BẠCH
THƯ
Tố Cáo Tội Ác của
Đảng Cộng Sản
Việt
và Tổ Quốc ta
trong gần nửa thế kỷ
cầm quyền
(1945-1992)
Lịch sử hơn 4.000 năm của
Dân Tộc ta chỉ có một chủ đích là giành lại
và ǵn giữ lấy quyền sống để làm Người
Việt
Trước tham vọng xâm lăng và dă
tâm thống trị của mọi loại đế quốc,
Dân Tộc ta đă phải kiên cường tranh đấu
để được sống-c̣n-nối-tiếp-tiến-hóa
một cách tự chủ, theo những tiêu chuẩn đạo
đức cao đẹp, những khuôn mẫu Người
tuyệt vời của Tổ Tiên, kết tinh thành Lư Tưởng
Việt.
Tranh đấu để Là Người
đă khó. Tranh đấu để Làm Người trong
điều kiện và hoàn cảnh Việt
* * *
Tổ Quốc ta giầu đẹp với
tiền rừng bạc bể.
Đó là lư do trực tiếp của “một ngàn lẻ năm
mươi lăm năm” Dân Tộc ta đă phải quằn
quại dưới gông ách đô hộ diệt chủng của
phong kiến phương Bắc, xuống biển ṃ ngọc
trai, vớt san hô, lên rừng săn sừng tê, kiếm ngà
voi.
Tổ Quốc ta giầu và đẹp với
đồng ruộng ph́ nhiêu, hầm mỏ quí giá.
Đó cũng là lư do trực tiếp của
“chín mươi lăm năm”
Dân Tộc ta phải rên xiết trong ngục tù áp chế bóc
lột của thực dân phương Tây và phải phiêu dạt
đi phu trồng đồn điền, làm cu li khai thác mỏ,
xa cách quê hương mồ mả gia tiên.
Ngoài sự giầu và đẹp, Việt
Lỗi tại ai?
Tại những phá hoại thâm độc
của địch thù?
Đúng!
Tại những giúp đỡ thiếu
thực tâm của đồng minh?
Đúng!
Nhưng c̣n tại những ai nữa, khi
qui luật chủ yếu của chính trị khẳng định
nguyên tắc: “Ta là chính. Bạn
và Thù đều là tùy phụ”.
Dưới con mắt công chính xét xử
của lịch sử trong việc qui công và hạch tội,
giới lănh đạo đất nước phải hoàn
toàn liên đới chịu trách nhiệm. Trong trường
hợp này, đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam
(CSVN), đó là những lănh tụ như Hồ Chí Minh,
Trường Chinh, Lê Duẩn...
* * *
Trên quan điểm đấu tranh của
Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt, cuộc
chiến Việt
– Những người Quốc Gia chân
chính, tôn thờ Lư Tưởng Việt, phục vụ quyền
lợi của nước ṇi Việt.
– Đế quốc thực dân Pháp và sau
1954 là cực quyền Mỹ.
– Đảng Cộng Sản Việt
1.
Giai Đoạn I (1945-1954): Thân phận cô nghiệt của
người Quốc Gia trước thủ đoạn triệt
hạ tàn độc của Cộng Sản
V́ Lư Tưởng Việt, v́ lập
trường Dân Tộc, người Quốc Gia đă không
chịu thỏa hiệp nên trở thành kẻ thù chung phải
tiêu diệt của cả Thực Dân lẫn Cộng Sản.
Thực Dân tiêu diệt người Quốc
Gia v́ lư do trực tiếp phải bảo vệ quyền lợi
thuộc địa để làm giầu mạnh mẫu quốc.
Cộng Sản tàn sát người Quốc
Gia theo sách lược chung của Đệ Tam Quốc Tế
Cộng Sản để chuẩn bị cướp chính
quyền áp đặt chế độ vô sản chuyên
chính.
1.1.
Sự cộng tác giữa Thực Dân và Cộng Sản
Từ những ngày đầu của thập
niên 20, CSVN qua sự móc nối của CS Pháp đă làm việc
cho nhà nước bảo hộ bằng cách mật báo cho bắt
bỏ tù hay thủ tiêu những phần tử trung kiên của
các chính đảng Quốc Gia, đối thủ đáng sợ
của CS khi thời cơ tới cùng bước ra tranh thủ
lănh đạo quần chúng.
Vị lănh đạo lăo thành và khả
kính của phong trào Đông Du, Phan Bội Châu đă bị Hồ
Chí Minh bán đứng cho thực dân Pháp lấy mười
vạn đồng Đông Dương ở ranh tô giới
Thượng Hải, Trung Hoa vào ngày 10/6/1925.
Vụ bắn chết tên mộ phu đồn
điền Bazin nổi tiếng tàn ác tại Hà Nội vào
năm 1929 dẫn đến sự vỡ lở nhiều
cơ sở bí mật của Việt Nam Quốc Dân Đảng
và cái chết oanh liệt của Đảng Trưởng
Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí tại Yên Bái ngày
17/6/1930, đều là những sự kiện điển
h́nh về thủ đoạn “mượn địch giết
thù”.
Với mặt nạ “yêu nước thương ṇi”, với chiêu bài “diệt phát xít Nhật, chống
thực dân Pháp”, với hành động khôn khéo hô hào “Đại Đoàn Kết, Đại
Thành Công” và việc tự động giải tán Đảng
Cộng Sản Đông Dương vào ngày 11/11/1945, người
CS đă nắm vững được chính quyền và lợi
dụng được ḷng yêu nước nhiệt thành của
nhiều tầng lớp nhân dân đang khao khát Độc Lập
và Tự Do.
Ngày 6/3/1946, chính phủ Hồ Chí Minh kư Hiệp
Định Sơ Bộ hợp thức hóa việc trở
lại VN của thực dân bằng sự công nhận quyền
đóng quân của Pháp trên toàn lănh thổ Việt Nam.
Ngày 15/5/1946, quân Pháp từ Hải Pḥng
lên, tiến vào Hà Nội, được chính phủ Hồ
Chí Minh long trọng đón tiếp với cờ xí rợp
trời, 2 Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt
nhưng lừa bịp nhân dân là mừng sinh nhật Hồ
Chủ Tịch (19/5)!
Đêm 14/9/1946, tại tư thất Tổng
Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại — tên mới của
Bộ Thuộc Địa — Hồ Chí Minh đă kư Tạm Ước
tái cam kết việc tôn trọng quyền lợi của thực
dân qua Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946.
Biết được những sự
kiện trên, dân chúng đă xôn xao bất măn, mất tin tưởng
vào chính phủ Hồ Chí Minh. Các chính đảng Quốc Gia
đồng loạt đứng lên đả kích và nhớ
lại một cách đầy oán hận cái quá khứ tráo trở
của người CS đă cộng tác với thực dân
Pháp để triệt hạ người Quốc Gia:
“Đánh
tan cái lũ bất nhân
Đánh tan
cái lũ rước quân Pháp về
Cùng nhau hẹn
một lời thề
Đă làm
cách mạng chẳng hề sợ chi
Nhớ lời
– mạnh bước ra đi
Diệt quân
Cộng Sản, bơ khi cực ḷng!”
1.2.
Công Cuộc Kháng Chiến của Toàn Dân bị đặt
dưới sự Lănh Đạo của Đảng Cộng
Sản Việt Nam
Tuy nhiên, khi chiến tranh Việt Pháp bùng
nổ vào đêm 19/12/1946, toàn thể Quốc Dân đă đặt
lư tưởng Tổ Quốc
Trên Hết để chấp nhận gian khổ đi
vào trường kỳ kháng chiến bằng đại giá
của hy sinh: mồ hôi, máu xương và mạng sống
để làm nghĩa vụ yêu nước!
1.2.1.
Chiến Dịch Phản Đế
Với hào quang thần thánh của kháng
chiến, với khẩu hiệu “Cứu Quốc”, bằng quyền uy lănh đạo
tối cao, đảng CS đề ra phương châm “Phản
Đế” – chống đế quốc thực dân Pháp –
nhưng trong thực tế đă dùng chiến tranh như một
phương tiện hữu hiệu để thực hiện
mục tiêu chiến thuật: Tiêu diệt mọi chính đảng
Quốc Gia và hoàn tất giai đoạn I của mục
tiêu chiến lược: “bần cùng hóa nhân dân” để
chuẩn bị áp đặt chế độ vô sản
chuyên chính qua thủ đoạn cưỡng bách di tản
để phá sạch, đốt sạch tạo cảnh
vườn hoang, nhà trống.
V́ thất thế, người Quốc
Gia chân chính bị dồn vào một t́nh thế khó xử.
Nếu chống cộng để lột
mặt nạ giả nhân nghĩa của chúng tất yếu
sẽ bị đồng bào trong khí thế sôi sục
căm hờn chống ngoại xâm lên án là “Việt gian” gây
chia rẽ làm lợi cho kẻ thù, những tội danh cực
kỳ sỉ nhục đối với những người
đă từng lao vào đấu tranh, dâng hiến đời
ḿnh cho lư tưởng Quốc Gia Dân Tộc!
Nếu chống Pháp để thực hiện
ước mơ tự chủ, truyền thống của
dân tộc, tất yếu phải chấp nhận sự
lănh đạo của chính phủ Hồ Chí Minh, và hợp
tác với người CS là một việc cực kỳ
nguy hiểm mà giới có kinh nghiệm đấu tranh đă
từng nếm trải qua xương máu hy sinh của các
đồng chí hay của chính bản thân.
Liên hiệp, cộng tác với CS chỉ
có 2 điều có thể xẩy ra: một là tự lột
xác để hóa thành đảng viên CS, coi lư tưởng Quốc
Gia Dân Tộc như những chiêu bài có tính chất giai
đoạn dùng để thực hiện sách lược
bành trướng của Đệ Tam Quốc Tế CS. Hai
là bị lợi dụng một cách tàn nhẫn, làm con chốt
thí lót đường, hoặc thâm độc hơn bị
đem ra xét xử trước ṭa án nhân dân với những
tội danh mơ hồ, ngụy tạo như “Việt gian”, “gián điệp”,
“hủ hoá” để bêu xấu hạ nhục cá nhân và làm
mất uy tín chung của người Quốc Gia rồi có
lư do giết đi trừ hậu họa!
Người Cộng Sản đă giết
Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Ḥa Hảo.
Người Cộng Sản đă giết
nhà văn Khái Hưng, Đại Việt Dân Chính Đảng.
Người Cộng Sản đă giết
nhà văn Nhượng Tống, Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Người Cộng Sản đă giết
Trương Tử Anh, lănh tụ Đại Việt Đảng.
Người Cộng Sản đă giết
Trương Anh Tự, lănh tụ Việt Nam Dân Tộc
Đảng, và đă giết cả trăm ngàn đảng
viên các chính đảng Quốc Gia dưới nhiều h́nh
thức như ám sát, bắt bớ, tù đày trong lao động
khổ sai, trong đói rét bệnh tật, trong tra khảo
đ̣n thù... Riêng Việt Nam Dân Tộc Đảng đă bị
tàn sát cả vạn người khi CS điều đại
binh triệt hạ vùng hậu cứ an toàn thuộc Thanh
Hóa, v́ nội vụ quá lớn không thể bưng bít nên
chính phủ Hồ Chí Minh đă phải tổ chức “Toà
Án Đặc Biệt” để xét xử ở 3 nơi thị
uy với kết quả: Nông Cống (Thanh Hóa) 14 án tử
h́nh, Phúc Nhạc (Ninh B́nh) 13 án tử h́nh, Tân Lư (Nam Định)
13 án tử h́nh.
1.2.2.
Chiến Dịch Phản Phong
Sau khi Mao Trạch Đông thống nhất
Hoa Lục thành lập chế độ Cộng Ḥa Nhân Dân
vào ngày 1/10/1949, người CSVN cũng đă vứt bỏ
mặt nạ “Quốc Gia Dân Tộc” để lộ chân
tướng Đệ Tam Quốc Tế của ḿnh.
Ngày 3/3/1951, đảng CSVN được
chính thức tái lập với danh xưng Đảng Lao
Động VN và công khai phát động chiến dịch học
tập đường lối mới qua khẩu hiệu Phản Phong – chống Phong Kiến
– đi đôi với việc cải tổ cơ cấu và
thay đổi nhân sự hành chánh và các cấp chỉ huy
trong quân đội. Mục tiêu của Phản Phong
được đề cao hơn cả mục tiêu Phản
Đế của những ngày đầu Kháng Chiến.
Phản Phong là xóa bỏ những tàn tích
phong kiến, lạc hậu trong đời sống của
nhân dân một cách triệt để trong tư tưởng,
trong ngôn từ, trong lề thói sinh hoạt hàng ngày. Thực
chất đây là một cuộc đánh phá có kế hoạch
nền tảng văn hóa Việt, nhằm thay thế bằng
một nền văn hóa lai căng phi nhân, chủ
trương xóa bỏ những ràng buộc nhân luân, những
khuôn mẫu sống tuyệt vời ḥa hài t́nh nghĩa của
truyền thống dân tộc qua việc quí trọng gia
đ́nh, thờ cúng tổ tiên, yêu thương Tổ Quốc.
