MẶT TRẬN CÁCH MẠNG HƯNG PHỤC VIỆT

TÀI LIỆU GIẢI THÍCH Ư NGHĨA CỜ

 

 

I. ĐỊNH NGHĨA

Cờ - biểu tượng lư Tưởng của một Tổ Chức,một Quốc Gia.

 

II. MÔ TẢ H̀NH DÁNG VÀ KÍCH THƯỚC

 

III. Ư NGHĨA MÀU SẮC

 

Màu Đỏ Máu Lửa và màu Trắng Lư Tưởng.

 

A. Màu Đỏ Máu Lửa

1. Ư nghĩa của Máu:

 

– Máu hy sinh của những anh hùng liệt nữ,của những chiến sĩ vô danh, của những ngườI công chính.

– Chiến Đấu Tính của Dân Tộc, 2 phụ tính: Quyết Liệt và Bền Dai.

– Thống Nhất Tính của Dân Tộc – Giai Cấp là Cơ Năng, Dân Tộc là Cơ Thể.

– Tiến Hóa Tính của Dân Tộc, ư niệm "Dịch" và 3 quy luật:

 

a. Giao Dịch: Tinh thần trọng thực tế của Dân Tộc: khai phóng để tiếp nhận có chọn lọc.

b. Biến Dịch: Tinh thần cầu tiến của Dân Tộc: không bảo thủ, giáo điều, không vọng ngoại vong bản.

c. Bất Dịch: Tinh thần truyền thống của Dân Tộc: ḷng tự tin.

– Hiện tượng phép lạ trong lịch sử nhân loại:“Hơn 1000 năm không bị đồng hóa mất nước”.

 

2. Ư nghĩa của Lửa:

 

– Vị trí phương Nam, vùng nhiệt đới của Việt Nam.

– Nguồn gốc Dân Tộc theo truyền thuyết.

– Hướng Thượng Tính, ḷng yêu lư Tưởng của Dân Tộc.

– Tác Động Tính, khả năng làm chảy sắt thép: để cảm hóa kẻ thù bằng tư Tưởng, để tiêu diệt kẻ thù bằng vũ lực.

– Trí Tuệ linh mẫn: tượng trưng cho sự tích tụ của Hồn Thiêng sông núi.

 

B. Màu Trắng Lư Tưởng

 

– Tượng trưng cho tinh thần, sự thanh cao.

– Lư Tưởng tuyệt vời hoàn hảo với 3 phẩm tính: Chân, Thiện, Mỹ.

 

C. Ư nghĩa tổng hợp của hai màu Đỏ và màu Trắng

 

– Sự kết hợp của tri thức và hành động.

– Sự kết hợp của ḷng nhân ái trí tuệ và đức công chính uy dũng.

  Màu Đỏ của Rồng, màu Trắng của Tiên.

 

IV. Ư NGHĨA CHỮ THẬP VIỆT

 

– Yếu tố đất đai của Quốc Gia.

– Ư nghĩa biểu tượng Tiên Rồng.

 

A. Yếu Tố Kinh Tế – Đất Đai

 

1. Nhiên giới và nhân giới

2. Vấn đề khai thác thiên nhiên:

– Phải khai thác đất đai hợp lư với khoa học.

– Vật chất, điều kiện nhu yếu để con người tồn tại.

– Trách nhiệm của lănh đạo: "Dân giàu Nước mạnh".

– "Chính trị là khởi điểm của kinh tế, kinh tế là chung điểm của chính trị".

 

B. Ư Nghĩa biểu tượng Tiên Rồng

 

1. Nhân sinh quan Sống Tiến Hóa: Là Người, Làm Người, Thành Người.

2. Đấu tranh tính.

3. Thống nhất tính:

– Chiều thuận từ Nhà ra Nước.

– Chiều nghịch từ Nước xuống Nhà.

 

C. Những Ư Niệm làm nên biểu tượng Tiên Rồng

 

1. Ư niệm Cơ Cấu.

2. Ư niệm Hữu Hiệu.

3. Ư niệm Khởi Đoan và Nền Tảng.

4. Ư niệm Tự Do – B́nh Đẳng:

– Quan niệm Đông Phải nghĩ đến Nghĩa Vụ trước Quyền Lợi.

– Quan niệm Tây nói đến Quyền Lợi trước, Nghĩa Vụ sau.

 

V. Ư NGHĨA BA NGÔI SAO

– Yếu tố văn hóa giàng giữ của Quốc Gia.

– Trí tuệ sáng suốt của Lănh Đạo.

– Tinh thần linh mẫn của tài chỉ huy ứng biến.

 

A. Uy Quyền Lănh Đạo

 

– Tên gọi giống ṇi và đại chủng tộc Bách Việt.

– Phải đấu tranh để vươn lên: chữ Việt, bộ Tẩu và chữ Mậu.

Hai sao Hôm và sao Mai: sự vận hành vô tận của thời gian.

Ba ngôi Sao: tượng trưng cho lư Tưởng Việt, nhân sinh quan Sống Tiến Hóa.

 

B. Sức Mạnh của Văn Hóa

 

– Lănh đạo bằng tư Tưởng

– Phương châm: người

– Phương thức: người

– Phương pháp: người

 

C. Văn Hóa cũng là một mặt trận

 

                    Thiết lập pḥng tuyến văn hóa: ḷng yêu nước và t́nh tự dân tộc.

                    Cảnh giác để tiêu diệt nội tuyến và đặc công văn hóa của địch.

 

VI. Ư NGHĨA SÁU VẠCH TRẮNG

 

– Yếu tố dân số trong quốc gia.

– Tượng trưng cho ánh sáng của lư Tưởng Việt.

 

A. Sáu Điều Kiện để Quốc Gia Tồn Tại và Phát Triển:

 

1. Thống Nhất Tính: Thống nhất Quốc Dân.

2. Toàn Vẹn Tính: Toàn vẹn lănh thổ Quốc Gia.

3. Truyền Thống Tính: Phục hưng truyền thống văn hóa dân tộc.

4. Tương Đối Tính: Chế độ chính trị thích hợp với ư dân và trào lưu tư Tưởng thời đại.

5. Tăng Lượng và tăng Phẩm của mức sống: Cải tiến dân sinh theo tiêu chuẩn thời đại.

6. Đề cao Đạo làm Người, Đạo làm Dân.

 

B. Giải Thích theo Quẻ Càn (6 Hào)

 

Sáu nghĩa vụ Phải hoàn tất trong cuộc sống tiến hóa:

1. T́nh nghĩa vợ chồng.

2. T́nh nghĩa cha con.

3. T́nh nghĩa anh chị em – bạn bè – đồng bào.

4. T́nh nghĩa thầy tṛ.

5. Trách nhiệm của lănh đạo đối với Quốc Gia Dân Tộc.

6. Con người cảm thông với vũ trụ vô biên.

 

C. Những Ư Niệm khác

 

1. Ư niệm Thế Hệ.

2. Ư niệm Tiến Hóa và Phân Công.

3. Ư niệm Đạo Đức Chính Trị.

4. Ư niệm B́nh Đẳng.

5. Ư niệm Di Dưỡng Tinh Thần.

6. Ư niệm Giá Trị Lịch Sử

 

VI. KẾT LUẬN

 

– Trên căn bản lịch sử 5000 năm...

– Bằng vào những tinh hoa được đăi lọc bởi sự thể nghiệm đớn đau...

– Noi theo lời thề son sắt truyền thống của yêu thương... mà lá cờ này được khai sinh.

Cờ là lư Tưởng để hiện thực của chúng ta, những chiến sĩ Cách Mạng và của toàn thể dân tộc Việt.

 

 

 

MẶT TRẬN CÁCH MẠNG HƯNG PHỤC VIỆT

TÀI LIỆU GIẢI THÍCH Ư NGHĨA CỜ

Part 2

 

I. ĐỊNH NGHĨA CỜ

 

A. ĐỊNH NGHĨA

 

Cờ là biểu tượng đặc biệt của một tổ chức, một đoàn thể, một quốc gia được dùng để tự phân biệt ḿnh với các quốc gia, đoàn thể, tổ chức khác đang cùng sinh hoạt trong xă hội, đang cùng chung sống trên thế giới.

Cờ là biểu tượng tổng hợp của nhiều ư niệm được diễn tả qua việc xưoe dụng màu sắc và bố trí h́nh ảnh đường nét của một ư thức tự giác cao độ, dùng để nói lên một phương hướng đi, một phương thức làm, những phương pháp áp dụng.

 

B. GIÁ TRỊ

 

Cờ là biểu tượng đặc biệt của một tổ chức, một đoàn thể, một quốc gia. Do đó giá trị biểu tượng của cờ được xét theo hai quan điểm:

 

1. Khách quan: biểu tượng cờ chỉ được biết đến và tôn trọng theo tỷ lệ thuận với ảnh hưởng và khả năng tác động của tổ chức đó có trong môi trường họ đang sinh hoạt. Khả năng tác động càng lớn, ảnh hưởng của uy tín càng rộng th́ biểu tượng cờ của tổ chức đó càng được nhiều ngườI biết đến và được tôn trọng theo những định chế nghi lễ quốc tế.

2. Chủ quan: Cờ là biểu tượng tuyệt đối của Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt. Cờ là hiện thân của lư Tưởng đă kết tinh từ những ư niệm nền tảng. Những ư lực đó đă thúc đẩy chúng ta dấn thân không ngại hiểm nguy gian khổ để hành động, để hiện thực niềm mơ ước của Toàn Dân qua ba cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Quyền và Dân Sinh.

 

II. MÔ TẢ H̀NH DÁNG VÀ KÍCH THƯỚC

 

– Cờ Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt h́nh chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài.

– Cờ chỉ có hai màu Trắng và Đỏ. Màu Đỏ làm nền để nâng đỡ màu Trắng. Hai màu Trắng, Đỏ kết hợp với nhau một cách cân xứng làm nên 13 vạch ngang có cùng một kích thước ở chiều rộng, gồm 6 vạch Trắng và 7 vạch Đỏ. Mỗi vạch bằng 1/13 chiều rộng cờ.

– Phía tay trái ở phần trên cùng, có một chữ nhật màu Đỏ.

– Chiều dài của chữ nhật này là 1/3 chiều dài lá cờ.

– Chiều rộng của chữ nhật này là tổng cộng chiều rộng của 7 vạch, gồm 3 Trắng 4 Đỏ.

– Trên nền Đỏ của chữ nhật này có ba ngôi Sao năm cánh và một h́nh chữ Thập Việt, tất cả đều trắng.

– Trong ba ngôi Sao có một ngôi lớn và hai ngôi nhỏ bằng nhau với tỷ lệ 80% của sao lớn. Ba ngôi Sao này phối hợp vị thế với nhau làm thành một tam giác cân bao lấy chữ Thập Việt.

– Chữ Thập Việt được tạo thành bởi sự kiểu thức hóa chữ S theo h́nh tượng của Rồng Thiêng đang uốn khúc, vạch ngang theo h́nh tượng của Linh Phượng đang xoăi cánh để lên cao và bay xa.

– Sao lớn được phối trí ở trên cao phía trái h́nh chữ nhật Đỏ. Đỉnh của sao ngang tầm với điểm cao nhất của chữ S được kiểu thức hóa theo h́nh Rồng. Cả hai điểm này đều n?m trên đường tiếp giáp Tưởng tượng của vạch Trắng thứ 6 và vạch Đỏ thứ 7 tính từ dưới lên.

– Một Sao nhỏ được phối trí bên trái chữ Thập Việt, lấp lánh ở dưới vạch ngang xéo kiểu thức hóa theo h́nh cánh Phượng.

– Một Sao nhỏ được phối trí bên Phải chữ Thập Việt, lấp lánh ở trên vạch ngang xéo kiểu thức hóa theo h́nh cánh Phượng.

 

III. Ư NGHĨA CủA MÀU SẮC

 

A. MÀU ĐỎ MÁU LỬA

 

1. Máu

 

Màu Đỏ là máu của các anh hùng liệt nữ từ muôn xưa đă đổ ra để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam.

 

Đỏ là màu của máu nóng, của nhiệt t́nh phát ra từ trái tim biết rung động với những yêu thương và căm giận của con người công chính, có một lập trường nghiêm chỉnh xây dựng trên nền móng của những ư niệm cao đẹp lấy ngay con người cụ thể hiện hữu làm khởi điểm xuất phát, làm chủ lực hành động, làm đối tượng phục vụ và làm đích điểm đi tới, và có một giới tuyến rơ rệt để phân biệt Bạn, Thù... Máu là dung dịch để nuôi cơ thể bằng sự tuần hoàn trong huyết quản. Máu là nguồn sinh lực, là sức mạnh của một cá nhân. Mất máu cơ thể sẽ yếu. Hết máu con người sẽ chết! Do đó máu chính là cuộc đời, là sự sống của chúng ta. Sự quư giá của máu, của cuộc sống được dùng để tượng trưng cho chiến đấu tính của Dân Tộc. Chiến đấu tính có những phẩm chất như quyết liệt để không thỏa hiệp, bền dai để thắng thù địch vào lúc chót, ở trận chiến sau cùng. Hơn một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, bọn xâm lược phương Bắc với chính sách đồng hóa bằng phương tiện của vũ lực tàn bạo và văn hóa mê hoặc đă thành công ở nhiều nơi với nhiều chủng tộc khác nhưng lại thất bạI với riêng Việt Nam. Tại sao? Câu trả lời ngắn, gọn và đúng nhất của lịch sử đấu tranh dân tộc trong công cuộc giành Độc Lập cho Tổ Quốc và Tự Do cho con người, là Máu. Câu trả lời ngắn ngọn và đúng của trường hợp Việt Nam cũng là câu trả lời có tính chất khuôn mẫu của toàn thể loài người yếu.

 

– Lư Tưởng cao đẹp của nhân loại là Thống Nhất trong B́nh Đẳng.

– Mục đích thực tế của Quốc Gia Dân Tộc là Độc Lập trong Thịnh Vượng.

– Mơ ước b́nh thường của con người là Tự Do và Hạnh Phúc.

 

Tất cả là những của báu vô ngần không thể do xin mà có, bởi van nài mà được ban phát. Những của báu đắt giá đó cũng không thể lấy bạc tiền ra mua mà Phải lấy sức ra giành, lấy máu ra chuộc, dưới h́nh thức của những cuộc chiến tranh Cách Mạng. V́ yêu sống thế giới ghê tởm chiến tranh. Có nên sợ mất, được nên sợ thua; ích kỷ muốn được yên ổn, đó là căn bản của tinh thần “phản chiến” để hưởng thụ những ǵ tích lũy bằng sự bóc lột bẩn thỉu kéo dài trong suốt những thế kỷ thực dân đă qua. Nhưng cũng v́ yêu sống mà Việt Nam đă Phải chấp nhận Chiến Tranh, chấp nhận hy sinh xương máu, chấp nhận như một giải pháp duy nhất và tối hậu để giải quyết sự bế tắc của mâu thuẫn nền tảng là "sống hay chết". Sự cách biệt giữa Tự Do và Áp Bức, Độc Lập và Lệ Thuộc, No Ấm và Đói Rét th́ cụ thể và hiển nhiên như hai bờ của một vực thẳm. Một bên là vùng của Áp Bức, Lệ Thuộc và Đói Rét c̣n bên kia là đất của Tự Do, Độc Lập và No Ấm. Sự liên hệ giữa hai bên chỉ có một cây cầu cheo leo đầy nguy hiểm là chiến tranh.

