Home Home Home
Home Home
Main
Lời Ngỏ
Con Bài Nguyễn Chí Thiện
Tập Thơ Vô Ðề
Ðoàn Viết Hoạt & các Ðồng Chí
Tội Ác Cộng Sản
Tội Ác GHPGVNTN
Tin Tức Đặc Biệt: Nạn Buôn Người (Human Trafficking)
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Thông Báo FBI
Tin Tức Đặc Biệt
Cuộc Chiến Không Xa (War Is Not Far From Us)
Trần Phả: Lời Chúc Tết CSVN
Trần Phả: Lời Chúc Tết DCSVN (2006)
Phỏng Vấn Nhà Báo Việt Thường
 
Tập Thơ Vô Đề
Những Bài Thơ Vô Ðề
Thủ Bút Của Tác Giả Vô Danh
 
Audio Files
Con Bài NCT
Bình Luận Chiến Lược LVX
 
Hạt Máu Thơ (NCT)
Những Bài Thơ Con Cóc Của Diễn Viên Nguyễn Chí Thiện
Lá Thư Của NCT Ngày 7-11-95
 
Links
FBI
 
Topics
Chiến Lược Domino Trung Cộng
Sư Quốc Doanh Cộng Sản
Vụ Án Ðạo Văn Của Thế Kỷ
Viễn Tượng Và Sự Phục Hoạt Tất Yếu Của Nòi Việt
Thi Sĩ Cộng Sản
Quan điểm đạo Phật
Lịch Sử Nông Nghiệp Việt Nam
Các vấn đề dân chủ
 
Articles
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 1)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 2)-Bach Linh
Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề (Tập 3)-Bach Linh
Nguyễn Chí Thiện-Ông Là Ai? VoBinh LLDB-NKT
Nguyễn Tử Ðóa-Ðại Tá An Ninh Quân Ðội
Bạch Linh: Thơ Vô Ðề (Part 1)
Tôi Thất Vọng Về Diễn Viên NCT
Tập Thơ Vô Ðề và Khuyết Danh (Duy Xuyên)
Khai Mạc Vụ Án Văn của cuối Thế Kỷ 20
Những Nghi Vấn Về NCT (Nguyen Thien Viet)
Hồ Chí Thiện & Mặt Trận Văn Hóa Hải Ngoại
Bản Chúc Thư Của Người Viet Nam
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 1
Thơ Vô Ðề, Thi Sĩ Vô Danh, 1979 Book 2
 
Date : 2/23/2012 1:21:23 AM IP Address:38.107.179.214


  Topic: Tác Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập 3
Author:   Bach Linh

Tap 3



Ba lần tìm tới thảo lư

Kình ngư đã tìm được nước

Tùy mệnh trời không xoay đảo được

Cả nước tình xưa còn dào dạt muôn thuở trong thi thư...

Việc Lưu Bị đáng Đông Ngô trả thù cho Quan Vũ

Là thất sách vô chừng, lại thảm bại mới chua cay!

Song với ta hành động đó đẹp thay

Nét kết thúc tuyệt vời của bức tranh đào viên ngàn đời bất hủ!



Phê bình Từ Hải:

Ngay trước mặt Từ, Kiều nỉ non tình tự với Thúc Lang

Từ (Hải) ngồi đực, cái anh chàng Từ này rất lạ!

Vợ xử án lung tung, giết linh tinh, cứ lì như phổng đá
Mưu bá đồ vương mà đần thế, chết không oan!

(Nguyễn Chí Thiện)

Xin để quý độc giả phẩm bình hai đoạn... thơ trên đây. Người viết nghĩ rằng có nhiều nét quê đặc, đặc sệt, kiểu tam đại bần cố. Những danh từ gay, đần thế, là thật đấy là ngôn ngữ khá phổ thông trong hàng ngũ công an, cán bộ.

Ông Nguyễn Chí Thiện cũng ngâm vịnh Thạch Sanh, Lý Thông:

Vì cuộc đời nhan nhản Lý Thông

Mà Thạch Sanh thời không thấy bóng!

Nên Ác Điểu, Mãng Sà mới tha hồ bành mang giương móng

Rời khỏi động hang, hùng cứ cả non sông!i!

(Nguyễn Chí Thiện -1995?)

Trong bài Quan Vũ, ông Thiện chứng tỏ sự trung nghĩa của ông như mặt trời đỏ!

Trái tim trung nghĩa như mặt trời đỏ

Khí phách ngàn thu sông núi sáng tỏ!i!

(1988 - trg.128. HMT)

Cái màu đo đỏ quả là biểu tượng cho sức mạnh chuyên chính vô sản, nó ăn sâu vào tiềm thức, tim não, xương tủy của các cán bộ trung kiên, cho nên họ cứ xuất khẩu là thành thơ màu đỏ, đỏ lòe, đỏ loẹt!

Và đây là bài thơ theo kiểu sớ Táo Quân:

Đa phần dân
Đa phần dân cán bộ

Bị bưng bít nhồi sọ

Về nhân quyền tự do

Khái niệm cũng chưa có

Đảng làm mưa làm gió

Chính là nhờ ở đó!

Ôi, dân còn thế đó

Có khác chi đàn bò!

Đất với nước tối mò

Bao giờ trời sáng cho!

(Nguyễn Chí Thiện -1980 Trg.105-HMT)



Ông Thiện không chửi cộng sản bóc lột làm cho dân đói. Ông Thiện cũng không gọi người Việt Nam là dân Việt Nam. Ông Thiện gọi dân Việt là dân bác Hồ và đói ăn, chạy ăn, gầy ốm giơ xương, còn thua con chó Tây. Ông Thiện ví dân Việt với chó Tây! Lưu ý ông Thiện là lúc ông làm thơ này thì không còn thằng Tây nào nuôi chó Tây ở Hà Nội như cái thời thực dân xa xưa. Lúc đó, chỉ có chó của ông... Thiện mượt mà, béo tốt như thế. Ông Thiện thấy chó Tây béo tốt nây nây, lại lông nhông tồng ngồng chạy nhảy vì nó không mặc quần, nên nổi hứng làm thơ, khen chó Tây béo tốt hơn cả dân bác Hồ! Thật đúng là thơ lông lá, thơ chó Tây, lại có tí màu đỏ nữa, mới là thơ hay!



Cộng sản tàn bạo

Cộng sản tàn bạo lắm!
Đồng bào ta cực lắm!

Đất nước ta vực thẳm

Bao tài trí mất tăm

Bao cuộc đời nát băm

Bao đớn đau chìm đắm

Hận thù bốc cao lắm

Cao mãi cùng tháng năm!

Vì trăm ngàn quật quăng



Câu này có lẽ phản ảnh tâm sự ông Nguyễn Chí Thiện, như ông tuyên bố khi mới sang Mỹ là ông mất ngủ nhiều quá nên bị bệnh... thần kinh, không phải bệnh thiếu ngủ. Phương trời xa xăm, phải chăng là Hoa Kỳ? Ngọt ngào mà cay đắng, phải chăng cũng là Hoa Kỳ? Phải chăng ông Thiện đã... thề phải cố gắng từng giây từng phút, phải quyết sống và quyết thắng tại Hoa Kỳ?

Đọc hết mấy bài thơ của ông Nguyễn Chí Thiện (?), người viết chẳng hiểu nổi ý thơ hay ý ông Thiện muốn nói cái gì? Người viết nghĩ rằng với kiểu thơ trên đây của ông Nguyễn Chí Thiện, nếu được ném vào tòa đại sứ Anh thì cũng đi thẳng vào sọc rác, chẳng ai buồn mang lên đài BBC hoặc in ra để phổ biến khắp thế giới và được giải thưởng quốc tế! Dù có xuất hiện năm 1995, 1996 với hào quang mượn của tập thơ Vô Đề thì cũng vậy thôi, chẳng ai thèm chú ý! Hữu xạ tự nhiên hương, là vậy!

Đây là một bài thơ khá dài của ông Nguyễn Chí Thiện tả nỗi nhớ nhung của ông:

Ta Nhớ

Ta nhớ những năm, những ngày, những tháng

Mặt Trời, mặt trăng như thần thoại huy hoàng

Tình cảm trên đời lai láng làm sao

Chút ít đắng cay còn toàn thơm thảo

Ta nhớ thuở ăn cắp tiền nhà, ăn thịt bò khô, đánh nhau khó bảo

Đi xem thường vượt trường, hay trốn học, mê chơi

Ta nuốt bao cay đắng trong đời

Riêng thuở đó đẹp như là mộng ảo!
Ta nhớ Tết, Ti toe khoe quần áo

Pháo đốt vang, tiền chưa gấp nếp, mới toanh!

Khách tới mừng Xuân, ai cũng mở hàng

Lời chúc tết cũng là lời dạy bảo

Ta nhớ những buổi tối mùa đông,

đi xi nê về, ăn phở ấp chảo Phở nóng, rượu cay, tỏi ớt càng cay!

Bè bạn ngà say bàn luận cuốn phim hay

Khinh ghét gian ma, xót xa tàn hoa mà đời bất hạnh!

Ta nhớ những buổi sáng chủ nhật,

chuyển mùa trời hơi se lạnh

Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh

Nhìn dòng người, dòng xe khoe tươi lộng lẫy

Thấy người quen nào ta cũng xiết chặt tay!

Ta nhớ những ngày không uống rượu mà say

Đời đã như cốc rượu dâng bầy

Tình bạn, tình thầy, tình văn chương kim cổ

Nào học, nào chơi, nào thi, nào đỗ!

Ta nhớ những hàng quà rong, linh hồn đường phố

Toàn thứ rao vang, người Việt lại người Tầu

Cuộc sống bình dân no ấm muôn mầu

Sáng, tối, trưa, chiều, ăn gì cũng có!

Ta nhớ những đền chùa linh thiêng, những tòa miếu cổ

Những bà già chắp tay cầu khấn thành tâm

Những pho tượng ngồi trong hương khói trầm ngâm

Lũ trẻ vây quanh, đứa nghịch hư, cũng thành ngoan im lặng

Ta nhớ những đêm êm đềm thấm vào hồn ta bao la trong trắng

Những trang chuyện trang thơ thơ mộng tràn đầy
Thiết tha tình kim cổ, Đông Tây

Ta thường xuyên xúc động phải bỏ sách, đi một vòng quanh phố vắng

Ta nhớ những buổi mai mượt mà, đẹp nắng

Quanh hồ gươm ta mặc toàn đồ trắng dạo chơi

Đeo kính mầu xanh, ta ngắm cuộc đời

Hồ hởi, nói cười, đẹp tươi trong gió...

