| |
| Date
:
2/23/2012 1:20:32 AM |
IP
Address:38.107.179.212 |
|
|
|
| |
Topic:
|
Tác
Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập 1 |
| Author: |
Bach Linh |
Tác giả Khuyết Danh và thơ Vô Đề!
Hay là
Trả lại cho Caesar cái gì của Caesar
Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì tự nó sẽ tan
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt.
(Thế lực Đỏ - Vô Đề)
Bài viết này tìm
hiểu về con người
thật nhưng Vô Danh làm tập
thơ Vô Đề sau này được
đặt tên là Bản Chúc
Thư của một Người
Việt Nam tác giả Khuyết
Danh, Tiếng Vọng Từ
Đáy Vực, Hoa Địa
Ngục I. Vậy tác giả
Vô Danh là ai? Nghi vấn về
tác giả Vô Danh và tập thơ
Vô Đề (Hoa Địa
Ngục I). Ai tạo dựng
lên chuyện ông Nguyễn Chí
Thiện là tác giả tập
thơ Vô Đề từ năm
1980? Phân tích và so sánh sự
khác biệt giữa 2 tập
thơ để tìm thi sĩ
thật và thi sĩ giả!
Vì có nhiều độc giả
nêu ra nhiều nghi vấn, nên
bài khảo luận này dựa
trên các câu hỏi đó để
giải đáp phần nào những
bí mật trên tập thơ
Vô Đề trường thiên
và bất hủ. Tác giả
chỉ muốn tuyên dương
tác giả Vô Danh vì ông đã
dâng hiến tất cả cuộc
đời ông cho công cuộc
chống Cộng và kể lể
tội ác Cộng sản. Thơ
Vô Danh đã trở thành bia
miệng lịch sử cho
nhiều thế kỷ nữa
để cho ngàn đời
sau hiểu rằng đã có
một giai đoạn trong
thế kỷ 20, dân tộc
Việt đã bị chính những
kẻ Nội Xâm, Nội Thù
Cộng sản du nhập một
chủ nghĩa và chính sách cai
trị bóc lột nô lệ
ngoại lai kinh tởm nhất
gọi là Cộng sản Mác
Xít, Lê Nin Nít, Xít Ta Lin nít, Mao
Ít... để tàn phá đất
nước dân tộc Việt
Nam tới mức kiệt quệ,
diệt chủng.
Trong đống bùn đen,
đồng lầy Cộng
sản, một đóa Hoa Sen
nẩy sinh! Một người,
tạm gọi là Vô Danh vì chưa
ai biết tên thật và lý lịch
gốc gác, đã sinh ra và lớn
lên giữa chế độ
Cộng sản. Bị Cộng
sản đọa đày, ông
vẫn có một ý chí mãnh liệt
là phải làm sao phanh phui, tố
cáo, tố giác tội ác của
bọn quỷ sứ lưu
manh, tàn bạo tàn ác, tự
nhận là Cộng sản,
đã làm cho cả nước
Việt đã trở thành một
trại tù cung cấp lao động
nô lệ . Toàn dân Việt đã
trở thành tù nô lệ của
chế độ Cộng sản.
Mọi người, từ
trẻ con trong bụng cho đến
người già đều
bị chúng bắt ở tù
trong, tù ngoài, tù đủ cách,
đủ kiểu, bị một
bọn quỷ sứ cộng
sản hành hạ cũng đủ
cách đủ kiểu, làm cho
toàn thể dân tộc sống
dở, chết dở, có thể
đi đến suy tàn, diệt
chủng.
Ông Vô Danh đã kín đáo làm
nhiều bài thơ ngục
tù trong cảnh ngộ khủng
khiếp, kinh hoàng của những
người tù. Ông Vô Danh đã
ôm hoài bão là có một ngày nào
đó ông có dịp vượt
thoát để phổ biến
những bài thơ kể tội
ác cộng sản với thê
giới bên ngoài. Nhưng năm
tháng tù đày, với bệnh
ho lao ra máu kinh niên, thể xác
của ông đã tàn lụi
dần. Trong sự tuyệt
vọng, với cái chết
chắc chắn sẽ đến,
ông đem chút hơi tàn còn lại
để liều mạng
chạy vào tòa Đại Sứ
Anh Quốc để trao tập
thơ và nhờ người
Anh phổ biến ra ngoại
quốc dùm, cho cả thế
giới biết đến
tội ác Cộng sản. Nhiệm
vụ cuối cùng của ông
đã thành công. Khi ông trở
ra, bọn công an cộng sản
khát máu dữ dằn xúm vào
đánh đòn tập thể
khiến cho cơ thể của
ông đã kiệt quệ, nhưng
trí óc ông mãn nguyện, sẵn
sàng chấp nhận cái chết
không thể tránh.
Tập thơ Vô Đề
đã trở thành bất hủ
và bất tử. Nhưng tiếc
thay, cũng như tác giả
một tập thơ tình cảm
bất hủ khác Hai Sắc
Hoa Ti Gôn đã vĩnh viễn
không cho ai biết tên thật,
tác giả Vô Danh đã, do ý
muốn của ông là phổ
biến tập Thơ cho thế
giới, cho nhân loại và cho
hậu thế, mà không bao giờ
nghĩ đến được
vinh danh hay nổi danh. Ngoại
trừ bài thơ trường
thiên Đồng Lầy, những
bài khác đều không có đặt
tên.
Nhận xét về tình huống
của thi sĩ Vô Danh, người
viết nghĩ rằng ông
đã không còn ở thế
gian này nữa ngay từ ngày
ông đưa tập thơ
vào tòa Đại Sứ Anh
Quốc ở Hà Nội. Bài
viết này cần phải
có để minh oan cho ông? Để
trả lại tác quyền
cho ông, để vinh danh cho
ông cho đến khi nào tìm ra
tên thật hay là tông tích của
ông.
Có thể sau khi tiêu diệt
Cộng sản, sẽ có người
cùng ở tù với ông còn sống
sót, những người hàng
xóm của ông ở Hà Nội.
Những người từng
quen biết với gia đình
nhỏ bé của song thân ông...
để đứng ra làm
nhân chứng và nói lên sự
thật chăng? Có lẽ phải
đặt ra một Ủy
Ban truy tầm tung tích nhà thơ
Vô Danh hay để vinh danh
ông trước lịch sử,
trước dân tộc, trước
Văn Học Quốc Gia và
Thế Giới.
Cán bộ Cộng sản lừa
lọc bất cứ ai, lừa
lọc toàn thể dân tộc
để bảo vệ đảng
tồn tại lâu dài. Chúng có
đủ phương tiện
báo chí, tiền bạc, và mưu
kế lường gạt,
bịp bợm, lưu manh nhất
để đánh lừa người
Việt, nhất là người
Việt hải ngoại. Tiếp
tay cho bọn cán bộ cộng
sản trung kiên này, có các tổ
chức chính trị, liên minh
kháng chiến ma mãnh, và lũ
chính trị gia theo thời,
chó săn, xanh vỏ đỏ
lòng, hợp tác với cán bộ
Cộng sản thứ thiệt
và một nhóm văn nô bồi
bút nằm vùng quốc doanh
hải ngoại.
Bài viết này không có ý đã
kích cá nhân ông Nguyễn Chí Thiện
này. Những dữ kiện
quá khứ và cá nhân của ông
Nguyễn Chí Thiện quá rõ
ràng mà lại không rõ ràng về
chức vụ quyền hành
của ông với chế độ
Cộng sản và tập thơ
Vô Danh. Có thể ông Nguyễn
Chí Thiện và các bạn hữu
của ông và hai người
giới thiệu ông Thiện
với hải ngoại là ông
Trần Nhu và ông Minh Thi đã
đúng và thật khi nói rằng
ông Nguyễn Chí Thiện là
thật không phải giả.
Phải chăng vì đây là
một màn kịch quốc
gia và quốc tế nên cần
phải tạo ra nhân chứng
để có một câu chuyện
giả có vẻ thật?
Ông Nguyễn Chí Thiện có
anh ruột, cựu sĩ quan
VNCH ở Hoa Kỳ và chị
em ruột. Chúng tôi đặt
vấn đề ông Nguyễn
Chí Thiện này, người
đã đến Hoa Kỳ
ngày 1/11/1995, là thật hay giả.
Nhưng chúng tôi đặt
vấn đề ai là thi sĩ
thật của tập thơ
Vô Đề, một tập
thơ mà chính ông Nguyễn Chí
Thiện cũng không thể
đặt tên mà phải dùng
tên (Hoa Địa Ngục)
do người khác đặt...
Hãy trả lại cho Xê Da cái
gì của Xê Da...! Người
viết bài này kính cẩn mong
rằng hương hồn
ông đã khuất được
hả dạ vì những lý
luận, lý đoán viết
trong bài này, và không bị mang
tiếng vì kế hoạch
mạo danh, bất xứng
nhằm xóa tên Vô Danh của
tác giả thật của tập
thơ. Nếu ta hiểu Cộng
sản thì chúng ta cũng hiểu
rằng chúng lợi dụng
bất cứ một tình huống
nào để đạt mục
tiêu tuyên vận chính trị
hải ngoại.
Người Việt cũng
sẵn sàng đón nhận mọi
sự đóng góp thêm, kể
cả sự phê phán của
quí độc giả để
giúp cho vấn đề lịch
sử, một nghi án thơ
văn, được sáng
tỏ, rõ ràng. Biết đâu
khi viết bài này về đến
Việt Nam. Cục Phản
Gián hiểu rằng kế
hoạch bịp bợm, dối
trá của họ đã bị
đổ vỡ. Những
người quen biết tác
giả Vô Danh hiểu rằng
họ sẽ có dịp để
nói lên sự thật và tên tuổi
của một nhà thơ vĩ
đại trong thế kỷ
20 của dân tộc Việt
Nam.
Bài viết này theo chiều
hướng khẳng định
có hai nhân vật! Một người
lớn tuổi là Vô Danh tác
giả của tập thơ
Vô Đề (Hoa Địa
Ngục I), con một, chỉ
có cha mẹ già khoảng trên
dưới 70 tuổi, song
thân đã chết khoảng
từ năm 1970 đến
1974 khi ông còn ở tù, cỡ
trình độ Pháp văn thật
giỏi, không biết tiếng
Anh, đã làm thơ, bị
tù từ khoảng 1957-1958 đến
1978 hay là khoảng 20 năm,
có được thả rồi
bị bắt lại một
vài lần, đã bị ho lao
ra máu trong nhiều năm vì
tình trạng giam giữ quá
cực khổ đói rách, đã
đột nhập vào tòa Đại
Sứ Anh khoảng tháng 6 năm
1979 để đưa tập
thơ nhờ phổ biến
ra ngoại quốc, và đã
chết ngay sau đó trong sự
đánh đập tàn bạo,
dã man của công an Cộng
sản.
Người thứ hai là Nguyễn
Chí Thiện, trẻ tuổi
hơn rất nhiều. Biết
tiếng Anh, Pháp nhưng không
biết trình độ cao thấp
ra sao, có trí nhớ rất mạnh,
chưa bao giờ bị bệnh
lao và rất khỏe mạnh,
có tài diễn thiết, hùng
biện nhiều giờ không
mệt mỏi, được
các ông Trần Nhu, Minh Thi làm
chứng nhân rằng đã
biết ông Nguyễn Chí Thiện
trong tù từ năm 1980 (lúc
này ông Vô Danh đã chết rồi,
bị đánh ngay trước
tòa Đại sứ Anh quốc).
Và xác nhận rằng ông Thiện
chính là tác giả tập thơ
Vô Đề của tác giả
Vô Danh. Tất cả những
gì ông Thiện khai về lý
lịch thì rất sơ sài,
ít chi tiết và có thể nói
là không rõ ràng, khá một chiều
vì không ai có thể kiểm
chứng. May ra sau này, sau khi
tiêu diệt cộng sản,
người ta mới có thể
biết tung tích thật sự
của ông Nguyễn Chí Thiện
và nhà thơ Vô Danh chăng?