Do đó dù run sợ, hèn nhát, cuối cùng v́ yêu sống chúng ta cũng Phải vượt qua! Sống không Phải chỉ có ăn và làm t́nh như những sinh vật hạ đẳng. Cuộc sống của con người đ̣i hỏi những điều kiện cao hơn và phức tạp hơn để Làm Người và Thành Người mà No Ấm và Tự Do là những điều kiện chủ yếu căn bản khởi đầu.

"Tự Do hay là Chết”, đó là một chọn lựa dứt khoát của những trái tim công chính. Tự Do hay là Chết đó cũng là lời nhắc nhở cảnh tỉnh cho những tâm hồn ngây thơ dù thực t́nh hay cố ư, và Tự Do hay là Chết cũng là câu thách thức có tác dụng làm chùn bước những thế lực nuôi tham vọng xâm lược để thống trị ṇi giống Việt cũng như loài người yếu.

Đáy hồn sử Việt vẫn c̣n vang vọng âm hưởng của tiếng hô “hy sinh” đă làm rung chuyển nóc Điện Diên Hồng - nghị quyết chấp nhận chiến tranh với sự đồng ư của Toàn Dân có được sau sự suy nghĩ đắn đo của các bô lăo về một hoàn cảnh yếu kém của Tổ Quốc trong một t́nh thế thụ động "dù cây muốn lặng nhưng gió chẳng ngừng". Viễn tượng Dân Tộc bị diệt vong, gia đ́nh ly tán, vợ con bị hiếp đáp đầy ải, thân ḿnh sống kiếp tôi đ̣i trâu ngựa đă làm cho những con ngườI vốn yếu đuối hiền lành trở nên dũng mănh, giác ngộ được Đại Nghĩa để quyết làm và dám chết. Do đó, sự ư thức đúng đắn và giá trị tuyệt đối của hy sinh, về năng lực vô biên của Máu sẽ giúp cho chúng ta hành động một cách can đảm, tự tin vào chính ḿnh để dám bước vào cơi chết mà t́m ra đường sống vinh quang với sự kính trọng của loài người và sự nể sợ của ngay chính kẻ thù.

* Sự linh động của Máu trong huyết mạch được phân bố khắp người c̣n nói lên sự kết hợp có tính chất cơ cấu của một toàn thể mà điều kiện để tồn tại và hoạt động hữu hiệu là có Thống Nhất Tính. Quốc Gia Dân Tộc cũng là một cơ thể mà các giai cấp mang tính chất chuyên biệt của các cơ năng. Nếu chỉ có con người khỏe mạnh mới có thể hoạt động một cách linh mẫn qua sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ năng th́ Quốc Gia Dân Tộc cũng chỉ có thể tồn tại trong thịnh vượng bằng sự thống nhất một cách ḥa hài quyền lợi và nghĩa vụ của các giai cấp.

Sự khác biệt của các giai cấp không y cứ trên quyền lợi kinh tế mà đặt nặng trên sự phân công thi hành nghĩa vụ do Quốc Gia Dân Tộc trao phó theo tiêu chuẩn tài sức của từng cá nhân. Do đó sự kết hợp của giai cấp chỉ có thuần tính chất cơ năng chứ không Phải do sự khác biệt của Bản Chất Người. Có vậy th́ những ư niệm "B́nh Đẳng trước Pháp Luật", "B́nh Đẳng trong Nghĩa Vụ” mớI có nền tảng vững chắc. Sự kiện phân hóa đưa đến ḱnh chống nhau giữa các giai cấp trong cùng một quốc gia, một dân tộc v́ lư do giàu nghèo, óc địa phương, tôn giáo, là dấu hiệu suy đồi sẽ đưa đến họa diệt vong. Tương tự như cơ thể bệnh hoạn với những cơ quan bị bệnh chai cứng đang đi dần đến cái chết, là một điều không thể chấp nhận trên lập trường Quốc Gia Dân Tộc.

Ư niệm Quốc Gia Dân Tộc là bản vị, các giai cấp đoàn thể chỉ là cơ năng được thể hiện trong tinh thần truyền thống đoàn kết ở Hội Nghị Diên Hồng hoàn toàn đối lập với quan niệm “giai cấp đấu tranh” của tà thuyết ngoại lai cộng sản. Làm sao một Dân Tộc có thể tồn tại với những chia rẽ nội bộ với những chém giết lẫn nhau giữa những giai cấp, những đoàn thể cùng một gịng máu, chung một tương lai?

* Sự tuần hoàn của Máu cũng nói lên ư niệm Động trong những phấn đấu không ngừng nghỉ của cá nhân với chính bản thân, của tập thể với chính tổ chức của ḿnh, của người dân đối với Tổ Quốc, của con người đối với nhiên giới để mỗi ngày cá nhân thêm tốt, tổ chức thêm hoàn hảo, Tổ Quốc thêm tươi đẹp và nhiên giới, môi sinh của loài người, được quản lư hữu hiệu hơn với những tu chỉnh hợp lư theo dự kế để phục vụ nhân sinh.

Tính chất Động của Máu hàm chứa ư niệm Tiến Hóa không ngừng theo chiều hướng thượng. Hôm nay Phải tiến hơn ngày qua và ngày mai sẽ tiến vượt hôm nay. Đời sống là một cuộc biến hóa không ngừng gồm những vận chuyển theo chu kỳ. Sự vận chuyển theo chu kỳ đi theo ba quy luật:

 

Giao Dịch, Biến Dịch, và Bất Dịch.

 

a. Giao Dịch

 

Giao Dịch là điều kiện căn bản để có Biến Dịch. Sự kết hợp hai hay nhiều đơn vị, hai hay nhiều yếu tố mang ư niệm Giao Dịch bên trong. Qua Giao Dịch, một cách tổng quan, sự tác động hổ tương, ảnh hưởng lẫn nhau của hai hay nhiều yếu tố sẽ tạo ra Biến Dịch.

 

b. Biến Dịch

 

Biến Dịch bao gồm sự phân chia và thay đổi để làm ra sự khác biệt trong chính đơn vị đó. Câu nói “không bao giờ ta có thể tắm tới hai lần trong cùng một gịng sông" đă diễn tả đầy đủ ư niệm Biến Dịch. Tất cả đều thay đổi. Giây phút trước đă khác biệt với giây phút sau. Sự thay đổi không chỉ tác dụng ở bên ngoài, trên vật chất mà c̣n ngấm sâu vào cả tâm hồn. Với Biến Dịch ta có được sự tiến hóa hoặc suy thoái.

 

c. Bất Dịch

 

Bất Dịch tàng ẩn trong sự tương đồng, sự giống nhau của những hoàn cảnh những đơn vị. Bất Dịch nằm trong những trường hợp chung có tính cách phổ biến. Nếu Biến Dịch là khía cạnh Động của Dịch, th́ Bất Dịch là khía cạnh Tĩnh của Dịch. Phương pháp, công thức, định lư của toán học, của khoa học sẽ không thể có được nếu không có nền tảng Tĩnh là Bất Dịch. Ư niệm Ngày Đêm, Xuân Hạ Thu Đông... đều là kết quả của Bất Dịch.

Tóm lại, với Giao Dịch, ta cởi mở và chấp nhận cái hay cái tốt của người, của thời đại và loạI bỏ những ǵ là cổ hủ, lạc hậu nơi ta. Khiêm tốn để tiếp thu nhưng lại Phải tự tin suy ngẫm để ứng dụng và đào thải trên hoàn cảnh thực tế của Dân Tộc và Tổ Quốc.

Với Biến Dịch, ta chấp nhận sự phân hóa để tiến bộ. Do đó không chấp nhận giáo điều bảo thủ mù quáng. Ḷng tôn kính Tổ Tiên đ̣i hỏi "áo mặc không qua khỏi đầu” là đúng, nhưng di chúc của Tổ Tiên cũng đ̣i hỏi "con hơn cha nhà có phúc". Phúc nằm ở chỗ Quốc Gia Phải được xây dựng trên nền tảng Quốc Gia với những truyền thống tinh hoa đă được đăi lọc của Dân Tộc. Nếu không thế th́ sự gọi là "tiến bộ" chỉ là sự vong bản, bước đầu của nguy cơ bị đồng hóa và diệt vong.

Căn bản truyền thống dân tộc, tinh thần khoa học và khai phóng, đó là những ǵ làm nên Tiến Hóa Tính trong máu của ṇi giống Việt.

"Nhật tân, nhật nhật tân", lời kêu gọi ai oán của Bùi Viện, của Nguyễn Trường Tộ, và của những nhà Cách Mạng trong Phong Trào Đông Du và Duy Tân vẫn c̣n đầy đủ ư nghĩa trước thực tế phũ phàng của Tổ Quốc Việt Nam. Hơn 80 năm bị bóc lột dưới ách thực dân, hơn 40 năm dướI sự lănh đạo tối tăm của bè lũ u mê, vong bản với đường lối phi nhân và vô luân, Dân Tộc ta đang bị cô lập trong lạc hậu, đang ngụp lặn trong đói, rét, tật bệnh và ngu dốt và sẽ tụt dần xuống vực thẳm diệt vong... Làm sao để cứu lấy Quê Hương? Làm sao để theo cho kịp người rồi được bằng người? Nào những ai c̣n dám ngẩng cao đầu nhận ḿnh mang ḍng máu Việt kiêu hùng?

 

2. Lửa

 

Sự phát minh ra Lửa đánh dấu một bước rẽ quan trọng trong lịch sử tiến hóa của nhân loại. Lửa dùng để nấu nướng, để sưởi ấm, để soi sáng, để xua đuổi thú dữ và để đốt rừng làm rẫy.

 

a. Ư nghĩa: Trong Kinh Dịch, Lửa được tượng trưng bằng Quẻ Ly ( º ), ư chỉ sự Văn Minh, tức là sự đẹp đẽ sáng láng. Vị trí của Quẻ Ly là phương Nam. Chữ Việt Nam ngoài ư nghĩa thông thường đă có, nay mang thêm một ư nghĩa mới: "một quốc gia văn minh tiến bộ trong thịnh vượng ở phương Nam" như ước nguyện của toàn dân Việt.

 

b. Ư niệm màu Đỏ Lửa cũng nhắc nhở đến lịch sử nguồn gốc chung của ṇi Bách Việt, vớI Thần Nông – Viêm Đế. Chữ Viêm ( ) được viết với hai chữ Hỏa ( ) chồng lên nhau có ư nghĩa là "sáng rực rỡ" do ngọn Lửa bốc cháy; là nóng, trong chữ Viêm Nhiệt; là phương Nam, trong chữ Viêm Phương.

Đặc tính của Lửa là luôn luôn bốc lên cao, với Hướng Thượng Tính. Quẻ Ly tượng trưng cho Lửa được mô tả là "Ly,Trung Hư" nghĩa là trong ḷng trống rỗng, ư chỉ sự không có tư tâm tà ư.

Kết hợp hai ư trên, Lửa mang ư nghĩa nhiệt t́nh cao thượng của con người Cách Mạng, dùng phục vụ cho Lư Tưởng chung của Dân Tộc và Nhân Loại một cách thẳng thắn, không tư lợi tà ư, với phong thái của một người giác ngộ Đại Nghĩa, được tôi luyện tẩy rửa trong ngọn Lửa của Trí Tuệ và Yêu Thương để quyết tâm và dám chết với nhiệm vụ được trao phó, bất kể gian khổ hiểm nguy.

 

c. Lửa với khả năng làm mềm sắt thép, cũng có khả năng tiêu diệt kẻ thù. Tiêu diệt bằng thủ thuật nhân ái, cảm hóa bằng đấu tranh lư luận trên tư Tưởng của cách mạng, trên đích điểm của kiến thiết như Tự Do Hạnh Phúc cho người dân, Độc Lập Thịnh Vượng cho Dân Tộc. Chủ trương cảm hóa là đặc tính truyền thống của Việt Nam, một dân tộc yêu Ḥa B́nh nhưng sẵn sàng chấp nhận Chiến Tranh dù lúc nào cũng quư, tiếc máu xương của đồng bào và đồng loại với tâm niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lă". Cốt nhiên, sự cảm hóa của Lư Tưởng Cách Mạng chỉ dành cho những người thành tâm, thiện chí c̣n thẳng tay loại bỏ những kẻ hoạt đầu, những tên ngoan cố và bọn Việt gian bán nước.

 

d. Lửa c̣n tượng trưng cho sự sống. Với sức nóng của nắng Lửa, mùa hạ là mùa tăng trưởng của vạn vật trong đó có con người, “Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng”. Do đó Lửa cũng tượng trưng cho sự lớn mạnh của lực lượng Dân Tộc trong cách mạng cũng như trong kiến thiết.

 

e. Màu Đỏ của Lửa c̣n tượng trưng cho Trí Tuệ linh mẫn và sự sáng tạo đầy biến hóa. Quan niệm Ngũ Hành ứng dụng trong y học Đông Phương cho tim, màu Đỏ là nơi tàng chứa Thần. Thần được coi là sự thăng hoa tuyệt đỉnh của vật chất, theo tiến tŕnh đi từ Huyết lên Tính, rồi hóa Khí, và thành Thần. Thần được coi là "vô phương", tức là không bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên linh diệu vô cùng ở khắp mọi nơi. ở người sống, Thần tụ ở tim; khi người chết Thần về tụ ở bài vị thờ trên trang thờ, do đó các đồ thờ đều có màu Đỏ. Màu Đỏ nền cờ cũng mang ư nghĩa là nơi tích tụ Thần khí của các vị anh hùng liệt nữ của dân tộc đă có công trạng với nước ṇi, được quốc dân thờ kính như các bậc Nhân Thần. V́ Cờ mang theo hồn dân tộc, được đúc kết lại qua bao thế hệ kể từ quá khứ muôn xưa, nên sự hiện diện của Cờ là sự hiện diện vô h́nh của các anh hùng, liệt nữ để chứng kiến và giám sát công việc của chúng ta, những thế hệ đang nối tiếp làm lịch sử.

Trong ư nghĩa này, việc tôn kính Cờ không Phải chỉ dừng lại ở phần h́nh thức mà tiến sâu hơn vào nghi lễ trang nghiêm để trái tim nhỏ bé của ḿnh bước theo nhịp đập rộn ràng của trái tim vĩ đạI của tập thể Dân Tộc.

 

B. MÀU TRẮNG LƯ TƯỞNG

 

Trên nền cờ màu Đỏ Máu – Lửa, chữ Thập Việt Trắng, ba Sao Trắng, sáu Vạch Trắng nổi bật lên một cách uy nghi và giàng giữ lấy nhau một cách cân đối nghiêm chỉnh. Màu sắc là một phẩm tính của sự vật, là một trong nhiều yếu tố pha trộn lẫn nhau để tạo nên sự đặc thù của sự vật.

 

1. Với một ư nghĩa đặc biệt, ư niệm Trắng được coi là sự vươn lên và ở trên tất cả các màu sắc để tượng trưng cho Tinh Thần, cho Lư Tưởng. Do đó tất cả những ǵ có liên hệ tới Trắng đều hàm chứa những phẩm tính cao quư đáng tôn thờ, đáng mơ ước mà nhân loại đă có thể nghĩ tới. Trong chiều hướng tư Tưởng đó, chữ Thập Việt Trắng – ba Sao Trắng – sáu Vạch Trắng đều là những biểu tượng giàng giữ lấy nhau trong mối liên hệ cơ cấu để đúc kết nên một Lư Tưởng toàn vẹn bao gồm đủ phẩm chất của Chân – Thiện – Mỹ.

