Home Home Home
Home Home
Main
Lời Ngỏ
Con Bài Nguyễn Chí Thiện
Tập Thơ Vô Ðề
Ðoàn Viết Hoạt & các Ðồng Chí
Tội Ác Cộng Sản
Tội Ác GHPGVNTN
Tin Tức Đặc Biệt: Nạn Buôn Người (Human Trafficking)
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Thông Báo FBI
Tin Tức Đặc Biệt
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Trần Phả: Lời Chúc Tết CSVN
Trần Phả: Lời Chúc Tết DCSVN (2006)
Phỏng Vấn Nhà Báo Việt Thường
 
Tập Thơ Vô Đề
Những Bài Thơ Vô Ðề
Thủ Bút Của Tác Giả Vô Danh
 
Audio Files
Con Bài NCT
Bình Luận Chiến Lược LVX
 
Hạt Máu Thơ (NCT)
Những Bài Thơ Con Cóc Của Diễn Viên Nguyễn Chí Thiện
Lá Thư Của NCT Ngày 7-11-95
 
Links
FBI
 
Topics
Chiến Lược Domino Trung Cộng
Sư Quốc Doanh Cộng Sản
Vụ Án Ðạo Văn Của Thế Kỷ
Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt
Thi Sĩ Cộng Sản
Quan điểm đạo Phật
Lịch Sử Nông Nghiệp Việt Nam
Các vấn đề dân chủ
 
Articles
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 1)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 2)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 3)-Bach Linh
Nguyễn Chí Thiện-Ông Là Ai? VoBinh LLDB-NKT
Nguyễn Tử Ðóa-Ðại Tá An Ninh Quân Ðội
Bạch Linh: Thơ Vô Ðề (Part 1)
Tôi Thất Vọng Về Diễn Viên NCT
Tập Thơ Vô Ðề và Khuyết Danh (Duy Xuyên)
Khai Mạc Vụ Án Văn của cuối Thế Kỷ 20
Những Nghi Vấn Về NCT (Nguyen Thien Viet)
Hồ Chí Thiện & Mặt Trận Văn Hóa Hải Ngoại
Bản Chúc Thư Của Người Viet Nam
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 1
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 2
 
Date : 2/23/2012 1:20:58 AM IP Address:38.107.179.213


  Topic: Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập 2
Author:   Bach Linh

Tap 2



Bài thơ dưới đây đã nói rằng đến năm 1960 ông Vô Danh đã bị tù nhiều lần rồi, và sẵn sàng đợi bị bắt lại bất cứ lúc nào! (Ông Nguyễn Chí Thiện nói rằng bị tù từ năm 1961 khi ông 22 tuổi do lệnh Tập Trung Cải Tạo ban hành trong thời gian này.)

Đời tôi sẽ...

Đời tôi rồi sẽ tới đâu?

Lòng tôi cũng chẳng tìm câu trả lời!

Nhà lao nay bước chân rời

Ngày mai có thể như chơi lại vào

Đất này là thế, biết sao

Tội hay vô tội luật nào xét cho

Người dân chẳng khác con bò

Nay cày è cổ, mai lò sát sinh

Những gương bắt bớ quanh mình

Toàn dân lương thiện tội tình gì đâu!

Đói ăn ta thán một câu

Phản tuyên truyền tội ở đâu buộc vào



Một bài khác tả cảnh tù tội dưới chế độ Cộng sản:



Từ vượn lên người mất mấy triệu năm?
Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!



Bài thơ này tả cảnh sống trong chế độ Cộng sản:



Không phải chết, sống mỏi mòn mới khiếp!
Sống niêu cơm, manh áo cũng đọa đày

Sống yên lành, song cũng khó yên thay

Sống lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay

Sống đau nhức cả thần kinh bắp thịt

Sống giương mắt đỏ ngầu trong xám xịt



Nói về chế độ Cộng sản kềm kẹp công an trị:



Người dân đã chán chê với cái trò hề chiến tranh cách mạng!
Cái họ được là khăn tang và nạng!

Cái mất đi: ánh sáng cuộc đời!

Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười

bắt đói, bắt làm...

hé răng oán thán là tù mục xương độc đoán...!

Nó lùa, nó thả (Nó đây là Hồ Chí Minh)

lũ mặt người dạ thú xông ra

khiến đồng xa, nơi mấp mô mồ mả



Bức tranh tù tội hay là tranh sống dưới chế độ Cộng sản do ông Vô Danh vẽ rất thật vì ông Vô Danh đã bị tù thật, đã sống trong địa ngục Cộng sản thật sự. Chỉ có công an, cán bộ, đảng viên, bộ đội hay là giai cấp ưu đãi, mới không biết thế nào là tù đày. Đọc những bài thơ này lên, ta thấy ông Vô Danh quả có tài làm thơ tả cảnh Cộng sản tàn bạo, tù đày dân chúng bất kể luật pháp hay nhân quyền, dân quyền, coi nhân dân như kẻ thù, khiến người đọc phải thấy rùng mình khiếp sợ.

Chúng tôi sống giữa lòng thung lũng
Bốn bên là rừng núi bọc vây quanh!

Ở rúc chui trong mấy dẫy nhà tranh
đầy rệp muỗi, đầy mồ hôi, bóng tối!

Bệnh tật cho nhau, đời ôi hết lối!

Tuyệt vọng ngấm dần, hồn xác tả tơi...



Ông Vô Danh nhìn thấy tất cả những thành phần xã hội bị Cộng sản cho đi tù tuốt luốt, đi tù từng xâu, bất cứ lúc nào, và không cần lý do, không có pháp luật xét xử. Những người tù này và kể cả ông Vô Danh, không bao giờ được nói chuyện với giám đốc công an Hà Nội, mạn đàm và chụp ảnh mầu với quản giáo trại cải tạo, và dứt khoát không bao giờ mơ ước được đi nhậu nhẹt, tâm sự anh anh, tôi tôi, với ông Viện Trưởng Mác Lê Hoàng Minh Chính tức trung tướng phản gián Trần Ngọc Nghiêm, một lý thuyết gia Xít Ta Lin Nít sắt máu nhất, trung kiên nhất, cao cấp ngang hàng với Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... như ông Nguyễn Chí Thiện đã từng khoe tại Hoa Kỳ.

Ông Vô Danh dĩ nhiên chỉ nhìn thấy tù tội, đói rét, khổ sở, hành hạ, và cái chết chờ đợi mọi người tù. Ông Nguyễn Chí Thiện, có lẽ không hiểu thế nào là tù đày thật sự, nên chỉ phàn nàn rằng Cộng sản không cho tù nhân giấy... vệ sinh (toilet paper) và băng vệ sinh (maxipads) cho nữ tù nhân khiến cho họ hôi hám bẩn thỉu không vừa cái lỗ mũi của ông khi họ đi ngang qua mặt ông...

(Với những thành tích nói chuyện anh anh tôi tôi với Cộng sản cỡ gộc, ngang với Lê Duẫn và có thể thay thế Lê Duẫn làm Tổng Bí Thư. Xít Ta Lin Nít thượng tướng Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, giả thử ông Thiện là cán bộ thì ít lắm cũng phải cấp thiếu tướng.) Ta hãy coi ông Thiện làm... thơ (?) tả cảnh tù Cộng sản chỉ khổ vì không có giấy vệ sinh (tại Washington D.C. đầu tháng 11/1995):

Ở Hỏa Lò, giấy vệ sinh khó có

Nhiều người không dùng như trâu như chó
Phải có quà, có ngoại giao mới có thể mong xoay

Xoay nó còn khó hơn xoay vé máy bay...!

(Nguyễn Chí Thiện)

Người viết bài này nghi ngờ rằng ông Thiện chưa ở tù thật bao giờ, tuy rằng ông có dịp quan sát các trại tù để có kinh nghiệm tù mang ra hải ngoại nói chuyện... tù! Đọc thơ tù của ông Vô Danh, ta thấy người tù thật không bao giờ lo vấn đề giấy vệ sinh hay băng vệ sinh. Người tù Cộng sản sống dở chết dở trong sự đọa đày, cực khổ, đói rét, bệnh tật tối đa..., lo đủ thứ trong hy vọng hão huyền, vì không có gì cả! Chỉ thấy đen tối và tương lai mù mịt đầy cực khổ hơn nữa, hoặc chết chóc, làm gì dám nghĩ tới vé máy bay mà ví với von?

Người tù không thể kêu ai vì chính Nhà Nước là quân nội xâm cai trị bạo tàn. Người tù biết không bao giờ được thả? Không biết gia đình con cái trẻ nhỏ ở nhà ra sao? Không biết chiều nay, hay ngày mai, có được ăn không? Mà được ăn cái gì? Nếu có khoai hà, sắn mốc hay ngô cứng như đá là may, mong gì đến cơm? Có lẽ trong bụng người tù nào cũng quá đói, đói mờ con mắt trong cái đói thường xuyên, nên không ai lo vệ sinh mà chỉ lo ăn! Có cái gì trong bụng đâu mà lo tống ra? Người tù Cộng sản đói đến vàng mắt, đói mờ người, đói bải hoải chân tay mà vẫn bị đốc thúc lê lết đi lao động. Chậm chạp lao động là báng súng đánh vào người ngay để làm cho đau đớn ê chề hơn nữa.

Bài thơ này, ông Vô Danh kể chuyện một người tù già lắm nhưng vẫm cố học tập tốt, lao động tốt cho vừa lòng quản giáo coi tù và cho hả dạ vợ con ông, vì họ vẫn tưởng như lời Cộng sản nói: tù nhân vẫn được đối đãi tử tế vì chỉ được đi học tập, lao động để cải tạo thành người tốt.

Khi tới nhà ông

tôi sẽ nói cùng vợ con ông rằng ông đói quanh năm!

Tuổi ông già, răng ông móm, nhưng ông chăm

Đi lao động kiếm phần ngô còm cõi!

Miệng bát sành cơm gần như đá sỏi!!


Tả cảnh xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng sản:



Bà kia tuổi sáu mươi rồi!
Mà sao không được phép ngồi bán khoai?

Cụ kia tuổi bảy mươi hai

mà sao hội họp mệt nhoài không tha?

Tự do tôi quý thiết tha

mà sao tù ngục hết ra lại vào?

Anh kia đi lính thuở nào?

Tội chi cảnh sát cũng vào bắt đi?

Em kia học chửa biết chi



Người tù Cộng sản chỉ mong có cái gì nhét vào mồm, dù chỉ là khoai sắn, hơn là lo tống xuất ra ngoài, vì bụng rỗng, lép xẹp, có cái gì đâu mà phải tống xuất? Nếu không có ăn, bụng trống rỗng, thì cần gì đến vệ sinh mà phải chạy chọt với công an coi nhà khách thì cũng điều phải lẽ, nên ông Thiện không quên trong thơ tù của ông. Tháng 8/1996, hai ông bà ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher đến Hà Nội mà không ngờ rằng phòng tắm dành cho thượng khách nước ngoài không có giấy vệ sinh!

