Việt
Viễn Tượng
Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của
Nòi Việt
(Lời ghi chú:
Bài dưới đây được viết theo
tư tưởng của nhà lập Thuyết X. Y.
Thái Dịch Lý Đông A, và tham khảo dựa
theo nhiều bài thuyết trình của diễn giả
Bất Hoặc Ngô Tùng Việt, bài viết
này sẽ do bạn Ngô Hữu đảm
trách thực hiện dưới nhan đề: Việt Nam Thời Điểm
2001 Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất
Yếu Của Nòi Việt.)
* - Ví biết lửa
hương tìm chắp nối,
* - Là hay vàng
đá để trao truyền,
“Đạo
Trường Ngâm”
*
I) - Cuộc Cách Mạng Toàn Diện, Triệt
Để và Hướng Thượng
Bài
viết này sẽ trình bày Viễn Tượng Phục
Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt trong một
cuộc Cách Mạng Triệt Để, Toàn Diện
và Hướng Thượng. Cuộc cách mạng
này sẽ xảy ra trong một tương lai
không xa trên suốt dọc đất nước,
khi người dân Việt từ đáy vực của
đói rét, tủi nhục, đau khổ bỗng
giác ngộ quyền lợi của đất nước
và của chính mình, họ phản tỉnh
và nhìn ra được thực chất của Cộng
Sản với những chiêu bài hoa mỹ chỉ
là âm mưu lợi dụng, lừa gạt, phỉnh
phờ, họ nhìn ra được chân tướng
của những “lãnh tụ anh minh, thần
thánh” mà một thời họ đã từng
kính, yêu, tôn, quý chỉ là những
tên hề những con múa rối không hơn
không kém. Những “lãnh tụ anh minh Cộng
sản” chúng làm trung gian kiếm lời cho
các “Ác Thế Lực Tinh Ma” quốc
tế bóc lột dân Việt từ hơn một
trăm năm qua, họ nhìn ra được sự cần
thiết của quyền và lực trong tương
quan chính trị thế giới trên bản vị
nước nòi, để từ đó thống
nhất lại trên lập trường truyền thống
Việt hướng thượng và khai phóng.
Trên
lập trường truyền thống Việt hướng
thượng và khai phóng này người
lãnh đạo Việt Nam trong tương lai sẽ dựng
lên toàn bộ Chính Lược, Chiến
Lược, Chiến Thuật hướng dẫn việc
thi hành công trình vĩ đại của
toàn dân trên suốt dọc đất nước
gồm Hai tầng Ba mặt (Hai
tầng là tầng Phá Hoại đi trước
và tầng Kiến Thiết đi sau; phá hoại
những gì cần phá với bạo lực của
cách mạng và kiến thiết những gì cần
xây dựng với năng lực của yêu
thương. Ba mặt là phải Triệt Để
giải quyết đến tận gốc rễ, phải
Toàn Diện với sự đồng bộ của mọi
lãnh vực và phải có tính Hướng
Thượng đáp ứng được tiêu chuẩn
của thời đại). Từ những viễn
tượng phục hoạt ở trên, người Việt
Nam họ sẽ dẹp được thù trong, thắng
được giặc ngoài, họ sẽ thắng hết
nợ và nhục, họ sẽ được dẫn
dắt dựa theo tinh thần hoa lau Vạn Thắng
đưa đất nước đến phú cường
vinh quang muôn thuở.
Chống
đối và đàn áp là những phản
ứng tất yếu có tính cách biện chứng,
nối kết liên tiếp như những mắc
xích trong những tương quan giữa người
thống trị và kẻ bị trị. Áp dụng
vào hoàn cảnh Việt Nam, sự chống đối
của dân chúng rồi sẽ đi đến
đâu?, sự chống đối đó hoặc
sẽ lớn mạnh theo thời gian trên cả hai
phương diện phẩm lẫn lượng, để
đúc kết thành phong
trào quần chúng được hướng dẫn
bởi những tổ chức bí mật có
đường lối, có chủ trương qua những
chính lược, chiến lược và chiến
thuật đấu tranh rõ rệt, chuẩn bị
cho cuộc quật khởi của đại khối
dân tộc tiến lên dành lấy chính quyền,
đạp đổ tập đoàn thống trị
Hà Nội tay sai của “Ác Thế Lực Tinh
Ma” quốc tế trong một cuộc cách mạng
bạo lực, hoặc sẽ bị bóp chết trong
bàn tay của bạo quyền Cộng sản Hà Nội
qua hàng loạt những biện pháp đàn
áp, thanh trừng đẫm máu như vụ: Quỳnh
Lưu (1), Nhân Văn Giai Phẩm (2), sự nổi dậy
của nhân dân tỉnh Thái Bình, cuộc
biểu tình của người Thượng xảy
ra ở tỉnh Đắc Lắc, Pleiku vào tháng
2 năm 2001 với khoảng 20 ngàn (20.000) người
chống đối nhà cầm quyền Cộng Sản
để đòi đất của tổ tiên họ
và biến cố ngày 9 và 10 tháng 4
năm 2004, với sự nổi dậy đồng loạt
của nhiều sắc dân thiểu số vùng
Tây Nguyên nổi lên ở các tỉnh:
Buôn Mê Thuột, Kontum, Đà Lạt, Pleiku,
Phước Long, Cù Gút, (Cu Jut), Đắc Mê,
(Dak Mil), Ayunpa.. v.v.., tổng số có khoảng
trên 500 ngàn (500.000) người xuống đường
chống đối chính quyền đòi đất
đai buôn rẩy và quyền tự do theo đạo
Tin Lành,
Riêng
cuộc nổi dậy bằng gậy gộc ở Tây
Nguyên của các dân tộc thiểu số
ngày 9 và 10 tháng 4 năm 2004 (3) nhà cầm
quyền Cộng sản đã đem quân đội
và công an đàn áp đẫm máu, kết
quả là hàng ngàn người chết,
hàng chục ngàn người bị thương
và bị bắt mang đi mất tích. Khiến
Liên Hiệp Âu Châu (EU) phải lên tiếng
can thiệp, trong đó có dân biểu Âu
Châu Olivier Dupuis và Ngoại Trưởng Ý
Đại Lợi ông Franco Frattini. Trong một cuộc
biểu tình trước thành Rome vào
ngày 11 tháng 4 năm 2004 ông Franco Frattini lên
án nhà cầm quyền Hà Nội, đã
tàn sát các dân tộc Tây Nguyên
và ông kêu gọi thế giới nên
có biện pháp mạnh mẽ với ngụy quyền
Hà Nội. Tuy nhiên, các biến cố vừa
kể trên chỉ là những dấu hiệu khởi
đầu, nhưng chưa đủ lực để
làm bùng nổ công cuộc cách mạng.
Tương
tự như cuộc “cách mạng văn
hóa” ở Trung Hoa vào thập niên 1950 (4),
và năm 1989 quân đội Trung Cộng
đã đàn áp đẫm máu sinh
viên Trung Hoa tại quảng trường Thiên An
Môn. Và nếu sự chống đối lan rộng
rồi lớn mạnh thành phong trào quần
chúng thì ánh hào quang của lý tưởng
nào đã hấp dẫn, thuyết phục
và biến họ thành chủ lực cách mạng?.
Đất nước chúng ta ngày nay không phải
chỉ có một thảm họa Cộng Sản,
mà đất nước còn đang bị thử
thách nghiêm trọng trước họa nô lệ
kinh tế, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ
và lãnh hải đang bị ngoại bang khống
chế sang đoạt. Việt Nam ngày nay là một
vùng đất tranh giữa các cường lực
quốc tế, trong khi đó ngay nội tình của
đảng Cộng sản lại phân hoá
thành bách sứ quân, giới lãnh đạo
Cộng sản Hà Nội đã đưa đất
nước đến tận bờ vực thẳm của
diệt vong, nền giáo dục cơ hồ như
đã đến tận cùng của đổ vỡ
“nhân nào quả ấy”, đấy
là kết quả của việc “trăm năm trồng
người Cộng sản”, một thứ chính
trị chuyên chính vô sản và phi nhân
bản như xã hội chủ nghĩa Mác-Lê
thì sự đổ vỡ là lẽ tất
nhiên.
Hiện
tại giới lãnh đạo Cộng sản
không còn cơ hội nào khác để
làm thay đổi tình thế, con người Cộng
Sản cướp chính quyền bằng bạo lực
thì họ cũng phải giữ chính quyền với
bất cứ giá nào bằng họng súng.
Đừng bao giờ ảo tưởng mong rằng Cộng
Sản sẽ chia quyền hay nhường quyền.
Đây là thời điểm mà các lực
lượng dân tộc chân chính phải
đứng lên để giữ lấy nước, cứu
lấy nòi, lực lượng ấy chắc chắn
phải là lực lượng sóng
đáy, lực lượng sóng đáy
chính là thế hệ của thanh niên và
tầng cấp 98% của quốc dân Việt, họ chính
là đáy tầng của dân tộc Việt.
Mọi
tầng lớp con dân Việt phải thật sự phản
tỉnh mới mong làm nên lịch sử để
thay đổi toàn diện đất nước. Cộng
sản đang dùng chiêu bài thay đổi kinh
tế để thay đổi chính trị
đó chỉ là một khẩu hiệu lừa gạt.
Nền chính trị phải thay đổi trước,
thì mới có thể thực hiện thay đổi
kinh tế, giáo dục và xã hội. Vì
chính trị là thượng tầng lãnh
đạo tư tưởng, chính trị thiết kế
cho kinh tế, giáo dục, văn hoá, xã hội,
tất cả là một tương quan không thể
tách rời. Chỉ có những người
lãnh đạo tài ba mới có thể hoạch
định một đường lối chính trị
đúng đắn cho dân cho nước. Chỉ
có những người lãnh đạo chân
chính mới có thể cảm nhận được
sự khát vọng của con người và
xã hội, để từ đó “Tri
Hành hợp nhất” trong sứ mệnh mưu cầu
hạnh phúc cho nhân sinh. Như một tất yếu
của lịch sử nước ta phải có một
cuộc cách mạng, để từ đó
làm một khởi điểm thiết kế xây
lại nước, dựng lại con người. Tất
cả những viễn tượng trên khi đã
có một đường lối đúng và
những con người quyết tâm dám sống
và dám chết thì nhất định
chúng ta sẽ thành công.
