Home Home Home
Home Home
Main
Lời Ngỏ
Con Bài Nguyễn Chí Thiện
Tập Thơ Vô Ðề
Ðoàn Viết Hoạt & các Ðồng Chí
Tội Ác Cộng Sản
Tội Ác GHPGVNTN
Tin Tức Đặc Biệt: Nạn Buôn Người (Human Trafficking)
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Thông Báo FBI
Tin Tức Đặc Biệt
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Trần Phả: Lời Chúc Tết CSVN
Trần Phả: Lời Chúc Tết DCSVN (2006)
Phỏng Vấn Nhà Báo Việt Thường
 
Tập Thơ Vô Đề
Những Bài Thơ Vô Ðề
Thủ Bút Của Tác Giả Vô Danh
 
Audio Files
Con Bài NCT
Bình Luận Chiến Lược LVX
 
Hạt Máu Thơ (NCT)
Những Bài Thơ Con Cóc Của Diễn Viên Nguyễn Chí Thiện
Lá Thư Của NCT Ngày 7-11-95
 
Links
FBI
 
Topics
Chiến Lược Domino Trung Cộng
Sư Quốc Doanh Cộng Sản
Vụ Án Ðạo Văn Của Thế Kỷ
Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt
Thi Sĩ Cộng Sản
Quan điểm đạo Phật
Lịch Sử Nông Nghiệp Việt Nam
Các vấn đề dân chủ
 
Articles
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 1)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 2)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 3)-Bach Linh
Nguyễn Chí Thiện-Ông Là Ai? VoBinh LLDB-NKT
Nguyễn Tử Ðóa-Ðại Tá An Ninh Quân Ðội
Bạch Linh: Thơ Vô Ðề (Part 1)
Tôi Thất Vọng Về Diễn Viên NCT
Tập Thơ Vô Ðề và Khuyết Danh (Duy Xuyên)
Khai Mạc Vụ Án Văn của cuối Thế Kỷ 20
Những Nghi Vấn Về NCT (Nguyen Thien Viet)
Hồ Chí Thiện & Mặt Trận Văn Hóa Hải Ngoại
Bản Chúc Thư Của Người Viet Nam
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 1
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 2
 
Date : 2/23/2012 1:20:32 AM IP Address:38.107.179.212


  Topic: Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập 1
Author:   Bach Linh

Tác giả Khuyết Danh và thơ Vô Đề!
Hay là

Trả lại cho Caesar cái gì của Caesar

Nếu nhân loại mọi người đều biết

Cộng sản là gì tự nó sẽ tan

Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si

Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt.

(Thế lực Đỏ - Vô Đề)


Bài viết này tìm hiểu về con người thật nhưng Vô Danh làm tập thơ Vô Đề sau này được đặt tên là Bản Chúc Thư của một Người Việt Nam tác giả Khuyết Danh, Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Hoa Địa Ngục I. Vậy tác giả Vô Danh là ai? Nghi vấn về tác giả Vô Danh và tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I). Ai tạo dựng lên chuyện ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề từ năm 1980? Phân tích và so sánh sự khác biệt giữa 2 tập thơ để tìm thi sĩ thật và thi sĩ giả!

Vì có nhiều độc giả nêu ra nhiều nghi vấn, nên bài khảo luận này dựa trên các câu hỏi đó để giải đáp phần nào những bí mật trên tập thơ Vô Đề trường thiên và bất hủ. Tác giả chỉ muốn tuyên dương tác giả Vô Danh vì ông đã dâng hiến tất cả cuộc đời ông cho công cuộc chống Cộng và kể lể tội ác Cộng sản. Thơ Vô Danh đã trở thành bia miệng lịch sử cho nhiều thế kỷ nữa để cho ngàn đời sau hiểu rằng đã có một giai đoạn trong thế kỷ 20, dân tộc Việt đã bị chính những kẻ Nội Xâm, Nội Thù Cộng sản du nhập một chủ nghĩa và chính sách cai trị bóc lột nô lệ ngoại lai kinh tởm nhất gọi là Cộng sản Mác Xít, Lê Nin Nít, Xít Ta Lin nít, Mao Ít... để tàn phá đất nước dân tộc Việt Nam tới mức kiệt quệ, diệt chủng.

Trong đống bùn đen, đồng lầy Cộng sản, một đóa Hoa Sen nẩy sinh! Một người, tạm gọi là Vô Danh vì chưa ai biết tên thật và lý lịch gốc gác, đã sinh ra và lớn lên giữa chế độ Cộng sản. Bị Cộng sản đọa đày, ông vẫn có một ý chí mãnh liệt là phải làm sao phanh phui, tố cáo, tố giác tội ác của bọn quỷ sứ lưu manh, tàn bạo tàn ác, tự nhận là Cộng sản, đã làm cho cả nước Việt đã trở thành một trại tù cung cấp lao động nô lệ . Toàn dân Việt đã trở thành tù nô lệ của chế độ Cộng sản. Mọi người, từ trẻ con trong bụng cho đến người già đều bị chúng bắt ở tù trong, tù ngoài, tù đủ cách, đủ kiểu, bị một bọn quỷ sứ cộng sản hành hạ cũng đủ cách đủ kiểu, làm cho toàn thể dân tộc sống dở, chết dở, có thể đi đến suy tàn, diệt chủng.

Ông Vô Danh đã kín đáo làm nhiều bài thơ ngục tù trong cảnh ngộ khủng khiếp, kinh hoàng của những người tù. Ông Vô Danh đã ôm hoài bão là có một ngày nào đó ông có dịp vượt thoát để phổ biến những bài thơ kể tội ác cộng sản với thê giới bên ngoài. Nhưng năm tháng tù đày, với bệnh ho lao ra máu kinh niên, thể xác của ông đã tàn lụi dần. Trong sự tuyệt vọng, với cái chết chắc chắn sẽ đến, ông đem chút hơi tàn còn lại để liều mạng chạy vào tòa Đại Sứ Anh Quốc để trao tập thơ và nhờ người Anh phổ biến ra ngoại quốc dùm, cho cả thế giới biết đến tội ác Cộng sản. Nhiệm vụ cuối cùng của ông đã thành công. Khi ông trở ra, bọn công an cộng sản khát máu dữ dằn xúm vào đánh đòn tập thể khiến cho cơ thể của ông đã kiệt quệ, nhưng trí óc ông mãn nguyện, sẵn sàng chấp nhận cái chết không thể tránh.

Tập thơ Vô Đề đã trở thành bất hủ và bất tử. Nhưng tiếc thay, cũng như tác giả một tập thơ tình cảm bất hủ khác Hai Sắc Hoa Ti Gôn đã vĩnh viễn không cho ai biết tên thật, tác giả Vô Danh đã, do ý muốn của ông là phổ biến tập Thơ cho thế giới, cho nhân loại và cho hậu thế, mà không bao giờ nghĩ đến được vinh danh hay nổi danh. Ngoại trừ bài thơ trường thiên Đồng Lầy, những bài khác đều không có đặt tên.

Nhận xét về tình huống của thi sĩ Vô Danh, người viết nghĩ rằng ông đã không còn ở thế gian này nữa ngay từ ngày ông đưa tập thơ vào tòa Đại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội. Bài viết này cần phải có để minh oan cho ông? Để trả lại tác quyền cho ông, để vinh danh cho ông cho đến khi nào tìm ra tên thật hay là tông tích của ông.

Có thể sau khi tiêu diệt Cộng sản, sẽ có người cùng ở tù với ông còn sống sót, những người hàng xóm của ông ở Hà Nội. Những người từng quen biết với gia đình nhỏ bé của song thân ông... để đứng ra làm nhân chứng và nói lên sự thật chăng? Có lẽ phải đặt ra một Ủy Ban truy tầm tung tích nhà thơ Vô Danh hay để vinh danh ông trước lịch sử, trước dân tộc, trước Văn Học Quốc Gia và Thế Giới.

Cán bộ Cộng sản lừa lọc bất cứ ai, lừa lọc toàn thể dân tộc để bảo vệ đảng tồn tại lâu dài. Chúng có đủ phương tiện báo chí, tiền bạc, và mưu kế lường gạt, bịp bợm, lưu manh nhất để đánh lừa người Việt, nhất là người Việt hải ngoại. Tiếp tay cho bọn cán bộ cộng sản trung kiên này, có các tổ chức chính trị, liên minh kháng chiến ma mãnh, và lũ chính trị gia theo thời, chó săn, xanh vỏ đỏ lòng, hợp tác với cán bộ Cộng sản thứ thiệt và một nhóm văn nô bồi bút nằm vùng quốc doanh hải ngoại.

Bài viết này không có ý đã kích cá nhân ông Nguyễn Chí Thiện này. Những dữ kiện quá khứ và cá nhân của ông Nguyễn Chí Thiện quá rõ ràng mà lại không rõ ràng về chức vụ quyền hành của ông với chế độ Cộng sản và tập thơ Vô Danh. Có thể ông Nguyễn Chí Thiện và các bạn hữu của ông và hai người giới thiệu ông Thiện với hải ngoại là ông Trần Nhu và ông Minh Thi đã đúng và thật khi nói rằng ông Nguyễn Chí Thiện là thật không phải giả. Phải chăng vì đây là một màn kịch quốc gia và quốc tế nên cần phải tạo ra nhân chứng để có một câu chuyện giả có vẻ thật?

Ông Nguyễn Chí Thiện có anh ruột, cựu sĩ quan VNCH ở Hoa Kỳ và chị em ruột. Chúng tôi đặt vấn đề ông Nguyễn Chí Thiện này, người đã đến Hoa Kỳ ngày 1/11/1995, là thật hay giả. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề ai là thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề, một tập thơ mà chính ông Nguyễn Chí Thiện cũng không thể đặt tên mà phải dùng tên (Hoa Địa Ngục) do người khác đặt...

Hãy trả lại cho Xê Da cái gì của Xê Da...! Người viết bài này kính cẩn mong rằng hương hồn ông đã khuất được hả dạ vì những lý luận, lý đoán viết trong bài này, và không bị mang tiếng vì kế hoạch mạo danh, bất xứng nhằm xóa tên Vô Danh của tác giả thật của tập thơ. Nếu ta hiểu Cộng sản thì chúng ta cũng hiểu rằng chúng lợi dụng bất cứ một tình huống nào để đạt mục tiêu tuyên vận chính trị hải ngoại.

Người Việt cũng sẵn sàng đón nhận mọi sự đóng góp thêm, kể cả sự phê phán của quí độc giả để giúp cho vấn đề lịch sử, một nghi án thơ văn, được sáng tỏ, rõ ràng. Biết đâu khi viết bài này về đến Việt Nam. Cục Phản Gián hiểu rằng kế hoạch bịp bợm, dối trá của họ đã bị đổ vỡ. Những người quen biết tác giả Vô Danh hiểu rằng họ sẽ có dịp để nói lên sự thật và tên tuổi của một nhà thơ vĩ đại trong thế kỷ 20 của dân tộc Việt Nam.

