VIỆT SỬ THÔNG LUẬN
1. TỔNG QUÁT
1.1. Thời kỳ Duy Nhiên: Thời
kỳ này loài người chưa biết kết hợp
thành bộ lạc với xă hội
1.2. Thời kỳ Duy Dân: Thời
kỳ này là khi nhân loại đă biết quần tụ lại
một nơi
1.3. Thời kỳ Duy Nhân: Thời
kỳ này đă phôi thai ra ở những
lư thuyết Đại Đồng
2. GIẢI THÍCH TỪNG
THỜI KỲ
2.1. Môn Hóa Kỳ (Thần Tắc Kỳ):
V́ cái đặc sắc của thời kỳ này là dân tộc
ta đă chế ra đươ c văn tự là thứ chữ
Môn Thư, chữ Hoa
2.2. Văn Hóa Kỳ (Đế
Tắc Kỳ): Thời kỳ này bắt đầu Nam thiên
từ lưu vực sông Dương Tử và lưu vực
5 hồ 5 núi xuống Phong Châu, lấy nơi này làm hoa địa
mới, lập ra nước Văn Lang,
2.3. Hồng Hóa Kỳ (Danh Tắc
Kỳ ): Thời kỳ này bắt đầu
từ Thục Phán là cháu ngoại vua Hùng Vương từ
Ba Thục xuống chiếm Văn Lang làm Âu Lạc.
2.3.1. Hỗn Hợp thời
đại: Quân cách mạng, lực lượng có thể gọi
là chính thức bắt đầu từ khi Tần Thủy
Hoàng thôn tính cả 6 nước rồi cho Đồ Thư
sang đánh Ngũ Lĩnh:
A. NAM VIỆT THỜI
B. TIỂU VIỆT THỜI
2.3.2. Hồng Việt thời
đại: Thời đại này là bắt đầu từ
vua Đinh Tiên Hoàng dùng sức Vạn Thắng (thắng hết
cả mọi thứ về lực lượng cũng
như văn hóa) để xây dựng nền độc lập
cho dân tộc Việt.
2.4. Dân Hóa Kỳ: Theo thời
kỳ này có thể bắt đầu từ khi Gia Long nhờ
quân Pháp (do cố đạo Bá Đa Lộc) làm môi giới
để dứt nhà Tây Sơn mà thống nhất cả
nước
3. PHÊ PHÁN VÀ KẾT LUẬN
Hơn một
vạn năm trước, giải đất triều
lưu sông Hoàng Hà lên đến núi Thái Sơn là cuộc tranh giành rất kịch liệt giữa các
dân tộc mà trong đó có dân tộc Việt đă nắm một
thắng thế khá lâu.
Thái Dịch Lư Đông A
VIỆT SỬ THÔNG LUẬN
Việt
Sử Thông Luận
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
***
VIỆT SỬ THÔNG LUẬN
1. TỔNG QUÁT
Sự diễn tiến lịch sử của
một dân tộc bao giờ cũng ăn
nhịp với bước tiến hóa của nhân loại
cho nên trước khi bàn đến lịch sử của
ṇi Việt, chúng ta cần phải đặt định rơ
sự tiến triển của loài người ra sao?
Ta có thể chia lịch sử
loài người ra làm 3 kiếp: Duy Nhiên kiếp, Duy Dân kiếp,
và Duy Nhân kiếp.
1.1. Thời kỳ
Duy Nhiên
Lúc này loài
người chưa biết kết hợp thành bộ lạc
với xă hội chưa có bản
năng tiến hóa và tổ chức, nay đây mai đó, chỗ
nào thích hợp th́ ở, thời kỳ này theo Marx là thời
mẫu hệ (sống theo mẹ, loài thú) và tự nhiên kinh
tế, nhưng thật ra làm ǵ đă có kinh tế mà gọi
là kinh tế tự nhiên, đó chỉ là sự hưởng
thụ những ǵ của tự nhiên sẵn có, như con dê
ăn lộc, con rắn ăn nhái, v.v... Đă sống theo tự
nhiên như vậy th́ loài người lúc ấy làm ǵ có kinh
tế được v́ kinh tế là do tổ chức mà ra,
nên danh từ kinh tế tự nhiên theo
Marx là không đúng.
1.2. Thời kỳ
Duy Dân
Thời kỳ
này là khi nhân loại đă biết quần tụ lại một
nơi, hoặc trước cuộc Đại Hồng Thủy
hay sau cuộc Đại Hồng Thủy cũng vậy.
Theo thuyết “nhân loại nhất nguyên luận” th́ nơi tụ
tập ấy là núi Tu Di (Palmir), thời kỳ này có ra ước
độ 5.000 năm trước Ky Tô kỷ nguyên “Thiên Chúa
giáng sinh”. Theo thuyết này, loài người lúc ban đầu
ở núi Tu Di tràn xuống, hoặc theo
các lạch nước mà sống theo nghề đánh cá, rồi
cày cấy, hoặc the o các đồng cỏ mà sống theo
nghề du mục (chăn nuôi súc vật). Ta có thể vạch
ra đồ biểu như sau:
Palmir
(Tu Di) Aryen
1. Tiệp Khắc (Ấn)
2. Trung Á Tế Á Hy Lạp
3. Ai Cập
4. Altai
5. Hán An
Sơn Khuông.
Theo biểu đồ trên
đây ta thấy rơ nhân loại từ lúc ở Tu Di tràn xuống
mỗi lần có sự tổ chức từ bộ lạc
lên thành quốc gia, mà mỗi thứ về tinh thần cũng
như vật chất, mỗi lần xuất hiện là có
sự xếp lại thành hệ thống qui củ. Đặc tính của thời kỳ này là sự tổ
chức.
1.3. Thời kỳ
Duy Nhân
Thời kỳ này đă phôi thai ra ở
những lư thuyết Đại Đồng, hoặc như
trong thuyết của Khổng Tử, của Marx hay như
trong các tôn giáo như Thiên Chúa (Độc
Thần Giáo) và Phật Giáo (Nhất thiết chúng sinh giai
đại thể Phật) nhưng đó mới chỉ
là lư thuyết thôi, nó cần phát hiện ra sự thực chắc
chắn. Lúc ấy nhân loại mới
được sự thúc đẩy sống về nhân loại
trước nữa. Tóm lại, thời kỳ Duy Nhiên
đă qua, thời kỳ Duy Dân đương cần phải
đầy đủ, bước sang thời kỳ Duy Nhân
là thời kỳ đầy sung sướng, một đời
cực lạc đưa về sau này (Di Lặc?).
Trên giải đất Á
Đông mà ngày nay gọi là Trung Hoa (tức Tàu) theo khảo cứu
của một bác học Hoa Kỳ th́ từ rất xưa
có 3 dân tộc từng tranh nhau để chiếm trung châu
(Delta) của miền sông Hồng Hà lên tới Thái Nguyên (Tàu)
để tranh thủ lấy núi Thái Sơn ḥng chiếm lĩnh
nơi đó để khống chế vũ trụ. Ba giống người ấy là Việt - Hán - Di?
1.
Thế nào gọi là Việt? Việt không phải là tên chúng
ta đặt ra sau này, lúc trước Việt c̣n gọi là
Viêm.
a. Viêm Đế.
b. Hải Đại v́ ở
tỉnh Hải Đại (Sơn Đông).
c. Miêu: thời kỳ đấu
tranh với giống Hán.
d. Thái: lấy gốc sự
chiếm lĩnh Thái Sơn lúc đầu.
2.
Thế nào gọi là Hán? V́ sự phát tích ở sông Hán Thủy
và c̣n gọi là:
a. Hoa: núi Hoa Sơn.
b. Hạ: v́ quần tụ ở
tỉnh Hạ (Hoa Hạ).
3. Thế nào gọi là Di? Tức là dân ở phía Bắc Đông
Trung Hoa như Sơn Đông, Triều Tiên, v.v... mà Tàu gọi là Đông Di.
Về 3 dân tộc kể trên đây, th́ dân Việt là
dân đă chiếm được trước tiên núi Thái Sơ n để làm hoa địa và đă
phát sinh ra nền văn minh của Tàu hiện nay. Những
cái gốc Hà Đồ, Lạc Thư, Nam Châm, chữ Việt,
v.v... là những vật của người
xưa, của giống ṇi Việt, sẽ nói rơ ở đoạn
sau.
Rồi từ núi Thái Sơn bị giống Hán từ
Thiên Sơn tràn xuống chiếm mất, dân tộc ta cứ
lùi dần dần về phía Nam và trải mấy cuộc
thiên dời như thế, về sau dân tộc Việt mới
t́m được đất Phong Châu để dùng làm hoa
địa mới mà lập nền tảng xưa, nhưng
sau gần 2000 năm, giống Hán lại lan tràn, giống
Hán lại lần lần tràn xuống để uy hiếp,
cơ đồ Văn Lang và Âu Lạc của ta lại bị
lật đổ. Tuy vậy, từ lúc ấy
đến nay, chúng ta cũng k hông v́ sự uy hiếp mà mất
hẳn cái bản sắc xưa của dân tộc.
Hơn nữa gần 100 năm nay đồng thời c̣n bị
một sức uy hiếp mạnh hơn là sự xâm lăng của giống Âu Châu mà dân tộc ta
cũng vẫn giữ được căn bản cố
hữu.
Trong lịch sử dân tộc Việt ta, cứ mỗi
một thời dân tộc bị uy hiếp rất mănh liệt
có thể đưa giống ṇi đến diệt vong, th́
tự nhiên lại bật lên một lực lượng rất
mạnh mẽ để đối phó lại mà bảo vệ
lấy giống ṇi, hoặc xây dựng một nền tảng
mới, hoặc sửa soạn một thời quá độ
cho một giai đoạn vinh quang tiếp đó. Mỗi thời ấy đều
có người anh hùng đứng ra tiêu biểu, để
lại những tiêu biểu và giáo huấn cho cuộc cách mạng
sau, từ sau Hồng Bàng cho tới nay, hơn 2000 năm, ta
có thể ghi giáo huấn 9 điều:
1. Lúc nhà Tần đă thống nhất
Trung Nguyên, sai Đồ Thư và Liễu Lộc (Tộc?) với
Nhâm Ngao cùng Triệu Đà sang xâm lấn nước ta, dân tộc
ta đă chống lại một cách vô cùng kịch liệt.
Phong trào chống chọi thời ấy người Tàu gọi
là Lục Lương hay Cường Lương (bọn
dân cứng cổ) và đại biểu cho phong trào ấy
là Cao Lỗ (?) và Thục Phán An Dương Vương.
2. Khi nhà Hán đă diệt được
nước Nam Việt của Triệu Đà liền sát nhập
nước ta vào bản đồ của họ, rồi cắt
quan sang cai trị, tuy vậy lối chiếm lĩnh của
người Hán thời ấy chỉ là lối thực quan
(cho quan cai trị) chứ không phải thứ thực dân gần
đây. V́ thế dân tộc vẫn được tổ chức
đời sống riêng, v.v... nhưng về
sau sự áp bức của bọn quan lại Hán càng ngày càng
tàn ngược mà dân tộc ta mỗi ngày một tiến,
không thể chịu như vậy để rồi diệt
vong, nên ông Thi Sách là ḍng dơi một quư tộc đứng lên
vận động chống lại. Việc bị lộ,
ông bị tử h́nh, nhưng vợ ông và em vợ ông là hai
Bà Trưng đă thay ông đem lực lượng dân tộc
sẵn có mà chống lại, chỉ một thời gian rất
ngắn, hai Bà thu được toàn quốc khiến anh
hùng của Hán như Mă Viện chật vật trong 3 năm
trời mới đánh tan được sức đối
chọi của ta. Tuy hai Bà đă thất bại,
nhưng từ đó đă mở một con đường
rộng lớn cho Ngô Quyền, rồi Đinh Tiên Hoàng xây
được nền độc lập về sau này.
