HOME

 

Việt Nam Thời Điểm 2001

Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt

 

(Lời ghi chú: Bài dưới đây được viết theo tư tưởng của nhà lập Thuyết X. Y. Thái Dịch Lý Đông A, và tham khảo dựa theo nhiều bài thuyết trình của diễn giả Bất Hoặc Ngô Tùng Việt, bài viết này sẽ do bạn Ngô Hữu đảm trách thực hiện dưới nhan đề: Việt Nam Thời Điểm 2001 Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt.)

 

* - Ví biết lửa hương tìm chắp nối,

* - Là hay vàng đá để trao truyền,

                             “Đạo Trường Ngâm”

 

          * I) - Cuộc Cách Mạng Toàn Diện, Triệt Để và Hướng Thượng

          Bài viết này sẽ trình bày Viễn Tượng Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt trong một cuộc Cách Mạng Triệt Để, Toàn Diện và Hướng Thượng. Cuộc cách mạng này sẽ xảy ra trong một tương lai không xa trên suốt dọc đất nước, khi người dân Việt từ đáy vực của đói rét, tủi nhục, đau khổ bỗng giác ngộ quyền lợi của đất nước và của chính mình, họ phản tỉnh và nhìn ra được thực chất của Cộng Sản với những chiêu bài hoa mỹ chỉ là âm mưu lợi dụng, lừa gạt, phỉnh phờ, họ nhìn ra được chân tướng của những “lãnh tụ anh minh, thần thánh” mà một thời họ đã từng kính, yêu, tôn, quý chỉ là những tên hề những con múa rối không hơn không kém. Những “lãnh tụ anh minh Cộng sản” chúng làm trung gian kiếm lời cho các “Ác Thế Lực Tinh Ma” quốc tế bóc lột dân Việt từ hơn một trăm năm qua, họ nhìn ra được sự cần thiết của quyền và lực trong tương quan chính trị thế giới trên bản vị nước nòi, để từ đó thống nhất lại trên lập trường truyền thống Việt hướng thượng và khai phóng.

          Trên lập trường truyền thống Việt hướng thượng và khai phóng này người lãnh đạo Việt Nam trong tương lai sẽ dựng lên toàn bộ Chính Lược, Chiến Lược, Chiến Thuật hướng dẫn việc thi hành công trình vĩ đại của toàn dân trên suốt dọc đất nước gồm Hai tầng Ba mặt (Hai tầng là tầng Phá Hoại đi trước và tầng Kiến Thiết đi sau; phá hoại những gì cần phá với bạo lực của cách mạng và kiến thiết những gì cần xây dựng với năng lực của yêu thương. Ba mặt là phải Triệt Để giải quyết đến tận gốc rễ, phải Toàn Diện với sự đồng bộ của mọi lãnh vực và phải có tính Hướng Thượng đáp ứng được tiêu chuẩn của thời đại). Từ những viễn tượng phục hoạt ở trên, người Việt Nam họ sẽ dẹp được thù trong, thắng được giặc ngoài, họ sẽ thắng hết nợ và nhục, họ sẽ được dẫn dắt dựa theo tinh thần hoa lau Vạn Thắng đưa đất nước đến phú cường vinh quang muôn thuở.

          Chống đối và đàn áp là những phản ứng tất yếu có tính cách biện chứng, nối kết liên tiếp như những mắc xích trong những tương quan giữa người thống trị và kẻ bị trị. Áp dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, sự chống đối của dân chúng rồi sẽ đi đến đâu?, sự chống đối đó hoặc sẽ lớn mạnh theo thời gian trên cả hai phương diện phẩm lẫn lượng, để đúc kết thành phong trào quần chúng được hướng dẫn bởi những tổ chức bí mật có đường lối, có chủ trương qua những chính lược, chiến lược và chiến thuật đấu tranh rõ rệt, chuẩn bị cho cuộc quật khởi của đại khối dân tộc tiến lên dành lấy chính quyền, đạp đổ tập đoàn thống trị Hà Nội tay sai của “Ác Thế Lực Tinh Ma” quốc tế trong một cuộc cách mạng bạo lực, hoặc sẽ bị bóp chết trong bàn tay của bạo quyền Cộng sản Hà Nội qua hàng loạt những biện pháp đàn áp, thanh trừng đẫm máu như vụ: Quỳnh Lưu (1), Nhân Văn Giai Phẩm (2), sự nổi dậy của nhân dân tỉnh Thái Bình, cuộc biểu tình của người Thượng xảy ra ở tỉnh Đắc Lắc, Pleiku vào tháng 2 năm 2001 với khoảng 20 ngàn (20.000) người chống đối nhà cầm quyền Cộng Sản để đòi đất của tổ tiên họ và biến cố ngày 9 và 10 tháng 4 năm 2004, với sự nổi dậy đồng loạt của nhiều sắc dân thiểu số vùng Tây Nguyên nổi lên ở các tỉnh: Buôn Mê Thuột, Kontum, Đà Lạt, Pleiku, Phước Long, Cù Gút, (Cu Jut), Đắc Mê, (Dak Mil), Ayunpa.. v.v.., tổng số có khoảng trên 500 ngàn (500.000) người xuống đường chống đối chính quyền đòi đất đai buôn rẩy và quyền tự do theo đạo Tin Lành,

          Riêng cuộc nổi dậy bằng gậy gộc ở Tây Nguyên của các dân tộc thiểu số ngày 9 và 10 tháng 4 năm 2004 (3) nhà cầm quyền Cộng sản đã đem quân đội và công an đàn áp đẫm máu, kết quả là hàng ngàn người chết, hàng chục ngàn người bị thương và bị bắt mang đi mất tích. Khiến Liên Hiệp Âu Châu (EU) phải lên tiếng can thiệp, trong đó có dân biểu Âu Châu Olivier Dupuis và Ngoại Trưởng Ý Đại Lợi ông Franco Frattini. Trong một cuộc biểu tình trước thành Rome vào ngày 11 tháng 4 năm 2004 ông Franco Frattini lên án nhà cầm quyền Hà Nội, đã tàn sát các dân tộc Tây Nguyên và ông kêu gọi thế giới nên có biện pháp mạnh mẽ với ngụy quyền Hà Nội. Tuy nhiên, các biến cố vừa kể trên chỉ là những dấu hiệu khởi đầu, nhưng chưa đủ lực để làm bùng nổ công cuộc cách mạng.

          Tương tự như cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Hoa vào thập niên 1950 (4), và năm 1989 quân đội Trung Cộng đã đàn áp đẫm máu sinh viên Trung Hoa tại quảng trường Thiên An Môn. Và nếu sự chống đối lan rộng rồi lớn mạnh thành phong trào quần chúng thì ánh hào quang của lý tưởng nào đã hấp dẫn, thuyết phục và biến họ thành chủ lực cách mạng?. Đất nước chúng ta ngày nay không phải chỉ có một thảm họa Cộng Sản, mà đất nước còn đang bị thử thách nghiêm trọng trước họa nô lệ kinh tế, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và lãnh hải đang bị ngoại bang khống chế sang đoạt. Việt Nam ngày nay là một vùng đất tranh giữa các cường lực quốc tế, trong khi đó ngay nội tình của đảng Cộng sản lại phân hoá thành bách sứ quân, giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội đã đưa đất nước đến tận bờ vực thẳm của diệt vong, nền giáo dục cơ hồ như đã đến tận cùng của đổ vỡ “nhân nào quả ấy”, đấy là kết quả của việc “trăm năm trồng người Cộng sản”, một thứ chính trị chuyên chính vô sản và phi nhân bản như xã hội chủ nghĩa Mác-Lê thì sự đổ vỡ là lẽ tất nhiên.

          Hiện tại giới lãnh đạo Cộng sản không còn cơ hội nào khác để làm thay đổi tình thế, con người Cộng Sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì họ cũng phải giữ chính quyền với bất cứ giá nào bằng họng súng. Đừng bao giờ ảo tưởng mong rằng Cộng Sản sẽ chia quyền hay nhường quyền. Đây là thời điểm mà các lực lượng dân tộc chân chính phải đứng lên để giữ lấy nước, cứu lấy nòi, lực lượng ấy chắc chắn phải là lực lượng sóng đáy, lực lượng sóng đáy chính là thế hệ của thanh niên và tầng cấp 98% của quốc dân Việt, họ chính là đáy tầng của dân tộc Việt.

          Mọi tầng lớp con dân Việt phải thật sự phản tỉnh mới mong làm nên lịch sử để thay đổi toàn diện đất nước. Cộng sản đang dùng chiêu bài thay đổi kinh tế để thay đổi chính trị đó chỉ là một khẩu hiệu lừa gạt. Nền chính trị phải thay đổi trước, thì mới có thể thực hiện thay đổi kinh tế, giáo dục và xã hội. Vì chính trị là thượng tầng lãnh đạo tư tưởng, chính trị thiết kế cho kinh tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, tất cả là một tương quan không thể tách rời. Chỉ có những người lãnh đạo tài ba mới có thể hoạch định một đường lối chính trị đúng đắn cho dân cho nước. Chỉ có những người lãnh đạo chân chính mới có thể cảm nhận được sự khát vọng của con người và xã hội, để từ đó “Tri Hành hợp nhất” trong sứ mệnh mưu cầu hạnh phúc cho nhân sinh. Như một tất yếu của lịch sử nước ta phải có một cuộc cách mạng, để từ đó làm một khởi điểm thiết kế xây lại nước, dựng lại con người. Tất cả những viễn tượng trên khi đã có một đường lối đúng và những con người quyết tâm dám sống và dám chết thì nhất định chúng ta sẽ thành công.

 

          * II) - Cách Mạng Như Một Tất Yếu Của Lịch Sử

          Cách Mạng có văn hóa của cách mạng, nếu không có cuộc cách mạng năm 1789 của Pháp thì nước Pháp sẽ không bao giờ có một thể chế dân chủ và tôn trọng dân quyền như ngày nay. Cách mạng gắn liền với tiến bộ, cách mạng chỉ là một sự đổi đời từ hư hoại sang tốt lành, khi mà đất nước dân tộc còn chìm đắm, vùi dập dưới ách thống trị của bạo quyền Cộng Sản như hiện nay, với lý đương nhiên của quy luật tiến hóa đất nước phải cần có một cuộc cách mạng với ba phẩm tính toàn diện, triệt để và hướng thượng như đã nêu trên.

