Ư Niệm Thế Hệ:
Hy Vọng Của
Quốc Gia Và Toàn Thế Giới.
Ba tuần trước khi phát
biểu trên làn sóng này về mục “Thế Hệ”,
chúng tôi có nói: Sẽ phát biểu nhiều kỳ và tôi có nói
ngay đến vai tṛ của thế hệ 40 với thế
hệ 80 mà không nói ǵ nhiều về thế hệ 50, 60 và
70. Nhiều thính giả sẽ thắc mắc và tự
hỏi: Phải chăng chúng tôi đă không nh́n thấy vai
tṛ quan trọng của các thế hệ sau 40 trong việc
dẫn dắt thế hệ 80 và sau 80 chăng
?
Xin trả lời là: Sự
cố t́nh quên đi các thế hệ sau 40 là có chủ
đích rơ rệt v́: “Chúng tôi muốn đánh thức
tất cả các thế hệ Việt Nam ở trong
cũng như ngoài nước, về vai tṛ của ḿnh
đối với vận mệnh của đất
nước trong hiện tại cũng như trong
tương lai tới đây”.
Đă nhiều lần trên làn sóng này
tôi liên tục nhắc đi nhắc lại nhận
định có tính cách rất căn bản đối
với lịch sử của bất cứ dân tộc nào,
đất nước nào. Đó là: Nếu muốn xây dựng
đất nước đến nơi đến
chốn, mọi dân tộc phải biết hướng
tiến tới của nhân loại và rằng không một
dân tộc nào có thể phát triển thật sự nếu
dân tộc ấy không biết hoặc chưa dám tiến
hành một cuộc thẩm định lịch sử
một cách rốt ráo và trọn vẹn về quá tŕnh phát
triển của nhân loại cũng như của chính dân
tộc ḿnh. Như
thế, để biết thẩm định lịch
sử, anh phải có trí tuệ siêu quần, ḷng cam
đảm rất cao độ với tất cả ư
thức trách nhiệm và thiện ư muốn đem lại no
ấm cho nhân dân đất nước anh, để
từ đó đóng góp vào việc đem lại an b́nh cho
toàn nhân loại nói chung.
Lịch sử nh́n theo nghĩa
rộng là cả một quá tŕnh phát triển không bao giờ
ngưng nghỉ theo rất nhiều hướng khác nhau và
nhiều khi đối nghịch nhau; như thế, sự
thẩm định lịch sử phải liên tục, khách
quan và toàn diện để bảo đảm rằng các
biểu hiện tiêu cực của một xă hội,
một cộng đồng cần được giảm
thiểu đến mức tối đa để tạo
điều kiện thuận lợi cho các biểu hiện
tốt có cơ hội không ngừng phát triển. Trong
một xă hội phát triển chậm (nói theo Alvin Toffler) th́
các biển hiện xấu, tiêu cực cũng chậm lây
lan và chậm nh́n thấy để mà sửa chữa
(thế mới coi là xă hội chậm), nhưng trong
một xă hội phát triển nhanh (phương Tây ngày nay)
th́ biển hiện xấu có khả năng lây lan rất
nhanh trên quy mô toàn cầu. Cho nên việc sửa chữa không
phải dễ dàng trong khi “lực tiến nhanh tới phiá
trước” phải đối diện với “lực
cản trở ở phiá sau” do lịch sử để
lại, luôn vin vào một số biểu hiệu tiêu cực
để cổ vũ cho một số hành động
bảo thủ của ḿnh mà các hành động ấy,
thực chất chỉ là nhằm bảo đảm cho quyền
lợi của phe phái ḿnh hay các đặc quyền,
đặc lợi mà họ hoặc phe phái của họ
đang được hưởng do áp bức hoặc bóc
lột kẻ khác, dân tộc khác mà họ có
được.
Cuộc chiến đấu
giữa cái mới và cái cũ c̣n nhiều cam go và nhân
loại c̣n phải hy sinh nhiều trước khi có
được một tương lai tươi sáng. Bây
giờ là lúc mà thế giới nói chung, phải đổi
mới thật sự về cách suy tư, cũng như
hành động, cho dù với nhiều đau thương
(nhưng nhân loại không c̣n một chọn lựa nào khác)
để đặt nền tảng cho thế kỷ 21 này
và các thế kỷ sau, khi toàn địa cầu này thực
sự trở thành một xă hội Nhân Chủ Pháp Trị.
Nhiều người, ngay
cả Âu châu vẫn c̣n nghĩ rằng: Hoa Kỳ đă
đẩy thế giới tiến quá mau về phía
trước mà không có các chuẩn bị thích ứng. Suy
nghĩ như vậy là hoàn toàn sai! Ta hăy thử nh́n lại
xem, trong lănh vực kỹ thuật điện tử:
Từ kỹ thuật Analog sang kỹ thuật Digital th́
cuộc cách mạng này xảy ra chỉ vỏn vẹn
chưa đầy 20 năm nếu không nói là chỉ vỏn
vẹn có 10 năm cách tân này mà đă làm đảo lộn
thế giới, hoàn toàn có khả năng biến con voi thành
con chuột. Kỹ thuật tân tiến ngày nay với trí
tuệ thông minh đặc biệt, có khả năng làm
được nhiều việc mà trước đây 50
năm, cả ngàn con voi cũng không làm được (so
sánh máy điện toán IBM thế hệ I với cell phone
ngày nay th́ ta thấy sự khác biệt là rất rơ rệt).
Như thế, luận điểm trách cứ
Hoa Kỳ đă đẩy thế giới đi quá nhanh
về phiá trước chỉ biểu hiện thực
trạng không nh́n xa trông rộng mà thôi. Trớ
trêu thay, luận điểm sai lầm này lại
được nhiều nhóm bảo thủ thuộc thế
giới phát triển chậm chia xẻ và được
chủ nghĩa bành trướng Hán tộc của Bắc
kinh hoan nghênh.
Nhiều người, ngay
cả Âu châu, nghĩ rằng: Khi làm như vậy, Hoa
Kỳ đang muốn bành trướng “chủ nghĩa
đế quốc kiểu Mỹ, văn hoá kiểu Mỹ”
trên quy mô toàn cầu. Nghĩ như vậy cũng sai! V́
lịch sử nhân loại là lịch sử của sự
hợp nhất và là quá tŕnh của sự tự giải
phóng ḿnh khỏi các ràng buộc do chính con người trong
quá tŕnh phát triển của ḿnh đă đặt
định ra cho các thế hệ mai sau. Như thế, các
thế hệ sau, nhất định phải biết
dựa vào đà tiến hóa (ngày nay) để mà canh tân
cải cách cái cũ, chứ có đâu lại cứ phải
vin vào các khái niệm cũ từ cả ngàn năm
trước (mà đến nay đă không c̣n hợp thời
nữa) để cố t́nh kéo lùi thế giới lại,
hoặc dựa vào đó để thực hiện các ư
đồ đen tối của ḿnh. Nói cho cùng ra, nếu anh
có trí tuệ thật sự để dẫn dắt
thế giới th́ thế giới sẽ theo
anh ít ra cho tới khi anh tự trở thành lỗi thời,
lạc hậu. Lịch sử đă từng
xảy ra và tiếp tục xảy ra như vậy. Cho nên, nếu muốn dẫn dắt thế
giới, anh phải tự ḿnh đổi mới liên
tục cho phù hợp với đà tiến hóa mới. Để làm được việc ấy, anh
phải có trí tuệ siêu quần, một ḷng cam đảm
đích thực và một thiện ư bao la là vậy. Cho
nên, “Hoa
Kỳ chẳng bành trướng đế quốc mà
chỉ đề xuất Dân Chủ-Tự Do, và cuối con
đường dân chủ tự do là con đường
Nhân Chủ Pháp Trị được áp dụng trên quy mô
toàn cầu, đây là hướng đi đúng nhất mà
nhân loại này phải đi không một thế lực nào
có thể cản trở hay có thể kéo lại
được, v́ vậy chúng ta nên ḥa ḿnh vào gịng tiến
hóa mới của nhân loại”. Nói cho rơ ra để
giới lănh đạo của Bắc Kinh và các thế
lực chậm tiến khác khỏi phải suy tư;
rằng: Ví dụ: Trước đây khi đế quốc
đỏ Nga Sô phát động phong trào “giải phóng”
để bành trướng Cộng sản trên toàn cầu,
th́ Hoa Kỳ lại đề cao Dân chủ và cuối cùng
Hoa Kỳ đă chiến thắng cả “bạn” lẫn
thù. Hiện nay Trung Cộng đang mang mộng Hán hóa nhân
loại th́ Hoa Kỳ lại xuyển dương học
thuyết Nhân Chủ chỉ có vậy, đó cũng là ư nghĩa
của cuộc chiến đấu giữa Thiện và Ác,
giữa thế lực nhanh với các thế lực
chậm, để rồi cuối cùng th́ các thế lực
chậm tiến cũng phải bị bỏ lại phía sau
như một quy luật tất yếu của lịch
sử vậy. Thế giới rồi đây chỉ c̣n
lại một nền kinh tế chung,
một quy luật chung, một luật pháp chung. Sự tích Hằng Nga Hậu Nghệ sẽ
trở thành sự thật mà chúng ta sẽ chứng
kiến.
*
- Sông Hằng, nước Hán đều quy lại,
*
- Đảo Úc tầng A cũng phục
quanh,
(trích
Đạo Trường Ngâm – Tiên Long Châu Hành. 4822 T.V)
Nhiều người, ngay cả
Âu châu, nghĩ rằng: Hoa Kỳ luôn lạm dụng bạo
lực và không có t́nh nghĩa trước sau đối
với đồng minh. Ta tự hỏi: Thế nào là
lạm dụng bạo lực ? Thế
nào là t́nh nghĩa trong chính trị ? Nếu xử dụng bạo lực để
phục vụ cho ước vọng điên cuồng
của cá nhân được bao bọc bởi tinh thần
quốc gia dân tộc mù quáng để thực hiện ư
đồ thống trị quyền lực tuyệt
đối, độc tôn th́ đó là lạm dụng
bạo lực đích thực. Staline, Mao Trạch Đông,
Fidel Castro, Hồ Chí Minh, Hitler, Saddam Hussein, Kim Jong-Ill, các giáo
sỹ điên rồ ở Iran là các kẻ lạm dụng
bạo lực đích thực. Cho nên các chính quyền, chính
phủ do các kẻ xấu ấy dựng lên cần
phải đập tan. Nh́n vào lịch sử
Hoa Kỳ trong hơn 200 năm qua, th́ ta thấy Hoa Kỳ
luôn luôn đi diệt các kẻ lạm dụng bạo
lực để cứu nguy cho nhân loại. Hoa Kỳ
chưa bao giờ đem quân chiếm thuộc địa và
bóc lột công sức của các dân tộc chung
quanh. Đấy là chưa kể các chủng tộc nhỏ, các
nền văn hóa lâu đời đă bị hoang phế do
chiến tranh gây ra bởi các kẻ lạm dụng bạo
lực, hoặc bị tàn phá do thời kỳ thực dân để
lại, đă và đang được Hoa Kỳ giúp
đỡ để bảo tồn hoặc khai quật
để khôi phục lại các nền văn minh đă
bị mai một ấy. T́nh nghĩa trong
đời thường là một khái niệm mơ hồ
và chẳng có tiêu chuẩn khách quan thống nhất
để so chiếu. T́nh nghĩa đối với
người Hồi giáo Trung đông là giữa những
người cùng hệ phái hay bộ tộc với nhau
chứ không phải là giữa loài người với loài
người theo đúng ư niệm chân
chính của từ ngữ này. T́nh nghĩa trong chính trị
phải chăng là một thể hiện giữa
đồng minh với nhau đặt căn bản trên sự
tương nhượng về quyền lợi mà không có
bạn thù. Xét theo nghĩa này th́: Trong
chính trị, vấn đề t́nh nghĩa không nên
đặt ra v́ tương quan giữa các phía thay
đổi từng ngày, từng giờ.
Như thế, t́nh
nghĩa chỉ là và luôn là thể hiện một mối
quan hệ chân t́nh giữa cá nhân cụ thể này với
một cá nhân cụ thể khác mà thôi. C̣n mối quan
hệ t́nh nghĩa chính trị th́ thực tế cho thấy
là rất hiếm hoi và ít bền vững. Nếu có chăng chỉ khi nào họ đồng
đẳng trong trí tuệ (“Quần Long Vô Thủ”).
Một số người cho là Hoa Kỳ thiếu t́nh
nghĩa dựa vào cách thức mà Hoa Kỳ đối
xử với một số nhà cầm quyền các
nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh mà tiêu
biểu nhất là miền Nam Việt Nam trước 1975.
Khi quan sát vấn đề này, ta phải b́nh tâm quan sát các
sinh hoạt chính trị trên quy mô toàn cầu từ cổ
đại đến nay và so chiếu với cách thức
mà Hoa Kỳ đả xử sự thực sự với
các nhóm thiểu số như thế nào khi họ đến
định cư tại nước Mỹ. Nói một cách
khác t́nh nghĩa trong chính trị của Hoa Kỳ là:
“Quyền lợi giữa anh và tôi phải đặt trên
căn bản là Người”. Nhưng một điều
mà chúng ta nên ghi nhớ là: Lịch sử lập quốc
của Hoa Kỳ là cả một chuỗi dài bị đè
nén đau thương. V́ hiểu như vậy cho nên lúc nào
Hoa Kỳ cũng sẳn sàng “Thề
cứu loài người yếu”, tấm ḷng hào hiệp
của Hoa Kỳ không ai có thể phủ nhận hay
chối bỏ được. Cho nên người lănh
đạo các quốc gia dù nhỏ, khi đà nhận trách
nhiệm th́ anh phải lo cho sự b́nh an
ổn định cho chính dân anh. Tôi lo cho dân tôi no ấm th́
anh cũng phải lo cho dân anh hạnh phúc, v́ tất cả
chúng ta đều là con người nên sự tự do
hạnh phúc phải được chia đều, không ai
có quyền đè nén và bóc lột con người. Có như
vậy th́ đời sống con người mỗi ngày
mỗi được thăng hoa lên và tiến lên tiến
lên măi để xây dựng một thế giới
đại đồng hạnh phúc. Hạt giống Nhân
Chủ phải được nẩy mầm, hoa Nhân
Chủ phải được nở trong mọi nhà, đó
cũng là ước mơ ngàn đời của con
người vậy.
Chính trị là
một sự ứng dụng của mưu thuật,
mỗi mưu kế thích ứng với một thời
điểm nào đặc biệt nào đó, phù hợp
với một t́nh huống nào đó. Trong chiến tranh lạnh, các
Kingmakers hay là các kẻ dàn dựng các chính phủ (CIA) đă
ủng hộ nhiều chính phủ dân chủ sơ khai trong
một số vùng tranh chấp nào đó (Đặc biệt, khi
mà Trung cộng và Liên Xô đang “xuất khẩu” cuộc
chiến tranh nhân dân đến các vùng đó), mặc dù các
vùng đó chưa sẵn sàng cho hạt giống dân chủ
nảy mầm. V́ thế mới gọi là
“Chiến Tranh Lạnh”. Nhưng chiến tranh lạnh
thật ra cũng không lạnh lắm cho những ai tham gia
vô cuộc chiến tranh lạnh ấy (nhất là các nhà lănh
đạo các quốc gia nhược tiểu) mà vẫn
cứ nghĩ về độc lập thực sự trong
một một thế giới đầy chiến tranh th́
suy nghĩ của họ rất sai v́ vai tṛ của một
số quốc gia nhỏ chưa thực sự được
nh́n nhận (đặc biệt trong các vùng nhạy bén)
như các quốc gia độc lập thực sự, mà
chỉ được xử dụng như một thành
lũy nhằm ngăn chặn, be bờ làn sóng đỏ
để làm sụp đổ Liên Xô mà thôi. Ngày nay, mọi
chuyện đă và đang thay đổi tận gốc
rễ, nên chính trị cũng phải thay đổi theo cho hợp với hoàn cảnh hiện
tại. Các h́nh thức xử dụng các công
cụ chính trị bản xứ đă không c̣n
được chấp nhận nữa. Thay vào đó
là cả một kế hoạch sâu rộng nhằm
đưa tự do, dân chủ đến cho mọi
người, mọi quốc gia, mọi
dân tộc nhỏ yếu chưa bao giờ hiểu
được tự do dân chủ. Do đó: Cơ hội độc lập
thực sự, dân chủ tư do thật sự đang
thật sự mở ra cho cả nhân loại. Chúc cho các dân
tộc, nhất là các dân tộc yếu kém, nghèo khổ
biết nắm lấy cơ hội ngàn vàng này.
* Với Việt
Trong buổi tiếp xúc với
các cơ quan truyền thông Việt ngữ mới đây,
ông Michael Marine đă nói một câu vừa đủ ư
nghĩa để nhắc lại với người
Việt hải ngoại và trong nước: “Con
đường đi đến dân chủ cho Việt
Chiến
lược của Bắc Kinh thật rơ rằng. Đó là: Tŕ hoăn và hết sức tránh né một cuộc
đụng độ trực tiếp với Mỹ trên quy
mô lớn cho đến khi nào Trung cộng đủ
mạnh để đối đầu tay đôi với
Mỹ hay chẳng đặng đừng lắm th́
mới đụng độ với Mỹ. Trong khi đó,
Trung cộng vẫn ráo riết chuẩn bị các h́nh
thức chiến tranh du kích, khủng bố toàn diện qua
các kẻ trung gian như nhóm Al Queda hay các tổ chức
tội phạm quốc tế, đồng thời âm
thầm, ráo riết thôn tính các nước láng giềng
nhỏ yếu chung quanh bằng mọi h́nh thức khác nhau
để buộc Hoa Kỳ phải tương
nhượng các quyền lợi ở Á châu cho Tàu.
Ư đồ “chính trị lộ
tuyến” của Bắc Kinh chẳng qua mặt
được ai, nhất là với Cụ Lư Đông A, là
người đă nói về ư đồ này của Tàu cách đây
60 năm. Với Hoa Kỳ th́ họ đă
hiểu rơ Tàu hơn ai hết. Hoa Kỳ đă
tương kế tựu kế để đẩy Tàu
đi tới chỗ phải làm càn và trở thành căm
địch của cả thế giới, nhất là căm
địch của các nước Á châu. Cho nên, dù Bắc
Kinh có hành động thế nào th́ Hoa Kỳ cũng đă sẵn
sàng giáng trả để từng bước dẫn
Bắc Kinh đi tới chỗ bị phân ră toàn diện.
Đối với
Việt
Nhiều
người không thấy tầm quan trọng và tính chất
toàn diện của cuộc chiến tranh Văn Hoá- Tư
Tưởng này mà Cụ Lư Đông A
đang lănh đạo. Một công cuộc cách
mạng đầy gian khổ, lắm khó khăn nhưng
cũng vô cùng vinh quang. Nó chẳng phải đem
lại mọi sự tốt đẹp cho Việt Nam không
thôi mà c̣n cho cả cộng đồng Bách Việt từ
vùng Trung Nguyên nước Tàu đến vùng Đại Đông Nam Á
(Grand South East Asia), cho cả loài người yếu và các
dân tộc linh lạc trên thế giới này nữa.
Cho nên,
trước các lời phát biểu rất rơ ràng trên làn sóng
này trong thời gian qua, mỗi bước tiến tới
của t́nh h́nh th́ Bắc Kinh mau chóng đáp ứng lại
bằng những hành động cụ thể (thí dụ
về đập Tam Khẩu, thành Bắc Kinh, v.v..).
Nhưng đặc biệt hơn hết là theo
tin chúng tôi mới nhận được th́ Bắc Kinh
đang tiến hành một dự án rộng lớn nhằm
cố chứng minh rằng: “Việt
Hôm nay đây, qua
làn sóng này, chúng tôi chính thức trả lời cho giới
lănh đạo Bắc Kinh về một lọat các nghiên
cứu của nhiều học giả phương Tây. Họ có đủ các kỹ
thuật, khoa học và khách quan để quan sát cụ
thể và đánh giá chính xác về nguồn gốc của
cái mà ta gọi là “văn minh Trung Hoa”, về cách
thức mà Hán tộc đă ăn cắp văn minh các lân
bang (đặc biệt văn minh Bách Việt) ra sao,
hủy diệt các dân tộc là sở hữu chủ các
nền văn minh này để h́nh thành cái họ gọi là
văn minh Trung Hoa như thế nào:
1) Giáo sư Jared Diamond thuộc
viện đại học UCLA mới đây đă viết
cuốn Guns Germs and Steel đă chứng minh rất rơ ràng là:
“Về mọi mặt th́ văn minh Bách Việt đă
tiến trước văn minh Trung Hoa nhiều ngàn năm”.
2) Giáo sư Wolfram Eberhard là
một học giả Mỹ từng dạy ở
đại học Bắc Kinh đă nghiên cứu về
văn minh Trung Hoa hơn 40 năm, trong cuốn sách A History of
China của ḿnh, ông đă nói thế này: “Người ta biết
xưa kia chẳng có chủng tộc Tàu, người Tàu
cũng chẳng có. Điều mà ta gọi là Tàu thực ra
một tiến tŕnh pha trộn phiền
toái lâu dài của nhiều chủng tộc khác nhau, v́
thế ta không thấy một nước Tàu văn minh
với xung quanh toàn là những dân tộc man di mọi
rợ”.
3) Giáo sư Edward Schaffer trong
cuốn Ancient China (Trung Hoa Cổ Đại) phát hành năm 1967
bởi viện đại học Stanford th́ phát biểu
như thế này: “Ta không c̣n nghi ngờ ǵ nữa
về kỹ thuật trồng lúa nước và thuần
hoá gia súc là của phương Nam (ư nói Bách Việt). Kỹ
thuật đúc đồng đỏ th́ người
Thương, người Ân không có trong khi thời Hùng
Vương đă có hiểu biết rất rơ ràng về
kỹ thuật luyện kim, đúc
đồng”.