Bài viết này theo chiều hướng khẳng định có hai nhân vật! Một người lớn tuổi là Vô Danh tác giả của tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I), con một, chỉ có cha mẹ già khoảng trên dưới 70 tuổi, song thân đã chết khoảng từ năm 1970 đến 1974 khi ông còn ở tù, cỡ trình độ Pháp văn thật giỏi, không biết tiếng Anh, đã làm thơ, bị tù từ khoảng 1957-1958 đến 1978 hay là khoảng 20 năm, có được thả rồi bị bắt lại một vài lần, đã bị ho lao ra máu trong nhiều năm vì tình trạng giam giữ quá cực khổ đói rách, đã đột nhập vào tòa Đại Sứ Anh khoảng tháng 6 năm 1979 để đưa tập thơ nhờ phổ biến ra ngoại quốc, và đã chết ngay sau đó trong sự đánh đập tàn bạo, dã man của công an Cộng sản.

Người thứ hai là Nguyễn Chí Thiện, trẻ tuổi hơn rất nhiều. Biết tiếng Anh, Pháp nhưng không biết trình độ cao thấp ra sao, có trí nhớ rất mạnh, chưa bao giờ bị bệnh lao và rất khỏe mạnh, có tài diễn thiết, hùng biện nhiều giờ không mệt mỏi, được các ông Trần Nhu, Minh Thi làm chứng nhân rằng đã biết ông Nguyễn Chí Thiện trong tù từ năm 1980 (lúc này ông Vô Danh đã chết rồi, bị đánh ngay trước tòa Đại sứ Anh quốc). Và xác nhận rằng ông Thiện chính là tác giả tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. Tất cả những gì ông Thiện khai về lý lịch thì rất sơ sài, ít chi tiết và có thể nói là không rõ ràng, khá một chiều vì không ai có thể kiểm chứng. May ra sau này, sau khi tiêu diệt cộng sản, người ta mới có thể biết tung tích thật sự của ông Nguyễn Chí Thiện và nhà thơ Vô Danh chăng?

Ông Thiện đã nhận được giải thưởng quốc tế, đã nhận được khoảng 8 lạng vàng khoảng 4,000 đôla của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh giao cho tại Hải Phòng và có nhiều quà cáp giải thưởng khác nữa. Sau này, ông Thiện được nhà nước cộng sản cho đi Mỹ và đến Mỹ ngày 1/11/1995, trường hợp hiếm có và duy nhất trong 51 năm cai trị miền Bắc.

Bài khảo luận này khá dài vì phải nhắc nhở lại những bài thơ của cả hai người Vô Danh và Nguyễn Chí Thiện, cho vấn đề luận bàn về thơ Vô Đề vì có nhiều độc giả chưa có dịp đọc những bài thơ bất hủ! Phần viết về thơ Vô Đề có ký tên Vô Danh, và phần viết về thơ của ông Nguyễn Chí Thiện là những bài trong cuốn Hoa Địa Ngục tập 2 hay là "Hạt Máu Thơ" xuất bản khoảng tháng 3 hay tháng 4, 1996.

Trong một ngày tháng 6/1979. Một người lớn tuổi, khoảng trên 50 tuổi nhưng già xộm trông như ông già 70 tuổi, gầy gò ốm yếu, quần áo rách rưới, đã liều mạng chạy vào trong tòa Đại sứ Anh và trao một tập giấy. Bằng một giọng mệt nhọc và yếu đuối trong tiếng thở mạnh hổn hển, xen lẫn với những tiếng ho, ông nói bằng tiếng Pháp thật lưu loát với người Anh. Đại ý ông chỉ muốn trao bản thảo tập thư của ông và mong người Anh sẽ phổ biến ra hải ngoại dùm, làm tiếng nói cho hàng triệu nạn nhân cộng sản. Người này không ngỏ ý xin tị nạn chính trị hay bất cứ một ân huệ nào nơi người Anh. Dĩ nhiên người Vô Danh này không yêu cầu người Anh xin Cộng sản ban nhân quyền cho người Việt Nam ông cũng không đòi hòa hợp hòa giải bất bạo động với cộng sản. Ông cũng hiểu rằng khi ra khỏi tòa đại sứ, ông sẽ bị công an cộng sản bạo động với ông mạnh mẽ nặng nề, cho đến khi ông hết thở chúng vẫn chưa thôi!

Trong tình huống đó, nhà thơ Vô Danh không dám để tên thật của mình vào tập thơ. Ông chỉ biết viết một bức thư tuyệt mệnh bằng tiếng Pháp loại cao cấp, rất rõ ràng lưu loát và không ký tên. Ông Vô Danh cũng không để cái ảnh đại gia đình của cha mẹ vào tập thơ như ông Thiện khoe trong cuốn Hạt Máu Thơ. Có lẽ ông Vô Danh sợ rằng không đưa lọt, hoặc bị công an chận bắt thì ông có thể quăng tập thơ đi, hoặc dấu vào đâu đó, để không bị bắt vì tên của mình, và có thể viết lại tập thơ và tìm cơ hội khác chuyển ra ngoại quốc. Trong mạng lưới công an dày đặc ở Hà Nội và Bắc Việt thời đó, những bài thơ của ông Vô Danh đã được tuyệt đối giữ bí mật, vì thố lộ với bất cứ ai, hay nổi hứng phổ biến ngâm thơ, thì có nghĩa là bị giết ngay và tập thơ cũng bị thủ tiêu. Ông Thiện khoe rằng có bàn với Phùng Cung về bài thơ Anh Gặp Em (sáng tác năm 1965) và Phùng Cung đề nghị thêm chữ thôi để bớt tội cho tên y sĩ công an.

Trình độ ông Vô Danh khiến ta hiểu ông không phải bàn với ông Phùng Cung hay với bất cứ ai thôi trong thơ. Hoàn cảnh tù tội của ông Vô Danh khiến ông không thể gặp bất cứ ai để bàn về thơ. Nếu Phùng Cung có thấy ông Vô Danh thì cũng phải tảng lờ vì công an có thể bắt vì tội dám nói chuyện với thành phần tù tội. Sau này ông Thiện còn khoe đã gặp và mạn đàm với Hoàng Minh Chính tức Thượng tướng công an phản gián Trần Ngọc Nghiêm. Ông Thiện cũng tiếc rằng ông quen biết nhưng không được gặp Trung Tướng Trần Độ mà chỉ được nói chuyện qua điện thoại. Ông Thiện nói vậy thôi chứ ai biết ông và Tướng Trần Độ phê đảng để xây dựng đảng đã cùng nằm trong một chiến dịch dân vận hải ngoại?

(Vì bài thơ viết quá dài nên tác giả không tiện phân tích về tính cách "phê đảng giả vờ" và "phê đảng để xây dựng" của Trung Tướng Trần Độ thượng tướng công an Phản Gián, chủ nhiệm Hội Nghiên Cứu Mác Lê hậu thân của Đệ Tam Quốc Tế kiêm lý thuyết gia hàng đầu của đảng Cộng sản Việt Nam Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, và các hoạt động cò mồi "chống đảng giả vờ" của đại tá công an Phản Gián Nguyễn Xuân Tụ lấy tên là Hà Sĩ Phu "sĩ phu Bắc Hà" với người hải ngoại, đại tá "văn nghệ phản kháng" kiêm gián điệp loại nhà thổ Dương Thu Hương của Tổng Cục Phản Gián... Nguyễn Huy Thiệp được đảng cho đi Mỹ năm 1966 để gây tiếng tăm. Sau đó Thiệp được công an phản gián tổ chức cho điều hành một quán ăn loại hắc điếm sang trọng để tiếp đãi khách du lịch và ngoại kiều, nhất là người Mỹ).

Tác giả Vô Danh có lẽ cũng không muốn đưa ra tên tuổi để được nổi danh, nổi tiếng, nguyện vọng duy nhất của ông là tập thơ làm bằng máu và nước mắt của ông làm trong khoảng 20 năm trong ngục tù được phổ biến với thế giời bên ngoài. Tập thơ đã thể hiện sự đau khổ thầm lặng và ghê rợn của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới bạo quyền Cộng sản công an trị! Tác giả Vô Danh là người duy nhất có đủ tài năng thực hiện những án văn thơ bất hủ để thể hiện sự đọa đày trong ngục tù Cộng sản. Làm thơ và đưa thơ vào tòa Đại sứ Anh, thì ông đã mãn nguyện và chờ đợi cái chết không thể tránh trong tay bọn công an chó sói Cộng sản.

Trước khi chạy vào tòa Đại sứ Anh để đưa tập thư, ông Vô Danh đã hiểu rằng ông sẽ bị công an giết ngay tại chỗ. Vậy ông chỉ mong đưa được tập thơ và mục đích tối hậu dù hiểu rằng ông phải trả giá bằng chính mạng sống của ông. Có lẽ, lúc đó cái chết đã trở thành cần thiết cho ông để chấm dứt cuộc sống trong một thể xác đã tàn tạ vì bệnh ho lao, và tuyệt vọng vì không còn tương lai! Dù sao ông Vô Danh đã chết trong sự mãn nguyện vì ông đã hoàn thành xong sứ mạng duy nhất trong cuộc đời ông. Ngoài những bài thơ hùng hồn đã trở thành bản án kể tội Cộng sản, ông Vô Danh hi sinh chính mạng sống để đưa tập thơ này ra hải ngoại. Đưa được ra hải ngoại thì tập thơ tồn tại với lịch sử văn học trong dân gian, và được phổ biến thành tài liệu chống Cộng, trở thành nhân chứng bia miệng về tội ác Cộng sản, và đó là điều quan trọng và cần thiết không kém sự sáng tác.



Thơ của tôi không có gì là đẹp

như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao!

Thơ của tôi không có gi` cao

như chết chóc, mồ hôi, báng súng!

Thơ của tôi là những gì kinh khủng

.......................................................

Tho Vo Danh ( 1975 )



Ông Vô Danh đã chuẩn bị đón nhận cái chết không thể tránh trong tay bọn Công an Cộng sản mà ông đã biết là vô cùng dã man, tàn ác. Chúng đã coi sự tra tấn, giết người như giết ngóe. Hồ Chí Minh đã dạy công an, cán bộ và quân đội cộng sản: "tất cả mọi người ngoài đảng đều là kẻ thù của đảng và của chế độ mắt chúng nhìn ai cũng thấy kẻ thù!" Lũ quỷ cộng sản đã nhìn người không cộng sản hay là toàn thể dân tộc Việt là kẻ thù của chúng. Ông Vô Danh hiểu rằng thể xác của ông tàn tạ sau nhiều năm tháng đọa đày, đói khổ cùng cực và ho lao ra máu. Ông không hi vọng gì sống thêm lâu dài nữa vì thể xác kiệt quệ của ông không cho phép như vậy.