3. Sau cuộc thất bại của hai Bà
Trưng, dân tộc ta lúc ấy chia ra làm hai xu hướng:
một phe th́ yên giữ đất cũ, lấy năng lực
dân tộc ngấm ngầm vừa chịu đựng
dưới sự đè ép của giống Hán vừa chờ
đợi thời cơ mà quật khởi.
Một phe khác
đại biểu là ông Khu Liêm cùng ḍng dơi quư tộc ta tự
đem thế lực riêng vào phía Nam lập ra nước
Lâm Ấp để một ngày ấy thế lực ông Khu
Liêm và việc làm của ông đặc sắc hơn hết
và đáng ghi hơn tất cả mọi việc trước
đời Đinh.
4. Đời Ngũ Quỷ của nước
Tàu bấy giờ bên trong loạn lạc chia rẽ, dân tộc
ta đă biết lợi dụng cơ hội thuận tiện
ấy đem lực lượng đă đầy đủ
tranh đấu nên từ các ông Khúc Hạo, Kiều Công Tiễn,
v.v... trở đi ta đă bắt đầu thoát ly hẳn
giống Hán, nhưng hàng mấy chục năm phải vừa
khôn khéo ngoại giao, vừa cương quyết đối
phó cho đến hết đời ông Ngô Quyền, một
lực lượng Vạn Thắng của Đinh Tiên Hoàng
xuất hiện ra để thống nhất tất cả,
đánh dấu một thời đại độc lập
hoàn toàn của dân tộc ta.
5. Hết đời Đinh rồi đến
đời Lê rồi đến đời Lư, nền độc
lập Việt đă đạt được thành quả.
Nhưng về phía người Hán lúc ấy
nhà Tống làm vua, thế nước rất mạnh,
mưu cơ xâm lược của họ đối với
ta không lúc nào thôi. Nếu lúc ấy cái phong trào Tân Phát
(?) của Vương An Thạch mà thành
công th́ nước ta cũng khó yên được với
người Tàu. Nhưng Lư Thường Kiệt đă xuất
hiện thừa lúc bất lực của nhà Tống đem
quân đánh thẳng sang đất Lưỡng Quảng
để tỏa triệt hẳn tham vọng của họ.
Dân tộc ta từ đấy lại
được yên một độ để kiến thiết
toàn bộ.
6. Nhưng qua thế kỷ thứ 13, giống
Mông Cổ rất mạnh đă xâm chiếm nước Tàu
và chinh phục gần hết thế giới tới sát cực
bàn của Âu Châu (Tiệp Khắc). Sức Nam
tiến của họ đă tỏa mạt hẳn dân Việt
ta. Trước cái nguy cơ vong quốc này, dân tộc
ta đă xếp hàng ngũ sau vị anh
hùng Trần Hưng Đạo.
7. Đến cuối đời Trần,
Hồ Quư Ly tham lam gây nội loạn trong nước. Bên
Tàu lúc ấy, nhà Minh đă đuổi được Mông Cổ,
thế lực đương mạnh, lợi
dụng t́nh thế rối ren của nước ta, đă
tràn sang xâm chiếm nước ta. Trong 20 năm trời, họ
vừa giết chóc, vừa hóa ta theo họ,
vừa tiêu hủy văn hóa của ta. Họa diệt vong của
dân tộc đă tới th́ lịch sử ta lại
đưa đến một vị anh hùng là Lê Lợi dấy
quân từ Lam Sơn và sau hơn 10 năm phấn đấu
lại khôi phục nền độc lập cho ṇi giống.
8. Nhà Lê làm vua được
300 năm đến khi gần mạt th́ trong nước lại
xảy ra việc Nam Bắc phân tranh. Trịnh Nguyễn hai họ tranh giành
nhau luôn liền 200 năm, đến khi lực lượng
càng sút kém th́ vị anh hùng Nguyễn Huệ đột xuất
để thống nhất cả nước nhưng lúc ấy
nhà Măn Thanh ở phía Bắc đă diệt được
nhà Minh chiếm lấy Trung Hoa, thế lực mạnh, họ
đă dự định mưu cơ xâm lược của
ṇi Hán nhưng vua Quang Trung nhà Tây Sơn trên g̣ Đống
Đa đă dẹp tan hết dă tâm tham lam ô độc ấy.
9. Nhà Tây Sơn thống nhất nước
ta được hơn 10 năm, lúc ấy thế lực
Âu Châu đă tràn cả Á Châu và tới đất Việt,
nhưng v́ Gia Long với cơ đồ yếu đuối
của nhà Nguyễn câm thống, cái sức mỏng manh
trước cái mănh liệt cường lực của Tây
Sơn, đă phải thỏa hiệp với Pháp. Sự thỏa
hiệp đó, tuy Gia Long có thống nhất cả Trung Nam Bắc
nhưng đă đặt nước ta vào bàn tay
Pháp. Sống trong 60 năm dưới sự
áp bức của người Pháp, dân tộc ta không lúc nào ngớt
phấn đấu. Thời kỳ I từ
1800 đến 1884 việc chống Pháp là của triều
đ́nh. Thời kỳ II từ 1885-1900
việc chống Pháp là của Văn Thân v́ lúc ấy triều
đ́nh đă hàng Pháp hẳn hoi. Rồi
thời kỳ III từ 1900 đến nay, việc chống
Pháp là hoàn toàn của dân chúng. Cuộc chống Pháp của
nước ta suốt cả 80 năm nay, tuy có người
bày ra chủ trương nọ kia,
nhưng thực ra có một ư nghĩa là Cứu Quốc Tồn
Chủng (cứu nước giữ ṇi). Bởi v́ thời
kỳ này, ta có thể lấy một người làm tiêu biểu
là cụ Phan Bội Châu (Phan Sào Nam), chính cụ lúc sinh thời
từng nuôi cái ư kiến đó, và công cuộc cách mạng của
cụ vận động suốt đời cũng chỉ
nhằm vào cái chủ ư ấy. Hơn nữa,
cụ là một người đứng nối giữa
phong trào Văn Thân và dân chúng. Cụ
đă nối chí người xưa và gây cái thời nay.
Về tinh thần, cụ vừa là đại biểu
đầy đủ cho văn hóa cũ vừa là môi giới
sáng suốt cho văn hóa mới. Về thời kỳ này,
người tiêu biểu sáng suốt nhất chỉ là cụ
Phan Sào Nam, nhưng rồi đây, cái ư niệm của cụ
có đạt được không? Cái quá khứ kia với bao kinh nghiệm giáo huấn sáng suốt
sẽ đưa cuộc chiến đấu đến tất
thắng, mang lại một tương lai quang vinh cho ṇi giống.
Phan Sào Nam di chúc “Cứu
Quốc Tồn Chủng”, cái
trách nhiệm đó, ta tài hèn đức mọn không làm nổi,
thực là tủi nhục với nước ṇi, kỳ vọng
người sau kế bước đạt tới.
Cái quá khứ ấy có thể chia ra 4 thời kỳ:
1. Môn Hóa (Thần
Tắc Kỳ)
2. Văn Hóa
(Đế Tắc Kỳ)
3. Hồng Hóa
(Danh Tắc Kỳ)
4. Dân Hóa (Dân Tắc
Kỳ).
Bốn
thời kỳ này sẽ phân định và nói ra như
dưới đây. Lịch sử Việt đă có
hơn một vạn năm chia ra 4 thời kỳ sau đây:
1. Môn Hóa (Thần Tắc Kỳ)
2. Văn Hóa (Văn Lang Đế
Tắc Kỳ)
3. Hồng Hóa (Danh Tắc Kỳ)
4. Dân Hóa (Dân Tắc Kỳ).
1.
Thời kỳ thứ nhất: Thời tiền Việt lấy núi Thái Sơn làm hoa
địa và tranh đấu với ṇi Hán, rồi sau những
cuộc tranh đấu ấy phải lùi về phía Nam.
2.
Thời kỳ thứ hai:
Thời Kỳ Hồng Bàng lấy Phong Châu làm hoa địa
để gây lại nền tảng xưa.
3.
Thời kỳ thứ ba:
Bắt đầu từ khi Thục Phán lập ra Âu Lạc,
rồi Tần (Hán) xuống xâm lăng, từ
ấy sự gắng gỏi của dân tộc dồn vào
Thăng Long lấy làm trung tâm sinh hoạt, mưu một cuộc
tái sinh cho ṇi giống.
4.
Thời kỳ thứ tư: Bắt đầu từ thời kỳ Gia Long tiếp
xúc với Âu Châu cho đến năm 1939 và từ 1939 đến
2000.
2. GIẢI THÍCH TỪNG
THỜI KỲ
2.1. Môn Hóa Kỳ (Thần
Tắc Kỳ)
Tại sao gọi là Môn Hóa? V́ cái đặc sắc của thời
kỳ này là dân tộc ta đă chế ra đươ c
văn tự là thứ chữ Môn Thư, chữ Hoa h́nh
như con ṇng nọc, ta gọi là lối chữ khắc dấu
mà người Hán đă dùng để chế ra chữ Hán của
họ. Thứ chữ Môn này, ở Mường c̣n có nơi
dùng, nhưng ở dân Thái th́ đă bị pha
trộn với chữ Phạn của Ấn Độ mà
biến ra một thứ chữ riêng. Ở ta dấu tích thứ
chữ ấy c̣n sót lại ở trong quan tài bà Dương
Thái Hậu (vợ vua Đinh Tiên Hoàng sau lấy vua Lê Đại
Hành) tại làng Sơn Dược tỉnh Ninh B́nh, muốn
biết gốc tích thứ chữ ấy, ta phải lùi lại
thời kỳ hơn một vạn năm trước.
Theo sử Tàu th́ vua đầu tiên của
họ gọi là Hoàng Đế, theo sử ta th́ vua đầu
tiên của ta gọi là Viêm Đế. Hai ông vua ấy là tiêu
biểu 2 hành trong Ngũ Hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Số học của Tàu bắt đầu từ số 1
biểu hiệu của Thái Cực, lúc đó là đời
Bàn Cổ (hỗn độn), sau mới sinh ra Tam Tài là Thiên
- Địa - Nhân, Trời Đất chia ra 5 phương
thuộc 5 hành là Đông (Mộc), Tây (Kim), Nam (Hỏa), Bắc
(Thủy), Trung (Thổ).
5 phương ấy là do 5 giống
người làm đại biểu cho 5 hành và 5 sắc, nên
những người đại biểu đă dùng 5 sắc
mà đặt tên:
* - Bắc
Phương (Thủy) sắc đen gọi là Hắc Đế.
* - Tây
Phương (Kim) sắc trắng gọi là Bạch Đế.
* - Đông
Phương (Mộc) sắc xanh gọi là Thanh Đế.
* - Nam
Phương (Hỏa) sắc đỏ gọi là Viêm Đế.
* - Trung
Phương (Thổ) sắc vàng gọi là Hoàng Đế.
Theo thứ tự như trên th́ loài người có
văn minh trước nhất là giống Bắc
Phương (Hắc Đế) tức là ṇi Địch, giống
người tối cổ ở Sibérie, thứ đến
là người Khương ở Tu Di (Palmir) thuộc Tây
Phương rồi đến giống người ở
Đông Phương (Di) kế đến giống Viêm tức
giống Việt ta ở Nam Phương và giống Hán là tập
đại thành của mọi cái của các giống trên.
