| |
| Date
:
2/23/2012 1:20:58 AM |
IP
Address:38.107.179.213 |
|
|
|
| |
Topic:
|
Tác
Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập 2 |
|
Author: |
Bach Linh |
Tap 2
Bài thơ dưới đây đã nói rằng đến năm
1960 ông Vô Danh đã bị tù nhiều lần rồi,
và sẵn sàng đợi bị bắt lại bất cứ lúc
nào! (Ông Nguyễn Chí Thiện nói rằng bị
tù từ năm 1961 khi ông 22 tuổi do lệnh
Tập Trung Cải Tạo ban hành trong thời
gian này.)
Đời tôi sẽ...
Đời tôi rồi sẽ tới đâu?
Lòng tôi cũng chẳng tìm câu trả lời!
Nhà lao nay bước chân rời
Ngày mai có thể như chơi lại vào
Đất này là thế, biết sao
Tội hay vô tội luật nào xét cho
Người dân chẳng khác con bò
Nay cày è cổ, mai lò sát sinh
Những gương bắt bớ quanh mình
Toàn dân lương thiện tội tình gì đâu!
Đói ăn ta thán một câu
Phản tuyên truyền tội ở đâu buộc vào
Một bài khác tả cảnh tù tội dưới chế độ
Cộng sản:
Từ vượn lên người mất mấy triệu năm?
Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!
Bài thơ này tả cảnh sống trong chế độ
Cộng sản:
Không phải chết, sống mỏi mòn mới khiếp!
Sống niêu cơm, manh áo cũng đọa đày
Sống yên lành, song cũng khó yên thay
Sống lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay
Sống đau nhức cả thần kinh bắp thịt
Sống giương mắt đỏ ngầu trong xám xịt
Nói về chế độ Cộng sản kềm kẹp công an
trị:
Người dân đã chán chê với cái trò hề
chiến tranh cách mạng!
Cái họ được là khăn tang và nạng!
Cái mất đi: ánh sáng cuộc đời!
Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt
cười
bắt đói, bắt làm...
hé răng oán thán là tù mục xương độc
đoán...!
Nó lùa, nó thả (Nó đây là Hồ Chí Minh)
lũ mặt người dạ thú xông ra
khiến đồng xa, nơi mấp mô mồ mả
Bức tranh tù tội hay là tranh sống dưới
chế độ Cộng sản do ông Vô Danh vẽ rất
thật vì ông Vô Danh đã bị tù thật, đã
sống trong địa ngục Cộng sản thật sự.
Chỉ có công an, cán bộ, đảng viên, bộ
đội hay là giai cấp ưu đãi, mới không
biết thế nào là tù đày. Đọc những bài
thơ này lên, ta thấy ông Vô Danh quả có
tài làm thơ tả cảnh Cộng sản tàn bạo, tù
đày dân chúng bất kể luật pháp hay nhân
quyền, dân quyền, coi nhân dân như kẻ
thù, khiến người đọc phải thấy rùng mình
khiếp sợ.
Chúng tôi sống giữa lòng thung lũng
Bốn bên là rừng núi bọc vây quanh!
Ở rúc chui trong mấy dẫy nhà tranh
đầy rệp muỗi, đầy mồ hôi, bóng tối!
Bệnh tật cho nhau, đời ôi hết lối!
Tuyệt vọng ngấm dần, hồn xác tả tơi...
Ông Vô Danh nhìn thấy tất cả những thành
phần xã hội bị Cộng sản cho đi tù tuốt
luốt, đi tù từng xâu, bất cứ lúc nào, và
không cần lý do, không có pháp luật xét
xử. Những người tù này và kể cả ông Vô
Danh, không bao giờ được nói chuyện với
giám đốc công an Hà Nội, mạn đàm và chụp
ảnh mầu với quản giáo trại cải tạo, và
dứt khoát không bao giờ mơ ước được đi
nhậu nhẹt, tâm sự anh anh, tôi tôi, với
ông Viện Trưởng Mác Lê Hoàng Minh Chính
tức trung tướng phản gián Trần Ngọc
Nghiêm, một lý thuyết gia Xít Ta Lin Nít
sắt máu nhất, trung kiên nhất, cao cấp
ngang hàng với Lê Duẩn, Lê Đức Thọ...
như ông Nguyễn Chí Thiện đã từng khoe
tại Hoa Kỳ.
Ông Vô Danh dĩ nhiên chỉ nhìn thấy tù
tội, đói rét, khổ sở, hành hạ, và cái
chết chờ đợi mọi người tù. Ông Nguyễn
Chí Thiện, có lẽ không hiểu thế nào là
tù đày thật sự, nên chỉ phàn nàn rằng
Cộng sản không cho tù nhân giấy... vệ
sinh (toilet paper) và băng vệ sinh (maxipads)
cho nữ tù nhân khiến cho họ hôi hám bẩn
thỉu không vừa cái lỗ mũi của ông khi họ
đi ngang qua mặt ông...
(Với những thành tích nói chuyện anh anh
tôi tôi với Cộng sản cỡ gộc, ngang với
Lê Duẫn và có thể thay thế Lê Duẫn làm
Tổng Bí Thư. Xít Ta Lin Nít thượng tướng
Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính,
giả thử ông Thiện là cán bộ thì ít lắm
cũng phải cấp thiếu tướng.) Ta hãy coi
ông Thiện làm... thơ (?) tả cảnh tù Cộng
sản chỉ khổ vì không có giấy vệ sinh (tại
Washington D.C. đầu tháng 11/1995):
Ở Hỏa Lò, giấy vệ sinh khó có
Nhiều người không dùng như trâu như chó
Phải có quà, có ngoại giao mới có thể
mong xoay
Xoay nó còn khó hơn xoay vé máy bay...!
(Nguyễn Chí Thiện)
Người viết bài này nghi ngờ rằng ông
Thiện chưa ở tù thật bao giờ, tuy rằng
ông có dịp quan sát các trại tù để có
kinh nghiệm tù mang ra hải ngoại nói
chuyện... tù! Đọc thơ tù của ông Vô Danh,
ta thấy người tù thật không bao giờ lo
vấn đề giấy vệ sinh hay băng vệ sinh.
Người tù Cộng sản sống dở chết dở trong
sự đọa đày, cực khổ, đói rét, bệnh tật
tối đa..., lo đủ thứ trong hy vọng hão
huyền, vì không có gì cả! Chỉ thấy đen
tối và tương lai mù mịt đầy cực khổ hơn
nữa, hoặc chết chóc, làm gì dám nghĩ tới
vé máy bay mà ví với von?
Người tù không thể kêu ai vì chính Nhà
Nước là quân nội xâm cai trị bạo tàn.
Người tù biết không bao giờ được thả?
Không biết gia đình con cái trẻ nhỏ ở
nhà ra sao? Không biết chiều nay, hay
ngày mai, có được ăn không? Mà được ăn
cái gì? Nếu có khoai hà, sắn mốc hay ngô
cứng như đá là may, mong gì đến cơm? Có
lẽ trong bụng người tù nào cũng quá đói,
đói mờ con mắt trong cái đói thường
xuyên, nên không ai lo vệ sinh mà chỉ lo
ăn! Có cái gì trong bụng đâu mà lo tống
ra? Người tù Cộng sản đói đến vàng mắt,
đói mờ người, đói bải hoải chân tay mà
vẫn bị đốc thúc lê lết đi lao động. Chậm
chạp lao động là báng súng đánh vào
người ngay để làm cho đau đớn ê chề hơn
nữa.
Bài thơ này, ông Vô Danh kể chuyện một
người tù già lắm nhưng vẫm cố học tập
tốt, lao động tốt cho vừa lòng quản giáo
coi tù và cho hả dạ vợ con ông, vì họ
vẫn tưởng như lời Cộng sản nói: tù nhân
vẫn được đối đãi tử tế vì chỉ được đi
học tập, lao động để cải tạo thành người
tốt.
Khi tới nhà ông
tôi sẽ nói cùng vợ con ông rằng ông đói
quanh năm!
Tuổi ông già, răng ông móm, nhưng ông
chăm
Đi lao động kiếm phần ngô còm cõi!
Miệng bát sành cơm gần như đá sỏi!!
Tả cảnh xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng
sản:
Bà kia tuổi sáu mươi rồi!
Mà sao không được phép ngồi bán khoai?
Cụ kia tuổi bảy mươi hai
mà sao hội họp mệt nhoài không tha?
Tự do tôi quý thiết tha
mà sao tù ngục hết ra lại vào?
Anh kia đi lính thuở nào?
Tội chi cảnh sát cũng vào bắt đi?
Em kia học chửa biết chi
Người tù Cộng sản chỉ mong có cái gì
nhét vào mồm, dù chỉ là khoai sắn, hơn
là lo tống xuất ra ngoài, vì bụng rỗng,
lép xẹp, có cái gì đâu mà phải tống
xuất? Nếu không có ăn, bụng trống rỗng,
thì cần gì đến vệ sinh mà phải chạy chọt
với công an coi nhà khách thì cũng điều
phải lẽ, nên ông Thiện không quên trong
thơ tù của ông. Tháng 8/1996, hai ông bà
ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher đến
Hà Nội mà không ngờ rằng phòng tắm dành
cho thượng khách nước ngoài không có
giấy vệ sinh!
Ngoài cái đói, còn có cái rét. Khi đói,
thiếu ăn, thiếu mặc, quần áo, chăn mền
không có, thì không mấy người chịu nổi
cái rét lạnh ghê người ở miền Bắc. Bị ho
lao, lao ra máu là do thiếu ăn và rét
lạnh. Mỗi người tù đều bị hành hạ bằng
đủ thứ bệnh và sự thiếu thốn đủ thứ.
Bệnh tật không bao giờ có thuốc. Tù nhân
phải được gọi là tù bệnh, tù đói mới
đúng. Họ quằn quại, mòn mỏi trong nhiều
tháng nhiều năm. Cái chết thường đến
chậm chạp, lay lắt, để kéo dài sự đau
khổ lâu hơn nữa. Những người tù bệnh
thường không thể chết nhanh chóng dễ
dàng vì họ còn nhiều sự lo lắng cho gia
đình, nhiều kỷ niệm, nhiều vấn đề chưa
giải quyết, sự thương nhớ gia đình con
cái, sự mong mỏi đoàn tụ, nhất là niềm
hy vọng và cố gắng sống để có thể một
ngày nào đó trở về... đã kéo dài sự ham
sống của họ.
* * *
Ông Vô Danh đã viết nhiều lần sợ hãi cái
nóng bức kinh hồn trong hầm đá và cái
rét lạnh mỗi khi mùa đông đến.
Từng cơn nóng dội, từng cơn rét
Thịt bắp tiêu dần, xương với da.
Chân vỡ sưng, cùm nhay lở loét!
Rệp muỗi quây quần hút máu ta.
Vụ hè oi bức trong hầm đá
Không khí như là hơi nước sôi!