 

2. Trắng: Màu của Chân Lư. Chân lư là cái lư đúng để làm tiêu chuẩn đo ngắm cho đời. Cuộc đời phức tạp và đầy mâu thuẫn v́ mỗi người mỗi ư. Sự phân hóa, bất đồng đến từ sự thiếu một lập trường chung để từ đó đặt để ra những tiêu chuẩn, những khuôn mẫu rồi cùng đem ra áp dụng trong thực tế. Chân lư có ba khía cạnh: Chân với tiêu chuẩn Xác Thực, Thiện với tiêu chuẩn Bao Dung và Mỹ với tiêu chuẩn Cân Đối.

 

3. Những biểu tượng Trắng trên nền cờ nói lên tính chất chân xác, đúng thực của Lư Tưởng Việt, một lư Tưởng đặt nền tảng trên con người thực tế đang sống trong xă hội với những ràng buộc nhân luân như vợ chồng – cha con – anh chị em – bạn bè – nhà với nước – loài người với thiên nhiên. Phẩm tính chân xác của Lư Tưởng Việt càng rơ nét khi đem so đọ với những chủ thuyết đă đặt nền tảng, một cách sai lạc hoặc phiến diện, trên con người chỉ ở trong ư niệm trừu tượng, nặng về phần cơ thể để thành Duy Vật, thiên trọng về phần tinh thần để thành Duy Tâm. Tính chất chân xác của Lư Tưởng Việt c̣n đi xa hơn với mục đích rất thực tế nhằm phục vụ con người đang hiện diện ở ngay đây, vào ngay lúc này với một phương pháp phù hợp với bản tính phổ biến của con người. Phương pháp đó lo cho ai cũng có được công ăn việc làm nhà ở, và nhữngđiều kiện tinh thần thuận lợi để tu dưỡng thân tâm, nâng cao tư cách, bảo trọng nhân phẩm, chứ không hứa hẹn viển vông ở một tương lai chẳng bao giờ có được hoặc mơ hồ ở một nơi nào đó kiếp sau...

Cái Đúng của Chân, cái Tốt của Thiện, cái Đẹp của Mỹ được diễn tả qua màu Trắng của biểu tượng. Trong tư Tưởng, cái Đúng của Lư Tưởng Việt nằm ở chỗ lấy ngay ta và con người đang sống quanh ta làm điểm xuất phát. Cái Tốt của Lư Tưởng Việt nằm ở chỗ lấy ngay con người hiện hữu làm đối tượng để phục vụ. Đối tượng con người để phục vụ không khép kín ở phạm vi một dân tộc, một quốc gia để trở thành hẹp ḥi mà mở rộng sang mọi dân tộc, ở mọi quốc gia, một cách phổ biến trên tầng cấp thế giới như một giáo lư tôn vinh con người với những giáo điều căn bản của nhân quyền. Cái Đẹp của Lư Tưởng Việt nằm ngay trong sự cân đối, ḥa hài, toàn vẹn của con người thực tế đang sống ở đây, vào lúc này, không bị chia cắt thành Duy Tâm hay Duy Vật một cách thiên lệch và bệnh hoạn.

 

C. Ư NGHĨA TỔNG HỢP CỦA HAI MÀU ĐỎ VÀ MÀU TRẮNG

 

Sự kết hợp chặt chẽ và ḥa hài giữa hai màu Đỏ Máu Lửa và Trắng Lư Tưởng với ba phẩm tính Chân Thiện Mỹ mang một ư nghĩa căn bản là sự kết hợp bất khả phân ly giữa Tri Thức và Hành Động.

Sự liên hệ của Tri – Hành có tính chất biện chứng. Tư Tưởng Phải hướng dẫn cho hành động, Phải là khởi điểm của hành động và ngược lại hành động Phải là đích điểm của tư Tưởng, Phải thể hiện được tư Tưởng. Nghĩa là Tri – Hành đều Phải định được mục đích qua tương quan biện chứng thuận nghịch và Tri Hành Phải Hợp Nhất.

Hành động tuy cần hăng say, quyết liệt, bền dai, nhưng năng lực quư báu này nếu không được hướng dẫn bởi một Lư Tưởng cao đẹp chân thực phục vụ cho Dân Tộc, cho nhân loại th́ sẽ trở thành bạo lực mù quáng của phá hoại. Có được một lư Tưởng cao đẹp chân thực hướng dẫn cũng chưa đủ mà cần Phải có cả một dự kế hành động với đủ phương châm, phương thức và phương pháp. Có vậy hành động mới đúng hướng, mới hữu hiệu và mới đạt thành quả dự cầu. Tư Tưởng hay nếu không thực hiện cụ thể bằng hành động th́ cũng chỉ là một mớ ngoa ngôn.

Lư Tưởng cao đẹp nếu không có vũ lực bảo vệ th́ cũng sẽ bị địch thù chà đạp. Lịch sử tiến hóa của nhân loại đă ghi dấu lại để hoài niệm biết bao nền văn minh đă tàn lụi, biết bao quốc gia đă bị diệt vong, biết bao dân tộc đă bị phân tán, bị đồng hóa chịu cảnh lưu đầy của kẻ mất quê hương, chỉ v́ không có hay không đủ sức mạnh để tự bảo vệ Lư Tưởng trước một kẻ thù hung hăn chủ trương giết sạch, phá sạch để tiêu diệt hậu họa. Truyền thống lịch sử đấu tranh của Dân Tộc ta cũng minh chứng một cách hùng hồn là chỉ có những triều đại vừa tôn văn vừa trọng vơ, tạo được những mẫu người cân đối có đủ văn mưu lẫn vũ lược mới thành công trong sứ mệnh Cứu Nước, Dựng Nước, Giữ Nước và Mở Nước.

Sức mạnh vật chất, gồm sức người và sức của là những điều kiện chủ yếu Phải có để bước vào đấu tranh trong cả thời chiến lẫn thời b́nh. Đó cũng là lư do để giải thích tại sao tỷ lệ màu Đỏ Máu Lửa nhiều hơn màu Trắng Lư Tưởng với tỷ số 80% (7 vạch Đỏ với 6 vạch Trắng và phần Đỏ trong ô chữ nhật nhỏ cũng hơn Trắng). Tỷ số này là một kết hợp cân đối phù hợp với thực tế con người,một con người toàn diện có đủ phần tư Tưởng lẫn phần hành động với tiêu chuẩn "phẩm cao lượng lớn" để ư thức được thực tế là chỉ có lực mới chống được lực, chỉ có chiến tranh mới cản được chiến tranh, chỉ có vũ lực mới giữ ǵn được Tổ Quốc và chỉ có Máu mới bảo vệ được Lư Tưởng. Tỷ số này cũng phản ảnh một thực tế xă hội nhân loại đang trên con đường tiến đến thống nhất vớI ước mơ tạo dựng một mùa Xuân vĩnh cửu yên vui cho tất cả mọi người bằng phương thức b́nh đẳng, với điều kiện vật chất là b́nh sản, với điều kiện tinh thần là b́nh quyền. Nhưng ước mơ và lư Tưởng vẫn khác và xa cách với thực tế. Muốn đồng nhất lư Tưởng với thực tế tất Phải có thế, tất Phải có lực. Do đó những tâm hồn công chính của thời đại Phải sẵn sàng chấp nhận Chiến Tranh.

Chúng ta chấp nhận Chiến Tranh chính v́ ḷng khát khao Ḥa B́nh với một niềm tin vững chắc là bên trên Chiến Tranh sẽ là Ḥa B́nh, nền ḥa b́nh vĩnh cửu cho mọi dân tộc sống b́nh đẳng thịnh vượng trong một nhân loại thống nhất trong t́nh huynh đệ chân thành. Sự kết hợp Trắng Đỏ trên cờ c̣n nói lên tính chất thống nhất chặt chẽ của cơ thể con người vớI hai thành phần có mối tương quan chuyển hóa là Máu Huyết biến thành. Tinh – Khí – Thần dùng ư niệm cơ thể con người để tượng trưng cho nguyên tắc tối thượng:

 

Quốc gia là một, Quốc Dân là một.

 

Màu Trắng cũng là màu của Tiên, những con người đă đạt Đạo, tới được đích điểm của sứ mệnh Làm Người và Thành Người. Sự khác biệt giữa chúng ta và các bậc Phật, Chúa, Tiên, Thánh, anh hùng anh thư là các vị đó đă có một quá khứ với những công nghiệp to lớn đối với nhân loại, với nước ṇi, trong khi đó chúng ta c̣n cả một tương lai để tu sửa tâm thân, nhân cách, qua những cố gắng đớn đau “nan hành khổ hạnh” để thắng vượt được cả ta lẫn người. Tiên có nghĩa là người đă đi trước ta trong việc tự hoàn thiện bản thân.

Màu Đỏ là màu của Rồng, Xích Long. Xích là màu Đỏ. Quan niệm truyền thống coi màu Đỏ là màu đẹp nhất, quư nhất, v́ tượng trưng cho sự sống động, may mắn, thịnh vượng, giàu sang, vui tươi, hạnh phúc. Nên màu Đỏ được dùng vào những ngày lễ, Tết và ở những nơi trang nghiêm, quyền quư. Xích c̣n có một nghĩa là to lớn, quan trọng, đứng đầu trên mọi phương diện. Vua Việt Kinh Dương Vương (Lộc Tục) đặt quốc hiệu là Xích Quỷ với những ư nghĩa cao đẹp này.

Màu Trắng chỉ Tiên với phẩm tính Nhân Ái. Màu Đỏ chỉ Rồng, Xích Long với bản chất Công Chính, là Vua của loài rồng với đầy đủ Ân Uy, ban ân bằng làm mưa thuận gió ḥa, ra uy bằng phun Lửa thiêu đốt. Đó cũng là mẫu người lư Tưởng của ṇi giống Việt, phản tỉnh sau những tủI nhục ê chề v́ thất bại, đồng loạt vùng dậy kết đoàn dưới ngọn cờ chính nghĩa truyền thống của Dân Tộc để hiện thực cùng một lúc ba cuộc Cách Mạng Dân Tộc, Dân Sinh và Dân Quyền.

 

IV. Ư NGHĨA CHỮ THẬP VIỆT

 

Chữ Thập Việt là sự đúc kết được kiểu thức hóa hai yếu tố: biểu tượng tinh thần truyền thống dân tộc "Tiên Rồng" và h́nh thể chữ S của lănh thổ Quốc Gia. Do đó, chữ Thập Việt diễn tả trọn vẹn ư niệm Quốc Gia được làm nên bởi ba yếu tố gồm:

– Yếu tố đất đai — môi trường sinh hoạt của con người trong thiên nhiên.

– Yếu tố dân số — sự kết hợp của nhiều chi tộc của ṇi giống Bách Việt.

– Yếu tố văn hóa — trong sinh hoạt xă hội làm nên mối dây giàng giữ kết hợp tập thể Quốc Dân như ngôn ngữ, phong tục, tập quán...

 

Ba yếu tố trên kết hợp với nhau một cách chặt chẽ bất khả phân ly. Bất kỳ v́ một lư do ǵ, một trong ba yếu tố vắng thiếu th́ thực thể Quốc Gia sẽ tan ră.

 

A. YẾU TỐ KINH TẾ – ĐẤT ĐAI

 

1. Nhiên giới và nhân giới

 

Sự kết hợp biểu tượng Tiên Rồng với đất đai, không gian sinh tồn, của dân tộc được coi như một sự đóng dấu chủ quyền đă có từ lâu đời, thành truyền thống của Dân Tộc. Với cách gọi thật đặc biệt t́nh cảm, người Việt Nam đă gọi đất đai của Dân Tộc là Tổ Quốc, là Quê Hương hay vớI một ư nghĩa sâu xa hơn là Giang Sơn, Sông Núi. Sông Núi không Phải chỉ đơn giản là những h́nh thể cao thấp lồi lơm trên mặt đất mà quốc gia nào cũng có. Sông Núi có ngầm chứa một mối liên hệ sinh mệnh đă nằm sâu trong đáy tiềm thức của ṇi giống từ muôn xưa với huyền sử Âu Cơ và Lạc Long Quân làm nên biểu tượng Tiên Rồng. Sông Núi chính là Quê Cha Đất Mẹ, nơi ở của Tiên, chỗ vùng vẫy của Rồng.

Nhiên giới, nói rộng ra là cả vũ trụ bao la vô tận, tuy có trước con người nhưng chỉ bắt đầu có ư nghĩa kể từ khi được con người nhận biết và kết hợp trong mối tương quan hỗ tương thật chặt chẽ với nhân giới. Xét lại mối liên hệ này trong tiến tŕnh đi lên của nhân loại, nhiên giới càng ngày càng được hiểu rơ hơn, nhiều hơn và đúng hơn.

Những thái độ quá khích v́ thiếu hiểu biết, như quỳ lụy tôn thờ thiên nhiên của thời bái vật, như lợi dụng thiên nhiên trong sự khai thác bừa băi kiểu duy lợi của thời thực dân, đều bị gạt bỏ và lên án v́ tính cách sai lầm và thiển cận của chúng. Ngày nay, với sự chứng minh của khoa học hiện đại, hơn bao giờ hết, mối liên hệ giữa nhiên giớI và nhân giới càng chặt chẽ. Sự khai thác và quản lư thiên nhiên nếu không khoa học và sáng suốt qua những chương tŕnh dài hạn được thi hành đúng và kiểm soát đúng th́ thảm họa sẽ xẩy ra cho chính loài người mà kết quả trực tiếp và cụ thể là thiếu ăn thiếu mặc, thiên tai, lụt lội, hạn hán.

Tổ Tiên ta vẫn thường nói "Giang Sơn Cẩm Tú" hay "Non Sông Gấm Vóc" để diễn tả sự tươi tốt, phồn thịnh, đẹp đẽ và giàu sang của Tổ Quốc, nguồn gốc của sự đáng yêu, đáng quư, đáng bảo vệ của Tổ Quốc và lư do chính đáng của sự hy sinh xương máu của nguời dân. Gấm vóc, là vật liệu được lấy từ thiên nhiên, được biến chế qua bàn tay sáng tạo của con người với mục đích phục vụ con người để che thân chống lại những khắc nghiệt của thời tiết lạnh, nóng bất thường. So với vải bố thô kệch, gấm vóc có phẩm chất thanh tú mịn màng, tinh vi trong cách chế tạo và lộng lẫy với những màu sắc, với những đường nét mỹ thuật. Gấm vóc không dừng lại ở mục đích sơ đẳng là để bảo vệ thân thể chống lạnh mà đă lên chót vót ở mục đích làm đẹp, sang trọng cho con người, tô điểm cho con người phù hợp với khuôn mẫu lư Tưởng Người của mộtxă hội văn minh tôn trọng Nhân Quyền và Nhân Phẩm.

Yếu tố vật chất, bản chất của nhiên giới, là một điều kiện nhu yếu để con người sống c̣n, để con người nối tiếp, để con người tiến hóa. Những nhận định thực tế được phổ biến trong dân gian như “Người tốt về lụa”, “Phú quư sinh Lễ Nghĩa”, “Miệng kẻ sang có gang có thép”, “Đói ra ma”... đều phản ảnh tính chất quan trọng của vật chất, của kinh tế như một điều kiện bắt buộc Phải có của con người, của xă hội.