Ông Thiện đã nhận được
giải thưởng quốc
tế, đã nhận được
khoảng 8 lạng vàng khoảng
4,000 đôla của Mặt
Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ
Minh giao cho tại Hải Phòng
và có nhiều quà cáp giải
thưởng khác nữa. Sau
này, ông Thiện được
nhà nước cộng sản
cho đi Mỹ và đến
Mỹ ngày 1/11/1995, trường
hợp hiếm có và duy nhất
trong 51 năm cai trị miền
Bắc.
Bài khảo luận này khá dài
vì phải nhắc nhở lại
những bài thơ của cả
hai người Vô Danh và Nguyễn
Chí Thiện, cho vấn đề
luận bàn về thơ Vô
Đề vì có nhiều độc
giả chưa có dịp đọc
những bài thơ bất hủ!
Phần viết về thơ
Vô Đề có ký tên Vô Danh,
và phần viết về thơ
của ông Nguyễn Chí Thiện
là những bài trong cuốn
Hoa Địa Ngục tập
2 hay là "Hạt Máu Thơ"
xuất bản khoảng tháng
3 hay tháng 4, 1996.
Trong một ngày tháng 6/1979. Một
người lớn tuổi,
khoảng trên 50 tuổi nhưng
già xộm trông như ông già
70 tuổi, gầy gò ốm
yếu, quần áo rách rưới,
đã liều mạng chạy
vào trong tòa Đại sứ
Anh và trao một tập giấy.
Bằng một giọng mệt
nhọc và yếu đuối
trong tiếng thở mạnh
hổn hển, xen lẫn với
những tiếng ho, ông nói
bằng tiếng Pháp thật
lưu loát với người
Anh. Đại ý ông chỉ
muốn trao bản thảo
tập thư của ông và
mong người Anh sẽ phổ
biến ra hải ngoại
dùm, làm tiếng nói cho hàng triệu
nạn nhân cộng sản.
Người này không ngỏ
ý xin tị nạn chính trị
hay bất cứ một ân
huệ nào nơi người
Anh. Dĩ nhiên người
Vô Danh này không yêu cầu người
Anh xin Cộng sản ban nhân
quyền cho người Việt
Nam ông cũng không đòi hòa
hợp hòa giải bất bạo
động với cộng
sản. Ông cũng hiểu
rằng khi ra khỏi tòa đại
sứ, ông sẽ bị công
an cộng sản bạo động
với ông mạnh mẽ nặng
nề, cho đến khi ông
hết thở chúng vẫn
chưa thôi!
Trong tình huống đó, nhà
thơ Vô Danh không dám để
tên thật của mình vào tập
thơ. Ông chỉ biết viết
một bức thư tuyệt
mệnh bằng tiếng Pháp
loại cao cấp, rất
rõ ràng lưu loát và không ký tên.
Ông Vô Danh cũng không để
cái ảnh đại gia đình
của cha mẹ vào tập
thơ như ông Thiện khoe
trong cuốn Hạt Máu Thơ.
Có lẽ ông Vô Danh sợ rằng
không đưa lọt, hoặc
bị công an chận bắt
thì ông có thể quăng tập
thơ đi, hoặc dấu
vào đâu đó, để
không bị bắt vì tên của
mình, và có thể viết lại
tập thơ và tìm cơ hội
khác chuyển ra ngoại quốc.
Trong mạng lưới công
an dày đặc ở Hà Nội
và Bắc Việt thời đó,
những bài thơ của ông
Vô Danh đã được
tuyệt đối giữ
bí mật, vì thố lộ
với bất cứ ai, hay
nổi hứng phổ biến
ngâm thơ, thì có nghĩa là
bị giết ngay và tập
thơ cũng bị thủ
tiêu. Ông Thiện khoe rằng
có bàn với Phùng Cung về
bài thơ Anh Gặp Em (sáng
tác năm 1965) và Phùng Cung đề
nghị thêm chữ thôi để
bớt tội cho tên y sĩ
công an.
Trình độ ông Vô Danh khiến
ta hiểu ông không phải bàn
với ông Phùng Cung hay với
bất cứ ai thôi trong thơ.
Hoàn cảnh tù tội của
ông Vô Danh khiến ông không thể
gặp bất cứ ai để
bàn về thơ. Nếu Phùng
Cung có thấy ông Vô Danh thì cũng
phải tảng lờ vì công
an có thể bắt vì tội
dám nói chuyện với thành
phần tù tội. Sau này ông
Thiện còn khoe đã gặp
và mạn đàm với Hoàng
Minh Chính tức Thượng
tướng công an phản
gián Trần Ngọc Nghiêm. Ông
Thiện cũng tiếc rằng
ông quen biết nhưng không
được gặp Trung
Tướng Trần Độ
mà chỉ được nói
chuyện qua điện thoại.
Ông Thiện nói vậy thôi chứ
ai biết ông và Tướng
Trần Độ phê đảng
để xây dựng đảng
đã cùng nằm trong một
chiến dịch dân vận
hải ngoại?
(Vì bài thơ viết quá dài
nên tác giả không tiện phân
tích về tính cách "phê đảng
giả vờ" và "phê
đảng để xây dựng"
của Trung Tướng Trần
Độ thượng tướng
công an Phản Gián, chủ nhiệm
Hội Nghiên Cứu Mác Lê hậu
thân của Đệ Tam Quốc
Tế kiêm lý thuyết gia hàng
đầu của đảng
Cộng sản Việt Nam
Trần Ngọc Nghiêm tức
Hoàng Minh Chính, và các hoạt
động cò mồi "chống
đảng giả vờ"
của đại tá công an
Phản Gián Nguyễn Xuân Tụ
lấy tên là Hà Sĩ Phu "sĩ
phu Bắc Hà" với người
hải ngoại, đại
tá "văn nghệ phản
kháng" kiêm gián điệp
loại nhà thổ Dương
Thu Hương của Tổng
Cục Phản Gián... Nguyễn
Huy Thiệp được
đảng cho đi Mỹ
năm 1966 để gây tiếng
tăm. Sau đó Thiệp được
công an phản gián tổ chức
cho điều hành một quán
ăn loại hắc điếm
sang trọng để tiếp
đãi khách du lịch và ngoại
kiều, nhất là người
Mỹ).
Tác giả Vô Danh có lẽ cũng
không muốn đưa ra tên
tuổi để được
nổi danh, nổi tiếng,
nguyện vọng duy nhất
của ông là tập thơ
làm bằng máu và nước
mắt của ông làm trong khoảng
20 năm trong ngục tù được
phổ biến với thế
giời bên ngoài. Tập thơ
đã thể hiện sự
đau khổ thầm lặng
và ghê rợn của toàn thể
dân tộc Việt Nam dưới
bạo quyền Cộng sản
công an trị! Tác giả Vô
Danh là người duy nhất
có đủ tài năng thực
hiện những án văn thơ
bất hủ để thể
hiện sự đọa đày
trong ngục tù Cộng sản.
Làm thơ và đưa thơ
vào tòa Đại sứ Anh,
thì ông đã mãn nguyện và
chờ đợi cái chết
không thể tránh trong tay bọn
công an chó sói Cộng sản.
Trước khi chạy vào
tòa Đại sứ Anh để
đưa tập thư, ông
Vô Danh đã hiểu rằng
ông sẽ bị công an giết
ngay tại chỗ. Vậy
ông chỉ mong đưa được
tập thơ và mục đích
tối hậu dù hiểu rằng
ông phải trả giá bằng
chính mạng sống của
ông. Có lẽ, lúc đó cái chết
đã trở thành cần thiết
cho ông để chấm dứt
cuộc sống trong một
thể xác đã tàn tạ vì
bệnh ho lao, và tuyệt vọng
vì không còn tương lai! Dù
sao ông Vô Danh đã chết trong
sự mãn nguyện vì ông đã
hoàn thành xong sứ mạng
duy nhất trong cuộc đời
ông. Ngoài những bài thơ
hùng hồn đã trở thành
bản án kể tội Cộng
sản, ông Vô Danh hi sinh chính
mạng sống để
đưa tập thơ này
ra hải ngoại. Đưa
được ra hải ngoại
thì tập thơ tồn tại
với lịch sử văn
học trong dân gian, và được
phổ biến thành tài liệu
chống Cộng, trở thành
nhân chứng bia miệng về
tội ác Cộng sản, và
đó là điều quan trọng
và cần thiết không kém sự
sáng tác.
Thơ của tôi không có gì là
đẹp
như cướp vồ, cùm
kẹp, máu ho lao!
Thơ của tôi không có gi`
cao
như chết chóc, mồ hôi,
báng súng!
Thơ của tôi là những
gì kinh khủng
.......................................................
Tho Vo Danh ( 1975 )
Ông Vô Danh đã chuẩn bị
đón nhận cái chết không
thể tránh trong tay bọn
Công an Cộng sản mà ông
đã biết là vô cùng dã man,
tàn ác. Chúng đã coi sự tra
tấn, giết người
như giết ngóe. Hồ Chí
Minh đã dạy công an, cán
bộ và quân đội cộng
sản: "tất cả
mọi người ngoài đảng
đều là kẻ thù của
đảng và của chế
độ mắt chúng nhìn ai
cũng thấy kẻ thù!"
Lũ quỷ cộng sản
đã nhìn người không
cộng sản hay là toàn thể
dân tộc Việt là kẻ
thù của chúng. Ông Vô Danh hiểu
rằng thể xác của ông
tàn tạ sau nhiều năm
tháng đọa đày, đói
khổ cùng cực và ho lao ra
máu. Ông không hi vọng gì sống
thêm lâu dài nữa vì thể
xác kiệt quệ của ông
không cho phép như vậy.
Ông Vô Danh cũng biết rằng
với cái tội xâm nhập
tòa Đại Sứ Anh, công
an cộng sản không bao giờ
cho ông sống thêm một giờ
hay một ngày nào nữa. Năm
tháng tù đày đã dạy
ông biết rằng cộng
sản không bao giờ khoan
hồng, tử tế, thành
thật, hay hòa giải hòa hợp,
nhân quyền bất cứ
ai. Hể lọt vào tay chúng
công an chết chính là một
giải thoát ân huệ của...
thượng đế! Đó
là thực tế cộng sản
không ai có thể phủ nhận!
Ông Vô Danh chờ đợi
cái chết mau chóng bằng
đòn thù hơn là cực hình
bị tra tấn và giam cầm
đọa đày không thời
hạn trong các trại tù cải
tạo. Đã 20 năm bị
tù đày, ông Vô Danh chẳng
có thích thú gì trở lại
các trại tù sau khi ước
vọng của ông đưa
tập thơ vào tay người
ngoại quốc được
toại nguyện. Ông đã
góp chút hơi tàn để
chạy vào tòa Đại sứ
Anh như một ngọn đèn
bùng lên một lần cuối
trước khi tắt! Ông
Vô Danh đã chuẩn bị
một lá thư tuyệt mệnh
đi theo cùng tập bản
thảo đã chứng tỏ
ông sẵn sàng chờ đợi
một cái chết không thể
tránh!
Tôi không tiếc khi bị đời
sa thải ngụ ý của
cái chết
Thân thể vùi, tàn rữa, hóa
bùn đen
Những vần thơ trong
đêm tối đê hèn
Cùng rệp muỗi, viết
ra mà bị mất
Tôi sẽ tiếc khóc âm thầm
trong đất!
(Vô Danh - 1974)
Quá nhiều kinh nghiệm về
sự tàn ác của Cộng
sản, ông Vô Danh hiểu rằng,
biết trước rất
rõ ràng, nội một việc
chạy vào tòa Đại sứ
Anh cũng đủ cho bọn
cộng sản ác ôn, dữ
dằn ngoài cửa tòa Đại
sứ đánh ông bằng đòn
thù và ông phải bị chúng
đánh chết ngay tại
chỗ thì chúng mới hả
dạ.