Ngoài cái đói, còn có cái rét. Khi đói, thiếu ăn, thiếu mặc, quần áo, chăn mền không có, thì không mấy người chịu nổi cái rét lạnh ghê người ở miền Bắc. Bị ho lao, lao ra máu là do thiếu ăn và rét lạnh. Mỗi người tù đều bị hành hạ bằng đủ thứ bệnh và sự thiếu thốn đủ thứ. Bệnh tật không bao giờ có thuốc. Tù nhân phải được gọi là tù bệnh, tù đói mới đúng. Họ quằn quại, mòn mỏi trong nhiều tháng nhiều năm. Cái chết thường đến chậm chạp, lay lắt, để kéo dài sự đau khổ lâu hơn nữa. Những người tù bệnh thường không thể chết nhanh chóng dễ dàng vì họ còn nhiều sự lo lắng cho gia đình, nhiều kỷ niệm, nhiều vấn đề chưa giải quyết, sự thương nhớ gia đình con cái, sự mong mỏi đoàn tụ, nhất là niềm hy vọng và cố gắng sống để có thể một ngày nào đó trở về... đã kéo dài sự ham sống của họ.



* * *



Ông Vô Danh đã viết nhiều lần sợ hãi cái nóng bức kinh hồn trong hầm đá và cái rét lạnh mỗi khi mùa đông đến.

Từng cơn nóng dội, từng cơn rét
Thịt bắp tiêu dần, xương với da.

Chân vỡ sưng, cùm nhay lở loét!

Rệp muỗi quây quần hút máu ta.

Vụ hè oi bức trong hầm đá

Không khí như là hơi nước sôi!

Ta khắp thân mồ hôi ướt vã

Cơm muối nhai cùng phân chuột hôi!



Ông Vô Danh kể chuyện một người lớn tuổi chết trong tù:



Ốm đau không thuốc, không gì!
Chuyện thông thường đó nói chi thêm nhiều!

Bác nằm liền sát cầu tiêu

Mùi phân nước giải sớm chiều nồng hôi

Bác ơi, bác sắp chết rồi
Bác không còn sức để ngồi được lên



Phụ nữ trong tù quá đói, mất hết máu, mất hết hồng huyết cầu, người xanh như tàu lá, thì làm gì còn đường kinh mà phải lo đến băng vệ sinh? Người phụ nữ đã bị tù thì lo đến lũ trẻ nhỏ ở nhà không có ăn, không người săn sóc, sẽ phải chết dần mòn vì bệnh tật thiếu ăn. Đứa nào đi bụi đời sẽ thân tàn ma dại, chẳng còn nhớ, biết gì đến cha mẹ, anh em, gia đình! Nhiều phụ nữ vào tù với con nhỏ đang bú, vì đói nên kiệt sữa, đã phải nhìn đứa con đói lả chết trên tay, còn bụng dạ nào lo đến băng vệ sinh hay sự hôi hám bẩn thỉu?

Nói tóm lại, người bị cộng sản cầm tù không án tù, không thời hạn, không tội lỗi, chỉ thấy căm hờn chất chứa, hận thù thiên thu... nghĩ cách ra khỏi tù, nghĩ cách chạy trốn hay tiêu diệt Cộng sản... chứ ai hơi đâu mà lạy van chạy chọt công an để có giấy vệ sinh hay băng vệ sinh? Miền Bắc trước kia và bây giờ, hầu hết đều không có giấy hay băng vệ sinh... thì làm sao công an có để bán hay cho? Có lẽ nhiều cô gái miền Bắc chẳng bao giờ được thấy cái băng vệ sinh văn minh nó ra sao? Mà trong tù thì tiền đâu mà chạy chọt công an để kiếm giấy vệ sinh? Nếu có tiền cụ Hồ thì để mua cái gì ăn. Nếu dư tiền cụ Hồ thì nên dùng thay giấy vệ sinh có lẽ tiện hơn?

Công an biết tù có tiền thì nó hành cho đến mức phải cúng hết cho nó, chứ làm gì còn xài sang mà nhờ công an mua dùm giấy vệ sinh?

Giả thử họ có hôi hám bẩn thỉu vì không được tắm, không có xà phòng hay băng vệ sinh thì họ cũng thích thú cho công an, quản giáo ngửi cho sướng cái lỗ mũi của chúng, chứ việc gì họ phải sợ bị ai cười chê là dơ bẩn hôi hám? Có lẽ khi những phụ nữ tù nhân đi qua mặt ông Thiện, lúc đó có lẽ đứng xem với tư cách công an thanh tra, mặc complet trắng tinh, nên ông Thiện đã không quên cái mùi xú uế của họ dù mũi ông được ông dùng mù xoa bịt lại. Ông Thiện nghĩ rằng vì họ không có băng vệ sinh nên mới hôi hám như vậy.

Quý độc giả nên ngâm những bài thơ trên để so sánh với bài thơ giấy vệ sinh để xem bài nào là thơ, và bài nào chỉ là ghép chữ vớ vẩn kiểu nhà quê bần cố nông?

Tối ngày 15/11/1996, cộng đồng người Việt Tự Do bang NSW lại được hân hạnh tiếp đón nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở lại thành phố Sidney từ thành phố Brisbane. Khoảng 600 người đã đến tham dự đêm tâm tình với ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện... Phần nói chuyện của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn được những tràng vỗ tay nồng nhiệt của quan khách đến tham dự. Một lần nữa, ông (Thiện) đã vạch trần bản chất đại gian đại ác của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam với những xảo thuật lừa bịp vô cùng tinh vi và dã man, chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là chiếm đoạt quyền lực và bảo vệ quyền lực bất kể đạo lý tối thiểu của con người.

Ông (Thiện) kể những cảnh cơ khổ trong tù, nhất là người phụ nữ, chúng không màng gì đến vệ sinh tối thiểu của người phụ nữ đến nỗi những nàng Kiều thời đại bị tù đi ngang qua là sặc mùi hôi thối. Còn thân phận các em thiếu nhi sinh ra và lớn lên trong các gia đình thiếu ăn đã phải đi vào con đường trộm cắp thì bị chúng đánh đập và hành hạ một cách tàn nhẫn thô bạo, đến nỗi ngày nào ở trong tù ông cũng thấy mang xác đi chôn với vẻ mặt thản nhiên của cán bộ trại. Ông nói: Bởi vì lớp tù này chết đi thì đã có lớp khác đến thế.

(Có lẽ vì chủ quan hay là quen thói độc tôn của cán bộ công an cấp cao nên trong một dịp diễn thuyết tại San José giữa tháng 12/1995, ông Thiện đã phát biểu về miền Trung một câu mà những người Huế, người Trung cho đến nay có lẽ chưa quên. Khi nói về miền Trung, xứ Huế, ông Thiện phang một câu rất chữ nghĩa, điển tích... sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm! Tác giả xin cáo lỗi với quí vị người Trung vì bài khảo luận cần phải nêu ra những chi tiết về con người mang danh ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện)

Ông Thiện cũng làm thơ mỉa mai những người nữ tù nhân là dơ dáy, hôi hám, cũng hút thuốc lào như lưu manh:

Những nàng Kiều

Cộng sản kết tội phong kiến và xót thương

Nàng Kiều ngày xưa trong văn chương

Còn những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa Lò, ai thương?

Ghẻ lở đầy, gầy giơ xương

Vét ăn từ hạt cơm dưới rãnh

Cũng cùm kẹp, đòn đánh

Cũng lén hút thuốc lào như những ông mãnh lưu manh

Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!

(Nguyễn Chí Thiện -1983 -trg.36, HMT)

Đọc lên ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không phải đồng cảnh ngộ tù như những người nữ tù mà ông gọi một cách rất ư công an là những nàng Kiều thời đại. Ông Thiện khinh bỉ họ vét ăn từng hạt cơm dưới rãnh, lén lút hút thuốc lào như lũ lưu manh bạn tù của các cô này, và mỗi lần họ đi qua mặt ông quản giáo hay thanh tra Thiện là sặc mùi tanh tưởi vì không biết dùng và không có băng vệ sinh. Dưới mắt ông Thiện (công an?) thì người tù nào cũng chỉ là lưu manh, phản động, bất mãn dám chống, dám chửi chế độ! Cái mùi hôi hám này ám ảnh (đồng chí công an phản gián đi tham quan để hiểu biết về nhà tù cho dễ nói chuyện sau này) Nguyễn Chí Thiện đến mức 13 năm sau, khi tới Sidney, ông vẫn chưa quên và phải nói lên cho cử tọa (nam nữ Việt kiều Sidney) cùng thưởng thức!

Nếu so sánh ta thấy ông Vô Danh không hề gọi người nữ tù khác, đồng cảnh ngộ, một cách khá... công an là những nàng Kiều thời đại! Ta có thể đọc dưới đây bài thơ ông Vô Danh tả cảnh người con gái đĩ ở trong cảnh đói khổ cùng cực ở Hà Nội, người con gái chỉ có thể làm đĩ để kiếm sống, mà ông Vô Danh vẫn coi là bạn chí thân đáng quý trọng:

Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa

Tôi chẳng có gì an ủi cô ta

Ngoài tình cảm chan hòa và không khinh bỉ

Tôi là anh của những em nhỏ tí

Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân

Bé tí hon mà tù tội bao lần

Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!



Ông Vô Danh cũng làm thơ ai điếu người con gái tập kết từ miền Nam ra Bắc năm 1955, đã, có lẽ vì chửi Cộng sản, bị chúng tù đầy, giam cầm và bị ho ra máu, cũng như ông, cho đến chết. Đọc lên ta thấy ông Vô Danh sót thương cho người con gái đó hơn cả chính bản thân, và dĩ nhiên không hề có giọng điệu diễu cợt đùa giai một cách đểu giả, ác độc của công an coi tù, gọi những người phụ nữ tội nghiệp, đáng thương, nạn nhân cộng sản, là nàng Kiều thời đại!

Bài thơ cũng tả cực hình rùng rợn mà người con gái miền Nam tập kết khốn khổ phải chịu cho đến chết, dĩ nhiên không phải vì hôi hám thiếu băng vệ sinh... ông Vô Danh không ngửi thấy mùi hôi hám của người con gái đang sắp chết này, có lẽ vì ông cũng là tù hôi hám như vậy, và không phải là công an quản giáo kiêm thanh tra sạch sẽ như ông Nguyễn Chí Thiện chỉ khoe mặc complet toàn trắng đi chơi Hồ Tây bơi thuyền (périssoire) ăn bánh tôm với người bạn đẹp như tiên chăng?