 

MẶT TRẬN CÁCH MẠNG HƯNG PHỤC VIỆT

TÀI LIỆU GIẢI THÍCH Ư NGHĨA CỜ

Part 3

 

2. Vấn đề khai thác thiên nhiên

 

Kinh tế đặt căn bản trên kế hoạch khai thác thiên nhiên với bàn tay cần cù và khéo léo với trí óc linh mẫn đầy sáng tạo của con người. Tương tự với cá nhân, nhưng trên một cấp độ cao hơn và quan trọng hơn, kinh tế là nền móng căn bản của quốc gia. Quốc gia chỉ trở nên hùng cường với điều kiện kinh tế ổn định, thịnh vượng. Ư niệm này cũng là một ư niệm chính trị có tính cách truyền thống của dân tộc qua phương châm "Nước Mạnh Dân Giàu". Với định ư chính trị này, Hạnh Phúc, Tự Do của người dân, chỉ là một hệ luận tất yếu Phải có trong sự suy diễn biện chứng cũng như sẽ cụ thể trong thực tế với sự thành công của kiến thiết kinh tế. So sánh tầm mức quan trọng, th́ chính sự thành công trong kiến thiết bằng xây dựng kinh tế quan trọng hơn thành công trong chiến tranh phá hoại. V́ sự thất bại trong xây dựng kinh tế của giai đoạn kiến thiết sẽ làm biến chất giá trị tương đối của chiến thắng gặt hái được qua chiến tranh, làm uổng phí sự hy sinh xương máu quư báu của Dân Tộc, để những ǵ được gọi là vinh quang của chiến thắng chỉ c̣n là tội ác của phá hoại, của một bè lũ ngu xuẩn cướp của giết người mà giả danh "đạo đức”. Lịch sử đă chứng minh sự thực phũ phàng của những biến cố bị cưỡng ép gọi là Cách Mạng. Với thời gian, với thực tế tàn nhẫn của xă hội, hậu quả của thất bại kinh tế xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đă lộ rơ vai tṛ tay sai phục vụ ngoại bang của nó—một bè lũ thiếu trí tuệ, thừa gian ác trong ngôi vị lănh đạo đang áp dụng điên cuồng một chính sách có phương châm là phục vụ đế quốc Nga có phương thức là "Bóc lột hầu bao – Thắt buộc dạ dày – Chà đạp nhân phẩm" qua những phương pháp tàn nhẫn, lạnh lùng như với những con vật ở trong lồng đang chờ chết trong pḥng thí nghiệm.

Thiên nhiên là môi trường trong đó con người sinh sống và kết hợp nhau để làm thành xă hội, với sự giàng giữ của những mối liên hệ đa phương, xă hội tạo được sự ổn định trong một trật tự ḥa hài của Thống Nhất, điều kiện căn bản để phát triển kinh tế đạt mức thịnh vượng. Ư nghĩa sâu xa trong điều kiện này là kết hợp được sức người để khai thác thiên nhiên một cách hợp lư và hữu hiệu theo một chiều hướng đă hoạch định. Ư nghĩa này cũng nằm ở trong trách nhiệm của người ở chức vụ lănh đạo. Theo truyền thống của Dân Tộc, chữ Vương ( ± ) là Vua được hiểu như người kết hợp được sức dân qua h́nh chữ Thập ( + ) để cải tạo thiên nhiên trong phạm vi lănh thổ của một quốc gia với hai vạch ở hai đầu.

Chính trị là một danh từ có một nội dung bao quát rộng răi, nhưng ư nghĩa căn bản quan yếu nhất của chính trị là liên quan tới mọi người. "Nhân đạo chính vi đại”, đạo làm người lớn nhất là việc làm chính trị, tức là việc tự túc, Phải làm để có cái ăn để sống và sống là điều kiện sơ bộ của tiến tŕnh thăng hoa "sống - c̣n - nối - tiếp - tiến - hóa". Đạo, trách nhiệm của cá nhân, là tự túc.

Làm để trước là nuôi thân, sau là nuôi người, c̣n trách nhiệm của người lănh đạo là thiết lập chương tŕnh, dự kế hành động bằng những điều kiện thuận lợi những phương pháp hợp lư, bằng những kỹ thuật cơ khí khoa học để giúp tập thể hoạt động hữu hiệu hơn với những thành quả tốt đẹp hơn mà giảm được sự mệt nhọc của thân xác, có được giờ an nghỉ cho tâm hồn sống một đời thoải mái. Do đó chính trị là kinh tế: kinh tế là khởi điểm của chính trị, và kinh tế là chính trị: chính trị là chung điểm của kinh tế. Truyền thống dân tộc được ứng dụng trong những giai đoạn của công tác thi hành chính trị—Hành Chính—là "Phú chi Giáo chi", dịch nôm là: "có Thực mới vực với Đạo". Thực là điều kiện kinh tế, ăn, mặc. Đạo là chính trị, khuôn mẫu của lư Tưởng qua luật pháp chế độ. Sự tan ră của một chế độ v́ yếu tố kinh tế để người dân đói rét, bệnh tật, thất học để đi vào con đường “bần cùng sanh đạo tặc” chính là những lư do vững chắc thúc đẩy một cuộc Cách Mạng Dân Sinh bùng nổ.

 

B. Ư NGHĨA BIỂU TƯỢNG TIÊN RỒNG

 

1. Nhân sinh quan Sống Tiến Hóa

 

Chữ Thập Việt được kiểu thức hóa có h́nh dáng tượng trưng "Rồng có cánh Tiên" để diễn tả ư niệm Thăng Hoa của vật chất, mà vật chất là điều kiện để con người sống c̣n, nối tiếp và tiến hóa.

Con người—với sự liên hệ không thể tách rời nhiên giới—trên con đường tiến hóa để đạt đích điểm Nhân Chủ, sẽ cải thiện nhiên giới bằng phương pháp khoa học, sẽ cải thiện xă hội bằng phương pháp nhân văn hợp với nhân tính qua những phương thức:

Tự Lực để Tự Thắng, Tự Cường để đạt Tự Do trong tinh thần Tự Chủ, làm chủ cả nhiên giới lẫn nhân giới.

Một khi đă tới đích điểm “Vũ hóa” để thành Tiên, "hóa Long" để thành Rồng, loài người sẽ sống với tâm hồn thanh thoát của Thánh, với những tiện nghi của bậc vương giả.

Lư Tưởng Hạnh Phúc, Tự Do cho con người mà cả nhân loại mơ ước chính là lư Tưởng đă được các bậc Tổ Phụ Việt mặc khải và di chúc lại cho hậu thế qua biểu tượng truyền thống Tiên Rồng của Dân Tộc. Tiêu chuẩn khoa học của thời đại—bản chất của đời sống là Động, điều kiện để tồn tại là Tiến Hóa, nên chữ thập Việt cũng dùng để diễn tả ư niệm Động theo chu kỳ và ư niệm tiến hóa theo ṿng xoáy ốc. Theo đó, chữ thập Việt sẽ xoáy động theo đường tiến hóa đi vào nhiên giới theo khả năng tài trí khoa học của con người hiện đại.

Hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia lạc hậu nhất thế giới đang bị giặc đói rét, bệnh tật, và ngu dốt xâm lăng. Cuộc cách mạng Dân Sinh để đem lại cơm no áo ấm, sức khỏe cho đồng bào chỉ có thể thành công một cách nhanh chóng qua sự ứng dụng khoa học kỹ thuật một cách rộng răi trong mọi lănh vực xă hội, qua việc tạo những điều kiện thuận lợi, hợp t́nh hợp lư gây hào hứng phấn khởi trong ḷng người để toàn thể cùng cố gắng làm việc trong niềm tin không bị bóc lột tàn nhẫn những thành quả lao động của mồ hôi và nước mắt. Cốt nhiên là trước tiên Phải đánh gục bọn cầm quyền hại dân hại nước, tay sai đắc lực của đế quốc Cộng Sản bằng một cuộc Cách Mạng Dân Tộc.

Huyền sử Âu Cơ – Lạc Long Quân là sự khai triển ư nghĩa của biểu tượng Tiên Rồng, một triết lư sống với một nhân sinh quan cao đẹp: Sống Tiến Hóa. Bản chất sự sống là Động, điều kiện của sống là Tiến Hóa. Do đó Sống Tiến Hóa có nghĩa là sống trung thành với bản chất theo một chiều hướng rơ rệt: Hướng Thượng. Sống Tiến Hóa tức là thể hiện một cách trung thực, chuyên cần tiến tŕnh Nhân Chủ trong nhiệm vụ căn bản Làm Người và Thành Người. Khởi điểm của sự việc thực hiện này ở đơn vị cơ bản của nhân loại là Ta, con người với những ràng buộc của nhân luân. ở đơn vị tiêu chuẩn của nhân loại là Quốc Dân của một quốc gia có tư cách pháp nhân trong cộng đồng nhân loại.

Đích điểm của việc thực hiện tiến tŕnh Nhân Chủ này ở đơn vị căn bản của nhân loại là người người đều Tự Do và Hạnh Phúc, ở đơn vị tiêu chuẩn của nhân loại là các quốc gia đều được Độc Lập và Thịnh Vượng để từ những thực tế này nhân loại đi vào thống nhất trong b́nh đẳng với t́nh yêu thương huynh đệ.

Đích điểm Thành Người này chính là phương châm của nhân sinh quan Sống Tiến Hóa áp dụng trong cả hai cấp độ cá nhân và tập thể quốc dân.

Để đạt đích điểm ấy, Tổ Tiên Việt cũng đă để lại những phương thức mà sự quan trọng chủ yếu nằm trong chữ "Tự" hàm chứa sức mạnh của năng lực nội tại trong mỗi đơn vị như Tự Lực để Tự Thắng rồi Tự Cường để đạt Tự Do trong tinh thần Tự Chủ.

C̣n phương pháp để thực hiện những phương thức trên th́ rất uyển chuyển linh động, không cứng nhắc giáo điều mà biến hóa đổi thay tùy đối tượng, tùy môi trường, tùy thời đại.

Nhân sinh quan Sống Tiến Hóa đă được những thế hệ người Việt thực hiện qua những thăng trầm, suy thịnh trên gịng sử mệnh của nước ṇi, trong tiến tŕnh đi lên Nhân Chủ qua những chu kỳ vận hành sống c̣n, nối tiếp, tiến hóa đến vô cùng...

 

2. Đấu Tranh Tính

 

Đọc lại lịch sử, trên những nguyên do đă đưa đến những chiến thắng vinh quang của Dân Tộc trước 14 cuộc xâm lăng của Bắc phương kể từ thời Tần đến Thanh, tất sẽ nh́n thấy sức mạnh tiềm tàng đầy sinh động của Dân Tộc Việt Nam, y cứ trọn vẹn trên phương châm "Sống Tiến Hóa", mà hệ luận tất yếu của nó là Đấu Tranh Tính với hai phụ tính là sự Kiên Cường Bất Khuất và sự Bền Dai. Với phụ tính thứ nhất, quyết làm và dám chết trong việc thực hiện và bảo vệ lư Tưởng, không thỏa hiệp. Thái Sư Trần Thủ Độ đă thưa với Vua Trần Thái Tông “Đầu tôi chưa rụng xuống đất xin Bệ Hạ chớ lo” hay quyết liệt hơn như Đại Vương Trần Hưng Đạo thưa với Vua Trần Nhân Tông "Nếu muốn hàng xin bệ hạ hăy chém đầu tôi trước đă" và thật lẫm liệt oai hùng như Trần B́nh Trọng đă khẳng khái bằng một cái lắc đầu, dứt khoát bằng một tiếng quát “Không” cộc lốc trước những dụ dỗ thâm độc, nhử bả vinh hoa quyền thế của bọn ngoại nhân lang sói, rồi vươn cổ chịu chết để “thà làm Quỷ nước Nam c̣n hơn làm Vương đất Bắc!"

Phụ tính thứ hai là sự Bền Dai để lấy thời gian mua không gian, thắng địch vào lúc chót trong phút cuối cùng để dứt điểm và kết thúc chiến tranh như Lê Lợi trường kỳ với mười năm Kháng Minh và bài B́nh Ngô Đại Cáo bất hủ.

 

3. Thống Nhất Tính

 

Hơn ai hết, Dân Tộc Việt Nam đă thấu hiểu được nguy cơ của phân hóa và chia rẽ, nên thường đề cao tinh thần đoàn kết, thống nhất để chấp nhận “dốt đàn c̣n hơn khôn lỏi". Con người Việt Nam sống trong xă hội với những giàng giữ chằng chịt của mối nhân luân vợ chồng – cha con – anh - chị em – thầy tṛ – nhà với nước – vua với bầy tôi và mối liên hệ nhân giới với nhiên giới, đôi khi đă gặp những trường hợp "Lương Tâm” khó nghĩ Phải quyết định chỉ chọn lựa giữ “một” trong những cái Phải giữ để làm cho đời người có ư nghĩa. Chẳng ai trọn Hiếu để giữ vẹn Nhà hay Tận Trung để giữ vẹn Nước. Tuy nhiên, với Thống Nhất Tính, sản phẩm của tinh thần thực tiễn được gạn lọc qua những tổng hợp của Học Hiểu, người Việt Nam đă giải quyết thật ổn thỏa, đă gộp hai thứ làm một như "Thù Nhà" lồng vào "Nợ Nước" hoặc theo thứ tự ưu tiên trước sau. Việc Nghĩa là việc đúng và Phải làm như một bổn phận không thể chối từ. Nhưng việc Nghĩa cũng được phân định theo tiêu chuẩn của lư trí đạo đức để thành những tầng cấp cao thấp khác nhau, với những ưu tiên khác nhau để thi hành trong những hoàn cảnh không thể nhầm lẫn.

Do đó, trước nạn ngoại xâm, trong chiến tranh với nguy cơ diệt chủng th́ người dân Phải đi theo chiều nghịch lấy Tận Trung làm Tận Hiếu. V́ Nước mất th́ Nhà cũng tan, vợ con bị hiếp tróc, thân ḿnh chịu cảnh tù tội, nhưng trong xây dựng kinh tế th́ chính quyền lại Phải khuyến khích người dân đi theo đường lối thuận từ nhỏ lên to, xây dựng từ cá nhân gia đ́nh làm nền tảng, v́ dân giàu th́ nước tất mạnh.

Chính nhờ hiểu được truyền thống Dân Tộc qua bản chất nặng T́nh và trọng Nghĩa mà Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đă vận dụng được Thống Nhất Tính trong việc đoàn kết Dân Tộc để thực hiện những cuộc chiến tranh nhân dân đầy thắng lợi với phương châm cứu quốc tồn chủng, với khẩu hiệu “Sát Thát”. Tất cả cho chiến tranh, tất cả để chiến thắng. Thế nên, có một nhân sinh quan đúng tất có một chính trị quan đúng v́ cả hai đều lấy con người thực tế trong xă hội để làm khởi điểm bắt đầu và làm đích điểm đi tới. Sự khác biệt duy nhất giữa chúng là nhân sinh quan thực hiện ở tầng cấp cá nhân, đơn vị căn bản của nhân loại c̣n chính trị quan áp dụng trên tầng cấp Quốc Gia—đơn vị tiêu chuẩn của nhân loại—bằng những chế độ, pháp luật thể hiện qua cơ cấu xă hội.