Ta khắp thân mồ hôi ướt vã
Cơm muối nhai cùng phân chuột hôi!
Ông Vô Danh kể chuyện một người lớn tuổi
chết trong tù:
Ốm đau không thuốc, không gì!
Chuyện thông thường đó nói chi thêm
nhiều!
Bác nằm liền sát cầu tiêu
Mùi phân nước giải sớm chiều nồng hôi
Bác ơi, bác sắp chết rồi
Bác không còn sức để ngồi được lên
Phụ nữ trong tù quá đói, mất hết máu,
mất hết hồng huyết cầu, người xanh như
tàu lá, thì làm gì còn đường kinh mà
phải lo đến băng vệ sinh? Người phụ nữ
đã bị tù thì lo đến lũ trẻ nhỏ ở nhà
không có ăn, không người săn sóc, sẽ
phải chết dần mòn vì bệnh tật thiếu ăn.
Đứa nào đi bụi đời sẽ thân tàn ma dại,
chẳng còn nhớ, biết gì đến cha mẹ, anh
em, gia đình! Nhiều phụ nữ vào tù với
con nhỏ đang bú, vì đói nên kiệt sữa, đã
phải nhìn đứa con đói lả chết trên tay,
còn bụng dạ nào lo đến băng vệ sinh hay
sự hôi hám bẩn thỉu?
Nói tóm lại, người bị cộng sản cầm tù
không án tù, không thời hạn, không tội
lỗi, chỉ thấy căm hờn chất chứa, hận thù
thiên thu... nghĩ cách ra khỏi tù, nghĩ
cách chạy trốn hay tiêu diệt Cộng sản...
chứ ai hơi đâu mà lạy van chạy chọt công
an để có giấy vệ sinh hay băng vệ sinh?
Miền Bắc trước kia và bây giờ, hầu hết
đều không có giấy hay băng vệ sinh...
thì làm sao công an có để bán hay cho?
Có lẽ nhiều cô gái miền Bắc chẳng bao
giờ được thấy cái băng vệ sinh văn minh
nó ra sao? Mà trong tù thì tiền đâu mà
chạy chọt công an để kiếm giấy vệ sinh?
Nếu có tiền cụ Hồ thì để mua cái gì ăn.
Nếu dư tiền cụ Hồ thì nên dùng thay giấy
vệ sinh có lẽ tiện hơn?
Công an biết tù có tiền thì nó hành cho
đến mức phải cúng hết cho nó, chứ làm gì
còn xài sang mà nhờ công an mua dùm giấy
vệ sinh?
Giả thử họ có hôi hám bẩn thỉu vì không
được tắm, không có xà phòng hay băng vệ
sinh thì họ cũng thích thú cho công an,
quản giáo ngửi cho sướng cái lỗ mũi của
chúng, chứ việc gì họ phải sợ bị ai cười
chê là dơ bẩn hôi hám? Có lẽ khi những
phụ nữ tù nhân đi qua mặt ông Thiện, lúc
đó có lẽ đứng xem với tư cách công an
thanh tra, mặc complet trắng tinh, nên
ông Thiện đã không quên cái mùi xú uế
của họ dù mũi ông được ông dùng mù xoa
bịt lại. Ông Thiện nghĩ rằng vì họ không
có băng vệ sinh nên mới hôi hám như vậy.
Quý độc giả nên ngâm những bài thơ trên
để so sánh với bài thơ giấy vệ sinh để
xem bài nào là thơ, và bài nào chỉ là
ghép chữ vớ vẩn kiểu nhà quê bần cố
nông?
Tối ngày 15/11/1996, cộng đồng người
Việt Tự Do bang NSW lại được hân hạnh
tiếp đón nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và
giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở lại thành
phố Sidney từ thành phố Brisbane. Khoảng
600 người đã đến tham dự đêm tâm tình
với ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện... Phần nói
chuyện của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn
được những tràng vỗ tay nồng nhiệt của
quan khách đến tham dự. Một lần nữa, ông
(Thiện) đã vạch trần bản chất đại gian
đại ác của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam
với những xảo thuật lừa bịp vô cùng tinh
vi và dã man, chỉ nhằm mục tiêu duy nhất
là chiếm đoạt quyền lực và bảo vệ quyền
lực bất kể đạo lý tối thiểu của con
người.
Ông (Thiện) kể những cảnh cơ khổ trong
tù, nhất là người phụ nữ, chúng không
màng gì đến vệ sinh tối thiểu của người
phụ nữ đến nỗi những nàng Kiều thời đại
bị tù đi ngang qua là sặc mùi hôi thối.
Còn thân phận các em thiếu nhi sinh ra
và lớn lên trong các gia đình thiếu ăn
đã phải đi vào con đường trộm cắp thì bị
chúng đánh đập và hành hạ một cách tàn
nhẫn thô bạo, đến nỗi ngày nào ở trong
tù ông cũng thấy mang xác đi chôn với vẻ
mặt thản nhiên của cán bộ trại. Ông nói:
Bởi vì lớp tù này chết đi thì đã có lớp
khác đến thế.
(Có lẽ vì chủ quan hay là quen thói độc
tôn của cán bộ công an cấp cao nên trong
một dịp diễn thuyết tại San José giữa
tháng 12/1995, ông Thiện đã phát biểu về
miền Trung một câu mà những người Huế,
người Trung cho đến nay có lẽ chưa quên.
Khi nói về miền Trung, xứ Huế, ông Thiện
phang một câu rất chữ nghĩa, điển
tích... sơn bất cao, thủy bất thâm, nam
đa trá, nữ đa dâm! Tác giả xin cáo lỗi
với quí vị người Trung vì bài khảo luận
cần phải nêu ra những chi tiết về con
người mang danh ngục sĩ Nguyễn Chí
Thiện)
Ông Thiện cũng làm thơ mỉa mai những
người nữ tù nhân là dơ dáy, hôi hám,
cũng hút thuốc lào như lưu manh:
Những nàng Kiều
Cộng sản kết tội phong kiến và xót
thương
Nàng Kiều ngày xưa trong văn chương
Còn những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa
Lò, ai thương?
Ghẻ lở đầy, gầy giơ xương
Vét ăn từ hạt cơm dưới rãnh
Cũng cùm kẹp, đòn đánh
Cũng lén hút thuốc lào như những ông
mãnh lưu manh
Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!
(Nguyễn Chí Thiện -1983 -trg.36, HMT)
Đọc lên ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện
không phải đồng cảnh ngộ tù như những
người nữ tù mà ông gọi một cách rất ư
công an là những nàng Kiều thời đại. Ông
Thiện khinh bỉ họ vét ăn từng hạt cơm
dưới rãnh, lén lút hút thuốc lào như lũ
lưu manh bạn tù của các cô này, và mỗi
lần họ đi qua mặt ông quản giáo hay
thanh tra Thiện là sặc mùi tanh tưởi vì
không biết dùng và không có băng vệ
sinh. Dưới mắt ông Thiện (công an?) thì
người tù nào cũng chỉ là lưu manh, phản
động, bất mãn dám chống, dám chửi chế
độ! Cái mùi hôi hám này ám ảnh (đồng chí
công an phản gián đi tham quan để hiểu
biết về nhà tù cho dễ nói chuyện sau
này) Nguyễn Chí Thiện đến mức 13 năm
sau, khi tới Sidney, ông vẫn chưa quên
và phải nói lên cho cử tọa (nam nữ Việt
kiều Sidney) cùng thưởng thức!
Nếu so sánh ta thấy ông Vô Danh không hề
gọi người nữ tù khác, đồng cảnh ngộ, một
cách khá... công an là những nàng Kiều
thời đại! Ta có thể đọc dưới đây bài thơ
ông Vô Danh tả cảnh người con gái đĩ ở
trong cảnh đói khổ cùng cực ở Hà Nội,
người con gái chỉ có thể làm đĩ để kiếm
sống, mà ông Vô Danh vẫn coi là bạn chí
thân đáng quý trọng:
Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa
Tôi chẳng có gì an ủi cô ta
Ngoài tình cảm chan hòa và không khinh
bỉ
Tôi là anh của những em nhỏ tí
Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân
Bé tí hon mà tù tội bao lần
Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!
Ông Vô Danh cũng làm thơ ai điếu người
con gái tập kết từ miền Nam ra Bắc năm
1955, đã, có lẽ vì chửi Cộng sản, bị
chúng tù đầy, giam cầm và bị ho ra máu,
cũng như ông, cho đến chết. Đọc lên ta
thấy ông Vô Danh sót thương cho người
con gái đó hơn cả chính bản thân, và dĩ
nhiên không hề có giọng điệu diễu cợt
đùa giai một cách đểu giả, ác độc của
công an coi tù, gọi những người phụ nữ
tội nghiệp, đáng thương, nạn nhân cộng
sản, là nàng Kiều thời đại!
Bài thơ cũng tả cực hình rùng rợn mà
người con gái miền Nam tập kết khốn khổ
phải chịu cho đến chết, dĩ nhiên không
phải vì hôi hám thiếu băng vệ sinh...
ông Vô Danh không ngửi thấy mùi hôi hám
của người con gái đang sắp chết này, có
lẽ vì ông cũng là tù hôi hám như vậy, và
không phải là công an quản giáo kiêm
thanh tra sạch sẽ như ông Nguyễn Chí
Thiện chỉ khoe mặc complet toàn trắng đi
chơi Hồ Tây bơi thuyền (périssoire) ăn
bánh tôm với người bạn đẹp như tiên
chăng?
Anh gặp em trong bốn bức rào dầy...
Má gầy, mắt trũng
Phổi em lao, chân em phù thũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng
Em ngồi run, ôm ngực còm nhom
Y sĩ công an nhìn em, thôi (thì) nạt nộ
om sòm
Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co ro
Những tiếng ho
Những cục đờm máu!
Mớ tóc rối đầu em rủ xuống mình em, teo
nhỏ, lõa lồ...
(vì quần áo đã rách nát hết, không đủ
che thân gầy.)
Em có gì đâu mà em xấu hổ!
Em là đau khổ hiện thân
Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa
Trên gò má tái
(Người chết nghèo khổ, tù tội miền Bắc
khi chết thường được bó trong chiếu rách
mang đi chôn. Người sống cũng không khá
hơn. Trong mùa đông giá lạnh, có cái
chiếu lành lặn mà đắp là may lắm rồi!)
Anh biết lòng em kinh hãi hơn ai
Khi gió bấc ào qua vách ải
Những manh áo vải... tả tơi, vật vã...
vào thịt da...
Em có lạnh lắm không?