Như có linh hồn, ấm áp xóm quê

Trong những mái gianh là tình cảm tràn trề

Mưa lụt cùng xách đèn đón ta đi ăn cỗ

Ta nhớ những ngày cúng giỗ

Cha, mẹ, cô, dì, chú, bác chị em ta

Mời gắp cho nhau thân mến xum hòa
Hương khói ngạt ngào yêu thương biết mấy!

Ta nhớ những ngày lội bơi vùng vẫy

Đánh bốc, chơi thuyền, cường tráng nở nang

Mơ gặp khó nguy bắt nó quy hàng

Trong cuộc sống dễ dàng êm ấm ấy!

Ta nhớ những buổi chiều thứ bẩy

Mùa hè, ăn bánh tôm bên Hồ Tây



Đọc bài thơ trên đây, chúng tôi đố đọc giả tìm thấy tù tội và Cộng sản ác ở chỗ nào? Tội thằng búa liềm băm bổ mà thôi. Người ta thấy tác giả bài thơ có vẻ là cấp tướng công an phản gián quyền uy và tiền bạc đầy mình. Làm việc đọc sách nhiều quá nên xúc động phải bỏ đi chơi một vòng quanh phố Yết Kiêu vắng vẻ. (Trụ sở Cục Phản Gián số 6 đường Yết Kiêu đã làm cho đường này rất vắng vẻ, vì không ai dám héo lánh qua lại.) Mưa lụt cũng có người xách đèn mời đi ăn cỗ vì là cấp tướng công an? Mặc complet toàn trắng đi dạo mát quanh Hồ Gươm. Rảnh rỗi học đánh bốc (quyền Anh), bơi thuyền, tập luyện cho thân thể cường tráng để khi nào gặp địch gặp ngụy (gặp khó khăn) là bắt nó phải quy hàng!

Nhưng nếu ông Nguyễn Chí Thiện nhận là thơ của ông thì cũng phải thôi, chứ làm sao cãi? Điều này cũng chứng tỏ ông Thiện không phải là tác giả thật của tập thơ do đài BBC phổ biến, đã được viết bằng máu, nước mắt, tù ngục, đọa đày và cái chết. Ông Nguyễn Chí Thiện chưa bao giờ đi tù. Do đó ông Thiện không nhớ tù đày và cũng chẳng biết ho lao ra máu ra sao? Ông Thiện chỉ nhớ hay là bị ám ảnh bởi cuộc đời khá giầu sang sung sướng có đánh bốc, bơi thuyền, tập luyện cho thân thể được cường tráng nở nang, được học được chơi được thi được đỗ (đậu), đi xi nê về ăn phở áp chảo, uống cà phê pha rượu mạnh (có lẽ là pha rượu rum) có gia đình đông đảo ăn Tết, ăn tiệc lớn, lại mặc complet toàn trắng đeo kính mầu xanh đi dạo chơi Hồ Gươm, đi chơi Hồ Tây ăn bánh tôm chiên với đào đẹp như tiên... Để rồi 10 năm sau lại được Đảng và Nhà Nước cho đi Mỹ... Đời thế là khoái tỉ rồi, than cái nỗi gì?

Cái anh chàng Vô Danh làm thơ Vô Đề suốt đời bất mãn, suốt đời bị còng cánh tiên, bị tù là đáng. Đã không biết thân phận giai cấp lại còn quai mồm ra làm thơ láo, chửi bác Hồ là quỷ sứ yêu tinh, chửi đảng là ngu dốt như chó, cho rũ tù mới đáng kiếp. Cái thứ phản động, phản cách mệnh đó là phải đánh tập thể cho chết, phải không, thưa ông Nguyễn Chí Thiện? Hỏi thăm ông Nguyễn Chí Thiện tí nhá: Sao thơ của ông nó kỳ kỳ như xếp chữ, ghép chữ, ghép câu, ngắt câu xuống giòng vậy?

Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở!
Tiếng của nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ!

(vi trùng lao ăn ruỗng phổi gần mất sự sống)

Tiếng đất vùi (mộ) đổ xuống lấp niềm mơ!

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ!



Ông Vô Danh ví cái khổ tù của mình với cái khổ tù của Tề Thiên Đại Thánh:



Tôi khổ gấp trăm lần hơn Đại Thánh

Mang trên đầu đủ thứ mũ kim cô

Thần chú đau thương: "Tất cả tan tành!".

Khoan vào óc đêm ngày muôn vạn lỗ!

Đời tôi giữa Ngũ Hành Sơn cấm cố

Không mong Đường Tam Tạng tới buông tha



Ông Vô Danh ví mình với Lý Bạch:



Xưa Lý Bạch ngẩng đầu nhìn trăng sáng



Nay tôi ngẩng đầu nhìn nhện giăng bụi bám,

Cúi đầu giết rệp nhặt cơm vương!

Lý Bạch rượu say gác lên bụng vua Đường

Tôi đói lả gác lên cùm rỉ xám

Lý Bạch sống thời độc tôn u ám,



Cái tài tình của ông Vô Danh là dù ông nói thời Cộng sản ấm no, hạnh phúc tự do, thiên đường... mà người ta vẫn thấy sự mỉa mai... và đầy khổ nhục, tàn ác!



* * *



Một câu chuyện nhỏ về chữ Thôi trong bài thơ Anh gặp em trong bốn bức rào dầy Kể chuyện người con gái tập kết miền Nam bị Cộng sản bỏ tù đến chết vì ho lao ra máu. Ông Vô Danh ở câu thứ 6 viết: Y sĩ công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm.... Ông Thiện không hiểu ý nghĩa chữ thôi trong câu này. Ông nghĩ chữ thôi này có nghĩa là ngừng và ông viết trong tập Hạt Máu Thơ hay là Hoa Địa Ngục tập 2, trang x và xi:

... Thực ra cũng có lúc phải viết khác sự thực một chút, vì trong thơ không thể giải thích dài dòng. Thí dụ trong bài Anh gặp em, lúc đầu tôi làm:

Y sĩ Công an

Nhìn em

Nạt nộ om xòm!

Đó là sự thực, nhưng chưa phải là sự thực hoàn toàn, người đọc có thể hiểu lầm cho là có lý. Tại sao khi tên Y sĩ Công an nhìn cô gái trẻ miền Nam ho ra máu, sắp chết lại nạt nộ? Cái tên Y sĩ này lúc nào cũng nạt nộ, túm tóc, tát, đá bệnh nhân. Đó là thói quen của hắn, chứ không phải vì nhìn thấy cô gái đó mới nạt nộ. Tôi đọc cho anh Phùng Cung nghe để bàn xem. Anh Cung suy nghĩ, rồi nói: thôi, nên đổi lại là:

Y sĩ Công an

Nhìn em
Thôi nạt nộ om xòm!


và chúng tôi đồng ý với nhau là cho tên Y sĩ vô lại đó được làm người một phút! Tóm lại, chất liệu thơ của tôi là muôn ngàn cuộc đời tan nát, chôn vùi trong đó có cuộc đời tôi, tôi không hư cấu chi cả...

Trên đây là bằng chứng nói láo và bịp bợm của ông Nguyễn Chí Thiện. Ông Vô Danh làm bài thơ Anh gặp em này năm 1965, và sau đó đã chôn dấu một nơi cho đến khi ông gom tất cả lại và mang vào tòa đại sứ Anh năm 1979. Ông Vô Danh làm thơ Vẹm cấm như vậy, mà dám khoe để hỏi về một câu thơ với một văn nghệ sĩ nhà nước trong Hội Nhà Văn (Cộng sản) Hà Nội? Ông Vô Danh bị tù trong 20 năm, từ 1958 đến 1978, bị thả ra rồi lại bị bắt vào như cơm bữa, thì gặp Phùng Cung ở dịp nào? Một người tù, thân tàn ma dại, ho lao ra máu, cơm không có mà ăn, bị công an quản chế tại gia thật gắt gao, tiêu sầu bằng chai nước lã đun sôi, thì làm sao lại cần và dám gặp ông Phùng Cung trong Hội Nhà Văn Hà Nội để hỏi cách đặt một chữ thôi trong mấy trăm bài thơ, trong 20 năm làm thơ? Ông Thiện nói là ở Hải Phòng và bị quản chế tại gia cũng ở Hải Phòng thì làm sao lên Hà Nội mà gặp Phùng Cung để bàn về một chữ thôi?

Tôi nghĩ ông Nguyễn Chí Thiện trình độ quá thấp kém về văn hóa, quá bần cố nông, có thể nói rằng quá dốt, nên không thể nắm vững được chữ thôi và ý nghĩa của nó, hay cách xử dụng nó... như ông Vô Danh! Giá ông Thiện cứ ngậm miệng, lờ đi thì có ai hỏi? Nhưng chính ông Thiện quá dốt, không hiểu chữ thôi, lại ra cái điều ta đây cẩn thận, dùng chữ rất sát, rất đúng, và có Phùng Cung gà thêm chữ thôi cho đẹp!

Bài thơ Anh gặp em (đã viết ở đoạn trên) tả người con gái miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955, vì chửi Cộng sản nên bị chúng bỏ tù đến nỗi tàn tạ, ho lao ra máu và sắp chết đến nơi...

Anh gặp em trong bốn bức rào dầy

Má gầy, mắt trũng

Phổi em lao, chân em phù thũng

Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng

Em ngồi run, ôm ngực còm nhom

Y sĩ công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm

Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co ro

Những tiếng ho!
Những cục đờm mầu!



Tiếng thôi ở đây không phải động từ thôi là ngừng là... stop. Thôi ở đây là một tĩnh từ nhấn mạnh thêm vào sự nạt nộ om xòm của tên y sĩ công an. Câu này đáng lẽ ông Vô Danh muốn dùng là "thôi thì nạt nộ om xòm", nghĩa là tên y sĩ công an thấy mặt cô gái ho lao miền Nam là "bắt đầu" nạt nộ om xòm mạnh, không phải y đang nạt nộ rồi thấy cô gái ho lao thì "thôi" không nạt nộ nữa! Theo lối người Bắc có văn hóa, đáng lẽ phải viết là Thôi thì nạt nộ om xòm. Thơ thứ thiệt nên ông Vô Danh bớt chữ thì, nhưng người đọc hiểu ngay là tên y sĩ công an thấy mặt cô gái là nạt nộ, có lẽ vì y có thù ghét cô gái sẵn, không ngưng nghĩ chút nào, và rất mạnh, rất om xòm! Nếu là thôi nạt nộ, hay là không nạt nộ nữa thì cần gì đến chữ (từ) om xòm?