Anh gặp em trong bốn bức rào dầy...

Má gầy, mắt trũng

Phổi em lao, chân em phù thũng

Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng

Em ngồi run, ôm ngực còm nhom

Y sĩ công an nhìn em, thôi (thì) nạt nộ om sòm

Em ngồi lọt thỏm

Giữa bọn người vàng bủng co ro

Những tiếng ho

Những cục đờm máu!

Mớ tóc rối đầu em rủ xuống mình em, teo nhỏ, lõa lồ...

(vì quần áo đã rách nát hết, không đủ che thân gầy.)

Em có gì đâu mà em xấu hổ!

Em là đau khổ hiện thân

Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa

Trên gò má tái



(Người chết nghèo khổ, tù tội miền Bắc khi chết thường được bó trong chiếu rách mang đi chôn. Người sống cũng không khá hơn. Trong mùa đông giá lạnh, có cái chiếu lành lặn mà đắp là may lắm rồi!)



Anh biết lòng em kinh hãi hơn ai

Khi gió bấc ào qua vách ải

Những manh áo vải... tả tơi, vật vã...

vào thịt da...

Em có lạnh lắm không?

Mưa gió mênh mông

Thung lũng sũng nước bùn

Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc

Những khuôn mặt xanh vàng gầy rộc

Nhìn nhau, đờ đẫn không lời

Nhát nhát em ho



Đọc lên ta thấy cả một câu chuyện não nùng, thê thảm của một người con gái miền Nam thơ ngây, năm 1945-1955 đã mang nhiều mộng đẹp muốn ra Bắc để góp phần xây dựng... độc lập, tự do và thiên đường Cộng sản tại Việt Nam. Để rồi vỡ mộng thiên đường, thấy rõ bộ mặt lưu manh xảo trá của bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ và Hồ Chí Minh. Người Nam trực tính, nóng nảy, hể thấy trái tai gai mắt là nói thẳng, hỏi thẳng và có khi chửi thẳng vào mặt. Họ không nghĩ rằng đã lọt vào trong tay Cộng sản, lơ mơ là chúng bắt bỏ tù cho đến chết đói, chết bệnh.

Bài thơ này được ông Vô Danh viết trong tù năm 1965. Khi đó ông Nguyễn Chí Thiện đã ra khỏi tù (1964-1966) và đang dịch sách báo ngoại ngữ Anh Pháp, có lẽ là cho... Cục Phản Gián, vì trong những năm 1955 đến 1965, 1966 cho đến 1975, 1985...

Trong cao điểm chống Mỹ năm 1964-1965 đến 1975, không một người miền Bắc nào dám dùng đến ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Khi ông Vô Danh viết lá thư tuyệt mệnh ông viết bằng tiếng Pháp và có lẽ ông chưa bao giờ học và dịch tiếng Anh như ông Nguyễn Chí Thiện. Nhiều bài thơ chứng minh ông Vô Danh vẫn ở trong tù 1965.

Tạm trú ở một nhà người quen trong ba ngày ông gợi từ trí nhớ viết là được 377 bài thơ sau đó ông cất dấu rồi xuống Hải Phòng trở lại. Rồi đến dịp sau ông mới lên Hà Nội mang tập thơ đến tòa đại sứ Anh.

Ông Vô Danh, trái lại, đã chôn dấu (chôn rấp) tập thơ đâu đó ở trong nhà ông ở Hà Nội và ôm mộng ước từ năm 1970, là không biết đến bao giờ ông sẽ được đi khắp nơi để phổ biến những bài thơ lồng lộng bay, lay thức nhân tâm!. Ông Vô Danh bị quản chế tại gia ở Hà Nội, cô đơn, sau khi cha mẹ chết, chứ không phải ở Hải Phòng cùng với chị và em như ông Nguyễn Chí Thiện. Có lẽ sau này vì cơ thể mỗi ngày mỗi tàn lụi vì tù đày hành hạ và ho lao ra máu, nên ông Vô Danh đã phải đi đến quyết định đột nhập tòa đại sứ để đưa tập thơ của ông trước khi chết vì ho lao và tù đày thêm nữa. Ông Thiện cũng quên không tả cảnh ông bị Cộng sản bắt được sau khi ra khỏi tòa đại sứ Anh ra sao?

Xin quý bạn đọc bài thơ dưới đây:



Biết đến bao giờ tôi được gặp
Người trong huyễn tưởng bao năm!

Biết đến bao giờ đi được khắp

Chân trời ước mộng xa xăm?





Ông Vô Danh đã coi bệnh lao trong hai lá phổi của ông là hai lưỡi dao găm của Thần Tự Do, hay là bản án tử hình của thần Tự Do, không cho ông sống và được tự do... Thơ phải nhiều ý nghĩa gói ghép bên trong như vậy mới có thể gọi là thơ...

Bài thơ này tả sự cô đơn, không có anh chị em, bạn bè, của ông Vô Danh, tuy không đề ngày, nhưng có lẽ khoảng năm 1974 hay 1975, sau khi cha ông chết. Ông Nguyễn Chí Thiện, trái lại, có đủ cả anh ruột ở miền Nam rồi đi Mỹ và bà chị và có cả các em nữa.

Tôi, một kẻ không gia đình, bè bạn
Sống một mình, bệnh hoạn xanh xao

Chai nước con, chiếc điếu hút thuốc lào

Chiếc giường vải, chiếc bàn bằng gỗ cũ

Đồ đạc tôi thế là tạm đủ

Cuộc sống nghèo hèn, không ước không mơ

Ngoài thời gian dạy học vài giờ

Tôi tìm kiếm niềm khuây trong sách vở



Ông Vô Danh đã cho biết khi ra tù, tạm thời vì có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào, ông phải đi dạy học mỗi ngày vài giờ kiếm ăn. Khẩu phần miền Bắc lúc đó dùng tem phiếu (phiếu sổ - food stamp) để cho khẩu phần tiêu chuẩn giới hạn mỗi người 100 gram đường và 100 gram thịt mỗi tháng. Cha mẹ ông lúc này đã chết. Ông sống cô đơn trong một căn gác nhỏ ở Hà Nội và bị quản chế tại gia, lúc nào cũng có thể bị buộc bất cứ tội gì và bị bắt giam tù trở lại. Hai câu chót, tuy nhẹ nhàng, nhưng đủ tả sự rùng rợn của chế độ Cộng sản: chỉ cần tỏ vẻ không vui, bất mãn là đủ bị công an ghép tội bất mãn và bắt đi tù!

Đảng bắt vui, bắt nói,

bắt khóc, bắt cười,

bắt đói, bắt làm..

hé răng oán thán

là tù ngục mục xương độc đoán...!

(Vô Danh - Đồng Lầy)

Ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không bao giớ nói rõ chi tiết lý do, ngày giờ, năm tháng bị bắt, nơi bị giam lần đầu tiên trong thời gian trước năm 1961. Ông Nguyễn Chí Thiện chỉ khai thời gian bị bắt giam với ngày tháng rõ rệt như một tài liệu học tập đã được (do ai?) sửa soạn sẵn. Lần thứ nhất từ tháng 5/1961 cho đến tháng 11/1964. Lần thứ hai: Từ tháng 2/1966 đến tháng 7/1977. Lần thứ ba: Từ tháng 7/1979 đến tháng 10/1991. Tổng cộng tù hơn 27 năm, không xét xử.

Những điểm lý lịch đáng lưu ý khác là ông Nguyễn Chí Thiện khai là sinh ngày 27/2/1939 (Hà Nội). Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo Phật giáo. Trình độ học lực: Tốt nghiệp Trung Học (Tú Tài) năm 1955. Đi tù về tội làm thơ chống Cộng. Nghề nghiệp: dạy Pháp, Anh văn, Dịch sách (1964-1966 tại Hải Phòng Việt Nam.

Lý lịch quá sơ sài và thiếu nhiều chi tiết. Thí dụ: tên tuổi cha mẹ và anh chị em ruột. Nếu ở Hà Nội thì thường phải có địa chỉ nơi sinh với số nhà, đường phố hoặc nhà hộ sinh, hoặc địa chỉ, nghề nghiệp cha mẹ ghi rõ ràng trong giấy khai sinh. Ông Thiện không hề cho biết địa chỉ sinh sống trước năm 1954, sau 1954, và nơi chốn chi tiết khi bị bắt năm 1961. Kể từ năm 1991, sau khi được thả, ông Thiện ở Hải Phòng cho đến khi đi Mỹ. Tại Orlando, tối 14/12/1966, ông Thiện lỡ miệng nói ông bị quản chế tại gia ở... Hà Nội! Thế thì tại sao khi đến Mỹ ông Thiện nói rằng ông ở Hải Phòng?

Nếu nguyên quán như vậy thì ông Thiện đã ở Hải Phòng trong khi ông Vô Danh sinh sống ở Hà Nội, bị bắt cũng ở Hà Nội và bị đưa đi cải tạo trên rừng núi. Sau khi được thả, ông Vô Danh phải trở về nguyên quán ở Hà Nội để công an phường và quận quản chế, để rồi bị bắt trở lại bất cứ lúc nào. Thường thì tù nhân được thả về đều buộc phải về nguyên quán để công an địa phương quản chế ít lắm là một năm trước khi trả quyền công dân. Ông Thiện nói đi tù về tội làm thơ chống Cộng. Ông Vô Danh không nói như vậy. Trình độ có học thức và là người Bắc thời đó, khiến ông Vô Danh phải nói rằng bị tù vì chửi Cộng sản, hoặc làm thơ chửi Cộng sản. Công an cũng chỉ khép tội bất mãn chửi bậy hay nói bậy, vì nếu nói tội chống Cộng, chống Đảng, chống chính quyền... thì đều bị coi là phản động, phản cách mạng và có thể bị tử hình hay bị tra tấn cho đến chết để cung khai đồng lõa.

Giả thử ông Thiện nói rõ cha mẹ anh em ông và địa chỉ ở Hải Phòng thì người ta rất dễ dàng truy ra manh mối rằng trong 27 năm gọi là tù, thì ông Thiện có ở tù thật không? Nếu nói dịch sách báo Anh Pháp ngữ năm 1964-1965-1966 thì, xin lỗi ông Thiện, chỉ có Cục Phản Gián mới cần tay nghề loại này. Công an thường thì dốt như vịt, chữ nghĩa đâu mà Anh văn với Pháp văn? Những năm 1964 đến 1975, miền Bắc căng thẳng tột độ vì cao điểm đánh Mỹ ở miền Nam và Mỹ oanh tạc miền Bắc, dân thường làm gì có sách vở báo chí ngoại ngữ để cho ông Thiện dịch? Tù được thả về nhà, bị quản chế, thì ai cho dịch đồ quốc cấm tức là sách báo ngoại ngữ? Cái vụ dịch Anh Pháp văn chỉ là thủ đoạn mập mờ ra cái điều ông Thiện chính là thi sĩ Vô Danh biết Anh Pháp ngữ rành rõi.

