc phải ngả về phía Hoa Kỳ. Đoạn ông ta tiếp: "Chúng ta chọn Hoa Kỳ và Hoa Kỳ rồi đây cũng sẽ bị bắt buộc gác bỏ mọi lo âu của họ về "mối nguy cơ Trung Quốc" trong tương lai, hay ít nhất là trong giai đoạn nầy để đặt chú tâm vào kẻ thù ở A Phú Hăn". Ngày 1 tháng 7, 2001 trong bài diễn văn của Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Trung Cộng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng, Giang Trạch Dân - lần đầu tiên trong lịch sử cận đại Trung Hoa - đă không đả động ǵ đến việc chống lại họa "bá quyền", tuy không nói rơ bá quyền nào, nhưng từ trước tới nay mọi người trong đảng cộng sản Trung Hoa đều biết danh từ đó ám chỉ Hoa Kỳ. Để thay vào chỗ trống đó, Giang Trạch Dân đă nhấn mạnh "chúng ta cần phải làm việc tích cực hơn nữa cho Ḥa B́nh và Phát Triển", câu nầy tuy không được công khai giải thích và khai triển thêm nữa, nhưng mọi đảng viên đều ngầm hiểu rằng đồng chí Tổng Bí Thư Đảng muốn đề cập đến vấn đề cấp thiết là v́ sự sống c̣n, Đảng cần phải đạt cho kỳ được sự hợp tác với Hoa Kỳ. Về đối nội, họ Giang nhấn mạnh chủ trương của ông ta là đưa những người giàu có vào trong Đảng, c̣n về đối ngoại th́ phải t́m cho được những quốc gia tư bản để kết bạn. Từ nay trở đi sẽ không c̣n việc đề cao đấu tranh giai cấp nữa, đồng thời vấn đề liên kết với các nước trong Thế Giới Thứ Ba cũng cho đi vào quên lăng luôn.

          Không phải quan điểm mới nầy được sự chấp nhận của toàn thể đại diện đảng viên trong Đảng v́ phe bảo thủ vẫn cho rằng sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ tại các quốc gia trong vùng Trung Á ở sát ngay biên giới phía Tây của Trung Cộng vẫn luôn luôn là một mối đe dọa nặng nề đối với họ. Đồng thời việc quốc hội Nhật Bản vừa chuẩn y một đạo luật chấp nhận cho chính quyền được phép gởi một khu trục hạm qua Ấn Độ Dương để tham gia cuộc chiến tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ lănh đạo là một bằng chứng cho thấy Nhật Bản đang có manh nha muốn vơ trang lại quân đội của Thiên Hoàng. Trong khi đó th́ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục bán vũ khí tối tân trong đó có một số tiềm thủy đỉnh cho Đài Loan. Phe bảo thủ lại c̣n hiềm tị rằng Hoa Kỳ đă có nhiều hành động chứng tỏ họ ưu đăi Nga hơn Trung Cộng. Học giả Ye Zicheng, một giáo sư rất có uy tín của Đại Học Bắc Kinh  hiện nay, đă từng viết rằng tốt hơn hết, Trung Cộng nên từ bỏ đường lối ngoại giao đă tốn công theo dơi gần một trăm năm nay, một đường lối ngoại giao khiêm nhượng, nhún nhường, nhưng thời hồ lại có những bộc phát quá mức do những xúc phạm gây ra, thay v́ biết tự kiểm soát ḿnh trước dư luận thế giới và hành xử như bất cứ một cường quốc nào thường làm. Học giả Ye thẳng thừng chỉ trích đường lối ngoại giao của Trung Cộng đi sát cánh với các nước trong Thế Giới Thứ Ba, trong khi đó lại lơ là với các nước Tây Phương mà hiện nay chúng ta đang cần để hiện đại hóa đất nước chúng ta. Ông ta cũng thẳng thừng chỉ trích đường lối ngoại giao của Trung Cộng luôn luôn coi Hoa Kỳ là một bá quyền nuôi mộng làm chủ hoàn cầu đồng thời ve văn Nga trong mục tiêu lôi kéo họ vào phe với ḿnh để làm áp lực với Hoa Kỳ. Ông Ye cũng chỉ trích luôn phản ứng tệ hại của chính quyền đối với Hoa Kỳ sau cuộc ném bom vào ṭa đại sứ Trung Quốc ở thủ đô Belgrade, Nam Tư vào năm 1999. Ông ta nói: "Chúng ta cần phải luôn luôn đứng trên phương diện của một đại cường biết tự kiềm chế những mối xúc động vụn vặt khi chúng ta giao thiệp với Hoa Kỳ trong viễn ảnh t́m kiếm một lối thoát cho chúng ta để hiện đại hóa đất nước, ổn định nền an ninh nội bộ và thực hiện kế hoạch thống nhất của chúng ta trong tương lai".

          Và cuối cùng, ông Ye khuyến cáo các nhà lănh đạo Trung Hoa nên noi gương các nước Tây Âu và tuyệt đối tránh đi vào vết xe cũ của Liên Bang Xô Viết ngày xưa là đi xâm lăng các quốc gia chunhg quanh. Ngày 24 tháng giêng, 2002 Phó Thủ Tướng Trung Cộng kiêm ngoại trưởng Qian Qichen đă làm ngạc nhiên giới ngoại giao quốc tế khi ông ta đưa ra một lời tuyên bố rất ḥa hoăn đối với chính quyền Đài Loan, hiện nay đang chủ trương một đường lối ngoại giao độc lập không dính dáng ǵ đến chính quyền Bắc Kinh, chứ không có dùng luận điệu đe dọa dùng vơ lực đối với Đài Loan như từ trước đến nay ông ta thường dùng. Và cũng trong ngày nầy, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă thông báo cho chính quyền Trung Cộng hay là họ đă có quyết định cấm không cho buôn bán trong 2 năm với Hoa Kỳ, hai công ty của Trung Cộng là Liyang Chemical Equipment Co. và China Machinery and Electric Equipment Import and Export Company và một thương gia tên Q.C. Chen đă vi phạm luật cấm xuất cảng sang Iran những vật liệu nằm trong danh sách bị cấm của chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến việc sản xuất vơ khí tiêu diệt hàng loạt. Đến 24 tháng 2, 2002 th́ tổng thống W. Bush sẽ viếng thăm Trung Cộng và sau đó th́ Giang Trạch Dân sẽ đáp lời mời của TT Bush qua thăm trại hè của ông nầy tại Crawford, trong tiểu bang Texas. Tuy Trung Cộng có tỏ thiện chí như vậy, nhưng con đường ngoại giao giữa hai nước c̣n lắm chông gai, nhiều thử thách tích lủy gần cả một thế kỷ nay, dễ ǵ có thể giải quyết trong một sớm một chiều. Nào vấn đề tự trị - chỉ tự trị thôi của Tây Tạng và Tân Cương Trung Cộng cũng đủ điên đầu rồi; đó là chưa đề cập đến vấn đề tự do tín ngưỡng, hành đạo của Pháp Luân Công, của Thiên Chúa Giáo, của Tin Lành; vấn đề đ̣i Dân Chủ hóa của phần lớn nhân dân Trung Quốc v..v..

           Sở dĩ Giang Trạch Dân cho các "học giả" tung ra những ư kiến chỉ làm lợi cho Trung Cộng và cũng để thăm do phản ứng của Hoa Kỳ trước khi ông ta gặp ông Bush tại Bắc Kinh, nhưng ông Bush đă làm ngơ, không hề hé môi. Và cuộc gặp gỡ sau đó chả đem lại kết quả ǵ cụ thể cả.