Ông Vô Danh cũng biết rằng với cái tội xâm nhập tòa Đại Sứ Anh, công an cộng sản không bao giờ cho ông sống thêm một giờ hay một ngày nào nữa. Năm tháng tù đày đã dạy ông biết rằng cộng sản không bao giờ khoan hồng, tử tế, thành thật, hay hòa giải hòa hợp, nhân quyền bất cứ ai. Hể lọt vào tay chúng công an chết chính là một giải thoát ân huệ của... thượng đế! Đó là thực tế cộng sản không ai có thể phủ nhận!

Ông Vô Danh chờ đợi cái chết mau chóng bằng đòn thù hơn là cực hình bị tra tấn và giam cầm đọa đày không thời hạn trong các trại tù cải tạo. Đã 20 năm bị tù đày, ông Vô Danh chẳng có thích thú gì trở lại các trại tù sau khi ước vọng của ông đưa tập thơ vào tay người ngoại quốc được toại nguyện. Ông đã góp chút hơi tàn để chạy vào tòa Đại sứ Anh như một ngọn đèn bùng lên một lần cuối trước khi tắt! Ông Vô Danh đã chuẩn bị một lá thư tuyệt mệnh đi theo cùng tập bản thảo đã chứng tỏ ông sẵn sàng chờ đợi một cái chết không thể tránh!

Tôi không tiếc khi bị đời sa thải ngụ ý của cái chết

Thân thể vùi, tàn rữa, hóa bùn đen

Những vần thơ trong đêm tối đê hèn

Cùng rệp muỗi, viết ra mà bị mất

Tôi sẽ tiếc khóc âm thầm trong đất!

(Vô Danh - 1974)

Quá nhiều kinh nghiệm về sự tàn ác của Cộng sản, ông Vô Danh hiểu rằng, biết trước rất rõ ràng, nội một việc chạy vào tòa Đại sứ Anh cũng đủ cho bọn cộng sản ác ôn, dữ dằn ngoài cửa tòa Đại sứ đánh ông bằng đòn thù và ông phải bị chúng đánh chết ngay tại chỗ thì chúng mới hả dạ.

Ví dụ công an cộng sản không đánh chết ông Vô Danh tại chỗ thì với sức khỏe kiệt quệ, tàn tạ của ông, ông cũng chẳng sống thêm được bao lâu nữa. Nói gì đến (Nguyễn Chí Thiện) sống phây phây, huy hoàng, khỏe mạnh, không có bệnh lao thêm 16 năm nữa để được nhậu nhẹt với trùm cộng sản Xít Ta Lin Nít Hoàng Minh Chính, được mạn đàm với Chánh Sở Công an Hà Nội và quản giáo trại cải tạo, được Mặt Trận Kháng Chiến tiếp tế tại Hải Phòng 8 lạng vàng giá trị 4,000 đôla và lo lắng giúp cho đi Mỹ, được học ăn học nói, học chính sách chính trị, học đóng kịch cho thật giỏi, học diễn thuyết trước khi đi Mỹ...

Để rồi được nhà nước ta ưu ái cho đi Mỹ để được hải ngoại đón rước rầm rộ như một vĩ nhân, như một cứu tinh của dân tộc, như một chính trị gia đại tài, đi đến đâu cũng được hoan hô với những tràng pháo tay rộn rã, được quay phim chụp hình ảnh với báo chợ... đăng tải tiếp ứng, được Mặt Trận Kháng Chiến không ma tổ chức đi khắp nơi kể cả Liên Hiệp Quốc để lạy van xin cộng sản ban cho chút nhân quyền!

Có thể nhiều độc giả! Nhất là những người trẻ tuổi không thể hiểu cộng sản tàn ác đến mức nào, những người thân cộng binh vực cộng sản và nói rằng lập luận trên đây về tác giả Vô Danh bị công an đánh chết ngay sau khi ra khỏi tòa Đại sứ Anh không đúng. Tác giả dẫn chứng một câu chuyện dưới đây được đăng trên báo chí "Nhà nước cộng sản" vào năm 1997, là một năm tương đối được cởi mở khá hơn nhiều, chứ không sắt máu như năm 1979, hay là 18 năm về trước: Hà Nội ngày 26/4/1997. Báo trong nước loan tin mới đây tại Sài Gòn xảy ra liên tiếp 3 thanh niên bị gán ghép là đối tượng là tệ nạn xã hội đã bị đánh chết trong cơ quan gọi là trại tiếp nhận mà thực chất là một nhà tù kinh khủng.

Trạm Tiếp Nhận là một cơ quan trực thuộc sở Lao Động và Thương Binh Xã Hội được thành lập từ tháng 10/1992 để giam giữ, phân loại các đối tượng bị coi là tệ nạn xã hội, những người vô gia cư, những kẻ lang thang ở hè phố để sau đó bị đưa đi cưỡng bách lao động tại các nông trường quốc doanh không được xử án và không có án.

Trại này ở số 463 đường Nở Trang Long, Quận Bình Thạnh. Những người bị thu gom và nhập trại, sau đó được Phó Giám Đốc Sở là Nguyễn Minh Chánh ký lệnh đưa đi các nông trường cưỡng bách lao động. Có những người bị đánh chết tại trại Tiếp Nhận, và cũng có những người bị đánh chết tại các nông trường, bởi vì nhà nước xử dụng những tên đầu trộm đuôi cướp để cai quản những đối tượng bị thu gom.

Theo các báo trong nước thì đã quá nhiều người bị chết trong các trại Tiếp Nhận này một cách âm thầm. Thi hài của họ được coi như là vô thừa nhận để giao cho trường Đại Học Y Khoa cho sinh viên thực tập. Một vài trường hợp mà các báo có hồ sơ là thanh niên tên là Lê Văn Dũng học tập ngày 20/10/95 bị đánh chết một cách dã man ngày 24/10/95. Anh Nguyễn Minh Châu quê ở Mỹ Tho bị đưa vào trại, ngày 13/2/1996, Châu bị 6 tên côn đồ cai quản trong trại đánh chết. Điều đáng chú ý là cái vụ giết người này chỉ được ban quản lý biết sau khi các hung thủ báo cáo. Ngoài ra còn có 9 trường hợp bị chết do đang hấp hối nhưng không được đưa đi điều trị bệnh viện.

Tuy nhiên những vụ bùng nổ gần đây khiến công luận mới được đánh động về những tội ác mà nhà cầm quyền cộng sản đã dung dưỡng.

Trường hợp Lê Minh Tuấn: Tuấn sinh năm 1967, ngụ tại 193/1 Điện Biên Phủ, quận 3, Sài Gòn. Ngày 13/12/1996, Tuấn ra khỏi nhà rồi biệt tăm. Ngày 12/3/1997, gia đình nhận được Giấy chứng tử của tỉnh Daklak, cho biết Tuấn đã bị thu gom và bị đưa đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Dakru.

Quyết định đưa Tuấn đi cưỡng bức lao động do Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh ký ngày 21/12/1996. Bà Nguyễn thị Kim Dung, mẹ của Tuấn, than oán: Vì sao cháu Tuấn chết ngày 17/2/1997 mà họ không báo ngay cho gia đình tôi biết để lo chôn cất cháu?

Trường hợp Nguyễn văn Năng: Năng có vợ và 2 con, ngụ tại Trung Chánh, Hóc Môn, mắc bệnh tâm thần, được gia đình gửi đi chữa bệnh ngày 26/3/1997. Ngày 1/4/1997, Phó Giám Đốc Nguyễn Minh Chánh ký lệnh đưa anh Năng đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Phú Văn, một khu kinh tế mới. Gia đình hoảng sợ, làm mọi thủ tục để cứu anh Năng. Nhưng đến ngày 7/4/1997, vợ anh Năng được báo tin Chồng chị đã bị đánh chết ở Trung Tâm Phú Văn ngày 5/4/1997. Chúng tôi báo lên để gia đình lên nhận xác về.

Trường hợp Ngô Quốc Bình: Bình sinh năm 1975 ở tỉnh Phú Thọ, vào Sài Gòn đăng ký tạm trú tại nhà chị Võ thị Đông ở Phường 11, quận 3, tức là có cư trú hợp pháp. Ban ngày bán báo ở ga Sài Gòn, ban đêm theo học lớp 11 tại Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên quận 3. Ngày 5/3/1997, Bình đang bán báo tại ga Sài Gòn thì bị thu gom. Chị Đông chạy xin bảo lãnh cho Bình được tha, song mãi đến chiều 18/3, thì chị mới nhận được tờ quyết định cho về với gia đình thì cũng đúng là ngày Bình chết. Giấy báo tử của bệnh viện Chợ Rẫy ghi: Ngô Quốc Bình, can phạm, vào viện 16/3/1997. Nguyên nhân tử vong: dập não thái dương phải, não phù. Vậy là sau khi bị bắt, bị đưa vào Trại Tiếp Nhận, rồi sau đó Bình bị đưa đi cưỡng bức lao động tại Trung Tâm Phú Văn. Tại đây Bình bị đánh đập đến dập não, rồi được đưa đi bệnh viện Gia Định rồi được chuyển về bệnh viện Chợ Rẫy trong cùng ngày.

Sau khi báo chí trong nước lên án, Viện Kiểm Soát Nhân Dân ở Sài Gòn mới mở cuộc điều tra. Và cũng theo báo chí trong nước cho biết qua một cuộc phỏng vấn Nguyễn Minh Chánh, Phó Giám Đốc Sở Lao Động, thì ông này nói rằng một năm ký đến 9,000 quyết định đưa đi cưỡng bức lao động, nên không có thì giờ để cứu xét từng hồ sơ.

Một năm có tới 9,000 người bị bắt vì tội đi... tản bộ ngoài đường và bị công an cộng sản đánh chết kiểu vô tội vạ như vậy, thì ta có thể phỏng đoán là 9,000 người này không mấy người được sống hay được tha mà trở về nhà. Thí dụ không bị đánh chết ngay thì cũng bị giam cầm không án xử, không thời hạn để bị bóc lột lao động cho đến chết.

Một lý do có... lý về cái chết của ông Vô Danh ngay sau khi đưa tập Thơ cho người Anh, là vì ông đã chết, xác đã bị đem chôn theo tính cách vô danh, vô thừa nhận, nên không để lại dấu tích gì cả. Nơi ông bị chôn cất cũng không ai biết. Vào thời điểm cuối năm 1979, đầu năm 1980, Việt Cộng mới chỉ nghe những bài thơ Vô Đề trên đài BBC nên đã cuống cuồng tìm người để thay thế cho tác giả Vô Danh. Vì tính chuyện kiếm người thay thế, nên Việt Cộng không cần phải tìm ra tung tích, lý lịch tác giả Vô Danh. Nhưng Cục Phản Gián lại không được đọc toàn bộ tập thơ nên không rõ những chi tiết quan trọng bên trong tập Thơ như chôn dấu những bài thơ đợi dịp tung ra hải ngoại, hoặc ho lao ra máu trong nhiều năm, hoặc con một, độc thân, chỉ có cha mẹ già, trình độ Pháp văn thật cao theo lá thư tuyệt mệnh, và tuổi tác đã nhiều...