Tóm
lại tất cả trên đây ta có thể thu
thành đồ biểu:
* - Thái Cực
* - Tam Tài (Thiên Địa
Nhân)
* - Thủy [ Hắc Đế ]
* - Kim [ Bạch Đế
]
* - Mộc [ Thanh Đế ]
* - Hỏa [ Viêm Đế
]
* - Thổ [ Hoàng Đế
]
Văn minh theo sử Tàu, khi
có lễ thắt nút tự bao ly (tức Phục Hy) nhận
thấy con Long Mă (Rồng) dưới sông Hoàng Hà nổi lên
có 55 điềm, bèn ghi lấy rồi chế ra Bát Quái đến
đời Hoàng Đế mới sai ông Phương Hiệt
dựa vào các dấu của Bát Quái mà chế ra thành chữ.
Sau này vua Hạ Vũ lại nhân những vết
trên lưng rùa thấy ở Đông Lạc mà vạch ra Cửu
Trù. Chữ Hán và khoa số học của Tàu do ở
đấy mà ra, mà 2 cái đó gọi là Hà Đồ - Lạc
Thư, nhưng đó là do ghi chép của các sử gia Tàu và
căn cứ ở sử Tàu là dựa vào Xuân Thu của Khổng
Tử và các kinh sách của Khổng Tử đă san định
lại, mà các kinh sách ấy đă bị sai lạc từ
đời Phần Diến (hủy các điển tích
xưa) trong đời nhà Chu, chứ không phải bị sai
lạc sau đời Tần Thủy Hoàng là người
đă đốt sách và chôn học tṛ. Nhưng dù sao Hà Đồ
và Lạc Thư cũng đă có trước đời
Hoàng Đế mà chính là của dân Việt ta đă dùng làm vận
dụng cho văn hóa khi c̣n giữ được chỏm
Thái Sơn làm hoa địa để khống chế vũ
trụ, v́ vậy nên cái hèm (totem) của ta đă lấy con
Rồng làm biểu tượ ng. Sau đời Viêm Đế,
khi dân tộc ta đă phải lùi xuống phía Nam, lấy
Phong Châu làm hoa địa về đời Hồng Bàng vua
Hùng Vương thứ VI c̣n cống hiến qua Tàu một
con rùa chu vi 8 thước, bề mặt và trên mai rùa ghi
đủ lịch số, thiên văn, số học, triết
học. Sau vua Nghiêu đem kê cứu mà lập ra lịch Rùa
(Qui Lịch) và ngay đến thời Lư Nhân Tôn, c̣n bắt
được con rùa trên mai có văn tự, đem khảo
sát th́ nhận được 4 chữ “Y Bát Thần Khí”, xem
đấy đủ biết Hà Đồ (Đồ vẽ
trên ḿnh Rồng) và Lạc Thư (Sách trên mai Rùa) vốn
xưa là của giống Việt ta.
Trong thời gian chiếm lĩnh
núi Thái Sơn làm hoa địa, ngoài cái đặc điểm
chế ra văn tự (chữ Môn) dân tộc ta đă tới
thời nông nghiệp (theo triết học gọi là thần
tắc) c̣n xă hội tổ chức th́ cùng theo lối bộ
lạc gọi là Lạc Chế. Dân từng nơi bầu
ra Lạc Hầu và Lạc Tướng. Ruộng cấy
chia đều gọi là Lạc Điền, dân cấy rồi
th́ nạp thuế (theo lối bộ lạc b́nh sản kinh
tế), nước th́ gọi là Làng nên sau này mới có những
danh từ như chữ Văn Lang đời Hùng
Vương và Đào Làng đời Lư Phật Tử (chữ
Làng ấy sau này theo chữ Hán mới viết đọc là
Lang rồi sai lần đi).
Trong thời Môn Hóa này tức
là thời kỳ thần tắc, dân tộc Việt đă
dùng 2 vật sau này làm hèm (totem):
1. Rồng: Nghĩa
là tỏ ư to lớn nhất lại hay biến hóa và đầy
năng lực phấn đấu.
2. Tiên: Tỏ
ư cao siêu sáng suốt, trường thọ.
Hai thứ trên
là biểu dương của nguyên tố về vật chất
và tinh thần.
Nhưng chiếm núi Thái
Sơn được một thời gian th́ lại phải
tranh đấu với các giống Di, Khương, Địch
và Hán, nhất là với giống Hán từ Thiên Sơn (Altai)
tràn xuống khá mạnh nên hoa địa Thái Sơn phải
mất và dân tộc Việt phải lùi xuống phía Nam, lấy
song Dương Tử và Ngũ Hồ, Ngũ Lĩnh làm
căn cứ địa.
Đó là lần
Nam Thiên Di thứ nhất, cuộc đấu tranh này đă
chuyển từ văn hóa đến vũ lực nên các vũ
khí đă tiến lên đến nghề rèn sắt. V́ có rèn sắt nên mới có nam châm, cái gốc chính
của địa bàn (boussole - Lressole).
Cuộc Nam thiên lần thứ
nhất này là thời kỳ Viêm Đế, sau cuộc ấy
hoa địa đă mất quyền khống chế vũ
trụ cũng mất, mà nơi căn cứ mới là miền
Dương Tử và Ngũ Hồ, Ngũ Lĩnh lại thấp
nên t́nh thế dân tộc đă bị lung lay về mọi
phương diện văn hóa, quốc pḥng. Sự thất
bại đời Viêm Đế đă để cho ta những
kinh nghiệm sau đây:
a. Mất Thái Sơn là mất cả sinh hoạt
về vật chất và tinh thần v́ đấy là một
trọng địa, nơi nào chiếm được sẽ
làm lễ phong thiên chiêu hồn tá (hồn tế?) (tá = phụ
tá, tế = chủ) tất cả các tử sĩ và đắp
nằm ở trên các ngọn núi đền thờ phụng
tổ tiên, lại là một căn cứ quan trọng cho việc
quốc pḥng, có đủ điều kiện về kinh tế
văn hóa để tiến, lui, đánh, giữ.
b.
V́ sự thất bại ấy nên mất Hà Đồ - Lạc
Thư tức là mất vận động về tinh thần
và mất cả bản lĩnh sống, cùng sáng tạo và
đấu tranh.
c.
Sau khi Nam thiên, các bộ lạc bị tan nát về thời
kỳ trên, chúng ta có thể tóm tắt lại như sau:
1. Đại Việt Viêm Đế:
a. Trọng
điểm: Ngũ Hồ, Ngũ Lĩnh.
b. Kinh tế: Lạc Chế
B́nh Dân Bộ Lạc.
c. Văn hóa: chữ Môn, Hà
Đồ - Lạc Thư.
d. Hèm: Rồng Tiên.
2.2. Văn Hóa Kỳ
(Đế Tắc Kỳ)
Tranh đấu Nam tiến:
a. Mất Thái Sơn (hoa địa: đất làm
nổi, phát huy tinh hoa).
b.
Hoạt động: từ quốc gia b́nh diện đến
quốc tế lập thể hoạt động sang quốc
gia lập thể.
c.
Bộ lạc: Băng hoại phân tán.
d.
Văn hóa: Đế Tắc Kỳ.
Thời kỳ này bắt
đầu Nam thiên từ lưu vực sông Dương Tử
và lưu vực 5 hồ 5 núi xuống Phong Châu, lấy
nơi này làm hoa địa mới, lập ra nước
Văn Lang, nên thời kỳ này gọi là văn hóa tức
Văn Lang mà ra, đoạn sau khi mất hoa địa Thái
Sơn xảy ra, văn minh thời này đă tiến lên sự
trừu tượng, tư tưởng đón mọi quan
niệm vào một mối do trời định (Đế)
nên thời kỳ này gọi là Đế Tắc Kỳ.
Sau cuộc băng hoại của
dân tộc Việt về cuối thời Môn Hóa, cái công việc
quan hệ nhất của văn hóa là phải liên lạc những
phần tử bị tan rồi để gây lại thành một
khối, câu chuyện điển h́nh là một bọc
trăm trứng tức là sự biểu tượng cho sự
liên lạc ấy. Lưu vực của giống Việt
chiếm cứ lúc bấy giờ là suốt từ 5 hồ,
5 núi cho đến hết phía Nam, bao quát cả Miến
Điện xuống đến Mă Lai ăn ra các đảo
ngoài Đông Hải và Java Phillipine.
Vậy mà về phía người
Hán th́ phạm vi hoạt động quốc tế của
họ, phía Nam chưa ra khỏi núi Hằng Sơn, phía
Đông không quá Đông Hải, phía Bắc chưa quá An
Sơn (hồ Baikal) và Tây không quá Lưu Xá.
C̣n về thời Hồng
Bàng th́ phạm vi hoạt động quốc
tế của ta sau khi lấy Phong Châu làm hoa địa, dân
tộc ta đă lấy Ngũ Hồ làm trọng trấn
phía Bắc, Miến Điện làm trọng trấn phía Tây.
Hiện nay ở lưu vực sông Hằng
(Gange) ở Ấn Độ c̣n hơn 10 triệu người
Thái thuộc giống ta và ở Miến Điện có giống
Thái nói nửa tiếng Mường và nửa tiếng Thái.
Tục Hèm về thời
văn hóa (tức Hồng Bàng) này là vẽ h́nh ḿnh, ăn trầu,
nhuộm răng, thờ cúng tổ tiên, và các thứ thần,
cắt tóc ngắn, quần áo lúc ấy th́ lấy mảnh vải
khoét lỗ mà chui đầu qua, không tay (như lối áo nâu
nhiều miền quê c̣n mặc khi rước thần) và lối
áo giáp ra trận như áo giáp mây khi Mạnh Hoạch chống
nhau với Gia Cát Lượng.
Về tín ngưỡng thời
này, ngoài việc thờ cúng tổ tiên và các thần c̣n có việc
Chử Đồng Tử tu theo đạo tiên, mà hiện
nay di tích c̣n ở Đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) và ở
núi Nam Giới thuộc Cửa Sót (Hà Tĩnh) Cam Lộc. C̣n
việc thần Tản Viên chế ra gậy thần và sách
ước, tức là cái triết sáng tạo của ta: gậy
thần là vô vi biến hóa, 2 đầu là biểu hiệu sự
sống chết và ở giữa tay nắm để vận
dụng dẫn dắt loài người. Sống là bắt
nguồn ở cái chết, chết là bắt nguồn của
cái sống, vậy cần phải nắm giữ thế
nào để vận động sư sống chết
để quân b́nh, tức là sự tiến hóa thích trung, c̣n
sách ước th́ nguyên chỉ là tập giấy trắng,
trông vào trắng tất phải nghĩ ngợi, tâm lư chung
ai ai cũng ước vọng điều hay, điều
tốt, do đó mà sáng tạo ra những cái hay, cái tốt
và tiến bộ.
Chế độ sinh hoạt
về thời này lúc đầu cũng như về thời
Môn Hóa tức là theo lối Lạc Chế
cùng Lạc Hầu và Lạc Tướng trông coi dân cày cấy
(Lạc Điền) nhưng rồi dần dần cũng
đi tới trạng thái quốc gia.
Theo một ngạn
ngữ ở Nghệ An nói “Ông tát bể, ông kể sao, ông
đào sông, ông trồng cây, ông xây rú, ông trụ trời” ta
có thể thấy đó là dân tộc vô danh của thời ấy,
đă xây dựng nên quốc gia và mưu cuộc lớn cho
dân tộc.