11. Chính  Quyền  George W Bush"Tiền Hung Hậu Kiết "

          Năm cuối nhiệm kỳ của cựu tổng thống Clinton, đă có lần thấy trên báo chí Hoa Kỳ đăng h́nh của quư ông Putin, tổng thống Nga, Giang Trạch Dân, Tổng Thống Trung Cộng đứng chụp chung với 4 ông tổng thống của các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan sau khi cùng nhau đồng kư kết vào một hiệp ước tương trợ lẫn nhau Shanghai Cooperative Organization. Bức h́nh chụp 6 ông tổng thống - miệng cười toe toét, với 6 bàn tay nắm chặt lấy nhau. Kẻ hèn nầy nh́n thấy bức h́nh nầy mới chợt nghĩ thầm trong bụng rằng dù nắm tay cho chặt, nhưng trong ḷng bàn tay đều trống rỗng cả, không có lấy một tờ mỹ kim xanh cầm cho vui th́ cũng chả đi đến đâu. Quả thật đúng như vậy. Sau khi tổng thống W. Bush điều động quân lính qua hỏi tội bọn Hồi giáo khủng bố Taliban ở A Phú Hăn và phái ông bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld bay qua từng tiểu quốc một trong vùng Trung Á để thương lượng việc kư kết những hiệp ước tương trợ lẫn nhau kèm theo những thỏa ước viện trợ kinh tế dồi dào lên đến hằng trăm triệu mỹ kim, nên tiểu quốc nào cũng hân hoan nhận lời cả. Thế là h́nh 6 vị tổng thống đề  cập trên đây chụp tại thủ đô Kazahkstan được phóng đại và treo trên tường dinh tổng thống nước nầy, tự nhiên bỗng thấy đôi mắt của hai vị tổng thống Putin Nga và Giang Trạch Dân Trung Quốc ứa nước mắt, làm các nhà báo ngoại quốc che miệng cười, bảo thầm với nhau quả đúng là "Mỹ kim đi trước, hiệp ước bỏ rơi sau !! Theo những đảng viên bảo thủ, cuộc chiến ở A Phú Hăn chỉ là một cớ của Hoa Kỳ để thực hiện cuộc bao vây chiến lược Trung Quốc, đó là lời giải thích của phân tích gia chiến lược Chu Shulong thuộc viện đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Nhưng sau đó mọi người đều ngạc nhiên khi thấy đồng chí Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân vội vă lên tiếng ủng hộ việc tổng thống W. Bush thành lập Măt Trận Quốc Tế Chống Khủng Bố; một việc làm mà từ trước tới nay Trung Quốc chưa bao giờ đứng ra tán thành hành động quân sự của Hoa Kỳ chống lại một nước trong Thế Giới thứ Ba.

          Thế rồi họ đặt vấn đề chống như vậy có được lợi ích ǵ không ? V́ dành ưu tiên cho những quyền lợi quốc gia mà chính quyền W. Bush đă đặt lại vấn đề tham gia của quân đội Hoa Kỳ vào những cuộc hành quân quốc tế nhằm bảo vệ ḥa b́nh mà ông cho là thứ yếu; v́ làm như vậy sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến tinh thần của binh sĩ. Thành thực mà nói, ảnh hưởng vào tinh thần binh sĩ th́ ít, nhưng v́ chả có lợi ǵ cho lắm trong lănh vực phạm vi quyền lợi thường trực của quốc gia th́ nhiều, và đó mới là nỗi lo âu của tổng thống Bush. Chính Phó tổng thống Dick Cheney - trong khi đi vận động tranh cử vào tháng 8 năm 2000 - cũng đă nhấn mạnh rằng "vấn đề là cần phải biết  xác định những quyền lợi chiến lược của chúng ta để xứng đáng với sự động viên những tài nguyên và nhất là những sự hy sinh về tánh mạng của binh sĩ ". Để rồi hiển nhiên từ đó những cuộc hành quân bảo vệ ḥa b́nh dưới thời cựu tổng thống Clinton không hề được bao gồm trong định nghĩa kể trên. Và cũng v́ vậy mà rồi đây rất có thể Hoa Kỳ sẽ xét lại vấn đề tham gia đồn quân quốc tế tại Bosnia, trong vùng Nam Tư. Một cái nh́n tương tợ nhấn mạnh thêm vị trí của chính quyền Cộng Ḥa  liên quan đến vũ khí chống hỏa tiễn. Tổng thống Bush đă nhiều phen nêu ư kiến rằng việc lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn sẽ không chỉ làm lợi riêng cho Hoa Kỳ mà thôi, mà c̣n làm lợi cho các nước đồng minh của Hoa Kỳ nữa, nhất là trong thế kỷ sắp tới đây. Và cũng v́ vậy mà việc thiết lập hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn cần được xúc tiến càng sớm càng tốt. Và theo tổng thống Bush, đây chỉ là một phản ứng pḥng ngự của Hoa Kỳ mà thôi đứng trước nguy cơ phản ứng bất ngờ của ba quốc gia Iraq, Iran và Bắc Hàn, một khi họ có hỏa tiễn liên lục địa có đầu đạn nguyên tử nằm trong tầm tay của họ. Để nhấn mạnh thêm lời tuyên bố của tổng thống Bush, bộ trưởng Quốc Pḥng Rumsfeld nói thêm: "Nếu chúng ta không thiết kế hàng rào hỏa tiễn chống hỏa tiễn th́ sự nguy hiểm vẫn có thể lớn đối với chúng ta mặc dầu chúng ta có thay đổi lối cư xử của chúng ta đối với bất cứ một quốc gia "khủng bố" nào - đă có sẵn hỏa tiễn liên lục địa mang đầu đạn nguyên tử - nêu trên. "Chiến lược của các nhà quân sự Hoa Kỳ trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" là phải sẵn sàng chuẩn bị đưa quân đội đến bất cứ nơi nào trên thế giới nếu cần, nhưng ưu tiên vẫn dành cho Âu Châu, một chiến trường có thể đ̣i hỏi sự có mặt của rất nhiều chiến xa và trọng pháo nặng. Và các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trên lục địa Âu Châu dư sức đáp ứng sự đ̣i hỏi của những nhu cầu nầy.

          Cách đây 54 năm một tiểu quốc ra đời dưới ṿm trời Trung Đông. Từ khi ra đời cho đến nay, tiểu quốc nầy luôn luôn ở trong t́nh trạng chiến tranh, nếu không đánh nhau với các nước liên ranh th́ cũng bắn nhau với bọn khủng bố. Đồng minh th́ cũng có đấy, nhưng lại ở quá xa, nên cũng chả giúp được ǵ. Có điều đặc biệt của tiểu quốc nầy là người dân của họ hay kín đáo nḥm ngó vào nhà của hàng xóm để rồi mách lại cho nhà đương cuộc của nước họ. Trong nước th́ gọi hành động nầy là "làm t́nh báo", c̣n người ngoài th́ bảo là gián điệp. Dưới thời Clinton - từng trốn lính - làm tổng thống, tiểu quốc nầy thấy rơ vanh vách tất cả các vụ quân khủng bố cho nổ bom giết hại lính Thủy Quân Lục Chiến và lính Dù của Hoa Kỳ được tên "râu xanh" gởi đi làm "lính cảnh sát quốc tế", nhưng họ không chịu báo cho Hoa Kỳ hay để đề pḥng. Và cứ mỗi lần bị đặt bom là "tổng tư lệnh trốn lính" chỉ có một phản ứng độc nhất là rút quân "chạy dài" như ở Beirut (Lebanon), hay ở Mogadishu (Somalia) và làm tṛ cười cho quốc tế. Đó là chưa kể làm cho binh lính Hoa Kỳ xấu hổ quá chừng. Thế rồi gần một năm sau khi ông G. W. Bush nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ, tiểu quốc nầy cũng được mật báo viên cho hay là quân khủng bố Hồi giáo Bin Laden sắp sửa "thừa thắng xông lên" và sẽ làm một vố thật "ngoạn mục" ở vùng New York và Ngũ Giác Đài. Bộ tham mưu tối cao của họ họp khẩn cấp để bàn xem có nên tin cho đồng minh Hoa Kỳ hay vụ nầy để biết mà đề pḥng hay là không nên. Rốt cục phe "không nên" được đa số v́ họ muốn cho Hoa Kỳ bị một vố nặng như "Trân Châu Cảng" năm 1941 th́ khi đó Hoa Kỳ mới có quyết định dứt khoát diệt trừ bọn Hồi giáo khủng bố Osama Bin Laden. Nhưng không may cho bọn khủng bố, khi cơ quan an ninh của Liên Bang điều tra ra th́ từ tên cầm đầu đến gần hết bọn tham gia khủng bố trong vụ 11 tháng 9 đều là công dân của Ả Rập Saudi, một quốc gia Hồi giáo mà gia đ́nh Bush không mấy có cảm t́nh. Sáng ngày 11 tháng 9, 2001 một ngàn năm trăm ( 1,500 ) kiều dân của tiểu quốc nầy hiện đang làm việc tại hai ṭa nhà "chọc trời" WTC ở New York, bỗng nhiên mỗi người đều nhận được một cú điện thoại bí mật dặn họ hăy ở nhà, đừng đến sở làm, chỉ có vắn tắt vậy thôi. Và không ai bảo ai, 1,500 người kiều dân của tiểu quốc nầy đều "thủ khẩu như b́nh", tuyệt nhiên không hé môi răng lạnh cho một đệ tam nhân nào hay cả. Thế rồi việc ǵ phải đến đă đến. Chính quyền Hoa Kỳ, ban đầu căn cứ vào số người làm việc hằng ngày trong hai ṭa nhà chọc trời nầy là hơn sáu ngàn người nên đă ra thông cáo cho biết số người chết có thể lên đến sáu ngàn v́ họ đâu có ngờ sáng hôm đó có gần 1500 người đột nhiên ở nhà không tới sở làm. Và sau đó người ta phanh dần dần nên mới biết số người chết trong hai ṭa nhà chọc trời nầy chỉ vào khoảng trên dưới ba ngàn người mà thôi. Nếu vụ khủng bố nầy xảy ra dưới trào một vị tổng thống thuộc đảng Dân Chủ th́ phản ứng đối với bọn khủng bố cũng sẽ giống như mấy lần trước, có nghĩa sẽ rất là tiêu cực, để rồi lại đi vào quên lăng, chứ đâu dám đặt vấn đề áp dụng biện pháp quân sự đối với quân khủng bố, và chỉ ủy lạo các gia đ́nh nạn nhân bằng hiện kim là đối với đảng Dân Chủ cũng đă quá đủ rồi. Câu chuyện ân oán giang hồ nầy bắt nguồn từ khi cuộc chiến tranh Vùng Vịnh sắp sửa kết thúc và quân đội Đồng Minh do Hoa Kỳ điều khiển sắp sửa kéo vào thủ đô Baghdad để bắt Saddam Hussein. Nhưng quốc vương Fahd của Ả Rập Saudi đă áp lực tổng thống Bush (cha) phải đ́nh chỉ ngay cuộc tiến quân vào thủ đô Iraq, nếu không ông ta sẽ ra lệnh cấm vận dầu hỏa ngay tức th́.