Thí dụ có thể tìm được người tương đương về tuổi tác với ông Vô Danh, nhưng kiếm một người có trình độ Pháp văn khá như vậy ở miền Bắc vào năm 1980 có lẽ không thể có! Dù sao thì ta cũng chỉ biết đến Nguyễn Chí Thiện sau 1979, hay là sau khi ông Vô Danh đã làm thơ, đưa thơ vào tòa Đại sứ và đã chết năm 1979!

Sau khi tạo được Nguyễn Chí Thiện thành tác giả tập thơ Vô Đề, Cộng sản đã gây ấn tượng với tên tuổi Nguyễn Chí Thiện chính là tác giả tập thơ Vô Đề, đến nỗi mỗi người hải ngoại đều yên chí tác giả Vô Danh chính là Nguyễn Chí Thiện! Những người được Cộng sản cho xuất ngoại như các ông Trần Nhu và Minh Thi cũng được Cộng sản gài khéo cho ở cùng trong tù với ông Nguyễn Chí Thiện, để ông Thiện ngâm thơ cho họ nghe và gây ấn tượng là đã gặp thi sĩ thứ thiệt!

Tiện đây cũng xin nhắc cho công an Phản Gián Hà Nội biết rằng muốn bịp người Việt hải ngoại cũng khó lắm. Chuyện đời đâu còn đó. Văn sỡi công an Nguyễn Huy Thiệp đi Mỹ hồi tháng 9/1996, rồi lại về êm ru vì chỉ có thời gian ngắn và Thiệp cũng không dám gáy khi đứng trước mặt sự văn minh tân tiến của người Việt và người Mỹ hải ngoại. Cái gì dù che đậy khéo léo thì cũng chỉ trong thời gian ngắn là lòi ra hết. Như cái... kim trong bọc thì cũng lòi ra như thường. Chúng tôi cũng cho Cục Phản Gián biết rằng kế hoạch nhà quê của Vẹm và cán bộ nhà quê thì không bao giờ bịp nổi chúng tôi.

Thấy thân hình tiều tụy rách rưới nghèo khổ của ông Vô Danh, thái độ khiêm nhượng chịu đựng nhưng khẳng khái và cương quyết rõ rệt, và trình độ trí thức khá cao qua tiếng Pháp rất lưu loát và lễ độ của ông, người Anh đã vô cùng xúc động. Họ hiểu ngay là có cái gì sống trong tập giấy có vẻ cũ kỹ và nhầu nát của ông. Họ mau mắn cầm lấy tập thơ và bảo đảm với ông là họ sẽ làm những gì ông muốn. Người Anh hỏi ông có muốn gì không, có cần tiền không, thì ông Vô Danh trả lời rằng không cần gì cả. Ông cũng không muốn làm phiền người Anh hơn nữa. Ông quay trở ra và nhìn thẳng vào mặt bọn công an đang chờ đợi ông ngoài cửa với vẻ hung dữ đằng đằng sát khí. Chúng nhất định phải giết ông ngay tại chỗ.

Ông Vô Danh hiểu rằng bọn quỷ dữ công an hầm hè phải đánh chết ông mới hả giận chúng. Chỉ riêng một tội vượt qua hàng rào canh gác của công an cũng đủ là tội chết ngay tại chỗ. Ông Vô Danh có lẽ mong cho công an đánh chết ông nhanh chóng cho sự đau đớn của ông không kéo dài, và chúng không tra hỏi ông là đã vào tòa đại sứ Anh để làm gì? Tập thơ đã được giữ bí mật cho đến khi người Anh đưa ra ngoại quốc mà không bị rắc rối ngoại giao với chính quyền Cộng sản.

Như ý muốn của ông Vô Danh, bọn công an không cần hỏi han ông vào tòa đại sứ Anh làm gì? Chúng không cần biết khi ông chạy lọt qua hàng rào công an chìm lảng vảng quanh tòa đại sứ , đã đủ là tội chết rồi! Chúng vồ lấy ông và như đã ước hẹn với nhau từ trước, chúng nhào đến đánh tập thể, đánh đập ông nhừ tử ngay trước cửa tòa đại sứ Anh quốc! Với sức khỏe tàn tạ, và tinh thần kiệt quệ, với cuộc đời đã tan nát (như ông nói trong thư tuyệt mệnh) và tâm lý sẵn sàng đón nhận cái chết không thể tránh, ông Vô Danh đã trở thành một mớ giẻ rách, xụi lơ, không còn sức đề kháng. Có lẽ ông đã chết rồi mà bọn công an cũng không cần biết. Trong cơn say máu và thích thú giết người, bọn công an đánh túi bụi, đánh kiểu hội đồng chết bỏ, cho đến khi chúng mệt nhoài, buông tay.

Ta có thể chắc chắn rằng ông Vô Danh đã chết ngay trước cửa tòa đại sứ Anh! Giả thử bọn công an sắt máu mà biết ông Vô Danh đưa thư hay giấy tờ gì vào tào đại sứ Anh thì ông Vô Danh còn bị đánh chết mau hơn nữa vì chúng coi ông là gián điệp, liên lạc với tình báo Anh! công an căn cứ vào lối làm việc của công an cộng sản, ta có thể tin rằng bọn công an báo cáo về Phường là có một tên lưu manh bất hảo định xâm nhập tòa đại sứ Anh, nhưng công an đã kịp thời gian chận. Vì nếu nói là đã xâm nhập rồi, lại chạy trở ra thì sự việc sẽ trở thành một vấn đề, một biến cố ngoại giao rất phiền phức, mất công tìm hiểu điều tra rằng xâm nhập tòa đại sứ để làm gì vì nếu báo cáo như vậy thì lại phải nêu rõ tên tuổi lý do... Công an cộng sản quá ít chữ nghĩa, giấy bút cũng ít, nên càng không thích điều tra và làm báo cáo.

(Có thể người Anh đã quay phim và chụp ảnh trận đánh chết người này từ bên trong hàng rào tòa đại sứ nhưng cho đến nay người Anh không thể tiết lộ vì vấn đề ngoại giao với Hà Nội.)

Trong chế độ Cộng sản, công an có toàn quyền bắt người bỏ tù không thời hạn, không xử án mà không cần biết có tội hay không. Chúng giết người vô tội vạ, hay là quyền tiền trảm hậu tấu. Nhưng công an cộng sản giết người, và người đã chết rồi, không cần phải báo cáo lên cấp trên. Vả lại ai cần để ý đến một xác chết? Năm 1947, Hồ Chí Minh ra tiêu lệnh (standing order) giết hết Việt Gian thì có mấy chục vạn người bị bắt và bị thủ tiêu ngay trong đêm tối, xác cho trôi sông, mà không bao giờ có giấy tờ sổ sách hay báo cáo. Đầu năm 1961, Phạm văn Đồng (do lệnh của Hồ) ký tiêu lệnh bắt giam học tập cải tạo tất cả những thành phần bất mãn, bất hảo, chống đối, phản động, phản cách mệnh, chửi cộng sản, cán bộ mắc bệnh công thần... thì công an cứ việc theo đúng tiêu chuẩn đưa ra rồi bắt hàng triệu nạn nhân trong mọi thành phần xã hội đi học tập cải tạo trong hàng ngàn trại tập trung... Hồ Chí Minh chúc mừng năm mới nghe như tiếng yêu tinh vì y chúc Tết xong là bắt bỏ tù cả nước! Ông Vô Danh viết về việc này như sau:



Chuyên chính (vô sản) vội may nhiều áo sọc (áo tù có sọc)...

đem khoác bừa lên tổ quốc mình!

Rừng rú trại tù san sát mọc!

Tiếng mừng năm mới, tiếng yêu tinh!





(Ghi chú: Mường, Mèo, Thái, Thổ là người sơn cước vùng thượng du Bắc Việt. Người Kinh là người Việt. Những người sơn cước bị công an cộng sản bắt đi tù khá nhiều vì họ quen sống lối tự do, không thê chấp nhận cộng sản ngu dốt và trái với tự nhiên, thiên nhiên. Cộng sản thù ghét nhất người Mường tức Hmong. Từ năm 1975 tới nay khoảng 150,000 người Hmong đã bị Cộng sản tàn sát.)

Công an không biết ông Vô Danh là ai, tên gì, và vào tòa đại sứ Anh làm gì? Người Anh cũng không nói gì! Lãnh đạo Cộng sản Hà Nội cũng không biết, và không cần biết người chết là ai và cái gì đã xảy ra. Báo cáo công an chỉ nói giản dị là một tên điên, có vẻ ăn trộm hay ăn mày ăn xin, đã liều mạng chạy vào tòa đại sứ Anh, vào ngày, tháng, giờ... với ý đồ gì đó, nhưng công an bảo vệ tòa đại sứ đã phát giác, kịp thời ngăn chận, và bắt tên này. Theo báo cáo công an, tên trộm Vô Danh này đã... chết vì đau tim, trước khi bị hỏi khẩu cung, và đã được mang đi chôn! Chôn xác chết vô danh có nghĩa là vùi lấp đâu đó, một nấm đất để gọi là cái mả cũng không có.

Mấy tháng sau, người Anh cho phổ biến nhiều bài thơ Hoa Địa Ngục trên đài BBC nhưng không cho biết tên tác giả. Trong một dịp khác, người Anh đưa tập thơ này cho một cựu chính khách Việt Nam Cộng Hòa (ông Châu Kim Ngân) và tập thơ này đã đến tay ông chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong. Ông chủ nhiệm VNTP đã cho in tập thơ này ngay để phổ biến theo sự mong ước của tác giả, với tên tác giả là Khuyết Danh, dưới tên đề Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam, theo tinh thần của lá thư tuyệt mệnh, cũng có nghĩa là chúc thư của một người sắp chết và đã chết. Sau đó, có tin một người khác đã lẹ tay in photocopie đánh cắp và in sang một ấn bản khác để... kiếm lời vào cuối tháng 9/1980. Bản in của VNTP chỉ bán với giá tượng trưng lá $1.50 một cuốn và ông chủ nhiệm đã lỗ một số tiền khá lớn.



* * *



Ông Vô Danh này sinh khoảng 1924 hay 1925 và có thể đỗ Tú Tài Pháp (Baccalauréat) năm 1943 hay 1944, trước khi người Pháp bị Nhật đảo chính ngày 9/3/1945 với hầu hết các giới chức cai trị thuộc địa Pháp bị Nhật cầm tù. Một vài sĩ quan cao cấp Pháp khác (tướng Alessandri) đã cố gắng mang một ít tàn quân Pháp từ (Tông) Sơn Tây chạy bộ sang Vân Nam (Yunnan) và trú ngụ tại Côn Minh (Kunming).