Ví dụ công an cộng sản
không đánh chết ông Vô Danh
tại chỗ thì với sức
khỏe kiệt quệ, tàn
tạ của ông, ông cũng
chẳng sống thêm được
bao lâu nữa. Nói gì đến
(Nguyễn Chí Thiện) sống
phây phây, huy hoàng, khỏe mạnh,
không có bệnh lao thêm 16 năm
nữa để được
nhậu nhẹt với trùm
cộng sản Xít Ta Lin Nít
Hoàng Minh Chính, được
mạn đàm với Chánh Sở
Công an Hà Nội và quản giáo
trại cải tạo, được
Mặt Trận Kháng Chiến
tiếp tế tại Hải
Phòng 8 lạng vàng giá trị
4,000 đôla và lo lắng giúp
cho đi Mỹ, được
học ăn học nói, học
chính sách chính trị, học
đóng kịch cho thật
giỏi, học diễn thuyết
trước khi đi Mỹ...
Để rồi được
nhà nước ta ưu ái cho
đi Mỹ để được
hải ngoại đón rước
rầm rộ như một
vĩ nhân, như một cứu
tinh của dân tộc, như
một chính trị gia đại
tài, đi đến đâu
cũng được hoan
hô với những tràng pháo
tay rộn rã, được
quay phim chụp hình ảnh
với báo chợ... đăng
tải tiếp ứng, được
Mặt Trận Kháng Chiến
không ma tổ chức đi
khắp nơi kể cả
Liên Hiệp Quốc để
lạy van xin cộng sản
ban cho chút nhân quyền!
Có thể nhiều độc
giả! Nhất là những
người trẻ tuổi
không thể hiểu cộng
sản tàn ác đến mức
nào, những người thân
cộng binh vực cộng
sản và nói rằng lập
luận trên đây về tác
giả Vô Danh bị công an đánh
chết ngay sau khi ra khỏi
tòa Đại sứ Anh không
đúng. Tác giả dẫn chứng
một câu chuyện dưới
đây được đăng
trên báo chí "Nhà nước
cộng sản" vào năm
1997, là một năm tương
đối được
cởi mở khá hơn nhiều,
chứ không sắt máu như
năm 1979, hay là 18 năm về
trước: Hà Nội ngày
26/4/1997. Báo trong nước
loan tin mới đây tại
Sài Gòn xảy ra liên tiếp
3 thanh niên bị gán ghép là đối
tượng là tệ nạn
xã hội đã bị đánh
chết trong cơ quan gọi
là trại tiếp nhận
mà thực chất là một
nhà tù kinh khủng.
Trạm Tiếp Nhận là
một cơ quan trực thuộc
sở Lao Động và Thương
Binh Xã Hội được
thành lập từ tháng 10/1992
để giam giữ, phân loại
các đối tượng
bị coi là tệ nạn xã
hội, những người
vô gia cư, những kẻ
lang thang ở hè phố để
sau đó bị đưa đi
cưỡng bách lao động
tại các nông trường
quốc doanh không được
xử án và không có án.
Trại này ở số 463
đường Nở Trang
Long, Quận Bình Thạnh. Những
người bị thu gom và
nhập trại, sau đó được
Phó Giám Đốc Sở là
Nguyễn Minh Chánh ký lệnh
đưa đi các nông trường
cưỡng bách lao động.
Có những người bị
đánh chết tại trại
Tiếp Nhận, và cũng
có những người bị
đánh chết tại các nông
trường, bởi vì nhà
nước xử dụng
những tên đầu trộm
đuôi cướp để
cai quản những đối
tượng bị thu gom.
Theo các báo trong nước thì
đã quá nhiều người
bị chết trong các trại
Tiếp Nhận này một
cách âm thầm. Thi hài của
họ được coi như
là vô thừa nhận để
giao cho trường Đại
Học Y Khoa cho sinh viên thực
tập. Một vài trường
hợp mà các báo có hồ sơ
là thanh niên tên là Lê Văn Dũng
học tập ngày 20/10/95 bị
đánh chết một cách
dã man ngày 24/10/95. Anh Nguyễn
Minh Châu quê ở Mỹ Tho bị
đưa vào trại, ngày 13/2/1996,
Châu bị 6 tên côn đồ
cai quản trong trại đánh
chết. Điều đáng
chú ý là cái vụ giết người
này chỉ được ban
quản lý biết sau khi các
hung thủ báo cáo. Ngoài ra còn
có 9 trường hợp bị
chết do đang hấp hối
nhưng không được
đưa đi điều
trị bệnh viện.
Tuy nhiên những vụ bùng
nổ gần đây khiến
công luận mới được
đánh động về những
tội ác mà nhà cầm quyền
cộng sản đã dung dưỡng.
Trường hợp Lê Minh
Tuấn: Tuấn sinh năm
1967, ngụ tại 193/1 Điện
Biên Phủ, quận 3, Sài Gòn.
Ngày 13/12/1996, Tuấn ra khỏi
nhà rồi biệt tăm. Ngày
12/3/1997, gia đình nhận
được Giấy chứng
tử của tỉnh Daklak,
cho biết Tuấn đã bị
thu gom và bị đưa đi
cưỡng bức lao động
tại Trung Tâm Dakru.
Quyết định đưa
Tuấn đi cưỡng
bức lao động do Phó
Giám Đốc Nguyễn Minh
Chánh ký ngày 21/12/1996. Bà Nguyễn
thị Kim Dung, mẹ của
Tuấn, than oán: Vì sao cháu Tuấn
chết ngày 17/2/1997 mà họ
không báo ngay cho gia đình tôi
biết để lo chôn cất
cháu?
Trường hợp Nguyễn
văn Năng: Năng có vợ
và 2 con, ngụ tại Trung
Chánh, Hóc Môn, mắc bệnh
tâm thần, được
gia đình gửi đi chữa
bệnh ngày 26/3/1997. Ngày 1/4/1997,
Phó Giám Đốc Nguyễn
Minh Chánh ký lệnh đưa
anh Năng đi cưỡng
bức lao động tại
Trung Tâm Phú Văn, một khu
kinh tế mới. Gia đình
hoảng sợ, làm mọi
thủ tục để cứu
anh Năng. Nhưng đến
ngày 7/4/1997, vợ anh Năng
được báo tin Chồng
chị đã bị đánh
chết ở Trung Tâm Phú Văn
ngày 5/4/1997. Chúng tôi báo lên để
gia đình lên nhận xác về.
Trường hợp Ngô Quốc
Bình: Bình sinh năm 1975 ở
tỉnh Phú Thọ, vào Sài Gòn
đăng ký tạm trú tại
nhà chị Võ thị Đông
ở Phường 11, quận
3, tức là có cư trú hợp
pháp. Ban ngày bán báo ở ga Sài
Gòn, ban đêm theo học lớp
11 tại Trung Tâm Giáo Dục
Thường Xuyên quận 3.
Ngày 5/3/1997, Bình đang bán báo
tại ga Sài Gòn thì bị thu
gom. Chị Đông chạy
xin bảo lãnh cho Bình được
tha, song mãi đến chiều
18/3, thì chị mới nhận
được tờ quyết
định cho về với
gia đình thì cũng đúng
là ngày Bình chết. Giấy
báo tử của bệnh viện
Chợ Rẫy ghi: Ngô Quốc
Bình, can phạm, vào viện
16/3/1997. Nguyên nhân tử vong:
dập não thái dương phải,
não phù. Vậy là sau khi bị
bắt, bị đưa vào
Trại Tiếp Nhận, rồi
sau đó Bình bị đưa
đi cưỡng bức lao
động tại Trung Tâm
Phú Văn. Tại đây Bình
bị đánh đập đến
dập não, rồi được
đưa đi bệnh viện
Gia Định rồi được
chuyển về bệnh viện
Chợ Rẫy trong cùng ngày.
Sau khi báo chí trong nước
lên án, Viện Kiểm Soát Nhân
Dân ở Sài Gòn mới mở
cuộc điều tra. Và cũng
theo báo chí trong nước cho
biết qua một cuộc
phỏng vấn Nguyễn Minh
Chánh, Phó Giám Đốc Sở
Lao Động, thì ông này nói
rằng một năm ký đến
9,000 quyết định đưa
đi cưỡng bức lao
động, nên không có thì giờ
để cứu xét từng
hồ sơ.
Một năm có tới 9,000
người bị bắt
vì tội đi... tản bộ
ngoài đường và bị
công an cộng sản đánh
chết kiểu vô tội vạ
như vậy, thì ta có thể
phỏng đoán là 9,000 người
này không mấy người
được sống hay
được tha mà trở
về nhà. Thí dụ không bị
đánh chết ngay thì cũng
bị giam cầm không án xử,
không thời hạn để
bị bóc lột lao động
cho đến chết.
Một lý do có... lý về cái
chết của ông Vô Danh ngay
sau khi đưa tập Thơ
cho người Anh, là vì ông
đã chết, xác đã bị
đem chôn theo tính cách vô danh,
vô thừa nhận, nên không
để lại dấu tích
gì cả. Nơi ông bị chôn
cất cũng không ai biết.
Vào thời điểm cuối
năm 1979, đầu năm
1980, Việt Cộng mới
chỉ nghe những bài thơ
Vô Đề trên đài BBC nên
đã cuống cuồng tìm
người để thay
thế cho tác giả Vô Danh.
Vì tính chuyện kiếm người
thay thế, nên Việt Cộng
không cần phải tìm ra tung
tích, lý lịch tác giả Vô
Danh. Nhưng Cục Phản
Gián lại không được
đọc toàn bộ tập
thơ nên không rõ những chi
tiết quan trọng bên trong
tập Thơ như chôn dấu
những bài thơ đợi
dịp tung ra hải ngoại,
hoặc ho lao ra máu trong nhiều
năm, hoặc con một,
độc thân, chỉ có cha
mẹ già, trình độ Pháp
văn thật cao theo lá thư
tuyệt mệnh, và tuổi
tác đã nhiều...
Thí dụ có thể tìm được
người tương đương
về tuổi tác với ông
Vô Danh, nhưng kiếm một
người có trình độ
Pháp văn khá như vậy
ở miền Bắc vào năm
1980 có lẽ không thể có!
Dù sao thì ta cũng chỉ biết
đến Nguyễn Chí Thiện
sau 1979, hay là sau khi ông Vô Danh
đã làm thơ, đưa
thơ vào tòa Đại sứ
và đã chết năm 1979!
Sau khi tạo được
Nguyễn Chí Thiện thành tác
giả tập thơ Vô Đề,
Cộng sản đã gây ấn
tượng với tên tuổi
Nguyễn Chí Thiện chính là
tác giả tập thơ Vô
Đề, đến nỗi
mỗi người hải
ngoại đều yên chí tác
giả Vô Danh chính là Nguyễn
Chí Thiện! Những người
được Cộng sản
cho xuất ngoại như
các ông Trần Nhu và Minh Thi cũng
được Cộng sản
gài khéo cho ở cùng trong tù với
ông Nguyễn Chí Thiện, để
ông Thiện ngâm thơ cho họ
nghe và gây ấn tượng
là đã gặp thi sĩ thứ
thiệt!
Tiện đây cũng xin nhắc
cho công an Phản Gián Hà Nội
biết rằng muốn bịp
người Việt hải
ngoại cũng khó lắm.
Chuyện đời đâu
còn đó. Văn sỡi công
an Nguyễn Huy Thiệp đi
Mỹ hồi tháng 9/1996, rồi
lại về êm ru vì chỉ
có thời gian ngắn và Thiệp
cũng không dám gáy khi đứng
trước mặt sự
văn minh tân tiến của
người Việt và người
Mỹ hải ngoại. Cái
gì dù che đậy khéo léo thì
cũng chỉ trong thời
gian ngắn là lòi ra hết.