          Đối với bên ngoài th́ chính quyền Ả Rập Saudi bảo rằng đó là lệnh của quốc vương, nhưng sự thật bên trong là đều do hoàng thân Abdullah, em cùng cha khác mẹ với quốc vương, và cũng là chỉ huy trưởng quân đội Ả Rập Saudi giựt dây; v́ theo ông nầy nếu để cho Saddam Hussein bị quân đội Đồng Minh bắt sống th́ sẽ làm cho khối Hồi giáo "mất mặt" với thế giới. Hơn nữa, hoàng thân Abdullah là người bài Mỹ nhất trên chính trường Trung Đông. Và hiện nay ông nầy là vị hoàng thân rồi đây sẽ lên ngôi vua Ả Rập Saudi nếu vua Fahd qua đời.  Để che dấu sự thật trong cuộc bang giao giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Saudi, người ta mới t́m ra một một nhân vật mà người Việt chúng ta thường gọi là "đem ra mà đánh, khen hay chịu đ̣n", đó là đại tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Colin Powell. Thành thử trong vụ đ́nh chỉ tiến quân vào thủ đô Baghdad, chính tổng thống Bush (cha) là người "ăn mắm" mà đại tướng Colin Powell là kẻ bị bắt buộc làm người "khát nước" thay. Có lẽ v́ sự trung thành đó mà khi ông George W. Bush lên làm tổng thống đă phong cho đại tướng Colin Powell làm Ngoại Trưởng là để thưởng sự trung thành của ông ta đối với  ḍng họ Bush cũng nên; chứ một ông đại tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân mà lại ra lệnh đ́nh chỉ việc truy kích một đạo quân đang trên đà tan ră và đang t́m cách chạy chỉ để thoát thân  th́ quả thật quá ư vô lư. Từ bấy đến nay, thấm thoát đă hơn mười năm trời rồi và Saddam Hussein đă hàn gắn lại được vết thương do cuộc chiến tranh Vùng Vịnh gây nên, và đă chế tạo thêm bom hóa học và vi trùng học, khiến tổng thống W. Bush đă liệt nước nầy vào trong trục ba quốc gia khủng bố nguy hiểm nhất hiện nay, chứng tỏ là trong ṭa Bạch Ốc phe chủ trương trừng phạt cấp thời Iraq do bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld và thứ trưởng Wolfowitz cầm đầu coi như đă thuyết phục được tổng thống W. Bush ngả về phe chủ chiến đánh Iraq của họ, phe nầy cũng là phe thân Do Thái. Tổng thống Bush đang âm thầm vận động với một số quốc gia trong vùng Trung Đông để kéo các nước nầy cùng động binh một lượt với Hoa Kỳ, trong buổi họp đại hội của Liên Hiệp Quốc, Iraq vẫn tiếp tục từ chối không chấp nhận cho Liên Hiệp Quốc cử nhân viên vào thanh tra vơ khí trên lănh thổ của họ. Để chuẩn bị cho cuộc vận động nầy có kết quả mỹ măn, chính quyền Hoa Kỳ đă cho Phó Tổng Thống Dick Cheney cầm đầu một phái đoàn qua thăm 10 nước ở Trung Đông vào tháng 3, 2002 vừa qua  để thảo luận vấn đề lật đổ Saddam Hussein càng sớm càng tốt. Nhưng tại sao lại không thấy đề cập đến việc thăm viếng ít nhất là 5 nước có quân đội mạnh nhất Âu Châu, như Anh quốc, Pháp, Đức, Ư và Tây Ban Nha ? V́ lư do sau đây :Hiện nay sợi giây liên lạc xuyên đại tây dương giữa Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đang lâm vào một cuộc khủng hoảng lưỡng diện không có lối thoát. Cuộc khủng hoảng thứ nhất là một cuộc khủng hoảng phương tiện.

          Ngày 4 tháng 2 vừa qua, tổng thống W. Bush có tŕnh cho quốc hội một dự án ngân sách tăng chi phí quốc pḥng lên 15%, một sự gia tăng lớn nhất chưa từng thấy trong ṿng 20 năm nay, với 379 tỷ mỹ kim (379 ngàn triệu mỹ kim), và đào sâu thêm về tài chánh cũng như về kỹ thuật hố cách biệt giữa đôi bên mà Liên Hiệp Âu Châu không có cách ǵ để làm cạn bớt chứ đừng nói đến việc san bằng. Khủng hoảng thứ hai thuộc về nhận thức và chính trị mà người dân Âu Châu cho rằng Hoa Kỳ v́ quá say men chiến thắng bọn Hồi giáo khủng bố Osama Bin Laden ở A Phú Hăn nên đă có thái độ bất cần được sự chấp nhận của quốc tế để đưa quân đến vấn tội những nước nào trực tiếp có hành động tham gia khủng bố hay chứa chấp bọn khủng bố quốc tế. Cuộc hội thảo quốc tế về An Ninh tại Munich vào thượng tuần tháng 2, 2002 vừa qua đă minh thị một cách rơ rệt sự cách biệt về chiến lược giữa đôi bên về những biện pháp cần phải áp dụng để chống lại bọn khủng bố quốc tế. Dưới con mắt của Hoa Kỳ, th́ các nước trong Liên Hiệp Âu Châu chi tiêu quá ít về quốc pḥng để có thể trở thành một hội viên đáng được tin cậy. T́nh trạng nầy đă khiến cho Huân tước George Robertson, tổng thư kư của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương đă phải thốt ra câu: "Về phương diện quân sự, Âu Châu vẫn c̣n là một tên lùn tịt, không hơn không kém". Và đó cũng là ư kiến của ông  Paul Wolfowitz, thứ trưởng Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, khi ông ta tỏ ư lo ngại là t́nh trạng nầy rồi đây sẽ c̣n kéo dài lâu hơn nữa; v́ theo ông ta th́ ngân sách trung b́nh về chi tiêu quốc pḥng cho mỗi đầu người ở tại 5 nước lớn nhất Âu Châu (Đức, Pháp, Anh, Ư và Tây Ban nha)  chỉ có 323 Euro (1 mỹ kim đổi được 1.11 Euro; Euro là một loại tiền mới vừa được lưu hành trong năm 2002 tại 15 quốc gia trong Liên Hiệp Âu Châu). Trong khi đó th́ tại Hoa Kỳ, ngân sách chi tiêu quốc pḥng cho mỗi đầu người là 1029 Euros. Mặc dầu các chính phủ trong Liên Hiệp Âu Châu có nhiều cố gắng để tăng thêm ngân sách quốc pḥng, nhưng họ cũng đành chịu đầu hàng trước sự chống đối tăng ngân sách quốc pḥng đối với dân chúng trong Liên Hiệp Âu Châu.

          Trước t́nh thế đó, ông Tổng Thư Kư của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương - trong một buổi họp của minh ước tại Munich vừa rồi đă chuyền quả bóng trở về lại bên sân của Hoa Kỳ. Theo ông Robertson th́ "Hoa Kỳ phải có những cố gắng nhiều hơn nữa (.....), như đơn giản hóa việc tiến hành tân trang ngành pḥng thủ của Âu Châu; bằng cách làm nhẹ bớt sự hạn chế việc chuyển nhượng kỹ thuật và hợp tác kỹ nghệ."  Nói một cách trắng trợn là ông ta muốn Hoa Kỳ chấm dứt việc thọc gậy vào bánh xe khi các nước Âu Châu muốn t́m hiểu sâu xa hơn nữa về một vài kỹ thuật của Hoa Kỳ hoặc cố gắng cho ra những dự án có thể cạnh tranh với ngành sản xuất vũ khí của Hoa Kỳ. Một dẫn chứng cụ thể là các nước trong Liên Hiệp Âu Châu đang gặp rất nhiều khó khăn trong dự án thực hiện việc chế tạo vận tải cơ chuyên chở khổng lồ Airbus A-400M v́ Hoa Kỳ đang t́m đủ mọi cách để ngăn cản không cho thực hiện dự án nầy, viện lư do là không nên mất thời giờ vô ích để chế tạo những loại máy bay mà minh ước đă có sẵn rồi. Thành thật mà nói, lời đề nghị của ông Robertson rất hết sức "trẻ con" v́ từ xưa tới nay, chưa có nước nào trên thế giới đă từng làm một việc "động trời" như vậy là chuyển nhượng một cách dễ dàng những bí mật chế tạo vũ khí của nước họ cho một nước bạn v́ nếu họ làm như thế th́ - chậm lắm là một ngày sau - tất cả các nước khác trên thế giới đều biết, kể cả bọn khủng bố.