Chiến dịch Phản Phong nhằm thực
thi chủ trương “giai cấp
đấu tranh” của Đệ Tam Quốc Tế. Thủ
đoạn này cũng tương tự nhưng hiểm
độc, hơn xa chính sách “chia
để trị” mà đế quốc thực dân Pháp
đă từng áp dụng trong việc phân cắt Tổ Quốc
ta ra làm ba miền với ba chế độ hành chánh và tư
pháp khác nhau như những quốc gia riêng biệt, chia rẽ
dân tộc ta thành những giai cấp đối nghịch
nhau v́ quyền lợi bất đồng và tương phản.
Từ đó đi đến chính kiến bất đồng,
nhân tâm ly tán..., những trở ngại to lớn khó vượt
qua để kết lực, thống hợp sức người,
sức của mưu tính đại sự. Chiến dịch
Phản Phong gồm 5 giai đoạn:
1.2.2.1.
Thuế Nông Nghiệp
Nhằm mục đích vét hết tiền
bạc dự trữ của nhân dân biến họ thành giai
cấp vô sản và tạo ra một xă hội nghèo, chủ
yếu chỉ có những người đem sức lao
động ra làm cho “tập thể”, cho “nhân dân”, cho “hợp
tác xă” để ăn công! Đây là thứ thuế lũy
tiến đánh vào số thu hoạch của phần ruộng
cầy với tỷ số từ 5% đến 45% và thêm một
loại thuế phụ thu bằng 15% của số thuế
nông nghiệp này, và hai thứ gộp lại đóng một
lúc cho chính phủ.
Cái dă man của người CS là không thể
điều tra về thu hoạch lợi tức thực tế
để đánh thuế mà chỉ ước định
theo nguyên tắc do đảng đề ra rồi bắt
dân chúng “b́nh”. Và lợi tức bao giờ cũng phải cao
hơn thực tế v́ diện tích ruộng được
nới rộng hơn và số thu hoạch cũng
được nâng lên cao do sự tố giác của những
bà con cḥm xóm hay các tá điền được cán bộ
móc nối trước. Và sự cáo gian này được
công nhận với định đề “nhân dân không thể sai lầm”!
Ngoài ra chiến dịch thâu thuế nông
nghiệp và công thương nghiệp c̣n là một biện
pháp an ninh làm cho người dân thành dễ bảo, dễ
sai, không có điều kiện để nổi loạn v́
không có lương thực dự trữ!
1.2.2.2.
Đấu Chính Trị
Đây là cuộc khủng bố chính trị
nhằm thị uy với dân chúng và thanh trừng những phần
tử đă theo kháng chiến chống Pháp nhưng bị
t́nh nghi là không chấp nhận chế độ CS, hoặc
lập trường lưng chừng, không rơ ràng. Với
người CS th́ “lưng chừng
là phản động”!
V́ thuế quá cao, dân không đủ khả
năng đóng. Người thiếu thuế được
mang ra trước hội nghị để tra khảo hầu
t́m ra ai là người xúi họ không đóng thuế cho chính
phủ. V́ bị đánh quá đau, họ đă làm theo ư cán
bộ, khai tên những người cán bộ muốn bắt.
Các phương pháp tra tấn điển
h́nh thường được áp dụng:
– Nạn nhân phải qú, hai tay nâng một
thúng 4 Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt
đá đội trên đầu.
– Nạn nhân bị treo ngược đầu,
một sợi dây cột hai chân kéo cao qua chiếc xà ngang, hoặc
trói giật hai cánh khủy rồi luồn dây treo lên.
– Cuốn giẻ tẩm dầu vào hai
ngón tay cái rồi đốt.
– Nạn nhân bị bỏ rọ d́m xuống
nước vài phút cho sặc rồi mang lên hỏi tội.
Trung b́nh trong vụ đấu chính trị,
mỗi xă có từ 3 đến 5 người bị đánh
chết hoặc quá uất ức nên tự tử. Điển
h́nh là Đặng Văn Hướng, một Bộ Trưởng
trong chính phủ Hồ Chí Minh bị đem ra “đấu”
khi về thăm nhà. Đặng Văn Hướng bị
đánh đau nhưng người anh bị đánh chết,
tuy nhiên v́ quá nhục nhă nên hai vợ chồng đă thắt
cổ tự tử. Bộ Trưởng Đặng Văn
Hướng c̣n là phụ thân của đại tá Đặng
Văn Việt, người anh hùng đường số
4, đă thắng quân Pháp ở trận Cao Bằng - Lạng
Sơn.
V́ tính chất tàn bạo của cuộc
đấu chính trị do đảng phát động đă
gây kinh hoàng trong dân chúng, tuy chiến dịch chỉ kéo dài có
nửa tháng mà đă tạo ra biết bao tang tóc đau
thương và những ảnh hưởng không tốt,
đến nỗi Hồ Chí Minh phải đích thân viết
thư xin lỗi đồng bào.
Tuy nhiên, một tháng sau khi Hồ Chí Minh
khóc và xin lỗi đồng bào, đảng CS vẫn tiếp
tục gửi đoàn cán bộ đặc biệt vào Liên
Khu V để tiếp tục kế hoạch đă định
với sự hỗ trợ của đoàn cố vấn
Trung Cộng. Và mỗi tỉnh đều thành lập một
toà án quân sự để xét xử những người bị
tố là “phản động”,
“Việt gian” qua vụ đấu chính trị và phải
gửi lên trung ương một danh sách những tên tội
phạm. Mỗi danh sách đều có những thành phần
điển h́nh: một địa chủ giầu nhất
vùng, một Thượng Tọa hay Đại Đức,
một nhà Nho hay xuất thân khoa cử, một cựu quan lại,
một nhà tư sản mại bản, thương gia.
1.2.2.3.
Chiến Dịch Giảm Tô
Đảng cho cán bộ sống theo chính
sách “tam cùng”, cùng làm, cùng ở,
cùng ăn với một bần cố nông được
chọn lựa trước để mua chuộc và huấn
luyện anh ta làm theo đường lối được
chỉ định là tố cáo địa chủ đă gian
ác không chịu giảm tô 25% theo lịnh của chính phủ
ban hành. Thực sự, việc tố cáo của tá điền
chỉ là cái cớ để cán bộ có thể qui định
số nợ mà địa chủ phải trả lại,
thường là trên giá trị của toàn thể tài sản
với mục đích, cướp sạch, vét sạch làm
cho giới địa chủ trắng tay. Để thực
hiện được mục đích trên, đảng
đă dùng đủ mọi thủ đoạn tàn nhẫn
đấu tố địa chủ và hành hạ cả những
người liên hệ như vợ con, dù là trẻ thơ
c̣n bú mẹ để mẹ bị đau v́ vú căng sữa,
con bị khát v́ đói sữa trong chính sách cô lập địa
chủ!
Cũng như các chiến dịch khác, số
án tử h́nh đă được ấn định trước
cho từng xă nên tiêu chuẩn qui định địa chủ
rất là co dăn tùy địa phương mà cán bộ có thể
nâng lên hay hạ xuống trong mục đích tiêu diệt
giai cấp địa chủ!
Tuy mục đích của chiến dịch
Giảm Tô chỉ là đợt thử thách chuẩn bị
cho chiến dịch kế tiếp, nhưng mức độ
tàn bạo đă đạt tới mức kinh hoàng!
1.2.2.4.
Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất Đợt
I
Nếu chiến dịch Giảm Tô chỉ
nhằm tiêu diệt một thiểu số những người
giầu nhất và phản động nhất trong giới
địa chủ th́ chiến dịch Cải Cách Ruộng
Đất nhằm tiêu diệt toàn thể giai cấp địa
chủ, kẻ thù số một của chế độ.
Do đó mức độ kinh hoàng của nó đă vượt
xa chiến dịch Giảm Tô, với số án tử h́nh
được qui định tối thiểu là 5 mạng
cho một xă! Và số người đi tù cũng năm lần
nhiều hơn.
Với chiến dịch này, đảng
CS đă dứt khoát gạt bỏ những đồng minh
giai đoạn, kể cả những đảng viên trung
kiên đă theo ḿnh từ những ngày đầu khi cướp
được chính quyền nhưng v́ thuộc thành phần
giai cấp phú nông, địa chủ không được
đảng tín nhiệm như các đảng viên thuộc
giai cấp bần cố nông, mới được kết
nạp qua các chiến dịch đảng đă đề
ra, theo đúng lập trường vô sản của đấu
tranh giai cấp mà người CS chủ trương.
Tuy nhiên, đảng CS đă ra lệnh tạm
ngưng chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất vào
lúc Hiệp Định Genève được kư kết chia
đôi VN tại vĩ tuyến 17 và có cuộc di cư vĩ
đại của gần một triệu người từ
miền Bắc vào Nam trong thời hạn 300 ngày.
Lư do tạm ngưng thi hành chiến dịch
này để có đủ nhân sự canh chừng và ngăn
cản lớp sóng người bỏ tất cả chạy
lấy thân ra khỏi ṿng kiềm toả của CS vào sống
trong chế độ Tự Do ở miền
Khi số
phận buộc ai là kẻ sống
Ở cái
phần chó má của quê hương
Th́ thủy
chung duy chỉ gă bạn đường
Là bóng tối
lao tù theo kẻ ấy.
(Khi Số
Phận..., 1962, trích trong Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Vô Danh)
1.2.2.5.
Giết Thương Phế Binh
Hiệp Định Genève là kết quả
trực tiếp của trận Điện Biên Phủ sau
khi quân Pháp đồn trú tại đây đă đầu hàng
ngày 7/5/1954. Nhưng để thắng địch trên bàn hội
nghị th́ số lượng máu người Việt đổ
ra trên khắp các chiến trường không phải là nhỏ.
Biết được đại giá của máu là thành công,
khả năng của máu là vô biên, có thể san bằng những
ưu thế của địch trên mọi lănh vực thiên
thời, địa lợi, nhân ḥa, nên người CS
thường phung phí máu xương của nhân dân, của
chiến sĩ, của đảng viên, đồng chí.
Đẫm máu là đặc tính của CS trong chiến thuật
biển người, trong phương pháp đấu tranh bạo
động, trong những cuộc thanh trừng nội bộ.
Vơ Nguyên Giáp đă từng tuyên bố: “Nếu phải hy sinh 2/3 dân số để giành lại
Tổ Quốc trong tay ngoại bang th́ ta cũng làm!” và Vơ
Nguyên Giáp đă thành danh sau chiến thắng Điện Biên
Phủ. Nhưng các anh hùng thương phế binh đă
được đăi ngộ ra sao? Với tấm thân tàn ma
dại, mắt mù, tay cụt, chân què, họ sẽ làm ǵ
để sống?! Để trốn trách nhiệm, đảng
đă bí mật quyết định thủ tiêu các
thương binh có mức độ tàn phế cao bằng
cách mang ra biển đổ và giam giữ số c̣n lại
với mức độ tàn phế thấp tại các trại
an dưỡng được thiết lập ở những
vùng rừng thiêng nước độc để họ chết
dần ṃn trong bệnh tật, đói rét xa khuất loài
người.
2.
Giai Đoạn II (1954-1975): Sự đối lực giữa
đế quốc Cộng Sản và cực quyền Mỹ
tại haimiền Bắc và
Với Hiệp Định Genève, Việt
2.1.
Miền Bắc
Sau khi kỳ hạn 300 ngày chấm dứt,
chuyến tầu di cư cuối cùng rời Hải Pḥng cũng
là lúc chính quyền Hà Nội thay đổi thái độ
đối với nhân dân bằng cách cho tiếp tục chiến
dịch Cải Cách Ruộng Đất v́ nay đảng
đă quay được tấm lưới thép chặn mọi
lối thoát của những người muốn trốn chạy
chế độ.
2.1.1.
Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất Đợt
II
Riêng tại vùng đồng bằng sông
Nhị, nhữngvùng thuộc sự kiểm soát của
“địch” trước 1954, cả hai chiến dịch Giảm
Tô và Cải Cách Ruộng Đất được nhập
một để theo kịp các nơi khác, do đó sự
tàn bạo, khủng khiếp phải gấp hai lần
hơn. Mọi người đều phải học tập
cách phân định nhân dân trong làng ḿnh thành nhiều giai cấp
chiếu theo “bản điều
lệ phân định thành phần giai cấp ở nông
thôn” được chính phủ ban hành bằng một
nghị định, đồng thời đảng cũng
đưa ra một khẩu hiệu “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết
chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông
để tiêu diệt địa chủ” để làm
phương châm chỉ đạo! Và mọi người
đều phải tham dự tích cực vào cuộc đấu
tố địa chủ để tỏ ra là đă thông suốt
đường lối 6 Mặt Trận Cách Mạng
Hưng Phục Việt do đảng đề ra và có lập
trường giai cấp rơ ràng. Cuộc đấu tố
địa chủ được kết thúc bằng một
cuộc biểu t́nh xem xử bắn địa chủ. Những
tiếng vỗ tay, những tiếng hoan hô, đả đảo
vang lên theo hiệu của cán bộ khi nạn nhân gục chết
trước những lằn đạn thù, chết bởi
tay những người đă từng chung sống một
cách thân thương trong một làng, dưới một mái
nhà và đôi khi, cùng mang một gịng máu!
Địa chủ bị xử bắn
hoặc đi tù, c̣n gia đ́nh cha mẹ vợ con th́ bị
cô lập không cho ra khỏi nhà, không cho ai giao thiệp
thăm nom. Với chính sách cô lập địa chủ này,
đảng đă tiêu diệt cho tuyệt “giống” bóc lột
ở nông thôn bằng cách làm cho họ chết đói.