 

C. NHỮNG Ư NIỆM LÀM NÊN BIỂU TƯỢNG TIÊN RỒNG

 

Biểu tượng Tiên Rồng đúc kết tinh hoa những thể nghiệm của ṇi giống Việt trong tiến tŕnh sống, c̣n, nối, tiếp, tiến, hóa.

 

1. Ư niệm Cơ Cấu

 

Ư niệm nổi bật nhất của biểu tượng là sự kết hợp thống nhất trong toàn thể. Không một dân tộc nào, quốc gia nào trên thế giới có một biểu tượng Đôi như Dân Tộc Việt. Hai thành phần khác biệt nhau trong phái tính như Nam với Nữ, trong lănh vực như Nhân Giới với Nhiên Giới, trong bản chất như Nước với Lửa, trong phẩm tính như Nhân với Dũng, như Khoan Thứ với Nghiêm Minh...đă ḥa hài thống nhất trong một toàn thể, bằng mối tương quan hỗ tương bổ túc để thực hiện một mục đích cao đẹp, một bổn phận, một nghĩa vụ.

 

2. Ư niệm Hữu Hiệu

 

Đời là môi trường tổng hợp của những mâu thuẫn, những thành phần trái nghịch và chống đối nhau từ trong bản chất, c̣n Sống là giải quyết những mâu thuẫn, những trái nghịch và chống đối đó. Thành công hay thất bại của việc giải quyết này sẽ làm nên giá trị phẩm chất của cuộc sống.

Cốt nhiên, sự phán đoán thành công hay thất bại Phải căn cứ trên một tiêu chuẩn chân lư có tính chất nhân loại như Phải hợp lư, Phải hợp t́nh. Lư đến từ khoa học với những phân tích và tổng hợp, với những diễn dịch và quy nạp, với những so sánh thực tế, những đo ngắm cụ thể. T́nh đến từ tâm hồn đa cảm, từ trái tim nồng nàn biết yêu thương hờn giận của một con người công chính, sống Đạo Làm Người với những tuân giữ giáo điều như Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ.

Do đó, Tiên Rồng chính là phương thức truyền thống dân tộc để giải quyết thành công những mâu thuẫn trong thực tế, bằng sự đoàn kết ḥa hài trong thống nhất của một toàn thể, với mục đích Sống-C̣n-Nối-Tiếp-Tiến-Hóa đến vô cùng. Tuy nhiên, phương thức kết hợp này cũng đặt ra những điều kiện Phải có để thành công như:

 

– Mục đích của kết hợp để làm động lực thôi thúc tự nội của mỗi thành phần.

– Tiêu chuẩn của kết hợp dựa trên tài, sức, khả năng của những thành phần.

– Cơ cấu của kết hợp dựa trên nguyên tắc phân nhiệm, phân quyền và phân lợi một cách hợplư.

 

3. Ư niệm Khởi Đoan và Nền Tảng

 

Với phương thức Tiên Rồng, cá nhân sẽ sống Tự Do trong Hạnh Phúc với sự giàng giữ của t́nh nghĩa vợ chồng làm nên một toàn thể gọi là Gia Đ́nh, đơn vị tiêu chuẩn của quốc gia (trong khi cá nhân chỉ là đơn vị căn bản của quốc gia).

Đạo vợ chồng là mối khởi đoan của Ngũ Luân, năm giềng mối căn bản ràng buộc con người vào xă hội. Ngũ Luân gồm: t́nh nghĩa vợ chồng, t́nh nghĩa cha con, t́nh nghĩa anh chị em, t́nh nghĩa thầy tṛ, t́nh nghĩa vua tôi. Năm mối nhân luân này đi theo chiều thuận của phát triển xă hội để nặng T́nh đặt Nhà trên Nước, v́ mục đích thiêng liêng nhất của đạo vợ chồng là tạo dựng người cho những thế hệ kế tiếp, làm đông đúc gịng họ, làm hưng thịnh giống ṇi.

Không có sự kết hợp vợ chồng như một nền tảng tất không có cha con, không có anh chị em, không có thầy tṛ, không có vua tôi, không có xă hội loài người.

V́ phương thức Tiên Rồng, tập thể Dân Tộc đă kết hợp bằng tiêu chuẩn t́nh cảm của những người có chung một huyết thống, có chung một văn hóa, có chung một vận mệnh. Như một cơ cấu để điều hành, tập thể Dân Tộc trong cuộc sống tiến hóa lại đ̣i hỏi thêm những điều kiện tài năng, đức độ, sức lực của những thành phần để phân công cho hợp lư, phân nhiệm cho đúng, phân quyền cho vừa, và phân lợi cho đều. Có vậy, mọi giai cấp với vai tṛ cơ năng của toàn thể mới ḥa hài trong thống nhất.

V́ mục đích trong sự kết hợp của tập thể Dân Tộc không Phải chỉ để nh́n nhau mà c̣n để nh́n chung về một hướng với tinh thần trách nhiệm, nên ư thức xă hội được đề cao. Do đó mối nhân luân là trọng Nghĩa hơn T́nh đi theo chiều nghịch để đặt Tổ Quốc trên hết với tiêu chuẩn Quân (Vua, Quốc Gia) Sư (Thầy), Phụ (Cha). Đây cũng là quan điểm truyền thống của đẳng cấp sĩ phu xưa mà Nguyễn Công Trứ trên lập trường tích cực phục vụ cho Dân Tộc cho Tổ Quốc đă kết tội những người trí thức "tháp ngà" lẩn trốn trách nhiệm với dân với nước.

“Đọc chín vạn ngh́n từ mặc kệ, không quân thần, phụ tử chẳng ra người". Họ là những trí thức lạc hướng, những thành phần "lạc ngũ" đứng ngoài lề cuộc tiến hóa của Dân Tộc. Chữ Ngũ có hai nghĩa, một là "Ngũ Luân" năm mối nhân luân giàng giữ con người, hai là "Đội Ngũ", hàng ngũ, đơn vị nhỏ nhất gồm 5 người lính trong nhiệm vụ xung kích.

 

4. Ư niệm Tự Do và B́nh Đẳng

 

Phương thức kết hợp Tiên Rồng đặt nền tảng trên sự Tự Do và B́nh Đẳng, trong sự tôn trọng lẫn nhau với ư thức bổ túc cho nhau, góp sức cùng nhau tiến hóa. Người th́ "vũ hóa" để thành Tiên, cá th́ "hóa Long" để thành Rồng sau khi vượt được "vũ môn".

Ư niệm Tự Do, B́nh Đẳng là sản phẩm tư Tưởng của nhân loại chung cho mọi người, mọi dân tộc và mọi thời đại. Với thời gian, trong tiến tŕnh đi lên của loài người, hai ư niệm này đă kết tinh thành lư Tưởng có đầy năng lực để làm say mê và thôi thúc con người Phải hành động. Sự sai lầm trong việc quan niệm Tự Do và B́nh Đẳng của những thế hệ thanh niên Việt trong những thập niên 1920 và 1930, khi hấp thụ văn minh Tây phương đă dẫn đến những hành động đả phá bừa băi bằng bôi bẩn cả những truyền thống cao đẹp của văn hóa Dân Tộc. Những t́nh nghĩa đă giàng giữ con người thành một toàn thể dân tộc có đủ sức chiến đấu để tồn tại trước những thù nghịch trong nhiên giới cũng như nhân giới... Những sự kiện bất công trong gia đ́nh, bóc lột ngoài xă hội là những hiện tượng Phải bài trừ. Nhưng hiện tượng không Phải là bản chất, để thay v́ chỉ phải sửa đổi, chỉnh đốn cho hợp lư hợp t́nh th́ lại phá bỏ, triệt hạ đến tận gốc rễ một cách quá khích đẫm đầy máu đồng bào.

Với tinh thần vong bản để khinh Tổ Tiên, diệt truyền thống, với thái độ vọng ngoại, với hành động tay sai của đế quốc, Đảng Cộng Sản Việt Nam đă chủ trương giai cấp đấu tranh quyết liệt, thẳng tay phát động đấu tố tàn nhẫn ngay chính cả cha mẹ, anh chị em... Hơn nưoea triệu người chết v́ đấu tố và hàng triệu người đă bị giết, bị tù đầy... chỉ v́ thiếu tinh thần vô sản quốc tế, hoặc thiếu tiêu chuẩn vô sản do Đảng quy định theo đường lối của Nga hay Tàu.

Tự Do không có nghĩa là phóng túng vô trách nhiệm. B́nh Đẳng không có nghĩa là mất trật tự, thiếu kỷ luật.

Tự Do đ̣i hỏi Phải làm bổn phận của tự do để hưởng quyền lợi của tự do. B́nh Đẳng cũng đ̣i hỏi Phải làm nghĩa vụ của b́nh đẳng để hưởng quyền lợi của b́nh đẳng.

Với sự khác biệt duy nhất giữa hai nền văn hóa Đông Tây là Dân Tộc Việt, với nhân sinh quan Sống Tiến Hóa, nhắm một đích điểm cao xa với những suy tính lâu dài nên nhấn mạnh tới yếu tố Nghĩa Vụ, với suy luận nếu ai cũng làm Nghĩa Vụ đúng mức th́ Quyền Lợi chỉ là một sự đương nhiên chẳng cần nói tới. Với thời gian nếp suy Tưởng đó đă trở thành truyền thống buộc con người chỉ nên nghĩ tới Nghĩa Vụ Phải làm, Phải thực hiện mà quên đi phần quyền, bỏ đi phần lợi theo gương những bậc thánh nhân vô ưu công, làm mà không nghĩ đến danh, đến vị. Trái lại Tây phương đề cao cá nhân nên tất yếu Phải nhấn mạnh, làm nổi yếu tố Quyền Lợi, c̣n để ch́m phần Nghĩa Vụ trong suy luận... nên dễ gây ngộ nhận nơi những người nông nổi.

Đọc lại huyền sử Âu Cơ – Lạc Long Quân, sự kiện hai vợ chồng chia con, và phân nhiệm người lên non giữ cơi, người xuống nước giữ bờ cho thấy rơ tinh thần B́nh Đẳng trong Nghĩa Vụ.

Để hiểu được nghĩa vụ và tinh thần nghĩa vụ trong ư thức tự do tất nhiên con người đó Phải có tinh thần tự chủ để tự chế những ích kỷ ươn hèn của thân xác.

 

V. Ư NGHĨA BA NGÔI SAO

 

Ba ngôi Sao Trắng trên nền Đỏ Máu Lửa ở phía trái phần trên lá cờ kết hợp thành một tam giác cân nằm xéo mà đỉnh là ngôi sao lớn, đáy làm nên bởi hai ngôi sao nhỏ và bằng nhau.

 

A. UY QUYỀN LĂNH ĐẠO

 

Theo ư nghĩa thông thường, Sao tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt của khả năng lănh đạo hoạch định, cho tinh thần linh mẫn của tài chỉ huy ứng biến. Do đó, Sao mang một ư nghĩa tài năng và quyền hành phục vụ cho tập thể, cho Tổ Quốc.

Ngôi sao lớn là Sao Việt. Việt ( ) c̣n có nghĩa khác là cái búa lớn để tượng trưng cho uy quyền lănh đạo. Sao Việt cũng tượng trưng cho chủng tộc Bách Việt mà chữ Việt viết bằng bộ Tẩu ( ), trong chữ Bôn Tẩu, chỉ sự chạy một cách vội vă gấp rút và chữ Mậu ( ), là tên can thứ 5 thuộc hành Thổ, đứng ở vị trí trung tâm của Thập Thiên Can.

Chữ Mậu cũng có ư nghĩa tốt đẹp, giỏi giang, tài năng hơn người. Đó là ư nghĩa của chữ Việt, được hiểu là vượt trỗi, lên trên cao. Lư do của sự trỗi vượt này là sự cố gắng tự thắng và sự chuyên cần làm việc (bộ Tẩu) với một nhân sinh quan đúng đắn, v́ cân đối và được xây dựng một cách ḥa hài trên thực tế xă hội (hành Thổ) qua sự thực hiện nhân sinh quan Sống Tiến Hóa (thành Tiên, hóa Rồng).

Hai ngôi Sao nhỏ là Sao Hôm và Sao Mai, tượng trưng cho sự vận hành liên tục và vô tận của thời gian, biểu tượng cho sự bền dai, ư chí kiên tŕ, hoạt động trường kỳ và măi măi tồn tại.

Cả ba ngôi sao tổng hợp lại có ư nghĩa là Lư Tưởng Việt, qua cách Sống Tiến Hóa trên con đường Nhân Đạo—nhằm đạt đích điểm Nhân Chủ bằng phương thức phù hợp với Nhân Tính—làm chủ cả nhân giới lẫn nhiên giới, sẽ tồn tại măi với thời gian và loài người.

Vị trí Sao Việt trên nền Đỏ Máu Lửa ở góc cờ cũng để nói lên vị trí thực tế trên đất địa của Việt Nam ở vùng Đông Nam Á, khu vực nhiệt đới, vị trí đó thuộc Tốn chỉ hướng Đông Nam trong Hậu Thiên Bát Quái. Hơn nữa, vị trí của Sao Việt cũng muốn nhắc lại một sự kiện lịch sử với niềm tin truyền thống của nước ṇi:

Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư mà Lư Thường Kiệt đă cảm nhận một cách sâu sắc và vận dụng như một tư Tưởng căn bản để chỉ đạo hành động một cách suốt dọc trong công cuộc đấu tranh Cứu Nước và Giữ Nước của toàn dân dưới triều Lư.

 

B. SỨC MẠNH CỦA VĂN HÓA

 

Là biểu tượng của Lănh Đạo và Chỉ Huy, ba ngôi Sao cũng c̣n diễn tả ư niệm văn hóa trong chức năng giàng giữ người với người và nhiên giới với nhân giới một cách ḥa hài Thống Nhất trong một quốc gia Độc Lập và Thịnh Vượng. Tính chất thống nhất của văn hóa được tượng trưng bằng sự đồng quy của hai đường thẳng làm nên đỉnh của một tam giác và sự bằng nhau của hai sao Hôm và Mai, sự b́nh đẳng của hai thành phần trong kết hợp làm nên một đường đáy. Người ta đă định nghĩa văn hóa theo nhiều phương cách, nhưng ở đây trong chức năng giàng giữ này, văn hóa được hiểu như một hệ thống tư Tưởng bao gồm những tinh hoa của cả nhân loại, được tiếp thu qua sự thể nghiệm và sự gạn lọc có chủ đích của nhiều thế hệ làm nên Hồn Thiêng của một dân tộc, nối kết chặt chẽ quá khứ, hiện tại và tương lai thành một toàn thể, thành một gịng giống mien man tiến hóa đến vô cùng.

Ba ngôi Sao cũng là ba điểm đặc trưng của sự vận hành có tính chất sinh mệnh của văn hóa Việt, gồm phương châm, phương thức và phương pháp.

Phương châm đó là “Người”, gồm con người cụ thể đang sinh sống, đang hiện hữu trong xă hội như là khởi điểm để đầu gọi là Nhân Bản, và con người lư Tưởng, con người tuyệt đối, với những phẩm tính cao đẹp làm đích điểm để ngắm nh́n, để vươn lên, để đạt tới, gọi là Nhân Chủ.

Phương thức đó là "Người", gồm những mẫu mực, những nghĩa vụ Phải thực hiện trên con đường đi lên đích điểm Nhân Chủ, như vợ chồng, như cha con, như anh chị em, như thầy tṛ, như dân với nước, như quốc gia với cộng đồng thế giới, như cá nhân với cả loài người được gọi là Nhân Đạo.