Như cái... kim trong bọc
thì cũng lòi ra như thường.
Chúng tôi cũng cho Cục Phản
Gián biết rằng kế
hoạch nhà quê của Vẹm
và cán bộ nhà quê thì không bao
giờ bịp nổi chúng
tôi.
Thấy thân hình tiều tụy
rách rưới nghèo khổ
của ông Vô Danh, thái độ
khiêm nhượng chịu đựng
nhưng khẳng khái và cương
quyết rõ rệt, và trình độ
trí thức khá cao qua tiếng
Pháp rất lưu loát và lễ
độ của ông, người
Anh đã vô cùng xúc động.
Họ hiểu ngay là có cái gì
sống trong tập giấy
có vẻ cũ kỹ và nhầu
nát của ông. Họ mau mắn
cầm lấy tập thơ
và bảo đảm với
ông là họ sẽ làm những
gì ông muốn. Người
Anh hỏi ông có muốn gì không,
có cần tiền không, thì ông
Vô Danh trả lời rằng
không cần gì cả. Ông cũng
không muốn làm phiền người
Anh hơn nữa. Ông quay trở
ra và nhìn thẳng vào mặt
bọn công an đang chờ
đợi ông ngoài cửa với
vẻ hung dữ đằng
đằng sát khí. Chúng nhất
định phải giết
ông ngay tại chỗ.
Ông Vô Danh hiểu rằng bọn
quỷ dữ công an hầm
hè phải đánh chết ông
mới hả giận chúng.
Chỉ riêng một tội
vượt qua hàng rào canh gác
của công an cũng đủ
là tội chết ngay tại
chỗ. Ông Vô Danh có lẽ mong
cho công an đánh chết ông
nhanh chóng cho sự đau đớn
của ông không kéo dài, và chúng
không tra hỏi ông là đã vào
tòa đại sứ Anh để
làm gì? Tập thơ đã được
giữ bí mật cho đến
khi người Anh đưa
ra ngoại quốc mà không bị
rắc rối ngoại giao
với chính quyền Cộng
sản.
Như ý muốn của ông
Vô Danh, bọn công an không cần
hỏi han ông vào tòa đại
sứ Anh làm gì? Chúng không cần
biết khi ông chạy lọt
qua hàng rào công an chìm lảng
vảng quanh tòa đại
sứ , đã đủ là
tội chết rồi! Chúng
vồ lấy ông và như đã
ước hẹn với nhau
từ trước, chúng nhào
đến đánh tập thể,
đánh đập ông nhừ
tử ngay trước cửa
tòa đại sứ Anh quốc!
Với sức khỏe tàn tạ,
và tinh thần kiệt quệ,
với cuộc đời
đã tan nát (như ông nói trong
thư tuyệt mệnh) và
tâm lý sẵn sàng đón nhận
cái chết không thể tránh,
ông Vô Danh đã trở thành
một mớ giẻ rách, xụi
lơ, không còn sức đề
kháng. Có lẽ ông đã chết
rồi mà bọn công an cũng
không cần biết. Trong cơn
say máu và thích thú giết người,
bọn công an đánh túi bụi,
đánh kiểu hội đồng
chết bỏ, cho đến
khi chúng mệt nhoài, buông tay.
Ta có thể chắc chắn
rằng ông Vô Danh đã chết
ngay trước cửa tòa
đại sứ Anh! Giả
thử bọn công an sắt
máu mà biết ông Vô Danh đưa
thư hay giấy tờ gì
vào tào đại sứ Anh
thì ông Vô Danh còn bị đánh
chết mau hơn nữa vì
chúng coi ông là gián điệp,
liên lạc với tình báo Anh!
công an căn cứ vào lối
làm việc của công an cộng
sản, ta có thể tin rằng
bọn công an báo cáo về Phường
là có một tên lưu manh bất
hảo định xâm nhập
tòa đại sứ Anh, nhưng
công an đã kịp thời
gian chận. Vì nếu nói là
đã xâm nhập rồi, lại
chạy trở ra thì sự
việc sẽ trở thành
một vấn đề, một
biến cố ngoại giao
rất phiền phức, mất
công tìm hiểu điều
tra rằng xâm nhập tòa đại
sứ để làm gì vì nếu
báo cáo như vậy thì lại
phải nêu rõ tên tuổi lý
do... Công an cộng sản quá
ít chữ nghĩa, giấy
bút cũng ít, nên càng không thích
điều tra và làm báo cáo.
(Có thể người Anh đã
quay phim và chụp ảnh trận
đánh chết người
này từ bên trong hàng rào tòa
đại sứ nhưng cho
đến nay người
Anh không thể tiết lộ
vì vấn đề ngoại
giao với Hà Nội.)
Trong chế độ Cộng
sản, công an có toàn quyền
bắt người bỏ
tù không thời hạn, không
xử án mà không cần biết
có tội hay không. Chúng giết
người vô tội vạ,
hay là quyền tiền trảm
hậu tấu. Nhưng công
an cộng sản giết người,
và người đã chết
rồi, không cần phải
báo cáo lên cấp trên. Vả
lại ai cần để
ý đến một xác chết?
Năm 1947, Hồ Chí Minh ra
tiêu lệnh (standing order) giết
hết Việt Gian thì có mấy
chục vạn người
bị bắt và bị thủ
tiêu ngay trong đêm tối,
xác cho trôi sông, mà không bao giờ
có giấy tờ sổ sách
hay báo cáo. Đầu năm
1961, Phạm văn Đồng
(do lệnh của Hồ) ký
tiêu lệnh bắt giam học
tập cải tạo tất
cả những thành phần
bất mãn, bất hảo,
chống đối, phản
động, phản cách mệnh,
chửi cộng sản, cán
bộ mắc bệnh công thần...
thì công an cứ việc theo
đúng tiêu chuẩn đưa
ra rồi bắt hàng triệu
nạn nhân trong mọi thành
phần xã hội đi học
tập cải tạo trong
hàng ngàn trại tập trung...
Hồ Chí Minh chúc mừng năm
mới nghe như tiếng
yêu tinh vì y chúc Tết xong là
bắt bỏ tù cả nước!
Ông Vô Danh viết về việc
này như sau:
Chuyên chính (vô sản) vội
may nhiều áo sọc (áo tù
có sọc)...
đem khoác bừa lên tổ
quốc mình!
Rừng rú trại tù san sát
mọc!
Tiếng mừng năm mới,
tiếng yêu tinh!
(Ghi chú: Mường, Mèo, Thái,
Thổ là người sơn
cước vùng thượng
du Bắc Việt. Người
Kinh là người Việt.
Những người sơn
cước bị công an cộng
sản bắt đi tù khá nhiều
vì họ quen sống lối
tự do, không thê chấp nhận
cộng sản ngu dốt và
trái với tự nhiên, thiên
nhiên. Cộng sản thù ghét
nhất người Mường
tức Hmong. Từ năm 1975
tới nay khoảng 150,000 người
Hmong đã bị Cộng sản
tàn sát.)
Công an không biết ông Vô Danh
là ai, tên gì, và vào tòa đại
sứ Anh làm gì? Người
Anh cũng không nói gì! Lãnh đạo
Cộng sản Hà Nội cũng
không biết, và không cần
biết người chết
là ai và cái gì đã xảy ra.
Báo cáo công an chỉ nói giản
dị là một tên điên,
có vẻ ăn trộm hay ăn
mày ăn xin, đã liều
mạng chạy vào tòa đại
sứ Anh, vào ngày, tháng, giờ...
với ý đồ gì đó,
nhưng công an bảo vệ
tòa đại sứ đã
phát giác, kịp thời ngăn
chận, và bắt tên này. Theo
báo cáo công an, tên trộm Vô Danh
này đã... chết vì đau
tim, trước khi bị hỏi
khẩu cung, và đã được
mang đi chôn! Chôn xác chết
vô danh có nghĩa là vùi lấp
đâu đó, một nấm
đất để gọi
là cái mả cũng không có.
Mấy tháng sau, người
Anh cho phổ biến nhiều
bài thơ Hoa Địa Ngục
trên đài BBC nhưng không cho
biết tên tác giả. Trong
một dịp khác, người
Anh đưa tập thơ
này cho một cựu chính khách
Việt Nam Cộng Hòa (ông Châu
Kim Ngân) và tập thơ này
đã đến tay ông chủ
nhiệm tạp chí Văn Nghệ
Tiền Phong. Ông chủ nhiệm
VNTP đã cho in tập thơ
này ngay để phổ biến
theo sự mong ước của
tác giả, với tên tác giả
là Khuyết Danh, dưới
tên đề Bản Chúc Thư
Của Một Người
Việt Nam, theo tinh thần
của lá thư tuyệt mệnh,
cũng có nghĩa là chúc thư
của một người
sắp chết và đã chết.
Sau đó, có tin một người
khác đã lẹ tay in photocopie
đánh cắp và in sang một
ấn bản khác để...
kiếm lời vào cuối
tháng 9/1980. Bản in của
VNTP chỉ bán với giá tượng
trưng lá $1.50 một cuốn
và ông chủ nhiệm đã
lỗ một số tiền
khá lớn.
* * *
Ông Vô Danh này sinh khoảng 1924
hay 1925 và có thể đỗ
Tú Tài Pháp (Baccalauréat) năm
1943 hay 1944, trước khi
người Pháp bị Nhật
đảo chính ngày 9/3/1945 với
hầu hết các giới chức
cai trị thuộc địa
Pháp bị Nhật cầm tù.
Một vài sĩ quan cao cấp
Pháp khác (tướng Alessandri)
đã cố gắng mang một
ít tàn quân Pháp từ (Tông) Sơn
Tây chạy bộ sang Vân Nam
(Yunnan) và trú ngụ tại
Côn Minh (Kunming).
Thời xa xưa, trước
năm 1945, rất ít người
học và đậu Tú Tài Pháp.
Học trong các trường
phần nhiều phải theo
chương trình Pháp. Tiếng
Pháp đã khó, nhưng thi đậu
hai phần Tú Tài Pháp có thể
nói là thiên nan vạn nan. Mục
đích ngu dân của Pháp là
cản trở không cho mấy
người được
đỗ đạt, tốt
nghiệp trung học, rồi
từ đó có thể nhập
đại học. Chính sách
thực dân quả thâm độc.
Người Pháp không cần
mở trường Đại
Học tại Sài Gòn. Các gia
đình khá giả miền Nam
thường có quốc tịch
Pháp, có tên "Tây", và gửi
con đi Pháp học.
Thời đó, nhiều người
miền Nam loại dân tỉnh,
giới giàu có trí thức, nói
sõi tiếng Pháp hơn tiếng
Việt và thường hãnh
diện với quốc tịch
Pháp của mình. Nhưng thực
dân Pháp lại mở trường
Đại Học ở Hà
Nội với mục đích
không cho người Trung và
Bắc đi Pháp học. Nếu
học đại học ngay
tại Hà Nội thì người
Pháp có thể theo dõi quan sát.
Nếu thân Pháp thì sẽ học
đại học suông sẻ,
rồi ra làm quan hay công chức
cao cấp. Nếu manh nha hội
họp chống Pháp thuộc
địa, chống thực
dân, gia nhập các tổ chức
đảng phái cách mệnh...
thì sẽ được Sở
Mật Thám Đông Dương
(Sureté Fédérale) chiếu cố
ngay.
Trong Đệ Nhị Thế
Chiến, từ 1940 đến
1945, số sinh viên đại
học ở Hà Nội chỉ
có khoảng chưa đến
100 người. Nghiên cứu
kỹ thơ của ông Vô Danh,
ta thấy ông là con trai một,
con nhà khá giả, nên đã được
song thân cố gắng cho đi
học trường trung học
Pháp, có lẽ là Lycée Albert Sarraut.