Cho tới nay, ngoại trừ các nhân vật
cao cấp trong đảng, chưa ai có được con số
chính xác về tổn thất nhân mạng qua hai đợt
đấu tố. Người ta ước đoán có khoảng
hơn 500 ngàn người chết, v́ khắp vùng nông thôn Bắc
Việt, nhân dân mang toàn khăn tang trắng. Con số này bao
gồm số người bị Toà Án Nhân Dân lên án tử
h́nh và hành quyết công khai, những người chết
trong các nhà tù, trại giam, những người tự tử
v́ quá uất ức và những thân nhân như cha mẹ già, vợ
con của địa chủ bị chết đói v́ chính
sách bao vây kinh tế và chết bịnh v́ không được
chữa trị!
Thi hành chính sách Cải Cách Ruộng Đất,
đảng CS đă nhằm nhiều mục đích:
– Tập thể hoá ruộng đất
vào tay chính phủ, do đó phải đả phá tư
tưởng tư hữu trong tiềm thức cá nhân, kể
cả bần cố nông. Chính sách dùng máu để gây kinh
hoàng đă đưa đến những quyết định
đưa ra con số tử h́nh tối thiểu cho từng
xă với phương châm: “thà
chết mười người c̣n hơn bỏ sót một
địch”. Ư nghĩa tối hậu của việc tập
thể hoá ruộng đất vào tay chính phủ là kiểm
soát được nhân dân bằng cách nắm hết
lương thực rồi phân phát ra như ban ân huệ và
ngăn ngừa được những cuộc nổi loạn
chống lại chế độ áp chế, do đó đảng
CS sẽ tồn tại vĩnh viễn trong ngôi vị lănh
đạo.
– Giai cấp đấu tranh, thực sự
chỉ là một thủ đoạn “mượn và khích” trong sách lược “chia để trị” và tất
cả, kể luôn giai cấp vô sản đều bị lợi
dụng để tuyệt đối trung thành với
Đoàn, Đảng và lănh tụ, “giai cấp mới”
được ưu đăi của chế độ. Lập
trường hận thù giai cấp làm cho đại khối
nhân dân nghi kỵ xa cách nhau, không thể nh́n nhau, do đó
không thể cùng nh́n chung về một hướng để
kết lực, tạo thế, chờ thời!...
– Để đề pḥng việc miền
Nam tiến công giải phóng miền Bắc với sự hỗ
trợ của Hoa Kỳ, đảng đưa ra thủ
đoạn “đóng dấu nhân
dân” bằng máu của tội ác. Với bàn tay vấy máu
và một mặc cảm tội lỗi, họ buộc phải
theo đảng CS tới cùng như những kẻ ṭng phạm
chạy trốn lưới pháp luật v́ sợ bị trả
thù, bị truy tố. Trong hoàn cảnh này họ phải dứt
khoát lập trường tư tưởng với phía Quốc
Gia, kẻ thù của đảng CS.
2.1.2.
Chiến Dịch Sửa Sai
Sau khi thực hiện chiến dịch Cải
Cách Ruộng Đất và thiết lập chế độ
vô sản chuyên chính xuống đến tận cùng cấp
xă, đảng đột nhiên cho phát động chiến dịch
sửa sai, công nhận đă phạm nhiều lầm lẫn
nghiêm trọng làm tổn thương uy tín lănh đạo và
đời sống nhân dân và thay thế hai nhân vật bị
qui trách nhiệm là Tổng Bí Thư Trường Chinh và Hồ
Viết Thắng, Thứ Trưởng phụ tá Cải Cách
Ruộng Đất.
Vơ Nguyên Giáp, phát ngôn viên của đảng
đưa ra 7 lỗi lầm chính:
– Đă phủ
nhận thành tích của cuộc đấu tranh Phản
Đế, nhiều người có công trong kháng chiến chống
đế quốc Pháp đă bị mang ra đấu tố,
giết chết hoặc tù đày.
– Đă
phân định thành phần sai, coi phú nông như địa
chủ.
– Đả
kích tràn lan, không phân biệt địa chủ có công với
cách mạng, có con đi bộ đội, lầm cán bộ
với địa chủ phản động.
– Không tiên
liệu những biện pháp đề pḥng sự quá độ
trong việc “phóng tay phát động chiến dịch Cải
Cách Ruộng Đất” để xử trí oan người
ngay và dùng “biện pháp trấn áp” một cách phổ biến.
– Làm sai
chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do thờ
cúng của nhân dân ở vùng có nhiều “đồng bào tôn
giáo”.
– Không tôn
trọng, thậm chí xâm phạm đến phong tục tập
quán địa phương ở vùng có nhiều “đồng
bào thiểu số”.
– Trong công
tác chỉnh đốn đảng đă không nắm vững
tiêu chuẩn chính trị mà lại phạm vào chủ nghĩa
thành phần, không dùng phương châm lấy giáo dục làm
chính mà đơn thuần dùng biện pháp tổ chức: kỷ
luật, xử trí, giải tán các tổ chức, thậm
chí dùng phương pháp truy bức để làm công tác chỉnh
đốn!...
Hiểu được qui luật của
khoa học đấu tranh, người CS bao giờ cũng
tôn vinh lănh tụ như thần thánh và đề cao đảng
với khả năng lănh đạo không thể sai lầm!
Phải mất biết bao thời gian và công sức thực
hiện những chiến dịch đẫm máu, đảng
mới điều kiện hóa được nhân dân nói câu
nói cửa miệng: “Nhờ
ơn Bác và Đảng!”... mà tại sao nay lại công
khai tự nhận lỗi, làm giảm uy tín lănh đạo!?
Thực chất, chiến dịch sửa
sai chỉ là chiến dịch thanh trừng nội bộ giữa
hai phe: phe Hồ Chí Minh loại phe Trường Chinh trong tiến
tŕnh h́nh thành và hủy thể của đảng CSVN.
Đảng CSVN được h́nh thành
là do công của Nguyễn Thế Mỹ, con của Nguyễn
Thế Dục, người làng Hành Thiện, huyện Xuân
Trường, tỉnh Nam Định. Từ Pháp về, Mỹ
hoạt động tổ chức đảng, bị Pháp bắt
giam 3 năm rồi bị lao phổi. Trước khi chết,
Mỹ bàn giao Tổ Đảng lại cho Trường
Chinh Đặng Xuân Khu là bà con. Có sẵn cơ sở nhân sự,
Trường Chinh với sự cộng tác của Đặng
Xuân Thiều và Phạm Văn Đồng đă tích cực
phát triển Tổ Đảng ra khắp vùng. Cũng
như Mao Trạch Đông, Đặng Xuân Khu không xuất
ngoại nghiên cứu chủ nghĩa CS; trái lại Hồ
Chí Minh tương tự như Lưu Thiếu Kỳ,
đă từng được huấn luyện tại Mạc
Tư Khoa và chịu ảnh hưởng của Đệ
Tam Quốc Tế.
Việc thống nhất ba đảng
CS tại Hồng Kông (1930) dưới danh xưng Đảng
Cộng Sản Đông Dương và chỉ định Trần
Phú làm Tổng Bí Thư đầu tiên là sự áp đặt
của Đệ Tam Quốc Tế qua đại diện Hồ
Chí Minh mà Trường Chinh buộc ḷng phải chấp nhận.
Việc tổ chức cướp biểu
t́nh để biến thành cuộc cướp chính quyền
ngày 19/8/1945 là công của phe Trường Chinh. Vơ Nguyên Giáp
trong “Những Chặng
Đường Lịch Sử” được tái bản
lần thứ tư có ghi lại một đoạn đối
thoại giữa Vơ và Hồ trong những năm sống ở
hang Pắc Bó (1944-1945) cả hai đều xác quyết “Nhất định đảng
ta có cơ sở nhân sự tại miền xuôi, ta phải cố
tâm liên lạc cho bằng được!”. Đó cũng
là lư do tại sao phải đợi măi tới gần hai tuần
sau, ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh mới xuất hiện ở
trấn Ba Đ́nh đọc diễn văn tuyên bố: Việt
Sau khi Mao thống nhất Hoa Lục,
đảng Lao Động VN được thành lập,
Trường Chinh đương nhiên làm Tổng Bí Thư
và bài hát “Anh Cả Trường Chinh” được phổ
biến trong nội bộ đảng.
Là người kinh lịch, Hồ Chí Minh
hiểu được địa vị bấp bênh của
ḿnh trong đảng nên đă triệt để lợi dụng
uy tín của chức vị Chủ Tịch Nhà Nước
để làm thăng bằng cán cân quyền lực với
Trường Chinh và dùng mọi thủ đoạn để
mua chuộc, lôi kéo, chia rẽ những người trong
đảng theo về phe ḿnh.
Chiến dịch Cải Cách Ruộng
Đất là một cơ hội đặc biệt để
phe Hồ triệt hạ phe Trường Chinh. Các đảng
viên “mới” được kết nạp qua các đợt
đấu tố của chiến dịch Phản Phong
đă giúp phe Hồ loại bỏ được một số
lực lượng khá lớn đảng viên “cũ” thuộc
ảnh hưởng của Trường Chinh với những
tội danh như địa chủ, cường hào, phản
động... Ngoài một số bị hành quyết sau khi
chịu đấu tố, số người chết trong
tù trong khi giam cứu, số đảng viên được
tha trong vụ sửa sai, theo báo Nhân Dân, là 12 ngàn người!
Họ thoát chết trở về nhưng không c̣n địa
vị xưa, nhà cửa nay người khác đă 8 Mặt
Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt chiếm cứ
và gia đ́nh cũng đă phiêu tán, con cái lang thang, vợ bỏ
đi lấy chồng khác!
Hồ Chí Minh tuy đưa được
Lê Duẩn lên thế Trường Chinh nhưng phe phái của
Trường Chinh vẫn c̣n giăng mắc khắp nơi
trong quân đội và trong hệ thống đảng. Do
đó Lê Duẩn chỉ ở chức vụ Bí Thư Thứ
Nhất (1956). V́ đảng đă trở thành nơi tranh
giành quyền lực của các phe phái, nên giới thư lại
phải t́m thế đứng quanh những người có
quyền để bảo vệ lợi, danh và vị cho cá
nhân chứ không c̣n lư tưởng như xưa, và đây là
giai đoạn I trong tiến tŕnh hủy thể của
đảng CSVN được gọi là “Thư Lại Kết Đoàn”.
2.1.3.
Nông Dân nổi loạn
Khốn khổ về chế độ
hà khắc và uất hận vềchính sách tàn độc của
đảng, nông dân nhiều nơi đă nổi dậy
như ở Bắc Ninh, Nam Định, nhưng đảng
đă thẳng tay dùng quân đội đàn áp!
Tháng 11/1956, nông dân 5 xă thuộc huyện
Quỳnh Lưu (Nghệ An) đă vùng lên làm một cuộc
khởi nghĩa có vơ trang bằng gậy gộc. Đảng
cũng đă thẳng tay đàn áp bằng cách điều
động cả một sư đoàn đến bao vây
tiêu diệt. Số phận của hơn 20 ngàn nông dân này ra
sao, không ai biết rơ! Nhưng chắc chắn là ngoài một
số đáng kể được may mắn chết nhanh
gọn dưới lằn đạn thị uy, số c̣n lại
đă bị chết ṃn mỏi trong hệ thống nhà tù, trại
giam với đủ thứ cực h́nh, khảo tra, cùm kẹp,
đói, rét và bệnh tật!...
2.1.4.
Trí Thức nổi loạn
Đầu năm 1956, Nikata Khrushchev phát
động chiến dịch hạ bệ Stalin, chống
tư tưởng tôn sùng cá nhân th́ Mao Trạch Đông cũng
cho khai mở phong trào “Trăm
Hoa Đua Nở”.
Ở VN, sau đó ít tháng, đảng cũng
đă đưa ra chính sách sửa sai, dành nhiều dễ
dăi cho giới trí thức văn nghệ sĩ viết và
lách. Trong chin năm Kháng Chiến chống Pháp và hai năm sống
ở thủ đô Hà Nội, họ đă phải chịu
nhiều thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần,
sinh hoạt phí chỉ đủ mua vài chục kư gạo
nuôi gia đ́nh, trong khi đó những tên nịnh hót đảng
được cất nhắc lên làm “cai văn nghệ”,
được hưởng một đời sống xa
hoa, phè phỡn... Do đó nhiều người đă tham dự
viết bài đả kích những sai lầm của chế
độ. Tờ Nhân Văn
được ra đời làm cơ quan ngôn luận của
nhóm trí thức văn nghệ sĩ với Nguyễn Hữu
Đang làm chủ bút. Đang là một đảng viên kỳ
cựu đă từng làm Bộ Trưởng Văn Hóa từ
thời 1945.
Đa số giới trí thức văn
nghệ sĩ đi kháng chiến đều có tinh thần
dân tộc, tư tưởng quốc gia, nhưng v́ hoàn cảnh
đành phải chấp nhận chế độ CS. Người
CS biết rơ điều này nên cũng tạm chấp nhận
họ để có người tô son trát phấn cho chế
độ. Nay kháng chiến đă thành công, đă áp đặt
xong nền chuyên chính vô sản và chuẩn bị xây dựng
xă hội chủ nghĩa th́ việc thanh trừng giới
văn nghệ sĩ là điều cần thiết. Sự
dễ dăi trong chiến dịch sửa sai chỉ là một
cơ hội được đảng tạo ra để
xúi trí thức, văn nghệ sĩ phạm lỗi, và tờ
Nhân Văn chỉ là cái bẫy
sập mà đảng giương sẵn để bắt
trọn ổ.