Phương pháp đó là "Người", con người Phải tự ḿnh làm lấy, tự ḿnh thực hiện những phương thức nêu trên, Phải tự ḿnh đi trên con đường Nhân Đạo để đạt đích điểm Nhân Chủ. Sự giúp đỡ tuy có, đến từ những hoàn cảnh xă hội thuận lợi, nhưng nguyên tắc chủ yếu của phương pháp này vẫn là "Ta là chính, tất cả chỉ là phụ".

Với tiền bạc người ta có thể thuê, với quyền lực người ta có thể bắt kẻ khác thay ḿnh làm những dịch vụ, những công việc như quét nhà, rửa bát, lái xe... nhưng không ai có thể nhờ kẻ khác sống cuộc đời của ḿnh! Con người là Người nhưng c̣n Phải Làm Người để Thành Người. Là Người, đó là điểm khởi hành chung cho cả nhân loại, ư niệm b́nh đẳng nằm ở đó và cũng dừng ở đó. V́ chỉ có sự b́nh đẳng trong bản chất mà không có sự b́nh đẳng trên phẩm chất, trên tư cách, trên đạo đức. Có nhận định như vậy th́ mới hiểu tại sao người Việt thờ Tổ Tiên, xă thôn Việt thờ Thần Hoàng, Dân Tộc Việt tôn sùng anh hùng liệt nữ. Làm sao có được sự b́nh đẳng trên phẩm chất tư cách, đạo đức giữa những tên Việt gian bán nước với những bậc anh hùng liệt nữ đă hy sinh mạng sống, đă tận hiến cuộc đời cho sự tồn vong của ṇi giống?

Đó cũng là lư do tại sao chữ Việt bằng bộ Tẩu là chạy gấp rút vội vàng, và chữ Mậu là can Mậu, thứ 5 ở Thập Thiên Can, thuộc hành Thổ, trung ương của Ngũ Hành. "Nội thất" của bậc Nhân Chủ, khuôn mẫu và đích điểm Phải đạt tới của đời người Việt chính là phương thức sống có tính chất truyền thống mà Tổ Tiên để lại cho con cháu, nhắc con cháu Phải sống tiến hóa, Phải tự thắng vượt như một điều kiện căn bản.

Đành rằng lẽ "hưng thịnh – suy vong" là chuyện mà dân tộc nào cũng đều nếm trải nhưng giá trị đích thực của một con người là đứng lên được sau những lần ngă gục và giá trị đích thực của dân tộc là quật khởi để hùng cường đi lên sau những lần thất bại. Vậy th́ Việt Nam là dân tộc đă, đang và sẽ măi măi quật khởi để hùng cường đi lên sau những lần thất bại, dù to lớn vô cùng, dù đớn đau triền miên, dù ê chề tủi nhục chất ngất, mà xét cho cùng đó cũng là sức mạnh của Văn Hóa Dân Tộc.

 

C. VĂN HÓA CŨNG LÀ MỘT MẶT TRẬN

 

1. Yếu tố Văn Hóa: sức mạnh Công Tâm

 

Yếu tố Văn Hóa như những sợi dây tinh thần giàng giữ con người lại với nhau, cá nhân và tập thể xă hội và người dân thống nhất thành một khối Quốc Dân để làm nên sức sống mạnh của Quốc Gia. Nhưng sức mạnh của ta cũng là những chướng ngại, khó khăn cần Phải san bằng, phá vỡ của địch trên bước đường bành trướng xâm lược, của mọi loại đế quốc dù cũ hay mới, dù phát xuất ở Đông hay ở Tây.

Tôn Tử đă mở đầu cuốn Binh Pháp gồm 13 thiên bằng thiên Kế. Kế là xem xét, tính toán trên toàn thể các yếu tố để biết suốt hết vấn đề. Do đó, Kế là Mưu đă định xong qua những dự án, chương tŕnh hành động được bàn luận ở chốn miếu đường bởi những phần tử chủ yếu đang lănh đạo quốc gia, trên căn bản “Biết Người – Biết Ta” để nắm chắc lư tất thắng trước khi ra quân, xung trận.

Năm yếu tố cần Phải xét thấu đáo là Đạo – Trời – Đất – Người và Pháp. Đạo chính là yếu tố Văn Hóa bao gồm tất cả những giàng giữ Trời – Đất – Người làm thành một toàn thể gọi là quốc gia, là xă hội và Pháp chính là phương thức để phá nát sự vững chắc của cơ sở của địch do sự giàng giữ của Văn Hóa mà có. Pháp y cứ trên 3 điểm chủ yếu:

Thiên Thời tức chính trị Phải phá cho hooeng. Địa Lợi tức kinh tế Phải phá cho kiệt quệ và Nhân Ḥa tức nhân sự Phải phá cho tan ră. Căn cứ trên hiệu quả của hành động, Pháp bao gồm ba cấp bực: cao nhất là Công Tâm, nh́ là Công Lương và ba là Công Thành. Công Tâm địch, thắng địch trên chiến tranh tư tưởng, bằng sức mạnh của chính nghĩa làm cho địch có mặc cảm tội lỗi, sai quấy cảm thấy bị lợi dụng, lừa dối bởi những người lănh đạo của ḿnh mà quay lại theo ta chống lại họ, hoặc chiến đấu với tinh thần chủ bại.

 

MẶT TRẬN CÁCH MẠNG HƯNG PHỤC VIỆT

TÀI LIỆU GIẢI THÍCH Ư NGHĨA CỜ

Part 4

 

2. Pḥng tuyến Văn Hóa: T́nh Tự Dân Tộc

 

Để chống lại hữu hiệu âm mưu xâm lược của địch thù trong mặt trận Văn Hóa, ta cũng Phải thiết lập một pḥng tuyến văn hóa vững chắc, đan kết bằng những truyền thống cao đẹp của Dân Tộc mà căn bản là Ḷng Yêu Nước của những con người công chính. Làm cho mọi người biết sống công chính và biết yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào một cách nhiệt thành là sứ mạng của Giáo Dục. Đó là khởi điểm của chính trị và cũng là chung điểm của chính trị trong nhiệm vụ bảo tồn, đăi lọc và phát huy văn hóa dân tộc trên lập trường "Truyền Thống – Khoa Học và Khai Phóng". Giáo Dục có nghĩa là nuôi, là dạy bao gồm cả hai phần thể xác lẫn tinh thần. Nhưng Giáo Dục c̣n có nghĩa là uốn nắn tâm hồn cho ngay thẳng, nuôi dưỡng tâm hồn bằng lư Tưởng cao đẹp, bằng những ư niệm đạo đức Lễ Nghĩa Liêm Sỉ, bằng những khuôn mẫu Người tuyệt vời và trọn hảo.

Do đó, sức mạnh giáo dục không chỉ hạn chế trong khuôn viên học đường với các bậc thầy cô, mà nối dài mở rộng sang khuôn khổ quốc gia và bao gồm tất cả mọi người có khả năng trí tuệ. Sứ mạng này đă được xây dựng trên định đề “Quốc Gia Hưng Vong Thất Phu Hữu Trách”. Người dân lành thất học c̣n Phải chịu trách nhiệm với quốc gia th́ huống hồ những người được hưởng ơn huệ của Tổ Quốc, của đồng bào, của gịng tộc cha mẹ, được đầy đủ phương tiện học hành để mai sau trở nên người hữu dụng phục vụ cho Tổ Quốc, cho đồng bào một cách đắc lực, hữu hiệu hơn sao lại có thể bàng quan, thanh đàm, bàn luận một cách vô trách nhiệm? Ai thấu được cái thâm thúy của Tổ Tiên mới hiểu được tại sao Sĩ lại được đứng đầu trong Tứ Dân: Sĩ, Nông, Công, Thương; tại sao Dân Tộc Việt lại hiếu học, đề cao yếu tố văn hóa với nhận định: “Làm văn hóa lầm th́ tác hại đến muôn đời” tức là làm diệt vong cả một nước ṇi.

Đọc lịch sử đấu tranh của Dân Tộc, kẻ Sĩ, người trí thức, đă làm tṛn nghĩa vụ nặng nề của ḿnh trong công cuộc Mở Nước, Dựng Nước, Cứu Nước và Giữ Nước.

Nhưng cũng từ đội ngũ trí thức, khoa bảng đó, những tên phản quốc, Việt gian đă xuất hiện, làm tay sai cho ngoại bang, tích cực phá nước, phá nhà, muối mặt làm điều vô sỉ. Lư do để họ phản quốc có rất nhiều: v́ bị mua bằng Danh, v́ bị nhử bằng Lợi, v́ bị ép bằng Lực... Tuy nhiên, lư do căn bản vẫn là họ chưa được giáo dục đúng mức để có thể ư thức một cách sâu sắc và đúng đắn: họ là một thành phần cơ năng của cơ thể Tổ Quốc Việt Nam, để chỉ sống và chỉ chết cho Lư Tưởng Việt và cho phẩm giá của con người muôn thuở.

 

3. Nhiệm vụ của người trí thức: Tải Đạo

 

Sự trọng vọng của Dân Tộc đối với hàng ngũ trí thức cũng tương tự như sự tôn kính các tông đồ trong đạo giáo. Nếu đạo giáo chỉ có thể truyền bá bằng sự tận tụy của những người tin đạo và sống đạo, th́ tinh thần công chính và ḷng yêu nước của Dân Tộc Việt cũng tùy thuộc vào hàng ngũ trí thức, những “thầy khóa”, “ông đồ”, “thân hào nhân sĩ”, miền “hương Đảng” và những “bậc đại khoa trọng thần” chốn “miếu đường”. Nhiệm vụ của họ như chất men để biến cơm thành rượu, như chất muối để giữ thịt cá khỏi ươn.

Nhưng men hả, muối nhạt th́ sao làm tṛn  được nhiệm vụ trao phó?! Những đ̣i hỏi “Nhất nhật tam tỉnh” để “Chính kỳ ngôn, chính kỳ hành" là những đ̣i hỏi tiêu chuẩn của người trí thức trong nhiệm vụ sống để “Tải Đạo” làm khuôn mẫu cho đời.

Câu “Đạo mất trước, Nước mất sau” là một khẳng định về nhiệm vụ cốt tủy của người trí thức là Phải hiểu đạo, tin đạo, sống đạo và truyền đạo: Đạo làm Người, Đạo làm Dân, Đạo yêu Nước. Cốt nhiên, với địa vị cao trọng như thế người trí thức tất Phải cố gắng hoàn thành nghĩa vụ được trao phó, nghĩa vụ “Tải Đạo” để khỏi phụ ḷng kỳ vọng của Dân Tộc nhất là trong những giai đoạn dầu sôi Lửa bỏng quyết định sự tồn vong của nước ṇi như hiện nay. Đă đến lúc Phải gạt bỏ những lời phát biểu lấp lửng đầy mâu thuẫn: “không làm chính trị!" bởi v́ cái tính chất "trí thức vô ư thức" của nó.

Chính trị là những liên hệ nghĩa vụ—quyền lợi giàng giữ tất cả mọi người làm thành một xă hội, một dân tộc. Chính trị có ảnh hưởng trực tiếp với Dân Quyền, đến Nhân Quyền, đến niềm hạnh phúc riêng tư của từng người, vậy sao ta lại lơ là từ chối một cách vô ư thức?!

Với tư cách là trí thức, ta có quyền từ chối làm chính trị như một chính khách, theo nhu cầu phân công của xă hội, nhưng không thể không có ư thức chính trị để phán đoán tốt, xấu, để quyết định nên, không, để hành động theo, chống, và người trí thức chắc hiểu hơn ai hết câu "không chọn lựa cũng là chọn lựa".

Với ư thức chính trị y cứ trên lập trường dân tộc đúng đắn, được soi sáng bởi tinh thần công chính, được thúc đẩy bởi ḷng yêu nước nồng nàn th́ tất cả những ǵ họ rao giảng, tuyên xưng sẽ là những đóng góp tích cực trong việc nâng cao dân trí, thống nhất dân tâm, phục hưng dân đạo, và trên pḥng tuyến dân tộc văn hóa chập trùng, mênh mông với những hư thực mê hoặc của tư tưởng trừu tượng, họ sẽ không bị lừa gạt bởi ảo giác để lẫn Thù là Bạn, nhầm Ma là Tổ rồi cơng rắn về cắn gà nhà.

 

VI. Ư NGHĨA SÁU VẠCH TRẮNG

 

Sáu vạch Trắng tượng trưng cho ánh sáng của Lư Tưởng Việt, của văn hóa truyền thống và của biểu tượng Tiên Rồng. Sáu vạch Trắng cũng tượng trưng cho tập thể quốc dân được kết hợp trong thống nhất và sống ḥa hài trong xă hội. Văn hóa là mối dây giàng giữ người với người và nhân giới với nhiên giới, và quốc gia được định nghĩa là một thực thể cấu thành bởi ba yếu tố: đất đai, dân số và văn hóa.

Tuy chỉ cần ba yếu tố để tạo dựng, nhưng để tồn tại trong trật tự và thịnh vượng, quốc gia cần phải thỏa măn sáu điều kiện, tượng trưng bởi sáu vạch Trắng trên nền cờ.

 

A. SÁU ĐIỀU KIỆN ĐỂ QUỐC GIA TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN

 

1. Thống Nhất Tính Một quốc gia có thể bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau của một chủng tộc hoặc bao gồm nhiều chủng tộc, nhưng tất cả Phải đuợc thống nhất thành một Quốc Dân, có chung một Quốc Tịch. Thống Nhất Tính này xây dựng trên ư niệm B́nh Đẳng, không có sự phân biệt, kỳ thị về cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất như Kinh – Thượng, Nam – Bắc, Giàu – Nghèo. Những hiện tượng gây chia rẽ v́ kỳ thị đều Phải cấp thời sửa trị bằng nhiều biện pháp như giác ngộ bằng giáo dục, nâng đỡ bằng kinh tế, ngăn ngừa bằng chính trị, chế tài bằng pháp luật hoặc tiêu diệt bằng quân sự. Nguyên tắc thống nhất là một nguyên tắc tối thượng của Quốc Gia và của Quốc Dân.

 

2. Toàn Vẹn Tính Đất nước của quốc gia được h́nh thành là do bao công sức, xương máu của muôn vàn thế hệ tổ tiên. Đất nước là tư hữu của ṇi giống, tài sản chung của quốc dân. Đất đai chính là sinh mệnh của quốc gia có tính chất bất khả chuyển nhượng. Do đó không một ai dù ở vị thế nào có quyền chia cắt lănh thổ. Trái lại, tất cả mọi người đều có nghĩa vụ bảo vệ lănh thổ và nghĩa vụ thu hồi những lănh thổ của quốc gia bị xâm chiếm bằng bạo lực quân sự hoặc bằng thủ đoạn chính trị.

Việc thu hồi này Phải được thực hiện một cách nhanh chóng và trên nguyên tắc trọn vẹn, không thể sứt meoe, không thể thiếu sót từ địa vực, không vực, hải vực và tiềm vực. Toàn vẹn cũng là một nguyên tắc tối thượng của Quốc Gia và Quốc Dân.