* II)
- Cách Mạng Như Một Tất Yếu Của Lịch
Sử
Cách
Mạng có văn hóa của cách mạng, nếu
không có cuộc cách mạng năm 1789 của
Pháp thì nước Pháp sẽ không bao giờ
có một thể chế dân chủ và tôn
trọng dân quyền như ngày nay. Cách mạng
gắn liền với tiến bộ, cách mạng chỉ
là một sự đổi đời từ hư hoại
sang tốt lành, khi mà đất nước
dân tộc còn chìm đắm, vùi dập
dưới ách thống trị của bạo quyền
Cộng Sản như hiện nay, với lý
đương nhiên của quy luật tiến hóa
đất nước phải cần có một cuộc
cách mạng với ba phẩm tính toàn diện,
triệt để và hướng thượng như
đã nêu trên.
Lịch
sử là giòng sinh mệnh của một nước
nòi trong tiến trình sống, còn, nối, tiếp,
tiến, hóa đến vô cùng trong những
điều kiện khắc nghiệt của không gian
và thời gian. Lịch sử là một kết tạo
đặc thù ở đó quá khứ
ngàn đời vẫn hoài hoài ảnh hưởng
tới tương lai qua sự chuyển tiếp của
nước nòi trong hiện tại, như những cổ
đại tiềm thức xa thẳm, vẫn ẩn
tàng trong đáy vực hồn, bỗng vùng vẫy
nổi lên trên mặt tầng ý thức của
cá nhân để bất ngờ ảnh hưởng
vào những quyết định cấp thời trong
những giờ phút sinh tử.
Một
con người không thể tách rời được
quá khứ cũng như một dân tộc
không thể đoạn tuyệt được với
quá khứ lịch sử của đất nước
mình. Tựa như một giòng sông có
khúc trong khúc đục, lúc giạt dào
cuốn xiết, lúc lững lờ êm chảy
trôi xuôi qua những đập ghềnh, những bờ
đê be bờ ngăn nước. Lịch sử đất
nước cũng trôi chảy với những
thăng trầm, vinh nhục qua những giai đoạn
hanh thông hay bế tắc của nước nòi.
Để phá vỡ sự bế tắc lịch sử
này, cách mạng sẽ phải xảy ra như một
đột biến tương tự như một sự
tức nước vỡ bờ cuốn trôi tất cả
những trì trệ cản đường, những
rác rến Cộng sản.
Đất
nước đã đổ vỡ toàn diện
vì nhóm người lãnh đạo Cộng sản
thiếu trí tuệ, kém suy nghĩ, chính quyền
Cộng sản không còn quyền lực, giới
lãnh đạo Cộng sản Hà Nội chỉ
là một nhóm người tham lam bất tài,
họ không học những bài học lịch sử,
họ không theo cái gương của người
xưa để lại, hoặc giả nếu có
thì họ đã đánh mất chân
tâm của dân tộc trong con người và
trong chế độ của họ. Thảm cảnh của
đất nước Việt
A / -
Ý nghĩa và mục đích của cách
mạng
Hoàn
cảnh đất nước chúng ta hiện nay
không phải chỉ đơn giản là thay đổi
toàn diện chế độ Cộng sản hiện
tại, mà còn đòi hỏi chúng ta phải
làm một cuộc cách mạng để xây
dựng lại đất nước và con người,
đòi hỏi chúng ta có trọng trách kiến
thiết lại những đỗ vỡ do chế độ
Cộng sản gây ra trong gần 60 năm cầm quyền
ở miền Bắc và gần 30 năm cưỡng
chiếm miền Nam. Tất nhiên trên cả hai
lãnh vực kiến thiết đất nước
và xây dựng con người phải cực kỳ
khó khăn và đòi hỏi nhiều công
trình, vì sau gần 60 năm Cộng sản cầm
quyền cai trị đất nước, chế độ
này đã đạp phá hết những
đạo thống giềng mối của con người
và của quốc gia Việt Nam.
Chúng
ta phải đứng lên để nhận lãnh một
trách nhiệm hay đúng hơn là nhận một
sứ mệnh cải thiện sinh mệnh của con
người và xã hội Việt
* -
……………………………………….
* - Đất nước
sa vào trong một hầm chông
* - Không phải một
ngày mà thoát ra được đó
* - Con thuyền ra
khơi phải chờ lộng gió
* - Phá xích,
phá xiềng phải sức búa đao
* - Còn chúng
ta phải lấy xác làm bè
* - Lấy máu
trút ra tạo thành sóng nước
* - Mới mong nổi
lên vùng lầy tàn ngược (Cộng sản)
* -
………………………………………….
(Đồng
Lầy 1972 - thơ Vô Đề)
Tóm
lại cách mạng là một nhu cầu cần yếu
khẩn thiết của thời đại, một cuộc
đổi đời xảy ra trong hoàn cảnh bế
tắc, cách mạng khi cần thiết phải đập
vỡ những vướn mắc, những trở lực
của hoàn cảnh để vươn lên trong
tiến trình sống, còn, tiếp, nối, tiến,
hóa đến vô cùng của một dân tộc.
Ý nghĩa của cách mạng là tu chỉnh
con người, hoàn thiện xã hội để
cho sự tương quan giữa người với
người được hợp lý hơn, tốt
đẹp hơn. Nhân loại đã chứng kiến
biết bao nhiêu cuộc đổi đời, qua
đó giá trị con người đã
được nâng cao dần dần tỷ lệ thuận
với sự ý thức về mình qua sự
thông hiểu những ý niệm Nhân Bản,
Nhân Tính và Nhân Chủ để đứng
lên đòi quyền lợi cho mình, cho nước
nòi và cho toàn thể loài người yếu.
Trong
lịch sử thế giới có tất cả ba loại
cách mạng:.
Một là Cách Mạng Dân
Tộc, xảy ra khi một dân tộc nhất tề
quật khởi vùng lên chống kẻ ngoại
xâm đô hộ, giành lại Độc Lập
Tự Do.
Hai
là Cách Mạng Nhân Sinh (kinh tế), xảy
ra vì sự bất tài của bè lũ cầm
quyền ngu tối làm tiềm năng kinh tế của
đất nước không phát triển được,
để dân chúng sống trong cảnh tủi nhục,
lầm than, đói rét, cơ cực.
Ba
là Cách Mạng Nhân Quyền, xảy ra khi
người dân bị chà đạp, bị
kìm kẹp trong kiếp ngựa kéo, trâu
cày, đã đứng lên đòi những
quyền cơ bản của con người để
được Làm Người, sau khi
đã ý thức mình Là Người.
Tuy
nhiên, một cuộc cách mạng xảy ra vẫn
thường gồm đủ hai hay ba khía cạnh kể
trên, chắc chắn một cuộc cách mạng xảy
ra trong tương lai không xa trên đất nước
chúng ta cũng sẽ bao gồm đủ ba khía cạnh
này. Cách mạng sẽ phải xảy ra để
chống một tầng lớp cai trị, chống một
giai cấp mới đó là “giai cấp tư
bản đỏ”, họ sống thừa mứa với
những đặc quyền hơn xa cả giai cấp
quý tộc vua chúa kiêu sa thời phong kiến.
Tầng lớp cai trị này được tạo ra
và dung dưỡng bởi “Ác Thế Lực
Quốc Tế”. Sự đô hộ của ngoại
bang rất tinh vi và hiện đại nên
đã dấu được bộ mặt thực của
dã tâm đế quốc. Đó là sự
đô hộ trên tư tưởng, chi phối
và áp đặt đường lối,
chính sách phải theo cho một dân tộc
khác qua tổ chức đảng lãnh đạo
bù nhìn tay sai. Với tư cách trung gian kiếm
lời, tập đoàn tay sai Cộng Sản Hà Nội
đã nhắm mắt hiến dâng quyền lợi
tối thượng bất khả sang nhượng của
tổ quốc, quyền được hưởng
hòa bình, hạnh phúc ấm no của
toàn dân cho mục tiêu chiến lược
trong tham vọng bành trướng thống trị của
kẻ thù truyền kiếp.
Cho
nên, chống chủ thuyết Cộng Sản, chống
đảng Cộng Sản Việt Nam, chống bọn cầm
quyền Cộng Sản Hà Nội là chống ngoại
xâm trên mặt tầng tư tưởng để
làm cuộc Cách Mạng Dân Tộc.
Xóa bỏ tà thuyết Cộng Sản, chống
bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội cũng
là để khôi phục lại nhân phẩm
cho con người, tranh đòi quyền làm người
trong một cuộc Cách Mạng Nhân Quyền.
Loại bỏ bọn cầm quyền Cộng Sản
Hà Nội cũng là để phát triển
tiềm năng kinh tế đất nước để
làm một cuộc Cách Mạng Nhân Sinh.
Cộng
Sản đã dùng chiêu bài vô sản
để đày đọa cả dân tộc.
Dù rằng người Cộng Sản hơn ai hết
hiểu rõ giai cấp vô sản chỉ có
trong ý niệm chứ chưa thành một thực
thể trong xã hội Việt
B / -
Bản chất của cách mạng
Cách mạng là cuộc
đổi đời, phá những cái cũ, xấu,
mục, nát, lỗi thời để xây dựng
những định chế mới, tốt đẹp hợp
với đòi hỏi của dân tộc trong tiến
trình đi lên của thời đại theo quy luật
tiến hóa. Cách mạng có lý thuyết
tri thức và hành động của cách mạng,
nói khác đi là: Cách Mạng có
chính trị của cách mạng, cách mạng
là sự thay đổi toàn diện tức
là đi đến cực điểm sự cụ thể
hóa Đúng và Chắc, với những
gì mà quốc
dân đang khác vọng đổi thay.