Tất cả miền Bắc không ai chống Cộng vì chống không nổi với mạng lưới công an dày đặc. Chống không nổi thì họ chửi. Về môn chửi nhất là chửi Cộng sản thì người Bắc thâm thúy, tinh ranh số một. Họ chửi bằng vè, bằng thơ, bằng chuyện tiếu lâm, bằng chuyện khôi hài đen... làm cho Cộng sản tức điên người. Có lẽ người miền Bắc và cả người miền Nam sau này, đều giải trí bằng những chuyện khôi hài tiếu lâm để chửi Cộng sản một cách sâu xa, cay độc. Hồ Chí Minh khi còn sống đã ghét cay ghét đắng dân Bắc Kỳ. Hồ và Giáp xua lính người Bắc đi trước xung phong biển người cho chết hết. Người khu Tư hay lính Tam Phủ Thanh Nghệ Tĩnh, phần nhiều là đảng viên nòng cốt của chế độ, thì được đi sau để nhận công lao chiến thắng.

Tất cả những lý lịch mà ông Nguyễn Chí Thiện tự khai về mình vẫn chỉ là một chiều, và rất sơ sài, không thể kiểm chứng. Ông Thiện nói vậy thì chúng ta biết vậy. Nhưng chúng ta có thể nhận định qua những lời khai lý lịch của ông Thiện để phối kiểm, so sánh với trình độ và thời gian làm thơ của ông Vô Danh. Ta cũng có thể đọc thơ của ông Nguyễn Chí Thiện, tập thơ Hoa Địa Ngục tập số 2 hay là Giọt Máu Thơ thì ta thấy quá trình quá khứ của ông Thiện rõ như ban ngày! Tập thơ này hoàn toàn đối nghịch và khác hẳn với tập thơ Vô Đề của ông Vô Danh, thường được gọi là Hoa Địa Ngục I, về lối làm thơ, về nội dung thơ, về ý thơ, và về thủ đoạn xảo trá bịp bợm trong thơ của cán bộ cộng sản.

Nếu ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 mà lại đậu Tú Tài (không nói rõ là toàn phần nhưng nói tốt nghiệp trung học và Tú Tài) năm 1955 khi ông có 16 tuổi! Đây là một chuyện khá phi lý vì những ai có đi học trong giai đoạn này đều hiểu rằng riêng năm 1946-1947 với chiến tranh chống Pháp phát động, hầu như tất cả mọi người đều mất ít nhất là một năm học. Rồi đến năm 1954-1955. Việt Minh tiếp thu Hà Nội và Hải Phòng, mọi người lo di cư, lo đủ thứ, các trường phần lớn giáo sư, giáo viên di cư, học hành loạc choạc... làm sao thi? Ông Nguyễn Chí Thiện có thể là thần đồng nhưng thời đó không ai nghe thấy tên "thần đồng Nguyễn Chí Thiện" mới 16 tuổi đã "tốt nghiệp Trung học. Ông Thiện cũng nói ông đậu Tú Tài nhưng ông Thiện không biết rằng thời đó có những 2 bằng Tú Tài, phần I và II, phải thi trong 2 năm đậu liền mới đủ, mới có tên lên đại học. Nhiều người đã phải thi nhiều lần trong nhiều năm và vẫn trượt vỏ chuối đều đều. Ông Thiện cũng không nói rõ thời gian từ 1945 đến 1955 ông ở đâu? Ông Thiện chỉ nói rằng năm 1956, ông và gia đình xuống Hải Phòng cư ngụ. Vậy thì ông Thiện nên cho biết địa chỉ cư ngụ ở Hà Nội và Hải Phòng.

Có lẽ Cục Phản Gián toàn những tay ít học, chẳng hiểu rằng có hai phần Tú Tài, phần I và II, với tuổi tương xứng để thi đậu (ít hất là 18, 19 hay 20, nên khi dàn dựng chuyện này đã không tính đến vấn đề tuổi tác và cả Bắc Kỳ hồi đó (1955) không có thí sinh Tú Tài nào, mới có 16 tuổi, lại đậu cả 2 phần Tú Tài vào năm 1955! Nếu tính mất đi một niên học năm 1946-1947 thì ông Thiện quả là thần đồng học và thi đậu Tú Tài Toàn Phần năm 16 tuổi, bằng... tưởng tượng của cán bộ phản gián dốt nát, vô học!

Một lý đoán khác về tác giả thơ Vô Đề là vào năm 1980, khi cần phải có một tác giả tập thơ Vô Đề còn sống, vì nói chết rồi thì thật khó ăn khó nói, nên Cục Phản Gián đã chọn một cán bộ có trình độ kha khá, biết chút ít ngoại ngữ, đứng ra nhận mình là tác giả tập thơ. Sự nhận vơ như vậy để tiện nhận quà, nhận giải thưởng, thư từ cảm tình từ khắp thế giới gửi về Hà Nội, mà không bị mang tiếng đã giết chết nhà thơ Vô Danh, một nạn nhân Cộng sản, đã được cả thế giới ngưỡng mộ.

Một vài người và cán bộ đã được phép tiết lộ khéo với hải ngoại là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục tên là như vậy và hiện đang sống và đang ở tù cùng với chúng tôi. Bằng chứng là... ông này có ngâm thơ Hoa Địa Ngục trong nhà tù Thanh Liệt! Cũng do sự tình cờ ông tác giả thơ Hoa Địa Ngục Nguyễn Chí Thiện cũng được giam ở Thanh Liệt và gần phòng giam ông Võ Đại Tôn, với các ông Trần Nhu, Minh Thi... Rồi cũng lại tình cờ ông Trần Nhu và ông Minh Thi được đi Mỹ và làm chứng rằng ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ, còn sống, và đã ở tù chung...

Nhờ ngâm thơ Vô Đề chống Cộng trong tù mà nhận ra nhau là những anh hùng, chiến sĩ văn nghệ, và nhận ra luôn cả Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề, trong khi chưa ai khảo về cái tài làm thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Người Việt hải ngoại vội đặt cho ông Thiện cái tên ngục sĩ cũng khá đúng vì ông tự nhận có những 27 năm trong tù (chưa kiểm chứng). Nhưng chưa ai biết ông Thiện có tài làm thơ thật hay không? Ông Thiện cũng kỹ càng chu đáo khi cố gắng chụp ảnh chung với các tù nhân thứ thiệt, các tù nhân biệt kích hoặc sĩ quan quốc gia trước năm 1955, những cái tiểu xảo này làm sao che được sự thật của một tập bài viết quê mùa, ngớ ngẩn đầy khoe khoang của một cán bộ công an cấp cao!

Nếu chỉ có vậy và thi sĩ giả của tập thơ cứ ở yên miền Bắc cho đến ngày nay thì không sao, không ai cần để ý. Nhưng Cục Phản Gián không ngờ sẽ có ngày người Mỹ lại yêu cầu phải thả tác giả tập thơ và cho đi Mỹ...

Mọi toan tính do đó phải chuyển sang hướng khác: nên cho đi Mỹ hay không cho đi Mỹ? Nếu không cho đi Mỹ thì phiền vì Mỹ có thể lấy lý do đó mà cứng rắn vấn đề nhân quyền, bang giao và tối huệ quốc. Vậy nên cho đi Mỹ thì có lợi hơn. Có thể dùng cái uy tín tác giả tập thơ vào nhiều mục đích tuyên vận, chính trị, thu hút người Việt hải ngoại, được tiếng khen là tôn trọng nhân quyền, và điều cần nhất có thể được người Mỹ ban cho qui chế tối huệ quốc đáng giá hàng trăm tỷ đôla và đó là sự sống còn của toàn Đảng, toàn chế độ! Một vốn, một nghìn lời như vậy thì ai mà không ham? Vả lại giữ vị thi sĩ rổm này ở lại trong nước cũng chẳng có lợi gì hơn. Đàng nào thì thi sĩ thật đã đi khai hội với giun và ngâm thơ cho dế nghe từ lâu...!

Cục Phản Gián nghĩ rằng có thể qua mặt người Mỹ dễ dàng! Cục Phản Gián nghĩ rằng cứ gửi thi sĩ thơ Hoa Địa Ngục ra hải ngoại là sẽ được đủ thứ lợi lộc đáng giá hàng trăm tỷ đôla mang về... Ngoài ra thi sĩ Hoa Địa Ngục còn có thể hoạt động trong mục đích tuyên vận, dân vận, lối kéo người hải ngoại vào một khối đòi nhân quyền, đòi hòa giải hòa hợp với Vẹm, đòi Cộng sản phải cho dân chủ và nhân quyền... Như thế mọi hình thức tranh đấu hay chiến đấu bạo động nhằm tiêu diệt Cộng sản sẽ phải nhòa, nhạt dần và hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Ý chí cương quyết chiến đấu chống Cộng cũng phai nhạt luôn. Người Mỹ tự nhiên sẽ thấy không còn ai tích cực chiến đấu tiêu diệt Cộng sản ở hải ngoại!

Nhưng Cục Phản Gián không ngờ đến ván bài tháu cáy của người Mỹ đã không sửa soạn gửi đại sứ hay cho qui chế tối huệ quốc! Người Mỹ không cần biết ông Nguyễn Chí Thiện là ai? Gốc gác ra sao? Và có phải là thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I) hay không? Chính khách Mỹ và KIA, FBI ở Hoa Thịnh Đốn chẳng ai cần phải đọc hay ngâm thơ Hoa Địa Ngục. Người Mỹ sửa soạn trước để đưa ông Thiện ra trước Hạ Viện điều trần về tội không có nhân quyền của Cộng sản Hà Nội.

Người Mỹ chỉ cần biết ông Nguyễn Chí Thiện đã thể hiện hay là bằng chứng sống của một nạn nhân cộng sản, đại diện cho toàn thể nạn nhân Cộng sản tại Việt Nam, với 27 năm tù không xử án, không tội tình gì rõ rệt. Ông Nguyễn Chí Thiện đã trở thành bằng chứng hùng hồn nhất để tố cáo tội ác Cộng sản. Ngày 8/11/1995, hay là chỉ 8 ngày sau khi đến Hoa Kỳ, ông Thiện đã được đưa ngay ra Hạ Viện Mỹ điều trần về nhân quyền tại Việt Nam dưới chế độ Cộng sản cùng với vợ Đoàn Viết Hoạt là Trần Thị Thức, ông Trần Tử Thanh. Võ văn Ái và Lại Thế Hùng tưởng bở cũng bay từ Pháp sang tham dự.