Mưa gió mênh mông
Thung lũng sũng nước bùn
Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc
Những khuôn mặt xanh vàng gầy rộc
Nhìn nhau, đờ đẫn không lời
Nhát nhát em ho
Đọc lên ta thấy cả một câu chuyện não
nùng, thê thảm của một người con gái
miền Nam thơ ngây, năm 1945-1955 đã mang
nhiều mộng đẹp muốn ra Bắc để góp phần
xây dựng... độc lập, tự do và thiên
đường Cộng sản tại Việt Nam. Để rồi vỡ
mộng thiên đường, thấy rõ bộ mặt lưu
manh xảo trá của bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ
và Hồ Chí Minh. Người Nam trực tính,
nóng nảy, hể thấy trái tai gai mắt là
nói thẳng, hỏi thẳng và có khi chửi
thẳng vào mặt. Họ không nghĩ rằng đã lọt
vào trong tay Cộng sản, lơ mơ là chúng
bắt bỏ tù cho đến chết đói, chết bệnh.
Bài thơ này được ông Vô Danh viết trong
tù năm 1965. Khi đó ông Nguyễn Chí Thiện
đã ra khỏi tù (1964-1966) và đang dịch
sách báo ngoại ngữ Anh Pháp, có lẽ là
cho... Cục Phản Gián, vì trong những năm
1955 đến 1965, 1966 cho đến 1975,
1985...
Trong cao điểm chống Mỹ năm 1964-1965
đến 1975, không một người miền Bắc nào
dám dùng đến ngoại ngữ, nhất là tiếng
Anh. Khi ông Vô Danh viết lá thư tuyệt
mệnh ông viết bằng tiếng Pháp và có lẽ
ông chưa bao giờ học và dịch tiếng Anh
như ông Nguyễn Chí Thiện. Nhiều bài thơ
chứng minh ông Vô Danh vẫn ở trong tù
1965.
Tạm trú ở một nhà người quen trong ba
ngày ông gợi từ trí nhớ viết là được 377
bài thơ sau đó ông cất dấu rồi xuống Hải
Phòng trở lại. Rồi đến dịp sau ông mới
lên Hà Nội mang tập thơ đến tòa đại sứ
Anh.
Ông Vô Danh, trái lại, đã chôn dấu (chôn
rấp) tập thơ đâu đó ở trong nhà ông ở Hà
Nội và ôm mộng ước từ năm 1970, là không
biết đến bao giờ ông sẽ được đi khắp nơi
để phổ biến những bài thơ lồng lộng bay,
lay thức nhân tâm!. Ông Vô Danh bị quản
chế tại gia ở Hà Nội, cô đơn, sau khi
cha mẹ chết, chứ không phải ở Hải Phòng
cùng với chị và em như ông Nguyễn Chí
Thiện. Có lẽ sau này vì cơ thể mỗi ngày
mỗi tàn lụi vì tù đày hành hạ và ho lao
ra máu, nên ông Vô Danh đã phải đi đến
quyết định đột nhập tòa đại sứ để đưa
tập thơ của ông trước khi chết vì ho lao
và tù đày thêm nữa. Ông Thiện cũng quên
không tả cảnh ông bị Cộng sản bắt được
sau khi ra khỏi tòa đại sứ Anh ra sao?
Xin quý bạn đọc bài thơ dưới đây:
Biết đến bao giờ tôi được gặp
Người trong huyễn tưởng bao năm!
Biết đến bao giờ đi được khắp
Chân trời ước mộng xa xăm?
Ông Vô Danh đã coi bệnh lao trong hai lá
phổi của ông là hai lưỡi dao găm của
Thần Tự Do, hay là bản án tử hình của
thần Tự Do, không cho ông sống và được
tự do... Thơ phải nhiều ý nghĩa gói ghép
bên trong như vậy mới có thể gọi là
thơ...
Bài thơ này tả sự cô đơn, không có anh
chị em, bạn bè, của ông Vô Danh, tuy
không đề ngày, nhưng có lẽ khoảng năm
1974 hay 1975, sau khi cha ông chết. Ông
Nguyễn Chí Thiện, trái lại, có đủ cả anh
ruột ở miền Nam rồi đi Mỹ và bà chị và
có cả các em nữa.
Tôi, một kẻ không gia đình, bè bạn
Sống một mình, bệnh hoạn xanh xao
Chai nước con, chiếc điếu hút thuốc lào
Chiếc giường vải, chiếc bàn bằng gỗ cũ
Đồ đạc tôi thế là tạm đủ
Cuộc sống nghèo hèn, không ước không mơ
Ngoài thời gian dạy học vài giờ
Tôi tìm kiếm niềm khuây trong sách vở
Ông Vô Danh đã cho biết khi ra tù, tạm
thời vì có thể bị bắt lại bất cứ lúc
nào, ông phải đi dạy học mỗi ngày vài
giờ kiếm ăn. Khẩu phần miền Bắc lúc đó
dùng tem phiếu (phiếu sổ - food stamp)
để cho khẩu phần tiêu chuẩn giới hạn mỗi
người 100 gram đường và 100 gram thịt
mỗi tháng. Cha mẹ ông lúc này đã chết.
Ông sống cô đơn trong một căn gác nhỏ ở
Hà Nội và bị quản chế tại gia, lúc nào
cũng có thể bị buộc bất cứ tội gì và bị
bắt giam tù trở lại. Hai câu chót, tuy
nhẹ nhàng, nhưng đủ tả sự rùng rợn của
chế độ Cộng sản: chỉ cần tỏ vẻ không
vui, bất mãn là đủ bị công an ghép tội
bất mãn và bắt đi tù!
Đảng bắt vui, bắt nói,
bắt khóc, bắt cười,
bắt đói, bắt làm..
hé răng oán thán
là tù ngục mục xương độc đoán...!
(Vô Danh - Đồng Lầy)
Ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện không bao
giớ nói rõ chi tiết lý do, ngày giờ, năm
tháng bị bắt, nơi bị giam lần đầu tiên
trong thời gian trước năm 1961. Ông
Nguyễn Chí Thiện chỉ khai thời gian bị
bắt giam với ngày tháng rõ rệt như một
tài liệu học tập đã được (do ai?) sửa
soạn sẵn. Lần thứ nhất từ tháng 5/1961
cho đến tháng 11/1964. Lần thứ hai: Từ
tháng 2/1966 đến tháng 7/1977. Lần thứ
ba: Từ tháng 7/1979 đến tháng 10/1991.
Tổng cộng tù hơn 27 năm, không xét xử.
Những điểm lý lịch đáng lưu ý khác là
ông Nguyễn Chí Thiện khai là sinh ngày
27/2/1939 (Hà Nội). Quốc tịch Việt Nam.
Tôn giáo Phật giáo. Trình độ học lực:
Tốt nghiệp Trung Học (Tú Tài) năm 1955.
Đi tù về tội làm thơ chống Cộng. Nghề
nghiệp: dạy Pháp, Anh văn, Dịch sách
(1964-1966 tại Hải Phòng Việt Nam.
Lý lịch quá sơ sài và thiếu nhiều chi
tiết. Thí dụ: tên tuổi cha mẹ và anh chị
em ruột. Nếu ở Hà Nội thì thường phải có
địa chỉ nơi sinh với số nhà, đường phố
hoặc nhà hộ sinh, hoặc địa chỉ, nghề
nghiệp cha mẹ ghi rõ ràng trong giấy
khai sinh. Ông Thiện không hề cho biết
địa chỉ sinh sống trước năm 1954, sau
1954, và nơi chốn chi tiết khi bị bắt
năm 1961. Kể từ năm 1991, sau khi được
thả, ông Thiện ở Hải Phòng cho đến khi
đi Mỹ. Tại Orlando, tối 14/12/1966, ông
Thiện lỡ miệng nói ông bị quản chế tại
gia ở... Hà Nội! Thế thì tại sao khi đến
Mỹ ông Thiện nói rằng ông ở Hải Phòng?
Nếu nguyên quán như vậy thì ông Thiện đã
ở Hải Phòng trong khi ông Vô Danh sinh
sống ở Hà Nội, bị bắt cũng ở Hà Nội và
bị đưa đi cải tạo trên rừng núi. Sau khi
được thả, ông Vô Danh phải trở về nguyên
quán ở Hà Nội để công an phường và quận
quản chế, để rồi bị bắt trở lại bất cứ
lúc nào. Thường thì tù nhân được thả về
đều buộc phải về nguyên quán để công an
địa phương quản chế ít lắm là một năm
trước khi trả quyền công dân. Ông Thiện
nói đi tù về tội làm thơ chống Cộng. Ông
Vô Danh không nói như vậy. Trình độ có
học thức và là người Bắc thời đó, khiến
ông Vô Danh phải nói rằng bị tù vì chửi
Cộng sản, hoặc làm thơ chửi Cộng sản.
Công an cũng chỉ khép tội bất mãn chửi
bậy hay nói bậy, vì nếu nói tội chống
Cộng, chống Đảng, chống chính quyền...
thì đều bị coi là phản động, phản cách
mạng và có thể bị tử hình hay bị tra tấn
cho đến chết để cung khai đồng lõa.
Giả thử ông Thiện nói rõ cha mẹ anh em
ông và địa chỉ ở Hải Phòng thì người ta
rất dễ dàng truy ra manh mối rằng trong
27 năm gọi là tù, thì ông Thiện có ở tù
thật không? Nếu nói dịch sách báo Anh
Pháp ngữ năm 1964-1965-1966 thì, xin lỗi
ông Thiện, chỉ có Cục Phản Gián mới cần
tay nghề loại này. Công an thường thì
dốt như vịt, chữ nghĩa đâu mà Anh văn
với Pháp văn? Những năm 1964 đến 1975,
miền Bắc căng thẳng tột độ vì cao điểm
đánh Mỹ ở miền Nam và Mỹ oanh tạc miền
Bắc, dân thường làm gì có sách vở báo
chí ngoại ngữ để cho ông Thiện dịch? Tù
được thả về nhà, bị quản chế, thì ai cho
dịch đồ quốc cấm tức là sách báo ngoại
ngữ? Cái vụ dịch Anh Pháp văn chỉ là thủ
đoạn mập mờ ra cái điều ông Thiện chính
là thi sĩ Vô Danh biết Anh Pháp ngữ rành
rõi.
Tất cả miền Bắc không ai chống Cộng vì
chống không nổi với mạng lưới công an
dày đặc. Chống không nổi thì họ chửi. Về
môn chửi nhất là chửi Cộng sản thì người
Bắc thâm thúy, tinh ranh số một. Họ chửi
bằng vè, bằng thơ, bằng chuyện tiếu lâm,
bằng chuyện khôi hài đen... làm cho Cộng
sản tức điên người. Có lẽ người miền Bắc
và cả người miền Nam sau này, đều giải
trí bằng những chuyện khôi hài tiếu lâm
để chửi Cộng sản một cách sâu xa, cay
độc. Hồ Chí Minh khi còn sống đã ghét
cay ghét đắng dân Bắc Kỳ. Hồ và Giáp xua
lính người Bắc đi trước xung phong biển
người cho chết hết. Người khu Tư hay
lính Tam Phủ Thanh Nghệ Tĩnh, phần nhiều
là đảng viên nòng cốt của chế độ, thì
được đi sau để nhận công lao chiến
thắng.