Phong trào Nhân
Văn – Giai Phẩm chỉ kéo dài có 3 tháng, thời gian
đủ dài để đảng nhận diện và qui
định thành phần kẻ thù để xử trị
qua chiến dịch “cải tạo tư tưởng” cho
toàn thể trí thức dù trong hay ngoài đảng. Trí thức
văn nghệ sĩ thân đảng được gửi
đi học các khóa cải tạo tại các thành phố lớn,
được hưởng đủ tiện nghi. Trái lại,
trí thức văn nghệ sĩ chống đảng bị
đưa lên vùng thượng du, học tập lao động
dưới sự quản giáo của các cán bộ dân tộc
thiểu số. Người CS luôn nói đến khoan hồng
và nhân đạo nhưng thật ra họ tàn nhẫn dă man
hơn ai hết để bắt kẻ thù phải sống
cái chết ṃn mỏi, kéo dài với sự hành hạ của
đói rét và sự gậm nhấm của đớn đau
bệnh tật. Đó là những cái chết khủng khiếp
so với cái chết bất ngờ, nhanh, gọn gây ra bởi
một viên đạn. Đa số trí thức văn nghệ
sĩ đối lập đi cải tạo không thấy
trở về, không ai biết họ ở đâu, ngoại
trừ môt số nhỏ trở về với gia đ́nh
đă từ bỏ nghề cầm bút và dạy học
để chấp nhận lao động chân tay. Họ chọn
lựa sự im lặng trong một chế độ “bỏ
tù tiếng nói”.
2.1.5.
Chính sách thủ tiêu người Tập Kết
Song hành với phong trào di cư vào
Sự thực, đảng không muốn
mang họ ra Bắc, nơi đảng đă phải quyết
liệt dùng tới những biện pháp bạo lực
đẫm máu để ngăn đe, thúc đẩy nhân
dân đi vào khuôn khổ sinh hoạt mà đảng đă vạch
ra, v́ xét trên bản chất, họ là những người
quen sống một đời sống dễ dăi từ vật
chất đến tinh thần tại miền Nam trù phú với
mưa thuận gió ḥa để chỉ cần làm một vụ
mùa rồi ca hát ăn nhậu quanh năm, và đảng cũng
biết trước là họ sớm muộn ǵ cũng trở
thành những kẻ bất măn chế độ. Do đó,
ngoại trừ một số nhỏ thuộc thành phần
đảng viên ṇng cốt là được ưu đăi
cho định cư sống gần Hà Nội, c̣n tất cả
đều bị phân tán đi các vùng kinh tế mới, khu
sản xuất đuợc mở ra tại những vùng
đèo heo hút gió rừng thẳm âm u... Đảng không tự
tay giết họ nhưng đă giao họ cho tử thần
mặc t́nh hành hạ họ bằng đói rét, bệnh tật
và nỗi cô đơn của kiếp sống khổ sai
chung thân.
Theo thống kê của Việt Nam Cộng
Ḥa (1973), sau 20 năm, số người di cư vào
2.2.
Miền Nam
Sau 5 năm giúp Pháp làm chiến tranh chống
cộng và sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ th́
Hoa Kỳ gạt Pháp ra và trực tiếp đảm nhận
vấn đề Đông Dương. Tuy là đồng minh
trong khối Tự Do nhưng Hoa Kỳ và Pháp lại chống
đối nhau gay gắt v́ những xung đột quyền
lợi quốc tế. Sau Đệ Nhị Thế Chiến,
Hoa Kỳ chủ trương chính sách giải thực giúp
các thuộc địa đạt được độc
lập nhưng Pháp vẫn đeo đuổi đường
lối thực dân cũ bằng một danh xưng mới:
Liên Hiệp Pháp.
Giải pháp Quốc Gia đă được
chính giới Pháp đề cập tới từ lâu nhưng
chỉ h́nh thành vào ngày 5/6/1948 với khuôn mặt Bảo
Đại. Tuy nhiên người Pháp không thực ḷng trong việc
thực hiện giải pháp Quốc Gia. Bằng chứng là
De Gaulle đă rút khỏi chính trường để trốn
việc thực hiện những ǵ đă hứa với các
thuộc địa khi họ đóng góp nhân vật lực
để giúp giải phóng “mẫu quốc”; và khi có những
khuynh hướng cấp tiến trong chính giới muốn
Pháp bắt chước Anh thực tâm trao trả độc
lập cho các thuộc địa th́ chính De Gaulle lại ra một
thong cáo nghiêm khắc cảnh cáo: “Người
Pháp nào làm cho nước Pháp mất đi một phần
lănh thổ trong Pháp Quốc Hải Ngoại th́ sớm muộn
cũng bị xét xử trước ṭa án tối cao”. Việc
này đă làm cho những người Quốc Gia chân chính càng
xa lánh chính quyền v́ không muốn hợp tác với tư
cách tay sai trong một chính phủ bù nh́n và cũng đă nâng
cao uy thế của người CS trong nhiệm vụ lănh
đạo công cuộc kháng chiến giành Độc Lập
cho Tổ Quốc.
2.2.1.
Đệ Nhất Cộng Ḥa
Ngày 7/7/1954, Ngô Đ́nh Diệm với sự
thỏa thuận của Pháp và Bảo Đại, được
Hoa Kỳ đưa về làm Thủ Tướng chính phủ
miền
Thiên Thời: Hiệp Định Genève đă qui định
2 nước Việt
Địa
Lợi: Miền Nam có cả
một lănh thổ đủ để làm chiến tranh
trong thế công cũng như trong thế pḥng vệ và
đủ cả khả năng làm kinh tế để trở
nên thịnh vượng, tuy nhiên v́ “bán tại sơn hà, bán tại nhân” nên khai thác
được khả năng của đất đai nhiều
ít là tùy tài năng giới lănh đạo!
Nhân Ḥa: Miền Nam được sự hỗ
trợ toàn vẹn của Hoa Kỳ và thế giới Tự
Do cũng như được sự tín nhiệm của lực
lượng quân đội và khối di cư làm ṇng cốt
để đi những bước vững chắc xây dựng
chế độ.
Tuy người Pháp đă cố t́nh gây ra
những khó khăn cho chính phủ như xúi B́nh Xuyên nổi
loạn, nhưng có đầy đủ 3 yếu tố nói
trên nên Ngô Đ́nh Diệm đă thành công trong việc ổn
định miền Nam và được đề cao
như một chính khách lỗi lạc. Nhưng miền Nam
chỉ được hưởng một giai đoạn
ḥa b́nh và thịnh vượng ngắn ngủi rồi bắt
đầu đi vào suy thoái với chính sách “gia đ́nh trị”
và “đảng phiệt” Cần
Lao Nhân Vị. Yếu tố Nhân Ḥa bị suy yếu kéo
theo yếu tố Địa Lợi cũng mất theo và
như thế mất dân th́ làm sao giữ đất?
Ngô Đ́nh Diệm có thể là một nhà
hành chánh giỏi, có đạo đức nhưng không phải
là một chính khách tài ba, v́ họ Ngô đă không nh́n
được thế giao lưu của những quyền
lực quốc tế giăng mắc, do đó đă không
phát hiện được những âm mưu quốc tế
để tuỳ nghi theo hoặc chống và cuối cùng bị
lôi cuốn theo những xung đột quốc tế
đang ảnh hưởng vào VN một cách tích cực. Vụ
Phật Giáo (1963) chỉ là một cái cớ, một giọt
nước cuối cùng để làm tràn ly nước
đă đầy sẵn gây ra sự sụp đổ của
Đệ Nhất Cộng Ḥa.
2.2.2.
Giai Đoạn Chuyển Tiếp
Miền Nam sống trong sự bất ổn
chính trị với những âm mưu đảo chính, chỉnh
lư như sau: Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị quân
đội đảo chánh, Tướng Dương Văn
Minh bị Tướng Khánh chỉnh lư, tướng Khánh bị
Tướng Kỳ giải nhiệm, Tướng Kỳ lên
làm Chủ Tịch ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, v.v...
Sự loại bỏ các Tướng “gốc”
Pháp như Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn
Kim, và việc cho về hưu non một số tướng
lănh già không phải chỉ đơn thuần mang tính chất
thanh trừng nội bộ quân đội. Nó c̣n mối tương
quan biện chứng với việc Tổng Thống Hoa Kỳ
Lyndon Johnson quyết định đổ quân ào ạt vào
VN, và chứng tỏ mối xung đột quyền lợi
quốc tế ở Đông Dương đang ở mức
độ gay gắt mà tâm băo là Việt Nam.
Nh́n xa và kiểm lại những sự
kiện tất sẽ thấy âm mưu quốc tế với
những cách lập thế, cài lực nhằm đẩy
Hoa Kỳ ra khỏi Đông Nam Á:
– Charles de Gaulle sau một thời gian ẩn
tích, đă trở lại chính quyền với chức vụ
Tổng Thống (1959-1969). Nước Pháp dưới sự
lănh đạo của de Gaulle đă thi hành một chính sách kịch
liệt chống phá Hoa Kỳ ở Âu châu và cả ở Á
Đông với chủ trương trung lập, tách các quốc
gia Đông Dương khỏi ảnh hưởng của
Hoa Kỳ!
– Mao Trạch Đông với chủ thuyết
Mao đă tách Nga để tạo một thế đứng
riêng trong thế giới lưỡng cực, thế “chân vạc”:
Ngụy–Thục–Ngô của
thời Tam Quốc. V́ có những quyền lợi
tương đồng nên de Gaulle và Mao đă có những chủ
trương giống nhau.
– Năm 1959, Hà Nội họp Chính Trị
Bộ quyết định giải phóng miền
– Năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam Việt Nam (MTGPMN) được thành lập với
Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch, với
sự tham gia của một số đông các nhân sĩ miền
Nam, những người có khuynh hướng chủ
trương đường lối trung lập.
– Thái Tử Sihanouk, người công khai
tuyên bố “Tôi theo de Gaulle”,
đă v́ những hứa hẹn của các quyền lực
quốc tế mà để cho MTGPMN xử dụng hải cảng
Kampong Som để tiếp nhận quân trang, quân dụng vũ
khí đạn dược cũng như để cho MT này
đóng quân trên đất Miên làm nơi tập trung quân xuất
phát tiến đánh miền Nam.
Để chống lại cuộc chiến
tranh toàn diện do Hà Nội đảm nhiệm nhưng lại
do các thế lực quốc tế chủ trương, Hoa
Kỳ chỉ phản ứng lại bằng sức mạnh
của kỹ thuật cơ giới với tiêu chuẩn “một tấn đạn cho một
tên thù” trong một trận chiến không có mục tiêu. Hà
Nội làm chiến tranh càng lúc càng mạnh, chi viện quốc
tế đổ vào dùng không hết, và mức sống
người dân được coi là khá hơn thời b́nh
v́ đảng cũng nới tay trong chính sách kiểm soát dạ
dầy, một nghệ thuật cai trị, mở xả
nút để tránh cảnh tức nước vỡ bờ.
Trên mặt trận ngoại giao, Hoa Kỳ
cũng vấp phải nhiều trở ngại, uy tín chính
trị cao vút của thời thập niên 50, sau Đệ Nhị
Thế Chiến, sa sút một cách đáng kể trước
phong trào “Phản Chiến” do trí thức Âu châu đứng
ra tổ chức để chống Mỹ, đề cao Hà
Nội, tâng bốc Hồ Chí Minh, đă làm Hoa Kỳ mất
uy tín quốc tế và khơi động phong trào chống
đối trong nước.
Ngay khi nhận định được
VN là vũng lầy được che đậy bằng những
âm mưu quốc tế, Hoa Kỳ đă nhanh chóng và khôn khéo
đổi chiến thuật, chấp nhận ḥa đàm Ba
Lê (1968) ngồi ngang với Hà Nội trong phái đoàn 4 bên:
Hoa Kỳ, Sài G̣n, Hà Nội và MTGPMN, với thủ đoạn
ngoại giao đi đêm với thật nhiều hứa hẹn
dành cho Hà Nội và tạo ly gián giữa các thế lực
quốc tế đang chống ḿnh.
2.2.3.
Đệ Nhị Cộng Ḥa
Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa
được long trọng khai mạc với sự đắc
cử Tổng Thống của Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu, Chủ Tịch ủy Ban Lănh Đạo Quốc
Gia, và Phó Tổng Thống là Thiếu Tướng Nguyễn
Cao Kỳ, Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương.
Ngay trong nhiệm kỳ đầu có 2 sự
kiện đáng kể:
– Tổng Thống Lyndon Johnson tuyên bố
không tái ứng cử nhiệm kỳ II v́ thất bại ở
VN.
– Vụ Tết Mậu Thân (1968): Nhân dịp
Tết Âm lịch, nhân dân miền Nam đang vui mừng xuân
th́ MTGPMN phát động “Tổng Công Kích” khắp các đô
thị, tỉnh trên toàn miền Nam gây nhiều thiệt hại
vật chất và nhân mạng cho nhân dân. Riêng tại Huế,
CS đă tàn sát hàng ngàn đồng bào bằng cách bắn tập
thể, đập đầu bằng chày vồ và chôn sống.