          Vậy nếu Hoa Kỳ đặt câu hỏi ngược lại với huân tước Robertson là các nước trong Liên Hiệp Âu Châu đă có nước nào san sẻ bí mật chế tạo vũ khí  của họ với Hoa Kỳ chưa, th́ khi đó câu trả lời sẽ chắc chắn là chưa. Cuối cùng là 8 nước Liên Hiệp Âu Châu có chân trong chương tŕnh sản xuất vận tải cơ quân sự Airbus  A 400M đă đồng thuận hoăn ngày kư kết hợp đồng chế tạo 196 phi cơ nầy vào ngày 31-3-02, thay v́ 31-1-02 như đă định từ trước. Sở dĩ có sự trục trặc xảy ra trong giai đoạn cuối cùng là v́ chính phủ Đức muốn thay đổi việc đầu tư của họ ra làm 2 đợt: đợt đầu đóng tiền cọc cho 40 chiếc vào năm 2002. Thiết tưởng cũng nên trở lại vấn đề ngân sách quốc pḥng của Hoa Kỳ  để t́m hiểu tại sao có sự "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược trong hàng ngũ các nước đồng minh trong khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương. Trong dự án ngân sách năm 2003, được công bố cho báo chí hay ngày 4 tháng 2, 2002, tổng thống W. Bush muốn tăng ngân sách quốc pḥng của Hoa Kỳ vốn đă cao hơn ngân sách của 15 quốc gia có quân đội mạnh nhất trên quả địa cầu này. Trong dự án nầy, tổng thống W. Bush đă đề nghị tăng ngân sách quốc pḥng lên 379 tỷ mỹ kim (379 ngàn triệu mỹ kim), nghĩa là 48 tỷ mỹ kim cao hơn ngân sách năm 2002. Và phải trở về năm 1981, dưới trào tổng thống Ronald Reagan, mới có một sự gia tăng ngân sách tương đương như vậy. Ngoài chi phí về quốc pḥng, c̣n phải cộng thêm tiền chi cho việc  bảo vệ lănh thổ là 38 tỷ mỹ kim; thành thử rốt cục tổng cộng tất cả mọi chi phí, th́ ngân sách dự trù lên đến 2,130 tỷ mỹ kim. (2,130 ngàn triệu đô la). Theo Ngũ Giác Đài, phần tiền chi thêm dùng trong cuộc chiến tranh chống khủng bố là 9.4 tỷ mỹ kim (9,400 triệu mỹ kim) cũng được dùng để bao biện cả những phương tiện đề pḥng các cuộc mưu hại mới. Đồng thời chính quyền Bush cũng có dự trù một ngân khoản 1 tỷ mỹ kim (1,000 triệu Đô la) để chế tạo những phi cơ tự động (không người lái), những máy móc dùng trong việc thám báo, trinh sát, và điều khiển xạ thuật. Một tỷ mỹ kim (1,000 triệu đô la) được dùng để tân trang lại 4 chiếc tiềm thủy đỉnh nguyên tử loại Trident dùng để chở quân lính dùng vào các công tác đặc biệt. Một tỷ mỹ kim nữa (1,000 triệu mỹ kim) được dùng vào việc sản xuất những dụng cụ chính xác được điều khiển bằng tia laser. Tổng cộng là khoản 20 tỷ mỹ kim (20 ngàn triệu đô la) đă được châm thêm vào ngân sách quân sự mới, có liên quan đến sự đe dọa về ngành khủng bố.

          Theo dự tính của ông Michael O' Hanlon, một chuyên gia của Viện Brookings Institutiom. Và cũng theo bộ trưởng Quốc Pḥng Donald Rumsfeld th́ số tiền vừa kể trên đây rất có thể lại c̣n thiếu hụt nữa, v́ đó là chưa kể cần phải có thêm khoảng 10 tỷ mỹ kim dùng trong việc giám sát các biên giới và gần 6 tỷ mỹ kim phải chi cho việc chống lại khủng bố bằng sinh vật học (bioterrorism). Trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" quân đội các nước Âu Châu chỉ lo về mặt bộ binh, c̣n không quân, thiết giáp và "dù nguyên tử" th́ đă có quân đội Hoa Kỳ lo cả rồi, đó là chưa kể Hoa Kỳ c̣n đóng thêm gần hai trăm ngàn quân ở trên lănh thổ của Tây Đức nữa, để đề pḥng chiến thuật "biển người" của Liên Bang Xô Viết. Nhưng sau khi "chiến tranh lạnh" chấm dứt, các nước Âu Châu không c̣n chú tâm vào vấn đề quốc pḥng cho lắm, nhất là không chịu tiêu pha về việc tân trang vơ khí cho quân đội để có thể sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đ̣i hỏi của những tiến bộ vượt bực của khoa học nhất là về lănh vực điện tử; cho nên sau cuộc chiến tranh chống Hồi giáo khủng bố ở A Phú Hăn th́ các nước Âu Châu tự thấy họ đă bị Hoa Kỳ bỏ quá xa trong lănh vực vơ khí để có thể có quyền đ̣i Hoa Kỳ phải hỏi ư kiến của họ trước khi lấy một quyết định ǵ trên lănh vực quốc tế, hay nói một cách khác một khi quân lực của ḿnh là "một con số không" đối với Hoa Kỳ th́ sự cộng tác của họ chỉ đem lại cho Hoa Kỳ sự vướng chân vướng cẳng mà thôi, chứ kỳ thật chả có lợi ích ǵ cả. Cộng Sản Hà Nội nên nhớ câu này , kéo đừng có nghéo mà ham nhé !.

          V́ vậy, phái đoàn Dick Cheney qua Âu Châu có gặp đại diện các nước như Pháp , Đức, Ư v..v... để mời họ tham gia vào liên minh chống Iraq th́ cũng sẽ bị họ bác bỏ ngay, để tránh khỏi tham gia vào một cuộc chiến mà quân đội của họ chỉ được trang bị với những loại vơ khí lạc hậu đă hơn nửa thế kỷ nay rồi, mà không hề được tân trang lại. Đó là chưa kể cả ba nước Pháp, Đức và Ư đều đă tận lực giúp Iraq về chuyên viên nguyên tử cũng như về máy móc để thiết kế một trung tâm nguyên tử với một ḷ nguyên tử chế tạo tại Pháp để biến chế chất Plutonium dùng chế tạo bom nguyên tử, vào cuối thập niên 1970. Đứng trước nguy cơ Iraq có thể sản xuất được bom nguyên tử, Do Thái đă lấy quyết định phải dùng biện pháp mạnh đối với nước nầy, và ngày 7 tháng 6, 1981 Do Thái đă cho 3 phi đội F16 bay đến oanh tạc ḷ nguyên tử Osirak gần thủ đô Baghdad của Iraq. Kết quả là ḷ nguyên tử đă bị phá hủy và phi cơ Do Thái trở về căn cứ an toàn. Ngoài việc chuẩn bị dư luận thế giới cho một cuộc hành binh hỏi tội Iraq, việc đáng để ư nhất hiện nay trên chính trường Trung Đông là việc tổng thống G. W. Bush không mấy sốt sắng trong vấn đề ủng hộ Yasser Arafat thủ lănh của dân Palestinians như trước đây nữa. Trong khi tại Trung Đông, tổng thống Bush đang bận tâm lo giải quyết những vụ đầu tư và những dự án của những tài phiệt dầu hỏa quốc tế gốc Hoa Kỳ, đồng thời giữ sao cho tốt đẹp sự liên lạc với các quốc gia dầu hỏa trong vùng Trung Đông mà không chạm đến quyền lợi của quốc gia Do Thái được một số tai to mặt lớn trong chính  quyền Cộng Ḥa hiện hữu ủng hộ; th́ đùng một cái xảy ra vụ Yasser Arafat mua lén 10 triệu mỹ kim vũ khí của Iran với ư đồ đưa lậu vào đất Palestine để gây khủng bố trong nước Do Thái, đồng thời vi phạm trầm trọng thỏa ước Oslo ( Norway) được kư kết dưới thời cựu tổng thống Clinton.