          Lịch sử là giòng sinh mệnh của một nước nòi trong tiến trình sống, còn, nối, tiếp, tiến, hóa đến vô cùng trong những điều kiện khắc nghiệt của không gian và thời gian. Lịch sử là một kết tạo đặc thù ở đó quá khứ ngàn đời vẫn hoài hoài ảnh hưởng tới tương lai qua sự chuyển tiếp của nước nòi trong hiện tại, như những cổ đại tiềm thức xa thẳm, vẫn ẩn tàng trong đáy vực hồn, bỗng vùng vẫy nổi lên trên mặt tầng ý thức của cá nhân để bất ngờ ảnh hưởng vào những quyết định cấp thời trong những giờ phút sinh tử.

          Một con người không thể tách rời được quá khứ cũng như một dân tộc không thể đoạn tuyệt được với quá khứ lịch sử của đất nước mình. Tựa như một giòng sông có khúc trong khúc đục, lúc giạt dào cuốn xiết, lúc lững lờ êm chảy trôi xuôi qua những đập ghềnh, những bờ đê be bờ ngăn nước. Lịch sử đất nước cũng trôi chảy với những thăng trầm, vinh nhục qua những giai đoạn hanh thông hay bế tắc của nước nòi. Để phá vỡ sự bế tắc lịch sử này, cách mạng sẽ phải xảy ra như một đột biến tương tự như một sự tức nước vỡ bờ cuốn trôi tất cả những trì trệ cản đường, những rác rến Cộng sản.

          Đất nước đã đổ vỡ toàn diện vì nhóm người lãnh đạo Cộng sản thiếu trí tuệ, kém suy nghĩ, chính quyền Cộng sản không còn quyền lực, giới lãnh đạo Cộng sản Hà Nội chỉ là một nhóm người tham lam bất tài, họ không học những bài học lịch sử, họ không theo cái gương của người xưa để lại, hoặc giả nếu có thì họ đã đánh mất chân tâm của dân tộc trong con người và trong chế độ của họ. Thảm cảnh của đất nước Việt Nam chúng ta hiện tại là hậu quả sai lầm trầm trọng trong giới lãnh đạo, mọi cơ cấu trong chính quyền đều đã đỗ vỡ, bế tắc. Người Cộng sản đã không còn cơ hội lãnh đạo, giòng sông và giòng sống dân tộc từ đây phải được khai thông, bởi những con người đầy mưu lược thành tâm và thiện chí, yêu quê hương, mến tổ quốc, nhìn xa thấy rộng, có một viễn kiến chính trị hơn người và hơn đời.

 

          A / - Ý nghĩa và mục đích của cách mạng

          Hoàn cảnh đất nước chúng ta hiện nay không phải chỉ đơn giản là thay đổi toàn diện chế độ Cộng sản hiện tại, mà còn đòi hỏi chúng ta phải làm một cuộc cách mạng để xây dựng lại đất nước và con người, đòi hỏi chúng ta có trọng trách kiến thiết lại những đỗ vỡ do chế độ Cộng sản gây ra trong gần 60 năm cầm quyền ở miền Bắc và gần 30 năm cưỡng chiếm miền Nam. Tất nhiên trên cả hai lãnh vực kiến thiết đất nước và xây dựng con người phải cực kỳ khó khăn và đòi hỏi nhiều công trình, vì sau gần 60 năm Cộng sản cầm quyền cai trị đất nước, chế độ này đã đạp phá hết những đạo thống giềng mối của con người và của quốc gia Việt Nam.

          Chúng ta phải đứng lên để nhận lãnh một trách nhiệm hay đúng hơn là nhận một sứ mệnh cải thiện sinh mệnh của con người và xã hội Việt Nam. Dẹp bỏ những thế lực hung hiểm đang âm mưu biến Việt Nam thành một vùng đất tranh, các “Ác Thế Lực Tinh Ma” này đang làm tiêu vong sức sống của dân tộc, và chúng sẽ là những thế lực cản trở sự tiến hoá của đất nước, dân tộc ta khó mà vươn lên để tồn tại và tiến hoá, vì các ác thế lực tinh ma này chỉ muốn đất nước Việt Nam ngày càng suy thoái để chúng có cơ hội dễ bề thao túng trục lợi. Vì vậy Cách Mạng là một đòi hỏi khẩn cấp quan yếu cần phải có. Có người cho rằng: Nhân dân Việt Nam ngày nay rất sợ đổ máu, biến động và bất ổn. Xin thưa: Cách mạng chỉ là hành động phản tỉnh của chính mình đối với đất nước, cách mạng với những phương châm, phương thức và phương pháp đúngchắc thì cuộc cách mạng đó không phải là gây ra đổ máu, biến động và bất ổn, nếu có chăng thì đó cũng chỉ là Thủ Đoạn Nhân Ái cần thiết phải có trong một cuộc cách mạng toàn diện, điều này không để cho chúng ta quan tâm.

 

* - ……………………………………….

* - Đất nước sa vào trong một hầm chông

* - Không phải một ngày mà thoát ra được đó

* - Con thuyền ra khơi phải chờ lộng gió

* - Phá xích, phá xiềng phải sức búa đao

* - Còn chúng ta phải lấy xác làm bè

* - Lấy máu trút ra tạo thành sóng nước

* - Mới mong nổi lên vùng lầy tàn ngược (Cộng sản)

* - ………………………………………….

                   (Đồng Lầy 1972 - thơ Vô Đề)

 

          Tóm lại cách mạng là một nhu cầu cần yếu khẩn thiết của thời đại, một cuộc đổi đời xảy ra trong hoàn cảnh bế tắc, cách mạng khi cần thiết phải đập vỡ những vướn mắc, những trở lực của hoàn cảnh để vươn lên trong tiến trình sống, còn, tiếp, nối, tiến, hóa đến vô cùng của một dân tộc. Ý nghĩa của cách mạng là tu chỉnh con người, hoàn thiện xã hội để cho sự tương quan giữa người với người được hợp lý hơn, tốt đẹp hơn. Nhân loại đã chứng kiến biết bao nhiêu cuộc đổi đời, qua đó giá trị con người đã được nâng cao dần dần tỷ lệ thuận với sự ý thức về mình qua sự thông hiểu những ý niệm Nhân Bản, Nhân Tính và Nhân Chủ để đứng lên đòi quyền lợi cho mình, cho nước nòi và cho toàn thể loài người yếu.

          Trong lịch sử thế giới có tất cả ba loại cách mạng:.

          Một là Cách Mạng Dân Tộc, xảy ra khi một dân tộc nhất tề quật khởi vùng lên chống kẻ ngoại xâm đô hộ, giành lại Độc Lập Tự Do.

          Hai là Cách Mạng Nhân Sinh (kinh tế), xảy ra vì sự bất tài của bè lũ cầm quyền ngu tối làm tiềm năng kinh tế của đất nước không phát triển được, để dân chúng sống trong cảnh tủi nhục, lầm than, đói rét, cơ cực.

          Ba là Cách Mạng Nhân Quyền, xảy ra khi người dân bị chà đạp, bị kìm kẹp trong kiếp ngựa kéo, trâu cày, đã đứng lên đòi những quyền cơ bản của con người để được Làm Người, sau khi đã ý thức mình Là Người.

          Tuy nhiên, một cuộc cách mạng xảy ra vẫn thường gồm đủ hai hay ba khía cạnh kể trên, chắc chắn một cuộc cách mạng xảy ra trong tương lai không xa trên đất nước chúng ta cũng sẽ bao gồm đủ ba khía cạnh này. Cách mạng sẽ phải xảy ra để chống một tầng lớp cai trị, chống một giai cấp mới đó là “giai cấp tư bản đỏ”, họ sống thừa mứa với những đặc quyền hơn xa cả giai cấp quý tộc vua chúa kiêu sa thời phong kiến. Tầng lớp cai trị này được tạo ra và dung dưỡng bởi “Ác Thế Lực Quốc Tế”. Sự đô hộ của ngoại bang rất tinh vi và hiện đại nên đã dấu được bộ mặt thực của dã tâm đế quốc. Đó là sự đô hộ trên tư tưởng, chi phối và áp đặt đường lối, chính sách phải theo cho một dân tộc khác qua tổ chức đảng lãnh đạo bù nhìn tay sai. Với tư cách trung gian kiếm lời, tập đoàn tay sai Cộng Sản Hà Nội đã nhắm mắt hiến dâng quyền lợi tối thượng bất khả sang nhượng của tổ quốc, quyền được hưởng hòa bình, hạnh phúc ấm no của toàn dân cho mục tiêu chiến lược trong tham vọng bành trướng thống trị của kẻ thù truyền kiếp.

          Cho nên, chống chủ thuyết Cộng Sản, chống đảng Cộng Sản Việt Nam, chống bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội là chống ngoại xâm trên mặt tầng tư tưởng để làm cuộc Cách Mạng Dân Tộc. Xóa bỏ tà thuyết Cộng Sản, chống bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội cũng là để khôi phục lại nhân phẩm cho con người, tranh đòi quyền làm người trong một cuộc Cách Mạng Nhân Quyền. Loại bỏ bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội cũng là để phát triển tiềm năng kinh tế đất nước để làm một cuộc Cách Mạng Nhân Sinh.

          Cộng Sản đã dùng chiêu bài vô sản để đày đọa cả dân tộc. Dù rằng người Cộng Sản hơn ai hết hiểu rõ giai cấp vô sản chỉ có trong ý niệm chứ chưa thành một thực thể trong xã hội Việt Nam. Loại trừ bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội cũng là làm một cuộc cách mạng kinh tế để người dân có được bát cơm đầy, khúc cá to cho bụng được no, có được bộ cánh lành lặn che thân cho được ấm. Bọn cầm quyền Hà Nội với quốc sách tham nhũng, bần cùng hóa nhân dân để tạo ra một tầng lớp vô sản trên khắp đất nước, sau bao nhiêu năm cầm quyền cai trị đảng Cộng Sản đã chẳng đem lại một cái gì đáng kể, ngoài việc phân phát đồng đều cho người dân nỗi đói rét cơ hàn và niềm đớn đau tủi nhục của một kiếp người bị tước đoạt nhân phẩm.