Những thảm cảnh đó tố cáo
chính sách dă man tàn bạo của CS, dù với nhân dân vô tội
hay với kẻ thù cũng như với ngay đồng
chí cũng chỉ là một!
Sự dũng cảm của quân đội
VNCH trong việc chống giữ và ngăn chặn để
rồi tiêu diệt trọn bộ lực lượng quân sự
của MTGPMN không được báo chí quốc tế và Hoa
Kỳ đề cập. Đó là một sự bất công
trong việc truyền thông nhưng hàm chứa một dụng
ư.
Thực chất của cuộc “Tổng
Công Kích” Mậu Thân chỉ là sự tái diễn thủ
đoạn tàn độc của người CS đă từng
áp dụng khi xưa đối với những người
Quốc Gia theo kháng chiến chống Pháp “mượn địch giết thù”. Tham dự
trong âm mưu quốc tế để xẻ thịt “con
voi Mỹ”, Hà nội biết chắc là ḿnh sẽ thắng.
Vấn đề chỉ c̣n là thời gian nên đă quyết
định thủ tiêu bộ phận quân sự chủ lực
của MTGPMN gồm những người đi tập kết
khi xưa để trừ hậu họa khi tiếp thu miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa toàn
dân tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên
xă hội chủ nghĩa! Nhiệm vụ làm tiền đạo
dẫn đường và tiên phong của MT này đă chấm
dứt!
Những người tập kết ra Bắc
đă phạm vào một tội không thể tha thứ: biết
rơ bản chất tàn độc của Hà Nội và thực
tế của thiên đường xă hội chủ nghĩa
miền Bắc! Ngoài ra họ c̣n bị nghi ngờ v́ bản
chất lè phè, thích hưởng thụ của người
miền Nam nên dễ bị hủ hoá khi tiếp xúc với
miền Nam phồn vinh giả tạo, với văn minh
cơ kỹ Tây phương.
Loại được bộ phận
quân sự chủ lực của MTGPMN, Hà Nội đă
đưa đại quân của ḿnh vào thay thế và kiềm
chế chính phủ “lâm thời miền Nam” đang có khuynh
hướng tách rời trung ương Hà Nội để
chịu ảnh hưởng của Trung Cộng và Pháp.
Đứng trên phương diện lănh đạo Hà Nội
tỏ ra khá giỏi để tạo thế, cài 12 Mặt
Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt lực ngăn
ngừa những bất trắc có hại cho ḿnh, nhưng
đồng thời cũng gây khó khăn là không ai dám tin và
ít ai dám gần v́ bản chất phản trắc và lật
lọng với cả đồng chí chứ đừng nói
ǵ đến bạn bè, đồng minh.
Bài học cay đắng của người
Quốc Gia chân chính trong thân phận cô nghiệt, chết
đứng giữa hai lằn đạn thù CS và thực
dân thời kháng chiến 1945-1954 đă không được
những người tập kết biết đến, học
và hiểu! Và “chính trị của
ngày qua” vẫn c̣n nối tiếp nhau làm nên lịch sử,
những trang sử đau thương không riêng cho miền
– 1969, Richard Nixon đắc cử Tổng
Thống Hoa Kỳ với lời hứa giải quyết vấn
đề VN trong danh dự. Nhưng làm sao mang được
toàn bộ đại quân về. Cái khó nhất của kẻ
làm tướng là lúc triệt thoái bảo tồn được
lực lượng trong một hoàn cảnh thua kém mọi mặt
và kẻ thù vây quanh chờ xẻ thịt. Do đó giải
pháp tốt nhất là bàn hội nghị, tuy có phải hạ
ḿnh, khẩn cầu nhục nhă, nhưng với nghệ thuật
đi đêm có bóng tối đồng lơa th́ mọi chuyện
đều ổn thoả.
– 1972, Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu ứng cử “độc diễn” nhiệm kỳ
II, đắc cử với 99% số phiếu!
– 27/1/73, Hiệp Định Ba Lê
được kư kết giữa bốn bên.
Nhưng cũng trong năm 1973, T.T. Nixon bắt
đầu nhiệm kỳ II được ít tháng th́ vụ
án “Watergate” xẩy ra. Báo chí tấn công tới tấp, quần
chúng bất măn và cuối cùng Nixon phải từ nhiệm
trong uất ức, đớn đau! Năm 1974, Phó Tổng
Thống Ford lên thay. ở VN, T.T. Thiệu bắt đầu
gặp những khó khăn với những chống đối
của quần chúng: Phong Trào Luật Sư Tranh Đấu,
Phong Trào Chống Tham Nhũng, v.v... Một phái đoàn
Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ sang Sài G̣n tham quan t́nh
h́nh cứu xét vấn đề viện trợ VN và tiếp
xúc với các nhóm chống đối. Một trong những
đề nghị của nhóm này là chấm dứt ủng hộ
Thiệu và cắt viện trợ cho chính phủ Thiệu.
Yêu cầu này được Thượng Viện Mỹ
quyết định nhanh chóng. V́ chống đối từ
nhiều phía nên Thiệu phải từ chức.
Rồi Phước Long mất. Quân
Đoàn I di tản. 10/3/75, trận đánh Ban Mê Thuột bắt
đầu. 14/3/75, Quân Đoàn II rút trong biển máu đầy
kinh hoàng...
Và những ǵ đến phải đến,
đúng như dự tính của những người hoạch
định chương tŕnh. Tổng Thống Dương
Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân đội CS Bắc
Việt. Những tin về giải pháp 3 thành phần, về
sự can thiệp của người Pháp, v.v... đă không
xẩy ra! Tất cả đă bị lừa! Hoa Kỳ
đă bàn giao miền
Cũng như Pháp, Hoa Kỳ đă thua ở
Việt
Tuy nhiên, nếu xét trên chính lược
th́ sẽ thấy khác: Hoa Kỳ đă thua! Thua v́ đă nhận
định sai lầm về Bạn và Thù, về Ta và Địch,
về bản chất và mục đích của chiến
tranh để thiết kế một chính lược làm trục
cho nhiều chu kỳ chính trị liên tiếp, tạo thuận
lợi cho việc xây dựng “một
trật tự mới cho toàn thế giới” ngay sau
Đệ Nhị Thế Chiến. Do đó người Mỹ
đă chới với trước sự cạnh tranh công
khai và ngấm ngầm của những quyền lực
đang hồi phục ngay trong khối Tự Do. Những yếu
tố không được tiên liệu này đă làm cho cuộc
chiến VN kéo dài hơn thời gian hoạch định, phải
đổ vào VN một số quân lớn hơn dự trù,
phải chi tiêu một ngân khoản vượt ngoài khả
năng. Kết quả là sự suy giảm kinh tế
đưa đến sự chia rẽ nội bộ. Để
tự cứu, Hoa Kỳ đă phải cắn răng, muối
mặt làm một việc tổn thương đến uy
tín siêu cường lănh đạo khối Tự Do: thi hành
một chính sách ngoại giao đi đêm, bàn giao miền
Nam, một quốc gia đồng minh, tiền đồn của
thế giới Tự Do đă được nhiều Tổng
Thống cam kết bảo vệ, với toàn vẹn những
cơ sở quân sự vũ khí của một quân đội
tan ră. Thêm vào đó là lời hứa tái thiết Bắc Việt
bằng một ngân khoản nhiều tỷ Mỹ kim và những
trợ giúp kỹ thuật căn bản để giúp phát
triển kinh tế.
Giai đoạn II của cuộc chiến
Đông Dương với 21 năm trợ giúp của Hoa Kỳ
được nhiều người coi là cơ hội tốt
nhất của người Việt Quốc Gia chân chính
để chống cộng và giải phóng miền Bắc,
thống nhất đất nước và xây dựng lại
theo đường lối dân chủ, tự do mà họ
đă để lỡ. Đây là một nhận định
sai lầm, không sát thực tế! Hoa Kỳ vào VN với một
chính lược rơ rệt, chỉ đạo cho một chiến
lược chống cộng đă vạch sẵn. Người
Việt Quốc Gia chân chính vẫn không trực diện chống
cộng với một sách lược của riêng ḿnh.
Đó là lư do đúng nhất để giải thích tại
sao miền
Ngô Đ́nh Diệm bị Hoa Kỳ lật
đổ. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ
đă bị Hoa Kỳ tố là tham nhũng, buôn bạch phiến.
Tuy nhiên, họ đă làm xong vai tṛ mà Hoa Kỳ muốn!
3.
Giai Đoạn III (1975-1999): Sự Phản Tỉnh của
một Dân Tộc trước kẻ thù Cộng Sản: Thế
Địch Ḥa
Nhờ nhiều yếu tố thuận lợi,
đảng CSVN đă nắm được cơ hội
làm lịch sử, và đă thành công hoàn toàn trong hai giai đoạn
chiến tranh liên tiếp:
– Giai đoạn I (1945-1954) thắng
được thực dân Pháp bằng chiêu bài “Kháng Chiến” làm chủ
được miền Bắc.
– Giai đoạn II (1954-1975) thắng
được cực quyền Mỹ bằng chiêu bài “Giải Phóng” tiếp thu miền
Lư do chính của sự thành công này là
đảng CSVN đă độc quyền dùng được
chiêu bài “Cứu Quốc” và
đeo được mặt nạ “Dân Tộc” để
tuyên truyền lừa gạt được ḷng yêu nước
nhiệt thành của người dân trong việc hy sinh tất
cả cho đại nghĩa chống ngoại xâm. Nhưng
chiêu bài và thực chất là hai điều khác biệt, rất
dễ dàng được phân định bởi thời
gian và chứng minh qua hành động trong thực tế. Vậy,
người CS có yêu nước không? Họ đă làm những
ǵ cho Tổ Quốc và Dân Tộc? Đảng CSVN là công đảng phục vụ
cho quyền lợi nước ṇi hay đă làm công cụ
đảng của ngoại bang để thực hiện
những âm mưu quốc tế theo lệnh ủy nhiệm
và đang biến h́nh để trở thành tư đảng
của bè lũ Tư Bản Đỏ?! Đó là những
câu hỏi có tính cách tra vấn mà người CS và đảng
CSVN phải trả lời trước toà án lịch sử
và lương tâm của dân tộc về vô số tội
ác họ đă phạm trong suốt gần nửa thế kỷ
qua với tư cách lănh đạo đất nước.
Sau khi tiếp thu miền
3.1.
Tù “Cải Tạo”
Hàng trăm ngàn quân nhân quân lực VNCH gồm
đủ các cấp từ hàng binh tới cấp tướng
và viên chức chính phủ, từ trung ương tới xă
thôn đă bị tập trung trong các trại tù với danh
xưng là “trại cải tạo
lao động sản xuất” khắp từ
Người CS vẫn rêu rao là thi hành một
chính sách khoan hồng nhân đạo, nặng về giáo dục
và nhẹ về trừng phạt. Nhưng tất cả những
ǵ xẩy ra trong thực tế đă chứng minh bản chất
thâm độc của họ, họ đă bắt “ngụy quân, ngụy quyền”
làm những việc như tháo gỡ băi ḿn pḥng thủ các
căn cứ cũ bằng cách xếp hàng ngang tiến
đều dùng que tre xâm và tay moi ḿn lên. Đó là một việc
cực kỳ nguy hiểm mà chuyên viên tháo gỡ chất nổ
có thể giải quyết dễ dàng bằng phương
tiện cơ giới và dây nổ chuyền! Người CS
thừa biết điều đó 14 Mặt Trận Cách Mạng
Hưng Phục Việt và cũng có thừa phương tiện
để làm như thế, nhưng họ đă nghĩ
khác. Đó là một cách giết người dưới một
h́nh thức tai nạn tập thể, có lợi nhiều mặt,
và đă có cả trăm người chết, hang ngàn
người mang thương tật, cụt tay, què chân, mù mắt
v́ những lệnh giết người đó!
Người CS vẫn đề cao “người là vốn quí” và tầm
mức quan trọng của kiến thức khoa học kỹ
thuật hiện đại trong lao động sản xuất,
trong việc quản lư nhân lực, nhưng họ đă làm
khác: bác sĩ, kỹ sư, chuyên gia đều xếp hàng
ngang cuốc đất trồng khoai, ḿ, ngô, sắn...
Thực chất trại cải tạo
chỉ là một h́nh thức kinh tế sản xuất của
người CS, một h́nh thức bóc lột sức lao
động của những người bị kết án khổ
sai mà không xét xử, không kỳ hạn ở tù. Họ làm ra
của cải để làm giầu cho đảng như một
thứ nông nô thời Trung Cổ ở Âu Tây, không được
hưởng ǵ ngoài khẩu phần lương thực “tí
hon” gồm toàn gạo ẩm, bo bo, ngô sắn không đủ
làm ấm bao tử!
