Ư Niệm Thế Hệ:

Hy Vọng Của Quốc Gia Và Toàn Thế Giới.

 

 

Ba tuần trước khi phát biểu trên làn sóng này về mục “Thế Hệ”, chúng tôi có nói: Sẽ phát biểu nhiều kỳ và tôi có nói ngay đến vai tṛ của thế hệ 40 với thế hệ 80 mà không nói ǵ nhiều về thế hệ 50, 60 và 70. Nhiều thính giả sẽ thắc mắc và tự hỏi: Phải chăng chúng tôi đă không nh́n thấy vai tṛ quan trọng của các thế hệ sau 40 trong việc dẫn dắt thế hệ 80 và sau 80 chăng ?

 

Xin trả lời là: Sự cố t́nh quên đi các thế hệ sau 40 là có chủ đích rơ rệt v́: “Chúng tôi muốn đánh thức tất cả các thế hệ Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước, về vai tṛ của ḿnh đối với vận mệnh của đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai tới đây”.

 

Đă nhiều lần trên làn sóng này tôi liên tục nhắc đi nhắc lại nhận định có tính cách rất căn bản đối với lịch sử của bất cứ dân tộc nào, đất nước nào. Đó là: Nếu muốn xây dựng đất nước đến nơi đến chốn, mọi dân tộc phải biết hướng tiến tới của nhân loại và rằng không một dân tộc nào có thể phát triển thật sự nếu dân tộc ấy không biết hoặc chưa dám tiến hành một cuộc thẩm định lịch sử một cách rốt ráo và trọn vẹn về quá tŕnh phát triển của nhân loại cũng như của chính dân tộc ḿnh. Như thế, để biết thẩm định lịch sử, anh phải có trí tuệ siêu quần, ḷng cam đảm rất cao độ với tất cả ư thức trách nhiệm và thiện ư muốn đem lại no ấm cho nhân dân đất nước anh, để từ đó đóng góp vào việc đem lại an b́nh cho toàn nhân loại nói chung.

 

Lịch sử nh́n theo nghĩa rộng là cả một quá tŕnh phát triển không bao giờ ngưng nghỉ theo rất nhiều hướng khác nhau và nhiều khi đối nghịch nhau; như thế, sự thẩm định lịch sử phải liên tục, khách quan và toàn diện để bảo đảm rằng các biểu hiện tiêu cực của một xă hội, một cộng đồng cần được giảm thiểu đến mức tối đa để tạo điều kiện thuận lợi cho các biểu hiện tốt có cơ hội không ngừng phát triển. Trong một xă hội phát triển chậm (nói theo Alvin Toffler) th́ các biển hiện xấu, tiêu cực cũng chậm lây lan và chậm nh́n thấy để mà sửa chữa (thế mới coi là xă hội chậm), nhưng trong một xă hội phát triển nhanh (phương Tây ngày nay) th́ biển hiện xấu có khả năng lây lan rất nhanh trên quy mô toàn cầu. Cho nên việc sửa chữa không phải dễ dàng trong khi “lực tiến nhanh tới phiá trước” phải đối diện với “lực cản trở ở phiá sau” do lịch sử để lại, luôn vin vào một số biểu hiệu tiêu cực để cổ vũ cho một số hành động bảo thủ của ḿnh mà các hành động ấy, thực chất chỉ là nhằm bảo đảm cho quyền lợi của phe phái ḿnh hay các đặc quyền, đặc lợi mà họ hoặc phe phái của họ đang được hưởng do áp bức hoặc bóc lột kẻ khác, dân tộc khác mà họ có được.

 

Cuộc chiến đấu giữa cái mới và cái cũ c̣n nhiều cam go và nhân loại c̣n phải hy sinh nhiều trước khi có được một tương lai tươi sáng. Bây giờ là lúc mà thế giới nói chung, phải đổi mới thật sự về cách suy tư, cũng như hành động, cho dù với nhiều đau thương (nhưng nhân loại không c̣n một chọn lựa nào khác) để đặt nền tảng cho thế kỷ 21 này và các thế kỷ sau, khi toàn địa cầu này thực sự trở thành một xă hội Nhân Chủ Pháp Trị.

 

Nhiều người, ngay cả Âu châu vẫn c̣n nghĩ rằng: Hoa Kỳ đă đẩy thế giới tiến quá mau về phía trước mà không có các chuẩn bị thích ứng. Suy nghĩ như vậy là hoàn toàn sai! Ta hăy thử nh́n lại xem, trong lănh vực kỹ thuật điện tử: Từ kỹ thuật Analog sang kỹ thuật Digital th́ cuộc cách mạng này xảy ra chỉ vỏn vẹn chưa đầy 20 năm nếu không nói là chỉ vỏn vẹn có 10 năm cách tân này mà đă làm đảo lộn thế giới, hoàn toàn có khả năng biến con voi thành con chuột. Kỹ thuật tân tiến ngày nay với trí tuệ thông minh đặc biệt, có khả năng làm được nhiều việc mà trước đây 50 năm, cả ngàn con voi cũng không làm được (so sánh máy điện toán IBM thế hệ I với cell phone ngày nay th́ ta thấy sự khác biệt là rất rơ rệt). Như thế, luận điểm trách cứ Hoa Kỳ đă đẩy thế giới đi quá nhanh về phiá trước chỉ biểu hiện thực trạng không nh́n xa trông rộng mà thôi. Trớ trêu thay, luận điểm sai lầm này lại được nhiều nhóm bảo thủ thuộc thế giới phát triển chậm chia xẻ và được chủ nghĩa bành trướng Hán tộc của Bắc kinh hoan nghênh.

 

Nhiều người, ngay cả Âu châu, nghĩ rằng: Khi làm như vậy, Hoa Kỳ đang muốn bành trướng “chủ nghĩa đế quốc kiểu Mỹ, văn hoá kiểu Mỹ” trên quy mô toàn cầu. Nghĩ như vậy cũng sai! V́ lịch sử nhân loại là lịch sử của sự hợp nhất và là quá tŕnh của sự tự giải phóng ḿnh khỏi các ràng buộc do chính con người trong quá tŕnh phát triển của ḿnh đă đặt định ra cho các thế hệ mai sau. Như thế, các thế hệ sau, nhất định phải biết dựa vào đà tiến hóa (ngày nay) để mà canh tân cải cách cái cũ, chứ có đâu lại cứ phải vin vào các khái niệm cũ từ cả ngàn năm trước (mà đến nay đă không c̣n hợp thời nữa) để cố t́nh kéo lùi thế giới lại, hoặc dựa vào đó để thực hiện các ư đồ đen tối của ḿnh. Nói cho cùng ra, nếu anh có trí tuệ thật sự để dẫn dắt thế giới th́ thế giới sẽ theo anh ít ra cho tới khi anh tự trở thành lỗi thời, lạc hậu. Lịch sử đă từng xảy ra và tiếp tục xảy ra như vậy. Cho nên, nếu muốn dẫn dắt thế giới, anh phải tự ḿnh đổi mới liên tục cho phù hợp với đà tiến hóa mới. Để làm được việc ấy, anh phải có trí tuệ siêu quần, một ḷng cam đảm đích thực và một thiện ư bao la là vậy. Cho nên, “Hoa Kỳ chẳng bành trướng đế quốc mà chỉ đề xuất Dân Chủ-Tự Do, và cuối con đường dân chủ tự do là con đường Nhân Chủ Pháp Trị được áp dụng trên quy mô toàn cầu, đây là hướng đi đúng nhất mà nhân loại này phải đi không một thế lực nào có thể cản trở hay có thể kéo lại được, v́ vậy chúng ta nên ḥa ḿnh vào gịng tiến hóa mới của nhân loại”. Nói cho rơ ra để giới lănh đạo của Bắc Kinh và các thế lực chậm tiến khác khỏi phải suy tư; rằng: Ví dụ: Trước đây khi đế quốc đỏ Nga Sô phát động phong trào “giải phóng” để bành trướng Cộng sản trên toàn cầu, th́ Hoa Kỳ lại đề cao Dân chủ và cuối cùng Hoa Kỳ đă chiến thắng cả “bạn” lẫn thù. Hiện nay Trung Cộng đang mang mộng Hán hóa nhân loại th́ Hoa Kỳ lại xuyển dương học thuyết Nhân Chủ chỉ có vậy, đó cũng là ư nghĩa của cuộc chiến đấu giữa Thiện và Ác, giữa thế lực nhanh với các thế lực chậm, để rồi cuối cùng th́ các thế lực chậm tiến cũng phải bị bỏ lại phía sau như một quy luật tất yếu của lịch sử vậy. Thế giới rồi đây chỉ c̣n lại một nền kinh tế chung, một quy luật chung, một luật pháp chung. Sự tích Hằng Nga Hậu Nghệ sẽ trở thành sự thật mà chúng ta sẽ chứng kiến.

 

* - Sông Hằng, nước Hán đều quy lại,

* - Đảo Úc tầng A cũng phục quanh,

          (trích Đạo Trường Ngâm – Tiên Long Châu Hành. 4822 T.V)

 

Nhiều người, ngay cả Âu châu, nghĩ rằng: Hoa Kỳ luôn lạm dụng bạo lực và không có t́nh nghĩa trước sau đối với đồng minh. Ta tự hỏi: Thế nào là lạm dụng bạo lực ? Thế nào là t́nh nghĩa trong chính trị ? Nếu xử dụng bạo lực để phục vụ cho ước vọng điên cuồng của cá nhân được bao bọc bởi tinh thần quốc gia dân tộc mù quáng để thực hiện ư đồ thống trị quyền lực tuyệt đối, độc tôn th́ đó là lạm dụng bạo lực đích thực. Staline, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, Hitler, Saddam Hussein, Kim Jong-Ill, các giáo sỹ điên rồ ở Iran là các kẻ lạm dụng bạo lực đích thực. Cho nên các chính quyền, chính phủ do các kẻ xấu ấy dựng lên cần phải đập tan. Nh́n vào lịch sử Hoa Kỳ trong hơn 200 năm qua, th́ ta thấy Hoa Kỳ luôn luôn đi diệt các kẻ lạm dụng bạo lực để cứu nguy cho nhân loại. Hoa Kỳ chưa bao giờ đem quân chiếm thuộc địa và bóc lột công sức của các dân tộc chung quanh. Đấy là chưa kể các chủng tộc nhỏ, các nền văn hóa lâu đời đă bị hoang phế do chiến tranh gây ra bởi các kẻ lạm dụng bạo lực, hoặc bị tàn phá do thời kỳ thực dân để lại, đă và đang được Hoa Kỳ giúp đỡ để bảo tồn hoặc khai quật để khôi phục lại các nền văn minh đă bị mai một ấy. T́nh nghĩa trong đời thường là một khái niệm mơ hồ và chẳng có tiêu chuẩn khách quan thống nhất để so chiếu. T́nh nghĩa đối với người Hồi giáo Trung đông là giữa những người cùng hệ phái hay bộ tộc với nhau chứ không phải là giữa loài người với loài người theo đúng ư niệm chân chính của từ ngữ này. T́nh nghĩa trong chính trị phải chăng là một thể hiện giữa đồng minh với nhau đặt căn bản trên sự tương nhượng về quyền lợi mà không có bạn thù. Xét theo nghĩa này th́: Trong chính trị, vấn đề t́nh nghĩa không nên đặt ra v́ tương quan giữa các phía thay đổi từng ngày, từng giờ.

 

Như thế, t́nh nghĩa chỉ là và luôn là thể hiện một mối quan hệ chân t́nh giữa cá nhân cụ thể này với một cá nhân cụ thể khác mà thôi. C̣n mối quan hệ t́nh nghĩa chính trị th́ thực tế cho thấy là rất hiếm hoi và ít bền vững. Nếu có chăng chỉ khi nào họ đồng đẳng trong trí tuệ (“Quần Long Vô Thủ”). Một số người cho là Hoa Kỳ thiếu t́nh nghĩa dựa vào cách thức mà Hoa Kỳ đối xử với một số nhà cầm quyền các nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh mà tiêu biểu nhất là miền Nam Việt Nam trước 1975. Khi quan sát vấn đề này, ta phải b́nh tâm quan sát các sinh hoạt chính trị trên quy mô toàn cầu từ cổ đại đến nay và so chiếu với cách thức mà Hoa Kỳ đả xử sự thực sự với các nhóm thiểu số như thế nào khi họ đến định cư tại nước Mỹ. Nói một cách khác t́nh nghĩa trong chính trị của Hoa Kỳ là: “Quyền lợi giữa anh và tôi phải đặt trên căn bản là Người”. Nhưng một điều mà chúng ta nên ghi nhớ là: Lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ là cả một chuỗi dài bị đè nén đau thương. V́ hiểu như vậy cho nên lúc nào Hoa Kỳ cũng sẳn sàng “Thề cứu loài người yếu”, tấm ḷng hào hiệp của Hoa Kỳ không ai có thể phủ nhận hay chối bỏ được. Cho nên người lănh đạo các quốc gia dù nhỏ, khi đà nhận trách nhiệm th́ anh phải lo cho sự b́nh an ổn định cho chính dân anh. Tôi lo cho dân tôi no ấm th́ anh cũng phải lo cho dân anh hạnh phúc, v́ tất cả chúng ta đều là con người nên sự tự do hạnh phúc phải được chia đều, không ai có quyền đè nén và bóc lột con người. Có như vậy th́ đời sống con người mỗi ngày mỗi được thăng hoa lên và tiến lên tiến lên măi để xây dựng một thế giới đại đồng hạnh phúc. Hạt giống Nhân Chủ phải được nẩy mầm, hoa Nhân Chủ phải được nở trong mọi nhà, đó cũng là ước mơ ngàn đời của con người vậy.

 

Chính trị là một sự ứng dụng của mưu thuật, mỗi mưu kế thích ứng với một thời điểm nào đặc biệt nào đó, phù hợp với một t́nh huống nào đó. Trong chiến tranh lạnh, các Kingmakers hay là các kẻ dàn dựng các chính phủ (CIA) đă ủng hộ nhiều chính phủ dân chủ sơ khai trong một số vùng tranh chấp nào đó (Đặc biệt, khi mà Trung cộng và Liên Xô đang “xuất khẩu” cuộc chiến tranh nhân dân đến các vùng đó), mặc dù các vùng đó chưa sẵn sàng cho hạt giống dân chủ nảy mầm. V́ thế mới gọi là “Chiến Tranh Lạnh”. Nhưng chiến tranh lạnh thật ra cũng không lạnh lắm cho những ai tham gia vô cuộc chiến tranh lạnh ấy (nhất là các nhà lănh đạo các quốc gia nhược tiểu) mà vẫn cứ nghĩ về độc lập thực sự trong một một thế giới đầy chiến tranh th́ suy nghĩ của họ rất sai v́ vai tṛ của một số quốc gia nhỏ chưa thực sự được nh́n nhận (đặc biệt trong các vùng nhạy bén) như các quốc gia độc lập thực sự, mà chỉ được xử dụng như một thành lũy nhằm ngăn chặn, be bờ làn sóng đỏ để làm sụp đổ Liên Xô mà thôi. Ngày nay, mọi chuyện đă và đang thay đổi tận gốc rễ, nên chính trị cũng phải thay đổi theo cho hợp với hoàn cảnh hiện tại. Các h́nh thức xử dụng các công cụ chính trị bản xứ đă không c̣n được chấp nhận nữa. Thay vào đó là cả một kế hoạch sâu rộng nhằm đưa tự do, dân chủ đến cho mọi người, mọi quốc gia, mọi dân tộc nhỏ yếu chưa bao giờ hiểu được tự do dân chủ. Do đó: Cơ hội độc lập thực sự, dân chủ tư do thật sự đang thật sự mở ra cho cả nhân loại. Chúc cho các dân tộc, nhất là các dân tộc yếu kém, nghèo khổ biết nắm lấy cơ hội ngàn vàng này.

 

* Với Việt Nam:

Trong buổi tiếp xúc với các cơ quan truyền thông Việt ngữ mới đây, ông Michael Marine đă nói một câu vừa đủ ư nghĩa để nhắc lại với người Việt hải ngoại và trong nước: “Con đường đi đến dân chủ cho Việt Nam cũng hàm chứa nhiều khó khăn”. Thực ư của ông Marine muốn nói thế này: Lật đổ chế độ Cộng sản Việt Nam là chuyện nhỏ (đón tiếp ông Khải là chuyện nhỏ). Việc đem lại tự do dân chủ cho Việt Nam nếu không khéo th́ có thể dẫn đến việc can thiệp, phá hoại toàn diện của Bắc Kinh vào Việt Nam. Dĩ nhiên trong vai tṛ đại sứ, ông Marine chẳng được phép nói thêm, nhưng những điều ông Marine nói tới cũng một phần nào đă xác định nhiều vấn đề đă từng được chúng tôi nói tới nhiều lần trên làn sóng này trong 6 năm qua.

 

Chiến lược của Bắc Kinh thật rơ rằng. Đó là: Tŕ hoăn và hết sức tránh né một cuộc đụng độ trực tiếp với Mỹ trên quy mô lớn cho đến khi nào Trung cộng đủ mạnh để đối đầu tay đôi với Mỹ hay chẳng đặng đừng lắm th́ mới đụng độ với Mỹ. Trong khi đó, Trung cộng vẫn ráo riết chuẩn bị các h́nh thức chiến tranh du kích, khủng bố toàn diện qua các kẻ trung gian như nhóm Al Queda hay các tổ chức tội phạm quốc tế, đồng thời âm thầm, ráo riết thôn tính các nước láng giềng nhỏ yếu chung quanh bằng mọi h́nh thức khác nhau để buộc Hoa Kỳ phải tương nhượng các quyền lợi ở Á châu cho Tàu.

 

Ư đồ “chính trị lộ tuyến” của Bắc Kinh chẳng qua mặt được ai, nhất là với Cụ Lư Đông A, là người đă nói về ư đồ này của Tàu cách đây 60 năm. Với Hoa Kỳ th́ họ đă hiểu rơ Tàu hơn ai hết. Hoa Kỳ đă tương kế tựu kế để đẩy Tàu đi tới chỗ phải làm càn và trở thành căm địch của cả thế giới, nhất là căm địch của các nước Á châu. Cho nên, dù Bắc Kinh có hành động thế nào th́ Hoa Kỳ cũng đă sẵn sàng giáng trả để từng bước dẫn Bắc Kinh đi tới chỗ bị phân ră toàn diện.

 

Đối với Việt Nam, chúng ta đă ở trên tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh và hiện nay đang ở trên tuyến đầu của cuộc chiến tranh toàn diện chống chủ nghĩa bành trướng Hán tộc Bắc Kinh. Như chúng tôi đă tŕnh bày cùng quư thính giả, “đánh Tàu bằng đường dài là việc của Hoa Kỳ và hiện nay là của cả Nhật Bản nữa. Đánh Tàu bằng đường ngắn là việc của dân tộc Việt Nam”. Chúng ta đánh Tàu và bọn tay sai của chúng bằng cách của chúng ta v́ hiện nay chế độ Cộng sản Việt Nam về thực chất chỉ c̣n là công cụ cho Bắc Kinh sai bảo và xử dụng. Đó là lư do tại sao trên làn sóng này, chúng tôi đă liên tục mở ra một cuộc chiến tranh Văn Hoá- Tư Tưởng. Đây là một h́nh thức chiến tranh chưa hề xảy ra trong lịch sử nhân loại nhằm tấn công trực diện vào đầu năo của ban lănh đạo Bắc Kinh, đạp đổ huyền thoại về nền văn minh Trung Hoa để sau cùng khôi phục lại vị trí xứng đáng, đích thực của nền văn minh Bách Việt.

 

          Nhiều người không thấy tầm quan trọng và tính chất toàn diện của cuộc chiến tranh Văn Hoá- Tư Tưởng này mà Cụ Lư Đông A đang lănh đạo. Một công cuộc cách mạng đầy gian khổ, lắm khó khăn nhưng cũng vô cùng vinh quang. Nó chẳng phải đem lại mọi sự tốt đẹp cho Việt Nam không thôi mà c̣n cho cả cộng đồng Bách Việt từ vùng Trung Nguyên nước Tàu đến vùng Đại Đông Nam Á (Grand South East Asia), cho cả loài người yếu và các dân tộc linh lạc trên thế giới này nữa.

 

          Cho nên, trước các lời phát biểu rất rơ ràng trên làn sóng này trong thời gian qua, mỗi bước tiến tới của t́nh h́nh th́ Bắc Kinh mau chóng đáp ứng lại bằng những hành động cụ thể (thí dụ về đập Tam Khẩu, thành Bắc Kinh, v.v..). Nhưng đặc biệt hơn hết là theo tin chúng tôi mới nhận được th́ Bắc Kinh đang tiến hành một dự án rộng lớn nhằm cố chứng minh rằng: “Việt Nam ta không có văn hoá. Theo sự đánh giá riêng, th́ quy mô của chiến dịch văn hóa này rất sâu rộng, đều khắp trên toàn nước Tàu và trong các cộng đồng Hoa kiều ở hải ngoại. Sau đó Bắc Kinh sẽ mua một số chương tŕnh truyền thông quốc tế nhằm xuyên tạc và bóp méo lịch sử của nhân loại nói chung và của Bách Việt nói riêng”.

 

Hôm nay đây, qua làn sóng này, chúng tôi chính thức trả lời cho giới lănh đạo Bắc Kinh về một lọat các nghiên cứu của nhiều học giả phương Tây. Họ có đủ các kỹ thuật, khoa học và khách quan để quan sát cụ thể và đánh giá chính xác về nguồn gốc của cái mà ta gọi là “văn minh Trung Hoa”, về cách thức mà Hán tộc đă ăn cắp văn minh các lân bang (đặc biệt văn minh Bách Việt) ra sao, hủy diệt các dân tộc là sở hữu chủ các nền văn minh này để h́nh thành cái họ gọi là văn minh Trung Hoa như thế nào:

 

1) Giáo sư Jared Diamond thuộc viện đại học UCLA mới đây đă viết cuốn Guns Germs and Steel đă chứng minh rất rơ ràng là: “Về mọi mặt th́ văn minh Bách Việt đă tiến trước văn minh Trung Hoa nhiều ngàn năm”.

 

2) Giáo sư Wolfram Eberhard là một học giả Mỹ từng dạy ở đại học Bắc Kinh đă nghiên cứu về văn minh Trung Hoa hơn 40 năm, trong cuốn sách A History of China của ḿnh, ông đă nói thế này: “Người ta biết xưa kia chẳng có chủng tộc Tàu, người Tàu cũng chẳng có. Điều mà ta gọi là Tàu thực ra một tiến tŕnh pha trộn phiền toái lâu dài của nhiều chủng tộc khác nhau, v́ thế ta không thấy một nước Tàu văn minh với xung quanh toàn là những dân tộc man di mọi rợ”.

 

3) Giáo sư Edward Schaffer trong cuốn Ancient China (Trung Hoa Cổ Đại) phát hành năm 1967 bởi viện đại học Stanford th́ phát biểu như thế này: “Ta không c̣n nghi ngờ ǵ nữa về kỹ thuật trồng lúa nước và thuần hoá gia súc là của phương Nam (ư nói Bách Việt). Kỹ thuật đúc đồng đỏ th́ người Thương, người Ân không có trong khi thời Hùng Vương đă có hiểu biết rất rơ ràng về kỹ thuật luyện kim, đúc đồng”.