Cách mạng là một hiện tượng “tức
nước vỡ bờ” có tính cách
đột biến sau khi đã hội đủ những
yếu tố Thời, Cơ và Nhân Sự, có
hai đặc tính của cách mạng như sau:.
Đặc tính thứ nhất
của cách mạng là bạo lực, là
phá hoại với giá của sự hy sinh
xương máu. Tự Do, Độc Lập, Hạnh
Phúc, Ấm No và Hòa Bình không phải
là thứ do xin xỏ mà được, do van
nài mà có. Đừng bao giờ ảo tưởng
trông mong vào sự thông cảm và lòng
nhân ái của kẻ thù, vì Quyền bao
giờ cũng đi đôi với Lực tương
xứng, kém Lực tức thì sẽ mất Quyền.
Cách mạng là bạo lực nên sự
quá khích là điều tất nhiên trong
những ngày đầu của cách mạng.
Nhưng Cách Mạng không phải chỉ thuần
có phá hoại, đập đổ và san bằng.
Cách mạng còn bao gồm một mặt khác
quan trọng và tích cực hơn, đó
là mặt kiến thiết. Thiếu mặt xây dựng
kiến thiết này thì cách mạng chỉ
là một tội ác được thực hiện
trong cơn cuồng nộ của thú tính.
Đặc tính thứ hai
của cách mạng là lý tưởng. Mỗi
cuộc cách mạng đều được một
lý tưởng hướng dẫn. Lý tưởng
Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc, Ấm No
và Hòa Bình đều là những mơ
ước tối thượng của toàn nhân loại.
Để đạt được những mơ ước
đó loài người đã phải hy sinh
biết bao xương máu. Ý niệm về
Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh
Phúc, Ấm No và Hòa Bình không phải
bổng dưng một ngày mà có. Đó
là kết quả thể nghiệm của muôn
ngàn thế hệ trong tiến trình Sống,
Còn, Tiếp, Nối, Tiến, Hóa đến
vô cùng của nhân loại. Do đó đấu
tranh cách mạng cũng là đấu tranh
trên mặt tư tưởng bằng cả một hệ
thống Triết Học gồm đủ ba tầng Vũ
Trụ Quan, Nhân Sinh Quan và Chính Trị Quan.
Như
đã trình bày ở phần A, ý nghĩa
của cách mạng là tu chỉnh con người,
hoàn thiện xã hội đưa nước
nòi lên một mức cao hơn trên tiến
trình hướng thượng hợp với quy luật
tiến hóa của toàn nhân loại. Do
đó đặc tính lý tưởng tức
là đặc tính trí tuệ cũng là
đăc tính chủ yếu của cách mạng.
Trí tuệ sáng suốt tạo ra những tầm
nhìn xa rộng, sâu sắc và thấu triệt
dựa trên một hệ thống triết học gồm
đủ ba tầng cấp Vũ trụ quan, Nhân sinh
quan và Chính trị quan, sẽ đưa ra một
hướng đi chính xác, vạch ra một
đường lối rõ rệt, phù hợp với
lý tất thắng để lãnh đạo
cách mạng đến thành công.
Nhưng
nhìn ra được mục tiêu và đạt
được mục tiêu là hai việc khác
nhau thật xa, như trời cao và vực thẳm
cách biệt giữa Tri và Hành. Người
ta vẫn thường được nghe: “tìm
thì sẽ thấy, xin thì sẽ được,
đi thì sẽ đến” toàn là những
điều gây hứng khởi, nhưng trong thực tế,
đã có biết bao kẻ tìm mà
không thấy, xin mà đã bị từ chối
và đi hoài trong lạc lỏng!. Vì vậy
để bảo đảm cho việc đi đúng
hướng, đúng đường, cách mạng
phải có một Chính Lược suốt
dọc. Từ nền tảng tư tưởng này sẽ
đề ra một Chiến Lược căn
bản chi phối toàn diện cuộc cách mạng,
ở đó Chiến Thuật chỉ
là những ứng biến khôn khéo thích
hợp với từng hoàn cảnh đặc thù
của cục bộ trong cả hai tầng: phá hoại
và xây dựng.
Ngoài
hai đặc tính Trí Tuệ và Vũ Lực,
cách mạng còn có ba phẩm tính
khác. Đó là tính Triệt Để,
tính Toàn Diện và tính Hướng
Thượng. Cách mạng phải có tính Triệt
Để, dứt khoát giải quyết vấn đề
tận gốc rễ một lần cho xong, trái lại
đó chỉ là thỏa hiệp trong tinh thần
né tránh để đầu cơ, trục lợi,
đẩy vấn đề vào xa trong tương lai
cho người khác giải quyết. Cách mạng
phải có tính Toàn Diện bao suốt mọi
khía cạnh của vấn đề, giải quyết
thỏa đáng trên mọi mặt, đáp ứng
được nguyện vọng của đại khối
dân tộc, nếu không chỉ là manh mún,
cục bộ, chỉ có lợi cho phe nhóm trong nhất
thời mà di hại vô cùng cho nước
nòi trong tương lai. Cách mạng phải
có tính Hướng Thượng, chứng minh
được sự cao đẹp, tốt lành của
lý tưởng đề ra trong thực tế bằng
chính những thành quả của kiến thiết,
xây dựng để phục vụ con người
“không phải con người trừu tượng
của lý giới” mà con người là
cụ thể của một thực tế xã hội
đang là đối tượng của cách mạng.
Phẩm tính hướng thượng này sẽ
biện minh cho sự chính đáng của thủ
đoạn nhân ái được dùng để
phá hoại cũng như được dùng trong
xây dựng.
C / -
Điều kiện của cách mạng
Cách mạng là một
tiến trình diễn biến cụ thể trong
không gian và thời gian. Là một tiến
trình nên cách mạng không phải đột
nhiên mà có. Cách mạng cũng phải
đi theo một quy luật tất yếu từ Nhân
đến Quả. Khởi điểm của cách mạng
đã được nuôi dưỡng từ trong
quá khứ bởi những trợ duyên rồi theo
thời gian, tùy theo hoàn cảnh để lớn
mạnh như nhân (hạt) mọc thành cây rậm,
cành xanh lá rồi đơm hoa kết quả. Những
hoài bão thầm kín của những thế hệ
cha ông đã không thể thành vì sự
bất lực của bản thân, trước thời
thế khó khăn, trước kẻ thù tàn
bạo đã trao truyền lại cho con cháu
trước khi nhắm mắt xuôi tay, nay trở
nên mãnh liệt trong đời con và rồi sẽ
được thực hiện trong đời cháu
như một bổn phận thiêng liêng không thể
chối từ cho những thế hệ nối tiếp.
Tuy
nhiên tất cả mọi việc đều
đòi hỏi thời gian để bắt đầu,
để diễn biến, để thành thục,
đến độ chín mùi. Tiếng ru ầu
ơ chất chứa tủi hờn, điệu vọng cổ
Hoài Lang trầm buồn xa vắng, giọng hát u
hoài thương nhớ mà đã một lần
nào chúng ta được nghe, bửa cơm đạm
bạc tương cà mà chúng ta bỗng
thèm trong một lúc nào đó trước
sự ê hề của vật chất xứ người,
chỉ là những nhỏ nhoi vô nghĩa nhưng lại
thật cần thiết như những chất xúc
tác kết hợp người Việt thành một
đại khối, thống nhất trong ý
chí, thống nhất trong hành động, thống
nhất trên lập trường Việt, thống nhất
trên bản vị nước nòi. Với sự
thống nhất này hai điều kiện cơ bản
của cách mạng sẽ dần dần hội đủ:
Một là sẽ có được một tầng
lớp cấp tiến đầy đủ năng lực
trí tuệ, vạch được hướng đi
đúng chắc cho đất nước. Hai là sẽ
có được một sự đồng lòng của
đại khối dân tộc sau khi đã
giác ngộ quyền lợi của tổ quốc và
của chính bản thân mình, để
làm thành lực lượng gốc của
cách mạng. Tự Lực, Tự Cứu là những
chân ngôn bất hủ của dân tộc Việt.
Vọng ngoại và ỷ lại chỉ là những
thái độ ấu trĩ, nông nổi. “thố
tử hồ bi” (thỏ chết cáo chồn buồn),
chẳng bao giờ có thật. Lẽ sống còn
của một dân tộc nằm ở chổ biết
phản tỉnh sau khi đã ý thức được
sự u mê, lầm lạc, ấu trĩ, thờ ơ,
để quật khởi và hùng cường
đi lên sau một lần đã vấp ngã
ê chề!.
D / - Sự khác biệt của cách mạng
và chính biến
Mỗi cuộc cách mạng
có một đặc tính văn hóa riêng
ví dụ:.Cuộc cách mạng 1789 đã chịu
ảnh hưởng sâu đậm của những
nhà tư tưởng như J.J. Rousseau, Montesquieu,
Voltaire và cuộc cách mạng giải phóng
nô lệ của Hoa Kỳ vào năm 1862 do tổng
thống Abraham Lincoln (1809 – 1865) lãnh đạo. “Cuộc cách mạng
1917 tại Nga do Lenin chủ xướng chịu ảnh
hưởng tư tưởng của K.Marx ta không thể
coi đó là một cuộc cách mạng
đúng nghĩa”.
Cách
mạng phải được dẫn dắt bằng những
lý tưởng cao đẹp, trong lịch sử cận
đại của thế giới, chính biến
thì có nhiều có thể nói là to lớn
để làm sụp đổ chế độ của
một đế quốc, nhưng đáng gọi
là Cách Mạng chỉ
có hai cuộc cách mạng đúng nghĩa.
Cuộc
cách mạng thứ nhất xảy ra vào ngày
14 tháng 7 năm 1789 tại Pháp với việc
nhân dân nổi lên phá ngục Bastille.