4) Giáo sư Charles Hucker cùng
với giáo sư Will Durant thuộc viện đại
học Michigan đă viết hơn 10000 trang về lịch
sử Trung Hoa và mối liên hệ sâu sắc của
lịch sử Trung Hoa cổ đại với lịch
sử Bách Việt. Một phần của
10000 trang này đă được phát hành nhưng các
phần chủ yếu vẫn c̣n được giữ kín
như là tài sản trí tuệ của viện đại
học
Giáo sư Will Durant th́ nói: “Văn
minh Bách Việt cổ hơn văn minh Trung Hoa v́ nó đă có
trước, góp phần vào việc h́nh thành nền văn
minh Hoa Hạ (văn minh Hoa Hạ khoảng đời nhà
Thương 1783 – 1134 ttl)
từ thủa sơ khai, đặt căn bản trên
văn minh trồng lúa nước”.
5) Một vị giáo sư khác
học giả Needham, chuyên nghiên cứu về Trung Hoa
thuộc viện đại học Oxford trong cuốn sách
China th́ viết như sau: “Ngay cả người Tàu th́
đă có được bao nhiêu người có
được ư niệm về Trung quốc xưa kia
thực sự ra sao ? Đấy là nền văn minh cổ
xưa nhất thế giới c̣n tồn tại nếu xét
theo sự liên tục về văn hóa, ấy thế mà quá
khứ của nó đă bị tái hiệu đính liên miên thay
v́ được bảo tồn (Tàu sửa văn hóa
cưỡng đoạt được của Bách Việt
để biến thành của Tàu). Chẳng những
vậy, ngày nay chẳng c̣n bao nhiêu tài liệu nguyên bản
nói về Trung Hoa, hầu hết chỉ là các bản sao và
những họa phẩm”.
6) Giáo sư Nhân Chủng Học
Paul K. Benedict đă phát biểu rằng: “Nhiều từ ngữ
trước đây người ta cứ tưởng là
người Đông
Đây cũng là nhận
định chung của nhiều học
giả khác chuyên nghiên cứu về mối liên hệ
giữa ngôn ngữ Tàu và Bách Việt. Đó cũng là mối
liên hệ về văn hóa và văn minh giữa ḍng tộc
Đại Bách Việt ở phương Nam với Hán tộc
ở phương Bắc. Ta cần kể ra ở đây
rất nhiều vị như: Sử gia Lea E. Williams
thuộc viện đại học Oxford, học giả
Keith Weller Taylor trong cuốn The Birth Of Vietnam (1983, University of
California Press), học giả Edward G. Pulleyblank trong phần
The Chinese and their Neighbor in Prehistoric and Early Historic Times
của cuốn The Origins of the Chinese Civilization do David N.
Keightley hiệu đính, hai học giả Pierre Huard và Maurice
Durand thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội
trong cuốn Connaissance du Vietnam (Hanoi 1954) và nhiều học
giả khác, tất cả đều đi đến
một nhận định là:
“Văn minh Bách Việt là
nền văn minh tối cổ trên thế giới đă
tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với
quá tŕnh phát triển của văn minh nhân loại ngày nay”.
Đặc biệt là: Nhiều người đă tưởng
lầm là văn minh Trung Hoa có trước văn minh Bách
Việt nhưng trong thực tế th́ mọi thứ,
mọi mặt của văn minh Trung Hoa chỉ là vay
mượn của văn minh Bách Việt mà thôi. Văn minh
Trung Hoa chỉ là bản sao chép bất toàn của văn
minh Bách Việt về nhiều khía cạnh như từ
ngừ, chữ viết đến phong tục tập quán,
kiến trúc và nhiều khám phá khác nữa.
1)
Nhà Nhân-chủng-học Russell Ciochon (tác-giả bài "The Ape
That Was", Natural History, November 1991) và nhà
Khảo-cổ-học John Olsen đă khám-phá ra nhiều
chứng-tích ở Việt-Nam cho thấy giống
người vượn khổng-lồ Gigantopithecus cao 10
bộ Anh đă từng sinh sống đồng-thời
với giống người Homo-Erectus trong khoảng
thời-gian dài tới 500,000 năm. (Southeast Asia: A Past Regained,
Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 16-17)
2)
Brian M. Fagan cho biết tại những hang của Làng Trang,
Việt-Nam, người ta t́m thấy di-cốt của
người Homo-Erectus cổ tới 500,000 năm.
Chứng-tích này thuộc loại cổ nhất Đông-Nam-Á
(People of the Earth, An introduction to World Prehistory; 1992, trang 129)
3) Ronald Provencher c̣n phỏng-đoán loài
người đă xuất-hiện sinh sống tại
Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây. (Mainland Southeast Asia: A
Anthropological Perspective, viết tắt: Mainland Southeast Asia, Nhà
xuất-bản Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17)
4)
Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai t́m ra rằng chỉ có 3 vùng
trên trái đất thuộc ṿng đai
nhiệt-đới là thuận-hảo cho sự sinh-tồn
của loài người trong thời Băng Đá. Đó là vùng b́nh-nguyên sông Amazone Nam-Mỹ, vùng Trung
Phi-Châu và vùng Đông-Nam-Á. Ông so sánh t́nh-trạng như
sau: Mỹ-Châu thời đó chưa có người, Phi-Châu
có nhiều giống thú dữ và khu duyên hà, duyên-hải không
có dấu tích sinh-hoạt loài người. Chỉ c̣n vùng
Đông-Nam-Á mới thực-sự là nơi hội-tụ
những điều-kiện tiện-lợi để cho
loài người sống sót (Naga, trang 3)
5)
Tại Mandalay, Miến-Điện năm 1979, người
ta t́m ra nhiều xương hoá-thạch của loài Primate lâu tới 40 triệu năm. V́ chứng-tích
này cổ hơn bất cứ nơi đâu trên trái
đất nên đă có kết-luận rằng: loài Primate
thoạt tiên sinh sống trong vùng Đông-Nam-Á trước,
sau mới di-chuyển ngang qua khu-vực Tây Á-Châu rồi sang
Phi-Châu (Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, viết
tắt Naga, Sumet Jumsai, xuất-bản tại Singapore, Oxford
University Press, 1988, trang 2.)
6)
Trong giai-đoạn tiến hoá của loài người,
giống Homo-Erectus (người đứng thẳng) có
lẽ tồn-tại lâu nhất tại vùng đất
liền Đông-Nam-Á, lâu hơn tại tất cả các
nơi khác trên địa-cầu, kể cả Phi-Châu và
Âu-Châu (People of the Earth, An introduction World Prehistory, Brian M. Fagan,
Harper Collin Publishers, New York, 1992, trang 15
7) Buckminster Fuller, một nhà địa lư kiêm
toán học. Ông cho rằng, có
thể t́m ra nguồn gốc các nền văn minh căn
cứ vào tỷ lệ thuận giữa tŕnh độ
văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ
lư thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion World Maps (
bản đồ động thái thế giới).
Từ bản đồ của ḿnh, B. Fuller kết luận: Duyên hải Đông và Đông Nam Á chỉ chiếm 5% diện
tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang
sống. Từ tính toán của ông, người ta suy ra, vào thiên
niên kỷ IV-III TCN, người Việt có thể chiếm
15-20% dân số thế giới.
8) Hầu hết các phát-minh thuyền bè,
buồm, chèo, lái ... của nhân-loại ngày nay đều có
gốc rễ từ bán-đảo Đông-Dương.
Chừng 60,000 năm trước, khi những nhóm cư-dân
Đông-Nam-Á đầu tiên dùng bè vượt biển
tới Úc-Châu, tiền-nhân Việt-tộc chắc chắn
cũng đă dùng phương-cách di-chuyển như
vậy. Nhiều tiến-bộ về kiến-trúc
thuyền bè đă đạt được và thành-quả
đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng
phối-hợp tài-t́nh hai hệ-thống buồm và
xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền
ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ
hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải
sửa đổi tay lái. (Connaissance du
Việt-Nam, Pierre Huard và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232)
Nhiều sự khai quật các
cổ vật vùng Lương Châu (Liangzhu) và các nơi khác
tại nước Tàu bây giờ đưa các chuyên gia
về lịch sử Tàu tới một kết luận: “Trung
tâm văn minh nước Tàu không nằm tại vùng Hoa
Bắc (nơi phát nguồn của Hán Tộc) mà tại vùng
Hoa Nam nước Tàu” (nơi cội nguồn của văn
minh Bách Việt).
Về quá tŕnh chuyển dịch
của con người và văn minh thuộc ḍng tộc
Đại Bách Việt nhằm tạo ra các ảnh
hưởng nhất định của Bách Việt
đối với nhiều trung tâm văn minh sau này th́ ta
phải kể ra đây các công tŕnh nghiên cứu của
nhiều học giả khác nữa như:
* -
* - Học giả Meacham đă
ước tính rằng: “Ít nhất là 10,000 năm
trước Tây lịch, người Bách Việt đă
biết dùng bè để di chuyển trên biển Đông” (giáo sư William Meacham trong
cuốn sách The Origins Of The Chinese Civilization, Berkeley 1983). Theo
giáo sư Nicholas Tarling th́: “Trước
đó 40,000 năm, người Đông
C̣n rất nhiều các dữ
kiện cụ thể khác của các học giả
ngoại quốc nữa đă minh chứng là “văn
minh Tàu ngày nay chỉ là sự sao chép, lấy cắp không
toàn vẹn của văn minh Bách Việt” (nền
văn minh khai phá cho nhiều nền văn minh khác của
nhân loại). Tuy nhiên, các dữ kiện vừa nêu cũng
đă quá đầy đủ để phản bác lại
các nhận định rất hồ đồ của Hán
tộc khi xưa và Trung cộng ngày nay về nguồn
gốc đích thực của nền văn minh Bách
Việt và các cách thức mà Hán tộc đă cưỡng
chiếm nhiều phần trong các tinh hoa của văn hóa
Đại Bách Việt để từng bước hủy
diệt dân tộc Đại Bách Việt (100 con th́ 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống
biển, sự tích Tiên Rồng là một chứng minh hùng
hồn nhất về bộ tộc Bách Việt đă chia
nhau 50 con ở lại chiến đấu “lên rừng”, 50
con dẫn nhau đi t́m nơi hiểm địa “xuống
biển” để tồn tại và để hổ
trợ cho cuộc trường kỳ chiến đấu
với Bắc phương trải dài qua nhiều ngàn
năm. Trong một bài khác chúng tôi sẽ giải thích rơ ràng
hơn về sự tích Tiên Rồng), rồi Hán tộc
tự nhận là chủ nhân của nền văn minh
Phương Đông rực rỡ, và trở thành thế
lực chi phối các lân bang như thế nào.
Truyện xưa
đă vậy, truyện nay cũng thế. Giờ đây sau biết bao
nhiêu thăng trầm của lịch sử cận
đại, đảng Cộng sản Việt Nam đă
trở thành công cụ tay sai của Bắc Kinh, lệ
thuộc vào Bắc Kinh về đủ mọi mặt.
Bắc Kinh đang lấy cớ là Việt Nam cần trùng
tu các đ́nh chùa miếu mạo của Việt Nam,
đặc biệt là ở phía Bắc và Bắc Trung
phần (nơi mà Tàu nghi ngờ là c̣n chứa nhiều bí
kiếp quan trọng trong kho tàng văn minh Bách Việt) nên
chúng đă và đang tiến hành những cuộc trộm
cắp quy mô bằng cách làm các tượng mới (dĩ
nhiên là đẹp hơn các tượng cũ) để
thay thế các tượng cũ. V́ suy nghĩ hẹp ḥi,
đầu óc tham lam, những người Cộng sản
Việt Nam đâu có thấy ư đồ thâm độc
của Tàu là chúng sẽ bỏ tiền giả (kể
cả đô la giả) mua các tượng cổ ấy
đem về Tàu để tiếp tục tiến tŕnh
(như các vua chúa Tàu làm ngày xưa) ăn cắp và hủy diệt
các chứng liệu vô cùng giá trị của tổ tiên ta.
Việc này được minh
chứng rơ ràng khi mà các vụ trộm cắp văn hoá
phẩm, cổ vật của Việt
Chúng ta cần nh́n rơ dă tâm nham
hiểm này của lănh đạo Bắc Kinh không chỉ
đối với Việt
I) Bàn Về Lịch
Sử Việt Tộc Hay Quá Tŕnh Tiến Tới Nhân Chủ:
Trong Chu Tri Lục, Cụ Lư
đă viết một câu để đời như
thế này: “Không đọc sử, không đủ tư cách nói
việc quốc gia. Đọc sử không giải
được nghĩa, không nắm được thể
dụng, không thể có được bản lănh về
chính trị. Phải đem một tri thức suốt
mặt thống nhất vào một nhăn quan, mới phân tích
được một sự tượng trên lịch sử
cho đích đáng”.
Như thế
lịch sử của ṇi Việt đối với
lịch sử Hán tộc ra sao? Và lịch sử của ṇi
Việt đối với lịch sử của toàn nhân
loại này như thế nào? Đó là các câu hỏi c̣n làm
đau đầu nhiều sử gia trong tương lai dài
tới đây, và hẳn nhiên sẽ là các chủ đề
chính yếu để các sử gia Việt Nam đích
thực dồn hết mọi nỗ lực nhằm t́m ra
các mối liên hệ đích thực và sâu thẳm trong các
đống tro tàn, đổ nát mà Hán tộc đă cố
t́nh bóp méo sự thật lịch sử khách quan của ṇi
giống Việt trong thời gian ít ra là 3000 năm qua, mà
người đầu tiên khơi màu cho việc chiếm
đoạt và tiêu diệt văn minh cũng như văn
hóa Bách Việt một cách có hệ thống không ai khác
hơn là Khổng Tử. Như thế, cuộc chiến
tranh văn hóa - văn minh này không thể kết thúc mau chóng
nhằm dành quyền xác định chủ quyền của
Bách Việt ta đối với các yếu tố nền
tảng của văn minh Đông Phương.
Nếu con người đi
bằng hai chân và vĩnh viễn vẫn đi bằng hai
chân th́ văn minh nhân loại cũng sẽ phải tiến
bước bằng hai chân theo quá tŕnh
chuyển dịch giao tiếp giữa con người
với nhau. Điều này xác định quá tŕnh
h́nh thành các trung tâm văn minh mới vậy. Các trung
tâm văn minh mới (so với cái cũ) luôn là một
cải tiến so với văn minh cũ về đủ
mọi mặt, từ vật chất đến tinh
thần. Đây là một tiến tŕnh không bao
giờ ngưng nghỉ và sự chuyển dịch ngày càng
trở nên nhanh hơn, quy mô hơn nhằm h́nh thành quá tŕnh
hợp nhất nhân loại trên một nền tảng
mới.
Càng ngày chúng ta càng phát hiện
thêm các dữ kiện khoa học để minh chứng cho
nhận định mà tôi đă nêu lên trước đây
(tôi đă đề cập đến vấn đề này
trong cuốn sách phát hành năm 1993) về ṿng quay của các
trung tâm văn minh thế giới, theo đó văn minh Bách
Việt đă mở đầu cho tiến tŕnh dài trong
việc h́nh thành các trung tâm văn minh của nhân loại.
Các trung tâm này chuyển dịch từ Bách Việt
đến Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy
Lạp, La Mă, Âu châu và nay là Hoa Kỳ. Khi chuyển dịch
đến Bắc Mỹ, văn minh nhân loại đă có
đủ sức (trí tuệ và vật chất) để
cất cánh và từng bước h́nh thành nền văn minh
Liên Hành Tinh trong khi một bộ phận khác là bộ
phận chủ lực tiếp tục quay theo hướng
Đông để mở rộng hơn nữa nền văn
minh địa cầu và càng ngày nền văn minh nhân
loại càng tiến sâu vào vũ trụ để từng
bước củng cố và phát triển hơn nữa
nền văn minh Liên Hành Tinh.
Nhận
định nêu trên có thể c̣n quá mới mẻ đối
với nhiều người. Nhiều vị sẽ cho là
chúng tôi quá chủ quan khi đưa ra các nhận
định kiểu ấy. Thực ra th́
hoàn toàn không phải như vậy. Nếu ta tổng
hợp các đánh giá mà các học giả phương Tây
(kể trên đưa ra về nền văn minh Bách
Việt) th́ ta sẽ thấy: Chủng tộc Bách việt
là thổ dân đă định cư ở vùng Thái Sơn
(tức là vùng Hoàng Hà cũng là trung tâm nước Tàu ngày
nay) trong nhiều ngàn năm cộng với một nhóm khác
từ vùng Pamir tràn xuống vùng Trung Nguyên cũng đă
hơn một muôn năm trước (Cụ Lư dùng chữ “Muôn”
ở đây có ư nghĩa là hơn vạn năm v́
người Việt miền Bắc nói về con số th́
theo thứ tự lớn dần ngàn [1000], vạn [10000],
muôn [100000]). Chủng tộc Bách Việt đă
định cư ở vùng Thái Sơn trước loài Hán
tộc, ṇi Di rất lâu (bao nhiêu ngàn năm th́ ta chưa
được rơ lắm), sau đó cuộc chiến
đấu giữa ba ṇi Việt-Hán-Di đă từng xảy
ra rất lâu trong thời tiền sử của nhân
loại. Khi ṇi Hán diệt ṇi Di th́ cuộc chiến
đấu tay ba trở thành tay đôi
giữa Việt và Hán, rồi mở đầu cho cuộc
thiên di về phương
* - Công cha như núi Thái Sơn.
* - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra.
Ca Dao.
Hai câu ca dao trên được lưu
truyền trong dân gian qua nhiều ngàn năm cho nên, nếu
nói lịch sử Việt Nam là 4000 nay 5000 th́ đây là
một nhận định sai lầm. V́ cả một
thời gian dài hàng chục ngàn năm ấy, các tài liệu
cổ ấy đă bị người Tàu đánh cắp và
hủy diệt qua nhiều triều đại (điển
h́nh là đời nhà Minh) như chúng ta đă biết,
đến nay không c̣n tài liệu cổ nào c̣n tồn
tại để nói lên tŕnh độ phát triển của
ṇi Bách Việt ra sao. Nhưng mới đây, một ngôi
mộ cổ vừa được khai quật ở Hoà
B́nh (Phú Thọ), đă được các học giả
phương Tây dùng các phương tiện kỹ thuật
hiện đại nhất và xác định là ngôi mộ
này có niên đại 12000 năm. Dụng
cụ đồ đá t́m thấy trong ngôi mộ ấy
rất là tinh xảo, có khả năng tạo ra các dụng
cụ đồ đá khác. Cho nên, nhận định
của học giả Mecham về văn minh Bách Việt
hoàn toàn có cơ sở khoa học khi ông ta kết luận
là: “10000
năm trước, Bách Việt đă biết dùng bè đi
trên biển Đông. C̣n học giả Nicholas Tarling th́
ước lượng khoảng 40000 năm trước,
Bách Việt đă biết dùng một h́nh thức bè thô
sơ nào đó để đi đến Úc châu”.
Nếu ta so
chiếu ngôn ngữ hàng hải th́ ta lại thấy ảnh
hưởng của Bách Việt c̣n tràn tới Nam Mỹ,
vùng Sumerien, Lưỡng Hà, Ấn Độ Dương
nữa. Cho nên nói
rằng “lịch sử văn minh Việt tộc (Bách
Việt) tiến trước văn minh Hán tộc nhiều
ngàn năm” là hoàn toàn có cơ sở khoa học
vững chắc. Ấy là ta chỉ nói
đến lịch sử Việt tộc trong ṿng 10000
năm trở lại đây mà thôi.
Ta cần ghi nhớ là: 14000
năm trước th́ người Ariel từ vùng
Xă hội Bách
Việt tự ngàn xưa đă có một nền triết lư
hài ḥa khởi đầu cho việc vợ chồng “phu thê
thiên địa chi đại đạo” (trong trời đất
đạo vợ chồng là cái đạo lớn
nhất), mà đạo vợ chồng là nền tảng
để tạo dựng một xă hội vững
chắc. Cho nên,
những ai nói là Phương Đông (Việt tộc là chính
yếu) không có tôn giáo th́ đây là lối nói sai lạc và
đầy ác ư! Các tôn giáo sau này phát sinh ở
vùng Cận Đông- Lưỡng Hà và ở Ấn Độ cũng
chỉ là sự biến thái của lẽ sống Thuận
Thiên của Bách Việt, rồi được biến
cải thêm nữa để từng bước
đặt nền tảng cho chủ nghĩa cá nhân
(điều này đă từng được chúng tôi nói
đến).
Dân du mục bao
giờ cũng hiếu chiến, dă man, tàn ác hơn so
với dân nông nghiệp, định canh định cư,
nên Hán tộc đă từng bước chiến thắng
Việt tộc bằng bạo lực và đẩy
Việt tộc ra khỏi Trung Nguyên. Cho nên Việt
tộc phải thiên di về phương
1) Dân chúng trong vùng Đại Nam
Hải (Biển Đông hay vùng Đông Nam Á) rộng lớn
đều là người có cùng nguồn gốc Việt
tộc (Bách Việt) cả, mặc dù dân chúng có lai một
chút ít với các sắc dân khác như: Ấn Độ, châu Phi.
2) Văn minh Hán tộc chẳng
có ǵ cả v́ hầu như tất cả đều là
của cướp đoạt được từ
văn minh Bách Việt mà ra.
3) Kẻ ăn cướp th́
luôn luôn muốn chiếm đoạt để biến các
thứ chiếm đoạt ấy thành tài sản riêng
của ḿnh, cho nên giới lănh đạo Hán tộc từ
xưa tới nay luôn chủ trương tiêu diệt hay
đồng hóa các lân bang, đặc biệt là Việt Nam
là vậy. V́ Bách
Việt c̣n th́ Hán chẳng yên thân.