          12. Chiến Dịch KupperWasser

           Mặc dầu nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ vẫn khẳng định là hiện nay Hoa Kỳ chưa có lấy một quyết định nào dứt khoát về vụ cử binh "hỏi tội " Iraq, nhưng một nhà lănh đạo một nước ngoài - sau khi gặp một số nhân viên cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ - đă tiết lộ cho một số người thân cận của ông ta -  là ông ta tin rằng tổng thống Bush đă có quyết định sẽ đương đầu với Saddam Hussein, v́ hiện nay Iraq đang cố gắng sản xuất vơ khí nguyên tử, vơ khí hóa chất và vơ khí vi trùng. Một cuộc thăm ḍ dư luận của CNN/Gallup vào thượng tuần tháng 2, 2002 vừa qua đă cho biết trong số 1001 người lớn tuổi được hỏi th́ 82% đồng ư việc tổng thống Bush liệt Iraq vào loại nước "ma đầu", và 88% đồng ư loại Saddam Hussein ra khỏi chức vị của y. Chính quyền Hoa Kỳ vừa loan báo là đă viện trợ $2.4 triệu cho Iraqi National Congress, một tổ chức chống Saddam Hussein; đồng thời cũng đang chuẩn bị sự tập họp một số cựu sĩ quan đào ngũ trong quân đội Iraq để có thể dùng làm ṇng cốt trong tương lai cho một đạo quân Iraq chống lại Saddam Hussein ở tại quốc ngoại. Việc xuất hiện của tướng Najib al-Salhi, một cựu tướng lănh của Iraq đă từng giữ chức vụ chỉ huy trong các sư đoàn tinh nhuệ nhất của Saddam Hussein và đă đào ngũ ra ngoại quốc, đă tuyên bố với báo chí là ông ta sẵn sàng trở về Iraq để tham gia cuộc chiến nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein nếu được Hoa Kỳ cam kết ủng hộ phong trào giải phóng đất nước Iraq khỏi bàn tay khát máu của tên độc tài Saddam Hussein. Ông ta cũng cho biết là ngoài ông ta ra c̣n có khoảng hơn 30 sĩ quan cao cấp Iraq cũng đă bỏ nước ra đi để tránh khỏi bị mật vụ của Hussein bắt giết. Nếu Hoa Kỳ và đồng minh mở cuộc tấn công vào Iraq, th́ họ đă có sẵn một hậu thuẫn quân sự của kháng chiến quân Kurds tại miền Bắc Iraq, đạo quân nầy c̣n có nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu chống độc tài Saddam Hussein hơn là kháng chiến quân Miền Bắc A Phú Hăn chống lại bọn Hồi giáo khủng bố Taliban và Al Quaeda của Osama Bin Laden. Vấn đề ưu tiên đối với dân Kurds, là không lực Hoa Kỳ phải làm tiêu tan khả năng chiến đấu của 3 sư đoàn cơ giới của Saddam Hussein đang đóng quanh thủ đô Baghdad hiện nay.

          Trong tháng 11, 2001 trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ông Bush đă công khai công nhận dân Palestine ở Trung Đông có quyền có một quốc gia. Trong khi đó th́ Yasser Arafat đang được Liên Hiệp Quốc xem  như  vị đại diện tối cao của dân Palestine. Nhưng rồi sau đó t́nh h́nh chính trị ở Trung Đông đă trăi qua nhiều biến thiên mà nguyên do chính là do những cuộc vận động ngấm ngầm trong bóng tối của cơ quan Quân Báo AMAN của quân đội Do Thái. Trong vụ nầy, phe cực đoan của Iran và Arafat đă bị cơ quan Quân Báo Aman của quân đội Do Thái gài bẫy qua trung gian của một số "điệp viên nhị trùng"  được cơ quan nầy bố trí cho xâm nhập vào hàng ngũ t́nh báo Iran cũng như vào phe khủng bố Palestine từ vài ba năm trước đây. Để tránh bớt sự dài ḍng, ta hăy gọi chiến dịch nầy là  chiến dịch Kupperwasser, tên của một nhân viên cao cấp trong ngành t́nh báo của quân đội Do Thái, người đă thảo ra bản phúc tŕnh Kupperwasser kể lại từ đầu đến cuối mọi chi tiết về vụ bắt chiếc tàu "Karine A" chở 50 tấn vơ khí lậu từ Iran về lănh thổ Palestine để tiếp tế cho quân khủng bố của xứ nầy. Khi Arafat hay tin chiếc tàu "Karine A" đă bị biệt kích Dù của quân đội Do Thái nhảy xuống ngay trên  chiếc tàu nầy và bắt trọn thủy thủ đoàn để rồi sau đó áp giải về một hải cảng của Do Thái, th́ Arafat đă thảo ngay một bức thư gởi cho tổng thống G.W. Bush, với nội dung chối bỏ mọi sự việc vừa xảy ra và đổ tội cho t́nh báo của Do Thái đă ngụy tạo ra vụ buôn vơ khí nầy để bôi nhọ Arafat và dân Palestine. Khi nhận được bức thư của Arafat, tổng thống G.W. Bush đă nổi trận lôi đ́nh v́ ông ta cho Arafat đă khinh thường ông ta đến độ coi ông ta như trẻ con không bằng, muốn gạt như thế nào cũng được. Thế  là từ đó tổng thống Bush không c̣n nhắc đến tên của Yasser Arafat nữa và để mặc cho thủ tướng Ariel Sharon tha hồ "phong tỏa" hay có những biện pháp chế tài nào khác th́ ông ta cũng không c̣n để ư đến hắn ta nữa. Trong khi tổng thống G.W. Bush đang nổi trận lôi đ́nh đối với Yasser Arafat, th́ tướng Do Thái Yossif Kupperwasser đă tung ra trên chính trường Âu Châu bản "phúc tŕnh Kupperwasser", chứng tỏ cánh tay của cơ quan Quân Báo Aman của quân đội Do Thái cũng khá dài v́ chỉ một cú một họ đă lôi cả Iran lẫn tổ chức khủng bố Palestine vào nằm chung trong một rọ, đồng thời chứng minh với thế giới là Yasser Arafat đă vi phạm trắng trợn thỏa ước Oslo được kư kết dưới thời cựu tổng thống Clinton. Cú đá hậu của Do Thái qua phúc tŕnh Kupperwasser đă khiến tướng A. Zinni, đặc phái viên của tổng thống Bush tại Trung Đông phải thốt lên câu "tên Arafat nầy chỉ là một tên nói dối không biết ngượng mồm" mặc dầu ông ta có khá nhiều t́nh cảm đối với dân Palestine.

          Tuy tổng thống G.W. Bush - mặc dầu không ưa ǵ Yasser Arafat, nhưng ông ta cũng phải nể áp lực của hoàng thân Abdullah của Ả Rập Saudi và của tổng thống Mubarak của Ai Cập "nói vào" cho Arafat, nên ông ta lại ra chỉ thị cho tướng Zinni bay qua lại Trung Đông để cố gắng t́m cho ra một giải pháp khả dĩ có thể mang lại ḥa b́nh cho Do Thái và dân Palestine, mặc dầu biết rằng hy vọng đó rất mong manh. Thực sự mà nói, Yasser Arafat chỉ là một tên phiến loạn quốc tế, có tầm nhận định t́nh h́nh chính trị quốc tế rất là thiển cận, và đă bỏ lỡ một cơ hội "bằng vàng" khi tướng Ehud Barak đề nghị với hắn - cách đây một năm - một chương tŕnh ḥa giải công nhận việc thành lập một quốc gia Palestine. Nhưng Yasser Arafat nhất định từ chối lời đề nghị nầy, v́ hắn nghĩ rằng một khi có ḥa b́nh trên đất Palestine th́ vai tṛ lănh đạo chính quyền Palestine của hắn sẽ chấm dứt và hắn vô phương tha hồ làm mưa làm gió trên giải đất nầy như hiện nay. Một khi ḥa b́nh được văn hồi trên giải đất Palestine th́ khi đó sẽ có một chính phủ Palestine lâm thời và vai tṛ người giựt dây "độc nhất" của hắn đành phải chấm dứt và chấm dứt luôn những vụ gian lận tiền viện trợ quốc tế cho Palestine lên đến 35 triệu mỹ kim được kư thác tại các ngân hàng ở Thụy Sĩ dưới tên của hắn mà thôi. Nói một cách khác, nếu Palestine trở thành một quốc gia độc lập như đă được Liên Hiệp Quốc qui định kể từ năm 1948, th́ bắt buộc Yasser Arafat phải chia xẻ quyền hành với nhiều cộng sự viên khác, và đó chính là điều mà Arafat đang nỗ lực chống đối bằng bất cứ giá nào. Cứ nh́n lại quá khứ của hắn th́ đủ biết. Vào giữa thập niên 1960, Yasser Arafat cầm đầu một số tổ chức khủng bố và đă từng chơi tṛ "ba mang" với mọi người. Dưới thịnh thời của Liên Bang Xô Viết, Arafat là con cờ đắc lực của mật vụ KGB của Nga Xô tại Đông Bá Linh, Sofia, Prague..... Đồng thời, hắn lại c̣n "đi đêm" với một số chính phủ Ả Rập để tự dành lấy vai tṛ đối thoại độc nhất của dân Palestine trong vấn đề gai góc giữa Do Thái và Palestine. Điểm tệ hại nhất của Yasser Arafat là giả bộ đóng vai tṛ bảo vệ quyền lợi và duy tŕ niềm nuôi hy vọng được độc lập của dân Palestine, nhưng trong khi đó th́ vẫn ngấm ngầm phá hoại niềm hy vọng nầy khi động đến quyền lợi thiết thực của hắn, đó là "tiền". Có thể nói là trong ṿng 40 năm qua, Yasser Arafat đă tự tạo cho hắn một vai tṛ mà đến giờ nầy hắn vẫn không muốn từ bỏ. Hắn tự cho rằng hắn là nhân vật rất cần thiết trên chính trường Trung Đông hiện nay, và hắn vẫn nghĩ rằng dầu cho hắn có hành động sai trái đi nữa th́ mọi người đều phải bỏ qua, v́ không ai có thể thay thế hắn được nữa, theo như hắn nghĩ !!!.