Nhưng Cộng sản Hà Nội và bọn cán bộ tay sai không ngờ là cuộc điều trần đã được xử dụng để mang lại phản ứng ngược: không đại sứ và không có qui chế tối huệ quốc. Gần một tháng sau, ngày 6/12/1995, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ thông qua dự luật HR4076 ngăn chận mọi ngân khoản đài thọ lương ông đại sứ và tiền bạc chi tiêu tại tòa Đại Sứ cao hơn mức hiện hữu.

Ta có thể phỏng định người Mỹ đã biết tác giả Hoa Địa Ngục không phải là người "thật", cũng như mặt trái những tên cán bộ rêu rao nhân quyền hòa giải hòa hợp bất bạo động, nhưng họ cứ xử dụng theo đúng nhu cầu của họ. Xử dụng xong cho đạt mục đích của họ rồi thôi... Họ chẳng tốn tiền tốn công xây dựng cò mồi. Họ mượn luôn cò mồi. Họ mượn luôn cò mồi của Vẹm để đánh lại Vẹm cũng bằng... nhân quyền! Dù sao thì ông Nguyễn Chí Thiện và bản điều trần của ông đã có hại cho Cộng sản. Cộng sản tưởng cho ông Thiện đi Mỹ là được qui chế tối huệ quốc. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Người viết bài này đã từng viết bài khen ông Thiện về cái điểm nhân quyền bất lợi cho Cộng sản. Rồi một năm đã qua đi, đến cuối năm 1996, vẫn chưa thấy tăm hơi ông đại sứ Mỹ (Peterson) đến Hà Nội. Có lẽ phải sang năm 1997 chăng? Mà giả thử có ông đại sứ Mỹ thì cũng không mấy hi vọng được quan hệ kinh tế bình thường (danh từ mới của qui chế tối huệ quốc) vì từ cuối năm 1996 sang 1997... kinh tế của Việt Cộng đã thâm thủng mậu dịch hơn 4 tỷ đôla và áp lực lạm phát trở nên nặng nề...



* * *



Cuối năm 1956, khi Hồ Chí Minh phải sửa sai về vụ đấu tố cải cách ruộng đất đã giết khoảng nửa triệu người, Bộ Chính Trị hội với Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi bàn bạc nên mở cuộc thanh trừng văn nghệ sĩ bất mãn đã bắt đầu nhen nhúm trong thơ văn của họ. Bắt chước Trung Cộng trong chiến dịch Trăm Hoa Đua Nở, Hồ và Việt Minh cũng đưa văn nghệ thi sĩ vào trong cuộc đấu tố Văn Hóa bằng cái bẫy trăm hoa đua nở. Các văn nghệ sĩ tha hồ muốn viết gì thì viết, muốn phê bình cái gì thì phê bình... Để rồi Cộng sản dùng ngay những bài viết làm bằng chứng để cho đi cải tạo.

Sau này người ta gọi vụ đấu tố văn hóa thanh lọc văn nghệ sĩ do bọn văn nô phản gián Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... chủ trương là vụ Nhân Văn Giai Phẩm...

Vì ông Vô Danh làm thơ chế diễu, lôi bộ mặt thật đểu cáng và tàn bạo của tập đoàn Hồ Chí Minh nên chúng tức điên người. Chúng không giết ông, nhưng cho giam để hành hạ ông cho bõ ghét, cho đến khi ông Vô Danh phải mềm nhũn cả tư tưởng lẫn thể xác và phải cúi đầu van lạy, cam chịu với sự hối hận, tự phê, phản tỉnh! Bài thơ này tả Cộng sản:

Là quỷ? Là ma? Là thú dữ?

Gian manh, tàn ác, đê hèn...

Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân đen,

để gọi chúng người ta không đủ chữ!



Ta thấy ông Vô Danh hiểu rằng trong tình cảnh tuyệt vọng của ông, chỉ có cái chết là lối thoát duy nhất. Dù được ra khỏi tù, ông vẫn bị quản chế như tù giam lỏng, tên tuổi vào sổ đen, có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thật không có cái chế độ nào trên thế giới tàn ác như Việt Cộng. Chúng giam tù đày đọa người Việt không cần phải có tội, cũng không cần luật pháp xét xử. Nạn nhân sau khi được thả, thả chứ không tha, vẫn bị quản lý và quản thúc tại gia, vẫn bị ly cách và phân biệt đối xử với xã hội quanh mình, sống trong hồi hộp lo sợ thường xuyên vì có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Sự hồi hộp, lo sợ, phập phồng cùng với sự xa lánh của người trong xóm, người thân, vì không ai dám trò chuyện thăm hỏi mình, làm cho nạn nhân bị căng thẳng thần kinh, tâm não, đến mức chỉ có cái chết mới ra khỏi các cực hình về mọi mặt, cả vật chất lẫn tinh thần.

Ông Vô Danh nói rất đúng vì không có chữ gì có thể diễn đạt rõ ràng đầy đủ về sự tàn ác không tên và vô hình của Cộng sản. Ta có thể nói rằng ông Vô Danh cũng như hàng triệu nạn nhân Cộng sản khác đã bị cả một guồng máy công quyền khổng lồ, guồng máy công an và chính phủ, (thay vì phục vụ nhân dân), đã đè nặng trên mỗi người dân và nghiến nát họ tới mức họ phải tìm cái chết mới có sự giải thoát!

Tác giả có một người quen, vì dễ tính nên đã ở lại Hà Nội năm 1955, không đi di cư vào Nam. Anh này thì Tú Tài I bảy lần, đến lần thứ 7, năm 1954 mới đậu. Anh ta cho rằng nhờ cụ Hồ và Việt Minh thắng nên anh ta mới có vận may, nên quyết định không di cư. Sau này anh ta kể lại, vì cái bằng Tú Tài nên bị coi là thành phần trí thức, bị đưa về một làng nghèo khổ để bị quản chế tại đó trong 8 năm trời, để lao động, nuôi lợn, nuôi gà, chăn bò, sống chung với bò, lợn qua ngày. Cộng sản gọi đó là tam cùng, cùng ăn cùng làm, cùng ở với bần cố nông để giáo dục cải tạo anh ta. Dù anh ta có thiện chí theo Việt Minh, quá trình học lực Tú Tài đã khiến cho anh ta bị liệt vào thành phần trí, phú, địa, hào và cần phải được quản lý, lao động cải tạo.

Nguyễn Tuân trước khi chết đã phải nói: Tôi được sống đến ngày nay là do tôi biết sợ..., biết sợ cả cái bóng của tôi! Chỉ một câu này đủ nói lên sự kinh hoàng của tất cả mọi người dân đối với chế độ khủng bố công an trị cộng sản!

Ông Vô Danh có thể bị tù vào năm 1957 hay 1958 trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cùng với những người khác như Phan Khôi, Trần Dần và hàng trăm người ít tên tuổi hơn... Rồi ông được ra tù, không biết vào năm nào. Ra tù, ông Vô Danh bị quản chế tại nhà, một căn gác nhỏ vùng Hà Nội, có một cha già đã ở tuổi hưu trí và mẹ ông, hai mắt đã lòa, vì cao tuổi, vì khóc lóc ngày đêm thương nhớ, lo lắng cho đứa con độc nhất. Ông Vô Danh ra tù rồi bị bắt lại, tù lại, cứ như vậy trong 20 năm...

Bài thơ Thư Nhà tả cảnh cha mẹ ông trông ngóng đứa con độc nhất đang bị tù:



Đã lâu rồi, không nhận được thư con
Mẹ, thầy mong tin con quá

Thầy kể qua cho con rõ cảnh nhà

Mẹ bây giờ hai mắt như lòa

Hôm sớm trong nhà quanh quẩn!

Thầy gần như lẩn thẩn

Bước đi đờ đẫn run chân

Viết phong thư phải nghĩ tới dăm (năm) lần

Mong con về đỡ đần chăm sóc!

Nghĩ tới con, mẹ thầy lại khóc

Không biết con còn ở nơi trại cũ

Hay là đã chuyển đi đâu?

Mẹ vẫn nguyện cầu

Cho con được bình yên, không ốm yếu

Nhận được thư này con liệu
Viết về, thầy mẹ đợi tin con...!

Ôi, xưa cũng vì con còn trẻ dại
Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải



Như vậy, ta có thể ước lượng vào năm 1967, cha ông Vô Danh đã khoảng tuổi hưu trí, trên hay dưới 65, và ông Vô Danh ở khoảng tuổi trên 40. (Ông Thiện lúc này mới có 28 tuổi). Mẹ ông Vô Danh đã bắt đầu lòa và bà cụ mất khoảng 3 năm sau (1970) khi viết lá thư này. Nếu ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ lâu thì đến năm 1979, khi ông đưa tập thơ vào tòa đại sứ Anh, thì ông đã mỏi mòn, kiệt sức, kiệt quệ tới mức tận cùng.

Coi bài thơ, ta thấy gia đình song thân ông Vô Danh chỉ có một đứa con duy nhất và đã bị tù, không có người hầu hạ săn sóc. Song thân ông đã chỉ mong ông Vô Danh phấn đấu học tập tốt, thi đua lao động tốt để mau được về với gia đình, hi vọng được gặp con trước khi chết. Cái lo của ông Vô Danh và song thân ông là làm sao có thuốc chữa lao Rimifon và được thả về với cha mẹ sớm, không phải lo rằng không có giấy vệ sinh!

Một bài thơ khác, ông Vô Danh ở trong tù thương nhớ cha mẹ và ân hận thân mình bị tù không được sống gần cha mẹ. Bài thơ này cũng chứng tỏ ông là con một. Gia đình bé nhỏ của ông Vô Danh là một gia đình đạo đức, phúc đức. Có lẽ nhờ phúc đức lớn này mà ông Vô Danh được sinh ra để chịu đọa đày chung với toàn dân tộc, để có thể, từ cảnh đọa đày này, làm nên những vần thơ kỳ diệu tố cáo tội ác Cộng sản cho nhân thế, cho nhân loại và cho lịch sử ngàn đời sau. Nhiệm vụ xong, sứ mệnh cuối cùng của ông là đưa tập thơ vào tòa đại sứ Anh, xong rồi ông chờ cái chết đến càng nhanh càng tốt, để chấm dứt cuộc đời cô đơn, vì song thân của ông đã mất, trầm luân bệnh hoạn và tuyệt vọng, trong và ngoài ngục tù Cộng sản.

Bài thơ nhiều đoạn dưới đây tả nỗi lòng ông mong nhớ song thân.

Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp
Thường ngồi chắp tay cầu khẩn giờ lâu

Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu

Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái!
Đời của tôi nhiều khổ đau oan trái

Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi,

Đứa con trai tù tội mấy phen rồi!

Hàng nước mắt chảy giòng trên má mẹ!