Tất cả những lý lịch mà ông Nguyễn Chí
Thiện tự khai về mình vẫn chỉ là một
chiều, và rất sơ sài, không thể kiểm
chứng. Ông Thiện nói vậy thì chúng ta
biết vậy. Nhưng chúng ta có thể nhận
định qua những lời khai lý lịch của ông
Thiện để phối kiểm, so sánh với trình độ
và thời gian làm thơ của ông Vô Danh. Ta
cũng có thể đọc thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện, tập thơ Hoa Địa Ngục tập số 2 hay
là Giọt Máu Thơ thì ta thấy quá trình
quá khứ của ông Thiện rõ như ban ngày!
Tập thơ này hoàn toàn đối nghịch và khác
hẳn với tập thơ Vô Đề của ông Vô Danh,
thường được gọi là Hoa Địa Ngục I, về
lối làm thơ, về nội dung thơ, về ý thơ,
và về thủ đoạn xảo trá bịp bợm trong thơ
của cán bộ cộng sản.
Nếu ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939
mà lại đậu Tú Tài (không nói rõ là toàn
phần nhưng nói tốt nghiệp trung học và
Tú Tài) năm 1955 khi ông có 16 tuổi! Đây
là một chuyện khá phi lý vì những ai có
đi học trong giai đoạn này đều hiểu rằng
riêng năm 1946-1947 với chiến tranh
chống Pháp phát động, hầu như tất cả mọi
người đều mất ít nhất là một năm học.
Rồi đến năm 1954-1955. Việt Minh tiếp
thu Hà Nội và Hải Phòng, mọi người lo di
cư, lo đủ thứ, các trường phần lớn giáo
sư, giáo viên di cư, học hành loạc
choạc... làm sao thi? Ông Nguyễn Chí
Thiện có thể là thần đồng nhưng thời đó
không ai nghe thấy tên "thần đồng Nguyễn
Chí Thiện" mới 16 tuổi đã "tốt nghiệp
Trung học. Ông Thiện cũng nói ông đậu Tú
Tài nhưng ông Thiện không biết rằng thời
đó có những 2 bằng Tú Tài, phần I và II,
phải thi trong 2 năm đậu liền mới đủ,
mới có tên lên đại học. Nhiều người đã
phải thi nhiều lần trong nhiều năm và
vẫn trượt vỏ chuối đều đều. Ông Thiện
cũng không nói rõ thời gian từ 1945 đến
1955 ông ở đâu? Ông Thiện chỉ nói rằng
năm 1956, ông và gia đình xuống Hải
Phòng cư ngụ. Vậy thì ông Thiện nên cho
biết địa chỉ cư ngụ ở Hà Nội và Hải
Phòng.
Có lẽ Cục Phản Gián toàn những tay ít
học, chẳng hiểu rằng có hai phần Tú Tài,
phần I và II, với tuổi tương xứng để thi
đậu (ít hất là 18, 19 hay 20, nên khi
dàn dựng chuyện này đã không tính đến
vấn đề tuổi tác và cả Bắc Kỳ hồi đó
(1955) không có thí sinh Tú Tài nào, mới
có 16 tuổi, lại đậu cả 2 phần Tú Tài vào
năm 1955! Nếu tính mất đi một niên học
năm 1946-1947 thì ông Thiện quả là thần
đồng học và thi đậu Tú Tài Toàn Phần năm
16 tuổi, bằng... tưởng tượng của cán bộ
phản gián dốt nát, vô học!
Một lý đoán khác về tác giả thơ Vô Đề là
vào năm 1980, khi cần phải có một tác
giả tập thơ Vô Đề còn sống, vì nói chết
rồi thì thật khó ăn khó nói, nên Cục
Phản Gián đã chọn một cán bộ có trình độ
kha khá, biết chút ít ngoại ngữ, đứng ra
nhận mình là tác giả tập thơ. Sự nhận vơ
như vậy để tiện nhận quà, nhận giải
thưởng, thư từ cảm tình từ khắp thế giới
gửi về Hà Nội, mà không bị mang tiếng đã
giết chết nhà thơ Vô Danh, một nạn nhân
Cộng sản, đã được cả thế giới ngưỡng mộ.
Một vài người và cán bộ đã được phép
tiết lộ khéo với hải ngoại là tác giả
tập thơ Hoa Địa Ngục tên là như vậy và
hiện đang sống và đang ở tù cùng với
chúng tôi. Bằng chứng là... ông này có
ngâm thơ Hoa Địa Ngục trong nhà tù Thanh
Liệt! Cũng do sự tình cờ ông tác giả thơ
Hoa Địa Ngục Nguyễn Chí Thiện cũng được
giam ở Thanh Liệt và gần phòng giam ông
Võ Đại Tôn, với các ông Trần Nhu, Minh
Thi... Rồi cũng lại tình cờ ông Trần Nhu
và ông Minh Thi được đi Mỹ và làm chứng
rằng ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập
thơ, còn sống, và đã ở tù chung...
Nhờ ngâm thơ Vô Đề chống Cộng trong tù
mà nhận ra nhau là những anh hùng, chiến
sĩ văn nghệ, và nhận ra luôn cả Nguyễn
Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề,
trong khi chưa ai khảo về cái tài làm
thơ của ông Nguyễn Chí Thiện. Người Việt
hải ngoại vội đặt cho ông Thiện cái tên
ngục sĩ cũng khá đúng vì ông tự nhận có
những 27 năm trong tù (chưa kiểm chứng).
Nhưng chưa ai biết ông Thiện có tài làm
thơ thật hay không? Ông Thiện cũng kỹ
càng chu đáo khi cố gắng chụp ảnh chung
với các tù nhân thứ thiệt, các tù nhân
biệt kích hoặc sĩ quan quốc gia trước
năm 1955, những cái tiểu xảo này làm sao
che được sự thật của một tập bài viết
quê mùa, ngớ ngẩn đầy khoe khoang của
một cán bộ công an cấp cao!
Nếu chỉ có vậy và thi sĩ giả của tập thơ
cứ ở yên miền Bắc cho đến ngày nay thì
không sao, không ai cần để ý. Nhưng Cục
Phản Gián không ngờ sẽ có ngày người Mỹ
lại yêu cầu phải thả tác giả tập thơ và
cho đi Mỹ...
Mọi toan tính do đó phải chuyển sang
hướng khác: nên cho đi Mỹ hay không cho
đi Mỹ? Nếu không cho đi Mỹ thì phiền vì
Mỹ có thể lấy lý do đó mà cứng rắn vấn
đề nhân quyền, bang giao và tối huệ
quốc. Vậy nên cho đi Mỹ thì có lợi hơn.
Có thể dùng cái uy tín tác giả tập thơ
vào nhiều mục đích tuyên vận, chính trị,
thu hút người Việt hải ngoại, được tiếng
khen là tôn trọng nhân quyền, và điều
cần nhất có thể được người Mỹ ban cho
qui chế tối huệ quốc đáng giá hàng trăm
tỷ đôla và đó là sự sống còn của toàn
Đảng, toàn chế độ! Một vốn, một nghìn
lời như vậy thì ai mà không ham? Vả lại
giữ vị thi sĩ rổm này ở lại trong nước
cũng chẳng có lợi gì hơn. Đàng nào thì
thi sĩ thật đã đi khai hội với giun và
ngâm thơ cho dế nghe từ lâu...!
Cục Phản Gián nghĩ rằng có thể qua mặt
người Mỹ dễ dàng! Cục Phản Gián nghĩ
rằng cứ gửi thi sĩ thơ Hoa Địa Ngục ra
hải ngoại là sẽ được đủ thứ lợi lộc đáng
giá hàng trăm tỷ đôla mang về... Ngoài
ra thi sĩ Hoa Địa Ngục còn có thể hoạt
động trong mục đích tuyên vận, dân vận,
lối kéo người hải ngoại vào một khối đòi
nhân quyền, đòi hòa giải hòa hợp với
Vẹm, đòi Cộng sản phải cho dân chủ và
nhân quyền... Như thế mọi hình thức
tranh đấu hay chiến đấu bạo động nhằm
tiêu diệt Cộng sản sẽ phải nhòa, nhạt
dần và hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Ý chí
cương quyết chiến đấu chống Cộng cũng
phai nhạt luôn. Người Mỹ tự nhiên sẽ
thấy không còn ai tích cực chiến đấu
tiêu diệt Cộng sản ở hải ngoại!
Nhưng Cục Phản Gián không ngờ đến ván
bài tháu cáy của người Mỹ đã không sửa
soạn gửi đại sứ hay cho qui chế tối huệ
quốc! Người Mỹ không cần biết ông Nguyễn
Chí Thiện là ai? Gốc gác ra sao? Và có
phải là thi sĩ thật của tập thơ Vô Đề
(Hoa Địa Ngục I) hay không? Chính khách
Mỹ và KIA, FBI ở Hoa Thịnh Đốn chẳng ai
cần phải đọc hay ngâm thơ Hoa Địa Ngục.
Người Mỹ sửa soạn trước để đưa ông Thiện
ra trước Hạ Viện điều trần về tội không
có nhân quyền của Cộng sản Hà Nội.
Người Mỹ chỉ cần biết ông Nguyễn Chí
Thiện đã thể hiện hay là bằng chứng sống
của một nạn nhân cộng sản, đại diện cho
toàn thể nạn nhân Cộng sản tại Việt Nam,
với 27 năm tù không xử án, không tội
tình gì rõ rệt. Ông Nguyễn Chí Thiện đã
trở thành bằng chứng hùng hồn nhất để tố
cáo tội ác Cộng sản. Ngày 8/11/1995, hay
là chỉ 8 ngày sau khi đến Hoa Kỳ, ông
Thiện đã được đưa ngay ra Hạ Viện Mỹ
điều trần về nhân quyền tại Việt Nam
dưới chế độ Cộng sản cùng với vợ Đoàn
Viết Hoạt là Trần Thị Thức, ông Trần Tử
Thanh. Võ văn Ái và Lại Thế Hùng tưởng
bở cũng bay từ Pháp sang tham dự.
Nhưng Cộng sản Hà Nội và bọn cán bộ tay
sai không ngờ là cuộc điều trần đã được
xử dụng để mang lại phản ứng ngược:
không đại sứ và không có qui chế tối huệ
quốc. Gần một tháng sau, ngày 6/12/1995,
Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ thông qua dự luật
HR4076 ngăn chận mọi ngân khoản đài thọ
lương ông đại sứ và tiền bạc chi tiêu
tại tòa Đại Sứ cao hơn mức hiện hữu.