Câu Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng! thì ta có thể hiểu ngay là những cơn gió lạnh kinh người này đang quất mạnh vào đám người tù ho lao, rách rưới, ngồi co ro, rét run vì đói rét, bệnh tật, còm cõi (teo nhỏ) và không đủ quần áo che thân. Họ kinh hoàng khủng khiếp nhìn tên y sĩ công an cộng sản như nhìn thấy ác quỷ hay tử thần hiện lên để chửi bới nạt nộ om sòm. Ngày hôm sau cô bé ho lao này chết. Đoạn cuối bài thơ:

Sớm qua ngồi, tay em anh nắm

Muốn truyền cho nhau chút tình lửa ấm

Mặc bao ngăn cấm đê hèn

Sáng nay em không trống không kèn giã từ cuộc sống!

Xác em rấp trên đồi cao gió lộng

Hồn anh trống rỗng, tảu tơi!

(Vô Danh -1965)

Vào thời điểm 1965, ông Nguyễn Chí Thiện còn đang mặc complet trắng tinh đi dạo mát Hồ Gươm, hoặc đi bơi thuyền ở Hồ Tây, ăn bánh tôm với người bạn đẹp như tiên. Ông Thiện làm sao hiểu được tình yêu tương thân, trong thân phận tù đày, gần chết, của hai người tù cùng ho lao ra máu như nhau?

Lời tác giả: Tù nhân nam nữ bị giam riêng biệt. Ông Vô Danh tình cờ gặp cô gái miền Nam trong bệnh xá đầy những bệnh nhân hầu hết là ho lao. Tên y sĩ công an đã ghét cô gái sẵn, có lẽ vì cô gái này trí thức đã nhiều lần vặn hỏi, sửa lưng y mà y không trả lời được nên đâm ra thù hận cô gái này. Tên y sĩ này vừa thấy mặt cô gái là lớn tiếng quát tháo nạt nộ, chửi bới om xòm. Y sĩ cũng như chánh án cộng sản đều là cán bộ bần cố nông vô học hoàn toàn. Bọn này lúc nào cũng có mặc cảm dốt nát và rất thù ghét giai cấp trí, phú, địa hào. Nếu bệnh nhân hay tù nhân gặp cái thứ y sĩ hay chánh án cộng sản kiểu này thì còn chết mau hơn nữa.

Ông Vô Danh đã động lòng thương vì cô gái này đã quá tàn tạ, kiệt quệ mà còn bị tên y sĩ công an khốn nạn nạt nộ chửi bới om xòm, nên ông làm thân hỏi chuyện cô gái. Cô gái kể chuyện mình người miền Nam, vì nghe lời đường mật ngon ngọt bịp bợm của chó sói, nên đã bỏ mẹ và các em để tập kết ra Bắc năm 1955. Năm 1954 - 1955, số cán binh cộng sản miền Nam và những người miền Nam có cảm tình với Cộng sản phải đưa tầu Ba Lan (lúc đó còn là Cộng sản) đến chở ra Bắc. Phần lớn trong số gần một triệu người di cư vào Nam đi bằng tầu hải quân Hoa Kỳ. Nhiều người di cư còn nhớ đến chiếc tầu khổng lồ Marine Serpent chuyên chở khoảng 7,000 người mỗi chuyến, đã chở họ vào Nam, với lòng biết ơn.

Khi thất vọng, cô gái, và nhiều người Nam khác nữa, chửi bới Cộng sản thì bị chúng trở mặt, lộ nguyên hình chó sói lông lá béo mập húp híp, cho công an bắt họ bằng còng cánh tiên và bỏ tù ngay. Đi tù cộng sản thường có nghĩa là sẽ phải chết sớm hay muộn vì bệnh, vì đói mà vẫn bị đốc thúc đánh đập để lao động sản xuất nuôi công an, cai tù, giám ngục, quản giáo. Năm 1989 - 1990, người Mỹ đã cố gắng buộc Việt Cộng phải thả các sĩ quan VNCH và cho họ đi Mỹ. Người Mỹ và các cựu sĩ quan này hiểu rằng Việt Cộng muốn giam giữ họ cho đến chết.

Ông Vô Danh nghe câu chuyện quá xúc động đã nắm tay cô gái để tỏ sự thông cảm và cảm tình. Cô gái vui mừng vì đã có dịp tâm sự nỗi lòng trước khi lìa đời. Ngay đêm hôm đó, cái lạnh kinh hồn miền Bắc với gió rét căm căm đã đưa linh hồn cô gái ra khỏi cái địa ngục cộng sản. Ông Vô Danh ghi nhớ câu chuyện đau thương thê thảm của cô gái miền Nam "tập kết", và đã sáng tác một bài thơ bất hủ.

Vì tù nhân nam nữ giam riêng biệt, nên khi ông (đại tá công an đi thanh tra) Nguyễn Chí Thiện phải dùng khăn mù xoa trắng tinh bịt mũi khi tù nhân phụ nữ đi ngang qua và phàn nàn rằng những nàng Kiều thời đại không biết dùng băng vệ sinh nên hôi hám khiến ông ngửi không nổi, ta thấy ngay ông Thiện không phải là tù nhân nữ như họ và bị giam chung với họ. Phải chăng ông Thiện là công an bắt người, giam người thứ dữ, thứ cao cấp? Ông Thiện đến thăm trại giam nữ tù có lẽ chỉ để ngắm xem có người nào vừa mắt đẹp như tiên và ít hôi hám, thì mời họ đi ăn bánh tôm Hồ Tây và hộ lý cho ông. Ông sẽ ban cho họ nhiều quà cáp, miễn lao động, miễn bị còng cánh tiên, và đặc ân cho tắm rửa kể cả băng vệ sinh cho họ được sạch sẽ thơm tho hơn nữ tù nhân khác trước khi hộ lý cho ông?

Ông Vô Danh tả cảnh một người tù, bị cán bộ cướp vợ và đày đọa đứa con phải hầu hạ làm nô lệ. Một người tù được thả về trước nên đến nhà người bạn tù để nhắn tin xin ít thuốc ký ninh (trị sốt rét) và ít đường đen để bồi dưỡng, không phải xin giấy vệ sinh!

Có phải em là em bé?

Bố tập trung xa cách đã mười năm?

Bố dượng em là bác da ngăm ngăm,

Là đồng chí bí thư nơi mẹ em công tác?

- Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh khác

Về tìm em để nhắn hộ tin...

Bố em giờ đau ốm cần xin

Ít ký ninh, ít đường đen bồi dưỡng!



Ông Vô Danh tả cảnh tội lỗi do Cộng sản gây ra:



Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!

Trong lành cũng phải tanh hôi!

Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi!

Bạo lực đi về rất vội!

Chết trận, chết tù, hỡi ơi xã hội!

Biết bao là vợ góa, con côi,

Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi,

Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!

Mảnh đất chờ trông và sám hối

Thức giả tiêu sầu chai nước lã đun sôi!

(Vô Danh -1964)

Một tay em trổ: Đời xua đuổi!

Một tay em trổ: Hận vô bờ!

Thế giới ơi! người có thể ngờ?

Đó là một tù nhân tám tuổi!

Trên bước đường tù, tôi rong ruổi

Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!

(Vô Danh - 1971)

(Trổ: Xâm. tattoo).



Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!

Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng

Nước da hai bác màu hồng

Nước da các cháu nhi đồng màu xanh

Giữa hai cái mặt bành bành

Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò! (Vô Danh -1970)

(Hồ Chí Minh chết 1969, Tôn Đức Thắng thay thế)



Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh?

Đoạn viết này là giả thuyết theo sự nhận xét của tác giả. Đúng hay sai cũng còn tùy theo bạn đọc.

Chỉ nhìn sơ qua tập thơ Hoa Địa Ngục tập 2 hay là Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí Thiện để so sánh với tập thơ Vô Đề, ta thấy Cục Phản Gián khá vụng về khi cố gắng dàn dựng để ông Nguyễn Chí Thiện thành thi sĩ thật.

Điểm đầu tiên là cuốn Hạt Máu Thơ nhái theo thơ Vô Đề về nội dung trình bày. Khoảng hai phần ba đầu tập là những bài thơ riêng lẻ, đề năm sáng tác từ 1979 trở đi, nhiều bài không đề năm hay tháng, và phần cuối toàn một thể thơ 4 câu, gọi là những ghi chép vụn vặt.

Cán bộ dốt nát được tập thơ Vô Đề thấy cần phải tạo ra một thi sĩ tương đương với ông Vô Danh. Muốn như vậy thì phải đẻ ra một tập thơ nhái tương tự như thế mới giống, mới có vẻ din (origin), cùng một lò thơ như nhau. Chính vì có hai tập thơ giống nhau về hình thức nên người ta mới dễ so sánh và thấy đúng là đã do hai người khác nhau hoàn toàn sáng tác!

Nhưng tiếc thay đạo diễn phản gián có trình độ quá kém cỏi, nhất là về thơ. Mỗi thi sĩ, thi bá, hay thi hào... đều có những điệu thơ riêng biệt, giống như căn cước hay cá tính của chính họ... Những người sành thơ đều thuộc làu những bài thơ hay. Chỉ cần đọc một câu là người ta biết ngay đó là thơ Nguyễn Bính, Quang Dũng, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư... Ngay cả thơ đấu tố giết người của Xuân Diệu, hay thơ nịnh bợ liếm đít của Tố Hữu cũng có kiểu, có thể và sắc thái riêng biệt của mỗi người.

Chỉ cần nghe...

Cho tôi ép nốt giòng dư lệ

nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên! (T.T.KH.)

Người phụ nữ lỡ một cuộc tình, khóc đã cạn giòng lệ. Nhân đọc bài viết nói về hoa Ty Gôn giống như tim vỡ, nhắc nhở nàng chuyện tình dang dở ngày xưa. Nàng cố gắng ép nốt giòng lệ còn lại để viết thành bài thơ, khóc cho duyên tình lỡ dở. Thơ hàm xúc đầy ý nghĩa và làm cho người đọc thơ có cảm tưởng như sống trong sự đau khổ của thi nhân!

Em không nghe mùa Thu

dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

hình ảnh kẻ chinh phu

trong lòng người cô phụ?

hoặc:

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

cho vương vấn nợ thi nhân?

là người ta biết ngay thơ Lưu Trọng Lư, khỏi cần phải giới thiệu tác giả.

hoặc Tôi mơ Hà Nội giáng Kiều thơm...! là người ta biết ngay của Quang Dũng.

Hoa nở cô đơn bóng động thềm...

Vườn xưa còn thoáng chút hương em...

Xót xa lá cỏ vương mùi tóc!