 

          B / - Bản chất của cách mạng

          Cách mạng là cuộc đổi đời, phá những cái cũ, xấu, mục, nát, lỗi thời để xây dựng những định chế mới, tốt đẹp hợp với đòi hỏi của dân tộc trong tiến trình đi lên của thời đại theo quy luật tiến hóa. Cách mạng có lý thuyết tri thức và hành động của cách mạng, nói khác đi là: Cách Mạng có chính trị của cách mạng, cách mạng là sự thay đổi toàn diện tức là đi đến cực điểm sự cụ thể hóa Đúng và Chắc, với những gì mà quốc  dân đang khác vọng đổi thay. Cách mạng là một hiện tượng “tức nước vỡ bờ” có tính cách đột biến sau khi đã hội đủ những yếu tố Thời, Cơ và Nhân Sự, có hai đặc tính của cách mạng như sau:.

          Đặc tính thứ nhất của cách mạng là bạo lực, là phá hoại với giá của sự hy sinh xương máu. Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc, Ấm No và Hòa Bình không phải là thứ do xin xỏ mà được, do van nài mà có. Đừng bao giờ ảo tưởng trông mong vào sự thông cảm và lòng nhân ái của kẻ thù, vì Quyền bao giờ cũng đi đôi với Lực tương xứng, kém Lực tức thì sẽ mất Quyền. Cách mạng là bạo lực nên sự quá khích là điều tất nhiên trong những ngày đầu của cách mạng. Nhưng Cách Mạng không phải chỉ thuần có phá hoại, đập đổ và san bằng. Cách mạng còn bao gồm một mặt khác quan trọng và tích cực hơn, đó là mặt kiến thiết. Thiếu mặt xây dựng kiến thiết này thì cách mạng chỉ là một tội ác được thực hiện trong cơn cuồng nộ của thú tính.

          Đặc tính thứ hai của cách mạng là lý tưởng. Mỗi cuộc cách mạng đều được một lý tưởng hướng dẫn. Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc, Ấm No và Hòa Bình đều là những mơ ước tối thượng của toàn nhân loại. Để đạt được những mơ ước đó loài người đã phải hy sinh biết bao xương máu. Ý niệm về Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc, Ấm No và Hòa Bình không phải bổng dưng một ngày mà có. Đó là kết quả thể nghiệm của muôn ngàn thế hệ trong tiến trình Sống, Còn, Tiếp, Nối, Tiến, Hóa đến vô cùng của nhân loại. Do đó đấu tranh cách mạng cũng là đấu tranh trên mặt tư tưởng bằng cả một hệ thống Triết Học gồm đủ ba tầng Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan Chính Trị Quan.

          Như đã trình bày ở phần A, ý nghĩa của cách mạng là tu chỉnh con người, hoàn thiện xã hội đưa nước nòi lên một mức cao hơn trên tiến trình hướng thượng hợp với quy luật tiến hóa của toàn nhân loại. Do đó đặc tính lý tưởng tức là đặc tính trí tuệ cũng là đăc tính chủ yếu của cách mạng. Trí tuệ sáng suốt tạo ra những tầm nhìn xa rộng, sâu sắc và thấu triệt dựa trên một hệ thống triết học gồm đủ ba tầng cấp Vũ trụ quan, Nhân sinh quan và Chính trị quan, sẽ đưa ra một hướng đi chính xác, vạch ra một đường lối rõ rệt, phù hợp với lý tất thắng để lãnh đạo cách mạng đến thành công.

          Nhưng nhìn ra được mục tiêu và đạt được mục tiêu là hai việc khác nhau thật xa, như trời cao và vực thẳm cách biệt giữa TriHành. Người ta vẫn thường được nghe: “tìm thì sẽ thấy, xin thì sẽ được, đi thì sẽ đến” toàn là những điều gây hứng khởi, nhưng trong thực tế, đã có biết bao kẻ tìm mà không thấy, xin mà đã bị từ chối và đi hoài trong lạc lỏng!. Vì vậy để bảo đảm cho việc đi đúng hướng, đúng đường, cách mạng phải có một Chính Lược suốt dọc. Từ nền tảng tư tưởng này sẽ đề ra một Chiến Lược căn bản chi phối toàn diện cuộc cách mạng, ở đó Chiến Thuật chỉ là những ứng biến khôn khéo thích hợp với từng hoàn cảnh đặc thù của cục bộ trong cả hai tầng: phá hoại và xây dựng.

          Ngoài hai đặc tính Trí Tuệ và Vũ Lực, cách mạng còn có ba phẩm tính khác. Đó là tính Triệt Để, tính Toàn Diện và tính Hướng Thượng. Cách mạng phải có tính Triệt Để, dứt khoát giải quyết vấn đề tận gốc rễ một lần cho xong, trái lại đó chỉ là thỏa hiệp trong tinh thần né tránh để đầu cơ, trục lợi, đẩy vấn đề vào xa trong tương lai cho người khác giải quyết. Cách mạng phải có tính Toàn Diện bao suốt mọi khía cạnh của vấn đề, giải quyết thỏa đáng trên mọi mặt, đáp ứng được nguyện vọng của đại khối dân tộc, nếu không chỉ là manh mún, cục bộ, chỉ có lợi cho phe nhóm trong nhất thời mà di hại vô cùng cho nước nòi trong tương lai. Cách mạng phải có tính Hướng Thượng, chứng minh được sự cao đẹp, tốt lành của lý tưởng đề ra trong thực tế bằng chính những thành quả của kiến thiết, xây dựng để phục vụ con người “không phải con người trừu tượng của lý giới” mà con người là cụ thể của một thực tế xã hội đang là đối tượng của cách mạng. Phẩm tính hướng thượng này sẽ biện minh cho sự chính đáng của thủ đoạn nhân ái được dùng để phá hoại cũng như được dùng trong xây dựng.

 

          C / - Điều kiện của cách mạng

          Cách mạng là một tiến trình diễn biến cụ thể trong không gian và thời gian. Là một tiến trình nên cách mạng không phải đột nhiên mà có. Cách mạng cũng phải đi theo một quy luật tất yếu từ Nhân đến Quả. Khởi điểm của cách mạng đã được nuôi dưỡng từ trong quá khứ bởi những trợ duyên rồi theo thời gian, tùy theo hoàn cảnh để lớn mạnh như nhân (hạt) mọc thành cây rậm, cành xanh lá rồi đơm hoa kết quả. Những hoài bão thầm kín của những thế hệ cha ông đã không thể thành vì sự bất lực của bản thân, trước thời thế khó khăn, trước kẻ thù tàn bạo đã trao truyền lại cho con cháu trước khi nhắm mắt xuôi tay, nay trở nên mãnh liệt trong đời con và rồi sẽ được thực hiện trong đời cháu như một bổn phận thiêng liêng không thể chối từ cho những thế hệ nối tiếp.

          Tuy nhiên tất cả mọi việc đều đòi hỏi thời gian để bắt đầu, để diễn biến, để thành thục, đến độ chín mùi. Tiếng ru ầu ơ chất chứa tủi hờn, điệu vọng cổ Hoài Lang trầm buồn xa vắng, giọng hát u hoài thương nhớ mà đã một lần nào chúng ta được nghe, bửa cơm đạm bạc tương cà mà chúng ta bỗng thèm trong một lúc nào đó trước sự ê hề của vật chất xứ người, chỉ là những nhỏ nhoi vô nghĩa nhưng lại thật cần thiết như những chất xúc tác kết hợp người Việt thành một đại khối, thống nhất trong ý chí, thống nhất trong hành động, thống nhất trên lập trường Việt, thống nhất trên bản vị nước nòi. Với sự thống nhất này hai điều kiện cơ bản của cách mạng sẽ dần dần hội đủ: Một là sẽ có được một tầng lớp cấp tiến đầy đủ năng lực trí tuệ, vạch được hướng đi đúng chắc cho đất nước. Hai là sẽ có được một sự đồng lòng của đại khối dân tộc sau khi đã giác ngộ quyền lợi của tổ quốc và của chính bản thân mình, để làm thành lực lượng gốc của cách mạng. Tự Lực, Tự Cứu là những chân ngôn bất hủ của dân tộc Việt. Vọng ngoại và ỷ lại chỉ là những thái độ ấu trĩ, nông nổi. “thố tử hồ bi” (thỏ chết cáo chồn buồn), chẳng bao giờ có thật. Lẽ sống còn của một dân tộc nằm ở chổ biết phản tỉnh sau khi đã ý thức được sự u mê, lầm lạc, ấu trĩ, thờ ơ, để quật khởi và hùng cường đi lên sau một lần đã vấp ngã ê chề!.

 

D / - Sự khác biệt của cách mạng và chính biến

          Mỗi cuộc cách mạng có một đặc tính văn hóa riêng ví dụ:.Cuộc cách mạng 1789 đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của những nhà tư tưởng như J.J. Rousseau, Montesquieu, Voltaire và cuộc cách mạng giải phóng nô lệ của Hoa Kỳ vào năm 1862 do tổng thống Abraham Lincoln (1809 – 1865) lãnh đạo. “Cuộc cách mạng 1917 tại Nga do Lenin chủ xướng chịu ảnh hưởng tư tưởng của K.Marx ta không thể coi đó là một cuộc cách mạng đúng nghĩa”.

          Cách mạng phải được dẫn dắt bằng những lý tưởng cao đẹp, trong lịch sử cận đại của thế giới, chính biến thì có nhiều có thể nói là to lớn để làm sụp đổ chế độ của một đế quốc, nhưng đáng gọi là Cách Mạng chỉ có hai cuộc cách mạng đúng nghĩa.