Tượng trưng cho uy quyền quân chủ là
lá cờ tam tài Xanh, Trắng, Đỏ, tượng
trưng cho 3 phẩm tính Tự Do, Bình Đẳng
và Huynh Đệ. Cuộc cách mạng này
được nói tới như một điểm
son trên bước đường tiến hoá của
nhân loại, nhưng còn ở mức hạn chế
chỉ tự do ở những người bình đẳng,
giới hạn trong biên cương của quốc gia
đó giữa những người đồng chủng
hay những người có chung một quốc tịch.
Đây là một thứ tự do mà theo
nhà lập thuyết X. Y. Thái Dịch Lý
Đông A gọi Libertté Francaise hay là English
Liberty, nghĩa là tự do chỉ cho riêng người
Pháp hay riêng người Anh, còn với những
giống dân thuộc địa khẩu hiệu “Tự
Do Bình Đẳng và Huynh Đệ” còn
là một mỉa mai trước bánh vẽ.
Cuộc
cách mạng thứ hai xảy ra tại Hoa Kỳ
vào năm 1862 với cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ
do bất đồng ý kiến về việc giải
phóng nô lệ người da đen. Đây
là cuộc cách mạng Nhân Quyền do tổng
thống Abraham Lincoln lãnh đạo và đã
thành công một cách tốt đẹp. Cuộc
cách mạng giải phóng nô lệ này
được Cụ Lý Đông A gọi là: “Cuộc
Cách Mạng Thần Thánh”. Vì
nó vượt khỏi biên cương quốc gia
bao trùm toàn thế giới, xoá bỏ ranh giới
chủng tộc nâng cao ba phẩm tính: Tư Do,
Bình Đẳng và Huynh Đệ tới tột
cùng của thế giới và loài người.
Nhân Quyền giá trị truyền thống của
người Hoa Kỳ đã trở nên giá trị
chung cho toàn thế giới, qua bản Tuyên
Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.
Để nói rõ về sự liên hệ ba phẩm
tính này ở đây xin được
nói thêm để làm cho rõ ý nghĩa
Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ.
1).
Tự Do: Tự
do là một điều kiện cần thiết để
tiến bộ không có tự do tư tưởng
sẽ không có những phát minh về khoa học
về nhân văn, đưa con người mỗi
ngày mỗi tiến lên cao, tự do cũng là
một năng lực mà chỉ có người
nào điều khiển nó đúng cách,
mới có thể hưởng được những
thành quả tốt đẹp, tự do đúng
nghĩa và tốt đẹp chỉ xảy ra ở những
người bình đẳng, biết tôn trọng
nhau trong những quy định của pháp luật, những
tệ nạn như tham nhũng, áp bức, bất
công đều là những sự thực hiện
tự do không hợp pháp, tức là thiếu
bình đẳng. Tuy nhiên con người chỉ
bình đẳng ở khởi điểm, tức
là bản chất Là Người,
còn khác nhau ở cả về lượng số
lẫn phẩm tính trong tiến trình Làm
Người để Thành Người, do
đó có người hay người dỡ, kẻ
nghèo người giàu, người khỏe người
yếu, người đẹp người xấu, để
giải quyết sự chênh lệch này yếu tố
huynh đệ được đặt ra. Huynh đệ
là yếu tố tình cảm còn bình
đẳng là yếu tố lý trí biểu hiện
bằng pháp luật, do đó giữa anh em
có sự giúp đỡ nhau, san sẻ cho nhau để
cùng tiến bộ. Nói một cách cụ thể
bằng hình ảnh cho dễ hiểu, với hình
ảnh của một con chim, thì tự do là
năng lực nội tại sức sống của con
chim, con chim bay được là nhờ đôi
cánh, cánh trái là huynh đệ, cánh
phải là bình đẳng, huynh đệ có
trái tim, bình đẳng có khối óc.
Nói theo truyền thống dân tộc với
“Duy Nhân Cương Thường” thì
đó là Nhân và Nghĩa. Dùng
màu sắc để diễn tả Tự Do có
màu xanh, tượng trưng cho sự hy vọng của
loài người trên bước đường
tiến hoá đến vô cùng. Nó là
màu xanh của trời cao mà con người đứng
ở đáy vực sâu, ngước nhìn trời
cao như bóng dáng của thiên đường,
tự do có một năng lực hấp dẫn
lôi cuốn vô biên mà hai câu thơ
dưới đây đã đã cực tả.
* - Trong vườn sống
(Cộng sản) ước mơ (tự do) là
trái cấm.
* - Rắn sa tăng hối
cải hoá thiên thần.
(thơ
Vô Đề)
2)
Huynh Đệ:
Huynh đệ có màu đỏ, màu của
máu mối liên hệ huyết thống của anh
em, của chủng tộc và cả loài người
trong ý nghĩa của câu dưới đây
được trích trong tập Đạo Trường
Ngâm của X. Y. Thái Dịch Lý Đông A.
* - Noãn bào trăm họ ấy giềng
người
Tức
sự tích Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc
trăm trứng nở trăm con.
3)
Bình Đẳng: Bình đẳng có màu trắng,
mà màu trắng là màu tổng hợp của
mọi màu khác, người tây phương
quan niệm màu trắng không phải là một
màu, cho nên đã dùng danh từ người
da màu để mô tả những chủng tộc
không phải là người da trắng. Trong quang học
người ta dùng quang phổ để phân
tích một chùm ánh sáng trắng, ta sẽ
có được 7 màu như sau: Đỏ, Cam,
Vàng, Xanh, Lam, Chàm, Tím, do đó bình
đẳng mang tính chất biểu hiện của một
cơ cấu hoà hợp trong thống nhất.
Cách
mạng là tiến hoá trong chiều hướng
thượng, nhưng cuộc “cách mạng năm
1917” tại Nga do V. I. Lenin chủ xướng lật
đổ chế độ Sa Hoàng, đã
kéo nước Nga giật lùi trở lại
trước thời Sa Hoàng, cho nên ta gọi cuộc
“cách mạng 1917” là cuộc
“cách mạng thoái hoá”. Và
tương tự như tại Việt Nam, tính chất
của “cách mạng ngày 15 tháng 8 năm
1945” không mang tính hướng thượng, bởi
vì những kết quả sau đó nó
không đưa dân tộc đi lên như phẩm
tính hướng thượng mà cách mạng
đòi hỏi, trái lại nó đã
kéo lùi dân tộc ta vào sự lạc hậu
đói nghèo và chậm tiến, đắm
chìm trong bể khổ, trôi nổi trong vòng
luân hồi của đói rét bệnh tật
và ngu dốt, bị xếp hàng vào một
trong mười nước nghèo nhất thế giới
dưới sự cai trị tàn bạo của người
Cộng sản.
Tất
nhiên cuộc cách mạng (từ nay trở đi)
sẽ xảy ra tại Việt Nam cũng mang một sắc
thái văn hóa riêng biệt của truyền
thống nước nòi, với những ưu điểm
của thời đại được tiếp nhận
có chọn lọc trong tinh thần khai phóng
và hướng thượng. Cuộc phản tỉnh
toàn diện của mọi tầng lớp xã hội
làm nên đại khối dân tộc về những
chiêu bài chính trị của những
“Ác thế lực tinh ma” đế quốc, của
những công cụ đảng tay sai đang cầm quyền
sẽ làm cho người Việt từ Nam chí Bắc
và đang nổi trôi trên khắp thế giới
nhìn ra được vấn đề, sẽ ý
thức được quyền lợi của dân tộc
trong tương quan quốc tế, trên bản vị
nước nòi.
Sự
đau khổ là khổ đau chung của đất
nước ai cũng có phần mất mát ai cũng
bị thua thiệt, vì vậy mọi người ai cũng
có quyền góp phần đem lại vui hoà
thịnh vượng chung cho quê hương, chúng
ta phải vứt bỏ được những trở lực
ngăn cản con đường chúng ta trở về
với dân tộc, chung góp vào sự thanh
bình của quê hương, chúng ta nhìn
nhau nhận ra nhau để cùng nhìn về một
hướng, làm sống lại hồn nước
dương cao ngọn cờ chính nghĩa dân tộc
và phải phát huy chính nghĩa bằng bất
cứ giá nào.
Trong
sự xung đột tình cảm, người ta
đã trách lẫn nhau: “tại người
này, vì người nọ”, nhưng khi sự
phẩn nộ qua đi, trong tịch mịch của suy
tưởng thì tất yếu chỉ có sự tiếc
nuối ăn năn và hối hận. Lý do
đúng nhất của sự đau khổ chung
này không chỉ gồm có: “tại anh,
vì tôi hay bởi họ” mà nằm ở
chổ: “bởi tại vì chúng ta”. Sự
phản tỉnh này là một điều kiện
cần thiết để nhận ra nhau trong sự
thông cảm chân thành, để ngồi lại
với nhau làm một cái gì đó,
như đốt lên một ngọn nến còn
hơn là bất động, khoanh tay nguyền rủa
bóng tối.
Điều
kiện văn hóa và nhân sự trong cách
mạng là những điều kiện nội tại.
Cách mạng còn phải được kích
thích bằng điều kiện thuận lợi ở
bên ngoài như sự hỗ trợ cổ võ
của cộng đồng quốc gia trên thế giới
trong một tương quan quyền lực chằng chịt.
Trong hoàn cảnh của thời đại cuộc
cách mạng của Việt Nam cũng sẽ được
kích thích bằng những điều kiện thuận
lợi ở bên ngoài qua sự hỗ trợ cổ
võ của những quốc gia bạn trên thế
giới. Nhưng quốc gia nào giúp chúng ta,
giúp cái gì và giúp ra sao?. Đó
là những vấn đề cần phải soi
sáng bằng một lập trường Việt: triệt
để, toàn diện và hướng thượng.
Công và tội chỉ cách nhau trong gang tấc.
Bán nước cầu vinh, Việt gian phản quốc
hay yêu tổ quốc, thương đồng bào
cũng chỉ chao đảo trong gang tấc với những
quyết định để đời cho lịch sử
phán xét và hậu thế phẩm bình.