Tà áo bay về, nhớ suốt đêm...! (Đinh Hùng)

là ta thấy ngay Đinh Hùng đang sống trong mơ và làm thơ cũng trong mộng mơ, không phải nhớ suốt đêm mà là nhớ suốt đời...

Giả thử cán bộ phản gián có nhờ Tố Hữu, Phùng Cung, Hữu Loan hay bất cứ ai còn sống ở Hà Nội nhái thơ ông Vô Danh thì cũng lộ tẩy ngay. Vì người quen thơ, sành thơ, đọc lên là thấy cái chất thơ hay mùi vị thơ độc đáo của mỗi tác giả, mỗi thi nhân thứ... thiệt!

Có lẽ vì khó kiếm thi sĩ thứ thiệt để làm thơ... nhái, cán bộ phản gián phải nhái thơ Vô Đề bằng cách... viết đại theo tam đại bần cố. Cán bộ dốt nát đâu có hiểu thơ với thẩn là cái quái gì. Thơ thẩn là của của phong kiến, chứ Cộng sản Mác Lê làm gì có thơ! Vả lại nhái thơ của một thằng tù thì có gì là... khó? Do đó ta mới được đọc thơ Hạt Máu Thơ của Nguyễn Chí Thiện hay là một loại ngắt câu nửa chừng rồi xuống giòng, hay kiểu sớ Táo Quân, hay thơ Thạch Sanh, Lý Thông, và phê bình... Từ Hải một cách rất... du kích! Cán bộ cũng cẩn thận làm thành một tập thơ khá giống tập thơ Vô Đề đã được in tại hải ngoại.

Nếu so sánh hai tập thơ cùng giống cách trình bày, ta thấy ngay tập Hạt Máu Thơ là Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh do các thi sĩ công an quốc doanh sáng chế, cố bắt chước cho giống tập thơ Vô Đề! Một giả thuyết khác là toàn bộ tập Hạt Máu Thơ do nhiều tác giả cán bộ sáng tác rồi đóng tập, rồi ông Nguyễn Chí Thiện học thuộc lòng, cho nên nhiều bài ông Thiện ngâm lại cũng không đúng, không đủ chữ...

Tài làm thơ của ông Thiện đã chứng tỏ trong vấn đề từ ngày sang Mỹ ông Thiện không hề trổ tài sáng tác một bài nào, kể cả thơ ngâm vịnh chó Mỹ hay hamburger. Trái lại người ta chỉ thấy ông Thiện trổ tài biểu diễn kiểu còng khóa Cánh Tiên độc đáo của ông và tài diễn thuyết hùng biện để khuyên người viết đừng căm thù người Cộng sản nữa, mà chỉ nên căm thù lý thuyết Mác xít!

Một điểm khôi hài nữa là khi mang ra hải ngoại và cho in tập Hạt Máu Thơ, mặt trận kháng chiến và ông Nguyễn Chí Thiện đều không đọc lại cả hai tập thơ để so sánh trước khi in. Họ cứ in đại để bán lấy 12 đồng một cuốn, vì nếu chậm thì chỉ có... ma nó mới bỏ ra 12 đồng mua một tập thơ... quốc doanh! Khi bán sách Hạt Máu Thơ thì đòi tiền trước đủ số, không thiếu chịu và không cho mang trả lại. Nhiều tiệm sách đã sợ cái lối bán hàng lấy tiền ngay và đủ, kiểu kháng chiến này nên không dám lấy cuốn Hạt Máu Thơ, vì họ sợ lỗ vốn, và sợ khách coi sơ qua rồi trả lại, đòi lại tiền.

Điểm khôi hài khác là Mặt Trận Kháng Chiến và Hội Văng Bút với các nhà thơ nhớn Viên Linh, Sơn Tùng lại hăng hái, tích cực một cách chắc ăn đưa cả hai tập thơ đến Thụy Điển để đề nghị giải thưởng Nobel văn chương cho Thiện! Xin quý vị độc giả thưởng thức mấy bài thơ quốc doanh độc đáo đã từng tham dự giải thưởng Nobel 1996! Khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển đọc đến tập Hạt Máu Thơ chắc phải cười đến vãi đái và phải gửi ngay về Hà Nội để lấy giải Nô Văn, Văn Hóa Vẹm với huân chương Sao Vàng!

Thể thơ dưới đây có thể gọi là thể quốc doanh 3 chữ và quốc doanh sớ Táo Quân:



Cái dạ dầy...

Cái dạ dầy

Đảng đày đọa

Đảng nhục mạ

Thủ phạm gây

Bao xấu xa

Bao xót xa

Bao quái lạ

Bao tai họa

Để cứu nó

Khỏi đói rạc

Khỏi tội ác

Thời Đảng Bác

Thời Mác Lê

Đều phải kê

Vào sọt rác!

Không thể khác!

(Nguyễn Chí Thiện - 1982 trg. 71 HMT)



Đảng bất nhân

Đảng bất nhân

Dân đành phận

Đức tán tận

Tài trầm luân

Tình ai cần

Tiền khốn quẩn

Đẹp bôi bẩn

Tốt hóa đần

Ăn lẩn quẩn









Dưới đây là thể thơ sớ Táo Quân quốc doanh



Tù ngục

Tù ngục đen sì

Sừng sững trơ lì

Tử biệt sinh ly

Âm thầm rên rỉ

Bất lực rầu rĩ

Chìm đắm tắc tị

Độc tài quái dị

Mọi thứ cấm kị

Dối gian vô sỉ

Bạo tàn vô lý

Phát xít nào ví!

Thở than chút tí



Dĩ nhiên là Cục Phản Gián, à quên ông Nguyễn Chí Thiện, và Mặt Trận Kháng Chiến (?), Hội Văn Bút với các thi sĩ nhớn Viên Linh, Sơn Tùng tin tưởng rằng đó là thơ nên mới dám cho in thành tập thơ và dám mang đi ngâm vịnh lung tung khắp nơi. Giá bán 12 đôla một cuốn, và thu được mấy chục ngàn đôla cũng chưa đủ cho giá trị siêu đẳng của tập thơ bất hủ này. Đồng bọn chí hữu của ông Thiện đã thẳng tay gửi đến thủ đô Stockholm của Thụy Điển để đòi phải cấp giải thưởng Nobel văn chương cho thi bá dỏm hạng nhất của thế kỷ, trị giá vài triệu đôla xài chơi.

(Tháng 2/1990, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã yêu cầu Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại để cử thi sĩ Vô Danh, lúc này được hiểu là Nguyễn Chí Thiện, với tác phẩm Vô Đề Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Hoa Địa Ngục dự thi giải Nobel văn chương 1990. Nhưng sau đó, có lẽ vì biết được sự giả dối về nhân sự tác giả, do người Anh thông báo chăng?, nên Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã lờ đi cho đến ngày nay.)

Cuối năm 1991, song song với sự thả Nguyễn Chí Thiện, Cục Phản Gián cho biết khá nhiều chi tiết về ông Nguyễn Chí Thiện để báo chợ hải ngoại phổ biến. Ông Thiện sinh tại phố Hàng Bột Hà Nội năm 1937. Dọn xuống Hải Phòng năm 1950. Năm 1957, 1958 hợp tác với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm (ở... Hà Nội (?), làm báo, rồi bị bắt tù cải tạo 2 năm. Năm 1960 ra khỏi tù. Sau đó, ông Thiện bị bắt lại năm 1961. Năm 1964, ông Thiện được thả đến năm 1966. Trong 3 năm từ 1964 đến 1966, ông Thiện dạy học và dịch sách báo Anh Pháp ngữ ở Hải Phòng. Ông Thiện bị giam tại Hỏa Lò Hà Nội rồi chuyển đi các trại Yên Phụ, Yên Hòa, Tân Lập, Hồng Ca, Trại Mo và trại Phong Quang, Lào Cay. Tổng cộng ông Thiện đã ở tù 30 năm. (người viết nghĩ rằng đây chỉ là sự bịa đặt của Cục Phản Gián vì các trại tù không có sổ sách, các tù nhân không có án, không có hồ sơ vào sổ thì làm sao tìm ra tung tích?) Cục Phản Gián cho biết ông Thiện được thả ngày 29/10/1991.

Được phóng thích năm 1978, ông Thiện về quê ở Hải Phòng sống âm thầm một mình kèm trẻ tại tư gia để sống qua ngày. Ông rất giữ gìn để khỏi bị bắt lại và dùng thì giờ thu thập các bài thơ ông đã làm trong thời gian tù đày để tìm cách gởi ra nước ngoài. Thầy mẹ ông đã qua đời. Mẹ ông mất năm 1970 và thầy ông mất vào một năm nào đó trước năm 1976.

Đọc bản tin của Cục Phản Gián trên đây thông tin cho phe ta ở hải ngoại phổ biến năm 1991, 1992, ta thấy Cục Phản Gián đã biết ngày sinh, trình độ học vấn, văn hóa và tiếng Pháp của ông Thiện với tuổi quá trẻ, không ăn khớp với ông Vô Danh, nên đã cố gắng cho sinh vào năm 1937.

Không mấy người để ý đến những chi tiết này. Cục Phản Gián cũng không chú ý vì năm 1990, 1991, Cục Phản Gián chỉ chú ý đến nêu vấn đề ông Thiện còn sống và đã tha để khỏi mang tiếng vi phạm nhân quyền. Cục Phản Gián cũng cho biết ngày ông Thiện chạy vào tòa đại sứ Anh theo sau một xe ô tô đang chạy vào, là ngày 2/4/1979. Đến khi ông Thiện ra mặt tại Hoa Kỳ cuối năm 1995, thì ông Thiện phải nói thật về tuổi tác cũng như chỗ ở Hải Phòng và các anh chị em. Ta thấy ngay có nhiều sai lệch về tuổi tác, bệnh tật, kể cả ngày tháng chạy vào tòa đại sứ Anh, so với bản tin của Cục Phản Gián và nội dung thơ Vô Đề.

Vì ra ngoại quốc, ông Thiện phải khai tuổi thật là sinh ngày 27/2/1939. Xuống Hải Phòng 1956. Ở tù có 27 năm, không phải 30 năm. Có 4 anh chị em, không phải sống một mình! Ông Thiện nói chạy vào tòa đại sứ Anh ngày 17/6/1979, không phải ngày 2/4/1979, như Cục Phản Gián đã loan. Ông Thiện chắc chưa từng đọc qua báo cáo của Cục Phản Gián nói về lý lịch của mình. Nếu ông Thiện khai ra những trại tù mà ông đã trải qua, có lẽ còn trật đường rầy hơn nữa. Mấy tên bồi bút hải ngoại sau này không dám khoe lý lịch cũ năm 1991 của ông Thiện nữa vì nếu khoe thì càng lộ tẩy mau hơn nữa.

Ông Vô Danh được thả vào cuối năm 1978 vì sức khỏe đã quá kiệt quệ, không thể lao động được nữa. Quản giáo cho ông về vì không muốn ông chết trong tù. Về đến nhà ở Hà Nội, song thân đã mất, cô đơn, cô quạnh, không có lợi tức vì thể xác kiệt quệ không thể đi làm lao động kiếm ăn, ông Vô Danh suy nghĩ chỉ còn cách duy nhất là liều mạng đưa tập thơ vào tòa đại sứ ngoại quốc thì mới có hi vọng được phổ biến tại hải ngoại. Ông Vô Danh thấy cần phải làm gấp vì ông không thể bị bắt tù lại. Ông Vô Danh tự biết cơ thể suy nhược tàn tạ vì ho lao ra máu, và không cơm, không thuốc, không tiền, và có thể chết rất nhanh. Ngày ông Vô Danh chạy vào tòa đại sứ Anh có thể là cuối năm 1978, hoặc trong tháng 4 hay tháng 6 năm 1979. Cái ngày thật có lẽ chỉ có người Anh biết rõ nhất.

Ông Thiện nói rằng thi đậu Tú Tài năm 1955 và bị bắt tù từ năm 1961. Ông Thiện chỉ bị tù 27 năm, không phải 30 năm. Ông Thiện chưa bao giờ bị ho lao. Ông Thiện khai chỉ bị bệnh thần kinh vì mất ngủ. Nhưng ông Thiện vẫn chứng tỏ là một nhà diễn thuyết, hùng biện với sức khỏe dồi dào, có thể nói mạnh mẽ trong nhiều tiếng đồng hồ mà không mệt. Ông Thiện khoe đã từng làm thơ... Đường năm 1955 và 1956 nhưng đã bỏ hết mấy bài thơ này! Vấn đề ông Thiện làm... thơ thì ta phải đặt ra nhiều nghi vấn. Ông Thiện đã chỉ ngâm lại những bài của ông Vô Danh hoặc những bài thơ (do ai?) sáng tác từ năm 1981, 1983... và có sẵn trong tập Hạt Máu Thơ. Không thấy ông Thiện chế tạo được bài nào trước và sau khi sang Mỹ cuối năm 1995!



* * *





Tại Orlando, Florida, ngày ông Thiện diễn thuyết một cách gay gắt rằng người Việt hải ngoại không nên căm thù người cộng sản mà chỉ nên căm thù chế độ Cộng sản và chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít. Ông Thiện cũng đồng ý với Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, v.v... và đài VNCR của ông Lê Đình Điểu đã có công phỏng vấn mấy tên Cộng sản này khiến cho Cộng sản phải thả chúng ra, cũng như đã phải cho ông đi Mỹ... Ông Thiện nói đó là Cộng sản sợ dư luận của 2 triệu người Việt hải ngoại nên mới không bỏ tù suốt đời hay giết những người chống Đảng nói trên.

Ông Nguyễn Chí Thiện ngụ ý nếu Cộng sản từ bỏ Mác Xít thì chúng sẽ là người Việt thuần túy như mọi người và như vậy sẽ dễ hòa hợp hòa giải và hòa cả làng! Ông Thiện khuyên như vậy thì ta phải hiểu là không nên căm thù người Cộng sản nữa. Cứ để yên cho cộng sản Mafia tư bản đỏ vẫn nguyên vẹn với công an trị và với chuyên chính... hữu sản! Người Cộng sản Mafia tư bản đỏ sẽ xóa tên cộng sản và chỉ còn giữ lại tên Mafia tư bản đỏ. Thế là hết Cộng sản, dân ta tha hồ sướng nhé!

Chúng tôi nghĩ rằng Cộng sản không cần phải sợ người Việt hải ngoại mà phải thả cán bộ Cộng sản giả tù. Chúng thả tù giả để đổi lấy qui chế tối huệ quốc trị giá hàng trăm tỷ đôla và sự bền vững của chế độ Cộng sản. Ông Thiện, Đoàn Viết Hoạt và đồng bọn chí hữu nhân quyền, các cán bộ phê Đảng giả vờ Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Tiến... đều cùng nằm trong kế hoạch chung của Hà Nội, đánh lừa người Việt hải ngoại rằng Cộng sản đã cởi mở, cởi trói rồi đấy để chạy theo Mỹ. Vậy cứ yên chí nhớn, đừng chống Cộng, đừng chống đối hiệp ước thương mại làm gì cho mệt.

Vào thời điểm viết đoạn này, tháng 12 năm 1999, thì tất cả kế hoạch cò mồi nhân quyền, phê đảng giả vờ, kể cả kế hoạch của những người Mỹ thân Hà Nội, đã trở thành thất bại hoàn toàn. Hiệp Ước Thương Mại đã được ném vào sọt rác. Cộng sản Hà Nội và Mỹ thân Hà Nội trơ mắt ếch. Ngay cả đến du lịch để chạy trốn sang Mỹ với hàng chục tỷ đôla cũng thất bại hoàn toàn. Tất cả chỉ là nước lã ra sông.



Theo người nghe kể lại thì buổi nói chuyện của ông Thiện tại Orlando được đạo diễn như một buổi... học tập cải tạo mà ông Thiện là cán bộ tuyên huấn, cử tọa là những con cừu non. Tuy nói rằng cử tọa có quyền đặt câu hỏi nhưng rút lại chỉ có hai câu hỏi đã gài sẵn để cho dễ trả lời. Những câu hỏi từ phía cử tọa thì ban tổ chức ỉm đi. Điểm này chính là sự thất bại sau này cho ông Nguyễn Chí Thiện. Người hải ngoại quả không thích bị coi như những con cừu non và họ khinh tởm cái lối hùng biện bịp bợm lếu láo với luận điệu bênh người Cộng sản một cách nhà quê, ngu đần.

Dưới đây là hai bài thơ khác cùng chung một đề tài:



Nhìn suất cơm

Nhìn suất cơm - cực hình tra tấn

Vừa khổ đau, vừa căm giận bừng bừng

Chúng đương xẻo của ta từng miếng thịt

Hút của ta từng giọt máu bi thương

Chúng cho ta ăn thua một con mèo

Và khoái trá khi ta xương da lủng củng

Đi đứng lờ đờ, xanh bủng, mắt mờ run

Chúng bảo ta vẫn còn nghị lực

Vẫn ngấm ngầm sáng tác

Tiếp tục nuôi ý đồ xấu xa bôi xấu Đảng



(1)Mù xoa: mouchoir / handkerchief - khăn tay của người sang trọng hay là cán bộ cấp tướng,không phải người bình dân hoặc tù nhân ngoài Bắc.

Giả thuyết: Ông Nguyễn Chí Thiện phải là cấp cao, cao lắm mới quen dùng mù xoa, nên tiện đưa vào trong thơ. Đứng trước công an mà ông Thiện không phải đeo còng cánh tiên mà có thể lấy mù xoa lau trán thì đúng ông Thiện là xếp sang trọng của công an rồi! Hai câu cuối cùng chắc cán bộ làm thơ ngủ gật, nên chẳng ra câu cú, cũng chẳng có nghĩa, chẳng ăn nhập vào đâu! Cán bộ sửa thơ có lẽ còn dốt hơn nữa, nên cứ để nguyên vẹn. Nhưng cũng có thể là thiếu tướng công an thích khoe mù xoa ra cái điều ta đây là giai cấp lãnh đạo, chỉ huy, không cho mù xoa vào thơ thì cũng uổng!

Ông Vô Danh viết về suất cơm tối năm 1966, khi vẫn còn ở trong tù, khác hẳn vần, điệu và ý nghĩa:



Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ

Tôi còn đương đau khổ nhìn theo

Thì nhanh như một đàn heo,

Bốn, năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau,

Bốc ăn một lúc sạch làu,

Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau!

(Vô Danh - 1966)



Khi nào được gặp lại anh

Sẽ kể anh nghe nhiều về chuyện sắn (khoai mì)!

Có chuyện thương tâm, chuyện cùm, chuyện bắn,

Có chuyện nhục nhắn, phản phúc, gian manh...

Tất cả tuy làm đau xót lòng anh

Niềm đau ấy, quân thù khiếp hãi!

Tôi có thể viết dài viết mãi

những chuyện mủi lòng về sắn, về khoai

Chế độ ta khoai sắn, một đề tài

cũng bất diệt như đề tài trai gái!

(Vô Danh -1967)



Đọc thơ của ông Vô Danh, ta thấy nổi bật lên nhiều ý nghĩa, thâm thúy, sâu sắc. Đảng dùng lương thực để kiểm soát dạ dầy, kềm kẹp người dân trong tay sắt của Đảng. Đảng Cộng sản xiềng xích con người bằng lương thực. Nghe lệnh Đảng, tuân theo Đảng, làm đảng viên, công an, đi bộ đội thì có ăn. Không có lương thực và đói quanh năm, đói kinh niên, con người lúc nào cũng hau háu đi tìm thức ăn như một con vật đói, thì làm sao có thể nổi loạn chống Cộng?

Thơ của ông Thiện không có thể thơ riêng biệt của một người. Cán bộ dốt nát đâu biết thơ thẩn là cái quái gì, nên chỉ viết đại ra rồi ngắt câu, xuống dòng, cho có vẻ câu thơ! Nếu độc giả chịu khó mất 12 đôla mua tập Hạt Máu Thơ, cộng thêm tiền gửi, của chính tác giả Nguyễn Chí Thiện thì chỉ cần đọc một ít bài vè 3 chữ, sớ Táo Quân trên đây là đủ điên người, thần kinh nát bét! Bỏ ra 15 đôla làm chi cho uổng?

Đề tài diễn thuyết của ông Nguyễn Chí Thiện có thể tóm tắt là ông chửi Cộng sản là tàn ác, bất nhân, lừa lọc, bịp bợm... thì cái đó mọi người tị nạn cộng sản ở hải ngoại đều biết từ khuya. Nhưng ông Thiện khôn khéo lái mọi người vào con đường riêng của ông là Cộng sản sắp chết đến nơi rồi, có thể là sang năm 1997, có thể là năm 2000, hay hơn nữa thì đồng bào không cần lo chống Cộng làm gì cho mất công!

Ông Thiện cũng đề cao Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương, Đoàn Viết Hoạt... là họ chống đối thật đấy. Ông Thiện cũng kể các đài VNCR, Little Saigon, báo Người Việt của các ông Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Vũ quang Ninh, Phạm Long, Nguyễn văn Nghĩa... là dư luận của đồng bào hải ngoại hỗ trợ mạnh mẽ cho đám cán bộ Cộng sản nòng cốt, trung kiên và không bao giờ chống Đảng đó, khiến cho chúng không bị đảng giết, mà trái lại Đảng phải tha, cũng như Đảng đã phải cho ông Thiện ra khỏi tù và đi Mỹ! Ông Thiện tuy không ở quận Cam, không đọc báo Người Việt và nghe các đài phát thanh, nhưng vẫn có mạng lưới thông tin cho ông. Ông Thiện đúng là một chính trị gia thứ thiệt, có cả tập đoàn, tổ chức và đảng làm hậu thuẫn đằng sau.

Dưới đây là những điểm chúng tôi nhận xét về ông Nguyễn Chí Thiện và những tình tiết chung quanh một nhân vật công cộng (public figure) nổi bật nhất trong Cộng đồng người Việt hải ngoại từ cuối năm 1995 đến 1996... Những nhận xét của chúng tôi cụ thể theo đúng tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh và những điểm mâu thuẫn với con người và thơ của ông Nguyễn Chí Thiện.

1. Thi sĩ Vô Danh của tập thơ Vô Đề hay là Hoa Địa Ngục I là một người độc thân, con một, chỉ có cha mẹ già. Hai vị này đã chết trong khoảng năm 1970 đến 1975. Thi sĩ Vô Danh đã ở tuổi 20 (21, 22?) năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền. Lúc đó ông Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi. Thi sĩ Vô Danh có học lực Tú Tài Pháp trước năm 1945 và rất giỏi nói và viết tiếng Pháp, thật lưu loát. Thi sĩ Vô Danh đã bị tù ra, tù vào, từ năm 1957 hay 1958. Ông Vô Danh bị ho lao ra máu từ đầu thập niên 60s chỉ có một tâm nguyện đưa được tập thơ vào tòa đại sứ để phổ biến khắp thế giới, rồi chịu chết cũng cam lòng, vì ông biết không thể thoát khỏi tay bọn công an cộng sản ác ôn giết người như ngóe. Ông cũng biết không thể sống lâu hơn nữa vì bệnh ho lao ra máu đã quá nặng, cơ thể ông đã kiệt quệ, có thể chết bất cứ lúc nào.

2. Ông Nguyễn Chí Thiện đã quá sung sướng khi ở Hà Nội với những kỷ niệm như mặc complet toàn trắng đi dạo mát ở Hồ Gươm, đi bơi thuyền ở Hồ Tây, ăn bánh tôm với người bạn đẹp như tiên, mưa lụt cũng có người thắp đèn đến mời đi ăn cỗ, học đánh bốc, đánh võ cho cường tráng để có thể gặp địch là bắt nó quy hàng... Thế thì ông Thiện đã ở vào giai cấp thống trị của Đảng ta. Nhà Nước ta và chế độ ta thật rồi đấy nhé... Làm gì mà có chuyện bị tù 27 năm? Ông Thiện tha còng thằng nào thì phúc cho thằng đó, chứ ai dám đeo còng cánh tiên vào tay ông Thiện? Vả lại không được học qua khóa huấn luyện còng thì làm sao biết còng? Giả thử chúng tôi gặp ông Thiện trong nước, ở Hồ Tây, mà dám liếc nhìn đào đẹp như tiên của ông thì có lẽ được nếm mùi còng cánh tiên của ông ngay!

3. Ông Nguyễn Chí Thiện khi hô hào người Việt hải ngoại không căm thù Người Cộng sản - mà chỉ căm thù chế độ và chủ nghĩa Cộng sản, thì ông Thiện đã đứng chung hàng ngũ với Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Đoàn Viết Hoạt... Như vậy, ông Thiện đã đứng chung hàng ngũ với những tên Cộng sản trung kiên, khát máu đã chỉ vẽ bánh vẽ tranh đấu, bánh vẽ để bịp bợm chúng tôi.

Mục đích của ông Thiện là mong muốn người hải ngoại đừng căm thù người Cộng sản nữa, và hăng hái gởi tiền về nước đầu tư, du lịch để nuôi sống chế độ Cộng sản đang bị khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng.

Điều này dễ hiểu vì ông Thiện từng ăn nhậu với Hoàng Minh Chính, với Giám Đốc công an Hà Nội, với Nguyễn Huy Thiệp, với ai khác nữa trước khi đi sang Mỹ... thì chỉ có một mình ông Thiện biết mà thôi. Tiếc rằng ông Thiện không muốn và không thể nói sự thật về quá trình hoạt động của ông ở miền Bắc cũng như cấp bậc, chức vụ... Nhưng rồi cũng có ngày chúng tôi sẽ biết. Người Mỹ có tính rất hay là tuy họ biết rồi nhưng họ vẫn mặc kệ, dùng cò mồi của Vẹm làm cò mồi cho họ, có sao đâu? Gậy ông đập lưng ông là thủ đoạn thông thường của ngành phản gián. Quả đất tròn và thời gian đi cũng nhanh, phải vậy không, ông Thiện? Chúng tôi cũng nghe nói Cục Phản Gián cũng sửa soạn một tên cán bộ khác cấp bậc đại tá làm thi sĩ rổm để bịp người hải ngoại. Tên này có tên là Nguyễn Văn Tùng, có hai con gái, một ở California, một ở Gia Định. Trong vụ sửa soạn này, tên đại tá phản gián đã được đặc cách thăng quân hàm thiếu tướng.

4. Coi video hình ông Thiện diễn thuyết một cách rất sắt máu, sắt đá, muốn áp đảo tinh thần cử tọa, muốn buộc cử tọa phải tuân theo ý chí cương quyết của mình, không cho cử tọa đặt câu hỏi, chỉ có câu hỏi cò mồi đã được sửa soạn sẵn, thì chúng tôi thấy ông Thiện đã hiện nguyên hình, không phải là một người tù 27 năm và ho lao ra máu. Dĩ nhiên ông Thiện rất khỏe mạnh và không hề ho lao ra máu bao giờ. Ông Thiện tuy nói rằng bị bệnh thần kinh vì quá căng thẳng mệt mỏi và rất yếu. Trái lại chúng tôi thấy ông Thiện hoàn toàn không có triệu chứng bệnh tật nhất là bệnh thần kinh hay tâm thần. Ông Thiện không hề bị co giật cơ bắp trên mặt, trên miệng và không hề nhầm lẫn ngọng nghịu, và nhất là không hề vấp váp trong mấy giờ liền. Ông Thiện có thể nói thao thao bất tuyệt một cách hùng hồn mạnh mẽ như một cán bộ cấp cao tuyên huấn trong hơn 3 giờ liền, chỉ uống nước có một lần (tối 14/12/1996 ở Orlando, Florida). Nếu ở tù cộng sản 27 năm mà khi ra hải ngoại vẫn tiếp tục bênh và cứu sống Cộng sản thì người Việt hiểu ngay là ông Thiện chưa bao giờ ở tù thật.

5. Chúng tôi khẳng định là kế hoạch thay đào đổi mận của Cục Phản Gián đã thất bại hoàn toàn như toàn bộ cán bộ cò mồi bánh vẽ từ Bùi Tín đến Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính. Chúng tôi khẳng định là ông Thiện đã bắt đầu thất bại ở nhiều nơi. Cuộc họp ở Orlando ngày 14/12/1996 đã được Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu sửa soạn và xách động người Việt trong gần 6 tháng trời mà cuối cùng chỉ loe ngoe có mấy chục người. Tập đoàn Bửu Sao lại bắt mọi người phải đứng dậy vỗ tay hoan hô như đối với lãnh tụ, chính khách nhớn khi ông Thiện và đồng bọn Bửu Sao, Hội và Cửu bước vào phòng hội.

6. Trong nhiều cuộc họp Cộng đồng năm 1996, người ta thường thấy mặt đủ thứ quốc doanh dính liền với nhau như thi sĩ quốc doanh (state-owned poet), sư quốc doanh, cha quốc doanh và đại diện, lý thuyết gia của mặt trận kháng chiến quốc doanh để kêu gọi nhân quyền năm 2000, đòi liên kết trong ngoài với Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, tổ chức đại hội Cư Sĩ với mục đích hàng ngũ hóa nhân dân kiểu Sô Viết, tranh đấu đòi Mỹ phải gửi đại sứ đến Hà Nội và cho quy chế tối huệ quốc, và nếu cần thì xuống đường, tự thiêu... đánh thẳng vào nền tảng chính trị Hoa Kỳ!

7. Lần sau, nếu có lần sau, ông Thiện mà trở lại Orlando thì chỉ có 3 người, Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu đến nghe và vỗ tay bất bình thường kiểu xanh vỏ đỏ lòng tay mà thôi. Đài phát thanh Khoa Học Kỹ Thuật và nhiều tờ báo tại quận Cam và các nơi đã từ chối không cho ông đến dù ông đã điện thoại năn nỉ xin được đến để nói chuyện, để có dịp ra mắt, quảng cáo không tốn tiền. Có lẽ họ đã thấy cái gì trong mình ông Thiện chăng?

Người ta chẳng biết gốc gác thật của ông Thiện ra sao, nên họ ngài ngại. Vả lại, chẳng ai thích thú gì khi ông Thiện trổ tài nghệ siêu đẳng biểu diễn về Kiểu Còng Cánh Tiên bất hủ của ông và Công an cộng sản. Những buổi nói chuyện của ông cũng gần như không được báo chí phát thanh ở Hoa Kỳ loan tin. Người Việt chúng tôi cũng vì sợ cái kiểu Còng Cánh Tiên nên phải chạy loạn cộng sản ra hải ngoại.

8. Kể từ khi bài này được phổ biến thì ông Thiện đi đến đâu cũng phải trả lời những câu hỏi trong tập thơ Hạt Máu Thơ của ông. Tất nhiên những người tổ chức cho ông đi đây đi đó để làm chính trị hải ngoại cũng chẳng thích thú gì cho ông đi du lịch nữa và họ đã nhìn thấy trước sự thất bại, tốn tiền, tốn công vô ích, với nhiều hậu quả dội ngược hay là phản tuyên truyền.

9. Trình độ người Việt hải ngoại rất cao và rất văn minh. Một cán bộ dù có cấp bậc cao, dù có kinh nghiệm hùng biện diễn thuyết trong các lớp học cải tạo, thì làm được cái gì để lấy lòng, thu hút và lôi cuốn người Việt hải ngoại? Trình độ "chính trị" quá ấu trĩ, tư cách bần cố và những lời lẽ "đanh thép" kiểu cán bộ chuyên chính của ông Thiện có lẽ chỉ thích hợp với các lớp học tập cải tạo hay là "rèn cán chỉnh quân" trong nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, hơn là tại diễn đàn Cộng đồng hải ngoại. Làm chính trị đã khó, mà thu hút được sự quý mến và tin tưởng của người Việt hải ngoại, lại càng khó hơn.

10. Nói thật với ông Thiện rằng dù ông tuyên bố sẽ ra đài phát thanh hay ra báo theo kiểu kháng chiến quốc doanh năm 1983, 1984, để quyên tiền đồng bào chống Cộng thì cũng chẳng có người Việt hải ngoại bị ông bịp bợm lần nữa đâu. 15 năm trôi qua, mọi người nghĩ đến kháng chiến phở tái, áp chảo, kháng chiến quốc doanh với mấy thằng Vẹm ngồi lù lù một đống cầm đầu, chỉ huy... thì ai cũng ớn đến mang tai. Cái vụ ra đài, ra báo vào năm 1997 để bịp bợm chống Cộng, xách động và moi tiền quần chúng, không moi được thì khủng bố đe giết, dọa giết, giết thật... đã lỗi thời, quá date... từ khuya!

11. Một con vật dốt như vịt, diễn thuyết như vịt, bước đi như vịt, nói quang quác không mỏi mệt như vịt, thì đúng là con Vịt thật sự. Một con Vịt nói như Vẹm, cương quyết sắt máu như Vẹm, bắt cử tọa phải nghe mình nói tràng giang đại hải kiểu tuyên huấn, bịp bợm Vẹm, bắt cử tọa phải đứng dậy vỗ tay chào đón hoan hô như đón lãnh tụ Vẹm, thì đúng là Vịt Vẹm thứ thiệt rồi, còn gì nữa!

12. Lập trường duy nhất và kiên định của toàn thể 80 triệu người trong nước là phải tiêu diệt tập thể lãnh đạo Cộng sản Mafia tư bản đỏ bằng bất cứ giá nào để cứu nước Việt Nam. Đến giờ này mà ông Thiện còn nghĩ rằng với tài sức của ông mà cứu nổi cho lãnh đạo Cộng sản Hà Nội khỏi chết thì ông Thiện đã nhầm lớn. Ông Thiện hoàn toàn không có tài, có đức, thì làm sao thu hút được hơn hai triệu người Việt hải ngoại vào một khối do ông làm lãnh tụ và điều khiển? Tại Sata Ana, tháng 12/1995, ông Thiện có nói không nuôi mộng lập Đảng, làm lãnh tụ, làm chính trị thì hiện nay ông Thiện đang làm gì? Vẽ bánh vẽ đừng căm thù người Cộng sản nữa và đừng chống Cộng nữa vì Cộng sản sắp chết đến nơi chăng? Hay là ông Thiện đã có đảng rồi, có lãnh tụ sẵn rồi, và nhiệm vụ của ông chỉ là bảo vệ mà thôi?

13. Ông Thiện đã đánh không đúng chỗ. Người hải ngoại cũng căm thù Cộng sản như người trong nước, nhưng cả trong và ngoài nước đều ở trong hoàn cảnh không thể dùng bạo lực vũ trang tiêu diệt Cộng sản. Chỉ có chúng tôi có đủ bạo lực vũ trang tiêu diệt bọn cầm đầu Mafia tư bản đỏ Hà Nội, bọn tay sai Trung Cộng, và những tên chó săn, nằm vùng, gián điệp, quốc doanh, văn nô bồi bút ở hải ngoại.

14. Chúng tôi có đủ quyền lực và bạo lực để tiêu diệt Cộng sản thì chúng tôi không cần phải hòa giải hay hòa hợp với Cộng sản. Tiêu diệt xong Cộng sản thì toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ được tự do xây dựng lại quê hương. Họ sẽ có đủ thứ tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền, no ấm, giầu mạnh. Đất nước sẽ sạch sẽ không còn quỷ ma Cộng sản, không còn bọn công an dữ dằn chỉ biết còng người bằng cánh tiên và bắt người, giam người. Sẽ có một trại học tập cải tạo đặc biệt dành riêng cho bọn lãnh tụ Mafia tư bản đỏ ác ôn, các sư tăng và văn nghệ thi sĩ quốc doanh, các văn nô bồi bút, báo sĩ, cư sĩ và tiến sĩ năm vùng tay sai cho Cộng sản. Chúng tôi có bạo lực và quyền lực tiêu diệt Cộng sản thí cái cỡ ngục sĩ rổm, thi sĩ quốc doanh là cái thá gì mà bịp bợm nổi chúng tôi?

15. Cộng sản Bắc Kinh và cán bộ Tàu, Việt gốc Tàu đang cầm quyền tại Hà Nội. Chúng đã giết chết các đồng chí của chúng như Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn Đình Tứ, Dương văn Đầy, mấy chục tên khác nữa và vẫn tiếp tục giết... Tại sao ông Thiện không đả động đến chuyện chính trị Bắc Kinh ngay tại Hà Nội mà ra hải ngoại múa mỏ khua môi một cách lỗi thời, quá date như vậy? Giám đốc Thông tin Saigon Ca Lê Thuần mới bị thay thế bằng Lê Hồng Liêm tức Sáu Liêm, một người Tàu Chợ Lớn chính hiệu con nai. Tên này sẽ ép báo chí văn nghệ (cộng sản) miền Nam vào khuôn phép sắt máu của Đảng Cộng sản... Tàu. Cả chục tướng và tư lệnh mới bị mất chức và cố vấn Trung Cộng đang ngồi ngay tại các quân khu và bộ chỉ huy để ra lệnh, điều quân. Ông Thiện và các chí hữu của ông nên lên tiếng và tỏ thái độ về vấn đề này.

16. Theo tình hình hiện nay thì chế độ Cộng sản Hà Nội chỉ còn cái tên. Thực lực nòng cốt đã bị Bắc Kinh tiêu diệt. Như vậy ông Thiện chẳng còn người Cộng sản Hà Nội nào để mà cứu. Người Việt chúng tôi không ai muốn gửi tiền về Việt Nam nữa. Tất cả toàn dân hiện nay đang dồn nỗ lực vào vấn đề tiêu diệt bọn cán bộ Tàu Cộng do Lê Khả Phiêu cầm đầu ở ngay Hà Nội. Ông Thiện có quyền phục vụ cho chế độ của ông, đó là quyền tự do của ông. Nhưng người Việt chúng tôi thẳng thắn tố cáo những tên cộng sản bịp bợm, quốc doanh, đang lăm le xảo trá bịp bợm chúng tôi thêm nữa, thì đó là quyền tự do của chúng tôi.

17. Chúng tôi hiểu rằng chỉ có tiêu diệt những tên cộng sản Mao Xít và Xít Ta Lin Nít đang cầm quyền như Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Hoàng Minh Chính tức trung tướng công an phản gián Trần Ngọc Nghiêm, thượng tướng công an Lê văn Quý tức Lê Hồng Hà, trung tướng công an Lê Minh Hương, trung tướng công an Nguyễn Tấn Dũng, trung tướng công an Nguyễn thị Xuân Mỹ, trung tướng bộ đội Phạm văn Trà, v.v..., và đồng bọn Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, Đoàn Viết Hoạt, Đỗ Trung Hiếu, và bè lũ chó săn, bồi bút, cò mồi, văn nghệ thi sĩ quốc doanh hải ngoại, thì cả nước Việt sẽ hồi sinh. Toàn dân Việt sẽ sống trong thanh bình tự do, no ấm và không còn Cộng sản.

18. Để kết thúc bài viết, bài thơ của ông Vô Danh nói lên đời sống trong chế độ Cộng sản nô lệ, ngục tù và cái gì sẽ phải xảy ra:

Miêu tả đảng Cộng sản:



Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp!

Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành trâu
Giúp người già bằng bắt bớ rể dâu

và cải tiến dân sinh thành xác mướp

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp

Dựng triều đình mông muội giữa Văn Minh!

Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh!

Nhờ súng đạn Tầu, Nga bắt bớ

Đảng hết thở, cuộc đời mới thở

Đảng còn kia, bát phở hóa thành mơ!

(Vô Danh - 1973)

Đời sống dưới chế độ Cộng sản:



Với tôi, ngày sống là sống giả

Lao động nhục nhằn, đói ăn rũ lả

Chuyện phiếm,, bông đùa, như quên tất cả

Và như tù mãi chẳng cần ra!

Nhưng đêm về tôi mới sống sót xa

cả quá khứ, tương lai, cùng hiện thực.

Tim với óc căng lên vì động lực

Đẩy vần thơ từ đau khổ chồi ra!

Những vần thơ có hình dạng là hoa

Song sức phá vạn lần hơn trái phá!

(Vô Danh - 1971)



Và đây là giải pháp cần phải áp dụng tiêu diệt Cộng sản trong tương lai:



Bom đạn tầng cao chưa đủ!

Tên lửa tầm xa chưa đủ!

Đất này cần quần nát bởi xe tăng!

Mới có thể san bằng khổ nhục.

Mới có thể đào lên khôi phục

giá trị con người, phong tục, thi ca...

Dù xích tăng nhằm nghiền nát đời ta

Dù bước tận cùng Cộng sản thủ tiêu ta

Ôi những binh đoàn trọng pháo chiến xa

Tiếng gầm rú của người sẽ làm ta hả dạ!

(Vô Danh -1972)



Thi sĩ Vô Danh dứt khoát phải tiêu diệt Cộng sản:



Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh

Nhưng không thể dùng bom A bom H

Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh

Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết

những tội tầy đình được bưng bít tinh vi!

Nếu nhân loại mọi người đều hiểu biết

Cộng sản là gì?, tự nó sẽ tan đi!

Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si

Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt!

(Vô Danh - 1973)



Đoạn sau cũng là đoạn kết:

Ngày thứ Tư 8/7/1998. Nguyễn Chí Thiện kể chuyện ma - giới vô hình cũng căm thù Cộng sản. Lời giới thiệu - VNN - Mới đây, Nghị Viện các Nhà Văn Quốc Tế đã tài trợ cho hai nhà văn thơ Việt Nam nổi tiếng ở Strasbourg, Pháp quốc, để có thời gian sáng tác. Đó là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả thi phẩm bất hủ Hoa Địa Ngục, và nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày. Cả hai ông đều là tù nhân lương tâm dưới chế độ Cộng sản nhiều năm. Nhân dịp này, thông tín viên VNN tại Pháp đã có cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về đời sống cá nhân ông và tình hình Việt Nam hôm nay.

VNN: Thưa ông Nguyễn Chí Thiện, được biết ông đã rời Hoa Kỳ sang Pháp trong một năm, theo lời mời của Nghị Viện các nhà văn Quốc Tế. Khí hậu nước Pháp có tốt cho ông không? Và sức khỏe của ông hồi này ra sao?

NCT: Hiện nay tôi thỉnh thoảng vẫn còn bị choáng váng, có lẽ do áp huyết thấp, nhưng so với hồi còn ở trong nước thì khá hơn nhiều. Khí hậu nước Pháp nổi tiếng là dễ chịu, nhưng bây giờ cũng đã khác, hay có những thay đổi bất thường. Nhân loại đang phải trả giá cao cho sự phá hoại môi sinh quá trớn kể từ đầu thế kỷ.

VNN: Ông vẫn tiếp tục làm thơ chứ?

NCT: Tôi đã ngưng làm thơ từ năm 1988. Thể loại này chỉ tốt khi tôi ở trong tù, không có giấy bút (sic). Văn xuôi rộng đất cho sự diễn đạt hơn. Hiện giờ tôi có ý định dùng văn xuôi để viết lại quảng đời tôi đã trải qua. Đặc biệt là giai đoạn 6 năm ở Hỏa Lò Hà Nội, từ 1979 đến 1985. Hỏa Lò bây giờ đã bị phá để xây một khách sạn lớn. Cần phải có một chút kỷ niệm cho nó. Tôi muốn ghi lại những cảnh sống trong Hỏa Lò, trại giam giữa thủ đô, gần trung ương nhất, mà con người sống ở đó lại gần với con vật nhất, có nghĩa Hỏa Lò là nơi kinh tởm nhất trong số những nhà tù mà tôi đã sống qua. Hiện tôi đang ở cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên tại thành phố Strasbourg tại miền Bắc nước Pháp. Trước đây chúng tôi đã ở cùng nhau tại trại Phong Quang giáp biên giới Việt Trung. Nhà văn Kiều Duy Vĩnh mà bạn đọc có dịp làm quen qua một số chuyện ký Cuộc tuyệt thực ở trại Cổng Trời, Thánh Tử Đạo thứ hai mà tôi được gặp, v.v.., cũng ở đấy cùng chúng tôi. Có nhiều chuyện để mà nói với nhau lắm, chuyện cũ, chuyện mới, nhiều nhất là những dự định sáng tác. Chúng tôi bắt đầu viết chung một cuốn sách về những hồn ma oan khuất ở các trại tù trên miền Bắc Việt Nam.

VNN: Chẳng lẽ lại là một cuốn chuyện ma?

NCT: Đúng. Nhưng đây là ma tù, một thứ ma đặc biệt. Có lẽ do họ chết quá oan khuất, hồn không siêu thoát được, cho nên sự hiển hiện của họ cũng rất lạ. Nhiều người tù, và cả cán bộ trại giam, đã được chứng kiến sự linh thiêng của họ. Tôi nhấn mạnh: đây không phải là chuyện ma tưởng tượng. Không giống như Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Tôi và nhà văn Vũ Thư Hiên đều không phải là những người mê tín dị đoan.

VNN: Ông có gặp ma tù?

NCT: Câu trả lời sẽ nằm trong cuốn sách sẽ ra đời.

VNN: Ông có thường xuyên theo dõi thời sự trong nước không?

NCT: Từ ngày rời Việt Nam, tính tới nay vừa tròn 30 tháng, tôi luôn gắng liên lạc tìm hiểu tình hình nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc sống và tâm trạng của nhân dân, vì đó là hai yếu tố quan trọng nhất cho ta hiểu sự diễn tiến của cuộc đấu tranh vì dân chủ và tự do. Tôi rất tha thiết mong đất nước sớm có dân chủ và tự do để tôi có thể trở về.

VNN: Theo ông, tướng Trần Độ là người thế nào? Có người gọi ông ta là cò mồi cộng sản, là đối lập cuội, ông nghĩ sao?

NCT: Số người gọi ông Trần Độ bằng từ ngữ hàm hồ như thế rất hiếm. Thậm chí có người còn gọi ông ấy là con ngựa già của chế độ. Riêng tôi, giả thử Trần Độ có là con ngựa già của chế độ mà nay trở thành bất kham, muốn quật đổ chế độ, thì đó là điều rất đáng hoan nghênh. Đọc những bài viết của ông Trần Độ từ năm 1988 tới nay, nghĩa là từ hồi tôi còn nằm trong tù, tôi thấy ông là người rất đáng tôn trọng. Năm 1988, khi ông còn làm Trưởng ban Văn Hóa-Tư Tưởng của Trung Ương Đảng Cộng sản, ông đã viết một bài đăng trên báo Văn Nghệ yêu cầu đảng Cộng sản đừng có đóng vai kẻ chọn món ăn tinh thần cho nhân dân, vì nhân dân đủ thông minh để chọn lấy.

Nghĩa là ngay từ hồi đó ông đã đòi hỏi đảng phải để cho nhân dân được quyền thông tin đầy đủ, không thể bị bưng bít, chỉ được đọc và nghe những gì đảng cho phép. Sau đó ông lại bị loại bỏ. Cái đó không làm ai ngạc nhiên. Ở trong tù, bọn công an nhiều lần nói với tôi về tướng Trần Độ một cách rất hỗn xược. Chúng nó khoe đã đến nhà ông khám xét nhiều lần. Tất nhiên đứng trên lập trường đảng cộng sản, chúng nó phải coi ông là tên phản bội. Gần đây, ông tuổi đã cao, lại bị liệt, nhưng ông vẫn tiếp tục viết bài đòi hỏi dân chủ hóa, đòi hỏi tự do ngôn luận... Tôi nghĩ đòi hỏi hai điều kiện này cũng đồng nghĩa với đòi hỏi giải thể chế độ độc tài, đảng trị, mà đây là điều tất cả những người Việt Nam đều mong mỏi.

Trong những bài viết của ông, có đôi chỗ ông còn viện dẫn tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí còn dễ dãi dành quyền lãnh đạo chính trị cho đảng Cộng sản. Ai sống trong lòng chế độ Cộng sản và hiểu chế độ Cộng sản thì thấy ngay ông đã phải viết như thế trong hoàn cảnh nào. Phải vừa đánh vừa đỡ. Ở địa vị của ông hành xử như vậy là khôn ngoan, Ông tranh đấu cho dân chủ ngay trong nội bộ đảng, ngay tại thủ đô Hà Nội, ông không thể giống như chúng ta đấu tranh ở Mỹ, ở Pháp hay ở Đức. Tôi có quen ông, tiếc rằng chỉ trên điện thoại, tôi hiểu ông là người điềm đạm, nhưng ông vững vàng trong trận chiến đấu của mình!

VNN: Thưa ông, liệu những tiếng nói phản kháng trong nước có làm nên chuyện gì trong việc dân chủ hóa đất nước không?

NCT: Tôi đã nhiều lần phải nhắc đi nhắc lại ngôn luận là cái cầu nối liền giữa tư tưởng và hành động. Nó là bước đầu không thể thiếu trong cuộc đấu tranh để dân chủ hóa đất nước.

Những tiếng nói phản kháng ở trong nước là vô cùng quý báu. Theo tôi, tiếng nói của ông Trần Độ là tiếng nói gây tác động lớn nhất. Trong đảng, trong quân đội, có nhiều cán bộ sĩ quan cao cấp là bạn hoặc đàn em của Trần Độ. Những lời tâm huyết của ông đánh thẳng ngay vào tim óc của những lực lượng mà nhúm lãnh tụ đảng coi như trụ cột để họ dựa vào nhằm giữ vững địa vị và đặc quyền. Một khi trụ cột lung lay thì chế độ cũng phải lung lay và sụp đổ nhanh chồng chất. Indonesia là một minh chứng. Tôi coi những chiến sĩ dân chủ như Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đình Huy, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc... là những người chuẩn bị tâm lý cần thiết cho nhân dân trong cuộc nổi dậy trong tương lai.

Có những người ở hải ngoại coi họ là cò mồi, là đối lập cuội nên tự đặt cho mình câu hỏi: Mấy lãnh tụ Cộng sản bày trò tự gây rắc rối cho mình như vậy để làm gì? Những hình ảnh tưởng tượng trong đầu những chính khách sa lông chẳng có gì giống với thực tế. Ở ngoài này, tôi còn thấy một hiện tượng, tuy không phổ biến, nhưng cũng khá tai hại. Đó là thái độ mong chờ chế độ hiện tại tự dân chủ hóa. Tôi nghĩ sự mong chờ này là vô vọng. Muốn dân chủ hóa xã hội nhất thiết phải dẹp bỏ chế độ độc tài đảng trị. Đây là tiền đề không thể thiếu.



* * *



Năm tháng trôi qua, cái kim trong bọc cũng có ngày phải lòi ra. Ông Nguyễn Chí Thiện không biết làm thơ và cũng không viết nổi chuyện ma tù. Nếu Đảng Cộng sản thành công lừa bịp Mỹ ký kết Hiệp Ước Thương Mại với quy chế tối huệ quốc, thì giờ này, người Việt hải ngoại thấy tất cả bọn cò mồi, nhân quyền, kháng chiến ma, chính phủ dổm, báo đảng, đài đảng, tăng ni quốc doanh và toàn bộ chó săn cộng sản hải ngoại... có thể trơ tráo ra mặt công khai với cờ đỏ sao vàng! Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã sẵn sàng cấp 150,000 chiếu khán du lịch vào Mỹ mỗi năm, để Hà Nội gửi khoảng vài chục sư đoàn du kích buôn lậu, ma túy, băng đảng xâm nhập và đánh phá tan nát xã hội Hoa Kỳ.

Tóm lại, toàn chế độ Cộng sản và bọn chó săn, cò mồi, quốc doanh hải ngoại đang như cá nằm trên thớt. Người viết bài này khẳng định với các ông Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt và các cán bộ Cộng sản từ Bùi Tín đến Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu rằng:

Chúng tôi vẫn có bạo lực. Chúng tôi sẽ xử dụng bạo lực để tiêu diệt toàn bộ đầu não Cộng sản. Chúng tôi sẽ cho toàn bộ lãnh đạo Cộng sản và bọn quốc doanh, cò mồi tắm trong máu của chúng.

Bach Linh


 

 
 
 
 Những Bài Thơ Vô Ðề
 Thủ Bút Của Tác Giả Vô   Danh
 
 
 
Những Bài Thơ Con Cóc Của Diễn Viên Nguyễn Chí Thiện
Lá Thư Của NCT Ngày   7-11-95
 
 
 
Chu-Sa (Domino Trung Cộng)
  FBI
 
 

Copyright© 2002-2011 by Nhóm Chiến Sĩ Cách Mạng Vô Danh. All Rights Reserved.