Ngoài trường Lycée Albert
Sarraut, còn có trường thầy
dòng do các sư huynh Thiên Chúa
Giáo Puginier cũng dạy nhiều
tiếng Pháp. Trường
Lycée Albert Sarraut lấy tên viên
toàn quyền thực dân Pháp
nổi tiếng... thực
dân ngày trước. Albert Sarraut
đã có nhã ý "không xây dựng"
bệnh viện, trường
học tại các vùng đông
dân cư xứ Bắc Kỳ,
để cho "chúng chết
bớt" để khỏi
gây ra hậu quả xấu
về chính trị và xã hội!
Trường Bưởi dành
riêng cho người Việt
Nam cũng đã nổi danh
một thời và cũng có
dạy tiếng Pháp. Sau này,
khi tái lập sự học
tại Hà Nội năm 1948,
1949, trường Bưởi
được đổi
tên thành trường Chu Văn
An và dạy nhiều tiếng
Việt hơn tiếng Pháp.
Trước năm 1945, một
trường tư thục
trung học khác có tên là Thăng
Long, Võ Nguyên Giáp đã từng
là giáo sư trường này.
Tiếng Pháp không dễ như
tiếng Anh vì mẹo mực
(grammar) rất phúc tạp.
Nội một việc chia
véc bờ (verb) và phân tích mẹo
mực, phân đoạn câu
cú, (analyse grammaticale và analyse
logique) và ghi nhớ đến
thuộc lòng đã làm nhiều
trẻ nhỏ Việt Nam nhức
đầu trong nhiều ngày
đêm. Nói tiếng Pháp có vẻ...
dễ nói, dù đó là tiếng
Tây... bồi, nhưng viết
được tiếng Pháp
trôi chảy, có đủ lý
lẽ, văn hoa, đúng mẹo
mực câu cú, cần phải
có trình độ thật cao
và kinh nghiệm thực tập
hay làm việc, viết lách,
có khi cao hơn trình độ
Tú Tài Pháp rất nhiều. Ngày
xưa, những học giả
như Nguyễn Mạnh Tường,
Phạm Duy Khiêm, Trần Đức
Thảo, Nguyễn Thế Truyền...
kể cả ông Đàm Quang
Thiện vạn quốc đốc
tờ hàm, đã từng nổi
danh trên văn đàn qua tiếng
Pháp thật giỏi và lưu
loát, hơn cà nhiều người
Pháp trí thức! Ông Thi Sĩ
Vô Danh đã chứng tỏ
một học lực uyên thâm
với kiến thức quảng
bác già dặn trước khi
tù, hay là trước khi Cộng
sản cướp chính quyền
tháng 8, năm 1945 - năm này
ông Thiện mới 6 tuổi.
Những độc giả
nào rành tiếng Pháp, nhất
là các vị sống bên Pháp,
đọc bản thư tuyệt
mệnh hay là di bút của ông
Vô Danh với bút ký, thì có thể
đánh giá trình độ và
kinh nghiệm tiếng Pháp của
ông:
Monsieur!
C'est au nom des millions de victimes
innocentes de la dictature, déjà succombés
ou subissant encore une mort lente et
douloureuse dans les bagnes communistes,
que je vous prie de faire publier ces
poèmes dans votre pays libre. C'est
le fruit de mes vingt ans de travail.
La plupart en ont été créés dans mes
années de détention. Je pense qu'à nous,
les victimcs, il appartient plus qu'à
personne d'autre de montrer au monde
les souffrances incroyables de notre
peuple opprimé et torturé à merci...
De ma vie brisée, il ne reste qu'un
seul rêve, c'est de voir le plus grand
nombre possible d'hommes prendre conscience
de ce que le communisme est un grand
fléau de I'humanité.
Veuillez agréer, monsieur, 1'expression
de ma profonde reconnaissance ainsi
que celle de mes compatriotes infortunés!
Dịch: Thưa ông!
Nhân danh hàng triệu nạn
nhân vô tội của chính thể
độc tài đã ngã gục
hay còn đang phải kéo dài
cái chết chậm chạp
và đau đớn trong ngục
tù cộng sản. Tôi xin ông
vui lòng cho xuất bản tập
thơ này tại phần đất
tự do của quý quốc.
Đây là kết quả của
hai mươi năm làm việc
của tôi. Phần lớn
được sáng tác trong
những năm dài bị giam
cầm. Tôi nghĩ rằng
không phải ai khác mà chính chúng
tôi, những nạn nhân, có
trách nhiệm phải phơi
bày cho thế giới thấy
sự khổ nhục không
thể tưởng tượng
nổi của dân tộc tôi
còn đang bị áp bức
và hành hạ thẳng tay...
Cuộc đời tan nát của
tôi chỉ còn một ước
mơ, đó là được
thấy nhiều người
hơn nữa trên thế giới
ý thức rằng Cộng sản
là một đại họa
khủng khiếp cho nhân loại.
Xin ông nhận nơi đây
lòng biết ơn xâu xa của
tôi cũng như của đồng
bào bất hạnh của tôi.
(Bức thơ không ký tên.)
* * *
Sau 20 năm bị tù đày,
đầy đọa, đói
khổ, ho lao ra máu mà tác giả
Vô Danh còn viết được
một lá thư tuyệt mệnh
bằng tiếng Pháp gọn
ghẽ ngắn ngủi nhưng
đầy đủ ý nghĩa
với tư tưởng cao
cả như thơ của
ông... người viết bài
này có hiểu tiếng Pháp chút
đỉnh, chỉ biết
cúi đầu bái phục.
(Người viết được
biết là ông Nguyễn Chí Thiện
được bà chị tên
là Hảo biết tiếng
Pháp dạy tiếng Pháp cho
ông trong khoảng 6 tháng... trước
khi đi Mỹ. Nếu quả
thật như vậy, thì cái
tiếng Pháp 6 tháng này may ra
chỉ đủ để
đi... chợ! Điều
rõ rệt là ông Thiện không
bao giờ đả động
đến cái thơ tiếng
Pháp này.)
Tác giả Vô Danh đã quyết
tâm, bằng bất cứ giá
nào, dù phải hi sinh luôn mạng
sống, để đưa
được tập thơ
của ông vào tay người
Anh để được
phổ biến ra ngoại
quốc. Tội ác CS đó
sẽ được phanh
phui. Như một con thú cùng
đường, ông hiểu
rằng dù lọt hay không lọt
được vào tòa đại
sứ thì ông cũng phải
chết trong tay bọn công
an hung dữ. Ông không nghĩ
đến đề tên cho
tập thơ vì không biết
chắc có được lọt
ra ngoại quốc hay không.
Vả lại đây cũng
không phải là một tác phẩm
văn học theo ý nghĩa
sáng tác thông thường. Mỗi
bài thơ, mỗi câu thơ,
mỗi chữ là một tiếng
nói căm hờn, một ngọn
roi quất vào mặt chế
độ Cộng sản,
thì cần gì phải đặt
tên! Ý muốn của ông Vô Danh
là tập thơ đến
được tay người
đọc ở hải ngoại
là đủ!
Nếu đọc tập thơ
Vô Đề (Hoa Địa
Ngục I) của ông Vô Danh,
ta sẽ thấy ông không bao
giờ chủ trương
hòa hợp hay đòi nhân quyền
với cộng sản. Ông
Vô Danh cũng hiểu cộng
sản cỡ nhỏ từ
quản giáo trại giam trở
lên đến cỡ gộc
cấp cao như phó tiến
sĩ Hà Sĩ Phu Nguyễn
Xuân Tụ, cán bộ giáo vận
cấp thành ủy Đỗ
Trung Hiếu, viện trưởng
viện nghiên cứu Mác Lê Hoàng
Minh Chính, đại tướng
công an Nguyễn Hộ, Thượng
tướng công an Bảy Liếm
và trung tướng công an bảo
vệ, cựu thứ trưởng
công an Lê Văn Quý tức Lê
Hồng Hà... toàn là một thứ
sắt máu, bịp bợm,
đểu cán như nhau, và
ông không cần phải gặp
họ, nói chuyện, mạn
đàm. Ông Vô Danh cũng hiểu
rằng phải là cộng
sản cỡ trung kiên nhất,
phải tiêu diệt rất
nhiều kẻ thù của đảng,
kẻ thù giai cấp, và bọn
phản động, phản
cách mệnh, nên mới leo lên
được tới những
cấp bực cao cấp như
vậy. Bọn này có thể
lừa bịp, gạt gẫm
và giết bất cứ ai
để bảo vệ đảng,
bảo vệ chế độ
cộng sản.
Đại lý tối cao ở
xứ đồng lầy (cộng
sản)
là lừa thầy, phản
bạn
và tuyệt đối trung
thành vô hạn
với Đảng, với
Đoàn, với Lãnh tụ (Hồ)
thiêng liêng!
(Vô Danh - Bài thơ Đồng
Lầy)
Cộng sản thích thú khi đánh
lừa được người
khác cho lọt vào bẫy để
cho chúng lột sạch sẽ,
bỏ tù, tra khảo để
bắt thêm người khác
nữa, rồi giam cầm
bóc lột lao động cho
tới chết. Ông Vô Danh cũng
hiểu rằng chống Đảng,
chống Cộng, là phải
bị giết ngay, nói gì đến
được nhà nước
khoan hồng và cho đi Mỹ
dễ dàng! Nếu nhà nước
cho đi Mỹ thì phải
có kế hoạch phản gián
và dụng ý chiến lược
bên trong, không thể khơi
khơi được đi
Mỹ để tiếp tục
chửi nhà nước cộng
sản!
Cộng sản Hà Nội cũng
vui mừng đánh lừa người
Việt hải ngoại: cho
chúng bay hoan hô vỗ tay, tôn
vinh, đề cao, trọng
vọng, kính cẩn một
cán bộ cộng sản loại
gộc nhất, sắt máu
nhất, nguy hiểm nhất,
trung kiên nhất... cho vui!
Như vậy ta có thể thấy
ông Vô Danh bắt đầu
làm thơ tố giác tội
ác cộng sản và những
thủ đoạn gian manh,
ác bá của tập đoàn
cộng sản Hồ Chí Minh
ngay từ những năm 1956,1957.
Chính vì những bài thơ này
mà ông bị cộng sản
bắt bỏ tù từ khoảng
năm 1957 cho đến năm
1978, trong đó có vài lần
ông được thả để
rồi bị bắt lại.
Ông Vô Danh sống trong tình trạng
bị quản chế và có
tên trong sổ đen của
công an địa phương.
Chúng muốn bắt ông lúc nào
thì bắt, muốn cho đi
tù lúc nào thì cho đi tù.
Bằng chứng ông Vô Danh 20
tuổi hoặc có thể 21,
22... (tuổi 20...) vào năm
1945, khi Hồ Chí Minh và Việt
Minh cộng sản cướp
chính quyền 19/8/1945, ngay ở
đầu bài thơ trường
thiên Đồng Lầy (lúc
này ông Nguyễn Chí Thiện
mới có 6 tuổi - 1945):
Ngày ấy, tuy xa mà còn đấy
tuổi hai mươi tuổi
bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi
chơi vơi...
bốn phía bao la chỉ thấy
chân mây, rộng mới tuyệt
vời!
Năm 1945, Nhật đã đảo
chính Pháp từ tháng 3, và đến
mùa Thu tháng 8 tin Nhật đầu
hàng loan khắp nơi. Thanh
niên tuổi hai mươi là
ông Vô Danh đang tràn đầy
nhựa sống và, với
một tâm hồn nghệ sĩ,
ông có nhiều ước mơ.
Ông Vô Danh không mơ mộng
hão huyền viển vông. cũng
như tất cả lớp
thanh niên thời đó, ông Vô
Danh mơ đến một
nước Việt Nam hùng
mạnh trong một chính thể
dân tộc dân chủ...