*
III) - Tiến Trình Phục Hoạt Của Dân Tộc
Việt Từ 1847 Đến Nay
Tiến
trình phục hoạt của dân tộc Việt
là một diễn biến lâu dài bao gồm
trên một thế kỷ. Khởi điểm của
cuộc phục hoạt có thể kể từ 1847,
khi Đại tá De la Pièrre và Trung tá
Rigault de Genouilly, hạm trưởng của hai chiến hạm
Pháp đã cho lệnh bắn đắm thuyền
bè của triều đình ta tại Đà Nẵng,
mở đầu cho cuộc xâm lăng Việt Nam của
đế quốc thực dân Pháp. Từ khởi
điểm đó, tiến trình phục hoạt của
nòi Việt đã trải qua nhiều giai đoạn:
Cố thủ, Thỏa hiệp, Dung hòa, Phản tỉnh
và hiện giờ đang thuần thục trong giai
đoạn chót là Sáng Tạo với những
ứng biến thích nghi tùy hoàn cảnh.
Từ
trong cùng cực của những câm hờn, khổ
đau, tủi nhục, tù đầy, từ
đáy thẳm của những ê chề, xót
xa, cay đắng của cả một đất nước
đang lầm than, niềm phẫn nộ ái quốc
đã bùng lên thành bão lửa để
đốt cháy những tị hiềm nhỏ nhen của
những cái Tôi,
duy lợi, ích kỷ, đa đoan, lỗi thời,
trơ trẽn và đáng ghét, đốt
cháy những cái Ta
lãng mạn, ươn hèn, bạc nhược
và đầy ngạo mạn, đốt cháy cả
những gán ghép giai cấp, những ảo tưởng
về địa phương, bè phái mà ngoại
bang trong ác ý đã cố tình khơi
sâu Chia để Trị.
Hạt
giống máu của trăm ngàn thế hệ cha
ông quyết tâm dám làm và dám chết
cho lý tưởng Việt Nam yêu dấu giờ cũng
kết thành nụ của hoa hy sinh, yêu
thương và phục vụ trong muôn ức, triệu
trái tim thanh xuân đang nôn nóng chờ
ngày bùng nổ. Men tư tưởng của
các bậc quốc sĩ tài hoa với cái
nhìn siêu việt hơn đời, đã một
thời bị ném đá vì đã
nói tiên tri, rao giảng về nhu yếu phản tỉnh
của nước nòi, sự cấp bách phải
canh tân đất nước trước dã
tâm của cường địch ngoại bang, những
người như: Nguyễn Trường Tộ, Bùi
Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội
Châu...v..vv., cũng đã khơi động nhỡn
quan hiếu học của tuổi trẻ Việt Nam trong sự
tìm tòi, phân tách để rồi phản
tỉnh nhìn ra được vàng-thau, chân-giả,
phân biệt được bạn-thù qua bản
chất và chiêu bài. Nhìn được vấn
đề, hiểu được vấn đề
thì tất sẽ giải quyết được vấn
đề và sẽ giải quyết trên lập
trường Việt, soi rọi bằng sự biết suốt
dọc và đủ mặt, bằng huyết tính
của truyền thống phù hợp với hoàn cảnh
thực tế của thời đại, trong tinh thần
sáng tạo và hướng thượng.
Đó là xuất lộ của lịch sử.
Đó là sinh lộ của đất nước.
Đó là hướng tiến hóa của sử
mệnh. Đó là tiến trình phục hoạt
Việt, sẽ đúc kết bằng một cuộc
cách mạng: Toàn Diện,
Triệt Để và Hướng Thượng
trên đất nước chúng ta sắp đến.
Nói
đến tiến trình tất phải nói những
giai đoạn, những thời điểm và đặc
tính diễn biến. Danh từ giai đoạn
được dùng sau đây chỉ là một
gượng ép, vì không thể rõ
ràng, dứt khoát định mốc giới bằng
những thời điểm lịch sử nối kết
tuần tự. Ở đây, trong tiến trình phục
hoạt, từ ngữ giai đoạn vừa mang ý niệm
phân chia trong thời gian, vừa mang ý niệm sắc
thái tâm lý điển hình của từng
đợt phân hóa.
A / -
Giai đoạn cố thủ
Giai đoạn cố thủ
được tiêu biểu bằng chính sách
"Bế quan tỏa cảng", trên bộ thì
đóng cửa ải quan, dưới nước
thì khóa cửa hải cảng để đoạn
tuyệt giao dịch với địch. Thực tế
đó chỉ là phản ứng tiêu cực của
kẻ thế cô lực yếu. Thái độ
chung của đẳng cấp sĩ phu thời
đó, đại diện tinh thần của nước
nòi, là vẫn khư khư trong cái tinh thần
chật hẹp chuộng hư văn của Tống Nho,
Minh Nho đã trở nên lỗi thời trước
sức mạnh của cơ khí tây phương.
Giai thoại đánh Pháp bằng trái ổi
xanh và trái mù u đổ trên đường
làng cho giặc dẫm té không đứng dậy
được, bởi tin rằng người
“Tây Dương” không có đầu gối,
đã làm ngỡ ngàng chua xót lòng những
người đọc sử vì trình độ
ý thức của dân ta lúc đó quá
kém. Đã vậy, lòng tự tôn mù
quáng và sự u mê khiếp nhược của
những người có trách nhiệm đã
làm họ không chấp nhận được
cái hay của người để cầu học.
Người tây phương bị gọi một
cách khinh bỉ là “Bạch Quỷ”,
nhưng bạch quỷ đã thắng, thắng ta từng
bước tuy chậm mà chắc. Năm 1859, Pháp
lấy thành Gia Định, năm 1862 ta mất ba tỉnh
phía đông Nam bộ, năm 1867 ta mất nốt
ba tỉnh phía tây. Trước cái dã
tâm của đế quốc thực dân Pháp
quyết chiếm đất mở rộng thuộc địa
mà vua Dực Tông vẫn chưa nhận ra,
còn ảo tưởng vận động xin chuộc,
việc chưa xong Pháp lấy thêm ba tỉnh miền
Tây. Triều đình vỡ mộng, cử Phan
Thanh Giản làm Kinh Lược Sứ để
tìm kế chống giữ. Cụ Phan tự biết thế
không chống nổi, thương nghị các quan
nộp thành để tránh tai vạ cho dân
chúng. Xong việc, cụ quay về hướng Bắc
quỳ lạy tạ tội rồi uống thuốc độc
tự vận, trước khi chết Cụ Phan dặn lại
con cháu phải cày ruộng mà ăn chứ
không được nhận quan tước gì của
người Pháp.
Trong
cái tinh thần cố thủ đó, cụ đồ
Chiểu tác giả cuốn Lục Vân Tiên cũng
đã một đời tự dằn vặt thân
mình một cách thảm thương: không
dùng xà bông của thực dân để
giặt rũ tắm rửa, không đi trên
đường cái Tây, lộ tráng nhựa của
thực dân, chỉ đi trên đường ruộng.
Cụ Nguyễn Khuyến cũng đã tự
đánh mù mắt của mình để khỏi
phải ra tham chính với bè lũ tay sai và
thực dân Pháp, theo đúng cái tinh thần
“quân tử cố cùng” vốn liếng
liêm sỉ làm nên nhân phẩm con người.
B / -
Giai đoạn thỏa hiệp
“Thỏa
Hiệp” được hiểu một cách
nôm na là bằng lòng cùng làm việc
chung. Giai đoạn này có thể lấy tinh thần
Hòa ước Giáp thân (1884) làm mốc,
triều đình Huế chính thức công nhận
công cuộc bảo hộ của thực dân
Pháp làm tiêu biểu. Sự thỏa hiệp thực
sự chỉ có trên mặt tầng một
cách phù phiếm và hình thức, bằng
cớ là các phong trào Cần Vương,
Văn Thân đã nổi lên khắp nước
đánh phá cuộc trị an của thực
dân. Tuy nhiên đã có một số người
ra cộng tác với Pháp đúng với tinh
thần thỏa hiệp. Lý do xâu xa của việc
thỏa hiệp với Pháp có rất nhiều,
khác nhau tùy cá nhân, hoàn cảnh,
nhưng chung quy họ đã tạo thành một
thực thể nói lên một sự chuyển biến
tư tưởng trước thời thế. Điển
hình là Tôn Thọ Tường, Tổng Đốc
Đỗ Hữu Phương, Tổng Đốc Nguyễn
Thân, Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao
Khải, và cả một hệ thống quan lại,
thông phán. Điều đáng kể ở giai
đoạn này là thực dân Pháp với
cái giảo quyệt của một tay lão luyện
đã vận dụng được chiêu bài
chính trị: Vua, triều đình một cách
tuyệt khéo. Người dân và tầng cấp
sĩ phu đã quen với nếp suy nghĩ, đồng
hóa vua là trời, là quốc gia, là đại
diện trăm họ, nên đã dung đúc
hai ý niệm riêng biệt thành một lý
tưởng “Trung quân ái quốc”. Đa số
những cuộc nổi dậy của quần chúng
trong Nam, ngoài Bắc đều đã bị
hóa giải một cách êm thắm hay ít
ra là bị yếu thế, cô lập, vì bị
kết tội như những toán phản loạn bất
tuân quân lệnh triều đình, trái lệnh
vua. Dần dần hiểu ra được dã tâm
đế quốc thực dân đã dùng vua,
khống chế triều đình như một
chiêu bài chính trị để lừa bịp,
những người cách mạng đã phản tỉnh
và tách rời lý tưởng yêu nước
khỏi sự ràng buộc phải vâng lời Vua,
tuân lệnh triều đình. Tham Tán Quân
Vụ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật đã
bỏ quan về Hải Dương mộ quân chống
Pháp. Án Sát Sứ Phạm Vụ Mẫn, Tri
Phủ Kiến Xương Hoàng Văn Hòe
đã bỏ chức mà đi.