 

4) Giáo sư Charles Hucker cùng với giáo sư Will Durant thuộc viện đại học Michigan đă viết hơn 10000 trang về lịch sử Trung Hoa và mối liên hệ sâu sắc của lịch sử Trung Hoa cổ đại với lịch sử Bách Việt. Một phần của 10000 trang này đă được phát hành nhưng các phần chủ yếu vẫn c̣n được giữ kín như là tài sản trí tuệ của viện đại học Michigan. Trong cuốn China’s Imperial Past phát hành năm 1975, Giáo sư Charles Hucker, học giả về Trung Hoa này đă nói: “Nước Tàu không hề có truyền thuyết nào đề cập đến vị anh hùng nào đưa nước Tàu đến văn minh ngày nay. Trung Hoa là dân tộc duy nhất không đề cập đến sử thi, thiên di, huyền thoại của dân tộc ḿnh. Không ai biết dân tộc Tàu từ đâu đến, thuộc giống người nào, đă có văn minh từ bao lâu rồi”.

Giáo sư Will Durant th́ nói: “Văn minh Bách Việt cổ hơn văn minh Trung Hoa v́ nó đă có trước, góp phần vào việc h́nh thành nền văn minh Hoa Hạ (văn minh Hoa Hạ khoảng đời nhà Thương  1783 – 1134 ttl) từ thủa sơ khai, đặt căn bản trên văn minh trồng lúa nước”.

 

5) Một vị giáo sư khác học giả Needham, chuyên nghiên cứu về Trung Hoa thuộc viện đại học Oxford trong cuốn sách China th́ viết như sau: “Ngay cả người Tàu th́ đă có được bao nhiêu người có được ư niệm về Trung quốc xưa kia thực sự ra sao ? Đấy là nền văn minh cổ xưa nhất thế giới c̣n tồn tại nếu xét theo sự liên tục về văn hóa, ấy thế mà quá khứ của nó đă bị tái hiệu đính liên miên thay v́ được bảo tồn (Tàu sửa văn hóa cưỡng đoạt được của Bách Việt để biến thành của Tàu). Chẳng những vậy, ngày nay chẳng c̣n bao nhiêu tài liệu nguyên bản nói về Trung Hoa, hầu hết chỉ là các bản sao và những họa phẩm”.

 

6) Giáo sư Nhân Chủng Học Paul K. Benedict đă phát biểu rằng: “Nhiều từ ngữ trước đây người ta cứ tưởng là người Đông Nam Á (Bách Việt) vay mượn của người Tàu, thực ra th́ trái ngược lại. Chính người Tàu đă vay mượn các từ ngữ ấy từ cộng đồng Bách Việt (Đông Nam Á) và rằng: Tàu chỉ thừa hưởng, không có ban phát ǵ hết!”

 

Đây cũng là nhận định chung của nhiều học giả khác chuyên nghiên cứu về mối liên hệ giữa ngôn ngữ Tàu và Bách Việt. Đó cũng là mối liên hệ về văn hóa và văn minh giữa ḍng tộc Đại Bách Việt ở phương Nam với Hán tộc ở phương Bắc. Ta cần kể ra ở đây rất nhiều vị như: Sử gia Lea E. Williams thuộc viện đại học Oxford, học giả Keith Weller Taylor trong cuốn The Birth Of Vietnam (1983, University of California Press), học giả Edward G. Pulleyblank trong phần The Chinese and their Neighbor in Prehistoric and Early Historic Times của cuốn The Origins of the Chinese Civilization do David N. Keightley hiệu đính, hai học giả Pierre Huard và Maurice Durand thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong cuốn Connaissance du Vietnam (Hanoi 1954) và nhiều học giả khác, tất cả đều đi đến một nhận định là: “Văn minh Bách Việt là nền văn minh tối cổ trên thế giới đă tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với quá tŕnh phát triển của văn minh nhân loại ngày nay”. Đặc biệt là: Nhiều người đă tưởng lầm là văn minh Trung Hoa có trước văn minh Bách Việt nhưng trong thực tế th́ mọi thứ, mọi mặt của văn minh Trung Hoa chỉ là vay mượn của văn minh Bách Việt mà thôi. Văn minh Trung Hoa chỉ là bản sao chép bất toàn của văn minh Bách Việt về nhiều khía cạnh như từ ngừ, chữ viết đến phong tục tập quán, kiến trúc và nhiều khám phá khác nữa.

1) Nhà Nhân-chủng-học Russell Ciochon (tác-giả bài "The Ape That Was", Natural History, November 1991) và nhà Khảo-cổ-học John Olsen đă khám-phá ra nhiều chứng-tích ở Việt-Nam cho thấy giống người vượn khổng-lồ Gigantopithecus cao 10 bộ Anh đă từng sinh sống đồng-thời với giống người Homo-Erectus trong khoảng thời-gian dài tới 500,000 năm. (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 16-17)

2) Brian M. Fagan cho biết tại những hang của Làng Trang, Việt-Nam, người ta t́m thấy di-cốt của người Homo-Erectus cổ tới 500,000 năm. Chứng-tích này thuộc loại cổ nhất Đông-Nam-Á (People of the Earth, An introduction to World Prehistory; 1992, trang 129)

3) Ronald Provencher c̣n phỏng-đoán loài người đă xuất-hiện sinh sống tại Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, viết tắt: Mainland Southeast Asia, Nhà xuất-bản Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17)

4) Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai t́m ra rằng chỉ có 3 vùng trên trái đất thuộc ṿng đai nhiệt-đới là thuận-hảo cho sự sinh-tồn của loài người trong thời Băng Đá. Đó là vùng b́nh-nguyên sông Amazone Nam-Mỹ, vùng Trung Phi-Châu và vùng Đông-Nam-Á. Ông so sánh t́nh-trạng như sau: Mỹ-Châu thời đó chưa có người, Phi-Châu có nhiều giống thú dữ và khu duyên hà, duyên-hải không có dấu tích sinh-hoạt loài người. Chỉ c̣n vùng Đông-Nam-Á mới thực-sự là nơi hội-tụ những điều-kiện tiện-lợi để cho loài người sống sót (Naga, trang 3)

          5) Tại Mandalay, Miến-Điện năm 1979, người ta t́m ra nhiều xương hoá-thạch của loài Primate lâu tới 40 triệu năm. V́ chứng-tích này cổ hơn bất cứ nơi đâu trên trái đất nên đă có kết-luận rằng: loài Primate thoạt tiên sinh sống trong vùng Đông-Nam-Á trước, sau mới di-chuyển ngang qua khu-vực Tây Á-Châu rồi sang Phi-Châu (Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, viết tắt Naga, Sumet Jumsai, xuất-bản tại Singapore, Oxford University Press, 1988, trang 2.)

6) Trong giai-đoạn tiến hoá của loài người, giống Homo-Erectus (người đứng thẳng) có lẽ tồn-tại lâu nhất tại vùng đất liền Đông-Nam-Á, lâu hơn tại tất cả các nơi khác trên địa-cầu, kể cả Phi-Châu và Âu-Châu (People of the Earth, An introduction World Prehistory, Brian M. Fagan, Harper Collin Publishers, New York, 1992, trang 15

7) Buckminster Fuller, một nhà địa lư kiêm toán học. Ông cho rằng, có thể t́m ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa tŕnh độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lư thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion World Maps ( bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của ḿnh, B. Fuller kết luận: Duyên hải Đông và Đông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Từ tính toán của ông, người ta suy ra, vào thiên niên kỷ IV-III TCN, người Việt có thể chiếm 15-20% dân số thế giới.

8) Hầu hết các phát-minh thuyền bè, buồm, chèo, lái ... của nhân-loại ngày nay đều có gốc rễ từ bán-đảo Đông-Dương. Chừng 60,000 năm trước, khi những nhóm cư-dân Đông-Nam-Á đầu tiên dùng bè vượt biển tới Úc-Châu, tiền-nhân Việt-tộc chắc chắn cũng đă dùng phương-cách di-chuyển như vậy. Nhiều tiến-bộ về kiến-trúc thuyền bè đă đạt được và thành-quả đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-t́nh hai hệ-thống buồm và xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái. (Connaissance du Việt-Nam, Pierre Huard và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232)

 

Nhiều sự khai quật các cổ vật vùng Lương Châu (Liangzhu) và các nơi khác tại nước Tàu bây giờ đưa các chuyên gia về lịch sử Tàu tới một kết luận: “Trung tâm văn minh nước Tàu không nằm tại vùng Hoa Bắc (nơi phát nguồn của Hán Tộc) mà tại vùng Hoa Nam nước Tàu” (nơi cội nguồn của văn minh Bách Việt).

 

Về quá tŕnh chuyển dịch của con người và văn minh thuộc ḍng tộc Đại Bách Việt nhằm tạo ra các ảnh hưởng nhất định của Bách Việt đối với nhiều trung tâm văn minh sau này th́ ta phải kể ra đây các công tŕnh nghiên cứu của nhiều học giả khác nữa như:

 

* - Lawrence J. Ma thuộc University of Akron nghĩ rằng giống người Homo-Sapien (người thông minh) xuất hiện rất sớm tại Đông Nam Á, sau này là tiền nhân của chủng loại Austroloid. Lawrence J. Ma ước lượng thổ dân vùng này khởi đầu sự gia súc hóa loài vật và trồng trọt từ 15000 năm trước đây, tức là sớm hơn vùng Tây Nam Á Châu (vùng Lưỡng Hà-Cận Đông) tới 5000 năm (Cultural Diversity, Lawrence J. Ma, sách “Southeast Asia, Ream of Contrast”, hiệu đính bởi Ashok K. Dutt, Westview press, Colorado, 1985 trang 54).

 

* - Học giả Meacham đă ước tính rằng: “Ít nhất là 10,000 năm trước Tây lịch, người Bách Việt đă biết dùng bè để di chuyển trên biển Đông” (giáo sư William Meacham trong cuốn sách The Origins Of The Chinese Civilization, Berkeley 1983). Theo giáo sư Nicholas Tarling th́: “Trước đó 40,000 năm, người Đông Nam Á (Bách Việt) đă biết xử dụng một h́nh thức bè thô sơ nào đó để đến Úc châu” (trong cuốn History Of Southeast Asia, Cambridge University Press 1992). Theo học giả Wilheim G. Solheim th́: “4,000 năm trước Tây lịch, Bách Việt (các vị này chỉ dùng từ ngữ người Đông Nam Á thay v́ gọi đích danh là Bách Việt) đă mang đến Đài Loan và Nhật Bản nghề trồng khoai sọ và hoa màu”. Giáo sư Wilheim G. Solheim II (con) th́ nói: “Thuyền độc mộc đă được Đông Nam Á (Bách Việt) xử dụng từ 5,000 trước Tây lịch”. Giáo sư Peter Bellwood trong cuốn sách Man’s Conquest Of The Pacific, New York, 1979) cho rằng: “Công tŕnh chinh phục Ấn Độ Dương và Thái B́nh Dương xuất phát từ Đông Nam Á, đặc biệt là từ nền văn minh hàng hải Hoà B́nh và Đông Sơn”. Giáo sư Edwin Doran cũng đưa ra nhận định là: “Các di dân từ vùng Cổ Việt đă di chuyển đến khắp các hải đảo ở Đông Nam Á kể cả Úc và Tân Tây Lan, một phần Ấn Độ Dương bằng thuyền bè”. Điều này được chứng minh rất rơ khi quan sát tục ăn trầu, nhuộm răng của dân cư nhiều hải đảo ở Thái B́nh Dương và nhiều sinh hoạt khác đến tận Nam Mỹ, mà rơ nét nhất là tại Đông Timor.

 

C̣n rất nhiều các dữ kiện cụ thể khác của các học giả ngoại quốc nữa đă minh chứng là văn minh Tàu ngày nay chỉ là sự sao chép, lấy cắp không toàn vẹn của văn minh Bách Việt” (nền văn minh khai phá cho nhiều nền văn minh khác của nhân loại). Tuy nhiên, các dữ kiện vừa nêu cũng đă quá đầy đủ để phản bác lại các nhận định rất hồ đồ của Hán tộc khi xưa và Trung cộng ngày nay về nguồn gốc đích thực của nền văn minh Bách Việt và các cách thức mà Hán tộc đă cưỡng chiếm nhiều phần trong các tinh hoa của văn hóa Đại Bách Việt để từng bước hủy diệt dân tộc Đại Bách Việt (100 con th́ 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển, sự tích Tiên Rồng là một chứng minh hùng hồn nhất về bộ tộc Bách Việt đă chia nhau 50 con ở lại chiến đấu “lên rừng”, 50 con dẫn nhau đi t́m nơi hiểm địa “xuống biển” để tồn tại và để hổ trợ cho cuộc trường kỳ chiến đấu với Bắc phương trải dài qua nhiều ngàn năm. Trong một bài khác chúng tôi sẽ giải thích rơ ràng hơn về sự tích Tiên Rồng), rồi Hán tộc tự nhận là chủ nhân của nền văn minh Phương Đông rực rỡ, và trở thành thế lực chi phối các lân bang như thế nào.

 

Truyện xưa đă vậy, truyện nay cũng thế. Giờ đây sau biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử cận đại, đảng Cộng sản Việt Nam đă trở thành công cụ tay sai của Bắc Kinh, lệ thuộc vào Bắc Kinh về đủ mọi mặt. Bắc Kinh đang lấy cớ là Việt Nam cần trùng tu các đ́nh chùa miếu mạo của Việt Nam, đặc biệt là ở phía Bắc và Bắc Trung phần (nơi mà Tàu nghi ngờ là c̣n chứa nhiều bí kiếp quan trọng trong kho tàng văn minh Bách Việt) nên chúng đă và đang tiến hành những cuộc trộm cắp quy mô bằng cách làm các tượng mới (dĩ nhiên là đẹp hơn các tượng cũ) để thay thế các tượng cũ. V́ suy nghĩ hẹp ḥi, đầu óc tham lam, những người Cộng sản Việt Nam đâu có thấy ư đồ thâm độc của Tàu là chúng sẽ bỏ tiền giả (kể cả đô la giả) mua các tượng cổ ấy đem về Tàu để tiếp tục tiến tŕnh (như các vua chúa Tàu làm ngày xưa) ăn cắp và hủy diệt các chứng liệu vô cùng giá trị của tổ tiên ta.

 

Việc này được minh chứng rơ ràng khi mà các vụ trộm cắp văn hoá phẩm, cổ vật của Việt Nam đang ngày càng trở nên quy mô hơn, có hệ thống hơn. Ta cần lưu ư là: Trong hệ thống chùa chiền ở Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc, những ngôi chùa tối cổ thường chỉ có mang một chữ luôn thuộc họ mễ. Thí dụ: Chùa Gạo, chùa Đậu, chùa Trần, chùa Tiêu, v.v… Các chùa khác được xây dựng dưới thời Hậu Lê hoặc nhà Nguyễn thường mang tên gọi dựa vào tên làng để đặt tên cho ngôi chùa ấy. Trong kế hoạch ăn cắp văn hóa phẩm và cổ vật đại quy mô này, bọn Tàu c̣n nhắm vào việc tiếp tục trấn yểm miền Bắc Việt Nam, nơi mà chúng coi là linh địa, có thể trấn áp cả địa thế nước Tàu.

Chúng ta cần nh́n rơ dă tâm nham hiểm này của lănh đạo Bắc Kinh không chỉ đối với Việt Nam chúng ta không thôi mà c̣n đối với tất cả các lân bang của Tàu như: Miến Điện, Tây Tạng, Mông Cổ, Lào, Campuchia, v.v… Chúng ta cần phải cảnh tỉnh đồng bào trong nước về hiểm họa thâm độc của Bắc phương, cực lực tố cáo trước dư luận thế giới, đặc biệt với cơ quan di tích văn hóa lịch sử của Liên Hiệp Quốc về âm mưu đánh cắp đại quy mô, hủy diệt có hệ thống các tài sản về văn hóa, lịch sử, trí tuệ của nhân loại c̣n sót lại ở Việt Nam. Qua đây, chúng tôi bầy tỏ ước mong là: Viện Đại Học Michigan sớm bạch hóa các tài liệu mà các giáo sư Charlie Heckler và Will Durant đă dày công nghiên cứu về văn minh Bách Việt.

 

I) Bàn Về Lịch Sử Việt Tộc Hay Quá Tŕnh Tiến Tới Nhân Chủ:

Trong Chu Tri Lục, Cụ Lư đă viết một câu để đời như thế này: “Không đọc sử, không đủ tư cách nói việc quốc gia. Đọc sử không giải được nghĩa, không nắm được thể dụng, không thể có được bản lănh về chính trị. Phải đem một tri thức suốt mặt thống nhất vào một nhăn quan, mới phân tích được một sự tượng trên lịch sử cho đích đáng”.

 

Như thế lịch sử của ṇi Việt đối với lịch sử Hán tộc ra sao? Và lịch sử của ṇi Việt đối với lịch sử của toàn nhân loại này như thế nào? Đó là các câu hỏi c̣n làm đau đầu nhiều sử gia trong tương lai dài tới đây, và hẳn nhiên sẽ là các chủ đề chính yếu để các sử gia Việt Nam đích thực dồn hết mọi nỗ lực nhằm t́m ra các mối liên hệ đích thực và sâu thẳm trong các đống tro tàn, đổ nát mà Hán tộc đă cố t́nh bóp méo sự thật lịch sử khách quan của ṇi giống Việt trong thời gian ít ra là 3000 năm qua, mà người đầu tiên khơi màu cho việc chiếm đoạt và tiêu diệt văn minh cũng như văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống không ai khác hơn là Khổng Tử. Như thế, cuộc chiến tranh văn hóa - văn minh này không thể kết thúc mau chóng nhằm dành quyền xác định chủ quyền của Bách Việt ta đối với các yếu tố nền tảng của văn minh Đông Phương.

 

Nếu con người đi bằng hai chân và vĩnh viễn vẫn đi bằng hai chân th́ văn minh nhân loại cũng sẽ phải tiến bước bằng hai chân theo quá tŕnh chuyển dịch giao tiếp giữa con người với nhau. Điều này xác định quá tŕnh h́nh thành các trung tâm văn minh mới vậy. Các trung tâm văn minh mới (so với cái cũ) luôn là một cải tiến so với văn minh cũ về đủ mọi mặt, từ vật chất đến tinh thần. Đây là một tiến tŕnh không bao giờ ngưng nghỉ và sự chuyển dịch ngày càng trở nên nhanh hơn, quy mô hơn nhằm h́nh thành quá tŕnh hợp nhất nhân loại trên một nền tảng mới.

 

Càng ngày chúng ta càng phát hiện thêm các dữ kiện khoa học để minh chứng cho nhận định mà tôi đă nêu lên trước đây (tôi đă đề cập đến vấn đề này trong cuốn sách phát hành năm 1993) về ṿng quay của các trung tâm văn minh thế giới, theo đó văn minh Bách Việt đă mở đầu cho tiến tŕnh dài trong việc h́nh thành các trung tâm văn minh của nhân loại. Các trung tâm này chuyển dịch từ Bách Việt đến Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp, La Mă, Âu châu và nay là Hoa Kỳ. Khi chuyển dịch đến Bắc Mỹ, văn minh nhân loại đă có đủ sức (trí tuệ và vật chất) để cất cánh và từng bước h́nh thành nền văn minh Liên Hành Tinh trong khi một bộ phận khác là bộ phận chủ lực tiếp tục quay theo hướng Đông để mở rộng hơn nữa nền văn minh địa cầu và càng ngày nền văn minh nhân loại càng tiến sâu vào vũ trụ để từng bước củng cố và phát triển hơn nữa nền văn minh Liên Hành Tinh.

 

Nhận định nêu trên có thể c̣n quá mới mẻ đối với nhiều người. Nhiều vị sẽ cho là chúng tôi quá chủ quan khi đưa ra các nhận định kiểu ấy. Thực ra th́ hoàn toàn không phải như vậy. Nếu ta tổng hợp các đánh giá mà các học giả phương Tây (kể trên đưa ra về nền văn minh Bách Việt) th́ ta sẽ thấy: Chủng tộc Bách việt là thổ dân đă định cư ở vùng Thái Sơn (tức là vùng Hoàng Hà cũng là trung tâm nước Tàu ngày nay) trong nhiều ngàn năm cộng với một nhóm khác từ vùng Pamir tràn xuống vùng Trung Nguyên cũng đă hơn một muôn năm trước (Cụ Lư dùng chữ “Muôn” ở đây có ư nghĩa là hơn vạn năm v́ người Việt miền Bắc nói về con số th́ theo thứ tự lớn dần ngàn [1000], vạn [10000], muôn [100000]). Chủng tộc Bách Việt đă định cư ở vùng Thái Sơn trước loài Hán tộc, ṇi Di rất lâu (bao nhiêu ngàn năm th́ ta chưa được rơ lắm), sau đó cuộc chiến đấu giữa ba ṇi Việt-Hán-Di đă từng xảy ra rất lâu trong thời tiền sử của nhân loại. Khi ṇi Hán diệt ṇi Di th́ cuộc chiến đấu tay ba trở thành tay đôi giữa Việt và Hán, rồi mở đầu cho cuộc thiên di về phương Nam nắng ấm của ṇi Bách Việt.

 

* - Công cha như núi Thái Sơn.

* - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

                                      Ca Dao.

 

Hai câu ca dao trên được lưu truyền trong dân gian qua nhiều ngàn năm cho nên, nếu nói lịch sử Việt Nam là 4000 nay 5000 th́ đây là một nhận định sai lầm. V́ cả một thời gian dài hàng chục ngàn năm ấy, các tài liệu cổ ấy đă bị người Tàu đánh cắp và hủy diệt qua nhiều triều đại (điển h́nh là đời nhà Minh) như chúng ta đă biết, đến nay không c̣n tài liệu cổ nào c̣n tồn tại để nói lên tŕnh độ phát triển của ṇi Bách Việt ra sao. Nhưng mới đây, một ngôi mộ cổ vừa được khai quật ở Hoà B́nh (Phú Thọ), đă được các học giả phương Tây dùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất và xác định là ngôi mộ này có niên đại 12000 năm. Dụng cụ đồ đá t́m thấy trong ngôi mộ ấy rất là tinh xảo, có khả năng tạo ra các dụng cụ đồ đá khác. Cho nên, nhận định của học giả Mecham về văn minh Bách Việt hoàn toàn có cơ sở khoa học khi ông ta kết luận là: “10000 năm trước, Bách Việt đă biết dùng bè đi trên biển Đông. C̣n học giả Nicholas Tarling th́ ước lượng khoảng 40000 năm trước, Bách Việt đă biết dùng một h́nh thức bè thô sơ nào đó để đi đến Úc châu”.

 

Nếu ta so chiếu ngôn ngữ hàng hải th́ ta lại thấy ảnh hưởng của Bách Việt c̣n tràn tới Nam Mỹ, vùng Sumerien, Lưỡng Hà, Ấn Độ Dương nữa. Cho nên nói rằng “lịch sử văn minh Việt tộc (Bách Việt) tiến trước văn minh Hán tộc nhiều ngàn năm” là hoàn toàn có cơ sở khoa học vững chắc. Ấy là ta chỉ nói đến lịch sử Việt tộc trong ṿng 10000 năm trở lại đây mà thôi.