Lúc này Bùi Bằng Đoàn, bố
Bùi Tín, làm Tổng Đốc
Hà Đông đã được
Việt Minh móc nối để
yểm trợ cho chúng cướp
chính quyền mà không cho lính
dẹp. Ông Quản Dưỡng,
Quản cơ tỉnh Hà Đông,
không biết sự thỏa
thuận bí mật này nên đã
ra lệnh cho lính nổ súng
làm cho Việt Minh cuống
cuồng. Sau đó Việt
Minh điều đình ngưng
bắn, hòa giải hòa hợp,
rồi bắt ông và trả
thù ngay. Ông Quản Dưỡng
có thể là vị anh hùng quốc
gia chống Cộng đầu
tiên và cũng là người
quốc gia đầu tiên bị
cộng sản thủ tiêu
dưới chiêu bài hòa giải
hòa hợp. Nhờ công lao này
mà Tổng Đốc Bùi Bằng
Đoàn được Hồ
Chí Minh cho làm chủ tịch
quốc hội, khi chết,
cho làm lễ quốc táng, cả
nước để tang 3
ngày.
Bùi Tín, lúc đó độ 19
tuổi, được cụ
Hồ ưu ái cho tập ấm
làm quan cộng sản, làm công
an bảo vệ và cần vụ
hầu hạ điếu đóm
bưng ông nhổ cho cụ
Hồ. Năm 1947, Tín được
cụ Hồ cho đi học
trường võ bị Trần
Quốc Tuấn. Nhờ giỏi
ngoại ngữ (tiếng Pháp)
với học lực tú tài
Pháp, lại được
gia nhập làm đảng viên
thực thụ, lại được
cụ Hồ giới thiệu
gởi gấm, Tín được
điều động làm
việc cho Cục Phản
Gián. Năm 1947,1948 Bùi Tín làm
đại đội trưởng
đại đội đặc
công quyết tử chuyên tàn
sát những người sáng
giá tại nông thôn vùng Quảng
Trị, Quảng Bình.
Mang cấp bậc đại
tá kiêm phó Tổng Biên Tập
tờ báo Chính Thống của
nhà nước Cộng sản,
báo Nhân Dân, thì Tín chỉ có thể
là đại tá phản gián,
không phải đại tá chiến
trận. Hiện nay, 1996, ta
chỉ cần đọc những
bài viết của Tín trong tờ
Phụ Nữ Diễn Đàn,
ta sẽ thấy Tín vẫn
viết lách, bịa đặt,
lếu láo, bịp bợm,
như một phó Tổng Biên
Tập báo Nhân Dân, không có vẻ
gì là thay đổi, đổi
mới hay bỏ đảng.
Ngất ngây làm sao ngờ tới
Bùn đọng hồ ao mạn
dưới phục chờ!
Tuổi hai mươi, tuổi
của không ngờ..., không
sợ!
Viển vông đẹp tựa
bài thơ...
Mơ ước... đợi
chờ... vĩ đại...
!
Nhưng rồi một sớm
đầu mùa Thu trở lại
Con mắt trẻ dại tuổi
hai mươi (năm 1945) của
ông Vô Danh khi nhìn những lá
cờ đỏ sao vàng rực
rỡ dưới ánh nắng
mùa Thu, mùa Thu trở lại
mỗi năm đã không ngờ
rằng bọn giáo giở
(tráo trở) hung bạo Việt
Minh đã lên đường
với cách mệnh tháng 8, thẳng
tay phá bỏ truyền thống,
nền tảng và giềng
mối quốc gia dân tộc...
Ông Nguyễn Chí Thiện lúc
đó mới có 6 tuổi và
mới đi học lớp
1, nhưng khi khói lửa chiến
tranh chống Pháp nổi lên
cuối năm 1946, thì ông Thiện,
cũng như hầu hết
thanh thiếu niên Hà Nội
và Hải Phòng và tất cả
thị xã lớn miền Bắc
vào đến Thanh Hóa, lúc đó
phải tản cư vì chiến
tranh và tiêu thổ kháng chiến,
và coi như mất một
năm học. Với cái tuổi
16 năm 1955, dù có tốt nghiệp
trung học đi chăng nữa,
làm sao ông Thiện có thể
hiểu nổi sự đau
xót bị Cộng sản lừa
gạt, sự tàn bạo của
đấu tố cải cách
ruộng đất giết
nửa triệu người
(1955-1956) như ông Vô Danh?
Ta hãy coi ông Vô Danh tả chân
tướng Hồ Chí Minh và
cải cách ruộng đất
trong bài Không có gì quý hơn độc
lập tự do:
Không có gì quý hơn độc
lập tự do!
Tôi biết nó, thằng (Hồ)
nói câu nói đó!
Tôi biết nó, đồng bào
miền Bắc này biết
nó!
Việc nó làm, tội nó phạm
ra sao?
Nó đầu tiên đem râu
nó bện vào
hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng
tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa
Trung Hoa
Không phải xoa đầu,
mà túm tóc nó từ xa.
Nó đứng không yên, tất
bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha
anh
(Cộng sản đưa
thanh niên vào xâm lăng miền
Nam đã bị Mỹ giết
khoảng 3.2 triệu người.
Cựu Bộ Trưởng
Quốc Phòng Hoa Kỳ Rober
McNamara nói như vậy ở
Hà Nội ngày 8/11/1995.)
Đường nó đi trùng
điệp bất nhân
Hầm hập trời đêm
nguyên thủy
Đói khổ dựng cờ
đại súy
Con cá lá rau nát nhầu quản
lý
Tiếng thớt, tiếng
dao vọng từ hồi ký
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ
thù
Vì ai cũng đói mòn nhục
nhằn cắn răng tạm
nuốt
Hiếm có gia đình không có
người bị nó cho đi
suốt
Đất nó thầm câm cũng
chẳng được tha
Tất cả phải thành
loa
Sa sả đêm ngày ngợi
ca nó và Đảng nó
Cái quái gở và đểu
giả của Hồ Chí Minh
là bắt bỏ tù cả nước,
biến cả nước
thành cái nhà tù khổng lồ,
rồi nói đểu: Không
có gì quý hơn độc lập
tự do! Hồ bắt cả
nước vào tù, phá tan nát
gia đình, phá nát truyền
thống ông cha Lạc Việt
để áp dụng chuyên chính
cộng sản, lạy Mác
Xít, lạy Mao là cha, là tổ
tiên, là ông nội, hành hạ
nhân dân cho đói khổ và bóc
lột lao động cho đến
chết, rồi lại bắt
cả nước phải
thành loa để ca ngợi
nó và đảng nó... Thơ
của ông Vô Danh tả cái đểu
và cái ác của cộng sản
đến thế, thật
là tuyệt!
Để so sánh ta hãy đọc
bài thơ, nếu ta có thể
gọi là thơ, dưới
đây của ông Nguyễn
Chí Thiện đọc vào buổi
trưa thứ Bảy 11/11/1995,
tại Trung Tâm Eden, thành phố
Fall church và có in trong tập
Hạt Máu Thơ:
Mấy chục năm xa nước,
Bác không viết một phong
nào về thăm gia đình
trong nước
Cách mạng thành công, Bác vin
cớ bận, bất cần!
Bác Hồ ơi! Bác không yêu
nhà, Bác làm sao yêu được
nước?
Không yêu người thân, Bác
làm sao yêu được nhân
dân?
Chỉ những kẻ ngu đần
bị mê lóa bởi tuyên truyền
điêu trá
mới tin Bác là đạo
cao đức cả
Yêu nước thương
nòi, có nghĩa có nhân
Đến chị ruột
Bác kia khi sống ở dương
trần
Đọc lên ta thấy ngay
ông Nguyễn Chí Thiện không
hề bị cộng sản
bỏ tù bao giờ. Trái lại
ông Thiện chỉ kể tội
Hồ Chí Minh xấu đến
nỗi không viết thư
về thăm bà chị, đến
nỗi bị bà chị (Thanh)
từ bỏ, không nhận
làm em bà... ông Thiện vẫn
quen mồm, quen miệng kính
cẩn gọi Bác Hồ một
cách thân mến. Ông Thiện
gián tiếp xác nhận Bác Hồ
quá lo việc nước đến
nỗi không còn nghĩ đến
người thân, không nghĩ
đến lập gia đình.
cái chuyện Hồ Chí Minh có
bà chị tên là Thanh, không viết
thư cho chị, và bị
chị từ bỏ rồi
vu cho bà Thanh là bị điên
(tâm thần)... có lẽ là chuyện
do Cục Phản Gián.. phịa
ra để nói xấu bác Hồ
với người hải
ngoại. Vì nếu chỉ
có vậy, thì bác Hồ hiền
khô, chẳng bỏ tù ai, chẳng
đấu tố và chẳng
giết ai bao giờ! Ông Thiện
cũng khen bác Hồ của
ông ranh ma, tinh quái, và tài giỏi
đến nỗi Tây chưa
bao giờ bắt nổi! bác
Hồ của ông Thiện giỏi
thế là nhất rồi còn
gì? Ông Vô Danh gọi Hồ là
Hồ ly tinh, là quỷ, là ma,
là thú dữ, và hầu như
không bao giờ gọi Hồ
là bác.
Ông Vô Danh làm bài thơ dưới
đây sau khi miền Nam thất
thủ năm 1975:
Cuộc chiến đấu
này chưa phân thắng phụ!
Ta vẫn còn đây, và sắt
thép còn kia!
Chết chóc thầm câm, cốt
nhục chia lìa!
Ta vẫn sống và không hề
lẫn lú
Ta muốn nói với loài dã
thú (cộng sản):
Khúc hát khải hoàn ta sẽ
hát thiên thu!
(Vô Danh - 1975)
Ông Nguyễn Chí Thiện đọc
bài thơ dưới đây
có vẻ muốn nhái theo, cũng
tại Fall Church đêm 19/11/1995:
Cuộc chiến đấu
trong mấy chục năm
qua và trong hiện tại
mang đầy tính chất
bi ai
Mấy chục năm chỉ
là thảm bại
Nhưng anh dũng vô song cực
kỳ vĩ đại
Lũ vô lại, vô thần
thẳng tay đày ải
Danh dự lương tâm đòi
chúng ta chống lại
Dân tộc cơ hàn xiết
rên quằn quại
Rất mong chờ được
thấy ngày mai
Chế độ này quái vật
một không hai
Gieo rắc bao là đau đớn
họa tai
Nếu ta chỉ thay đổi
những từ vô lại vô
thần thành thực dân đế
quốc, đổi danh từ
chế độ (dòng 9) thành
đế quốc, đổi
cộng sản (dòng 11) thành
đế quốc... thì ta thấy
bài "thơ" này là bài
văn tuyên truyền vận
động kêu gọi và động
viên thanh niên nhập ngũ
chống đế quốc,
thực dân xâm lăng, dù phải
"mười người
thì hy sinh chết chín chỉ
còn một", thế nào cũng
không quản ngại. Như
vậy non nước này mới
có ngày mai (cộng sản),
nhờ những tài trai... phải
chăng Cục Phản Gián
đã biến nó ra thành thơ
của ông Thiện ?
Ông Vô Danh là người Bắc
và hầu hết người
Bắc đều truyền
miệng nhau về những
bài vè bài thơ, những câu
chuyện thật là tiếu
lâm, khôi hài đen, chửi rủa
cộng sản thật sâu
cay khiến Hồ và Việt
Cộng tức dân Bắc Kỳ
đến điên người.
Do đó Hồ và Việt Cộng
luôn luôn xua dân Bắc vào chỗ
chết. Ông Vô Danh do đó không
thể có cơ may nào sống
sót sau khi vào tòa đại sứ
Anh trao tập thơ.