Ngồi bên mẹ, tôi thấy mình nhỏ bé

Tình thương yêu của mẹ lớn bao nhiêu?

Mẹ ơi, con lòng chỉ nguyện một điều:



Một bài thơ khác năm 1968 ông Vô Danh tả về song thân ông, mà ông không biết ra sao, còn hay mất?:



Có người mẹ gầy nhom mắt lóa gần lòa
Có người cha quá già, quá yếu!

Có người con bất hiếu là tôi,

hết tù lại tội!

Bệnh ốm không nuôi nổi thân mình...

Ôi người mẹ nặng tình yêu dấu!

Ôi người cha hiểu thấu lòng con!

Còn hay mất?

Ngày con đầy bụi đất trở về căn gác!

Lá rụng xào xạc canh khuya...

Bóng cha già gầy guộc đứng kia...

Phất trần nhẹ đưa, lặng lẽ...

Trên bìa sách bụi bàn con

Bóng mẹ già sầu muộn héo hon
Quờ tay rờ mó nạm tóc củ gừng đánh gió lưng con!

Chiều âm thầm lạnh tắt trên non...

Không còn được nữa,

Những tình xưa thương mến vô vàn!

Gió núi mưa ngàn, lạnh buốt

Rau rừng ngoạm nuốt thân trâu,

Kiếp sống về đâu?

Bốn phía sậy lau một màu hoang xám

Đi về những đám tang câm
Trong ly tán thương tâm!

Chết chóc âm thầm...

Con vẫn nuôi mầm mơ ước

Xoay vần thuở trước xa xăm!

Mịt mù trời đất tối tăm

Mẹ thầy sống được bao năm trên đời?



Đến năm 1970, ông Vô Danh ở trong tù, nghe tin mẹ ông đã chết:



Mẹ ơi! Mẹ đã mất rồi!
Trái đất không còn có mẹ !

Mẹ chẳng bao giờ còn thấy mặt con...

Còn khóc nữa!

Con chẳng cần ra tù nữa



Mẹ già của ông Vô Danh, hai mắt đã lòa, vẫn còn hi vọng được thấy người con trở về để nhìn mặt. Nhưng bà đã không được thấy mặt con khi lìa đời. Ông Vô Danh nghĩ rằng nếu cha ông cũng chết thì đời ông sẽ hết cả lẽ sống và có lẽ ông không cần ra tù nữa. Sự kiện thấy hay không thấy mặt nhau trước khi một người thân chết đã trở thành bi thảm, đã trở thành thể hiện của tội ác bạo tàn cộng sản. Ông Vô Danh cũng hiểu là cho đến khi ông chết, sự kiện không được thấy mặt Mẹ ông lần chót, và Bà không được thấy mặt con khi bà lìa đời, đã trở thành một mối hận ngàn thu!

Năm 1976, ông Vô Danh lại khăn gói vào tù lần nữa, nhưng lần này song thân ông đã mất, chẳng còn ai trông mong ông trở về. Bài thơ dưới đây tóm tắt cảnh đi tù ngày trước khi cha mẹ ông còn sống, cho đến khi hai người đã khuất, và ông cứ vẫn tiếp tục vào tù...



Lòng vẫn nhớ làm sao cái ngày lạnh đói!
Hành trang một gói lên đường,

Giữa quãng đêm trường rời bỏ quê hương,

Rời bỏ gia đình, tình thương đứt ruột!

Thôi rồi, đời đi suốt từ đây!

Vĩnh biệt từ đây!

Vĩnh biệt!



Ông Vô Danh chua sót vì trong cảnh tù tội, lẽ sống của ông là cha mẹ già, và hi vọng một ngày nào đó được ra khỏi tù trở về thăm cha mẹ. Trong cuộc sống đen tối và tuyệt vọng trong ngục tù, ông khóc và cầu xin Trời Đất cho ông một niềm vui cuối cùng là một mùa Xuân nào đó ông được ra khỏi tù, không phải vì mừng được tự do, mà vui vì được gặp lại cha mẹ đã quá già yếu, có thể lìa đời trước khi ông được thả! Nhưng cha mẹ ông đã chết trước khi ông được thả. Để rồi lần sau bị bắt tù lại, ông không còn cha mẹ để trông ngóng ngày đúa con tù tội trở về!

Ông Nguyễn Chí Thiện oai hơn nhiều. Ông Thiện nói rằng trước khi đi Mỹ, ông có đến thăm mộ cha mẹ và thề rằng sẽ chiến đấu chống Cộng sản đến cùng. Nhưng khi mới đến Hoa Kỳ ngày 1/1/1995, tại sân bay San Francisco, ông Thiện tuyên bố với cô phóng viên Đỗ Mùi khi được hỏi: Ông sẽ làm gì khi ông đến Hoa Kỳ? Dự định của ông là gì?

Đáp: Việc đầu tiên của tôi là chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh rồi, công việc phải thực hiện ngay là tiếp tục chống lại cái ác. Tôi không hận thù ai, nhưng tôi cho là công lý chống lại tội ác là nhiệm vụ con người phải làm.

(Trong những dịp ra mắt khác tại San José và quận Cam, ông Thiện luôn luôn nhắc lại rằng ông chỉ chống cái ác, mà không đả động gì đến chống Cộng hay chiến đấu chống Cộng. Ông Thiện cũng không chống Cộng dù Cộng sản đã bỏ tù ông những 27 năm. Ông Thiện Không căm thù Cộng sản, Không chống Cộng, thì có lẽ ông Thiện chưa bao giờ ở tù Cộng sản! Ông Thiện chơi chữ với ngụ ý hễ Cộng sản hết ác thì chúng là người thiện, thành người quốc gia và người Việt hải ngoại nên hòa hợp đoàn kết hợp tác với chúng. Một ngụ ý khác, nếu ông Thiện là công an thì nghề của ông là chống tội ác. Trong chế độ Cộng sản, hễ chống Cộng hay chửi Cộng, cũng đủ là tội ác rồi!)

Hỏi: Ông sẽ làm gì (tại Hoa Kỳ)?

Tôi làm với khả năng của tôi. Người ta cứ bảo chúng ta đừng nên dùng bạo lực. Nhưng lấy đâu ra bạo lực mà dùng? Cứ bảo là chúng ta nên hòa hợp trong lúc họ cưỡi lên đầu tôi, mà tôi là kẻ nằm dưới. Họ nằm trên vỗ xuống mà cứ nói chuyện hòa hợp. Muốn hòa hợp thì hai người phải ngồi ngang nói chuyện... Họ đang cưỡi trên cổ tôi, bịt mồm tôi, nhét tai tôi, thì làm sao nói chuyện hòa hợp được?

Cô Đỗ Mùi hỏi: Hiện nay ông bị bệnh lao phải không?

Đáp: Không, tôi không bị ho lao. Tôi chỉ bị thần kinh suy yếu, yếu thần kinh và không ăn không ngủ được. Vì vậy tôi rất yếu.

Ngày 19/11/1995, tại trung tâm Eden, thành phố Falls Church, Virginia, ông Thiện họp mặt với hơn 150 văn thi hữu ký giả và chủ tịch các hội đoàn để chào mừng nhà thơ bất khuất!

Ông Thiện đã được đón tiếp bằng những tràng pháo tay khi vừa xuất hiện nơi cửa vào. Ông Chử Bá Anh, chủ tịch Hội Báo Chí đã đưa ông đến từng bàn để chào và cảm tạ từng người. Sau bài nói chuyện và trả lời các câu hỏi, ký giả Thái Phong nhận định rằng Nguyễn Chí Thiện không những là một thi sĩ mà còn là một nhà hùng biện.

Cụ Phạm Ngọc Lũy nói rằng Nguyễn Chí Thiện là một con người đầy can đảm. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng: Đây là một người có thực tài. Nhà báo Nguyễn Việt Quang: Nay người Việt Hải Ngoại đã có được biểu tượng. Hội Y Sĩ Việt Nam xin cử bác sĩ săn sóc sức khỏe cho cựu tù nhân Nguyễn Chí Thiện. Cựu đề đốc Đinh Mạnh Hùng: Chúng ta có trách nhiệm giúp Nguyễn Chí Thiện tiếp tục con đường anh đã đi. Nhà văn Sơn Tùng, chủ tịch Văn Bút Miền Đông: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện góp sinh khí mới vào giới cầm bút hải ngoại. Nhà phê bình Trương Vũ: Nguyễn Chí Thiện (là) con người chân tình. Nhà văn Cao Thế Dung: Trước đây tôi hoài nghi, nhưng hôm nay đúng là thật. Đại tá Nguyễn Cao Quyền, chủ tịch Hội Tù Nhân Chính Trị: Chúng tôi sẽ lo cho anh Thiện... Đài VOA: Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là thiên tài còn sống của Việt Nam...

Các vị trên đây phát biểu quá sớm. Có lẽ không mấy người sinh sống đã lâu ở Hoa Kỳ hiểu mưu mô thâm độc của Cộng sản. Có lẽ họ chưa có dịp so sánh hai loại thơ khác nhau của hai tập, tập thơ Vô Đề và tập Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Nhưng từ lúc xuất bản tập thơ số 2, Hạt Máu Thơ, tháng 4.1996, đến nay, hình như chưa có vị nào dám khen thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Cũng không ai có thì giờ so sánh tính chất và loại thơ của hai tập thơ. Có lẽ không mấy người có thì giờ đọc thơ chăng? Cũng có thể nhiều người đã đọc tập Hạt Máu Thơ và đã thấy cái gì thum thủm, đã biết, nhưng né tránh vì chính họ đã nặn lên thần tượng thì làm sao nói ngược lại, dù là nói lên sự thật?

Cũng trong ngày 19/11/1995, ông Thiện phát biểu một câu rất hay, có thể nói là tự đáy lòng ông thốt ra. Chính câu này (đoạn đầu) đã làm cho nhiều người kể cả người viết bài này, có cảm tình với cá nhân ông Thiện. Tuy ông Thiện vẫn trân trọng gọi Hồ Chí Minh là "ông Hồ, bác Hồ", có lẽ do thói quen chăng, nhưng thi sĩ Vô Danh thẳng tay gọi Hồ là "nó", là "quỷ, ma, thú dữ, đồ chó đẻ, gian manh, tàn ác, đê hèn...".