Ta có thể phỏng định người Mỹ đã biết
tác giả Hoa Địa Ngục không phải là người
"thật", cũng như mặt trái những tên cán
bộ rêu rao nhân quyền hòa giải hòa hợp
bất bạo động, nhưng họ cứ xử dụng theo
đúng nhu cầu của họ. Xử dụng xong cho
đạt mục đích của họ rồi thôi... Họ chẳng
tốn tiền tốn công xây dựng cò mồi. Họ
mượn luôn cò mồi. Họ mượn luôn cò mồi
của Vẹm để đánh lại Vẹm cũng bằng...
nhân quyền! Dù sao thì ông Nguyễn Chí
Thiện và bản điều trần của ông đã có hại
cho Cộng sản. Cộng sản tưởng cho ông
Thiện đi Mỹ là được qui chế tối huệ
quốc. Nhưng kết quả hoàn toàn trái
ngược. Người viết bài này đã từng viết
bài khen ông Thiện về cái điểm nhân
quyền bất lợi cho Cộng sản. Rồi một năm
đã qua đi, đến cuối năm 1996, vẫn chưa
thấy tăm hơi ông đại sứ Mỹ (Peterson)
đến Hà Nội. Có lẽ phải sang năm 1997
chăng? Mà giả thử có ông đại sứ Mỹ thì
cũng không mấy hi vọng được quan hệ kinh
tế bình thường (danh từ mới của qui chế
tối huệ quốc) vì từ cuối năm 1996 sang
1997... kinh tế của Việt Cộng đã thâm
thủng mậu dịch hơn 4 tỷ đôla và áp lực
lạm phát trở nên nặng nề...
* * *
Cuối năm 1956, khi Hồ Chí Minh phải sửa
sai về vụ đấu tố cải cách ruộng đất đã
giết khoảng nửa triệu người, Bộ Chính
Trị hội với Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi
bàn bạc nên mở cuộc thanh trừng văn nghệ
sĩ bất mãn đã bắt đầu nhen nhúm trong
thơ văn của họ. Bắt chước Trung Cộng
trong chiến dịch Trăm Hoa Đua Nở, Hồ và
Việt Minh cũng đưa văn nghệ thi sĩ vào
trong cuộc đấu tố Văn Hóa bằng cái bẫy
trăm hoa đua nở. Các văn nghệ sĩ tha hồ
muốn viết gì thì viết, muốn phê bình cái
gì thì phê bình... Để rồi Cộng sản dùng
ngay những bài viết làm bằng chứng để
cho đi cải tạo.
Sau này người ta gọi vụ đấu tố văn hóa
thanh lọc văn nghệ sĩ do bọn văn nô phản
gián Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy,
Xuân Diệu, Chế Lan Viên... chủ trương là
vụ Nhân Văn Giai Phẩm...
Vì ông Vô Danh làm thơ chế diễu, lôi bộ
mặt thật đểu cáng và tàn bạo của tập
đoàn Hồ Chí Minh nên chúng tức điên
người. Chúng không giết ông, nhưng cho
giam để hành hạ ông cho bõ ghét, cho đến
khi ông Vô Danh phải mềm nhũn cả tư
tưởng lẫn thể xác và phải cúi đầu van
lạy, cam chịu với sự hối hận, tự phê,
phản tỉnh! Bài thơ này tả Cộng sản:
Là quỷ? Là ma? Là thú dữ?
Gian manh, tàn ác, đê hèn...
Lũ cưỡi đầu bóp cổ dân đen,
để gọi chúng người ta không đủ chữ!
Ta thấy ông Vô Danh hiểu rằng trong tình
cảnh tuyệt vọng của ông, chỉ có cái chết
là lối thoát duy nhất. Dù được ra khỏi
tù, ông vẫn bị quản chế như tù giam
lỏng, tên tuổi vào sổ đen, có thể bị bắt
lại bất cứ lúc nào. Thật không có cái
chế độ nào trên thế giới tàn ác như Việt
Cộng. Chúng giam tù đày đọa người Việt
không cần phải có tội, cũng không cần
luật pháp xét xử. Nạn nhân sau khi được
thả, thả chứ không tha, vẫn bị quản lý
và quản thúc tại gia, vẫn bị ly cách và
phân biệt đối xử với xã hội quanh mình,
sống trong hồi hộp lo sợ thường xuyên vì
có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Sự hồi
hộp, lo sợ, phập phồng cùng với sự xa
lánh của người trong xóm, người thân, vì
không ai dám trò chuyện thăm hỏi mình,
làm cho nạn nhân bị căng thẳng thần
kinh, tâm não, đến mức chỉ có cái chết
mới ra khỏi các cực hình về mọi mặt, cả
vật chất lẫn tinh thần.
Ông Vô Danh nói rất đúng vì không có chữ
gì có thể diễn đạt rõ ràng đầy đủ về sự
tàn ác không tên và vô hình của Cộng
sản. Ta có thể nói rằng ông Vô Danh cũng
như hàng triệu nạn nhân Cộng sản khác đã
bị cả một guồng máy công quyền khổng lồ,
guồng máy công an và chính phủ, (thay vì
phục vụ nhân dân), đã đè nặng trên mỗi
người dân và nghiến nát họ tới mức họ
phải tìm cái chết mới có sự giải thoát!
Tác giả có một người quen, vì dễ tính
nên đã ở lại Hà Nội năm 1955, không đi
di cư vào Nam. Anh này thì Tú Tài I bảy
lần, đến lần thứ 7, năm 1954 mới đậu.
Anh ta cho rằng nhờ cụ Hồ và Việt Minh
thắng nên anh ta mới có vận may, nên
quyết định không di cư. Sau này anh ta
kể lại, vì cái bằng Tú Tài nên bị coi là
thành phần trí thức, bị đưa về một làng
nghèo khổ để bị quản chế tại đó trong 8
năm trời, để lao động, nuôi lợn, nuôi
gà, chăn bò, sống chung với bò, lợn qua
ngày. Cộng sản gọi đó là tam cùng, cùng
ăn cùng làm, cùng ở với bần cố nông để
giáo dục cải tạo anh ta. Dù anh ta có
thiện chí theo Việt Minh, quá trình học
lực Tú Tài đã khiến cho anh ta bị liệt
vào thành phần trí, phú, địa, hào và cần
phải được quản lý, lao động cải tạo.
Nguyễn Tuân trước khi chết đã phải nói:
Tôi được sống đến ngày nay là do tôi
biết sợ..., biết sợ cả cái bóng của tôi!
Chỉ một câu này đủ nói lên sự kinh hoàng
của tất cả mọi người dân đối với chế độ
khủng bố công an trị cộng sản!
Ông Vô Danh có thể bị tù vào năm 1957
hay 1958 trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm,
cùng với những người khác như Phan Khôi,
Trần Dần và hàng trăm người ít tên tuổi
hơn... Rồi ông được ra tù, không biết
vào năm nào. Ra tù, ông Vô Danh bị quản
chế tại nhà, một căn gác nhỏ vùng Hà
Nội, có một cha già đã ở tuổi hưu trí và
mẹ ông, hai mắt đã lòa, vì cao tuổi, vì
khóc lóc ngày đêm thương nhớ, lo lắng
cho đứa con độc nhất. Ông Vô Danh ra tù
rồi bị bắt lại, tù lại, cứ như vậy trong
20 năm...
Bài thơ Thư Nhà tả cảnh cha mẹ ông trông
ngóng đứa con độc nhất đang bị tù:
Đã lâu rồi, không nhận được thư con
Mẹ, thầy mong tin con quá
Thầy kể qua cho con rõ cảnh nhà
Mẹ bây giờ hai mắt như lòa
Hôm sớm trong nhà quanh quẩn!
Thầy gần như lẩn thẩn
Bước đi đờ đẫn run chân
Viết phong thư phải nghĩ tới dăm (năm)
lần
Mong con về đỡ đần chăm sóc!
Nghĩ tới con, mẹ thầy lại khóc
Không biết con còn ở nơi trại cũ
Hay là đã chuyển đi đâu?
Mẹ vẫn nguyện cầu
Cho con được bình yên, không ốm yếu
Nhận được thư này con liệu
Viết về, thầy mẹ đợi tin con...!
Ôi, xưa cũng vì con còn trẻ dại
Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải
Như vậy, ta có thể ước lượng vào năm
1967, cha ông Vô Danh đã khoảng tuổi hưu
trí, trên hay dưới 65, và ông Vô Danh ở
khoảng tuổi trên 40. (Ông Thiện lúc này
mới có 28 tuổi). Mẹ ông Vô Danh đã bắt
đầu lòa và bà cụ mất khoảng 3 năm sau
(1970) khi viết lá thư này. Nếu ông Vô
Danh bị ho lao ra máu từ lâu thì đến năm
1979, khi ông đưa tập thơ vào tòa đại sứ
Anh, thì ông đã mỏi mòn, kiệt sức, kiệt
quệ tới mức tận cùng.
Coi bài thơ, ta thấy gia đình song thân
ông Vô Danh chỉ có một đứa con duy nhất
và đã bị tù, không có người hầu hạ săn
sóc. Song thân ông đã chỉ mong ông Vô
Danh phấn đấu học tập tốt, thi đua lao
động tốt để mau được về với gia đình, hi
vọng được gặp con trước khi chết. Cái lo
của ông Vô Danh và song thân ông là làm
sao có thuốc chữa lao Rimifon và được
thả về với cha mẹ sớm, không phải lo
rằng không có giấy vệ sinh!
Một bài thơ khác, ông Vô Danh ở trong tù
thương nhớ cha mẹ và ân hận thân mình bị
tù không được sống gần cha mẹ. Bài thơ
này cũng chứng tỏ ông là con một. Gia
đình bé nhỏ của ông Vô Danh là một gia
đình đạo đức, phúc đức. Có lẽ nhờ phúc
đức lớn này mà ông Vô Danh được sinh ra
để chịu đọa đày chung với toàn dân tộc,
để có thể, từ cảnh đọa đày này, làm nên
những vần thơ kỳ diệu tố cáo tội ác Cộng
sản cho nhân thế, cho nhân loại và cho
lịch sử ngàn đời sau. Nhiệm vụ xong, sứ
mệnh cuối cùng của ông là đưa tập thơ
vào tòa đại sứ Anh, xong rồi ông chờ cái
chết đến càng nhanh càng tốt, để chấm
dứt cuộc đời cô đơn, vì song thân của
ông đã mất, trầm luân bệnh hoạn và tuyệt
vọng, trong và ngoài ngục tù Cộng sản.
Bài thơ nhiều đoạn dưới đây tả nỗi lòng
ông mong nhớ song thân.
Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp
Thường ngồi chắp tay cầu khẩn giờ lâu
Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu
Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái!
Đời của tôi nhiều khổ đau oan trái
Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi,
Đứa con trai tù tội mấy phen rồi!
Hàng nước mắt chảy giòng trên má mẹ!
Ngồi bên mẹ, tôi thấy mình nhỏ bé
Tình thương yêu của mẹ lớn bao nhiêu?
Mẹ ơi, con lòng chỉ nguyện một điều:
Một bài thơ khác năm 1968 ông Vô Danh tả
về song thân ông, mà ông không biết ra
sao, còn hay mất?:
Có người mẹ gầy nhom mắt lóa gần lòa
Có người cha quá già, quá yếu!