Thời xa xưa, trước năm 1945, rất ít người học và đậu Tú Tài Pháp. Học trong các trường phần nhiều phải theo chương trình Pháp. Tiếng Pháp đã khó, nhưng thi đậu hai phần Tú Tài Pháp có thể nói là thiên nan vạn nan. Mục đích ngu dân của Pháp là cản trở không cho mấy người được đỗ đạt, tốt nghiệp trung học, rồi từ đó có thể nhập đại học. Chính sách thực dân quả thâm độc. Người Pháp không cần mở trường Đại Học tại Sài Gòn. Các gia đình khá giả miền Nam thường có quốc tịch Pháp, có tên "Tây", và gửi con đi Pháp học.

Thời đó, nhiều người miền Nam loại dân tỉnh, giới giàu có trí thức, nói sõi tiếng Pháp hơn tiếng Việt và thường hãnh diện với quốc tịch Pháp của mình. Nhưng thực dân Pháp lại mở trường Đại Học ở Hà Nội với mục đích không cho người Trung và Bắc đi Pháp học. Nếu học đại học ngay tại Hà Nội thì người Pháp có thể theo dõi quan sát. Nếu thân Pháp thì sẽ học đại học suông sẻ, rồi ra làm quan hay công chức cao cấp. Nếu manh nha hội họp chống Pháp thuộc địa, chống thực dân, gia nhập các tổ chức đảng phái cách mệnh... thì sẽ được Sở Mật Thám Đông Dương (Sureté Fédérale) chiếu cố ngay.

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, từ 1940 đến 1945, số sinh viên đại học ở Hà Nội chỉ có khoảng chưa đến 100 người. Nghiên cứu kỹ thơ của ông Vô Danh, ta thấy ông là con trai một, con nhà khá giả, nên đã được song thân cố gắng cho đi học trường trung học Pháp, có lẽ là Lycée Albert Sarraut. Ngoài trường Lycée Albert Sarraut, còn có trường thầy dòng do các sư huynh Thiên Chúa Giáo Puginier cũng dạy nhiều tiếng Pháp. Trường Lycée Albert Sarraut lấy tên viên toàn quyền thực dân Pháp nổi tiếng... thực dân ngày trước. Albert Sarraut đã có nhã ý "không xây dựng" bệnh viện, trường học tại các vùng đông dân cư xứ Bắc Kỳ, để cho "chúng chết bớt" để khỏi gây ra hậu quả xấu về chính trị và xã hội! Trường Bưởi dành riêng cho người Việt Nam cũng đã nổi danh một thời và cũng có dạy tiếng Pháp. Sau này, khi tái lập sự học tại Hà Nội năm 1948, 1949, trường Bưởi được đổi tên thành trường Chu Văn An và dạy nhiều tiếng Việt hơn tiếng Pháp. Trước năm 1945, một trường tư thục trung học khác có tên là Thăng Long, Võ Nguyên Giáp đã từng là giáo sư trường này.

Tiếng Pháp không dễ như tiếng Anh vì mẹo mực (grammar) rất phúc tạp. Nội một việc chia véc bờ (verb) và phân tích mẹo mực, phân đoạn câu cú, (analyse grammaticale và analyse logique) và ghi nhớ đến thuộc lòng đã làm nhiều trẻ nhỏ Việt Nam nhức đầu trong nhiều ngày đêm. Nói tiếng Pháp có vẻ... dễ nói, dù đó là tiếng Tây... bồi, nhưng viết được tiếng Pháp trôi chảy, có đủ lý lẽ, văn hoa, đúng mẹo mực câu cú, cần phải có trình độ thật cao và kinh nghiệm thực tập hay làm việc, viết lách, có khi cao hơn trình độ Tú Tài Pháp rất nhiều. Ngày xưa, những học giả như Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo, Nguyễn Thế Truyền... kể cả ông Đàm Quang Thiện vạn quốc đốc tờ hàm, đã từng nổi danh trên văn đàn qua tiếng Pháp thật giỏi và lưu loát, hơn cà nhiều người Pháp trí thức! Ông Thi Sĩ Vô Danh đã chứng tỏ một học lực uyên thâm với kiến thức quảng bác già dặn trước khi tù, hay là trước khi Cộng sản cướp chính quyền tháng 8, năm 1945 - năm này ông Thiện mới 6 tuổi.

Những độc giả nào rành tiếng Pháp, nhất là các vị sống bên Pháp, đọc bản thư tuyệt mệnh hay là di bút của ông Vô Danh với bút ký, thì có thể đánh giá trình độ và kinh nghiệm tiếng Pháp của ông:

Monsieur!

C'est au nom des millions de victimes innocentes de la dictature, déjà succombés ou subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnes communistes, que je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C'est le fruit de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été créés dans mes années de détention. Je pense qu'à nous, les victimcs, il appartient plus qu'à personne d'autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé et torturé à merci...

De ma vie brisée, il ne reste qu'un seul rêve, c'est de voir le plus grand nombre possible d'hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau de I'humanité.

Veuillez agréer, monsieur, 1'expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de mes compatriotes infortunés!

Dịch: Thưa ông!

Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chính thể độc tài đã ngã gục hay còn đang phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau đớn trong ngục tù cộng sản. Tôi xin ông vui lòng cho xuất bản tập thơ này tại phần đất tự do của quý quốc. Đây là kết quả của hai mươi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm dài bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng không phải ai khác mà chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phải phơi bày cho thế giới thấy sự khổ nhục không thể tưởng tượng nổi của dân tộc tôi còn đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay...

Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một ước mơ, đó là được thấy nhiều người hơn nữa trên thế giới ý thức rằng Cộng sản là một đại họa khủng khiếp cho nhân loại.

Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn xâu xa của tôi cũng như của đồng bào bất hạnh của tôi.

(Bức thơ không ký tên.)



* * *



Sau 20 năm bị tù đày, đầy đọa, đói khổ, ho lao ra máu mà tác giả Vô Danh còn viết được một lá thư tuyệt mệnh bằng tiếng Pháp gọn ghẽ ngắn ngủi nhưng đầy đủ ý nghĩa với tư tưởng cao cả như thơ của ông... người viết bài này có hiểu tiếng Pháp chút đỉnh, chỉ biết cúi đầu bái phục.

(Người viết được biết là ông Nguyễn Chí Thiện được bà chị tên là Hảo biết tiếng Pháp dạy tiếng Pháp cho ông trong khoảng 6 tháng... trước khi đi Mỹ. Nếu quả thật như vậy, thì cái tiếng Pháp 6 tháng này may ra chỉ đủ để đi... chợ! Điều rõ rệt là ông Thiện không bao giờ đả động đến cái thơ tiếng Pháp này.)

Tác giả Vô Danh đã quyết tâm, bằng bất cứ giá nào, dù phải hi sinh luôn mạng sống, để đưa được tập thơ của ông vào tay người Anh để được phổ biến ra ngoại quốc. Tội ác CS đó sẽ được phanh phui. Như một con thú cùng đường, ông hiểu rằng dù lọt hay không lọt được vào tòa đại sứ thì ông cũng phải chết trong tay bọn công an hung dữ. Ông không nghĩ đến đề tên cho tập thơ vì không biết chắc có được lọt ra ngoại quốc hay không. Vả lại đây cũng không phải là một tác phẩm văn học theo ý nghĩa sáng tác thông thường. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ, mỗi chữ là một tiếng nói căm hờn, một ngọn roi quất vào mặt chế độ Cộng sản, thì cần gì phải đặt tên! Ý muốn của ông Vô Danh là tập thơ đến được tay người đọc ở hải ngoại là đủ!

Nếu đọc tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I) của ông Vô Danh, ta sẽ thấy ông không bao giờ chủ trương hòa hợp hay đòi nhân quyền với cộng sản. Ông Vô Danh cũng hiểu cộng sản cỡ nhỏ từ quản giáo trại giam trở lên đến cỡ gộc cấp cao như phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, cán bộ giáo vận cấp thành ủy Đỗ Trung Hiếu, viện trưởng viện nghiên cứu Mác Lê Hoàng Minh Chính, đại tướng công an Nguyễn Hộ, Thượng tướng công an Bảy Liếm và trung tướng công an bảo vệ, cựu thứ trưởng công an Lê Văn Quý tức Lê Hồng Hà... toàn là một thứ sắt máu, bịp bợm, đểu cán như nhau, và ông không cần phải gặp họ, nói chuyện, mạn đàm. Ông Vô Danh cũng hiểu rằng phải là cộng sản cỡ trung kiên nhất, phải tiêu diệt rất nhiều kẻ thù của đảng, kẻ thù giai cấp, và bọn phản động, phản cách mệnh, nên mới leo lên được tới những cấp bực cao cấp như vậy. Bọn này có thể lừa bịp, gạt gẫm và giết bất cứ ai để bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ cộng sản.

Đại lý tối cao ở xứ đồng lầy (cộng sản)

là lừa thầy, phản bạn

và tuyệt đối trung thành vô hạn

với Đảng, với Đoàn, với Lãnh tụ (Hồ) thiêng liêng!

(Vô Danh - Bài thơ Đồng Lầy)

Cộng sản thích thú khi đánh lừa được người khác cho lọt vào bẫy để cho chúng lột sạch sẽ, bỏ tù, tra khảo để bắt thêm người khác nữa, rồi giam cầm bóc lột lao động cho tới chết. Ông Vô Danh cũng hiểu rằng chống Đảng, chống Cộng, là phải bị giết ngay, nói gì đến được nhà nước khoan hồng và cho đi Mỹ dễ dàng! Nếu nhà nước cho đi Mỹ thì phải có kế hoạch phản gián và dụng ý chiến lược bên trong, không thể khơi khơi được đi Mỹ để tiếp tục chửi nhà nước cộng sản!

Cộng sản Hà Nội cũng vui mừng đánh lừa người Việt hải ngoại: cho chúng bay hoan hô vỗ tay, tôn vinh, đề cao, trọng vọng, kính cẩn một cán bộ cộng sản loại gộc nhất, sắt máu nhất, nguy hiểm nhất, trung kiên nhất... cho vui!

Như vậy ta có thể thấy ông Vô Danh bắt đầu làm thơ tố giác tội ác cộng sản và những thủ đoạn gian manh, ác bá của tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1956,1957. Chính vì những bài thơ này mà ông bị cộng sản bắt bỏ tù từ khoảng năm 1957 cho đến năm 1978, trong đó có vài lần ông được thả để rồi bị bắt lại. Ông Vô Danh sống trong tình trạng bị quản chế và có tên trong sổ đen của công an địa phương. Chúng muốn bắt ông lúc nào thì bắt, muốn cho đi tù lúc nào thì cho đi tù.

Bằng chứng ông Vô Danh 20 tuổi hoặc có thể 21, 22... (tuổi 20...) vào năm 1945, khi Hồ Chí Minh và Việt Minh cộng sản cướp chính quyền 19/8/1945, ngay ở đầu bài thơ trường thiên Đồng Lầy (lúc này ông Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi - 1945):

Ngày ấy, tuy xa mà còn đấy

tuổi hai mươi tuổi bước vào đời

Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi...

bốn phía bao la chỉ thấy

chân mây, rộng mới tuyệt vời!