Nếu không có những đợt
thăm nuôi của gia đ́nh gồm thực phẩm để
bồi dưỡng cơ thể và thuốc men để
chữa trị bệnh tật th́ số tử vong sẽ
lên rất cao ở các trại tù “cải tạo”. Thực
chất chế độ thăm nuôi cũng là một thủ
đoạn tàn độc của đảng dùng để
vô sản hóa nhân dân miền Nam một cách nhanh chóng trong cái
thời gạo châu củi quế để buộc họ
phải bán đi những tư trang vàng bạc mà họ cất
dấu được sau những đợt vơ vét của
đảng như đánh tư sản mại bản, kiểm
kê các tiệm buôn, cơ sở thương mại, kỹ
nghệ để mua lương thực, thuốc men do
đảng độc quyền quản lư để tiếp
tế cho cha, cho chồng, cho con đang đi tù “cải tạo”,
và cán bộ quản giáo cũng lợi dụng chế độ
thăm nuôi như một ân huệ ban phát cho các tù nhân
được gọi một cách hoa mỹ là “cải tạo viên”: phải
lao động sản xuất tốt mới được
viết thư về thăm gia đ́nh, được gặp
gia đ́nh trong những kỳ thăm nuôi.
Học tập “tốt” là yêu cầu của
trại tù và là điều kiện để được
tha về đoàn tụ với gia đ́nh. Nhưng thế
nào là “tốt”?! Nó cũng co dăn như “tiêu chuẩn phân định thành phần giai cấp”
trong hồi Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc
(1954) và quân dân miền Nam cũng đă được đảng
“chiếu cố” một cách tận t́nh, như xưa đảng
đă đối xử với giai cấp địa chủ
trong tinh thần giai cấp đấu tranh, chỉ khác là
bây giờ là giai cấp “Bắc” chống giai cấp “Nam”
trong tinh thần thù hận ganh tị ti tiện của nhân
tính, ghét kẻ may mắn hơn ḿnh!
3.2.
Chiến Dịch “Hoa Nở Về Đêm”
Gia đ́nh là đơn vị nền tảng
của xă hội, là mối khởi đoan của Ngũ
Luân, năm giềng mối căn bản để ràng buộc
con người vào xă hội: t́nh nghĩa vợ chồng,
t́nh nghĩa cha con, anh chị em, thầy tṛ và t́nh nghĩa
vua tôi, tức mối liên hệ song phương nhân dân với
chính quyền.
Mục đích cao cả và thiêng liêng của
đạo vợ chồng là tạo dựng người
cho những thế hệ kế tiếp, làm đông đúc
ḍng họ, làm hưng thịnh giống ṇi. Không có sự kết
hợp vợ chồng trên một nền tảng vững
chắc tất không có cha con, không có anh chị em, không có thầy
tṛ, không có nước ṇi và không có xă hội loài người.
Lịch sử tranh đấu của dân
tộc ta cũng đặt khởi đoan trên nền
đạo thống vợ-chồng với cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng chống Bắc xâm giành độc
lập. Tiêu chuẩn “Trai trung
hiếu, gái trinh hạnh” đă đưa đến những
khuôn mẫu tuyệt vời “chàng
đi theo nước, thiếp theo chàng” và nối tiếp
trong tiến tŕnh sống tiến hóa là những thế hệ
“Hiếu tử, trung thần”
mang xác thân bao che cho Tổ Quốc, ch́a vai đỡ gánh nặng
non sông. Nhiều sử gia trên thế giới khi nghiên cứu
về VN, như Joseph Buttinger, trong The Smaller Dragon, đă đặt câu hỏi là: “Tại sao trong hàng ngàn năm
đô hộ mà dân tộc Việt Nam vẫn không bị
đồng hóa và Việt Nam vẫn c̣n là một quốc gia
biệt lập?”
Câu trả lời đúng căn cứ
trên yếu tố văn hóa là v́ Việt
Với chiến dịch “Hoa Nở Về Đêm”, đảng CSVN đă ra mật
lịnh cho các cán bộ CS phá nền
tảng gia đ́nh trong xă hội miền
Đảng đă đạt được
nhiều mục đích qua chiến dịch trên:
– Dùng để đăi ngộ các cán bộ
miền Bắc, sau một thời gian dài gian khổ theo
đảng mà chưa được tưởng thưởng.
Tuy nhiên đây cũng là một sự đóng dấu bằng
tội ác làm cho họ bắt buộc phải bám vào đảng
để tồn tại, để tiếp tục hưởng
thụ, tương tự như những bần cố
nông đă bị đóng dấu bằng máu địa chủ
trong chiến dịch đấu tố ở miền Bắc
(1953-1956).
– Cô lập ngụy quân, ngụy quyền:
Khi họ được tha về sẽ không có nơi
nương tựa, bị biến thành một giai cấp
cùng khốn và tuyệt vọng nhất của xă hội, v́
bị đày đọa bởi chính quyền, bị ruồng
bỏ bởi cả vợ con thân yêu, những người
một thời đă từng “đầu
gối tay ấp” thề hứa cùng nhau đi xa hơn cả
cuộc đời!
– Phá vỡ truyền thống ngàn năm
của văn hóa Việt đặt nền tảng trên
đạo thống gia đ́nh, t́nh nghĩa vợ chồng,
t́nh nghĩa anh chị em, t́nh nghĩa làng xóm và t́nh nghĩa
đồng bào một nước. Trên ư nghĩa và hậu
quả, chiến dịch “Hoa Nở
Về Đêm” mang những nét tương đồng của
chiến dịch Phản Phong, chống tư tưởng lề
thói phong kiến, đă được thực hiện ở
miền Bắc (1953-1956). Trong chiến dịch này, đảng
cũng đă thanh trừng một số lớn đảng
viên kỳ cựu thuộc phe Trường Chinh bằng cách
qui vào giai cấp địa chủ để tố khổ,
bắn giết và đi tù, vợ của các đảng viên
bị thanh trừng này cũng bị o ép mua chuộc bằng
quyền và lợi để lấy các cán bộ
đương nhiệm. Sự kiện này đă chứng
minh bản chất phi nhân, vô luân của nền văn hóa vô
sản mang nặng tính Đảng tàn bạo thường
được mệnh danh là nền văn hóa tam vô: vô gia
đ́nh, vô tổ quốc, vô tổ tiên.
3.3.
Triệt hạ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt
Nam (MTGPMNVN)
Ngay sau khi tiếp thu xong miền Nam, Hà Nội
bắt đầu công cuộc triệt hạ các nhân vật
trong MTGPMNVN; những nhân sĩ miền Nam như Nguyễn
Long, Phùng Văn Cung... đều bị canh chừng. Nguyễn
Hữu Thọ, Nguyễn Thị B́nh lộ diện chỉ
là bù nh́n, bảo sao làm vậy. Nhóm miền
Tất cả biểu tượng c̣n lại
của MTGPMNVN chỉ là cây cờ Xanh Đỏ Sao Vàng tung bay trên nóc dinh Độc Lập
cũ. Hơn một năm sau, khi quyết định thống
nhất Bắc
Xét trên tiến tŕnh h́nh thành và hủy thể
của đảng CSVN, đây là giai đoạn II
được gọi là “công
thần chủ nghĩa”. Phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ
sau khi thắng được cực quyền Mỹ và tiếp
thu miền Nam, uy thế cá nhân và phe nhóm lên rất cao trong
đảng nên đă toàn quyền trong việc cắt đặt
người vào tiếp quản miền Nam. Miền Nam
đă trở thành miền đất mơ ước của
cán bộ CS và người miền Bắc, tuy miền Nam bị
kết tội là đồi trụy và phồn vinh giả tạo
nhưng qua câu nói: “Ba tháng đi
Nga không bằng ba tuần đi Đông Đức và ba tuần
đi Đông Đức không bằng 10 ngày chơi Sài G̣n”
đă cực tả điều trên. Giấc mơ xă hội
chủ nghĩa kéo dài một đời của người
cán bộ CS là làm sao có được một chiếc đồng
hồ đeo tay, một 16 Mặt Trận Cách Mạng
Hưng Phục Việt chiếc đài (radio), một chiếc
xe đạp th́ nay đă trở nên quá dễ dàng nếu
được đề cử vào
3.4.
Đào mồ quật mả Tử Sĩ Quân Lực Việt
Hành hạ kẻ thất thế đă là
điều đáng xấu hổ trên phương diện
tư cách cá nhân, huống hồ đây lại là một
chính sách có mục đích trả thù kẻ đă chết. Những
nghĩa trang quân đội ở Biên Ḥa, Tân Sơn Nhất
đều bị phá hoại, đào bới, san bằng. Nghĩa
trang Mạc Đĩnh Chi cũng bị chung số phận.
Dù biện minh bằng lư do ǵ chăng nữa, người
CS cũng không thể che dấu được cái tâm địa
hẹp ḥi ti tiện, thiếu văn minh trước sự
phê phán của quốc tế và vô luân bất nhân dưới
quan điểm của dân tộc.
“Mồ mả
gia tiên” là một phần
trong tôn giáo thờ cúng tổ tiên của Dân Tộc ta. Hàng
năm vào tiết Thanh Minh của mùa Xuân, người Việt
Chính, Tà tuy xung khắc nhau như nước
với lửa nhưng lại rất khó phân. Người Cộng
Sản chủ trương vô Tổ Quốc, vô gia đ́nh,
vô tôn giáo nhưng lại gian lận tự nhận là kẻ
chính thống kế thừa truyền thống dân tộc. “Nhầm, thua; vô ư, mất tiền”
đó là một thực tế lịch sử mà người
Việt phải chấp nhận trong hối tiếc vô cùng!
3.5.
Đuổi Thương Binh ra khỏi Bệnh Viện, Phế
Binh ra khỏi Khu An Dưỡng
Ngay sau 30/4/1975, người CS đă tiếp
thu các bệnh viện quân đội và đă đuổi
các thương binh đang điều trị ra khỏi bệnh
viện và các phế binh ra khỏi các khu an dưỡng.
Đây là những người đau khổ nhất của
một chế độ đă tan ră. Họ bị bỏ
rơi không có nơi nương tựa, không có người
săn sóc thuốc men. Nhiều người đă đi
đến quyết định tự tử để tự
giải thoát khỏi đau đớn, tủi nhục. Nhiều
người đă chết v́ thiếu săn sóc thuốc men
và thiếu ăn, một số đông đă kiếm sống
bằng nghề ăn xin, hát dạo nơi bến xe,
nơi họp chợ. Họ sống được là nhờ
sự san xẻ của những người cùng chung một
số phận “ngụy” của miền
Nh́n những thương phế binh dắt
díu nhau đi lang thang trên hè phố, kẻ què đỡ kẻ
cụt, dẫn kẻ mù, xốc xếch trong bộ đồ
tác chiến rách tả tơi của mọi binh chủng mới
thông cảm được nỗi đau nhục của kẻ
chiến bại. Họ là h́nh ảnh trung thực nhất của
một quân đội anh hùng, đă làm trọn nhiệm vụ
của người lính chiến ǵn giữ đất
nước, ngăn chống địch thù nhưng đă bị
cấp chỉ huy bất xứng, giới lănh đạo bất
tài phản bội, Đồng Minh bỏ rơi. Dư luận
quốc tế thường nhân danh lương tâm của
loài người để giúp đỡ CS Bắc Việt
trong cuộc chiến Nam Bắc. Nay họ nghĩ ǵ về
những thảm cảnh xă hội đang xẩy ra ở
VN, nạn nhân của một sự thiên vị, bất công,
bắt nguồn từ mặc cảm tự tôn bị tổn
thương sau Đệ Nhị Thế Chiến của
các quốc gia tự nhận là văn minh.
Nh́n những thương phế binh của
Quân Lực VNCH nay đă tan ră, đang sống lây lất bên
lề xă hội, người chiến binh CS nghĩ ǵ về
họ, về ḿnh, về thân phận chung của những
người cầm súng bảo vệ một chế độ,
phục vụ một lư tưởng?! Đảng Cộng
Sản Việt Nam đă nổi tiếng về những kế
hoạch dự pḥng để làm “một cuộc chiến không thương binh” mà
người chiến binh CS th́ quá trẻ và đơn sơ
để suy nghĩ sâu xa!...
3.6.
Đánh Tư Sản Mại Bản
Chiến dịch này được thực
hiện sau khi thống nhất Nam Bắc và đảng quyết
định đưa cả nước đi thẳng lên
xă hội chủ nghĩa không kinh qua giai đoạn chuyển
tiếp. Trước đó đảng đă cho thi hành nhiều
đợt vơ vét tài sản nhân dân bằng lệnh đổi
tiền mới với một gía cao hơn trước và một
măi lực thấp hơn trước. Mức tiền đổi
đă được hoạch định trước cho từng
cá nhân, từng hộ khẩu với nhân số ước
lượng. Số tiền dư phải nộp cho chính phủ
để lấy biên nhận!
Đối tượng chính của chiến
dịch này là các nhà buôn bán lớn, các nhà tư sản mại
bản, các nhà tư sản dân tộc làm chủ các xí nghiệp
sản xuất. Tất cả đều phải nộp
cho chính phủ để rồi hoạt động dưới
h́nh thức tổ hợp hay quốc doanh. Với chiến
dịch này đảng đă thu được rất nhiều
tiền, ngoại tệ và vàng bạc, trị giá nhiều
chục tỷ Mỹ kim. Đây là một mối lợi lớn
mà đảng đă nhắm trước và chuẩn bị
cho mọi biện pháp để sang đoạt. Đây cũng
là một rẽ ngoặt trong tiến tŕnh h́nh thành và hủy
thể của đảng CSVN đi từ “công thần chủ nghĩa” sang giai đoạn
chót “ly trung tự hoại”.