Có người con bất hiếu là tôi,
hết tù lại tội!
Bệnh ốm không nuôi nổi thân mình...
Ôi người mẹ nặng tình yêu dấu!
Ôi người cha hiểu thấu lòng con!
Còn hay mất?
Ngày con đầy bụi đất trở về căn gác!
Lá rụng xào xạc canh khuya...
Bóng cha già gầy guộc đứng kia...
Phất trần nhẹ đưa, lặng lẽ...
Trên bìa sách bụi bàn con
Bóng mẹ già sầu muộn héo hon
Quờ tay rờ mó nạm tóc củ gừng đánh gió
lưng con!
Chiều âm thầm lạnh tắt trên non...
Không còn được nữa,
Những tình xưa thương mến vô vàn!
Gió núi mưa ngàn, lạnh buốt
Rau rừng ngoạm nuốt thân trâu,
Kiếp sống về đâu?
Bốn phía sậy lau một màu hoang xám
Đi về những đám tang câm
Trong ly tán thương tâm!
Chết chóc âm thầm...
Con vẫn nuôi mầm mơ ước
Xoay vần thuở trước xa xăm!
Mịt mù trời đất tối tăm
Mẹ thầy sống được bao năm trên đời?
Đến năm 1970, ông Vô Danh ở trong tù,
nghe tin mẹ ông đã chết:
Mẹ ơi! Mẹ đã mất rồi!
Trái đất không còn có mẹ !
Mẹ chẳng bao giờ còn thấy mặt con...
Còn khóc nữa!
Con chẳng cần ra tù nữa
Mẹ già của ông Vô Danh, hai mắt đã lòa,
vẫn còn hi vọng được thấy người con trở
về để nhìn mặt. Nhưng bà đã không được
thấy mặt con khi lìa đời. Ông Vô Danh
nghĩ rằng nếu cha ông cũng chết thì đời
ông sẽ hết cả lẽ sống và có lẽ ông không
cần ra tù nữa. Sự kiện thấy hay không
thấy mặt nhau trước khi một người thân
chết đã trở thành bi thảm, đã trở thành
thể hiện của tội ác bạo tàn cộng sản.
Ông Vô Danh cũng hiểu là cho đến khi ông
chết, sự kiện không được thấy mặt Mẹ ông
lần chót, và Bà không được thấy mặt con
khi bà lìa đời, đã trở thành một mối hận
ngàn thu!
Năm 1976, ông Vô Danh lại khăn gói vào
tù lần nữa, nhưng lần này song thân ông
đã mất, chẳng còn ai trông mong ông trở
về. Bài thơ dưới đây tóm tắt cảnh đi tù
ngày trước khi cha mẹ ông còn sống, cho
đến khi hai người đã khuất, và ông cứ
vẫn tiếp tục vào tù...
Lòng vẫn nhớ làm sao cái ngày lạnh đói!
Hành trang một gói lên đường,
Giữa quãng đêm trường rời bỏ quê hương,
Rời bỏ gia đình, tình thương đứt ruột!
Thôi rồi, đời đi suốt từ đây!
Vĩnh biệt từ đây!
Vĩnh biệt!
Ông Vô Danh chua sót vì trong cảnh tù
tội, lẽ sống của ông là cha mẹ già, và
hi vọng một ngày nào đó được ra khỏi tù
trở về thăm cha mẹ. Trong cuộc sống đen
tối và tuyệt vọng trong ngục tù, ông
khóc và cầu xin Trời Đất cho ông một
niềm vui cuối cùng là một mùa Xuân nào
đó ông được ra khỏi tù, không phải vì
mừng được tự do, mà vui vì được gặp lại
cha mẹ đã quá già yếu, có thể lìa đời
trước khi ông được thả! Nhưng cha mẹ ông
đã chết trước khi ông được thả. Để rồi
lần sau bị bắt tù lại, ông không còn cha
mẹ để trông ngóng ngày đúa con tù tội
trở về!
Ông Nguyễn Chí Thiện oai hơn nhiều. Ông
Thiện nói rằng trước khi đi Mỹ, ông có
đến thăm mộ cha mẹ và thề rằng sẽ chiến
đấu chống Cộng sản đến cùng. Nhưng khi
mới đến Hoa Kỳ ngày 1/1/1995, tại sân
bay San Francisco, ông Thiện tuyên bố
với cô phóng viên Đỗ Mùi khi được hỏi:
Ông sẽ làm gì khi ông đến Hoa Kỳ? Dự
định của ông là gì?
Đáp: Việc đầu tiên của tôi là chữa bệnh.
Sau khi khỏi bệnh rồi, công việc phải
thực hiện ngay là tiếp tục chống lại cái
ác. Tôi không hận thù ai, nhưng tôi cho
là công lý chống lại tội ác là nhiệm vụ
con người phải làm.
(Trong những dịp ra mắt khác tại San
José và quận Cam, ông Thiện luôn luôn
nhắc lại rằng ông chỉ chống cái ác, mà
không đả động gì đến chống Cộng hay
chiến đấu chống Cộng. Ông Thiện cũng
không chống Cộng dù Cộng sản đã bỏ tù
ông những 27 năm. Ông Thiện Không căm
thù Cộng sản, Không chống Cộng, thì có
lẽ ông Thiện chưa bao giờ ở tù Cộng sản!
Ông Thiện chơi chữ với ngụ ý hễ Cộng sản
hết ác thì chúng là người thiện, thành
người quốc gia và người Việt hải ngoại
nên hòa hợp đoàn kết hợp tác với chúng.
Một ngụ ý khác, nếu ông Thiện là công an
thì nghề của ông là chống tội ác. Trong
chế độ Cộng sản, hễ chống Cộng hay chửi
Cộng, cũng đủ là tội ác rồi!)
Hỏi: Ông sẽ làm gì (tại Hoa Kỳ)?
Tôi làm với khả năng của tôi. Người ta
cứ bảo chúng ta đừng nên dùng bạo lực.
Nhưng lấy đâu ra bạo lực mà dùng? Cứ bảo
là chúng ta nên hòa hợp trong lúc họ
cưỡi lên đầu tôi, mà tôi là kẻ nằm dưới.
Họ nằm trên vỗ xuống mà cứ nói chuyện
hòa hợp. Muốn hòa hợp thì hai người phải
ngồi ngang nói chuyện... Họ đang cưỡi
trên cổ tôi, bịt mồm tôi, nhét tai tôi,
thì làm sao nói chuyện hòa hợp được?
Cô Đỗ Mùi hỏi: Hiện nay ông bị bệnh lao
phải không?
Đáp: Không, tôi không bị ho lao. Tôi chỉ
bị thần kinh suy yếu, yếu thần kinh và
không ăn không ngủ được. Vì vậy tôi rất
yếu.
Ngày 19/11/1995, tại trung tâm Eden,
thành phố Falls Church, Virginia, ông
Thiện họp mặt với hơn 150 văn thi hữu ký
giả và chủ tịch các hội đoàn để chào
mừng nhà thơ bất khuất!
Ông Thiện đã được đón tiếp bằng những
tràng pháo tay khi vừa xuất hiện nơi cửa
vào. Ông Chử Bá Anh, chủ tịch Hội Báo
Chí đã đưa ông đến từng bàn để chào và
cảm tạ từng người. Sau bài nói chuyện và
trả lời các câu hỏi, ký giả Thái Phong
nhận định rằng Nguyễn Chí Thiện không
những là một thi sĩ mà còn là một nhà
hùng biện.
Cụ Phạm Ngọc Lũy nói rằng Nguyễn Chí
Thiện là một con người đầy can đảm. Tiến
sĩ Nguyễn Mạnh Hùng: Đây là một người có
thực tài. Nhà báo Nguyễn Việt Quang: Nay
người Việt Hải Ngoại đã có được biểu
tượng. Hội Y Sĩ Việt Nam xin cử bác sĩ
săn sóc sức khỏe cho cựu tù nhân Nguyễn
Chí Thiện. Cựu đề đốc Đinh Mạnh Hùng:
Chúng ta có trách nhiệm giúp Nguyễn Chí
Thiện tiếp tục con đường anh đã đi. Nhà
văn Sơn Tùng, chủ tịch Văn Bút Miền
Đông: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện góp sinh
khí mới vào giới cầm bút hải ngoại. Nhà
phê bình Trương Vũ: Nguyễn Chí Thiện
(là) con người chân tình. Nhà văn Cao
Thế Dung: Trước đây tôi hoài nghi, nhưng
hôm nay đúng là thật. Đại tá Nguyễn Cao
Quyền, chủ tịch Hội Tù Nhân Chính Trị:
Chúng tôi sẽ lo cho anh Thiện... Đài
VOA: Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là thiên
tài còn sống của Việt Nam...
Các vị trên đây phát biểu quá sớm. Có lẽ
không mấy người sinh sống đã lâu ở Hoa
Kỳ hiểu mưu mô thâm độc của Cộng sản. Có
lẽ họ chưa có dịp so sánh hai loại thơ
khác nhau của hai tập, tập thơ Vô Đề và
tập Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện. Nhưng từ lúc xuất bản tập thơ số
2, Hạt Máu Thơ, tháng 4.1996, đến nay,
hình như chưa có vị nào dám khen thơ của
ông Nguyễn Chí Thiện. Cũng không ai có
thì giờ so sánh tính chất và loại thơ
của hai tập thơ. Có lẽ không mấy người
có thì giờ đọc thơ chăng? Cũng có thể
nhiều người đã đọc tập Hạt Máu Thơ và đã
thấy cái gì thum thủm, đã biết, nhưng né
tránh vì chính họ đã nặn lên thần tượng
thì làm sao nói ngược lại, dù là nói lên
sự thật?
Cũng trong ngày 19/11/1995, ông Thiện
phát biểu một câu rất hay, có thể nói là
tự đáy lòng ông thốt ra. Chính câu này
(đoạn đầu) đã làm cho nhiều người kể cả
người viết bài này, có cảm tình với cá
nhân ông Thiện. Tuy ông Thiện vẫn trân
trọng gọi Hồ Chí Minh là "ông Hồ, bác
Hồ", có lẽ do thói quen chăng, nhưng thi
sĩ Vô Danh thẳng tay gọi Hồ là "nó", là
"quỷ, ma, thú dữ, đồ chó đẻ, gian manh,
tàn ác, đê hèn...".