Năm 1945, Nhật đã đảo chính Pháp từ tháng 3, và đến mùa Thu tháng 8 tin Nhật đầu hàng loan khắp nơi. Thanh niên tuổi hai mươi là ông Vô Danh đang tràn đầy nhựa sống và, với một tâm hồn nghệ sĩ, ông có nhiều ước mơ. Ông Vô Danh không mơ mộng hão huyền viển vông. cũng như tất cả lớp thanh niên thời đó, ông Vô Danh mơ đến một nước Việt Nam hùng mạnh trong một chính thể dân tộc dân chủ...

Lúc này Bùi Bằng Đoàn, bố Bùi Tín, làm Tổng Đốc Hà Đông đã được Việt Minh móc nối để yểm trợ cho chúng cướp chính quyền mà không cho lính dẹp. Ông Quản Dưỡng, Quản cơ tỉnh Hà Đông, không biết sự thỏa thuận bí mật này nên đã ra lệnh cho lính nổ súng làm cho Việt Minh cuống cuồng. Sau đó Việt Minh điều đình ngưng bắn, hòa giải hòa hợp, rồi bắt ông và trả thù ngay. Ông Quản Dưỡng có thể là vị anh hùng quốc gia chống Cộng đầu tiên và cũng là người quốc gia đầu tiên bị cộng sản thủ tiêu dưới chiêu bài hòa giải hòa hợp. Nhờ công lao này mà Tổng Đốc Bùi Bằng Đoàn được Hồ Chí Minh cho làm chủ tịch quốc hội, khi chết, cho làm lễ quốc táng, cả nước để tang 3 ngày.

Bùi Tín, lúc đó độ 19 tuổi, được cụ Hồ ưu ái cho tập ấm làm quan cộng sản, làm công an bảo vệ và cần vụ hầu hạ điếu đóm bưng ông nhổ cho cụ Hồ. Năm 1947, Tín được cụ Hồ cho đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Nhờ giỏi ngoại ngữ (tiếng Pháp) với học lực tú tài Pháp, lại được gia nhập làm đảng viên thực thụ, lại được cụ Hồ giới thiệu gởi gấm, Tín được điều động làm việc cho Cục Phản Gián. Năm 1947,1948 Bùi Tín làm đại đội trưởng đại đội đặc công quyết tử chuyên tàn sát những người sáng giá tại nông thôn vùng Quảng Trị, Quảng Bình.

Mang cấp bậc đại tá kiêm phó Tổng Biên Tập tờ báo Chính Thống của nhà nước Cộng sản, báo Nhân Dân, thì Tín chỉ có thể là đại tá phản gián, không phải đại tá chiến trận. Hiện nay, 1996, ta chỉ cần đọc những bài viết của Tín trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, ta sẽ thấy Tín vẫn viết lách, bịa đặt, lếu láo, bịp bợm, như một phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, không có vẻ gì là thay đổi, đổi mới hay bỏ đảng.



Ngất ngây làm sao ngờ tới

Bùn đọng hồ ao mạn dưới phục chờ!

Tuổi hai mươi, tuổi của không ngờ..., không sợ!

Viển vông đẹp tựa bài thơ...

Mơ ước... đợi chờ... vĩ đại... !

Nhưng rồi một sớm đầu mùa Thu trở lại


Con mắt trẻ dại tuổi hai mươi (năm 1945) của ông Vô Danh khi nhìn những lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ dưới ánh nắng mùa Thu, mùa Thu trở lại mỗi năm đã không ngờ rằng bọn giáo giở (tráo trở) hung bạo Việt Minh đã lên đường với cách mệnh tháng 8, thẳng tay phá bỏ truyền thống, nền tảng và giềng mối quốc gia dân tộc...

Ông Nguyễn Chí Thiện lúc đó mới có 6 tuổi và mới đi học lớp 1, nhưng khi khói lửa chiến tranh chống Pháp nổi lên cuối năm 1946, thì ông Thiện, cũng như hầu hết thanh thiếu niên Hà Nội và Hải Phòng và tất cả thị xã lớn miền Bắc vào đến Thanh Hóa, lúc đó phải tản cư vì chiến tranh và tiêu thổ kháng chiến, và coi như mất một năm học. Với cái tuổi 16 năm 1955, dù có tốt nghiệp trung học đi chăng nữa, làm sao ông Thiện có thể hiểu nổi sự đau xót bị Cộng sản lừa gạt, sự tàn bạo của đấu tố cải cách ruộng đất giết nửa triệu người (1955-1956) như ông Vô Danh?

Ta hãy coi ông Vô Danh tả chân tướng Hồ Chí Minh và cải cách ruộng đất trong bài Không có gì quý hơn độc lập tự do:

Không có gì quý hơn độc lập tự do!

Tôi biết nó, thằng (Hồ) nói câu nói đó!

Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!

Việc nó làm, tội nó phạm ra sao?

Nó đầu tiên đem râu nó bện vào

hình xác lão Mao lông lá

Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá

Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa

Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa.

Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu

Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga

Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó

Và tình nguyện làm con chó nhỏ

Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh


(Cộng sản đưa thanh niên vào xâm lăng miền Nam đã bị Mỹ giết khoảng 3.2 triệu người. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Rober McNamara nói như vậy ở Hà Nội ngày 8/11/1995.)



Đường nó đi trùng điệp bất nhân

Hầm hập trời đêm nguyên thủy

Đói khổ dựng cờ đại súy

Con cá lá rau nát nhầu quản lý

Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký

Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói mòn nhục nhằn cắn răng tạm nuốt

Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt

Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha

Tất cả phải thành loa

Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó



Cái quái gở và đểu giả của Hồ Chí Minh là bắt bỏ tù cả nước, biến cả nước thành cái nhà tù khổng lồ, rồi nói đểu: Không có gì quý hơn độc lập tự do! Hồ bắt cả nước vào tù, phá tan nát gia đình, phá nát truyền thống ông cha Lạc Việt để áp dụng chuyên chính cộng sản, lạy Mác Xít, lạy Mao là cha, là tổ tiên, là ông nội, hành hạ nhân dân cho đói khổ và bóc lột lao động cho đến chết, rồi lại bắt cả nước phải thành loa để ca ngợi nó và đảng nó... Thơ của ông Vô Danh tả cái đểu và cái ác của cộng sản đến thế, thật là tuyệt!

Để so sánh ta hãy đọc bài thơ, nếu ta có thể gọi là thơ, dưới đây của ông Nguyễn Chí Thiện đọc vào buổi trưa thứ Bảy 11/11/1995, tại Trung Tâm Eden, thành phố Fall church và có in trong tập Hạt Máu Thơ:

Mấy chục năm xa nước,

Bác không viết một phong nào về thăm gia đình trong nước

Cách mạng thành công, Bác vin cớ bận, bất cần!

Bác Hồ ơi! Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được nước?

Không yêu người thân, Bác làm sao yêu được nhân dân?

Chỉ những kẻ ngu đần

bị mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá

mới tin Bác là đạo cao đức cả

Yêu nước thương nòi, có nghĩa có nhân

Đến chị ruột Bác kia khi sống ở dương trần



Đọc lên ta thấy ngay ông Nguyễn Chí Thiện không hề bị cộng sản bỏ tù bao giờ. Trái lại ông Thiện chỉ kể tội Hồ Chí Minh xấu đến nỗi không viết thư về thăm bà chị, đến nỗi bị bà chị (Thanh) từ bỏ, không nhận làm em bà... ông Thiện vẫn quen mồm, quen miệng kính cẩn gọi Bác Hồ một cách thân mến. Ông Thiện gián tiếp xác nhận Bác Hồ quá lo việc nước đến nỗi không còn nghĩ đến người thân, không nghĩ đến lập gia đình. cái chuyện Hồ Chí Minh có bà chị tên là Thanh, không viết thư cho chị, và bị chị từ bỏ rồi vu cho bà Thanh là bị điên (tâm thần)... có lẽ là chuyện do Cục Phản Gián.. phịa ra để nói xấu bác Hồ với người hải ngoại. Vì nếu chỉ có vậy, thì bác Hồ hiền khô, chẳng bỏ tù ai, chẳng đấu tố và chẳng giết ai bao giờ! Ông Thiện cũng khen bác Hồ của ông ranh ma, tinh quái, và tài giỏi đến nỗi Tây chưa bao giờ bắt nổi! bác Hồ của ông Thiện giỏi thế là nhất rồi còn gì? Ông Vô Danh gọi Hồ là Hồ ly tinh, là quỷ, là ma, là thú dữ, và hầu như không bao giờ gọi Hồ là bác.

Ông Vô Danh làm bài thơ dưới đây sau khi miền Nam thất thủ năm 1975:

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng phụ!
Ta vẫn còn đây, và sắt thép còn kia!

Chết chóc thầm câm, cốt nhục chia lìa!

Ta vẫn sống và không hề lẫn lú

Ta muốn nói với loài dã thú (cộng sản):

Khúc hát khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!

(Vô Danh - 1975)



Ông Nguyễn Chí Thiện đọc bài thơ dưới đây có vẻ muốn nhái theo, cũng tại Fall Church đêm 19/11/1995:

Cuộc chiến đấu trong mấy chục năm qua và trong hiện tại

mang đầy tính chất bi ai

Mấy chục năm chỉ là thảm bại

Nhưng anh dũng vô song cực kỳ vĩ đại

Lũ vô lại, vô thần thẳng tay đày ải

Danh dự lương tâm đòi chúng ta chống lại

Dân tộc cơ hàn xiết rên quằn quại

Rất mong chờ được thấy ngày mai

Chế độ này quái vật một không hai

Gieo rắc bao là đau đớn họa tai



Nếu ta chỉ thay đổi những từ vô lại vô thần thành thực dân đế quốc, đổi danh từ chế độ (dòng 9) thành đế quốc, đổi cộng sản (dòng 11) thành đế quốc... thì ta thấy bài "thơ" này là bài văn tuyên truyền vận động kêu gọi và động viên thanh niên nhập ngũ chống đế quốc, thực dân xâm lăng, dù phải "mười người thì hy sinh chết chín chỉ còn một", thế nào cũng không quản ngại. Như vậy non nước này mới có ngày mai (cộng sản), nhờ những tài trai... phải chăng Cục Phản Gián đã biến nó ra thành thơ của ông Thiện ?

Ông Vô Danh là người Bắc và hầu hết người Bắc đều truyền miệng nhau về những bài vè bài thơ, những câu chuyện thật là tiếu lâm, khôi hài đen, chửi rủa cộng sản thật sâu cay khiến Hồ và Việt Cộng tức dân Bắc Kỳ đến điên người. Do đó Hồ và Việt Cộng luôn luôn xua dân Bắc vào chỗ chết. Ông Vô Danh do đó không thể có cơ may nào sống sót sau khi vào tòa đại sứ Anh trao tập thơ.

Thủ đoạn dùng thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đưa ra hải ngoại thành công đã khiến cho Cục Phản Gián và đầu não cộng sản rung đùi cười nhe răng khỉ khoái chí, rung đùi, vẫy tai, ngoáy đuôi khỉ, chửi sỏ rằng: cho bọn hải ngoại chúng mày hoan hô một tay Mỹ ký (false, impostor) cho... vui!