          Cuộc cách mạng thứ nhất xảy ra vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 tại Pháp với việc nhân dân nổi lên phá ngục Bastille. Tượng trưng cho uy quyền quân chủ là lá cờ tam tài Xanh, Trắng, Đỏ, tượng trưng cho 3 phẩm tính Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ. Cuộc cách mạng này được nói tới như một điểm son trên bước đường tiến hoá của nhân loại, nhưng còn ở mức hạn chế chỉ tự do ở những người bình đẳng, giới hạn trong biên cương của quốc gia đó giữa những người đồng chủng hay những người có chung một quốc tịch. Đây là một thứ tự do mà theo nhà lập thuyết X. Y. Thái Dịch Lý Đông A gọi Libertté Francaise hay là English Liberty, nghĩa là tự do chỉ cho riêng người Pháp hay riêng người Anh, còn với những giống dân thuộc địa khẩu hiệu “Tự Do Bình Đẳng và Huynh Đệ” còn là một mỉa mai trước bánh vẽ.

          Cuộc cách mạng thứ hai xảy ra tại Hoa Kỳ vào năm 1862 với cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ do bất đồng ý kiến về việc giải phóng nô lệ người da đen. Đây là cuộc cách mạng Nhân Quyền do tổng thống Abraham Lincoln lãnh đạo và đã thành công một cách tốt đẹp. Cuộc cách mạng giải phóng nô lệ này được Cụ Lý Đông A gọi là: “Cuộc Cách Mạng Thần Thánh”. Vì nó vượt khỏi biên cương quốc gia bao trùm toàn thế giới, xoá bỏ ranh giới chủng tộc nâng cao ba phẩm tính: Tư Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ tới tột cùng của thế giới và loài người. Nhân Quyền giá trị truyền thống của người Hoa Kỳ đã trở nên giá trị chung cho toàn thế giới, qua bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Để nói rõ về sự liên hệ ba phẩm tính này ở đây xin được nói thêm để làm cho rõ ý nghĩa Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ.

          1). Tự Do: Tự do là một điều kiện cần thiết để tiến bộ không có tự do tư tưởng sẽ không có những phát minh về khoa học về nhân văn, đưa con người mỗi ngày mỗi tiến lên cao, tự do cũng là một năng lực mà chỉ có người nào điều khiển nó đúng cách, mới có thể hưởng được những thành quả tốt đẹp, tự do đúng nghĩa và tốt đẹp chỉ xảy ra ở những người bình đẳng, biết tôn trọng nhau trong những quy định của pháp luật, những tệ nạn như tham nhũng, áp bức, bất công đều là những sự thực hiện tự do không hợp pháp, tức là thiếu bình đẳng. Tuy nhiên con người chỉ bình đẳng ở khởi điểm, tức là bản chất Là Người, còn khác nhau ở cả về lượng số lẫn phẩm tính trong tiến trình Làm Người để Thành Người, do đó có người hay người dỡ, kẻ nghèo người giàu, người khỏe người yếu, người đẹp người xấu, để giải quyết sự chênh lệch này yếu tố huynh đệ được đặt ra. Huynh đệ là yếu tố tình cảm còn bình đẳng là yếu tố lý trí biểu hiện bằng pháp luật, do đó giữa anh em có sự giúp đỡ nhau, san sẻ cho nhau để cùng tiến bộ. Nói một cách cụ thể bằng hình ảnh cho dễ hiểu, với hình ảnh của một con chim, thì tự do là năng lực nội tại sức sống của con chim, con chim bay được là nhờ đôi cánh, cánh trái là huynh đệ, cánh phải là bình đẳng, huynh đệ có trái tim, bình đẳng có khối óc. Nói theo truyền thống dân tộc với “Duy Nhân Cương Thường” thì đó là Nhân và Nghĩa. Dùng màu sắc để diễn tả Tự Do có màu xanh, tượng trưng cho sự hy vọng của loài người trên bước đường tiến hoá đến vô cùng. Nó là màu xanh của trời cao mà con người đứng ở đáy vực sâu, ngước nhìn trời cao như bóng dáng của thiên đường, tự do có một năng lực hấp dẫn lôi cuốn vô biên mà hai câu thơ dưới đây đã đã cực tả.

 

* - Trong vườn sống (Cộng sản) ước mơ (tự do) là trái cấm.

* - Rắn sa tăng hối cải hoá thiên thần.

                             (thơ Vô Đề)

 

          2) Huynh Đệ: Huynh đệ có màu đỏ, màu của máu mối liên hệ huyết thống của anh em, của chủng tộc và cả loài người trong ý nghĩa của câu dưới đây được trích trong tập Đạo Trường Ngâm của X. Y. Thái Dịch Lý Đông A.

* - Noãn bào trăm họ ấy giềng người

          Tức sự tích Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở trăm con.

 

          3) Bình Đẳng: Bình đẳng có màu trắng, mà màu trắng là màu tổng hợp của mọi màu khác, người tây phương quan niệm màu trắng không phải là một màu, cho nên đã dùng danh từ người da màu để mô tả những chủng tộc không phải là người da trắng. Trong quang học người ta dùng quang phổ để phân tích một chùm ánh sáng trắng, ta sẽ có được 7 màu như sau: Đỏ, Cam, Vàng, Xanh, Lam, Chàm, Tím, do đó bình đẳng mang tính chất biểu hiện của một cơ cấu hoà hợp trong thống nhất.

          Cách mạng là tiến hoá trong chiều hướng thượng, nhưng cuộc “cách mạng năm 1917” tại Nga do V. I. Lenin chủ xướng lật đổ chế độ Sa Hoàng, đã kéo nước Nga giật lùi trở lại trước thời Sa Hoàng, cho nên ta gọi cuộc “cách mạng 1917” là cuộc “cách mạng thoái hoá”. Và tương tự như tại Việt Nam, tính chất của “cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945” không mang tính hướng thượng, bởi vì những kết quả sau đó nó không đưa dân tộc đi lên như phẩm tính hướng thượng mà cách mạng đòi hỏi, trái lại nó đã kéo lùi dân tộc ta vào sự lạc hậu đói nghèo và chậm tiến, đắm chìm trong bể khổ, trôi nổi trong vòng luân hồi của đói rét bệnh tật và ngu dốt, bị xếp hàng vào một trong mười nước nghèo nhất thế giới dưới sự cai trị tàn bạo của người Cộng sản.

          Tất nhiên cuộc cách mạng (từ nay trở đi) sẽ xảy ra tại Việt Nam cũng mang một sắc thái văn hóa riêng biệt của truyền thống nước nòi, với những ưu điểm của thời đại được tiếp nhận có chọn lọc trong tinh thần khai phóng và hướng thượng. Cuộc phản tỉnh toàn diện của mọi tầng lớp xã hội làm nên đại khối dân tộc về những chiêu bài chính trị của những “Ác thế lực tinh ma” đế quốc, của những công cụ đảng tay sai đang cầm quyền sẽ làm cho người Việt từ Nam chí Bắc và đang nổi trôi trên khắp thế giới nhìn ra được vấn đề, sẽ ý thức được quyền lợi của dân tộc trong tương quan quốc tế, trên bản vị nước nòi.

          Sự đau khổ là khổ đau chung của đất nước ai cũng có phần mất mát ai cũng bị thua thiệt, vì vậy mọi người ai cũng có quyền góp phần đem lại vui hoà thịnh vượng chung cho quê hương, chúng ta phải vứt bỏ được những trở lực ngăn cản con đường chúng ta trở về với dân tộc, chung góp vào sự thanh bình của quê hương, chúng ta nhìn nhau nhận ra nhau để cùng nhìn về một hướng, làm sống lại hồn nước dương cao ngọn cờ chính nghĩa dân tộc và phải phát huy chính nghĩa bằng bất cứ giá nào.

          Trong sự xung đột tình cảm, người ta đã trách lẫn nhau: “tại người này, vì người nọ”, nhưng khi sự phẩn nộ qua đi, trong tịch mịch của suy tưởng thì tất yếu chỉ có sự tiếc nuối ăn năn và hối hận. Lý do đúng nhất của sự đau khổ chung này không chỉ gồm có: “tại anh, vì tôi hay bởi họ” mà nằm ở chổ: “bởi tại vì chúng ta”. Sự phản tỉnh này là một điều kiện cần thiết để nhận ra nhau trong sự thông cảm chân thành, để ngồi lại với nhau làm một cái gì đó, như đốt lên một ngọn nến còn hơn là bất động, khoanh tay nguyền rủa bóng tối.

          Điều kiện văn hóa và nhân sự trong cách mạng là những điều kiện nội tại. Cách mạng còn phải được kích thích bằng điều kiện thuận lợi ở bên ngoài như sự hỗ trợ cổ võ của cộng đồng quốc gia trên thế giới trong một tương quan quyền lực chằng chịt. Trong hoàn cảnh của thời đại cuộc cách mạng của Việt Nam cũng sẽ được kích thích bằng những điều kiện thuận lợi ở bên ngoài qua sự hỗ trợ cổ võ của những quốc gia bạn trên thế giới. Nhưng quốc gia nào giúp chúng ta, giúp cái gì và giúp ra sao?. Đó là những vấn đề cần phải soi sáng bằng một lập trường Việt: triệt để, toàn diện và hướng thượng. Công và tội chỉ cách nhau trong gang tấc. Bán nước cầu vinh, Việt gian phản quốc hay yêu tổ quốc, thương đồng bào cũng chỉ chao đảo trong gang tấc với những quyết định để đời cho lịch sử phán xét và hậu thế phẩm bình.

 

          * III) - Tiến Trình Phục Hoạt Của Dân Tộc Việt Từ 1847 Đến Nay

          Tiến trình phục hoạt của dân tộc Việt là một diễn biến lâu dài bao gồm trên một thế kỷ. Khởi điểm của cuộc phục hoạt có thể kể từ 1847, khi Đại tá De la Pièrre và Trung tá Rigault de Genouilly, hạm trưởng của hai chiến hạm Pháp đã cho lệnh bắn đắm thuyền bè của triều đình ta tại Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lăng Việt Nam của đế quốc thực dân Pháp. Từ khởi điểm đó, tiến trình phục hoạt của nòi Việt đã trải qua nhiều giai đoạn: Cố thủ, Thỏa hiệp, Dung hòa, Phản tỉnh và hiện giờ đang thuần thục trong giai đoạn chót là Sáng Tạo với những ứng biến thích nghi tùy hoàn cảnh.