Thủ đoạn dùng thi sĩ
Nguyễn Chí Thiện đưa
ra hải ngoại thành công
đã khiến cho Cục Phản
Gián và đầu não cộng
sản rung đùi cười
nhe răng khỉ khoái chí, rung
đùi, vẫy tai, ngoáy đuôi
khỉ, chửi sỏ rằng:
cho bọn hải ngoại
chúng mày hoan hô một tay Mỹ
ký (false, impostor) cho... vui!
Ông Vô Danh đã lầm khi theo
cộng sản từ năm
1945. Năm 1963, hay là 18 năm
sau, khoảng 38, 39 tuổi
ông Vô Danh làm một bài thơ
dưới đây:
Mỗi lầm lở, một
mảnh lòng rạn vỡ
Song thời gian hàn gắn được
đôi phần
Riêng cái lầm nơi đất
đỏ (cộng sản)
dung thân
Thời gian khoét to và sâu, bất
tận!
Phải đến tuổi
gần 40, ông Vô Danh mới
nhìn ra là đã lầm lỡ
theo cộng sản để
đến nỗi tàn cuộc
đời. Hai câu sau cùng có
lẽ được áp dụng
vào bất cứ lúc nào còn cộng
sản, kể cả trong giai
đoạn hiện nay... Ta
lưu ý những bài thơ
trong thời gian 1958-1963, ông
Vô Danh còn nói xa, nói gần, có
lẽ vì còn sợ cộng
sản bắt bỏ tù lại
nếu nói quá mạnh.
Cái sợ cộng sản kể
là vô cùng. Hiện nay ở hải
ngoại có nhiều vị
sợ cộng sản và hèn
nhát đến mức chê Bách
Linh tôi là dùng lời lẽ
thiếu lịch sự và lễ
độ với... cộng
sản! Bọn chó săn bồi
bút cộng sản còn cố
gắng chụp mũ Bách Linh
tôi là cộng sản! Nhưng
một người đã biết
mình dại dột, lầm
lẫn, đã ngốc, nghe
và tin cộng sản đến
tiêu tùng cuộc đời
như ông Vô Danh ngay từ năm
1963, thì làm sao có thể được
cộng sản để cho
sống và cho đi Mỹ năm
1995 và đến Liên Hiệp
Quốc, như ông Nguyễn
Chí Thiện đã làm trong tháng
11 va 12/1996, vận động
xin Cộng sản ban cho nhân
quyền, dân chủ?
Khác với hàng triệu thanh
niên khác, tác giả Bách Linh đã
sớm nhìn thấy mặt
thật của Cộng sản
ngay từ tháng 8/1945, nên đã
căm thù Cộng sản tàn
phá đất nước và
đưa cả nước
vào chiến tranh, chết chóc
và gông cùm Cộng sản. Tác
giả Bách Linh đã lập
tâm, lập chí cương quyết
diệt trừ Cộng sản
ngay từ năm 1945, không phải
mới đây. Tác giả Bách
Linh đã thoát nạn tù tội
chết chóc với Cộng
sản và chiến tranh, từ
Đệ Nhị Thế Chiến,
không biết bao nhiêu lần
trong suốt cuộc đời.
Muốn chiến đấu
và chiến thắng tiêu diệt
Cộng sản, ta cần phải
sống trước đã.
Tuy nhiên mỗi người
có một nhiệm vụ trước
lịch sử. Thi sĩ Vô
Danh đã làm tròn nhiệm vụ
lịch sử với ngòi bút
và vần thơ của ông.
Bằng ngòi bút với suy nghĩ
chiến lược và siêu
chiến lược, tác giả
Bách Linh đã làm cho Cộng
sản bị thảm bại
ẹ chề, không thể đánh
lừa Mỹ cũng không thể
tiến tới hiệp ước
Thương Mại để
duy trì chế độ Cộng
sản, từ năm 1990 đến
nay, 1999...
Hoài bão của ông Vô Danh khi làm
thơ tả chân sự tàn
ác Cộng sản phổ biến
tập thơ của ông ra
thế giới bên ngoài đã
thể hiện trong bài thơ
ấy năm 1960:
Nếu trời còn để
có một ngày mai,
tôi sẽ kể chuyện đêm
dài khủng khiếp
cho thế hệ hiện nay
cùng đàn sau kế tiếp...
giật mình, thức tỉnh
thương đau...
Ông Nguyễn Chí Thiện lúc
đó (1960) mới 21 tuổi
và chưa đi tù, vẫn vô
tội với Cộng sản
vì ông không biết làm thơ,
và sống bình yên với cha
mẹ, dĩ nhiên không thể
làm được một bài
thơ vừa ý nghĩa chống
Cộng sâu sắc như trên.
Ông Vô Danh khi làm bài thơ trên,
khoảng 35 tuổi, đã
hoạt động với
Việt Minh Cộng sản
và đã ở tù trong nhiều
năm, đã nhận thấy
mặt thật tráo trở
đểu giả của Hồ
Chí Minh và Cộng sản, và
đã thất vọng não nề
với Cộng sản.
Ta thấy rất nhiều
báo chợ, văn nghệ sĩ,
khoa bảng "cung kính"
gọi là bọn chó săn
Cộng sản là "ông"
Võ Văn Kiệt, "bà"
Dương Thu Hương,
"người" Cộng
sản, "ông" Hoàng Minh
Chính, "ông" Nguyễn
Hộ, "nhà trí tuệ"
Hà Sĩ Phu, "nhà văn hóa"
Lữ Phương, "nhà
trí thức kiêm tù nhân lương
tâm" Đoàn Viết Hoạt...
Nếu Bùi Tín trịnh trọng
kính cẩn lạy nhà văn
hóa Lữ Phương, nhà trí
thức Hà Sĩ Phu và các ông
và các cụ trong Bộ Chính
Trị thì ta phải hiểu
là Tín vẫn trung thành với
đảng, không thay đổi.
Tín vẫn miệt thị bọn
phản đảng như
hồ sơ Nguyễn Hà Phan
phản bội... chứng
tỏ Tín không phản bội
và vẫn trung thành với đảng
Cộng sản. Tín chỉ
tạm thời rời bỏ
chức vụ Tổng Biên
Tập báo Nhân Dân để
ra hải ngoại làm biên tập
cho báo Phụ Nữ Diễn
Đàn và nhiều báo khác!
(Xưng hô trong những bài
viết rất tế nhị.
Tư mã Thiên khi xưa viết
sử! Khi gọi đến
gian thần ông chỉ nói trống
tên không. Khi nhắc đến
trung thần này hay những
người có giá trị thanh
cao, ông trịnh trọng viết...
quan đại phu, quan tể
tướng... Chỉ khi nào
trực tiếp đối
thoại, đặt câu hỏi,
hoặc đưa Võ Nguyên Giáp,
Nguyễn văn Thiệu, Dương
văn Minh, Phạm văn Đồng...
ra tòa án quân sự thì người
ta phải dùng danh xưng ông
hay cấp bực, chức
vụ trước khi... những
tên phạm gian cộng sản
loại Thích Trí Quang, Thích Minh
Nghị, Thích Minh Châu, Sư
tăng, văn nghệ, thi
sĩ, báo sĩ, đài sĩ,
bồi bút, kháng chiến quốc
doanh thì phải bị xử
tử theo lối... KGB!)
Nếu tiến sĩ Bửu
Sao viết bài đăng Bách
Linh và binh vực Nguyễn
Chí Thiện hay Tú Nuy, Thuốc
Sát Trùng, Phan Thiết, và những
tên khác nữa như Nguyễn
Việt Nữ và Thành Vũ
đánh Bách Linh để binh
vực ông Nguyễn Hộ,
sư quốc doanh Cộng
sản Thích Huyền Quang, Thích
Trí Quang, ông Hoàng Minh Chính, ông
Đỗ Trung Hiếu... với
hy vọng thủ tướng
Võ văn Kiệt sẽ thành
Gorbachev Việt Cộng, với
hy vọng người Việt
hải ngoại sẽ về
Việt Nam cúng thêm tiền
cho Việt Cộng... thì ta
phải hiểu bọn chó
săn bồi bút, nâng bi Cộng
sản nằm vùng ở đâu
và là những tên nào?
Cán bộ Cộng sản có
một khuyết điểm
nặng nề là thích nổi
danh, nổi tiếng, được
tiếp rước long trọng
như... chính khứa, như
anh hùng kíu quốc, trong khi giá
trị bản thân chẳng
đáng một xu và khi còn ở
Hà Nội, Hải Phòng thì Cộng
sản coi như đầy
tớ bồi bếp... có lẽ
vì mặc cảm tự ti (inferiority
Complex) chăng nên những
người dốt nát, hèn
hạ, hạ tiện lại
cứ thích nổi danh, nổi
tiếng theo kiểu đội
lốt theo kiểu mượn!
Sự thê thảm là cái kim trong
bọc sẽ có ngày lòi ra. Chính
cái tự do ngôn luận, tự
do suy nghĩ và tự do dân
chủ đã làm cho người
hải ngoại cực kỳ
thông minh và bén nhạy khi họ
chửi thấy cái gì Cộng
sản bần cố nông, cái
gì có vẻ không ổn, không
bình thường, và nhất
là cái gì có vẻ trí thức
mượn, có vẻ kịch,
có vẻ bịp bợm, có
vẻ chồn cáo đội
lớp Lý Bạch và có thể
Mỹ ký mà vẫn ra cái điệu
ta đây thứ thiệt!
Ông Vô Danh, với máu hăng
say của tuổi thanh niên,
đã gia nhập từ Hà Nội,
gọi là Tự Vệ Chiến
Đấu, ngay từ cuối
năm 1945. Lúc này hầu như
mọi lứa tuổi là một
cách hàng ngũ hóa (regimentation)
đầu tiên của Việt
Minh Cộng sản. Tất
cả mọi thành phần
xã hội, các lứa tuổi,
nam nữ, già trẻ, tôn giáo...
đều phải gia nhập
tổ chức do cán bộ
Việt Minh Cộng sản
kết nạp, điều
hành, tổ chức, và chỉ
huy. Những người từ
chối gia nhập, nhất
là thanh niên, đều bị
coi như phản động,
chống đối, và bị
bắt đi trong đêm và
bị thủ tiêu mất tích.
Người ta gọi là đi
mò tôm nạn nhân bị đưa
ra bờ sông rồi bị
đập cho một búa vào
đầu rồi ném xuống
sông. Vùng Hà Nội thì bờ
sông Hồng hoặc bãi Phúc
Xá, vùng Hải Phòng cầu Nệm
và sông Nệm là nơi pháp trường
của Việt Minh. Người
nhà không dám kêu ca vì chẳng
biết kêu ca với ai? Sự
khủng bố của Cộng
sản và sự kinh hoàng Cộng
sản trong nhân dân lan tràn khắp
nơi ngay từ cuối năm
1945.
Tài liệu theo báo Người
Việt ra ngày 19/12/1996 trong
bài quan điểm: Ngày 2/9/1945
tuyên bố độc lập
thì ngày 5/9/1945, Hồ Chí Minh
cho Võ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng
Bộ Nội Vụ, ký sắc
lệnh giải tán và cấm
hoạt động các đảng
quốc gia mạnh nhất
lúc đó là Đại Việt
Quốc Dân Đảng và Đại
Việt Quốc Xã. Một
sắc lệnh khác cho phép công
an toàn quyền bắt những
người mà chế độ
thấy là nguy hiểm cho họ.
Ngày 12/9/1945, Võ Nguyên Giáp đã
lập cơ quan mật vụ
có quyền giam giữ những
người bất đồng
chính kiến. Ngày 22/9/1945, Trần
Huy Liệu ra lệnh kiểm
duyệt các báo để kiểm
soát những tiếng nói độc
lập như báo Ngày Nay của
Quốc Dân Đảng. Chưa
đủ, ngày 1/11 năm đó,
Liệu đặt các nhà in
dưới sự kiểm
soát của Bộ Tuyên Truyền,
với mục đích ngăn
chận việc phổ biến
tất cả các ý kiến
độc lập... Người
viết xin cảm tạ báo
Người Việt đã
cho mọi người biết
tài liệu tối mật nội
bộ hiếm có này vì những
người chống Cộng
ở bên ngoài không bao giờ
có thể biết.