 

Ta cần ghi nhớ là: 14000 năm trước th́ người Ariel từ vùng Afghanistan mới lần ṃ đi dọc theo vùng Trung Á để từng bước đến lập nghiệp ở vùng Địa Trung Hải rồi từ từ lan sang Âu châu. Khi Hán tộc đang sống trong t́nh trạng du mục bán khai th́ Việt tộc (Bách Việt) đă định canh định cư mà khi có định canh định cư th́ kinh nghiệm, kiến thức mới tích lũy và làm thành một hệ thống được, để từng bước tạo ra trật tự xă hội, h́nh thành văn minh, triết lư, có thái độ sống là “thuận thiên”. Xét theo ư niệm cao cả của chữ “Thuận Thiên” th́ xă hội của Việt tộc từ thuở xa xưa đă là một xă hội sống có quy củ, trật tự hài hoà giữa con người với con người và con người với thiên nhiên, lấy việc thờ cúng ông bà tổ tiên làm gốc.

 

Xă hội Bách Việt tự ngàn xưa đă có một nền triết lư hài ḥa khởi đầu cho việc vợ chồng “phu thê thiên địa chi đại đạo” (trong trời đất đạo vợ chồng là cái đạo lớn nhất), mà đạo vợ chồng là nền tảng để tạo dựng một xă hội vững chắc. Cho nên, những ai nói là Phương Đông (Việt tộc là chính yếu) không có tôn giáo th́ đây là lối nói sai lạc và đầy ác ư! Các tôn giáo sau này phát sinh ở vùng Cận Đông- Lưỡng Hà và ở Ấn Độ cũng chỉ là sự biến thái của lẽ sống Thuận Thiên của Bách Việt, rồi được biến cải thêm nữa để từng bước đặt nền tảng cho chủ nghĩa cá nhân (điều này đă từng được chúng tôi nói đến).

 

Dân du mục bao giờ cũng hiếu chiến, dă man, tàn ác hơn so với dân nông nghiệp, định canh định cư, nên Hán tộc đă từng bước chiến thắng Việt tộc bằng bạo lực và đẩy Việt tộc ra khỏi Trung Nguyên. Cho nên Việt tộc phải thiên di về phương Nam là vậy. Từ đó, ta có kết luận rơ ràng là:

 

1) Dân chúng trong vùng Đại Nam Hải (Biển Đông hay vùng Đông Nam Á) rộng lớn đều là người có cùng nguồn gốc Việt tộc (Bách Việt) cả, mặc dù dân chúng có lai một chút ít với các sắc dân khác như: Ấn Độ, châu Phi.

2) Văn minh Hán tộc chẳng có ǵ cả v́ hầu như tất cả đều là của cướp đoạt được từ văn minh Bách Việt mà ra.

3) Kẻ ăn cướp th́ luôn luôn muốn chiếm đoạt để biến các thứ chiếm đoạt ấy thành tài sản riêng của ḿnh, cho nên giới lănh đạo Hán tộc từ xưa tới nay luôn chủ trương tiêu diệt hay đồng hóa các lân bang, đặc biệt là Việt Nam là vậy. V́ Bách Việt c̣n th́ Hán chẳng yên thân.

 

II) Con Đường Tiến Tới Dân Chủ:

Chúng tôi xin nêu ra mục đầu tiên mà Cụ Lư đă viết trong cuốn Huyết Hoa:

“H́nh thức của văn hóa là sự phản ảnh của đời sống hiện thực xă hội. Nội dung và kết cấu của văn hóa, tự thân nó là tổng nghiệp của toàn thể loài người trong ḍng sống xă hội, lịch sử và thời đại. Lịch sử loài người được chép bằng ng̣i bút của máu diễn tiến, mỗi sử kư lộ ra mỗi đặc chứng văn hóa. Mỗi sử kư kết tạo bằng một kiến trúc sử của xă hội và quan niệm về kinh tế riêng biệt; cái dây nối suốt mỗi diễn tiến của thời đại, đồng thời c̣n là những quy luật dẫn dắt cho sự diễn tiến của thời đại kia là xă hội biện chứng. Xă hội diễn tiến theo một biện chứng có khoa học tính, phát triển, phát triển măi; trong hoài băo của mỗi xă hội thời đại từng dựng dục cái lư tưởng của xă hội và thời đại sau, tức là cái kết cấu hiện thực của xă hội và thời đại sau.

 

Cách mạng là công cuộc xoay đổi thời đại trên một giai đoạn diễn tiến xoáy trôn ốc có nút đă đến ngày thành thục của một lẽ sống hàm dưỡng trong nút bế tắc, cần yếu có một bạo đột thủ đoạn cởi mở cho dây diễn tiến đi lên; ư nghĩa và tác dụng của cách mạng là tu chỉnh và cải tiến xă hội cho sang được một xă hội hợp lư hơn, hy vọng hơn, được đi vào một con đường hợp quy luật, hợp với nguyên tắc tiến hóa, hợp với tương lai có dự biết trước có một trông ngóng của lư tưởng hàm dưỡng tự sâu xa. Mỗi công cuộc cách mạng sản sinh ra một xuất lộ cho dân tộc, quốc gia và xă hội. Khởi điểm của cách mạng đă dựng dục từ trong bào thai của thời đại cũ, đó là lư tưởng trong một quá tŕnh tự nó tiến triển để cho thành thục, thể hiện thực hoàn toàn và y cứ vào hiện thực mà phát triển tinh thần và nguyên tắc với tự do và sản sinh ra một lực lượng đều hoàn toàn là kết quả của hiện thực, tức là cái xuất lộ của quốc gia dân tộc và xă hội đương nhiên là sự kết hợp của nội tại và ngoại tại mà thành một đường lối với một hiệu quả dự cầu.”

 

Trên đây chỉ qua một trang ngắn ngủi, những ai muốn nghiên cứu về lịch sử văn minh nhân loại, về lịch sử của giống ṇi chỉ cần mở rộng cái tâm ra, khách quan mà xem xét các diễn tiến (tức là biện chứng) và đặt chúng trong cái toàn cảnh khách quan và chủ quan (tức là đại biện chứng) cũng có thể h́nh thành được một nhăn quan về hiện tại và hướng tiến tới trong tương lai. Nếu ta đặt diễn tiến trong phạm vi một quốc gia th́ đó là tiểu biện chứng, trong phạm vi khu vực là trung biện chứng và toàn cầu là đại biện chứng.

 

Nhiều người trong chúng ta hay nói rằng: Kết hợp tinh hoa của phương Tây với tinh hoa của dân tộc làm nền tảng cho việc xây dựng lại con người Việt Nam, đất nước và xă hội Việt Nam trong tương lai. Câu nói này hoàn toàn đúng về tổng thể nhưng ứng dụng vào thực tế th́ mọi việc chẳng dễ dàng chút nào v́ thử hỏi tinh hoa phương Tây là ǵ? Phải chăng là La Mă, là Đức quốc, Pháp quốc, Anh quốc hay Hoa kỳ hay Nga? Nếu ta cứ lấy từng cái hay nhất của từng quốc gia ấy kết hợp lại, th́ thực tế là chưa chắc các cái hay ấy tạo thành cái một hay mới mang tính tổng hợp toàn diện. Thực tế đă cho thấy là “các cái hay ấy khi tổng hợp lại (ở đây ta nói về toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần) lại thường tạo ra một cái mà h́nh hài chẳng giống cái ǵ cả, v́ cái hay của mỗi dân tộc là sản phẩm tất yếu của một quá tŕnh h́nh thành, đấu tranh, đào thải liên tục và lâu dài để h́nh thành cái đặc trưng của mỗi dân tộc”.

 

Nếu nói về tinh hoa của dân tộc ta th́ trong chúng ta (các trí thức Việt Nam) đây, liệu có ai hiểu cái hay thực sự của chúng ta là ǵ? Các thế hệ trẻ th́ khi chúng nh́n thấy sự hoành tráng của Rome, sự uy nghi của Kim Tự Tháp, của nhà chọc trời, của Vạn Lư Trường Thành, của Angkor Wat so với hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn của ta th́ chúng sẽ vội vă lên tiếng phản bác ngay là: Ta chẳng có ǵ để mà đáng hănh diện cả. Chúng sẽ nói là cha ông đă lừa phỉnh chúng hay cha ông đă quá lỗi thời, không biết nh́n ra thế giới bên ngoài. Khi tuổi trẻ Việt Nam không tin vào tổ tiên ḿnh mà chỉ biết tôn thờ cái vĩ đại vật chất của người khác th́ sự mất độc lập, tự chủ đă nằm ngay trong tiềm thức của giới trẻ vậy. Khi nh́n vào văn hóa nước nhà trong khoảng 100 trở lại đây th́: Nếu không “Hồn bướm mơ tiên” th́ cũng thơ yêu t́nh tự, không văn chương ngoại quốc th́ cũng cổ học Tây Âu, không dịch những tiểu thuyết lăng mạng hay “Triết Học Trưởng Giả” Tây phương, th́ cũng tướng tán bàn về những vấn đề xa lạ. Nói như thế không có nghĩa là hạ giá văn chương  hay cổ học Tây âu, mà chỉ muốn nói rằng: Trước họa diệt chủng của Bắc phương như hiện nay th́ bấy nhiêu đó có làm nên mặt trận văn hóa và tư tưởng chăng? Nếu nền văn hóa của Việt nam chỉ có bấy nhiêu th́ những người không c̣n tin theo Cộng sản nay biết bám víu vào cái ǵ? Đó là lư do để giải thích sự thất bại của chúng ta khi chúng ta chỉ biết đấu tranh bằng chính trị, văn chương, xă hội mà không hề hiểu thế nào là “Triết Lư Chính Trị”. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa học vấn với văn hóa, văn hóa đích thực phải có lư tưởng và định hướng mới cảm hóa được con người. Nếu bỏ con người để lo cho thể chế và luật lệ th́ đó là duy vật, chứ không phải đi theo Cộng sản mới gọi là duy vật, nên chính trị là một sự ứng dụng, nhưng ứng dụng không có nghĩa là áp dụng nguyên bản từ bên ngoài vào. Cho nên kết hợp cái hay của người với cái hay của ḿnh dễ trở thành lời hô hào suông. Để lời hô hào ấy không phải là lời hô hào suông, ta nhất thiết phải biết:

 

1)     Đạo học Phương Đông Bách Việt là ǵ ?

2)     Văn minh Tây Phương là ǵ (các mặt chính yếu của văn minh Tây Phương) ?

3)     Tại sao thế giới đang bế tắc nên cần có một cuộc cách mạng mới ?

 

Nhiều học giả Tây Phương khi nghiên cứu về Đông Phương th́ rất lấy làm lạ lùng là: “Tại sao một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam lại luôn luôn chiến thắng kẻ thù phương Bắc. Ngay cả khi Việt Nam hùng mạnh, người Việt Nam vẫn không chủ trương đánh chiếm lại Hoa Nam vốn được coi là đất tổ của ḿnh. Trong lănh vực văn hóa, Việt Nam là nước duy nhất biết du nhập chữ Quốc Ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh để thay thế cho chữ cổ (nhưng không mất ư và nghĩa) đă tồn tại từ rất lâu đời có xuất xứ từ nền văn hoá Môn - Khmer cổ đại để truyền bá trong dân gian một cách cực kỳ hữu hiệu như vậy”?. V́ thế, họ nghĩ  như vậy cái dân tộc này phải có một cái ǵ đó rất thâm hậu”?  Điều này khiến các học giả Phương Tây phải để tâm xem xét ngọn nguồn mới được.

 

Nhưng hào quang của nền văn minh Tàu mà đường dây buôn bán tơ lụa và hương liệu đă làm chóa mắt các học giả Phương Tây khi họ tiếp xúc với Phương Đông, nên họ chỉ để tâm t́m hiểu về Tàu mà thôi. Đương nhiên họ coi các dân tộc nhỏ chung quanh nước Tàu chỉ là phụ thuộc của trung tâm văn minh Tàu. Vào nửa cuối thế kỷ 19, khi các chế độ thuộc địa hoặc đô hộ hoặc nhượng địa đă được củng cố và đi vào ổn định thông qua các tương nhượng giữa các quốc gia Tây Phương (chủ yếu là Anh và Pháp) với nhau th́ lúc đó giới trí thức Âu châu mới bắt đầu t́m hiểu về nền văn minh Đông Phương có bài bản hơn. Nhưng một lần nữa, ta lại chứng kiến sự đột phá của trường phái triết học Đức (nói chung) trong việc t́m hiểu về Đông Phương chứ không phải là các học giả Anh hay Pháp, trong khi Anh và Pháp vốn được coi là hai nước thực dân chính yếu. Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí của người Đức khi họ bị gạt ra ngoài vũ đài chính trị của Âu châu trong suốt thế kỷ 19 và nửa đầu của thế kỷ 20.

 

       Khi xem xét các luận điểm của Nietzsche, Kierkegaard, Hegel, Marx, ta thấy: Dù cho họ có luận bàn ǵ đi nữa th́ ảnh hưởng của tư tưởng Phương Đông vẫn bàng bạc xuyên suốt trong các suy nghĩ của các vị ấy. Dĩ nhiên các suy nghĩ ấy vẫn lấy tinh thần học thuật Phương Tây làm nền tảng và tŕnh bày theo cách rất Phương Tây cho nên thật khó có thể thấy được là trong các luận điểm phức tạp ấy, vẫn để lộ ra t́nh trạng tiêu hóa không trọn vẹn về tri thức. Điều này báo hiệu một cuộc khủng hoảng tri thức thực sự đối với Âu châu và báo hiệu một trung tâm văn minh mới sẽ thay thế Âu châu để làm đại diện tiêu biểu cho nền văn minh Phương Tây cách trọn vẹn – đó là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ với chủ nghĩa thực dụng, có khả năng tổng hợp các cái hay của nền văn minh Hy-La, thông qua các phát triển mà các quốc gia Âu châu đă từng bước đạt được để Hoa Kỳ làm phong phú thêm các nền tảng của học thuật Phương Tây.

 

Nhưng sang nửa sau của thế kỷ 20 th́ vấn đề của cội nguồn nền văn minh Phương Đông đă được đặt lại có hệ thống hơn. Vị trí của nền văn minh Bách Việt trong quá tŕnh phát triển của nền văn minh Hán tộc đang được nh́n nhận một cách rơ ràng hơn để qua thế kỷ 21, vị trí của nền văn minh Bách Việt sẽ được từng bước soi rọi, củng cố vững chắc như là nền văn minh trụ cột của quá tŕnh phát triển nhiều nền văn minh khác nhau trên trái đất này, chứ không phải là chỉ với nền văn minh Tàu không thôi. Như thế, chúng ta cần phải dồn nhiều nỗ lực vào việc t́m hiểu tận gốc rễ các giá trị tinh thần mà tổ tiên ta đă khám phá ra trong thời kỳ sâu thẳm của quá khứ khi mà tuyệt đại đa số nhân loại này vẫn c̣n sống dưới dạng du mục hoặc bán du mục.

 

Loài người từ Đông sang Tây vẫn luôn cố gắng t́m cách giải thích điều không bao giờ giải thích tường tận được đó là: Loài người sinh ra thế nào và rồi sẽ đi về đâu?

 

Tự ngàn xưa, khi trí tuệ ḷai người c̣n hạn hẹp th́ điều không thể giải thích được ấy cứ gán cho một đấng sáng tạo siêu nhiên nào đó là đủ (như Chúa Trời, Avatar, .v.v..). Nhưng khi con người đă đạt được một số tiến bộ nào đó liên quan đến khoa học vật chất th́ loài người hiểu rằng: Vũ trụ này quá bao la nên sự giải thích đơn điệu như vừa nêu là không thể chấp nhận được. Nhưng càng tiến bộ, con người càng cảm nhận được rằng: Điều không thể giải thích tường tận ấy vĩnh viễn là điều không thể giải thích tường tận được. Cho nên, trong quá tŕnh phát triển của ḿnh - tức là trong quá tŕnh tiến hóa đầy phức tạp và khó khăn ấy, loài người hiểu được đến đâu về khách quan th́ biết đến đó mà thôi.

 

Nhưng lẽ sống là lẽ thật. Nếu không có vũ trụ bao la hoạt động liên tục không bao giờ ngưng nghỉ này th́ không có nắng – mưa, nóng – lạnh th́ không có trái đất này. Nếu không có cây cỏ thảo mộc th́ không có muông thú. Nếu không có muông thú th́ không có con người. Cho nên, ít ra đến thời điểm này của lịch sử loài người trên trái đất này th́ con người là cứu cánh và mục tiêu tối hậu mà chính con người phải tự t́m cách phục vụ sao cho lẽ sống thật ấy không ngừng được thăng tiến lên để loài người ngày càng trở nên có tính cách người hơn.

 

Thực ra, trong điều kiện của khoa học hiện nay, nền văn minh Liên Hành Tinh mới đang trong giai đoạn bước đầu chập chững mà thôi. Nếu trong vài ba trăm năm tới, con người t́m được các nền văn minh khác với loài người (ta tạm gọi là như vậy) ở trên các hành tinh khác th́ sao ? Khi đó nhiều nhận định ngày nay sẽ bị đảo lộn hoàn toàn để loài người trên trái đấy này biết cách thích nghi với loài người trên các hành tinh khác. Như thế, trong cái cơi uyên nguyên của vũ trụ sự hiểu biết của con người hiện nay vô cùng hạn hẹp. Cho nên, các sự giải thích về khách quan (cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ) đều chỉ đánh dấu từng bước phát triển của loài người về mặt tri thức mà thôi, không có ǵ là măi măi đúng mà cũng chẳng có ǵ là măi măi sai. Cho nên, loài người phải biết chấp nhận tiến hóa, chấp nhận những cuộc cách mạng liên tục về mặt nhận thức là vậy.

 

Một con người cụ thể, một cộng đồng cụ thể, khi giải quyết một vấn nạn nào đó thường chủ quan, cho rằng đó là quyết định hoàn toàn đúng (ở đây ta nói về tôn giáo là chính), nhưng ta nào đâu biết rằng: Ngoài các dữ kiện cụ thể mà ta dựa vào đó để đi đến quyết định và hành động th́ con người vẫn bị chi phối bởi luật vô thường của vũ trụ. Ta không thể đi ngược cái luật vô thường của vũ trụ được. Để tồn tại và tiến hóa, ta phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt cái luật vô thường này, không có một biệt lệ nào cả.

 

Nhưng trớ trêu thay, cái luật vô thường này lại không thể chỉ giải thích bằng quy luật của khoa học khách quan được (khoa học vật lư) mà cũng chẳng thể giải thích được bằng cách xé lẻ cái quá tŕnh suy tư của trí tuệ được. Nếu tách chúng ra (vật chất và tinh thần) hoặc xé lẻ ra để xem xét một đọan ngắn ngủi nào đó trong quá tŕnh suy tư của ḿnh th́ luật vô thường mà ta vừa nói, sẽ không c̣n trong một thể thống nhất nữa. Khi đó, ta sẽ dễ dàng đi vào lầm lạc. V́ các lầm lạc này mà loài người đă phải trả bằng biết bao máu xương và khổ ải. Quá tŕnh sống của loài người quả là một quá tŕnh dài trong việc tự hoàn thiện lấy ḿnh là vậy. Như thế, việc tách rời vật chất với tinh thần ra để nghiên cứu cho mục đích tiến hóa chỉ có tác dụng tích cực đối với loài người khi loài người ư thức được luật vô thường mà thôi. Thiên về mặt này hoặc mặt kia th́ luật vô thường không c̣n được tôn trọng nữa, lúc đó mất quân b́nh xảy ra và xă hội sẽ loạn lạc.

 

Cho nên, vũ trụ là thống nhất, hoạt động theo một quy luật mà loài người không thể can thiệp hoàn toàn vào được và măi măi nó cứ hoạt động như vậy và tác động sâu rộng trong quá tŕnh tiến hóa của loài người. Nói ǵ đi chăng nữa th́ cũng chỉ có một vũ trụ này mà thôi (c̣n vũ trụ lớn ra sao, tự thân vũ trụ tiến hóa như thế nào là một vấn đề khác, loài người hiểu đến đâu th́ biết đến đó là vậy). Cho nên, Cụ Lư Đông A khi phát biểu về vũ trụ quan, th́ Cụ mới nói đến Duy Nhiên là vậy (cần so sánh Nhất Nguyên với Duy Nhiên trong phần về triết học Tây Phương).

 

Thế con người th́ sao ? Ngày nay, ta thấy con người có khác nhau về màu da, ngôn ngữ, tập quán, v..v…Nhưng từ ngàn xưa th́ con người ra sao? Xin thưa: Ta chưa hiểu được! Sọ của con người Homo Erectus mà các nhà khảo cổ t́m thấy ở Châu Phi chưa quá 2 triệu năm. Khám phá này không giải thích được tại sao lại có người da trắng, da vàng, da đen. Con người ngày nay có các tiến bộ vượt bực so với 100 năm năm trước nhưng hiện nay loài người vẫn chưa thể t́m hiểu thấu suốt xem các dăy DNA trong các gene di truyền đă thay đổi thế nào trong việc thích nghi với môi trường khách quan chung quanh để từng bước biến đổi thành da đen, da vàng, da trắng. Khi không thể giải thích tường tận được, chúng ta đă vội vă đi đến kết luận (dựa vào một số tiến bộ mà quốc gia nào đó đă đạt được) là “kẻ này không phải là người văn minh, kẻ khác chưa phải là người “thượng đẳng” mà chỉ dân tộc ta mới đích thực có văn minh mà thôi”. Kết luận vậy là hoàn toàn sai! Thế rồi tôn giáo cũng làm cho con người chia rẽ sâu xa thêm nữa về những niềm tin do con người đặt ra, về cách thức thờ phượng đối với các sản phẩm tinh thần liên quan các vấn đề siêu linh ở một “cơi khác”, trớ trêu thay con người đang sống ở xă hội loài người (cơi người), nhưng không nghĩ cách phục vụ cho cơi người, mà lại phục vụ cho cái cơi không phải ở cơi người (cơi siêu h́nh khác cơi người?. Nhưng chính các tôn giáo lại không thể giải thích được cơi khác đó).

 

Ít ra cho đến thời điểm này của lịch sử nhân loại, cho đến khi “giả định” là con người sẽ có dịp tiếp xúc với loài người khác ở các hành tinh khác, th́ trên trái đất này cũng chỉ có một loài người duy nhất mà thôi. Sự khác biệt về màu da, vóc dáng chỉ nói lên quá tŕnh thay đổi về gene nhằm thích ứng với thiên nhiên của con người. Sự khác biệt về tŕnh độ hiểu biết, phong tục tập quán là do tổ chức xă hội, môi trường sống, điều kiện phát triển và giáo dục chính yếu tạo ra.