          Từ trong cùng cực của những câm hờn, khổ đau, tủi nhục, tù đầy, từ đáy thẳm của những ê chề, xót xa, cay đắng của cả một đất nước đang lầm than, niềm phẫn nộ ái quốc đã bùng lên thành bão lửa để đốt cháy những tị hiềm nhỏ nhen của những cái Tôi, duy lợi, ích kỷ, đa đoan, lỗi thời, trơ trẽn và đáng ghét, đốt cháy những cái Ta lãng mạn, ươn hèn, bạc nhược và đầy ngạo mạn, đốt cháy cả những gán ghép giai cấp, những ảo tưởng về địa phương, bè phái mà ngoại bang trong ác ý đã cố tình khơi sâu Chia để Trị.

          Hạt giống máu của trăm ngàn thế hệ cha ông quyết tâm dám làm và dám chết cho lý tưởng Việt Nam yêu dấu giờ cũng kết thành nụ của hoa hy sinh, yêu thương và phục vụ trong muôn ức, triệu trái tim thanh xuân đang nôn nóng chờ ngày bùng nổ. Men tư tưởng của các bậc quốc sĩ tài hoa với cái nhìn siêu việt hơn đời, đã một thời bị ném đá vì đã nói tiên tri, rao giảng về nhu yếu phản tỉnh của nước nòi, sự cấp bách phải canh tân đất nước trước dã tâm của cường địch ngoại bang, những người như: Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu...v..vv., cũng đã khơi động nhỡn quan hiếu học của tuổi trẻ Việt Nam trong sự tìm tòi, phân tách để rồi phản tỉnh nhìn ra được vàng-thau, chân-giả, phân biệt được bạn-thù qua bản chất và chiêu bài. Nhìn được vấn đề, hiểu được vấn đề thì tất sẽ giải quyết được vấn đề và sẽ giải quyết trên lập trường Việt, soi rọi bằng sự biết suốt dọc và đủ mặt, bằng huyết tính của truyền thống phù hợp với hoàn cảnh thực tế của thời đại, trong tinh thần sáng tạo và hướng thượng. Đó là xuất lộ của lịch sử. Đó là sinh lộ của đất nước. Đó là hướng tiến hóa của sử mệnh. Đó là tiến trình phục hoạt Việt, sẽ đúc kết bằng một cuộc cách mạng: Toàn Diện, Triệt Để và Hướng Thượng trên đất nước chúng ta sắp đến.

          Nói đến tiến trình tất phải nói những giai đoạn, những thời điểm và đặc tính diễn biến. Danh từ giai đoạn được dùng sau đây chỉ là một gượng ép, vì không thể rõ ràng, dứt khoát định mốc giới bằng những thời điểm lịch sử nối kết tuần tự. Ở đây, trong tiến trình phục hoạt, từ ngữ giai đoạn vừa mang ý niệm phân chia trong thời gian, vừa mang ý niệm sắc thái tâm lý điển hình của từng đợt phân hóa.

 

          A / - Giai đoạn cố thủ

          Giai đoạn cố thủ được tiêu biểu bằng chính sách "Bế quan tỏa cảng", trên bộ thì đóng cửa ải quan, dưới nước thì khóa cửa hải cảng để đoạn tuyệt giao dịch với địch. Thực tế đó chỉ là phản ứng tiêu cực của kẻ thế cô lực yếu. Thái độ chung của đẳng cấp sĩ phu thời đó, đại diện tinh thần của nước nòi, là vẫn khư khư trong cái tinh thần chật hẹp chuộng hư văn của Tống Nho, Minh Nho đã trở nên lỗi thời trước sức mạnh của cơ khí tây phương. Giai thoại đánh Pháp bằng trái ổi xanh và trái mù u đổ trên đường làng cho giặc dẫm té không đứng dậy được, bởi tin rằng người “Tây Dương” không có đầu gối, đã làm ngỡ ngàng chua xót lòng những người đọc sử vì trình độ ý thức của dân ta lúc đó quá kém. Đã vậy, lòng tự tôn mù quáng và sự u mê khiếp nhược của những người có trách nhiệm đã làm họ không chấp nhận được cái hay của người để cầu học. Người tây phương bị gọi một cách khinh bỉ là “Bạch Quỷ”, nhưng bạch quỷ đã thắng, thắng ta từng bước tuy chậm mà chắc. Năm 1859, Pháp lấy thành Gia Định, năm 1862 ta mất ba tỉnh phía đông Nam bộ, năm 1867 ta mất nốt ba tỉnh phía tây. Trước cái dã tâm của đế quốc thực dân Pháp quyết chiếm đất mở rộng thuộc địa mà vua Dực Tông vẫn chưa nhận ra, còn ảo tưởng vận động xin chuộc, việc chưa xong Pháp lấy thêm ba tỉnh miền Tây. Triều đình vỡ mộng, cử Phan Thanh Giản làm Kinh Lược Sứ để tìm kế chống giữ. Cụ Phan tự biết thế không chống nổi, thương nghị các quan nộp thành để tránh tai vạ cho dân chúng. Xong việc, cụ quay về hướng Bắc quỳ lạy tạ tội rồi uống thuốc độc tự vận, trước khi chết Cụ Phan dặn lại con cháu phải cày ruộng mà ăn chứ không được nhận quan tước gì của người Pháp.

          Trong cái tinh thần cố thủ đó, cụ đồ Chiểu tác giả cuốn Lục Vân Tiên cũng đã một đời tự dằn vặt thân mình một cách thảm thương: không dùng xà bông của thực dân để giặt rũ tắm rửa, không đi trên đường cái Tây, lộ tráng nhựa của thực dân, chỉ đi trên đường ruộng. Cụ Nguyễn Khuyến cũng đã tự đánh mù mắt của mình để khỏi phải ra tham chính với bè lũ tay sai và thực dân Pháp, theo đúng cái tinh thần “quân tử cố cùng” vốn liếng liêm sỉ làm nên nhân phẩm con người.

 

          B / - Giai đoạn thỏa hiệp

          “Thỏa Hiệp” được hiểu một cách nôm na là bằng lòng cùng làm việc chung. Giai đoạn này có thể lấy tinh thần Hòa ước Giáp thân (1884) làm mốc, triều đình Huế chính thức công nhận công cuộc bảo hộ của thực dân Pháp làm tiêu biểu. Sự thỏa hiệp thực sự chỉ có trên mặt tầng một cách phù phiếm và hình thức, bằng cớ là các phong trào Cần Vương, Văn Thân đã nổi lên khắp nước đánh phá cuộc trị an của thực dân. Tuy nhiên đã có một số người ra cộng tác với Pháp đúng với tinh thần thỏa hiệp. Lý do xâu xa của việc thỏa hiệp với Pháp có rất nhiều, khác nhau tùy cá nhân, hoàn cảnh, nhưng chung quy họ đã tạo thành một thực thể nói lên một sự chuyển biến tư tưởng trước thời thế. Điển hình là Tôn Thọ Tường, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, Tổng Đốc Nguyễn Thân, Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải, và cả một hệ thống quan lại, thông phán. Điều đáng kể ở giai đoạn này là thực dân Pháp với cái giảo quyệt của một tay lão luyện đã vận dụng được chiêu bài chính trị: Vua, triều đình một cách tuyệt khéo. Người dân và tầng cấp sĩ phu đã quen với nếp suy nghĩ, đồng hóa vua là trời, là quốc gia, là đại diện trăm họ, nên đã dung đúc hai ý niệm riêng biệt thành một lý tưởng “Trung quân ái quốc”. Đa số những cuộc nổi dậy của quần chúng trong Nam, ngoài Bắc đều đã bị hóa giải một cách êm thắm hay ít ra là bị yếu thế, cô lập, vì bị kết tội như những toán phản loạn bất tuân quân lệnh triều đình, trái lệnh vua. Dần dần hiểu ra được dã tâm đế quốc thực dân đã dùng vua, khống chế triều đình như một chiêu bài chính trị để lừa bịp, những người cách mạng đã phản tỉnh và tách rời lý tưởng yêu nước khỏi sự ràng buộc phải vâng lời Vua, tuân lệnh triều đình. Tham Tán Quân Vụ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật đã bỏ quan về Hải Dương mộ quân chống Pháp. Án Sát Sứ Phạm Vụ Mẫn, Tri Phủ Kiến Xương Hoàng Văn Hòe đã bỏ chức mà đi.

          Những người ra hợp tác với Pháp, hơn ai hết cũng đã phản tỉnh về thực chất của chiêu bài chính trị “Vua, triều đình”. Họ biết rõ kẻ có thực quyền là Khâm Sứ, Thống Sứ và hệ thống Công Sứ người Pháp ở các tỉnh, tuy nhiên họ vẫn bám vào triều đình, vào vua, và những chức tước Tổng Đốc, Thượng Thư như những lý do tuyệt hảo để biện minh cho sự thỏa hiệp của mình. Tóm lại, trong giai đoạn thỏa hiệp sự phản tỉnh về chiêu bài chính trị: Vua, Triều đình có thể nói là phổ biến cả hai phe bất hợp tác và thỏa hiệp. Họ khác nhau trong thái độ tỏ lộ công khai hay thầm kín.

 

          C / - Giai đoạn hấp thụ

          Dưới sự “bảo hộ” của nước “đại Pháp”, cả một nền cổ học của nước nhà bị bỏ rơi để rồi suy tàn trong sự lãng quên của thời gian, Nho sĩ Trần Tế Xương đã chua cay than thở như sau:

 

* - Cái học nhà nho đã hỏng rồi.

* - Mười người đi học một người thôi.

                   (Tú Xương- Trần Tế Xương).