II) Con Đường
Tiến Tới Dân Chủ:
Chúng tôi xin nêu ra mục
đầu tiên mà Cụ Lư đă viết trong cuốn
Huyết Hoa:
“H́nh thức của
văn hóa là sự phản ảnh của đời
sống hiện thực xă hội. Nội dung và kết cấu
của văn hóa, tự thân nó là tổng nghiệp của
toàn thể loài người trong ḍng sống xă hội,
lịch sử và thời đại. Lịch sử loài
người được chép bằng ng̣i bút của máu
diễn tiến, mỗi sử kư lộ ra mỗi đặc
chứng văn hóa. Mỗi sử kư kết tạo bằng
một kiến trúc sử của xă hội và quan niệm
về kinh tế riêng biệt; cái dây nối suốt mỗi
diễn tiến của thời đại, đồng
thời c̣n là những quy luật dẫn dắt cho sự
diễn tiến của thời đại kia là xă hội
biện chứng. Xă hội diễn tiến theo một
biện chứng có khoa học tính, phát triển, phát
triển măi; trong hoài băo của mỗi xă hội thời
đại từng dựng dục cái lư tưởng
của xă hội và thời đại sau, tức là cái
kết cấu hiện thực của xă hội và thời
đại sau.
Cách mạng là công cuộc xoay
đổi thời đại trên một giai đoạn
diễn tiến xoáy trôn ốc có nút đă đến ngày
thành thục của một lẽ sống hàm dưỡng
trong nút bế tắc, cần yếu có một bạo
đột thủ đoạn cởi mở cho dây diễn
tiến đi lên; ư nghĩa và tác dụng của cách
mạng là tu chỉnh và cải tiến xă hội cho sang
được một xă hội hợp lư hơn, hy
vọng hơn, được đi vào một con
đường hợp quy luật, hợp với nguyên
tắc tiến hóa, hợp với tương lai có dự
biết trước có một trông ngóng của lư
tưởng hàm dưỡng tự sâu xa. Mỗi công
cuộc cách mạng sản sinh ra một xuất lộ cho
dân tộc, quốc gia và xă hội. Khởi điểm
của cách mạng đă dựng dục từ trong bào thai
của thời đại cũ, đó là lư tưởng
trong một quá tŕnh tự nó tiến triển để cho
thành thục, thể hiện thực hoàn toàn và y cứ vào
hiện thực mà phát triển tinh thần và nguyên tắc
với tự do và sản sinh ra một lực lượng
đều hoàn toàn là kết quả của hiện
thực, tức là cái xuất lộ của quốc gia dân
tộc và xă hội đương nhiên là sự kết
hợp của nội tại và ngoại tại mà thành
một đường lối với một hiệu
quả dự cầu.”
Trên đây chỉ qua một
trang ngắn ngủi, những ai muốn nghiên cứu
về lịch sử văn minh nhân loại, về lịch
sử của giống ṇi chỉ cần mở rộng cái
tâm ra, khách quan mà xem xét các diễn tiến (tức là
biện chứng) và đặt chúng trong cái toàn cảnh khách
quan và chủ quan (tức là đại biện chứng)
cũng có thể h́nh thành được một nhăn quan
về hiện tại và hướng tiến tới trong
tương lai. Nếu ta đặt diễn
tiến trong phạm vi một quốc
gia th́ đó là tiểu biện chứng, trong phạm vi khu
vực là trung biện chứng và toàn cầu là đại
biện chứng.
Nhiều người trong chúng
ta hay nói rằng: Kết hợp tinh hoa của phương
Tây với tinh hoa của dân tộc làm nền tảng cho
việc xây dựng lại con người Việt
Nếu nói về tinh hoa của
dân tộc ta th́ trong chúng ta (các trí thức Việt
1)
Đạo
học Phương Đông Bách Việt là ǵ ?
2)
Văn
minh Tây Phương là ǵ (các mặt chính yếu của
văn minh Tây Phương) ?
3)
Tại
sao thế giới đang bế tắc nên cần có
một cuộc cách mạng mới ?
Nhiều học giả Tây
Phương khi nghiên cứu về Đông Phương th́
rất lấy làm lạ lùng là:
“Tại sao một dân tộc
nhỏ bé như Việt Nam lại luôn luôn chiến
thắng kẻ thù phương Bắc. Ngay cả khi
Việt Nam hùng mạnh, người Việt Nam vẫn không
chủ trương đánh chiếm lại Hoa Nam vốn
được coi là đất tổ của ḿnh. Trong lănh
vực văn hóa, Việt Nam là nước duy nhất
biết du nhập chữ Quốc Ngữ dựa trên
mẫu tự La Tinh để thay thế cho chữ cổ
(nhưng không mất ư và nghĩa) đă tồn tại
từ rất lâu đời có xuất xứ từ nền
văn hoá Môn - Khmer cổ đại để truyền bá
trong dân gian một cách cực kỳ hữu hiệu như
vậy”?. V́ thế,
họ nghĩ “như
vậy
cái dân tộc này phải có một cái ǵ đó rất thâm
hậu”? Điều
này khiến các học giả Phương Tây phải
để tâm xem xét ngọn nguồn mới
được.
Nhưng hào quang của nền
văn minh Tàu mà đường dây buôn bán tơ lụa và
hương liệu đă làm chóa mắt các học giả
Phương Tây khi họ tiếp xúc với Phương
Đông, nên họ chỉ để tâm t́m hiểu về Tàu mà
thôi. Đương nhiên họ coi các dân tộc nhỏ chung quanh nước Tàu chỉ là phụ
thuộc của trung tâm văn minh Tàu. Vào nửa cuối
thế kỷ 19, khi các chế độ thuộc
địa hoặc đô hộ hoặc nhượng
địa đă được củng cố và đi vào
ổn định thông qua các tương nhượng
giữa các quốc gia Tây Phương (chủ yếu là Anh
và Pháp) với nhau th́ lúc đó giới trí thức Âu châu
mới bắt đầu t́m hiểu về nền văn
minh Đông Phương có bài bản hơn. Nhưng một
lần nữa, ta lại chứng kiến sự
đột phá của trường phái triết học
Đức (nói chung) trong việc t́m hiểu về Đông
Phương chứ không phải là các học giả Anh hay
Pháp, trong khi Anh và Pháp vốn được coi là hai
nước thực dân chính yếu. Điều
này hoàn toàn phù hợp với vị trí của người
Đức khi họ bị gạt ra ngoài vũ đài chính
trị của Âu châu trong suốt thế kỷ 19 và nửa
đầu của thế kỷ 20.
Khi xem xét các luận điểm của Nietzsche,
Kierkegaard, Hegel, Marx, ta thấy: Dù
cho họ có luận bàn ǵ đi nữa th́ ảnh
hưởng của tư tưởng Phương Đông
vẫn bàng bạc xuyên suốt trong các suy nghĩ của các
vị ấy. Dĩ nhiên các suy nghĩ ấy vẫn
lấy tinh thần học thuật Phương Tây làm
nền tảng và tŕnh bày theo cách rất
Phương Tây cho nên thật khó có thể thấy
được là trong các luận điểm phức
tạp ấy, vẫn để lộ ra t́nh trạng tiêu
hóa không trọn vẹn về tri thức. Điều này báo
hiệu một cuộc khủng hoảng tri thức
thực sự đối với Âu châu và báo hiệu
một trung tâm văn minh mới sẽ thay thế Âu châu
để làm đại diện tiêu biểu cho nền
văn minh Phương Tây cách trọn vẹn – đó là Hoa
Kỳ. Hoa Kỳ với chủ nghĩa thực dụng, có
khả năng tổng hợp các cái hay của nền
văn minh Hy-La, thông qua các phát triển mà các quốc gia Âu
châu đă từng bước đạt được
để Hoa Kỳ làm phong phú thêm các nền tảng
của học thuật Phương Tây.
Nhưng sang nửa sau của
thế kỷ 20 th́ vấn đề của cội
nguồn nền văn minh Phương Đông đă
được đặt lại có hệ thống hơn.
Vị trí của nền văn minh Bách Việt trong quá tŕnh
phát triển của nền văn minh Hán tộc đang
được nh́n nhận một cách rơ ràng hơn
để qua thế kỷ 21, vị trí của nền
văn minh Bách Việt sẽ được từng
bước soi rọi, củng cố vững chắc
như là nền văn minh trụ cột của quá tŕnh
phát triển nhiều nền văn minh khác nhau trên trái
đất này, chứ không phải là chỉ với nền
văn minh Tàu không thôi. Như thế, chúng ta
cần phải dồn nhiều nỗ lực vào việc
t́m hiểu tận gốc rễ các giá trị tinh thần
mà tổ tiên ta đă khám phá ra trong thời kỳ sâu
thẳm của quá khứ khi mà tuyệt đại đa
số nhân loại này vẫn c̣n sống dưới
dạng du mục hoặc bán du mục.
Loài người từ Đông sang
Tây vẫn luôn cố gắng t́m cách giải thích
điều không bao giờ giải thích tường tận
được đó là: Loài người sinh ra thế nào
và rồi sẽ đi về đâu?
Tự ngàn xưa, khi trí tuệ
ḷai người c̣n hạn hẹp th́ điều không
thể giải thích được ấy cứ gán cho
một đấng sáng tạo siêu nhiên nào đó là
đủ (như Chúa Trời, Avatar, .v.v..).
Nhưng khi con người đă đạt được
một số tiến bộ nào đó liên quan đến
khoa học vật chất th́ loài người hiểu
rằng: Vũ trụ này quá bao la nên sự giải thích
đơn điệu như vừa nêu là không thể
chấp nhận được. Nhưng càng tiến
bộ, con người càng cảm nhận được
rằng: Điều không thể giải thích tường
tận ấy vĩnh viễn là điều không thể
giải thích tường tận được. Cho nên, trong quá tŕnh phát triển của ḿnh -
tức là trong quá tŕnh tiến hóa đầy phức tạp
và khó khăn ấy, loài người hiểu
được đến đâu về khách quan th́ biết
đến đó mà thôi.
Nhưng lẽ
sống là lẽ thật. Nếu không có vũ trụ bao la
hoạt động liên tục không bao giờ ngưng
nghỉ này th́ không có nắng – mưa, nóng – lạnh th́ không
có trái đất này. Nếu không có cây
cỏ thảo mộc th́ không có muông thú. Nếu không có
muông thú th́ không có con người. Cho nên, ít ra đến
thời điểm này của lịch sử loài
người trên trái đất này th́ con người là cứu
cánh và mục tiêu tối hậu mà chính con người
phải tự t́m cách phục vụ sao cho lẽ sống
thật ấy không ngừng được thăng tiến
lên để loài người ngày càng trở nên có tính cách
người hơn.
Thực ra, trong
điều kiện của khoa học hiện nay, nền
văn minh Liên Hành Tinh mới đang trong giai đoạn
bước đầu chập chững mà thôi. Nếu trong vài ba trăm năm
tới, con người t́m được các nền văn
minh khác với loài người (ta tạm gọi là như
vậy) ở trên các hành tinh khác th́ sao ? Khi đó nhiều nhận định ngày nay
sẽ bị đảo lộn hoàn toàn để loài
người trên trái đấy này biết cách thích nghi
với loài người trên các hành tinh khác. Như thế, trong cái cơi uyên nguyên của vũ
trụ sự hiểu biết của con người
hiện nay vô cùng hạn hẹp. Cho nên,
các sự giải thích về khách quan (cái vô cùng lớn và cái
vô cùng nhỏ) đều chỉ đánh dấu từng
bước phát triển của loài người về
mặt tri thức mà thôi, không có ǵ là măi măi đúng mà cũng
chẳng có ǵ là măi măi sai. Cho nên, loài người phải
biết chấp nhận tiến hóa, chấp nhận
những cuộc cách mạng liên tục về mặt
nhận thức là vậy.
Một con người cụ
thể, một cộng đồng cụ thể, khi
giải quyết một vấn nạn nào đó
thường chủ quan, cho rằng đó là quyết định
hoàn toàn đúng (ở đây ta nói về tôn giáo là chính),
nhưng ta nào đâu biết rằng: Ngoài các dữ kiện
cụ thể mà ta dựa vào đó để đi
đến quyết định và hành động th́ con
người vẫn bị chi phối bởi luật vô
thường của vũ trụ. Ta không thể đi
ngược cái luật vô thường của vũ
trụ được. Để tồn tại và tiến hóa,
ta phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt cái luật vô
thường này, không có một biệt lệ nào cả.
Nhưng trớ
trêu thay, cái luật vô thường này lại không thể
chỉ giải thích bằng quy luật của khoa học
khách quan được (khoa học vật lư) mà cũng chẳng
thể giải thích được bằng cách xé lẻ cái
quá tŕnh suy tư của trí tuệ được. Nếu tách chúng ra
(vật chất và tinh thần) hoặc xé lẻ ra
để xem xét một đọan ngắn ngủi nào
đó trong quá tŕnh suy tư của ḿnh th́ luật vô
thường mà ta vừa nói, sẽ không c̣n trong một
thể thống nhất nữa. Khi
đó, ta sẽ dễ dàng đi vào lầm lạc. V́ các lầm lạc này mà loài người đă
phải trả bằng biết bao máu xương và khổ
ải. Quá tŕnh sống của loài
người quả là một quá tŕnh dài trong việc tự
hoàn thiện lấy ḿnh là vậy.
Như thế, việc tách rời vật chất với
tinh thần ra để nghiên cứu cho mục đích
tiến hóa chỉ có tác dụng tích cực đối
với loài người khi loài người ư thức
được luật vô thường mà thôi. Thiên về
mặt này hoặc mặt kia th́ luật
vô thường không c̣n được tôn trọng nữa,
lúc đó mất quân b́nh xảy ra và xă hội sẽ
loạn lạc.
Cho nên, vũ trụ là thống
nhất, hoạt động theo một
quy luật mà loài người không thể can thiệp hoàn
toàn vào được và măi măi nó cứ hoạt động
như vậy và tác động sâu rộng trong quá tŕnh
tiến hóa của loài người. Nói ǵ đi
chăng nữa th́ cũng chỉ có một vũ trụ này
mà thôi (c̣n vũ trụ lớn ra sao, tự thân vũ
trụ tiến hóa như thế nào là một vấn
đề khác, loài người hiểu đến đâu
th́ biết đến đó là vậy). Cho
nên, Cụ Lư Đông A khi phát biểu về vũ trụ quan,
th́ Cụ mới nói đến Duy Nhiên là vậy (cần so
sánh Nhất Nguyên với Duy Nhiên trong phần về
triết học Tây Phương).
Thế con người th́ sao ? Ngày nay, ta thấy con người có khác
nhau về màu da, ngôn ngữ, tập quán, v..v…Nhưng
từ ngàn xưa th́ con người ra sao? Xin thưa: Ta
chưa hiểu được! Sọ của con
người Homo Erectus mà các nhà khảo
cổ t́m thấy ở Châu Phi chưa quá 2 triệu năm. Khám phá này không giải thích được tại
sao lại có người da trắng, da vàng, da đen.
Con người ngày nay có các tiến bộ vượt
bực so với 100 năm năm trước nhưng
hiện nay loài người vẫn chưa thể t́m
hiểu thấu suốt xem các dăy DNA trong các gene di truyền
đă thay đổi thế nào trong việc thích nghi với
môi trường khách quan chung quanh để từng
bước biến đổi thành da đen, da vàng, da
trắng. Khi không thể giải thích tường tận
được, chúng ta đă vội vă đi đến
kết luận (dựa vào một số tiến bộ mà
quốc gia nào đó đă đạt được) là “kẻ này không phải là
người văn minh, kẻ khác chưa phải là
người “thượng đẳng” mà chỉ dân tộc
ta mới đích thực có văn minh mà thôi”. Kết
luận vậy là hoàn toàn sai! Thế rồi tôn giáo cũng
làm cho con người chia rẽ sâu xa thêm nữa về
những niềm tin do con người đặt ra, về
cách thức thờ phượng đối với các
sản phẩm tinh thần liên quan các vấn đề siêu
linh ở một “cơi khác”, trớ trêu thay con người
đang sống ở xă hội loài người (cơi
người), nhưng không nghĩ cách phục vụ cho cơi
người, mà lại phục vụ cho cái cơi không phải
ở cơi người (cơi siêu h́nh khác cơi người?. Nhưng chính các tôn giáo lại không thể giải
thích được cơi khác đó).
Ít ra cho đến thời
điểm này của lịch sử nhân loại, cho
đến khi “giả định” là con người sẽ
có dịp tiếp xúc với loài người khác ở các
hành tinh khác, th́ trên trái đất này cũng chỉ có
một loài người duy nhất mà thôi. Sự
khác biệt về màu da, vóc dáng chỉ nói lên quá tŕnh thay
đổi về gene nhằm thích ứng với thiên nhiên
của con người. Sự khác biệt về tŕnh
độ hiểu biết, phong tục tập quán là do
tổ chức xă hội, môi trường sống,
điều kiện phát triển và giáo dục chính yếu
tạo ra.
Loài người là
một thể thống nhất mang đầy đủ
tính người.
Dù bạn màu da ǵ, văn minh đến đâu, dù bạn
theo tôn giáo nào, dù bạn sống ở đâu, dù bạn là
nam hay nữ, giàu hay nghèo, kể cả khi c̣n là bào thai th́
bạn vẫn là người và cứ là người
với đủ bản tính đích thực của con
người cho đến khi bạn nhắm mắt xuôi
tay, xa ĺa cuộc sống trên trần gian này. Như
thế văn minh nhân loại bao gồm sản phẩm trí
tuệ, tinh thần nên không có văn minh Khoa Học Đông
hay Tây mà tất cả đều là văn minh khoa học
của nhân loại. Tài nguyên thiên nhiên cũng là sở
hữu của nhân loại nói chung,
chứ không phải là của hoàn toàn riêng một quốc
gia nào (cho nên việc tranh luận về quyền sở
hữu đang được xem xét lại tận gốc
rễ).
V́
thế, Cụ Lư Đông A mới nói đến:
1) Duy Nhân, tức là nói về
bản thể của loài người.
2) Duy Dân, tức là nói
đến loài người trong quá tŕnh tiến hóa của
ḿnh (loài người và xă hội)
3) Duy Nhiên, tức là nói
đến vũ trụ quan trong cái cách thức mà khách quan
tác động lên quá tŕnh tiến hóa của loài
người.
Từ nhận thức có tính
cách nền tảng này, ta sẽ t́m hiểu ngọn ngành
hơn về quá tŕnh h́nh thành của nền văn minh nhân
loại này, trên trái đất này, đồng thời qua
đó, ta cũng sẽ hiểu được những
bế tắc hiện nay của thế giới là ǵ và làm
cách nào để nhân loại giải quyết các bế
tắc ấy hầu đưa con người vào một
thời đại mới tốt đẹp hơn,
hạnh phúc hơn. (xin xem Duy Nhân, Duy Dân
và Duy Nhiên ở đoạn dưới)
* Đạo Học Phương Đông Là
Ǵ ?
Câu hỏi này chưa
được các học giả Phương Đông xem xét
một cách kỹ lưỡng, huống chi là các học
giả Tây Phương. Khi nói đến Phương Đông,
chúng ta thường nói đến Dịch Lư dựa trên
mối tương quan giữa cặp Âm - Dương khi áp
dụng vào mỗi lănh vực khác nhau th́ sẽ đem
lại các lư giải thích ứng cho lănh vực đó. Nhưng Dịch Lư là thể dụng của
một loạt các nhận thức sâu rộng hơn
nhiều mà tổ phụ Bách Việt của chúng ta đă
khám phá ra nhằm dẫn dắt cuộc sống sao cho
thuận thiên, tức là phù hợp với quy luật khách
quan của thiên nhiên, môi trường sống chung quanh
vậy.
Khi tổ tiên ta nói “Nhất
sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh Vạn Vật” th́
điều đó có nghĩa là ǵ ? Nếu giải thích là “Trời - Đất - Người”
th́ tuy đúng và được đa số chấp
nhận nhưng dường như trong chỗ sâu thẳm
của lẽ sống th́ khái niệm ấy vẫn c̣n hàm
chứ nhiều ẩn ư cao siêu hơn so với các suy
nghĩ thông tục của chúng ta ngày nay.
Khái niệm về Nhất Nguyên
(mà tổ tiên ta nói ở đây) nói lên cái lẽ uyên nguyên
của vũ trụ trong việc h́nh thành cặp Âm -
Dương tức là Lưỡng Nghi, từ Lưỡng
Nghi mới sinh ra mọi thức khác về vật chất
cũng như tinh thần. (“Nhất âm
nhất dương chi vị đạo”, âm dương
chính là đạo lớn). Vậy chính khả năng
cô đọng cùng cực này lại làm cho Dịch có
những nét đặc trưng dễ nhất, giản
dị nhất, tuy nhiên khi đạo lớn tỏa ra th́
bao hàm cả trời đất vũ trụ th́ lại khó
nhất, cho nên Kinh và Điển là sự kết tinh
của một nền văn hóa. “Khổng An
Quốc đời Hán có nói rằng: Viêm Việt (bách
Việt) chính là nồng cốt của Lục Kinh”. (chúng ta biết rằng Hán Tộc chỉ
biết đến Ngũ Kinh mà chưa hề nói
đến Lục Kinh). Nên trong chương đầu
của Kinh Thư Khổng An Quốc có viết rằng: “Chúng
ta (ám chỉ người Hán) chỉ biết phần Ngũ
Kinh (ngũ kinh là: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh
Nhạc, Kinh Xuân Thu), nhưng những sách cổ hơn
Ngũ Kinh như: Tam Phần, Ngũ Điển, Bát sách,
Cửu Khâu th́ chúng ta lại không biết”. Ngũ Kinh
là tiếp nhận cổ huấn từ Ngũ
Điển. Tóm lại người Hán xưa và nay không bao
giờ đánh cắp được các Kinh Điển
tinh hoa của Bách Việt dù trải qua nhiều ngàn năm
xâm lăng và cố gắng đồng hóa dân tộc Bách
Việt, đó cũng là một trong nhiều lư do
để giải thích tại sao hơn 1000 năm Bắc
thuộc mà dân Việt không bị đồng hóa là vậy.