Ông Vô Danh đã lầm khi theo cộng sản từ năm 1945. Năm 1963, hay là 18 năm sau, khoảng 38, 39 tuổi ông Vô Danh làm một bài thơ dưới đây:

Mỗi lầm lở, một mảnh lòng rạn vỡ

Song thời gian hàn gắn được đôi phần
Riêng cái lầm nơi đất đỏ (cộng sản) dung thân

Thời gian khoét to và sâu, bất tận!


Phải đến tuổi gần 40, ông Vô Danh mới nhìn ra là đã lầm lỡ theo cộng sản để đến nỗi tàn cuộc đời. Hai câu sau cùng có lẽ được áp dụng vào bất cứ lúc nào còn cộng sản, kể cả trong giai đoạn hiện nay... Ta lưu ý những bài thơ trong thời gian 1958-1963, ông Vô Danh còn nói xa, nói gần, có lẽ vì còn sợ cộng sản bắt bỏ tù lại nếu nói quá mạnh.

Cái sợ cộng sản kể là vô cùng. Hiện nay ở hải ngoại có nhiều vị sợ cộng sản và hèn nhát đến mức chê Bách Linh tôi là dùng lời lẽ thiếu lịch sự và lễ độ với... cộng sản! Bọn chó săn bồi bút cộng sản còn cố gắng chụp mũ Bách Linh tôi là cộng sản! Nhưng một người đã biết mình dại dột, lầm lẫn, đã ngốc, nghe và tin cộng sản đến tiêu tùng cuộc đời như ông Vô Danh ngay từ năm 1963, thì làm sao có thể được cộng sản để cho sống và cho đi Mỹ năm 1995 và đến Liên Hiệp Quốc, như ông Nguyễn Chí Thiện đã làm trong tháng 11 va 12/1996, vận động xin Cộng sản ban cho nhân quyền, dân chủ?

Khác với hàng triệu thanh niên khác, tác giả Bách Linh đã sớm nhìn thấy mặt thật của Cộng sản ngay từ tháng 8/1945, nên đã căm thù Cộng sản tàn phá đất nước và đưa cả nước vào chiến tranh, chết chóc và gông cùm Cộng sản. Tác giả Bách Linh đã lập tâm, lập chí cương quyết diệt trừ Cộng sản ngay từ năm 1945, không phải mới đây. Tác giả Bách Linh đã thoát nạn tù tội chết chóc với Cộng sản và chiến tranh, từ Đệ Nhị Thế Chiến, không biết bao nhiêu lần trong suốt cuộc đời. Muốn chiến đấu và chiến thắng tiêu diệt Cộng sản, ta cần phải sống trước đã. Tuy nhiên mỗi người có một nhiệm vụ trước lịch sử. Thi sĩ Vô Danh đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử với ngòi bút và vần thơ của ông. Bằng ngòi bút với suy nghĩ chiến lược và siêu chiến lược, tác giả Bách Linh đã làm cho Cộng sản bị thảm bại ẹ chề, không thể đánh lừa Mỹ cũng không thể tiến tới hiệp ước Thương Mại để duy trì chế độ Cộng sản, từ năm 1990 đến nay, 1999...

Hoài bão của ông Vô Danh khi làm thơ tả chân sự tàn ác Cộng sản phổ biến tập thơ của ông ra thế giới bên ngoài đã thể hiện trong bài thơ ấy năm 1960:

Nếu trời còn để có một ngày mai,

tôi sẽ kể chuyện đêm dài khủng khiếp

cho thế hệ hiện nay cùng đàn sau kế tiếp...

giật mình, thức tỉnh thương đau...



Ông Nguyễn Chí Thiện lúc đó (1960) mới 21 tuổi và chưa đi tù, vẫn vô tội với Cộng sản vì ông không biết làm thơ, và sống bình yên với cha mẹ, dĩ nhiên không thể làm được một bài thơ vừa ý nghĩa chống Cộng sâu sắc như trên. Ông Vô Danh khi làm bài thơ trên, khoảng 35 tuổi, đã hoạt động với Việt Minh Cộng sản và đã ở tù trong nhiều năm, đã nhận thấy mặt thật tráo trở đểu giả của Hồ Chí Minh và Cộng sản, và đã thất vọng não nề với Cộng sản.

Ta thấy rất nhiều báo chợ, văn nghệ sĩ, khoa bảng "cung kính" gọi là bọn chó săn Cộng sản là "ông" Võ Văn Kiệt, "bà" Dương Thu Hương, "người" Cộng sản, "ông" Hoàng Minh Chính, "ông" Nguyễn Hộ, "nhà trí tuệ" Hà Sĩ Phu, "nhà văn hóa" Lữ Phương, "nhà trí thức kiêm tù nhân lương tâm" Đoàn Viết Hoạt... Nếu Bùi Tín trịnh trọng kính cẩn lạy nhà văn hóa Lữ Phương, nhà trí thức Hà Sĩ Phu và các ông và các cụ trong Bộ Chính Trị thì ta phải hiểu là Tín vẫn trung thành với đảng, không thay đổi. Tín vẫn miệt thị bọn phản đảng như hồ sơ Nguyễn Hà Phan phản bội... chứng tỏ Tín không phản bội và vẫn trung thành với đảng Cộng sản. Tín chỉ tạm thời rời bỏ chức vụ Tổng Biên Tập báo Nhân Dân để ra hải ngoại làm biên tập cho báo Phụ Nữ Diễn Đàn và nhiều báo khác!

(Xưng hô trong những bài viết rất tế nhị. Tư mã Thiên khi xưa viết sử! Khi gọi đến gian thần ông chỉ nói trống tên không. Khi nhắc đến trung thần này hay những người có giá trị thanh cao, ông trịnh trọng viết... quan đại phu, quan tể tướng... Chỉ khi nào trực tiếp đối thoại, đặt câu hỏi, hoặc đưa Võ Nguyên Giáp, Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh, Phạm văn Đồng... ra tòa án quân sự thì người ta phải dùng danh xưng ông hay cấp bực, chức vụ trước khi... những tên phạm gian cộng sản loại Thích Trí Quang, Thích Minh Nghị, Thích Minh Châu, Sư tăng, văn nghệ, thi sĩ, báo sĩ, đài sĩ, bồi bút, kháng chiến quốc doanh thì phải bị xử tử theo lối... KGB!)

Nếu tiến sĩ Bửu Sao viết bài đăng Bách Linh và binh vực Nguyễn Chí Thiện hay Tú Nuy, Thuốc Sát Trùng, Phan Thiết, và những tên khác nữa như Nguyễn Việt Nữ và Thành Vũ đánh Bách Linh để binh vực ông Nguyễn Hộ, sư quốc doanh Cộng sản Thích Huyền Quang, Thích Trí Quang, ông Hoàng Minh Chính, ông Đỗ Trung Hiếu... với hy vọng thủ tướng Võ văn Kiệt sẽ thành Gorbachev Việt Cộng, với hy vọng người Việt hải ngoại sẽ về Việt Nam cúng thêm tiền cho Việt Cộng... thì ta phải hiểu bọn chó săn bồi bút, nâng bi Cộng sản nằm vùng ở đâu và là những tên nào?

Cán bộ Cộng sản có một khuyết điểm nặng nề là thích nổi danh, nổi tiếng, được tiếp rước long trọng như... chính khứa, như anh hùng kíu quốc, trong khi giá trị bản thân chẳng đáng một xu và khi còn ở Hà Nội, Hải Phòng thì Cộng sản coi như đầy tớ bồi bếp... có lẽ vì mặc cảm tự ti (inferiority Complex) chăng nên những người dốt nát, hèn hạ, hạ tiện lại cứ thích nổi danh, nổi tiếng theo kiểu đội lốt theo kiểu mượn!

Sự thê thảm là cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra. Chính cái tự do ngôn luận, tự do suy nghĩ và tự do dân chủ đã làm cho người hải ngoại cực kỳ thông minh và bén nhạy khi họ chửi thấy cái gì Cộng sản bần cố nông, cái gì có vẻ không ổn, không bình thường, và nhất là cái gì có vẻ trí thức mượn, có vẻ kịch, có vẻ bịp bợm, có vẻ chồn cáo đội lớp Lý Bạch và có thể Mỹ ký mà vẫn ra cái điệu ta đây thứ thiệt!

Ông Vô Danh, với máu hăng say của tuổi thanh niên, đã gia nhập từ Hà Nội, gọi là Tự Vệ Chiến Đấu, ngay từ cuối năm 1945. Lúc này hầu như mọi lứa tuổi là một cách hàng ngũ hóa (regimentation) đầu tiên của Việt Minh Cộng sản. Tất cả mọi thành phần xã hội, các lứa tuổi, nam nữ, già trẻ, tôn giáo... đều phải gia nhập tổ chức do cán bộ Việt Minh Cộng sản kết nạp, điều hành, tổ chức, và chỉ huy. Những người từ chối gia nhập, nhất là thanh niên, đều bị coi như phản động, chống đối, và bị bắt đi trong đêm và bị thủ tiêu mất tích. Người ta gọi là đi mò tôm nạn nhân bị đưa ra bờ sông rồi bị đập cho một búa vào đầu rồi ném xuống sông. Vùng Hà Nội thì bờ sông Hồng hoặc bãi Phúc Xá, vùng Hải Phòng cầu Nệm và sông Nệm là nơi pháp trường của Việt Minh. Người nhà không dám kêu ca vì chẳng biết kêu ca với ai? Sự khủng bố của Cộng sản và sự kinh hoàng Cộng sản trong nhân dân lan tràn khắp nơi ngay từ cuối năm 1945.

Tài liệu theo báo Người Việt ra ngày 19/12/1996 trong bài quan điểm: Ngày 2/9/1945 tuyên bố độc lập thì ngày 5/9/1945, Hồ Chí Minh cho Võ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, ký sắc lệnh giải tán và cấm hoạt động các đảng quốc gia mạnh nhất lúc đó là Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xã. Một sắc lệnh khác cho phép công an toàn quyền bắt những người mà chế độ thấy là nguy hiểm cho họ. Ngày 12/9/1945, Võ Nguyên Giáp đã lập cơ quan mật vụ có quyền giam giữ những người bất đồng chính kiến. Ngày 22/9/1945, Trần Huy Liệu ra lệnh kiểm duyệt các báo để kiểm soát những tiếng nói độc lập như báo Ngày Nay của Quốc Dân Đảng. Chưa đủ, ngày 1/11 năm đó, Liệu đặt các nhà in dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên Truyền, với mục đích ngăn chận việc phổ biến tất cả các ý kiến độc lập... Người viết xin cảm tạ báo Người Việt đã cho mọi người biết tài liệu tối mật nội bộ hiếm có này vì những người chống Cộng ở bên ngoài không bao giờ có thể biết.