 

Loài người là một thể thống nhất mang đầy đủ tính người. Dù bạn màu da ǵ, văn minh đến đâu, dù bạn theo tôn giáo nào, dù bạn sống ở đâu, dù bạn là nam hay nữ, giàu hay nghèo, kể cả khi c̣n là bào thai th́ bạn vẫn là người và cứ là người với đủ bản tính đích thực của con người cho đến khi bạn nhắm mắt xuôi tay, xa ĺa cuộc sống trên trần gian này. Như thế văn minh nhân loại bao gồm sản phẩm trí tuệ, tinh thần nên không có văn minh Khoa Học Đông hay Tây mà tất cả đều là văn minh khoa học của nhân loại. Tài nguyên thiên nhiên cũng là sở hữu của nhân loại nói chung, chứ không phải là của hoàn toàn riêng một quốc gia nào (cho nên việc tranh luận về quyền sở hữu đang được xem xét lại tận gốc rễ).

 

V́ thế, Cụ Lư Đông A mới nói đến:

1) Duy Nhân, tức là nói về bản thể của loài người.

2) Duy Dân, tức là nói đến loài người trong quá tŕnh tiến hóa của ḿnh (loài người và xă hội)

3) Duy Nhiên, tức là nói đến vũ trụ quan trong cái cách thức mà khách quan tác động lên quá tŕnh tiến hóa của loài người.

 

Từ nhận thức có tính cách nền tảng này, ta sẽ t́m hiểu ngọn ngành hơn về quá tŕnh h́nh thành của nền văn minh nhân loại này, trên trái đất này, đồng thời qua đó, ta cũng sẽ hiểu được những bế tắc hiện nay của thế giới là ǵ và làm cách nào để nhân loại giải quyết các bế tắc ấy hầu đưa con người vào một thời đại mới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. (xin xem Duy Nhân, Duy Dân và Duy Nhiên ở đoạn dưới)

 

* Đạo Học Phương Đông Là Ǵ ?

Câu hỏi này chưa được các học giả Phương Đông xem xét một cách kỹ lưỡng, huống chi là các học giả Tây Phương. Khi nói đến Phương Đông, chúng ta thường nói đến Dịch Lư dựa trên mối tương quan giữa cặp Âm - Dương khi áp dụng vào mỗi lănh vực khác nhau th́ sẽ đem lại các lư giải thích ứng cho lănh vực đó. Nhưng Dịch Lư là thể dụng của một loạt các nhận thức sâu rộng hơn nhiều mà tổ phụ Bách Việt của chúng ta đă khám phá ra nhằm dẫn dắt cuộc sống sao cho thuận thiên, tức là phù hợp với quy luật khách quan của thiên nhiên, môi trường sống chung quanh vậy.

 

Khi tổ tiên ta nói “Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh Vạn Vật” th́ điều đó có nghĩa là ǵ ? Nếu giải thích là “Trời - Đất - Người” th́ tuy đúng và được đa số chấp nhận nhưng dường như trong chỗ sâu thẳm của lẽ sống th́ khái niệm ấy vẫn c̣n hàm chứ nhiều ẩn ư cao siêu hơn so với các suy nghĩ thông tục của chúng ta ngày nay.

 

Khái niệm về Nhất Nguyên (mà tổ tiên ta nói ở đây) nói lên cái lẽ uyên nguyên của vũ trụ trong việc h́nh thành cặp Âm - Dương tức là Lưỡng Nghi, từ Lưỡng Nghi mới sinh ra mọi thức khác về vật chất cũng như tinh thần. (“Nhất âm nhất dương chi vị đạo”, âm dương chính là đạo lớn). Vậy chính khả năng cô đọng cùng cực này lại làm cho Dịch có những nét đặc trưng dễ nhất, giản dị nhất, tuy nhiên khi đạo lớn tỏa ra th́ bao hàm cả trời đất vũ trụ th́ lại khó nhất, cho nên Kinh và Điển là sự kết tinh của một nền văn hóa. “Khổng An Quốc đời Hán có nói rằng: Viêm Việt (bách Việt) chính là nồng cốt của Lục Kinh”. (chúng ta biết rằng Hán Tộc chỉ biết đến Ngũ Kinh mà chưa hề nói đến Lục Kinh). Nên trong chương đầu của Kinh Thư Khổng An Quốc có viết rằng: “Chúng ta (ám chỉ người Hán) chỉ biết phần Ngũ Kinh (ngũ kinh là: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu), nhưng những sách cổ hơn Ngũ Kinh như: Tam Phần, Ngũ Điển, Bát sách, Cửu Khâu th́ chúng ta lại không biết”. Ngũ Kinh là tiếp nhận cổ huấn từ Ngũ Điển. Tóm lại người Hán xưa và nay không bao giờ đánh cắp được các Kinh Điển tinh hoa của Bách Việt dù trải qua nhiều ngàn năm xâm lăng và cố gắng đồng hóa dân tộc Bách Việt, đó cũng là một trong nhiều lư do để giải thích tại sao hơn 1000 năm Bắc thuộc mà dân Việt không bị đồng hóa là vậy.

 

Cho nên đă là con người, với tích cách là người phải sống thuận hoà với vũ trụ, V́ con người là tổng hợp hài hoà nhất, cao độ nhất của cặp Âm - Dương (vật chất - tinh thần, thêm nữa con người do sự kết hợp Nam - Nữ mà tạo ra). Nếu không có con người th́ các thứ khác dù có tự hoàn thiện đến đâu th́ cũng kể như không. Những thứ này hiện diện không phải do sự vô hạn của chúng mà chính là do ư thức của con người đặt vào chúng. Như vậy, con người là người sinh vật tối linh thiêng trong vũ trụ này, (nhân ư vạn vật hữu linh) do đó con người phải là đích điểm để t́m hiểu và phục vụ. Điều này được thể hiện khá rơ trong sinh hoạt hàng ngày của xă hội Việt Nam cổ truyền c̣n sót lại (đặc biệt là tại miền Bắc Việt Nam, cái nôi của dân Việt ). Khi ta thấy trong một gia đ́nh có cha mẹ hay ông bà ĺa đời th́ cây cối chung quanh nhà cũng được để tang màu trắng hay vàng tùy theo tuổi tác của người quá cố. Tập quán này không xảy ra bất cứ nơi nào trên thế giới, kể cả bên Tàu. Nhiều người, đặc biệt là một số giáo sĩ Thiên Chúa Giáo Âu châu thường nghĩ là: Đông Phương không có tôn giáo v́ họ định nghĩa từ “tôn giáo” theo lối suy nghĩ của họ. Nghĩ như vậy nên họ chẳng hiểu ǵ về Bách Việt cả. Tôn giáo của Phương Đông mà chủ đạo là Bách Việt, quan niệm vũ trụ là Vô Nguyên trong một thể thống nhất, cho nên Bách Việt không đề xuất tôn giáo kiểu Ấn Giáo, Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo mà lấy đạo thờ ông bà như là nền tảng nhằm giữ cho gia đ́nh được trật tự, xă hội được kỷ cương. Tôn giáo Thuận Thiên ấy đă bị xă hội vật chất làm hoen ố đi mà thôi. Nếu quan sát kỹ lưỡng đà phát triển của văn minh nhân loại ta sẽ thấy: Tất cả các nền văn minh sau Bách Việt đều chịu ảnh hưởng của văn minh Bách Việt một cách sâu xa, nên nếu nói “Nền văn minh Bách Việt là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt văn minh nhân loại” cũng không phải là không đúng. Nhưng chính văn minh Bách Việt sống nặng về tinh thần và trí tuệ, tổ tiên ta cố tránh các nạn chinh chiến đao binh nhầm hủy diệt sinh mạng con người. Nên trước những kẻ du mục xâm lăng và v́ phải bảo tồn ṇi giống tổ tiên ta cứ dần dần lui về phương Nam để rồi cuối cùng bọn xâm lăng đă chiếm lấy Trung Nguyên (trung tâm nước Tàu bây giờ), nơi vốn là đất tổ của Bách Việt từ ngàn xưa.

 

Vấn đề Bách Việt xuống định canh định cư ở Trung nguyên trước dân tộc Hán bao lâu th́ đó là một chủ đề của khảo cổ mà không thể lư giải dễ dàng. Nền văn hóa Môn- Khmer với chữ viết khoa đẩu đă tạo ra các tác động ǵ đối với việc h́nh thành chữ Hán và chữ Phạn sẽ là các câu hỏi lớn của lịch sử. Nhưng qua các học giả đă nêu trên th́ “khi Bách Việt đă khởi đầu cuộc cách mạng nông nghiệp đầu tiên trên thế giới này, th́ lúc đó các dân tộc khác vẫn c̣n sống du mục”. Điều này chứng tỏ là “chính tổ tiên ta đă t́m ra cái lẽ uyên nguyên của trời đất và vũ trụ, của các biến hóa khôn lường của cặp Âm-Dương và đặt nền tảng cho đạo học ở Phương Đông, lấy con người làm trục sống và tiến hóa”. Các nền văn minh sau Bách Việt ngày càng tập trú vào các vấn đề của vật chất hơn. Chuyện này làm cho xă hội loài người tiến bộ hơn về mặt vật chất nhưng cũng đặt ra nhiều bế tắc mà nhân loại đang phải đối đầu và đang cố công giải quyết cho ổn thỏa.

 

Có người sẽ hỏi: Như thế đạo học Đông Phương có ǵ là cao siêu đâu mà phải tán dương ? Và nếu so với lịch sử triết học Tây Phương th́ đạo học Bách Việt chẳng là ǵ cả. So sánh như vậy là sai lầm!. Như trên đă nói đạo học Phương Đông dễ nhất giản dị nhất, nhưng cũng lại khó khăn sâu thẩm nhất. Bởi v́ cùng một đạo Học mà ra thiện ra ác, ra tốt xấu, nhơ đục. Đời con người ta th́ có bờ bến, đạo Học th́ không bến không bờ, như vậy th́ lấy cái bờ bến mà so sánh cái không bến bờ, ấy là so sánh sai lầm vậy. Cho nên ta có thể lấy cái khoa học Tây phương mà t́m hiểu cái đạo học Đông phương, chứ không ai lấy cái khoa học để so sánh với đạo học. Cái ǵ là nơi bắt đầu của muôn vật, nó tự nẩy ra Âm, Dương, rồi “Âm, Dương giao thông thành hóa mà sinh vật ?”. Ta phải lấy cái con người đă biết để đi t́m cái chưa biết, “biết” rồi phải xem xét suy ngẫm trong cái vũ trụ man mác huyền minh để chúng ta t́m ra Đạo. Tóm lại Đạo lúc nào cũng giữ cho trời với người luôn thăng bằng để con người sống đúng ư nghĩa đạo, hiểu được như vậy ta phải nhất mực luôn luôn giữ cho “Trực tiết Tâm hư” mới được. Tâm càng chính th́ càng cộng thông với trời đất cao hơn và cuộc sống mới xứng đáng là Người hơn.

 

* Thế giới này loạn lạc v́: “Do cái Tâm bất chính mà ra”!

 

Có người sẽ nói: Thế th́ đạo học Bách Việt Phương Đông đâu có so sánh được với Khổng Tử với phần “H́nh Nhi Thượng” và “H́nh Nhi Hạ” đă nói lên hết rồi. Thưa là: Khổng học chỉ là một bản sao chép bất toàn của đạo học Bách Việt đích thực mà ra. Bởi v́ Khổng Khâu lấy đời nhà Chu làm tiêu chỉ để san định lại các sách vở và Khổng Khâu cũng đă từng nói là “ông ta không làm ǵ mới”. Đó là lư do tại sao ông ta lấy biệt hiệu “Ngô Ṭng Chu” (Tôi theo nhà Chu) là vậy. Như chúng ta đă biết, nhà Chu chỉ mới có cách đây chưa quá 3000 năm, trong khi nền, văn hóa Bách Việt đă có từ hơn 3000 năm trước nhà Chu. Thế nên, những ai c̣n tin vào Khổng Tử tức là chưa thấy được tinh hoa của tổ tiên Bách Việt ḿnh. Họ chỉ có sáo ngữ lập lại và tin vào những luận điểm của kẻ xâm lăng Hán tộc và dùng chúng để mà khoe khoang cái hiểu biết của ḿnh, dùng lư thuyết của kẻ cai trị vẽ ra và được quảng bá bằng những âm mưu thâm độc có tính toán của lănh đạo Hán tộc thời xưa là “xóa sổ văn hóa Bách Việt, làm cho người Việt tưởng dân tộc không có ǵ hay, toàn học lại từ Tàu”, rồi thời gian họ trở thành mất gốc, sẵn sàng bán linh hồn cho ngoại bang là thế.

 

Có người lại nói: Làm sao đạo học Bách Việt có thể so sánh được với đạo Chúa, đạo Phật. Thưa là: Đă nói rằng các tôn giáo đều có một nguồn gốc chung từ đạo học Bách Việt mà ra. Điều này không thể chối căi, cho nên sự xuất hiện một Khổng Tử chỉ là để đáp ứng với xă hội Hán tộc sau khi đă chiếm được vùng Thái Sơn (tức là Trung nguyên, vùng đất tổ của Bách Việt). Trước Hán tộc, là nhà Chu hay nhà Châu từ phía Tây tiến dần đến định cư ở Thiểm Tây, nên gọi là nhà Tây Chu. Nhà Tây Chu trước học văn hóa của nhà Thương rồi dần dần cảm hóa theo văn minh Hoa Hạ và sau đó đánh chiếm nhà Thương, lập nên nhà Tây Chu, sau nhà Tây Chu dời sang phía đông nên gọi là nhà Đông Chu. Trước nhà Chu là nhà Thương từ vua Thành Thang truyền 28 đời đến vua Trụ 1783 - 1134 ttl. Trước nhà Thương là nhà Hạ từ vua Đại Vũ truyền đến đời vua Kiệt 2205 – 1783 ttl, tổng cộng 17 đời. Trước nhà Hạ là Hoàng Đế truyền 7 đời đến vua Thuấn 2697 – 2205 ttl. Như vậy lịch sử của nước Trung Hoa bây giờ chỉ có biết từ thời Hoàng Đế vào khoảng năm 2697 trước tây lịch, đúng như các sử gia của thế giới đă nói: “Trên thế giới này chỉ duy nhất có một nước Trung Hoa có một nền văn hóa lâu đời nhất mà lại có một lịch sử rất mù mờ nhất” quả không sai).

 

Ta cần để ư là thời Đông Chu có đến 800 chư hầu. Như thế, kế của nhà Chu là tạm thời chấp nhận sự tồn tại của một số bộ phận Bách Việt mà nhà Chu đă xâm lăng, thôn tính trong khi chờ đợi chính sách đồng hóa thành công mà thôi. Sau này Khổng Tử là người đă đặt ra nền tảng cho chính sách “trung ương tập quyền” ấy, để giúp việc đồng hoá các bộ phận Bách Việt được mau lẹ thành công, tước bỏ hẳn đạo học Bách Việt, để mặc cho nhà vua là kẻ thay trời trị v́ thiên hạ. Đó chính là chính sách trung ương tập quyền toàn diện v́: Vua là người duy nhất đại diện cho trời!. Ngay cả La Mă trong thời kỳ huy hoàng nhất của vai tṛ Giáo Hoàng cũng không thể có địa vị độc tôn như vậy.

 

Đạo Brahman cổ được được thi hành bởi tầng lớp dân chúng nghèo khó bản địa khác với chủng tộc xâm lấn Aryan ở phương Bắc là một nghịch lư trong cuộc sống của xă hội Ấn Độ. Bên Tàu có vua thay trời trị v́ thiên hạ nhưng do truyền thống đạo học Bách Việt c̣n có ảnh hưởng nên ở Tàu, đặc biệt là trong nhóm Bách Việt không có giai cấp theo kiểu cha truyền con nối hay phong kiến (ở triều đ́nh th́ khác) và việc h́nh thành các gia đ́nh có tài sản lớn là một cái ǵ đó gây ra nhiều áy náy trong tâm hồn người Bách Việt (ở Tàu th́ vấn đề này nhẹ hơn v́ họ chỉ chịu ảnh hưởng của Bách Việt một phần mà thôi) nhưng qua đến Ấn Độ th́ vấn đề giai cấp là đạo của họ, là đặc quyền của ṇi giống Aryan với đa số dân chúng bản địa nghèo khó. Đạo Brahman xác định cái trật tự giai cấp ấy. V́ thế đạo Phật là sự thoát thai của Ấn Độ Giáo trong hoàn cảnh Đức Phật thấy sự bất công của Ấn Giáo (giới Bà La Môn) với tầng lớp dân chúng bần cùng nghèo khổ.

 

Với đạo Chúa th́ sự thể đă khác nhiều. Đạo Chúa là cả một sự tổng hợp của đạo học Bách Việt (qua ư tưởng Thiên Chúa Ba Ngôi “Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”), lập căn bản trên khái niệm “Tam Tài – Thiên, Địa, Nhân” cùng với sự mở rộng khái niệm về sự b́nh đẳng, bác ái và huynh đệ trong điều kiện dân Do Thái bị một cổ hai tṛng (Do Thái bị đế quốc La Mă cai trị thông qua các quan tay sai ngọai quốc). Như thế, đạo Chúa phát nguyện như là một phương tiện đấu tranh tư tưởng nhằm lật đổ chế độ chiếm đóng La Mă là trước hết, thông qua các điều răn mà Môi-Sen đă rao giảng thời Cựu Ước, (sau chúa Jesus mới có Tân Ước) nhân danh đấng Thượng Đế chí tôn như một biểu tượng tối ư linh thiêng.

 

Khi đạo Chúa du nhập vào La Mă vào thế kỷ thứ 3 bởi Hoàng đế Constantine th́ La Mă thế quyền đă mở ra một lối thoát mới cho đạo Chúa và làm cho đạo Chúa ngày càng trở nên tông quyền hơn (nói theo Cụ Lư: “Chúa Jesus đâu muốn tạo ra Tông Quyền”), cuộc tranh chấp liên lỷ giữa thần quyền và thế giới La Mă sau thế kỷ  6 (sau Tây Lịch) nhằm h́nh thành các quốc gia Âu Châu vào thế kỷ 13, mà biên giới đă được nh́n nhận cho đến ngày nay đă từng bước đặt nền tảng cho một hệ thống xă hội phân chia giai cấp (như tại Ấn Độ) trong khi đạo chúa được nh́n nhận (hoặc phải được nh́n nhận) như một tôn giáo chính có khả năng kết hợp các bộ tộc Âu Châu lại với nhau nhằm ḱnh chống lại các nhóm Ả Rập mà vào thế kỷ 7 Mohamet cũng bằng con đường tông giáo đă kết hợp các nhóm du mục với người Ả Rập để h́nh thành một thế lực chính trị có khả năng đe dọa an ninh của La Mă.

 

Cuộc xâm lăng của Mông Cổ vào thế kỷ 13 đă là nguyên nhân chính trong thời Trung Cổ làm cho Hồi Giáo phát triển rất mau, cuộc chiến tranh lạnh vừa qua là một cơ hội khác nữa đối với Hồi Giáo Ả Rập.

 

Chỉ điểm sơ qua quá tŕnh phát triển của tôn giáo trên quy mô toàn cầu trong gần 3000 năm qua, cũng đủ cho thấy, đó là một quá tŕnh ngày càng trở nên vật chất hơn ngày càng xa ĺa cái khởi điểm nhất nguyên của đạo học của đạo làm người. Bản chất của các bất ổn trên thế giới hôm nay bắt nguồn từ đây và nếu muốn canh tân và cải cách thế giới th́ mọi việc cũng phải bắt đầu từ đây vậy. Bởi chưng Bách Việt với đạo học là tượng trưng cho tinh túy của tinh thần, nhưng qua Hán tộc th́ yếu tố tinh thần đă bắt đầu giảm xuống yếu tố vật chất bắt đầu tăng lên, để theo thời gian khi văn minh nhân loại càng di chuyển về hướng Tây (lấy Bách Việt làm chuẩn) th́ yếu tố vật chất càng gia tăng, mà đỉnh cao nhất đạt đến khi văn minh nhân loại chuyển đến Hoa Kỳ hiện được coi là biểu tượng toàn bích của nền văn minh vật chất vậy.

 

* - Bàn về Triết Tây Phương:

Cụ Lư đă nói:

          * - “Triết học là thống quan của con người”

          Nghĩa là triết học đặt nền tảng c̣n cách thức mà con người suy nghĩ và hành động. Như thế khi bàn về tôn giáo mà không bàn về triết học sẽ là một sự thiếu sót nghiêm trọng. Nhưng triết học cũng là một môn học t́m hiểu về cái cách thức làm cho loài người được sống hạnh phúc hơn, được viên măn hơn trong đời ḿnh và cả đời sau ḿnh nữa. Nhưng thái cực diễn biến liên tục thông qua cặp Âm- Dương, điều này làm cho con người qua cuộc sống của ḿnh phải nương theo thái cực để sinh tồn nhưng không thụ động, thụ động về mặt tri thức tức là đă biến gần đến t́nh trạng vô tri hoặc theo bản năng là vậy. Cho nên cuộc sống vốn gồm hai mặt âm và dương, vật chất và tinh thần cùng kết hợp không thể tách rời nhau; đó không phải là hai mặt của một vấn đề như quan niệm đơn giản của nhiều học giả chỉ biết sử dụng kỹ thuật phân tích thuần túy nhằm va chạm sự thật, nhưng khi tách ra th́ sự thật không c̣n là sự thật nữa. Kết quả tất yếu là anh đă đi lạc hướng. Đó là t́nh trạng của triết học Phương Tây và cũng là sự bế tắc của triết Tây Phương vậy.

 

          Bây giờ ta hăy xem xét đôi điều liên quan đến liên quan đến sự bế tắt của triết học Tây Phương: Văn minh nhân loại là một thể thống nhất và là tài sản chung của toàn thể loài người. Mỗi bước tiến đều đánh dấu một quá tŕnh Duy Dân biện chứng đấy thôi, cho nên sự phân biệt ra triết Tây Phương (ở đây là để nói về trường phái triết học được h́nh thành ở Âu Châu) được lập căn trên sự nghiên cứu về quá tŕnh tiến hóa của loài người với tính cách là Người (tức là tinh thần và vật chất).

 

          Cái nôi triết học Tây Phương có căn bản từ Thiên Chúa Giáo La Mă kết hợp với nền tảng tri thức đă học được từ các học giả Hy Lạp, Ai Cập và Lưỡng Hà khám phá ra trong thời gian khoảng gần 2000 năm trước Thiên chúa giáng sinh.

 

          Trong thời gian dài đến hơn 10 thế kỷ, sự độc tôn của giáo hội Thiên Chúa Giáo đă chấm dứt hẳn cái cách suy tư độc lập hơn tinh thần hơn mà các học giả Hy Lạp đă đặt nền tảng ngay từ thế kỷ Thứ 6 trước Công Nguyên. Nền văn minh Hellenic (Greek - Hy Lạp) xét theo một khía cạnh nào đó là một bước tiến thực tiễn hơn so với đạo học của Bách Việt được lập căn thuần túy trên tinh thần, nên Bách Việt bị giống man rợ là Hán tộc xâm lăng làm suy yếu đi trước khi bị Hán tộc thôn tính.