Những
người ra hợp tác với Pháp, hơn ai hết
cũng đã phản tỉnh về thực chất của
chiêu bài chính trị “Vua, triều
đình”. Họ biết rõ kẻ có thực
quyền là Khâm Sứ, Thống Sứ và hệ
thống Công Sứ người Pháp ở các
tỉnh, tuy nhiên họ vẫn bám vào triều
đình, vào vua, và những chức tước
Tổng Đốc, Thượng Thư như những
lý do tuyệt hảo để biện minh cho sự
thỏa hiệp của mình. Tóm lại, trong giai
đoạn thỏa hiệp sự phản tỉnh về
chiêu bài chính trị: Vua, Triều
đình có thể nói là phổ biến
cả hai phe bất hợp tác và thỏa hiệp.
Họ khác nhau trong thái độ tỏ lộ
công khai hay thầm kín.
C / - Giai đoạn hấp thụ
Dưới sự “bảo
hộ” của nước “đại
Pháp”, cả một nền cổ học của
nước nhà bị bỏ rơi để rồi
suy tàn trong sự lãng quên của thời gian,
Nho sĩ Trần Tế Xương đã chua cay than thở
như sau:
* - Cái học
nhà nho đã hỏng rồi.
* - Mười người
đi học một người thôi.
(Tú
Xương- Trần Tế Xương).
Cái
lý do người ta đổi cái bút
lông ra bút sắt cũng dễ hiểu, thật dễ
hiểu, vì cơm áo và cũng vì độc
lập tự do, Việt Nho đã chính thức bị
gạt ra lề xã hội với sự đóng cửa
các trường thi trên toàn quốc vào
năm 1916. Người Pháp dưới chiêu
bài chính trị khai hóa dân trí bằng
ánh sáng văn minh tây phương đã
cho mở rộng việc học hành. Mục
đính chính của họ chỉ hạn chế
trong việc đào tạo môt số cán bộ
trung cấp và hạ cấp thừa hành để
dùng trong việc trị an tiếp tay với các
quan “đại Pháp”.
Trong
khi đó những phong trào Đông Du khuyến
khích thanh niên ưu tú xuất dương du học,
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục gồm một
hệ thống học hiệu dạy dân ngành nghề
và văn hóa rất được hoan nghênh ở
đất Bắc, đều đã là đối
tượng của những cuộc khủng bố trắng
trợn của thực dân Pháp. Lý do: Họ
đã nhìn được cái ý thâm
sâu của những người cầm đầu phong
trào muốn nâng cao dân trí để canh
tân đất nước trong tinh thần tự lực,
tự cường và nhất là phong trào
đã được sự hưởng ứng nồng
nhiệt của các giới, có nguy cơ lớn mạnh
để trở thành phong trào quần chúng.
Trong
tinh thần hiếu học truyền thống, trong sự
nao nức Duy Tân vươn lên bằng người,
người dân Việt đã hấp thụ tất
cả những gì gặp được trên con
đường tìm hiểu trong sách vở, trong tầm
tay. Họ đồng hóa mọi sự mới lạ
với tốt lành, hay đẹp, từ những
tư tưởng chính trị cấp tiến về tự
do, bình đẳng xã hội .v.v.., đến những
cách sống lãng mạn, trụy lạc của
cá nhân chủ nghĩa tây phương.
Bình tĩnh mà phân tách tất sẽ nhận
thấy trong giai đoạn hấp thụ này có
một điểm khác thường. Đó
là có hai khuynh hướng hấp thụ trái
chiều nhau. Một là những tư tưởng
chính trị cấp tiến bị liệt vào loại
quốc cấm được du nhập lén lút
qua tay các nhà cách mạng chí sĩ
đã từng xuất dương qua Nhật,
Tàu, Xiêm, Pháp, sau này được triển
khai làm nền cho các tổ chức bí mật
chống đối nhà nước bảo hộ. Hai
là tư tưởng mới của lối sống
cá nhân, ích kỷ, lãng mạn, buông
thả, được tự do truyền bá trong một
hoàn cảnh xã hội thuận lợi cho sự
trụy lạc. Tương lai của một dân tộc
sẽ ra sao khi tuổi trẻ, những rường cột
của quốc gia, khi trí thức, những tinh hoa của
xã hội rủ nhau miệt mài quay trên
sàn nhảy, mê ly trong nhà "xăm" ngất
ngây trong khói thuốc phù dung, và chếnh
choáng bên ly rượu Tây.
Và
cũng trong sự nôn nóng đổi mới theo kịp
người, đuổi kịp đà văn minh thế
giới, những mặc cảm tự ti, thua kém, tiềm
ẩn, tích lũy nhiều đời đã đẩy
khá nhiều trí thức của dân tộc
vào con đường lố lăng, vọng ngoại,
ỷ lại vì tin, vì phục người, tất
sẽ nhẹ dạ để nghe theo, nghe theo một
cách mù quáng, không suy xét đến
những khác biệt trong bản chất, trong gốc
rễ giữa Ta và Người, giữa Xưa
và Nay. Bài học của cụ Phan Bội
Châu để lại là bài học quí
đáng suy gẫm. Là một nhà Cách mạng
lão thành, cụ đã từng đi khắp
nước, bôn ba Tàu, Nhật, Xiêm để
tổ chức cơ sở cách mạng và tiếp
xúc với những nhân vật lãnh đạo
chính trị Tàu, Nhật để tìm hiểu
tình thế cũng như tìm sự giúp đỡ
của ngoại quốc. Cụ đã bị trục
xuất khỏi Nhật, bị săn tìm ở
Thái Lan và bị bắt ở Quảng Châu giải
về an trí ở Huế. Người ta đã
trách cụ rất nhiều vì khẩu hiệu
“Pháp Việt đề huề”. Nhiều
người đã nghĩ là cụ đã
đi ngược lại mục tiêu chống Thực
Dân Pháp mà trước đây cụ hằng
đeo đuổi. Riêng cụ, dù có nghe
được lời phàn nàn cũng không
làm sao giải thích khi thân thế còn bị
quản thúc, tinh thần còn chịu bao áp chế.
Nhưng
chỉ riêng bốn chữ “Cứu Quốc Tồn Chủng”
như một sách lược căn bản để
đời, xây dựng trên lập trường Việt,
thật triệt để, thật toàn diện
và hướng thượng, cũng đủ để
các bậc tài trí với cái nhìn bao
quát và thông suốt được Thời và Thế, phân tích
và dung hợp được Cục và Diện của
thiên hạ, phải kính phục lẫn cảm
thương sự sáng suốt của một người
Biết mà chẳng
có thời để làm, đành nuốt hận.
Cái chua chát của một tâm hồn cách
mạng khi nghe đến chữ Đề Huề có
thể hiểu được, vì bản chất của
người cách mạng không chấp nhận dung
hòa, thỏa hiệp, ghét bọn cơ hội chủ
nghĩa và bọn hoạt đầu.
Nhưng
nghịch lý thay!. Cái tài trí thấy xa hiểu
rộng của bậc quốc sĩ Phan Bội Châu cũng
nằm sâu, ẩn kín trong chữ Đề Huề
của chiêu bài chính trị có tính
cách giai đoạn và chiến thuật
“Pháp Việt Đề Huề”. Một
người như cụ quen thân với Lương Khải
Siêu, Khang Hữu Vi, thâm cứu “chủ thuyết
Tam Dân” của Tôn Văn đi khắp nơi,
có bạn làm lớn khăp chốn mà cuối
cùng cũng bị Nhật trục xuất, bị
Tàu phản bội, bị “đồng
chí” Hồ Chí Minh bán lấy mười
vạn đồng, bị Pháp bắt tất thể
nghiệm đến cùng cực cái nhân
tính trong chính trị.
Dưới
nhỡn quang chính trị của cụ, thực
dân Pháp chỉ là quân địch trước
mắt, người Việt ai cũng thấy vì họ
mắt xanh, mũi lõ, nói tiếng xì xồ
và như một quy luật được nhìn nhận
“Minh thương dể đỡ, ám tiễn
khó lường” (ngọn giáo đâm
trước mắt dể đỡ, mũi tên bắn
lén khó lường biết). Nghĩa là cụ
đã nhìn thấy kẻ đại thù của
dân Việt đến sau thực dân Pháp, nguy
hại hơn thực dân Pháp gấp trăm
ngàn lần, đó là kẻ nội thù Cộng
sản Hà Nội tay sai của Cộng sản quốc
tế Nga Tàu, vì chúng thuận lợi
trên cả ba yêu tố Thiên Thời, Địa
Lợi, Nhân Hòa. Được địa lợi
vì kẻ thù đó ở gần ta, được
nhân hòa vì xử dụng được
chiêu bài của chủ thuyết chính trị,
dùng được người của ta để
thi hành đường lối của chúng,
mê hoặc được dân ta theo chúng,
được thiên thời vì lợi dụng
được hoàn cảnh thuận tiện trong
tương quan quyền lực thế giới khi đế
quốc cũ bị đế quốc mới chèn
ép.
“Pháp
Việt đề huề” chính là sách
lược có tính cách phân định,
chọn một cái tồi để tránh một
cái tệ, nhận một cái hại nhỏ để
xa một cái họa lớn. Đó cũng là
lời nhắn nhủ chân tình của cụ
nói ra trong hoàn cảnh khó xử, mở miệng
mắc quai để khuyên đồng chí nên ẩn
nhẫn chuẩn bị đợi thời kẻo vọng
động tất không tránh khỏi thảm cảnh
“tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”,
đưa dân tộc vào họa diệt vong, tái nô dịch chủ,
tiếp tục kiếp trâu ngựa dưới quyền
của một chủ khác tàn nhẫn hơn.