Cho nên đă là con người,
với tích cách là người phải sống thuận hoà
với vũ trụ, V́ con người là tổng hợp
hài hoà nhất, cao độ nhất của cặp Âm - Dương
(vật chất - tinh thần, thêm nữa con người do
sự kết hợp Nam - Nữ mà tạo ra). Nếu không
có con người th́ các thứ khác dù có tự hoàn thiện
đến đâu th́ cũng kể như không. Những
thứ này hiện diện không phải do sự vô hạn
của chúng mà chính là do ư thức của con người
đặt vào chúng. Như vậy, con
người là người sinh vật tối linh thiêng trong
vũ trụ này, (nhân ư vạn vật hữu linh) do đó
con người phải là đích điểm để t́m
hiểu và phục vụ. Điều này được
thể hiện khá rơ trong sinh hoạt hàng ngày của xă
hội Việt
Vấn đề
Bách Việt xuống định canh định cư
ở Trung nguyên trước dân tộc Hán bao lâu th́ đó là
một chủ đề của khảo cổ mà không
thể lư giải dễ dàng. Nền văn hóa Môn- Khmer
với chữ viết khoa đẩu đă tạo ra các tác
động ǵ đối với việc h́nh thành chữ Hán
và chữ Phạn sẽ là các câu hỏi lớn của
lịch sử. Nhưng qua các học
giả đă nêu trên th́ “khi Bách Việt đă khởi
đầu cuộc cách mạng nông nghiệp đầu tiên
trên thế giới này, th́ lúc đó các dân tộc khác vẫn
c̣n sống du mục”. Điều này
chứng tỏ là “chính tổ tiên ta đă t́m ra cái
lẽ uyên nguyên của trời đất và vũ trụ,
của các biến hóa khôn lường của cặp
Âm-Dương và đặt nền tảng cho đạo
học ở Phương Đông, lấy con người làm
trục sống và tiến hóa”. Các nền văn minh sau Bách Việt
ngày càng tập trú vào các vấn đề của vật
chất hơn. Chuyện này làm cho xă
hội loài người tiến bộ hơn về mặt
vật chất nhưng cũng đặt ra nhiều
bế tắc mà nhân loại đang phải đối
đầu và đang cố công giải quyết cho ổn
thỏa.
Có người sẽ hỏi: Như thế đạo học
Đông Phương có ǵ là cao siêu đâu mà phải tán dương ? Và nếu so
với lịch sử triết học Tây Phương th́
đạo học Bách Việt chẳng là ǵ cả. So
sánh như vậy là sai lầm!. Như trên đă nói đạo học Phương
Đông dễ nhất giản dị nhất, nhưng cũng
lại khó khăn sâu thẩm nhất. Bởi
v́ cùng một đạo Học mà ra thiện ra ác, ra
tốt xấu, nhơ đục. Đời
con người ta th́ có bờ bến, đạo Học th́
không bến không bờ, như vậy th́ lấy cái bờ
bến mà so sánh cái không bến bờ, ấy là so sánh sai
lầm vậy. Cho nên ta có thể lấy
cái khoa học Tây phương mà t́m hiểu cái đạo
học Đông phương, chứ không ai lấy cái khoa
học để so sánh với đạo học. Cái
ǵ là nơi bắt đầu của muôn vật, nó tự
nẩy ra Âm, Dương, rồi “Âm, Dương giao thông
thành hóa mà sinh vật ?”. Ta phải
lấy cái con người đă biết để đi t́m
cái chưa biết, “biết” rồi phải xem xét suy
ngẫm trong cái vũ trụ man mác huyền minh để
chúng ta t́m ra Đạo. Tóm lại Đạo lúc nào cũng
giữ cho trời với người luôn thăng bằng
để con người sống đúng ư nghĩa
đạo, hiểu được như vậy ta
phải nhất mực luôn luôn giữ cho “Trực tiết
Tâm hư” mới được. Tâm càng chính
th́ càng cộng thông với trời đất cao hơn và
cuộc sống mới xứng đáng là Người
hơn.
* Thế giới này loạn
lạc v́: “Do cái Tâm bất chính mà ra”!
Có người sẽ nói:
Thế th́ đạo học Bách Việt Phương Đông
đâu có so sánh được với Khổng Tử
với phần “H́nh Nhi
Thượng” và “H́nh Nhi Hạ” đă nói lên hết
rồi. Thưa là: Khổng học chỉ là một
bản sao chép bất toàn của đạo học Bách
Việt đích thực mà ra.
Bởi v́ Khổng Khâu lấy đời nhà
Có người lại nói: Làm
sao đạo học Bách Việt có thể so sánh
được với đạo Chúa, đạo Phật.
Thưa là: Đă nói rằng các tôn giáo đều có một
nguồn gốc chung từ đạo
học Bách Việt mà ra. Điều này không
thể chối căi, cho nên sự xuất hiện một
Khổng Tử chỉ là để đáp ứng với xă
hội Hán tộc sau khi đă chiếm được vùng
Thái Sơn (tức là Trung nguyên, vùng đất tổ
của Bách Việt). Trước Hán tộc, là nhà Chu
hay nhà Châu từ phía Tây tiến dần đến
định cư ở Thiểm Tây, nên gọi là nhà Tây Chu.
Nhà Tây Chu trước học văn hóa của nhà
Thương rồi dần dần cảm hóa theo
văn minh Hoa Hạ và sau đó đánh chiếm nhà
Thương, lập nên nhà Tây Chu, sau nhà Tây Chu dời sang
phía đông nên gọi là nhà Đông
Ta
cần để ư là thời Đông Chu có đến 800 chư hầu. Như thế, kế của nhà Chu là tạm
thời chấp nhận sự tồn tại của
một số bộ phận Bách Việt mà nhà
Đạo Brahman cổ
được được thi hành bởi tầng
lớp dân chúng nghèo khó bản địa khác với
chủng tộc xâm lấn Aryan ở phương Bắc là
một nghịch lư trong cuộc sống của xă hội
Ấn Độ. Bên Tàu có vua thay trời trị v́ thiên hạ
nhưng do truyền thống đạo học Bách Việt
c̣n có ảnh hưởng nên ở Tàu, đặc biệt là
trong nhóm Bách Việt không có giai cấp theo kiểu cha
truyền con nối hay phong kiến (ở triều đ́nh
th́ khác) và việc h́nh thành các gia đ́nh có tài sản lớn
là một cái ǵ đó gây ra nhiều áy náy trong tâm hồn
người Bách Việt (ở Tàu th́ vấn đề này
nhẹ hơn v́ họ chỉ chịu ảnh hưởng
của Bách Việt một phần mà thôi) nhưng qua
đến Ấn Độ th́ vấn đề giai cấp là
đạo của họ, là đặc quyền của ṇi
giống Aryan với đa số dân chúng bản địa
nghèo khó. Đạo Brahman xác định cái
trật tự giai cấp ấy. V́ thế đạo
Phật là sự thoát thai của Ấn Độ Giáo trong hoàn
cảnh Đức Phật thấy sự bất công của
Ấn Giáo (giới Bà La Môn) với tầng lớp dân chúng
bần cùng nghèo khổ.
Với đạo
Chúa th́ sự thể đă khác nhiều. Đạo Chúa là cả một
sự tổng hợp của đạo học Bách
Việt (qua ư tưởng Thiên Chúa Ba Ngôi “Chúa Cha, Chúa Con và
Chúa Thánh Thần”), lập căn bản trên khái niệm “Tam
Tài – Thiên, Địa, Nhân” cùng với sự mở rộng
khái niệm về sự b́nh đẳng, bác ái và huynh
đệ trong điều kiện dân Do Thái bị một
cổ hai tṛng (Do Thái bị đế quốc La Mă cai
trị thông qua các quan tay sai ngọai quốc). Như
thế, đạo Chúa phát nguyện như là một
phương tiện đấu tranh tư tưởng
nhằm lật đổ chế độ chiếm
đóng La Mă là trước hết, thông qua các điều
răn mà Môi-Sen đă rao giảng thời Cựu
Ước, (sau chúa Jesus mới có Tân Ước) nhân danh
đấng Thượng Đế chí tôn như một
biểu tượng tối ư linh thiêng.
Khi đạo Chúa du nhập vào
La Mă vào thế kỷ thứ 3 bởi Hoàng đế
Constantine th́ La Mă thế quyền đă mở ra một
lối thoát mới cho đạo Chúa và làm cho đạo Chúa
ngày càng trở nên tông quyền hơn (nói theo Cụ Lư: “Chúa
Jesus đâu muốn tạo ra Tông Quyền”), cuộc
tranh chấp liên lỷ giữa thần quyền và thế
giới La Mă sau thế kỷ
6 (sau Tây Lịch) nhằm h́nh thành các quốc gia Âu Châu
vào thế kỷ 13, mà biên giới đă được nh́n
nhận cho đến ngày nay đă từng bước
đặt nền tảng cho một hệ thống xă
hội phân chia giai cấp (như tại Ấn Độ)
trong khi đạo chúa được nh́n nhận (hoặc
phải được nh́n nhận) như một tôn giáo
chính có khả năng kết hợp các bộ tộc Âu Châu
lại với nhau nhằm ḱnh chống lại các nhóm Ả
Rập mà vào thế kỷ 7 Mohamet cũng bằng con
đường tông giáo đă kết hợp các nhóm du
mục với người Ả Rập để h́nh thành
một thế lực chính trị có khả năng đe
dọa an ninh của La Mă.
Cuộc
xâm lăng của Mông Cổ vào thế kỷ 13 đă là
nguyên nhân chính trong thời Trung Cổ làm cho Hồi Giáo phát
triển rất mau, cuộc chiến tranh lạnh vừa
qua là một cơ hội khác nữa đối với
Hồi Giáo Ả Rập.
Chỉ
điểm sơ qua quá tŕnh phát triển của tôn giáo trên
quy mô toàn cầu trong gần 3000 năm qua, cũng
đủ cho thấy, đó là một quá tŕnh ngày càng
trở nên vật chất hơn ngày càng xa ĺa cái khởi
điểm nhất nguyên của đạo học của
đạo làm người. Bản chất
của các bất ổn trên thế giới hôm nay bắt
nguồn từ đây và nếu muốn canh tân và cải
cách thế giới th́ mọi việc cũng phải
bắt đầu từ đây vậy. Bởi chưng
Bách Việt với đạo học là tượng
trưng cho tinh túy của tinh thần, nhưng qua Hán tộc
th́ yếu tố tinh thần đă bắt đầu
giảm xuống yếu tố vật chất bắt
đầu tăng lên, để theo thời gian khi văn
minh nhân loại càng di chuyển về hướng Tây
(lấy Bách Việt làm chuẩn) th́ yếu tố vật
chất càng gia tăng, mà đỉnh cao nhất đạt
đến khi văn minh nhân loại chuyển đến
Hoa Kỳ hiện được coi là biểu tượng
toàn bích của nền văn minh vật chất vậy.
* - Bàn
về Triết Tây Phương:
Cụ Lư
đă nói:
* - “Triết học là thống quan của con
người”
Nghĩa là
triết học đặt nền tảng c̣n cách thức
mà con người suy nghĩ và hành động. Như thế khi bàn về tôn giáo mà không bàn về
triết học sẽ là một sự thiếu sót nghiêm
trọng. Nhưng triết học
cũng là một môn học t́m hiểu về cái cách
thức làm cho loài người được sống
hạnh phúc hơn, được viên măn hơn trong
đời ḿnh và cả đời sau ḿnh nữa.
Nhưng thái cực diễn biến liên tục thông qua
cặp Âm- Dương, điều này làm cho con người
qua cuộc sống của ḿnh phải nương theo thái
cực để sinh tồn nhưng không thụ
động, thụ động về mặt tri thức
tức là đă biến gần đến t́nh trạng vô
tri hoặc theo bản năng là vậy. Cho nên cuộc
sống vốn gồm hai mặt âm và dương, vật
chất và tinh thần cùng kết hợp không thể tách
rời nhau; đó không phải là hai mặt của một
vấn đề như quan niệm đơn giản
của nhiều học giả chỉ biết sử
dụng kỹ thuật phân tích thuần túy nhằm va
chạm sự thật, nhưng khi tách ra th́ sự thật
không c̣n là sự thật nữa. Kết
quả tất yếu là anh đă đi lạc
hướng. Đó là t́nh
trạng của triết học Phương Tây và cũng
là sự bế tắc của triết Tây Phương
vậy.
Bây giờ ta hăy xem xét đôi
điều liên quan đến liên quan đến sự
bế tắt của triết học Tây Phương:
Văn minh nhân loại là một thể thống nhất và
là tài sản chung của toàn thể loài
người. Mỗi bước tiến đều đánh
dấu một quá tŕnh Duy Dân biện chứng đấy
thôi, cho nên sự phân biệt ra triết Tây Phương
(ở đây là để nói về trường phái
triết học được h́nh thành ở Âu Châu)
được lập căn trên sự nghiên cứu về
quá tŕnh tiến hóa của loài người với tính cách là
Người (tức là tinh thần và vật chất).
Cái nôi triết học Tây
Phương có căn bản từ Thiên Chúa Giáo La Mă kết
hợp với nền tảng tri thức đă học
được từ các học giả Hy Lạp, Ai
Cập và Lưỡng Hà khám phá ra trong thời gian khoảng
gần 2000 năm trước Thiên chúa giáng sinh.
Trong thời gian dài
đến hơn 10 thế kỷ, sự độc tôn
của giáo hội Thiên Chúa Giáo đă chấm dứt hẳn
cái cách suy tư độc lập hơn tinh thần hơn
mà các học giả Hy Lạp đă đặt nền
tảng ngay từ thế kỷ Thứ 6 trước Công
Nguyên. Nền văn minh Hellenic (Greek - Hy Lạp) xét theo một
khía cạnh nào đó là một bước tiến thực
tiễn hơn so với đạo học của Bách
Việt được lập căn thuần túy trên tinh
thần, nên Bách Việt bị giống man rợ là Hán
tộc xâm lăng làm suy yếu đi trước khi bị
Hán tộc thôn tính.
Trong bối
cảnh ấy, muốn t́m một cách thức nào đó
để tồn tại các học giả Âu Châu cố
phải tránh xa mọi sự suy tư về tôn giáo vẫn
là độc quyền của giáo hội ở
Ta không loại bỏ các
ảnh hường rất tích cực của học
thuật phương Tây khi tập trung nghiên cứu phát
triển về các lănh vực liên quan đến khoa học
vật chất, điều này làm cho phương Tây
tiến bộ rất nhanh về phía trước, nhưng
nói như vậy không có nghĩa là các tiến bộ ấy
là miên viễn và bế tắc không phải là không xảy
ra; bế tắc là bế tắc đó là một thực tế
vậy.
Đỉnh cao của
triết Tây Phương là khi họ đề ra biện
chứng pháp lập căn trên cặp Chính đề -
Phản đề để h́nh thành Hợp đề,
để rồi hợp đề nọ lại trở thành một chính
đề của chu tŕnh kế tiếp với một
phản đề và hợp đề mới. Đó là một quá tŕnh liên tục không bao giờ
ngưng nghỉ áp dụng với mọi loài, mọi
vật. Trước hết khoa biện chứng không
thể so sánh được với khái niệm đạo
học Bách Việt đă đưa ra từ:
* - “thái cực- âm dương - tứ tượng”.
* - “nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh
vạn vật”.
Bởi v́ khoa biện
chứng đă không giải thích được chính
đề đầu tiên là ǵ?. Chính
đề đầu tiên ấy trong quá tŕnh sinh diệt
của ḿnh là tự phát khởi hay do và v́ con người mà
chính đề ấy h́nh thành, hiện hữu và
được đặt cho một tên gọi.
Bởi v́ chính ư
thức của con người đặt vào chính
đề ấy nên chúng mới hiện hữu cho nên con
người mới là tâm điểm để phục
vụ; tách vật chất và tinh thần ra th́ chỉ
một bước tới cơi hư vô là vậy.
Cho nên
đỉnh cao của triết Tây Phương cũng là
đỉnh cao của bế tắc đối với tri
thức Tây Phương là vậy (ta cần ghi nhớ
điều ấy).
Chúng ta tiếp tục đào
sâu hơn nữa về quá tŕnh chuyển hóa của
triết Tây Phương đối với con người
đặc biệt trong thế kỷ 20 này.
Học giả
Tây Phương bàn luận nhiều vấn đề
rất ư lạ lùng. “Tiền Hậu Hữu Vô” khi họ nêu ra vấn
đề vật chất và tinh thần cái nào có
trước? câu hỏi này dẫn
đến việc h́nh thành hai trường phái nhất
nguyên luận duy tâm (tinh thần có trước) và nhất
nguyên luận duy vật (vật chất có trước)
họ cũng nêu ra câu hỏi là: “Vật chất và tinh
thần cũng tồn tại song hành”. Điều
này là nhận định cơ bản của phái nhị
nguyên luận.
Khách quan mà đánh giá cả
hai phái nhất và nhị nguyên luận đều
đặt căn bản trên một nền tảng sai
lầm. Bách Việt giải thích “Nhất
Thể Sinh Lưỡng Diện” một cách đơn
giản và rất chính xác:
- “Nhất thể được sinh ra bởi khí hạo
nhiên của trời đất, tất cả là do ư
thức con người định đặt vào đó mà
nó tồn tại, nếu không có con người th́ không có
tất cả, cho nên vấn đề chính là con
người chứ không phải là các hiện tượng
vốn được coi là khánh thể”.
Sự bế tắc của
trường phái triết học Âu Châu lục địa
mà tiêu biểu là trường phái Đức, dường
như có những biểu hiệu muốn trở lại
với cái uyên nguyên của trời đất (nhưng
chưa đủ tri thức, t́nh trạng xă hội chưa
chín mùi), trong khi đó hướng tiến tới của
triết học Tây Phương vào giữa cuối thế
kỷ 19, được dẫn dắt với nhiều
nhóm khác nhau có tinh thần thực dụng hơn qua việc
đa số họ đều tập trung nghiên cứu
về cách thức cải thiện cuộc sống của
con người về mặt vật chất. Mặc dù
tiền căn của cao trào thực dụng chủ
nghĩa này đă được phát khởi từ rất
lâu trước đó (như Diderot, JJ Rousseau...), nhưng nó
đă nở rộ vào giữa cuối thế kỷ 19 để
sang đầu thế kỷ 20 th́ một loạt các
trường phái mới được h́nh thành nhằm
nghiên cứu về khía cạnh vật chất của
cuộc sống con người.
Nhiều người nghĩ
rằng chủ nghĩa thực dụng được
cổ vũ tại Mỹ là một đặc thù trong xă
hội Mỹ, một xă hội được lập
căn trên việc thờ phụng tuyệt đối
thần vật chất; nghĩ như vậy là hoàn toàn sai,
nó sai v́ chỉ dựa vào một số sự quan sát,
một thiểu số biểu hiệu tiêu cực trong xă
hội Mỹ như: Tệ nạn thờ tiền bạc
nhằm phục vụ tối đa nhu cầu vật
chất của một ai đó mà thôi, nó sai v́ chỉ
dựa vào các hành động của nước Mỹ
(tức là chính trị) đối với thế giới,
các hành vi ấy chỉ dựa vào một ư đồ duy
nhất là v́ quyền lợi của ḿnh là trên hết. Không ! như vậy nếu người Mỹ
sống như vậy th́ đâu có ǵ là lạ. Nó trở nên
lạ là v́ xứ này quá tự do để một
người có tiền th́ có quyền sử dụng
tiền bạc của họ theo ư họ, điều này
tạo ra các tác động kinh tế để khuyến
khích họ làm việc, Hoa Kỳ chấp nhận các hệ
lụy tất yếu ấy như là một cái giá phái
trả cho sự tự do vậy.
Tất cả các cá nhân
ấy dù tổng hợp lại không nói lên được
nước Mỹ thực tế qua cuộc sống
của các trí thức đích thực của nước
Mỹ, cũng như qua các đường hướng lâu
dài mà nước Mỹ làm và sẽ làm nhiều nửa cho
thế giới trong tương lai.
Thực ra th́ chủ nghĩa
thực dụng tại Mỹ đă có tiền căn
từ Âu Châu thời Trung Cổ và từng bước xác lập bởi nhiều
tầng lớp trí thức Âu Châu khác nhau trong suốt
mấy thế kỷ liền, để càng ngày càng
hướng xă hội Phương Tây vào con
đường truy t́m thăng tiến nền văn minh
vật chất mà thôi.
Nhưng trớ trêu thay, Âu
Châu không ứng dụng được cái thành quả
ấy v́ xă hội Âu Châu vẫn c̣n bị quá khứ
lịch sử đè nặng, các quốc gia và chủng
tộc mâu thuẫn nhau kềm kẹp lẫn nhau để
không thể h́nh thành được hướng đi
chủ đạo. Chỉ khi trung tâm văn minh thế
giới di chuyển đến Bắc Mỹ th́ các hạt
giống mà Âu Châu cố công nuôi dưỡng mới có cơ
hội lớn lên một cách toàn diện, cho nên chủ
nghĩa thực dụng phát khởi tại Mỹ là
một tất yếu lịch sử, tự thân nó, chủ
nghĩa thực dụng không phải là thấp hèn như
nhiều người nghĩ (nhất là nhiều ông
Việt Nam thuộc phái Âu Châu học và phái Tàu học); mà nó
là đỉnh cao ngất trời của chiều
hướng hướng về vật chất của
nền văn minh phương Tây nói chung. Ở Bắc
Mỹ các tiến bộ khoa học, cấu trúc xă hội
khung cảnh về kinh tế mới đủ điều
kiện để từ đây xă hội Hoa Kỳ trở
thành một xă hội tiêu thụ thứ thiệt mà cả
loài người đều ước ao trong suốt
mấy chục thế kỷ qua. Nhưng
cũng ở Bắc Mỹ này các bế tắc của
thế giới hiện đại mới có điều
kiện để lộ ra hết thảy các chân
tướng của nó.