 

          Trong bối cảnh ấy, muốn t́m một cách thức nào đó để tồn tại các học giả Âu Châu cố phải tránh xa mọi sự suy tư về tôn giáo vẫn là độc quyền của giáo hội ở Rome. Sự cấm kỵ đó đă đẩy  các học giả Âu Châu cổ vào chổ t́m hiểu về khoa học tự nhiên (như giáo hội đă nói: “Trái đất là mặt phẳng” ai nói trái đất là một khối cầu th́ bị chém đầu, mặc dầu giáo hội cũng nh́n nhận trái đất là một khối cầu điều đó đúng, nhưng giáo hội {độc đoán} đă nói th́ không thể sai lầm được) vốn là một địa bàn ít bị ḍm ngó hơn. Điều này làm cho xă hội Âu Châu đạt được các bước tiến về phương diện vật chất, việc xây dựng các công tŕnh thờ phượng nguy nga như là biểu tượng cho niềm tin tôn giáo, nhưng mặt khác cũng để lộ sự cạnh tranh ngấm ngầm giữa các dân tộc (như Gaulois, Anglo Saxon, German) với quyền uy của Rome. Bước kế tiếp tất yếu là việc h́nh thành các nhà nước Âu Châu, từ nhà nước Âu Châu phong trào Thanh Giáo h́nh thành và chỉ c̣n  chờ thời gian ngắn ngủi để trường phái triết Tây được h́nh thành, thóat khỏi cái bóng quá lớn của Roma. Như vậy, triết Tây đă bắt đầu từ khởi điểm sai lạc v́ các tôn giáo đều đă bị tông quyền hóa và ngay từ lúc khởi đầu đă manh nha các ư đồ chính trị trong đó, và trong một xă hội theo đuổi một khuynh hướng về vật chất th́ tri thức đặt nặng việc nghiên cứu về vật chất là hoàn toàn phù hợp vậy. Triết Tây Phương h́nh thành trong cái bối cảnh ấy.

 

          Ta không loại bỏ các ảnh hường rất tích cực của học thuật phương Tây khi tập trung nghiên cứu phát triển về các lănh vực liên quan đến khoa học vật chất, điều này làm cho phương Tây tiến bộ rất nhanh về phía trước, nhưng nói như vậy không có nghĩa là các tiến bộ ấy là miên viễn và bế tắc không phải là không xảy ra; bế tắc là bế tắc đó là một thực tế vậy.

 

          Đỉnh cao của triết Tây Phương là khi họ đề ra biện chứng pháp lập căn trên cặp Chính đề - Phản đề để h́nh thành Hợp đề, để rồi hợp đề nọ lại  trở thành một chính đề của chu tŕnh kế tiếp với một phản đề và hợp đề mới. Đó là một quá tŕnh liên tục không bao giờ ngưng nghỉ áp dụng với mọi loài, mọi vật. Trước hết khoa biện chứng không thể so sánh được với khái niệm đạo học Bách Việt đă đưa ra từ:

         

          * - “thái cực- âm dương - tứ tượng”.

          * - “nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”.

 

          Bởi v́ khoa biện chứng đă không giải thích được chính đề đầu tiên là ǵ?. Chính đề đầu tiên ấy trong quá tŕnh sinh diệt của ḿnh là tự phát khởi hay do và v́ con người mà chính đề ấy h́nh thành, hiện hữu và được đặt cho một tên gọi.

 

          Bởi v́ chính ư thức của con người đặt vào chính đề ấy nên chúng mới hiện hữu cho nên con người mới là tâm điểm để phục vụ; tách vật chất và tinh thần ra th́ chỉ một bước tới cơi hư vô là vậy.

 

          Cho nên đỉnh cao của triết Tây Phương cũng là đỉnh cao của bế tắc đối với tri thức Tây Phương là vậy (ta cần ghi nhớ điều ấy).

          Chúng ta tiếp tục đào sâu hơn nữa về quá tŕnh chuyển hóa của triết Tây Phương đối với con người đặc biệt trong thế kỷ 20 này.

          Học giả Tây Phương bàn luận nhiều vấn đề rất ư lạ lùng. “Tiền Hậu Hữu Vô” khi họ nêu ra vấn đề vật chất và tinh thần cái nào có trước? câu hỏi này dẫn đến việc h́nh thành hai trường phái nhất nguyên luận duy tâm (tinh thần có trước) và nhất nguyên luận duy vật (vật chất có trước) họ cũng nêu ra câu hỏi là: “Vật chất và tinh thần cũng tồn tại song hành”. Điều này là nhận định cơ bản của phái nhị nguyên luận.

 

          Khách quan mà đánh giá cả hai phái nhất và nhị nguyên luận đều đặt căn bản trên một nền tảng sai lầm. Bách Việt giải thích “Nhất Thể Sinh Lưỡng Diện” một cách đơn giản và rất chính xác:

          - “Nhất thể được sinh ra bởi khí hạo nhiên của trời đất, tất cả là do ư thức con người định đặt vào đó mà nó tồn tại, nếu không có con người th́ không có tất cả, cho nên vấn đề chính là con người chứ không phải là các hiện tượng vốn được coi là khánh thể”.

 

          Sự bế tắc của trường phái triết học Âu Châu lục địa mà tiêu biểu là trường phái Đức, dường như có những biểu hiệu muốn trở lại với cái uyên nguyên của trời đất (nhưng chưa đủ tri thức, t́nh trạng xă hội chưa chín mùi), trong khi đó hướng tiến tới của triết học Tây Phương vào giữa cuối thế kỷ 19, được dẫn dắt với nhiều nhóm khác nhau có tinh thần thực dụng hơn qua việc đa số họ đều tập trung nghiên cứu về cách thức cải thiện cuộc sống của con người về mặt vật chất. Mặc dù tiền căn của cao trào thực dụng chủ nghĩa này đă được phát khởi từ rất lâu trước đó (như Diderot, JJ Rousseau...), nhưng nó đă nở rộ vào giữa cuối thế kỷ 19 để sang đầu thế kỷ 20 th́ một loạt các trường phái mới được h́nh thành nhằm nghiên cứu về khía cạnh vật chất của cuộc sống con người.

 

          Nhiều người nghĩ rằng chủ nghĩa thực dụng được cổ vũ tại Mỹ là một đặc thù trong xă hội Mỹ, một xă hội được lập căn trên việc thờ phụng tuyệt đối thần vật chất; nghĩ như vậy là hoàn toàn sai, nó sai v́ chỉ dựa vào một số sự quan sát, một thiểu số biểu hiệu tiêu cực trong xă hội Mỹ như: Tệ nạn thờ tiền bạc nhằm phục vụ tối đa nhu cầu vật chất của một ai đó mà thôi, nó sai v́ chỉ dựa vào các hành động của nước Mỹ (tức là chính trị) đối với thế giới, các hành vi ấy chỉ dựa vào một ư đồ duy nhất là v́ quyền lợi của ḿnh là trên hết. Không ! như vậy nếu người Mỹ sống như vậy th́ đâu có ǵ là lạ. Nó trở nên lạ là v́ xứ này quá tự do để một người có tiền th́ có quyền sử dụng tiền bạc của họ theo ư họ, điều này tạo ra các tác động kinh tế để khuyến khích họ làm việc, Hoa Kỳ chấp nhận các hệ lụy tất yếu ấy như là một cái giá phái trả cho sự tự do vậy.

 

          Tất cả các cá nhân ấy dù tổng hợp lại không nói lên được nước Mỹ thực tế qua cuộc sống của các trí thức đích thực của nước Mỹ, cũng như qua các đường hướng lâu dài mà nước Mỹ làm và sẽ làm nhiều nửa cho thế giới trong tương lai.

 

          Thực ra th́ chủ nghĩa thực dụng tại Mỹ đă có tiền căn từ Âu Châu thời Trung Cổ và từng bước xác lập bởi nhiều tầng lớp trí thức Âu Châu khác nhau trong suốt mấy thế kỷ liền, để càng ngày càng hướng xă hội Phương Tây vào con đường truy t́m thăng tiến nền văn minh vật chất mà thôi.

 

          Nhưng trớ trêu thay, Âu Châu không ứng dụng được cái thành quả ấy v́ xă hội Âu Châu vẫn c̣n bị quá khứ lịch sử đè nặng, các quốc gia và chủng tộc mâu thuẫn nhau kềm kẹp lẫn nhau để không thể h́nh thành được hướng đi chủ đạo. Chỉ khi trung tâm văn minh thế giới di chuyển đến Bắc Mỹ th́ các hạt giống mà Âu Châu cố công nuôi dưỡng mới có cơ hội lớn lên một cách toàn diện, cho nên chủ nghĩa thực dụng phát khởi tại Mỹ là một tất yếu lịch sử, tự thân nó, chủ nghĩa thực dụng không phải là thấp hèn như nhiều người nghĩ (nhất là nhiều ông Việt Nam thuộc phái Âu Châu học và phái Tàu học); mà nó là đỉnh cao ngất trời của chiều hướng hướng về vật chất của nền văn minh phương Tây nói chung. Ở Bắc Mỹ các tiến bộ khoa học, cấu trúc xă hội khung cảnh về kinh tế mới đủ điều kiện để từ đây xă hội Hoa Kỳ trở thành một xă hội tiêu thụ thứ thiệt mà cả loài người đều ước ao trong suốt mấy chục thế kỷ qua. Nhưng cũng ở Bắc Mỹ này các bế tắc của thế giới hiện đại mới có điều kiện để lộ ra hết thảy các chân tướng của nó.

          Thế giới bị hư th́ phải sửa, sửa từ đâu?

 

          * - “Lấy óc mà chửa bệnh óc” là vậy.

                              (Trích Huyết Hoa -  X.Y. Thái Dịch. Lư Đông A)

 

* - Bế Tắc Của Thế Giới:

Triết học vốn là thống quan đối với loài người; nhận định này hoàn toàn đúng v́ khi ta suy nghĩ ta cứ tưởng rằng ta dựa vào các dữ kiện thực tiễn và chính xác nhất để đi đến một quyết định và từ quyết định ấy ta đi đến một hành động, nhưng nội cách ta suy nghĩ, cách ta nh́n ra sự vật cũng đă nói lên rằng trí tuệ ta bị chi phối bởi một cái ǵ đó sâu thẳm mà ta chẳng hay, ta không thể nói đó là vô thức được, v́ vô thức là sản phẩm của vô thức; mà ta phải nói; Đó là dạng tri thức nói những điều tri thức, kẻ thiếu tri thức nói điều thiếu tri thức là vậy.

 

          Cho nên khi bàn về các bế tắc hiện nay của loài người, trong phần trên đă đi ngay vào hai lănh vực cốt lơi đó là: Tôn giáo và Triết học là vậy.

 

          Trải qua nhiều ngàn năm kể từ khi con người có và viết lịch sử (giai đoạn đầu bị mất mát rất nhiều), th́ đạo học Bách Việt đă t́m thấy lẻ uyên nguyên của vũ trụ và cách thức mà cần biết để sống và tồn tại trong điều kiện vừa phải khắc phục thiên nhiên để sống, nhưng đồng thời vừa phải thuận thiên để tồn tại (thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong - Thiên đây là thiên nhiên).

 

          Quan sát quá tŕnh chuyển dịch của các trung tâm văn minh khởi đầu từ Bách Việt ra ta thấy rất rơ là: Càng chuyển về hướng Tây (tức là càng xa Bách Việt bao nhiêu) th́ văn minh càng nặng về vật chất bấy nhiêu. Nhân loại gọi đó là tiến bộ nhằm giải phóng con người khỏi các ràng buộc do lịch sử để lại, đó cũng c̣n là một quá tŕnh đào thải không khoan nhượng giữa cái cũ và cái mới nhằm thống nhất loài người lại trên căn bản mới, đó cũng là tiến tŕnh biện chứng toàn diện và đích thực vậy. Tiến tŕnh ấy đă từng tạo ra nhiều nút bế tắc và mỗi một nút bế tắc ấy thường được đánh dấu bằng những bước bạo đột như để mở cho dây diễn biến được đi lên. Nhưng khi nhân loại này chưa đủ văn minh th́ các nút bế tắc ấy thường giới hạn trong một khu vực nào đó thôi và sự nguy hiểm đối với sự tồn vong của loài người cũng ở trong mức độ giới hạn.

 

Quá tŕnh giải phóng con người tăng tốc trong chưa đầy 200 năm qua khi chủ nghĩa thực dân được thành h́nh đă đặt ra cho nhân loại này biết bao vấn đề vô cùng phức tạp, tệ hại thay chưa một thế lực nào đủ sức giải quyết các bế tắc ấy đến nơi đến chốn.

 

          - Dưới đây ta hăy bàn đôi điều về vấn đề này:

1) - Vấn Đề Chủng Tộc:

* - X.Y. Thái Dịch Lư Đông A nói: Nhân loại là nhất nguyên bao gồm nhiều sắc tộc của một chủng tộc hoặc nhiều chủng tộc nghĩa là con người là một thể thống nhất mang đầy đủ Tính Người vô luận màu da, ngôn ngữ, nên gọi là Thống Nhất Tính. Sự khác biệt giữa điều mà ta gọi là chủng tộc chỉ là thể hiện quá tŕnh thích nghi với các điều kiện sống khách quan mà con người đă trải qua, cho dù các quá tŕnh ấy có khác nhau và lẽ đương nhiên tạo ra các nền văn hóa khác nhau, nhưng nh́n chung quá tŕnh ấy đều nói lên điều cốt lơi và chung nhất: Đó là quá tŕnh thống nhất tính của biện chứng Duy Dân.

 

          Sự khác biệt giữa các điều mà ta gọi là quốc gia càng xác nhận các tiến tŕnh Duy Dân biện chứng ấy, v́ điều mà ta gọi là quốc gia là biểu hiệu rơ nét nhất trong tiến tŕnh hợp nhất giữa những con người tự cảm thấy rằng họ đều có chung một quá khứ lịch sử. Một giá trị tinh thần để bảo trọng và một nhu cầu cần hợp nhất để tồn tại, để khắc phục thiên nhiên, nhưng cũng là để chống lại những thế lực khác luôn muốn thôn tính và tiêu diệt họ.

 

          Quá tŕnh h́nh thành các h́nh thức khác nhau của việc điều hành một cộng đồng (từ nhỏ là bộ tộc, công xă, quốc gia...) đều đánh dấu từng bước tiến trong việc sắp đặt một trật tự cho cộng đồng ấy với sự thỏa hiệp của các thế lực được h́nh thành từng bước một trong tiến tŕnh tiến hóa, đấu tranh để sinh tồn, để giữ vững cái không gian sinh tồn (space vital) cho cộng đồng ḿnh đang sinh sống.

 

Như thế Duy Dân biện chứng là một tiến tŕnh đi lên liên tục, thống nhất, toàn diện giữa loài người với nhau; nói một cách khác: Đó là một tiến tŕnh cách mạng liên tục luôn hướng thượng về mọi mặt và luôn tương tác với nhau nhằm tạo ra các bước đột phá mới để mở đường cho nhân loại tiến lên về phía trước. Đó là cả một chu tŕnh không bao giờ dứt v́ tiến hóa là liên tục nên bước đột phá của ngày hôm nay sẽ trở thành một cản trở của ngày mai, cho nên ngày mốt nhân loại cần thực hiện một bước đột phá mới với những nổ lực lớn hơn nữa để đẩy văn minh nhân loại tiến nhanh về phía trước với vận tốc cao hơn nữa so với quá khứ.

 

          Lịch sử của nhân loại này được làm nên bởi mọi người với tính cách Là Người, nhưng hướng đi thường được định đoạt bởi một vài cá nhân nào đó mà sứ mệnh của họ dường như được sinh ra, dưỡng dục và điều kiện khách quan bên ngoài đặt họ vào trong một vị trí phải thực hiện các bước đột phá ấy, phải làm những việc có tác động sâu xa lâu dài đối với quá tŕnh tiến hóa của loài người nói chung.

 

          Đức Phật, Chúa Giê Su, Alexander Macedonia, Albert Einstein, các tổ phụ của nước Mỹ đều là điển h́nh tiêu biểu đánh dấu các mốc quan trọng trong quá tŕnh diễn tiến của loài người nói chung vậy.

 

          Quan sát một cách toàn diện - tức là đặt các biến cố trong toàn bộ tiến tŕnh phát triển của văn minh nhân loại - ta luôn thấy một điều rất kỳ thú đó là: Trong khi lực tiến về phía trước h́nh thành (tức là ṿng quay h́nh thành trung tâm văn minh mới), th́ lịch sử nhân loại luôn xuất hiện các lực cản trở có khuynh hướng muốn xoay ngược trở lại với hướng tiến tới phía trước.

 

          Ta hăy xem, khi đạo học Bách Việt chuyển đến Ấn Độ để h́nh thành nền văn minh Ấn Độ với đạo Brahman trở nên vật chất hơn, áp bức hơn để tạo ra tiền đề cho sự xuất hiện của Phật Giáo với 8 vạn 4000 pháp môn, nhưng khi chuyển đến Lưỡng Hà để thành nền văn minh Lưỡng Hà (mà người Kurd mới là cha đẻ nền văn minh này) để tạo điều kiện cho sự xuất hiên của Abraham cũng như các nền văn minh Hy Lạp, Ai Cập và La Mă. Quá tŕnh chuyển dịch này lại là tiền đề cho sự xuất hiện của Alexander Macedonia mà qua các chiến dịch của ḿnh, ngoài ư đồ quân sự thuần túy ta phải nh́n nhận rằng: Ông cũng c̣n muốn t́m đến cái nguồn gốc sâu xa của cội nguồn của văn minh nhân loại nữa. Dăy Hy Mă Lạp Sơn đă là một cản trở thiên nhiên để Alexander Macedonia không thực hiện được tham vọng của ḿnh nhưng ông đă đóng góp không nhỏ vào việc làm cho phương Đông (đối với La Mă) yếu đi, để tạo điều kiện cho việc h́nh thành đế quốc La Mă sau này, khi người La Mă biết kết hợp sức mạnh t́nh thần của Hy Lạp với sức mạnh vật chất mà bài học của Alexander đă để lại cho họ.

 

          Khi Trung tâm văn minh La Mă bắt đầu suy tàn, điều này được đánh dấu bằng hơn một thế kỷ Thập Tự Chinh với người Ả Rập, biến cố đó mở đầu cho việc h́nh thành các nhà nước Âu Châu vào thế kỷ thứ 13 tiếp theo cuộc xâm lăng của Mông Cổ. Chính qua cuộc xâm lăng này mà một liên minh La Mă - Âu Châu được h́nh thành một cách lỏng lẻo. Ta gọi là lỏng lẻo v́ Âu Châu muốn lật La Mă nhưng chưa đủ sức, La Mă muốn tồn tại th́ họ phải cần đến Âu Châu như là một sân sau an toàn của La Mă nên cuộc chiến với Mông Cổ là một bài học đáng ghi nhớ.

 

          Ở một khía cạnh khác th́ cũng qua cuộc chiến này, phương Tây hiểu rằng: “tin đồn về văn minh của phương Đông là không đúng, v́ Mông Cổ đă thể hiện nguyên h́nh của một đạo quân du mục nên không thể so sánh với  hành động của Alexander Macedoine xảy ra 15 thế kỷ trước đó” . Phương Tây khinh thường phương Đông từ đây.

 

          Cuộc đấu tranh giữa Âu Châu với La Mă dĩ nhiên vẫn tiếp tục, Âu Châu hiểu La Mă chỉ dựa vào vũ khí tôn giáo để thu phục ḷng dân Âu Châu (cũng là để khống chế Âu Châu), như vậy nếu muốn làm cho La Mă bị khuất phục th́ con đường duy nhất là tạo dựng sức mạnh thông qua các khám phá phi tôn giáo, lấy khoa học tự nhiên làm nền tảng để La Mă không thể thống nhất lực lượng nhằm đánh lại các quốc gia Âu Châu khi các quốc gia này trong giai đoạn mới h́nh thành và giữa họ với nhau vẫn c̣n các mâu thuẩn nhất định.

 

          Các khám phá ấy từng bước một đă đóng góp không nhỏ vào việc h́nh thành nền văn minh Âu Châu ngày càng thoát khỏi cái bóng của La Mă thần quyền, đồng thời cũng tạo ra các cách biệt ngày càng sâu rộng hơn với phương Đông mà Âu Châu thực ra chưa hiểu nhiều (khi khám phá ra Châu Mỹ, Âu Châu cứ tưởng rằng đó là Ấn Độ). Đó cũng là tiền đề của cao trào phản kháng đối với La Mă được thực hiện bởi Anh, Đức để mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp và xă hội trong thế kỷ 19. Nhưng ở khía cạnh khác cuộc cách mạng công nghiệp tuy làm cho La Mă yếu đi để lần hồi trở thành một thế lực chỉ c̣n chi phối trong lănh vực tôn giáo thuần túy thôi, nhưng nó lại làm gia tăng thêm các mâu thuẫn giữa các quốc gia Âu Châu với nhau, giữa các giai cấp mới được h́nh thành qua cuộc cách mạng công nghiệp với tầng lớp lao động nghèo khó, vốn dĩ có nguồn gốc là các công dân tự do được giới quí tộc trả tự do nhưng không có đất để canh tác để sinh sống nay trở thành  lực lượng lao động chính yếu chiếm đa số trong xă hội, nên bị giai cấp mới giàu bóc lột sức lao động mà không hề có luật pháp ǵ ngăn cản lại được.

 

          Bóc lột sức lao động trong nước mới là một mặt của thảm kịch mà thôi, cuộc cách mạng công nghiệp c̣n mở đầu cho cao trào đi xâm lăng chiếm thuộc địa nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân các quốc gia khác nữa. Thảm kịch của Âu Châu này trở thành thảm kịch toàn cầu v́ Âu Châu không hề thực hiện bất cứ một cải cách nào ngay cả với xă hội Âu Châu chứ nói chi đến cải cách tại các quốc gia họ đă xâm lăng và chiếm làm thuộc địa.

 

          V́ thế sự xuất hiện của Karl. Marx chính là một tất yếu lịch sử vậy. Nhưng Karl Marx cũng lại đưa ra một cái bất toàn đầy khiếm khuyết để nhằm sửa chữa lại một xă hội đầy hư hỏng hơn, v́ bản chất của học thuật ấy là t́m cách thăng tiến đời sống con người về mặt vật chất mà quên đi yếu tố tinh thần nơi con người, cho nên mâu thuẫn gia tăng   thế.

 

Nhiều người tự hỏi: nếu không có sự hiểu biết về mặt tinh thần, làm sao học thuật phương Tây phát triển được? đúng! Nhưng cái tinh thần cốt lơi của học thuật phương Tây đă được định hướng ngay trong yếu tố vật chất, cho nên xă hội phương Tây bất quân b́nh nghiêm trọng giữa hai yếu tố làm cho loài người trở nên Người. Đó là “vật chất với tinh thần”.

 

          Ta với người tuy hai mà một

          Người với ta tuy một mà hai.

... vậy.

         

2) - Vấn Đề Tôn Giáo

          Tôn giáo theo cái nh́n từ Ấn Độ đến Âu Châu qua đến Hoa Kỳ hiện nay chưa chứa đựng trong tôn giáo các nền tảng của tôn giáo đích thực. Tôn giáo đích thực chính là “đạo học làm người” đạo học làm người mới thực là đạo của các đạo, đạo học làm người khó lắm thay! “Ôi đạo học khó thay! Cùng một cái học mà ra thiên tài, mà ra nô tài, mà ra nhân tài. Cho nên dạy người hay cầu học tóm lại có ba phương châm:

 

1.     Nuôi tâm sinh thiên tài.

2.     Nuôi óc sinh nhân tài.

3.     Nuôi thân sinh nô tài.” 

          (trích Huyết Hoa - X. Y. Thái dịch Lư Đông A).