Ông tát bể (đại
biểu cho dân nông nghiệp) lúc ấy hóa những đồng
lầy ở gần biển thành những ruộng cây lúa và
trồng trọt, lấp bể mà trồng trọt.
Ông kể sao, đại biểu
cho thiên văn khí số, để hiểu biết khu vực
phương hướng t́m ra lịch số chỉ về
những thời tiết thay đổi.
Ông đào sông, đại biểu
sự khai phá giao thông để mở mang ng̣i lạch dẫn
thủy nhập điền, tránh nạn lụt, thông
thương tiện lợi.
Ông trồng cây, bao quát cả
về nông nghiệp, trồng trọt, mục súc, săn bắn,
di dân.
Ông xây rú, khai phá rừng núi
để làm dinh trại (quốc pḥng) và trồng trọt,
đan cây,xẻ gỗ, v..v..
Ông trụ trời, làm ra nhà
để chống mưa nắng.
Sở dĩ làm
như vậy được là v́ thời ấy nơi
trung tâm Văn Lang đă biết dùng sắt rồi. Dân
Việt trong những cuộc đấu tranh kịch liệt
chiếm giữ Thái Sơn đă vượt qua tuổi thạch
khí, đồ đồng đến sắt, nên thời
Hùng Vương thứ VII giặc Ân (nhà Ân giống Hán) tràn
xuống xâm lấn, Phù Đổng Thiên Vương đă
dùng ngựa sắt để chế ngự lại. Trong
truyện Thánh Gióng c̣n dùng cả gậy tre đánh giặc,
tướng Ân lúc ấy là Cao Tông Vũ
định mang quân xuống ta nên trong Kinh Dịch mới có
câu: “Cao Tông phạt quỷ phương, Xích quỷ nam
phương tam niên khắc chế” và ở đối
diện với đền Gióng ta c̣n thấy đền thờ
Vũ Địch (thờ giặc). Lối đền ấy
giống như lối đền Phạm Nhan (Nguyễn Bá
Lĩnh), một tên Tàu lai làm gián điệp chỉ
đường cho quân Nguyên (Mông Cổ) đă đứng
đối diện với đền thờ đức Trần
Hưng Đạo (khi lễ Thánh Gióng th́ quay mông sang đền
Vũ Địch, khi lễ đức Thánh Trần th́ quay
mông sang đền Phạm Nhan).
Trong cuộc xâm lăng này th́ người Ân lại học ta
được nghề châm cứu của bà Ma Thị, dùng
ngải cứu đốt vào chỗ đau mà trừ bệnh,
mà chính bà đă truyền cho quân lính Ân.
Về hôn thú th́ việc Mễ
Nàng (Ba nàng Mỵ Nương) con vua Hùng Vương là Tiên
Dung lấy Chử Đồng Tử là một thứ hôn
thú thời ấy có gả và cưới hẳn hoi.
Tóm lại, thời kỳ này
là thời kỳ gắng sức của dân Việt để
gom góp lại sự tan ră của Đại Việt cũ,
xây dựng lại nền móng thống nhất phương
Nam.
Đặc
điểm của thời kỳ này là liên lạc,
sáng tạo và đối phó:
A. Liên lạc hết thảy các phần tử Bách Việt
xưa để thành lập một quốc gia
phương Nam. Hiện nay những dân tộc
cùng giống Việt ấy, ta c̣n thấy tản mát ở
Ba Thục 50 triệu người, ở Vân Nam, Hồ Nam.
Phúc Kiến, kể cả Lưỡng Quảng, người
Việt xưa c̣n nhiều rồi người Thái, Mường,
Chàm và các giống ở Phillipine và Nam Dương thời ấy
cũng là giống Bách Việt cả.
B.
Sáng tạo một văn hóa mới như gậy thần
sách ước, ông tát bể, ông kể sao, v.v... dựa vào nền gốc cũ xưa, xây
đắp một thứ mới để vận dụng
cho sự liên lạc trên.
C.
Đối phó một giống Hán luôn luôn xâm lấn nên việc
quốc pḥng là cần thiết, sắt đă phát minh từ
khi c̣n chống giữ Thái Sơn, nên khi xuống Phong Châu
đă biết dùng sắt ngay để làm khí giới quốc
pḥng. Về chuyện Phù Đổng Thiên Vương, nói là
đứa trẻ lên ba tuổi vươn vai là biểu
tượng lực lượng dũng mạnh kỳ dị
của dân tộc, là tỏ ư toàn dân tham gia kháng chiến, nói
gậy tre giáo mác là biểu hiện kháng chiến toàn thể
dân tộc, áo mặc bằng bông lau (lá lau) biểu hiện
sự b́nh dân. Rồi việc Phù Đổng
đánh giặc xong lên núi Sóc Sơn mà hóa là biểu hiện
sự cao khiết hy sinh v́ nghĩa vụ trọn vẹn rồi
th́ danh lợi cũng không màng.
Trong lúc thực hiện ba
điều kiện trên đây th́ dân tộc Việt ở rải
rác các bộ phận phía Bắc trên sông Dương Tử từ
thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời loạn ly của
giống Hán, mà lần lượt mưu tính việc khôi phục
lại khu vực xưa, trước hết là Sở, rồi
Ngô, rồi Việt, đều là những nước Bách
Việt cả, tổ chức những cuộc hành binh lớn
lao để lần lượt tranh giành lại đất
cũ, đă từng thắng và chiếm được
ngôi bá chủ (Việt) và xưng hùng (Sở) ở Trung
Nguyên. Bởi vậy nên từ cuối đời Xuân Thu ở
Tàu, bởi văn hóa, họ đă t́m mọi cách để
hủy diệt những cái cũ đi và học lấy cái
mới thông dụng ra, giống Hán th́ biên chép lại, sắp
đặt lại cho nó có hệ thống để xóa nḥa
những dấu vết cũ của giống Việt, Di,
Khương, v.v... từ trước, mà
coi các giống ấy chỉ là giống mọi rợ. Người đại biểu cho công việc ấy
là Khổng Tử, nên học thuyết của Khổng Tử
đă trái ngược với học thuyết của Lăo Tử
ở phương Nam. Về chính trị
th́ họ chủ trương Hưng Hoa Diệt Di (có cả
Việt ở trong). Lối nhân nghĩa và đạo
đức của Khổng Tử là Hóa và Diệt các giống
khác, nhân nghĩa để liên lạc thay binh đao, đạo
đức th́ như câu sách Nho: “Thoái nhi tu đức nhi hậu
miêu tộc từ suy dao, đắc đạo khả dĩ
thứ nhân” nghĩa là lùi không đánh, lấy đức
mà hóa làm dân ḿnh. Cái thủ đoạn ấy cũng
là một lối đế quốc về đời Chu,
nên thời ấy Mặc Tử mới đề xướng
thuyết kiêm ái để đối lại. Thuyết của Mặc Tử cũng giống
như thuyết xă hội ngày nay.
Ngoài những việc trên này
về thời Văn Hóa (Văn Lang), chúng ta c̣n ghi được
những việc như sau:
1.
Đối
Nội: Chính thể Hồng Bàng là từ chính thể
Tiểu Việt (bộ lạc rời rạc lên đến
Đại Việt (liên lạc Bách Việt) chính tự có
Hoàng Đế Lạc Long Quân sau là Hùng Vương hay Lạc
Vương (chữ Long của Tàu là do chữ thuồng luồng
của ta), nước là Làng (Văn Làng), dưới vua là
Lạc Hầu tiên chỉ và Lạc Tướng, Lư Trưởng.
Sinh hoạt: Lạc Điền,
ruộng của làng được chia đều (quân
điền chế), ṇi giống Việt lúc ấy chia làm 3
hệ:
A.
Lạc Việt ở Quư Châu, Tứ Xuyên (Ba Thục), Xiêm La,
Miến Điện, Mă Lai, Java, Phi Luật Tân.
2.
Đối
Thoại: vừa tiêu cực vừa tích cực, đề
kháng tiêu cực bằng xây dựng lại hay báo thù và tích cực
bằng chiến đấu. Trong thời gian này, người
Hán c̣n mượn của ta mấy thứ:
1.
Đàn Bầu (âm nhạc)
2.
Cung tên (vơ khí)
3.
Châm cứu (y dược)
4.
Rùa (Quy Lịch, thiên văn)
5.
Tiên đạo: Tôn giáo học thuyết là Lăo Giáo biến
thái.
6.
Nghề đúc sắt, Hoàng Đế đánh Xi Vưu Việt
t́m kiếm chế được nam châm.
Tóm
lược Văn Hóa Kỳ:
1. Đời Hồng Bàng:
a.
Tái kiến văn hóa cũ
b.
Liên lạc dân tộc bị băng hoại
c.
Lập lại văn hóa mới, Gậy Thần Sách Ước
đi ngay vào sự dùng sách để gây dựng quốc
gia.
d.
Chế độ quốc gia b́nh sản kinh tế, Lạc
Chế theo chế độ quân chủ
phân quyền.
e.
Hèm vẽ ḿnh, ăn trầu, nhuộm răng,
cắt tóc ngắn.
2. Đối ngoại tắc:
a. Đấu tranh bằng văn hóa và giao
hảo bằng văn hóa với giống Hán.
b. Đấu
tranh bằng vũ lực nếu bị xâm lăng, hay thừa
cơ loạn ly của giống Hán (ví dụ chống Ân hay
Việt bá trung nguyên, Sở hùng chiến quốc).
2.3. Hồng Hóa Kỳ
(Danh Tắc Kỳ)
Thời kỳ này bắt
đầu từ Thục Phán là cháu ngoại vua Hùng
Vương từ Ba Thục xuống chiếm Văn Lang
làm Âu Lạc. Trong sử nói, ông ta chiếm
đất vua Hùng là theo lời dặn của ông tổ ba
đời th́ việc không lấy được Mễ
Nàng, nhưng có lẽ không đúng. Tuy rằng đời
Hùng có tục đồng tính kết hôn (theo thuyết của
J J Rousseau) việc từ hôn trên nếu có cũng chỉ là
việc trong nhà, không có ǵ thái quá như vậy và tuy xác nhận
Thục Phán là người nhà vua Hùng, là đương nhiên
lên thế ngôi vua Hùng, không phải là tranh cướp.
Điều mà chúng ta cần chú ư là sau khi Thục Phán lên
ngôi, xưng là An Dương Vương, đổi Văn
Lang là Âu Lạc th́ kinh đô lại đổi từ Phong
Châu về Loa Thành (thành trôn ốc gọi là Cổ Loa) từ
Phong Châu về Phúc Yên xa hàng trăm dặm. Thành trôn ốc
xây cất kiên cố cao trăm trượng. Muốn
rơ những ư nghĩa ấy ta phải hiểu bên đối
phương giống Hán t́nh thế ra sao? Lúc ấy là
thời Chiến Quốc, dân Bách Việt giữ trọng
trách ở phía đông Dương Tử đă dồn cả
vào một nước Sở là một nước hùng
cường (trong Thất Hùng), trong 7 nước hùng cường
ấy, Tần là ṇi Khương trội hơn hết,
đi tiêu diệt các nước khác, Sở cùng ở trong
các nước bị tiêu diệt. Ba Thục bị Tần
chiếm trước tiên, sa u khi thống nhất Trung
Nguyên, đối với Hán Tần Thủy Hoàng cho tiêu diệt
văn hóa đế quốc chủng tộc của nhà nho
đi, đối với Địch ở phương Bắc,
Tần dùng Vạn Lư Trường Thành để ngăn cản,
đối với Bách Việt ở phương Nam th́ cho
người đem quân sang đánh rồi đồng hóa.