 

          Cái lý do người ta đổi cái bút lông ra bút sắt cũng dễ hiểu, thật dễ hiểu, vì cơm áo và cũng vì độc lập tự do, Việt Nho đã chính thức bị gạt ra lề xã hội với sự đóng cửa các trường thi trên toàn quốc vào năm 1916. Người Pháp dưới chiêu bài chính trị khai hóa dân trí bằng ánh sáng văn minh tây phương đã cho mở rộng việc học hành. Mục đính chính của họ chỉ hạn chế trong việc đào tạo môt số cán bộ trung cấp và hạ cấp thừa hành để dùng trong việc trị an tiếp tay với các quan “đại Pháp”.

          Trong khi đó những phong trào Đông Du khuyến khích thanh niên ưu tú xuất dương du học, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục gồm một hệ thống học hiệu dạy dân ngành nghề và văn hóa rất được hoan nghênh ở đất Bắc, đều đã là đối tượng của những cuộc khủng bố trắng trợn của thực dân Pháp. Lý do: Họ đã nhìn được cái ý thâm sâu của những người cầm đầu phong trào muốn nâng cao dân trí để canh tân đất nước trong tinh thần tự lực, tự cường và nhất là phong trào đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của các giới, có nguy cơ lớn mạnh để trở thành phong trào quần chúng.

          Trong tinh thần hiếu học truyền thống, trong sự nao nức Duy Tân vươn lên bằng người, người dân Việt đã hấp thụ tất cả những gì gặp được trên con đường tìm hiểu trong sách vở, trong tầm tay. Họ đồng hóa mọi sự mới lạ với tốt lành, hay đẹp, từ những tư tưởng chính trị cấp tiến về tự do, bình đẳng xã hội .v.v.., đến những cách sống lãng mạn, trụy lạc của cá nhân chủ nghĩa tây phương. Bình tĩnh mà phân tách tất sẽ nhận thấy trong giai đoạn hấp thụ này có một điểm khác thường. Đó là có hai khuynh hướng hấp thụ trái chiều nhau. Một là những tư tưởng chính trị cấp tiến bị liệt vào loại quốc cấm được du nhập lén lút qua tay các nhà cách mạng chí sĩ đã từng xuất dương qua Nhật, Tàu, Xiêm, Pháp, sau này được triển khai làm nền cho các tổ chức bí mật chống đối nhà nước bảo hộ. Hai là tư tưởng mới của lối sống cá nhân, ích kỷ, lãng mạn, buông thả, được tự do truyền bá trong một hoàn cảnh xã hội thuận lợi cho sự trụy lạc. Tương lai của một dân tộc sẽ ra sao khi tuổi trẻ, những rường cột của quốc gia, khi trí thức, những tinh hoa của xã hội rủ nhau miệt mài quay trên sàn nhảy, mê ly trong nhà "xăm" ngất ngây trong khói thuốc phù dung, và chếnh choáng bên ly rượu Tây.

          Và cũng trong sự nôn nóng đổi mới theo kịp người, đuổi kịp đà văn minh thế giới, những mặc cảm tự ti, thua kém, tiềm ẩn, tích lũy nhiều đời đã đẩy khá nhiều trí thức của dân tộc vào con đường lố lăng, vọng ngoại, ỷ lại vì tin, vì phục người, tất sẽ nhẹ dạ để nghe theo, nghe theo một cách mù quáng, không suy xét đến những khác biệt trong bản chất, trong gốc rễ giữa TaNgười, giữa Xưa và Nay. Bài học của cụ Phan Bội Châu để lại là bài học quí đáng suy gẫm. Là một nhà Cách mạng lão thành, cụ đã từng đi khắp nước, bôn ba Tàu, Nhật, Xiêm để tổ chức cơ sở cách mạng và tiếp xúc với những nhân vật lãnh đạo chính trị Tàu, Nhật để tìm hiểu tình thế cũng như tìm sự giúp đỡ của ngoại quốc. Cụ đã bị trục xuất khỏi Nhật, bị săn tìm ở Thái Lan và bị bắt ở Quảng Châu giải về an trí ở Huế. Người ta đã trách cụ rất nhiều vì khẩu hiệu “Pháp Việt đề huề”. Nhiều người đã nghĩ là cụ đã đi ngược lại mục tiêu chống Thực Dân Pháp mà trước đây cụ hằng đeo đuổi. Riêng cụ, dù có nghe được lời phàn nàn cũng không làm sao giải thích khi thân thế còn bị quản thúc, tinh thần còn chịu bao áp chế.

          Nhưng chỉ riêng bốn chữ “Cứu Quốc Tồn Chủng” như một sách lược căn bản để đời, xây dựng trên lập trường Việt, thật triệt để, thật toàn diện và hướng thượng, cũng đủ để các bậc tài trí với cái nhìn bao quát và thông suốt được ThờiThế, phân tích và dung hợp được Cục và Diện của thiên hạ, phải kính phục lẫn cảm thương sự sáng suốt của một người Biết mà chẳng có thời để làm, đành nuốt hận. Cái chua chát của một tâm hồn cách mạng khi nghe đến chữ Đề Huề có thể hiểu được, vì bản chất của người cách mạng không chấp nhận dung hòa, thỏa hiệp, ghét bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn hoạt đầu.

          Nhưng nghịch lý thay!. Cái tài trí thấy xa hiểu rộng của bậc quốc sĩ Phan Bội Châu cũng nằm sâu, ẩn kín trong chữ Đề Huề của chiêu bài chính trị có tính cách giai đoạn và chiến thuật “Pháp Việt Đề Huề”. Một người như cụ quen thân với Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, thâm cứu “chủ thuyết Tam Dân” của Tôn Văn đi khắp nơi, có bạn làm lớn khăp chốn mà cuối cùng cũng bị Nhật trục xuất, bị Tàu phản bội, bị “đồng chí” Hồ Chí Minh bán lấy mười vạn đồng, bị Pháp bắt tất thể nghiệm đến cùng cực cái nhân tính trong chính trị.

          Dưới nhỡn quang chính trị của cụ, thực dân Pháp chỉ là quân địch trước mắt, người Việt ai cũng thấy vì họ mắt xanh, mũi lõ, nói tiếng xì xồ và như một quy luật được nhìn nhận “Minh thương dể đỡ, ám tiễn khó lường” (ngọn giáo đâm trước mắt dể đỡ, mũi tên bắn lén khó lường biết). Nghĩa là cụ đã nhìn thấy kẻ đại thù của dân Việt đến sau thực dân Pháp, nguy hại hơn thực dân Pháp gấp trăm ngàn lần, đó là kẻ nội thù Cộng sản Hà Nội tay sai của Cộng sản quốc tế Nga Tàu, vì chúng thuận lợi trên cả ba yêu tố Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Được địa lợi vì kẻ thù đó ở gần ta, được nhân hòa vì xử dụng được chiêu bài của chủ thuyết chính trị, dùng được người của ta để thi hành đường lối của chúng, mê hoặc được dân ta theo chúng, được thiên thời vì lợi dụng được hoàn cảnh thuận tiện trong tương quan quyền lực thế giới khi đế quốc cũ bị đế quốc mới chèn ép.

          “Pháp Việt đề huề” chính là sách lược có tính cách phân định, chọn một cái tồi để tránh một cái tệ, nhận một cái hại nhỏ để xa một cái họa lớn. Đó cũng là lời nhắn nhủ chân tình của cụ nói ra trong hoàn cảnh khó xử, mở miệng mắc quai để khuyên đồng chí nên ẩn nhẫn chuẩn bị đợi thời kẻo vọng động tất không tránh khỏi thảm cảnh “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, đưa dân tộc vào họa diệt vong, tái nô dịch chủ, tiếp tục kiếp trâu ngựa dưới quyền của một chủ khác tàn nhẫn hơn. Pháp Việt đề huề chỉ là một bước trong toàn quốc sách “Cứu Quốc Tồn Chủng”, một chiêu bài hỏa mù, dùng chiêu bài che thực chất, lui một bước để củng cố lực lượng: Nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, chấn chỉnh dân phong, thống nhất dân tình. Muốn được vậy tất phải có đủ thời gian cần thiết và một tình trạng xã hội thích hợp. Ở điểm này có người cho là cụ đi sát với quan điểm của Phan Chu Trinh muốn cộng tác chân thành với Pháp và thực sự tin vào tình hữu nghị Pháp-Việt, tin Pháp sẽ rộng rãi và thực tâm giúp ta canh tân đất nước!. Nhưng xét kỹ tất không đúng vậy, sự khác biệt nằm ở chổ cụ Tây Hồ coi “Pháp Việt Đề Huề” như một chiến thuật có tính cách giai đoạn, tạm thời ứng biến sáng tạo trong một tình thế khó khăn: Giặc trong thù ngoài.

 

          D / - Giai đoạn dung hòa

          Xin lưu ý ngay tới sự tế nhị của ngôn từ. Dung Hòa là một thái độ tâm lý chấp nhận được sự khác biệt của người trên mặt tư tưởng một cách vui vẻ. (Dung là làm tan, trộn lộn hai vật khác nhau thành một như trong chữ dung môi, chất dùng để hòa tan. Hòa là làm cho ăn nhịp với nhau, không chống chõi nhau, tạo được niềm vui, thuận.) Còn giai đoạn dung hòa là giai đoạn mà những sắc thái văn hóa, tư tưởng, học thuật ngoại lai qua sự hấp thụ của cá nhân, đoàn thể bắt đầu tác dụng và gây ảnh hưởng trực tiếp như một yếu tố nội tại trong giòng sinh mệnh dân tộc, sẽ làm cho dân tộc ta trở nên hùng cường, quốc gia trở nên thịnh vượng, xã hội ổn định trong một trật tự mới tốt đẹp, lý tưởng. Hoặc sẽ làm cho dân tộc ta lụn bại, quốc gia bị chia cắt, xã hội thối nát phân hóa, chìm vào hố thẳm diệt vong tàn lụi.