 

Nhiều người nghĩ rằng: thực tế th́ chủ nghĩa thực dân có đem lại nhiều cải tiến cho thế giới đấy chứ. Điều này không phủ nhận, nhưng có cải tiến không có nghĩa là không có các di hại lớn lao. Các di hại ấy có thể tóm gọn trong hai điều sau đây:

 

          a- Tạo ra t́nh trạng bất quân b́nh giữa các chủng tộc và trong cùng một chủng tộc trong phạm vi lănh thổ cụ thể nào đó.

          b- Thúc đẩy toàn loài người hướng về một thứ tôn giáo thờ thần vật chất trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, kỹ thuật chưa thể đáp ứng được với các đ̣i hỏi lớn lao đó, nhân loại chưa t́m được phương cách nào có thể hóa giải được các mâu thuẫn về tôn giáo về chủng tộc đang càng ngày càng trở nên nguy hiểm đối với tương lai thế giới.

 

3) - Bế Tắc Về Chủng Tộc Quốc Gia:

Chủ nghĩa thực dân đă dùng sức mạnh vơ lực để thôn tính nhiều vùng rộng lớn đặc biệt là tại Châu Phi, đặt các vùng rất khác biệt về văn hóa chủng tộc ấy dưới quyền cai trị của nhà cầm quyền thực dân, thậm chí khi có cuộc tranh chấp giữa các quốc gia thực dân với nhau các chủng tộc bị xé lẻ ra làm nhiều mảnh và đặt mỗi mảnh dưới quyền cai trị của từng quốc gia thực dân khác nhau, khắp các quốc gia ở Châu Phi hiện nay đều lâm vào t́nh trạng này.

 

          Chủ nghĩa thực dân cũng đă thực hiện nhiều cuộc di dân nhằm khai thác đất đai mầu mở ở các vùng thực dân có nhằm khai thác nông sản phục vụ cho chính mẫu quốc cũng như đặt căn cứ quân sự để dễ bề nắm ưu thế đối với các quốc gia khác. Trường hợp di dân Ấn Độ đến Nam Phi là tiêu biểu cho vấn nạn này.

 

          Các thế chiến nổ ra ở Âu Châu trong thế kỷ 20 đánh dấu sự bế tắc giữa các quốc gia dân chủ Âu Châu với nhau dựa trên một nhận thức cổ điển là: trước khi anh là một xă hội dân chủ th́ anh đă là một quốc gia rồi. Nhận thức ấy thực ra phải được suy diễn như sau: trước khi là một quốc gia dân chủ th́ anh đă là Người rồi. Cho nên các bế tắc của Âu Châu đă lan tràn đến các quốc gia cựu thuộc địa, khi thế chiến thứ hai chấm dứt để mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt nửa thế kỷ.

 

          Thực ra th́ sự xuất hiện của cao trào cộng sản quốc tế, đứng về mặt thuần túy mà nhận thức đó là biểu hiệu của cao trào đối kháng lại với chủ nghĩa tư bản cá nhân trong điều kiện xă hội không thể đáp ứng được với các diễn biến mới, nhằm điều tiết các của cải vật chất và tinh thần sao cho hợp với đà tiến hóa mới do các tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại.

 

          Cho nên chủ nghĩa Cộng Sản về mặt lịch sử mà nói là một tất yếu lịch sử, điều nói ở đây là: chủ nghĩa quốc gia cực đoan đă lợi dụng chiêu bài cộng sản nhằm mưu cầu sự thống trị toàn thế giới thông qua người Anh Cả (nói theo George Owens) nhằm biến con người thành cái máy người lại là một sự thất bại ê chề của các xă hội Âu Châu.

 

          Trong cuộc chiến tranh lạnh ấy, các quốc gia đua nhau h́nh thành và được cả hai khối Đông - Tây ra sức o bế thông qua các nhà độc tài mà không thèm đếm xỉa ǵ đến t́nh trạng chủng tộc vốn dĩ đă trở nên rất nguy hiểm tại các quốc gia c̣n non kém này.

          Kết quả là: Khi chiến tranh lạnh kết thúc với sự tan ră của Liên Xô, Hoa Kỳ và Âu Châu (nay đă tỏ ra thống nhất hơn) phải quay về để giải quyết các tồn đọng do hậu quả của chiến tranh lạnh để lại, nên đă không mấy quan tâm đến thực tế phức tạp tại các quốc gia thuộc địa.

 

          Đây là cơ hội để Trung Quốc tiến lên nhằm khai thác các lổ hổng khổng lồ do cuộc chiến tranh lâu dài mà cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều phải hứng chịu. Xét cho cùng th́ bản chất ư đồ của Trung Quốc chả khác ǵ với ư đồ của Liên Xô (Đại Nga) trước đây, tất cả đều lấy vũ lực để thôn tính làm phương châm hành động; nhưng Trung Quốc tỏ ra thực tiễn hơn Liên Xô khi họ biết lợi dụng các luật chơi trong thương mại (mà người Mỹ rất sở trường) để thực hiện ư đồ của ḿnh, đó là t́m mọi phương cách nhằm thống trị Á Châu trước, tam phân thiên hạ với Mỹ và Âu Châu, sau hết là áp đặt trật tự Trung Quốc trên qui mô toàn cầu.

 

          Cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong điều kiện của thế giới hôm nay thực ra nguy hại hơn thời kỳ chiến tranh lạnh và cấp bách hơn rất nhiều v́:

 

          a- Phân hóa giữa chủng tộc, tôn giáo. Ngay cả một số quốc gia dân chủ lâu đời vẫn không tránh khỏi, thí dụ vấn đề Basque ở Tây Ban Nha, vấn đề Bắc Á Nhĩ Lan...

          b- Vũ khí nguy hiểm nay được phổ biến dễ dàng bởi các nhóm tội phạm quốc tế với sự toa rập của nhiều nhà cầm quyền đặt biệt là nhà cầm quyền Trung Cộng.

c- Cao trào đấu tranh đ̣i quyền sống bởi các bộ tộc đă hiện diện lâu đời tại một lănh thổ nào đó trước khi người da trắng tới lập cư cũng đang trong chiều hướng phát khởi (như tại Mexico...)

 

4) - Bế Tắc Về Tôn Giáo:

Tôn giáo khi bị tông quyền hóa đă trở thành công cụ phục vụ cho các ư đồ chính trị nhằm áp đặt các tín đồ trong ṿng cương tỏa của giáo điều, để nhóm lănh đạo tôn giáo thực hiện một số mục tiêu cụ thể; mục tiêu ấy trước tiên là giữ cho dân chúng khỏi làm loạn khi họ đặt tất cả niềm tin để tôn thờ một quyền lực siêu nhiên nào đó và chấp nhận sự an bài của đấng tối cao, sau đó các nhóm tông quyền t́m mọi cách bành trướng ảnh hưởng v́ “đấng tối cao” muốn các tín đồ làm việc ấy như để tỏ ḷng tộn kính đấng tối cao (vậy đấng tối cao nào muốn như vậy?).

 

          Như thế các tôn giáo càng di chuyển về hướng Tây càng mang tính đấu tranh cao hơn, điều này rất phù hợp với đà phát triển văn minh nhân loại nhưng nó cũng để lại một loạt các hậu quả vô cùng lớn lao đối với loài người hiện nay, khi các tôn giáo không chịu chấp nhận cùng tồn tại trong khung cảnh chung có thể chấp nhận được. Nói cho cùng ra th́ tôn giáo là sản phẩm của tinh thần con người chứ con người đâu phải là sản phẩm của tôn giáo, sự giải thích về đấng tối cao cũng là do trí tuệ của con người đặt vào đó mà khái niệm về đấng tối cao mới được h́nh thành. Cho nên khi con người tiến lên th́ tôn giáo cũng phải thay đổi để thích nghi với đà tiến ấy mới được. Nếu tôn giáo nào không thích nghi để sửa đổi cho phù hợp với đà văn minh càng ngày càng đi lên của nhân loại, th́ tôn giáo ấy sẽ bị bỏ lại đằng sau như là một quy luật tất yếu của tinh thần hướng thượng.

 

          Khi đối chiếu các tiến bộ mà loài người đă đạt được như ngày hôm nay, th́ tôn giáo trong thực tế vẫn đắm ch́m trong các lư giải về thiên nhiên như những ǵ mà người sáng tạo đă đề xướng ra cả ngàn năm trước. Thế giới đă thay đổi quá nhiều nền văn minh vật chất đang bành trướng với sức mạnh vũ băo của nó, trong khi các giá trị tinh thần mới nhằm đáp ứng với đà tiến bộ ấy chưa được h́nh thành, nhằm thay thế cái trật tự tinh thần cũ lấy đè nén áp bức như là phương cách chính yếu nhằm khống chế loài người.

 

          Cái nguy hiểm của loài người bây giờ là: Trong khi những người có đầu óc thiển cận vẫn c̣n suy nghĩ như thời Trung Cổ, th́ họ lại có tất cả các tṛ chơi nguy hiểm và hiện đại nhất mà loài người đạt được, họ có khả năng làm cho tan ră trái đất này như chơi mà chẳng tiếc hận ǵ (thể hiện như: Iran, Bắc Hàn, Trung Cộng đă thủ đắc các vơ khí nguyên tử mà các chính trị gia gọi đây là trục ác qủy).

 

          Cái nguy hiểm của loài người bây giờ là một bộ phận nhân loại tự nghĩ rằng họ có tự do tuyệt đối mà không thèm đếm xỉa ǵ đến trách nhiệm đối với đồng loại; nền tảng đạo lư gia đ́nh bị phá vỡ một cách có hệ thống do các tiến bộ kỹ thuật đạt được hàng ngày, do cuộc cạnh tranh không khoan nhượng giữa các quốc gia với nhau và do cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra liên tục ngày càng nhanh. Tất cả các thứ ấy đóng góp vào việc phá hoại nền tảng gia đ́nh như là cái gốc của xă hội, đồng thời sản sinh ra biết bao người mang đủ mầm bệnh về tinh thần (các vụ tự sát tập thể của các giáo phái xa lạ với loài người) là các chứng minh rơ nét nhất về t́nh trạng khủng hoảng về tâm thức của loài người nói chung.

 

Như thế khi loài người nói về một trật tự tôn giáo mới là ǵ? Thực ra th́ con người cần một đời sống đạo đức hơn là một niềm tin tôn giáo. Nhưng thế nào là đạo đức phổ quát để loài người sống cho ra Người khi mà sự khác biệt về tiến bộ trong nhân loại này quá khác biệt nhau; bộ phận tiến về phía trước quá mau của nhân loại đang tiến đến t́nh trạng phủ nhận tôn giáo (theo khái niệm cũ) một cách có hệ thống và không có thể cản trở được, trong khi đó một phần lớn nhân loại thuộc về xă hội chậm vẫn c̣n duy tŕ niềm tin tôn giáo như những ǵ mà người sáng tạo đă đặt để ra và một phần khác của nhân loại đang sống theo một cái nh́n thuộc về bản năng đối với thiên nhiên.

 

Mục tiêu tối hậu của nhân loại là ǵ? phải chăng chính là tự hoàn thiện ḿnh để đời sống con người được viên măn hơn xét về tinh thần cũng như về vật chất, trong khi đó vẫn giữ được thế quân b́nh đối với thiên nhiên trong phạm vi trái đất này cũng như trong vũ trụ bao la kia mà loài người hiện nay có hiểu biết về trái đất này rất ư là giới hạn. Như thế tôn giáo theo quan niệm cũ chỉ nên coi là cách thức mà loài người cố lư giải về điều không thể lư giải được và đặt điều không thể lư giải được như là “trái cấm”, để buộc chặt con người vào một trật tự của tôn giáo do các giáo sĩ đặt ra. Trong tiến tŕnh Duy Dân biện chứng này th́: Cách lư giải về tự nhiên không quan trọng (thậm chí chẳng là ǵ cả) bằng các giáo luật mà các giới tăng lữ đặt ra cho người theo đạo (vô luận là đạo nào) khi tôn giáo được tông quyền hóa.

 

          Theo tiến tŕnh này th́ Bách Việt đề ra đạo học một cách toàn bích và trong sáng tức là thuận thiên, theo đó tuy con người là chủ thể của thiên nhiên nhưng con người vẫn phải nương theo thiên nhiên mà tiến hóa. Đến Trung Hoa th́ yếu tố thuận thiên tuyệt đối nơi Bách Việt đă giảm xuống để thành một chế độ trung ương tập quyền, đó cũng là tiền đề để Hán tộc xâm lăng và Hán hóa Bách Việt. Càng duy chuyển về phía Tây th́ khái niệm về thuận thiên càng giảm đi để con người bắt thiên nhiên phải phục vụ ḿnh mà quên hẳn cái hệ lụy tất yếu là: đến lúc nào đó thiên nhiên có thể quay ngược lại hủy diệt chính loài người nói chung. Cái chu kỳ cực lớn là nóng - lạnh này dường như đă từng xảy ra mà loài người chưa đủ sức để truy t́m đến nơi đến chốn đấy thôi.

          * - Trước cái bế tắc ấy, tôn giáo không thể giải quyết nổi.

 

          * - Trước cái bế tắc ấy, các quốc gia không thể giải quyết được v́ họ c̣n mải mê chém giết nhau v́ quyền và lợi để tồn tại.

          * - Trước cái bế tắc ấy, cả nhân loại phải hợp sức lại mới mong giải quyết được nhằm kéo dài sự tồn tại của nền văn minh này.

          Khi nói về một “trật tự tôn giáo mới” (new religion in order), phải chăng ta muốn nói đến một h́nh thức siêu tôn giáo có khả năng kết hợp tinh thần - vật chất nhằm thống nhất nhân loại lại trên một căn bản mới? không hoàn toàn không v́ quá tŕnh hợp nhất nhân loại là tất yếu của lịch sử tiến hóa của loài người, trong đó vai tṛ của vật chất lẫn tinh thần luôn quyện lại với nhau để loài người biết đi bằng hai chân và măi măi cứ đi bằng hai chân.

 

          Trật tự tôn giáo cũ là sản phẩm của thời đại cũ, nó được sản sinh ra nhằm đáp ứng với đà tiến hóa ấy, nó cũng đem lại một số lợi ích thiết thực đối với một cộng đồng nào đó trong một thời kỳ nào đó, nó cũng đă đóng góp vào việc làm cho văn minh nhân loại tiến về phía trước với nhiều máu và nước mắt. Ngày nay thế giới đă đổi thay, phát triển quá nhiều và quá nhanh (về vật chất cũng như tinh thần) nên tôn giáo đă bị bỏ lại quá xa ở phía sau, tôn giáo (cuồng tín quá khích) nay đang trở thành các cản trở sâu rộng về mọi mặt đối với đà tiến hóa mới mà các hiểm nguy đối với nhân loại ngày nay đă được nh́n thấy một cách cụ thể và rơ ràng hơn.

 

          Nhân loại hiện nay vẫn đi vào chém giết nhau, tranh dành sự sống dưới ánh mặt trời, điều đó thuộc về bản năng của mọi sinh vật, nhưng là con người, loài người phải biết rằng ḿnh chống cái ǵ? ḿnh mưu cầu cái ǵ? Nếu loài người cứ lấy sự chống nhau làm mục tiêu cuối cùng th́ tự loài người hủy diệt loài người vậy. Trước thiên nhiên bao la và đầy bất trắc kia, trái đất này với hơn 6 tỷ người chỉ là hạt cát trong cái vô cùng lớn ấy mà thôi. Như vậy vấn đề không phải là chống lại cái vô cùng lớn ấy hay chống lại cái vô cùng nhỏ (là con người) mà là thuận với cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ để cùng tồn tại nhưng không thụ động đề chờ chết (một cái chết tập thể) là vậy. Nói tóm lại nhân giới và nhiên giới, nội giới và ngoại giới chỉ là một để cùng tồn tại.

 

          Dường như nhân loại này vẫn c̣n nhập nhằng giữa tôn giáo và đạo; cách giải thích thiên nhiên của những nhà khai sáng ra tôn giáo tưởng rằng thiết lập căn bản cho đạo bằng cách khuyên người theo tôn giáo ăn ngay ở lành. Nhưng trớ trêu thay chính tôn giáo lại không sống với tinh thần đạo đích thực, thay vào đó lấy sự chém giết làm căn gốc cho nên các tôn giáo đă xa rời gốc đạo vậy. Ấy là chưa kể đến việc qua đấu tranh không khoan nhượng và liên tục khi con người sa vào trạng thái “động liên tục” mà không biết đến tĩnh là ǵ. Độngtĩnh vốn là căn gốc trong cuộc sống của loài người, nếu quá “động” th́ lại càng xa gốc đạo vậy. “Tĩnh - Động” theo lối nh́n của đạo học Bách Việt th́: Phật giáo là tĩnh, Khổng giáo là động hơn, Thiên Chúa Giáo La Mă th́ Tĩnh và Hồi giáo th́ quá động. Đánh giá về mặt xă hội, nếu ông Alvin Toeffle nói về xă hội nhanh với xă hội chậm th́ về phương diện tâm linh mà nói về con người, th́ ta cần phân biệt là xă hội cổ là xă hội tĩnh xă hội hiện đại là một xă hội quá động, mà quá động là đầu mối của loạn nếu nhân loại không t́m ra một phương cách khác để giữ cho đà tiến hóa về vật chất được tiếp tục duy tŕ (tức là động) trong khi t́m cách gia tăng cái yếu tố tĩnh nơi con người.

 

          * -  Động - Tĩnh phải quân b́nh con người mới tồn tại, xă hội loài người mới bền vững. Như thế tôn giáo th́ nhiều, nhưng đạo chỉ có một đó là: “Đạo Làm Người”.

 

          Đạo làm người không phải đơn giản là chỉ dạy ta sống bác ái, b́nh đẳng mà c̣n dạy ta sống thuận thiên, luôn giữ quân b́nh giữa vật chất với tinh thần. Giữa động với tĩnh, giữa âm với dương cũng như hiểu được sự biến hóa ảo diệu của dịch học, nên Âm là nguồn gốc của Dương, Tĩnh là nền tảng của Động. Đó là chân lư của Đạo. Đạo chấp nhận tiến hóa với tất cả ư thức và trách nhiệm. Đó là Đạo Làm Người (Nhân Đạo). Nhân Đạo dạy ta lấy con người làm chủ đề để mà phục vụ: Đó là “Nhân Chủ Đạo”.

 

5) - Nhân Chủ đạo

Nói đến nhân chủ đạo ta phải nghĩ ngay đến đạo học Bách Việt vốn được coi là chủ thể của nền văn minh Đông phương, là khởi điểm của nền văn minh nhân loại này trên trái đất này, xét theo tiến tŕnh Duy Dân biện chứng, th́ ta phải nghĩ đến quá tŕnh di chuyển nhằm h́nh thành các trung tâm văn minh sau Bách Việt để h́nh thành nền văn minh địa cầu này. Khi trung tâm văn minh di chuyển đến Hoa Kỳ mà về căn bản ta phải coi đó là sự tổng hợp cao độ nhất của các tinh hoa mà loài người đă khám phá ra trong quá khứ (cho nên văn minh nhân loại đâu của riêng ai mà là chung của loài người, để phục vụ cho con người). Tiến bộ khoa học mà loài người đă đạt được mới tạo điều kiện để nền văn minh trái đất tiếp tục cất cánh để trở thành nền văn minh liên hành tinh. Nền văn minh liên hành tinh (mà nhân loại đang ở bước chập chửng) sẽ tỏa sáng trên quy mô toàn cầu để trở lại với điểm khởi đầu là văn minh Bách Việt. Như thế văn minh trái đất đă đi hết một chu kỳ trọn vẹn th́ nền văn minh trái đất mới đủ sức cất cánh để trở thành nền văn minh liên hành tinh.

 

          Cho nên khi ta nói đến việc tống hợp Đông - Tây, suy nghĩ đến tận cùng của nó chính là tổng hợp giữa văn minh vật chất với văn minh tinh thần là vậy. Văn minh vật chất đại diện bởi Hoa Kỳ văn minh tinh thần đại diện bởi Bách Việt đây cũng là ư nghĩa của sự kết hợp “Rùa, Rồng”. Nên kể từ đây, khi khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, con người biết đi bằng hai chân đích thực (vật chất với tinh thần, động với tĩnh, âm với dương) và con người biết trở lại với đạo đích thực là vậy: Đó là tính cách “Là Người”, với đạo “Làm Người” để trở “Thành Người” chân, thiện, mỹ.

 

Đây là tiến tŕnh không thể đảo ngược được v́ lẽ sống là lẽ thật nên các tôn giáo xa rời khỏi gốc đạo đều phải t́m cách thích nghi với điều kiện khách quan mới đối với loài người, một cuộc lột xác không khoan nhượng một cuộc cách mạng toàn diện, triệt để, hướng thượng là thế. Cho nên ta có thể đưa ra vài dự đoán cho thế kỷ này:

 

“Các tôn giáo sẽ ngày càng hợp nhất hơn, ngày càng trở nên các định chế lấy sự phục vụ xă hội con người là chính, giáo lư sẽ đơn giản đi rất nhiều mà mức độ c̣n tùy thuộc vào tŕnh độ dân trí ở từng địa phương. Như vậy giáo hội nói chung trở thành các hội đoàn (associates) chứ không phải là một tổ chức cứng ngắc đầy quyền năng như trong thời gian dài đă qua. Nhân Chủ Đạo học sẽ sáng chói và trở thành nền tảng mẫu mực để con người sống sao cho hài ḥa hơn, hạnh phúc hơn, đời sống con người sẽ trở nên viên măn hơn, yêu thương nhau hơn”.

 

Chúng ta cần trở về với thực tế của thế giới hôm nay. Nhân loại đă đạt được nhiều tiến bộ ngoạn mục trong thế kỷ 20, nhưng cũng phải đến cuối thế kỷ 20 th́ thần vật chất mới để lộ ra các nanh vuốt của ḿnh và thế giới mới bắt đầu nh́n thấy các bế tắc xem ra không thể giải quyết được của loài người ở phía trước.

 

          Măi đến cuối thập niên 60 của thế kỷ trước nhân loại mới thấy tác hại của môi sinh là nguy hiểm đến dường nào đối với loài người, từ ngày đó đến nay đă 40 năm qua thế mà mọi chuyện chỉ bàn luận suông thôi, thỏa ước Koyto vẫn c̣n là văn kiện trên giấy tờ, Liên Hiệp Quốc bó tay, thiên tai càng ngày càng hoành hành dữ dội. Cuộc tranh chấp dành quyền sống mà không thèm đếm xỉa ǵ đến người khác được thi hành bởi các quốc gia dựa vào quy mô của ḿnh đang gây ra rất nhiều hệ quả nghiêm trọng, nhiều dân tộc nhỏ bé đang bị tước đi nguồn sống để phải đối diện với cái chết toàn diện, khi một loạt các quốc gia nhỏ bé khác, các dân tộc linh lạc khác có thể bị các nước lớn thôn tính bằng những thủ đoạn thâm độc nhất bằng kinh tế, văn hóa, quân sự nếu cần.