Khi quân đội Pháp nổ
súng tại Hà Nội đêm
19/12/1946, thì ông Vô Danh đã
chiến đấu trong thành
phố cùng với khoảng
2 ngàn tự vệ chiến
đấu và rất nhiều
thiếu nhi, thanh niên, tiếp
tục chiến đấu
trong sự tuyệt vọng.
Súng ống đạn dược
hoàn toàn thiếu thốn và
hạn chế. Họ cũng
chưa được huấn
luyện quân sự nhất
là về đánh nhau trong thành
phố. Tất cả đều
chiến đấu theo sáng
kiến và can đảm cá
nhân.
Tất cả gần như
chiến đấu bằng
tay không chọi lại với
sư đoàn thiết giáp thiện
chiến 2ème Division Blindée, do
đại tướng Leclerc
chỉ huy, một đơn
vị dã chiến thắng
Đức quốc xã và là đơn
vị đầu tiên được
vinh dự giải phóng thủ
đô Paris... trung đoàn 11
thuộc địa (11ème RIC
-Regiment d'Infanterie Coloniale)...,
trung đoàn Lê Dương (Legion
Étrangère)...
Họ chiến đấu
vô cùng anh dũng với hùng
tâm của mấy ngàn năm
chống xâm lăng. Họ
đục tường xuyên
qua các nhà, các phố, chiến
đấu với một tinh
thần cảm tử, quyết
tử, một tinh thần
mà sau này đại tá Némo, tư
lệnh vùng duyên hải Bắc
Việt (commandant, zone maritime
du Tonkin), đã phải nói:
Họ chiến đấu
dũng cảm và liều mạng
như những con sư tử
non...
Võ Nguyên Giáp và Việt Minh không
hề trợ giúp đoàn Tự
Vệ Chiến Đấu
dũng cảm này, gồm toàn
thanh niên Hà Nội, sau này được
gọi là Trung Đoàn Thủ
Đô... Nhưng Giáp vẫn
cho viết bài phần nhiều
là bịa đặt tưởng
tượng về Trung Đoàn
Thủ Đô để đề
cao Việt Minh và làm đề
tài tuyên truyền đẩy
mạnh công cuộc động
viên toàn miền Bắc kháng
chiến chống Pháp. Việt
Cộng cũng bịa đặt
là tướng Vương
Thừa Vũ chỉ huy cuộc
chiến đấu trong thành
phố Hà Nội. Phải đến
ngày 17/2/1947 hay sau gần 2 tháng,
những người sống
sót đã phải rút ra ngoài
thành phố vì đã kiệt
quệ về lương thực
và súng đạn. Số phận
những người còn sống
này không thể kiểm chứng.
Một số gia nhập các
đơn vị Việt Minh
khác và tiếp tục chiến
đấu cho đến chết
hoặc cho đến khi chiến
thắng năm 1954 và trở
về Hà Nội. Những xác
người chết được
Pháp gom lại và chôn trong một
nấm mồ tập thể
rất lớn, gồm hẳn
một khúc đường
phố cạnh Tòa Án Hà Nội.
Sau khi thoát được ra
ngoài hậu phương, ông
Vô Danh đã gia nhập Vệ
Quốc Đoàn, quân đội
chính qui của Việt Minh
thời đó. Trung Đoàn
Thủ Đô có được
thành hình nhưng có rất ít
người thủ đô Hà
Nội. Hầu hết đều
là người Thanh Nghệ
Tĩnh. Khi về Hà Nội
cuối năm 1954, trung đoàn
Thủ Đô toàn người
nói tiếng trọ trẹ.
Đây cũng là một thứ
kiêu binh mà người Bắc
sau này gọi là lính Tam Phủ
như kiêu binh của chúa Trịnh
ngày xưa. Trung đoàn trưởng
lúc đó là Nguyễn Quốc
Trị, người Thanh Hóa.
Sau này, có lẽ nhờ tài thơ
phú, ông Vô Danh đã gia nhập
Hội Văn Nghệ Sĩ.
Nhạc sĩ Phạm Duy khoảng
năm 1950 đã từ chối
thẳng vào mặt cụ Hồ,
không thèm gia nhập Hội
Văn Nghệ, và đã trốn
vào thành phố. Đây cũng
là cái tát vào mặt Hồ Chí
Minh và Việt Minh Cộng sản.
Kể từ khi ông Phạm
Duy bỏ đi, Hồ và Việt
Minh ghét cay ghét đắng dân
Bắc Kỳ nhất là những
người có tài như ông...
Vô Danh, cụ Phan Khôi, và hầu
hết các văn nghệ sĩ
miền Bắc. Lúc đó Văn
Nghệ miền Bắc do Tố
Hữu và Nguyễn Đình
Thi, Xuân Thủy nắm giữ
chặt chẽ. Xuân Diệu,
Chế Lan Viên, Hữu Loan,
Trần Hoàn, Lưu Hữu
Phước (người Nam)...
chỉ là những kẻ theo
đuôi voi, cầu sống.
Những người khác như
Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính,
Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng
Cung, Phùng Quán, Văn Cao... đều
phải chịu ép một bề...
Giết, giết hết, bàn
tay không phút nghỉ!
Cho ruộng đất lúa tốt,
thuế mau xong!
Anh em ơi! Cùng dệt bước
tơ lòng
Thờ Mao chủ tịch,
thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Xuân Diệu)
Năm 1955-1956, Hồ Chí Minh
ra lệnh cải cách ruộng
đất để đấu
tố tiêu diệt hầu hết
những thành phần khá giả
sáng sủa mà Hồ gọi
là địa chủ, phú nông,
trí thức và giai cấp chỉ
huy trong nông thôn như các chánh
tổng, lý trưởng, bá
hộ... gọi là trí, phú, địa,
hào... Bất cứ ai nằm
trong thành phần này, hoặc
chỉ người bình thường,
đều có thể bị
viện đội trưởng
đội cải cách chiếu
cố lên liste lên danh sách đấu
tố, phải ra đấu
trường, và bị đấu
tố theo kiểu Mao Ít rùng
rợn, tàn ác và khủng khiếp
nhất.
Được nghe bà kể
khổ!
Con thấy đời con thực
là đáng chết!
Con đã đi bóc lột để
nuôi bà
Con bây giờ không dám nhận
là cha
Dù bàụ là do con đe ra
Ông Vô Danh quả tài tình. Chỉ
bằng mấy câu ngắn
ngủi mà hàm xúc đầy
đủ sự ghê rợn
của đấu tố Cộng
sản. Cha phải gọi
con gái bằng bà và xưng con.
Nuôi con cũng là "tội"
vì phải bóc lột người
khác để nuôi con. Trong khi
đó, Hồ và Cộng sản
giết người, bỏ
tù, cướp bóc đủ
thứ... thì lại bắt
cả nước phải
đời đời nhớ
ơn Hồ chủ tịch!
Cộng sản Hà Nội áp
dụng Mao Ít nhiều hơn
Mác Xít Lê Nin Nít, có lẽ vì không
thích hợp với hoàn cảnh
địa phương (Việt
Nam và Trung Quốc). Mác Xít chỉ
là lý thuyết suông, chẳng
ai thèm học hay áp dụng.
Khi đại tá Phản Gián
Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ
và Nguyễn Hộ, Hoàng Minh
Chính luôn miệng chê bai Mác Xít
thì những tên chó săn cộng
sản này đã lờ tịt
vấn đề Lê Nin Nít và
hiện nay là Mao Ít đang thật
sự được áp dụng
tại Việt Nam. Ngục
sĩ kiêm chính trị gia Nguyễn
Chí Thiện nên cho biết ý
kiến về cuộc thanh
trừng cộng sản Hà
Nội do thượng tướng
người gốc Tàu là Lê
Khả Phiêu cầm đầu
đã giết các đồng
chí Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn
Đình Tứ, Dương
văn Đầy...?
Đầu tháng 12/1966, báo Người
Việt đã đăng (2
kỳ) bài của nhà văn
Hoàng Tiến ở Hà Nội
mà không ai biết tên này là ai,
có thể là cán bộ phản
gián, viết về Hà Sĩ
Phu. Đài VNCR và Little Saigon
cũng phụ họa tiếp
vận phổ biến lá thư
này. Đài VNCR phỏng vấn
điện thoại viễn
liên với Hà Sĩ Phu, Tiêu
Dao Bảo Cự và các cán bộ
Cộng sản khác mỗi
ngày rồi truyền thanh lại
cho đồng bào quận Cam
nghe. Báo Người Việt
cũng đăng những
bài phỏng vấn rõ ràng và
kỹ càng. Chiều ngày Chủ
Nhật 8/12/1996, có một cuộc
biểu tình nhỏ ở Little
Saigon, quận Cam, California,
để kỷ niệm nhân
quyền. Nhân dịp này, Đoàn
Thế Cường, người
của Mặt Trận Kháng
Chiến Hoàng Cơ Minh cũng
hô hào lấy chữ ký vào kiến
nghị đòi Hoa Kỳ phải
mời Hà Sĩ Phu và Đoàn
Viết Hoạt sang Mỹ
diễn thuyết... (cho chó
săn Vẹm nghe chăng?).
Cộng sản vào cuối
năm 1996 đã bị thâm
thủng tới 4 tỷ đôla.
Chúng cuống cuồng mở
chiến dịch Dân Vận
hải ngoại để
kêu gọi người Việt
đóng tiền cứu nguy...
tổ quốc!
Nhóm Giao Điểm do Hồng
Quang cầm đầu (trong
khối Ấn Quang) đã tổ
chức một bữa cơm
chay tại chùa Việt Nam Orange
chiều ngày 7/12/96 với thượng
tọa Thích Pháp Châu để
gây quỹ... trùng tu chùa Đậu
ở tỉnh Hà Tây! Kết
quả thu được hơn
7,000 đôla! Nhóm Giao Điểm
Hồng Quang coi như lập
thành tích thi đua đầu
tiên. Chiến dịch hàng đầu
vĩ đại này có thể
sẽ được tuyên
dương trước Ban
Chấp Hành Trung Ương
Quốc Hội và Mặt Trận
Tổ Quốc vì giáo hội
Ấn Quang là tổ chức
đứng hàng đầu
trong Mặt Trận Tổ
Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa.
Số tiền này đương
nhiên phải được
gửi về Hà Nội. Còn
vấn đề có trùng tu
chùa Đậu hay không thì...
chỉ có Vẹm biết chăng?
Tội ác của bọn chó
săn cộng sản này là
chúng cố tình lấp liếm
sự kiện lãnh đạo
Cộng sản Hà Nội đang
làm bù nhìn chó săn cho Trung Cộng
để đầy ải
dân tộc Việt Nam hơn
nữa vào hố thẳm của
nô lệ và diệt chủng.
Vào năm 1996-1997..., dân tộc
Việt bị hai kẻ Nội
thù Việt Cộng và Ngoại
xâm Trung Cộng đe dọa
tiêu diệt. Sau này, sau khi Cộng
sản bị tiêu diệt,
bọn Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo
Cự, Bùi Minh Quốc, Đỗ
Trung Hiếu, Hoàng Minh Chính,
Nguyễn Hộ và bọn tay
sai bồi bút nằm vùng hải
ngoại đáng bị xử
vào tội Thập Ác.
* * *
Chung toi thanh kinh cam on nhung bat
an nhan, manh thuong quan, than hao
nhan si, cac co quan .. da giup chung
toi tin tuc, tai lieu va nhat la da
khich le tinh than cho chung to thi
hanh cong tac Lat Tay Tong Cuc Phan
Gian Cong San Ha Noi va Dien Vien Nguyen
Chi Thien
|
|
|
|
|