Pháp Việt đề huề chỉ là một
bước trong toàn quốc sách “Cứu Quốc
Tồn Chủng”, một chiêu bài hỏa
mù, dùng chiêu bài che thực chất, lui một
bước để củng cố lực lượng:
Nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, chấn
chỉnh dân phong, thống nhất dân tình. Muốn
được vậy tất phải có đủ thời
gian cần thiết và một tình trạng
xã hội thích hợp. Ở điểm này
có người cho là cụ đi sát với
quan điểm của Phan Chu Trinh muốn cộng tác
chân thành với Pháp và thực sự tin
vào tình hữu nghị Pháp-Việt, tin
Pháp sẽ rộng rãi và thực tâm
giúp ta canh tân đất nước!. Nhưng
xét kỹ tất không đúng vậy, sự
khác biệt nằm ở chổ cụ Tây Hồ
coi “Pháp Việt Đề Huề” như một
chiến thuật có tính cách giai đoạn,
tạm thời ứng biến sáng tạo trong một
tình thế khó khăn: Giặc trong thù
ngoài.
D / -
Giai đoạn dung hòa
Xin lưu ý ngay tới sự
tế nhị của ngôn từ. Dung Hòa là một
thái độ tâm lý chấp nhận
được sự khác biệt của người
trên mặt tư tưởng một cách vui vẻ.
(Dung là làm tan, trộn lộn hai vật khác
nhau thành một như trong chữ dung môi, chất
dùng để hòa tan. Hòa là làm cho
ăn nhịp với nhau, không chống chõi nhau, tạo
được niềm vui, thuận.) Còn giai đoạn
dung hòa là giai đoạn mà những sắc
thái văn hóa, tư tưởng, học thuật
ngoại lai qua sự hấp thụ của cá
nhân, đoàn thể bắt đầu tác dụng
và gây ảnh hưởng trực tiếp như một
yếu tố nội tại trong giòng sinh mệnh
dân tộc, sẽ làm cho dân tộc ta trở
nên hùng cường, quốc gia trở nên thịnh
vượng, xã hội ổn định trong một
trật tự mới tốt đẹp, lý tưởng.
Hoặc sẽ làm cho dân tộc ta lụn bại,
quốc gia bị chia cắt, xã hội thối
nát phân hóa, chìm vào hố thẳm diệt
vong tàn lụi.
Điển
hình của giai đoạn “cưỡng bức
dung hòa” này là sự áp dụng
toàn bộ chủ thuyết Mác xít Lê Nin
Nít vào hoàn cảnh Việt Nam. Công
trình dung hòa này như một nổ lực
chủ quan có tính cách áp chế do đảng
Lao Động sau đổi là đảng Cộng Sản
Việt Nam, do Cộng Sản quốc tế tổ chức
lãnh đạo và bộ máy nhà nước
do đảng đề cử làm công việc quản
lý. Công trình dung hòa này đã
được thực hiện một cách triệt
để, toàn diện với sự hỗ trợ trực
tiếp của nòng súng và lưỡi lê
trên một nửa nước Việt Nam một
cách chính thức từ 1954 ở miền Bắc
và trên cả nước Việt Nam từ 1975 cho
đến nay.
Con
người Việt Nam vốn lấy chữ Dung Hòa làm quí Tổ
tiên ta dạy: “một điều nhịn
chín điều lành”, chữ dung hòa trở
thành cốt tủy của văn hóa và đời
sống Việt. Con người Việt Nam lại lấy
phúc đức làm gốc lấy đạo dung
hòa làm đầu. Nói một cách
khác dung hòa là cứu cánh của dân
tộc ta, cho nên mỗi khi nói đến dung
hòa đối với người Việt Nam, cũng
như nói đến không khí và nhịp
thở cần thiết cho thân thể của con người.
Bởi yêu dung hòa nên con người Việt
Nam sẳn sàng gác bỏ, tha thứ mọi bất
hòa, nếp sống ấy như sợi chỉ
vàng rực rỡ xuyên suốt trong lịch sử
dân tộc Việt qua nhiều ngàn năm.
Một
điển hình khác của giai đoạn
này là sự áp dụng lẻ tẻ và
cục bộ những ý niệm về dân quyền
được tôn trọng ở khối quốc gia tự
do vào hoàn cảnh miền Nam Việt
Đ
/ - Giai đoạn phản tỉnh
Phản tỉnh là
sáng suốt trở lại sau khi bị mê hoặc,
nhìn lại vấn đề với một sự tỉnh
táo của trí óc, bằng cặp mắt sắc
bén, trong một hoàn cảnh thực tế
và trên một lập trường gốc. Phản
tỉnh là một sự ý thức lại với
những phê phán đúng, sai, nên, không
trước khi hành động. Trong tiến trình
phục hoạt, giai đoạn phản tỉnh đi sau
giai đoạn dung hòa, giai đoạn đem những
gì hấp thụ được của người về
đồng hóa với những truyền thống tốt
đẹp của nước nòi để làm
nên một tổng hợp mới phù hợp với
nhân tính, phù hợp với thời đại.
Phản tỉnh có nhiều mức độ và
biểu lộ qua nhiều hình thức. Phản tỉnh
cục bộ và rụt rè hay phản tỉnh
toàn diện và triệt để. Khi phản tỉnh
tiến đến mức độ cao nhất của
nó, tất yếu là đã bước
vào giai đoạn sáng tạo. Sáng tạo
là giai đoạn của hành động thực
hiện cách mạng, đi từ tư tưởng
bước sang hành động. Đúng ra, sự
phản tỉnh đã được nhận thấy
trong suốt quá trình phục hoạt, ngay trong những
giai đoạn trước đó. Tuy nhiên,
đó chỉ là sự phản tỉnh có
tính cách cục bộ của những cá
nhân trổi vượt hay tập thể nhỏ
có cái nhìn sáng suốt, nhưng không
thể chia sẻ được với quần chúng
và thời đại, điển hình là Nguyễn
Trường Tộ, Bùi Viện, Phan Bội Châu,
phải đợi đến giai đoạn này, sự
phản tỉnh mới có tính cách quần
chúng và suốt dọc các giai tầng
xã hội. Nghĩa là quần chúng phải thể
nghiệm trong thực tế đau thương cùng cực,
có những mất mát trọn vẹn mới giật
mình nghĩ lại và bừng tỉnh ngộ.
Không
phải chỉ có người miền Nam phản tỉnh
về chủ thuyết Cộng sản, về tình nghĩa
đồng minh, về thực chất của những
chiêu bài chính trị được xử dụng
trước khi miền Nam mất, mà cả miền Bắc
cũng đã phản tỉnh một cách xâu
xa về chủ thuyết Cộng sản, “đỉnh
cao trí tuệ của loài người”, về
tình tương trợ vô cùng cao đẹp của
vô sản quốc tế trước những xung đột
giữa Cộng Sản Việt-Hoa-Nga, và nhất
là bản chất của giới lãnh đạo
miền Bắc được suy tôn là thần
thánh, không thể sai lầm. Đó là sự
phản tỉnh đồng loạt của một dân
tộc từ đáy vực khổ đau đói
rét của chiến tranh và dối gạt, “trong
muôn ngàn tàn lụi không tên, sẽ bừng
nở một trời hoa lạ quí” để
chúng ta sẽ cùng nắm tay nhau hùng cường
chỗi dậy đi lên.
Cuộc
chiến Việt
* - Có phải vì
lòng anh so le nên gạo của anh cũng hạt ngắn
hạt dài!. Có phải vì lòng chúng
tôi căm thù, cay bạn, nên mỗi lần
ăn hạt gạo của anh thì nước mắt
chúng tôi cũng giọt dài giọt ngắn?!.
(Thơ gửi
người bạn đồng minh hôm qua - Trang
Châu).
Và
nhân dân miền Bắc đã được
gì, ngoài ảo ảnh của vinh quang mà
đảng Cộng sản xây trên sự
đói rét, nghèo nàn, lạc hậu
và hoang tàn.
* - Tôi bước
đi không thấy phố, không thấy nhà
* - Chỉ thấy
mưa sa trên mầu cờ đỏ
(Nhất
Định Thắng - Trần Dần)
Ngày
30/4/75 có thể coi là thời điểm của
phản tỉnh, của giai đoạn phản tỉnh. Bắt
đầu bằng trăm ngàn câu hỏi, thắc
mắc khi đối diện với thực tế
tàn nhẫn, người quốc gia đã phản
tỉnh về sự u tối, ấu trĩ, thờ ơ,
vì tiếc máu xương, vì mơ hồ
mong hưởng thụ, vì ỷ lại, vọng ngoại,
cầu an. Trong vòng rào kẽm gai của các
trại tù cải tạo, trong ngục tối của
các nhà giam cộng sản đã biết bao
người quốc gia khóc thầm, giận thân,
đấm ngực, hối tiếc, ăn năn cho tội
lỗi, cho lỡ lầm đầy oan nghiệt này.
Những người tự nhận là thành phần
thứ ba, “lực lượng hòa hợp hòa
giải dân tộc” cũng đã tỉnh ngộ
sau một thời gian bị vắt chanh bỏ vỏ.
Dương văn Minh (đã chết) và phe
nhóm vẫn sống trong ảo tưởng như một
thế lực chính trị được tôn trọng
bởi “phía bên kia” (Cộng Sản),
đã tiếp nhận trách nhiệm của một
vị tổng thống miền Nam trước quốc
dân để "hòa giải với những
người anh em Cộng sản”, đã bị
“quân giải phóng” dí súng dẫn
đi như một tên tù hạng bét.
Những
tên cán bộ Cộng Sản miền Nam, trường
kỳ mai phục trong hàng ngũ quốc gia, sau bao
nhiêu năm nằm vùng làm công tác
tuyên truyền, phá hoại, khủng bố cũng
đã bẽ bàng khi những chức vụ quan trọng,
béo bở trong bộ máy “nhà nước
quản lý”, trong hệ thống hợp tác
xã “nhân dân làm chủ” mà họ
đang đảm trách như một sự
đãi ngộ công lao “cách mạng”,
bỗng bị thay thế bởi những tên đảng
viên trung kiên miền Bắc. Những người
dân miền Nam hào hiệp, ham vui, khoái
“phè” đã một thời chửi chế
độ miền Nam, chửi tham nhũng như những
con rối, nay bỗng tỉnh ngộ để thấy
cái thời Kiệm Ước của Tổng Ngọc,
thế mà còn sống được. Và nếu
được chọn lựa giữa Tồi và Tệ,
thì sẽ gạt nước mắt mà chọn chế
độ miền Nam, vì ở thời đó họ
chỉ mới bị Bóc mà chưa bị Lột,
bị Vơ mà chưa Vét.