Ông Thiện nói:

... Tôi có một điều day dứt mà bấy lâu không bộc lộ được là có một số người nói chuyện hòa hợp, hòa giải với Cộng sản, tức là hòa hợp, hòa giải dân tộc. Trò này thì Cộng sản đã nói từ năm 1945. Từ năm 1945, Hồ Chí Minh đã hô hào hòa hợp, hòa giải. Ông Hồ kêu gọi các nhà tư sản có tiền thì giúp tiền, có vàng thì góp vàng. Các điền chủ phú nông có lúa, có ruộng thì giúp vào để kháng chiến. Tất cả cùng đứng lên đánh Pháp, nhưng sau đó tư sản và địa chủ đều bị thanh toán, họ chết dần mòn trong ngục tù, tài sản ruộng đất thì bị tước đoạt. Trong suốt quá trình 50 năm qua lúc nào người Cộng sản cũng kêu gọi hòa hợp hòa giải, nhưng trên thực tế thì họ chẳng có hòa hợp hòa giải với ai cả! Điều này thì chắc các bạn đã đều biết rất rõ. Nhưng tôi phân vân, không hiểu tại sao có một số người Việt ở hải ngoại lại đi hô hào cho việc hòa hợp hòa giải?

Đó là đoạn đầu. Đoạn tiếp theo thì khác hẳn:

Về bản chất thì Cộng sản không bao giờ có thể hòa hợp với chúng ta được. Vì điều kiện đầu tiên để hòa hợp là phải bình đẳng. Bình đẳng có nghĩa là phải đa nguyên đa đảng, cùng nhau bàn luận chuyện xây dựng đất nước. Chỉ khi nào Cộng sản chấp thuận dân chủ đa nguyên thì chúng ta mới có thể bỏ qua những tội ác của họ và mới có thể nói đến chuyện hòa hợp, chung lưng chung sức xây dựng lại đất nước Việt Nam chúng ta.

(Ông Thiện ở trên thì nói không thể hòa hợp với Cộng sản. Đoạn tiếp theo thì ông Thiện đã quay sang hướng khác, là nếu Cộng sản chấp nhận bình đẳng, dân chủ, đa nguyên đa đảng thì chúng ta mới có thể bỏ qua tội ác của họ (Cộng sản) và mới có thể nói đến chuyện hòa hợp, chung lưng chung sức (với Cộng sản) xây dựng lại đất nước Việt Nam).

Vào cuối tháng 11/1995, người viết bài này nghe tin mặt trận (KC) ma tổ chức cho ông Thiện đi qua California, Texas để ra mắt thì vấn đề nghi ngờ ông Thiện không phải là Thi Sĩ Vô Danh tác giả tập thơ Vô Đề được đặt ra. Sự nghi ngờ bắt đầu ngay khi ông Thiện trả lời rằng không có bệnh lao nhưng phải đến khi mặt trận kháng chiến quốc doanh tổ chức và bao vây lối độc quyền ông Thiện thì được đặt thành vấn đề. Vì có nhiều kinh nghiệm với các thủ đoạn bịp bợm của Cộng sản, nên người viết hiểu rằng Cộng sản lại bịp nữa.

Giả thuyết Cộng sản cho cán bộ phản gián cấp tướng làm thi sĩ giả đi Mỹ sau khi đã được huấn luyện kỹ càng về cách thức nói chuyện, diễn thuyết, kể cả học năm ba câu tiếng Anh, tiếng Pháp, với một tập thơ quốc doanh do cán bộ nhà nước làm sẵn để làm vốn... là chuyện vẫn có thể xảy ra. Có điều cán bộ phản gián làm việc cẩu thả dốt nát, và sơ hở hớ hênh rất nhiều. Người ta chỉ cần nhẩn nha chờ đợi khoảng một năm sau là lòi đuôi Vịt Vẹm ra cả lũ.

Cộng sản đương nhiên phải tạo dựng một người khác thay thế để khỏi mang tiếng ác và nếu có dịp, làm món quà trao đổi. Dịp may đã đến khi đại tá Matsuoka bảo lãnh cho ông Thiện với sự trợ giúp của mặt trận ma ở phía bên kia. Ta nên lưu ý, mặt trận ma đã gửi cho ông Thiện khoảng 4 ngàn đôla (8 lạng vàng) ngay khi ông Thiện còn ở Hải Phòng, chưa đi Mỹ.

Lý do ông Thiện bị bao vây, canh gác và bảo vệ kỹ lưỡng vì lý do kinh nghiệm trong quá khứ, nhiều văn nghệ sĩ hay thành phần thứ ba, cựu công chức, quân nhân VNCH, đã bị cài hoặc bắt phải ký giấy cam kết, trước khi cho đi Hoa Kỳ, hoạt động tuyên vận, địch vận, dân vận, phản gián..., phần lớn đã đến thẳng cơ quan FBI hoặc các cơ quan Mỹ khác để khai báo rõ rệt mọi âm mưu của Cộng sản. Một số lớn đã thoát hẵn ra ngoài vòng kiềm tỏa của Cộng sản. Một số nhỏ trở thành mật báo viên cho FBI về các chỉ thị, tin tức hoạt động Cộng sản tại Bắc Mỹ Châu. Do đó ông Thiện bị bao vây kỹ càng để không có dịp tiết lộ bí mật chăng? Có người lo lắng nơi ăn, chốn ở, lịch trình đi các nơi và tổ chức hoạt động nói chuyện, diễn thuyết theo đúng kiểu... rèn cán chỉnh quân, xách động quần chúng của Cộng sản!

Ngay sau khi đài BBC đọc những bài thơ Vô Đề thì ở vùng Hà Nội người dân biết ngay là thi sĩ Vô Danh đã chết. Rồi sau đó, năm 1980 hay 1981, tự nhiên "mọc ra" câu chuyện Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ nổi tiếng và bất hủ đó. Người bạn tù của ông Nguyễn Chí Thiện là ông Trần Nhu được ra khỏi tù và đi lọt qua Mỹ xác nhận như vậy. Rồi sau này đến ông Minh Thi cũng cùng một luận điệu. Dĩ nhiên chẳng ai có thể kiểm chứng sự thành thật và quá khứ của các ông Trần Nhu và Minh Thi. Rồi câu chuyện xoay quanh vấn đề ông Thiện là thật hay giả?, không phải vấn đề ông Thiện là thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề hay mạo nhận?

Ông Nguyễn Chí Thiện bằng xương bằng thịt thì chắc chắn là người thật rồi, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939, nhưng tại Hải Phòng hay Hà Nội thì cũng khó kiểm chứng. Nhưng có thiệt ông Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề hay không thì lại là chuyện khác. Mọi người bị lái ra ngoài vấn đề: Ai là tác giả thật của tập thơ Vô Đề?

Người viết bài này hiểu rằng nếu ông Thiện không làm thơ nữa thì có lẽ khó tìm hiểu. Nhưng ông Thiện, hay là Cục Phản Gián Hà Nội?, làm... thơ thì thật là dễ kiểm chứng. Kết quả là sau khi đọc vài bài trong tập thơ Hoa Địa Ngục tập 2 hay là Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí Thiện thì mọi người thất vọng hoàn toàn. Thơ kiểu con cóc, kiểu Thạch Sanh Lý Thông, Tam Quốc Chí, kiểu ngắt câu xuống giòng, kiểu thơ 3 chữ, kiểu sớ Táo Quân, sặc mùi cán ngố tam đại bần cố nông thì làm sao có thể là tác giả tập thơ Vô Đề nổi danh thế giới? Làm sao qua mặt được người hải ngoại với trình độ hiểu biết cao hơn ông Thiện rất nhiều? So sánh hai tập thơ ta thấy ngay là có hai con người, hai thi sĩ, khác nhau hoàn toàn.

Nếu thật ông Thiện đã được mặt trận KC ma nuôi dưỡng bao bọc ngay từ hồi còn ở Hải Phòng và lo lắng (cùng với đại tá Matsuoka) giấy tờ cho đi Mỹ thì ông Thiện phải được mặt trận KC ma xử dụng làm nòng cốt chính trị cho riêng họ trong những mục đích khá tối tăm, xanh vỏ đỏ lòng, của họ. Tự nhiên ông Thiện bị họ bao vây thật kỹ, không có tự do, đi đứng. Các vụ tổ chức nói chuyện, và đường lối chính trị của ông Thiện đều có người bố trí, tổ chức, điều hành, điều khiển chu đáo.

Tuy nhiên mề đay nào cũng có mặt trái. Nhiều người trong tổ chức kháng chiến có lẽ hiểu biết mặt trái của mề đay, hay là sự thật, đã không ưa một cán bộ từ trong nước nhảy ra làm nòng cốt chính trị hay là lãnh tụ chính trị của họ. Dĩ nhiên đó la chuyện nội bộ của mặt trận, không cần bàn ở đây. Một điểm khác khá quan trọng là người Mỹ đã biết rõ tung tích, lý lịch, của ông Thiện (do nhân viên phản gián cung cấp?) ngay từ trước khi ông Thiện đi Mỹ. Nhưng họ mặc kệ để xử dụng trong chiến lược đánh lạc hướng Cộng sản Hà Nội. Cộng sản tưởng rằng thành công trong kế hoạch bịp bợm của chúng. Nhưng sau này mới tiết lộ rõ rệt ai là kẻ thắng sau cùng!

Để so sánh với ông Vô Danh không có anh em, chỉ có một cha và một mẹ già, ông Nguyễn Chí Thiện có những bốn chị em mình. Ông Nguyễn Chí Thiện không nói rõ một người chị và một người em là những ai, để có thể phối kiểm. Ông Thiện đã không đọc kỹ thơ Vô Đề của ông Vô Danh nên không biết là ông Vô Danh độc thân, đã nhiều tuổi, và là con một của hai người mà nếu họ còn sống cho đến nam nay thì phải trên dưới 90 tuổi! Ông Thiện cũng có một người anh ở Hoa Kỳ là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên ông anh này, nếu di cư năm 1954, thì có thể tính rõ trình độ học vấn của ông Thiện vào năm 1954, 1955 ra sao?



Ba chục năm trời không thấy mặt nhau

Non nước chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm

Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm

Nước mắt sẽ trào ra, sung sướng, thương đau!

Ruột thịt chia lìa đớn đau

Gặp nhau anh chị em mình sẽ khóc

Chìm đắm trong lao tù đầy chết chóc


Ông Thiện quả có nhiều phúc đức, có anh chị em đông đúc, bạn bè cũng đông, có người làm chứng cho là thật với đồng bào hải ngoại, lại có bà chị quý hóa thăm nuôi đều đều, nên dù đã ở tù 27 năm mà ông vẫn mạnh hù, diễn thuyết hùng biện thao thao bất tuyệt trong nhiều giờ đồng hồ mà không mệt mỏi, vẫn đầy vẻ cương quyết, sắt đá, và tới mức sắt máu, chứng tỏ tinh thần bất khuất và vô cùng trung kiên của ông. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, là vậy! Trách nhiệm khó khăn nào cũng phải hoàn tất, nhiệm vụ khó khăn nào cũng phải xong, cản trở khó khăn nào cũng phải vượt qua, và phải lập thành tích dâng lên... bố mẹ!