V́ danh vị, v́ quyền lợi cá nhân mà phe đă phân hoá ra
thành nhóm và ḱnh chống nhau. Tiêu chuẩn phân nhiệm, phân
công, và phân lợi đă bị vi phạm trầm trọng.
Đảng lănh đạo, nhà nước quản lư, nhân
dân là một nguyên tắc được đưa ra
nhưng không được thi hành. Nay đảng vượt
qua nhiệm vụ lănh đạo để lấn sang lănh
vực quản lư và đảm nhiệm luôn việc làm chủ
các cơ sở xí nghiệp, vấn đề không phải
chỉ là “hồng hơn chuyên”
như trước đây mà là con ông cháu cha và gốc lớn.
“Nhất thế nh́ thân”
đă tạo thành một hệ thống đảng tham nhũng
có đường lối, có sách lược!
3.7.
Đuổi dân thành phố đi vùng Kinh Tế Mới
Để thực hiện kế hoạch
di dân từ miền Bắc vào Nam, cũng như để
có chỗ cư trú cho một số lượng lớn nhân
viên nhà nước được gửi từ Bắc vào
làm việc, đảng đă áp dụng chính sách lùa dân
đi vùng kinh tế mới.
Qua hệ thống công an phường
khóm, đa số gia đ́nh “ngụy quân ngụy quyền”
đă được chỉ định đi vùng kinh tế
mới được mở ra những vùng hoang vu, rừng
rậm đầy muỗi vắt và bệnh tật. Người
dân thành phố được tập trung rồi chở
đi bằng xe đ̣ bỏ tại đó rồi để
mặc t́nh tự mưu sinh thoát hiểm bằng
phương tiện cá nhân. Đă có rất nhiều người
chết v́ bệnh tật, v́ đói, khoai sắn trồng
chưa thu hoạch được th́ đă hết
lương dự trữ. Nhiều người đă phải
bỏ trốn về thành phố sống chui rúc ở chân cầu,
hè phố, làm đủ nghề để độ nhật.
Đôi khi ở ngay hè căn nhà xưa ḿnh làm chủ, nay
đă có người từ Bắc vào chiếm hữu! Thành
phố nay có hai loại dân, loại dân cũ gốc “ngụy”
bị chèn ép đủ điều, và loại dân mới thuộc
gốc “đảng” đang làm cán bộ, công nhân viên nhà
nước ở các ty sở đầy uy quyền thuộc
giai cấp ưu đăi của chế độ.
3.8.
Kế hoạch xuất cảng người
Dù đă nhiều đợt thu vét tài sản
của nhân dân miền
Đợt đi chính thức dành cho
người Việt gốc Hoa, và những đợt
đi bán chính thức dưới dạng đi chui
được Hải Quan và công an tỉnh bao che bán băi.
Trung b́nh mỗi người phải mất từ 5 tới
10 cây vàng để ra đi, và trước khi ra đi họ
phải thanh toán nhiều thứ thuế do nhà nước
đặt ra. Với những người đi chui, công an
cho theo dơi điều tra về khả năng tài chính. Và rất
ít người ra đi một lần mà thoát, thường
bị bắt nhiều lần, mỗi lần bị bắt
lại phải chạy vài cây vàng để được
tha về. Tất cả chỉ nhằm mục đích lấy
hết vàng của lớp người ra đi.
Thực chất của cuộc xuất
cảng người là đảng nhằm vào các mục
đích:
– Vét hết số vàng trong dân để
dân không c̣n phương tiện chống đối, mua trữ
lương thực, vơ khí hoặc mua chuộc hủ hóa cán
bộ qua mặt chính quyền.
– Tống khứ được một
số lượng người bất măn khá lớn để
làm giảm áp lực chống đối trong nước,
đỡ phải dùng công an canh chừng thường xuyên.
– Riêng đối với Hoa kiều ở
Chợ Lớn, đảng triệt hạ được
mối nguy đạo quân thứ 5 trước khi có sự
đụng độ chính thức về quân sự giữa
VN và Khmer Đỏ (1978), VN và Trung Cộng (1979).
Nhưng cũng chính v́ chính sách xuất cảng
người đem lại một số lợi quá lớn
nên các phe nhóm đua nhau tổ chức vượt biên bán băi
để thu lợi riêng cho ḿnh. Sự tự ư kinh tài này
đă đưa đến những đụng chạm phe
nhóm gây cảnh phe làm phe phá, gài bẫy giết hại nhau và
đi đến việc chia vùng ảnh hưởng để
làm ăn không lư ǵ đến luật lệ quốc gia,
đường lối của trung ương. Mỗi phe
phái hùng cứ một địa phương với đủ
quyền sinh sát như một sứ quân.
Đă có hơn 1 triệu 500 ngàn người
vượt biên và đến được bến bờ
Tự Do, được định cư ở các quốc
gia trên khắp thế giới. Nhưng cũng đă có gần
một triệu người chết v́ vượt biên. Họ
chết v́ hải tặc cướp của, hăm hiếp rồi
thủ tiêu. Họ chết v́ băo tố trên đại
dương. Họ chết v́ đói khát, v́ trôi dạt vào
hoang đảo... Lư do của những người bỏ
nước ra đi thường được phân làm hai
loại: v́ chính trị và v́ kinh tế. Tuy nhiên hăy nh́n vào thực
tế để t́m hiểu tại sao họ ra đi. Ra
đi v́ họ không có những điều kiện căn bản
tối thiểu để sống như Con Người
theo tiêu chuẩn qui định của thời đại.
Trước hết chúng ta phải Là Người, có bản
chất Người mới có thể Làm Người để
Thành Người. Súc vật dù sống vạn triệu tỷ
năm cũng không thể Thành Người. Dưới sự
lănh đạo của đảng CSVN, con người bị
d́m xuống ngang hang súc vật để làm súc vật và
thành súc vật. Chế độ phi nhân và vô luân này có thể
tồn tại được trên quê hương VN chúng ta
là v́ có sự tiếp tay của những ác thế lực
quốc tế, là v́ sự ấu trĩ, thờ ơ, u tối
của những người có trách nhiệm ở tầm mức
quốc gia cũng như trên b́nh diện quốc tế. Dân
tộc Pháp hănh diện về một nền văn hóa nhân bản
mà điểm sáng chói là cuộc Cách Mạng Dân Quyền 1789.
Nhưng chính quyền Pháp lại là chính phủ đă trợ
giúp kéo dài sự tồn tại của chế độ
độc tài ở VN. Nhân dân Hoa Kỳ tự hào về một
nền văn hóa khai phóng nhân chủ xây dựng trên cuộc
Cách Mạng Nhân Quyền 1862 làm khuôn mẫu cho toàn thế giới
nhưng chính phủ Hoa Kỳ cũng lại là chính phủ
có trách nhiệm nhiều nhất về sự thống khổ
triền miên của dân tộc Việt Nam.
Tự Do, B́nh Đẳng, Bác Ái, Công Lư, và
Lương Tâm Nhân Loại được nói tới như
một chiêu bài để thực hiện thủ đoạn
chính trị hay được giương cao như một
đuốc thiêng lư tưởng để ḥa hợp loài
người trong tiến tŕnh thống nhất thế giới?!
Nếu là chiêu bài th́ chẳng có ǵ đáng nói. Nhưng nếu
là lư tưởng th́ cần phải được chứng
minh bằng những hành động cụ thể và thiết
thực hơn nữa!
3.9.
Nạn Măi Dâm và việc xuất cảng phụ nữ
Người CS đă tố cáo miền
Nam là một xă hội phồn vinh giả tạo dựng
trên nền văn hóa lai căng đồi trụy, đầy
dẫy những tệ trạng x́ ke ma tuư, trộm cướp,
đĩ điếm, tham nhũng. Đó là một nhận
xét đúng về một xă hội đang tan ră. Nhưng sau
khi tiếp quản miền
Những trại cải tạo sản
xuất dành cho những người x́ ke ma túy, những
trung tâm Phục Hồi Nhân Phẩm dành cho gái măi dâm
được mở ra dưới dạng thức nông
trường tập thể đă không giải quyết
được vấn đề, cho nên tuy miền Nam nghèo
đi, xơ xác hơn xưa nhiều, nhưng tại các
đô thị, tỉnh, những tệ trạng của thời
“Mỹ Ngụy” vẫn tồn tại và c̣n gia tăng
hơn xưa! Sài G̣n đă bị người CS gọi là “động điếm lớn của
miền Nam” với “500 ngàn
gái măi dâm để phục vụ đội quân Mỹ và
lính đánh thuê ngụy quân ngụy quyền” th́ nay “Mỹ đă cút, Ngụy đă
nhào” nhưng sao số lượng gái măi dâm vẫn
như xưa và c̣n hơn xưa v́ nhu cầu ăn chơi của
đảng, nhà nước CS được đưa
thành quốc sách. Tại Sài G̣n, số lượng khách sạn
và vũ trường đă vượt xa chế độ
cũ và c̣n đang được dự trù xây thêm nữa
để phù hợp với nhu cầu và tiêu chuẩn của
nền “kinh tế thị trường CS”, để chuẩn
bị tiếp đón người ngoại quốc vào đầu
tư kinh doanh. Măi dâm đă trở thành chủ điểm của
quốc sách du lịch do đảng đề ra và tự
tay thực hiện qua những người thân tín, và VN
đă nổi tiếng là nơi ăn chơi rẻ nhất
thế giới với thức ăn ngon lại với gái
trẻ đẹp! Song song với hệ thống nhà hàng,
khách sạn được xây cất rầm rộ từ
Bắc vào
Hồ Chí Minh từng tuyên bố: “Đánh thắng giặc Mỹ
ta sẽ xây dựng lại đất nước mười
phần to đẹp hơn, đàng hoàng hơn” để
trấn an nhân dân về hậu quả khốc liệt của
chiến tranh và củng cố niềm tin của nhân dân vào
đảng CS.
Nhưng sau 17 năm làm chủ đất
nước (1975- 1992), đảng đă thi hành nhiều
chương tŕnh, nhiều đợt sửa sai mà quê
hương vẫn tan hoang, đồng bào vẫn nghèo
đói. Giặc đói, giặc dốt, giặc bệnh tật
càng ngày càng bành trướng, dân trí thêm u tối, dân t́nh thêm
ly tán và VN đă trở thành một trong mười quốc
gia nghèo đói lạc hậu nhất thế giới dù có
đủ những điều kiện thuận lợi về
đất đai, ruộng vườn ph́ nhiêu, hầm mỏ
quí, về dân số với hơn 60 triệu người
lao động cần cù.
Người CS đă thành công trong chiến
tranh nhưng đă thất bại trong ḥa b́nh! Bản chất
của chiến tranh là phá hoại bằng bạo lực,
là chết chóc, tổn hao xương máu chiến sĩ và
đồng bào. Nhưng mục đích tối hậu của
chiến tranh là cực độ của nhân ái để
xây dựng lại Tổ Quốc, gây dựng lại giống
ṇi theo những khuôn mẫu tuyệt hảo trong điều
kiện lư tưởng của hoà b́nh!
Thất bại trong ḥa b́nh là dấu hiệu
rơ rệt nhất tố cáo sự bất tài của giới
lănh đạo và sự tồn tại lỗi thời của
đảng CS trong một hoàn cảnh đă đổi thay
với những nhiệm vụ lịch sử nặng, khó
hơn trước. Người Quốc Gia đă mất một
cơ hội làm lịch sử từ 1945 đến nay
nhưng người CS cũng đă thất bại trong việc
chứng tỏ tài năng từ 1975 đến nay.
Để bào chữa, người CS
thường tố cáo sự phá hoại của địch
ngoài, thù trong, chính sách cấm vận của Hoa Kỳ và sự
chống đối của “tàn dư Mỹ-Ngụy”. Điều
đó không đúng. Với chính sách “bắt lầm hơn bỏ sót”, với hệ thống
trại tù, trại lao động sản xuất, khu kinh tế
mới, với hệ thống công an quyền uy tuyệt
đối, không một sự chống đối nào có thể
tồn tại nếu không có sự tiếp tay của chính
những người CS. Với sự tan ră của khối
CS Đông Âu, Liên Sô, sự lỗi thời của chủ
thuyết Marx, sự hạ bệ các lănh tụ thần
tượng cũ, kể cả Lenin... đă làm cho chính
người CSVN bừng tỉnh, bàng hoàng. Sự phản tỉnh
của toàn dân và các cấp thừa hành trong quân đội cũng
như trong đảng đă tạo ra thế Địch
Ḥa: chán đảng, khinh lănh đạo và chờ đợi
một sự đổi thay! C̣n sự cấm vận của
Hoa Kỳ th́ tuy có trên h́nh thức nhưng không hữu hiệu,
bằng chứng là đă có nhiều quốc gia đồng
minh của Hoa Kỳ vi phạm lệnh cấm vận để
đầu tư vào VN kiếm lời! Trong chính trị không
có t́nh cảm, đồng minh hay kẻ thù, mà chỉ có quyền
lợi!