Với
đại thắng mùa xuân 30/4/75, miền Bắc
đã làm cho miền Nam tỉnh ngộ triệt
để và toàn diện, nhưng miền Nam cũng
làm cho miền Bắc phản tỉnh về chính
mình và những gì họ đã học tập
về miền Nam. Miền Nam không nghèo mạt kiếp
như họ được đảng dạy để
yêu cầu họ hy sinh nhân lực, tài lực
và vật lực trong việc đóng góp
“giúp” miền Nam với khẩu hiệu
“hạt gạo cắn làm tư”. Thực tế
miền
E / -
Giai đoạn sáng tạo
Sáng tạo là giai
đoạn chót của tiến trình Phục Hoạt
Việt, ở đó cách mạng tất yếu sẽ
phải xảy ra trong hoàn cảnh hiện tại của
đất nước, đại khối dân tộc
đã phản tỉnh về bản chất của những
chiêu bài chính trị mà Cộng sản
đã xử dụng để lường gạt, lừa
bịp đồng bào trong mấy chục năm qua
và đang cầu mong một cuộc đổi đời.
Nhưng lý tưởng nào sẽ thống nhất
được tiềm lực đấu tranh của
hơn tám mươi triệu người trong niềm
phẫn nộ ái quốc?. Đó là điều
mà mọi người Việt chúng ta hiện
đang ở trong nước cũng như đang tị nạn
nơi xứ người phải suy nghĩ, phải
tìm ra. Bởi vì cha ông ta đã di
ngôn: Dại chết mà Khôn cũng chết, chỉ
có Biết mới sống, nhưng trong cách mạng
không có dại khôn, chỉ có biết,
biết nhìn nhau nhận ra nhau, biết nhìn chung về
một hướng, biết quy luật để hành
động. Hành động đúng lúc
và hành động đúng nơi, hành
động phù hợp với lý tất thắng.
* IV)
- Kết Luận
Để
xóa bỏ chế độ Đảng Chính
phá tan xiềng xích đã trói buộc
người dân Việt
Để
kết luận bài trình bày Viễn Tượng
Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của
Nòi Việt, chúng tôi xin mượn bài
thơ: Sẽ Có Một Ngày, trong tập thơ
Vô Đề của tác giả Khuyết Danh.
- Sẽ Có Một Ngày
* - Sẽ có một
ngày con người hôm nay
* - Vất súng, vất
cùm vất cờ, vất Đảng,
* - Đội lại
khăn tang, quay ngang vòng nạng
* - Oan khiên!
* - Về với miếu
đường, mồ mả, gia tiên
* - Mấy chục
năm trời bức bách lãng quên
* - Bao hận thù
độc địa dấy lên
* - Theo hương
khói êm lan, tan về cao rộng
* - Tất cả bị
lùa qua cơn ác mộng
* - Kẻ lọc lừa,
kẻ bạo lực xô chân
* - Sống sót về
đây an nhờ phúc phận
* - Trong buổi
đoàn viên huynh đệ tương thân
* - Đứng
bên nhau trên mất mát quây quần
* - Kẻ bùi
ngùi hối hận
* - Kẻ bồi hồi
kính cẩn
* - Đặt
vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
* - Khai sáng kỷ
nguyên tã trắng thắng cờ hồng!
* - Tiếng sáo mục
đồng êm ả
* - Tình quê
tha thiết ngân nga
* - Thay tiếng tiến
quân ca (5)
* - Và quốc tế
ca (6)
* - Là tiếng
sáo diều trên trời xanh bao la!
(Sẽ
Có Một Ngày – 1971 Thơ Vô Đề)
“Sẽ
Có Một Ngày”. Vâng, sẽ có
một ngày, ngày đó sẽ là
ngày triệu triệu trái tim Việt Nam bừng sống
dậy, họ dựng lại niềm tin xây lại
nhà, xây lại nước, xua đi thù
xưa, quên đi oán cũ, tay nắm tay bước
qua cơn ác mộng, đó là niềm tin,
là lời nguyện ước, là câu thề
hứa được nhắc nhở ta hằng
đêm trong nôn nóng, khắc khoải, đợi
chờ giây phút bão bùng, hoa nở
trên muôn nhà, hoa nở trên quê
hương Việt Nam ngạo nghễ bất diệt.
Ngô Hữu.
* - Chú thích:
(1)
Vào tháng 11 năm 1956, hơn 20 ngàn (20.000)
nông dân 5 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu,
Nghệ An đã vùng lên làm một cuộc
khởi nghĩa có “võ trang” bằng gậy
gộc, đảng Cộng sản đã điều
động 1 sư đoàn bộ đội đến
bao vây tiêu diệt sạch sẽ (kể cả
đàn bà và con nít), số phận của
những người nông dân này ra sao?. Sau
này đảng Cộng sản sẽ phải trả lời
trước quốc dân và đồng bào.
(2)
Đầu năm 1956 khi Nikita Khruschev phát động
chiến dịch hạ bệ Stalin chống tư tưởng
tôn sùng cá nhân, thì bên Trung Hoa Mao Trạch
Đông cũng cho phát động phong trào
“trăm hoa đua nở. Sau đó ít
tháng ở miền Bắc Việt Nam đảng Cộng
Sản cũng đưa ra chính sách sửa sai,
dành nhiều dễ dãi cho giới văn nghệ
sĩ viết và lách. Trong 9 năm kháng chiến
chống Pháp và hai năm sống ở thủ
đô Hà Nội, họ đã phải chịu
nhiều thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần
chi phí chỉ đủ mua vài chục ký gạo
nuôi gia đình, trong khi đó những tên
nịnh hót đảng được cất nhắc
lên làm “cai văn nghệ”, được
hưởng một đời sống xa hoa phè phỡn.
Do đó nhiều văn nghệ sĩ đã tham dự
viết bài đả kích những sai lầm của
chế độ. Tờ Nhân Văn Giai Phẩm
được ra đời làm cơ quan ngôn luận
của nhóm trí thức văn nghệ sĩ do nguyễn
Hữu Đang làm chủ bút. Nguyễn Hữu
Đang là một đảng viên kỳ cựu
đã từng làm bộ trưởng văn
hóa từ thời 1945.
Phong
trào nhân văn giai phẩm chỉ là một
cái bẫy sập mà Cộng sản giương
sẵn để bắt trọn ổ. Phong trào
nhân văn giai phẩm chỉ kéo dài có 3
tháng, thời gian đủ dài để đảng
nhận diện và qui định thành phần kẻ
thù, để xử trị qua chiến dịch
“cải tạo tư tưởng” cho toàn thể
trí thức dù ở trong hay ngoài đảng.
Trí thức văn nghệ thân đảng
được gởi đi học các khóa cải
tại tại các thành phố lớn được
hưởng đầy đủ tiên nghi. Trái lại
trí thức văn nghệ sĩ chống đảng bị
đưa lên vùng thượng du học tập
lao động dưới sự quản giáo của
các cán bộ dân tộc thiểu số.
Người Cộng sản luôn luôn nói đến
khoan hồng và nhân đạo, nhưng thật ra
họ tàn nhẫn dã man hơn ai hết để
bắt kẻ thù phải sống cái chết mỏi
mòn, kéo dài sự hành hạ của
đói rét và sự gậm nhấm của
đau đớn bệnh tật. Đó là những
cái chết khủng khiếp so với cái chết
bất ngờ nhanh gọn gây ra bởi một viên
đạn. Đa số trí thức văn nghệ sĩ
đối lập bị Cộng sản bắt đi cải
tạo không mấy ai được trở về,
không ai biết rõ số phận của họ ra
sao, chỉ có một số nhỏ trở về với
gia đình họ đã từ bỏ nghề cầm
bút và chấp nhận lao động chân tay.
Họ chọn lựa sự im lặng trong một chế
độ “bỏ tù tiếng nói”.
(3) Cuộc
nổi dậy ở Tây Nguyên của các
dân tộc thiểu số ngày 9 và 10
tháng 4 năm 2004 do cộng đồng người
Thượng (Montagnard) phổ biến ngày 13 tháng
4 năm 2004 từ thành phố partanburg Hoa Kỳ
là: 566,380 người được chia ra như sau:
A/ Tỉnh: Gia Lai Province: 44,049 participants. (người tham dự)
B/ Tỉnh: Province of Dak Lak: 87,610
participants.
C/ Tỉnh: Kontom – Da Lat: 50,040
participants.
D/ Tỉnh: Phuoc Long: 51,010
participants.
1. Quận District of Buon Ma Thuot:
150,964 participants.
2. Quận District of Buon Don: 4,551
participants.
3. Quận District of Krong Ana: 29,229
participants.
4. Quận District of Cu Mgar: 31,892
participants.
5. Quận District of Cu Jut: 3,807
participants.
6. Quận District of Krong Pac: 3,118
participants.
7. Quận District of Krong Kno: 1,517
participants.
8. Quận District of Lak Thien: 7,032
participants.
9. Quận District of Dak Mil: 3,508
participants.
10. Quận District of Ayunpa: 98,053
participants.
Tổng số người bị chết hơn
4.000 người
(4)
Chính quyền Hoa Lục dưới sự lãnh
đạo của Mao Trạch Đông, chỉ để
bẻ cong tư tưởng của người dân
Trung Hoa, họ Mao đã hạ lịnh giết khoảng
32 triệu người để áp đặt chế
độ Cộng sản trên toàn quốc.
(5)
Tên bài hát của Văn Cao được
dùng làm quốc ca của Cộng Sản Việt
Nam.
(6)
Tên bài hát được tổ chức Cộng
Sản quốc tế chính thức nhìn nhận
làm đoàn ca.