Thế giới
bị hư th́ phải sửa, sửa từ đâu?
* - “Lấy óc mà chửa bệnh óc”
là vậy.
(Trích Huyết Hoa - X.Y. Thái
Dịch. Lư Đông A)
* - Bế
Tắc Của Thế Giới:
Triết
học vốn là thống quan đối với loài
người; nhận định này hoàn toàn đúng v́ khi ta
suy nghĩ ta cứ tưởng rằng ta dựa vào các
dữ kiện thực tiễn và chính xác nhất để
đi đến một quyết định và từ
quyết định ấy ta đi đến một hành
động, nhưng nội cách ta suy nghĩ, cách ta nh́n ra
sự vật cũng đă nói lên rằng trí tuệ ta
bị chi phối bởi một cái ǵ đó sâu thẳm mà ta
chẳng hay, ta không thể nói đó là vô thức
được, v́ vô thức là sản phẩm của vô
thức; mà ta phải nói; Đó là dạng tri thức nói
những điều tri thức, kẻ thiếu tri thức
nói điều thiếu tri thức là vậy.
Cho nên khi bàn về các bế
tắc hiện nay của loài người, trong phần trên
đă đi ngay vào hai lănh vực cốt lơi đó là: Tôn giáo
và Triết học là vậy.
Trải qua nhiều ngàn
năm kể từ khi con người có và viết lịch
sử (giai đoạn đầu bị mất mát rất
nhiều), th́ đạo học Bách Việt đă t́m
thấy lẻ uyên nguyên của vũ trụ và cách thức
mà cần biết để sống và tồn tại trong
điều kiện vừa phải khắc phục thiên
nhiên để sống, nhưng đồng thời vừa
phải thuận thiên để tồn tại (thuận
Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong - Thiên đây
là thiên nhiên).
Quan sát quá tŕnh chuyển
dịch của các trung tâm văn minh khởi đầu
từ Bách Việt ra ta thấy rất rơ là: Càng chuyển
về hướng Tây (tức là càng xa Bách Việt bao nhiêu)
th́ văn minh càng nặng về vật chất bấy
nhiêu. Nhân loại gọi đó là tiến bộ nhằm
giải phóng con người khỏi các ràng buộc do
lịch sử để lại, đó cũng c̣n là một
quá tŕnh đào thải không khoan nhượng giữa cái
cũ và cái mới nhằm thống nhất loài
người lại trên căn bản mới, đó cũng
là tiến tŕnh biện chứng toàn diện và đích
thực vậy. Tiến tŕnh ấy đă
từng tạo ra nhiều nút bế tắc và mỗi
một nút bế tắc ấy thường
được đánh dấu bằng những bước
bạo đột như để mở cho dây diễn
biến được đi lên. Nhưng
khi nhân loại này chưa đủ văn minh th́ các nút
bế tắc ấy thường giới hạn trong
một khu vực nào đó thôi và sự nguy hiểm
đối với sự tồn vong của loài
người cũng ở trong mức độ giới
hạn.
Quá tŕnh
giải phóng con người tăng tốc trong chưa
đầy 200 năm qua khi chủ nghĩa thực dân
được thành h́nh đă đặt ra cho nhân loại
này biết bao vấn đề vô cùng phức tạp,
tệ hại thay chưa một thế lực nào
đủ sức giải quyết các bế tắc ấy
đến nơi đến chốn.
- Dưới đây ta hăy bàn
đôi điều về vấn đề này:
1) - Vấn Đề Chủng
Tộc:
* - X.Y.
Thái Dịch Lư Đông A nói: Nhân loại là nhất nguyên bao
gồm nhiều sắc tộc của một chủng
tộc hoặc nhiều chủng tộc nghĩa là con
người là một thể thống nhất mang
đầy đủ Tính Người vô luận màu da, ngôn
ngữ, nên gọi là Thống Nhất Tính. Sự khác
biệt giữa điều mà ta gọi là chủng tộc
chỉ là thể hiện quá tŕnh thích nghi với các điều
kiện sống khách quan mà con người đă trải
qua, cho dù các quá tŕnh ấy có khác nhau và lẽ
đương nhiên tạo ra các nền văn hóa khác nhau,
nhưng nh́n chung quá tŕnh ấy đều nói lên điều
cốt lơi và chung nhất: Đó
là quá tŕnh thống nhất tính của biện chứng Duy
Dân.
Sự khác biệt giữa các điều mà
ta gọi là quốc gia càng xác nhận các tiến tŕnh Duy Dân
biện chứng ấy, v́ điều mà ta gọi là
quốc gia là biểu hiệu rơ nét nhất trong tiến
tŕnh hợp nhất giữa những con người tự
cảm thấy rằng họ đều có chung
một quá khứ lịch sử. Một giá
trị tinh thần để bảo trọng và một nhu
cầu cần hợp nhất để tồn tại,
để khắc phục thiên nhiên, nhưng cũng là
để chống lại những thế lực khác luôn
muốn thôn tính và tiêu diệt họ.
Quá tŕnh h́nh thành các h́nh
thức khác nhau của việc điều hành một
cộng đồng (từ nhỏ là bộ tộc, công xă,
quốc gia...) đều đánh dấu từng bước
tiến trong việc sắp đặt một trật
tự cho cộng đồng ấy với sự thỏa
hiệp của các thế lực được h́nh thành
từng bước một trong tiến tŕnh tiến hóa,
đấu tranh để sinh tồn, để giữ
vững cái không gian sinh tồn (space vital) cho cộng
đồng ḿnh đang sinh sống.
Như
thế Duy Dân biện chứng là một tiến tŕnh đi
lên liên tục, thống nhất, toàn diện giữa loài
người với nhau; nói một cách khác: Đó là một
tiến tŕnh cách mạng liên tục luôn hướng
thượng về mọi mặt và luôn tương tác
với nhau nhằm tạo ra các bước đột phá
mới để mở đường cho nhân loại
tiến lên về phía trước. Đó là cả một
chu tŕnh không bao giờ dứt v́ tiến hóa là liên tục nên
bước đột phá của ngày hôm nay sẽ trở
thành một cản trở của ngày mai, cho nên ngày mốt
nhân loại cần thực hiện một bước
đột phá mới với những nổ lực lớn
hơn nữa để đẩy văn minh nhân loại
tiến nhanh về phía trước với vận tốc
cao hơn nữa so với quá khứ.
Lịch sử của nhân
loại này được làm nên bởi mọi
người với tính cách Là Người, nhưng
hướng đi thường được định
đoạt bởi một vài cá nhân nào đó mà sứ
mệnh của họ dường như được
sinh ra, dưỡng dục và điều kiện khách quan
bên ngoài đặt họ vào trong một vị trí phải
thực hiện các bước đột phá ấy,
phải làm những việc có tác động sâu xa lâu dài
đối với quá tŕnh tiến hóa của loài
người nói chung.
Đức Phật, Chúa Giê
Su, Alexander Macedonia, Albert Einstein, các tổ phụ của
nước Mỹ đều là điển h́nh tiêu biểu
đánh dấu các mốc quan trọng trong quá tŕnh diễn
tiến của loài người nói chung vậy.
Quan sát một cách toàn
diện - tức là đặt các biến cố trong toàn
bộ tiến tŕnh phát triển của văn minh nhân
loại - ta luôn thấy một điều rất kỳ
thú đó là: Trong khi lực tiến về phía trước
h́nh thành (tức là ṿng quay h́nh thành trung tâm văn minh
mới), th́ lịch sử nhân loại luôn xuất hiện
các lực cản trở có khuynh hướng muốn xoay
ngược trở lại với hướng tiến
tới phía trước.
Ta hăy xem, khi đạo
học Bách Việt chuyển đến Ấn Độ
để h́nh thành nền văn minh Ấn Độ
với đạo Brahman trở nên vật chất hơn,
áp bức hơn để tạo ra tiền đề cho
sự xuất hiện của Phật Giáo với 8 vạn 4000
pháp môn, nhưng khi chuyển đến Lưỡng Hà
để thành nền văn minh Lưỡng Hà (mà
người Kurd mới là cha đẻ nền văn minh
này) để tạo điều kiện cho sự xuất
hiên của Abraham cũng như các nền văn minh Hy
Lạp, Ai Cập và La Mă. Quá tŕnh chuyển dịch này
lại là tiền đề cho sự xuất hiện
của Alexander Macedonia mà qua các chiến dịch của ḿnh,
ngoài ư đồ quân sự thuần túy ta phải nh́n
nhận rằng: Ông cũng c̣n muốn t́m đến cái
nguồn gốc sâu xa của cội nguồn của văn
minh nhân loại nữa. Dăy Hy Mă Lạp Sơn đă là
một cản trở thiên nhiên để Alexander Macedonia không
thực hiện
được tham vọng của ḿnh
nhưng ông đă đóng góp không nhỏ vào việc làm cho
phương Đông (đối với La Mă) yếu đi,
để tạo điều kiện cho việc h́nh thành
đế quốc La Mă sau này, khi người La Mă biết
kết hợp sức mạnh t́nh thần của Hy Lạp
với sức mạnh vật chất mà bài học của
Alexander đă để lại cho họ.
Khi Trung tâm văn minh La Mă
bắt đầu suy tàn, điều này được
đánh dấu bằng hơn một thế kỷ Thập
Tự Chinh với người Ả Rập, biến
cố đó mở đầu cho việc h́nh thành các nhà
nước Âu Châu vào thế kỷ thứ 13 tiếp theo
cuộc xâm lăng của Mông Cổ. Chính qua cuộc xâm
lăng này mà một liên minh La Mă - Âu Châu được h́nh
thành một cách lỏng lẻo. Ta gọi là lỏng lẻo
v́ Âu Châu muốn lật La Mă nhưng chưa đủ
sức, La Mă muốn tồn tại th́ họ phải
cần đến Âu Châu như là một sân sau an toàn
của La Mă nên cuộc chiến với Mông Cổ là một
bài học đáng ghi nhớ.
Ở một khía cạnh khác
th́ cũng qua cuộc chiến này, phương Tây hiểu
rằng: “tin đồn về văn minh của
phương Đông là không đúng, v́ Mông Cổ đă thể
hiện nguyên h́nh của một đạo quân du mục nên
không thể so sánh với hành động của
Alexander Macedoine xảy ra 15 thế kỷ trước
đó” . Phương Tây khinh thường
phương Đông từ đây.
Cuộc đấu tranh
giữa Âu Châu với La Mă dĩ nhiên vẫn tiếp
tục, Âu Châu hiểu La Mă chỉ dựa vào vũ khí tôn
giáo để thu phục ḷng dân Âu Châu (cũng là để
khống chế Âu Châu), như vậy nếu muốn làm cho
La Mă bị khuất phục th́ con đường duy
nhất là tạo dựng sức mạnh thông qua các khám phá
phi tôn giáo, lấy khoa học tự nhiên làm nền tảng
để La Mă không thể thống nhất lực
lượng nhằm đánh lại các quốc gia Âu Châu khi
các quốc gia này trong giai đoạn mới h́nh thành và
giữa họ với nhau vẫn c̣n các mâu thuẩn nhất
định.
Các khám phá ấy từng
bước một đă đóng góp không nhỏ vào việc
h́nh thành nền văn minh Âu Châu ngày càng thoát khỏi cái bóng
của La Mă thần quyền, đồng thời cũng
tạo ra các cách biệt ngày càng sâu rộng hơn với
phương Đông mà Âu Châu thực ra chưa hiểu
nhiều (khi khám phá ra Châu Mỹ, Âu Châu cứ tưởng
rằng đó là Ấn Độ). Đó
cũng là tiền đề của cao trào phản kháng
đối với La Mă được thực hiện
bởi Anh, Đức để mở đầu cho
cuộc cách mạng công nghiệp và xă hội trong thế
kỷ 19. Nhưng ở khía cạnh khác cuộc cách
mạng công nghiệp tuy làm cho La Mă yếu đi để
lần hồi trở thành một thế lực chỉ c̣n
chi phối trong lănh vực tôn giáo thuần túy thôi, nhưng
nó lại làm gia tăng thêm các mâu thuẫn giữa các
quốc gia Âu Châu với nhau, giữa các giai cấp mới
được h́nh thành qua cuộc cách mạng công
nghiệp với tầng lớp lao động nghèo khó,
vốn dĩ có nguồn gốc là các công dân tự do
được giới quí tộc trả tự do nhưng
không có đất để canh tác để sinh sống
nay trở thành lực
lượng lao động chính yếu chiếm đa
số trong xă hội, nên bị giai cấp mới giàu bóc
lột sức lao động mà không hề có luật pháp ǵ
ngăn cản lại được.
Bóc lột sức lao động trong nước mới là
một mặt của thảm kịch mà thôi, cuộc cách
mạng công nghiệp c̣n mở đầu cho cao trào đi
xâm lăng chiếm thuộc địa nhằm khai thác tài
nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân các
quốc gia khác nữa. Thảm kịch của Âu Châu này
trở thành thảm kịch toàn cầu v́ Âu Châu không
hề thực hiện bất cứ một cải cách nào
ngay cả với xă hội Âu Châu chứ nói chi đến
cải cách tại các quốc gia họ đă xâm lăng và
chiếm làm thuộc địa.
V́ thế
sự xuất hiện của Karl. Marx
chính là một tất yếu lịch sử vậy.
Nhưng Karl Marx cũng lại đưa ra một cái
bất toàn đầy khiếm khuyết để nhằm
sửa chữa lại một xă hội đầy hư
hỏng hơn, v́ bản chất của học thuật
ấy là t́m cách thăng tiến đời sống con
người về mặt vật chất mà quên đi
yếu tố tinh thần nơi con người, cho nên mâu
thuẫn gia tăng là
thế.
Nhiều
người tự hỏi: nếu không có sự hiểu
biết về mặt tinh thần, làm sao học thuật
phương Tây phát triển được? đúng!
Nhưng cái tinh thần cốt lơi của
học thuật phương Tây đă được
định hướng ngay trong yếu tố vật
chất, cho nên xă hội phương Tây bất quân b́nh
nghiêm trọng giữa hai yếu tố làm cho loài
người trở nên Người. Đó
là “vật chất với tinh thần”.
Ta
với người tuy hai mà một
Người
với ta tuy một mà hai.
... là vậy.
2) - Vấn Đề Tôn Giáo
Tôn giáo theo
cái nh́n từ Ấn Độ đến Âu Châu qua
đến Hoa Kỳ hiện nay chưa chứa đựng
trong tôn giáo các nền tảng của tôn giáo đích
thực. Tôn giáo đích thực chính là “đạo học
làm người” đạo học làm người
mới thực là đạo của các đạo,
đạo học làm người khó lắm thay! “Ôi đạo học khó thay! Cùng
một cái học mà ra thiên tài, mà ra nô tài, mà ra nhân tài. Cho nên
dạy người hay cầu học tóm lại có ba
phương châm:
1. Nuôi tâm sinh thiên tài.
2. Nuôi óc sinh nhân tài.
3. Nuôi thân sinh nô tài.”
(trích
Huyết Hoa - X. Y. Thái dịch Lư Đông A).
Nhiều
người nghĩ rằng: thực tế th́ chủ
nghĩa thực dân có đem lại nhiều cải
tiến cho thế giới đấy chứ. Điều
này không phủ nhận, nhưng có cải tiến không có
nghĩa là không có các di hại lớn lao.
Các di hại ấy có thể tóm gọn trong hai điều
sau đây:
a- Tạo ra t́nh trạng
bất quân b́nh giữa các chủng tộc và trong cùng
một chủng tộc trong phạm vi
lănh thổ cụ thể nào đó.
b- Thúc đẩy toàn loài
người hướng về một thứ tôn giáo
thờ thần vật chất trong điều kiện tài
nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, kỹ
thuật chưa thể đáp ứng được
với các đ̣i hỏi lớn lao đó, nhân loại
chưa t́m được phương cách nào có thể hóa
giải được các mâu thuẫn về tôn giáo về
chủng tộc đang càng ngày càng trở nên nguy hiểm
đối với tương lai thế giới.
3) - Bế
Tắc Về Chủng Tộc Quốc Gia:
Chủ
nghĩa thực dân đă dùng sức mạnh vơ lực
để thôn tính nhiều vùng rộng lớn đặc
biệt là tại Châu Phi, đặt các vùng rất khác
biệt về văn hóa chủng tộc ấy dưới
quyền cai trị của nhà cầm quyền thực dân,
thậm chí khi có cuộc tranh chấp giữa các quốc gia
thực dân với nhau các chủng tộc bị xé lẻ ra
làm nhiều mảnh và đặt mỗi mảnh
dưới quyền cai trị của từng quốc gia
thực dân khác nhau, khắp các quốc gia ở Châu Phi
hiện nay đều lâm vào t́nh trạng này.
Chủ nghĩa thực dân
cũng đă thực hiện nhiều cuộc di dân
nhằm khai thác đất đai mầu
mở ở các vùng thực dân có nhằm khai thác nông sản
phục vụ cho chính mẫu quốc cũng như
đặt căn cứ quân sự để dễ bề
nắm ưu thế đối với các quốc gia khác. Trường hợp di dân Ấn Độ
đến Nam Phi là tiêu biểu cho vấn nạn này.
Các thế chiến nổ ra
ở Âu Châu trong thế kỷ 20 đánh dấu sự
bế tắc giữa các quốc gia dân chủ Âu Châu
với nhau dựa trên một nhận thức cổ
điển là: trước khi anh là một xă hội dân
chủ th́ anh đă là một quốc gia rồi. Nhận
thức ấy thực ra phải được suy
diễn như sau: trước khi là một quốc gia
dân chủ th́ anh đă là Người rồi. Cho nên các bế
tắc của Âu Châu đă lan tràn
đến các quốc gia cựu thuộc địa, khi
thế chiến thứ hai chấm dứt để mở
đầu cho cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt
nửa thế kỷ.
Thực ra th́ sự xuất
hiện của cao trào cộng sản quốc tế,
đứng về mặt thuần túy mà nhận thức
đó là biểu hiệu của cao trào đối kháng
lại với chủ nghĩa tư bản cá nhân trong
điều kiện xă hội không thể đáp ứng
được với các diễn biến mới, nhằm
điều tiết các của cải vật chất và tinh
thần sao cho hợp với đà tiến hóa mới do các
tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại.
Cho nên chủ nghĩa
Cộng Sản về mặt lịch sử mà nói là một
tất yếu lịch sử, điều nói ở đây
là: chủ nghĩa quốc gia cực đoan đă lợi
dụng chiêu bài cộng sản nhằm mưu cầu
sự thống trị toàn thế giới thông qua
người Anh Cả (nói theo George Owens) nhằm biến con
người thành cái máy người lại là một sự
thất bại ê chề của các xă hội Âu Châu.
Trong cuộc
chiến tranh lạnh ấy, các quốc gia đua nhau h́nh
thành và được cả hai khối Đông - Tây ra
sức o bế thông qua các nhà độc tài mà không thèm
đếm xỉa ǵ đến t́nh trạng chủng
tộc vốn dĩ đă trở nên rất nguy hiểm
tại các quốc gia c̣n non kém này.
Kết quả là: Khi
chiến tranh lạnh kết thúc với sự tan ră của
Liên Xô, Hoa Kỳ và Âu Châu (nay đă tỏ ra thống
nhất hơn) phải quay về để giải quyết
các tồn đọng do hậu quả của chiến
tranh lạnh để lại, nên đă không mấy quan tâm
đến thực tế phức tạp tại các
quốc gia thuộc địa.
Đây là cơ hội
để Trung Quốc tiến lên nhằm khai thác các lổ
hổng khổng lồ do cuộc chiến tranh lâu dài mà
cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều phải hứng
chịu. Xét cho cùng th́ bản chất ư đồ của
Trung Quốc chả khác ǵ với ư đồ của Liên Xô
(Đại Nga) trước đây, tất cả
đều lấy vũ lực để thôn tính làm phương
châm hành động; nhưng Trung Quốc tỏ ra thực
tiễn hơn Liên Xô khi họ biết lợi dụng các
luật chơi trong thương mại (mà người
Mỹ rất sở trường) để thực
hiện ư đồ của ḿnh, đó là t́m mọi
phương cách nhằm thống trị Á Châu trước,
tam phân thiên hạ với Mỹ và Âu Châu, sau hết là áp
đặt trật tự Trung Quốc trên qui mô toàn cầu.
Cuộc đối
đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong
điều kiện của thế giới hôm nay thực ra
nguy hại hơn thời kỳ chiến tranh lạnh và
cấp bách hơn rất nhiều v́:
a- Phân hóa giữa chủng tộc, tôn giáo. Ngay
cả một số quốc gia dân chủ lâu đời
vẫn không tránh khỏi, thí dụ vấn đề Basque
ở Tây Ban Nha, vấn đề Bắc Á Nhĩ Lan...
b-
Vũ khí nguy hiểm nay được phổ biến
dễ dàng bởi các nhóm tội phạm quốc tế
với sự toa rập của nhiều nhà cầm
quyền đặt biệt là nhà cầm quyền Trung
Cộng.
c- Cao trào đấu tranh đ̣i quyền sống
bởi các bộ tộc đă hiện diện lâu
đời tại một lănh thổ nào đó trước
khi người da trắng tới lập cư cũng
đang trong chiều hướng phát khởi (như
tại
4) -
Bế Tắc Về Tôn Giáo:
Tôn giáo
khi bị tông quyền hóa đă trở thành công cụ
phục vụ cho các ư đồ chính trị nhằm áp
đặt các tín đồ trong ṿng cương tỏa
của giáo điều, để nhóm lănh đạo tôn giáo
thực hiện một số mục tiêu cụ thể;
mục tiêu ấy trước tiên là giữ cho dân chúng
khỏi làm loạn khi họ đặt tất cả niềm
tin để tôn thờ một quyền lực siêu nhiên nào
đó và chấp nhận sự an bài của đấng
tối cao, sau đó các nhóm tông quyền t́m mọi cách bành
trướng ảnh hưởng v́ “đấng tối cao”
muốn các tín đồ làm việc ấy như để
tỏ ḷng tộn kính đấng tối cao (vậy
đấng tối cao nào muốn như vậy?).