Thất bại trong ḥa b́nh c̣n tố cáo
đảng CSVN là công cụ của Đệ Tam Quốc Tế
CS và các lănh tụ CSVN là tay sai ngoại bang được ủy
nhiệm để thi hành “nghĩa vụ quốc tế”,
đă đưa dân tộc vào ṿng sát hủy của bom đạn
để giải quyết những xung đột quyền
lợi của các 20 Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục
Việt ác thế lực quốc tế. Họ chỉ biết
đến quyền của cá nhân, đến lợi của
gịng họ và phe nhóm trong đảng miễn sao họ
được hống hách, ănngon mặc đẹp, c̣n
để cả một dân tộc tàn lụi trôi dạt tới
bờ vực thẳm của diệt vong! Đó là lư do giải
thích sự hủy thể của đảng CSVN, để
đi từ vị trí công đảng,
đấu tranh v́ quyền lợi của Nước Ṇi,
sang công cụ đảng
làm công tác ủy nhiệm của Đệ Tam Quốc Tế
và biến thành tư đảng
của bè lũ Tư Bản Đỏ trong bộ chính trị,
một loại băng đảng tội ác, cướp của
giết người, vơ vét tài sản của quốc gia
và nhân dân!
3.10.
Phong Trào Bán Nhà Bán Đất cho ngoại quốc
Thấy được sự lỗi thời
của chủ thuyết Marx, nh́n rơ sự đổ vỡ
của Liên Sô và CS Đông Âu, người CSVN với đặc
tính cuồng tín và giáođiều đă tự hủ hóa
để trở thành bọn cơ hội chủ nghĩa
trong thực tế xă hội VN. Nh́n được ngày tàn của
chế độ, các Tư Bản Đỏ trong chính trị
bộ tính chuyện tháo thân, bảo toàn lấy người
và của. “Dân Chủ Đa Nguyên” chỉ là một thủ
đoạn của những ác thế lực quốc tế
muốn giúp Hà Nội chuyển quyền một cách êm thắm
dưới ảnh hưởng của các thế lực chống
Mỹ. Đảng CSVN đă quyết định bán nhà cửa
đất đai ở các thành phố lớn, Hà Nội,
Sài G̣n, Vũng Tầu và nhiều khu đất, khu mỏ
trên khắp nước cho các công ty ngoại quốc để
lấy những số tiền lớn chia chác nhau.
Sự kiện này có một toan tính rơ rệt:
đặt chế độ chuyển tiếp trước
một sự kiện đă rồi không thể lật
ngược lại; sự thống trị kinh tế của
các thế lực quốc tế qua hệ thống cơ
xưởng sản xuất kỹ nghệ, thương mại
trên nước ta sẽ biến VN thành “tô giới” – một
h́nh thức thuộc địa – của các quốc gia
tư bản. Và xin hăy nhớ, sự nô lệ trên
phương diện kinh tế nguy hiểm thập phần
hơn sự lệ thuộc chính trị. Với số tiền
vơ vét của nhân dân được chuyển ra cất dấu
tại các quốc gia tự do trên khắp thế giới,
Tư Bản Đỏ sẽ bỏ tiền ra mua lại
các cổ phần của các cơ xưởng ngoại bang
với giá cao hơn xưa để trở lại VN lũng
đoạn đất nước dân tộc một lần
nữa dưới h́nh thức tài phiệt. Đây là h́nh thức
“giặt tiền” money laundering
của các tổ chức tội ác trên thế giới
thường dùng!
Bọn Tư Bản Đỏ và bè lũ
thân tín mưu tính tồn tại và hưởng thụ, các
thế lực quốc tế mưu tính để thủ lợi.
Nhưng dân tộc Việt Nam cũng mưu tính để
làm một cuộc đại Cách Mạng giải quyết
một cách triệt để, toàn diện và hướng
thượng mọi vấn đề liên quan tới các mặt
Dân Tộc, Dân Quyền và Dân Sinh.
3.11.
Tiến tŕnh Phản Tỉnh của Dân Tộc Việt Nam về
kẻ thù Cộng Sản
Chủ thuyết Marxist-Leninist là một
tà thuyết nhằm phục vụ cho âm mưu thành lập
Đế Quốc Nga dưới một h́nh thức mới
để thống trị và bóc lột các quốc gia nhỏ
yếu trên thế giới. Lư tưởng đấu tranh
cho giới vô sản nghèo đói trên thế giới chỉ
là một chiêu bài được dùng để lừa gạt
những nạn nhân đang bị đế quốc thực
dân bóc lột. V́ ḷng căm thù cao độ đối với
kẻ thù trước mặt mà nhiều người đă
liều lĩnh chấp nhận cả việc bán linh hồn
cho quỉ đỏ, để rồi lỡ bước
sa chân, ôm hận suốt đời với cảnh “tái nô dịch chủ” tiếp
tục kiếp ngựa trâu dưới quyền ông chủ
mới, tàn ác keo bẩn hơn chủ cũ gấp bội
phần. Đó là cái lầm to của thế kỷ!
Khởi điểm của đoạn
đường bi thảm mà dân tộc ta đang thoát vượt
đă nằm trong quá khứ xa vời của thời
Đông Du ở đầu thế kỷ này. Ngày Hồ Chí
Minh, lúc đó mang tên Nguyễn Ái Quốc, khi “giác ngộ” chủ
nghĩa CS đă la lớn trong đêm vắng: “Đây rồi con đường
giải phóng dân tộc (sic)” cũng là thời điểm
báo hiệu một chu kỳ đau thương sẽ đến
và kéo dài trên quê hương chúng ta. Hồ Chí Minh không phải
là người đầu tiên ăn phải... cháo lú để
quên nước ṇi, trở thành đảng viên CS phục vụ
cho Đệ Tam Quốc Tế, nhưng lại là phần tử
trung kiên và có công nhất với tổ chức này khi thành
công đưa cả một dân tộc vào quĩ đạo
CS, phục vụ quyền lợi đế quốc Nga
dưới một chiêu bài hào nhoáng: làm nghĩa vụ quốc
tế.
Người đầu tiên trong giới
đấu tranh của phong trào Đông Du nh́n được
âm mưu của các thế lực đế quốc chèn ép
nhau qua chiêu bài chủ thuyết là nhà cách mạng lăo thành Sào
Nam Phan Bội Châu. Để cảnh tỉnh các đồng
chí về hiểm họa vong thân, Cụ Phan đă nói một
câu đơn giản mà sâu sắc: “Dân chẳng duy tâm, dân chẳng duy vật, dân chỉ
duy dân”. Nhưng cũng chỉ v́ lời nói chí t́nh phản
ảnh truyền thống nhân bản dân tộc mà Cụ bị
phản bội bán đứng cho mật thám Tây!
Do đó những người phản tỉnh
sớm nhất về CS là các thành phần đảng phái
đă từng có kinh nghiệm đớn đau về kẻ
thù. Ngoài ra tất cả đều mù mờ về bản
chất của chủ thuyết lẫn tâm địa của
bọn lănh tụ qua lư luận ấu trĩ “cộng sản th́ cũng yêu
nước chống thực dân vậy”!
Thành thật luận xét, ngay trong hàng ngũ
đấu tranh của phía Quốc Gia gồm cả lănh tụ
chính đảng, chính khách, nhân sĩ cũng chưa triệt
để phản tỉnh về kẻ thù CS. Họ vẫn
c̣n lấn cấn t́nh cảm, không dứt khoát lập
trường để nh́n xa trông rộng, thẳng tay tiêu
diệt kẻ thù. Nguyễn Hải Thần, lănh tụ Việt
Cách (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội) đă
đứng ra bảo lănh cho Hồ Chí Minh khi Hồ bị
Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam. Trần Trọng
Kim, Thủ Tướng chính phủ, đă đứng ra vận
động Nhật để xin tha cho các cán bộ CS bị
Nhật bắt giữ. Bà Cả Tề, một nhân sĩ Bắc
Hà, đă từng lặn lội đi thăm nuôi các đảng
viên CS cao cấp bị Pháp bắt giam ở các trại tù mạn
ngược. Họ không nghĩ rằng đó là hành động
“dưỡng hổ di họa”,
nuôi cọp để bị cọp vồ.
Năm 1954, gần 1 triệu người
bỏ miền Bắc vào
Người dân miền Bắc chỉ thực
sự phản tỉnh khi sống dưới chế độ
CS. Nhưng mọi h́nh thức chống đối đều
bị đàn áp không nương tay. Vụ Nhân Văn – Giai Phẩm của giới văn nghệ
sĩ kháng chiến, vụ Quỳnh
Lưu khởi nghĩa của nông dân đều
được giải quyết nhanh gọn bằng súng
đạn và sau đó bằng những bản án tù đầy.
Người dân miền
Tuy nhiên nếu quan niệm kinh nghiệm
bản thân là điều kiện cần thiết để
giác ngộ th́ cả một dân tộc đă có điều
kiện để phản tỉnh một cách toàn diện
và triệt để về kẻ thù CS để quyết
định phải làm một cái ǵ trước khi quá muộn.
4.
Sự Phục Hoạt của ṇi Việt trong một cuộc
Cách Mạng Triệt Để, Toàn Diện và Hướng
Thượng
Phải mất gần một thế kỷ
để dân tộc ta phản tỉnh một cách triệt
để và toàn diện về Bạn, về Thù, và về
chính Ta để nhận ra nguyên tắc chỉ đạo
trong chính trị: Ta là chính, Bạn
và Thù đều là tùy phụ! Ta chính là khởi điểm
của đấu tranh để sống, c̣n, nối, tiếp,
tiến, hóa và Ta cũng là đích điểm của đấu
tranh trong tiến tŕnh Là Người, Làm Người, Thành
Người! Để đạt đích điểm này, Tổ
Tiên Việt cũng đă để lại những
phương thức mà sự quan trọng chủ yếu nằm
trong chữ Tự Lực để
Tự Thắng rồi Tự Cường để
đạt Tự Do trong tinh
thần Tự Chủ!
Huyền thoại “t́nh hữu nghị xă hội chủ nghĩa”
đă đổ vỡ khi chiến tranh xẩy ra giữa những
nước anh em như CSVN và CS Tầu (1979).
Huyền thoại “đồng minh trong khối tự do” cũng
đă tan biến khi miền
Nhờ có phản tỉnh, do những
đớn đau, bẽ bàng, tủi nhục, ê chề kích
thích mà người Việt đă trở về với bản
vị nước ṇi, làm một lựa chọn đúng
đắn: “Tắm ở ao
nhà!”
Trước hiện t́nh của Dân Tộc
và Tổ Quốc, cách mạng nhất định phải xẩy
ra như một tất yếu lịch sử, bằng sức
mạnh của đại khối dân tộc 98% tạo ra sóng đáy để phá vỡ
những đê bờ ngăn chặn và cuốn trôi đi những
rác rến bẩn thỉu thống trị trên mặt tầng
ở đó có tập đoàn CS nay đă trở thành những
tay Tư Bản Đỏ và những tên thời cơ chủ
nghĩa, hoạt đầu, sẵn sàng làm tay sai cho ngoại
bang, cho kẻ thù. Cách mạng phải được hướng
dẫn bằng những tư tưởng cao đẹp,
những khuôn mẫu trọn hảo của một nền
văn hóa có ảnh hưởng trong sự kết buộc
đại khối quần chúng thành một lực, thống
nhất dưới một ngọn cờ, một lănh đạo.
Và ở trường hợp VN này, nền văn hóa truyền
thống của dân tộc ḥa hài t́nh nghĩa để chính
đáng yêu ḿnh, độ lượng yêu người cộng
với tinh thần khoa học, khai phóng của thời đại,
sẽ là nền tảng vững chắc của một lập
trường Việt làm trục cho những dự kế
trong cả hai tầng phá và xây theo đúng ba phẩm tính toàn
diện, triệt để và hướng thượng của
một cuộc cách mạng bao gồm mọi vấn đề
Dân Tộc, Dân Sinh và Dân Quyền.
Tầng phá sẽ gồm có phá địch
ngoài, phá thù trong, phá những tồn tại lỗi thời
của xă hội đă qua, phá những hận thù làm chia ly
dân tộc, phá những ngộ nhận làm xa cách anh em, phá những
mặc cảm thấp hèn, thua kém ở ḷng ta, phá những cố
chấp tự tôn, ngạo mạn ở long người, và
xây đắp những khuôn mẫu tuyệt vời không những
cho Ta mà c̣n chung cho cả loài người yếu, ở
đủ mọi tầng cấp: Dân – Nước, Cá Nhân –
Nhân Loại.
— Lư Tưởng cao đẹp của
Nhân Loại là Thống Nhất trong B́nh Đẳng.
— Mục đích thực tế của Quốc
Gia Dân Tộc là Độc Lập trong Thịnh Vượng.
— Mơ ước b́nh thường của
con người là Tự Do và Hạnh Phúc.
Đó phải là những ǵ chúng ta phải
xây đắp với tư cách là dân của nước Việt
Nam, là con của một ṇi t́nh có một trái tim vĩ đại
biết yêu thương, biết uất hận nhưng cũng
biết dung thứ trước những hối cải
ăn năn của thù xưa, của bạn cũ và của
rất nhiều những phản bội không tên đă
được ngụy trang chôn dấu trên con đường
tiến hóa mà dân tộc ta đi, trong đời sống cá
nhân mà chúng ta sống.
Và đó là những ǵ mà chúng ta phải
xây đắp bằng rất nhiều máu, máu của hy sinh
dâng hiến và rất nhiều nước mắt, nước
mắt của yêu thương, t́nh nghĩa, chứ không phải
chỉ bằng bạo lực của bom đạn vô hồn.
Hoa
Kỳ, tháng 6/1992
Mặt Trận Cách Mạng
Hưng Phục Việt