          Điển hình của giai đoạn “cưỡng bức dung hòa” này là sự áp dụng toàn bộ chủ thuyết Mác xít Lê Nin Nít vào hoàn cảnh Việt Nam. Công trình dung hòa này như một nổ lực chủ quan có tính cách áp chế do đảng Lao Động sau đổi là đảng Cộng Sản Việt Nam, do Cộng Sản quốc tế tổ chức lãnh đạo và bộ máy nhà nước do đảng đề cử làm công việc quản lý. Công trình dung hòa này đã được thực hiện một cách triệt để, toàn diện với sự hỗ trợ trực tiếp của nòng súng và lưỡi lê trên một nửa nước Việt Nam một cách chính thức từ 1954 ở miền Bắc và trên cả nước Việt Nam từ 1975 cho đến nay.

          Con người Việt Nam vốn lấy chữ Dung Hòa làm quí Tổ tiên ta dạy: “một điều nhịn chín điều lành”, chữ dung hòa trở thành cốt tủy của văn hóa và đời sống Việt. Con người Việt Nam lại lấy phúc đức làm gốc lấy đạo dung hòa làm đầu. Nói một cách khác dung hòa là cứu cánh của dân tộc ta, cho nên mỗi khi nói đến dung hòa đối với người Việt Nam, cũng như nói đến không khí và nhịp thở cần thiết cho thân thể của con người. Bởi yêu dung hòa nên con người Việt Nam sẳn sàng gác bỏ, tha thứ mọi bất hòa, nếp sống ấy như sợi chỉ vàng rực rỡ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt qua nhiều ngàn năm.

          Một điển hình khác của giai đoạn này là sự áp dụng lẻ tẻ và cục bộ những ý niệm về dân quyền được tôn trọng ở khối quốc gia tự do vào hoàn cảnh miền Nam Việt Nam từ 1954 đến tháng 4/1975. Điều cần phải nói là, công trình dung hòa này tuy cũng là một nổ lực chủ quan nhưng lại thiếu tính chất triệt để và toàn diện. Do đó, công cuộc dung hòa mang nhiều tính chất tự động thẩm thấu chứ không bị áp chế bó buộc như ở miền Bắc dưới chế độ chuyên chính vô sản. Người ta thường công kích miền Nam về việc thiếu vắng một chủ thuyết có tầm vóc đúng mức để lãnh đạo cuộc chiến. Điều đó đúng!. Nhưng Tái Ông Thất Mã. Cái khuyết điểm đó đã trở thành cái ưu điểm của miền Nam trong giai đoạn dung hòa. Miền Nam đã có nhiều cơ hội để tiếp thu và thể nghiệm những cái mới, cái lạ, cái hay cũng như cái dở, cái điên cuồng của người, thuộc mọi khuynh hướng từ tả sang hữu, trong một sự tự do đến vô kỷ luật. Và họ đã phải trả bằng giá của Máu để hiểu được sự thật. Trong khi đó miền Bắc như một con ngựa bị che mắt chỉ nhìn thấy một hướng, chỉ đi theo một đường. Và cũng vì được sống trong sự tự do của hỗn loạn nên miền Nam đã chuyển sang giai đoạn phản tỉnh trong tiến trình phục hoạt sớm hơn và nhanh hơn miền Bắc, nhất là khi miền Nam bị rơi vào tay cộng sản kể từ ngày 30/4/1975.

 

          Đ / - Giai đoạn phản tỉnh

          Phản tỉnh là sáng suốt trở lại sau khi bị mê hoặc, nhìn lại vấn đề với một sự tỉnh táo của trí óc, bằng cặp mắt sắc bén, trong một hoàn cảnh thực tế và trên một lập trường gốc. Phản tỉnh là một sự ý thức lại với những phê phán đúng, sai, nên, không trước khi hành động. Trong tiến trình phục hoạt, giai đoạn phản tỉnh đi sau giai đoạn dung hòa, giai đoạn đem những gì hấp thụ được của người về đồng hóa với những truyền thống tốt đẹp của nước nòi để làm nên một tổng hợp mới phù hợp với nhân tính, phù hợp với thời đại. Phản tỉnh có nhiều mức độ và biểu lộ qua nhiều hình thức. Phản tỉnh cục bộ và rụt rè hay phản tỉnh toàn diện và triệt để. Khi phản tỉnh tiến đến mức độ cao nhất của nó, tất yếu là đã bước vào giai đoạn sáng tạo. Sáng tạo là giai đoạn của hành động thực hiện cách mạng, đi từ tư tưởng bước sang hành động. Đúng ra, sự phản tỉnh đã được nhận thấy trong suốt quá trình phục hoạt, ngay trong những giai đoạn trước đó. Tuy nhiên, đó chỉ là sự phản tỉnh có tính cách cục bộ của những cá nhân trổi vượt hay tập thể nhỏ có cái nhìn sáng suốt, nhưng không thể chia sẻ được với quần chúng và thời đại, điển hình là Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Phan Bội Châu, phải đợi đến giai đoạn này, sự phản tỉnh mới có tính cách quần chúng và suốt dọc các giai tầng xã hội. Nghĩa là quần chúng phải thể nghiệm trong thực tế đau thương cùng cực, có những mất mát trọn vẹn mới giật mình nghĩ lại và bừng tỉnh ngộ.

          Không phải chỉ có người miền Nam phản tỉnh về chủ thuyết Cộng sản, về tình nghĩa đồng minh, về thực chất của những chiêu bài chính trị được xử dụng trước khi miền Nam mất, mà cả miền Bắc cũng đã phản tỉnh một cách xâu xa về chủ thuyết Cộng sản, “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, về tình tương trợ vô cùng cao đẹp của vô sản quốc tế trước những xung đột giữa Cộng Sản Việt-Hoa-Nga, và nhất là bản chất của giới lãnh đạo miền Bắc được suy tôn là thần thánh, không thể sai lầm. Đó là sự phản tỉnh đồng loạt của một dân tộc từ đáy vực khổ đau đói rét của chiến tranh và dối gạt, “trong muôn ngàn tàn lụi không tên, sẽ bừng nở một trời hoa lạ quí” để chúng ta sẽ cùng nắm tay nhau hùng cường chỗi dậy đi lên.

          Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất thế kỷ. Dân tộc Việt Nam đã mất bao thế hệ thanh niên ưu tú!. Miền Nam đã được cái gì ngoài sự đau thương, tủi hận ê chề của một kẻ bị ép cho thua trận và làm nhục?.

 

          * - Có phải vì lòng anh so le nên gạo của anh cũng hạt ngắn hạt dài!. Có phải vì lòng chúng tôi căm thù, cay bạn, nên mỗi lần ăn hạt gạo của anh thì nước mắt chúng tôi cũng giọt dài giọt ngắn?!.

          (Thơ gửi người bạn đồng minh hôm qua - Trang Châu).

 

          Và nhân dân miền Bắc đã được gì, ngoài ảo ảnh của vinh quang mà đảng Cộng sản xây trên sự đói rét, nghèo nàn, lạc hậu và hoang tàn.

 

* - Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà

* - Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ

                   (Nhất Định Thắng - Trần Dần)

 

          Ngày 30/4/75 có thể coi là thời điểm của phản tỉnh, của giai đoạn phản tỉnh. Bắt đầu bằng trăm ngàn câu hỏi, thắc mắc khi đối diện với thực tế tàn nhẫn, người quốc gia đã phản tỉnh về sự u tối, ấu trĩ, thờ ơ, vì tiếc máu xương, vì mơ hồ mong hưởng thụ, vì ỷ lại, vọng ngoại, cầu an. Trong vòng rào kẽm gai của các trại tù cải tạo, trong ngục tối của các nhà giam cộng sản đã biết bao người quốc gia khóc thầm, giận thân, đấm ngực, hối tiếc, ăn năn cho tội lỗi, cho lỡ lầm đầy oan nghiệt này. Những người tự nhận là thành phần thứ ba, “lực lượng hòa hợp hòa giải dân tộc” cũng đã tỉnh ngộ sau một thời gian bị vắt chanh bỏ vỏ. Dương văn Minh (đã chết) và phe nhóm vẫn sống trong ảo tưởng như một thế lực chính trị được tôn trọng bởi “phía bên kia” (Cộng Sản), đã tiếp nhận trách nhiệm của một vị tổng thống miền Nam trước quốc dân để "hòa giải với những người anh em Cộng sản”, đã bị “quân giải phóng” dí súng dẫn đi như một tên tù hạng bét.

          Những tên cán bộ Cộng Sản miền Nam, trường kỳ mai phục trong hàng ngũ quốc gia, sau bao nhiêu năm nằm vùng làm công tác tuyên truyền, phá hoại, khủng bố cũng đã bẽ bàng khi những chức vụ quan trọng, béo bở trong bộ máy “nhà nước quản lý”, trong hệ thống hợp tác xã “nhân dân làm chủ” mà họ đang đảm trách như một sự đãi ngộ công lao “cách mạng”, bỗng bị thay thế bởi những tên đảng viên trung kiên miền Bắc. Những người dân miền Nam hào hiệp, ham vui, khoái “phè” đã một thời chửi chế độ miền Nam, chửi tham nhũng như những con rối, nay bỗng tỉnh ngộ để thấy cái thời Kiệm Ước của Tổng Ngọc, thế mà còn sống được. Và nếu được chọn lựa giữa TồiTệ, thì sẽ gạt nước mắt mà chọn chế độ miền Nam, vì ở thời đó họ chỉ mới bị Bóc mà chưa bị Lột, bị Vơ mà chưa Vét.