          13. Uy Tín Của Hoa Kỳ 

          Ngày 28 tháng 2, 2002 chính quyền Hoa Kỳ đă bắt đầu gởi 200 chuyên viên quân sự vào tiểu quốc Georgia để huấn luyện cho 1500 lính của Georgia về phương cách chống lại bọn Hồi giáo khủng bố. Sau đợt chuyên viên sẽ đến đợt quân trang, quân cụ, trọng pháo, cơ giới và không quân nếu cần. Sau khi bọn Hồi giáo khủng bố của Oasama Bin Laden bị đánh tan ở A Phú Hăn, một số tàn quân của chúng chạy về tá túc tại tỉnh Abkhazia, một tỉnh ở cực Tây, trên bờ biển Hắc Hải của Georgia và được Nga âm thầm khuyến khích ly khai khỏi tiểu quốc nầy.  Kể từ ngày Nga để cho Georgia độc lập th́ Nga đă đóng 8000 quân ngay trong tỉnh Abkhazia để bảo vệ cho tỉnh nầy khỏi bị quân đội của Georgia tấn công. Đa số dân tỉnh Abkhazia đều theo Hồi giáo và che chở cho bọn Hồi giáo khủng bố của Osama Bin Laden. Tuy Abkhazia chỉ là một tỉnh thôi nhưng cũng có chính phủ riêng biệt và được Nga công nhận. Không những bọn tàn quân Hồi giáo khủng bố tá túc trong tỉnh Abkhazia mà thôi, chúng c̣n sống lẫn quất trong thung lũng Pankisi Gorge ăn thông với lănh thổ Chechnya, nơi đang xảy ra cuộc chiến giữa quân đội Nga với quân đội kháng chiến của Chechnya. Không phải như cựu tổng thống Clinton hay "hứa cuội", tổng thống G.W. Bush là một ông tổng thống biết giữ lời hứa. Sau vụ 11 tháng 9, khi ông ta tiếp bà tổng thống Phi Luật Tân, ông có hứa với bà nầy sẽ giúp chuyên viên Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh qua Phi huấn luyện cho quân đội Phi chống lại quân khủng bố của Osama Bin Laden trên quần đảo Phi Luật Tân; và ông đă giữ đúng lời hứa. Vào năm ngoái, trong một cuộc phỏng vấn do kư giả lăo thành Jim Hoagland thực hiện tại Tbilissi, thủ đô của tiểu  quốc Georgia ở ngay dưới miền cực Nam của nước Nga, tổng thống Shevardnadze có đưa cho ông kư giả nầy xem một bức thư tay của tân tống G.W. Bush gởi thăm ông ta và hứa sẽ giúp ông tài lực lẫn vật lực để ông có thể vượt qua những thử thách mà ông vừa trải qua trong hiện tại. Đó là tổng thống W. Bush muốn ám chỉ đến hai lần tổng thống Shevardnadze bị mật vụ Nga KGB tổ chức ám sát mà không thành nhờ có bàn tay bí mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ làm cho thất bại v́ đă báo kịp thời cho vị tổng thống của Georgia hay trước để đề pḥng. Mặc dầu ngoài mặt, tổng thống Nga Putin tuyên bố chuyện Hoa Kỳ đưa chuyên viên quân sự vào giúp Georgia là chuyện "rất thường" nhưng đó chỉ là lời tuyên bố bên ngoài để trấn an quần chúng, chứ dư luận của quốc hội và của báo chí Nga th́ có vẻ hằn học, chống đối ra mặt sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ ngay tại "hậu môn" của nước họ, v́ họ coi vùng nầy như là "vùng ảnh hưởng" của họ từ ngàn xưa cho tới ngày nay, nhất là sau khi Hoa Kỳ đă vào "tọa lạc" tại 5 nước trong vùng Trung Á, vừa mới được Nga chấp nhận cho "độc lập" cách đây hơn mươi năm, sau khi Liên Bang Xô Viết tan ră.

          Hơn nữa, tổng thống Shevardnadze, một cựu tướng lănh của Mật Vụ Liên Xô KGB, một thành viên trong Bộ Chính Trị của Brejnev, một gián điệp nhị trùng của Cơ Quan CIA nằm vùng trong guồng máy chính quyền Liên Bang Xô Viết và cũng là người góp công rất lớn trong việc làm cho băng hoại, tan hàng ră ngũ Liên Xô, th́ việc quân đội Hoa Kỳ được ông tổng thống nầy mời vào nước ông để huấn luyện hộ ông ba tiểu đoàn quân thiện chiện chống lại bọn Hồi giáo khủng bố của Osama Bin Laden là một  việc làm mà Nga cảm thấy như bị bôi nhọ v́ quân đội Nga đóng ngay trong lănh thổ của Georgia mà không được chính quyền nhờ "tiếp tay" chống bọn Hồi giáo khủng bố. Lư do rất dễ hiểu là tổng thống Shevardnadze đâu có tin Nga sau khi ông bị mật vụ KGB của Nga lập mưu ám sát hai lần, nhưng nhờ có CIA báo trước cho ông ta biết nên nhờ vậy mà ông ta Tuy tổng thống Bush mới lên cầm quyền chỉ hơn một năm thôi - mà nhờ t́nh h́nh thế giới đưa đẩy, về phương diện chiến lược quốc tế, - ông đă ngấm ngầm thực hiện được hai cuộc bao vây hai siêu cường Nga và Trung Cộng, một hành động đặc biệt về chiến lược mà từ trước tới nay chưa một tổng thống Hoa Kỳ nào làm được. Đó là về mặt quân sự. C̣n về mặt kinh tế, th́ Hoa Kỳ đă và đang trấn ngự hầu hết tất cả các vùng đất đai gồm nhiều mỏ dầu hỏa và hơi đốt lớn nhất hiện nay trên thế giới trong vùng Trung Á , và đang loại dần áp lực tai hại của phe Hồi giáo quá khích đối với các quốc gia dầu hỏa trong vùng Trung Đông hiện nay. Tám năm dưới chính quyền của đảng Dân Chủ, cựu tổng thống "trốn lính" Bill Clinton đă dương cao lá cờ tang và đi khắp hoàn cầu để xin lỗi tất cả các nước về hành động “hiếu chiến” của các vị tổng thống tiền nhiệm của ông ta và chỉ có một chủ trương độc nhất là rút quân đội tháo chạy khỏi nơi nào khi quân đội bị đặt bom và chỉ có vậy thôi ! chính quyền cộng ḥa của tổng thống G.W. Bush đă đánh tan được bọn Hồi giáo khủng bố Taliban và Al Qaeda của Osama Bin Laden và gây lại niềm tin trong ḷng quân đội và quần chúng Hoa Kỳ, đồng thời quyết liệt nêu ra chủ trương chống cho đến cùng những nước manh nha dùng vũ khí nguyên tử, hóa chất hay vi trùng để mưu hại các nước lân bang không ngả theo chủ trương đường lối của chúng. Một số nước có chính quyền thiên Tả ở Âu Châu - trước sự vươn lên quyết liệt của Hoa Kỳ - đă lên tiếng phản đối và chỉ trích chính sách độc đoán của nước nầy, nhưng đối với Hoa Kỳ th́ tốt hơn hết là nên "tiên hạ thủ vi cường" v́ để cho bọn khủng bố ra tay trước th́ đó là chủ trương theo đuổi chính sách tự sát không hơn không kém, một hành động mà Hoa Kỳ quyết liệt chống đối cho đến cùng v́ khi đó có muốn phản ứng chống lại th́ cũng đă quá muộn. 