 

3. Truyền Thống Tính

 

Văn hóa là mối dây giàng giữ người với người, nhân giới với nhiên giới để làm nên một xă hội thống nhất trong ḥa hài. Văn hóa chính là sinh mệnh của một xă hội, hồn thiêng của một dân tộc, sức mạnh tinh thần của một quốc gia. Do ảnh hưởng của đất đai, khí hậu trên sự cảm nhận đặc thù của từng dân tộc, xă hội, mà mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa riêng, mỗi xă hội có một đặc tính văn hóa khác biệt với nền văn hóa kế cận; dù tất cả đều có những nét chủ yếu của một nền văn hóa lớn lao gồm nhân loại như một toàn thể. Sắc thái văn hóa riêng của các dân tộc và các sắc tộc cần Phải bảo vệ như những di sản quư báu, những đóng góp giá trị làm phong phú cho nền văn hóa quốc gia và nhân loại.

Với sự kế cận của hai nền văn hóa đồ sộ Trung Hoa và Ấn Độ, Dân Tộc Việt đă không bị đồng hóa mà trái lại đă tiếp thu để ứng dụng một cách đầy sáng tạo trên căn bản văn hóa dân tộc. Hai chứng tích thực tế nhất là tên gọi của ṇi giống: Việt là vượt lên trên cao như Siêu Việt, và là biểu tượng truyền thống của dân tộc Tiên Rồng với một nhân sinh quan Sống Tiến Hóa, coi bản chất của sống là Động, và điều kiện của sống là Tiến Hóa...

 

4. Tương Đối Tính

 

Chế độ chính trị cần Phải sửa đổi cho phù hợp trào lưu tư Tưởng tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, trên nguyên tắc "Ta là chính", sự áp dụng các chế độ chính trị, kinh tế, pháp lư vào t́nh trạng thực tế Việt Nam cần Phải xét lại và gia giảm cho phù hợp với tiêu chuẩn kinh tế của dân tộc, hoàn cảnh xă hội của dân tộc, và hoàn cảnh thời đại của toàn thế giới. Chính trị là thiết kế, là hoạch định với những chương tŕnh, dự án vĩ đại cho từng ngũ niên, từng thập niên sắp tới. Do đó người được ủy nhiệm trọng trách lănh đạo Phải có một cái nh́n xa và rộng, có một sự suy tính cao và sâu, bao gồm và tác động được mọi lănh vực như kinh tế, văn hóa, xă hội... một cách có hiệu quả để làm cho dân giàu, nước mạnh. Trong trào lưu tư Tưởng tiến bộ của thời đại, con người đă giác ngộ Nhân Chủ, ư thức được Nhân Quyền, và đi trên con đường Nhân Đạo... Từ nhân sinh quan vững chắc này, cá nhân sẽ bước vào sinh hoạt xă hội với tư cách người dân, có một chính trị quan cũng xác đáng và hợp lư, với những đ̣i hỏi thực hiện lư Tưởng Dân Chủ qua việc tôn trọng Dân Quyền...

 

5. Tăng Lượng và tăng Phẩm của mức sống

 

Phải làm sao cho quốc dân có được một cuộc sống no ấm, khúc cá to, bát cơm đầy, nghĩa là có được mức sống tối thiểu để sống xứng đáng là một con người giữ được nhân phẩm và tư cách. "Phú quư sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”, đó là những sự thực đă được loài người thể nghiệm và xác nhận là đúng. Trách nhiệm nặng nề của những người trong chức vụ lănh đạo quốc gia nằm trong việc hoạch định những chương tŕnh xây dựng kinh tế để làm cho dân giàu nước mạnh. Và theo thời gian, với sự thành công của những kế hoạch phát triển hợp lư về mọi ngành, mọi nghề... mức sống của toàn dân sẽ đổi từ tăng lượng sang tăng phẩm. Từ cơm no áo ấm sang cơm ngon áo đẹp. Giấc mơ muôn thuở của người dân Việt là quyền tư hữu hợp lư, ai cũng có một mái ấm, có công ăn việc làm, có giờ thảnh thơi để sống với nội tâm, với gia đ́nh. Trong xă hội trai có vợ, gái có chồng. Tuổi già được phụng dưỡng với ḷng kính trọng, tuổi thơ được chăm sóc dậy dỗ với yêu thương... Người dân th́ Phải làm nghĩa vụ để hưởng quyền lợi nhưng chính quyền Phải đảm nhận việc cung cấp cơ hội, và bảo đảm sự b́nh đẳng trong cơ hội cho mọi người.

 

6. Đề cao Đạo làm Người, Đạo làm Dân

 

Truyền thống đạo đức của Dân Tộc ta là ḷng biết ơn "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" và "Uống nước nhớ nguồn”. Đó là căn nguyên trực tiếp của sự thờ kính Tổ Tiên ở tầng cấp gia đ́nh, thờ Thần Hoàng ở tầng cấp làng xă, đô thị và thờ các bậc anh hùng liệt sĩ, các chiến sĩ vô danh có công với nước ṇi đồng loại ở cấp quốc gia. Việc thờ kính đó có một ư nghĩa thực tế là để chính chúng ta học tập những gương mẫu sống rất người của các Ngài và để ứng dụng vào những trường hợp lịch sử được lập lại, tái diễn theo chu kỳ một cách uyển chuyển. Ḷng yêu nước thương ṇi cần Phải được nuôi dưỡng bằng những nghi thức trang nghiêm có tính cách tôn giáo của sự thờ kính, trong những khung cảnh, cơ sở tế tự riêng như quốc miếu, đền thờ của các anh hùng, đài kỷ niệm công ơn ghi sự tích. Đành rằng những bậc nhân thần đạt đạo làm Người, làm Dân đó làm nghĩa vụ với Đất Nước, làng xóm đâu mong đền đáp. Nhưng kẻ làm ơn nên quên, người nhận ơn nên nhớ!

Vậy chúng ta chẳng lẽ cũng theo thói bạc bẽo, lạnh lùng của những phường mất gốc, bội nghĩa quên ơn “ăn cháo rồi đá bát” như bọn lănh tụ sài lang của Đảng Cộng Sản hay sao? Và đó cũng là một phương pháp giáo dục để ngăn ngừa những tái diễn lố lăng, vô sỉ và trơ trẽn của những hiện tượng tham nhũng, đê hèn, vọng ngoại của những kẻ bất xứng trên chức năng lănh đạo, điều hành. Đề cao đạo làm Người, đạo làm Dân với những khuôn mẫu của Lễ Nghĩa Liêm Sỉ cũng là để cho quốc dân có cái tiêu chuẩn phân biệt chính tà mà hành động vạch mặt chỉ tên những tên tay sai của đế quốc v́ địa vị cá nhân, v́ quyền lợi phe nhóm trâng tráo "Nhận ma làm ông tổ" hết Mác Lê, đến Xít Mao... bằng cách hết làm thơ "khóc ông Xít", thương ông hơn cha mẹ lại đến cảnh dựng tượng đồng bắt dân Việt thờ thay cho Tiên Tổ.

Bên cạnh những biểu tượng về điều kiện tồn tại và phát triển của Quốc Gia, sáu vạch Trắng c̣n chuyên chở cả một hệ thống suy luận sâu sắc, cao xa xây dựng trên ư niệm căn bản là "Dịch" mà biểu tượng truyền thống "Tiên Rồng" của Dân Tộc và chữ Việt, tên của ṇi giống đều có chung một bản chất.

 

B. GIẢI THÍCH THEO QUẺ CÀN:

 

Sáu vạch Trắng xếp trên nhau để làm nên Quẻ Càn. Quẻ Càn là Quẻ bắt đầu Kinh Dịch gồm 64 Quẻ, tượng trưng cho một chu kỳ lớn gồm những chuyển biến do những tác động của nội lực và ngoại lực (của ta và người, của khách và chủ, của người và vật) động chạm nhau, chống đối nhau, xung khắc nhau, mâu thuẫn nhau. ḥa hợp nhau mà gây nên.

Nguồn gốc uyên nguyên của vũ trụ, của con người là một vấn đề vẫn chưa ai có khả năng giải thích. Tất cả những cố gắng giải thích từ trước tới nay về nguồn gốc vũ trụ, con người đều là những giả thuyết để làm việc, suy cứu, tra t́m. Những giả thuyết đó đặt trên định đề của ḷng tin, chưa được chứng minh bằng khoa học chính xác một cách chi tiết.

Kinh Dịch, cuốn sách xưa nhất của nhân loại mà người ta được biết, tŕnh bày ư niệm tiến hóa đó như sau: Thái Dịch sinh Lưỡng Nghi (âm dương) rồi phân Tứ Tượng, rồi chuyển Bát Quái, rồi thành 64 Quẻ và biến hóa không ngừng thành tỷ tỷ những chủng loại khác nhau với những h́nh thái khác nhau. Do đó vũ trụ quan của Dịch là vô nguyên. Vô nguyên tức là chưa rơ căn nguyên.

Dịch có thái độ khách quan và khoa học, là thái độ "tồn nghi", tức là để cái nghi ngờ chưa giải thích được minh bạch lại, chờ thêm dữ kiện để giải quyết chứ không cưỡng gượng đáp liều, suy diễn thiên lệch.

Kinh Dịch bắt đầu bằng Quẻ Càn để mở đầu cho một ṿng đại diễn biến hóa. Quẻ Càn tức là Quẻ lấy thực tế "con người sống trong xă hội" làm khởi điểm, làm căn bản với một khẳng định có tính chất định đề là "Nhân bản hồ tổ, vạn vật bản hồ thiên", nghĩa là vạn vật do thiên nhiên vật chất sinh ra, nhưng con người th́ do ông Tổ người sinh ra. V́ vậy mới xứng đáng là "linh ư vạn vật" đáng quư trọng nhất trong vũ trụ v́ tính chất "Người" linh thiêng. Những nhận định này đă đưa đến việc thiết lập một nhân sinh quan đúng đắn, hợp lư, hợp t́nh là lấy ngay con người cụ thể, lấy cái Ta đầy những thấp kém, thiếu sót về cả vật chất lẫn tinh thần làm nền tảng để xây dựng mẫu người lư Tưởng Phải có, làm khởi điểm để đi đến đích đi?m Tự Chủ và thành Nhân Chủ. Với con người trong tiến hóa th́ giai đoạn lập thành xă hội loài người là giai đoạn quan trọng nhất. Đó là bước rẽ ngoặt có sự khác biệt rơ ràng như giữa Lượng Số và Phẩm Chất.

"Người" là ư niệm có một khả năng bao quát rộng cả một loài, do đó gồm những phẩm tính chung của cả loài người trong vũ trụ. V́ là ư niệm nên có tính chất trừu tượng. Do đó, chúng ta không bao giờ có thể gặp được “người” trong thực tế. “Người” chỉ xuất hiện cụ thể với những tính chất chỉ thời gian như già trẻ, chỉ không gian, địa phương như Đông Tây, Nam Bắc, chỉ h́nh thể như to nhỏ, cao thấp, chỉ màu sắc như trắng đen... Tất cả những yếu tố tinh thần và vật chất đó hợp lại tạo thành một con người cụ thể được giàng giữ trong tương quan xă hội, nhân loại. Đó cũng là lư do cá nhân chỉ là một đơn vị cơ bản mà không là đơn vị tiêu chuẩn của quốc gia. Trong quốc gia, đơn vị tiêu chuẩn là gia đ́nh, tức là bước đầu của cá nhân trong tương quan song phương vợ chồng để từ đó đi lên cao và lan xa trong xă hội. Trong cấp bực thế giới, đơn vị tiêu chuẩn là quốc gia, dù cá nhân vẫn được coi là bản vị gốc cần Phải tôn trọng như qua bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.

Sáu vạch Trắng, tượng trưng cho Quẻ Càn (6 Hào), diễn tả những nghĩa vụ của con người Phải hoàn tất trong cuộc sống tiến hóa Làm Người để Thành Người.

Theo quy luật của Dịch, các Vạch (Hào) tính từ dưới tính lên, để diễn tả sự tiến hóa có một chủ đích, một định hướng rơ rệt của chính loài người: hướng tiến lên, vượt lên cao.

 

1. Hào Sơ: ở dưới cùng: sự giàng giữ con người với nhau bằng t́nh nghĩa vợ chồng. Hào Sơ là hào căn bản đă được coi là khởi đoan của mối nhân luân. “Quân tử tạo đoan hồ phu phụ”, nghĩa là tất cả mọi người, kể cả thánh thần vua chúa... tất cả đều Phải bắt đầu ở mối tương quan cơ bản "vợ chồng" này trong con đường tiến hóa làm Tiên, Phật, Thánh, Thần, với lư do "Phu thê, thiên địa chi đại đạo”, vợ chồng là mối đạo lớn nhất trong vũ trụ.

 

2. Hào Nhị: Sự giàng giữ con người với nhau bằng t́nh nghĩa cha con. Làm cha mẹ tạo dựng ra con cái, nhưng c̣n Phải nuôi, Phải dạy con cái làm người cho phù hợp với lư Tưởng người. Việc nuôi tuy quan trọng nhưng việc dạy lại quan trọng hơn, do đó ta có câu “Nuôi con trai mà không dạy cho nên người th́ đâu có lợi bằng nuôi lừa, nuôi con gái mà không dạy th́ đâu có lợi bằng nuôi heo đẻ”. Phẩm tính của cha mẹ là Nghiêm, Từ. Phẩm tính của con cái là Hiếu, Thuận. Bổn phận làm con là nhỏ lo học, lớn lo báo đền công ơn bằng cách “giúp nước, giúp đời” để “dương thanh danh, hiển phụ mẫu" làm cho gịng họ nổi tiếng, cha mẹ hănh diện. Tinh thần tông tộc trong danh dự, sự lưu xú, ô danh làm điếm nhục tông môn chính là gốc rễ sâu xa của thái độ "Chết vinh hơn sống nhục” đầy dẫy trong lịch sử đấu tranh đẫm máu của dân tộc.

 

3. Hào Tam: Trong ngưỡng cửa gia đ́nh là sự giàng giữ anh chị em, ngoài xă hội là mối dây liên hệ giữa những người đi lại với nhau với tư cách bạn bè, giao tiếp với nhau với tư cách của những người làm ăn trao đổi dịch vụ, sản phẩm... Phẩm tính căn bản của nghĩa vụ này là sự Trung Tín, ḷng thành thật, ngay thẳng không gian dối tráo trở, lừa bịp. Hào Tam là hào cao nhất của Nội Quái (tức Quẻ đơn ở dưới gồm 3 vạch) tượng trưng cho xă hội con người, có tính chất hẹn hẹp của địa phương.

 

4. Hào Tứ: Một trong những đặc tính cao đẹp của truyền thống Việt đó là sự hiếu học. Những câu chuyện cổ tích như "Dă Tràng", như "Thiêu Thân" đều mang một ư nghĩa cao sâu đề cao tư tưởng trong việc hướng dẫn hành động. Dă Tràng đă Phải muôn kiếp xe cát bể Đông với mục đích duy nhất là t́m được trí tuệ của tổ tiên được biểu tượng bằng viên ngọc ước mà anh ta đă đánh mất.

Thiêu Thân đă Phải hy sinh cả mạng sống để kiếm ra ánh sáng của chân lư, đích điểm của cuộc đời. Tất cả đều có nghĩa là Phải "nan hành khổ hạnh" để t́m ra trí tuệ, để “Biết” đúng rồi “Làm" đúng. Nhưng “Không thầy đố mày làm nên", v́ vậy Phải có Thầy. Thầy là người khai tâm mở trí cho ta, giúp ta nên người và hơn đời. Do đó ơn của Thầy lớn hơn ơn nuôi dưỡng của cha mẹ, chỉ sắp dưới nghĩa vụ đối với tổ quốc trong tiêu chuẩn "Quân – Sư – Phụ".