          Với đại thắng mùa xuân 30/4/75, miền Bắc đã làm cho miền Nam tỉnh ngộ triệt để và toàn diện, nhưng miền Nam cũng làm cho miền Bắc phản tỉnh về chính mình và những gì họ đã học tập về miền Nam. Miền Nam không nghèo mạt kiếp như họ được đảng dạy để yêu cầu họ hy sinh nhân lực, tài lực và vật lực trong việc đóng góp “giúp” miền Nam với khẩu hiệu “hạt gạo cắn làm tư”. Thực tế miền Nam đã vượt xa điều họ dự tưởng, “Đạp, Đổng, Đài” (xe đạp, đồng hồ, radio) những ước mơ cao sang, người dân xã hội chủ nghĩa miền Bắc đã không dám nghĩ tới trong cả một đời lao động, lại quá tầm thường đối với người miền Nam. Nhạc vàng, phim ảnh, tiểu thuyết, tài liệu, sách báo, những sản phẩm của miền Nam đã bị người Cộng sản một thời kết tội là văn hóa đồi trụy, cũng được miền Bắc và cả những người Cộng sản đón nhận một cách say mê chân thành. Và nhất là tham nhũng, thứ mà một thời đã làm cho miền Nam khốn đốn ê chề, thì nay trở thành quốc sách của bọn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội. Bản chất tham nhũng là ích kỷ hại người. Họ chỉ cần biết có mình nên mạnh tay vơ vét, gây khó cho tổ chức. Bản chất của tham nhũng là phá hoại xã hội và tự diệt. Nhưng tại sao họ tham nhũng?. Những con người Cộng sản đã được coi như là “đạo quân tu sĩ”, có phải vì họ đã phản tỉnh một cách triệt để và toàn diện về bản chất chiêu bài chính trị Cộng sản mà một thời họ đã ngộ nhận như là một lý tưởng cao đẹp, xứng đáng hy sinh để phục vụ?.

 

          E / - Giai đoạn sáng tạo

          Sáng tạo là giai đoạn chót của tiến trình Phục Hoạt Việt, ở đó cách mạng tất yếu sẽ phải xảy ra trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước, đại khối dân tộc đã phản tỉnh về bản chất của những chiêu bài chính trị mà Cộng sản đã xử dụng để lường gạt, lừa bịp đồng bào trong mấy chục năm qua và đang cầu mong một cuộc đổi đời. Nhưng lý tưởng nào sẽ thống nhất được tiềm lực đấu tranh của hơn tám mươi triệu người trong niềm phẫn nộ ái quốc?. Đó là điều mà mọi người Việt chúng ta hiện đang ở trong nước cũng như đang tị nạn nơi xứ người phải suy nghĩ, phải tìm ra. Bởi vì cha ông ta đã di ngôn: Dại chết mà Khôn cũng chết, chỉ có Biết mới sống, nhưng trong cách mạng không có dại khôn, chỉ có biết, biết nhìn nhau nhận ra nhau, biết nhìn chung về một hướng, biết quy luật để hành động. Hành động đúng lúc và hành động đúng nơi, hành động phù hợp với lý tất thắng.

 

 

 

          * IV) - Kết Luận

          Để xóa bỏ chế độ Đảng Chính phá tan xiềng xích đã trói buộc người dân Việt Nam trong mấy chục năm qua. Trước viễn ảnh tối tâm của dân tộc hiện nay, những con người biết qui luật để hành động, chúng ta phải nhìn ra được con đường chúng ta đi, chúng ta phải tự tỉnh phá củi xổ lòng cứu lấy bầy chim Việt bất hạnh, phải thật sự thống hối phản tỉnh để trở về với Đại Nghĩa Dân Tộc, vì sự sống còn của tổ quốc chúng ta phải đứng lên dựng lại truyền thống cao đẹp của con Người Việt Nam.

          Để kết luận bài trình bày Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt, chúng tôi xin mượn bài thơ: Sẽ Có Một Ngày, trong tập thơ Vô Đề của tác giả Khuyết Danh.

 

- Sẽ Có Một Ngày

 

* - Sẽ có một ngày con người hôm nay

* - Vất súng, vất cùm vất cờ, vất Đảng,

* - Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng

* - Oan khiên!

* - Về với miếu đường, mồ mả, gia tiên

* - Mấy chục năm trời bức bách lãng quên

* - Bao hận thù độc địa dấy lên

* - Theo hương khói êm lan, tan về cao rộng

* - Tất cả bị lùa qua cơn ác mộng

* - Kẻ lọc lừa, kẻ bạo lực xô chân

* - Sống sót về đây an nhờ phúc phận

* - Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân

* - Đứng bên nhau trên mất mát quây quần

* - Kẻ bùi ngùi hối hận

* - Kẻ bồi hồi kính cẩn

* - Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

* - Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng!

* - Tiếng sáo mục đồng êm ả

* - Tình quê tha thiết ngân nga

* - Thay tiếng tiến quân ca (5)

* - Và quốc tế ca (6)

* - Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!

                   (Sẽ Có Một Ngày – 1971 Thơ Vô Đề)

 

          “Sẽ Có Một Ngày”. Vâng, sẽ có một ngày, ngày đó sẽ là ngày triệu triệu trái tim Việt Nam bừng sống dậy, họ dựng lại niềm tin xây lại nhà, xây lại nước, xua đi thù xưa, quên đi oán cũ, tay nắm tay bước qua cơn ác mộng, đó là niềm tin, là lời nguyện ước, là câu thề hứa được nhắc nhở ta hằng đêm trong nôn nóng, khắc khoải, đợi chờ giây phút bão bùng, hoa nở trên muôn nhà, hoa nở trên quê hương Việt Nam ngạo nghễ bất diệt.

 

Ngô Hữu.

 

 

 

* - Chú thích:

(1) Vào tháng 11 năm 1956, hơn 20 ngàn (20.000) nông dân 5 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã vùng lên làm một cuộc khởi nghĩa có “võ trang” bằng gậy gộc, đảng Cộng sản đã điều động 1 sư đoàn bộ đội đến bao vây tiêu diệt sạch sẽ (kể cả đàn bà và con nít), số phận của những người nông dân này ra sao?. Sau này đảng Cộng sản sẽ phải trả lời trước quốc dân và đồng bào.

(2) Đầu năm 1956 khi Nikita Khruschev phát động chiến dịch hạ bệ Stalin chống tư tưởng tôn sùng cá nhân, thì bên Trung Hoa Mao Trạch Đông cũng cho phát động phong trào “trăm hoa đua nở. Sau đó ít tháng ở miền Bắc Việt Nam đảng Cộng Sản cũng đưa ra chính sách sửa sai, dành nhiều dễ dãi cho giới văn nghệ sĩ viết và lách. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và hai năm sống ở thủ đô Hà Nội, họ đã phải chịu nhiều thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần chi phí chỉ đủ mua vài chục ký gạo nuôi gia đình, trong khi đó những tên nịnh hót đảng được cất nhắc lên làm “cai văn nghệ”, được hưởng một đời sống xa hoa phè phỡn. Do đó nhiều văn nghệ sĩ đã tham dự viết bài đả kích những sai lầm của chế độ. Tờ Nhân Văn Giai Phẩm được ra đời làm cơ quan ngôn luận của nhóm trí thức văn nghệ sĩ do nguyễn Hữu Đang làm chủ bút. Nguyễn Hữu Đang là một đảng viên kỳ cựu đã từng làm bộ trưởng văn hóa từ thời 1945.

          Phong trào nhân văn giai phẩm chỉ là một cái bẫy sập mà Cộng sản giương sẵn để bắt trọn ổ. Phong trào nhân văn giai phẩm chỉ kéo dài có 3 tháng, thời gian đủ dài để đảng nhận diện và qui định thành phần kẻ thù, để xử trị qua chiến dịch “cải tạo tư tưởng” cho toàn thể trí thức dù ở trong hay ngoài đảng. Trí thức văn nghệ thân đảng được gởi đi học các khóa cải tại tại các thành phố lớn được hưởng đầy đủ tiên nghi. Trái lại trí thức văn nghệ sĩ chống đảng bị đưa lên vùng thượng du học tập lao động dưới sự quản giáo của các cán bộ dân tộc thiểu số. Người Cộng sản luôn luôn nói đến khoan hồng và nhân đạo, nhưng thật ra họ tàn nhẫn dã man hơn ai hết để bắt kẻ thù phải sống cái chết mỏi mòn, kéo dài sự hành hạ của đói rét và sự gậm nhấm của đau đớn bệnh tật. Đó là những cái chết khủng khiếp so với cái chết bất ngờ nhanh gọn gây ra bởi một viên đạn. Đa số trí thức văn nghệ sĩ đối lập bị Cộng sản bắt đi cải tạo không mấy ai được trở về, không ai biết rõ số phận của họ ra sao, chỉ có một số nhỏ trở về với gia đình họ đã từ bỏ nghề cầm bút và chấp nhận lao động chân tay. Họ chọn lựa sự im lặng trong một chế độ “bỏ tù tiếng nói”.

(3) Cuộc nổi dậy ở Tây Nguyên của các dân tộc thiểu số ngày 9 và 10 tháng 4 năm 2004 do cộng đồng người Thượng (Montagnard) phổ biến ngày 13 tháng 4 năm 2004 từ thành phố partanburg Hoa Kỳ là: 566,380 người được chia ra như sau:

 

A/ Tỉnh: Gia Lai Province: 44,049 participants. (người tham dự)

B/ Tỉnh: Province of Dak Lak: 87,610 participants.

C/ Tỉnh: Kontom – Da Lat: 50,040 participants.

D/ Tỉnh: Phuoc Long: 51,010 participants.

1. Quận District of Buon Ma Thuot: 150,964 participants.

2. Quận District of Buon Don: 4,551 participants.

3. Quận District of Krong Ana: 29,229 participants.

4. Quận District of Cu Mgar: 31,892 participants.

5. Quận District of Cu Jut: 3,807 participants.

6. Quận District of Krong Pac: 3,118 participants.

7. Quận District of Krong Kno: 1,517 participants.

8. Quận District of Lak Thien: 7,032 participants.

9. Quận District of Dak Mil: 3,508 participants.

10. Quận District of Ayunpa: 98,053 participants.

Tổng số người bị chết hơn 4.000 người

(4) Chính quyền Hoa Lục dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, chỉ để bẻ cong tư tưởng của người dân Trung Hoa, họ Mao đã hạ lịnh giết khoảng 32 triệu người để áp đặt chế độ Cộng sản trên toàn quốc.

(5) Tên bài hát của Văn Cao được dùng làm quốc ca của Cộng Sản Việt Nam.

(6) Tên bài hát được tổ chức Cộng Sản quốc tế chính thức nhìn nhận làm đoàn ca.

 

 

 

HOME