Như thế các tôn giáo càng
di chuyển về hướng Tây càng mang tính đấu
tranh cao hơn, điều này rất phù hợp với
đà phát triển văn minh nhân loại nhưng nó cũng
để lại một loạt các hậu quả vô cùng
lớn lao đối với loài người hiện nay,
khi các tôn giáo không chịu chấp nhận cùng tồn
tại trong khung cảnh chung có thể chấp nhận
được. Nói cho cùng ra th́ tôn giáo là sản phẩm
của tinh thần con người chứ con người
đâu phải là sản phẩm của tôn giáo, sự
giải thích về đấng tối cao cũng là do trí
tuệ của con người đặt vào đó mà khái
niệm về đấng tối cao mới
được h́nh thành. Cho nên khi con người tiến
lên th́ tôn giáo cũng phải thay đổi để thích
nghi với đà tiến ấy mới được.
Nếu tôn giáo nào không thích nghi để sửa đổi
cho phù hợp với đà văn minh càng ngày càng đi lên
của nhân loại, th́ tôn giáo ấy sẽ bị bỏ
lại đằng sau như là một quy luật tất
yếu của tinh thần hướng thượng.
Khi đối chiếu các
tiến bộ mà loài người đă đạt
được như ngày hôm nay, th́ tôn giáo trong thực
tế vẫn đắm ch́m trong các lư giải về thiên
nhiên như những ǵ mà người sáng tạo đă
đề xướng ra cả ngàn năm trước.
Thế giới đă thay đổi quá nhiều nền
văn minh vật chất đang bành trướng với
sức mạnh vũ băo của nó, trong khi các giá trị tinh
thần mới nhằm đáp ứng với đà tiến
bộ ấy chưa được h́nh thành, nhằm thay
thế cái trật tự tinh thần cũ lấy đè nén
áp bức như là phương cách chính yếu nhằm
khống chế loài người.
Cái nguy hiểm của loài
người bây giờ là: Trong khi những người có
đầu óc thiển cận vẫn c̣n suy nghĩ như
thời Trung Cổ, th́ họ lại có tất cả các tṛ
chơi nguy hiểm và hiện đại nhất mà loài
người đạt được, họ có khả
năng làm cho tan ră trái đất này như chơi mà
chẳng tiếc hận ǵ (thể hiện như: Iran,
Bắc Hàn, Trung Cộng đă thủ đắc các vơ khí
nguyên tử mà các chính trị gia gọi đây là trục ác
qủy).
Cái nguy hiểm của loài
người bây giờ là một bộ phận nhân loại
tự nghĩ rằng họ có tự do tuyệt
đối mà không thèm đếm xỉa ǵ đến trách
nhiệm đối với đồng loại; nền
tảng đạo lư gia đ́nh bị phá vỡ một cách
có hệ thống do các tiến bộ kỹ thuật đạt
được hàng ngày, do cuộc cạnh tranh không khoan
nhượng giữa các quốc gia với nhau và do cuộc
cách mạng công nghiệp xảy ra liên tục ngày càng nhanh.
Tất cả các thứ ấy đóng góp vào việc phá
hoại nền tảng gia đ́nh như là cái gốc
của xă hội, đồng thời sản sinh ra biết
bao người mang đủ mầm bệnh về tinh
thần (các vụ tự sát tập thể của các giáo
phái xa lạ với loài người) là các chứng minh rơ
nét nhất về t́nh trạng khủng hoảng về tâm
thức của loài người nói chung.
Như thế khi loài người nói về
một trật tự tôn giáo mới là ǵ? Thực ra th́ con người
cần một đời sống đạo đức
hơn là một niềm tin tôn giáo. Nhưng thế nào là
đạo đức phổ quát để loài
người sống cho ra Người khi mà sự khác
biệt về tiến bộ trong nhân loại này quá khác
biệt nhau; bộ phận tiến về phía trước
quá mau của nhân loại đang tiến đến t́nh
trạng phủ nhận tôn giáo (theo khái niệm cũ)
một cách có hệ thống và không có thể cản
trở được, trong khi đó một phần
lớn nhân loại thuộc về xă hội chậm
vẫn c̣n duy tŕ niềm tin tôn giáo như những ǵ mà
người sáng tạo đă đặt để ra và một
phần khác của nhân loại đang sống theo một
cái nh́n thuộc về bản năng đối với
thiên nhiên.
Mục tiêu tối hậu của nhân loại là
ǵ? phải
chăng chính là tự hoàn thiện ḿnh để đời
sống con người được viên măn hơn xét
về tinh thần cũng như về vật chất,
trong khi đó vẫn giữ được thế quân b́nh
đối với thiên nhiên trong phạm vi trái đất
này cũng như trong vũ trụ bao la kia mà loài
người hiện nay có hiểu biết về trái
đất này rất ư là giới hạn. Như thế
tôn giáo theo quan niệm cũ chỉ nên coi là cách thức mà
loài người cố lư giải về điều không
thể lư giải được và đặt điều
không thể lư giải được như là “trái
cấm”, để buộc chặt con người vào
một trật tự của tôn giáo do các giáo sĩ
đặt ra. Trong tiến tŕnh Duy Dân biện chứng này
th́: Cách lư giải về tự nhiên không quan trọng
(thậm chí chẳng là ǵ cả) bằng các giáo luật mà
các giới tăng lữ đặt ra cho người theo đạo (vô luận là đạo nào)
khi tôn giáo được tông quyền hóa.
Theo tiến tŕnh này th́ Bách
Việt đề ra đạo học một cách toàn bích
và trong sáng tức là thuận thiên, theo đó tuy con
người là chủ thể của thiên nhiên nhưng con
người vẫn phải nương theo thiên nhiên mà
tiến hóa. Đến Trung Hoa th́ yếu tố thuận
thiên tuyệt đối nơi Bách Việt đă giảm
xuống để thành một chế độ trung
ương tập quyền, đó cũng là tiền
đề để Hán tộc xâm lăng
và Hán hóa Bách Việt. Càng duy chuyển về phía Tây th́ khái
niệm về thuận thiên càng giảm đi để con
người bắt thiên nhiên phải phục vụ ḿnh mà
quên hẳn cái hệ lụy tất yếu là: đến
lúc nào đó thiên nhiên có thể quay ngược lại
hủy diệt chính loài người nói chung.
Cái chu kỳ cực lớn là nóng -
lạnh này dường như đă từng xảy ra mà
loài người chưa đủ sức để truy t́m
đến nơi đến chốn đấy thôi.
* - Trước
cái bế tắc ấy, tôn giáo không thể giải
quyết nổi.
* - Trước
cái bế tắc ấy, các quốc gia không thể giải
quyết được v́ họ c̣n mải mê chém giết
nhau v́ quyền và lợi để tồn tại.
* - Trước
cái bế tắc ấy, cả nhân loại phải hợp
sức lại mới mong giải quyết được
nhằm kéo dài sự tồn tại của nền văn
minh này.
Khi nói về một “trật
tự tôn giáo mới” (new religion in order), phải chăng ta
muốn nói đến một h́nh thức siêu tôn giáo có
khả năng kết hợp tinh thần - vật chất
nhằm thống nhất nhân loại lại trên một
căn bản mới? không hoàn toàn không v́
quá tŕnh hợp nhất nhân loại là tất yếu của
lịch sử tiến hóa của loài người, trong
đó vai tṛ của vật chất lẫn tinh thần luôn
quyện lại với nhau để loài người
biết đi bằng hai chân và măi măi cứ đi bằng
hai chân.
Trật tự tôn giáo cũ
là sản phẩm của thời đại cũ, nó
được sản sinh ra nhằm đáp ứng với
đà tiến hóa ấy, nó cũng đem lại một
số lợi ích thiết thực đối với
một cộng đồng nào đó trong một thời
kỳ nào đó, nó cũng đă đóng góp vào việc làm cho
văn minh nhân loại tiến về phía trước
với nhiều máu và nước mắt. Ngày nay thế
giới đă đổi thay, phát triển quá nhiều và quá
nhanh (về vật chất cũng như tinh thần) nên
tôn giáo đă bị bỏ lại quá xa ở phía sau, tôn giáo
(cuồng tín quá khích) nay đang trở thành các cản
trở sâu rộng về mọi mặt đối với
đà tiến hóa mới mà các hiểm nguy đối
với nhân loại ngày nay đă được nh́n thấy
một cách cụ thể và rơ ràng hơn.
Nhân loại hiện nay
vẫn đi vào chém giết nhau, tranh dành sự sống
dưới ánh mặt trời, điều đó thuộc
về bản năng của mọi sinh vật, nhưng là
con người, loài người phải biết rằng
ḿnh chống cái ǵ? ḿnh mưu cầu cái
ǵ? Nếu loài người cứ lấy
sự chống nhau làm mục tiêu cuối cùng th́ tự loài
người hủy diệt loài người vậy.
Trước thiên nhiên bao la và đầy bất trắc kia, trái đất này với hơn 6 tỷ
người chỉ là hạt cát trong cái vô cùng lớn
ấy mà thôi. Như vậy vấn đề không phải
là chống lại cái vô cùng lớn ấy hay chống
lại cái vô cùng nhỏ (là con người) mà là thuận
với cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ để cùng
tồn tại nhưng không thụ động đề
chờ chết (một cái chết tập thể) là
vậy. Nói tóm lại nhân giới và nhiên
giới, nội giới và ngoại giới chỉ là
một để cùng tồn tại.
Dường như nhân
loại này vẫn c̣n nhập nhằng giữa tôn giáo và
đạo; cách giải thích thiên nhiên của những nhà khai
sáng ra tôn giáo tưởng rằng thiết lập căn
bản cho đạo bằng cách khuyên người theo tôn giáo ăn ngay ở lành. Nhưng
trớ trêu thay chính tôn giáo lại không sống với tinh
thần đạo đích thực, thay vào đó lấy
sự chém giết làm căn gốc cho nên các tôn giáo đă xa
rời gốc đạo vậy. Ấy là chưa kể
đến việc qua đấu tranh không khoan
nhượng và liên tục khi con người sa vào trạng
thái “động liên tục” mà không biết đến
tĩnh là ǵ. Động và tĩnh vốn là
căn gốc trong cuộc sống của loài người,
nếu quá “động” th́ lại càng xa gốc
đạo vậy. “Tĩnh - Động” theo
lối nh́n của đạo học Bách Việt th́:
Phật giáo là tĩnh, Khổng giáo là động hơn,
Thiên Chúa Giáo La Mă th́ Tĩnh và Hồi giáo th́ quá
động. Đánh giá về mặt xă hội, nếu
ông Alvin Toeffle nói về xă hội nhanh với xă hội
chậm th́ về phương diện tâm linh mà nói về
con người, th́ ta cần phân biệt là xă hội cổ
là xă hội tĩnh xă hội hiện đại là một
xă hội quá động, mà quá động là
đầu mối của loạn nếu nhân loại không
t́m ra một phương cách khác để giữ cho đà
tiến hóa về vật chất được tiếp tục
duy tŕ (tức là động) trong khi t́m cách gia tăng
cái yếu tố tĩnh nơi con người.
* - Động - Tĩnh
phải quân b́nh con người mới tồn tại, xă
hội loài người mới bền vững. Như
thế tôn giáo th́ nhiều, nhưng đạo chỉ có
một đó là: “Đạo
Làm Người”.
Đạo làm người
không phải đơn giản là chỉ dạy ta sống
bác ái, b́nh đẳng mà c̣n dạy ta sống thuận thiên,
luôn giữ quân b́nh giữa vật chất với tinh
thần. Giữa động với tĩnh,
giữa âm với dương cũng như hiểu
được sự biến hóa ảo diệu của
dịch học, nên Âm là nguồn gốc của Dương,
Tĩnh là nền tảng của Động. Đó là chân lư
của Đạo. Đạo chấp
nhận tiến hóa với tất cả ư thức và trách
nhiệm. Đó là Đạo Làm
Người (Nhân Đạo). Nhân Đạo dạy ta
lấy con người làm chủ đề để mà
phục vụ: Đó là “Nhân Chủ Đạo”.
5) - Nhân Chủ đạo
Nói
đến nhân chủ đạo ta phải nghĩ ngay
đến đạo học Bách Việt vốn
được coi là chủ thể của nền văn
minh Đông phương, là khởi điểm của
nền văn minh nhân loại này trên trái đất này, xét
theo tiến tŕnh Duy Dân biện chứng, th́ ta phải
nghĩ đến quá tŕnh di chuyển nhằm h́nh thành các
trung tâm văn minh sau Bách Việt để h́nh thành nền
văn minh địa cầu này. Khi trung tâm văn minh di
chuyển đến Hoa Kỳ mà về căn bản ta
phải coi đó là sự tổng hợp cao độ
nhất của các tinh hoa mà loài người đă khám phá ra
trong quá khứ (cho nên văn minh nhân loại đâu của
riêng ai mà là chung của loài người, để phục
vụ cho con người). Tiến bộ khoa
học mà loài người đă đạt được
mới tạo điều kiện để nền văn
minh trái đất tiếp tục cất cánh để
trở thành nền văn minh liên hành tinh. Nền
văn minh liên hành tinh (mà nhân loại đang ở
bước chập chửng) sẽ tỏa sáng trên quy mô
toàn cầu để trở lại với điểm
khởi đầu là văn minh Bách Việt. Như thế
văn minh trái đất đă đi hết một chu kỳ trọn vẹn th́ nền văn
minh trái đất mới đủ sức cất cánh
để trở thành nền văn minh liên hành tinh.
Cho nên khi ta nói đến
việc tống hợp Đông - Tây, suy nghĩ đến
tận cùng của nó chính là tổng hợp giữa văn
minh vật chất với văn minh tinh thần là vậy.
Văn minh vật chất đại diện bởi Hoa
Kỳ văn minh tinh thần đại diện bởi Bách
Việt đây cũng là ư nghĩa của sự kết
hợp “Rùa, Rồng”. Nên kể từ đây, khi khởi
đầu thiên niên kỷ thứ ba, con người
biết đi bằng hai chân đích thực (vật
chất với tinh thần, động với tĩnh, âm
với dương) và con người biết trở
lại với đạo đích thực là vậy: Đó
là tính cách “Là Người”,
với đạo “Làm
Người” để trở “Thành Người” chân, thiện, mỹ.
Đây
là tiến tŕnh không thể đảo ngược
được v́ lẽ sống là lẽ thật nên các tôn
giáo xa rời khỏi gốc đạo đều phải
t́m cách thích nghi với điều kiện khách quan mới
đối với loài người, một cuộc lột
xác không khoan nhượng một cuộc cách mạng toàn
diện, triệt để, hướng thượng là
thế. Cho nên ta có thể đưa ra vài dự đoán cho
thế kỷ này:
“Các
tôn giáo sẽ ngày càng hợp nhất hơn, ngày càng trở
nên các định chế lấy sự phục vụ xă
hội con người là chính, giáo lư sẽ đơn
giản đi rất nhiều mà mức độ c̣n tùy
thuộc vào tŕnh độ dân trí ở từng địa
phương. Như vậy giáo hội nói chung
trở thành các hội đoàn (associates) chứ không phải
là một tổ chức cứng ngắc đầy
quyền năng như trong thời gian dài đă qua. Nhân
Chủ Đạo học sẽ sáng chói và trở thành
nền tảng mẫu mực để con người
sống sao cho hài ḥa hơn, hạnh phúc hơn, đời
sống con người sẽ trở nên viên măn hơn, yêu
thương nhau hơn”.
Chúng ta cần trở về với thực
tế của thế giới hôm nay. Nhân loại đă đạt
được nhiều tiến bộ ngoạn mục
trong thế kỷ 20, nhưng cũng phải đến
cuối thế kỷ 20 th́ thần vật chất mới
để lộ ra các nanh vuốt của ḿnh và thế
giới mới bắt đầu nh́n thấy các bế
tắc xem ra không thể giải quyết được
của loài người ở phía trước.
Măi đến cuối
thập niên 60 của thế kỷ trước nhân
loại mới thấy tác hại của môi sinh là nguy
hiểm đến dường nào đối với loài
người, từ ngày đó đến nay đă 40 năm
qua thế mà mọi chuyện chỉ bàn luận suông thôi,
thỏa ước Koyto vẫn c̣n là văn kiện trên
giấy tờ, Liên Hiệp Quốc bó tay, thiên tai càng ngày
càng hoành hành dữ dội. Cuộc tranh chấp dành
quyền sống mà không thèm đếm xỉa ǵ đến
người khác được thi hành bởi các quốc
gia dựa vào quy mô của ḿnh đang gây ra rất nhiều
hệ quả nghiêm trọng, nhiều dân tộc nhỏ bé
đang bị tước đi nguồn sống để
phải đối diện với cái chết toàn diện,
khi một loạt các quốc gia nhỏ bé khác, các dân
tộc linh lạc khác có thể bị các nước
lớn thôn tính bằng những thủ đoạn thâm
độc nhất bằng kinh tế, văn hóa, quân sự
nếu cần.
Trong khi khoa
học vật chất đạt được nhiều
tiến bộ vượt bực th́ tài nguyên thiên nhiên càng
ngày càng trở nên cạn kiệt, nhân số toàn cầu
đă hơn 6 tỷ người. Vào thời kỳ
chúa Giê su sinh ra loài người chưa quá 200 triệu, trong
50 năm tới dân số toàn cầu có thể lên tới 10
tỷ người. Nuôi 10 tỷ người là một thách
đố cực lớn đối với loài
người, vấn đề không đơn giản
chỉ là nuôi ăn mà c̣n làm thế nào để số tài
nguyên thiên nhiên ấy vốn ngày càng trở nên eo hẹp
ấy có thể cung ứng cho 10 tỷ người trong
tương lai mà với hiện t́nh th́ chiến tranh
để t́m nguồn sống sẽ trở nên gay gắt
cực kỳ nguy hiểm đối với tương lai
nhân loại. Cho dù khoa học tiến triển vượt bực
để đáp ứng được nhu cầu khổng
lồ ấy, nhưng chỉ nội chất thải không
thôi cũng đă đủ để làm cho trái đất
này trở nên dơ bẩn và thần thiên nhiên sẽ quay
trở lại để hủy diệt trái đất này
(phim The War World's, vụ bắn vào sao chổi mới đây
là các tín hiệu rơ ràng).
Trong khi khoa học tiến
nhanh về phía trước th́ cấu trúc của thế
giới vẫn được lập lại trên căn
bản quốc gia dựa trên sự thỏa hiệp (theo
thời gian với nhiều cuộc tranh chấp nội
bộ đẫm máu) giữa người cùng sống trong
một lănh thổ với một sự tương
đồng nào đó về văn hóa (tôn giáo, tập quán).
Quốc gia thần quyền, quốc gia vương
quyền và quốc gia dân chủ đều xác định
cái không gian sinh tồn ấy, nên quốc gia mạnh luôn luôn
t́m cách thôn tính các quốc gia khác và sẵn sàng hủy
diệt các nền văn hoá khác một cách không
thương tiếc.
Khái niệm về dân chủ
được đề xuất hơn 3 thế kỷ
trước cũng chỉ đạt được các
bước tiến rất chậm chạp; ngày nay quốc
gia thần quyền vẫn c̣n hiện diện đó đây
(Iran là tiêu biểu) hoặc thế lực chậm và
xấu c̣n manh nha các mầm mống chỉ chờ chực
nổi lên nếu chính quyền sở tại đi vào
hỗn loạn. Quốc gia độc tôn, chính quyền
độc tài đều có một đặc trưng chung
nhất là tạo quyền lực cho cá nhân hay cho phe nhóm
họ, mặc cho họ cái vỏ bọc là tinh thần dân
tộc để thâu tóm quyền lực, nhằm mở
rộng quyền lực và quyền lợi cho gia đ́nh cá
nhân hay cho phe nhóm ḿnh cho cái không gian sinh tồn của riêng
dân tộc ḿnh, nhưng cũng là để thỏa măn tham vọng
cá nhân được dẫn dắt bởi cái nh́n sai
lạc và vô trách nhiệm đối với thế
giới. Xem thế, chủ nghĩa thượng tôn
chủng tộc như Đức Quốc Xă xem ra chưa
hung hiểm bằng những kẻ lợi dụng chủ
nghĩa để bành trướng quyền lực.
Cải tiến duy nhất mà
nhân loại có được là việc h́nh thành tổ
chức Liên Hiệp Quốc, nhưng Liên Hiệp Quốc
lại chỉ là một diễn đàn vô thưởng vô
phạt v́ mọi nghị quyết đều phải
được các quốc gia liên hệ chấp nhận
tuân thủ th́ nghị quyết mới có giá trị. Theo
nguyên tắc của công pháp quốc tế th́: “Các quốc
gia đều b́nh đẳng”, nhưng các quốc gia có 1
triệu dân với lợi tức 200 Mỹ kim cho một
đầu người cũng đồng đẳng
với quốc gia có tổng số lượng nội
địa là 11,000 tỷ Mỹ kim sao? Chả lẽ quốc gia lấy
độc tài chuyên chế, vi phạm đủ thứ
luật quốc tế cũng có tiếng nói quyết
định về các vấn đề trọng đại
của thế giới sao?. Quốc gia nào đứng ra giải quyết các
vấn nạn ấy? Liệu Liên Hiệp Quốc có
thẩm quyền để ban cho quốc gia ấy cái chính
danh để họ hành động hay không? và
thế nào là tính chính danh trong quan hệ quốc tế bây
giờ.