Xem đây, ta thấy Thục
Phán không phải là việc riêng định thôn tính (hay đổi
tên cũng thế) nước Văn Lang để lập
ra nước Âu Lạc mà thật ra là v́ việc chống
giữ cho no I Bách Việt, theo mưu kế của Cao Lỗ.
Thục Phán xây Loa Thành, ṿng trôn ốc dài 100 trượng có
gắn 9 ṿng là tỏ cái đạo sống tiến hóa của
dân tộc từ nhỏ ra to, từ hẹp ra rộng và
Bách Trượng dài là để kỷ niệm 100 giống
Việt, c̣n cái nỏ móng rùa của ông cha ta chỉ là cái
liên nỏ bắn 100 phát một của ta chế ra, người
Hán học được và truyền đến đời
Tam Quốc th́ mất. Nỏ ấy là biểu
tượng của Linh Cổ Thần Tắc, quân sĩ
tinh nhuệ bách chiến bách thắng, mà sách lược Cao
Lỗ là người đặt ra. Ta để ư
điều này của Thục An
Dương Vương dựng Âu Lạc được ít
lâu th́ Nhâm Ngao sang đánh. Trước Đà và Ngao, Đồ
Thư và Liễu Lộc đă đem 50 vạn vừa quân vừa
dân sang đánh và hóa dân miền Ngũ Lĩnh. Đồ
Thư và Liễu Lộc bị dân Lục Lương (6 giống
cứng cổ) đánh cho thua và bị giết, như vậy
th́ Thục Phán xây Loa Thành không phải là để tranh ngôi
với vua Hùng, mà ông ta là đại biểu trong Lục
Lương vậy.
Thời kỳ
Hồng Hóa này việc chống đánh của Lục
Lương là một việc quan trọng. Đáng ghi
nhất là việc mở đầu cho thời kỳ này, theo ư nghĩa của tập thông luận này vậy.
Hành động của Thục Phán vừa là
đối ngoại cách mạng vừa là quốc gia cách mạng.
Nhưng rồi Thục Phán đă thất bại có lẽ
là v́ đi quá trớn và v́ giết Cao Lỗ đi, mà không
đủ sức vận dụng sách lược của Cao
Lỗ, Âu Lạc bị Triệu Đà là tướng Tàu
cướp mất, dân Bách Việt từ đấy lại
bị tan ră.
2.3.1. Hỗn Hợp
thời đại
Quân cách mạng,
lực lượng có thể gọi là chính thức bắt
đầu từ khi Tần Thủy Hoàng thôn tính cả 6
nước rồi cho Đồ Thư sang đánh Ngũ Lĩnh.
Từ lúc An Dương Vương mất Âu Lạc, từ
đấy trở đi dân Bách Việt lại phải một
phen băng hoại và lưu tán, nên công việc của dân tộc
lại phải cố để mưu một tương
lai thoát khỏi sự áp bách của dị chủng và khôi phục
lại những nền gốc xưa. Thời đại này là thời đại hỗn
hợp bắt đầ u từ lúc Triệu Đà lập
ra nước Nam Việt cho đến khi vua Đinh dựng
lại nền độc lập hoàn toàn.
Thời hỗn hợp
này chia ra làm hai thời kỳ:
Nam
Việt thời - Tiểu Việt thời:
A. Nam Việt Thời: Triệu
Đà là quan nhà Tần theo Nhâm Ngao sang thôn tính Bách Việt,
sau khi Đồ Thư, Liễu Lộc chết trận,
Phiên Ngung (bây giờ là Quảng Châu) lại ly Sở cho
Đà làm chức lệnh ở Long Xuyên. Ít lâu sau, Ngao chết,
Đà lên thay rồi sau khi Tần mất nước, Đà
chiếm được Âu Lạc mới xưng là vua,
đặt tên là Nam Việt (2072) trước Thiên Chúa (?).
V́ sao Triệu
Đà lại lấy tên nước là như vậy? Mà chữ Việt ấy có đúng không? Theo
sách Chúc Phương của nhà Chu nói về dân bộ th́ từ
Dương Tử Giang trở xuống có Cửu Mân, Bát Lạc,
Tam Ân là Bách Việt, chữ Việt ( ) này mới đúng là tên của
ta, c̣n chữ Việt ( ) của
Triệu Đà là có ư khinh mạn và nhất là có chữ Nam
( ) ở trên, mới càng tỏ
vẻ một tên đặt có chính trị ở trong. Việc
Triệu Đà là ṇi Hán sang ta dựa vào lúc lư
c lượng suy vong của ta mà lập được nền
thống trị nhưng ở về phía Bắc đang c̣n
có Ngô Việt, Mân Việt, v.v... nên Đà mới gọi là
Nam Việt và sở dĩ Đà lập được Nam
Việt cũng là nhờ t́nh thế loạn ly của giống
Hán sau đời Tần và các giống Việt ở phía Bắc
chống đỡ cho cách biệt hẳn với Hán, mà Phiên
Ngung lại là nơi hẻo lánh xa xôi. Việc
làm của Triệu Đà từ khi diệt được
Âu Lạc mà lập ra Nam Việt lại có hai mục
đích khác nhau.
Lúc c̣n nhà Tần th́ Đà là một
đại biểu cho chủ nghĩa xâm lược của
Tần, chỉ biết theo chính sách của
Tần mà làm tṛn bổn phận. Đến khi Tần bị
diệt th́ Đà vừa là t́nh thế, vừa nhân cơ hội
loạn ly mới tự xưng làm vua chiếm cứ một
phương, nhưng dù cố ư hay vô t́nh, công việc làm của
Triệu Đà cũng chỉ dồn vào mục đích chung
của giống Hán là tiêu diệt các dân tộc xung quanh Hán.
Lúc đầu, Đà theo kế hoạch của Tần là
đem quân sang đánh và đem dân sang hóa ta theo họ,
nhưng việc đánh đă gặp nhiều sự khó
khăn gian nan do sức chống đánh và mưu mẹo du
kích của dân Lục Lương, c̣n việc đồng
hóa cũng không đem đến kết quả là bao nhiêu.
Ta cứ xem hiện nay c̣n một số người Mán nói
tiếng Quan Hỏa ở các miền rừng xứ Bắc
Việt th́ đó là di tích sự đồng hóa ấy. Đến
khi lập thành Nam Việt th́ Triệu Đà tuy xưng Đế
xưng Vương nhưng cũng phải thỏa hiệp
với dân Việt và cũng vào hàng ngũ
chống xâm lăng của Hán sau này. Tuy mục đích của
Triệu Đà chỉ là mưu một nền thống trị
cho ḿnh và cho con cháu ḿnh, nhưng không thể đi trái ngược
ư định và nguyện vọng ở xung quanh của ḿnh
đang cai trị, nên chính sách Triệu Đà lúc ấy chỉ
là kiểm soát, không đồng hóa nổi nên dân Việt vẫn
đư ợc tự mưu sự sinh hoạt theo lề
thói của ḿnh.
Sách
lược của Triệu Đà lúc bấy giờ ta thấy
chú trọng về quốc nội trong đó có 7 nhân tố
như sau:
1. Liên lạc các giống Việt ở các nơi
như Ngô, Sở, Mân để thành lập đồng minh.
2.
Lợi dụng các giai cấp quư tộc ở Mân, Ngô, v.v... để kéo cánh về ḿnh.
3.
Kinh tế: Từ Dương Tử Giang trở xuống thực
hành chế độ b́nh sản kinh tế, lợi dụng
để kiến thiết quân đội địa
phương.
4.
Chú trọng đến Trường Sa (Hồ
Nam) là nơi mũi dùi rất lợi hại cho sự xâm
lược của Hán từ Bắc xuống Nam.
5.
Đối nội: Lợi dụng lúc bộ lạc cũ
để cho tự trị mưu việc ổn định
bên trong.
6.
Ngoại giao: Lợi dụng t́nh thế c̣n non nớt của
Hán vừa cứng vừa mềm để giữ vững
địa vị của ḿnh ở phương Nam.
7.
Thừa hưởng được t́nh thế lúc ấy,
các nước theo văn hóa Hồng Bàng
như Đại Chiếm Nam Dương cũng bị suy
yếu nên chỉ lo việc chống Bắc.
Bởi nhờ 7 nhân tố
trên nên chiến lược của Triệu Đà từ lúc
c̣n Hán Cao Tổ cho đến khi Cao Tổ chết, Lă Hậu
lộng quyền tuyệt giao với Nam Việt và khi Hán Huệ
Đế lên, Triệu Đà lúc bấy giờ thấy có
cơ hội th́ yên chí mới xưng thần phụng cống,
lúc bị đe d ọa th́ cùng với các nước đồng
minh phía Bắc cùng làm thế ỷ dốc, đem quân
đánh thẳng vào Hồ Nam (Trường Sa) đánh cho Hán
sợ rồi lại rút quân về pḥng thủ, nhưng sau
đó Hán sợ, Hán điều đ́nh, Đà lại
xưng thần như trước. Xem đấy ta thấy
sách lược của Triệu Đà chỉ là mưu riêng
cho con cháu ḿnh về sau, và nhân đấy đă vô t́nh giúp cho
các mưu xâm lược của Hán về sau này v́ Triệu
Đà mắc mấy nhược điểm sau đây:
1.
Kiến quốc không triệt để v́ Đà là giống
Hán, dân là giống Việt nên giữa kẻ cầm quyền
và dân không ai thực ḷng với ai.
2.
Quốc pḥng không triệt để, không chiếm
được trọng địa Trường Sa là mũi dùi của sự xâm lược
Hán xuống phương Nam.
3.
V́ đồng minh là Ngô, Sở, Mân sau khi Triệu Đà chết
không liên lạc với Nam Việt mà lại c̣n thù oán
đánh nhau nữa.
Bởi 3 nhược điểm
trên nên sau khi Triệu Đà chết chỉ được
vài ba đời Nam Việt lại bị Hán thôn tính một
cách nhẹ nhàng và khôn khéo, như ta đă thấy việc
tướng Việt là Lữ Gia giết Cù Thị là mẹ
Ai Vương và Thiếu Quư là sứ giả nhà Hán. Việc
làm của Lữ Gia chỉ là một phản ảnh của
một sức lực rời rạc của dân tộc Việt,
nên kết quả chẳng ăn thua ǵ, và mưu xâm lược
của Hán đă đạt được một cách nhẹ
nhàng sau khi xóa nḥa được tên Nam Việt chỉ là cái
danh hiệu biến h́nh.