 

          Trong khi khoa học vật chất đạt được nhiều tiến bộ vượt bực th́ tài nguyên thiên nhiên càng ngày càng trở nên cạn kiệt, nhân số toàn cầu đă hơn 6 tỷ người. Vào thời kỳ chúa Giê su sinh ra loài người chưa quá 200 triệu, trong 50 năm tới dân số toàn cầu có thể lên tới 10 tỷ người. Nuôi 10 tỷ người là một thách đố cực lớn đối với loài người, vấn đề không đơn giản chỉ là nuôi ăn mà c̣n làm thế nào để số tài nguyên thiên nhiên ấy vốn ngày càng trở nên eo hẹp ấy có thể cung ứng cho 10 tỷ người trong tương lai mà với hiện t́nh th́ chiến tranh để t́m nguồn sống sẽ trở nên gay gắt cực kỳ nguy hiểm đối với tương lai nhân loại. Cho dù khoa học tiến triển vượt bực để đáp ứng được nhu cầu khổng lồ ấy, nhưng chỉ nội chất thải không thôi cũng đă đủ để làm cho trái đất này trở nên dơ bẩn và thần thiên nhiên sẽ quay trở lại để hủy diệt trái đất này (phim The War World's, vụ bắn vào sao chổi mới đây là các tín hiệu rơ ràng).

 

          Trong khi khoa học tiến nhanh về phía trước th́ cấu trúc của thế giới vẫn được lập lại trên căn bản quốc gia dựa trên sự thỏa hiệp (theo thời gian với nhiều cuộc tranh chấp nội bộ đẫm máu) giữa người cùng sống trong một lănh thổ với một sự tương đồng nào đó về văn hóa (tôn giáo, tập quán). Quốc gia thần quyền, quốc gia vương quyền và quốc gia dân chủ đều xác định cái không gian sinh tồn ấy, nên quốc gia mạnh luôn luôn t́m cách thôn tính các quốc gia khác và sẵn sàng hủy diệt các nền văn hoá khác một cách không thương tiếc.

 

          Khái niệm về dân chủ được đề xuất hơn 3 thế kỷ trước cũng chỉ đạt được các bước tiến rất chậm chạp; ngày nay quốc gia thần quyền vẫn c̣n hiện diện đó đây (Iran là tiêu biểu) hoặc thế lực chậm và xấu c̣n manh nha các mầm mống chỉ chờ chực nổi lên nếu chính quyền sở tại đi vào hỗn loạn. Quốc gia độc tôn, chính quyền độc tài đều có một đặc trưng chung nhất là tạo quyền lực cho cá nhân hay cho phe nhóm họ, mặc cho họ cái vỏ bọc là tinh thần dân tộc để thâu tóm quyền lực, nhằm mở rộng quyền lực và quyền lợi cho gia đ́nh cá nhân hay cho phe nhóm ḿnh cho cái không gian sinh tồn của riêng dân tộc ḿnh, nhưng cũng là để thỏa măn tham vọng cá nhân được dẫn dắt bởi cái nh́n sai lạc và vô trách nhiệm đối với thế giới. Xem thế, chủ nghĩa thượng tôn chủng tộc như Đức Quốc Xă xem ra chưa hung hiểm bằng những kẻ lợi dụng chủ nghĩa để bành trướng quyền lực.

 

          Cải tiến duy nhất mà nhân loại có được là việc h́nh thành tổ chức Liên Hiệp Quốc, nhưng Liên Hiệp Quốc lại chỉ là một diễn đàn vô thưởng vô phạt v́ mọi nghị quyết đều phải được các quốc gia liên hệ chấp nhận tuân thủ th́ nghị quyết mới có giá trị. Theo nguyên tắc của công pháp quốc tế th́: “Các quốc gia đều b́nh đẳng”, nhưng các quốc gia có 1 triệu dân với lợi tức 200 Mỹ kim cho một đầu người cũng đồng đẳng với quốc gia có tổng số lượng nội địa là 11,000 tỷ Mỹ kim sao?  Chả lẽ quốc gia lấy độc tài chuyên chế, vi phạm đủ thứ luật quốc tế cũng có tiếng nói quyết định về các vấn đề trọng đại của thế giới sao?. Quốc gia nào đứng ra giải quyết các vấn nạn ấy? Liệu Liên Hiệp Quốc có thẩm quyền để ban cho quốc gia ấy cái chính danh để họ hành động hay không? thế nào là tính chính danh trong quan hệ quốc tế bây giờ.

 

          Duy Dân biện chứng là tổng hợp toàn diện và phổ quát có thể áp dụng và lư giải về quá tŕnh tiến hóa của loài người, giữa loài người với thiên nhiên và giữa thiên nhiên với vũ trụ trong phạm vi hẹp; trong phạm vi rộng lớn th́ ứng dụng ra sao ta chưa thể biết được v́ vũ trụ là vô nguyên, hiểu tới đâu th́ biết tới đó. Cho nên lịch sử nhân loại cần được nh́n thông suốt qua khoa học Duy Dân biện chứng th́ mới toàn diện và không bị sai lạc.

 

* - Giải Quyết Các Bế Tắc:

* - Có trời th́ cũng có ta

          * - Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

                                                          (Ca Dao)

Cách mệnh là ǵ?

“Cách” trong kinh Dịch của nền đạo học Đông phương, quẻ “Cách” có nghĩa là đổi thay. Thông thường th́ con người ta có xấu xa mới mong thay đổi. Quẻ “Hoả Thủy Vị tế” tức là lửa ở trên nước ở dưới, lửa cháy th́ bốc lên, nước nặng th́ ch́m xuống đó là một nghịch lư, làm cho mọi vật đi vào bế tắc không lối thoát, cho nên với t́nh trạng hỏa thủy vị tế là t́nh trạng đi vào bế tắc, xấu xa, không ở trong vị thế có thể ứng dụng được cho nên phải đổi thay. Vậy muốn khai thông t́nh trạng bế tắc ấy chúng ta phải phá vỡ t́nh trạng bế tắc của “hỏa thủy vị tế” là chúng ta phải hành động bằng cách lật ngược vị trí của “hỏa thủy vị tế” để trở thành “thủy hỏa kư tế”, nghĩa là nước ở trên hỏa ở dưới, th́ cuộc sống mới điều tiết được mọi việc sẽ hanh thông.

 

“Mệnh” (hay là mạng) mệnh đây là mệnh trời, theo quan niệm của phương Đông, con người sinh ra mỗi người có một cái mệnh của trời cho (trời ở đây là thiên nhiên-Mother Nature), nhưng nếu mệnh trời cho con người xấu quá, khổ quá, nên con người không chấp nhận mệnh trời, v́ không chấp nhận nên họ đứng lên để chống lại mệnh trời. Nói cách khác chỉ có con người mới có cách mạng, hành động cách mạng là chống lại xă hội, chống những ràng buộc của xă hội tạo ra, chẳng những không chấp nhận sinh mệnh xấu xa của ḿnh trong xă hội mà c̣n dám đứng lên phá bỏ những luật lệ của xă hội đưa ra, phá bỏ những luật lệ của một xă hội đă lỗi thời thoái hóa, để gịng sinh mệnh của ḿnh được tiến hóa. Tóm lại cách mạng là để đứng lên xóa bỏ những cái xấu xa lỗi thời của xă hội đó, phá bỏ những ǵ cần phá bỏ khai thông những bế tắc của một xă hội ươn hèn đầy thành kiến, để làm cho xă hội đó được đẹp hơn tốt hơn, để đời sống con người được tṛn đầy hơn và tiến hóa hơn.

 

Nhưng cách mạng phải được dẫn dắt bằng những tư tưởng cao đẹp, nếu không cách mạng chỉ làm cho xă hội điêu tàn và đổ nát thêm, khốn khổ thêm, nghèo đói và bần cùng thêm. (xă hội Việt Nam hiện nay là một ví dụ rơ nét nhất của một cuộc “cách mạng điêu tàn” thoái hóa, rơ nét nhất của những con người kém trí tuệ chỉ biết đập phá mà không biết xây dựng, chỉ biết cổ vũ hận thù đấu tranh giai cấp, Cộng sản đă dạy cho con người đánh mất đi nhân phẩm nhân cách, đạo đức luân thường, tất cả đều tan nát dưới sự lănh đạo của đảng Cộng sản).

 

Trăi qua lịch sử loài người ta thấy loài người từ khi c̣n sống trong thời kỳ ăn lông ở lỗ đă cố gắng tiến lên - Cụ Lư gọi đó là tiền tŕnh Duy Dân biện chứng - nhầm t́m kiếm một đời sống sao cho tốt đẹp hơn có ư nghĩa hơn. Nhưng về phương diện vật chất loài người được phục vụ tốt hơn th́ điều đó chưa chắc đă bảo đảm là đời sống con người trở nên có ư nghĩa hơn, điều đó nói lên cái ǵ? phải chăng đó là thể hiện rơ nét nhất của t́nh trạng bất ổn trong tinh thần; ta không bằng ḷng với một cái ǵ cả quá khứ hiện tại cũng như tương lai, loài người càng t́m cách dụng thiên nhiên th́ thiên nhiên càng vây hăm loài người một cách chặt chẻ hơn. Cho nên nếu ta chỉ biết sống thác loạn hôm nay và chỉ hôm nay thôi, đó là dấu hiệu của sự bế tắc trong tư tưởng. Nếu chỉ có Duy Tâm không thôi th́ con người chỉ có thần thức của tôn giáo. Nếu chỉ có Duy Vật không thôi th́ con người chỉ có luật tắc của khoa học, nhưng tiếc thay trong mỗi con người được hội đủ cả hai yếu tố Tâm và Vật, v́ vậy con người mới có mộng mơ hạnh phúc, mới biết đau khổ oan thương. Nhưng cũng v́ những uớc mơ hạnh phúc đó đă thôi thúc con người đứng lên làm cách mạng, để mong có một cuộc đổi đời sáng lạn hơn. Biết trước sự bế tắc trong tư tưởng của Tâm và Vật nên Cụ Lư nói:

* - Bút nghiên đèn sách đều sai lạc.

          * - Kim cổ đông tây cũng hăo huyền.

                             Trích Đạo Trường Ngâm - Đạo Trường Ngâm 4822 T.V.

 

Từ hàng trăm năm qua đường đi của nhân loại tựa như quẻ hỏa thủy vị tế, v́ không có tư tưởng để chỉ đạo cho nhân sinh quan, tất cả đă đi vào bế tắc. Nên xă hội con người hiện nay đang cần một cuộc cách mạng toàn diện, triệt để và hướng thượng để giải quyết tận gốc rễ của mọi vấn đề tinh thần cũng như vật chất, đó là một tất yếu phải có và công cuộc cách mạng này con người phải quyết tâm thực hiện.

 

Nhưng cách mạng có tiến tŕnh, qui luật, mục đích và điều kiện của cách mạng. Cách mạng phải có đạo đức, phong thái, văn hóa của cách mạng, cho nên cách mạng phải có một tinh thần chuẩn bị sẳn, một nguyên tắc tiềm tàng sẳn, một phong khí tẩm nhuần sẳn. Khi hội đủ các yếu tố đó th́ cuộc cách mạng toàn diện triệt để và hướng thượng mới đi đến thành công được. Biến cố ấy đang xảy ra hôm nay trên trái đất này thuộc về nền văn minh này của lịch sử loài người.

 

Cách Mạng là hành vi tất yếu của loài người, bởi loài người, loài người và chỉ có con người mới biết làm cách mạng, những bước đột khởi ấy không xảy ra tự nhiên đột biến, mà cách mạng là cả một quá tŕnh diễn tiến liên tục của một loạt các động thái tắc - mở trong phạm vi hẹp trước khi dẫn đến một bế tắc lớn, chỉ khi nào bế tắc lớn kia được khai mở th́ xă hội mới hanh thông mà thôi. Cho nên Cụ Lư đă nói: khởi điểm của cách mạng đă dựng dục từ trong bào thai của thời đại cũ”.

 

          Như thế nếu xét nét theo chiều dài của lịch sử nhân loại th́ thời đại cũ ở đây đă kéo dài nhiều ngàn năm để đến thời điểm này thế giới đang ở trong bế tắc lớn nhất và nguy hiểm nhất (dĩ nhiên trong nhiều ngàn năm đó nhân loại đă từng xảy ra nhiều cuộc bế tắc và cách mệnh rồi). Lịch sử đă để lại điều này; tuy lịch sử được làm nên bởi mọi người nhưng hướng đi được quyết định bởi một nhóm người nhỏ nào đó mà thôi, khi nhóm nhỏ t́m thấy hướng đi đúng th́ mọi người đi theo.

 

          Thế giới hôm nay không đi ra ngoài quy luật ấy được, cho nên chính nghĩa của một cuộc cách mạng không phải do bên ngoài ban cấp cho nó mà nó có chính nghĩa. Chính nghĩa của một cuộc cách mạng nằm ngay trong mục đích của cuộc cách mạng ấy.

 

          Cho nên điều mà Cụ Lư gọi là: cách mệnh trên quy mô toàn cầu trong thế kỷ này nhằm giải phóng con người khỏi các ràng buộc do lịch sử để lại, nhằm thiết lập một xă hội nhân chủ pháp trị”. Như thế tính chính danh của một cuộc cách mạng này là không c̣n ǵ phải bàn căi nữa. Vấn đề kế tiếp là: quốc gia nào sẽ đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử ấy đối với loài người?

 

          Cụ Lư đă nói: cách mạng có tiến tŕnh, quy luật, mục đích và điều kiện của nó.

 

* - Tiến tŕnh ấy là cả một quá tŕnh h́nh thành nền văn minh này của nhân loại. Đặc biệt trong 200 năm qua tiến tŕnh đưa nhân loại trở nên gần gũi nhau hơn đă đạt được các bước tiến đáng kể nhất là trong hơn 50 năm qua, tiến tŕnh ấy đă được thúc đẩy rất mạnh mẽ bởi Hoa Kỳ.

 

          * - Quy luật tức h́nh thành thế lực chủ đạo với một lư thuyết trong sáng nhằm dẫn dắt nhân loại đi vào tương lai có dự cầu. Dĩ nhiên đối với các thế lực cản trở, việc sử dụng bạo lực cách mạng là cần thiết không phải là để hủy diệt con người mà là nhằm khuất phục các thế lực cản trở ấy để họ phải chấp nhận hướng đi mới.

 

          * - Mục đích là tổ chức lại thế giới trên một căn bản mới để lợi ích của các tiến bộ được san sẻ hợp lư hơn trên qui mô toàn cầu, nhân phẩm và nhân cách con người được tôn trọng để họ được yêu thương nhau hơn, v́ giấc mơ muôn thuở của loài người từ buổi hồng hoang đến nay đều muốn sống trong thái b́nh, hạnh phúc, loài người đều muốn thương yêu và chia xẻ về vật chất cũng như tinh thần, v́ vậy con người mới t́m đến nhau sống quay quần tạo thành một xă hội, mà những ước mơ đó đă khởi đi từ những con người siêu việt có một trí tuệ trong sáng, để dẫn loài người thoát ra khỏi cảnh vô minh. V́ lẽ đó nên các dân tộc nhỏ linh lạc phải được khôi phục và thoát khỏi ách đô hộ hoặc thôn tính của các chế độ tham vọng độc tài, để từng bước thiết lập một xă hội nhân chủ pháp trị trên quy mô toàn cầu.

 

          * - Điều  kiện hiện nay đă chín mùi cho một cuộc cách mạng toàn diện triệt để và hướng thượng, chỉ trong 10 năm qua hệ thống thông tin điện tử (internet) đă đưa loài người lại gần nhau hơn rất nhiều so với trước khi có thông tin điện tử. (Internet - World, Wide, Web, được gọi là “Hệ thống điện tử chuyển tin toàn cầu”, vậy từ đây ta không nên gọi là “Mạng hay Mạng Lưới”, v́ văn hóa phải làm giàu cho ngôn ngữ, phát triển sao cho ngôn ngữ ngày càng trong sáng, làm nghèo ngôn ngữ là ta đă xóa bỏ văn hóa, “từ tư tưởng bước sang hành động” phải có cầu ngôn ngữ để truyền đạt là vậy).

 

Như vậy trong điều kiện của thế giới hôm nay th́ Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên đi vào Duy Dân Nhân Chủ, nên Cụ Lư gọi “Hoa Kỳ là quốc gia Tiền Duy Dân”. Chính v́ vậy mà Cụ Lư mới nói đến ngày cách mạng sẽ bùng nở như một quy luật phải có, nên Cụ đă đưa ra một tiến tŕnh cách mạng gồm 3 phần:

* -  Huyết Thai” là nhân và duyên.

          * - “Huyết Nụ” là tiến tŕnh đi tới cách mạng.

* - “Huyết Hoa” là hoa máu tức là Hoa Cách Mạng sẽ bùng nở.

Huyết Thai, Huyết Nụ, Huyết Hoa, đó là một tiến tŕnh cách mạng. Cách mạng là một công cuộc chuẩn bị để đổi thay không phải cho một cá nhân mà là chuẩn bị để đổi thay cho cả một tập thể lớn hay nói đúng hơn là cho cả một dân tộc và cho cả nhân loại như hiện nay.

 

Huyết Thai là ǵ, Huyết là Máu, Thai là nhân hay là hạt, đó là khởi điểm của mầm sống, trong con người (cũng như mọi sinh vật) Thai là sự kết hợp của tinh cha huyết mẹ để tạo nên một con người. Nói một cách khác “Huyết Thai” là mầm của sự sống được nuôi dưỡng bằng máu của nhiều thế hệ đi trước truyền lại cho chúng ta. (Cụ Lư không dùng danh từ Nhân hay Hạt mà lại dùng danh từ Thai, bởi v́ nó cụ thể nó tượng h́nh bằng nhân sinh quan và nhân tử quan, v́ cách mạng là một hành động hoàn toàn có tính cách nhân tính và chỉ có con người mới biết làm cách mạng, đó là hành vi của con người).

 

Từ Huyết Thai đi đến Huyết Nụ là tiến tŕnh đang đi của công cuộc cách mạng để đi đến sự bùng nổ Cách Mạng tức là Huyết Hoa, huyết hoa tức là hoa máu hay c̣n được gọi là Hoa Cách Mạng. Từ huyết nụ đi đến huyết hoa là một tiến tŕnh cách mạng cam go đ̣i hỏi phải có thời gian tính và những điều kiện ngoại tại với sự trợ duyên, phù hợp với tiến tŕnh cách mạng để đưa cách mạng đến thành công, tức là hoa máu sẽ bùng nở.

 

* - “Từ muôn ngàn tàn lụi không tên

* - Sẽ bùng nở một trời hoa lạ quư”. (1)

Trích tập thơ Đồng Lầy (Vô Đề) - Đừng Sợ -1975.

 

hay,

 

          * - “Lấy máu đào tươi thắm tưới cho hoa

          * - Máu ươm hoa, hoa máu chan ḥa

          * - Hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa

          * - Hoa hạnh phúc tự do vô giá

          * - Máu căm hờn phun đẫm mới đăm bông !”

                             Trích tập thơ Đồng Lầy (Vô Đề) - Đồng Lầy -1972.

 

(1). X.Y. Thái Dịch Lư Đông A đă viết ra chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ trong hơn 60 năm qua, nhưng ít được nói tới (không tên), bởi lẽ Cụ đă biết trước người quốc gia Việt Nam sẽ mất quyền lănh đạo đất nước bởi Cộng sản trong một thời gian dài. Sau trận thất bại ở Nga My cụ đă giải tán đảng Duy Dân vào năm 1946 và đi ở ẩn (…tàn lụi không tên), cho đến nay v́ thời cơ đă đến cụ lại xuất hiện để lănh đạo công cuộc phục hưng và phục hoạt đất nước. Hiện nay chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ đă được nhiều người biết đến, nhưng Hoa Kỳ đă xiển dương và phổ biến một cách rộng răi bằng hành động (nhập nhĩ xuất sự). Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên (tiền Duy Dân) cầm ngọn cờ Duy Dân Nhân Chủ để “dẫn nhân loại đi trên con đường muôn thuở”. Trong một ngày gần đây thế giới sẽ kinh ngạc khi nh́n thấy sự thành công vượt bực của mọi ngành, mọi giới do Hoa Kỳ lănh đạo, thế giới sẽ chuyển ḿnh phá bỏ những lối sống cũ, những suy tư cũ, để hoà ḿnh vào một tương lai mới mà chủ thuyết Duy Dân Nhân Chủ sẽ đem lại những kết quả không ngờ, xă hội loài người nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ như một khu vườn khi mùa xuân đến (Sẽ bùng nở một trời hoa lạ quư) và ḥa b́nh thật sự sẽ đến với con người, chính bàn tay con người sẽ tạo dựng một thiên đường tinh thần và vật chất ngay cơi đời này, ngay trong kiếp nhân sinh này, chứ không phải hứa hẹn nơi kiếp nào xa xôi khác.

 

          * - Đạo Và Giáo (đạo giáo)

Trong Đạo Học Bách Việt có nói đến đạo và giáo (giáo dục):

* - Thiên mệnh chi vị tính.

          * - Xuất tính chi vị đạo

          * - Tu đạo chi vị giáo

 

Từ ư nghĩa trên tức là trời đất sinh ra con người đă có cái bản tính của Trời Đất (thiên nhiên) cho, nhưng bản tính đó phải được giáo dục và sống theo đạo thống của con người, từ sự giáo dục đó con người có thể làm thay đổi được cái sinh mệnh của ḿnh (từ xấu sang tốt) đến khi chính cá nhân đó hiểu được chính ḿnh, kiểm soát được hành động của ḿnh, kềm hảm được những cái xấu xa ti tiện trong con người ḿnh th́ đương nhiên hạt giống san sẻ  yêu thương sẽ được nẩy mầm, tứ đó trên thế giới này, biên cương hận thù tôn giáo, chủng tộc (chiến tranh tôn giáo hay chiến tranh chủng tộc) sẽ bị xóa nḥa, để trong mỗi con người chỉ c̣n lại duy nhất chỉ có một cái Đạo đó là đạo làm người, đạo làm người phải được đề cao như một ngọn đuốc lư tưởng, không c̣n các cực quyền tôn giáo khống chế tư tưởng của con người. Tất cả các tôn giáo phải được thống nhất, tất cả các đạo giáo phải được sửa đổi để ḥa vào Nhân Đạo, chứ không phải thần đạo. Nhưng nếu chúng ta muốn thực hiện các điều trên th́ không có cách nào khác hơn là con người phải được giáo dục đến nơi đến chốn, nghĩa là các thế hệ bây giờ và trong tương lai, phải được giáo dục để hiểu một cách rơ ràng thế nào là Nhân Đạo tức là thế nào là Đạo Làm Người, đó là ư nghĩa của câu tu đạo chi vị giáo. Khi con người đă hiểu được thân phận của ḿnh rồi th́ con người mới đứng lên để làm cách mạng, v́ con người không chấp nhận những cái xấu xa của nhân giới (những áp bức bất công của giới cầm quyền) cũng như nhiên giới (trồng rừng đấp đê để tránh thiên tai băo lụt) đă áp đặt cho chính cá nhân hay những người chung quanh họ.