Ông Thiện nói:
... Tôi có một điều day dứt mà bấy lâu
không bộc lộ được là có một số người nói
chuyện hòa hợp, hòa giải với Cộng sản,
tức là hòa hợp, hòa giải dân tộc. Trò
này thì Cộng sản đã nói từ năm 1945. Từ
năm 1945, Hồ Chí Minh đã hô hào hòa hợp,
hòa giải. Ông Hồ kêu gọi các nhà tư sản
có tiền thì giúp tiền, có vàng thì góp
vàng. Các điền chủ phú nông có lúa, có
ruộng thì giúp vào để kháng chiến. Tất
cả cùng đứng lên đánh Pháp, nhưng sau đó
tư sản và địa chủ đều bị thanh toán, họ
chết dần mòn trong ngục tù, tài sản
ruộng đất thì bị tước đoạt. Trong suốt
quá trình 50 năm qua lúc nào người Cộng
sản cũng kêu gọi hòa hợp hòa giải, nhưng
trên thực tế thì họ chẳng có hòa hợp hòa
giải với ai cả! Điều này thì chắc các
bạn đã đều biết rất rõ. Nhưng tôi phân
vân, không hiểu tại sao có một số người
Việt ở hải ngoại lại đi hô hào cho việc
hòa hợp hòa giải?
Đó là đoạn đầu. Đoạn tiếp theo thì khác
hẳn:
Về bản chất thì Cộng sản không bao giờ
có thể hòa hợp với chúng ta được. Vì
điều kiện đầu tiên để hòa hợp là phải
bình đẳng. Bình đẳng có nghĩa là phải đa
nguyên đa đảng, cùng nhau bàn luận
chuyện xây dựng đất nước. Chỉ khi nào
Cộng sản chấp thuận dân chủ đa nguyên
thì chúng ta mới có thể bỏ qua những tội
ác của họ và mới có thể nói đến chuyện
hòa hợp, chung lưng chung sức xây dựng
lại đất nước Việt Nam chúng ta.
(Ông Thiện ở trên thì nói không thể hòa
hợp với Cộng sản. Đoạn tiếp theo thì ông
Thiện đã quay sang hướng khác, là nếu
Cộng sản chấp nhận bình đẳng, dân chủ,
đa nguyên đa đảng thì chúng ta mới có
thể bỏ qua tội ác của họ (Cộng sản) và
mới có thể nói đến chuyện hòa hợp, chung
lưng chung sức (với Cộng sản) xây dựng
lại đất nước Việt Nam).
Vào cuối tháng 11/1995, người viết bài
này nghe tin mặt trận (KC) ma tổ chức
cho ông Thiện đi qua California, Texas
để ra mắt thì vấn đề nghi ngờ ông Thiện
không phải là Thi Sĩ Vô Danh tác giả tập
thơ Vô Đề được đặt ra. Sự nghi ngờ bắt
đầu ngay khi ông Thiện trả lời rằng
không có bệnh lao nhưng phải đến khi mặt
trận kháng chiến quốc doanh tổ chức và
bao vây lối độc quyền ông Thiện thì được
đặt thành vấn đề. Vì có nhiều kinh
nghiệm với các thủ đoạn bịp bợm của Cộng
sản, nên người viết hiểu rằng Cộng sản
lại bịp nữa.
Giả thuyết Cộng sản cho cán bộ phản gián
cấp tướng làm thi sĩ giả đi Mỹ sau khi
đã được huấn luyện kỹ càng về cách thức
nói chuyện, diễn thuyết, kể cả học năm
ba câu tiếng Anh, tiếng Pháp, với một
tập thơ quốc doanh do cán bộ nhà nước
làm sẵn để làm vốn... là chuyện vẫn có
thể xảy ra. Có điều cán bộ phản gián làm
việc cẩu thả dốt nát, và sơ hở hớ hênh
rất nhiều. Người ta chỉ cần nhẩn nha chờ
đợi khoảng một năm sau là lòi đuôi Vịt
Vẹm ra cả lũ.
Cộng sản đương nhiên phải tạo dựng một
người khác thay thế để khỏi mang tiếng
ác và nếu có dịp, làm món quà trao đổi.
Dịp may đã đến khi đại tá Matsuoka bảo
lãnh cho ông Thiện với sự trợ giúp của
mặt trận ma ở phía bên kia. Ta nên lưu
ý, mặt trận ma đã gửi cho ông Thiện
khoảng 4 ngàn đôla (8 lạng vàng) ngay
khi ông Thiện còn ở Hải Phòng, chưa đi
Mỹ.
Lý do ông Thiện bị bao vây, canh gác và
bảo vệ kỹ lưỡng vì lý do kinh nghiệm
trong quá khứ, nhiều văn nghệ sĩ hay
thành phần thứ ba, cựu công chức, quân
nhân VNCH, đã bị cài hoặc bắt phải ký
giấy cam kết, trước khi cho đi Hoa Kỳ,
hoạt động tuyên vận, địch vận, dân vận,
phản gián..., phần lớn đã đến thẳng cơ
quan FBI hoặc các cơ quan Mỹ khác để
khai báo rõ rệt mọi âm mưu của Cộng sản.
Một số lớn đã thoát hẵn ra ngoài vòng
kiềm tỏa của Cộng sản. Một số nhỏ trở
thành mật báo viên cho FBI về các chỉ
thị, tin tức hoạt động Cộng sản tại Bắc
Mỹ Châu. Do đó ông Thiện bị bao vây kỹ
càng để không có dịp tiết lộ bí mật
chăng? Có người lo lắng nơi ăn, chốn ở,
lịch trình đi các nơi và tổ chức hoạt
động nói chuyện, diễn thuyết theo đúng
kiểu... rèn cán chỉnh quân, xách động
quần chúng của Cộng sản!
Ngay sau khi đài BBC đọc những bài thơ
Vô Đề thì ở vùng Hà Nội người dân biết
ngay là thi sĩ Vô Danh đã chết. Rồi sau
đó, năm 1980 hay 1981, tự nhiên "mọc ra"
câu chuyện Nguyễn Chí Thiện là tác giả
tập thơ nổi tiếng và bất hủ đó. Người
bạn tù của ông Nguyễn Chí Thiện là ông
Trần Nhu được ra khỏi tù và đi lọt qua
Mỹ xác nhận như vậy. Rồi sau này đến ông
Minh Thi cũng cùng một luận điệu. Dĩ
nhiên chẳng ai có thể kiểm chứng sự
thành thật và quá khứ của các ông Trần
Nhu và Minh Thi. Rồi câu chuyện xoay
quanh vấn đề ông Thiện là thật hay giả?,
không phải vấn đề ông Thiện là thi sĩ
thật của tập thơ Vô Đề hay mạo nhận?
Ông Nguyễn Chí Thiện bằng xương bằng
thịt thì chắc chắn là người thật rồi,
sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939, nhưng tại
Hải Phòng hay Hà Nội thì cũng khó kiểm
chứng. Nhưng có thiệt ông Thiện là tác
giả tập thơ Vô Đề hay không thì lại là
chuyện khác. Mọi người bị lái ra ngoài
vấn đề: Ai là tác giả thật của tập thơ
Vô Đề?
Người viết bài này hiểu rằng nếu ông
Thiện không làm thơ nữa thì có lẽ khó
tìm hiểu. Nhưng ông Thiện, hay là Cục
Phản Gián Hà Nội?, làm... thơ thì thật
là dễ kiểm chứng. Kết quả là sau khi đọc
vài bài trong tập thơ Hoa Địa Ngục tập 2
hay là Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện thì mọi người thất vọng hoàn toàn.
Thơ kiểu con cóc, kiểu Thạch Sanh Lý
Thông, Tam Quốc Chí, kiểu ngắt câu xuống
giòng, kiểu thơ 3 chữ, kiểu sớ Táo Quân,
sặc mùi cán ngố tam đại bần cố nông thì
làm sao có thể là tác giả tập thơ Vô Đề
nổi danh thế giới? Làm sao qua mặt được
người hải ngoại với trình độ hiểu biết
cao hơn ông Thiện rất nhiều? So sánh hai
tập thơ ta thấy ngay là có hai con
người, hai thi sĩ, khác nhau hoàn toàn.
Nếu thật ông Thiện đã được mặt trận KC
ma nuôi dưỡng bao bọc ngay từ hồi còn ở
Hải Phòng và lo lắng (cùng với đại tá
Matsuoka) giấy tờ cho đi Mỹ thì ông
Thiện phải được mặt trận KC ma xử dụng
làm nòng cốt chính trị cho riêng họ
trong những mục đích khá tối tăm, xanh
vỏ đỏ lòng, của họ. Tự nhiên ông Thiện
bị họ bao vây thật kỹ, không có tự do,
đi đứng. Các vụ tổ chức nói chuyện, và
đường lối chính trị của ông Thiện đều có
người bố trí, tổ chức, điều hành, điều
khiển chu đáo.
Tuy nhiên mề đay nào cũng có mặt trái.
Nhiều người trong tổ chức kháng chiến có
lẽ hiểu biết mặt trái của mề đay, hay là
sự thật, đã không ưa một cán bộ từ trong
nước nhảy ra làm nòng cốt chính trị hay
là lãnh tụ chính trị của họ. Dĩ nhiên đó
la chuyện nội bộ của mặt trận, không cần
bàn ở đây. Một điểm khác khá quan trọng
là người Mỹ đã biết rõ tung tích, lý
lịch, của ông Thiện (do nhân viên phản
gián cung cấp?) ngay từ trước khi ông
Thiện đi Mỹ. Nhưng họ mặc kệ để xử dụng
trong chiến lược đánh lạc hướng Cộng sản
Hà Nội. Cộng sản tưởng rằng thành công
trong kế hoạch bịp bợm của chúng. Nhưng
sau này mới tiết lộ rõ rệt ai là kẻ
thắng sau cùng!
Để so sánh với ông Vô Danh không có anh
em, chỉ có một cha và một mẹ già, ông
Nguyễn Chí Thiện có những bốn chị em
mình. Ông Nguyễn Chí Thiện không nói rõ
một người chị và một người em là những
ai, để có thể phối kiểm. Ông Thiện đã
không đọc kỹ thơ Vô Đề của ông Vô Danh
nên không biết là ông Vô Danh độc thân,
đã nhiều tuổi, và là con một của hai
người mà nếu họ còn sống cho đến nam nay
thì phải trên dưới 90 tuổi! Ông Thiện
cũng có một người anh ở Hoa Kỳ là cựu sĩ
quan Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên ông anh
này, nếu di cư năm 1954, thì có thể tính
rõ trình độ học vấn của ông Thiện vào
năm 1954, 1955 ra sao?
Ba chục năm trời không thấy mặt nhau
Non nước chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm
Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm
Nước mắt sẽ trào ra, sung sướng, thương
đau!
Ruột thịt chia lìa đớn đau
Gặp nhau anh chị em mình sẽ khóc
Chìm đắm trong lao tù đầy chết chóc
Ông Thiện quả có nhiều phúc đức, có anh
chị em đông đúc, bạn bè cũng đông, có
người làm chứng cho là thật với đồng bào
hải ngoại, lại có bà chị quý hóa thăm
nuôi đều đều, nên dù đã ở tù 27 năm mà
ông vẫn mạnh hù, diễn thuyết hùng biện
thao thao bất tuyệt trong nhiều giờ đồng
hồ mà không mệt mỏi, vẫn đầy vẻ cương
quyết, sắt đá, và tới mức sắt máu, chứng
tỏ tinh thần bất khuất và vô cùng trung
kiên của ông. Ta nhất định thắng, địch
nhất định thua, là vậy! Trách nhiệm khó
khăn nào cũng phải hoàn tất, nhiệm vụ
khó khăn nào cũng phải xong, cản trở khó
khăn nào cũng phải vượt qua, và phải lập
thành tích dâng lên... bố mẹ!