Duy Dân biện chứng là
tổng hợp toàn diện và phổ quát có thể áp
dụng và lư giải về quá tŕnh tiến hóa của loài
người, giữa loài người với thiên nhiên và
giữa thiên nhiên với vũ trụ trong phạm vi
hẹp; trong phạm vi rộng lớn th́ ứng dụng ra
sao ta chưa thể biết được v́ vũ trụ
là vô nguyên, hiểu tới đâu th́ biết tới đó. Cho nên lịch sử nhân loại cần
được nh́n thông suốt qua khoa học Duy Dân
biện chứng th́ mới toàn diện và không bị sai
lạc.
* - Giải Quyết Các Bế
Tắc:
* - Có
trời th́ cũng có ta
* - Xưa nay
nhân định thắng thiên cũng nhiều.
(Ca
Dao)
Cách mệnh là ǵ?
“Cách”
trong kinh Dịch của nền đạo học Đông
phương, quẻ “Cách” có nghĩa là đổi thay. Thông thường th́ con
người ta có xấu xa mới mong thay đổi.
Quẻ “Hoả Thủy Vị tế” tức là lửa
ở trên nước ở dưới, lửa cháy th́
bốc lên, nước nặng th́ ch́m xuống đó là
một nghịch lư, làm cho mọi vật đi vào bế
tắc không lối thoát, cho nên với t́nh trạng hỏa
thủy vị tế là t́nh trạng đi vào bế
tắc, xấu xa, không ở trong vị thế có thể
ứng dụng được cho nên phải đổi
thay. Vậy muốn khai thông t́nh trạng bế tắc
ấy chúng ta phải phá vỡ t́nh trạng bế tắc
của “hỏa thủy vị
tế” là chúng ta phải hành động bằng cách
lật ngược vị trí của “hỏa thủy
vị tế” để trở thành “thủy hỏa kư tế”, nghĩa là nước
ở trên hỏa ở dưới, th́ cuộc sống
mới điều tiết được mọi việc
sẽ hanh thông.
“Mệnh” (hay là mạng) mệnh đây
là mệnh trời, theo quan niệm của phương
Đông, con người sinh ra mỗi người có một
cái mệnh của trời cho (trời ở đây là thiên
nhiên-Mother Nature), nhưng nếu mệnh trời cho con
người xấu quá, khổ quá, nên con người không
chấp nhận mệnh trời, v́ không chấp nhận nên
họ đứng lên để chống lại mệnh trời.
Nói cách khác chỉ có con người mới có cách mạng,
hành động cách mạng là chống lại xă hội,
chống những ràng buộc của xă hội tạo ra,
chẳng những không chấp nhận sinh mệnh xấu
xa của ḿnh trong xă hội mà c̣n dám đứng lên phá
bỏ những luật lệ của xă hội đưa
ra, phá bỏ những luật lệ của một xă
hội đă lỗi thời thoái hóa, để gịng sinh
mệnh của ḿnh được tiến hóa. Tóm lại
cách mạng là để đứng lên xóa bỏ những
cái xấu xa lỗi thời của xă hội đó, phá
bỏ những ǵ cần phá bỏ khai thông những bế
tắc của một xă hội ươn hèn đầy
thành kiến, để làm cho xă hội đó
được đẹp hơn tốt hơn, để
đời sống con người được tṛn
đầy hơn và tiến hóa hơn.
Nhưng cách mạng phải được
dẫn dắt bằng những tư tưởng cao
đẹp, nếu không cách mạng chỉ làm cho xă hội
điêu tàn và đổ nát thêm, khốn khổ thêm, nghèo
đói và bần cùng thêm. (xă hội Việt Nam hiện nay là một ví
dụ rơ nét nhất của một cuộc “cách mạng
điêu tàn” thoái hóa, rơ nét nhất của những con
người kém trí tuệ chỉ biết đập phá mà
không biết xây dựng, chỉ biết cổ vũ
hận thù đấu tranh giai cấp, Cộng sản đă
dạy cho con người đánh mất đi nhân phẩm
nhân cách, đạo đức luân thường, tất
cả đều tan nát dưới sự lănh đạo
của đảng Cộng sản).
Trăi qua
lịch sử loài người ta thấy loài người
từ khi c̣n sống trong thời kỳ ăn lông ở
lỗ đă cố gắng tiến lên - Cụ Lư gọi
đó là tiền tŕnh Duy Dân biện chứng - nhầm t́m
kiếm một đời sống sao cho tốt đẹp
hơn có ư nghĩa hơn. Nhưng về phương
diện vật chất loài người được
phục vụ tốt hơn th́ điều đó chưa
chắc đă bảo đảm là đời sống con
người trở nên có ư nghĩa hơn, điều
đó nói lên cái ǵ? phải chăng đó
là thể hiện rơ nét nhất của t́nh trạng bất
ổn trong tinh thần; ta không bằng ḷng với một
cái ǵ cả quá khứ hiện tại cũng như
tương lai, loài người càng t́m cách dụng thiên nhiên
th́ thiên nhiên càng vây hăm loài người một cách chặt
chẻ hơn. Cho nên nếu ta chỉ biết
sống thác loạn hôm nay và chỉ hôm nay thôi, đó là
dấu hiệu của sự bế tắc trong tư
tưởng. Nếu chỉ có Duy Tâm không thôi
th́ con người chỉ có thần thức của tôn giáo.
Nếu chỉ có Duy Vật không thôi th́ con người
chỉ có luật tắc của khoa học, nhưng
tiếc thay trong mỗi con người được
hội đủ cả hai yếu tố Tâm và Vật, v́
vậy con người mới có mộng mơ hạnh phúc,
mới biết đau khổ oan thương. Nhưng
cũng v́ những uớc mơ hạnh phúc đó đă thôi
thúc con người đứng lên làm cách mạng,
để mong có một cuộc đổi đời sáng
lạn hơn. Biết trước sự bế tắc
trong tư tưởng của Tâm và Vật nên Cụ Lư nói:
* - Bút
nghiên đèn sách đều sai lạc.
* - Kim cổ
đông tây cũng hăo huyền.
Trích Đạo Trường Ngâm - Đạo
Trường Ngâm 4822 T.V.
Từ hàng trăm năm qua đường đi
của nhân loại tựa như quẻ hỏa thủy
vị tế, v́ không có tư tưởng để chỉ
đạo cho nhân sinh quan, tất cả đă đi vào
bế tắc. Nên xă hội con người hiện nay
đang cần một cuộc cách mạng toàn diện,
triệt để và hướng thượng để
giải quyết tận gốc rễ của mọi
vấn đề tinh thần cũng như vật
chất, đó là một tất yếu phải có và công
cuộc cách mạng này con người phải quyết tâm
thực hiện.
Nhưng
cách mạng có tiến tŕnh, qui luật, mục đích và
điều kiện của cách mạng. Cách mạng
phải có đạo đức, phong thái, văn hóa của
cách mạng, cho nên cách mạng phải có một tinh
thần chuẩn bị sẳn, một nguyên tắc
tiềm tàng sẳn, một phong khí tẩm nhuần sẳn.
Khi hội đủ các yếu tố đó
th́ cuộc cách mạng toàn diện triệt để và
hướng thượng mới đi đến thành công
được. Biến cố ấy
đang xảy ra hôm nay trên trái đất này thuộc
về nền văn minh này của lịch sử loài
người.
Cách
Mạng là hành vi
tất yếu của loài người, bởi
loài người, v́ loài người và chỉ có con
người mới biết làm cách mạng, những
bước đột khởi ấy không xảy ra tự
nhiên đột biến, mà cách mạng là cả một quá
tŕnh diễn tiến liên tục của một loạt các
động thái tắc - mở trong phạm vi hẹp
trước khi dẫn đến một bế tắc
lớn, chỉ khi nào bế tắc lớn kia
được khai mở th́ xă hội mới hanh thông mà
thôi. Cho nên Cụ Lư đă nói: “khởi điểm của cách
mạng đă dựng dục từ trong bào thai của
thời đại cũ”.
Như thế nếu xét nét
theo chiều dài của lịch sử nhân loại th́
thời đại cũ ở đây đă kéo dài nhiều
ngàn năm để đến thời điểm này
thế giới đang ở trong bế tắc lớn
nhất và nguy hiểm nhất (dĩ nhiên trong nhiều ngàn
năm đó nhân loại đă từng xảy ra nhiều
cuộc bế tắc và cách mệnh rồi). Lịch
sử đă để lại điều này; tuy lịch sử
được làm nên bởi mọi người nhưng
hướng đi được quyết định
bởi một nhóm người nhỏ nào đó mà thôi, khi
nhóm nhỏ t́m thấy hướng đi đúng th́ mọi
người đi theo.
Thế giới hôm nay không
đi ra ngoài quy luật ấy được, cho nên chính
nghĩa của một cuộc cách mạng không phải do
bên ngoài ban cấp cho nó mà nó có chính nghĩa. Chính
nghĩa của một cuộc cách mạng nằm ngay trong
mục đích của cuộc cách mạng ấy.
Cho nên điều mà Cụ Lư
gọi là: “cách mệnh trên quy mô toàn cầu trong thế kỷ này
nhằm giải phóng con người khỏi các ràng buộc
do lịch sử để lại, nhằm thiết
lập một xă hội nhân chủ pháp trị”. Như thế tính chính danh của một cuộc
cách mạng này là không c̣n ǵ phải bàn căi nữa.
Vấn đề kế tiếp là: quốc gia nào sẽ
đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử ấy
đối với loài người?
Cụ Lư đă nói: cách mạng có
tiến tŕnh, quy luật, mục đích và điều
kiện của nó.
* - Tiến tŕnh ấy là cả một quá tŕnh h́nh thành nền
văn minh này của nhân loại. Đặc biệt trong 200
năm qua tiến tŕnh đưa nhân loại trở nên
gần gũi nhau hơn đă đạt được
các bước tiến đáng kể nhất là trong
hơn 50 năm qua, tiến tŕnh ấy đă
được thúc đẩy rất mạnh mẽ
bởi Hoa Kỳ.
* - Quy luật tức h́nh
thành thế lực chủ đạo với một lư
thuyết trong sáng nhằm dẫn dắt nhân loại đi
vào tương lai có dự cầu. Dĩ nhiên
đối với các thế lực cản trở,
việc sử dụng bạo lực cách mạng là cần
thiết không phải là để hủy diệt con
người mà là nhằm khuất phục các thế
lực cản trở ấy để họ phải
chấp nhận hướng đi mới.
* - Mục đích là tổ
chức lại thế giới trên một căn bản
mới để lợi ích của các tiến bộ
được san sẻ hợp lư hơn trên qui mô toàn
cầu, nhân phẩm và nhân cách con người
được tôn trọng để họ
được yêu thương nhau hơn, v́ giấc mơ
muôn thuở của loài người từ buổi hồng
hoang đến nay đều muốn sống trong thái b́nh,
hạnh phúc, loài người đều muốn
thương yêu và chia xẻ về vật chất cũng
như tinh thần, v́ vậy con người mới t́m
đến nhau sống quay quần tạo thành một xă
hội, mà những ước mơ đó đă khởi
đi từ những con người siêu việt có một
trí tuệ trong sáng, để dẫn loài người thoát
ra khỏi cảnh vô minh. V́ lẽ đó nên các
dân tộc nhỏ linh lạc phải được khôi
phục và thoát khỏi ách đô hộ hoặc thôn tính
của các chế độ tham vọng độc tài,
để từng bước thiết lập một xă
hội nhân chủ pháp trị trên quy mô toàn cầu.
* - Điều kiện hiện nay đă
chín mùi cho một cuộc cách mạng toàn diện triệt
để và hướng thượng, chỉ trong 10
năm qua hệ thống thông tin điện tử (internet)
đă đưa loài người lại gần nhau hơn
rất nhiều so với trước khi có thông tin
điện tử. (Internet -
World, Wide, Web, được gọi là “Hệ thống
điện tử chuyển tin toàn cầu”, vậy từ
đây ta không nên gọi là “Mạng hay Mạng Lưới”,
v́ văn hóa phải làm giàu cho ngôn ngữ, phát triển sao
cho ngôn ngữ ngày càng trong sáng, làm nghèo ngôn ngữ là ta đă
xóa bỏ văn hóa, “từ tư tưởng bước
sang hành động” phải có cầu ngôn ngữ để
truyền đạt là vậy).
Như vậy
trong điều kiện của thế giới hôm nay th́ Hoa
Kỳ là quốc gia đầu tiên đi vào Duy Dân Nhân
Chủ, nên Cụ Lư gọi “Hoa Kỳ là quốc gia Tiền
Duy Dân”. Chính v́ vậy mà Cụ Lư mới nói
đến ngày cách mạng sẽ bùng nở như một
quy luật phải có, nên Cụ đă đưa ra một
tiến tŕnh cách mạng gồm 3 phần:
* - “Huyết
Thai” là nhân và duyên.
* - “Huyết Nụ” là tiến
tŕnh đi tới cách mạng.
* - “Huyết Hoa”
là hoa máu tức là Hoa Cách Mạng sẽ bùng nở.
Huyết
Thai, Huyết Nụ, Huyết Hoa, đó là một tiến
tŕnh cách mạng. Cách mạng là một công cuộc chuẩn
bị để đổi thay không phải cho một cá
nhân mà là chuẩn bị để đổi thay cho cả
một tập thể lớn hay nói đúng hơn là cho
cả một dân tộc và cho cả nhân loại như
hiện nay.
Huyết Thai là ǵ, Huyết là Máu, Thai là nhân hay là
hạt, đó là khởi điểm của mầm
sống, trong con người (cũng như mọi sinh
vật) Thai là sự kết hợp của tinh cha huyết
mẹ để tạo nên một con người. Nói một cách khác
“Huyết Thai” là mầm của sự sống
được nuôi dưỡng bằng máu của nhiều
thế hệ đi trước truyền lại cho chúng
ta. (Cụ Lư không dùng danh từ Nhân hay Hạt mà
lại dùng danh từ Thai, bởi v́ nó cụ thể nó
tượng h́nh bằng nhân sinh quan và nhân tử quan, v́ cách
mạng là một hành động hoàn toàn có tính cách nhân tính
và chỉ có con người mới biết làm cách mạng,
đó là hành vi của con người).
Từ Huyết
Thai đi đến Huyết Nụ là tiến
tŕnh đang đi của công cuộc cách mạng để
đi đến sự bùng nổ Cách Mạng tức là Huyết
Hoa, huyết hoa tức là hoa máu hay c̣n được
gọi là Hoa Cách Mạng. Từ huyết nụ đi
đến huyết hoa là một tiến tŕnh cách mạng
cam go đ̣i hỏi phải có thời gian tính và những
điều kiện ngoại tại với sự trợ
duyên, phù hợp với tiến tŕnh cách mạng để
đưa cách mạng đến thành công, tức là hoa máu
sẽ bùng nở.
*
- “Từ muôn ngàn tàn lụi không tên
* - Sẽ bùng nở một trời hoa lạ quư”. (1)
Trích tập thơ Đồng Lầy (Vô
Đề) - Đừng Sợ -1975.
hay,
* - “Lấy máu đào tươi
thắm tưới cho hoa
* - Máu ươm hoa, hoa máu chan ḥa
* - Hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa
* - Hoa hạnh phúc tự do vô giá
* - Máu căm hờn phun đẫm mới
đăm bông !”
Trích tập
thơ Đồng Lầy (Vô Đề) - Đồng
Lầy -1972.
(1). X.Y. Thái Dịch Lư Đông A đă viết ra
chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ trong hơn 60 năm qua,
nhưng ít được nói tới (không tên), bởi
lẽ Cụ đă biết trước người
quốc gia Việt Nam sẽ mất quyền lănh
đạo đất nước bởi Cộng sản trong
một thời gian dài. Sau trận thất bại ở Nga
My cụ đă giải tán đảng Duy Dân vào năm 1946 và
đi ở ẩn (…tàn lụi
không tên), cho đến nay v́ thời cơ đă
đến cụ lại xuất hiện để lănh
đạo công cuộc phục hưng và phục hoạt
đất nước. Hiện nay chủ thuyết Duy Dân
Nhân Chủ đă được nhiều người
biết đến, nhưng Hoa Kỳ đă xiển
dương và phổ biến một cách rộng răi
bằng hành động (nhập
nhĩ xuất sự). Hoa Kỳ là
quốc gia đầu tiên (tiền Duy Dân) cầm ngọn
cờ Duy Dân Nhân Chủ để “dẫn nhân loại đi trên con đường muôn
thuở”. Trong một ngày gần đây thế giới
sẽ kinh ngạc khi nh́n thấy sự thành công
vượt bực của mọi ngành, mọi giới do
Hoa Kỳ lănh đạo, thế giới sẽ chuyển
ḿnh phá bỏ những lối sống cũ, những suy
tư cũ, để hoà ḿnh vào một tương lai
mới mà chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ sẽ đem
lại những kết quả không ngờ, xă hội loài
người nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ như
một khu vườn khi mùa xuân đến (Sẽ bùng nở một trời hoa lạ quư) và
ḥa b́nh thật sự sẽ đến với con
người, chính bàn tay con người sẽ tạo
dựng một thiên đường tinh thần và vật
chất ngay cơi đời này, ngay trong kiếp nhân sinh này,
chứ không phải hứa hẹn nơi kiếp nào xa xôi
khác.
* - Đạo Và Giáo (đạo
giáo)
Trong
Đạo Học Bách Việt có nói đến đạo
và giáo (giáo dục):
* - Thiên mệnh chi
vị tính.
*
- Xuất tính chi vị đạo
*
- Tu đạo chi vị giáo
Từ ư
nghĩa trên tức là trời đất sinh ra con
người đă có cái bản tính của Trời
Đất (thiên nhiên) cho, nhưng bản tính đó phải
được giáo dục và sống theo đạo
thống của con người, từ sự giáo dục
đó con người có thể làm thay đổi
được cái sinh mệnh của ḿnh (từ xấu
sang tốt) đến khi chính cá nhân đó hiểu
được chính ḿnh, kiểm soát được hành
động của ḿnh, kềm hảm được
những cái xấu xa ti tiện trong con người ḿnh th́
đương nhiên hạt giống san sẻ yêu thương sẽ
được nẩy mầm, tứ đó trên thế
giới này, biên cương hận thù tôn giáo, chủng
tộc (chiến tranh tôn giáo hay chiến tranh chủng
tộc) sẽ bị xóa nḥa, để trong mỗi con
người chỉ c̣n lại duy nhất chỉ có một
cái Đạo đó là đạo làm người,
đạo làm người phải được
đề cao như một ngọn đuốc lư
tưởng, không c̣n các cực quyền tôn giáo khống
chế tư tưởng của con người. Tất cả các tôn giáo phải được
thống nhất, tất cả các đạo giáo phải
được sửa đổi để ḥa vào Nhân
Đạo, chứ không phải thần đạo.
Nhưng nếu chúng ta muốn thực hiện các
điều trên th́ không có cách nào khác hơn là con
người phải được giáo dục đến
nơi đến chốn, nghĩa là các thế hệ bây
giờ và trong tương lai, phải được giáo
dục để hiểu một cách rơ ràng thế nào là Nhân
Đạo tức là thế nào là Đạo Làm
Người, đó là ư nghĩa của câu tu đạo chi
vị giáo. Khi con người đă hiểu được
thân phận của ḿnh rồi th́ con người mới
đứng lên để làm cách mạng, v́ con người
không chấp nhận những cái xấu xa của nhân
giới (những áp bức bất công của giới
cầm quyền) cũng như nhiên giới (trồng
rừng đấp đê để tránh thiên tai băo lụt)
đă áp đặt cho chính cá nhân hay những người
chung quanh họ.
V́
vậy không có con
người th́ không có cách mạng, cách mạng là một
hành vi của nhân tính, v́ con người mà làm cách mạng,
cách mạng ngay chính bản thân ḿnh, chống lại
những ươn hèn, những thói hư tật xấu
ngay chính ḿnh, cách mạng ngay chính xă hội ḿnh đang
sống, cách mạng chống lại những tàn phá của
thiên nhiên để làm thăng hoa nhân giới và ḥa ḿnh cùng
nhiên giới (thiên nhiên ở đây là khách quan,
không có ǵ mâu thuẫn với khái niệm thuận thiên
cả). Cho nên cách mạng nếu không có tư
tưởng cao đẹp chỉ đạo cho hành
động, th́ cuộc cách mạng ấy sẽ thoái hóa và
quay trở lại phá hoại xă hội, (xin xem lại
mục cách mạng ở trên). nhưng
nếu muốn tư tưởng và hành động hợp
nhất không ǵ bằng mài giũa để mỗi ngày
mỗi tiến lên măi, nên trong “Đạo Trường Ngâm”
Cụ Lư nói:
* - Rùa rồng
gọt giũa hoa thuần túy.
Đạo
Trường Ngâm – Nga My Hành (2824 T.V).
Rùa
tượng trưng cho hạ tầng xây dựng kinh
tế vật chất tức là phương Tây (mà Hoa
Kỳ là đại diện).
Rồng tượng
trưng cho thượng tầng lănh đạo tư
tưởng (tinh thần) tức là đạo học Bách
Việt (biểu tượng của Tàu là sư tử hay
cọp chứ không phải là rồng, Quan Vân Trường
được cả dân tộc Tàu ngưỡng mộ và
tôn thờ cũng chỉ là một trong Ngũ Hổ
Tướng của thời Tam Quốc). “Rùa
rồng gọt dũa hoa thuần túy”. Một ư nghĩa
sâu xa khác muốn nói
đến những nhà lănh đạo trí tuệ siêu
việt của Việt
* - “X. Y. Thái Dịch Lư Đông A”
Như
thế trong điều kiện của thế giới hôm
nay, khi cuộc cách mạng đang khởi điểm, các
thế lực chống đối đang ra sức kết
bè lập đảng để cản trở quá tŕnh này,
các thế lực ấy sẽ thất bại chúng chỉ
có thể tŕ hoăn đôi chút thời gian mà thôi. Và v́ “Giác biện chứng lớn”
cho nên Cụ Lư mới dùng danh hiệu: “X. Y. Thái Dịch Lư
Đông A” là thế. Dưới đây
là ư nghĩa của cụm từ X.Y. Thái Dịch Lư Đông
A.