B. Tiểu
Việt Thời
Trước Nam Việt của
Triệu Đà, Tàu gọi nước ta
là Tượng Quân, khi Hán xóa nḥa được Tượng
Quân Nam Việt th́ đổi nước ta là Giao Chỉ Quận,
cắt quan sang cai trị. Lúc đầu
thủ phủ của Giao Chỉ là Quy Lân (Thuận Thành Bắc
Ninh) sau dời về Thương Ngô (Quảng Tây) đến
cuối cùng lại dời về Phiên Ngung (kinh đô cũ
của Việt). Xem sự lùi thủ phủ ấy ta thấy
một nguyên nhân ǵ ở trong chính sách Hán hay Tần chỉ
là quan sang kiểm soát, đó là lối đế quốc thực
quan chứ không phải thực dân, bờ cơi của quận
Giao Chỉ là gồm tất cả Quảng Đông, Quảng
Tây và Nam Việt, sau vụ thất bại của Lữ Gia
không phải cứ im lặng mà chịu sự đè nén của
ṇi Hán, mặc dù chính sách của Hán coi Giao Chỉ là
nơi cống hiến các sản vật như quế, ngọc
trai, chim Trĩ, v.v... c̣n các bộ la c
được tự trị theo lối lạc chế
xưa. Bởi vậy về sau này dưới sự đè
nén của thái thú Tàu là Tô Định,
ông Thi Sách và Hai Bà Trưng mới có cuộc âm mưu chống
lại. Khi c̣n tổ chức lực lượng cách mạng
v́ sự bị tiết lộ, ông Thi Sách bị giết, vợ
ông là bà Trưng Trắc và em là Trưng Nhị mới thay
ông nắm lấy lực lượng để vừa trả
thù vừa mưu cuộc giải phóng cho dân tộc trong một
thời gian rất ngắn, Hai Bà đă thu phục vào tay 65
thành tŕ, nhưng chống giữ được 3 năm th́
lại bị tướng nhà Hán là Mă Viện đem quân sang
đánh. Trước sự xâm lăng quá
mạnh, Hai Bà bị thua và tự tử chết, đất
nước trở lại sự đè nén của nhà Hán. Xét
sự thất bại của Hai Bà Trưng lúc ấy là v́
dân tộc Việt từ thời Nam Việt của Triệu
Đà đă bị tan nát rồi, khi Hán diệt Nam Việt lập
ra Giao Chỉ quận, tuy chỉ cho quan sang kiểm soát và
cai trị, nhưng có nhiều bọn quan thứ sử
như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp cũng đă dùng những
thủ đoạn đồng hóa, làm giảm bớt cái
tinh thần dân tộc đi nhiều, tuy vậy vẫn có sự
kết lập lực lượng mạnh mẽ chống
lại xâm lăng của Mă Viện, việc thất bại
của Hai Bà đă mở đường cho cho nhiều
giai đoạn hay về sau trên lịch sử Việt.
Từ cuộc
thất bại của Hai Bà cho đến lúc vua Đinh dựng
nền độc lập, non 1000 năm dân tộc ta không mấy
lúc không có những vận động giải phóng. Bà
Triệu đời Tam Quốc, Lư Nam Đế, Lư Phật
Tử, Mai Thúc Loan, v.v... đổ đồng
cứ non 100 năm lại có một cuộc cách mạng.
Tựu trung có một việc
ta đáng chú ư nhất là trong thời kỳ này, ông Khu Liêm
ḍng dơi Hồng Bàng đem một số dân thuần túy Việt
vào phía Nam đất Nhật Nam (Quảng B́nh) lập ra
nước Lâm Ấp, vừa gây dựng lực lượng
dân tộc cũ, vừa ngăn sức tràn ra p hía Nam của
giống Hán. Dân Chiêm Thành này về sau này bị
dân tộc ta ở phía Bắc vào tiêu diệt đi, kể
ra là một sự đau thương, nhưng cũng là việc
tất nhiên của lịch sử. Non 1000 năm dưới
sự đè nén của giống Hán, dân Chiêm Thành chẳng những
đă ngăn không cho tràn vào phía Nam mà nhiều khi c̣n mưu
khôi phục lại phía Bắc, về đời Đường
đă giúp vua Mai Hắc Đế chống lại Tàu, gây ra
một nước Văn Lang (Nghệ An). Những hành
động của Khu Liêm về sau có thể nói là cuộc
cách mạng thuần túy Việt hết sức t́m cách tiến
lên để khôi phục lại căn bản xưa,
đó có thể nói là một sự sửa soạn cho cuộc
quật khởi Hồng Việt về sau này. Một điều
ta c̣n nên để ư về thời này là văn hóa phía Bắc
cũng muốn mang văn hóa Khổng Nho xuống nhồi
cho ta, bên Ấn Độ đạo Phật (cả Bà La
Môn Giáo) cũng đă tràn lan qua các miền Chiêm Thành, lúc ấy
miền này cũng đă hấp thụ văn hóa Ấn
Độ nhiều rồi, mới chuyển qua Giao Chỉ
rồi lên Bắc. Ta có thể nói văn hóa Ấn Độ
truyền sang Tàu do 2 mũi dùi, một mũi qua Tân Cương
Tây Tạng vào phía Tây nước Tàu, c̣n một mũi từ
Chiêm Thành qua Bắc Việt sang, nhưng trước khi
đạo Phật truyền vào Tàu th́ đạo tu tiên của
Bách Việt đă giúp cho văn hóa Tàu nhiều. Đời Tần
Thủy Hoàng rất sùng đạo Tiên, đời Hán Vũ
Đế cũng rất sùng tín. Thần Tiên là đạo gốc
của ta thời Tiểu Việt này, trung tâm hoạt động
của dân tộc ta là dồn cả vào trong Bách Việt
trước khi Nam Việt chưa bị Hán diệt th́ hoa
địa của ta từ Phong Châu rồi lên Phiên Ngung trọng
địa Ngũ Hồ Ngũ Lĩnh rồi đến Quế
Châu (Quảng Tây) từ khi thuộc Hán, hoa địa và trọng
địa thành vô dụng, lúc này dân tộc ta dồn vào
nơi trung tâm hoạt động là tiền sông Nhị Hà.
Sau đời Vũ Đế thứ sử Sĩ Nhiếp
sau một cuộc thuyên dời thủ phủ sang Thượng
Ngô Phiên Ngung lại lấy Quư Sâm (Thuận Thành) làm thủ
phủ, đến đời Đường th́ đă bị
đổi tên Giao Chỉ quận (Giao Châu) sang An Nam đô hộ
phủ mà thủ đô của ta lại là Loa Thành (Hà Nội)
nên trung tâm hoạt động của dân tộc ta thời
Tiểu Việt đă dồn cả về vùng Loa Thành, lúc
đó Tàu hay ta cũng lấy đây làm đầu năo mà
đánh lại với họ và cùng lấy đây làm mục
đích.
2.3.2. Hồng Việt
thời đại
Thời
đại này là bắt đầu từ vua Đinh Tiên
Hoàng dùng sức Vạn Thắng (thắng hết cả mọi
thứ về lực lượng cũng như văn hóa)
để xây dựng nền độc lập cho dân tộc
Việt. Ta có thể nói
cái sức Vạn Thắng của vua Đinh là bắt đầu
phôi thai từ đời hai bà Trưng trở đi, mà thời
quá độ là thời Ngũ Quỷ ở Tàu, các ông Khúc Hạo,
Khúc Thừa Mỹ sang Dương Diên Nghệ rồi Ngô Quyền
chuyển biến nó lên đến đời sau của vua
Đinh, cái sức ấy mới vô cùng mănh liệt. Ngọn
cờ Bông Lau là biểu hiện của dân chúng toàn thể,
là tinh thần của cái sức Vạn Thắng tên Hoa
Lư (bông hoa lau) được lấy đặt cho kinh
đô nước Đại Cồ Việt cũng là để
kỷ niệm cái tinh thần toàn dân cùng nổi dậy theo
cởi mở gông xích cho Việt.
Nhưng
công cuộc cách mạng Vạn Thắng c̣n đủ cho ta
thấy những đặc điểm về đời
tái sinh cải tạo ấy.
a. Về
văn hóa: Đạo Phật
chiếm độc tôn, trên chữ Nho dùng chữ Nôm.
b. Về quân sự: Sau việc
tiêu diệt sứ quân, quân lính hầu hết là dân quân đều
tập trung vào quyền chỉ huy của tối cao nguyên
soái, thập đại tướng quân Lê Hoàn nên việc quốc
pḥng rất chuyên (chuẩn bị).
c. Về chế độ xă hội:
Nước hoàn toàn độc lập, tuy nhà vua có lập lối
Phong Điền, nhưng theo lối Lạc
Chế quân điền vẫn thực hiện.
Tóm lại: Kiến thiết rất chuẩn bị,
nhất là kinh đô lại đóng ở Hoa Lư có đủ
thiên hiểm để đối nội và đối ngoại.
Sau đời
Đinh nhà tiền Lê (Lê Hoàn) lên thay có theo chế độ
trước, nhưng Lê Hoàn tuy là quân nhân, lại là giới
Nho học, nên có hơi thiên về Nho, vả lúc ấy,
đối ngoại vừa Tàu vừa Chiêm Thành đều
phải dùng vũ lực nên không cải tạo
được bao nhiêu. Đến đời sau là Ngọa
Triều, chính thể lại thối nát, không tiến
được bước nào, cũng như việc kiến
thiết cũng thế, nhưng cùng là một thời kỳ
quá độ để chuẩn bị cho nhà Lư về sau.
Lê Ngọa Triều chết, Lư Công Uẩn là Thập Đạo
Tướng Quân lên làm vua, từ đây việc kiến
thiết bắt đầu nảy nở, kinh đô từ
Hoa Lư dời ra Thăng Long, rộng răi hơn, vua nhà Lư
đă xây đắp được nhiều việc
đáng ghi.
Từ khi chế độ
phong kiến bị đổ, chế độ quân điền
lại áp dụng cho toàn dân, văn hóa tuy sùng Phật
nhưng lại chú trọng về Nho có sức ứng dụng
vào việc kiến thiết nhiều hơn, quân đội
chú trọng về dân binh, lấy nông dân làm binh chia ra từng
khu huấn luyện để dân có thể làm lính, chính trị
lấy triều đ́nh hợp với quốc dân, vua
thường đến từng làng ăn họp và hỏi
ư kiến dân. Về đối ngoại, nhà Lư thừa dịp
nhà Tống có cuộc chi a rẽ tân cựu
đảng, sai Lư Thường Kiệt mang quân sang uy hiếp
hai châu Khâm Liêm để làm tan sách lược của Tàu
định lăm le mưu xâm chiếm. Công cuộc
này đă gây một thời kỳ quá độ cho nhà Trần
về sau chống Mông Cổ.
Hết Lư, Trần lên. Cuối Lư sự xa hoa của triều đ́nh không
vừa ḷng dân và v́ vua đă tỏ ra chuyên chế độc
đoán. Nhà Trần lên thấy ư dân đă cao, có quan niệm
mạnh mẽ về quốc gia mới nhân đấy lấy
vua làm quốc gia, chế độ phong kiến trang điền
bỏ hẳn, chính nhà vua ở Tức Mạc cũng không
có ǵ, mở rộng trường dạy văn và vơ, cấm
ngặt uống rượu và đánh bạc, Nho và Phật
đồng thời thịnh hành và khuyến khích, vua già
thoái vị làm cố vấn (Thái Thượng Hoàng) và đi
tu (tránh nạn vua ít tuổi và non nớt). Quốc sử bắt
đầu chép lấy gốc từ Triệu Đà dựng
ra Nam Việt, dùng chữ Nho để phổ thông văn
hóa, nhờ có sự cải tạo văn hóa ấy mới
chống được Mông Cổ, một sức mạnh
qua thế giới lúc bấy giờ.
Trần suy, Hồ
Quư Ly cướp ngôi, lúc ấy ư thức kiến thiết
Trần đă cằn và trái thời không hợp với quốc
dân. Quư Ly có tài nhưng không thành nên việc xă hội
không làm nổi trừ đạo Phật, cải
lương Nho, mở bờ cơi thiên đô về Thanh Hóa,
rút cục gây nội l oạn, nhà Minh thừa cơ hội
tràn sang, v́ vậy mà mất nước. Xét sự mất
nước này, tuy bấy giờ Hán mới đem binh sang
đánh chiếm, nhưng thực ra từ đời Trần
Nhân Tôn trở đi, nước nhà đă quá thiên về Nho
học, kinh tế phần nhiều dùng toàn đồ Tàu. Nghệ thuật như văn chương ca
xướng cũng đă bị Tàu hóa th́ sự mất
nước chẳng phải đời Hồ mà từ
trước lúc ấy.