 

5. Hào Ngũ: Tượng trưng cho người lănh tụ quốc gia, trách nhiệm việc hoạch định đường lối chính sách, chương tŕnh kiến tạo bao gồm đủ lănh vực của xă hội để làm "Dân giàu nước mạnh".

Vị nguyên thủ quốc gia Phải có tài năng và đức độ. Đức độ để người ngưỡng mộ quy phục, thống nhất nhân tâm. Tài năng để xét người cho đúng, tài năng để đặt người vào đúng vị, bỏ ngoài tai lời dèm pha xiểm nịnh. Việc nước là việc lớn của con người sống trong xă hội, không có ai có thể làm một ḿnh nên Phải phân công cho mọi người cùng làm tùy tài sức, tùy vị thế mỗi người mỗi việc.

Làm Vua, làm Dân đều là làm Người, làm chính trị. Tuy công việc do sự phân công có khác nhau trong h́nh thức nhưng hoàn toàn đồng nhất trong bản chất. Giá trị của lănh tụ được đánh giá theo công trạng đối với nước ṇi; làm Vua cũng bị khinh khi, nguyền ruoea và trị tội như mọi người. Do đó, tiêu chuẩn đ̣i hỏi mọi người là "Quân quân, thần thần, tử tử", nghĩa là mọi người đều làm tṛn nghĩa vụ của ḿnh đúng với khuôn mẫu đă được quy định theo địa vị của ḿnh, nghĩa vụ đối với xă hội, với Dân Tộc với Tổ Quốc.

 

6. Hào Thượng: Đây là hào cao nhất trong 6 hào, và là chót của Quẻ Càn, tượng trưng cho người đă hoàn tất nghĩa vụ làm Dân đối với Nước. ở cá nhân, hào này tượng trưng cho tuổi già, lăo, đầy kinh nghiệm đời và quay về sống với nội tâm với tâm hồn đôn hậu bao dung, cảm thong với toàn nhân loại và vũ trụ bao la. Chỉ ở tuổi này, sau khi làm xong nghĩa vụ với nhà, với nước, con người mới có quyền nghĩ đến chuyện yên nghỉ trong tư tưởng siêu thoát và mới có đủ điều kiện cần thiết về trí tuệ, với cái biết chu tri tràn đầy để thành Tiên, hóa Rồng thong dong ra vào trong cơi Đạo. "Ṭng tâm sở dục bất du cuoe", làm theo ư ḿnh mà không ra ngoài quy luật. Trong lịch sử, thể chế chính trị Thái Thượng Hoàng thời Trần chính là sự áp dụng đúng đắn ư niệm truyền thống của Dân Tộc về sống tiến hóa. Hội Nghị Diên Hồng triệu tập toàn bô lăo cũng là rập khuôn tinh thần truyền thống này. Trong dân gian sự kính Lăo, trọng Sĩ cũng mang một ư nghĩa tương tự.

Tóm lại, sáu vạch tượng trưng cho sáu tầng cấp nghĩa vụ mà đời một người Phải liên tiếp hoàn tất, nghĩa vụ vợ chồng, nghĩa vụ cha con, nghĩa vụ anh chị em, bạn bè, nghĩa vụ thầy tṛ, nghĩa vụ dân – nước (vua tôi), nghĩa vụ người với nhân loại. Những nghĩa vụ này đi thuận từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài theo sự phát triển của con người theo thời gian, theo địa vị, theo tầm mức trí tuệ và công trạng đóng góp cho nước ṇi, cho nhân loại.

Sáu vạch cũng tượng trưng cho năm giai cấp (Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh) được thành h́nh do nhu cầu sống c̣n, tồn tại của Quốc Gia. C̣n một vạch trên cùng tượng trưng cho những bậc đạt đạo người, vượt biên giới quốc gia để sống với nhân loại như các vĩ nhân của loài người. Tư Tưởng truyền thống Dân Tộc không quan niệm giai cấp một cách cứng nhắc và cũng không căn cứ vào điều kiện tài sản để phân loại. Sĩ tuy được xếp đầu trong năm giới (Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh) nhưng "Sĩ kiêm bách nghệ" là kẻ sĩ, kẻ có học, có thể làm trăm nghề, như làm thầy, làm thợ, làm lính, đi buôn, đi cầy... Về điều kiện kinh tế, Sĩ là người nghèo nhất. Hàn sĩ đói rách là một sự kiện thường có trong xă hội ở bất cứ thời kỳ nào, và Sĩ cũng là người giàu nhất, phú quư vinh hoa nhất.

Quan niệm truyền thống của Dân Tộc về giai cấp như trên đă rất phù hợp với quan niệm "phân công chuyên môn hóa" của các xă hội tiến bộ Âu Mỹ mà trong đó giai cấp chỉ là cơ năng làm việc được giao phó tương tự như tứ chi, tay chân đối với thân thể người ta. Sự ác hóa, sự chai cứng lại của cơ năng làm nên một giai cấp cố định đóng kín là t́nh trạng bệnh hoạn của quốc gia cần Phải chữa trị. Do đó, quan niệm “đấu tranh giai cấp” là một quan niệm sai lầm và có tính chất ác ư phá hoại của bọn sách động, đầy tham vọng ích kỷ cá nhân chấp nhận làm tay sai cho đế quốc Cộng Sản. Cũng tương tự như Karl Marx đă lật ngược Duy Tâm Biện Chứng Pháp của Hégel để biến thành Duy Vật Biện Chứng Pháp. Đảng Cộng Sản cũng đă lật đổ giai cấp tư sản để rồi thay thế bằng một giai cấp mới—giai cấp Đảng—đầy quyền uy và tiền của, trong một xă hội mà người dân càng ngày càng trở nên rách hơn, đói hơn v́ bị bóc lột tàn nhẫn hơn như thực trạng của Việt Nam hiện nay!

 

C. NHỮNG Ư NIỆM KHÁC

 

1. Ư niệm Thế Hệ

 

Tư Tưởng truyền thống dân tộc không đặt nặng ư niệm giai cấp nhưng nhấn mạnh đến ư niệm Thế Hệ. Thế hệ được định nghĩa như là sự nối tiếp liên tục của những lớp người trong gịng thời gian chảy ngược chiều tiến hóa. Ta đi về phía trước để bắt gặp Tương Lai, thời gian chẩy ngược về phía Ta để trôi vào Quá Khứ.

2. Ư niệm Tiến Hóa và Phân Công

 

Với thời gian, con người sẽ lớn lên, sẽ trưởng thành về mọi phương diện, thể chất, tinh thần, để đảm nhận những trách nhiệm quan trọng, để thi hành những nghĩa vụ nặng nề hơn do các thế hệ cha anh trao truyền lại. Do đó mỗi thời đại sẽ có một thế hệ kế tiếp đứng lên đảm nhận sứ mệnh lịch sử của dân tộc. Họ sẽ lại phân công, chia nhau làm nghĩa vụ trong mọi giới, mọi giai cấp theo nhu cầu sinh tồn của xă hội cho phù hợp với trào lưu tiến hóa của tư Tưởng trên thế giới. Họ sẽ được tiếp sức của các thế hệ cha anh nay đă bước sang cương vị tùy thuộc của nhiệm vụ cố vấn hay giám sát. Họ cũng sẽ được sự hỗ trợ nhiệt t́nh của các thế hệ tiếp nối qua sự tuân hành nghiêm chỉnh những nghĩa vụ được chỉ định. Họ sẽ là gương sáng cho các thế hệ tiếp nối bắt chước, học tập để chuẩn bị nhận trách nhiệm lịch sử. Trong chiều hướng này, chữ Vương ( ± ), người lănh đạo chỉ huy Phải là Người nắm được truyền thống đoàn kết của Dân Tộc, kết hợp được sức mạnh của toàn dân biểu hiện bằng ba thế hệ liên tục, quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

3. Ư niệm Đạo Đức Chính Trị

 

Ư niệm thế hệ cũng bao hàm ư niệm đạo đức của chính trị. Do đó thấu hiểu được ư niệm thế hệ tất sẽ không c̣n những tư Tưởng tham quyền cố vị, hống hách, kiêu ngạo, tham nhũng... để chỉ c̣n có một quyết tâm hoàn thành nghĩa vụ nặng nề mà lịch sử, mà dân tộc trao phó với thái độ "Sát thân thành nhân" với niềm tin vững chắc "Sinh vi tướng, tử vi thần".

 

4. Ư niệm B́nh Đẳng

 

Ư niệm thế hệ cũng bao hàm ư nghĩa căn bản của sự b́nh đẳng, b́nh đẳng trong bản chất người (tượng trưng bằng sáu vạch ngang bằng nhau, và sáu vạch đều được gọi là Rồng, là quân tử). Với bản chất người, với nhu cầu sống tiến hóa, sự thực hiện nghĩa vụ đối với bản thân, với gia đ́nh, với Tổ Quốc, với nhân loại, nh́n dưới khía cạnh tích cực, chính là một quyền lợi bất khả chuyển nhượng của cá nhân. Quyền lợi đó Phải được bảo đảm bởi cơ cấu xă hội bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Điều kiện đó là B́nh Sản và Tự Do, những điều kiện căn bản chỉ có thể có được qua sự thực hiện thành công ba cuộc Cách Mạng liên tiếp Dân Tộc – Dân Quyền – Dân Sinh trên đất nước điêu tàn của một dân tộc đang bị đẩy rơi vào vực thẳm của diệt vong. Đó là Việt Nam, Tổ Quốc của chúng ta!

 

5. Ư niệm Di Dưỡng Tinh Thần

 

Đọc lịch sử, ḷng chúng ta không khỏi xúc động khi thấy cảnh những bậc lăo thần dâng sớ từ quan với lư do “xin về di dưỡng tinh thần”. Các bậc đại nhân đó đă hoàn tất nghĩa vụ con dân một cách trọn hảo và mừng rằng đă có những lớp người mới tài giỏi hơn, xứng đáng hơn thay ḿnh.

Đời người cũng tương tự như một đoạn thẳng được giới hạn bởi hai điểm, con người đă bắt đầu cuộc sống bằng tiếng khóc "oa oa" chào đời và sẽ kết thúc cuộc sống bằng sự nhắm mắt xuôi tay.

Có sống tất có chết. Đó là sự thật nhưng không quan trọng! Sự quan trọng nằm ở cách biết "sống ra sao?" và "chết thế nào?" như cha ông, như Tiên Tổ chúng ta đă sống và đă chết trong lịch sử.

 

6. Ư niệm Giá Trị Lịch Sử

 

Lịch sử là cuốn Gia Phaoe của Nước Ṇi. Không đọc sử làm sao biết được cái hay, cái đẹp, cái vĩ đại của cha ông. Có biết mới yêu, có yêu mới quư, có yêu quư mới dám hy sinh để giữ ǵn. T́nh cảm là thế, vận hành theo những chuyển biến rất xác đáng của luận lư. Không đọc sử làm sao có được ḷng yêu nước nồng nàn. Không hiểu sử làm sao thấy được sinh mệnh của Dân Tộc với những mơ ước từ ngh́n xưa chưa hiện thực, với những thực tế của quốc gia cần Phải duy tŕ hay sửa đổi để tồn tại và tiến hóa. Đó đều là những điều kiện căn bản Phải có về phương diện t́nh cảm cũng như về phương diện trí tuệ để có đủ tư cách nói, bàn và làm việc Quốc Gia.

Vô Tri nên Bất Mộ, không biết tất không yêu, không yêu tất không quư, không quư tất coi rẻ coi khinh. Sự vô t́nh với Tổ Quốc với Dân Tộc chỉ là bước đầu đưa đến những thái độ trâng tráo đáng nguyền ruoea của những tên phản quốc hại dân vênh vang, hănh diện được làm tay sai cho bọn ngoại bang cướp nước.

 

VII. KẾT LUẬN

 

Trên căn bản của một lịch sử năm ngàn năm đấu tranh liên tục để Mở Nước và Giữ Nước, bằng vào những tinh hoa được đăi lọc bởi sự thể nghiệm đớn đau của từng triệu triệu thế hệ cha anh đă làm tṛn nghĩa vụ nặng nề "Gánh vác giang sơn", noi theo lời thề son sắt truyền thống của yêu thương "xin chỉ sống và chỉ chết riêng cho Tổ Quốc Việt Nam" của những anh hùng liệt nữ, những chiến sĩ Cách Mạng Việt Nam, vô danh nhưng hữu công trong việc lót đường đưa Việt Nam đến tự chủ vinh quang, bằng xương, bằng máu, bằng nước mắt, bằng tủi nhục, bằng thiếu thốn trăm bề trong “cơi người" này mà lá cờ này đă được khai sinh.

Cờ thắm tươi màu máu, sôi nóng những nhiệt t́nh của lớp lớp những thế hệ đă và đang đi làm lịch sử.

Cờ rực rỡ màu Lửa sáng của trí tuệ Việt Nam, chính xác và cân đối trong đạo làm người rất t́nh cảm để xét đoán “Của tuy tơ tóc nghĩa so ngh́n vàng" nhưng cũng rất quyết liệt không thỏa hiệp trên căn bản “Lấy trực để báo oán”.

Cờ uy nghi màu Trắng của lư Tưởng thanh cao, những khuôn mẫu người tuyệt vời và trọn hảo, đủ yêu thương để bao dung, để cải hóa, để phù tŕ vỗ về nhưng cũng đủ uy vũ để trừng trị, ngăn cấm, uốn nắn cho ngay thẳng những bạo tàn, ngoan cố và diệt trừ tận gốc rễ những ǵ hại nước, hại sinh linh.

Cờ chính là hồn sử của Dân Tộc nay hiển linh như bóng Rồng ẩn hiện trong mây, chỉ phương hướng cho chúng ta đi, chỉ phương thức cho chúng ta thiết kế, hoạch định và chỉ phương pháp cho chúng ta làm. Tất cả chỉ v́ Việt Nam, cho Việt Nam, và xa hơn nữa là v́ loài người, cho loài người.

Cờ là biểu tượng của chính nghĩa truyền thống, làm quân hồn cho đoàn quân Cách Mạng tiên phong trong nghĩa vụ Diệt Cộng An Dân – Cứu Quốc và Tồn Chủng để xây dựng những điều kiện thuận lợi cho cuộc Sống Tiến Hóa cho Dân Tộc, cho tất cả mọi người.

Cờ cũng là biểu hiệu của chiến thắng bằng vũ lực qua chiến tranh, bằng tư Tưởng qua đấu tranh chính trị trên những mặt trận ngoại giao, văn hóa và giáo dục, để chiến thắng sự ươn hèn của bản thân, sự chia rẽ của Dân Tộc. Thống nhất bằng sự hàn gắn những đổ vỡ vô ích, tiêu diệt những tồn tại có hại. Trong yêu thương đẫm nước mắt của những xúc động chân t́nh, v́ bùi ngùi, v́ ăn năn, v́ hối hận, mọi người sẽ nh́n ra nhau là ruột thịt, nhận ra sự có nhau là cần thiết, để sau đó cùng nh́n chung về một hướng: Hướng Tiến Hóa.

 

Và Cờ, đó là Lư Tưởng để hiện thực của chúng ta, của toàn thể Dân Tộc!

 

 

Hoa Kỳ, 30/4/1984

Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt