| |
| Date
:
2/23/2012 1:21:23 AM |
IP
Address:38.107.179.214 |
|
|
|
| |
Topic:
|
Tác
Giả Vô Danh & Thơ Vô Ðề-Tập
3 |
| Author: |
Bach Linh |
Tap 3
Ba lần tìm tới thảo lư
Kình ngư đã tìm được nước
Tùy mệnh trời không xoay đảo được
Cả nước tình xưa còn dào dạt muôn thuở
trong thi thư...
Việc Lưu Bị đáng Đông Ngô trả thù cho
Quan Vũ
Là thất sách vô chừng, lại thảm bại mới
chua cay!
Song với ta hành động đó đẹp thay
Nét kết thúc tuyệt vời của bức tranh đào
viên ngàn đời bất hủ!
Phê bình Từ Hải:
Ngay trước mặt Từ, Kiều nỉ non tình tự
với Thúc Lang
Từ (Hải) ngồi đực, cái anh chàng Từ này
rất lạ!
Vợ xử án lung tung, giết linh tinh, cứ
lì như phổng đá
Mưu bá đồ vương mà đần thế, chết không
oan!
(Nguyễn Chí Thiện)
Xin để quý độc giả phẩm bình hai đoạn...
thơ trên đây. Người viết nghĩ rằng có
nhiều nét quê đặc, đặc sệt, kiểu tam đại
bần cố. Những danh từ gay, đần thế, là
thật đấy là ngôn ngữ khá phổ thông trong
hàng ngũ công an, cán bộ.
Ông Nguyễn Chí Thiện cũng ngâm vịnh
Thạch Sanh, Lý Thông:
Vì cuộc đời nhan nhản Lý Thông
Mà Thạch Sanh thời không thấy bóng!
Nên Ác Điểu, Mãng Sà mới tha hồ bành
mang giương móng
Rời khỏi động hang, hùng cứ cả non
sông!i!
(Nguyễn Chí Thiện -1995?)
Trong bài Quan Vũ, ông Thiện chứng tỏ sự
trung nghĩa của ông như mặt trời đỏ!
Trái tim trung nghĩa như mặt trời đỏ
Khí phách ngàn thu sông núi sáng tỏ!i!
(1988 - trg.128. HMT)
Cái màu đo đỏ quả là biểu tượng cho sức
mạnh chuyên chính vô sản, nó ăn sâu vào
tiềm thức, tim não, xương tủy của các
cán bộ trung kiên, cho nên họ cứ xuất
khẩu là thành thơ màu đỏ, đỏ lòe, đỏ
loẹt!
Và đây là bài thơ theo kiểu sớ Táo Quân:
Đa phần dân
Đa phần dân cán bộ
Bị bưng bít nhồi sọ
Về nhân quyền tự do
Khái niệm cũng chưa có
Đảng làm mưa làm gió
Chính là nhờ ở đó!
Ôi, dân còn thế đó
Có khác chi đàn bò!
Đất với nước tối mò
Bao giờ trời sáng cho!
(Nguyễn Chí Thiện -1980 Trg.105-HMT)
Ông Thiện không chửi cộng sản bóc lột
làm cho dân đói. Ông Thiện cũng không
gọi người Việt Nam là dân Việt Nam. Ông
Thiện gọi dân Việt là dân bác Hồ và đói
ăn, chạy ăn, gầy ốm giơ xương, còn thua
con chó Tây. Ông Thiện ví dân Việt với
chó Tây! Lưu ý ông Thiện là lúc ông làm
thơ này thì không còn thằng Tây nào nuôi
chó Tây ở Hà Nội như cái thời thực dân
xa xưa. Lúc đó, chỉ có chó của ông...
Thiện mượt mà, béo tốt như thế. Ông
Thiện thấy chó Tây béo tốt nây nây, lại
lông nhông tồng ngồng chạy nhảy vì nó
không mặc quần, nên nổi hứng làm thơ,
khen chó Tây béo tốt hơn cả dân bác Hồ!
Thật đúng là thơ lông lá, thơ chó Tây,
lại có tí màu đỏ nữa, mới là thơ hay!
Cộng sản tàn bạo
Cộng sản tàn bạo lắm!
Đồng bào ta cực lắm!
Đất nước ta vực thẳm
Bao tài trí mất tăm
Bao cuộc đời nát băm
Bao đớn đau chìm đắm
Hận thù bốc cao lắm
Cao mãi cùng tháng năm!
Vì trăm ngàn quật quăng
Câu này có lẽ phản ảnh tâm sự ông Nguyễn
Chí Thiện, như ông tuyên bố khi mới sang
Mỹ là ông mất ngủ nhiều quá nên bị bệnh...
thần kinh, không phải bệnh thiếu ngủ.
Phương trời xa xăm, phải chăng là Hoa Kỳ?
Ngọt ngào mà cay đắng, phải chăng cũng
là Hoa Kỳ? Phải chăng ông Thiện đã...
thề phải cố gắng từng giây từng phút,
phải quyết sống và quyết thắng tại Hoa
Kỳ?
Đọc hết mấy bài thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện (?), người viết chẳng hiểu nổi ý
thơ hay ý ông Thiện muốn nói cái gì?
Người viết nghĩ rằng với kiểu thơ trên
đây của ông Nguyễn Chí Thiện, nếu được
ném vào tòa đại sứ Anh thì cũng đi thẳng
vào sọc rác, chẳng ai buồn mang lên đài
BBC hoặc in ra để phổ biến khắp thế giới
và được giải thưởng quốc tế! Dù có xuất
hiện năm 1995, 1996 với hào quang mượn
của tập thơ Vô Đề thì cũng vậy thôi,
chẳng ai thèm chú ý! Hữu xạ tự nhiên
hương, là vậy!
Đây là một bài thơ khá dài của ông
Nguyễn Chí Thiện tả nỗi nhớ nhung của
ông:
Ta Nhớ
Ta nhớ những năm, những ngày, những
tháng
Mặt Trời, mặt trăng như thần thoại huy
hoàng
Tình cảm trên đời lai láng làm sao
Chút ít đắng cay còn toàn thơm thảo
Ta nhớ thuở ăn cắp tiền nhà, ăn thịt bò
khô, đánh nhau khó bảo
Đi xem thường vượt trường, hay trốn học,
mê chơi
Ta nuốt bao cay đắng trong đời
Riêng thuở đó đẹp như là mộng ảo!
Ta nhớ Tết, Ti toe khoe quần áo
Pháo đốt vang, tiền chưa gấp nếp, mới
toanh!
Khách tới mừng Xuân, ai cũng mở hàng
Lời chúc tết cũng là lời dạy bảo
Ta nhớ những buổi tối mùa đông,
đi xi nê về, ăn phở ấp chảo Phở nóng,
rượu cay, tỏi ớt càng cay!
Bè bạn ngà say bàn luận cuốn phim hay
Khinh ghét gian ma, xót xa tàn hoa mà
đời bất hạnh!
Ta nhớ những buổi sáng chủ nhật,
chuyển mùa trời hơi se lạnh
Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh
Nhìn dòng người, dòng xe khoe tươi lộng
lẫy
Thấy người quen nào ta cũng xiết chặt
tay!
Ta nhớ những ngày không uống rượu mà say
Đời đã như cốc rượu dâng bầy
Tình bạn, tình thầy, tình văn chương kim
cổ
Nào học, nào chơi, nào thi, nào đỗ!
Ta nhớ những hàng quà rong, linh hồn
đường phố
Toàn thứ rao vang, người Việt lại người
Tầu
Cuộc sống bình dân no ấm muôn mầu
Sáng, tối, trưa, chiều, ăn gì cũng có!
Ta nhớ những đền chùa linh thiêng, những
tòa miếu cổ
Những bà già chắp tay cầu khấn thành tâm
Những pho tượng ngồi trong hương khói
trầm ngâm
Lũ trẻ vây quanh, đứa nghịch hư, cũng
thành ngoan im lặng
Ta nhớ những đêm êm đềm thấm vào hồn ta
bao la trong trắng
Những trang chuyện trang thơ thơ mộng
tràn đầy
Thiết tha tình kim cổ, Đông Tây
Ta thường xuyên xúc động phải bỏ sách,
đi một vòng quanh phố vắng
Ta nhớ những buổi mai mượt mà, đẹp nắng
Quanh hồ gươm ta mặc toàn đồ trắng dạo
chơi
Đeo kính mầu xanh, ta ngắm cuộc đời
Hồ hởi, nói cười, đẹp tươi trong gió...
Như có linh hồn, ấm áp xóm quê
Trong những mái gianh là tình cảm tràn
trề
Mưa lụt cùng xách đèn đón ta đi ăn cỗ
Ta nhớ những ngày cúng giỗ
Cha, mẹ, cô, dì, chú, bác chị em ta
Mời gắp cho nhau thân mến xum hòa
Hương khói ngạt ngào yêu thương biết mấy!
Ta nhớ những ngày lội bơi vùng vẫy
Đánh bốc, chơi thuyền, cường tráng nở
nang
Mơ gặp khó nguy bắt nó quy hàng
Trong cuộc sống dễ dàng êm ấm ấy!
Ta nhớ những buổi chiều thứ bẩy
Mùa hè, ăn bánh tôm bên Hồ Tây
Đọc bài thơ trên đây, chúng tôi đố đọc
giả tìm thấy tù tội và Cộng sản ác ở chỗ
nào? Tội thằng búa liềm băm bổ mà thôi.
Người ta thấy tác giả bài thơ có vẻ là
cấp tướng công an phản gián quyền uy và
tiền bạc đầy mình. Làm việc đọc sách
nhiều quá nên xúc động phải bỏ đi chơi
một vòng quanh phố Yết Kiêu vắng vẻ. (Trụ
sở Cục Phản Gián số 6 đường Yết Kiêu đã
làm cho đường này rất vắng vẻ, vì không
ai dám héo lánh qua lại.) Mưa lụt cũng
có người xách đèn mời đi ăn cỗ vì là cấp
tướng công an? Mặc complet toàn trắng đi
dạo mát quanh Hồ Gươm. Rảnh rỗi học đánh
bốc (quyền Anh), bơi thuyền, tập luyện
cho thân thể cường tráng để khi nào gặp
địch gặp ngụy (gặp khó khăn) là bắt nó
phải quy hàng!
Nhưng nếu ông Nguyễn Chí Thiện nhận là
thơ của ông thì cũng phải thôi, chứ làm
sao cãi? Điều này cũng chứng tỏ ông
Thiện không phải là tác giả thật của tập
thơ do đài BBC phổ biến, đã được viết
bằng máu, nước mắt, tù ngục, đọa đày và
cái chết. Ông Nguyễn Chí Thiện chưa bao
giờ đi tù. Do đó ông Thiện không nhớ tù
đày và cũng chẳng biết ho lao ra máu ra
sao? Ông Thiện chỉ nhớ hay là bị ám ảnh
bởi cuộc đời khá giầu sang sung sướng có
đánh bốc, bơi thuyền, tập luyện cho thân
thể được cường tráng nở nang, được học
được chơi được thi được đỗ (đậu), đi xi
nê về ăn phở áp chảo, uống cà phê pha
rượu mạnh (có lẽ là pha rượu rum) có gia
đình đông đảo ăn Tết, ăn tiệc lớn, lại
mặc complet toàn trắng đeo kính mầu xanh
đi dạo chơi Hồ Gươm, đi chơi Hồ Tây ăn
bánh tôm chiên với đào đẹp như tiên...
Để rồi 10 năm sau lại được Đảng và Nhà
Nước cho đi Mỹ... Đời thế là khoái tỉ
rồi, than cái nỗi gì?
Cái anh chàng Vô Danh làm thơ Vô Đề suốt
đời bất mãn, suốt đời bị còng cánh tiên,
bị tù là đáng. Đã không biết thân phận
giai cấp lại còn quai mồm ra làm thơ láo,
chửi bác Hồ là quỷ sứ yêu tinh, chửi
đảng là ngu dốt như chó, cho rũ tù mới
đáng kiếp. Cái thứ phản động, phản cách
mệnh đó là phải đánh tập thể cho chết,
phải không, thưa ông Nguyễn Chí Thiện?
Hỏi thăm ông Nguyễn Chí Thiện tí nhá:
Sao thơ của ông nó kỳ kỳ như xếp chữ,
ghép chữ, ghép câu, ngắt câu xuống giòng
vậy?
Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở!
Tiếng của nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ!
(vi trùng lao ăn ruỗng phổi gần mất sự
sống)
Tiếng đất vùi (mộ) đổ xuống lấp niềm mơ!
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ!
Ông Vô Danh ví cái khổ tù của mình với
cái khổ tù của Tề Thiên Đại Thánh:
Tôi khổ gấp trăm lần hơn Đại Thánh
Mang trên đầu đủ thứ mũ kim cô
Thần chú đau thương: "Tất cả tan tành!".
Khoan vào óc đêm ngày muôn vạn lỗ!
Đời tôi giữa Ngũ Hành Sơn cấm cố
Không mong Đường Tam Tạng tới buông tha
Ông Vô Danh ví mình với Lý Bạch:
Xưa Lý Bạch ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Nay tôi ngẩng đầu nhìn nhện giăng bụi
bám,
Cúi đầu giết rệp nhặt cơm vương!
Lý Bạch rượu say gác lên bụng vua Đường
Tôi đói lả gác lên cùm rỉ xám
Lý Bạch sống thời độc tôn u ám,
Cái tài tình của ông Vô Danh là dù ông
nói thời Cộng sản ấm no, hạnh phúc tự
do, thiên đường... mà người ta vẫn thấy
sự mỉa mai... và đầy khổ nhục, tàn ác!
* * *
Một câu chuyện nhỏ về chữ Thôi trong bài
thơ Anh gặp em trong bốn bức rào dầy Kể
chuyện người con gái tập kết miền Nam bị
Cộng sản bỏ tù đến chết vì ho lao ra
máu. Ông Vô Danh ở câu thứ 6 viết: Y sĩ
công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm....
Ông Thiện không hiểu ý nghĩa chữ thôi
trong câu này. Ông nghĩ chữ thôi này có
nghĩa là ngừng và ông viết trong tập Hạt
Máu Thơ hay là Hoa Địa Ngục tập 2, trang
x và xi:
... Thực ra cũng có lúc phải viết khác
sự thực một chút, vì trong thơ không thể
giải thích dài dòng. Thí dụ trong bài
Anh gặp em, lúc đầu tôi làm:
Y sĩ Công an
Nhìn em
Nạt nộ om xòm!
Đó là sự thực, nhưng chưa phải là sự
thực hoàn toàn, người đọc có thể hiểu
lầm cho là có lý. Tại sao khi tên Y sĩ
Công an nhìn cô gái trẻ miền Nam ho ra
máu, sắp chết lại nạt nộ? Cái tên Y sĩ
này lúc nào cũng nạt nộ, túm tóc, tát,
đá bệnh nhân. Đó là thói quen của hắn,
chứ không phải vì nhìn thấy cô gái đó
mới nạt nộ. Tôi đọc cho anh Phùng Cung
nghe để bàn xem. Anh Cung suy nghĩ, rồi
nói: thôi, nên đổi lại là:
Y sĩ Công an
Nhìn em
Thôi nạt nộ om xòm!
và chúng tôi đồng ý với nhau là cho tên
Y sĩ vô lại đó được làm người một phút!
Tóm lại, chất liệu thơ của tôi là muôn
ngàn cuộc đời tan nát, chôn vùi trong đó
có cuộc đời tôi, tôi không hư cấu chi
cả...
Trên đây là bằng chứng nói láo và bịp
bợm của ông Nguyễn Chí Thiện. Ông Vô
Danh làm bài thơ Anh gặp em này năm
1965, và sau đó đã chôn dấu một nơi cho
đến khi ông gom tất cả lại và mang vào
tòa đại sứ Anh năm 1979. Ông Vô Danh làm
thơ Vẹm cấm như vậy, mà dám khoe để hỏi
về một câu thơ với một văn nghệ sĩ nhà
nước trong Hội Nhà Văn (Cộng sản) Hà
Nội? Ông Vô Danh bị tù trong 20 năm, từ
1958 đến 1978, bị thả ra rồi lại bị bắt
vào như cơm bữa, thì gặp Phùng Cung ở
dịp nào? Một người tù, thân tàn ma dại,
ho lao ra máu, cơm không có mà ăn, bị
công an quản chế tại gia thật gắt gao,
tiêu sầu bằng chai nước lã đun sôi, thì
làm sao lại cần và dám gặp ông Phùng
Cung trong Hội Nhà Văn Hà Nội để hỏi
cách đặt một chữ thôi trong mấy trăm bài
thơ, trong 20 năm làm thơ? Ông Thiện nói
là ở Hải Phòng và bị quản chế tại gia
cũng ở Hải Phòng thì làm sao lên Hà Nội
mà gặp Phùng Cung để bàn về một chữ
thôi?
Tôi nghĩ ông Nguyễn Chí Thiện trình độ
quá thấp kém về văn hóa, quá bần cố
nông, có thể nói rằng quá dốt, nên không
thể nắm vững được chữ thôi và ý nghĩa
của nó, hay cách xử dụng nó... như ông
Vô Danh! Giá ông Thiện cứ ngậm miệng, lờ
đi thì có ai hỏi? Nhưng chính ông Thiện
quá dốt, không hiểu chữ thôi, lại ra cái
điều ta đây cẩn thận, dùng chữ rất sát,
rất đúng, và có Phùng Cung gà thêm chữ
thôi cho đẹp!
Bài thơ Anh gặp em (đã viết ở đoạn trên)
tả người con gái miền Nam tập kết ra Bắc
năm 1955, vì chửi Cộng sản nên bị chúng
bỏ tù đến nỗi tàn tạ, ho lao ra máu và
sắp chết đến nơi...
Anh gặp em trong bốn bức rào dầy
Má gầy, mắt trũng
Phổi em lao, chân em phù thũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng
Em ngồi run, ôm ngực còm nhom
Y sĩ công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm
Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co ro
Những tiếng ho!
Những cục đờm mầu!
Tiếng thôi ở đây không phải động từ thôi
là ngừng là... stop. Thôi ở đây là một
tĩnh từ nhấn mạnh thêm vào sự nạt nộ om
xòm của tên y sĩ công an. Câu này đáng
lẽ ông Vô Danh muốn dùng là "thôi thì
nạt nộ om xòm", nghĩa là tên y sĩ công
an thấy mặt cô gái ho lao miền Nam là
"bắt đầu" nạt nộ om xòm mạnh, không phải
y đang nạt nộ rồi thấy cô gái ho lao thì
"thôi" không nạt nộ nữa! Theo lối người
Bắc có văn hóa, đáng lẽ phải viết là
Thôi thì nạt nộ om xòm. Thơ thứ thiệt
nên ông Vô Danh bớt chữ thì, nhưng người
đọc hiểu ngay là tên y sĩ công an thấy
mặt cô gái là nạt nộ, có lẽ vì y có thù
ghét cô gái sẵn, không ngưng nghĩ chút
nào, và rất mạnh, rất om xòm! Nếu là
thôi nạt nộ, hay là không nạt nộ nữa thì
cần gì đến chữ (từ) om xòm?
Câu Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng!
thì ta có thể hiểu ngay là những cơn gió
lạnh kinh người này đang quất mạnh vào
đám người tù ho lao, rách rưới, ngồi co
ro, rét run vì đói rét, bệnh tật, còm
cõi (teo nhỏ) và không đủ quần áo che
thân. Họ kinh hoàng khủng khiếp nhìn tên
y sĩ công an cộng sản như nhìn thấy ác
quỷ hay tử thần hiện lên để chửi bới nạt
nộ om sòm. Ngày hôm sau cô bé ho lao này
chết. Đoạn cuối bài thơ:
Sớm qua ngồi, tay em anh nắm
Muốn truyền cho nhau chút tình lửa ấm
Mặc bao ngăn cấm đê hèn
Sáng nay em không trống không kèn giã từ
cuộc sống!
Xác em rấp trên đồi cao gió lộng
Hồn anh trống rỗng, tảu tơi!
(Vô Danh -1965)
Vào thời điểm 1965, ông Nguyễn Chí Thiện
còn đang mặc complet trắng tinh đi dạo
mát Hồ Gươm, hoặc đi bơi thuyền ở Hồ
Tây, ăn bánh tôm với người bạn đẹp như
tiên. Ông Thiện làm sao hiểu được tình
yêu tương thân, trong thân phận tù đày,
gần chết, của hai người tù cùng ho lao
ra máu như nhau?
Lời tác giả: Tù nhân nam nữ bị giam
riêng biệt. Ông Vô Danh tình cờ gặp cô
gái miền Nam trong bệnh xá đầy những
bệnh nhân hầu hết là ho lao. Tên y sĩ
công an đã ghét cô gái sẵn, có lẽ vì cô
gái này trí thức đã nhiều lần vặn hỏi,
sửa lưng y mà y không trả lời được nên
đâm ra thù hận cô gái này. Tên y sĩ này
vừa thấy mặt cô gái là lớn tiếng quát
tháo nạt nộ, chửi bới om xòm. Y sĩ cũng
như chánh án cộng sản đều là cán bộ bần
cố nông vô học hoàn toàn. Bọn này lúc
nào cũng có mặc cảm dốt nát và rất thù
ghét giai cấp trí, phú, địa hào. Nếu
bệnh nhân hay tù nhân gặp cái thứ y sĩ
hay chánh án cộng sản kiểu này thì còn
chết mau hơn nữa.
Ông Vô Danh đã động lòng thương vì cô
gái này đã quá tàn tạ, kiệt quệ mà còn
bị tên y sĩ công an khốn nạn nạt nộ chửi
bới om xòm, nên ông làm thân hỏi chuyện
cô gái. Cô gái kể chuyện mình người miền
Nam, vì nghe lời đường mật ngon ngọt bịp
bợm của chó sói, nên đã bỏ mẹ và các em
để tập kết ra Bắc năm 1955. Năm 1954 -
1955, số cán binh cộng sản miền Nam và
những người miền Nam có cảm tình với
Cộng sản phải đưa tầu Ba Lan (lúc đó còn
là Cộng sản) đến chở ra Bắc. Phần lớn
trong số gần một triệu người di cư vào
Nam đi bằng tầu hải quân Hoa Kỳ. Nhiều
người di cư còn nhớ đến chiếc tầu khổng
lồ Marine Serpent chuyên chở khoảng
7,000 người mỗi chuyến, đã chở họ vào
Nam, với lòng biết ơn.
Khi thất vọng, cô gái, và nhiều người
Nam khác nữa, chửi bới Cộng sản thì bị
chúng trở mặt, lộ nguyên hình chó sói
lông lá béo mập húp híp, cho công an bắt
họ bằng còng cánh tiên và bỏ tù ngay. Đi
tù cộng sản thường có nghĩa là sẽ phải
chết sớm hay muộn vì bệnh, vì đói mà vẫn
bị đốc thúc đánh đập để lao động sản
xuất nuôi công an, cai tù, giám ngục,
quản giáo. Năm 1989 - 1990, người Mỹ đã
cố gắng buộc Việt Cộng phải thả các sĩ
quan VNCH và cho họ đi Mỹ. Người Mỹ và
các cựu sĩ quan này hiểu rằng Việt Cộng
muốn giam giữ họ cho đến chết.
Ông Vô Danh nghe câu chuyện quá xúc động
đã nắm tay cô gái để tỏ sự thông cảm và
cảm tình. Cô gái vui mừng vì đã có dịp
tâm sự nỗi lòng trước khi lìa đời. Ngay
đêm hôm đó, cái lạnh kinh hồn miền Bắc
với gió rét căm căm đã đưa linh hồn cô
gái ra khỏi cái địa ngục cộng sản. Ông
Vô Danh ghi nhớ câu chuyện đau thương
thê thảm của cô gái miền Nam "tập kết",
và đã sáng tác một bài thơ bất hủ.
Vì tù nhân nam nữ giam riêng biệt, nên
khi ông (đại tá công an đi thanh tra)
Nguyễn Chí Thiện phải dùng khăn mù xoa
trắng tinh bịt mũi khi tù nhân phụ nữ đi
ngang qua và phàn nàn rằng những nàng
Kiều thời đại không biết dùng băng vệ
sinh nên hôi hám khiến ông ngửi không
nổi, ta thấy ngay ông Thiện không phải
là tù nhân nữ như họ và bị giam chung
với họ. Phải chăng ông Thiện là công an
bắt người, giam người thứ dữ, thứ cao
cấp? Ông Thiện đến thăm trại giam nữ tù
có lẽ chỉ để ngắm xem có người nào vừa
mắt đẹp như tiên và ít hôi hám, thì mời
họ đi ăn bánh tôm Hồ Tây và hộ lý cho
ông. Ông sẽ ban cho họ nhiều quà cáp,
miễn lao động, miễn bị còng cánh tiên,
và đặc ân cho tắm rửa kể cả băng vệ sinh
cho họ được sạch sẽ thơm tho hơn nữ tù
nhân khác trước khi hộ lý cho ông?
Ông Vô Danh tả cảnh một người tù, bị cán
bộ cướp vợ và đày đọa đứa con phải hầu
hạ làm nô lệ. Một người tù được thả về
trước nên đến nhà người bạn tù để nhắn
tin xin ít thuốc ký ninh (trị sốt rét)
và ít đường đen để bồi dưỡng, không phải
xin giấy vệ sinh!
Có phải em là em bé?
Bố tập trung xa cách đã mười năm?
Bố dượng em là bác da ngăm ngăm,
Là đồng chí bí thư nơi mẹ em công tác?
- Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh khác
Về tìm em để nhắn hộ tin...
Bố em giờ đau ốm cần xin
Ít ký ninh, ít đường đen bồi dưỡng!
Ông Vô Danh tả cảnh tội lỗi do Cộng sản
gây ra:
Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!
Trong lành cũng phải tanh hôi!
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi!
Bạo lực đi về rất vội!
Chết trận, chết tù, hỡi ơi xã hội!
Biết bao là vợ góa, con côi,
Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi,
Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!
Mảnh đất chờ trông và sám hối
Thức giả tiêu sầu chai nước lã đun sôi!
(Vô Danh -1964)
Một tay em trổ: Đời xua đuổi!
Một tay em trổ: Hận vô bờ!
Thế giới ơi! người có thể ngờ?
Đó là một tù nhân tám tuổi!
Trên bước đường tù, tôi rong ruổi
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!
(Vô Danh - 1971)
(Trổ: Xâm. tattoo).
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò! (Vô
Danh -1970)
(Hồ Chí Minh chết 1969, Tôn Đức Thắng
thay thế)
Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh?
Đoạn viết này là giả thuyết theo sự nhận
xét của tác giả. Đúng hay sai cũng còn
tùy theo bạn đọc.
Chỉ nhìn sơ qua tập thơ Hoa Địa Ngục tập
2 hay là Hạt Máu Thơ của ông Nguyễn Chí
Thiện để so sánh với tập thơ Vô Đề, ta
thấy Cục Phản Gián khá vụng về khi cố
gắng dàn dựng để ông Nguyễn Chí Thiện
thành thi sĩ thật.
Điểm đầu tiên là cuốn Hạt Máu Thơ nhái
theo thơ Vô Đề về nội dung trình bày.
Khoảng hai phần ba đầu tập là những bài
thơ riêng lẻ, đề năm sáng tác từ 1979
trở đi, nhiều bài không đề năm hay
tháng, và phần cuối toàn một thể thơ 4
câu, gọi là những ghi chép vụn vặt.
Cán bộ dốt nát được tập thơ Vô Đề thấy
cần phải tạo ra một thi sĩ tương đương
với ông Vô Danh. Muốn như vậy thì phải
đẻ ra một tập thơ nhái tương tự như thế
mới giống, mới có vẻ din (origin), cùng
một lò thơ như nhau. Chính vì có hai tập
thơ giống nhau về hình thức nên người ta
mới dễ so sánh và thấy đúng là đã do hai
người khác nhau hoàn toàn sáng tác!
Nhưng tiếc thay đạo diễn phản gián có
trình độ quá kém cỏi, nhất là về thơ.
Mỗi thi sĩ, thi bá, hay thi hào... đều
có những điệu thơ riêng biệt, giống như
căn cước hay cá tính của chính họ...
Những người sành thơ đều thuộc làu những
bài thơ hay. Chỉ cần đọc một câu là
người ta biết ngay đó là thơ Nguyễn
Bính, Quang Dũng, Đinh Hùng, Xuân Diệu,
Lưu Trọng Lư... Ngay cả thơ đấu tố giết
người của Xuân Diệu, hay thơ nịnh bợ
liếm đít của Tố Hữu cũng có kiểu, có thể
và sắc thái riêng biệt của mỗi người.
Chỉ cần nghe...
Cho tôi ép nốt giòng dư lệ
nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên!
(T.T.KH.)
Người phụ nữ lỡ một cuộc tình, khóc đã
cạn giòng lệ. Nhân đọc bài viết nói về
hoa Ty Gôn giống như tim vỡ, nhắc nhở
nàng chuyện tình dang dở ngày xưa. Nàng
cố gắng ép nốt giòng lệ còn lại để viết
thành bài thơ, khóc cho duyên tình lỡ
dở. Thơ hàm xúc đầy ý nghĩa và làm cho
người đọc thơ có cảm tưởng như sống
trong sự đau khổ của thi nhân!
Em không nghe mùa Thu
dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
hình ảnh kẻ chinh phu
trong lòng người cô phụ?
hoặc:
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
cho vương vấn nợ thi nhân?
là người ta biết ngay thơ Lưu Trọng Lư,
khỏi cần phải giới thiệu tác giả.
hoặc Tôi mơ Hà Nội giáng Kiều thơm...!
là người ta biết ngay của Quang Dũng.
Hoa nở cô đơn bóng động thềm...
Vườn xưa còn thoáng chút hương em...
Xót xa lá cỏ vương mùi tóc!
Tà áo bay về, nhớ suốt đêm...! (Đinh
Hùng)
là ta thấy ngay Đinh Hùng đang sống
trong mơ và làm thơ cũng trong mộng mơ,
không phải nhớ suốt đêm mà là nhớ suốt
đời...
Giả thử cán bộ phản gián có nhờ Tố Hữu,
Phùng Cung, Hữu Loan hay bất cứ ai còn
sống ở Hà Nội nhái thơ ông Vô Danh thì
cũng lộ tẩy ngay. Vì người quen thơ,
sành thơ, đọc lên là thấy cái chất thơ
hay mùi vị thơ độc đáo của mỗi tác giả,
mỗi thi nhân thứ... thiệt!
Có lẽ vì khó kiếm thi sĩ thứ thiệt để
làm thơ... nhái, cán bộ phản gián phải
nhái thơ Vô Đề bằng cách... viết đại
theo tam đại bần cố. Cán bộ dốt nát đâu
có hiểu thơ với thẩn là cái quái gì. Thơ
thẩn là của của phong kiến, chứ Cộng sản
Mác Lê làm gì có thơ! Vả lại nhái thơ
của một thằng tù thì có gì là... khó? Do
đó ta mới được đọc thơ Hạt Máu Thơ của
Nguyễn Chí Thiện hay là một loại ngắt
câu nửa chừng rồi xuống giòng, hay kiểu
sớ Táo Quân, hay thơ Thạch Sanh, Lý
Thông, và phê bình... Từ Hải một cách
rất... du kích! Cán bộ cũng cẩn thận làm
thành một tập thơ khá giống tập thơ Vô
Đề đã được in tại hải ngoại.
Nếu so sánh hai tập thơ cùng giống cách
trình bày, ta thấy ngay tập Hạt Máu Thơ
là Thơ Nhái hay là Thơ Quốc Doanh do các
thi sĩ công an quốc doanh sáng chế, cố
bắt chước cho giống tập thơ Vô Đề! Một
giả thuyết khác là toàn bộ tập Hạt Máu
Thơ do nhiều tác giả cán bộ sáng tác rồi
đóng tập, rồi ông Nguyễn Chí Thiện học
thuộc lòng, cho nên nhiều bài ông Thiện
ngâm lại cũng không đúng, không đủ
chữ...
Tài làm thơ của ông Thiện đã chứng tỏ
trong vấn đề từ ngày sang Mỹ ông Thiện
không hề trổ tài sáng tác một bài nào,
kể cả thơ ngâm vịnh chó Mỹ hay
hamburger. Trái lại người ta chỉ thấy
ông Thiện trổ tài biểu diễn kiểu còng
khóa Cánh Tiên độc đáo của ông và tài
diễn thuyết hùng biện để khuyên người
viết đừng căm thù người Cộng sản nữa, mà
chỉ nên căm thù lý thuyết Mác xít!
Một điểm khôi hài nữa là khi mang ra hải
ngoại và cho in tập Hạt Máu Thơ, mặt
trận kháng chiến và ông Nguyễn Chí Thiện
đều không đọc lại cả hai tập thơ để so
sánh trước khi in. Họ cứ in đại để bán
lấy 12 đồng một cuốn, vì nếu chậm thì
chỉ có... ma nó mới bỏ ra 12 đồng mua
một tập thơ... quốc doanh! Khi bán sách
Hạt Máu Thơ thì đòi tiền trước đủ số,
không thiếu chịu và không cho mang trả
lại. Nhiều tiệm sách đã sợ cái lối bán
hàng lấy tiền ngay và đủ, kiểu kháng
chiến này nên không dám lấy cuốn Hạt Máu
Thơ, vì họ sợ lỗ vốn, và sợ khách coi sơ
qua rồi trả lại, đòi lại tiền.
Điểm khôi hài khác là Mặt Trận Kháng
Chiến và Hội Văng Bút với các nhà thơ
nhớn Viên Linh, Sơn Tùng lại hăng hái,
tích cực một cách chắc ăn đưa cả hai tập
thơ đến Thụy Điển để đề nghị giải thưởng
Nobel văn chương cho Thiện! Xin quý vị
độc giả thưởng thức mấy bài thơ quốc
doanh độc đáo đã từng tham dự giải
thưởng Nobel 1996! Khi Hàn Lâm Viện Thụy
Điển đọc đến tập Hạt Máu Thơ chắc phải
cười đến vãi đái và phải gửi ngay về Hà
Nội để lấy giải Nô Văn, Văn Hóa Vẹm với
huân chương Sao Vàng!
Thể thơ dưới đây có thể gọi là thể quốc
doanh 3 chữ và quốc doanh sớ Táo Quân:
Cái dạ dầy...
Cái dạ dầy
Đảng đày đọa
Đảng nhục mạ
Thủ phạm gây
Bao xấu xa
Bao xót xa
Bao quái lạ
Bao tai họa
Để cứu nó
Khỏi đói rạc
Khỏi tội ác
Thời Đảng Bác
Thời Mác Lê
Đều phải kê
Vào sọt rác!
Không thể khác!
(Nguyễn Chí Thiện - 1982 trg. 71 HMT)
Đảng bất nhân
Đảng bất nhân
Dân đành phận
Đức tán tận
Tài trầm luân
Tình ai cần
Tiền khốn quẩn
Đẹp bôi bẩn
Tốt hóa đần
Ăn lẩn quẩn
Dưới đây là thể thơ sớ Táo Quân quốc
doanh
Tù ngục
Tù ngục đen sì
Sừng sững trơ lì
Tử biệt sinh ly
Âm thầm rên rỉ
Bất lực rầu rĩ
Chìm đắm tắc tị
Độc tài quái dị
Mọi thứ cấm kị
Dối gian vô sỉ
Bạo tàn vô lý
Phát xít nào ví!
Thở than chút tí
Dĩ nhiên là Cục Phản Gián, à quên ông
Nguyễn Chí Thiện, và Mặt Trận Kháng
Chiến (?), Hội Văn Bút với các thi sĩ
nhớn Viên Linh, Sơn Tùng tin tưởng rằng
đó là thơ nên mới dám cho in thành tập
thơ và dám mang đi ngâm vịnh lung tung
khắp nơi. Giá bán 12 đôla một cuốn, và
thu được mấy chục ngàn đôla cũng chưa đủ
cho giá trị siêu đẳng của tập thơ bất hủ
này. Đồng bọn chí hữu của ông Thiện đã
thẳng tay gửi đến thủ đô Stockholm của
Thụy Điển để đòi phải cấp giải thưởng
Nobel văn chương cho thi bá dỏm hạng
nhất của thế kỷ, trị giá vài triệu đôla
xài chơi.
(Tháng 2/1990, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã
yêu cầu Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
để cử thi sĩ Vô Danh, lúc này được hiểu
là Nguyễn Chí Thiện, với tác phẩm Vô Đề
Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Hoa Địa Ngục dự
thi giải Nobel văn chương 1990. Nhưng
sau đó, có lẽ vì biết được sự giả dối về
nhân sự tác giả, do người Anh thông báo
chăng?, nên Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã lờ
đi cho đến ngày nay.)
Cuối năm 1991, song song với sự thả
Nguyễn Chí Thiện, Cục Phản Gián cho biết
khá nhiều chi tiết về ông Nguyễn Chí
Thiện để báo chợ hải ngoại phổ biến. Ông
Thiện sinh tại phố Hàng Bột Hà Nội năm
1937. Dọn xuống Hải Phòng năm 1950. Năm
1957, 1958 hợp tác với nhóm Nhân Văn
Giai Phẩm (ở... Hà Nội (?), làm báo, rồi
bị bắt tù cải tạo 2 năm. Năm 1960 ra
khỏi tù. Sau đó, ông Thiện bị bắt lại
năm 1961. Năm 1964, ông Thiện được thả
đến năm 1966. Trong 3 năm từ 1964 đến
1966, ông Thiện dạy học và dịch sách báo
Anh Pháp ngữ ở Hải Phòng. Ông Thiện bị
giam tại Hỏa Lò Hà Nội rồi chuyển đi các
trại Yên Phụ, Yên Hòa, Tân Lập, Hồng Ca,
Trại Mo và trại Phong Quang, Lào Cay.
Tổng cộng ông Thiện đã ở tù 30 năm.
(người viết nghĩ rằng đây chỉ là sự bịa
đặt của Cục Phản Gián vì các trại tù
không có sổ sách, các tù nhân không có
án, không có hồ sơ vào sổ thì làm sao
tìm ra tung tích?) Cục Phản Gián cho
biết ông Thiện được thả ngày 29/10/1991.
Được phóng thích năm 1978, ông Thiện về
quê ở Hải Phòng sống âm thầm một mình
kèm trẻ tại tư gia để sống qua ngày. Ông
rất giữ gìn để khỏi bị bắt lại và dùng
thì giờ thu thập các bài thơ ông đã làm
trong thời gian tù đày để tìm cách gởi
ra nước ngoài. Thầy mẹ ông đã qua đời.
Mẹ ông mất năm 1970 và thầy ông mất vào
một năm nào đó trước năm 1976.
Đọc bản tin của Cục Phản Gián trên đây
thông tin cho phe ta ở hải ngoại phổ
biến năm 1991, 1992, ta thấy Cục Phản
Gián đã biết ngày sinh, trình độ học
vấn, văn hóa và tiếng Pháp của ông Thiện
với tuổi quá trẻ, không ăn khớp với ông
Vô Danh, nên đã cố gắng cho sinh vào năm
1937.
Không mấy người để ý đến những chi tiết
này. Cục Phản Gián cũng không chú ý vì
năm 1990, 1991, Cục Phản Gián chỉ chú ý
đến nêu vấn đề ông Thiện còn sống và đã
tha để khỏi mang tiếng vi phạm nhân
quyền. Cục Phản Gián cũng cho biết ngày
ông Thiện chạy vào tòa đại sứ Anh theo
sau một xe ô tô đang chạy vào, là ngày
2/4/1979. Đến khi ông Thiện ra mặt tại
Hoa Kỳ cuối năm 1995, thì ông Thiện phải
nói thật về tuổi tác cũng như chỗ ở Hải
Phòng và các anh chị em. Ta thấy ngay có
nhiều sai lệch về tuổi tác, bệnh tật, kể
cả ngày tháng chạy vào tòa đại sứ Anh,
so với bản tin của Cục Phản Gián và nội
dung thơ Vô Đề.
Vì ra ngoại quốc, ông Thiện phải khai
tuổi thật là sinh ngày 27/2/1939. Xuống
Hải Phòng 1956. Ở tù có 27 năm, không
phải 30 năm. Có 4 anh chị em, không phải
sống một mình! Ông Thiện nói chạy vào
tòa đại sứ Anh ngày 17/6/1979, không
phải ngày 2/4/1979, như Cục Phản Gián đã
loan. Ông Thiện chắc chưa từng đọc qua
báo cáo của Cục Phản Gián nói về lý lịch
của mình. Nếu ông Thiện khai ra những
trại tù mà ông đã trải qua, có lẽ còn
trật đường rầy hơn nữa. Mấy tên bồi bút
hải ngoại sau này không dám khoe lý lịch
cũ năm 1991 của ông Thiện nữa vì nếu
khoe thì càng lộ tẩy mau hơn nữa.
Ông Vô Danh được thả vào cuối năm 1978
vì sức khỏe đã quá kiệt quệ, không thể
lao động được nữa. Quản giáo cho ông về
vì không muốn ông chết trong tù. Về đến
nhà ở Hà Nội, song thân đã mất, cô đơn,
cô quạnh, không có lợi tức vì thể xác
kiệt quệ không thể đi làm lao động kiếm
ăn, ông Vô Danh suy nghĩ chỉ còn cách
duy nhất là liều mạng đưa tập thơ vào
tòa đại sứ ngoại quốc thì mới có hi vọng
được phổ biến tại hải ngoại. Ông Vô Danh
thấy cần phải làm gấp vì ông không thể
bị bắt tù lại. Ông Vô Danh tự biết cơ
thể suy nhược tàn tạ vì ho lao ra máu,
và không cơm, không thuốc, không tiền,
và có thể chết rất nhanh. Ngày ông Vô
Danh chạy vào tòa đại sứ Anh có thể là
cuối năm 1978, hoặc trong tháng 4 hay
tháng 6 năm 1979. Cái ngày thật có lẽ
chỉ có người Anh biết rõ nhất.
Ông Thiện nói rằng thi đậu Tú Tài năm
1955 và bị bắt tù từ năm 1961. Ông Thiện
chỉ bị tù 27 năm, không phải 30 năm. Ông
Thiện chưa bao giờ bị ho lao. Ông Thiện
khai chỉ bị bệnh thần kinh vì mất ngủ.
Nhưng ông Thiện vẫn chứng tỏ là một nhà
diễn thuyết, hùng biện với sức khỏe dồi
dào, có thể nói mạnh mẽ trong nhiều
tiếng đồng hồ mà không mệt. Ông Thiện
khoe đã từng làm thơ... Đường năm 1955
và 1956 nhưng đã bỏ hết mấy bài thơ này!
Vấn đề ông Thiện làm... thơ thì ta phải
đặt ra nhiều nghi vấn. Ông Thiện đã chỉ
ngâm lại những bài của ông Vô Danh hoặc
những bài thơ (do ai?) sáng tác từ năm
1981, 1983... và có sẵn trong tập Hạt
Máu Thơ. Không thấy ông Thiện chế tạo
được bài nào trước và sau khi sang Mỹ
cuối năm 1995!
* * *
Tại Orlando, Florida, ngày ông Thiện
diễn thuyết một cách gay gắt rằng người
Việt hải ngoại không nên căm thù người
cộng sản mà chỉ nên căm thù chế độ Cộng
sản và chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít.
Ông Thiện cũng đồng ý với Hà Sĩ Phu,
Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự,
v.v... và đài VNCR của ông Lê Đình Điểu
đã có công phỏng vấn mấy tên Cộng sản
này khiến cho Cộng sản phải thả chúng
ra, cũng như đã phải cho ông đi Mỹ...
Ông Thiện nói đó là Cộng sản sợ dư luận
của 2 triệu người Việt hải ngoại nên mới
không bỏ tù suốt đời hay giết những
người chống Đảng nói trên.
Ông Nguyễn Chí Thiện ngụ ý nếu Cộng sản
từ bỏ Mác Xít thì chúng sẽ là người Việt
thuần túy như mọi người và như vậy sẽ dễ
hòa hợp hòa giải và hòa cả làng! Ông
Thiện khuyên như vậy thì ta phải hiểu là
không nên căm thù người Cộng sản nữa. Cứ
để yên cho cộng sản Mafia tư bản đỏ vẫn
nguyên vẹn với công an trị và với chuyên
chính... hữu sản! Người Cộng sản Mafia
tư bản đỏ sẽ xóa tên cộng sản và chỉ còn
giữ lại tên Mafia tư bản đỏ. Thế là hết
Cộng sản, dân ta tha hồ sướng nhé!
Chúng tôi nghĩ rằng Cộng sản không cần
phải sợ người Việt hải ngoại mà phải thả
cán bộ Cộng sản giả tù. Chúng thả tù giả
để đổi lấy qui chế tối huệ quốc trị giá
hàng trăm tỷ đôla và sự bền vững của chế
độ Cộng sản. Ông Thiện, Đoàn Viết Hoạt
và đồng bọn chí hữu nhân quyền, các cán
bộ phê Đảng giả vờ Hoàng Minh Chính,
Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Hữu Nhân,
Hoàng Tiến... đều cùng nằm trong kế
hoạch chung của Hà Nội, đánh lừa người
Việt hải ngoại rằng Cộng sản đã cởi mở,
cởi trói rồi đấy để chạy theo Mỹ. Vậy cứ
yên chí nhớn, đừng chống Cộng, đừng
chống đối hiệp ước thương mại làm gì cho
mệt.
Vào thời điểm viết đoạn này, tháng 12
năm 1999, thì tất cả kế hoạch cò mồi
nhân quyền, phê đảng giả vờ, kể cả kế
hoạch của những người Mỹ thân Hà Nội, đã
trở thành thất bại hoàn toàn. Hiệp Ước
Thương Mại đã được ném vào sọt rác. Cộng
sản Hà Nội và Mỹ thân Hà Nội trơ mắt
ếch. Ngay cả đến du lịch để chạy trốn
sang Mỹ với hàng chục tỷ đôla cũng thất
bại hoàn toàn. Tất cả chỉ là nước lã ra
sông.
Theo người nghe kể lại thì buổi nói
chuyện của ông Thiện tại Orlando được
đạo diễn như một buổi... học tập cải tạo
mà ông Thiện là cán bộ tuyên huấn, cử
tọa là những con cừu non. Tuy nói rằng
cử tọa có quyền đặt câu hỏi nhưng rút
lại chỉ có hai câu hỏi đã gài sẵn để cho
dễ trả lời. Những câu hỏi từ phía cử tọa
thì ban tổ chức ỉm đi. Điểm này chính là
sự thất bại sau này cho ông Nguyễn Chí
Thiện. Người hải ngoại quả không thích
bị coi như những con cừu non và họ khinh
tởm cái lối hùng biện bịp bợm lếu láo
với luận điệu bênh người Cộng sản một
cách nhà quê, ngu đần.
Dưới đây là hai bài thơ khác cùng chung
một đề tài:
Nhìn suất cơm
Nhìn suất cơm - cực hình tra tấn
Vừa khổ đau, vừa căm giận bừng bừng
Chúng đương xẻo của ta từng miếng thịt
Hút của ta từng giọt máu bi thương
Chúng cho ta ăn thua một con mèo
Và khoái trá khi ta xương da lủng củng
Đi đứng lờ đờ, xanh bủng, mắt mờ run
Chúng bảo ta vẫn còn nghị lực
Vẫn ngấm ngầm sáng tác
Tiếp tục nuôi ý đồ xấu xa bôi xấu Đảng
(1)Mù xoa: mouchoir / handkerchief -
khăn tay của người sang trọng hay là cán
bộ cấp tướng,không phải người bình dân
hoặc tù nhân ngoài Bắc.
Giả thuyết: Ông Nguyễn Chí Thiện phải là
cấp cao, cao lắm mới quen dùng mù xoa,
nên tiện đưa vào trong thơ. Đứng trước
công an mà ông Thiện không phải đeo còng
cánh tiên mà có thể lấy mù xoa lau trán
thì đúng ông Thiện là xếp sang trọng của
công an rồi! Hai câu cuối cùng chắc cán
bộ làm thơ ngủ gật, nên chẳng ra câu cú,
cũng chẳng có nghĩa, chẳng ăn nhập vào
đâu! Cán bộ sửa thơ có lẽ còn dốt hơn
nữa, nên cứ để nguyên vẹn. Nhưng cũng có
thể là thiếu tướng công an thích khoe mù
xoa ra cái điều ta đây là giai cấp lãnh
đạo, chỉ huy, không cho mù xoa vào thơ
thì cũng uổng!
Ông Vô Danh viết về suất cơm tối năm
1966, khi vẫn còn ở trong tù, khác hẳn
vần, điệu và ý nghĩa:
Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi còn đương đau khổ nhìn theo
Thì nhanh như một đàn heo,
Bốn, năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau,
Bốc ăn một lúc sạch làu,
Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau!
(Vô Danh - 1966)
Khi nào được gặp lại anh
Sẽ kể anh nghe nhiều về chuyện sắn
(khoai mì)!
Có chuyện thương tâm, chuyện cùm, chuyện
bắn,
Có chuyện nhục nhắn, phản phúc, gian
manh...
Tất cả tuy làm đau xót lòng anh
Niềm đau ấy, quân thù khiếp hãi!
Tôi có thể viết dài viết mãi
những chuyện mủi lòng về sắn, về khoai
Chế độ ta khoai sắn, một đề tài
cũng bất diệt như đề tài trai gái!
(Vô Danh -1967)
Đọc thơ của ông Vô Danh, ta thấy nổi bật
lên nhiều ý nghĩa, thâm thúy, sâu sắc.
Đảng dùng lương thực để kiểm soát dạ
dầy, kềm kẹp người dân trong tay sắt của
Đảng. Đảng Cộng sản xiềng xích con người
bằng lương thực. Nghe lệnh Đảng, tuân
theo Đảng, làm đảng viên, công an, đi bộ
đội thì có ăn. Không có lương thực và
đói quanh năm, đói kinh niên, con người
lúc nào cũng hau háu đi tìm thức ăn như
một con vật đói, thì làm sao có thể nổi
loạn chống Cộng?
Thơ của ông Thiện không có thể thơ riêng
biệt của một người. Cán bộ dốt nát đâu
biết thơ thẩn là cái quái gì, nên chỉ
viết đại ra rồi ngắt câu, xuống dòng,
cho có vẻ câu thơ! Nếu độc giả chịu khó
mất 12 đôla mua tập Hạt Máu Thơ, cộng
thêm tiền gửi, của chính tác giả Nguyễn
Chí Thiện thì chỉ cần đọc một ít bài vè
3 chữ, sớ Táo Quân trên đây là đủ điên
người, thần kinh nát bét! Bỏ ra 15 đôla
làm chi cho uổng?
Đề tài diễn thuyết của ông Nguyễn Chí
Thiện có thể tóm tắt là ông chửi Cộng
sản là tàn ác, bất nhân, lừa lọc, bịp
bợm... thì cái đó mọi người tị nạn cộng
sản ở hải ngoại đều biết từ khuya. Nhưng
ông Thiện khôn khéo lái mọi người vào
con đường riêng của ông là Cộng sản sắp
chết đến nơi rồi, có thể là sang năm
1997, có thể là năm 2000, hay hơn nữa
thì đồng bào không cần lo chống Cộng làm
gì cho mất công!
Ông Thiện cũng đề cao Hà Sĩ Phu, Nguyễn
Hộ, Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương,
Đoàn Viết Hoạt... là họ chống đối thật
đấy. Ông Thiện cũng kể các đài VNCR,
Little Saigon, báo Người Việt của các
ông Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Vũ quang
Ninh, Phạm Long, Nguyễn văn Nghĩa... là
dư luận của đồng bào hải ngoại hỗ trợ
mạnh mẽ cho đám cán bộ Cộng sản nòng
cốt, trung kiên và không bao giờ chống
Đảng đó, khiến cho chúng không bị đảng
giết, mà trái lại Đảng phải tha, cũng
như Đảng đã phải cho ông Thiện ra khỏi
tù và đi Mỹ! Ông Thiện tuy không ở quận
Cam, không đọc báo Người Việt và nghe
các đài phát thanh, nhưng vẫn có mạng
lưới thông tin cho ông. Ông Thiện đúng
là một chính trị gia thứ thiệt, có cả
tập đoàn, tổ chức và đảng làm hậu thuẫn
đằng sau.
Dưới đây là những điểm chúng tôi nhận
xét về ông Nguyễn Chí Thiện và những
tình tiết chung quanh một nhân vật công
cộng (public figure) nổi bật nhất trong
Cộng đồng người Việt hải ngoại từ cuối
năm 1995 đến 1996... Những nhận xét của
chúng tôi cụ thể theo đúng tập thơ Vô Đề
của tác giả Vô Danh và những điểm mâu
thuẫn với con người và thơ của ông
Nguyễn Chí Thiện.
1. Thi sĩ Vô Danh của tập thơ Vô Đề hay
là Hoa Địa Ngục I là một người độc thân,
con một, chỉ có cha mẹ già. Hai vị này
đã chết trong khoảng năm 1970 đến 1975.
Thi sĩ Vô Danh đã ở tuổi 20 (21, 22?)
năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chính
quyền. Lúc đó ông Nguyễn Chí Thiện mới
có 6 tuổi. Thi sĩ Vô Danh có học lực Tú
Tài Pháp trước năm 1945 và rất giỏi nói
và viết tiếng Pháp, thật lưu loát. Thi
sĩ Vô Danh đã bị tù ra, tù vào, từ năm
1957 hay 1958. Ông Vô Danh bị ho lao ra
máu từ đầu thập niên 60s chỉ có một tâm
nguyện đưa được tập thơ vào tòa đại sứ
để phổ biến khắp thế giới, rồi chịu chết
cũng cam lòng, vì ông biết không thể
thoát khỏi tay bọn công an cộng sản ác
ôn giết người như ngóe. Ông cũng biết
không thể sống lâu hơn nữa vì bệnh ho
lao ra máu đã quá nặng, cơ thể ông đã
kiệt quệ, có thể chết bất cứ lúc nào.
2. Ông Nguyễn Chí Thiện đã quá sung
sướng khi ở Hà Nội với những kỷ niệm như
mặc complet toàn trắng đi dạo mát ở Hồ
Gươm, đi bơi thuyền ở Hồ Tây, ăn bánh
tôm với người bạn đẹp như tiên, mưa lụt
cũng có người thắp đèn đến mời đi ăn cỗ,
học đánh bốc, đánh võ cho cường tráng để
có thể gặp địch là bắt nó quy hàng...
Thế thì ông Thiện đã ở vào giai cấp
thống trị của Đảng ta. Nhà Nước ta và
chế độ ta thật rồi đấy nhé... Làm gì mà
có chuyện bị tù 27 năm? Ông Thiện tha
còng thằng nào thì phúc cho thằng đó,
chứ ai dám đeo còng cánh tiên vào tay
ông Thiện? Vả lại không được học qua
khóa huấn luyện còng thì làm sao biết
còng? Giả thử chúng tôi gặp ông Thiện
trong nước, ở Hồ Tây, mà dám liếc nhìn
đào đẹp như tiên của ông thì có lẽ được
nếm mùi còng cánh tiên của ông ngay!
3. Ông Nguyễn Chí Thiện khi hô hào người
Việt hải ngoại không căm thù Người Cộng
sản - mà chỉ căm thù chế độ và chủ nghĩa
Cộng sản, thì ông Thiện đã đứng chung
hàng ngũ với Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ, Hoàng
Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Đoàn Viết
Hoạt... Như vậy, ông Thiện đã đứng chung
hàng ngũ với những tên Cộng sản trung
kiên, khát máu đã chỉ vẽ bánh vẽ tranh
đấu, bánh vẽ để bịp bợm chúng tôi.
Mục đích của ông Thiện là mong muốn
người hải ngoại đừng căm thù người Cộng
sản nữa, và hăng hái gởi tiền về nước
đầu tư, du lịch để nuôi sống chế độ Cộng
sản đang bị khủng hoảng kinh tế tài
chính trầm trọng.
Điều này dễ hiểu vì ông Thiện từng ăn
nhậu với Hoàng Minh Chính, với Giám Đốc
công an Hà Nội, với Nguyễn Huy Thiệp,
với ai khác nữa trước khi đi sang Mỹ...
thì chỉ có một mình ông Thiện biết mà
thôi. Tiếc rằng ông Thiện không muốn và
không thể nói sự thật về quá trình hoạt
động của ông ở miền Bắc cũng như cấp
bậc, chức vụ... Nhưng rồi cũng có ngày
chúng tôi sẽ biết. Người Mỹ có tính rất
hay là tuy họ biết rồi nhưng họ vẫn mặc
kệ, dùng cò mồi của Vẹm làm cò mồi cho
họ, có sao đâu? Gậy ông đập lưng ông là
thủ đoạn thông thường của ngành phản
gián. Quả đất tròn và thời gian đi cũng
nhanh, phải vậy không, ông Thiện? Chúng
tôi cũng nghe nói Cục Phản Gián cũng sửa
soạn một tên cán bộ khác cấp bậc đại tá
làm thi sĩ rổm để bịp người hải ngoại.
Tên này có tên là Nguyễn Văn Tùng, có
hai con gái, một ở California, một ở Gia
Định. Trong vụ sửa soạn này, tên đại tá
phản gián đã được đặc cách thăng quân
hàm thiếu tướng.
4. Coi video hình ông Thiện diễn thuyết
một cách rất sắt máu, sắt đá, muốn áp
đảo tinh thần cử tọa, muốn buộc cử tọa
phải tuân theo ý chí cương quyết của
mình, không cho cử tọa đặt câu hỏi, chỉ
có câu hỏi cò mồi đã được sửa soạn sẵn,
thì chúng tôi thấy ông Thiện đã hiện
nguyên hình, không phải là một người tù
27 năm và ho lao ra máu. Dĩ nhiên ông
Thiện rất khỏe mạnh và không hề ho lao
ra máu bao giờ. Ông Thiện tuy nói rằng
bị bệnh thần kinh vì quá căng thẳng mệt
mỏi và rất yếu. Trái lại chúng tôi thấy
ông Thiện hoàn toàn không có triệu chứng
bệnh tật nhất là bệnh thần kinh hay tâm
thần. Ông Thiện không hề bị co giật cơ
bắp trên mặt, trên miệng và không hề
nhầm lẫn ngọng nghịu, và nhất là không
hề vấp váp trong mấy giờ liền. Ông Thiện
có thể nói thao thao bất tuyệt một cách
hùng hồn mạnh mẽ như một cán bộ cấp cao
tuyên huấn trong hơn 3 giờ liền, chỉ
uống nước có một lần (tối 14/12/1996 ở
Orlando, Florida). Nếu ở tù cộng sản 27
năm mà khi ra hải ngoại vẫn tiếp tục
bênh và cứu sống Cộng sản thì người Việt
hiểu ngay là ông Thiện chưa bao giờ ở tù
thật.
5. Chúng tôi khẳng định là kế hoạch thay
đào đổi mận của Cục Phản Gián đã thất
bại hoàn toàn như toàn bộ cán bộ cò mồi
bánh vẽ từ Bùi Tín đến Nguyễn Hộ, Hoàng
Minh Chính. Chúng tôi khẳng định là ông
Thiện đã bắt đầu thất bại ở nhiều nơi.
Cuộc họp ở Orlando ngày 14/12/1996 đã
được Bửu Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc
Cửu sửa soạn và xách động người Việt
trong gần 6 tháng trời mà cuối cùng chỉ
loe ngoe có mấy chục người. Tập đoàn Bửu
Sao lại bắt mọi người phải đứng dậy vỗ
tay hoan hô như đối với lãnh tụ, chính
khách nhớn khi ông Thiện và đồng bọn Bửu
Sao, Hội và Cửu bước vào phòng hội.
6. Trong nhiều cuộc họp Cộng đồng năm
1996, người ta thường thấy mặt đủ thứ
quốc doanh dính liền với nhau như thi sĩ
quốc doanh (state-owned poet), sư quốc
doanh, cha quốc doanh và đại diện, lý
thuyết gia của mặt trận kháng chiến quốc
doanh để kêu gọi nhân quyền năm 2000,
đòi liên kết trong ngoài với Nguyễn Hộ,
Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, tổ chức đại
hội Cư Sĩ với mục đích hàng ngũ hóa nhân
dân kiểu Sô Viết, tranh đấu đòi Mỹ phải
gửi đại sứ đến Hà Nội và cho quy chế tối
huệ quốc, và nếu cần thì xuống đường, tự
thiêu... đánh thẳng vào nền tảng chính
trị Hoa Kỳ!
7. Lần sau, nếu có lần sau, ông Thiện mà
trở lại Orlando thì chỉ có 3 người, Bửu
Sao, Đỗ văn Hội và Phạm Ngọc Cửu đến
nghe và vỗ tay bất bình thường kiểu xanh
vỏ đỏ lòng tay mà thôi. Đài phát thanh
Khoa Học Kỹ Thuật và nhiều tờ báo tại
quận Cam và các nơi đã từ chối không cho
ông đến dù ông đã điện thoại năn nỉ xin
được đến để nói chuyện, để có dịp ra
mắt, quảng cáo không tốn tiền. Có lẽ họ
đã thấy cái gì trong mình ông Thiện
chăng?
Người ta chẳng biết gốc gác thật của ông
Thiện ra sao, nên họ ngài ngại. Vả lại,
chẳng ai thích thú gì khi ông Thiện trổ
tài nghệ siêu đẳng biểu diễn về Kiểu
Còng Cánh Tiên bất hủ của ông và Công an
cộng sản. Những buổi nói chuyện của ông
cũng gần như không được báo chí phát
thanh ở Hoa Kỳ loan tin. Người Việt
chúng tôi cũng vì sợ cái kiểu Còng Cánh
Tiên nên phải chạy loạn cộng sản ra hải
ngoại.
8. Kể từ khi bài này được phổ biến thì
ông Thiện đi đến đâu cũng phải trả lời
những câu hỏi trong tập thơ Hạt Máu Thơ
của ông. Tất nhiên những người tổ chức
cho ông đi đây đi đó để làm chính trị
hải ngoại cũng chẳng thích thú gì cho
ông đi du lịch nữa và họ đã nhìn thấy
trước sự thất bại, tốn tiền, tốn công vô
ích, với nhiều hậu quả dội ngược hay là
phản tuyên truyền.
9. Trình độ người Việt hải ngoại rất cao
và rất văn minh. Một cán bộ dù có cấp
bậc cao, dù có kinh nghiệm hùng biện
diễn thuyết trong các lớp học cải tạo,
thì làm được cái gì để lấy lòng, thu hút
và lôi cuốn người Việt hải ngoại? Trình
độ "chính trị" quá ấu trĩ, tư cách bần
cố và những lời lẽ "đanh thép" kiểu cán
bộ chuyên chính của ông Thiện có lẽ chỉ
thích hợp với các lớp học tập cải tạo
hay là "rèn cán chỉnh quân" trong nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, hơn là tại
diễn đàn Cộng đồng hải ngoại. Làm chính
trị đã khó, mà thu hút được sự quý mến
và tin tưởng của người Việt hải ngoại,
lại càng khó hơn.
10. Nói thật với ông Thiện rằng dù ông
tuyên bố sẽ ra đài phát thanh hay ra báo
theo kiểu kháng chiến quốc doanh năm
1983, 1984, để quyên tiền đồng bào chống
Cộng thì cũng chẳng có người Việt hải
ngoại bị ông bịp bợm lần nữa đâu. 15 năm
trôi qua, mọi người nghĩ đến kháng chiến
phở tái, áp chảo, kháng chiến quốc doanh
với mấy thằng Vẹm ngồi lù lù một đống
cầm đầu, chỉ huy... thì ai cũng ớn đến
mang tai. Cái vụ ra đài, ra báo vào năm
1997 để bịp bợm chống Cộng, xách động và
moi tiền quần chúng, không moi được thì
khủng bố đe giết, dọa giết, giết thật...
đã lỗi thời, quá date... từ khuya!
11. Một con vật dốt như vịt, diễn thuyết
như vịt, bước đi như vịt, nói quang quác
không mỏi mệt như vịt, thì đúng là con
Vịt thật sự. Một con Vịt nói như Vẹm,
cương quyết sắt máu như Vẹm, bắt cử tọa
phải nghe mình nói tràng giang đại hải
kiểu tuyên huấn, bịp bợm Vẹm, bắt cử tọa
phải đứng dậy vỗ tay chào đón hoan hô
như đón lãnh tụ Vẹm, thì đúng là Vịt Vẹm
thứ thiệt rồi, còn gì nữa!
12. Lập trường duy nhất và kiên định của
toàn thể 80 triệu người trong nước là
phải tiêu diệt tập thể lãnh đạo Cộng sản
Mafia tư bản đỏ bằng bất cứ giá nào để
cứu nước Việt Nam. Đến giờ này mà ông
Thiện còn nghĩ rằng với tài sức của ông
mà cứu nổi cho lãnh đạo Cộng sản Hà Nội
khỏi chết thì ông Thiện đã nhầm lớn. Ông
Thiện hoàn toàn không có tài, có đức,
thì làm sao thu hút được hơn hai triệu
người Việt hải ngoại vào một khối do ông
làm lãnh tụ và điều khiển? Tại Sata Ana,
tháng 12/1995, ông Thiện có nói không
nuôi mộng lập Đảng, làm lãnh tụ, làm
chính trị thì hiện nay ông Thiện đang
làm gì? Vẽ bánh vẽ đừng căm thù người
Cộng sản nữa và đừng chống Cộng nữa vì
Cộng sản sắp chết đến nơi chăng? Hay là
ông Thiện đã có đảng rồi, có lãnh tụ sẵn
rồi, và nhiệm vụ của ông chỉ là bảo vệ
mà thôi?
13. Ông Thiện đã đánh không đúng chỗ.
Người hải ngoại cũng căm thù Cộng sản
như người trong nước, nhưng cả trong và
ngoài nước đều ở trong hoàn cảnh không
thể dùng bạo lực vũ trang tiêu diệt Cộng
sản. Chỉ có chúng tôi có đủ bạo lực vũ
trang tiêu diệt bọn cầm đầu Mafia tư bản
đỏ Hà Nội, bọn tay sai Trung Cộng, và
những tên chó săn, nằm vùng, gián điệp,
quốc doanh, văn nô bồi bút ở hải ngoại.
14. Chúng tôi có đủ quyền lực và bạo lực
để tiêu diệt Cộng sản thì chúng tôi
không cần phải hòa giải hay hòa hợp với
Cộng sản. Tiêu diệt xong Cộng sản thì
toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ được tự do
xây dựng lại quê hương. Họ sẽ có đủ thứ
tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền,
no ấm, giầu mạnh. Đất nước sẽ sạch sẽ
không còn quỷ ma Cộng sản, không còn bọn
công an dữ dằn chỉ biết còng người bằng
cánh tiên và bắt người, giam người. Sẽ
có một trại học tập cải tạo đặc biệt
dành riêng cho bọn lãnh tụ Mafia tư bản
đỏ ác ôn, các sư tăng và văn nghệ thi sĩ
quốc doanh, các văn nô bồi bút, báo sĩ,
cư sĩ và tiến sĩ năm vùng tay sai cho
Cộng sản. Chúng tôi có bạo lực và quyền
lực tiêu diệt Cộng sản thí cái cỡ ngục
sĩ rổm, thi sĩ quốc doanh là cái thá gì
mà bịp bợm nổi chúng tôi?
15. Cộng sản Bắc Kinh và cán bộ Tàu,
Việt gốc Tàu đang cầm quyền tại Hà Nội.
Chúng đã giết chết các đồng chí của
chúng như Đào Duy Tùng, Lê Mai, Nguyễn
Đình Tứ, Dương văn Đầy, mấy chục tên
khác nữa và vẫn tiếp tục giết... Tại sao
ông Thiện không đả động đến chuyện chính
trị Bắc Kinh ngay tại Hà Nội mà ra hải
ngoại múa mỏ khua môi một cách lỗi thời,
quá date như vậy? Giám đốc Thông tin
Saigon Ca Lê Thuần mới bị thay thế bằng
Lê Hồng Liêm tức Sáu Liêm, một người Tàu
Chợ Lớn chính hiệu con nai. Tên này sẽ
ép báo chí văn nghệ (cộng sản) miền Nam
vào khuôn phép sắt máu của Đảng Cộng
sản... Tàu. Cả chục tướng và tư lệnh mới
bị mất chức và cố vấn Trung Cộng đang
ngồi ngay tại các quân khu và bộ chỉ huy
để ra lệnh, điều quân. Ông Thiện và các
chí hữu của ông nên lên tiếng và tỏ thái
độ về vấn đề này.
16. Theo tình hình hiện nay thì chế độ
Cộng sản Hà Nội chỉ còn cái tên. Thực
lực nòng cốt đã bị Bắc Kinh tiêu diệt.
Như vậy ông Thiện chẳng còn người Cộng
sản Hà Nội nào để mà cứu. Người Việt
chúng tôi không ai muốn gửi tiền về Việt
Nam nữa. Tất cả toàn dân hiện nay đang
dồn nỗ lực vào vấn đề tiêu diệt bọn cán
bộ Tàu Cộng do Lê Khả Phiêu cầm đầu ở
ngay Hà Nội. Ông Thiện có quyền phục vụ
cho chế độ của ông, đó là quyền tự do
của ông. Nhưng người Việt chúng tôi
thẳng thắn tố cáo những tên cộng sản bịp
bợm, quốc doanh, đang lăm le xảo trá bịp
bợm chúng tôi thêm nữa, thì đó là quyền
tự do của chúng tôi.
17. Chúng tôi hiểu rằng chỉ có tiêu diệt
những tên cộng sản Mao Xít và Xít Ta Lin
Nít đang cầm quyền như Lê Khả Phiêu,
Trương Tấn Sang, Hoàng Minh Chính tức
trung tướng công an phản gián Trần Ngọc
Nghiêm, thượng tướng công an Lê văn Quý
tức Lê Hồng Hà, trung tướng công an Lê
Minh Hương, trung tướng công an Nguyễn
Tấn Dũng, trung tướng công an Nguyễn thị
Xuân Mỹ, trung tướng bộ đội Phạm văn
Trà, v.v..., và đồng bọn Hà Sĩ Phu
Nguyễn Xuân Tụ, Đoàn Viết Hoạt, Đỗ Trung
Hiếu, và bè lũ chó săn, bồi bút, cò mồi,
văn nghệ thi sĩ quốc doanh hải ngoại,
thì cả nước Việt sẽ hồi sinh. Toàn dân
Việt sẽ sống trong thanh bình tự do, no
ấm và không còn Cộng sản.
18. Để kết thúc bài viết, bài thơ của
ông Vô Danh nói lên đời sống trong chế
độ Cộng sản nô lệ, ngục tù và cái gì sẽ
phải xảy ra:
Miêu tả đảng Cộng sản:
Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp!
Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành trâu
Giúp người già bằng bắt bớ rể dâu
và cải tiến dân sinh thành xác mướp
Đảng thực chất chỉ là đảng cướp
Dựng triều đình mông muội giữa Văn Minh!
Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh!
Nhờ súng đạn Tầu, Nga bắt bớ
Đảng hết thở, cuộc đời mới thở
Đảng còn kia, bát phở hóa thành mơ!
(Vô Danh - 1973)
Đời sống dưới chế độ Cộng sản:
Với tôi, ngày sống là sống giả
Lao động nhục nhằn, đói ăn rũ lả
Chuyện phiếm,, bông đùa, như quên tất cả
Và như tù mãi chẳng cần ra!
Nhưng đêm về tôi mới sống sót xa
cả quá khứ, tương lai, cùng hiện thực.
Tim với óc căng lên vì động lực
Đẩy vần thơ từ đau khổ chồi ra!
Những vần thơ có hình dạng là hoa
Song sức phá vạn lần hơn trái phá!
(Vô Danh - 1971)
Và đây là giải pháp cần phải áp dụng
tiêu diệt Cộng sản trong tương lai:
Bom đạn tầng cao chưa đủ!
Tên lửa tầm xa chưa đủ!
Đất này cần quần nát bởi xe tăng!
Mới có thể san bằng khổ nhục.
Mới có thể đào lên khôi phục
giá trị con người, phong tục, thi ca...
Dù xích tăng nhằm nghiền nát đời ta
Dù bước tận cùng Cộng sản thủ tiêu ta
Ôi những binh đoàn trọng pháo chiến xa
Tiếng gầm rú của người sẽ làm ta hả dạ!
(Vô Danh -1972)
Thi sĩ Vô Danh dứt khoát phải tiêu diệt
Cộng sản:
Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh
Nhưng không thể dùng bom A bom H
Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh
Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết
những tội tầy đình được bưng bít tinh
vi!
Nếu nhân loại mọi người đều hiểu biết
Cộng sản là gì?, tự nó sẽ tan đi!
Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt!
(Vô Danh - 1973)
Đoạn sau cũng là đoạn kết:
Ngày thứ Tư 8/7/1998. Nguyễn Chí Thiện
kể chuyện ma - giới vô hình cũng căm thù
Cộng sản. Lời giới thiệu - VNN - Mới
đây, Nghị Viện các Nhà Văn Quốc Tế đã
tài trợ cho hai nhà văn thơ Việt Nam nổi
tiếng ở Strasbourg, Pháp quốc, để có
thời gian sáng tác. Đó là nhà thơ Nguyễn
Chí Thiện, tác giả thi phẩm bất hủ Hoa
Địa Ngục, và nhà văn Vũ Thư Hiên, tác
giả hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày. Cả hai ông
đều là tù nhân lương tâm dưới chế độ
Cộng sản nhiều năm. Nhân dịp này, thông
tín viên VNN tại Pháp đã có cuộc phỏng
vấn đặc biệt với nhà thơ Nguyễn Chí
Thiện về đời sống cá nhân ông và tình
hình Việt Nam hôm nay.
VNN: Thưa ông Nguyễn Chí Thiện, được
biết ông đã rời Hoa Kỳ sang Pháp trong
một năm, theo lời mời của Nghị Viện các
nhà văn Quốc Tế. Khí hậu nước Pháp có
tốt cho ông không? Và sức khỏe của ông
hồi này ra sao?