20 năm Minh chiếm cứ,
dân bị bắt buộc theo Tàu, phải mặc áo Minh, sách
vở phải bị tịch thu đem về Tàu đốt
đi, bắt dân phải t́m ngọc trai, săn voi trên rừng
để cống hiến mọi thứ thật là đau
khổ.
Nhưng có sự đè nén th́
sự quật cường càng cao, v́ vậy mà có cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn của vua Lê Thái Tổ bật lên, hơn
10 năm chống đánh bằng toàn lực hăng hái, khiến
quân Minh phải bỏ đất Việt kéo quân về
nước. Cuộc cách mạng Lam Sơn
đă thành công bằng đủ mưu mẹo khôn khéo của
vua Lê. Trong 10 năm nhà Minh đă hà hiếp
bóc lột, dân ta bị hao ṃn cả vật chất lẫn
tinh thần. Cách mạng xuất phát được
không phải là dễ, nhưng vua Lê đă khéo léo lợi dụng
ngoại giao với Chàm và Lào làm hậu địa, lại
khéo léo biết dùng các cách đánh chiến thuật nên quân
Minh dù mạnh cũng không chống lại được,
v́ họ chỉ có quân đội sang đông, thành tŕ bền
vững, nhưng vua Lê có toàn thể dân chúng ủng hộ.
Vua Lê lên làm vua lúc ấy
như trong cái nhà sụp đổ, nên việc chỉ là sửa
soạn, đối nội c̣n vướng ḍng dơi nhà Trần
cùng trăm người ủng hộ, nên đối ngoại
cũng là một việc gian nan về ngoại giao, về
phía quốc dân th́ tinh thần đă lên cao, sự cải tạo
những chế độ cũ là cần thiết,
nhưng mà vua Lê Thái Tổ không đủ sức làm thỏa
măn ḷng dân, v́ vậy mới có việc loạn của Nghê
dân và việc giết công thần. Đến đời Lê
Thánh Tôn, sự kiến thiết mới quy định và thực
hiện, các làng được tự trị (theo Lạc Chế),
ruộng đất cùng chia đều (công điền)
nhưng cũng cho những người có tiền tậu
để làm tư sản, chính trị vừa phân quyền
(làng) vừa trung ương tập quyền (triều
đ́nh), pháp luật làm mới lại và rất rộng răi
kỹ lưỡng, giáo dục mở rộng (24 điều
giáo hóa ra khắp dân chúng). Quân lệnh cũng quy định
lại và gia tăng thêm, củng cố quốc pḥng, đất
đai khai khẩn thêm, đê điều
đắp lại kiên cố, các nghề nhất là nghề
thuốc nam được khuyến khích.
Một việc đáng ghi nhất
là việc làm lại quốc sử lấy gốc từ
đời Hồng Bàng, có lẽ đo là do các kết quả
kê cứu từ đời nhà Trần đă t́m ra được
những gốc gác xưa mà v́ thế quân Minh mới cho thu
hết các sách vở của ta đem về làm lăng
chăng? Sau đời Lê Thánh Tôn ít lâu, các vua kế nghiệp
không đủ sức thực hiện các chế độ
trước, các chế độ ấy đă gây ra một
sự thể mới trong dân chúng, rồi Mạc
Đăng Dung cướp ngôi, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm
phù Lê diệt Mạc, nước nhà chia làm hai phe tranh giành.
Khi Mạc tan, Nguyễn–Trịnh lại đánh nhau gây ra cái
thế một vua hai chúa nội loạn luôn luôn kế tiếp,
sự thống khổ ấy đă luôn luôn hun đúc trong
ḷng người dân Việt một ư thức dân tộc thống
nhất. V́ vậy mà nhà Tây Sơn, mấy anh em nông dân xuất
hiện ra, người trội nhất là vua Quang Trung
đă thừa cơ hội, trước sau đánh bại
cả hai phe chúa, rồi thống nhất cả nước.
Nhờ có sự thống nhất và ḷng dân ủng hộ
mănh liệt (v́ họ đă thỏa măn) nên vua Quang Trung mới
đủ sức phá cái mưu xâm lăng của Măn Thanh,
đánh cho quân của Tôn Sĩ Nghị thua liểng xiểng
không c̣n một mảnh giáp mà rút về Tàu, nhưng rồi
nhà Tây Sơn cũng thất bại. Sự thất bại
này do hai nguyên nhân:
a. Tuy Tây Sơn khi đă thống nhất lại
muốn xây dựng quốc gia theo lối quư tộc của
các vua chúa trước, trái với ư thức dân tộc thời
bấy giờ.
b.
Làn sóng Âu Châu đă tràn sang mạnh mẽ, người
đón được làn sóng ấy và chiều theo nó là phe cừu
địch của Tây Sơn, tức là Nguyễn Ánh, ḍng dơi
chúa Nguyễn có nhiều âm đức với dân phía Nam
nước Việt từ Quảng B́nh đến Cà Mau.
2.4. Dân Hóa Kỳ
Theo thời kỳ này có thể
bắt đầu từ khi Gia Long nhờ quân Pháp (do cố
đạo Bá Đa Lộc) làm môi giới để dứt
nhà Tây Sơn mà thống nhất cả nước. Như trên đă nói, sở dĩ vua Gia
Long xây dựng được cơ nghiệp tuy có nhờ ở
sự vơ trang của người Pháp và Tây Ban Nha nhưng ở
trong lại có bọn quư tộc và sức dân chúng lúc ấy
phân tán sự phản đối của Tây Sơn và phần
nào bọn quư tộc chịu ảnh
hưởng của văn hóa Tàu giữ đỡ nên vua Gia
Long lên ngôi rồi th́ từ pháp luật cho đến việc
học đều chịu ảnh hưởng Tàu rất
nhiều, tuy đến đời Minh Mạng cũng có ư
muốn gây một văn hóa riêng của nước nhà
như việc bắt phụ nữ Bắc Việt mặc
quần không được mặc váy, như câu ca dao:
* - Tháng tám có chiếu
vua ra,
* - Cấm
quần không đáy người ta hăi hùng.
* - Không đi th́ chợ không
đông
* -
Đi thời phải lột quần chồng sao đang.
Những ảnh hưởng của Tây
Sơn rất mạnh, thêm vào đó ảnh hưởng của
Thiên Chúa Giáo dồn dập đến cũng không kém phần
mănh liệt, v́ vậy kiến thiết thời ấy có ba
phái:
1.
Thiên về Hán học (bọn quan liêu quư tộc).
2.
Thiên về chữ Nôm (bọn học giả đi sát dân
chúng hay bị ảnh hưởng).
3.
Thiên về Tây học (theo đạo
Thiên Chúa).
Văn hóa bị ba trào lưu
giao động nên việc kiến thiết rất là tṛng
trành không vững đến đời Thiệu Trị trở
đi, thế lực phía Tây (theo đạo) lại mạnh
mẽ và thế lực phía theo Hán (triều đ́nh quan liêu)
cũng mạnh trở thành xung đột (giết đạo)
dân chúng là vật ở giữa bị lợi dụng đă
tranh giành, gây ra nạn mất nước từ cuối
đời Tự Đức.
Trước
cái nạn mất nước ấy phái duy tân cải cách nổi
dậy, có cố đạo ủng hộ (Nguyễn Trường
Tộ) nhưng phái thủ cựu (bảo thủ) văn
hóa Tàu phản đối nên phái trên thất bại rồi
Pháp dùng vũ lực can thiệp chiếm nước, sĩ
phu (quan lại và học tṛ) đứn g lên chống lại
tức là Đảng Cần Vương, nhưng việc
thất bại, nhà vua xin hàng, sĩ phu bèn lập ra Văn
Thân để chống. Khi Văn Thân thất
bại, phái Duy Tân đổi mới lại quật dậy
và đại biểu là Phan Sào Nam.
Việc nổi
dậy của phái Duy Tân ta có thể chia ra làm 3 thời kỳ:
1. Từ 1900 đến 1918.
2. Từ 1919 đến 1939.
3. Từ 1940 đến 1950 và
tiếp đến 1951-2000.
Về thời
kỳ thứ I vừa vận động văn hóa dung ḥa
cả Á lẫn Âu ở trong nước để thức
tỉnh dân chúng cùng giác ngộ mưu việc cải tạo
xă hội và chống xâm lăng, vừa t́m ngoại viện
ở các nước mạnh ở Á Đông để giúp sức
cho mà khôi phục lại đất
nước. Phong trào cắt tóc ở Nam, Đông Kinh Nghĩa
Thục ở Bắc, v.v... là vận
động văn hóa. Việc Đông Du (Nhật), Bắc
du (Tàu) là cầu viện, v.v... c̣n trong nước th́ nào là
việc Đề Thám chiếm cứ Yên Thế, việc
Đội Cẩn lấy Thái Nguyên, vua Duy Tân chống Pháp
đều là những việc gây ra do sự phản tỉnh
của dân chúng theo cái ư thức “cứu quốc tồn chủng”
của cụ Phan Bội Châu đề ra trước.
Đến thời
kỳ thứ II là sau thời kỳ Thế Chiến Thứ
Nhất 1914-1918, lúc ấy bộ mặt thực dân của
đế quốc đă rơ rệt. Sự ỷ lại
vào người ngoài bất cứ v ề văn hóa hay về
vũ lực đều không có ư nghĩa ǵ, nên từ đấy
trong việc cách mạng luôn luôn kháng ngoại
(địch), dân tộc đi sang một giai đoạn
khác. V́ vậy mà có sự thành lập các đảng phái
chính trị xu hướng khác nhau, bọn thân Pháp th́ níu lấy
chủ nghĩa Pháp Việt đề huề là lư thuyết
của một tên Việt gian viết ra rồi đổ ẩu
cho cụ Phan Bội Châu là tác giả mà cụ th́ không thèm cải
chính, phái thân Tàu th́ lấy Tam Dân chủ nghĩa của Tôn
Văn làm lập trường, phái thân Nga th́ chủ
trương thuyết Cộng Sản, phái trung lập th́ bất
cứ chủ nghĩa nào, miễn là đuổi Pháp ra khỏi
nước là được và bất kể là Đảng
nào họ cũng tán thành và họ chiếm đa số,
nhưng (tiền của) phần nhiều dùng trong văn
chương lỗi thời.
Phái thân Pháp cũng
có hai phái, một phe chân chính như cụ Phan Chu Trinh, một
phe gian tà mưu lợi riêng như Phạm Quỳnh, Bùi Quang
Chiêu, c̣n một phe thứ ba th́ nửa thật nửa là lợi
dụng tức là phe Tam Điểm France Marcommerue Margennene.
Phái thân Tàu như Quốc Dân Đảng, phái thân Nga trước
là Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, sau là Cộng
Sản Đảng. Phái trung lập như Tân Việt Đảng
do Lê Văn Huân lập ra từ 1925 ở Nghệ Tĩnh,
v.v...