 

V́ vậy không có con người th́ không có cách mạng, cách mạng là một hành vi của nhân tính, v́ con người mà làm cách mạng, cách mạng ngay chính bản thân ḿnh, chống lại những ươn hèn, những thói hư tật xấu ngay chính ḿnh, cách mạng ngay chính xă hội ḿnh đang sống, cách mạng chống lại những tàn phá của thiên nhiên để làm thăng hoa nhân giới và ḥa ḿnh cùng nhiên giới (thiên nhiên ở đây là khách quan, không có ǵ mâu thuẫn với khái niệm thuận thiên cả). Cho nên cách mạng nếu không có tư tưởng cao đẹp chỉ đạo cho hành động, th́ cuộc cách mạng ấy sẽ thoái hóa và quay trở lại phá hoại xă hội, (xin xem lại mục cách mạng ở trên). nhưng nếu muốn tư tưởng và hành động hợp nhất không ǵ bằng mài giũa để mỗi ngày mỗi tiến lên măi, nên trong “Đạo Trường Ngâm” Cụ Lư nói:

 

* - Rùa rồng gọt giũa hoa thuần túy.

                             Đạo Trường Ngâm – Nga My Hành (2824 T.V).

 

Rùa tượng trưng cho hạ tầng xây dựng kinh tế vật chất tức là phương Tây (mà Hoa Kỳ là đại diện).

          Rồng tượng trưng cho thượng tầng lănh đạo tư tưởng (tinh thần) tức là đạo học Bách Việt (biểu tượng của Tàu là sư tử hay cọp chứ không phải là rồng, Quan Vân Trường được cả dân tộc Tàu ngưỡng mộ và tôn thờ cũng chỉ là một trong Ngũ Hổ Tướng của thời Tam Quốc). Rùa rồng gọt dũa hoa thuần túy”. Một ư nghĩa sâu xa khác muốn nói đến những nhà lănh đạo trí tuệ siêu việt của Việt Nam và Hoa Kỳ đă kết hợp đầy đủ nhất giữa vật chất với tinh thần nhằm lănh đạo thế giới trong hiện tại và tương lai.

 

 

* - “X. Y. Thái Dịch Lư Đông A”

Như thế trong điều kiện của thế giới hôm nay, khi cuộc cách mạng đang khởi điểm, các thế lực chống đối đang ra sức kết bè lập đảng để cản trở quá tŕnh này, các thế lực ấy sẽ thất bại chúng chỉ có thể tŕ hoăn đôi chút thời gian mà thôi. Và v́ “Giác biện chứng lớn” cho nên Cụ Lư mới dùng danh hiệu: “X. Y. Thái Dịch Lư Đông A” là thế. Dưới đây là ư nghĩa của cụm từ X.Y. Thái Dịch Lư Đông A.

 

* - (X.Y.) - Vũ Trụ Quan - Duy Nhiên - Đại Đồng.

Biết là trục của sự sống, biết là một thể hệ. Thể Hệ là một hệ thống tṛn đầy, người hiểu được thể hệ biết th́ tầm hiểu biết phải rộng, phải xa, nghĩa là phải có một viễn kiến sâu rộng, nhưng sợi đan phải nghiêm mật, nghĩa là phải biết một cách chi tiết và rơ ràng, nhưng viễn kiến sâu rộng và sự biết kia phải mang tính chất khoa học, mọi sự, mọi việc phải thiết kế được bằng đồ biểu, cũng như phương thức và phương pháp, có như vậy người biết mới đi sâu vào từng vấn đề nhỏ của mọi vấn đề nhỏ, để hoạch định những vấn đề thiết kế cho nhân sinh bây giờ và cho cả tương lai. Đó là ư nghĩa của câu “biết là trục của sống” v́ “sống đến đâu là vũ trụ đến đó”. Nên tên Lư Đông A là biểu hiệu của Cụ (cụ tên thật là Nguyễn Hữu Thanh), “Chủ Thuyết Duy Dân Nhân Chủ của Lư Đông A” là biểu hiệu của cả một thể hệ học, một hệ thống lư luận, Chủ Thuyết Duy Dân Nhân Chủ của Lư Đông A tựa như một lâu đài văn hóa bao gồm nhiều mặt.

 

X.Y. Tức là trục Tung và trục Hoành đó là h́nh thức diễn đạt các Đạo Hàm trong toán học, mà môn toán học được coi là một môn khoa học chính xác nhất của nền văn minh cơ khí phương Tây, nên khoa học là một phương tiện để con người t́m hiểu thiên nhiên và khoa học cũng khám phá ra những bí mật của vũ trụ. Trục Tung là trục của thời gian, trục Hoành là trục của không gian. Như vậy X.Y. tượng trưng cho Vũ Trụ Quan

 

Ngày xưa môn khoa học được gọi là môn “Cách Trí”, tại sao gọi là cách trí?. Cách trí là chữ viết tắt của một cụm từ gọi là “Cách Vật Trí Tri”, nghĩa là phải t́m hiểu hay thay đổi sự vật ở nhiều khía cạnh để sự t́m biết được viên măn, nghĩa là sự t́m kiếm phải biết đến nơi đến chốn. “Trí Tri” Trí là đến nơi Tri là hiểu biết. “Cách Vật” là mổ xẻ sự vật đó ra, phải nh́n từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, phải lật ngược lật xuôi sự vật để t́m hiểu vào từng vấn đề nhỏ của sự vật. Ví dụ: Chúng ta phải mổ xẻ các sinh vật nhỏ như chó, mèo, cóc, nhái để t́m hiểu chi tiết và cách cấu tạo của các sinh vật, từ đó đưa ra những khám phá mới, để phục vụ cho con người để tránh các bịnh tật hay định bịnh cho con người. Vậy “cách vật trí tri” được chia ra làm 2 vấn đề nhỏ.

 

a) . Phân Tích là để t́m hiểu các cơ quan cũng như để t́m ra những chi tiết, dữ kiện.

b) . Tổng Hợp là để hiểu một cách toàn thể các cơ quan và các sự vận hành chung của cơ quan đó từ những chi tiết những dữ kiện (phân tích) có được.

 

Như vậy Phân Tích và Tổng Hợp sẽ đi đến thống nhất của vấn đề, để t́m ra cái toàn vẹn (tổng thể) kết quả của vấn đề.

 

Nhưng Vũ Trụ Quan là ǵ? Vũ Trụ Quan là quan niệm khoa học về thế giới bên ngoài của chúng ta như: trời, đất, sông, biển, sinh vật hay các hành tinh ở xa trái đất chúng ta. Nhưng khi quan sát vũ trụ chúng ta phải quan sát với tính cách khách quan chứ không quan sát một cách chủ quan, v́ tất cả mọi người ai ai cũng hiểu rằng nước th́ xôi ở 100 độ và đông đá ở 0 độ, vậy không có nền khoa học Đông hay Tây mà chỉ có khoa học của loài người, v́ con người ai cũng có thể ứng dụng được các phát minh do khoa học mới làm ra, v́ thế khoa học mang tính cách chung của chân lư Đại Đồng, nên gọi là Vũ Trụ Quan - Đại Đồng.

 

Duy Nhiên là ǵ? Duy Nhiên là kết hợp toàn thể Thiên nhiên và trạng thái Tự nhiên trong vũ trụ này lại để t́m hiểu theo nguyên tắc khoa học, v́ càng t́m hiểu thiên nhiên và tự nhiên bao nhiêu th́ tầm hiểu biết chúng ta về vũ trụ càng xa và rộng bấy nhiêu, loài người càng hiểu về vũ trụ bao nhiêu th́ chúng ta càng xử dụng vũ trụ một cách hữu hiệu chính xác bấy nhiêu. Ví dụ như các khoa học gia lấy các chất trong vũ trụ để ứng dụng vào trong nghành nông nghiệp (điều này đă thành công) hay khoa học kỹ thuật để phục vụ cho nhân sinh bây giờ và trong tương lai, và cứ như vậy con người lại đi những bước đi kế tiếp, để làm chủ nhân giới cũng như nhiên giới, cũng như để ḥa cùng vũ trụ (cùng vũ trụ ḥa). (mai đây nền khoa học hiện đại sẽ cho chúng ta biết rằng: Các hành tinh xa cách chúng ta hàng triệu triệu dậm (miles) cũng có sự sống như quả địa cầu của chúng ta hiện nay. Đó là thời kỳ “Liên Hành Tinh” mà các bài viết trước đây chúng tôi có đề cập đến).

 

Tóm lại như trên đă nói “Biết Là Trục Của Sống”, nên biết đến đâu là sống toàn vẹn (vũ trụ) đến đó. Và đó cũng là lư do để giải thích tại sao con người khổ đau v́ Vô Minh (không biết), nhưng muốn biết tràn đầy và toàn vẹn để tránh vô minh đau khổ cho tương lai th́ không có ǵ hơn bằng cách phải học, nghĩa là mọi người phải được giáo dục (giáo dục là chung điểm và khởi điểm của chính trị vậy).

 

* - (Thái Dịch) - Nhân Sinh Quan - Duy Nhân - Tuyệt Đối

Ngoài khoa học ra trong sự hiểu biết của con người phải nói đến triết học, v́ không có triết học sự sống con người sẽ bị bế tắc về nhiều lănh vực và sẽ đi vài hủy diệt. Vậy Triết Học là ǵ? Nói vắt tắt triết học là thống quan của con người để áp dụng cho Nhân Sinh Quan, sự sống của con người là một sự vận hành không bao giờ ngưng nghỉ, như thế theo quan niệm của nhân sinh th́ Triết học chính là Dịch học và v́ sự ứng dụng vào đời sống con người qua sự vận hành của nó nên gọi đó là Thái Dịch.

 

Thái Dịch là ǵ? Thái là lớn, Dịch là sự biến đổi, đổi thay. Theo cách diễn nghĩa trên Thái dịch là sự biến đổi lớn. Tất cả muôn vật mang sự sống trong vũ trụ này đều đổi thay rung động, v́ bản chất của sự vật là sống mà sống tức là sự rung động là đổi thay. Ví dụ: Sự rung động của ánh sáng, âm thanh hay sự rung động của một gịng điện (vi-ba, vibration, âm ba) đều mang tính Âm và Dương. Đó là ư nghĩa ṿng tṛn của thái dịch được cắt làm đôi (thái dịch sinh lưỡng nghi - sideway). Bản chất của sự sống là rung động v́ Tĩnh lặng là sự chết không c̣n biến đổi nửa. Nói một cách khác là khi con người chưa đạt đến đỉnh cao nhất của triết học, nghĩa là chưa thông hiểu được triết học (dịch học), th́ triết học cứ tản mạn bàn về những ư niệm không thực tiễn bên ngoài đời sống của con người, c̣n những ǵ sâu thẳm tàng ẩn bên trong con người th́ họ lại quên đi. Như vậy con người sẽ bị xoay vào các cơn lốc ảo tưởng của ư niệm mà không làm sao nh́n được hướng đi cho Nhân Tính. Triết lư là ǵ nếu không là sự chăm lo cho con người, lấy những nhu yếu chính để làm nền tảng của con người, Triết lư phải được tỏa rộng như một “Đại Đạo”, phải nh́n xa trông rộng, phải ngàn tay vạn chân, để chăm lo cho đời sống con người nói chung. Đó chính là tinh hoa của triết học. Bởi v́ trong con người được hội đủ cả hai yếu tố tinh thần và vật chất (âm – dương). Một là phần vật chất hạn hẹp gói trọn trong bản thân, Hai là phần tinh thần tỏa rộng ra vũ trụ, nhưng khi nào con người c̣n bị giam cầm trong thân xác hạn hẹp của vật chất, th́ bấy lâu con người chưa thể đạt đến giai đoạn “Lưỡng Nghi”. Lưỡng Nghi là cân bằng vật chất và tinh thần có nghĩa là âm dương phải giao thoa trong thân thể của mỗi con người, vậy nếu “duy vật” chất th́ bất thành, nên sách có câu “Nhất Dương Bất Sinh” là vậy. Tổ tiên Bách Việt đă thiết lập một nền văn minh văn hóa Đông Phương một cách huyền diệu, đă nh́n được lưỡng nghi tính trong thân thể con người, tức là “Chỉ Thị” hai cực trong cùng một thực thể, Quy Củ ấy phải liên hệ với một thực thể vượt tầm giác quan, nên có khả năng ḥa hợp hai cực đối chọi. Đây chính là tinh hoa của nền Triết Học Đông Phương. V́ thế cho nên học giả Needham người dày công nghiên cứu về nền văn hóa Bách Việt đă đưa ra một nhận định bất hủ rằng: “Trong nền văn hóa Bách Việt không có ư niệm tội lỗi mà chỉ có sự cố gắng đạt đến ḥa hợp”.  Ḥa trời với đất “Tam Thiên Lưỡng Địa” để tạo thành con số 5. Mọi người Việt ta ai cũng biết Âu Cơ là tổ của các loài chim, chim cũng là tượng trưng cho Tổ vật của Họ Hồng Bàng. V́ vậy số 5 là ch́a khóa mở cửa đi vào ư nghĩa để hiểu nhiều truyền thuyết, Huyền Thoại, cũng như Huyền Sử (huyền học cổ sử) của nền văn hóa Bách Việt.

 

Vậy theo định nghĩa trên Thái Dịch tức là Nhân Sinh Quan. Nhân Sinh Quan là quan niệm để sống mà sự sống th́ phải mỗi ngày mỗi đổi thay (nhật tân nhật nhật tân) để sống tiến hóa. Nhân sinh quan là quan niệm sống, nên quan niệm sống đó là một chân lư Tuyệt Đối, bởi v́ mỗi một cá nhân phải tin và sống theo cái quan điểm của ḿnh. Trong tinh thần yêu nước cao độ dạt dào t́nh cảm của những chiến sĩ cách mạng đầy quả cảm, đă có biết bao nhiêu anh hùng vô danh, dám quên thân ḿnh oai hùng nằm xuống cho đại nghĩa cho tổ quốc, những người dám hy sinh sự sống của cá nhân ḿnh cho kẻ khác là một hành động vô cùng cao đẹp không phải ai ai cũng xả thân làm được hay có thể làm. Theo quan điểm của họ đó là lư do để giải thích tại sao Chân Lư Sống Tuyệt Đối, để họ dám tin, dám sống và dám chết cho đại nghĩa.

 

Trong nhân sinh quan bao gồm cả quan niệm t́nh yêu (t́nh gia đ́nh, t́nh vợ chồng, t́nh yêu tổ quốc), vượt trên hết tất cả những ràng buộc đẳng cấp, màu da, chủng tộc, mọi thị phi của xă hội để mong t́m một thay đổi đầy lạc quan, cho chính cá nhân họ, cho xă hội hay cho tổ quốc họ. Nhân Sinh Quan là quan niệm sống, mà sự sống của mỗi con người phải được tự do về cả hai phương diện tinh thần lẫn thể xác, nên sự tự do đó phải được bảo vệ tuyệt đối. Trong quan niệm triết học gọi đó là Nhân Sinh Quan Tuyệt Đối. Tuyệt đối trong cá nhân của mỗi con người, để con người có quyền sống theo sự tự do và suy nghĩ tuyệt đối của ḿnh, V́ là trong phạm vi của con người và cho con người. Nên quan niệm triết học đó được gọi là Duy Nhân (con người). Hay nói khác đi là quan niệm sống của mỗi cá nhân, mỗi xă hội, mỗi dân tộc đều có cách sống riêng theo bản sắc và văn hóa của họ, nhưng cách sống đó phải hướng thượng, phải đi theo những tiến bộ của nhân loại, phải đi theo đà tiến văn minh của con người, để làm cho nhân giới và nhiên giới được hài ḥa, nội giới với ngoại giới phải tương ứng. ( dụ như vấn đề môi sinh chẳng hạn, như nhiều quốc gia hiện nay lạm dụng phá rừng một cách bừa băi, đă làm cho quả đất thêm nóng, từ đó gây ra băo tố, mưa lũ tàn phá sự sống con người).

 

Nếu mỗi người đều có một quan niệm sống riêng, th́ con người đều giống nhau trong đại thể nhưng lại khác nhau trong tiểu tiết. (đây là quan niệm Đại Đồng, Tiểu Dị). Không ai có thể dùng (tinh) thần quyền để mong đoàn ngũ hóa cuộc sống của loài người, cũng không ai có thể bần cùng hóa con người bằng vật chất được, những hành động nêu trên có tính cách phản lại con người và hủy diệt con người, cho nên con người khi sống th́ tinh thần phải được tự do phóng khoáng và tự do suy tư, suy nghĩ. Bản sắc của mỗi cá nhân, bản sắc của một dân tộc dù nhỏ cũng phải được tôn trọng, không có sự tôn trọng lẫn nhau giữa cá nhân và cá nhân, giữa dân tộc và dân tộc th́ con người không có hạnh phúc và lạc quan để chung sống với nhau. Vậy Nhân Sinh Quan - Duy Nhân - Tuyệt Đối, tuyệt đối ở điểm mang tính cách Chủ Quan Cá Nhân (khác với chân lư đại đồng là Tổng Thể Khách Quan).

 

Tiếc thay đă nhiều ngàn năm qua xă hội loài người đă bị đóng khung trong “tín ngưỡng thần quyền” nên sự phát triển về tri thức của con người đă bị dừng lại, nếu không muốn nói là tín ngưỡng đă bóp nát tri thức con người và bắt con người sống thoái hóa về tri thức cũng như lối suy tư. Hiện nay trên thế giới này cũng c̣n có một số quốc gia hay những tổ chức mệnh danh là tôn quyền (hay thần quyền) để khống chế và áp đặt vào trong tư tưởng con người những điều ảo tưởng. Nếu đất sét có thể nặn thành người, khúc xương sườn có thể trở thành người mẹ hiền, th́ vũng nước ổ gà kia có thể hóa đại dương, những tên hề nhi nhô cũng có thể vang danh trở thành những vĩ nhân lừng danh sách sử. Con người của thế kỷ 21 này phải mạnh dạn cởi bỏ những cái xấu xa hủ bại đă choàng và cổ con người ở những thế kỷ trước, chúng ta phải đứng dậy để tiến về phía trước, để theo kịp đà tiến hóa văn minh ở nhiều lănh vực của nhân loại hôm nay.

 

* - (Lư Đông A) – Chính Trị Quan – Duy Dân – Tương Đối

“Lư” trong kinh dịch được gọi là quẻ Lễ (Lư giả, Lễ giả) nghĩa là con người trong cuộc đời này nên lấy lễ nghĩa để đối xử với nhau, người trên kẻ dưới phải có những tương quan liên hệ ra sao trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội, trong một quốc gia hay cùng một chủng tộc.

 

“Đông A” là đất thuộc vùng Đông Á , đó là biểu hiệu của một vùng “Địa Lư Chính Trị”, nên gọi là “Chính Trị Quan Duy Dân”. Chính trị quan duy dân là chính trị kết hợp các dân tộc, các người dân trong một vùng địa lư chính trị đó lại với nhau, bởi v́ dân tộc th́ nhiều mỗi dân tộc đều có một sắc thái riêng và có một nền văn hóa riêng, cho nên họ có cách sống và cách sinh hoạt đặc thù của riêng họ.

 

Theo “nhân sinh quan tuyệt đối” ở trên do đó chúng ta phải tôn trọng văn hóa, sắc thái riêng của họ. V́ dân tộc th́ nhiều nhưng nhân loại (con người) th́ chỉ có một. Đây là quan niệm “Đại Đồng - Tiểu Dị” áp dụng trong chính trị quan đó là “Chân Lư Tương Đối”. Bởi theo nguyên tắc của tự do th́ ai cũng có quyền sống theo cách suy nghĩ của ḿnh, dân tộc nào cũng có quyền tự do để đ̣i độc lập cho tổ quốc ḿnh cả, nếu con người của một xă hội đó yêu chuộng và tôn trọng tự do th́ dân tộc đó phải được độc lập.

 

Độc lập là ǵ? Là sự tự do của một quốc gia mà người dân trong quốc gia đó có quyền quyết định cách sống của dân tộc ḿnh, quyết định cách sống theo văn hóa của đất nước ḿnh mà không ai có quyền áp đặt. Độc lập của một quốc gia cũng tương tự như sự tự do của một cá nhân, sự độc lập của một quốc gia hay sự tự do của cá nhân phải đi đến xây dựng giàu đẹp và hạnh phúc cho chính cá nhân và cho quốc gia đó.

 

Độc lập cho một quốc gia, tự do cho một cá nhân là để mưu cầu b́nh an và hạnh phúc, một vài quốc gia c̣n sót lại trên thế giới này (Việt Nam hiện nay là một ví dụ) cũng đưa ra phương châm: “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc”nhưng tiếc thay đó chỉ là lời nói mỉa mai của những kẻ độc tài kém hiểu biết và chỉ biết chinh phục con người bằng sức mạnh của bạo lực. Lư Thuyết Cộng Sản là một lư thuyết phản lại nhân tính con người, nó không đem lại tiến bộ cho loài người và cũng không mang lại no ấm, hạnh phúc, tự do cho loài người. Điều này là một sự thật hiển hiện cho nên chúng ta không cần bàn nhiều ở đây

 

Tóm lại “X.Y. Thái Dịch Lư Đông A” là một “Thể Hệ Học” và một “Thể Hệ Biết” bao gồm: Triết Học, Khoa Học và Chính Trị Học (Sử học - lịch sử là chính trị của quá khứ, chính trị là lịch sử của tương lai). Nhưng v́ sao lại có chính trị học? V́ chính trị là một nghệ thuật tổ chức xă hội mà con người không bao giờ tự sống ngoài xă hội được. Xă hội là một môi trường sống, nhưng nếu môi trường sống (thiên nhiên) ấy bị ô nhiễm th́ xă hội con người sẽ bị khổ sở, bệnh tật v́ không thể sống được, v́ vậy môi trường đó phải được bảo vệ cho thật trong sạch, cho nên chính trị quan phải tương đối để phù hợp với cuộc sống của con người. Chính trị quan phải có nhân bản, nhân tính, nhân chủ để thăng bằng giữa thiên nhiên và vạn vật, (trong đó con người là chủ thể).

 

Đóa Hoa Huyết (người ta bừng thức giấc) phải nở để từ khởi điểm Nhân Bản với tiến tŕnh cách mạng Nhân Tính con người phải được phát huy đến cao độ, để con người sống sao cho xứng đáng với Nhân Phẩm và đầy đủ Nhân Cách trong tiến tŕnh Làm Người để đạt đến đích điểm Nhân Chủ. Nên trong Đạo Trường Ngâm Cụ Lư nói:

 

          * - Nhất nguyên tóm lại ngôi hoàng cực.

                             Đạo Trường Ngâm - Bạch Sơn Hành          (4823 T.V.)

 

          “Nhất Nguyên” nghĩa là chỉ có một “Chủ Nghĩa Duy Dân Nhân Chủ”, chỉ có một nước Hoa Kỳ mới có đầy đủ chính nghĩa để lănh đạo thế giới đi vào công cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu này. “Ngôi Hoàng Cực” Hoa Kỳ phải thành công.

 

 

Lê Văn Xương 

 

(C̣n Tiếp)