Khi quân đội Pháp nổ súng tại Hà Nội đêm 19/12/1946, thì ông Vô Danh đã chiến đấu trong thành phố cùng với khoảng 2 ngàn tự vệ chiến đấu và rất nhiều thiếu nhi, thanh niên, tiếp tục chiến đấu trong sự tuyệt vọng. Súng ống đạn dược hoàn toàn thiếu thốn và hạn chế. Họ cũng chưa được huấn luyện quân sự nhất là về đánh nhau trong thành phố. Tất cả đều chiến đấu theo sáng kiến và can đảm cá nhân.

Tất cả gần như chiến đấu bằng tay không chọi lại với sư đoàn thiết giáp thiện chiến 2ème Division Blindée, do đại tướng Leclerc chỉ huy, một đơn vị dã chiến thắng Đức quốc xã và là đơn vị đầu tiên được vinh dự giải phóng thủ đô Paris... trung đoàn 11 thuộc địa (11ème RIC -Regiment d'Infanterie Coloniale)..., trung đoàn Lê Dương (Legion Étrangère)...

Họ chiến đấu vô cùng anh dũng với hùng tâm của mấy ngàn năm chống xâm lăng. Họ đục tường xuyên qua các nhà, các phố, chiến đấu với một tinh thần cảm tử, quyết tử, một tinh thần mà sau này đại tá Némo, tư lệnh vùng duyên hải Bắc Việt (commandant, zone maritime du Tonkin), đã phải nói: Họ chiến đấu dũng cảm và liều mạng như những con sư tử non...

Võ Nguyên Giáp và Việt Minh không hề trợ giúp đoàn Tự Vệ Chiến Đấu dũng cảm này, gồm toàn thanh niên Hà Nội, sau này được gọi là Trung Đoàn Thủ Đô... Nhưng Giáp vẫn cho viết bài phần nhiều là bịa đặt tưởng tượng về Trung Đoàn Thủ Đô để đề cao Việt Minh và làm đề tài tuyên truyền đẩy mạnh công cuộc động viên toàn miền Bắc kháng chiến chống Pháp. Việt Cộng cũng bịa đặt là tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy cuộc chiến đấu trong thành phố Hà Nội. Phải đến ngày 17/2/1947 hay sau gần 2 tháng, những người sống sót đã phải rút ra ngoài thành phố vì đã kiệt quệ về lương thực và súng đạn. Số phận những người còn sống này không thể kiểm chứng. Một số gia nhập các đơn vị Việt Minh khác và tiếp tục chiến đấu cho đến chết hoặc cho đến khi chiến thắng năm 1954 và trở về Hà Nội. Những xác người chết được Pháp gom lại và chôn trong một nấm mồ tập thể rất lớn, gồm hẳn một khúc đường phố cạnh Tòa Án Hà Nội.

Sau khi thoát được ra ngoài hậu phương, ông Vô Danh đã gia nhập Vệ Quốc Đoàn, quân đội chính qui của Việt Minh thời đó. Trung Đoàn Thủ Đô có được thành hình nhưng có rất ít người thủ đô Hà Nội. Hầu hết đều là người Thanh Nghệ Tĩnh. Khi về Hà Nội cuối năm 1954, trung đoàn Thủ Đô toàn người nói tiếng trọ trẹ. Đây cũng là một thứ kiêu binh mà người Bắc sau này gọi là lính Tam Phủ như kiêu binh của chúa Trịnh ngày xưa. Trung đoàn trưởng lúc đó là Nguyễn Quốc Trị, người Thanh Hóa.

Sau này, có lẽ nhờ tài thơ phú, ông Vô Danh đã gia nhập Hội Văn Nghệ Sĩ. Nhạc sĩ Phạm Duy khoảng năm 1950 đã từ chối thẳng vào mặt cụ Hồ, không thèm gia nhập Hội Văn Nghệ, và đã trốn vào thành phố. Đây cũng là cái tát vào mặt Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản. Kể từ khi ông Phạm Duy bỏ đi, Hồ và Việt Minh ghét cay ghét đắng dân Bắc Kỳ nhất là những người có tài như ông... Vô Danh, cụ Phan Khôi, và hầu hết các văn nghệ sĩ miền Bắc. Lúc đó Văn Nghệ miền Bắc do Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy nắm giữ chặt chẽ. Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hữu Loan, Trần Hoàn, Lưu Hữu Phước (người Nam)... chỉ là những kẻ theo đuôi voi, cầu sống. Những người khác như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao... đều phải chịu ép một bề...

Giết, giết hết, bàn tay không phút nghỉ!

Cho ruộng đất lúa tốt, thuế mau xong!

Anh em ơi! Cùng dệt bước tơ lòng

Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!

(Xuân Diệu)

Năm 1955-1956, Hồ Chí Minh ra lệnh cải cách ruộng đất để đấu tố tiêu diệt hầu hết những thành phần khá giả sáng sủa mà Hồ gọi là địa chủ, phú nông, trí thức và giai cấp chỉ huy trong nông thôn như các chánh tổng, lý trưởng, bá hộ... gọi là trí, phú, địa, hào... Bất cứ ai nằm trong thành phần này, hoặc chỉ người bình thường, đều có thể bị viện đội trưởng đội cải cách chiếu cố lên liste lên danh sách đấu tố, phải ra đấu trường, và bị đấu tố theo kiểu Mao Ít rùng rợn, tàn ác và khủng khiếp nhất.

Được nghe bà kể khổ!
Con thấy đời con thực là đáng chết!

Con đã đi bóc lột để nuôi bà

Con bây giờ không dám nhận là cha

Dù bàụ là do con đe ra



Ông Vô Danh quả tài tình. Chỉ bằng mấy câu ngắn ngủi mà hàm xúc đầy đủ sự ghê rợn của đấu tố Cộng sản. Cha phải gọi con gái bằng bà và xưng con. Nuôi con cũng là "tội" vì phải bóc lột người khác để nuôi con. Trong khi đó, Hồ và Cộng sản giết người, bỏ tù, cướp bóc đủ thứ... thì lại bắt cả nước phải đời đời nhớ ơn Hồ chủ tịch!

Cộng sản Hà Nội áp dụng Mao Ít nhiều hơn Mác Xít Lê Nin Nít, có lẽ vì không thích hợp với hoàn cảnh địa phương (Việt Nam và Trung Quốc). Mác Xít chỉ là lý thuyết suông, chẳng ai thèm học hay áp dụng. Khi đại tá Phản Gián Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ và Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính luôn miệng chê bai Mác Xít thì những tên chó săn cộng sản này đã lờ tịt vấn đề Lê Nin Nít và hiện nay là Mao Ít đang thật sự được áp dụng tại Việt Nam. Ngục sĩ kiêm chính trị gia Nguyễn Chí Thiện nên cho biết ý kiến về cuộc thanh trừng cộng sản Hà Nội do thượng tướng người gốc Tàu là Lê Khả Phiêu cầm đầu đã giết các đồng chí Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đình Tứ, Dương văn Đầy...?

Đầu tháng 12/1966, báo Người Việt đã đăng (2 kỳ) bài của nhà văn Hoàng Tiến ở Hà Nội mà không ai biết tên này là ai, có thể là cán bộ phản gián, viết về Hà Sĩ Phu. Đài VNCR và Little Saigon cũng phụ họa tiếp vận phổ biến lá thư này. Đài VNCR phỏng vấn điện thoại viễn liên với Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự và các cán bộ Cộng sản khác mỗi ngày rồi truyền thanh lại cho đồng bào quận Cam nghe. Báo Người Việt cũng đăng những bài phỏng vấn rõ ràng và kỹ càng. Chiều ngày Chủ Nhật 8/12/1996, có một cuộc biểu tình nhỏ ở Little Saigon, quận Cam, California, để kỷ niệm nhân quyền. Nhân dịp này, Đoàn Thế Cường, người của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh cũng hô hào lấy chữ ký vào kiến nghị đòi Hoa Kỳ phải mời Hà Sĩ Phu và Đoàn Viết Hoạt sang Mỹ diễn thuyết... (cho chó săn Vẹm nghe chăng?).

Cộng sản vào cuối năm 1996 đã bị thâm thủng tới 4 tỷ đôla. Chúng cuống cuồng mở chiến dịch Dân Vận hải ngoại để kêu gọi người Việt đóng tiền cứu nguy... tổ quốc!

Nhóm Giao Điểm do Hồng Quang cầm đầu (trong khối Ấn Quang) đã tổ chức một bữa cơm chay tại chùa Việt Nam Orange chiều ngày 7/12/96 với thượng tọa Thích Pháp Châu để gây quỹ... trùng tu chùa Đậu ở tỉnh Hà Tây! Kết quả thu được hơn 7,000 đôla! Nhóm Giao Điểm Hồng Quang coi như lập thành tích thi đua đầu tiên. Chiến dịch hàng đầu vĩ đại này có thể sẽ được tuyên dương trước Ban Chấp Hành Trung Ương Quốc Hội và Mặt Trận Tổ Quốc vì giáo hội Ấn Quang là tổ chức đứng hàng đầu trong Mặt Trận Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa. Số tiền này đương nhiên phải được gửi về Hà Nội. Còn vấn đề có trùng tu chùa Đậu hay không thì... chỉ có Vẹm biết chăng?

Tội ác của bọn chó săn cộng sản này là chúng cố tình lấp liếm sự kiện lãnh đạo Cộng sản Hà Nội đang làm bù nhìn chó săn cho Trung Cộng để đầy ải dân tộc Việt Nam hơn nữa vào hố thẳm của nô lệ và diệt chủng. Vào năm 1996-1997..., dân tộc Việt bị hai kẻ Nội thù Việt Cộng và Ngoại xâm Trung Cộng đe dọa tiêu diệt. Sau này, sau khi Cộng sản bị tiêu diệt, bọn Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, Đỗ Trung Hiếu, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ và bọn tay sai bồi bút nằm vùng hải ngoại đáng bị xử vào tội Thập Ác.



* * *




Chung toi thanh kinh cam on nhung bat an nhan, manh thuong quan, than hao nhan si, cac co quan .. da giup chung toi tin tuc, tai lieu va nhat la da khich le tinh than cho chung to thi hanh cong tac Lat Tay Tong Cuc Phan Gian Cong San Ha Noi va Dien Vien Nguyen Chi Thien

 

 
X.Y. THÁI DỊCH LÝ ĐÔNG A
30 Bộ Sách Triết Lý Căn Bản của Chủ Thuyết Duy Dân Nhân Chủ
Đạo Trường Ngâm
Huyết Hoa
Khai Bút
Việt Sử Thông Luận
Ý Niệm Thế Hệ (phần 1)
Ý Niệm Thế Hệ (phần 2)
 
Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt
Lời Tựa
Ý Nghĩa Cờ: MTCMHPV
Bạch Thư: Tố Cáo Tội Ác CS 1945-1992
14 Ðiểm Trước Khi Hòa Hợp Hòa Giải

Copyright© 2002-2011 by Nhóm Chiến Sĩ Cách Mạng Vô Danh. All Rights Reserved.