Sau khi mấy đảng phái này bị đàn
áp tan ră, thời cuộc thế giới mỗi ngày một
khẩn trương, cuộc chiến tranh của toàn quốc
tất phải phát xuất, các đảng phái lại ngấm
ngầm nhỏm dậy từ năm 1936 trở đi. Các
đảng phái có ba xu hướng, xu hướng Nhật
v́ Nhật gần hơn và có thể lợi dụng để
đánh đuổi kẻ thù chung là Pháp,
một số nữa có liên lạc với Cộng Sản
và Đồng Minh, quân quốc gia có khuynh hướng Đồng
Minh. Nga Tàu gây thành một thế ganh đua chia rẽ thù
nhau, tuy vậy trong sự ganh đua chia rẽ ấy gây
thành một cuộc liên minh thống nhất các đảng
cùng chung một xu hướng Cộng Sản thân Nga, Quốc
Gia thân Tàu và một phái quốc gia thân Nhật. Ba phái trên,
phái thân Nhật th́ hiện nay Nhật thất bại đă
mất lập trường. C̣n hai phái Cộng
Sản Quốc Gia đương công khai phát động,
nhưng ta phải xem chủ trương hai phái ấy có hợp
với nguyện vọng của dân chúng và đúng với lịch
sử quá khứ và hiện tại không? Lịch sử
ta trên một vạn năm nay là một cái dây đấu
tranh truyền kiếp, không phải mới gần đây mấy
chục năm bị Pháp thuộc, các cuộc cách mạng ấy
đều lấy dân tộc làm tất yếu, và muốn
đạt được thành công, văn hóa lại là một
điều tất yếu hơn nữa, nếu chỉ vận
động cho dân tộc g iải phóng mà không có văn hóa chắc
chắn thích hợp làm xu hướng cho dân tộc (nghĩa
là phải có một nền triết học mới, nghĩa
là chủ nghĩa mới, v.v...) th́ dù có thành công cũng chỉ
là tạm bợ mà thôi. Văn hóa của dân tộc căn cứ
vào lịch sử, cái quá văng của l ịch sử có lâu dài
th́ cái tương lai của dân tộc sau cuộc vận
động mới được vững bền, như lời
nhà nữ văn sĩ Starel về thế kỷ 19 viết
rằng: “trong bất cứ
một phong trào thời đại nào, người ta phải
ngoảnh lại cái quá khứ sâu xa bao nhiêu th́ cái công lực
phát triển ra tương lai của cái phong trào ấy cũng
được dài bấy nhiêu ”. Bởi vậy chủ trương của chúng ta
là ngoảnh lại cái quá khứ một vạn năm của
lịch sử để đặt định một
tương lai xa rộng vô cùng cho dân tộc.
Nên thời kỳ quyết
định của dân tộc Việt là bắt đầu
từ đây, nghĩa là từ năm 1939 đến 1950 cho
đến 2000.
Chúng ta phải
dựa vào vết đi của lịch sử mà đặt
định một đường lối cho tương
lai, nhưng không xa ĺa lịch sử của nhân loại và dân
tộc, trái thế chẳng những là vong bản mà sẽ
c̣n bị tiêu diệt trực tiếp hay gián tiếp.
3. PHÊ PHÁN VÀ KẾT LUẬN
Như
đoạn trên đă nói, lịch sử Việt là một
cuộc đấu tranh liên tiếp từ xưa tới nay
có non một vạn năm.
Căn cứ không phải là
một sự hàm hồ vu khoát mà là nhận định xác
đáng hiển nhiên, mặc dầu về đời
Đông Châu, Khổng Tử đă hủy bớt điển
tích xưa mà soạn lại điển tích mới thông dụng
của ṇi Hán, nhưng trong các sách ngoại kư, tạp kư của
Tàu vẫn cho ta nhận thấy những cái dấu vết
ngàn xưa của dân tộc Việt. Hơn một vạn
năm trước, giai đất triều lưu sông Hoàng
Hà lên đến núi Thái Sơn là cuộc tranh giành rất kịch
liệt giữa các dân tộc mà trong đó có dân tộc Việt
đă nắm một thắng thế khá lâu. Lại theo các
khảo sách và khảo cổ Âu Tây, Nhật và cả Trung Hoa
cũng đều công nhận như vậy, nhất là từ
ngày t́m được cái mai rùa (Giáp Tuất) trên có ghi chép
trong sử sách Tàu từ đời Hạ Vũ trở về
trước đă thành lập nghi vấn, xem đấy
đủ thấy cái văn minh quá khứ của dân Việt.
“Số tự Nam Viêm hữu diện tứ chi quốc”, Viêm
đây là Viêm Đế, vua ṇi giống Việt thời Môn
Hóa, rồi c̣n bao nhiêu cái ghi chép trong sử Tàu, như Việt
Thường hiến chim Trĩ, vua Hùng hiến vua Nghiêu con
Thần Quy (Rùa Thần) rồi do đó người Tàu chế
ra Quy Lịch (lịch Rùa). Hoàng Đế đánh Viêm Đế
để lấy nam châm mà Xi Vưu cũng là giống Miêu tức
là Việt về thời ấy, sử ta nhận vua Đế
Minh họ Thần Nông là tổ phương Nam đều
là những việc có căn cứ. Người Lào, Xiêm, Miến
Điện nhận giống Thái (Tây, Nùng, Dao) là do gốc ở
Thái Sơn tràn xuống. Sách Chúc Phương Thi cũng cùng
công nhận từ Dương Tử Giang xuống Nam, các
dân tộc không phải là Hán, các dân ấy là Cửu Mân (9 giống
dân Việt), Bát Lạc (8 giống Lạc), Lạc Việt
Tam Ân (3 giống Ân) và Bách Việt (nhiều giống Việt
không đủ tên gọi).
Lại xét về
địa giới của Tàu về thời
ngang với đời Hồng Bàng ta, phía Bắc chưa qua
An Sơn, Tây chưa qua Lưu Xá, Đông chưa qua Đông Hải,
phía Nam chưa qua Hoàng Sơn (Hà Nam) c̣n địa thế của
giống Việt th́ bao hàm tất cả Ba Thục xuống
Miến Điện (ăn thông ra Mă Lai, Nam Dương, Phi
Luật Tân lộn về triền sông Dương Tử). Những dấu vết ấy hiện nay c̣n thấy
ở trong đặc tính của dân tộc tại các
nơi ấy mà đoạn trên đă nói.
Dân Việt sở
dĩ phải lưu tán rời rạc ra, rồi lập ra
nhiều nước Sở, Ngô, Việt, Văn Lang, Đông
Âu, Nam Việt, Chiêm Thành, Nam Chiếu, Nam Dương Phù Nam,
Lào, qua Thủy Nam Hóa Xa, v.v.. là sự xâm lăng từ
xưa của giống Hán, từ Thiên Sơn xuống chiếm
mất nơi bọc ổ (berceau) văn minh là Thái Sơn.
Mất Thái Sơn, dân tộc ta
mất cảy cứ lẫn vận dụng về văn
hóa, sinh hoạt nên cứ phải lùi măi về phương
Nam. Măi đến đời Hồng Bàng lấy được
Phong Châu làm hoa địa, lập ra Văn Lang, một mặt
khôi phục lại văn hóa từ xưa để gây dựng
một văn hóa mới, liên lạc các giống Việt bị
tan ră để g ây dựng lại thời Đại Việt
đă qua, v́ giống Hán từ khi cướp được
núi Thái Sơn chiếm được Hà Đồ Lạc
Thư là nền gốc của văn hóa, bỏ chữ Môn
chế ra chữ Hán tự cướp được, v.v
...chế rèn ra sắt, đă phát triển mạnh lên, mà muốn
luôn xâm lăng, mà về phía Việt th́ v́ để mất
những lợi khí căn bản văn hóa, cơ năng vận
dụng và lợi thế y cứ, nên khó ma ngăn cản được sự
lưu tán của ṇi giống, đến đời Tần
Thủy Hoàng là nước Khương thống nhất
được nước Tàu (từ Trường Giang lên
phía Bắc giáp với giống Địch) cho quân Nam hạ
(xuống Nam). Dân tộc Việt bấy lâu được
liên lạc phút chốc lại rời rạc, nhưng dù sao
đối với sức xâm lăng cũng phải lùi
bước một cách êm đềm, cái tinh thần mănh liệt
chống Hán từ một vạn năm trước luôn
luôn phát hiện, nên từ việc Phù Đổng giết giặc
Ân cho đến Lục Lượng chống lại Tàu,
đủ biểu lộ cho chúng ta tinh thần bất diệt,
bất khuất ấy từ xưa.
Sau cuộc thất bại của
lực lượng nước Âu Lạc của An
Dương Vương bị tan đổ, kéo dài măi cho tới
ngày nay, dân Việt ở mọi nơi từ Trường
Giang, Ba Thục đến miền Nam Hải vẫn giữ
được nguyên vẹn cái tinh thần cao quư ấy, lịch
sử đă chứng tỏ rơ và ở đây v́ phạm vi
chật hẹp không thể kể ra rành rọt hết.
Từ trước dân tộc
Việt (ở nước ta và ở các nơi) nào cũng sẵn
sàng tranh đấu, đủ can đảm tranh đấu
nhưng không bật hẳn trội lên được, xét
nguồn gốc chỉ v́ đă thất bại trên văn
hóa từ xưa, sự thất bại này bắt đầu
từ khi mất Thái Sơn, mất Hà Đồ Lạc
Thư cho nên đến đời Hồng Bàng dù có hết
sức gom góp cũng chẳng sao chỏi lên được.
Đến khi Hồng Bàng đổ, Tàu xâm lăng, Hán
đô hộ, ảnh hưởng văn hóa luôn luôn dồn dập
đến, các dân tộc Việt ở Tây Nam lại bị
các sức văn hóa của Ấn Độ tràn lan xuống,
nên cái lực lư ợng để lập cước
(chân đứng) và phát triển cùn đi rất nhiều,
dù chưa đến nỗi bị xóa nḥa hẳn.
Hơn 100 năm nay, sau khi bị
ảnh hưởng văn hóa của Hán và Ấn, dân tộc
ta lại bị ảnh hưởng văn hóa của Âu Tây,
nhưng cái hay cặn bă thời nhập cảng tới,
đă có một số người thấy lạ vồ vập
lấy khiến biết bao tai họa. Lịch sử Việt
trên một vạn năm đă c ho ta biết nhiều kinh
nghiệm để chúng ta đặt định bước
đường đi của dân tộc từ giai đoạn
này trở đi, giai đoạn hiện nay đă cho chúng ta
thấy rơ thế nào là con đường sống, thế
nào là sống, v́ các mặt nạ của mọi thứ giả
dối mỗi khi xảo quyệt tất yếu đă cởi
mở ra sau trận Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
này.
Người
lănh đạo cho dân tộc không thể lợi dụng một
cách mơ hồ như thế mà gọi là thành công. Muốn
thành công phải có một chủ trương triệt
để từ h́nh thức đến nội dung theo xu hướng của dân tộc mà điều
kiện văn hóa là điều kiện tất yếu.
Chúng ta chỉ có thể sống
lâu dài bằng cái quá khứ lâu dài của lịch sử của
giống ṇi, chúng ta không nên mưu mô, tranh cướp của
ai, nhưng chúng ta tránh đừng để ai tranh cướp
hay tiêu diệt ta, muốn của người, dựa vào
người khác giúp chỉ là tự ḿnh hóa ra người,
nô lệ cho người, rồi đi đến chỗ chết
hẳn.
Chúng ta là ṇi Việt, chúng ta
phải mưu cứu văn lấy ta, ṇi giống ta chẳng
những chỉ ở trên dải đất chữ S theo bờ bể Đông Hải mà c̣n ở
nhiều nơi.
Chúng ta bị yếu v́ giống
ṇi ta đă bị rời rạc, nếu chúng ta lại tái
kiến được thời đoàn viên xưa kia, chúng ta mạnh mẽ, vô cùng mạnh mẽ
để sinh tồn, để giữ ǵn ṇi giống, chứ
không phải để xâm lăng kẻ khác.
X.
Y. Thái Dịch Lư Đông A
1943 (4822 tuổi Việt).