NCT: Hiện nay tôi thỉnh thoảng vẫn còn
bị choáng váng, có lẽ do áp huyết thấp,
nhưng so với hồi còn ở trong nước thì
khá hơn nhiều. Khí hậu nước Pháp nổi
tiếng là dễ chịu, nhưng bây giờ cũng đã
khác, hay có những thay đổi bất thường.
Nhân loại đang phải trả giá cao cho sự
phá hoại môi sinh quá trớn kể từ đầu thế
kỷ.
VNN: Ông vẫn tiếp tục làm thơ chứ?
NCT: Tôi đã ngưng làm thơ từ năm 1988.
Thể loại này chỉ tốt khi tôi ở trong tù,
không có giấy bút (sic). Văn xuôi rộng
đất cho sự diễn đạt hơn. Hiện giờ tôi có
ý định dùng văn xuôi để viết lại quảng
đời tôi đã trải qua. Đặc biệt là giai
đoạn 6 năm ở Hỏa Lò Hà Nội, từ 1979 đến
1985. Hỏa Lò bây giờ đã bị phá để xây
một khách sạn lớn. Cần phải có một chút
kỷ niệm cho nó. Tôi muốn ghi lại những
cảnh sống trong Hỏa Lò, trại giam giữa
thủ đô, gần trung ương nhất, mà con
người sống ở đó lại gần với con vật
nhất, có nghĩa Hỏa Lò là nơi kinh tởm
nhất trong số những nhà tù mà tôi đã
sống qua. Hiện tôi đang ở cùng với nhà
văn Vũ Thư Hiên tại thành phố Strasbourg
tại miền Bắc nước Pháp. Trước đây chúng
tôi đã ở cùng nhau tại trại Phong Quang
giáp biên giới Việt Trung. Nhà văn Kiều
Duy Vĩnh mà bạn đọc có dịp làm quen qua
một số chuyện ký Cuộc tuyệt thực ở trại
Cổng Trời, Thánh Tử Đạo thứ hai mà tôi
được gặp, v.v.., cũng ở đấy cùng chúng
tôi. Có nhiều chuyện để mà nói với nhau
lắm, chuyện cũ, chuyện mới, nhiều nhất
là những dự định sáng tác. Chúng tôi bắt
đầu viết chung một cuốn sách về những
hồn ma oan khuất ở các trại tù trên miền
Bắc Việt Nam.
VNN: Chẳng lẽ lại là một cuốn chuyện ma?
NCT: Đúng. Nhưng đây là ma tù, một thứ
ma đặc biệt. Có lẽ do họ chết quá oan
khuất, hồn không siêu thoát được, cho
nên sự hiển hiện của họ cũng rất lạ.
Nhiều người tù, và cả cán bộ trại giam,
đã được chứng kiến sự linh thiêng của
họ. Tôi nhấn mạnh: đây không phải là
chuyện ma tưởng tượng. Không giống như
Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Tôi
và nhà văn Vũ Thư Hiên đều không phải là
những người mê tín dị đoan.
VNN: Ông có gặp ma tù?
NCT: Câu trả lời sẽ nằm trong cuốn sách
sẽ ra đời.
VNN: Ông có thường xuyên theo dõi thời
sự trong nước không?
NCT: Từ ngày rời Việt Nam, tính tới nay
vừa tròn 30 tháng, tôi luôn gắng liên
lạc tìm hiểu tình hình nội bộ đảng Cộng
sản Việt Nam, cuộc sống và tâm trạng của
nhân dân, vì đó là hai yếu tố quan trọng
nhất cho ta hiểu sự diễn tiến của cuộc
đấu tranh vì dân chủ và tự do. Tôi rất
tha thiết mong đất nước sớm có dân chủ
và tự do để tôi có thể trở về.
VNN: Theo ông, tướng Trần Độ là người
thế nào? Có người gọi ông ta là cò mồi
cộng sản, là đối lập cuội, ông nghĩ sao?
NCT: Số người gọi ông Trần Độ bằng từ
ngữ hàm hồ như thế rất hiếm. Thậm chí có
người còn gọi ông ấy là con ngựa già của
chế độ. Riêng tôi, giả thử Trần Độ có là
con ngựa già của chế độ mà nay trở thành
bất kham, muốn quật đổ chế độ, thì đó là
điều rất đáng hoan nghênh. Đọc những bài
viết của ông Trần Độ từ năm 1988 tới
nay, nghĩa là từ hồi tôi còn nằm trong
tù, tôi thấy ông là người rất đáng tôn
trọng. Năm 1988, khi ông còn làm Trưởng
ban Văn Hóa-Tư Tưởng của Trung Ương Đảng
Cộng sản, ông đã viết một bài đăng trên
báo Văn Nghệ yêu cầu đảng Cộng sản đừng
có đóng vai kẻ chọn món ăn tinh thần cho
nhân dân, vì nhân dân đủ thông minh để
chọn lấy.
Nghĩa là ngay từ hồi đó ông đã đòi hỏi
đảng phải để cho nhân dân được quyền
thông tin đầy đủ, không thể bị bưng bít,
chỉ được đọc và nghe những gì đảng cho
phép. Sau đó ông lại bị loại bỏ. Cái đó
không làm ai ngạc nhiên. Ở trong tù, bọn
công an nhiều lần nói với tôi về tướng
Trần Độ một cách rất hỗn xược. Chúng nó
khoe đã đến nhà ông khám xét nhiều lần.
Tất nhiên đứng trên lập trường đảng cộng
sản, chúng nó phải coi ông là tên phản
bội. Gần đây, ông tuổi đã cao, lại bị
liệt, nhưng ông vẫn tiếp tục viết bài
đòi hỏi dân chủ hóa, đòi hỏi tự do ngôn
luận... Tôi nghĩ đòi hỏi hai điều kiện
này cũng đồng nghĩa với đòi hỏi giải thể
chế độ độc tài, đảng trị, mà đây là điều
tất cả những người Việt Nam đều mong
mỏi.
Trong những bài viết của ông, có đôi chỗ
ông còn viện dẫn tư tưởng Hồ Chí Minh,
thậm chí còn dễ dãi dành quyền lãnh đạo
chính trị cho đảng Cộng sản. Ai sống
trong lòng chế độ Cộng sản và hiểu chế
độ Cộng sản thì thấy ngay ông đã phải
viết như thế trong hoàn cảnh nào. Phải
vừa đánh vừa đỡ. Ở địa vị của ông hành
xử như vậy là khôn ngoan, Ông tranh đấu
cho dân chủ ngay trong nội bộ đảng, ngay
tại thủ đô Hà Nội, ông không thể giống
như chúng ta đấu tranh ở Mỹ, ở Pháp hay
ở Đức. Tôi có quen ông, tiếc rằng chỉ
trên điện thoại, tôi hiểu ông là người
điềm đạm, nhưng ông vững vàng trong trận
chiến đấu của mình!
VNN: Thưa ông, liệu những tiếng nói phản
kháng trong nước có làm nên chuyện gì
trong việc dân chủ hóa đất nước không?
NCT: Tôi đã nhiều lần phải nhắc đi nhắc
lại ngôn luận là cái cầu nối liền giữa
tư tưởng và hành động. Nó là bước đầu
không thể thiếu trong cuộc đấu tranh để
dân chủ hóa đất nước.
Những tiếng nói phản kháng ở trong nước
là vô cùng quý báu. Theo tôi, tiếng nói
của ông Trần Độ là tiếng nói gây tác
động lớn nhất. Trong đảng, trong quân
đội, có nhiều cán bộ sĩ quan cao cấp là
bạn hoặc đàn em của Trần Độ. Những lời
tâm huyết của ông đánh thẳng ngay vào
tim óc của những lực lượng mà nhúm lãnh
tụ đảng coi như trụ cột để họ dựa vào
nhằm giữ vững địa vị và đặc quyền. Một
khi trụ cột lung lay thì chế độ cũng
phải lung lay và sụp đổ nhanh chồng
chất. Indonesia là một minh chứng. Tôi
coi những chiến sĩ dân chủ như Nguyễn
Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đình
Huy, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi
Minh Quốc... là những người chuẩn bị tâm
lý cần thiết cho nhân dân trong cuộc nổi
dậy trong tương lai.
Có những người ở hải ngoại coi họ là cò
mồi, là đối lập cuội nên tự đặt cho mình
câu hỏi: Mấy lãnh tụ Cộng sản bày trò tự
gây rắc rối cho mình như vậy để làm gì?
Những hình ảnh tưởng tượng trong đầu
những chính khách sa lông chẳng có gì
giống với thực tế. Ở ngoài này, tôi còn
thấy một hiện tượng, tuy không phổ biến,
nhưng cũng khá tai hại. Đó là thái độ
mong chờ chế độ hiện tại tự dân chủ hóa.
Tôi nghĩ sự mong chờ này là vô vọng.
Muốn dân chủ hóa xã hội nhất thiết phải
dẹp bỏ chế độ độc tài đảng trị. Đây là
tiền đề không thể thiếu.
* * *
Năm tháng trôi qua, cái kim trong bọc
cũng có ngày phải lòi ra. Ông Nguyễn Chí
Thiện không biết làm thơ và cũng không
viết nổi chuyện ma tù. Nếu Đảng Cộng sản
thành công lừa bịp Mỹ ký kết Hiệp Ước
Thương Mại với quy chế tối huệ quốc, thì
giờ này, người Việt hải ngoại thấy tất
cả bọn cò mồi, nhân quyền, kháng chiến
ma, chính phủ dổm, báo đảng, đài đảng,
tăng ni quốc doanh và toàn bộ chó săn
cộng sản hải ngoại... có thể trơ tráo ra
mặt công khai với cờ đỏ sao vàng! Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ đã sẵn sàng cấp
150,000 chiếu khán du lịch vào Mỹ mỗi
năm, để Hà Nội gửi khoảng vài chục sư
đoàn du kích buôn lậu, ma túy, băng đảng
xâm nhập và đánh phá tan nát xã hội Hoa
Kỳ.
Tóm lại, toàn chế độ Cộng sản và bọn chó
săn, cò mồi, quốc doanh hải ngoại đang
như cá nằm trên thớt. Người viết bài này
khẳng định với các ông Nguyễn Chí Thiện,
Đoàn Viết Hoạt và các cán bộ Cộng sản từ
Bùi Tín đến Trần Độ, Hoàng Minh Chính,
Hà Sĩ Phu rằng:
Chúng tôi vẫn có bạo lực. Chúng tôi sẽ
xử dụng bạo lực để tiêu diệt toàn bộ đầu
não Cộng sản. Chúng tôi sẽ cho toàn bộ
lãnh đạo Cộng sản và bọn quốc doanh, cò
mồi tắm trong máu của chúng.
Bach Linh
|
|
|
|
|