          14. Hoa Kỳ - Trung Cộng Và  Bomb ….Nguyên Tử.

          Từ đầu thập niên 1980 đến nay, trong chính giới Hoa Kỳ có nhiều luồng dư luận đồn đăi là Trung Cộng giờ đây đă có đủ khả năng để phóng hỏa tiễn có mang đầu đạn nguyên tử đến nội địa Hoa Kỳ rồi. Mà cho dù Trung Cộng có khả năng đó th́ đă sao! Vấn đề quan trọng là hiện nay Trung Cộng có bao nhiêu đầu đạn nguyên tử có thể dùng để phóng sang đất Hoa Kỳ? Theo tài liệu Ngũ Giác Đài, hiện giờ đây Hoa Kỳ có hơn 10,000 đầu đạn nguyên tử đủ mọi loại, và có thể mưa Bomb Nguyên tử bất cứ lúc nào nếu an ninh Hoa Kỳ bị đe doạ , c̣n Trung Cộng chỉ có dưới 500 đầu đạn nguyên tử thôi. Đó là chưa phân tích cho rơ thêm con số mơ hồ "trên mười ngàn" là có thể bao nhiêu, và "dưới năm trăm" có thể là bao nhiêu nữa …đấy !. Từ ngày Hoa Kỳ khám phá ra việc gián điệp Trung Cộng xâm nhập vào các trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm các loại vũ khí mới của quân đội Hoa Kỳ, th́ càng ngày phong trào tránh xa ra khỏi Trung Cộng trong giới chính trị Hoa Kỳ càng trở nên mạnh và áp lực của khối người này trên đường lối ngoại giao của chính quyền Hoa Kỳ đối với Trung Cộng càng ngày càng thêm cứng rắn. Rồi đến khi dân biểu đảng Cộng Ḥa Christopher Cox công bố kết quả cuộc điều tra của Ủy Ban Cox trong Quốc Hội,th́ cho thấy là Trung Cộng đă mở một chiến dịch đại qui mô về t́nh báo trên lănh thổ Hoa Kỳ. Ủy Ban Điều tra Cox kết luận là những tài liệu mật do gián điệp Trung Cộng đánh cắp được có thể giúp cho họ chế tạo được những đầu đạn nguyên tử nhỏ những vẫn mạnh để gắn trên các hỏa tiễn liên lục địa mà họ đang chế tạo.

          Những hỏa tiễn này có thể bay tới Hoa Kỳ rất chính xác nhờ những tài liệu mật do hai hăng Hughes Space & Communications Co. và Loral Space & Communications - v́ bất cẩn - đă cung cấp cho họ. Đối với những người yếu bóng vía, sau khi đọc bản báo cáo của Ủy Ban Điều Tra Cox th́ sẽ sợ cuống cả lên, v́ vậy chúng ta cũng nên đi thẳng vào vấn đề là t́m hiểu sơ qua tiềm năng quân sự của Trung Cộng và Hoa Kỳ một cách khách quan. Theo các chuyên gia về quân sự quốc tế và ngay cả Hoa Kỳ th́ hiện nay bộ máy quân sự của Trung Cộng có mạnh hay không ? Câu trả lời là không thật mạnh cho lắm và khó mà trở thành mạnh trong thời gian rất ngắn tới đây. Sau những nhận xét đó họ đi đến kết luận là Trung Cộng dù họ có muốn đi nữa - th́ khả năng của họ để gây thiệt hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ cũng rất là hạn chế. Trong suốt thập niên 1990, ( 10 năm ) chi phí về quốc pḥng của Trung Cộng cao nhất chỉ vào khoảng 65 tỷ mỹ kim (1 tỷ bằng 1000 triệu), số tiền này không bằng 1/4 chi phí quốc pḥng của Hoa Kỳ, mặc dù quân số của Trung Cộng đông gấp hai quân số của Hoa Kỳ. Về tiền chi phí trong lănh vực vũ khí th́ Ngũ Giác Đài đă bỏ ra khoảng 1 trillion mỹ kim (1 trillion = 1000 tỷ = 1.000.000 triệu) để mua những vũ khí tối tân; trong khi đó Trung Cộng phải cố gắng hết sức mới chạy được không tới 100 tỷ mỹ kim để mua vũ khí. Cũng nên nhớ ở Hoa Kỳ, chỉ riêng gia tài ông Bill Gates, chủ hăng Microsoft cũng đă lên tới 90 tỷ mỹ kim rồi. C̣n giá tiền mà Không Quân Hoa Kỳ dùng để mua hai loại phi cơ B1và B2 cũng đă tốn hết 50 tỷ mỹ kim. Về Không lực của Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến th́ Hoa Kỳ có tất cả hơn 3000 máy bay tối tân đủ loại,đủ kiểu; trong khi đó Không Quân Trung Cộng có hơn 500 chiếc máy bay MIG thuộc hạng cổ lổ sĩ, nếu đem so sánh với máy bay Hoa Kỳ th́ chỉ như loại máy bay "bà già" bên ta lúc xưa. C̣n máy bay loại tối tân th́ Trung Cộng có được không tới 40 chiếc mua của Nga mấy năm sau này, nhưng về Phóng Pháo Cơ liên lục địa th́ Trung Cộng chả có chiếc nào cả. Trong ṿng 15 năm nay, đă có nhiều lần Trung Cộng cố gắng cải thiện hệ thống kỹ nghệ quốc pḥng của họ, nhưng không mấy khả quan. Theo ước lượng của ngành t́nh báo quân đội Hoa Kỳ th́ đến năm 2010, mười phần trăm vũ khí được tân trang của quân đội Trung Cộng mới bằng được mức vũ khí của quân đội Hoa Kỳ trong thời kỳ bắt đầu chiến tranh lạnh. Hiện nay Trung Cộng có 2 triệu 800.000 quân, một đạo quân lớn nhất hoàn cầu, nhưng chỉ có 20% số quân này có thể di chuyển trong nội địa Trung Hoa mà thôi v́ thiếu xe cộ và đồ thiết bị khác.

          C̣n về nhân sự - th́ theo cuộc điều tra mới đây nhất của Ngũ Giác Đài - bệnh "bao che, phe phái" là chuyện thường t́nh trong quân đội Trung Cộng. Những người thông minh tài giỏi không bao giờ đi vào quân đội và vấn đề huấn luyện quân đội về ngành chuyên môn rất là yếu kém. Chúng ta thường nghe đài truyền h́nh và truyền thanh Trung Cộng hăm dọa sẽ đổ bộ qua chiếm đảo Đài Loan, nghe th́ ngon lành như vậy, nhưng chúng ta nên ghi nhận hiện nay Đài Loan có 250.000 quân thiện chiến được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân và có thêm 1 triệu 500.000 quân trừ bị được huấn luyện về du kích chiến rất thành thục. Như vậy muốn đánh Đài Loan th́ phải đổ bộ ít ra cũng khoảng một triệu quân, nhưng khả năng vận chuyển quân đội của Trung Cộng tối đa chỉ vào khoảng 20,000 quân thôi; thử hỏi với ngần ấy người, khi vừa đổ bộ th́ đă bị bắt làm tù binh hết cả rồi c̣n đánh chác ǵ được nữa. Nếu Trung Cộng biết thế yếu của ḿnh không dám mạo hiểm đổ bộ lên Đài Loan - mà chỉ phong tỏa đảo này để làm cho nền kinh tế Đài Loan phá sản và chịu đầu hàng th́ cũng khó mà thực hiện được; v́ nếu Hoa Kỳ chịu giúp cho Đài Loan vài chiếc hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ để tuần tiểu vùng bể ở phía Đông Đài Loan, th́ chắc chắn khi đó hải quân Trung Cộng sẽ không dám bén mảng đến khu vực này. Thêm vào đó, từ mấy năm nay, quân đội Đài Loan rất tiến bộ về phương diện pḥng không chống hỏa tiễn và càng ngày - nhờ có kỹ thuật cao - nên nền kinh tế của Đài Loan ngày càng thêm phát đạt, giúp cho nhà cầm quyền có dư tài chánh để mua thêm vũ khí, như đầu tháng 8, 1999, họ vừa mua của Hoa Kỳ 550 triệu vũ khí tối tân gồm đủ loại,chưa kể là họ c̣n mua thêm vũ khí ở các nước Âu Châu như Pháp, Anh, Đức và Thụy Điển nữa.