* - (X.Y.) - Vũ Trụ Quan - Duy Nhiên - Đại
Đồng.
Biết
là trục của sự sống, biết là một thể
hệ. Thể Hệ là một hệ thống tṛn
đầy, người hiểu được thể
hệ biết th́ tầm hiểu biết phải rộng,
phải xa, nghĩa là phải có một viễn kiến sâu
rộng, nhưng sợi đan phải nghiêm mật,
nghĩa là phải biết một cách chi tiết và rơ ràng,
nhưng viễn kiến sâu rộng và sự biết kia
phải mang tính chất khoa học, mọi sự, mọi
việc phải thiết kế được bằng
đồ biểu, cũng như phương thức và
phương pháp, có như vậy người biết
mới đi sâu vào từng vấn đề nhỏ
của mọi vấn đề nhỏ, để
hoạch định những vấn đề thiết kế
cho nhân sinh bây giờ và cho cả tương lai. Đó là ư nghĩa của câu “biết là trục
của sống” v́ “sống đến đâu là vũ
trụ đến đó”. Nên tên Lư Đông A là biểu
hiệu của Cụ (cụ
tên thật là Nguyễn Hữu Thanh), “Chủ Thuyết Duy Dân
Nhân Chủ của Lư Đông A” là biểu hiệu
của cả một thể hệ học, một hệ
thống lư luận, Chủ Thuyết Duy Dân Nhân Chủ
của Lư Đông A tựa như một lâu đài văn hóa
bao gồm nhiều mặt.
X.Y. Tức là trục Tung và
trục Hoành đó là h́nh thức diễn đạt các
Đạo Hàm trong toán học, mà môn toán học
được coi là một môn khoa học chính xác nhất của
nền văn minh cơ khí phương Tây, nên khoa học là
một phương tiện để con người t́m
hiểu thiên nhiên và khoa học cũng khám phá ra những bí
mật của vũ trụ. Trục Tung là
trục của thời gian, trục Hoành là trục của
không gian. Như vậy X.Y. tượng trưng cho Vũ
Trụ Quan
Ngày xưa
môn khoa học được gọi là môn “Cách Trí”, tại
sao gọi là cách trí?. Cách trí là chữ
viết tắt của một cụm từ gọi là “Cách Vật Trí Tri”, nghĩa là
phải t́m hiểu hay thay đổi sự vật ở
nhiều khía cạnh để sự t́m biết
được viên măn, nghĩa là sự t́m kiếm phải
biết đến nơi đến chốn. “Trí Tri” Trí là
đến nơi Tri là hiểu biết. “Cách Vật” là mổ xẻ
sự vật đó ra, phải nh́n từ trong ra ngoài,
từ ngoài vào trong, phải lật ngược lật xuôi
sự vật để t́m hiểu vào từng vấn đề
nhỏ của sự vật. Ví dụ: Chúng ta phải
mổ xẻ các sinh vật nhỏ như chó, mèo, cóc, nhái
để t́m hiểu chi tiết và cách cấu tạo
của các sinh vật, từ đó đưa ra những
khám phá mới, để phục vụ cho con người
để tránh các bịnh tật hay định bịnh cho
con người. Vậy “cách vật trí tri”
được chia ra làm 2 vấn đề nhỏ.
a) . Phân Tích là
để t́m hiểu các cơ quan cũng như để
t́m ra những chi tiết, dữ kiện.
b) . Tổng Hợp là
để hiểu một cách toàn thể các cơ quan và các
sự vận hành chung của cơ quan
đó từ những chi tiết những dữ kiện
(phân tích) có được.
Như vậy Phân Tích và Tổng Hợp sẽ
đi đến thống nhất của vấn
đề, để t́m ra cái toàn vẹn (tổng thể)
kết quả của vấn đề.
Nhưng Vũ Trụ Quan là ǵ? Vũ Trụ Quan là quan niệm
khoa học về thế giới bên ngoài của chúng ta
như: trời, đất, sông, biển, sinh vật hay các
hành tinh ở xa trái đất chúng ta. Nhưng khi quan sát
vũ trụ chúng ta phải quan sát với tính cách khách quan
chứ không quan sát một cách chủ quan, v́ tất cả
mọi người ai ai cũng hiểu rằng
nước th́ xôi ở 100 độ và đông đá ở
0 độ, vậy không có nền khoa học Đông hay Tây
mà chỉ có khoa học của loài người, v́ con
người ai cũng có thể ứng dụng
được các phát minh do khoa học mới làm ra, v́
thế khoa học mang tính cách chung của chân lư Đại
Đồng, nên gọi là Vũ Trụ Quan - Đại
Đồng.
Duy Nhiên là ǵ? Duy Nhiên là kết hợp toàn thể Thiên nhiên và
trạng thái Tự nhiên trong vũ trụ này lại
để t́m hiểu theo nguyên tắc khoa học, v́ càng t́m
hiểu thiên nhiên và tự nhiên bao nhiêu th́ tầm hiểu
biết chúng ta về vũ trụ càng xa và rộng bấy
nhiêu, loài người càng hiểu về vũ trụ bao
nhiêu th́ chúng ta càng xử dụng vũ trụ một cách
hữu hiệu chính xác bấy nhiêu. Ví dụ như các khoa
học gia lấy các chất trong vũ trụ để
ứng dụng vào trong nghành nông nghiệp (điều này
đă thành công) hay khoa học kỹ thuật để
phục vụ cho nhân sinh bây giờ và trong tương lai,
và cứ như vậy con người lại đi
những bước đi kế tiếp, để làm
chủ nhân giới cũng như nhiên giới, cũng
như để ḥa cùng vũ trụ (cùng vũ trụ ḥa). (mai đây nền khoa học hiện
đại sẽ cho chúng ta biết rằng: Các hành tinh xa
cách chúng ta hàng triệu triệu dậm (miles) cũng có
sự sống như quả địa cầu của chúng
ta hiện nay. Đó là thời kỳ “Liên Hành
Tinh” mà các bài viết trước đây chúng tôi có
đề cập đến).
Tóm lại như trên đă nói “Biết Là Trục
Của Sống”, nên biết đến đâu là
sống toàn vẹn (vũ trụ) đến đó. Và đó cũng là lư do
để giải thích tại sao con người khổ
đau v́ Vô Minh (không biết), nhưng muốn biết tràn
đầy và toàn vẹn để tránh vô minh đau khổ
cho tương lai th́ không có ǵ hơn bằng cách phải
học, nghĩa là mọi người phải
được giáo dục (giáo dục là chung điểm và
khởi điểm của chính trị vậy).
*
- (Thái Dịch) - Nhân Sinh Quan - Duy Nhân - Tuyệt Đối
Ngoài khoa học ra trong sự hiểu biết
của con người phải nói đến triết
học, v́ không có triết học sự sống con
người sẽ bị bế tắc về nhiều lănh
vực và sẽ đi vài hủy diệt. Vậy Triết Học
là ǵ? Nói vắt tắt triết học là thống quan
của con người để áp dụng cho Nhân Sinh Quan,
sự sống của con người là một sự
vận hành không bao giờ ngưng nghỉ, như thế
theo quan niệm của nhân sinh th́ Triết học chính là
Dịch học và v́ sự ứng dụng vào
đời sống con người qua sự vận hành
của nó nên gọi đó là Thái Dịch.
Thái Dịch là ǵ? Thái là lớn, Dịch là sự
biến đổi, đổi thay. Theo
cách diễn nghĩa trên Thái dịch là sự biến
đổi lớn. Tất cả muôn vật mang
sự sống trong vũ trụ này đều đổi thay rung động, v́ bản chất của
sự vật là sống mà sống tức là sự rung
động là đổi thay. Ví dụ: Sự rung
động của ánh sáng, âm thanh hay sự rung động
của một gịng điện (vi-ba, vibration, âm ba)
đều mang tính Âm và Dương. Đó là ư nghĩa ṿng
tṛn của thái dịch được cắt làm đôi
(thái dịch sinh lưỡng nghi - sideway). Bản chất
của sự sống là rung động
v́ Tĩnh lặng là sự chết không c̣n biến
đổi nửa. Nói một cách khác là khi con người
chưa đạt đến đỉnh cao nhất
của triết học, nghĩa là chưa thông hiểu
được triết học (dịch học), th́
triết học cứ tản mạn bàn về những ư
niệm không thực tiễn bên ngoài đời sống
của con người, c̣n những ǵ sâu thẳm tàng ẩn
bên trong con người th́ họ lại quên đi. Như
vậy con người sẽ bị xoay vào các cơn
lốc ảo tưởng của ư niệm mà không làm sao
nh́n được hướng đi cho Nhân Tính. Triết
lư là ǵ nếu không là sự chăm lo cho con người,
lấy những nhu yếu chính để làm nền
tảng của con người, Triết lư phải
được tỏa rộng như một “Đại
Đạo”, phải nh́n xa trông rộng, phải ngàn tay
vạn chân, để chăm lo cho đời sống con
người nói chung. Đó chính là tinh hoa
của triết học. Bởi v́ trong con người
được hội đủ cả hai yếu tố
tinh thần và vật chất (âm – dương). Một là
phần vật chất hạn hẹp gói trọn trong
bản thân, Hai là phần tinh thần tỏa rộng ra
vũ trụ, nhưng khi nào con người c̣n bị giam
cầm trong thân xác hạn hẹp của vật chất,
th́ bấy lâu con người chưa thể đạt
đến giai đoạn “Lưỡng Nghi”. Lưỡng
Nghi là cân bằng vật chất và tinh thần có nghĩa là
âm dương phải giao thoa trong thân thể của
mỗi con người, vậy nếu “duy vật” chất
th́ bất thành, nên sách có câu “Nhất Dương Bất
Sinh” là vậy. Tổ tiên Bách Việt đă thiết lập
một nền văn minh văn hóa Đông Phương
một cách huyền diệu, đă nh́n được
lưỡng nghi tính trong thân thể con người, tức
là “Chỉ Thị” hai cực trong cùng một thực
thể, Quy Củ ấy phải liên hệ với một
thực thể vượt tầm giác quan, nên có khả
năng ḥa hợp hai cực đối chọi. Đây chính
là tinh hoa của nền Triết Học Đông
Phương. V́ thế cho nên học giả Needham
người dày công nghiên cứu về nền văn hóa Bách
Việt đă đưa ra một nhận định
bất hủ rằng: “Trong nền văn hóa Bách
Việt không có ư niệm tội lỗi mà chỉ có sự
cố gắng đạt đến ḥa hợp”. Ḥa trời với đất “Tam
Thiên Lưỡng Địa” để tạo thành con
số 5. Mọi người Việt ta ai
cũng biết Âu Cơ là tổ của các loài chim, chim
cũng là tượng trưng cho Tổ vật của
Họ Hồng Bàng. V́ vậy số 5 là ch́a khóa mở
cửa đi vào ư nghĩa để hiểu nhiều
truyền thuyết, Huyền Thoại, cũng như
Huyền Sử (huyền học cổ sử) của
nền văn hóa Bách Việt.
Vậy theo định nghĩa trên Thái Dịch
tức là Nhân Sinh Quan. Nhân Sinh Quan là quan
niệm để sống mà sự sống th́ phải
mỗi ngày mỗi đổi thay (nhật tân nhật
nhật tân) để sống tiến hóa. Nhân sinh quan
là quan niệm sống, nên quan niệm sống đó là
một chân lư Tuyệt Đối, bởi v́ mỗi một cá
nhân phải tin và sống theo cái quan
điểm của ḿnh. Trong tinh thần yêu nước cao
độ dạt dào t́nh cảm của những chiến
sĩ cách mạng đầy quả cảm, đă có
biết bao nhiêu anh hùng vô danh, dám quên thân ḿnh oai hùng nằm
xuống cho đại nghĩa cho tổ quốc, những
người dám hy sinh sự sống của cá nhân ḿnh cho
kẻ khác là một hành động vô cùng cao đẹp
không phải ai ai cũng xả thân làm được hay có
thể làm. Theo quan điểm của họ đó là lư do
để giải thích tại sao Chân Lư Sống Tuyệt
Đối, để họ dám tin, dám
sống và dám chết cho đại nghĩa.
Trong nhân
sinh quan bao gồm cả quan niệm t́nh yêu (t́nh gia đ́nh,
t́nh vợ chồng, t́nh yêu tổ quốc), vượt trên
hết tất cả những ràng buộc đẳng
cấp, màu da, chủng tộc, mọi thị phi của xă
hội để mong t́m một thay đổi đầy
lạc quan, cho chính cá nhân họ, cho xă hội hay cho tổ
quốc họ. Nhân Sinh Quan là quan niệm sống, mà sự
sống của mỗi con người phải
được tự do về cả hai phương
diện tinh thần lẫn thể xác, nên sự tự do đó
phải được bảo vệ tuyệt đối. Trong quan niệm triết học gọi đó là Nhân
Sinh Quan Tuyệt Đối. Tuyệt đối
trong cá nhân của mỗi con người, để con
người có quyền sống theo
sự tự do và suy nghĩ tuyệt đối của
ḿnh, V́ là trong phạm vi của con người và cho con
người. Nên quan niệm triết học
đó được gọi là Duy Nhân (con người).
Hay nói khác đi là quan niệm sống của mỗi cá nhân,
mỗi xă hội, mỗi dân tộc đều có cách
sống riêng theo bản sắc và văn hóa của họ,
nhưng cách sống đó phải hướng
thượng, phải đi theo những tiến bộ của
nhân loại, phải đi theo đà tiến văn minh
của con người, để làm cho nhân giới và nhiên
giới được hài ḥa, nội giới với
ngoại giới phải tương ứng. (ví dụ như vấn đề môi sinh
chẳng hạn, như nhiều quốc gia hiện nay
lạm dụng phá rừng một cách bừa băi, đă làm
cho quả đất thêm nóng, từ đó gây ra băo tố,
mưa lũ tàn phá sự sống con người).
Nếu mỗi người đều có một
quan niệm sống riêng, th́ con người đều
giống nhau trong đại thể nhưng lại khác nhau
trong tiểu tiết. (đây là quan niệm
Đại Đồng, Tiểu Dị). Không ai có thể
dùng (tinh) thần quyền để mong đoàn ngũ hóa
cuộc sống của loài người, cũng không ai có thể
bần cùng hóa con người bằng vật chất
được, những hành động nêu trên có tính cách
phản lại con người và hủy diệt con
người, cho nên con người khi sống th́ tinh
thần phải được tự do phóng khoáng và tự
do suy tư, suy nghĩ. Bản sắc của mỗi cá nhân,
bản sắc của một dân tộc dù nhỏ cũng
phải được tôn trọng, không có sự tôn
trọng lẫn nhau giữa cá nhân và cá nhân, giữa dân
tộc và dân tộc th́ con người không có hạnh phúc và
lạc quan để chung sống với nhau. Vậy Nhân Sinh Quan - Duy Nhân - Tuyệt Đối,
tuyệt đối ở điểm mang tính cách Chủ
Quan Cá Nhân (khác với chân lư đại đồng là Tổng
Thể Khách Quan).
Tiếc
thay đă nhiều ngàn năm qua xă hội loài người
đă bị đóng khung trong “tín ngưỡng thần
quyền” nên sự phát triển về tri thức của
con người đă bị dừng lại, nếu không
muốn nói là tín ngưỡng đă bóp nát tri thức con
người và bắt con người sống thoái hóa
về tri thức cũng như lối suy tư. Hiện
nay trên thế giới này cũng c̣n có một số
quốc gia hay những tổ chức mệnh danh là tôn
quyền (hay thần quyền) để khống chế và
áp đặt vào trong tư tưởng con người
những điều ảo tưởng. Nếu đất
sét có thể nặn thành người, khúc xương
sườn có thể trở thành người mẹ
hiền, th́ vũng nước ổ gà kia có thể hóa
đại dương, những tên hề nhi nhô cũng có
thể vang danh trở thành những vĩ nhân lừng danh
sách sử. Con người của thế kỷ 21 này
phải mạnh dạn cởi bỏ những cái xấu xa
hủ bại đă choàng và cổ con người ở
những thế kỷ trước, chúng ta phải
đứng dậy để tiến về phía
trước, để theo kịp đà tiến hóa văn
minh ở nhiều lănh vực của nhân loại hôm nay.
*
- (Lư Đông A) – Chính Trị Quan – Duy Dân – Tương
Đối
“Lư” trong kinh dịch
được gọi là quẻ Lễ (Lư giả, Lễ
giả) nghĩa là con người trong cuộc đời
này nên lấy lễ nghĩa để đối xử với
nhau, người trên kẻ dưới phải có những
tương quan liên hệ ra sao trong gia đ́nh cũng
như ngoài xă hội, trong một quốc gia hay cùng một
chủng tộc.
“Đông
A” là đất
thuộc vùng Đông Á , đó là biểu hiệu của
một vùng “Địa Lư Chính Trị”, nên gọi là “Chính
Trị Quan Duy Dân”. Chính trị quan duy dân là chính
trị kết hợp các dân tộc, các người dân trong
một vùng địa lư chính trị đó lại với
nhau, bởi v́ dân tộc th́ nhiều mỗi dân tộc
đều có một sắc thái riêng và có một nền
văn hóa riêng, cho nên họ có cách sống và cách sinh hoạt
đặc thù của riêng họ.
Theo “nhân
sinh quan tuyệt đối” ở trên do đó chúng ta
phải tôn trọng văn hóa, sắc thái riêng của
họ. V́ dân tộc th́ nhiều nhưng nhân
loại (con người) th́ chỉ có một. Đây là quan niệm “Đại Đồng -
Tiểu Dị” áp dụng trong chính trị quan đó là “Chân
Lư Tương Đối”. Bởi theo nguyên
tắc của tự do th́ ai cũng có quyền sống theo
cách suy nghĩ của ḿnh, dân tộc nào cũng có quyền
tự do để đ̣i độc lập cho tổ
quốc ḿnh cả, nếu con người của một xă
hội đó yêu chuộng và tôn trọng tự do th́ dân
tộc đó phải được độc lập.
Độc lập là ǵ? Là sự tự do của
một quốc gia mà người dân trong quốc gia đó
có quyền quyết định cách sống của dân
tộc ḿnh, quyết định cách sống theo
văn hóa của đất nước ḿnh mà không ai có
quyền áp đặt. Độc lập của một
quốc gia cũng tương tự như sự tự do
của một cá nhân, sự độc lập của
một quốc gia hay sự tự do của cá nhân phải
đi đến xây dựng giàu đẹp và hạnh phúc
cho chính cá nhân và cho quốc gia đó.
Độc
lập cho một quốc gia, tự do cho một cá nhân là
để mưu cầu b́nh an và hạnh phúc, một vài
quốc gia c̣n sót lại trên thế giới này (Việt Nam
hiện nay là một ví dụ) cũng đưa ra
phương châm: “Độc Lập, Tự Do, Hạnh
Phúc”nhưng tiếc thay đó chỉ là lời nói mỉa
mai của những kẻ độc tài kém hiểu biết
và chỉ biết chinh phục con người bằng
sức mạnh của bạo lực. Lư Thuyết Cộng
Sản là một lư thuyết phản lại nhân tính con
người, nó không đem lại tiến bộ cho loài
người và cũng không mang lại no ấm, hạnh
phúc, tự do cho loài người. Điều này là một
sự thật hiển hiện cho nên chúng ta không cần bàn
nhiều ở đây
Tóm
lại “X.Y. Thái Dịch Lư Đông A” là một “Thể
Hệ Học” và một “Thể Hệ Biết” bao gồm:
Triết Học, Khoa Học và Chính Trị Học (Sử
học - lịch sử là chính trị của quá khứ,
chính trị là lịch sử của tương lai). Nhưng v́ sao lại có chính trị học? V́
chính trị là một nghệ thuật tổ chức xă
hội mà con người không bao giờ tự sống ngoài
xă hội được. Xă hội là một môi
trường sống, nhưng nếu môi trường
sống (thiên nhiên) ấy bị ô nhiễm th́ xă hội con
người sẽ bị khổ sở, bệnh tật v́
không thể sống được, v́ vậy môi
trường đó phải được bảo vệ
cho thật trong sạch, cho nên chính trị quan phải
tương đối để phù hợp với cuộc
sống của con người. Chính trị
quan phải có nhân bản, nhân tính, nhân chủ để
thăng bằng giữa thiên nhiên và vạn vật, (trong
đó con người là chủ thể).
Đóa
Hoa Huyết (người ta bừng thức giấc)
phải nở để từ khởi điểm Nhân
Bản với tiến tŕnh cách mạng Nhân
Tính con người phải được phát huy
đến cao độ, để con người sống
sao cho xứng đáng với Nhân Phẩm và đầy
đủ Nhân Cách trong tiến tŕnh Làm Người để đạt đến
đích điểm Nhân Chủ. Nên trong
Đạo Trường Ngâm Cụ Lư nói:
* - Nhất nguyên tóm
lại ngôi hoàng cực.
Đạo
Trường Ngâm - Bạch Sơn Hành (4823 T.V.)
“Nhất Nguyên” nghĩa là chỉ
có một “Chủ Nghĩa Duy Dân Nhân Chủ”, chỉ có
một nước Hoa Kỳ mới có đầy
đủ chính nghĩa để lănh đạo thế
giới đi vào công cuộc cách mạng vô tiền khoáng
hậu này. “Ngôi Hoàng Cực” Hoa Kỳ phải
thành công.
Lê
Văn Xương
(C̣n Tiếp)