Ông Nguyễn Chí Thiện ở... tù 27 năm mà
cũng có tình tứ kiểu trăng sáng vườn
chè, một cách ướt át ra phết:
Ta gặp lại nhau, tình xưa lai láng
Trăng xưa lại vàng, lại sáng, em ơi!
Dù màn sương xưa, ngây ngất tuyệt vời
Có tan loãng đi nhiều trong năm
tháng...!
(Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ)
Ông Nguyễn Chí Thiện ở tù quả sướng hơn
ông Vô Danh. Vì chẳng thấy ông Thiện tả
cái khổ, cái ác, cái hành hạ, cái đói
rét, cực hình trong tù. Ông Thiện được
người chị hiền thăm nuôi đều đều và chỉ
mong sẽ có ngày được ăn cơm đoàn tụ với
nhau...
Một giả thuyết cho rằng ông Nguyễn Chí
Thiện cũng ở... tù, nhưng với trách
nhiệm coi tù thì đúng hơn. Vì là coi tù
nên ông đã đánh hơi thấy tù nhân quá hôi
hám vì dơ bẩn, vì không có giấy vệ sinh
nên sống như trâu chó, chứ không phải
tại công an Cộng sản đầy đọa nên mới dơ
dáy, hôi hám, bẩn thỉu như vậy. Tiện đây
xin nhắc ông Nguyễn Chí Thiện biết rằng
ngoại trừ giai cấp lãnh đạo Cộng sản và
cả ông Nguyễn Chí Thiện nữa, gần như tất
cả miền Bắc, từ năm 1940... đến 1996
cũng chưa ai nhìn thấy mặt mũi cuộn giấy
vệ sinh nó ra làm sao! Hầu hết dân miền
Bắc và toàn thể bộ đội công an Cộng sản,
mỗi người chỉ dùng cái... que. Cao hơn
nữa hay thuận tiện thì dùng lá. Vì vậy
mỗi khi họ phải dùng que hay lá, thì họ
thích chửi bác Hồ của ông Thiện là đồ
lãnh tụ ba que sỏ lá. Năm 1975, sau khi
giam giữ sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bộ
đội hỏi họ cần mua gì thì chúng mua dùm.
Một vài người nhờ chúng mua giấy cuộn
mỏng vì nếu nói là giấy vệ sinh chùi đ.
thì chúng không hiểu.
Nhưng sau này có người bảo chúng biết
rằng giấy cuộn để làm gì. Chúng tức quá
chửi: Chúng tao thắng mà lại phải đi mua
giấy chùi đ. cho chúng mày à?
Một bằng chứng về tài nghệ bắt tù, còng
tù, coi tù của ông Thiện đã được ông
biểu diễn hào hứng và xúc động!
Sau khi hai nghệ sĩ Hoàng Kim và Quỳnh
Như ngâm nhiều bài thơ Vô Đề mà người ta
đặt tên là thơ... Nguyễn Chí Thiện, Hoa
Địa Ngục I, thì thi sĩ Nguyễn Chí Thiện
đã bất ngờ đứng lên, không phải để nổi
hứng ngâm thơ hay làm thơ, xuất khẩu
thành thơ. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện bất
ngờ đứng lên biểu diễn cho cử tọa cảnh
Khóa Cánh Tiên tức là cách công an giám
thị còng tù nhân để buộc tù nhân phải
khuất phục. Đó là kiểu còng ác độc, còng
ngược hai tay ra sau, và treo ngược lên,
làm người tù đau đớn, trung bình chỉ
chịu đựng nổi hai phút. Ông Thiện nói đã
một lần ông chịu được nửa giờ, sau đó mồ
hôi đầu và mặt ông chảy xuống hàm râu
ông, rơi xuống đất từng hạt! Ông nói có
hai lý do mà ông chịu nổi lâu hơn người
khác, một là sức mạnh tinh thần, và hai
là thân thể ông mỏng nên còng không xiết
vào da thịt ông gay như anh em khác.
Không một người tù nào biết được cách
thức còng kiểu khóa Cánh Tiên của công
an Cộng sản. Lẽ giản dị là họ không được
học khóa huấn luyện bắt người và còng
người, còng kiểu nào để cho họ bị đau
khổ nhiều nhất. Có lẽ không người tù
cộng sản nào, kể cả ông thi sĩ Vô Danh,
còn bụng dạ nào muốn tìm hiểu xem Cộng
sản còng theo kiểu cách nào mà đau đớn
đến thế, để làm kiến nghị phản kháng
kiểu Đoàn Viết Hoạt hay Hà Sĩ Phu... Cái
này thì chính là người Mỹ chế tạo ra
còng cũng phải thua các đồng chí Cộng
sản. Ông Thiện trước cử tọa muốn trổ tài
để cho họ phục lăn, phục lác mắt. Tay
nghề của ông chẳng có gì đặc biệt đáng
chú ý hơn cái vụ thơ con cóc, thơ kiểu
sớ táo quân, thì ông đành biểu diễn, bột
phát và đột xuất, cái vụ còng kiểu cánh
tiên! Kinh nghiệm chảy mồ hôi mà ông
Thiện nói thì có vẻ là những người tù,
nạn nhân của ông Thiện, đã bị ông Thiện
còng tay thì đúng hơn.
Ông Vô Danh thì khác hẳn ông Thiện. Ông
Vô Danh ở trong tù, tuyệt vọng, nhưng
vẫn cố gắng làm thơ để ghi chép tội ác
Cộng sản, để thức tỉnh thế giới nhân
loại, và thấy cần tiêu diệt Cộng sản
bằng bất cứ giá nào! Thi sĩ Vô Danh
không cần phải chú ý đến cái còng vì đó
là chuyện nhỏ, và chỉ bị đeo còng lúc bị
bắt trong một thời gian ngắn. Ông Thiện,
trái lại, cũng như tất cả các công an
cộng sản khác, đã vô cùng tự hào về cái
nghề còng, chuyên gia còng, với kiểu
còng cánh tiên nên rất hãnh diện, đi đến
đâu cũng thích trổ tài, khoe tài nghệ!
Sau khi vào tù, người tù thường hay bị
cùm, kẹp đến thối thịt, thối xương.
Ngoài ra còn những vấn đề đói khổ, bệnh
tật, hành hạ, chửi rủa, những vấn đề
không tên và cái chết đe dọa thường
xuyên khiến mọi người tù đều mau quên
cái còng! Chẳng có người tù nào cần hiểu
rằng kiểu còng mà họ đang chịu đựng là
còng kiểu cánh tiên hay kiểu Vẹm bịp! Họ
cũng chẳng cần phải thương nhớ hay thích
thú cái kiểu còng ma quỷ ấy!
Ta lưu ý quỷ cộng sản rất thích thú khi
làm được người khác đau khổ vì họ càng
đau khổ chúng càng vui cười hơn nữa coi
đó là trò chơi thú vị. Thành thử khi tù
đàn ông hay đàn bà đi qua mặt chúng với
mùi hôi hám, vì chúng có cho tắm rửa bao
giờ đâu, chúng bịt mũi, cấp cao thì dùng
mù xoa bịt mũi, chê rằng không có giấy
vệ sinh, không băng vệ sinh, như trâu
như chó, và hôi thối không vừa lỗ mũi
chúng...!
Công an Cộng sản coi tù nam là lũ lưu
manh và tù nữ là những nàng Kiều thời
đại! Khi các hội nhân quyền hỏi đến tù
chính trị thì Cộng sản thường trả lời
chúng không có giam cầm tù chính trị.
Chúng chỉ giam những tên lưu manh!
Công an có thể qua những khóa huấn luyện
về cách còng kiểu cánh tiên. Huấn luyện
viên công an cao cấp có thể trổ tài biểu
diễn còng kiểu cánh tiên để dạy công an
cấp dưới về kỹ thuật cao này. Nhưng tù
nhân không bao giờ được huấn luyện như
vậy. Không có người tù miền Bắc nào thời
đó nghĩ là có giấy vệ sinh, giấy cuộn
sạch sẽ thơm tho, made in USA, để mà
chạy chọt công an cho có. Họ chẳng có
khăn mù xoa trắng tinh và sực mùi nước
hoa như thiếu tướng công an phản gián để
chùi mồ hôi... Lúc ông Thiện làm thơ...
dùng mù xoa chùi mồ hôi thì ông đã quên
là ông đang bị còng khóa cánh tiên thì
làm sao rút mù xoa ra mà chùi mồ hôi
mặt?
Ông Vô Danh không có anh em để mong đoàn
tụ cùng ăn bữa cơm với nhau hay là mong
đoàn tụ với người anh ở ngoại quốc 30
năm mới gặp!
Trong bộ máy tù đày bằng sắt
Tôi không muốn thấy những dòng nước mắt!
Càng không muốn thấy những điệu cười!
Tôi muốn sao tất cả mọi người chỉ có hàm
răng nghiến chặt!
Bàn tay không đụng vào đâu!
Ông Thiện gọi tù không có giấy vệ sinh
là sống như trâu như chó. Ông Vô Danh
trái lại gọi công an Cộng sản là trâu là
chó và chỉ muốn bắt tù nhân trở thành
trâu hay chó. Trong bài dưới đây, ông
Thiện nói dân ngu có khác chi đàn bò,
cho nên Đảng mới làm mưa làm gió. Ông
Thiện không nói Cộng sản ác độc, dùng
công an trị kèm kẹp. Trái lại, ông Thiện
chửi dân Việt là ngu như đàn bò hoặc
Rồng Tiên hóa khỉ.
Ông Vô Danh đã khẳng định rằng dù trong
tù đày cũng không chịu khuất phục. Với
hàm răng nghiến chặt, mọi người không
khóc lóc van xin, cũng không cười hòa
điệu lấy lòng cán bộ công an cộng sản.
Dù bị tù nhưng không chịu uốn mình thành
trâu chó cộng sản! Nếu mỗi người tù hiểu
rằng mình có thể vươn lên, không chịu
làm đất thó hèn mạt, van lạy cộng sản,
không sợ chết, thì sẽ xứng đáng là Người
và cao hơn trâu chó cộng sản ở giá trị
Con Người!
Trong Hoa Địa Ngục tập 2 hay là Hạt Máu
Thơ, tác giả Nguyễn Chí Thiện chứng tỏ
mình rất giỏi... Tam Quốc và truyện
Kiều, không phải giỏi ở tù hay giỏi
tiếng Pháp! Mấy bài thơ này trong tập
Hoa Địa Ngục 2, trang 144, 145, tuy rằng
không có vẻ ăn nhậu gì với ngục hay tù!
|
|
|
|
|