          Sau khi duyệt sơ qua tiềm năng quân sự hiện tại của Trung Cộng th́ ít nhất cũng hai thập niên nữa Trung Cộng mới có thể trở nên một đối thủ của Hoa Kỳ, với điều kiện là tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vẫn đứng nguyên một chỗ như bây giờ, và đó là một điều không bao giờ có thể xảy ra được. Tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ đă không chịu đứng nguyên một chỗ - mà cách đây hơn 3 năm - đă âm thầm chuẩn bị những bước tiến nhảy vọt mà chỉ có họ mới có thể thực hiện được mà thôi v́ đ̣i hỏi một tŕnh độ kỹ thuật về điện tử siêu đẳng mới có thể thành công được. Đối với giới chuyên gia quân sự th́ trong thế kỷ 20 này, vai tṛ của chiến hạm, xe tăng, phi cơ, hàng không mẫu hạm, bom nguyên tử, hỏa tiễn liên lục địa, có ảnh hưởng trong việc xếp thứ tự quan trọng của các cường quốc trên thế giới. Nhưng những vũ khí nêu trên đây sẽ trở nên lỗi thời và sẽ bị vô hiệu hóa nếu Hoa Kỳ sớm thực hiện được cuộc cách mạng trong ngành kỹ thuật quân sự mà họ đă bắt đầu từ mấy năm nay. Vấn đề mấu chốt hiện nay là hệ thống pḥng thủ phải làm sao thu thập tin tức ngoài mặt trận cho thật nhanh, thật đầy đủ về các mục tiêu quân sự của địch cũng như của bạn, bao trùm một vùng rộng lớn nhưng phải rất chính xác, trong một thời gian rất ngắn để viên chỉ huy mặt trận trong tương lai có thể thấy ngay lúc đó vị trí của quân đội bạn và thù, để rồi từ đó tùy nghi dùng những phương tiện thích hợp tiêu diệt địch. Mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ hiện nay là tận dụng khả năng kỹ thuật siêu đẳng về điện tử của họ để giúp cho viên chỉ huy của họ có một cái nh́n bao la, chính xác và cấp kỳ về bên bạn cũng như về bên địch, để nắm chắc phần thắng lợi trong tay. Cũng như trong một ván x́ phé, nếu ḿnh biết được lá bài tẩy của người khác th́ ván bài đó coi như là về tay ḿnh rồi. Muốn đạt tới những mục tiêu nêu trên, việc đầu tiên là phải thu thập tin tức từ mặt trận qua những “hệ thống cảm từ (sensor) và vệ tinh, phi cơ tự động và không tự động để có thể ghi nhận tất cả mọi diễn tiến xảy ra ngoài mặt trận. Những ǵ vị chỉ huy mặt trận thấy được mà bên địch không thấy được là một điều lợi về quân sự vô cùng to lớn. Thứ đến, những dữ kiện do các “hệ thống cảm từ thu thập được đều được chuyển qua các hệ thống điện tử truyền tin để rồi gởi tới ngay cấp chỉ huy các hệ thống tấn công. Và điều lợi chót là các vị chỉ huy trưởng bên phía bạn sẽ có đủ khả năng để tiêu hủy những mục tiêu địch bằng cách xử dụng những vũ khí "tinh khôn" gắn trên đầu các hỏa tiễn có tầm xa, do vệ tinh điều khiển và có thể oanh tạc rất chính xác những mục tiêu cách xa chiến trường hàng trăm dặm. Đó là trường hợp Hoa Kỳ dùng loại bom này để phá hủy Trung Tâm T́nh Báo Chiến Lược của Trung Cộng tại Âu Châu và đài truyền h́nh truyền thanh của Milosevic đặt lén trong ṭa đại sứ Trung Cộng tại thủ đô Belgrade ở Nam Tư.

          Thành thử từ nay - đối với Hoa Kỳ - những vật ǵ thấy được trên màn ảnh là có thể bị bắn trúng; mà hễ đă bị bắn trúng là có thể bị tiêu diệt. Thành thử đối với bên địch, người bộ binh ở tiền tuyến hay kho vũ khí ở hậu phương, bất cứ chỗ nào cũng đều là những mục tiêu nguy hiểm cả. Và từ nay trong những cuộc chiến sẽ không c̣n những loại hành quân" lục soát và tiêu diệt " rất nguy hiểm như trong trận chiến ở Việt Nam trước đây. Để tiết kiệm nhân mạng trong tương lai, người ta sẽ dùng nhiều hơn những hỏa tiễn tuần tra (cruise missile) và những máy bay không tự động để thay thế máy bay khu trục và xe tăng; đồng thời hàng không mẫu hạm sẽ giảm bớt vai tṛ của chiến hạm. Kỹ thuật tân tiến đề cao vai tṛ tấn công hơn là pḥng vệ, đúng như người đời xưa hay nói "Tiên hạ thủ vi cường" v́ khi ta tấn công trước th́ địch bị ta chặn đứng và sẽ không phản ứng ǵ được nữa. V́ ta biết rơ t́nh h́nh địch mà địch th́ mù tịt về t́nh h́nh của ta, nên dù ở đồng bằng hay núi đồi, hay ngay trong sa mạc, ta vẫn luôn luôn nắm phần chủ động và tấn công địch trước khi họ chưa kịp trở tay. Nhờ có kỹ thuật hiện đại quá cao đối với tất cả các nước khác trên thế giới, nên vào thế kỷ thứ 21 này, Hoa Kỳ sẽ là nước dẫn đầu trong cuộc cách mạng quân sự nói trên. Để cho xứng đáng với danh xưng siêu cường độc nhất trên thế giới,. Hoa Kỳ sẽ giúp cho một số nước nhỏ bị vài nước lớn xâm lăng và chinh phục trước đây trở nên độc lập. Hành động này - bề ngoài đối với quốc tế - rất là danh chính ngôn thuận, nhưng bên trong là “phục vụ quyền lợi của chính Hoa Kỳ”. Đó là trường hợp của Kosovo, Tây Tạng và Đài Loan.

           Một khi Hoa Kỳ giúp cho Kosovo được độc lập và kiến thiết lại xứ sở, thế là Hoa Kỳ đem lại được thanh b́nh cho vùng Ba Nhĩ Cán đồng thời loại được ảnh hưởng c̣n lại của cộng sản Nam Tư và của Nga tại nơi này. Áp lực của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng về vấn đề tự trị rộng răi của Tây Tạng sẽ mạnh hơn trước và có thể trở thành đề tài bất ổn giữa hai nước trong tương lai. Một khi Hoa Kỳ hoàn tất xong cuộc cách mạng quân sự trong đầu thập niên của thế kỷ thứ 21, việc đầu tiên mà họ sẽ làm để củng cố địa vị siêu cường độc nhất của họ trên thế giới là làm cho Trung Cộng không c̣n là một khối người vĩ đại trên một lục địa khổng lồ nữa. Vả lại nền kinh tế của Trung Cộng đă trở nên quá bi đát th́ Hoa Kỳ cũng chẳng thu được lợi ǵ cho lắm trong khi buôn bán với họ, nhất là khi họ vẫn duy tŕ chế độ độc tài cộng sản, tham nhũng từ trên xuống dưới, một chế độ không thể đi đôi với sự phồn thịnh về kinh tế. Một nước hùng mạnh về quân sự luôn luôn cố gắng phát triển song song nền kinh tế của họ. Hoa Kỳ cũng không tránh được quy luật đó, và buộc họ phải đi t́m thị trường mới, nhưng t́m đâu bây giờ? Thị trường Âu Châu th́ Hoa Kỳ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các nước trong cộng đồng các quốc gia Âu Châu; thị trường Nam Mỹ Châu th́ dân chúng đang c̣n nghèo nàn lắm; chỉ c̣n thị trường Á Châu với lục địa Trung Hoa khổng lồ khả dĩ có thể trở thành nơi dụng vơ của Hoa Kỳ với điều kiện Trung Cộng từ bỏ chủ thuyết Mác - Lênin, và đó là chuyện khó có thể xảy ra. Nếu Trung Cộng vẫn khư khư giữ chặt chế độ cộng sản và quyết tâm trở thành siêu cường thứ 2 trên thế giới, th́ vấn đề lúc đó lại trở thành phức tạp hơn nữa, buộc Hoa Kỳ phải có biện pháp đối phó càng sớm càng hay; và lúc đó mọi việc sẽ được giải quyết bằng giải pháp quân sự, để rồi tiếp đó sau khi Trung Cộng thua trận nước Trung Hoa sẽ bị phân chia thành nhiều nước nhỏ. Cùng lúc các “chế độ Ma Quĩ Cộng Sản Á Châu” các “chế độ Ma Đầu Tôn Giáo” lừa bịp khống chế tinh thần kẻ khác phải bị tiêu diệt th́ ánh sáng “Tự Do Dân Chủ , cùng với  một Chủ Thuyết Mới ra đời ở Phương Đông. Th́ đây là một cơ hội cuối cùng để nhng Đảng Viên Cộng Sản nào sớm biết “Tự Tĩnh để trở về với Đại Nghiă Dân Tộc” , nhưng phải biết làm một cái ǵ đó để không tự hổ thẹn với Lương Tâm của chính ḿnh , khi ấy nhân loại mới có thanh b́nh , và mọi người được ăn ngon, ng yên./.

          Trong vườn sống ước mơ là trái cấm .

          Rắn SaTan hối cải hóa Thiên Thần

                                                L.Đ.A

 

                                                                                      ChuSa

                                                                                      Nov 27, 2002

HOME