Ông Nguyễn Chí Thiện ở... tù 27 năm mà cũng có tình tứ kiểu trăng sáng vườn chè, một cách ướt át ra phết:

Ta gặp lại nhau, tình xưa lai láng
Trăng xưa lại vàng, lại sáng, em ơi!

Dù màn sương xưa, ngây ngất tuyệt vời

Có tan loãng đi nhiều trong năm tháng...!

(Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ)

Ông Nguyễn Chí Thiện ở tù quả sướng hơn ông Vô Danh. Vì chẳng thấy ông Thiện tả cái khổ, cái ác, cái hành hạ, cái đói rét, cực hình trong tù. Ông Thiện được người chị hiền thăm nuôi đều đều và chỉ mong sẽ có ngày được ăn cơm đoàn tụ với nhau...

Một giả thuyết cho rằng ông Nguyễn Chí Thiện cũng ở... tù, nhưng với trách nhiệm coi tù thì đúng hơn. Vì là coi tù nên ông đã đánh hơi thấy tù nhân quá hôi hám vì dơ bẩn, vì không có giấy vệ sinh nên sống như trâu chó, chứ không phải tại công an Cộng sản đầy đọa nên mới dơ dáy, hôi hám, bẩn thỉu như vậy. Tiện đây xin nhắc ông Nguyễn Chí Thiện biết rằng ngoại trừ giai cấp lãnh đạo Cộng sản và cả ông Nguyễn Chí Thiện nữa, gần như tất cả miền Bắc, từ năm 1940... đến 1996 cũng chưa ai nhìn thấy mặt mũi cuộn giấy vệ sinh nó ra làm sao! Hầu hết dân miền Bắc và toàn thể bộ đội công an Cộng sản, mỗi người chỉ dùng cái... que. Cao hơn nữa hay thuận tiện thì dùng lá. Vì vậy mỗi khi họ phải dùng que hay lá, thì họ thích chửi bác Hồ của ông Thiện là đồ lãnh tụ ba que sỏ lá. Năm 1975, sau khi giam giữ sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bộ đội hỏi họ cần mua gì thì chúng mua dùm. Một vài người nhờ chúng mua giấy cuộn mỏng vì nếu nói là giấy vệ sinh chùi đ. thì chúng không hiểu.

Nhưng sau này có người bảo chúng biết rằng giấy cuộn để làm gì. Chúng tức quá chửi: Chúng tao thắng mà lại phải đi mua giấy chùi đ. cho chúng mày à?

Một bằng chứng về tài nghệ bắt tù, còng tù, coi tù của ông Thiện đã được ông biểu diễn hào hứng và xúc động!

Sau khi hai nghệ sĩ Hoàng Kim và Quỳnh Như ngâm nhiều bài thơ Vô Đề mà người ta đặt tên là thơ... Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa Ngục I, thì thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã bất ngờ đứng lên, không phải để nổi hứng ngâm thơ hay làm thơ, xuất khẩu thành thơ. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện bất ngờ đứng lên biểu diễn cho cử tọa cảnh Khóa Cánh Tiên tức là cách công an giám thị còng tù nhân để buộc tù nhân phải khuất phục. Đó là kiểu còng ác độc, còng ngược hai tay ra sau, và treo ngược lên, làm người tù đau đớn, trung bình chỉ chịu đựng nổi hai phút. Ông Thiện nói đã một lần ông chịu được nửa giờ, sau đó mồ hôi đầu và mặt ông chảy xuống hàm râu ông, rơi xuống đất từng hạt! Ông nói có hai lý do mà ông chịu nổi lâu hơn người khác, một là sức mạnh tinh thần, và hai là thân thể ông mỏng nên còng không xiết vào da thịt ông gay như anh em khác.

Không một người tù nào biết được cách thức còng kiểu khóa Cánh Tiên của công an Cộng sản. Lẽ giản dị là họ không được học khóa huấn luyện bắt người và còng người, còng kiểu nào để cho họ bị đau khổ nhiều nhất. Có lẽ không người tù cộng sản nào, kể cả ông thi sĩ Vô Danh, còn bụng dạ nào muốn tìm hiểu xem Cộng sản còng theo kiểu cách nào mà đau đớn đến thế, để làm kiến nghị phản kháng kiểu Đoàn Viết Hoạt hay Hà Sĩ Phu... Cái này thì chính là người Mỹ chế tạo ra còng cũng phải thua các đồng chí Cộng sản. Ông Thiện trước cử tọa muốn trổ tài để cho họ phục lăn, phục lác mắt. Tay nghề của ông chẳng có gì đặc biệt đáng chú ý hơn cái vụ thơ con cóc, thơ kiểu sớ táo quân, thì ông đành biểu diễn, bột phát và đột xuất, cái vụ còng kiểu cánh tiên! Kinh nghiệm chảy mồ hôi mà ông Thiện nói thì có vẻ là những người tù, nạn nhân của ông Thiện, đã bị ông Thiện còng tay thì đúng hơn.

Ông Vô Danh thì khác hẳn ông Thiện. Ông Vô Danh ở trong tù, tuyệt vọng, nhưng vẫn cố gắng làm thơ để ghi chép tội ác Cộng sản, để thức tỉnh thế giới nhân loại, và thấy cần tiêu diệt Cộng sản bằng bất cứ giá nào! Thi sĩ Vô Danh không cần phải chú ý đến cái còng vì đó là chuyện nhỏ, và chỉ bị đeo còng lúc bị bắt trong một thời gian ngắn. Ông Thiện, trái lại, cũng như tất cả các công an cộng sản khác, đã vô cùng tự hào về cái nghề còng, chuyên gia còng, với kiểu còng cánh tiên nên rất hãnh diện, đi đến đâu cũng thích trổ tài, khoe tài nghệ!

Sau khi vào tù, người tù thường hay bị cùm, kẹp đến thối thịt, thối xương. Ngoài ra còn những vấn đề đói khổ, bệnh tật, hành hạ, chửi rủa, những vấn đề không tên và cái chết đe dọa thường xuyên khiến mọi người tù đều mau quên cái còng! Chẳng có người tù nào cần hiểu rằng kiểu còng mà họ đang chịu đựng là còng kiểu cánh tiên hay kiểu Vẹm bịp! Họ cũng chẳng cần phải thương nhớ hay thích thú cái kiểu còng ma quỷ ấy!

Ta lưu ý quỷ cộng sản rất thích thú khi làm được người khác đau khổ vì họ càng đau khổ chúng càng vui cười hơn nữa coi đó là trò chơi thú vị. Thành thử khi tù đàn ông hay đàn bà đi qua mặt chúng với mùi hôi hám, vì chúng có cho tắm rửa bao giờ đâu, chúng bịt mũi, cấp cao thì dùng mù xoa bịt mũi, chê rằng không có giấy vệ sinh, không băng vệ sinh, như trâu như chó, và hôi thối không vừa lỗ mũi chúng...!

Công an Cộng sản coi tù nam là lũ lưu manh và tù nữ là những nàng Kiều thời đại! Khi các hội nhân quyền hỏi đến tù chính trị thì Cộng sản thường trả lời chúng không có giam cầm tù chính trị. Chúng chỉ giam những tên lưu manh!

Công an có thể qua những khóa huấn luyện về cách còng kiểu cánh tiên. Huấn luyện viên công an cao cấp có thể trổ tài biểu diễn còng kiểu cánh tiên để dạy công an cấp dưới về kỹ thuật cao này. Nhưng tù nhân không bao giờ được huấn luyện như vậy. Không có người tù miền Bắc nào thời đó nghĩ là có giấy vệ sinh, giấy cuộn sạch sẽ thơm tho, made in USA, để mà chạy chọt công an cho có. Họ chẳng có khăn mù xoa trắng tinh và sực mùi nước hoa như thiếu tướng công an phản gián để chùi mồ hôi... Lúc ông Thiện làm thơ... dùng mù xoa chùi mồ hôi thì ông đã quên là ông đang bị còng khóa cánh tiên thì làm sao rút mù xoa ra mà chùi mồ hôi mặt?

Ông Vô Danh không có anh em để mong đoàn tụ cùng ăn bữa cơm với nhau hay là mong đoàn tụ với người anh ở ngoại quốc 30 năm mới gặp!

Trong bộ máy tù đày bằng sắt
Tôi không muốn thấy những dòng nước mắt!

Càng không muốn thấy những điệu cười!

Tôi muốn sao tất cả mọi người chỉ có hàm răng nghiến chặt!

Bàn tay không đụng vào đâu!



Ông Thiện gọi tù không có giấy vệ sinh là sống như trâu như chó. Ông Vô Danh trái lại gọi công an Cộng sản là trâu là chó và chỉ muốn bắt tù nhân trở thành trâu hay chó. Trong bài dưới đây, ông Thiện nói dân ngu có khác chi đàn bò, cho nên Đảng mới làm mưa làm gió. Ông Thiện không nói Cộng sản ác độc, dùng công an trị kèm kẹp. Trái lại, ông Thiện chửi dân Việt là ngu như đàn bò hoặc Rồng Tiên hóa khỉ.

Ông Vô Danh đã khẳng định rằng dù trong tù đày cũng không chịu khuất phục. Với hàm răng nghiến chặt, mọi người không khóc lóc van xin, cũng không cười hòa điệu lấy lòng cán bộ công an cộng sản. Dù bị tù nhưng không chịu uốn mình thành trâu chó cộng sản! Nếu mỗi người tù hiểu rằng mình có thể vươn lên, không chịu làm đất thó hèn mạt, van lạy cộng sản, không sợ chết, thì sẽ xứng đáng là Người và cao hơn trâu chó cộng sản ở giá trị Con Người!

Trong Hoa Địa Ngục tập 2 hay là Hạt Máu Thơ, tác giả Nguyễn Chí Thiện chứng tỏ mình rất giỏi... Tam Quốc và truyện Kiều, không phải giỏi ở tù hay giỏi tiếng Pháp! Mấy bài thơ này trong tập Hoa Địa Ngục 2, trang 144, 145, tuy rằng không có vẻ ăn nhậu gì với ngục hay tù!
 

 
X.Y. THÁI DỊCH LÝ ĐÔNG A
30 Bộ Sách Triết Lý Căn Bản của Chủ Thuyết Duy Dân Nhân Chủ
Đạo Trường Ngâm
Huyết Hoa
Khai Bút
Việt Sử Thông Luận
Ý Niệm Thế Hệ (phần 1)
Ý Niệm Thế Hệ (phần 2)
 
Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt
Lời Tựa
Ý Nghĩa Cờ: MTCMHPV
Bạch Thư: Tố Cáo Tội Ác CS 1945-1992
14 Ðiểm Trước Khi Hòa Hợp Hòa Giải

Copyright© 2002-2011 by Nhóm Chiến Sĩ Cách Mạng Vô Danh. All Rights Reserved.